Chương 1391: Say xe, làm khó, nước thuốc hỗn hợp

Khi đoàn xe lướt qua những cửa hàng và quán trọ mọc san sát ven đường phía nam Trấn Hạ Địa, không ít thương nhân bản địa đã bước ra khỏi tiệm, chỉ trỏ về phía đoàn người của Kiel.

Nhưng hễ Kiel quay đầu nhìn lại, đám người này liền lập tức lảng tránh, ra điều vừa rồi bọn họ chẳng hề chỉ trỏ hay đánh giá gì về vị kỵ sĩ dẫn đầu ấy.

Thực ra, Kiel đã nghe lọt tai tất cả. Phần lớn bọn họ đều cho rằng thủ lĩnh của đoàn xe là một kẻ ngốc, tự nhiên lại rước một đống phiền phức to tát vào người. Hơn hai mươi con người mất trắng này đã vất vưởng quanh Trấn Hạ Địa từ lâu, và số mới gia nhập đoàn của Kiel vẫn chưa phải là toàn bộ. Ở khu vực hẻo lánh phía bắc, sát mép hồ nước phía trước, vẫn còn không ít kẻ khốn cùng đang chật vật sinh tồn, khiến dân trấn muốn ra hồ dạo chơi cũng cảm thấy bất an.

Dù sao thì đám dân nghèo phá sản này chưa từng làm ra những chuyện tội lỗi như giết người cướp của.

Chỉ là họ chẳng có chút bản sự nào, chẳng giúp được việc gì đáng kể, lại thêm gầy gò ốm yếu. Riêng cái khoản tẩm bổ cho họ lại sức để có thể làm việc thôi cũng đã là một khoản chi phí ban đầu không hề nhỏ.

Trái lại, đám vệ binh canh gác ở cổng trấn từ xa nhìn sang lại thở phào nhẹ nhõm một hơi dài. Mấy ngày nay, họ vẫn luôn thấp thỏm đề phòng nhóm người tha phương này vì sợ họ gây chuyện. Thật ra, nếu không nhờ sự can thiệp nhiều lần của đội vệ binh, mấy kẻ ngoài kia sớm đã làm loạn rồi.

Cũng may, chuyến này đoàn xe từ nơi khác tới đã hốt một mẻ gần hai mươi người, cuối cùng cũng giúp họ trút được gánh nặng lớn.

Tuy nhiên, khi đoàn xe lướt qua, tận mắt nhìn thấy phần lớn người trong đoàn đều khoác giáp trang nghiêm, bên cạnh còn có cả những á nhân người lùn vũ trang tận răng, đám vệ binh không khỏi giật mình kinh ngạc.

Chưa kịp báo cáo phát hiện này cho gia tộc lãnh chúa, họ đã thấy đoàn xe rẽ theo con đường hướng về phía đông, trông có vẻ đang vội vã tiến thẳng đến thái ấp trực thuộc của đại nhân Bá tước.

Chứng kiến cảnh ấy, ai nấy đều tự khắc hiểu rõ mục đích của một lực lượng vũ trang như vậy — chắc chắn là để vội vã tham gia chiến dịch phản kích chống lại quốc gia láng giềng ở phương nam.

Thầm gửi lại một lời chúc phúc, đám vệ binh ngây người đứng nhìn đoàn xe khuất dần vào bụi đất.

Mẹ ơi... con chóng mặt quá...

Trong cỗ xe ngựa chở những người nông dân mất trắng, một đứa trẻ nhỏ xíu được người phụ nữ ôm chặt vào ngực, mếu máo lên tiếng.

Thằng bé há miệng chực nôn, nhưng lại sợ ọe ra ổ bánh mì ngọt vừa ăn lúc nãy, đành vội vã dùng tay bịt chặt miệng lại.

Chiếc xe ngựa băng băng trên con đường đất nông thôn. Vốn là loại xe chắc chắn được kéo bởi hai con ngựa thồ, nhưng hễ bánh xe va phải những hòn đá nhỏ là cả cỗ xe lại chồm lên một cục thật mạnh; còn khi lọt vào những vệt bánh xe sâu do thương đội cày nát từ trước, cả khoang xe lại chao đảo tròng trành chẳng khác nào đang đi thuyền.

Thực ra, không chỉ những đứa trẻ thể chất kém mới bị say xe, mà cả người lớn trong khoang cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Ai nấy đều cắn răng chịu đựng cảm giác tròng trành quay cuồng trong đầu cùng trận cuồn cuộn buồn nôn cồn cào ở dạ dày.

Có kẻ không chịu nổi đã lả đi từ lúc nào trong tiếng bánh xe cọt kẹt, ngất đi xem ra lại là một cách giải thoát dễ chịu hơn chăng?

Dẫu vậy, chẳng một ai thốt lên lời muốn bỏ cuộc hay đòi quay đầu.

Bởi họ thừa biết, sự tiếp nhận bất ngờ này rất có thể là chiếc phao cứu sinh cuối cùng cho gia đình họ.

Hơn nữa, dẫu có xuống xe, bọn họ còn nơi nào để về?

Tiếp tục đi ăn xin bên ngoài Trấn Hạ Địa ư? Hay quay về chốn quê hương cũ?

Ở lại đó chỉ chuốc lấy sự ghẻ lạnh, bài xích, để rồi từng bước chìm nghỉm vào cái chết. Còn quê hương ư? Kể từ ngày bị chính nơi chôn rau cắt rốn đuổi đi, bọn họ đã chẳng còn quê nhà nữa rồi.

Những gia đình nông dân khốn cùng ấy tựa như những chiếc lá khô, những con thuyền nhỏ bé trôi dạt giữa dòng nước lũ, cứ thế bị cuốn đi suốt dọc đường, lao vút về hạ lưu mà chẳng một ai biết trước tương lai.

Đoạn đường xe ngựa chạy dọc bờ phía nam hồ nước, nhanh chóng bỏ lại sau lưng mấy ngôi làng nhỏ. Mãi đến khi trời ngả về chiều, Kiel mới ra lệnh cho toàn đoàn giảm tốc độ, dừng lại ven đường để mọi người nghỉ ngơi đôi chút.

Mục đích lớn nhất là để những con ngựa kéo được thả lỏng và uống nước.

Thế nào rồi? Mọi người vẫn ổn chứ?

Kiel thúc ngựa tiến lại gần, nhìn đám đông đang lờ mờ vật vờ trong khoang xe và cất lời hỏi.

Vì cơn say xe hành hạ, chẳng ai còn chút sức lực nào để đáp lời. Phụ nữ và trẻ em đều tựa vào nhau ngủ thiếp đi, chỉ có vài người đàn ông cố gắng gượng dậy, định đứng lên trả lời vị kỵ sĩ.

Nhưng họ đã thất bại, người vừa chồm lên liền mềm nhún ngã quỵ xuống sàn xe, đến việc chống tay nâng cơ thể dậy cũng là quá sức.

Tình hình sao rồi?

Thưa đại nhân, hình như ai nấy đều bị say xe nặng, chiếc xe phía trước cũng vậy. Nhưng phải công nhận là ít nhất bọn họ không đến nỗi nôn thốc nôn tháo đầy sàn xe như hồi mới xuất phát.

Người đánh xe ở cỗ xe phía trước vịn mép ghế đứng dậy, đáp lời Kiel rồi tiện tay xách chiếc thùng nước đi về phía cỗ xe chở nước ở phía sau.

Ngài Zogigra! Ngài Zogigra! Xin hãy qua đây xem giúp tình hình của bọn họ.

Kiel cất giọng gọi vị thầy thuốc thảo dược. Vốn dĩ anh tính đợi đến khi cắm trại vào buổi tối mới để ông kiểm tra sức khỏe cho những thành viên mới gia nhập này, nhưng nhìn tình trạng hiện tại, chi bằng giải quyết dứt điểm chứng say xe cho họ trước thì hơn.

Bàn tay chuyên nghiệp của thầy thuốc thảo dược quả nhiên phát huy tác dụng. Vấy ngày trước, khi lũ trẻ nhà ông bắt đầu lên đường cùng đoàn xe, chúng cũng thường xuyên nôn ọe, thế nên những loại thảo dược trị say tàu xe đã được ông chuẩn bị từ rất sớm.

Đó là một loại lá cây đựng trong hộp có mùi hăng nồng cực kỳ kích thích. Phiến lá dày thịt, trông giống hệt như xương rồng hoặc các loài cây mọng nước mọc trên mái nhà vùng nông thôn.

Chỉ ngửi thôi cũng đủ khiến người ta nhức mũi, thoạt nhìn cứ nghĩ chẳng tài nào nuốt nổi vào bụng.

Quả nhiên, đúng như Kiel phỏng đoán, ngài Zogigra chỉ dùng một đôi găng tay vải thô dày cộp kẹp lấy phiến lá, quơ quơ trước mũi từng người đang vật vờ vì say xe. Những kẻ nãy giờ còn đang mơ màng lịm đi bỗng chốc giật mình tỉnh táo hẳn.

Đàn ông mau chóng lấy lại chút sức lực, còn phụ nữ và trẻ em dù tinh thần đã tỉnh táo nhưng tứ chi vẫn mềm nhũn, đe tành để người đàn ông trong nhà dìu đỡ bước xuống xe.

Chỉ cần đặt chân xuống mặt đất vững chắc, tình trạng của tất cả lập tức khá hơn trông thấy.

Kiel nhận ra, những đứa trẻ vốn thích ngồi xe ngựa lúc nãy giờ lại là đám đầu tiên bò tháo thân khỏi khoang xe, trong khi các bà các chị thì cúi người hôn lấy mặt đất, chẳng màng đến chuyện bẩn thỉu hay thể diện gì nữa.

Chỉ duy nhất ông lão gầy gò đen đúa từng bắt chuyện với anh lúc trước là tỏ vẻ khó chịu ra mặt. Lão lẩm bẩm trong miệng rằng việc hôn đất liền là hành vi cầu xin ơn huệ của Nữ thần Đất Mẹ, còn những tín đồ Nông thần thuần phác như bọn họ, việc phải làm là nắm chặt cán cuốc mà cày xới ruộng đồng mới đúng chuẩn mực.

Nhưng sự bất mãn của ông lão chẳng ai thèm để ý. Đám đông nông dân khốn khổ lúc này chỉ muốn nằm dài trên mặt đất phẳng lì để tận hưởng cảm giác yên bình. Nhân lúc chưa lên đường, mỗi người được phát một mẩu bánh mì lót dạ, rồi ngả lưng ngủ vùi dưới bóng râm của cỗ xe – với họ, đó đã là sự xa xỉ tột cùng.

Liệu thể trạng của bọn họ có trụ nổi đến lúc cắm trại tối nay không? Đàn ông trưởng thành thì tạm ổn, nhưng phụ nữ và trẻ em thế này có vẻ sắp kiệt sức rồi.

Kiel kéo ngài Zogigra ra một góc, trầm giọng bàn bạc.

"Thưa đại nhân, nếu chỉ ngồi xe đi thong thả thì có lẽ không vấn đề gì. Nhưng ngài xem, đoàn xe hiện tại đang phải gấp rút lên đường. Ta không có ý chê bai gì, nhưng nếu muốn cơ thể họ chịu đựng được thì dùng mấy cách thông thường chắc chắn không xong đâu. "Ngài Zogigra nhíu mày đáp.

"Cách thông thường không được? Ý ông là phải dùng 'cách đặc biệt'chứ gì? Nói nghe thử xem nào. "Kiel tò mò.

Ngài Zogigra không vòng vo, trực tiếp lấy từ túi dược liệu bên hông ra hai lọ thuốc nhỏ màu xanh và vàng. Cả hai lọ đều được bọc cẩn thận bằng những mảnh vải màu khác nhau, nhìn qua là biết đây là những mẻ nước thuốc mới được ông điều chế gần đây.

Kiel nhướng mày: "Phải cho bọn họ uống mấy thứ này sao?"

Thầy thuốc thảo dược có chút khó xử: "Vâng, thưa đại nhân, cơ thể họ đã suy nhược quá mức. Hơn nữa, chỉ nhìn bề ngoài thôi ta cũng thấy họ mang trong mình đủ thứ bệnh, không ít người còn đang mắc bệnh nặng. Muốn vực họ dậy để có thể làm việc lâu dài, sau này sẽ phải tốn kém kha khá tiền thuốc thang. Còn hiện tại, bắt buộc phải dùng một lượng nước thuốc không rẻ chút nào mới giúp họ chống chọi nổi. Bằng không, dượng trông lúc này tạm ổn vậy thôi chứ đến chập tối, đám trẻ thể chất kém chắc chắn sẽ đổ bệnh."

Đã thế ngày mai lại còn một ngày dài đằng đẵng phải lên đường. Dù không ép tiến độ đi chăng nữa, sự mệt mỏi khi ngồi xe lắc lư cũng sẽ tước đi sinh mạng của những đứa trẻ và phụ nữ này.

Ngài Zogigra lắc đầu ngán ngẩm: "Nếu kết quả cuối cùng là mất mạng, chi bằng từ đầu cứ để họ lại bên ngoài Trấn Hạ Địa mà ăn ngươi cho rồi. Hừ, ít ra khi ấy đám chiến sĩ nhà ta động lòng trắc ẩn để lại ít tiền lẻ cho họ, họa may còn có cơ hội sống sót."

Kiel không chút do dự: "Ông nói đúng. Đã gia nhập đội ngũ của ta rồi thì cứ làm theo cách của ông đi. Những lọ thuốc đó cho họ uống có an toàn không? Dù sao cơ thể họ cũng yếu ớt như vậy."

An toàn chứ, vốn dĩ dòng nước thuốc này được tinh chế để phục vụ cho các chiến sĩ bị thương hoặc kiệt sức cơ mà. Chỉ là thưa đại nhân, chưa tính đến các nguyên liệu ma vật quý hiếm thu được từ chiến trận, riêng chi phí cho các loại dược liệu phụ trợ để điều chế ra chúng cũng đã không hề rẻ chút nào...

Kiel xua tay cắt lời: "Đó không phải vấn đề lớn. Nước thuốc điều chế ra là để dùng, cất đi cũng chẳng tăng thêm giá trị. Hơn nữa, dùng cho những người thực sự cần đến nó mới phát huy hết ý nghĩa vốn có.

Cầm lấy mà dùng đi, chỉ có ngần ấy người, lượng thuốc của ông có đủ không? Có cần ta lấy thêm từ khoang xe của mình không?"

Ngài Zogigra lắc đầu: "Không cần đâu thưa đại nhân, trong số họ có cả phụ nữ và trẻ em nên liều lượng dùng sẽ ít hơn đàn ông trưởng thành nhiều. Hơn nữa, trong túi ta vẫn còn một ít nguyên dịch chưa chiết ra lọ nhỏ, hoàn toàn đủ dùng, không cần phiền đến số dược tề dự trữ của ngài đâu."

Được Kiel bật đèn xanh, ngài Zogigra liền lớn tiếng giải thích tình hình với đám đông đang nằm rạp dưới đất. Hai chiếc lọ thủy tinh nhỏ bọc vải màu trong tay ông khiến những kẻ khốn cùng ngẩn ngơ nhìn nhau. Bọn họ nằm mơ cũng không ngờ cái mạng rẻ mạt của mình lại có ngày được uống cả nước thuốc quý giá đến vậy.

Hơn nữa ở quê nhà, dẫu là một chút nước sạch được các giáo sĩ ban ân phước trong nhà thờ, cũng chỉ dành cho những tín đồ trung thành nhất vào mỗi dịp lễ hội. Còn tầng lớp nông dân nghèo hèn như họ, nhiều nhất chỉ được ban cho vài loại thảo dược thông thường để tự mang về nấu ăn, cốt là để chống chọi qua loa với bệnh tật.

Gặp ca bệnh nặng hơn chút nữa, họ buộc phải bán đi những vật dụng có giá trị trong nhà, gom góp tiền của để cầu xin giáo sĩ dùng thần lực chữa trị.

Đã vậy còn phải xếp hàng dài, thậm chí nhiều người còn chẳng có nổi một suất xếp hàng.

Ngài Zogigra mang tới một vò nguyên dịch chưa kịp chiết vào lọ thủy tinh (vì số lượng lọ mua về không đủ chứa). Ông pha loãng hai loại nguyên dịch có công hiệu khác nhau vào một chum nước sạch lớn, khuấy đều rồi ra hiệu cho mọi người tới uống.

Trong lòng họ dấy lên một nỗi hoài nghi, không dám đụng đến. Không phải vì nghi ngờ ngài Zogigra hay Kiel có ý hãm hại – bởi với một đám người mà bất kỳ chiến sĩ nào trong đoàn cũng có thể dễ dàng tước đoạt mạng sống chỉ bằng một nhát dao, việc chuốc độc hạ thủ là hoàn toàn thừa thãi. Sự hoài nghi của họ xuất phát từ một câu hỏi lớn: Liệu đám dân đen như họ có thực sự xứng đáng để chủ nhân đoàn xe bỏ ra một cái giá lớn nhường này để cứu chữa?

Hơn ai hết, họ hiểu rõ vị thế thấp kém của những người nông dân mất đất. Trong xã hội nông nghiệp lấy đồng áng làm gốc, giá trị của một con người được đo bằng mức độ đóng góp của họ cho sản xuất.

Tại sao phụ nữ lại có địa vị thấp kém trong gia đình? Chẳng phải vì họ khó lòng gánh vác những phần việc nặng nhọc đòi hỏi sức vóc trong nông nghiệp hay sao! Kéo theo đó, những đứa con gái cũng thường không được coi trọng.

Huống chi là một lũ nông dân phá sản đã mất sạch ruộng nương như bọn họ. Nếu may mắn còn được thuê múa cày cấy thì không nói làm gì; đằng ở quê hương họ, vấn đề chưa bao giờ là thiếu lao động trẻ, mà là quá dư thừa nhân lực.

Những mảnh ruộng bị thu hồi của họ lập tức sẽ được sung công và chia lại cho những gia đình đông đinh nam đang chật vật chưa có đất phân chia. Bọn họ hoàn toàn không còn cơ hội tìm việc làm thuê. Đã thế, sau chuỗi ngày lang thang khất thực, đi đến đâu họ cũng chịu ánh mắt kỳ thị và xa lánh của người dân bản địa.

Cũng như ở Trấn Hạ Địa vậy, nhờ có hồ nước nên họ còn kiếm được chút nước uống miễn phí; chứ ở những vùng đất khô cằn thiếu nước, việc tự ý bén mảng đến nguồn nước trong làng có khi sẽ bị đánh cho nhừ tử rồi đuổi cổ đi ngay lập tức.

Thấy họ ngần ngại không dám uống, Kiel cứ ngỡ rằng...