Chương 134: Khu nhà giàu, đồ ngọt và triển lãm tranh

Nhưng các loại vật phẩm trang trí ngày lễ ở khu người giàu thì Triệu Cát không tài nào nhìn thấu, chỉ chắc chắn rằng chúng chẳng phải thứ hàng rẻ tiền gì, chưa kể rất nhiều cửa hàng còn dùng vàng lá bọc lấy trái cây và bông lúa mì để làm vật trang trí chủ đạo cho quán.

Triệu Cát phát hiện ra vô số cửa hàng ở đây đều dùng những món đồ mạ vàng thế này làm vật trang trí trung tâm, chúng được đặt trang trọng ngay giữa bệ trưng bày của cửa hàng, hoặc trên chiếc giá gỗ phía sau lưng ông chủ quán, tóm lại là ngự trị ở những vị trí vừa bắt mắt lại vừa an toàn.

Sự hiện diện của những món đồ trang trí bằng vàng này quả thực đã mang lại cho các cửa hàng ở khu người giàu một bầu không khí vô cùng xa hoa, ít nhất là Triệu Cát có cảm giác như vậy. Trông toàn bộ hàng hóa trong cửa hàng dường như cũng được nâng tầm đẳng cấp hẳn lên.

Con đường chính ở khu người giàu không đông đúc chen chúc như các khu vực khác, nhưng vẫn tụ tập một lượng lớn người dân đổ xô đến đây. Đây cũng là một trong số ít những khoảng thời gian trong năm mà những người dân bình thường sinh sống ở khu ổ chuột có thể đàng hoàng, quang minh chính đại đi dạo trong khu người giàu. Không phải ngày thường họ không được phép bén mảng đến đây, mà bởi vào những ngày thường, đa phần họ đều phải vắt kiệt sức lao động để mưu sinh; làm nông, giặt giũ, chăm con, phục dịch binh dịch tạp dịch đều trút cả lên đầu dân nghèo, khiến họ chẳng có thời gian lẫn lý do gì để chạy đến một chốn không thuộc về thế giới của mình mà dạo chơi cả.

Còn có một điểm mấu chốt nhất, đồ đạc ở khu người giàu tuy tinh xảo vô ngần, nhưng giá cả lại vượt xa tầm chi tiêu của người bình thường. Chỉ nhân dịp mấy ngày lễ hội, các cửa hàng nơi đây mới tung ra một số mặt hàng nhỏ giá rẻ để trưng bày nhằm thu hút khách qua lại.

Triệu Cát nhìn thấy rất nhiều người dân bình thường diện những bộ quần áo mới được gia đình sắm sửa riêng để đến khu người giàu, ngoài việc tham quan những ngôi nhà được trang trí tinh xảo đủ mọi kiểu dáng, thì mục đích lớn nhất là dốc hầu bao, lấy ra những đồng tiền tiết kiệm bấy lâu để tậu vài món trang sức giá rẻ hoặc quần áo mũ nón.

Triệu Cát hoàn toàn lạc lõng giữa đám đông, dẫu hắn mặc trang phục thu đông có giá trị không nhỏ, nhưng trên đầu lại đội chiếc mũ hình con thú do thợ học việc ở khu thợ thủ công tự làm đem bán. Đương nhiên, bất cứ ai chạm trán Triệu Cát cũng đều trông thấy tấm huy hiệu Nông Thần Giáo hội vô cùng nổi bật treo trước ngực hắn, thế nên chẳng một ai dám hó hé gì về cách ăn mặc có phần kỳ cục của Triệu Cát.

Thay vì đi dạo hay mua sắm trang sức cùng quần áo giá rẻ, Triệu Cát lại ném sạch tiền túi vào các món đồ ăn thức uống ngập tràn trong khu người giàu.

Khác với đủ loại món ăn thô kệch ở khu ổ chuột, đồ ăn ở khu người giàu không còn là bánh mì khô khốc hay những tảng thịt lớn nữa, mà chủ yếu là các loại bánh ngọt, bánh kem tinh xảo, hơn nữa món nào món nấy đều đượm vị ngọt ngào – đây chính là chân ái của Triệu Cát. Trước kia hắn chủ yếu hoạt động quanh khu thợ thủ công và khu ổ chuột, rất hiếm khi đặt chân đến khu người giàu, cũng chưa từng dùng bữa tại các quán rượu hay tiệm ăn ở đây, không ngờ đồ ăn nơi này lại ngọt ngào đến đắm say.

Kiếp trước, là một thanh niên sống và làm việc trong xã hội công nghiệp hóa, Triệu Cát đương nhiên gần như ngày nào cũng ngấu nghiến chút đồ ăn vặt, mà hai cột trụ quan trọng nhất trong thực phẩm công nghiệp hiện đại chính là đường và bột ngọt. Hầu như mọi món ăn vặt và đồ uống đều được gia giảm lượng đường vượt mức cần thiết, còn thực phẩm mà thiếu bột ngọt thì thể nào cũng kém ngon. Có thể gọi là bữa nào cũng có đường, món nào cũng đính bột ngọt.

Nhưng khi đến thế giới xa lạ này, vì Triệu Cát không có nguồn thu nhập cao, hắn vẫn luôn chẳng được ăn uống tử tế mấy lần, đồ ngọt lại càng thưa thớt, các món nuốt vào bụng vị nhạt nhẽo vô cùng. Nhưng ngặt nỗi ai nấy xung quanh đều thế, hắn đành phải cắn răng nhập gia tùy tục.

Thế nhưng lúc này, Triệu Cát mới bàng hoàng nhận ra, hóa ra không phải nơi này thiếu đồ ngọt, mà là vì tất cả đồ ngọt đều bị gom sạch về khu người giàu này đây. Nếu không cất công đến đây thưởng thức, thì đúng là cả đời chẳng thể phát hiện nổi.

Triệu Cát lập tức buông lỏng hai má, bắt đầu càn quét đồ ăn ngấu nghiến: gom hết bánh kem sữa và bánh quy phô mai lại, bánh trái cây ngọt lịm cũng gói mang đi, riêng bánh pudding mật ong thì hắn dặn chủ quán giữ lại cho mình một phần rồi trả tiền cọc trước, sợ chốc nữa bị bán sạch thì khóc không kịp nư ớt mắt.

Còn kẹo thì Triệu Cát vơ đũa cả nắm nhét đầy một túi da nhỏ, thắt chặt vào thắt lưng, vừa sải bước vừa thả sức nhấm nháp.

Tay trái hắn cầm chiếc bánh kem, tay phải lăm lăm miếng bánh quy lớn, cánh tay tòn ten treo gói bánh trái cây mang về đang tỏa hương thơm ngát, chiếc túi da bên hông đựng kẹo cũng lúc lắc theo từng bước chân phát ra những tiếng va chạm ngọt lịm.

Bên cạnh đồ ăn, quần áo và trang sức, những khoảng trống trên đường phố khu người giàu còn dựng lên vài sân khấu biểu diễn nhỏ, nơi đám con cháu nhà giàu đua nhau tranh tài. Ngoài việc trổ tài ca hát, không ít kẻ còn tấu lên đủ loại nhạc cụ tinh tế. Nghe người xung quanh bàn tán xôn xao, Triệu Cát mới vỡ lẽ: hóa ra vị quốc vương của vương quốc hắn đang đứng vốn dĩ là một lãng du thi nhân truyền kỳ. Nhờ đại diện cho nhân loại tỏa sáng rực rỡ trong đại hội giao lưu vạn thần và giật giải quán quân, ông ta đã được các vị thần ban thưởng cho một vương quốc mới tinh để cai trị.

Mặc dù đã lập quốc được cả trăm năm, và vị quốc vương từng là lãng du thi nhân kia nhờ được thần ân ban phước nên đến nay vẫn còn tại vị, nhưng ông ta sớm đã cao chạy xa bay du lịch ở góc xó xỉnh nào chẳng rõ, chỉ trơ trọi để lại cậu con trai lên ngôi nhiếp chính vương vị, thay cha gánh vác việc điều hành đất nước.

Nghe xong, Triệu Cát liền thấy hoang đường hết chỗ nói. Mẹ kiếp, quốc vương là một gã chuyên ca hát tấu nhạc, chỉ vì tham gia hội nghị của các vị thần để vớt vác thể diện cho loài người mà được thưởng hẳn một vương quốc để cai quản. Đã thế lại còn trọng âm nhạc hơn giang sơn, bỏ bê quốc sự đi ngao du thiên hạ, để lại đứa con trai làm nhiếp chính vương trị vì.

Những thông tin này trước kia thỉnh thoảng hắn từng nghe mấy vị khách say khướt trong quán rượu nhắc thoáng qua, lúc ấy hắn cứ ngỡ đám bợm nhậu đang ba hoa chích choè, dẫu sao say xỉn vào thì chuyện trời ơi đất hỡi gì mà chẳng dám phun ra. Nhưng ngờ đâu hôm nay, nhân dịp Lễ hội thu hoạch ở khu người giàu, nghe mấy công tử nhà giàu bàn luận chuyện âm nhạc rồi tiện mồm nhắc lại, Triệu Cát kinh ngạc đến mức trố cả mắt. Hóa ra cái thế giới quái đản này lại hoang đường đến thế là cùng. Các vị thần đúng là biết cách chơi trội thật đấy.

Triệu Cát vừa thưởng thức đồ ngọt ngon lành, vừa thong thả dạo bước ngắm nhìn đường phố khu người giàu.

Ngoài những hoạt động chỉ diễn ra vào dịp lễ hội kể trên, khu người giàu còn có một điểm cực kỳ thú vị: có người đang tổ chức một triển lãm tranh quy mô nhỏ ngay trên một bãi đất trống.

Triển lãm tranh được dựng lên trên thảm cỏ xanh mướt, dùng đủ loại ruy băng rực rỡ giăng xung quanh để phân định ranh giới trong ngoài. Triệu Cát đứng bên ngoài phóng tầm mắt nhìn vào, bên trong trưng bày khá nhiều tác phẩm, ước chừng ngót nghét trăm bức, đều được gác lên những chiếc giá gỗ chuyên dụng. Do Triệu Cát trên tay vẫn đang cầm đồ ăn dở, một họa sĩ trung niên túc trực ở lối vào đã chặn Triệu Cát lại, ra hiệu rằng hắn phải ăn cho xong xuôi mới được phép bước vào tham quan và mua tranh.

Đây là quy củ hiển nhiên, Triệu Cát đành vội vàng tống liền mấy miếng cho sạch chiếc bánh kem. Riêng bánh quy vì quá khô, trong lúc cấp bách không thể nuốt trôi, Triệu Cát bèn nhét tót nó vào bọc bánh trái cây, giơ hai tay trống không ra cho vị họa sĩ trung niên kiểm tra. Cuối cùng đối phương cũng gật đầu cho Triệu Cát qua cửa, phỏng chừng là đã nhìn thấy tấm huy hiệu chói lọi trước ngực hắn.

Bản thân Triệu Cát cũng thấy tấm huy hiệu đeo người này thực sự quá đỗi tiện lợi, suy cho cùng đây vẫn là một xã hội trọng vọng địa vị. Triệu Cát thầm đoán nếu mình không đeo chiếc huy hiệu này, thì dù có tống hết đồ ăn trên tay, đối phương thấy hắn vẫn đang xách theo một gói bánh trái cây chưa bóc thì chắc chắn sẽ đuổi thẳng cổ không cho bước chân vào.

Chứ còn nếu y phục Triệu Cát mặc mà rách rưới nghèo hèn một chút, thì chẳng cần đoán già đoán non, hắn dám cá trăm phần trăm đối phương tuyệt đối sẽ không cho hắn bén mảng vào chiêm ngưỡng chứ đừng nói là mua tranh.

Triển lãm tranh này hễ bước chân vào cửa là phải nộp mười đồng tiền đồng phí tham quan. Triệu Cát bấm bụng móc ra mười đồng tiền đồng rồi cuối cùng cũng lọt được vào khu triển lãm.

Những bức tranh trưng bày ở đây là công sức của năm sáu họa sĩ chung tay tổ chức. Lúc này, ngoại trừ một họa sĩ luống tuổi đang canh gác ở cổng, các họa sĩ trẻ tuổi còn lại đều tản ra bên trong để nhiệt tình giới thiệu tác phẩm của mình cho từng vị khách ghé thăm.

Triệu Cát cũng lặng lẽ lê bước theo sau mấy vị họa sĩ, chăm chú lắng nghe họ thuyết minh về lai lịch, thời gian cũng như cảm hứng sáng tác của từng bức tranh.

Thành thật mà nói, dẫu Triệu Cát hoàn toàn mù tịt về nghệ thuật hội họa, nhưng kiếp trước dẫu sao hắn cũng là một công dân sống trong thời đại thông tin, ít nhiều gì qua mạng internet cũng từng ngắm chán chê không biết bao nhiêu kiệt tác của các trường phái và thời kỳ khác nhau.

Phải nhận xét thế nào nhỉ, tranh của đám họa sĩ này thực ra cũng tàm tạm, phần lớn qua nhãn quan của Triệu Cát thì thấy chất lượng khá ổn. Chỉ là đa phần tranh vẽ tuy kỹ thuật cao siêu thật đấy, nhưng nội dung lại có phần nhạt nhẽo, hơn nữa trọng tâm xoay quanh các chủ đề tôn giáo là chính, dù thỉnh thoảng có phác họa con người hay phong cảnh thiên nhiên thì cũng hơi rập khuôn, cổ bản.

Nhưng rõ ràng, đám nhà giàu Khẩn Đức Nhĩ thành lại tỏ ra cực kỳ mãn nguyện và tâm đắc với những tác phẩm này. Khi nghe tin mấy gã tác giả đều là học trò đắc lực của Vương quốc Nghệ thuật Học viện, họ thậm chí còn hào phóng ngỏ ý muốn bỏ tiền tài trợ cho mấy tay này theo đuổi con đường nghệ thuật.

Triệu Cát thầm đoán, giả sử nhà mấy gã trọc phú kia mà có con gái ruột, thế nào cũng nhắm trúng mấy vị họa sĩ này để gả con rể cho xem. Nhìn qua những gì tai nghe mắt thấy từ khi đặt chân đến khu người giàu cộng với chút hiểu biết ít ỏi về vương quốc này, tầng lớp lắm tiền nhiều của ở đây quả thực rất tôn sùng nghệ thuật; từ hội họa, ca múa, kịch nghệ cho đến tấu nhạc, món nào bọn họ cũng say mê như điếu đổ.

Triệu Cát đoán điều này chắc chắn có liên quan mật thiết đến giới quý tộc chóp bu của vương quốc, suy cho cùng bắt đầu từ quốc vương cho đến các đại quý tộc, ai nấy đều phất lên nhờ nghệ thuật, xu hướng ấy tất yếu sẽ thông qua giai cấp quý tộc mà thấm sâu xuống tầng lớp người giàu có ở bên dưới.

Còn về phần đại đa số người dân lao động nghèo khó ư? Chà, cho dù là dân đen ở bất cứ chốn nào đi nữa, họ cũng phải vắt kiệt mồ hôi nước mắt và thời gian để tranh đấu cho sự sinh tồn. Nào còn dư dả tâm trí đâu mà theo đuổi mấy thứ nghệ thuật xa xỉ này chứ.

Triệu Cát từng dò la về thế giới ngoài vùng Khẩn Đức Nhĩ quận qua lời kể ở các quán rượu và thương hội. Vương quốc dưới chân hắn là một quốc gia vừa được khai sinh, cuộc sống tuy vất vả nhưng ít ra vẫn dễ thở hơn quê hương cũ của những dòng người di cư. Xứ sở mới tuy ngập rẫy hiểm nguy rình rập, nhưng đất rộng người thưa, dưới chính sách khai hoang mở cõi, phần lớn người dân đều có cơ hội sở hữu mảnh đất của riêng mình để cắm rễ sinh nhai.

Nhưng nghe đồn, ở cái đế quốc phía bên kia đại dương trước khi di cư, đại bộ phận ruộng đất đều không thuộc về những nông dân tự cày bừa trên mảnh đất của mình, mà bị thâu tóm hoàn toàn bởi giới quý tộc, giáo hội và các đại thương nhân. Hơn nữa, nội bộ quý tộc vì tranh giành điền sản mà châm ngòi chiến tranh năm này qua năm khác. Các giáo hội cũng chẳng bình yên như vùng đất biên viễn hẻo lánh này, dân số đế quốc vô cùng đông đúc, thế nên để tranh đoạt tín ngưỡng của quần chúng, các giáo hội liên tục châm ngòi cho những cuộc đối đầu đẫm máu. Thậm chí chúng còn nuôi cả quân đội tôn giáo để đi thảo phạt các giáo phái đối địch, làm lớn chuyện còn có thể chọc tức đến cả thần minh nhúng tay can thiệp. Trong khi đó, các đại thương nhân thì lũng đoạn toàn bộ các loại cây trồng kinh tế, cướp đoạt mồ hôi nước mắt của đông đảo người lao động để biến thành tư lợi cá nhân thông qua con đường độc quyền thao túng, khiến con dân làm lụng ròng rã suốt năm mà chẳng tài nào sắm nổi dăm ba món hàng hóa thiết yếu.

Triệu Cát phóng tầm mắt ngắm nhìn sự phồn hoa đủ kiểu ở khu người giàu, nghe vị họa sĩ trẻ tuổi bên cạnh đang oang oang tuyên bố với đám nhà giàu rằng một bức tranh Tài Phú chi thần do chính hắn vẽ chỉ có giá khiêm tốn là năm đồng tiền vàng.

Triệu Cát thầm nhẩm tính, số tiền khủng khiếp này thậm chí còn vượt xa tổng thu nhập ròng trong một năm của mười hộ nông dân cộng lại, mà đó là còn tính trong trường hợp nông dân Khẩn Đức Nhĩ thành có thể quy đổi nông sản địa phương ra tiền mặt. Thử đặt vào một vùng thương nghiệp tiêu điều xem, một bức tranh thế này sẽ phải đánh đổi bằng bao nhiêu lương thực? Một xe thóc hay cả một nhà kho dự trữ đây? Hắn tự hỏi những thứ hoa hòe hoa sói này thì rốt cuộc có