Chương 28: nguyên tắc
Trong thư phòng, khói xì gà lượn lờ dưới ánh đèn vàng mờ.
Trầm Ngự ngồi sau chiếc bàn làm việc rộng lớn, những ngón tay thon dài kẹp nửa điếu xì gà, tay phải nghịch chiếc bật lửa kim loại, vẻ mặt lười biếng.
Trước mặt anh trải mấy tấm bản đồ mới nhất về các tuyến đường biên giới, nhưng ánh mắt lại có phần hờ hững.
An Nhã ngồi trên chiếc ghế da đối diện, trong tay nghịch một chiếc đèn pin y tế, ánh mắt đảo quanh người Trầm Ngự, mang theo vài phần dò xét và trêu chọc.
“Đó là cô gái anh mang về từ khu phức hợp à?”
An Nhã phá vỡ sự im lặng, có chút khó tin: “Đúng là xinh đẹp, cũng rất đáng yêu, tính cách quả thật khiến người ta thương. Nhưng tôi cũng không ngờ anh lại vì một con thỏ trắng nhỏ như thế mà phá vỡ nguyên tắc ‘không để lại người sống, không mang theo gánh nặng’ của mình?”
“Bao nhiêu năm rồi chẳng thấy anh đụng vào phụ nữ, tôi còn tưởng anh giống tôi,”
“không thích người khác giới chứ.” An Nhã cười khẩy một tiếng.
Trầm Ngự thở ra một vòng khói, làn khói làm mờ đi đôi mày sắc bén của anh.
“Cô ấy biết đánh giày.” Giọng người đàn ông trầm thấp đột nhiên vang lên.
“Cái gì?”
An Nhã sững người, chiếc đèn pin trong tay suýt nữa rơi xuống đất.
Cô thậm chí còn nghi ngờ mình nghe nhầm, hoặc là tiếng Trung của Trầm Ngự đã thụt lùi.
“Biết đánh giày?”
Khóe miệng An Nhã giật giật.
“Ngài Hắc Lang, anh thiếu người đánh giày sao? Chỉ cần anh nói một câu, người bên ngoài muốn quỳ xuống đánh cả đế giày cho anh có thể xếp hàng dài sang tận bờ bên kia Sông Mê Kông.”
Trầm Ngự khẽ cười nhạt, đầu ngón tay gõ nhẹ lên góc bàn, đáy mắt dâng lên chút ý cười.
“Người đánh giày thì tôi không thiếu.”
“Nhưng người biết dùng kỹ thuật phục chế văn vật để đánh giày thì chỉ có mình cô ấy.”
An Nhã ngẩn ra một thoáng, rồi lập tức hiểu ra.
Cô nhớ đến đôi bàn tay nhỏ nhắn trắng nõn, thon dài và khéo léo của Hạ Tri Dao.
Đó là đôi tay của một nghệ sĩ, là đôi tay dùng để cầm bút vẽ và những dụng cụ tinh vi.
Trong đầu Trầm Ngự hiện lên cảnh tượng ấy:
Vật nhỏ yếu ớt ngoan ngoãn ở bên chân anh, cầm một miếng vải mềm, cẩn thận lau từng hạt bụi trên đôi bốt của anh như thể đang xử lý một món văn vật vừa khai quật.
Chăm chú, thành kính, lại còn khẽ run lên vì sợ hãi.
Rõ ràng sợ đến chết khiếp, vậy mà vẫn có thể làm mọi việc cực kỳ tốt.
Sự tương phản ấy chẳng hiểu sao lại khiến anh vui lòng.
Khi anh hỏi cô có từng học đánh giày hay không, cô lại run rẩy, trả lời chẳng ăn nhập gì, nghiêm túc nói rằng mình từng học phục chế văn vật.
Chỉ nghĩ lại thôi cũng thấy buồn cười một cách khó hiểu.
Muốn xem bản đồ để tìm đường chạy trốn, thế mà chăm chú đến mức anh vào phòng suốt mười phút cũng không phát hiện.
Trầm Ngự nhớ đến dáng vẻ ngây ngô ngốc nghếch ấy của cô, khóe môi bất giác khẽ cong lên.
An Nhã trợn mắt, vẻ mặt như muốn nói ‘anh hết cứu rồi’: “Biến thái. Chẳng qua là anh chưa từng thấy việc đời thôi.”
“Là cô chưa từng thấy người biết dùng kỹ thuật phục chế văn vật để đánh giày.” Trầm Ngự phản bác một cách đương nhiên, trong lời nói thậm chí còn có vài phần khoe khoang.
An Nhã nhún vai, không tiếp tục dây dưa với chủ đề này nữa. Cô thu lại vẻ đùa cợt, tố chất nghề nghiệp của một bác sĩ khiến cô không thể không nhắc nhở một câu.
“À phải rồi, tuy anh kiểm soát lực rất tốt, nhưng đối với một cô gái nhỏ da mỏng thịt mềm, từ bé đã được nuông chiều như vậy,”
“hôm qua anh vẫn hơi quá tay đấy.”
“Một con chó con ngu ngốc không nghe lời thì phải đánh cho phục ngay một lần.”
Vẻ mặt Trầm Ngự lạnh nhạt.
“Được rồi, được rồi, anh có cả một bộ ngụy biện của riêng mình.”
An Nhã nhún vai, nhắc nhở: “Còn nữa, căn cứ vào phản ứng của vết thương, tối nay rất có thể cô ấy sẽ sốt cao, còn có chút phản ứng căng thẳng sau sang chấn. Đừng trách tôi không nhắc trước, nếu sốt đến hỏng đầu óc thì đôi giày kia của anh sẽ chẳng còn ai lau đâu.”
Trầm Ngự không nói gì, chỉ hít sâu một hơi xì gà.
“Nhắc mới nhớ...”
An Nhã nghịch chiếc đèn pin, ánh mắt trở nên đầy ẩn ý.
“Con thỏ nhỏ này tôi cũng khá thích. Trông ngoan ngoãn. Sau này nếu anh không muốn nuôi nữa thì nhớ cho tôi. Chỗ tôi vừa hay thiếu một trợ lý sắp xếp tiêu bản.”
Tách.
Nắp chiếc bật lửa kim loại trong tay Trầm Ngự bị đóng mạnh lại, phát ra một tiếng giòn tan.
Anh nâng mí mắt, đôi mắt đen sắc như chim ưng chợt lóe lên tia lạnh, bầu không khí lập tức đông cứng.
“Đừng hòng nghĩ tới.”
Bốn chữ, đanh thép rõ ràng.
An Nhã hừ lạnh: “Đồ keo kiệt. Của anh, tất cả đều là của anh.”
Nghĩ một lúc, cô lại nói: “Vậy vài hôm nữa tôi dẫn cô ấy ra ngoài đi dạo, chắc được chứ?”
“Anh đâu thể nhốt người ta trong phòng suốt ngày. Cho dù không bị anh dọa đến ngốc thì cũng bị nhốt đến ngốc mất.”
“Cho dù thật sự nuôi một con chó con thì mỗi ngày cũng phải dắt đi dạo hai lần.”
Trầm Ngự suy nghĩ một chút rồi nói: “Được, đến lúc đó tôi sẽ cho người đi theo bảo vệ hai người.”
“Ồ? Lúc tôi tự mình ra ngoài sao chưa bao giờ thấy anh cho người đi theo bảo vệ tôi?” An Nhã trêu chọc.
Trầm Ngự hừ lạnh: “Cô không giết người khác đã là tốt lắm rồi, còn cần ai bảo vệ?”
“Hứ.”
An Nhã nhìn anh một cái như đã hiểu rõ, rồi chuyển chủ đề, bắt đầu nói chuyện chính:
“À phải rồi, bên bố tôi nói ông ấy có một người bạn đang rất cần sắp xếp vận chuyển một lô đồ sưu tầm cao cấp.”
Cha của An Nhã là tài phiệt hàng đầu Nam Á, người nắm quyền của gia tộc Sharma, kiểm soát mạng lưới vận tải cốt lõi và các kênh thương mại cao cấp tại địa phương, đồng thời là đồng minh kinh doanh cùng có lợi lâu dài với Trầm Ngự.
“Biết rồi.” Trầm Ngự hút một hơi xì gà, ngón tay khẽ gõ lên tay vịn.
“Không thành vấn đề. Nhưng cô nói với ông ấy rằng tôi cần tuyến vận chuyển phía tây trong ba tháng, bảo ông ấy giúp tôi lo giấy thông hành.”
“Ba tháng?” An Nhã cau mày, “Anh đi tuyến phía tây làm gì?”
Trầm Ngự nhìn ra ngoài cửa sổ.
“Tuyến đó tôi có việc cần dùng. Cô nói với ông ấy, các hợp đồng của ông ấy tôi đều tính tám mươi phần trăm giá, thế nào?”
“Vậy tôi về hỏi thử.”
Chuyện chính đã bàn xong, An Nhã đứng dậy chuẩn bị rời đi.
Khi đi đến cửa, bước chân cô khựng lại, quay đầu nhắc nhở:
“À phải rồi, hai ngày tới anh kiềm chế một chút, cô ấy không chịu nổi anh hành hạ như vậy đâu.”
Nói xong, cô đóng cửa rời đi.
Trầm Ngự dập điếu xì gà trong gạt tàn, cả người ngả ra sau tựa vào lưng ghế.