Chương 38

Đạo nhân phong thủy

Ngày hôm sau, sau khi Nhị Não Đại tỉnh dậy, ông hỏi về chuyện tối hôm trước, tôi kể lại vắn tắt một lượt và nói cho ông biết có người đang ngấm ngầm gây rối chứ không phải ma quỷ gì hết thì Nhị Não Đại mới tạm yên lòng.

Còn cái cây ngô đồng đã bị chết khô, tôi cũng dặn Nhị Não Đại tìm người chặt và đốt đi.

Bố tôi gọi điện về nhà, hình như dặn mấy người trong họ làm một số việc. Sau đó, bố tôi nói ông đã nhờ người trong họ hỏi trưởng tộc Liễu tộc Liễu Trường Thanh rồi. Liễu Trường Thanh nói có bị mất một con rối đã thành hình, nhưng chưa bắt được kẻ ăn trộm.

Từ đó có thể thấy kẻ phát động con rối tấn công chúng tôi có lẽ chính là kẻ đã ăn cắp con rối của Liễu tộc.

Bởi vì tối hôm qua rất muộn rồi mới giải quyết xong mọi chuyện nên chúng tôi ngủ không được ngon, dậy cũng muộn hơn, sau khi giải quyết các việc cá nhân lặt vặt xong thì cũng đã khoảng 10 giờ sáng rồi.

Hơn 6 giờ sáng, Hà Cửu Thúc đã đến nhà Nhị Não Đại, ông ta nói leo núi thì phải đi nhân khi còn sớm, đường núi khó đi, rất mất thời gian. Lúc đó chú Hai tôi không muốn dậy chút nào, bố tôi đành bảo Hà Cửu Thúc cứ về đi đã, tối hôm qua gặp một vài chuyện rắc rối, nghỉ ngơi không được tốt, sức khỏe không đảm bảo, hơn nữa dụng cụ lên núi cũng chưa kịp chuẩn bị, chi bằng để hôm sau.

Hà Cửu Thúc thấy vậy đành phải cáo từ, nhận lời ngày hôm sau sẽ đến.

Ngày hôm sau, 6 giờ Hà Cửu Thúc đã tới, mọi người nói chuyện một lát xong thì bắt đầu lên đường, cùng đi lên núi Kim Kê Lãnh tìm chỗ mai táng Hà Thiên Minh.

Sức khỏe của Lão Khuất Đầu vốn đã yếu, thêm vào đó bị kinh động bởi chuyện giòi xác chết nên đổ bệnh, đành phải nghỉ tại nhà chờ mọi người.

Nhị Não Đại chuẩn bị một túi tướng đồ dùng theo lời dặn của tôi và bố tôi, trong đó có cả nến, đèn pin, dây thừng, liềm, thuổng.

Vừa ra khỏi cổng thì đã thấy trưởng thôn Hà và Lệ Thiên Thu đứng ở đó, khiến mọi người không khỏi sững người. Chú Hai trợn mắt nói: “Quả nhiên là loài nhặng, suốt ngày cứ đuổi bám theo người!”

Trưởng thôn Hà bước lên, hỏi: “Mọi người chuẩn bị làm gì thế?”

Nhị Não Đại nói: “Chúng tôi muốn đi tìm xác của lão địa chủ, không thể để cho ông ta cứ gây chuyện mãi được!”

Trưởng thôn Hà nói: “Các người đi tìm xác thì có thể, nhưng ông Lệ đây muốn đi cùng, tôi không muốn lại xảy ra chuyện chết người.”

Chú Hai nói: “Hôm đó người họ Lệ kia cũng ở đó nên mới có chuyện chết người. Tôi nói cho ông biết, không có ông ta ở đó, mọi chuyện sẽ tốt hơn đấy. Hễ mà có mặt ông ta thì chắc chắn sẽ xảy ra chuyện chết người!”

Trưởng thôn Hà trợn mắt, không thèm để ý đến lời của chú Hai mà hỏi Nhị Não Đại: “Nhị Não Đại, anh có nghe lời hay không?”

Nhị Não Đại sợ sệt, lắp bắp nói: “Được, để cho ông Lệ cùng đi.”

Trưởng thôn Hà gật đầu, nói: “Phải thế chứ, nhớ là anh vẫn đang ở Đại Hà Trang đó.” Nói xong thì phẩy tay áo rời đi. Lệ Thiên Thu thì hai tay chắp sau lưng, mỉm cười lạnh lùng.

Chú Hai trợn mắt nhìn Nhị Não Đại rồi bỏ đi lên trước, mọi người đi theo, Lệ Thiên Thu cũng bám theo với khoảng cách chẳng gần cũng chẳng xa.

Mọi người vốn lo lắng cho sức khỏe của Hà Cửu Thúc, không ngờ bước chân của ông vẫn rất nhanh nhẹn, còn hơn cả người thích ăn lười vận động như chú Hai, khiến chú Hai vừa phục vừa thay đổi cách nhìn về ông và khẽ lẩm bẩm: Ông già này sống lâu như vậy xem ra không phải là không có lý do.

Hồi đó, sau khi Hà Thiên Minh bị xử tử, hình như xác bị mấy người dân làng khiêng lên núi rồi chôn vùi qua loa, sau đó cũng chẳng có ai hỏi han xem ông ta được chôn ở đâu. Bây giờ, những người khiêng xác chết của ông ta cũng đều đã chết, chỗ chôn cất Hà Thiên Minh trở thành một điều bí ẩn.

Trên đường đi, chú Hai nói: “Theo tôi, chưa biết chừng xác của Hà Thiên Minh đã bị chó sói hay chó hoang đào lên ăn thịt rồi, bây giờ chúng ta có tìm vậy chứ tìm nữa cũng không thấy.”

Nhị Não Đại nói: “Hồi trước giải phóng, dãy núi này còn có chó sói, chó hoang, bây giờ hiếm lắm, có lẽ bị người ra giết chết hết rồi.”

Hà Cửu Thúc hỏi: “Sau khi tìm được xác của Hà Thiên Minh thì mọi người chuẩn bị làm gì?”

Tôi đã đọc qua ghi chép trong thiên Tà cuốn “Nghĩa Sơn Công Lục” thì đối với xương cốt của người tác quái sau khi đã chết đại khái có ba cách xử lý: một là dùng lửa thiêu trực tiếp đồng thời làm thuật Nhượng hung để xua đuổi âm hồn, chặt đứt tận gốc; hai là đem xương cốt an táng ở một nơi có phong thủy tốt hơn và làm thuật Nhượng hung để đưa tiễn âm hồn, cho âm hồn được siêu thoát; ba là, bố trí lại phần mộ, an táng xương cốt, dùng một thuật nhất định đóng kín âm khí lại không cho lọt ra ngoài.

Còn thuật Nhượng hung chính là lập bia đá để trấn tà, hoặc là dùng gỗ bạch dương khắc hình người để đuổi tà, hoặc nữa là dùng bùa đào mộc đan để tránh tà, tất cả những cách này có thể dùng riêng lẻ hoặc dùng kết hợp.

Theo ý của tôi, sau khi tìm thấy xương cốt của Hà Thiên Minh, dùng lửa thiêu là tốt nhất, đề phòng sau này lại xảy ra chuyện.

Chú Hai giận dữ nói: “Ông ta còn nhập vào người tôi, để tôi chạy lên núi Kim Kê Lãnh, khiến suýt nữa hại chết cả ba chúng tôi, nên tìm thấy rồi thì băm vằm thành trăm ngàn mảnh, thành tro thành bụi.”

Giang Linh nói: “Nghe chú Hai nói chú thông hiểu nửa cuốn “Nghĩa Sơn Công Lục”, vậy thì chắc chú cũng biết pháp thuật của Mao Sơn chúng tôi. Chúng tôi thông thường dùng chu sa viết bùa chú trấn tà của bản môn lên tấm gỗ đào, sau đó khắc thành hình bùa, mỗi thứ hai phần, một phần chôn bên cạnh xương cốt đó, một phần để ở nhà của người bị hại.”

Tôi gật đầu, phương pháp mà Giang Linh nói không khác nhiều so với phương pháp trong “Nghĩa Sơn Công Lục” nói, chỉ có điều tôi chỉ nhớ được phương pháp đại khái, còn không nhớ được phương pháp vẽ bùa hiếm và kỳ lạ.

Tôi hỏi Giang Linh: “Cô có thể vẽ được những tấm bùa đó không?”

Giang Linh đáp: “Có thể. Vẽ bùa là kỹ năng cơ bản của các đệ tử Mao Sơn chúng tôi, rất đơn giản.”

Tôi nói: “Đơn giản? Ý của tôi là cô không cần nhìn vào bản gốc mà vẽ nó ra dựa theo trí nhớ cơ.”

Giang Linh đáp: “Thì tất nhiên rồi, đều phải dựa vào trí nhớ chứ.” Tôi bèn nói với vẻ khâm phục: “Cô có thể vẽ được bao nhiêu loại bùa?”

Giang Linh đáp: “Những loại mà tôi biết không nhiều, chỉ có thể vẽ được 125 loại.”

Tôi thật sự sửng sốt, trong chốc lát không nói được câu nào.

Giang Linh nhìn tôi một cái, rồi bẽn lẽn cười, nói: “Sư phụ, sư tổ của tôi ít nhất cũng vẽ được 500 loại.”

500 loại!

Đều dùng vào những việc gì nhỉ?

Tôi thực sự sửng sốt, một hồi lâu sau mới nói: “Vậy có phải sư phụ, sư tổ của cô đều dùng phần lớn thời gian vào việc luyện vẽ bùa không?”

Giang Linh đáp: “Cũng không phải vậy, họ cũng luyện khí, có lúc cũng xuống núi đi đây đi đó, có điều phần lớn thời gian đều dùng vào việc nghiên cứu những loại bùa đó, vì suy cho cùng thì căn bản là phái của chúng tôi đều ở thuật bùa chú.”

“Xem ra Nhất Trúc Đạo Trưởng được gọi là Thái Đẩu bùa chú quả nhiên không phải là một hư danh!” Tôi thốt lên vẻ ngưỡng mộ.

Tôi và Giang Linh cứ nói chuyện với nhau như vậy, bố tôi thì im lặng, chú Hai thì bước thấp bước cao, còn Hà Cửu Thúc thì cứ nói hết chuyện này đến chuyện khác với Nhị Não Đại, mọi người coi như không biết đến sự có mặt của Lệ Thiên Thu, Lệ Thiên Thu cũng không lấy đó làm tức giận mà chỉ đi cùng với mọi người lên núi.

Đường lên núi quanh co, khúc khuỷu, chúng tôi cứ lúc đi lúc nghỉ, hễ nhìn thấy các hốc núi thì lại ngó vào quan sát một lúc, dọc đường cũng phát hiện ra một số xương cốt, tuy nhiên không có xương nào là của người mà toàn là của các loài động vật. Theo như lời của Hà Cửu Thúc thì trong số xương đó thậm chí có cả xương của loài hổ!

Bố tôi, tôi và những người khác nghe vậy thì cũng bình thường, chỉ có chú Hai sau khi nghe xong mắt sáng rực lên như bóng đèn, rồi đánh rất nhiều dấu vào gần các hốc đó. Tôi hỏi chú làm thế để làm gì, chú nói để khi về mang những xương đó về theo, vì xương của hổ bán rất được tiền.

Xung quanh dãy Kim kê Lãnh rất rộng lớn, có rất nhiều nơi chưa khai phá, đến cả người sinh ra và lớn lên ở đây như Nhị Não Đại cũng còn thấy chóng mặt, nhưng Hà Cửu Thúc vẫn như người bản địa sinh sống nhiều năm trong núi. Ông vẫn bước đi rất nhẹ nhàng, dường như tất cả đều trong lòng bàn tay của ông.

Sau khi đi được chừng bốn tiếng đồng hồ thì cũng vừa 10 giờ, chú Hai và Nhị Não Đại mệt đến rã rời, lưỡi thè cả ra, thoạt nhìn cứ tưởng là ma chết treo.

Tôi cũng rất mệt, còn Giang Linh, bố tôi và Lệ Thiên Thu thì vẫn cứ như không, không thở dốc, bước chân vẫn vững vàng.

Chú Hai thở hổn hển, nói: “Tôi thực sự không bước nổi nữa, chúng ta nghỉ một chút được không?”

Bỗng nhiên tôi cười lạnh lùng, nói: “Chú đã mệt rồi? Có người đi theo chúng ta, cứ phải nín hơi nhịn thở, trốn trốn nấp nấp cũng đâu có mệt như chú!”

“Ai trốn trốn nấp nấp?” Chú Hai làu bàu ngồi xuống, rồi đột nhiên đứng phắt dậy, quay ngoắt đầu lại nhìn và nói: “Nguyên Phương, cháu nói là có người đi theo chúng ta là có ý gì?”

Bố tôi gằn giọng: “Có người bám theo!”

Nghe câu này của bố tôi, mọi người đều rất ngạc nhiên, chỉ duy nhất Lệ Thiên Thu không tỏ vẻ gì, dường như ông ta cũng đã biết được điều đó.

Sở dĩ tôi cảm thấy là vì tôi ngửi thấy một mùi người quen thuộc.

Càng nghiên cứu sâu về tướng thuật của Ma Y đạo, tôi càng quen với việc dùng lục pháp, bao gồm tai, mắt, mồm, mũi và thân, tâm, và việc dùng ấy cũng ngày càng có hiệu quả.

Còn như tại sao bố tôi lại phát hiện ra thì càng đơn giản hơn. Dọc đường bố không nói gì, thực ra là ông đang thả lỏng lục cảm, có thể cảm nhận thấy nhất cử nhất động xung quanh mình. Trong lòng ông luôn đề phòng con người gần ngay trước mắt là Lệ Thiên Thu, có điều Lệ Thiên Thu không có hành động khác thường nào, và thế là ông phát hiện ra có người ngấm ngầm bám theo.

Mặc dù phát hiện nhưng bố tôi không nói ra, có lẽ bố muốn xem đối phương định giở trò gì, mãi cho tới khi vào sâu trong Kim Kê Lãnh, tôi lên tiếng chỉ ra thì ông cũng mới nói ra.

Tôi lập tức nói rất dõng dạc: “Anh bạn, đi theo lâu như vậy, tại sao lại không lộ diện một chút nhỉ?”

“Ha, ha, sơn nhân đã nhìn không thấu hết! Giang hồ truyền tai rằng Ma Y Trần gia đã suy bại, không ngờ vẫn còn những nhân vật như cha con hai người, một văn một võ, đúng là một sự phối hợp tuyệt vời!”

Trong một tràng tiếng cười lạnh lùng, một đạo nhân tay cầm chiếc la bàn phong thủy bước ra từ sau một tảng đá, người đó chính là thầy phong thủy đó!

Giang Linh vừa nhìn thấy, lập tức gầm lên: “Yêu nhân! Thì ra là người!”

Vị đạo sĩ đó mỉm cười lạnh lùng: “Cô nhóc, ngươi đuổi theo ta từ Hồ Bắc tới Hà Nam, không ngơi nghỉ một khắc nào, cứ nghĩ rằng đạo gia sợ ngươi? Hừ! Phía nam Trường Giang là địa bàn của Mao Sơn nhà ngươi, ta sợ ngươi có trợ thủ, cho nên đã nể tình ngươi ở mọi chỗ, ngươi chớ có bắt nạt ta quá mức!”

Tôi nói bằng giọng lạnh lùng: “Con rối tối hôm qua có phải là trò của ông không?”

Vị đạo sĩ kia ngây người, rồi lập tức đáp: “Con rối đó là của Liễu tộc, có liên quan gì đến ta?”

Bố tôi nói bằng giọng bình thản: “Ta đã điều tra rồi, chẳng có liên quan gì đến Liễu tộc.”

“Quả nhiên là đồ khốn nhà ngươi!” Chú Hai cất tiếng chửi “Đồ đạo sĩ thối tha, dùng con rối để dọa Nhị gia ngươi, Nhị gia ngươi đã đập nát đầu con rối đó rồi!”

Vị đạo sĩ kia hừ một tiếng, rồi nói: “Nhìn thấy ngươi ta mới biết, Ma Y Trần gia không chỉ có nhân tài mà còn có cả những đồ bỏ đi như ngươi!”

“Ngươi!” Chú Hai tức quá không nói được gì.

Tôi bước lên một bước, nói bằng giọng nghiêm nghị: “Ông là đồ cặn bã trong giới thuật, là môn nào, phái nào? Có quan hệ gì với Liễu tộc? Đã giấu mình ở Đại Hà Trang như thế nào? Hãy mau nói ra cho rõ ràng, nếu không chúng ta sẽ làm khó cho ông!”

Bố tôi cũng hừ một tiếng lạnh lùng, rồi đứng trước mặt đạo sĩ phong thủy đó, nếu đối phương không khai báo thật thà, chắc chắn ông sẽ không nương nhẹ ra đòn với ông ta.