Chương 300: Thủ pháp thôi nã nhi khoa (bốn)
“Sư phụ, hay là để con châm cứu cho hai người nhé, con cũng khá nghiên cứu về món này.”
Tô Tử Dương thấy Dương Thiên Chính không tiếp lời mình, liền xách ấm nước chạy đến trước mặt Mộng Phi tiên sinh, lon ton rót một chén nước nóng cho ông.
“Cút cút cút. Ta cũng phiền ngươi, không cần ngươi rót nước.”
Bị đối xử lạnh nhạt, Tô Tử Dương đành phải dốc hết vốn liếng, mời mấy vị sư phụ đi ăn canh cừu cho ấm bụng.
“Này, chú ơi. Chú làm ơn cắt nhỏ gừng này bỏ vào bát cho cháu với, phiền chú nhé!”
Tô Tử Dương móc từ trong túi ra một miếng gừng lớn đưa cho ông chủ quán đang thái lòng cừu.
“To thế này cơ à? Làm gì đấy, làm ấm dạ dày à?”
Tô Tử Dương hay tới đây nên cũng rất thân với ông chủ.
Ông chủ cầm miếng gừng đập cái “bộp” hai cái cho nát ra, rồi băm nhỏ.
“Đúng đúng, làm ấm dạ dày. Chú nhìn ba người kia đi, tới tháng rồi. Đau bụng, phải làm ấm dạ dày!”
Tô Tử Dương buông một câu bông đùa, rồi bưng canh cừu đi phục vụ các sư phụ.
“Mùi gừng nồng quá.”
Ba người mũi đều rất thính, Tô Tử Dương vừa đặt bát canh xuống, cả ba đồng thanh nói.
“Canh thịt cừu gừng đương quy. Không có đương quy, chỉ là làm ấm dạ dày thôi, bồi bổ cho mấy vị sư phụ.”
Tô Tử Dương cười hì hì, lại lấy bột tiêu rắc mỗi người một thìa.
“Tử Dương, ta đâu có bị đi ngoài, ngươi cho gừng vào làm gì.”
Kim đạo trưởng húp hai ngụm canh mới phản ứng lại, gãi đầu hỏi đầy nghi hoặc.
“Ấy, sư phụ, ôn bổ ôn bổ, rất tốt mà. Người giảng bài cho con tốn nguyên khí rồi. Vất vả cho người quá!”
Phải nói là Tô Tử Dương dỗ dành sư phụ rất có nghề, mấy người đều rất hưởng thụ, Dương Thiên Chính và Mộng Phi tiên sinh lập tức tươi tỉnh trở lại.
Sau một đợt giảng dạy, đợt tiếp theo lại bắt đầu.
Kim đạo trưởng tiếp tục bài giảng về thôi nã nhi khoa.
Tô Tử Dương ngồi bên cạnh chăm chú lắng nghe.
Thủ pháp này gọi là “Thiên môn nhập hổ khẩu”:
Tác dụng là kiện tỳ tiêu thực.
Để lòng bàn tay trẻ hướng lên, chấm nước hành gừng, đẩy từ đầu ngón trỏ qua ba quan Dần, Mão, Thìn tới gốc ngón cái.
Ba quan Dần, Mão, Thìn ở đây chính là chỉ toàn bộ ngón trỏ. Trong đồ hình mười hai địa chi trên lòng bàn tay, gốc ngón trỏ là Dần, đốt thứ ba là Mão, đốt giữa là Thìn, đốt đầu ngón tay là Tỵ.
Đẩy Dần, Mão, Thìn chính là đẩy thẳng từ đốt giữa xuống.
Một thủ pháp khác cũng là kiện tỳ bổ hư, gọi là “Pháp bổ tỳ thổ”.
Dùng tay trái nắm lấy mặt ngón cái của trẻ, sau đó dùng tay phải chấm nước hành gừng mà đẩy.
Tiếp đó dựng thẳng mặt ngón cái của trẻ lên rồi nắm lấy, vẫn dùng tay phải chấm nước hành gừng mà đẩy.
Sau hai thủ pháp đơn giản, tất yếu sẽ đi kèm một thủ pháp phức tạp hơn, đây là trình tự mà Kim đạo trưởng đã sắp xếp sẵn.
Thủ pháp này có cái tên rất kêu là “Nhị long hí châu”.
Cũng là một thủ pháp thiên về tính ôn.
Trước tiên dùng ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa của tay phải, bóp lấy hai ngón can và phế của trẻ.
Ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa của tay trái bóp lấy hai huyệt âm dương của trẻ, bóp lên rồi lại bóp xuống, bóp tới Khúc Trì năm lần.
Khi bị nhiệt chứng, lực bóp huyệt âm nặng hơn, dương chứng thì bóp nhẹ hơn;
Khi bị hàn chứng, lực bóp huyệt dương nặng hơn, âm chứng thì bóp nhẹ hơn.
Sau khi bóp đủ năm lần, lại bóp hai huyệt âm dương, lắc hai ngón can phế 18 hoặc 27 cái là chuẩn.
Tiếp theo là một thủ pháp trị được cả hàn lẫn nhiệt, gọi là “Xích phượng dao đầu”, thủ pháp này có thể thông quan thuận khí.
Trước tiên đặt lòng bàn tay trái của trẻ hướng lên, sau đó thầy thuốc dùng ngón cái, trỏ, giữa của tay trái nhẹ nhàng bóp vào phần khuỷu tay của trẻ, rồi dùng ngón cái, trỏ, giữa của tay phải, trước tiên bóp ngón tâm, hướng lên ngoài mà lắc thuận 24 cái.
Sau đó bóp ngón can lặp lại thao tác trên.
Tiếp đó bóp ngón tỳ lặp lại thao tác trên.
Tiếp đó bóp ngón phế lặp lại thao tác trên.
Sau đó lại bóp ngón thận, lặp lại thao tác trên.
Khi làm thủ pháp này, nam dùng tay trái, nữ dùng tay phải, bé trai lắc theo chiều kim đồng hồ, bé gái lắc ngược chiều kim đồng hồ, đều lắc mỗi bên 24 cái.
Tiếp theo là “Pháp đẩy ngũ kinh”:
Ngũ kinh chính là chỉ năm đầu ngón tay: tâm, can, tỳ, phế, thận. Đốt thứ hai và ba là lục phủ.
Khi thao tác, trước tiên dùng bốn ngón tay trái đỡ mu bàn tay trẻ, ngón cái bóp lòng bàn tay trẻ, ngón trỏ tay phải uốn cong đầu ngón tay trẻ xuống, rồi đẩy vận từng ngón một, đẩy thẳng lên trên.
Vận sang phải là bổ, vận sang trái là tả.
Thông thường thì đẩy thẳng là được, nhưng vẫn phải xem trẻ bị hàn, nhiệt, hư, thực thế nào.
Chỗ này liên quan đến vấn đề biện chứng, nên cần nói kỹ hơn một chút.
Thông thường trẻ bị nóng trong, đầu lưỡi đỏ rực, mắt đỏ, có đờm vàng, đó là lúc nên dùng pháp tả.
Còn nếu trẻ thần tình đờ đẫn, không chịu ăn, không muốn cử động, cảm giác lạnh lẽo, thì đó là lúc dùng pháp bổ.
Tất nhiên đây chỉ là phương hướng lớn, còn có phương hướng nhỏ, ví dụ như chi tiết hơn thì người học trong gia đình không cần thiết phải biết.
Chỉ cần phân biệt được là hàn hay nhiệt là đủ dùng rồi, tinh vi hơn nữa thật sự không cần thiết.
Thủ pháp tiếp theo gọi là “Vận nội bát quái”:
Trị tâm nhiệt đờm mê.
Trước tiên dùng tay trái nắm bốn ngón tay trái của trẻ, lòng bàn tay hướng lên, bốn ngón tay phải đỡ mu bàn tay trẻ, dùng ngón cái vận từ quẻ Càn tới quẻ Chấn hơi nặng tay một chút.
Sau đó vận nhẹ bảy lần, đây là định phách, có tác dụng an thần.
Tiếp đó vận từ quẻ Tốn tới quẻ Đoài, bảy lần, đây gọi là an hồn.
Từ Khôn tới Khảm bảy lần có thể lui nhiệt.
Từ Cấn tới Ly bảy lần có thể phát hãn.
Nếu trẻ ho, vận từ Ly tới Càn bảy lần, rồi đẩy thẳng hai cung Khảm Ly bảy lần, gọi là thủy hỏa ký tế.
Ở đây nói qua về vị trí bát quái trong lòng bàn tay trẻ, lấy tay trái làm ví dụ, bắt đầu từ dưới ngón trỏ.
Dưới ngón trỏ là quẻ Tốn, dưới ngón giữa là quẻ Ly, dưới ngón vô danh là quẻ Khôn, xoay xuống dưới một chút phía mô ngón út là quẻ Đoài, dưới quẻ Đoài, tức là chỗ gốc bàn tay thẳng dưới ngón út là quẻ Càn, sang trái là quẻ Khảm, sang trái nữa là mô ngón cái là quẻ Cấn, phía trên mô ngón cái chỗ hổ khẩu là quẻ Chấn.
Đây chính là vị trí bát quái, là như vậy.
Biết được vị trí này, mới có thể hiểu rõ hơn cách thức và phương hướng vận bát quái.
Có “Vận nội bát quái” thì có “Vận ngoại bát quái”.
Thủ pháp vận ngoại bát quái chủ yếu có tác dụng sơ thông khí huyết, đả thông bí kết, có tác dụng thông tiện.
Trước tiên để mu bàn tay trẻ hướng lên, thầy thuốc dùng ngón cái phải vận từ Càn, tới cung Ly hơi nhẹ tay, sau khi vận qua quẻ Ly, lực vận ở các cung khác cứ bình thường là được.
Ở đây giải thích tại sao nói cung Ly có thể nhẹ hơn, vì trong thủ pháp thôi nã nhi khoa có câu nói là “Ly vị bất thôi”.
Nói rằng trẻ là thể chất trĩ âm trĩ dương, Ly là tâm, là hỏa.
Nếu đẩy vào quẻ Ly của trẻ, dễ làm nhiễu tâm hỏa, khiến trẻ bị nóng trong, nên thông thường khi đẩy quẻ Ly thủ pháp đều khá nhẹ.
Thủ pháp tiếp theo gọi là “Đả mã quá thiên hà”:
Thủ pháp này hiện nay chủ yếu vẫn là trị nhiệt bệnh, tức là có thể hạ sốt.
Dùng ngón cái trái bóp tổng cân của trẻ, dùng ngón cái và ngón giữa phải búng vào, như dáng gảy đàn.
Từ Thiên Hà búng qua Khúc Trì chín lần, rồi dùng ngón cái phải bấm vào các huyệt Kiên Tỉnh, Tỳ Bà, Tẩu Mã, mỗi huyệt năm lần.
Đây là một cách làm.
“Đả mã quá thiên hà” này còn một cách làm khác:
Trước tiên vận huyệt Lao Cung, sau khi vận xong, uốn ngón tay hướng lên, dùng móng tay búng vào các huyệt Nội Quan, Dương Trì, Gian Sử, Thiên Hà, v. v.
Thủ pháp này cũng gọi là Đả mã quá thiên hà.
Thủ pháp tiếp theo gọi là “Thập đại thủ pháp”:
Thủ pháp này chủ yếu trị trẻ bị tích sữa cộng thêm cảm phong hàn.
Tích ở trẻ thường chia làm hai loại: nhũ tích và thực tích.
Hơn nữa tích ở trẻ có ba loại kẹp theo: kẹp kinh, kẹp phong, kẹp hàn.
Chỉ đơn thuần là thực tích thì rất ít, chủ yếu vẫn là các chứng kèm theo khác.
Khi làm thủ pháp này, trước tiên để lòng bàn tay trái của trẻ hướng lên, thầy thuốc dùng ngón giữa, ngón vô danh và ngón út của hai tay đỡ lấy.
Lúc này dùng hai ngón cái của hai tay ấn nhẹ vào tam quan lục phủ.
Ngón trỏ tay trái dựa vào phủ, ngón trỏ tay phải dựa vào quan, lúc này bắt đầu bấm day, xoay chuyển.
Từ tổng cân bắt đầu xoay vòng tới bên cạnh Khúc Trì, thông thường bấm day qua lại 3-4 lần là tốt nhất.
Thủ pháp cuối cùng là “Vận thủy nhập thổ, vận thổ nhập thủy”:
Thủy tức là thận tạng, thổ tức là tỳ tạng.
Cho nên thủ pháp này chủ yếu trị thận tỳ.
Trước tiên để lòng bàn tay trẻ hướng lên, thầy thuốc dùng mặt ngón cái phải, chấm nước hành gừng, từ thận thủy bắt đầu, đi qua ba cung Càn, Khảm, Cấn, tới tỳ thổ thì dừng, gọi là vận thủy nhập thổ, trị lỵ tật.
Từ tỳ thổ bắt đầu, đi qua ba cung Cấn, Khảm, Càn, tới thận thủy thì dừng, gọi là vận thổ nhập thủy, trị tiết tả.