Chương 7: (7)

Tĩnh Đô vương là một trong số rất hiếm những vị đế vương đã gây ra được một nền văn học rực rỡ, bên cạnh những võ công oanh liệt.

Không kể Nguyễn Nghiễm, Lê Quý Đôn là những nhân vật từ thời trước còn lại, chính trong đời mình, Tĩnh Đô vương cũng đào tạo được một số nhân tài rất đông đúc mà văn chương và chính tích còn lưu đến bây giờ.

Văn học như Phạm Nguyễn Du, Ngô Thì Sĩ, Bùi Huy Bích, chính trị như Hồ Sĩ Đống, Hoàng Đình Bảo đều góp một phần công lớn vào nền thịnh vượng của nước Việt Nam.

Chính Tĩnh Đô vương cũng là một nhà thẩm mỹ kiêm thi ông rất lành nghề. Để "làm đẹp "cho đô thành Thăng Long. Vương đã không quản những món chi tiêu cực lớn để đào hồ, xây nhà thủy tạ... Ngoài ra, những danh sơn thắng tích như núi Dục Thúy, hang Tử Trầm đều được vương sửa sang lại và lập thành hành cung ở đó để thời thường ra thăm. Các thắng cảnh khác trong nước cũng được vương thăm viếng ít nhiều. Mà vương đi đến đâu đều có ngâm vịnh mua vui. Những thi ca của Tĩnh Đô vương nếu thu thập được hết, có thể góp thành một cuốn "địa dư lớn có vần", trong đó không biết bao nhiêu ý từ dồi dào được mô tả bằng những câu văn rất êm đềm và chải chuốt.

Thí dụ mấy bài vịnh cảnh dưới đây của Tĩnh Đô vương mà chúng tôi nhặt được trong bộ Hoàng Việt địa dư chí:

VỊNH ĐỘNG DIỆU SƠN

Thiên tương hư thất thạch toàn ngoan,

Diệu tích nhưng truyền tại thế gian.

Nhất khiếu thâm tàng thiên cổ tỉnh,

Bán song đê hám cửu hồi than.

Hoa kinh mộng giác vân trung hưởng,

Thạch tượng an bái tuyết hậu an.

Hải vũ chinh phùng thanh thiếp hội,

Hào đoan thu thập cẩm giang san.

Lược dịch

Lưng trời nhà trống đá chon von,

Cảnh thắng trần gian dấu vẫn còn.

Một lỗ tòm hom lòng giếng thẳm,

Nửa rèm quanh quất nước ghềnh tuôn.

Chày kinh khua mộng mây đường vẳng.

Yên tượng pha sương đá chửa mòn.

Trời bể rõ ràng cơ thịnh trị.

Bút thần họp tả cảnh giang sơn.

VỊNH CHÙA THÁI BÌNH

Sơn thủy hồi hoàn giác hữu tình,

Luân khuân thụy khí ủng bằng trình.

Nhất điều thạch khiếu thông tà kinh,

Cửu phẩm tìm đài ỷ tiễu bình.

Thôn thị nhân quy sơ nguyệt thượng,

Khê than khách độ vãn trào sinh.

Thử lai chính nghĩ tường phong vật,

Thiều bạch tùy xa tụng thái bình.

Lược dịch

Non nước quanh co rất hữu tình,

Đường bằng thuận gió rộng thênh thênh.

Một lần cửa đá ra đường tắt,

Chín bậc lầu vàng lần núi xanh.

Tan chợ người về khuôn nguyệt dựng,

Qua ghềnh khách ngẫm nước triều xinh.

Chơi đây mới rõ bề phong vật,

Già, trẻ theo xe chúc thái bình.

ĐỀ ĐỘNG BẠCH Á

An bài biệt thị nhất càn khôn,

Nguy nghiệp khung long địa thế tôn.

Biểu lý trùng trùng hư thạch bích,

Đông tây diện diện xưởng vân môn.

Hàn bi vân tỏa trần trần tự,

Cổ khánh phong thôi viễn viễn thôn.

Ngọc đái chu hồi cung ngã thưởng,

Hà lao Ngư phủ phỏng đào nguyên.

Lược dịch

Đặt bầy riêng một càn khôn,

Khum khum thế đất chon von gồ ghề.

Trước sau vách đá hai bề,

Đông tây hai mặt mây che mịt mùng.

Bia chùa mây ám lạnh lùng,

Gió đưa tiếng khánh vang từng thôn trang.

Tiện dòng nước cuốn sáng choang,

Cớ sao Ngư phủ hỏi đường Đào nguyên.

ĐỀ NÚI VĂN NHAM

Danh thắng cáo tiêu đệ nhất châu

Sơn dung như đại thủy như du.

Bán phong vân động yêu huyền hạc,

Bình chướng hà môn hiệp bạch âu.

Vân kinh tiêu duyên ngoan thạch cước,

Tinh tra khách độ cấp than đầu.

Bình cao dục tận quan lan hứng,

Bích lạc thương minh nhất sắc thu.

Lược dịch

Cảnh thắng miếu đây phỏng kém đâu?

Non như chàm nhuộm, nước như dầu.

Mây nhô cửa động chờ tin hạc,

Nước lặng đầu sông lộ bóng đu.

Tiêu dao đèo cao chân đá cứng,

Khách qua đò nhỏ sóng ghềnh mau.

Lên cao cho thích tình xem sóng,

Nước biếc cây xanh ngắt một mầu.

Song cũng như tất cả những nhà nho ham chơi chữ, Tĩnh Đô vương không khỏi có lần bị người khác dùng chữ mà lừa gạt mình.

Việc bãi chức Ngô Thì Sĩ là một thí dụ.

Một lần, các quan cùng họp ở nhà Nguyễn Lệnh Tân trên Tây Hồ để uống rượu và làm thơ.

Trong lúc xướng họa, Ngô Thì Sĩ có làm ra câu:

Tinh vũ canh nghi chu (80)

Có kẻ ghét

Thảo mộc khủng phi Chu. (81)

Đưa trình Tĩnh Đô vương.

Vương tin là thực, để ý ghét Thì Sĩ và nhân Thì Sĩ bị thí sinh tố giác là chấm trường không công, liền bãi chức, đuổi về. Nhưng không bao lâu, vương đi kinh lý miền Thanh, Nghệ, đến đâu cũng thấy thơ đề, vịnh của Thì Sĩ nên yêu tài mà gọi ra cho phục chức cũ.

Mục lục