Chương 8: Chương Hồi Thứ 61
Mưu mở hoành cục, Trương Nghi rời Tần
Khó cứu tung thân, Huệ Thi bỏ Ngụy
Cuối cùng đã được thành thân với ý trung nhân, Tử Vân công chúa vô cùng mãn nguyện, cũng rất mực cảm kích, lại hiểu lẽ ứng xử, không chỉ từ bỏ danh giá của một công chúa, ân cần hầu hạ Trương Nghi, nâng án ngang mày, chu đáo rất mực, hơn nữa không mảy may mạo phạm tới phu nhân trước. Tử Vân đặt phòng tân hôn của mình tại thiền viện bên cạnh, còn phòng chính của Hương Nữ thì đóng kín không động chạm tới. Tất cả những gì Hương Nữ đã từng sử dụng, đều tự tay chọn ra, gói ghém cẩn thận, ngoại trừ Trương Nghi, không một ai được phép động tới. Khi Trương Nghi ngủ trong phòng Hương Nữ, Tử Vân cũng tuyệt đối không gọi. Đến giờ ăn, nàng cũng bỏ trống chỗ ngồi cũ của Hương Nữ, còn bày bát đũa, đồ ăn trước chỗ của Hương Nữ, còn mình ngồi đối diện. Như vậy cũng có nghĩa, Tử Vân đã tôn Hương Nữ làm bề trên, còn tự nhận mình là bề dưới.
Những điều này đã khiến Trương Nghi cảm động, hắn cũng bắt đầu nhận ra, ngoài võ công ra, Tử Vân công chúa không hề thua kém Hương Nữ điểm nào. Đặc biệt nàng rất thấu tình đạt lý, không hề có vẻ kiêu kỳ ngạo mạn như lời đồn thổi.
Trương Nghi hiểu rõ, Tử Vân hạ mình cầu toàn như vậy, chỉ vì muốn hắn được vui lòng. Nhớ tới Ngọc Thiền lạnh nhạt với mình mà quyến luyến Tô Tần, lại nghĩ tới Tử Vân tuyệt tình với công tử Ngang mà một mực chiều theo ý mình, Trương Nghi vô cùng cảm khái, nghĩ rằng nữ tử thật là khó hiểu nổi, giữa yêu và không yêu, đúng là khác biệt một trời một vực.
Trương Nghi ôm theo mối cảm khái này mà trải qua cuộc tân hôn, mấy ngày đầu vẫn nhớ thương Hương Nữ, hàng chục ngày sau mới dần quen người mới, rồi sắt cầm hoà hợp với Tử Vân.
Huệ Vương hay tin, vui mừng khôn xiết, vào một tối nọ, âm thầm giá lâm phủ tướng quốc.
Thấy ngự huynh giá lâm, Tử Vân công chúa không dám chậm trễ, vội thay bỏ xiêm y rực rỡ, đích thân vào bếp nấu nướng, bày một bàn tiệc thịnh soạn, mang rượu lâu năm ra thiết đãi, còn quỳ xuống rót rượu. Trước mặt ngự huynh, thấy Tử Vân không hề cậy thế kiêu ngạo, vẫn khiêm nhường như cũ, Trương Nghi càng nở mày nở mặt, liên tục nâng chén, mãn nguyện vô cùng.
Qua vài tuần rượu, Huệ Vương chuyển sang bàn quốc sự, nhìn thẳng vào Trương Nghi nói: “Không giấu hiền đệ, hôm nay huynh trưởng tới đây, thứ nhất là thăm em gái, thứ hai là có đại sự cần bàn bạc!”
“Xin hỏi chúa thượng, là đại sự gì?” Trương Nghi chưa thực quen với mối quan hệ mới, vẫn không thay đổi cách xưng hô, hỏi thẳng vào chuyện.
“Người Ngụy vẫn không cam lòng, lại muốn đánh ta!” Khoé miệng Huệ Vương khẽ nhếch một nụ cười khinh miệt. “Theo thám mã báo về, Bàng Quyên lợi dụng thời cơ ta nam chinh đánh Thục, đã chỉnh đốn võ binh, binh lực không thua kém thời Ngô Khởi. Gần đây nghe nói Bàng Quyên điều binh khiển tướng, chuyển quân tới Hà Đông, ngoài ải Lâm Tấn sát khí ngút trời, ngoài ải Hàm Cốc người đông như kiến.”
Trương Nghi khép hờ hai mắt.
“Than ôi, không giấu hiền đệ, hôm nay quả nhân đến đây, là vì đã làm sai một chuyện.”
“Quân vương đã làm sai chuyện gì?”
“Thứ nhất là không nên dâng tặng Khúc Ốc và đất Thiểm cho người Ngụy, thứ hai là không nên để người Ngụy giữ ải Lâm Tấn. Đặc biệt là tại ải Lâm Tấn, người Ngụy đã củng cố đê điều, trên cầu treo không chỉ xe chiến qua lại tấp nập, mà thậm chí xe bò, xe quân nhu cũng đã đi lại dễ dàng không chút trở ngại!”
Trương Nghi hít sâu một hơi. Để lại ải Lâm Tấn cho người Ngụy, hoàn trả ba ấp Khúc Ốc, Thiểm và Tiêu, lui về cố thủ ải Hàm Cốc, đều là kế hoãn binh của Trương Nghi nhằm dồn sức phạt Thục, Ba, Huệ Vương nói như vậy, khác nào đang trách cứ hắn.
“Lạ thật!” Trương Nghi nheo tít đôi mắt, nửa như tự nhủ, nửa như giải thích. “Bàng Quyên và thần đã giao kèo rõ ràng, sao lại có thể...” Đăm chiêu một lát. “Lẽ nào là Ngụy Vương...” Nói rồi lại dừng, chìm vào suy nghĩ.
“Nào nào, hiền đệ hãy uống rượu đi đã!” Huệ Vương cười vang, nâng chén mà nói. “Quân hợp tung sáu nước ta còn chẳng sợ, lẽ nào lại đi sợ cái tên Ngụy Anh đã chôn đến cổ hay sao?”
Trương Nghi cũng cười, nâng chén uống cạn.
“Hiền đệ hẳn có biết tay tướng quốc Trung Sơn Tư Mã Điêu?” Huệ Vương lại chuyển sang chuyện Trung Sơn.
“Thần có nghe nói đến một hai. Tổ tiên của Tư Mã Điêu vốn là người Ngụy, hai mươi năm trước tập ấm chức cha mà làm quan đại phu của Trung Sơn, do có tài mà được tấn phong làm cung uý, cai quản cấm cung, sau đó không lâu, Nhạc Trì qua đời, Tư Mã Điêu bèn làm tướng quốc, phò tá Trung Sơn Quân xưng vương có công nên được phong làm Lam Chư Quân. Ba năm trước, Trung Sơn Thành Vương băng hà, con thơ kế vị, Tư Mã Điêu trở thành trọng thần nhiếp chính, quyền hành khuynh đảo triều đình.”
“Phải!” Huệ Vương gật đầu nói. “Trung Sơn nhỏ yếu, xưa nay không dám động đến nước Triệu, gần đây lại nghe nói hai nước bất hoà, biên cương liên tiếp xung đột! Quả nhân hoài nghi, việc này hẳn có liên quan tới Ngụy. Theo tin thám báo truyền về, thường xuyên có khách Ngụy ra vào phủ Tư Mã Điêu.”
“Nhắc tới Trung Sơn,” Trương Nghi đáp lời, “thần có nghe một câu chuyện, không biết chúa thượng có muốn nghe hay chăng?”
“Hiền đệ cứ nói!”
“Nghe nói năm xưa, Triệu Giản Tử đi săn ở Trung Sơn, có con sói xông ra khỏi vòng vây, cầu xin Đông Quách tiên sinh cứu giúp. Tiên sinh động lòng thương xót, đem giấu nó vào trong túi, lừa Giản Tử bỏ đi. Con sói nhảy ra, lại đòi ăn thịt tiên sinh, may sao có người mưu trí đi ngang qua, bày kế lừa con sói chui lại vào trong túi, rồi đánh chết nó!”
“Ồ...” Huệ Vương vò đầu bứt tai, cười nói. “Doanh Tứ ngu độn, không hiểu ẩn ý sâu xa của câu chuyện, dám mong hiền đệ giải thích rõ hơn!”
Trương Nghi cũng bật cười. “Không giấu chúa thượng, câu chuyện này là do Giả Xá Nhân kể lại cho thần nghe trên đường từ Triệu tới Tần, vốn chỉ là để tiêu khiển. Thần thoạt đầu nghe cũng không hiểu, nên mới thỉnh cầu Giả huynh giải thích, Giả huynh là người Triệu, chỉ một lời đã phá giải huyền cơ.”
“Huyền cơ ở chỗ nào?”
“Chính là đã nói lên được chỗ huyền diệu giữa Triệu và Trung Sơn.” Trương Nghi sắp xếp lại các đĩa thức ăn trên bàn, chỉ vào từng đĩa mà nói. “Chúa thượng hãy nhìn, đây là nước Triệu, đây là Trung Sơn, đây là nước Ngụy, đây là nước Hàn. Nước Triệu về mặt địa lý chia làm hai phần, một phần là phía đông núi Thái Hàng, Hàm Đan là Đông Đô; một phần là phía tây núi Thái Hàng, Tấn Dương là Tây Đô. Thái Hàng chạy dài từ nam sang bắc, núi cao vực sâu, không có đường qua lại. Thái Hàng có tám đường, nước Triệu chỉ giữ một đường là Phẫu Khẩu, song đầu phía tây của đường này, người Hàn đã chiếm cứ phần lớn Thượng Đảng, nước Triệu không thể chiếm riêng đường này. Giữa Đông Đô và Tây Đô, còn có một đường nữa, chính là Tỉnh Hình, song lại ở trong tay người Trung Sơn. Nên đối với Triệu, Trung Sơn khác nào miếng xương mắc trong cổ họng, chỉ ước mong có thể khạc được ra. Tuy nhiên, Trung Sơn đông có Hà Thuỷ, tây có Thái Hàng, bắc có Dịch Thuỷ, nam có Hoè Thuỷ, đầm Đại Dã sông hồ nối liền, dễ thủ khó công, lại thêm Nhung Địch vốn thượng võ hiếu chiến, muốn đánh cũng rất khó khăn. Năm xưa Ngụy đánh Trung Sơn, người Triệu cho mượn đường, muốn hai nước chiến tranh, từ đó mà hưởng lợi. Ngụy được Trung Sơn, người Triệu không vui, âm thầm trợ giúp Trung Sơn phục quốc. Ngụy và Trung Sơn liên tục giao tranh, người Triệu ắt sẽ...”
“Doanh Tứ hiểu rồi!” Huệ Vương thình lình bừng tỉnh, ngắt lời Trương Nghi. “Con sói Trung Sơn là chỉ nước Trung Sơn, Triệu Giản Tử đuổi bắt sói Trung Sơn là chỉ Triệu muốn thôn tính Trung Sơn, Đông Quách tiên sinh là nước Ngụy. Thế nhưng... người mưu trí qua đường kia là ai, còn cần hiền đệ chỉ rõ!”
“Chúa thượng vội vã quá rồi!” Trương Nghi cười nói. “Đông Quách tiên sinh không phải là nước Ngụy!”
“Ồ? Vậy là ai?”
“Là đệ tử Mặc gia. Đệ tử Mặc gia kiêm ái, Triệu nhiều lần phạt Trung Sơn, song lần nào cũng thất bại, bởi luôn có Mặc giả giúp Trung Sơn giữ thành. Người Triệu oán hận Mặc giả, nên đặt ra câu chuyện này để châm biếm sự ngu xuẩn của Mặc giả.”
“Vậy... người Ngụy là ai?” Huệ Vương băn khoăn. “Chiến tranh giữa Triệu và Trung Sơn, không thể thiếu người Ngụy. Lẽ nào chính là người mưu trí kia ư?”
“Người Ngụy đã bị loại ra khỏi câu chuyện này. Ngụy diệt Trung Sơn, Triệu giúp Trung Sơn phục quốc, Ngụy lại thảo phạt Trung Sơn, người Triệu lại trợ giúp Trung Sơn. Người Triệu tự cho rằng mình có ơn với Trung Sơn, nào ngờ người Trung Sơn lại không hề cảm kích. Khi Trung Sơn nghênh chiến nước Ngụy, người Triệu cảm thấy thời cơ đã tới, nhân lúc xuất binh trợ giúp Trung Sơn, đã chiếm cứ Thạch Ấp, khống chế cửa ải Tỉnh Hình vẫn thèm khát bấy nay. Sau khi Triệu giúp Trung Sơn đuổi được người Ngụy, người Trung Sơn đòi người Triệu trả lại Thạch Ấp, người Triệu không chịu, người Trung Sơn bèn trở mặt, tập kích người Triệu, cướp lại Thạch Ấp, còn đánh đuổi người Triệu ra khỏi Nam Dịch Thuỷ. Người Triệu đều chửi rủa người Trung Sơn vong ân bội nghĩa, nên đã ví người Trung Sơn với con sói trong câu chuyện.”
Huệ Vương hít vào một hơi: “Còn người mưu trí kia? Hắn là ai?”
“Người mưu trí chính là người thêu dệt nên câu chuyện này. Những người này túm năm tụm ba, đi khắp liệt quốc, tự thành môn phái, thông tin linh hoạt, có thể nói không gì không biết, chuyên thuyết giảng về các chuyện thú vị tại liệt quốc, chỉ trong thoáng chốc, đã có thể biến những tin tức thu thập được thành câu chuyện thú vị, rồi gọi chung là tiểu thuyết. Tiểu thuyết, chính là chuyện nghe được trên đường ngang ngõ tắt, ba phần thật, ba phần giả, ba phần suy đoán.”
“Còn một phần nữa?”
“Có lẽ chính là suy diễn, tiểu thuyết gia ai ai cũng có biệt tài suy diễn, xuất khẩu thành văn, giỏi loại suy từ thứ nọ sang thứ kia, từ cái này sang cái khác, có thể biến thật thành giả, biến giả thành thật, phàm mọi chuyện qua miệng họ, đều nửa giả nửa thật, sống động hấp dẫn, khiến người nghe không tin nổi mà lại không thể không tin.”
Huệ Vương bật cười vài tiếng, vòng tay nói. “Doanh Tứ xin thụ giáo! Hiền đệ, không nói tới tiểu thuyết nữa, chúng ta hãy quay trở về chuyện chính. Mấy ngày qua, Doanh Tứ luôn cảm thấy việc này rất có triển vọng, song cửa vào ở đâu, phá cửa thế nào, Doanh Tứ vẫn chưa tìm ra đầu mối, rất rất muốn nghe lời vàng ngọc của hiền đệ.”
“Chúa thượng!” Trương Nghi hiển nhiên đã suy tính thấu đáo. “Tổng hợp lại mà phán đoán, người Tần đã đến lúc về đông!”
“Về đông thế nào, hiền đệ hẳn có diệu kế?”
“Chặn Ngụy, kết Trung Sơn, chế Triệu!”
“Nước cờ tuyệt diệu!” Huệ Vương nhắm mắt suy ngẫm một lát, gật đầu nói. “Có điều, quân cờ đầu tiên nên đặt ở chỗ nào, hiền đệ hẳn đã suy tính tới?”
“Thần xin từ chức tướng quốc!”
“Từ chức?” Huệ Vương ngỡ ngàng nhìn Trương Nghi.
“Chúa thượng, chặn Ngụy, trước hết cần chế Ngụy; chế Ngụy, trước hết cần chế Bàng Quyên. Người chế được Bàng Quyên, không còn ai khác ngoài thần!”
Huệ Vương từ từ nâng chén rượu lên, uống cạn, rồi nhìn sang Trương Nghi: “Hiền đệ, chuyện này trọng đại, hãy để quả nhân cân nhắc vài ngày, rồi sẽ quyết định!”
“Thần lĩnh chỉ!”
Huệ Vương hồi cung, suy trước nghĩ sau suốt một đêm trường, sáng sớm hôm sau, cho triệu Sư Lý Tật, công tử Hoa tới, kể sơ qua một lượt về mưu kế của Trương Nghi, rồi nửa đùa nửa thật nói: “Kế sách này của tướng quốc, liệu có phải là để trốn tránh Tử Vân?”
“Vương huynh đa nghi rồi!” Công tử Hoa cười đáp. “Nghe Tử Vân kể rằng, mấy ngày hôm nay hai người họ đã trong ấm ngoài êm, sắt cầm hoà hợp.”
“Đúng vậy!” Sư Lý Tật cũng cười, vòng tay đáp lời. “Theo thần được biết, tướng quốc để chí vào nghiệp nhất thống thiên hạ, phá vỡ sáu nước hợp tung, nay tráng chí chưa thành, không thể nảy sinh lòng khác!”
Huệ Vương không nói gì thêm, lập tức cho gọi Trương Nghi tới, vua tôi bốn người bàn bạc hồi lâu về kế sách của Trương Nghi, quyết định sách lược tường tận. Vào buổi đại triều ba ngày sau đó, Trương Nghi lấy cớ sức khoẻ khó khăn, xin trả tướng ấn. Chẳng dè Huệ Vương cũng ân chuẩn thật, cho Sư Lý Tật thay mặt xử lý mọi việc trong tướng phủ.
Văn võ bá quan một phen kinh động.
Tại kinh đô Đại Lương nước Ngụy, trong buổi đại triều của Huệ Vương, toàn bộ triều thần từ cấp đại phu trở lên chia nhau dàn hàng tả hữu. Bên trái lần lượt là thái tử Thân, Huệ Thi, tư đồ Bạch Hổ; bên phải lần lượt là Bàng Quyên, Chu Uy, công tử Tự. Công tử Tự là con trai thứ năm của Huệ Vương, mẹ đẻ là Yên Cơ, tức con gái thứ hai của Yên Văn Công, không ham địa vị, nên lạt lẽo với chính sự, chỉ có điều bẩm sinh hiếu dũng, thích làm bạn với kiếm kích thương đao, có vài phần giống với công tử Ngang, sau trận chiến Hàm Cốc, được Bàng Quyên phát hiện ra, không những dạy về quân sự, còn tiến cử vào trung quân, cất nhắc làm phó tướng, thay thế chỗ khuyết của công tử Ngang.
Đại điện lặng phắc như tờ, tất cả mọi ánh mắt, bao gồm cả Huệ Vương, đều đổ dồn vào tư đồ Bạch Hổ, chỉ có Vũ An Quân Bàng Quyên hai mắt hơi khép, sắc mặt âm trầm.
Trước án của Bạch Hổ bày một hàng dài sáu cuốn thẻ tre, trong đó có một cuốn đã mở sẵn.
“Tiếp đến là thuế má và lao dịch.” Bạch Hổ nhìn cuốn sách, cất giọng chậm rãi, lời lời như dùi đâm. “Các thành ấp tổng cộng ba trăm ba mươi chín vạn nhân khẩu, trong đó có năm mươi vạn là nô bộc, lính lệ, tù nhân. Số thần dân còn lại, người lập hộ tịch không tới năm mươi vạn, trong đó lại có mười một vạn ba nghìn thần dân thuộc về quân hầu được phong, phủ Tư đồ cai quản không tới bốn mươi vạn hộ, lại trừ đi hơn mười vạn hộ liệt sĩ tuẫn thân vì nước trong mấy năm qua, bốn vạn hộ hổ bôn, võ binh, và khoảng ba vạn các hộ được miễn thuế và lao dịch khác, nên số hộ phải nộp thuế và lao dịch theo luật còn lại không tới ba mươi vạn. Gần ba mươi vạn hộ này, phải cáng đáng một lượng lương thảo lớn đến thế, cộng thêm đủ loại tạp dịch, cảnh lầm than của bách tính, quả thực chưa bao giờ thậm tệ như lúc này.”
Quần thần đưa mắt nhìn nhau, Bàng Quyên sắc mặt tím bầm.
“Còn một cuốn sổ chi tiết nữa!” Bạch Hổ lại cầm một cuốn sách lên, trải ra, chậm rãi nói. “Chính là giáp trụ và binh khí. Những thứ võ binh mang trên mình, đều được làm từ sắt hảo hạng. Mỗi bộ giáp trụ gồm tám bộ phận là mũ trụ đồng, tấm chắn cổ, tấm chắn cánh tay, chiến bào, tấm chắn ngực, gương đồng, xiêm chiến, ủng chiến, các vảy giáp đều được xâu lại với nhau bởi sợi đồng. Mỗi bộ giáp trụ nặng hơn sáu mươi cân, nếu người cao lớn phải hơn tám mươi cân, ngoài ra còn có binh khí như thương đao kiếm kích, đều phải đúc bằng đồng hoặc sắt hảo hạng, mà nguyên liệu đồng và sắt, đa phần đều nhập từ thương nhân nước Hàn, Sở, Triệu. Hiện thiên hạ đang trong thời chiến loạn, giá sắt, đồng, da tăng vọt, giá trị của một bộ giáp trụ, đủ để nuôi sống ba hộ năm miệng ăn trong ba năm trời. Cùng cực việc binh, sưu cao thuế nặng, mà nguồn thu thuế lại giảm sút. Từ năm ngoái đến nay, quốc khố ngày càng cạn kiệt, lê dân ngày càng khốn quẫn, khổ không sống nổi...”
Giọng Bạch Hổ mỗi lúc một chậm, mỗi lúc một trầm, mỗi lúc càng thêm chấn động tâm can, trên triều đường, không khí ngưng đọng, ngay cả tiếng thở cũng dường như đông kết.
Võ bị và dân sinh, dường như mãi mãi là một nút thắt khó tháo.
Bàng Quyên hồi phủ trong cơn váng vất. Buổi hội triều lần này, hắn tuyệt đối không thể ngờ rằng, người lên án hắn lại là Bạch Hổ. Hai chữ lương thảo vừa mới bật ra khỏi miệng Bàng Quyên, Bạch Hổ đã khuân ra cả đống thẻ tre. Đống thẻ tre này, hắn đã giương mắt nhìn Bạch Hổ xách vào trong triều đường, chỉ có điều hắn không ngờ rằng, chúng lại được dùng để đối phó với vị ân công là hắn.
Tuy nhiên, số liệu xác thực, quốc khố đã cạn, song tất cả những thứ đó, có liên quan gì tới Bàng Quyên hắn? Thân là tướng quân, chức phận của hắn là buộc phải tuân theo và cũng chỉ có thể tuân theo lệnh vua, còn gây chiến ra ngoài, là để mở rộng lãnh thổ cho Đại Ngụy. Ngụy Vương muốn hắn thu phục Hà Tây, muốn hắn chỉnh đốn quân bị, muốn hắn chấn hưng võ binh, mà tất cả những việc này đều cần đến lương thảo vật tư, quân nhu đảm bảo, còn như đảm bảo thế nào, đó là công việc mà bè lũ chấp sự các người phải đi mà lo. Hơn nữa, phạt Tần là cuộc chiến ác liệt, nghìn vạn binh mã đều vì nước quên mình, thân là tướng quân, không thể để cho họ phải bụng đói, tay trần ra sa trường được.
Bàng Quyên hiểu rõ, Bạch Hổ không phải đơn độc một mình, đằng sau Bạch Hổ còn có Chu Uy, Huệ Thi, thái tử. Thái tử chỉ là bù nhìn, Chu Uy là người thực thà, kẻ chủ mưu thực sự chỉ có thể là Huệ Thi. Huệ Thi thâm tàng không lộ mặt, chưa tới lúc cần thiết, tuyệt đối sẽ không nói thừa một chữ, lại càng không nói sai một chữ trên chốn triều đường. Đối đầu với một lão cáo già thế này, Bàng Quyên quả thực hết kế khả thi.
Bàng Quyên ủ ê hồi phủ, từ xa đã nghe thấy những tiếng vun vút vẳng lại từ bãi cỏ trong hậu hoa viên, chốc chốc còn nghe thấy tiếng khen ngợi của phu nhân Thụy Liên, biết được là Bạch Khởi, con trai Bạch Hổ, đang múa thương, bèn thở dài một tiếng, bước lại gần, dừng chân dưới một tán cây.
Bạch Khởi đang tuổi ăn tuổi lớn, đã cao tới mang tai Bàng Quyên, song cơ thể gọn gàng, dáng dấp dong dỏng, cây thương trong tay Bạch Khởi là do Bàng Quyên làm cho cậu bé cách đây không lâu, nặng khoảng hai mươi lăm cân, khi Bạch Khởi mới múa lên có phần tốn sức, song luyện tập lâu ngày, giờ đã múa loang loáng như bay, khiến người ta nhìn vào mà hoa mắt.
“Tốt, tốt, tốt lắm!” Bàng Quyên chậm rãi bước lại, vừa vỗ tay, vừa khen liền ba tiếng.
Bạch Khởi cũng đã nhìn thấy hắn, vội cắm phập cây thương xuống cỏ, quỳ một chân xuống đất, hành quân lễ mà nói: “Khởi bẩm nghĩa phụ, nghĩa tử Bạch Khởi đang luyện tập thương pháp Ngô Khởi mà nghĩa phụ đã dạy!”
“Ha ha ha, múa hay lắm!” Bàng Quyên lại gần, rút cây trường thương của Bạch Khởi lên, cẩn thận xem xét.
Quả là một cây thương tốt, mũi thương đúc từ sắt, vàng và đồng pha trộn với nhau, cứng như kim cương, áo giáp bình thường không chịu nổi một đòn đâm, dù là giáp trụ hạng nặng của võ binh, nếu bị đâm trúng, chỉ cần để mũi thương hơi trượt đi, lách vào khe hở giữa các vảy giáp, chắc chắn sẽ đâm đứt sợi đồng mà xuyên thẳng vào ngực. Thân thương được vót cẩn thận từ gỗ tử đàn cứng rắn, mặt ngoài khảm ba lá đồng cỡ ngón tay, được cố định chắc chắn bởi năm vòng đồng, bên ngoài thanh đồng và vòng đồng được dát một lớp vàng, toả sáng chói chang dưới nắng, ngù thương đỏ rực phía dưới mũi thương lại càng thêm bắt mắt.
“Bạch Khởi, thương này thế nào?” Bàng Quyên cười hỏi.
“Tinh xảo tuyệt luân!” Bạch Khởi dõng dạc đáp lời. “Bạch Khởi cảm tạ nghĩa phụ đã ban thương tốt!”
“So với thương của ông nội con, thương này thế nào?”
“Không thể so sánh!”
“Ồ?” Bàng Quyên thoáng ngạc nhiên, nhìn sững vào Bạch Khởi.
“Hồi bẩm nghĩa phụ, thương của ông nội dài chừng trượng tám, thương này chỉ dài trượng ba; thương của ông nội cán bạc mũi vàng, thương này cán gỗ mũi sắt; thương của ông nội trên cán khảm đá quý, thương này chỉ có vài vòng đồng quấn; thương của ông nội nặng ba mươi lăm cân, thương này chỉ nặng hai mươi lăm cân...” Bạch Khởi so sánh một mạch, dường như vẫn chưa thấy đủ, lại vò đầu bứt tai nghĩ tiếp.
“Con của ta!” Bàng Quyên nheo mắt cười nhìn Bạch Khởi. “Con có biết được điểm tuyệt diệu của thương này?”
“Xin nghĩa phụ chỉ giáo!”
Bàng Quyên xuống tấn, múa thương đến gió cuốn vù vù, khiến Bạch Khởi nhìn mà trợn tròn con mắt.
“Con trai hãy nghe đây!” Bàng Quyên dừng lại, vuốt ve cây thương. “Thương là dùng để giết địch, chứ không phải là để ngắm, bởi vậy mũi thương cần sắc nhọn, không gì không đâm thủng, thân thương cần gọn nhẹ, đâm chém phạt dễ dàng, còn như thân thương dài hay ngắn, đều có mặt ưu mặt khuyết, trong khi sử dụng, phải xem bản lĩnh. Thương dài lợi cho đâm xa, nhưng nếu một đòn không trúng, rút về sẽ khó; thương ngắn lợi cho đánh gần, có thể điều khiển dễ dàng, song đòi hỏi kỹ xảo và bản lĩnh còn cao hơn nữa. Cha đặc biệt chế cho con thanh đoản thương này, chính là muốn con rèn luyện bản lĩnh đặt kẻ địch ở ngay trước mặt mà quyết chiến với địch.”
“Tạ ơn nghĩa phụ chỉ giáo!” Bạch Khởi nhận lấy thương, vòng tay cảm tạ.
“Còn nữa, con trai nhất thiết phải ghi nhớ, trên sa trường, võ nghệ phải giỏi, song múa thương khua kiếm, dù sao cũng chỉ là hành vi của kẻ võ biền, cái dũng của kẻ thất phu, tướng quân chân chính tuyệt đối không nhìn vào đó!”
“Dám hỏi nghĩa phụ, thế nào mới là tướng quân chân chính?”
“Chính là ở đây!” Bàng Quyên chỉ vào lồng ngực. “Dùng cái tâm của con! Chỉ có tận tâm, con mới có thể mưu tính trong trướng mà quyết thắng ngoài nghìn dặm.”
“Nói như vậy,” Bạch Khởi chớp mắt vài cái, cất giọng hào hứng, “cho dù đã không thể đi lại, nhưng Tôn nghĩa phụ vẫn là một tướng quân chân chính!”
Nghe Bạch Khởi thình lình nhắc tới Tôn Tẫn, Bàng Quyên bất giác giật thót trong lòng, một lát sau, mới ngồi xuống, bộ mặt đờ đẫn nở một nụ cười, nói: “Đúng vậy, Tôn nghĩa phụ của con vẫn là một tướng quân chân chính! Nói cho nghĩa phụ biết, Tôn nghĩa phụ hiện đang ở đâu, nghĩa phụ vẫn đang tìm kiếm Tôn huynh khắp nơi. Nghĩa phụ sắp chinh phạt Tần, nếu có Tôn nghĩa phụ con bên cạnh, chắc chắn sẽ đánh bại được người Tần, thu phục Hà Tây!”
Bạch Khởi mở to mắt, nhìn thẳng vào Bàng Quyên một lát, rồi gật đầu thật mạnh, hỏi ngược lại: “Ý nghĩa phụ là, nếu không có Tôn nghĩa phụ, nghĩa phụ sẽ không thể đánh bại người Tần?”
Nghe thấy câu này, Bàng Quyên lập tức nghẹn họng, sắc mặt sa sầm, đang tìm lời giải thích, thì thấy Thụy Liên nãy giờ vẫn đứng đợi hắn cười khúc khích tiến lại, chìa một tay ra. Bàng Quyên liếc nhìn Bạch Khởi, rồi nắm lấy tay Thụy Liên, bước thẳng về phòng khách không buồn ngoảnh đầu lại.
Trên triều đã hứng một đòn nặng nề bởi Bạch Hổ, về nhà lại cứng họng trước Bạch Khởi, giờ còn nhắc tới cái tên Tôn Tẫn, chuyện nào cũng khiến hắn thêm bực bội khó chịu. Bàng Quyên càng nghĩ càng giận, lại không tiện nói thêm gì, bèn quay trở về phòng khách, nói là nóng trong người, xua Thụy Liên xuống bếp nấu cho hắn một bát canh đỗ xanh để hạ hoả, rồi chuồn về thư phòng, đóng kín cửa, vận dụng công phu Quỷ Cốc, còn chưa kịp an thần tĩnh tâm, đã thấy ngoài cửa có tiếng bước chân vọng lại.
Người gõ cửa là Bàng Thông.
“Có việc gì?” Bàng Quyên gắng gượng nén lửa giận trong lòng, trầm giọng hỏi.
“Có người cầu kiến!”
“Không gặp!”
Giọng nói vừa dứt, cánh cửa đã bị đẩy bật tung, một người bước thẳng vào trong.
Bàng Quyên cho rằng Bàng Thông tự tiện xông vào, vừa mở miệng định trách cứ, thì người mới tới đã bật cười ha hả.
Bàng Quyên giật nảy mình, mở trừng con mắt, kinh ngạc kêu lên: “Trương Nghi!”
“Bàng huynh!” Trương Nghi vòng tay, giọng nói có phần châm chọc. “Nhìn sắc mặt huynh, hình như là có chuyện vui!”
“Đi, đi đi!” Bàng Quyên vừa nhấc mông dậy, lại phịch một cái ngồi xuống, lừ mắt nhìn Trương Nghi. “Còn nói thêm câu nữa, tại hạ sẽ lấy chổi đấy!”
“Có cầm gậy đánh cũng không đi!” Chẳng đợi mời ngồi, Trương Nghi đã cười hề hề, vén áo ngồi luôn xuống trước bàn đối diện với Bàng Quyên. “Mau bảo tẩu phu nhân bưng rượu bày thịt ra, bụng tại hạ đang mưu phản rồi đây!”
“Ồ, chỉ có một mình huynh ư!” Bàng Quyên lúc này mới bừng tỉnh. “Hương tẩu phu nhân sao không thấy đâu thế? Tại hạ cũng đang thèm nhỏ dãi, chỉ mong được ăn món thịt lợn thơm do đích thân tẩu phu nhân giết mổ.”
Hai người châm chọc nhau dăm ba câu thì vào chuyện chính.
“Trương huynh!” Bàng Quyên gãi đầu. “Đường đường là tướng quốc đi sứ tới đây, đáng ra phải là chuyện kinh thiên động địa, Trương huynh sao lại... âm thầm đến thần không biết quỷ không hay như thế?”
“Tại hạ đã không còn là tướng quốc nữa!” Trương Nghi thản nhiên đáp liền.
“Sao kia?” Bàng Quyên sửng sốt, nhìn hắn nghi ngờ. “Trương huynh, huynh...”
“Không giấu Bàng huynh, cách đây mươi ngày, tại hạ đã treo ấn từ quan, đánh xe ra khỏi ải Hàm Cốc rồi.” Giọng Trương Nghi vẫn rất tỉnh bơ như không.
“Dám hỏi...” Bàng Quyên chúi người về phía trước, ánh mắt thăm dò.
“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng, lắc đầu buồn bã. “Nói ra thì thật khó mà mở miệng, Bàng huynh cứ bày rượu ra đi!”
Bàng Quyên sai người dọn rượu thịt lên, Trương Nghi bèn đem chuyện từ lúc vào Thục cho đến khi kết thân với Tần cung kể hết một lượt cho Bàng Quyên nghe, đặc biệt là kể đến chuyện phu nhân đại chiến Ba nữ, ngôn từ sống động hùng hồn, tới đoạn gay cấn, còn thuận tay rút thanh đao độc của Ba nữ ra, bảo Bàng Quyên kiếm con chuột để thử. Đám đầy tớ nhất thời không kiếm được chuột, bèn bắt gà thay thế, Bàng Quyên thử đao, chỉ trong chốc lát, quả nhiên gà co giật đùng đùng rồi chết. Trương Nghi được vợ hiền như vậy, lại thông hiểu đại nghĩa, võ công tuyệt đỉnh, Bàng Quyên không còn dám coi thường Hương Nữ nữa, cứ xuýt xoa thán phục mãi không thôi, lập tức xếp nàng sánh ngang với sư tỷ Ngọc Thiền trong Quỷ Cốc.
“Ý huynh là,” khi Trương Nghi kể tới Tử Vân công chúa, có nhắc tới công tử Ngang, Bàng Quyên giật mình sửng sốt, “An Quốc Quân vẫn còn sống?”
“Đâu chỉ còn sống, mà còn trở thành an bang tướng quân nước Tần rồi!”
Trương Nghi lại kể cho Bàng Quyên nghe, Tần Vương niệm tình em rể thế nào, bắt sống công tử Ngang ra sao, Trần Chẩn giúp công tử Ngang đổi tên gì, Tần Vương tiếp đón công tử Ngang ra sao, Tử Vân công chúa vô tình với công tử Ngang thế nào, rồi chuyện tổ thái hậu nước Tần can thiệp, rồi chuyện công tử Hoa bày mưu tính kế giúp công chúa chuốc hắn say mèm mà chiếm được Trương Nghi hắn, hàng loạt sự kiện, không bỏ sót một chi tiết nào, trong đó có không ít chuyện xứng đáng là cơ mật nước Tần, khiến Bàng Quyên chẳng khác gì nghe sách trời, càng thêm kính phục sự thành thực của Trương Nghi.
“Trương huynh đã thẳng thắn đến vậy,” Bàng Quyên vòng tay nói, “tại hạ thực không còn gì để nói nữa. Chuyện năm xưa trong Quỷ Cốc, tại hạ sẽ xoá bỏ sạch không. Trương huynh lần này tới đây, muốn tại hạ giúp gì, xin cứ nói thẳng!”
“Bàng huynh nói ngược rồi!” Trương Nghi lại chẳng hề đáp lễ, nói thẳng thừng không chút khách sáo. “Tại hạ tới đây, không phải muốn Bàng huynh giúp, mà là muốn giúp Bàng huynh!”
Bàng Quyên thoạt tiên ngỡ ngàng, tiếp đến bật cười ha hả, lại vòng tay mà nói: “Được được được, cứ coi như Trương huynh giúp tại hạ. Nói đi, Trương huynh giúp như thế nào, tại hạ xin cung kính rửa tai lắng nghe.”
“Bước đầu tiên, giúp Bàng huynh đuổi cổ Huệ Thi, chế ngự Chu Uy, trừ bỏ Bạch Hổ; bước thứ hai, chúng ta cùng bắt tay nhau, dùng Ngụy làm trục, quét ngang liệt quốc, kiến lập sự nghiệp truyền thế!” Trương Nghi nâng chén rượu lên, ngắm nghía một lát, rồi ngửa cổ uống cạn.
Bàng Quyên hít vào một hơi dài, hai mắt dán chặt vào Trương Nghi, hồi lâu, mới thở ra, gằn mạnh từng tiếng: “Nếu như quét ngang liệt quốc, theo ý Trương huynh, nên bắt đầu từ đâu?”
“Nước Triệu!”
“Được!” Bàng Quyên một đấm giáng thẳng xuống bàn. “Chúng ta liên thủ, đánh cho họ tan tành!”
“Không, là thôn tính.”
Bàng Quyên lại hít vào một hơi, vô thức đưa tay cầm lấy chén rượu, từ từ khép mắt lại.
Tại ngự thư phòng, Ngụy Huệ Vương ngồi trước ngự án, hai mắt khép hờ, im lìm bất động, hệt như khúc gỗ.
Không biết đã qua bao lâu, Ngụy Huệ Vương vẫn ngồi nguyên tư thế, tỳ nhân đứng hầu bên cạnh vừa sợ gây kinh động đến Huệ Vương, lại vừa lo xảy ra chuyện bất trắc, đành phải cố ý đi qua đi lại, thoạt tiên là bước khe khẽ, sau đó nện mạnh bước chân, cố tình gây ra tiếng động.
“Tỳ nhân, làm gì thế?” Giọng nói của Ngụy Huệ Vương bật ra qua kẽ môi, song cơ thể vẫn im lìm bất động.
“Chúa thượng!” Tỳ nhân không biết đã đổi cách xưng hô từ lúc nào, không còn gọi Huệ Vương là bệ hạ nữa, tiến lên phía trước. “Nô tài đang suy nghĩ một việc, song nghĩ mãi vẫn chưa thông, nên có phần lo lắng.”
“Nghĩ gì?”
“Nô tài đang nghĩ, không hiểu lúc này chúa thượng đang nghĩ gì? Nô tài cứ nghĩ mãi nghĩ mãi, nghĩ đến nát cả óc mà vẫn không ra. Nếu nô tài cũng có được thuật thông tâm giống như Thuần Vu Tử thì hay biết mấy!”
“Tỳ nhân, kỳ thực ngươi đã biết được quả nhân đang nghĩ gì rồi phải không?”
“Nô tài quả thực không biết.” Tỳ nhân nở một nụ cười. “Có điều, chúa thượng đã nói như vậy, thì nô tài cũng mạo muội đoán thử xem sao.” Nói rồi liếc nhìn đám thẻ tre trên bàn Ngụy Vương. “Chúa thượng đang nghĩ đến việc nước.”
“Nói thừa, không nghĩ đến việc nước, còn nghĩ gì đây? Hãy nói cho cụ thể!”
“Vâng... nghĩ tới sự việc trên cuốn thẻ tre này.”
“Ngươi đã đoán đúng!” Ngụy Vương mở choàng mắt, nhìn xuống mặt ngự án, trên án bày một hàng dài bảy cuốn thẻ tre, đều là những bản tấu của Bạch Hổ đã đưa ra trong buổi đại triều.
Tỳ nhân xoay bước, vòng ra phía sau Ngụy Vương, bàn tay thoăn thoắt day bóp sau gáy Ngụy Vương, cười nói: “Chúa thượng, nô tài cũng có điều muốn tấu.”
“Ồ? Tấu đi!”
“Chúa thượng đã ngồi thế này mấy canh giờ rồi, nên tới hậu hoa viên đi dạo là hơn. Nước có chảy mới không hôi thối, năng đi lại, vận động gân cốt, sẽ có nhiều ích lợi. Còn sự việc trên triều đường, hãy để cho đám bề tôi lo liệu. Chúa thượng cứ nghĩ đến đau đầu nhức óc, thực sự không nên.”
“Than ôi!” Huệ Vương thở dài một tiếng. “Quả nhân cũng đâu muốn nghĩ, thế nhưng...”
Huệ Vương lắc đầu, không nói tiếp nữa, chật vật đứng dậy. Tỳ nhân đưa tay đỡ Huệ Vương, vua tôi hai người đi vài vòng trong phòng, rồi chầm chậm tiến ra phía cửa, vừa tới trước bậu cửa, từ xa đã nhìn thấy nội thần túc trực dẫn theo hai người men theo con đường rợp bóng cây tiến lại.
Trong số các bề tôi cung Ngụy, được vào bái kiến mà không cần bẩm báo trước chỉ có ba người, là thái tử Thân, Huệ Thi và Bàng Quyên.
“Quả nhân hoa mắt rồi, là ai tới vậy?” Huệ Vương dụi mắt hỏi.
“Là Vũ An Quân! Vũ An Quân còn dẫn theo một người, nô tài không nhận ra.”
“Xem ra,” Huệ Vương cười nhăn nhó, “quả nhân có muốn thư giãn gân cốt cũng không được nữa rồi.” Nói đoạn quay trở vào thư phòng, lại ngồi xuống trước ngự án.
Lát sau, nội thần bước vào bẩm báo, Huệ Vương truyền Bàng Quyên vào gặp.
Quân thần hành lễ xong xuôi, Huệ Vương chỉ ra phía ngoài: “Hiền tế, bên ngoài hình như còn một người nữa!”
“Phụ vương?” Bàng Quyên sửng sốt. “Sao phụ vương lại biết?”
“Ha ha ha!” Huệ Vương bật cười vài tiếng. “Hiền tế đã dẫn người này tới, hẳn không phải khách bình thường, hãy cho vào yết kiến.”
Bàng Quyên trở ra, lát sau, dẫn Trương Nghi vào trong. Huệ Vương săm soi Trương Nghi một lượt từ trên xuống dưới, rõ ràng không nhớ nổi là ai: “Vị này là...”
“Trương Nghi ở Quỷ Cốc khấu kiến Ngụy Vương!” Trương Nghi vòng tay nói.
“Trương Nghi ở Quỷ Cốc?” Huệ Vương ngỡ ngàng. “Chẳng phải chính là... là tướng quốc nước Tần ư?”
“Hồi bẩm Ngụy Vương, chính là Trương Nghi đó.”
Huệ Vương thở ra một tiếng, nhìn chằm chằm vào Trương Nghi một hồi, lại hỏi: “Đã là tướng Tần, cớ sao lại mặc áo vải tới yết kiến quả nhân?”
“Muốn đàm luận riêng với đại vương!”
“Ở đây không có người ngoài!” Huệ Vương chỉ Bàng Quyên. “Đây là hiền tế của quả nhân, cũng là đồng môn của Trương Tử.” Chỉ vào tỳ nhân. “Đây là thị thần kề cận bên quả nhân, bàn riêng chớ ngại. Quả nhân già rồi, Trương Tử có gì dạy bảo, xin cứ nói thẳng.”
“Nước Ngụy nguy rồi!” Trương Nghi lại vòng tay, chậm rãi gằn từng tiếng.
Thấy Trương Nghi vừa mở miệng đã nói như vậy, Ngụy Huệ Vương sững sờ, hết nhìn Bàng Quyên, lại nhìn Trương Nghi, ánh mắt vô tình dừng lại trên cuộn thẻ tre của Bạch Hổ ở trước mặt, hồi lâu, mới chỉ vào chiếu khách bên cạnh: “Trương Tử, mời ngồi để bàn kỹ hơn.”
Trương Nghi bước tới vị trí khách, sửa áo ngồi ngay, hai mắt như đuốc, nhìn thẳng vào Ngụy Vương.
“Nước Ngụy trong triều ngoài nội, trên dưới vẫn như thường,” Ngụy Huệ Vương chúi người về phía trước hỏi, “Trương Tử cớ sao lại nói vậy?”
“Nếu không nằm ngoài dự đoán của Nghi,” Trương Nghi vòng tay trước ngực, dõng dạc nói, “nước Ngụy đã lâm vào cảnh ngoài khốn trong lo, giống như trâu mộng rơi xuống giếng, chẳng mấy mà chết.”
“Ồ...” Huệ Vương sững sờ, cười gượng một tiếng, nhìn sang Bàng Quyên, thấy hắn khép mắt không nói, lại nhìn Trương Nghi. “Thế nào là trong khốn ngoài lo, xin Trương Tử chỉ giáo!”
“Là ngoài khốn trong lo.”
“Phải phải phải, xin Trương Tử nói rõ!” Huệ Vương hiển nhiên vô cùng nôn nóng.
“Trước hết nói tới ngoài khốn.” Trương Nghi chậm rãi giải thích. “Phía nam, Ngụy Sở tiếp giáp, tiên tướng Ngụy Ngô Khởi trước đây đã chiếm đoạt Đại Lương và hai trăm dặm đất Sở xung quanh, tướng quân Bàng Quyên nay lại cướp lấy Hình Sơn và một trăm dặm đất Sở quanh đó. Thù cũ chưa nhắc tới, chỉ nói riêng hai chuyện mới này, với Ngụy là chuyện mừng, song với Sở lại là nỗi đau như đứt tay chân. Phía đông nam, Ngụy Tống tiếp giáp, tiên tướng quân Ngô Khởi trước chiếm Tương Lăng, Tương Lăng là lăng tẩm của Tương Vương tiên tổ nước Tống, nay là quận Ngụy, người Tống vẫn ghi hận trong lòng. Phía đông, tiếp giáp với Vệ, đất tổ của Vệ phần lớn đều đã nhập vào đất Ngụy. Phía đông bắc, Ngụy Tề tiếp giáp, ân oán cũ chưa tính đến, hẳn Tề Vương vẫn canh cánh mối nhục Hoàng Trì, tướng quân Điền Kỵ lại càng không thể nào quên mối nhục bị bắt làm đàn bà. Còn như Tam Tấn Ngụy, Triệu và Hàn, lãnh thổ đan cài như răng chó, lợi hại liên quan mật thiết, trăm năm qua chưa kể đến va chạm lặt vặt, chỉ tính riêng những trận ác chiến kịch liệt, cũng không dưới ba mươi, thành trì biên cương cờ xí thay đổi liên hồi, sáng Ngụy mà chiều đã Triệu, chẳng còn là chuyện lạ lẫm. Nguy cấp hơn nữa là phía tây, tranh chấp giữa Ngụy và cường Tần...”
Trương Nghi không nói tiếp nữa, khẽ khép mắt lại.
“Những chuyện xưa cũ kia, khác nào rận bò trên đầu người hói, ai chẳng thấy rõ, xin Trương Tử nói vài điều mới mẻ.” Huệ Vương sốt ruột, muốn nghe đoạn tiếp theo.
“Đại vương ví von rất hay, những lời Nghi vừa nói, đúng là như rận bò trên đầu người hói. Tuy nhiên, phàm người nhìn thấy, chỉ biết bề ngoài, duy có đại vương là biết đau biết ngứa!”
“Xin Trương Tử giải thích kỹ!” Bốn chữ “biết đau biết ngứa” rõ ràng đã kích động đến Huệ Vương, khiến ông ta lại nhổm người về phía trước.
“Sáu nước phạt Tần mà bại trận ở Hàm Cốc, đại vương hẳn không cho rằng, là do Bàng tướng quân vô mưu, võ binh Ngụy vô dũng?”
Nhớ lại cảnh bốn vương tuyên thệ phạt Tần ở Hổ Lao quan, song đến khi hai quân đối trận, quân Sở lại đứng yên không tiến, quân Tề chậm trễ không tới, Huệ Vương khẽ thở dài một tiếng, không nói năng gì.
“Lại nói về trong lo,” Trương Nghi không để Huệ Vương có thời gian suy nghĩ, “xa thì chưa nhắc tới, chỉ riêng những chuyện Nghi mắt thấy tai nghe mấy năm gần đây, Ngụy ở giữa mà bốn bề giao chiến, binh đao không lúc nào ngơi, dân chúng kiệt quệ mệt mỏi. Sau cuộc chiến Hàm Cốc, Bàng tướng quân trăn trở suy tính, mưu đồ tái khởi, liền năm mở rộng võ binh, ngày ngày luyện quân trực chiến, nóng lòng muốn rửa thù xưa. Tuy nhiên, đất Ngụy không tăng mà lại giảm, dân Ngụy theo nhau bỏ xứ, thuế thu ngày một giảm, quốc khố ngày một cạn, dân chúng ngày một khổ, vua tôi oán hận lẫn nhau, dám hỏi đại vương, ngần đấy điều trên, hẳn đã không còn là rận bò trên đầu người hói?”
Ngụy Huệ Vương mồ hôi rịn đầy trên trán.
Bàng Quyên hiển nhiên không ngờ mình cũng bị kéo vào trong cuộc, thoáng kinh ngạc nhìn sang Trương Nghi.
Trương Nghi có vẻ đã nói xong, lại khép mắt ngồi yên.
“Trương Tử đã biết nước Ngụy nguy khốn,” Huệ Vương cầm lấy chiếc khăn lụa tỳ nhân đưa lại, lau mồ hôi, “thì hẳn đã có kế giải thoát. Quả nhân bất tài, kính mong Trương Tử chỉ giáo.”
“Hai chữ, liên hoành!”
“Liên hoành?” Có lẽ lần đầu tiên nghe thấy từ này, cặp mắt già nua của Ngụy Vương chớp liền mấy cái. “Thế nào là liên hoành, vẫn xin Trương Tử giải thích kỹ hơn.”
“Tô Tần chẳng phải đã khởi xướng hợp tung trong liệt quốc đấy ư? Tam Tấn hợp tung, lại thêm Yên Sở, tạo thành một tuyến nam bắc. Còn như nước Tề gia nhập hợp tung, dở dở ương ương, có dụng tâm khác, có thể không tính. Sáu nước hợp tung tụ hội ở Mạnh Tân, mục đích là chế Tần, sáu vua tuyên thệ trước khi xuất quân, tung thân đã đạt tới cực điểm. Thánh nhân có nói, trăng tròn sẽ khuyết, chén đầy ắt tràn. Tô Tần thân đeo sáu ấn, hiệu lệnh sáu vua, chính là cùng cực trong bậc bề tôi. Sáu quân tập hợp ngoài ải Hàm Cốc, chính là cùng cực của tung thân. Vật cực tất phản. Sáu vua kết minh, ai nấy đều có mưu đồ riêng, sáu quân tập hợp, nhưng chưa chiến đã lùi, chính là ứng với đạo lý cực phản.”
“Đúng lắm, đúng lắm!” Huệ Vương gật gù thừa nhận. “Trương Tử xin hãy nói tiếp!”
“Ruộng có bờ ngang bờ dọc, đạo có đạo tung đạo hoành, thế tung đã suy, thì đạo hoành nên thịnh. Kế sách lâu dài của nước Ngụy, là bỏ tung nhập hoành, kết minh với Tần.”
Nghe tới đây, Huệ Vương hiển nhiên đã hiểu ra, mặt vuông sa sầm, im lặng hồi lâu không nói.
“Kế sách liên hoành có gì bất ổn chăng?” Trương Nghi đã đoán thấu suy nghĩ của Huệ Vương, liền hỏi thẳng.
Huệ Vương hai mắt sáng rực như đuốc, nhìn xoáy vào Trương Nghi, gằn từng tiếng một: “Chỉ có một điều bất ổn, Hà Tây!”
“Dám hỏi đại vương, Hà Tây có gì bất ổn?” Trương Nghi cứ như không hiểu, truy hỏi tới cùng.
“Người Tần dùng quỷ kế, chiếm đoạt Hà Tây của ta, bảy trăm dặm Hà Thuỷ, vài chục vạn thần dân, chỉ trong một đêm, đều đã thuộc về Tần, thi thể của hơn chục vạn dũng sĩ vẫn đang ngủ vùi dưới lòng đất Hà Tây!”
“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng. “Đại vương chỉ biết Hà Tây, song đã quên mất cái tình cá nước giữa Tần và Tấn. Thời Mục Công, đã hai lần gả con gái cho Tấn Công, kết giao tình hữu hảo trăm năm!”
“Đó là Tấn thất, không phải Ngụy thất! Quả nhân đời này, không thu phục Hà Tây, chết không nhắm mắt!”
“Than ôi!” Trương Nghi lại thở dài. “Đại vương nóng vội quá rồi. Đại vương đã nhắc tới Hà Tây, thân là bách tính Hà Tây, Nghi cũng muốn nói đôi điều về Hà Tây. Thời Mục Công, phía nam Hà Tây là đất phong của Đại Lệ, Phụ Thị, Nhuế, phía bắc do người Bạch Địch chiếm cứ, không hề có liên quan gì với Tấn thất. Mục Công thế mạnh, các nước nhỏ đều quy về Tần, Bạch Địch rút lên phía bắc, bảy trăm dặm Hà Tây mới đầu là đất Tần. Sau này Tần Tấn bất hoà, Hà Tây là vùng giáp ranh, đương nhiên gặp hoạ đầu tiên, nhiều lần trở thành chiến trường. Ba nhà phân Tấn, tướng Ngụy Ngô Khởi xuất chinh Hà Tây, đánh đuổi người Tần, bảy trăm dặm sơn hà mới nhập vào đất Ngụy. Sau đó là chiến tranh Tần, Ngụy, anh qua tôi lại trên đất Hà Tây, cho tới khi Thương Quân đoạt lại Hà Tây.”
“Chuyện xưa như mây khói, quả nhân chỉ nhớ thù gần!”
“Vậy Nghi sẽ nói về thù gần với đại vương.” Trương Nghi thuận thế nói tiếp. “Tần và Ngụy đều tranh giành Hà Tây, tình giống mà thế không giống. Tình giống ở chỗ, Hà Tây dù là với Tần hay với Ngụy, đều là do tổ tiên bỏ sức giành về, do thần dân đổ máu đánh đổi. Còn thế không giống ở chỗ, Hà Tây đối với Tần là đất buộc phải có, còn đối với Ngụy lại khác nào cái tai của người điếc.”
“Ồ?” Hơi thở của Huệ Vương đã hơi dồn dập. “Trương Tử rõ ràng là thiên vị Tần!”
“Nghi không dám thiên vị Tần!” Trương Nghi bình thản đáp lời. “Khi Nghi sinh ra, Hà Tây đang thuộc Ngụy. Là người dân nước Ngụy, tiên tổ của Nghi đã từng đổ mồ hôi vì Hà Tây, tiên phụ của Nghi đã phải đổ máu vì Hà Tây, tiên mẫu của Nghi đã chết trong tay người Tần, gia sản của Nghi đều bị người Tần cướp đoạt, Nghi và Tần vốn có mối huyết thù, vì thế Nghi không thể, cũng không muốn thiên vị Tần!”
“Nếu đã như vậy, Trương Tử hãy thử nói xem, vì sao Hà Tây với Tần là đất buộc phải có, còn với Ngụy lại giống như cái tai của người điếc?”
“Kinh đô đầu tiên của Tần là Lịch Dương, chỉ cách Hà Tây có sông Lạc Thuỷ, đến thời Thương Ưởng, Tần dời đô tới Hàm Dương, cách Hà Tây cũng không quá ba trăm dặm, phi ngựa nước kiệu một ngày là tới, hơn nữa Hà Tây và Hàm Dương đất đai bằng phẳng, ngoài dòng Lạc Thuỷ bé nhỏ, hầu như chẳng có chỗ hiểm trở nào để cố thủ. Không có được Hà Tây, Tần Vương sao có thể kê cao gối ngủ? Thường có câu, suy ta ra người, giả sử đại vương là quân chủ nước Tần, sẽ đối đãi với Hà Tây thế nào đây?”
Huệ Vương khẽ chép miệng một cái.
“Với Ngụy, thế hoàn toàn khác. Cái tai của người điếc, nhìn thì đẹp mà vô dụng. Ngụy phía tây có Hà Thuỷ hiểm trở, phía nam có Hào Hàm kiên cố, Hà Tây ở trong tay, chẳng phải giống như cái tai của người điếc hay sao?”
Huệ Vương lại khẽ bặm môi.
“Tần được Hà Tây, Ngụy chiếm Hà Đông; Tần được Hàm Cốc, Ngụy được Hào Quan; hai bên đều có núi, sông làm ranh giới, đều có chỗ dựa dẫm, đáng lẽ nên kết tình láng giềng hoà mục mới phải, không ngờ đại vương lại khăng khăng muốn tranh đi đoạt lại với Tần quân, thực không sáng suốt!”
“Trương Tử...” Tần Vương ngắc ngứ một hồi, mới nghĩ được lời đối đáp. “Nếu quả nhân từ bỏ Hà Tây, biết ăn nói sao với mười mấy vạn anh linh đã xả thân vì Hà Tây đây?”
“Ngụy có anh linh, Tần cũng vậy. Võ binh uy mãnh đến vậy, còn có đến mười mấy vạn anh linh, thế thì số người Tần đã chết vì Hà Tây, chẳng cần nói ra cũng biết.”
“Trương Tử nói vòng vo qua lại, hẳn là tới đây làm thuyết khách cho Doanh Tứ, muốn quả nhân hai tay dâng Hà Tây cho hắn, phải không?” Huệ Vương mặt lộ vẻ giận.
“Không phải, Nghi tới đây, là muốn thực hiện một vụ trao đổi với đại vương?”
“Trao đổi gì?”
“Có câu, mất ở góc đông, thu ở góc tây. Nếu đại vương chịu nhường Hà Tây, Tần Vương tự nhiên cũng sẽ có đáp lễ!”
“Đáp lễ thế nào?”
“Đại vương hãy nhìn xem!” Trương Nghi lấy từ trong ngực ra một tấm bản đồ hình thế, chỉ vào vùng đất rộng lớn của nước Triệu ở phía đông Thái Hàng, tiếp giáp với nước Trung Sơn. “Từ đây tới đây, toàn bộ đất Triệu đều thuộc về đại vương, thế nào?”
Huệ Vương trợn mắt kinh hãi.
Đêm ấy, Huệ Vương cứ trằn trọc mãi không ngủ được. Lời nói của Trương Nghi cứ như từng nhát búa, nện liên hồi vào cái hùng tâm tuy đã già nua nhưng tráng chí vẫn chưa nguôi. Huệ Vương suy nghĩ nát óc, song mãi mà vẫn không thể nghĩ thông, có hơi hối hận vì bản thân do muốn che giấu nỗi kinh hãi trong lòng mà hạ lệnh đuổi khách quá sớm, đáng lẽ nên để Trương Nghi nói hết mới phải.
Buổi sáng hôm sau, Huệ Vương sai người triệu kiến Bàng Quyên tới, cất giọng nghi hoặc: “Lời Trương Tử nói hôm qua, cũng không phải hoàn toàn không có lý. Chỉ có điều... hắn nói sẽ cắt toàn bộ vùng đất phì nhiêu của người Triệu ở phía đông Thái Hàng cho quả nhân, hình như là có hơi... khoác lác chăng?”
Hôm qua từ lúc Trương Nghi yết kiến, tới lúc bị Huệ Vương đuổi đi, Bàng Quyên không chen vào lấy một câu. Không phải hắn không chen vào được, mà là không muốn lên tiếng, bởi lẽ hắn quá hiểu vị nhạc phụ đã ở tuổi xế chiều.
Lúc này được hỏi tới, Bàng Quyên biết là thời cơ đã đến, bèn hạ giọng đáp: “Nay là thời loạn, phải dựa vào sức mạnh để tồn tại, chứ không phân lớn nhỏ nữa. Mặt khác, Trương Nghi mưu sự, xưa nay chỉ mưu lớn không mưu nhỏ. Ở Sở diệt Việt, ở Tần diệt Ba, Thục, hai vùng đều rộng tới vài nghìn dặm, nếu đem so ra, nước Triệu vẫn là quá nhỏ!”
“Phải!” Ngụy Vương sốt sắng nói. “Nhưng thôn tính Triệu, quả nhân thực sự không dám nghĩ đến. Quả nhân triệu con tới, là muốn hỏi con một câu, nếu như phạt Triệu, thực sự có thể...” Dừng lại nửa vời, hai luồng nhãn quang hừng hực dục vọng nhìn xoáy vào Bàng Quyên.
“Phụ vương, nếu phạt Tần, nhi thần có thể chắc chắn năm phần, không dám nói bừa, song nếu phạt Triệu, nhi thần có thể chắn chắn mười phần, tuyệt đối không sai sót.”
“Mười phần?” Huệ Vương trong lòng chấn động, rồi lập tức lắc đầu. “Hai quân giao chiến, biến hoá khôn lường, thắng thua chỉ trong một ý niệm, hiền tế không nên khinh địch. Hơn nữa, người Triệu không phải là người Việt, cũng không phải là Ba, Thục, xâm chiếm dần dần còn được, song nếu muốn nuốt gọn một lần, quả nhân e là không thể dễ dàng đến vậy!”
“Lời của nhi thần, có lẽ nông cạn. Việc này do Trương Nghi đề xướng, phụ vương nếu có điều băn khoăn, cớ sao không cho triệu kiến Trương Nghi, nghe xem hắn giải thích thế nào!”
“Truyền chỉ, triệu kiến Trương Tử!”
Bàng Quyên hồi phủ, mời Trương Nghi tới, Huệ Vương sốt sắng nói ra toàn bộ những băn khoăn trong lòng suốt cả đêm qua cho Trương Nghi nghe, Trương Nghi ung dung giải thích lần lượt.
Huệ Vương nghe mà nhiệt huyết sôi trào, đang định thuận theo ý Trương Nghi, nhưng đột nhiên lại sực nhớ tới Huệ Thi, Chu Uy, bèn nói: “Lời Trương Tử hay thì có hay, chỉ e triều thần...”
“Nghi ở trong cung Tần nhiều năm, theo Nghi thấy, Tần Vương một khi đã quyết, thường bất chấp mọi lời bàn tán trong triều ngoài nội.” Trương Nghi khẽ mỉm cười.
Do dự thiếu quyết đoán cũng chính là nhược điểm của Ngụy Vương. Trương Nghi lúc này lại nhắc tới Tần Vương hành sự dứt khoát, cai trị Tần ngày càng hùng mạnh, khiến Huệ Vương nghe mà rát mặt. Thấy Trương Nghi hai mắt nhìn thẳng vào mình, có vẻ xem thường, Huệ Vương sắc mặt đỏ bừng, không nghĩ ngợi gì thêm, lập tức vòng tay nói liền: “Cảm phiền tướng quốc trở về bẩm báo Tần Vương, việc này đã có thể định đoạt, còn kế sách cụ thể ra sao, do Trương Tử và Bàng ái khanh cùng bàn bạc.”
“Hồi bẩm đại vương!” Trương Nghi cũng vòng tay nói. “Nghi giờ đã là thần dân, không còn là tướng quốc nữa!”
“Sao kia?” Huệ Vương sửng sốt, quay sang nhìn Bàng Quyên.
“Phụ vương!” Bàng Quyên gật đầu. “Trương Tử mười ngày trước đã từ chức tướng quốc, treo ấn xuất ải rồi!”
Ngụy Vương hít sâu một hơi, hai mắt nhìn Trương Nghi không chớp: “Dám hỏi Trương Tử, cớ sao lại từ chức?”
“Không giấu đại vương,” Trương Nghi chậm rãi đáp lời. “Tổ thái hậu cung Tần ỷ thế, bức bách chia rẽ Nghi và phu nhân, ép Nghi thành thân với Tử Vân công chúa. Lúc đó tổ thái hậu đang hấp hối, Nghi không biết phải làm sao, đành phải chấp thuận. Phu nhân hay tin, cho rằng Nghi ham mới bỏ cũ, nuốt lời phụ bạc, trong cơn tức giận, nửa đêm bỏ nhà ra đi, không biết về đâu. Phu nhân có ơn cứu mạng với Nghi, rất yêu thương Nghi, Nghi cũng rất mực yêu thương phu nhân. Sau khi thái hậu quy tiên, Nghi tức tốc lên đường, tìm tới tận ải Hàm Cốc, nghe quan giữ ải nói, mấy ngày trước, đúng là có một nữ tử qua ải về đông, lúc đi ngang qua, hương thơm sực nức. Phu nhân của Nghi bẩm sinh trên mình đã mang thơm lạ, nên gọi là Hương Nữ, Nghi hỏi về diện mạo, đích xác là phu nhân không sai, bèn quay về Hàm Dương, chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ tới triều chính, lập tức trả ấn từ biệt Tần Vương. Tần Vương cố giữ, Nghi khăng khăng thà chết không chịu. Phần vì thấy Nghi đã quyết, phần vì cảm động trước mối tình thâm giữa Nghi và phu nhân, Tần Vương không nỡ bức bách, đành phải ưng thuận, song muốn Nghi đồng ý một việc.”
“Đồng ý việc gì?” Huệ Vương vội hỏi.
“Bất cứ lúc nào, chỉ cần Nghi tìm được phu nhân, phải lập tức về Tần. Tần Vương giữ lại tướng phủ, niêm phong tướng ấn cho Nghi! Sau khi Nghi bỏ đi, quyết không bổ nhiệm tướng quốc!”
Huệ Vương nghe mà ngây người sửng sốt.
“Than ôi!” Trương Nghi thở dài sườn sượt. “Phu nhân là con gái của bề tôi nhà Ngô Công Tôn Điệt, Sở, Việt kịch chiến, Công Tôn Điệt và Việt Vương cùng chết, dũng sĩ thuộc hạ không sống sót một người, ngoài Nghi ra, phu nhân chỉ còn trơ trọi một thân. Nghi sống trên đời này, ngoài bằng hữu ở Quỷ Cốc, cũng chẳng còn ai thân thích. Bằng hữu ở Quỷ Cốc, Tôn Tẫn không biết ra sao, Tô Tần và Nghi có hiềm khích, phu nhân đều biết. Phu nhân qua ải về đông, Nghi suy đi nghĩ lại, phu nhân không còn chỗ nào để đi, hoặc giả sẽ tới Đại Lương tìm Bàng huynh giãi bày. Nghi đi thâu đêm, thẳng tới Đại Lương, yết kiến Bàng huynh, nhưng không ngờ...”
Trương Nghi nói tới đây, đau xót tột cùng, nước mắt giàn giụa.
Huệ Vương nhìn sang Bàng Quyên.
“Không giấu đại vương,” Trương Nghi nâng ống tay áo lau nước mắt, “Nghi không những không tìm được phu nhân, mà lại bị Bàng huynh kéo tới đây, cùng đại vương bàn chuyện thiên hạ.”
“Dám hỏi Trương Tử,” Huệ Vương ngả người về phía trước, tim đập thình thịch, “nay phu nhân đã không ở chỗ Bàng ái khanh, vậy Trương Tử định đi đâu tìm?”
“Biển người mênh mông, Nghi thực sự không biết tìm ở đâu.” Trương Nghi sắc mặt tràn đầy tuyệt vọng, khe khẽ lắc đầu, rồi lập tức siết chặt nắm tay. “Có điều, lòng Nghi đã quyết, dù phải tìm tới chân trời góc bể, Nghi cũng không chùn bước!”
“Nếu Trương Tử không biết phải tìm ở đâu,” Huệ Vương nở một nụ cười, “quả nhân có ý này.”
“Xin đại vương chỉ dạy!” Trương Nghi vòng tay nói.
“Trương Tử có thể tạm thời lưu lại đất Ngụy, quả nhân sẽ bố trí thuộc hạ, toả khắp liệt quốc tìm kiếm.”
“Vậy thì hay quá, có điều, Nghi ở lại đây, nếu không có việc gì làm, cũng thật vô vị!”
“Chuyện này quả nhân đã có sắp xếp!” Huệ Vương cười vang mấy tiếng, hoan hỷ không để đâu cho hết, vòng tay nói. “Quả nhân vô tri, muốn phó thác quốc sự cho Trương Tử, kính mong Trương Tử đừng chê!”
“Tạ ân tri ngộ của đại vương!” Trương Nghi lại vòng tay nói. “Tuy nhiên, đại vương trong có Huệ Tử, ngoài có Tô Tử, hai người đều là nhân tài tuyệt thế, Nghi không dám sánh ngang với họ! Lòng Nghi đã quyết, ngày mai lập tức từ biệt Bàng huynh, muốn tới nước Tề chu du một chuyến.”
“Nước Tề?” Huệ Vương sững sờ kinh ngạc. “Trương Tử tới nước Tề làm gì?”
“Nghi chẳng có tài cán gì khác, chỉ có tài miệng lưỡi, lần này tới Tề, một là tìm kiếm phu nhân, hai là muốn tới Tắc Hạ khoe tài ăn nói, mong kiếm chút cơm ăn!”
Nghe thấy lời này, Ngụy Vương mừng rơn trong dạ, vội vã đứng dậy, cúi gập người trước Trương Nghi, vòng tay, cất giọng sang sảng như chuông đồng: “Nước Tề dựa lưng vào biển, sao đủ chỗ cho đại bàng sải cánh? Quả nhân sẽ lập tức miễn chức tướng quốc của Huệ Thi, phó thác toàn bộ đất nước cho Trương Tử, kính mong Trương Tử đồng ý!”
“Đại vương!” Trương Nghi lật đật quỳ sụp xuống, dập đầu bình bịch, nước mắt giàn giụa nói. “Nghi nào có tài đức gì, mà được đại vương hậu ái đến vậy! Nghi vốn là dân nước Ngụy, cũng nên dốc sức vì đại vương!”
“Ái khanh mau bình thân!” Ngụy Huệ Vương vội bước lại gần, đỡ Trương Nghi dậy, đoạn quay sang nói với tỳ nhân. “Bày tiệc! Còn nữa, mời Thân Nhi bồi tiếp!”
Tại phòng khách phủ tướng quốc, không khí nặng nề.
Thái tử Thân, Chu Uy, Bạch Hổ, ba người sắc mặt trầm trọng, duy có Huệ Thi ngồi ở vị trí chủ, thần sắc điềm nhiên, hai mắt khép lại, song người tinh tế có thể phát hiện thấy, khoé miệng bên trái của ông khẽ giật, hiển nhiên trong lòng đang bất an.
“Tướng quốc đại nhân!” Bạch Hổ phá tan bầu yên lặng, cất giọng gấp gáp mà khẩn thiết. “Đại nhân hãy nói gì đi chứ. Trương Nghi tới đây, chính là nhằm vào đại nhân, giờ thì lửa đã cháy tới lông mày đại nhân rồi!”
Huệ Thi đang ngả người về phía trước, nghe vậy bèn ngồi thẳng dậy, khoé miệng thôi không còn giật nữa.
“Tướng quốc đại nhân!” Chu Uy vòng tay nói. “Tại hạ hiểu, tướng quốc không để tâm tới ngôi vị tướng quốc, song hiện giờ, vấn đề không phải là ngôi vị, mà là liên quan tới tương lai nước Ngụy, liên quan tới đại lược hợp tung! Mối thù Tần, Ngụy, không phải nói giải là có thể giải ngay được, Trương Nghi lần này tới đây, trên danh nghĩa là giúp Ngụy, song thực tế là ly gián Tam Tấn. Tô Tử nói rất đúng, Tam Tấn đều đối mặt với Tần phía tây, nếu sát phạt lẫn nhau, duy chỉ có lợi cho Tần.”
Huệ Thi lại ngồi thẳng lên chút nữa.
“Tiên sinh!” Thái tử Thân cũng vòng tay. “Ý thượng khanh muốn nói, Tam Tấn tuy có xích mích, song không thể thù địch lẫn nhau. Ngôi vị tướng quốc này, tiên sinh dứt khoát không được nhường lại.”
“Duy có Tô Tần mới trị nổi Trương Nghi!” Huệ Thi cuối cùng cũng bật ra một câu.
“Lời đại nhân thực chí lý!” Chu Uy đáp. “Tuy nhiên, từ lúc bại trận ở Hàm Cốc, đại vương chỉ nghe theo Vũ An Quân, Vũ An Quân phạt Tần thất bại, đổ tội cho Triệu, nên rất có thành kiến với Tô Tử, chúng tại hạ giải thích thế nào cũng không chịu nghe. Lúc này Trương Nghi lại tới, Tô Tử e rằng càng khó ăn khó nói hơn.”
“Còn một người nữa, có thể trị nổi Trương Nghi!” Huệ Thi lại nói.
“Người nào?” Chu Uy, Bạch Hổ cùng đồng thanh hỏi.
“Công Tôn Diễn!”
Chu Uy, Bạch Hổ đưa mắt nhìn nhau.
Một lát sau, Chu Uy gật đầu nói: “Là Công Tôn Diễn thì tốt quá. Nghe nói người này đã rời Tần từ lâu, tại hạ vẫn nhớ đến hắn, cho người tìm kiếm khắp nơi, nhưng tới nay vẫn chưa có hồi âm!”
“Người này đang ở Đại Lương!”
“Gì kia!?” Thái tử Thân, Chu Uy và Bạch Hổ đều giật mình sửng sốt.
Tại vùng ngoại ô Đại Lương, một cỗ xe ngựa lao nhanh như bay, cuốn theo cát bụi mịt mù. Cỗ xe từ từ chậm lại, rẽ về phía một gian nhà cỏ khuất nẻo.
Cánh cửa bện cỏ mở rộng, Chu Uy, Bạch Hổ nhảy xuống xe, vội vã vào trong.
Trong gian nhà cỏ không một bóng người, song ở giữa gian chính treo một đĩa đèn, hai đầu bàn xếp chồng vài chục cuốn thẻ tre, có một cuốn còn mới đang trải rộng trên mặt bàn, vài cây bút lông cắm nghiêng trong ống bút, bên cạnh bày nghiên và mực.
Chu Uy ngồi xuống trước bàn, nhìn vào cuốn thẻ tre, xem nét chữ, thấy rành rành là bút tích của Công Tôn Diễn thì thở phào một tiếng.
Chu Uy hất hàm ra hiệu, hai người bèn ngồi xuống trước bàn, mỗi người cầm một cuốn thẻ tre lên xem. Vừa xem được một lúc, bỗng dưng một con chó mực lao vọt tới, dừng lại trước cổng, chõ vào trong sủa lên ầm ĩ.
Chốc lát sau, Công Tôn Diễn đầu đội nón lá, mặc áo thô nâu, vác cày trên vai bước vào trong cửa. Chó cậy thế chủ, lao vọt vào trong nhà, đứng trước cửa chõ vào hai người sủa nhặng lên.
Công Tôn Diễn đặt cày xuống, quát chó đi ra, rồi sải bước vào nhà, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ: “Chu huynh! Bạch huynh đệ!”
Ba người chia tay đã vài năm, nay lại gặp mặt, mừng vui không tả xiết.
“Không giấu Công Tôn huynh,” sau một hồi hàn huyên, Chu Uy chỉ vào những thẻ tre trên bàn, cảm thán tự đáy lòng, “qua tướng quốc mới biết huynh đang ẩn thân ở đây, tại hạ mãi vẫn không tài nào hiểu nổi. Vừa rồi giở xem cuốn thẻ tre này, mới biết nỗi khổ tâm của Công Tôn huynh!”
“Than ôi!” Công Tôn Diễn thở dài sườn sượt. “Không giấu hai vị, sau khi ra khỏi ải Hàm Cốc, tại hạ khổ sở suy nghĩ không biết đi đâu, rồi vẫn cứ quyết định trở về Ngụy. Không phải đất xưa khó bỏ, mà thực chất là vì muốn chế Tần. Người Tần nếu như bá chủ thiên hạ, ắt sẽ tiến về đông, nếu tiến về đông, ắt sẽ đánh Ngụy!”
“Lời Công Tôn huynh rất mực chí lý!” Chu Uy gật đầu thật mạnh. “Người Tần đã tới rồi!”
“Ồ?” Công Tôn Diễn nhìn sang.
Chu Uy đưa mắt cho Bạch Hổ, Bạch Hổ bèn đem tình hình triều cục gần đây kể hết một lượt cho Công Tôn Diễn nghe, từ chuyện Trương Nghi tới Ngụy, Trương Bàng liên kết, đến chuyện Ngụy Vương muốn bãi chức Huệ Thi để thay bằng Trương Nghi, rồi hai mắt khẩn thiết nhìn Công Tôn Diễn.
“Thay bằng Trương Nghi?” Công Tôn Diễn ngỡ ngàng. “Hắn không làm tướng quốc nước Tần nữa ư?”
“Nghe điện hạ nói,” Chu Uy đáp lời, “Trương Nghi bất hoà với cung Tần, tổ thái hậu nước Tần ép hắn thành hôn với Tử Vân công chúa, phu nhân của hắn bỏ đi mất tích. Trương Nghi không nỡ bỏ phu nhân, bèn trả ấn tướng ra khỏi ải Hàm Cốc, nói là muốn tìm phu nhân, thẳng tiến sang Ngụy.”
“Tổ thái hậu? Khước hôn? Từ chức tướng quốc? Tìm phu nhân?” Công Tôn Diễn rõ ràng chưa từng liệu tới những chuyện này, khép mắt suy ngẫm, miệng lẩm bẩm một mình. “Dùng những lời hoang đường này mà muốn che mắt Đại Ngụy ư?”
“Phải!” Bạch Hổ lo lắng nói. “Hiện tại tình thế cấp bách, nên ứng phó thế nào, xin Công Tôn huynh hãy mau mau hiến kế!”
“Trương Nghi lần này tới đây, chỉ có một mục đích.” Công Tôn Diễn bỗng mở choàng mắt, siết chặt nắm tay. “Liên hoành với Ngụy, chia rẽ Tam Tấn, phá vỡ hợp tung!”
“Công Tôn huynh nói chí phải, Huệ tướng quốc và Chu thượng khanh đều nói như vậy!”
“Không giấu hai vị,” ánh mắt của Công Tôn Diễn chuyển từ Bạch Hổ sang Chu Uy, “tại hạ ẩn cư ở đây đã hai năm, không phải là an phận cấy cày, mà là đang quan sát liệt quốc, nghĩ cách đối phó, tiêu diệt nước Tần lang sói. Tại hạ nghĩ đi nghĩ lại, thấy cách ứng phó duy nhất vẫn là kế sách hợp tung liệt quốc do Tô Tần khởi xướng. Trương Nghi liên hoành, chính là muốn phá sáu nước hợp tung.”
“Công Tôn huynh!” Chu Uy nhìn quanh gian nhà cỏ, lại nhìn bóng mặt trời, rồi quay người vòng tay nói. “Gian nhà cỏ này không phải nơi nghị sự, đất này càng không phải là chốn đậu của chim bằng, huynh hãy cùng chúng tại hạ trở về Đại Lương, cùng bàn bạc đại kế, đẩy lùi Trương Nghi!”
“Xem ra Chu huynh đã đói rồi!” Công Tôn Diễn bật cười, xắn tay áo, bước sang phòng bên, lấy ra một nắm rau xanh, xẻo một miếng thịt sấy treo trên xà nhà. “Nào, hai vị hãy giúp cho một tay, nhà cỏ bần hàn, song cũng có rượu ngon thức nhắm!”
Hai người cười vang, người nhặt rau, người nhóm bếp, mỗi người mỗi việc.
“Còn về chuyện đẩy lùi Trương Nghi, không cần bàn bạc, tại hạ đã có sẵn kế sách ứng phó rồi!” Công Tôn Diễn vừa thái miếng thịt sấy, vừa nói.
Chu Uy, Bạch Hổ đều nhìn cả sang.
“Khuyên can đại vương, bảo vệ Huệ tướng quốc!”
“Chỉ e đại vương quá tin Trương Nghi, có muốn khuyên cũng không được!” Chu Uy đáp.
“Có một người, hoặc giả sẽ khuyên được đại vương!”
“Người nào?”
“Thái tử!”
Không ngoài dự đoán của Công Tôn Diễn, Ngụy Huệ Vương quả nhiên cho triệu thái tử tới để bàn về chuyện này.
“Thân Nhi!” Sau bữa tối, Huệ Vương gọi thái tử Thân lại. “Huệ Tử làm tướng quốc đã nhiều năm, nước Ngụy vẫn chưa thịnh trị. Phụ vương đang nghĩ, có lẽ Huệ Tử là người khiêm hoà, không đủ quyết đoán. Thiên hạ ngày nay, liệt quốc đều xưng vương, dòm ngó cắn xé lẫn nhau, không có sức mạnh thì không thể ứng phó. Trương Tử từ chức tướng quốc nước Tần sang nước ta, phụ vương cho rằng, Trương Tử cùng học ở Quỷ Cốc với Vũ An Quân, vừa mới xuất sơn đã giúp Sở diệt Việt, sang Tần lại giúp Tần diệt Ba, Thục, tài năng của người ấy hơn Huệ Tử gấp trăm lần. Phụ vương đang muốn bãi chức Huệ Tử, ban thưởng vàng bạc châu báu, phủ trạch cho ông ta, để ông ta ở Ngụy dưỡng già, thảnh thơi biện luận danh thực, còn gánh nặng trị quốc hãy chuyển sang Trương Tử, ý con thế nào?”
“Phụ vương!” Thái tử Thân đáp lời. “Tướng quốc là rường cột của quốc gia, lập tướng đổi tướng, phụ vương hãy cứ định đoạt.”
Huệ Vương cười lớn: “Thân Nhi, theo như con nói, tướng quốc là rường cột của quốc gia, nên chọn ai làm tướng, là việc cực kỳ hệ trọng. Phụ vương già rồi, gánh nặng cung Ngụy cuối cùng sẽ đặt lên vai con, tài của tướng quốc, cuối cùng cũng là để con sử dụng, con suy tính thế nào, phụ vương chắc chắn sẽ cân nhắc!”
“Phụ vương nếu nghe nhi thần, thì nhi thần lại không chủ trương thay tướng quốc!” Thái tử Thân thái độ khác hẳn ngày thường, ngữ khí cực kỳ dứt khoát.
Huệ Vương lấy làm kinh ngạc, chau tít đôi mày: “Con thử nói xem, cớ sao lại không?”
“Nhi thần cho rằng, trước mắt thay tướng, có ba điều không thoả đáng. Thứ nhất, Huệ tướng quốc tài đức vẹn toàn, trong triều ngoài nội đều thừa nhận. Thứ hai, Huệ tướng quốc là người chí công vô tư, không thiên không lệch, có thể cân nhắc lợi hại mọi mặt. Thứ ba, Huệ tướng quốc xử lý chính sự suốt mấy năm qua, dù là kế xa hay mưu gần, đều không có gì sơ sảy, còn chuyện sáu nước phạt Tần, Huệ tướng quốc không hề chủ trương, mà do Vũ An Quân...”
“Đủ rồi!” Huệ Vương sắc mặt sa sầm, giơ tay chặn lời thái tử. Một lát sau, dường như lại thấy không thoả, nét mặt bình hoà trở lại, miễn cưỡng nở một nụ cười, quay sang tỳ nhân nói. “Truyền Huệ Thi!”
Khi Huệ Thi tới, Huệ Vương sắc diện đã trở lại ôn hoà, tươi cười nắm lấy tay Huệ Thi, dẫn tới hậu hoa viên, cùng đi tản bộ quanh hồ.
Hai người bước tới phía dưới một vạt liễu, Huệ Thi cứ thế bước đi, không chú ý dưới chân, chân trái vấp phải một hòn đá, loạng choạng một cái rồi ngã nhào xuống đất.
Huệ Vương vội bước lại, đỡ lấy ông ta.
“Tạ ơn đại vương nâng đỡ!” Huệ Thi phủi bụi đất trên người, rồi vòng tay cảm tạ Huệ Vương.
“Có sao không?” Huệ Vương quan tâm hỏi.
“Thần không sao.” Huệ Thi lại vòng tay đáp.
Huệ Vương cười vài tiếng, cất giọng quan hoài, song lại đầy ẩn ý: “Chân cẳng của ái khanh thật là...”
“Thần già rồi!” Huệ Thi cười nhăn nhó, lắc đầu.
“Nếu quả nhân nhớ không nhầm, ái khanh đã qua ngũ tuần rồi chăng?”
“Đại vương thánh minh, tới tháng lưu hoả (1) này, thần đã sống tạm năm mươi cái xuân thu.”
“Ồ!” Huệ Vương cố tình co duỗi tay chân một hồi. “Quả nhân đã quá lục tuần, hơn ái khanh đúng mười tuổi, nhưng xem tay chân quả nhân...” Rồi đắc ý nhìn sang Huệ Thi, tỏ ý khoe khoang.
“Thần mệnh hèn sức mọn, sao có thể sánh với long thể của đại vương?”
“Ha ha ha, ái khanh nói hay lắm!” Huệ Vương bật cười, ngữ khí càng thêm thân mật. “Hẳn ái khanh những năm qua toan lo việc nước, khiến cơ thể mệt mỏi quá độ.” Rồi đưa tay ra đỡ Huệ Thi, dắt tay ông ta, tiếp tục bước đi. “Ái khanh, nhắc tới chuyện này, quả nhân cũng có ý muốn cho khanh được nghỉ ngơi, tìm nơi tĩnh nhàn để tu thân dưỡng tính, an hưởng tuổi già, những chuyện nhọc tâm này hãy để cho người trẻ gánh vác, thế nhưng...” Dừng lại nửa chừng, khẽ thở dài một tiếng.
“Tạ ơn đại vương yêu mến!” Huệ Thi rút tay ra, lại vòng tay vái tạ.
“Chỉ có điều,” Huệ Vương lại kéo lấy ống tay áo Huệ Thi, “quả nhân thực sự không muốn xa rời ái khanh. Người hiểu lòng quả nhân, duy chỉ có ái khanh!”
“Dám hỏi đại vương, muốn ai thay thế cho thần?” Huệ Thi vờ như không biết.
“Trương Tử thế nào?” Huệ Vương dừng bước, nhìn thẳng vào Huệ Thi. “Trương Tử năm nay ba mươi lăm, đúng vào độ tuổi sung sức!”
“Độ tuổi sung sức, thần đã qua rồi!” Huệ Thi cũng nhìn thẳng vào Huệ Vương. “Có điều, đại vương hẳn đã từng nghe câu chuyện ‘Thiếp già hầu chồng’?”
“Quả nhân kiến văn hạn hẹp, khanh hãy kể xem!”
“Một người thiếp về già, nhan sắc tàn phai, bị chồng đuổi ra khỏi cửa để lấy vợ mới. Người thiếp già khóc lóc, không chịu đi, đại vương có biết vì sao không?”
“Ờ...” Huệ Vương nghe ra ẩn ý, ngập ngừng một lát mới nghĩ ra câu trả lời. “Hẳn là người thiếp không biết điều!”
“Không phải không biết điều, mà là nặng lòng với gia đình! Nay thần phụng sự đại vương, cũng giống như người thiếp già hầu chồng vậy!”
Thực là một ví von chua xót. Huệ Vương trầm ngâm buồn bã, cúi đầu không nói.
“Đại vương!” Huệ Thi cất lời sâu xa. “Người thiếp đã già, vốn dĩ chẳng màng danh lợi, đáng ra cũng nên biết điều mà đi. Song thiếp già sở dĩ khóc lóc, không chịu đi, là vì cô dâu mới lòng dạ khó lường, không phải người hiền thục.”
Huệ Vương hít ngược một hơi khí lạnh, một lát sau, mới run giọng hỏi: “Dám hỏi ái khanh, Trương Tử lòng dạ khó lường thế nào?”
“Vì hắn muốn mưu toan tài sản của nhà chồng mới!” Huệ Thi dằn mạnh từng tiếng.
Làm tướng quốc đã nhiều năm, lần đầu tiên Huệ Thi nói với Huệ Vương bằng giọng chắc nịch đến vậy.
Huệ Vương lại hít vào một hơi, trầm ngâm suy nghĩ rất lâu, rồi mới ngẩng lên cười nói: “Thường có câu, lấy chồng theo chồng, nếu đã gả vào nhà người ta, cần phải mưu tính giúp chồng mới phải.”
“Đàn bà bình thường, lấy chồng theo chồng,” Huệ Thi nói thẳng vào đề, “song người đàn bà này, có mưu đồ khác, bởi lẽ ả vẫn lưu luyến chồng cũ, được gả tới đây, là do chồng cũ sắp đặt, dùng nhan sắc để dụ dỗ người chồng mới.”
Lời này nếu xuất phát từ miệng Chu Uy, hẳn Huệ Vương đã có suy nghĩ khác, song lại được nói ra từ miệng Huệ Thi, khiến ông ta rùng mình ớn lạnh.
“Đại vương!” Huệ Thi khẩn khoản. “Thiếp thân đã già, sắc đã tàn, phụng sự không thể chu đáo, đại vương muốn lấy vợ khác, thiếp già nào dám ngăn cản? Thiếp già chỉ có một lời khuyên, nếu đại vương cưới vợ mới, nên mở to huệ nhãn mà chọn lấy một nàng dâu trẻ trung, hiền thục, một dạ trung thành, mới có thể hưng gia vượng thất, làm lợi cho con dân!”
“Dám hỏi ái khanh, trong thiên hạ này, liệu có người vợ như vậy?”
Huệ Thi gật đầu.
“Ái khanh hãy nói thử xem, người này là ai?”
“Công Tôn Diễn!”
“Công Tôn ái khanh? Hiện đang ở đâu?”
“Ở ngay Đại Lương.”
“Tốt quá!” Huệ Vương phấn chấn, hai mắt sáng bừng, nắm chặt tay Huệ Thi. “Cảm phiền ái khanh hãy mời Công Tôn ái khanh tới đây, quả nhân tưởng nhớ đã lâu rồi.”
Đã bao năm qua, trải bao biến cố, cuối cùng người Ngụy Công Tôn Diễn cũng đã được gặp Ngụy Vương trong ngự thư phòng cung Ngụy.
Để đón tiếp Công Tôn Diễn, tỳ nhân đã hết sức tận tâm, đích thân dọn dẹp trong ngoài thư phòng một lượt, còn châm ba nén hương thơm thượng hạng, chừng một canh giờ, hương thơm lan toả, không khí thanh tân. Ngụy Vương tắm gội thay y phục, bảo tỳ nhân mang đến năm cuốn thẻ tre mà Công Tôn Diễn để lại, đặt lên bàn, đang đọc thì thấy nội thần túc trực dẫn Công Tôn Diễn tới.
Cùng tới còn có cả Huệ Thi và thái tử Thân. Thái tử Thân là do Huệ Vương đặc biệt triệu tới.
Huệ Vương không tuyên triệu mà đích thân ra đón.
Thấy Huệ Vương ra đón, Công Tôn Diễn mình mặc áo vải vội vòng tay vái chào: “Con dân Công Tôn Diễn khấu kiến đại vương!”
Huệ Vương không vái trả, hai mắt sáng rực ngắm nghía Công Tôn Diễn một lượt, rồi bước lên vài bước, nắm lấy tay Công Tôn Diễn nói: “Công Tôn Diễn ơi là Công Tôn Diễn, con dân này đã khiến quả nhân nhớ nhung suốt bao nhiêu năm qua!”
“Diễn cảm tạ đại vương có lòng yêu mến!” Công Tôn Diễn lại vái mà nói.
Huệ Vương nắm lấy ống tay áo Công Tôn Diễn, cùng sánh bước vào cửa, vua tôi bốn người lần lượt ngồi vào chỗ. Huệ Vương lại nhìn Công Tôn Diễn chăm chú một lát, rồi vòng tay, thở dài mà nói: “Than ôi, không giấu ái khanh, khanh tới Tần làm mưa làm gió, quả nhân mới biết mình đã sai rồi!”
“Đại vương thánh minh!” Công Tôn Diễn vòng tay đáp lễ, tác phong chừng mực ôn hoà. “Từ sau khi rời Tần, Diễn náu mình nơi thôn dã, cày cuốc ruộng đồng, thân là phường áo vải, không dám xưng khanh!”
“Soạn chỉ!” Huệ Vương quay sang tỳ nhân. “Người Ngụy Công Tôn Diễn liệt vào hàng thượng khanh, ban một toà khanh phủ, ba mươi đĩnh vàng, ba mươi nô bộc, năm mươi súc lụa!”
Tỳ nhân ghi lại từng điều.
Công Tôn Diễn rời khỏi chỗ ngồi, khấu bái sát đất: “Diễn tạ ơn đại vương hậu thưởng, tuy nhiên, thưởng phạt là chuyện lớn của quốc gia, không có công không nhận lộc, cũng là phép tắc cổ xưa, thân là con dân, Diễn chưa có mảy may công lao nào với Ngụy, nên bạo gan khẩn cầu đại vương thu hồi mệnh lệnh, đợi Diễn tạo dựng công trạng, rồi ban thưởng sau cũng chưa muộn!”
Huệ Vương thoáng sững người, rồi lập tức cười đáp: “Ái khanh quá khiêm nhường rồi!” Chỉ vào năm cuốn thẻ tre trên bàn. “Chỉ dựa vào năm cuốn trường sách trị Ngụy này, cũng đã đủ để phong khanh tước hầu! Không giấu ái khanh, năm cuốn sách này, quả nhân đã đọc không biết bao nhiêu lần, thực là lời lời châu ngọc, đả kích thẳng thắn tệ nạn đương thời! Đáng tiếc là sách lược này có đầu không đuôi, thiếu mất năm sách lược sau, thực khiến quả nhân nuối tiếc mãi không thôi. Giờ thì hay quá, đã có ái khanh bên cạnh, quả nhân không còn phải lo năm sách lược tiếp sau nữa, thực là tận hứng.”
“Đại vương yêu lầm rồi!” Công Tôn Diễn lại bái lạy. “Khi thần viết mười cuốn sách này, là nhằm vào là tệ nạn trước đây. Nay vật đổi sao dời, mớ thẻ tre này đã thành ra vô dụng, có thể bỏ xó được rồi.”
“Ồ?” Huệ Vương sửng sốt. “Trị Ngụy ra sao, lẽ nào ái khanh lại đã có sách lược hay?”
“Hồi bẩm đại vương!” Công Tôn Diễn dõng dạc nói. “Từ sau khi rời Tần qua ải, Diễn sống ẩn cư ở vùng thôn dã đã hai năm có lẻ, âm thầm suy ngẫm chuyện thiên hạ, muốn phá giải loạn cục, thế nhưng, suy đi tính lại, mọi cách phá giải đều không qua nổi Tô Tần. Thiên hạ duy có hợp tung, mới có thể cân bằng thế lực, đại vương duy có hợp tung, mới có thể thịnh trị lâu dài.”
Ngụy Vương ngả người ra phía sau, khẽ khép mắt lại, hồi lâu, lại nhổm người về phía trước, vòng tay nói: “Cảm tạ ái khanh chỉ giáo. Này ái khanh!” Quay sang Huệ Thi, nở một nụ cười. “Huệ Tử đã chán ngán ngôi vị tướng quốc, chỉ một lòng muốn đàm luận danh thực với cao nhân, có ý muốn nhường lại chức vị cho Công Tôn ái khanh, dám hỏi ý ái khanh thế nào?”
“Tạ ơn đại vương coi trọng! Tạ ơn tướng quốc đại nhân hậu ái!” Công Tôn Diễn lần lượt vòng tay vái hai người. “Không phải là Diễn thoái thác, mà thực sự là Huệ tướng quốc đức cao vọng trọng, trí tuệ hơn người, Diễn còn xa mới theo kịp. Nếu đại vương không ghét bỏ, nếu tướng quốc có lòng yêu, Diễn nguyện làm tiểu tốt trước ngựa trong tướng phủ, dốc sức phụng sự đại vương!”
Ngụy Vương bật cười vài tiếng: “Ái khanh, lễ hiền sĩ, dùng người tài, là đại sự của đất nước. Huệ tướng quốc và ái khanh đều là tướng tài của quốc gia, có thể sớm tối ở bên quả nhân, quả nhân đã mãn nguyện lắm rồi. Còn như ai là tướng quốc, quả nhân sẽ không nhiều lời, trong vòng ba ngày, do hai vị ái khanh bàn bạc quyết định, rồi tấu báo lên quả nhân, quả nhân sẽ ban chiếu trong buổi đại triều!”
Cả Huệ Thi lẫn Công Tôn Diễn đều sửng sốt, nhìn nhau hồi lâu, rồi khấu đầu tạ ân.
Hay tin Công Tôn Diễn chen chân vào, Bàng Quyên vô cùng kinh hãi.
Từ sau khi cứu Bạch Hổ khỏi sòng bạc của Trần Chẩn, Bàng Quyên trong lòng vô cùng vì nể Công Tôn Diễn. Công Tôn Diễn chỉ một cánh quân mà phản kích quân Tần trong trận Hà Tây, ứng phó điềm tĩnh khi sáu nước phạt Tần (Bàng Quyên vẫn không biết đó là mưu kế của Trương Nghi), đều khiến Bàng Quyên phải kinh ngạc mà nể phục. Người này ở Tần, Bàng Quyên lấy làm nuối tiếc, thế nhưng, người này trở về Ngụy đã vài năm, hơn nữa hầu như ngày nào cũng quanh quẩn ngay trước mắt hắn, vậy mà hắn lại không hề hay biết.
Phản ứng đầu tiên của Bàng Quyên là đánh xe tới phủ tư đồ, muốn cùng Bạch Hổ đến thăm Công Tôn Diễn. Bạch Hổ không tiện từ chối, hai người lên xe ra thẳng ngoại ô, tìm tới gian nhà cỏ, bên trong không một bóng người, con chó mực đương nhiên cũng không thấy đâu. Hai người chờ một hồi lâu, rồi đành phải tiếc nuối quay về.
Bàng Quyên buồn bã hồi phủ, thấy Trương Nghi ngồi một mình trong phòng khách, trước mặt là một ấm trà nóng, đang tự rót tự uống.
“Trương huynh, tại hạ đang định tìm huynh đây!” Bàng Quyên ngồi xuống đối diện với Trương Nghi, cầm lấy chén trà hắn vừa đẩy lại.
“Hẳn là chuyện của Công Tôn Diễn?” Trương Nghi cười hỏi.
“Trương huynh đã biết?” Bàng Quyên kinh ngạc.
Trương Nghi cười vài tiếng: “Không giấu Bàng huynh, tại hạ và Công Tôn huynh vốn là tri kỷ, Công Tôn huynh ở đâu, làm gì, tại hạ đều biết rõ, không gì không hay!”
“Huynh thử nói xem!” Bàng Quyên nhấp một ngụm trà. “Người này ẩn mình nhiều năm, đột nhiên xuất hiện, là vì chuyện gì?”
“Tranh chức tướng quốc với tại hạ.”
“Tranh chức tướng quốc?” Bàng Quyên băn khoăn. “Người này về Ngụy đã vài năm, nếu muốn tranh chức tướng quốc, cớ sao sớm không tranh, muộn không tranh, lại đợi đúng lúc này mới tranh.”
“Bởi vì tại hạ đã tới!” Trương Nghi lại cười. “Bàng huynh đã nghe câu nói ‘hai ngựa một máng’ chưa? Một ngựa một máng, ăn chẳng có vị gì; hai ngựa một máng, mới có đua tranh! Công Tôn Diễn và tại hạ, chính là như vậy.”
Bàng Quyên cũng bật cười, giọng điệu có phần khinh mạn. “Trương huynh đã đề cao Công Tôn Diễn quá rồi. Theo tại hạ biết, như tại hạ và Tôn huynh, Trương huynh và Tô huynh mới là đối thủ! Tứ tử ở Quỷ Cốc, thiên hạ không ai sánh bằng.”
“Bị Bàng huynh nói trúng rồi!” Trương Nghi nâng chén trà, giữ ở trên tay. “Có điều, Bàng huynh đã phần nào hiểu sai ý tại hạ. Nghi và Tô huynh là tranh giành thiên hạ, còn Nghi và Công Tôn Diễn là tranh giành bang quốc, vật bị tranh giành có khác, nên dư vị cũng khác!”
“Hay, hay lắm!” Bàng Quyên cũng nâng chén trà, nói. “Trương huynh chỉ nghĩ chuyện lớn! Dám hỏi Trương huynh, người này đã tới đây chung máng, Trương huynh định ứng chiến thế nào? Nên có kế sách mới phải!”
“Kế sách chỉ có một!” Trương Nghi nâng chén trà về phía Bàng Quyên. “Thỉnh cầu Bàng huynh giúp đỡ! Mưu lược lớn trong thiên hạ hiện nay, không tung thì hoành, nếu đúng như suy đoán của tại hạ, Công Tôn Diễn gặp đại vương, ắt lại giương lên chiêu bài hợp tung của Tô Tần. Quyền thần của Ngụy thất, không ai không chủ trương hợp tung, hơn nữa đám Chu Uy, Bạch Hổ càng có quan hệ mật thiết với Công Tôn Diễn. Nếu đại vương tin theo họ, ắt bỏ hoành mà theo tung, tại hạ thì không sao, nhưng Bàng huynh thì e là không dễ xoay xở!”
Bàng Quyên không nói thêm một lời, lập tức đi thẳng tới vương cung, yết kiến Huệ Vương.
Ngụy Vương quả nhiên đang băn khoăn trăn trở về chuyện tung hoành. Tung, có lẽ sẽ được ổn định; hoành, có lẽ sẽ thành tựu nghiệp lớn. Tung, Công Tôn Diễn, Huệ Tử; hoành Trương Nghi, Bàng Quyên. Tung, được thái tử cực lực ủng hộ; hoành, lại là tâm niệm của bản thân.
“Hiền tế tới thật đúng lúc.” Bàng Quyên vừa ngồi vào chỗ, Huệ Vương đã nhìn hắn cười gượng một tiếng. “Trương Tử muốn hoành, Công Tôn Diễn muốn tung, là hoành hay tung, quả nhân nghĩ đến đau đầu nhức óc!”
“Phụ vương, thiên hạ vốn chỉ luận tung, chưa từng nghe nói tới hoành. Phụ vương nghe lời Tô Tần, đứng ra đảm đương chức tung ước trưởng, đoá hoa hợp tung nở rộ ở Mạnh Tân, héo tàn ở Hàm Cốc. Thiên hạ ngày nay, tung suy mà hoành xuất. Lợi hại của tung hoành, không nói cũng biết. Phụ vương đã gặp Công Tôn Diễn, hẳn là người này đã có kiến giải mới đối với thuyết hợp tung của Tô Tử. Lý không biện giải sẽ không rõ ràng, nhi thần khẩn cầu phụ vương lại hẹn Trương Tử lần nữa, để nghe hắn luận về hoành!”
“Cho mời Trương Tử!”
Trương Nghi đã đứng sẵn ngoài cung, nghe thấy tuyên triệu, lập tức vào ngay.
Quân thần hành lễ xong xuôi, Huệ Vương vòng tay, vào ngay chuyện chính: “Nghe Trương Tử luận hoành, quả nhân cảm thấy rất mới mẻ, cứ thế suy nghĩ tới tận hôm nay. Tuy nhiên, luận hoành lớn lao, mà quả nhân lại ngu muội, hôm nay thỉnh cầu Trương Tử giải thích rõ ràng, mong được Trương Tử chỉ giáo.”
“Khởi bẩm đại vương,” Trương Nghi khẽ vòng tay, không còn vẻ khách sáo, khí thế như cầu vồng. “Luận tung nghìn tơ vạn mối, luận hoành lại chỉ có một lý: cậy thế dựa lực, đại chiến diệt quốc!”
Huệ Vương thân tâm chấn động, miệng há hốc.
“Đại vương hãy xem!” Trương Nghi thuận tay lấy ra một tấm da dê, bên trên là bản phác thảo hình thế thiên hạ do chính hắn vẽ ra. “Cường địch của Ngụy là ba nước lớn Tần, Tề, Sở, dựa vào thực lực trước mắt của Ngụy, nếu giao tranh với Tề, sức mạnh ngang ngửa, nếu giao tranh với Sở, Tần, sức mạnh không bằng. Tuy nhiên, nếu Ngụy có thể thống nhất Tam Tấn, độc chiếm Trung Nguyên, thì phía tây có thể giao tranh Tần, phía đông có thể bức ép Tề, phía nam có thể uy hiếp Sở, đại cục thiên hạ đã có thể định!”
Huệ Vương ngả người về phía trước, cặp mắt già nua rực lên những tia sáng tham lam, nhìn chằm chằm vào tấm da dê nhỏ bé trước bàn Trương Nghi.
“Nếu đại vương theo hoành,” Trương Nghi chỉ vào nước Tần, “phía tây không còn phải lo lắng. Có Tần ở cạnh, Sở không dám manh động, đại vương có thể phạt Triệu trước, rồi quét sạch nước Hàn, trong vòng ba năm, có lẽ sẽ thống nhất được Tam Tấn, sửa chính càn khôn.”
“Trong vòng ba năm?” Huệ Vương nhắc lại như không thể nào tin nổi, nhìn sang Bàng Quyên, rồi ánh mắt lại quay về Trương Nghi. “Ý Trương Tử là, trong vòng ba năm, quả nhân có thể diệt Triệu?”
“Là trong vòng một năm!” Trương Nghi siết chặt nắm tay khẳng định.
“Trương Tử...” Huệ Vương càng thêm kinh hãi. “Hãy nói thử xem, Trương Tử có sách lược gì mà đánh bại được Triệu thất trong vòng một năm.”
“Đại vương hãy xem,” Trương Nghi chỉ vào Trung Sơn, “gần đây nghe nói Trung Sơn và Triệu lại xảy ra giao tranh vùng biên giới. Đại vương có thể hẹn gặp Trung Sơn, cắt đứt ải Phẫu, nam bắc giáp công, đất Triệu phía đông Thái Hàng, không có địa thế hiểm trở để cố thủ; đất Triệu phía tây Thái Hàng, Tần mượn đất Ngụy, xuất quân Tấn Dương, đánh thẳng tới Đại Đô. Người Triệu có mạnh tới mấy, nếu bị cắt đứt làm đôi, đông tây không tiếp ứng cho nhau, muốn giữ được tông miếu là rất khó!”
Huệ Vương không giấu được đắn đo: “Triệu là nước khởi xướng hợp tung, nếu quân ba nước Tề, Triệu, Hàn đều tới trợ giúp thì làm thế nào?”
“Đại vương yên tâm!” Trương Nghi dõng dạc nói. “Người Hàn vừa sợ Ngụy, lại cũng sợ Tần. Ngụy, Tần liên minh phạt Triệu, tin chắc Hàn không dám manh động. Sở, Triệu nằm cách Hàn, Ngụy, với sự sáng suốt của Sở Vương chắc chắn sẽ không vì Triệu mà bất hoà với Ngụy. Còn Yên, Yên Vương hiện nay là con rể của Tần Vương, không dám không nghe bố vợ. Cứu tinh của Triệu, đếm đầu ngón tay, chỉ có người Tề.” Nhìn sang Bàng Quyên. “Nếu Tề cứu Triệu, ắt dùng tướng quân Điền Kỵ. Dùng Điền Kỵ để tranh đấu với Bàng huynh, dùng binh lính Tề để giao chiến với võ binh Đại Ngụy, Tề Vương tuy đã già, song chưa đến nỗi hồ đồ đến vậy!”
“Người Tề xuất binh,” Bàng Quyên đấm thẳng xuống bàn, “tại hạ cũng đang chờ đợi chuyện này.”
“Bàng huynh phạt Triệu, nếu thuận đường đánh bại người Tề,” Trương Nghi dựng ngón tay cái lên, “đúng là một trận chiến mà định càn khôn!” Lại chỉ vào bản đồ. “Tam Tấn quy về một mối, đại vương lập tức dẫn quân xuống phía đông, thuận thế đánh đuổi người Tề ra tận Doanh Châu ngoài biển, lúc đó Ngụy hợp Tam Tấn đã có thể ngồi yên mà thu lấy Tề, Yên, cùng lưu vực sông Tứ, nước Tần độc hưởng Đại Sở, thiên hạ chia đôi, chẳng phải kỳ diệu lắm ư?”
Huệ Vương nghe mà nhiệt huyết sôi trào, dã tâm bành trướng, vòng tay lia lịa mà nói: “Nghe đồn tứ tử ở Quỷ Cốc, có được một đã được thiên hạ, quả nhân độc chiếm nhị hiền, văn võ song toàn, còn lo gì thiên hạ không định nổi!”
Ba ngày sau, trong buổi đại triều, Huệ Vương ban chiếu bãi miễn Huệ Thi, lập Trương Nghi làm tướng quốc.
Thiên hạ một phen chấn động.
Trong phủ tướng quốc Đại Ngụy, Huệ Thi chậm chạp thu dọn hành trang trong thư phòng, gói ghém những món tế nhuyễn mà mình yêu thích. Trong sân đỗ một hàng dài chục cỗ xe ngựa, năm cỗ là do Ngụy Vương ban thưởng, năm cỗ còn lại là do Huệ Thi mua bằng lương bổng. Hai tên đầy tớ và một nữ tỳ đang chân tay thoăn thoắt xếp đồ lên xe, đồ đạc phần lớn là thẻ tre, được xếp chồng từng bó gọn gàng.
Một cỗ xe ngựa lao thẳng tới trước phủ, từ trên xe, Trương Nghi nhảy xuống.
Quản gia bước ra đón, cung kính mời Trương Nghi vào trong.
Huệ Thi vẫn tiếp tục thu dọn đồ đạc, không buồn ngẩng đầu lên, như thể không nhìn thấy Trương Nghi.
Trương Nghi sụp xuống khấu đầu, nói: “Tiên sinh ở trên, xin nhận của Trương Nghi một lạy!”
“Huệ Thi xin chúc mừng Trương Tử!” Huệ Thi ngoảnh đầu. “Ngồi đi!”
Trương Nghi đứng dậy, ngồi xuống vị trí khách.
“Tướng quốc đại nhân tới đây, là nôn nóng muốn lập tức nhập phủ, hay là để đưa tiễn lão hủ?” Huệ Thi liếc xéo hắn một cái, rồi bước lại vị trí chủ ngồi xuống.
“Là tới tạ lỗi với đại nhân!” Trương Nghi vòng tay nói. “Nghi lần này tới Ngụy, có nhiều chỗ đắc tội, mong được đại nhân lượng thứ!”
“Gió nổi sóng dậy, sóng sau xô sóng trước, Trương Tử tuổi trẻ sức mạnh, có mưu lược lớn, đảm đương chức vị này là rất nên, cớ sao lại phải tạ lỗi?” Huệ Thi hơi vòng tay, cất giọng bình thản.
“Nghi tới còn có một việc!”
“Xin cứ nói!”
“Nhìn vào hành trang trên xe, tiên sinh hẳn là đi xa. Tại hạ mạo muội muốn hỏi tiên sinh, định dừng chân tại nơi nào?”
“Tướng quốc có gì chỉ dạy?”
“Tiên sinh học vấn uyên thâm, có thể dạo chơi Tắc Hạ. Nghe nói Thuần Vu Tử sớm đã chán ngấy chức tế tửu, chỉ muốn du ngoạn thiên hạ. Nếu tiên sinh tới đó, với tài đức của tiên sinh, hẳn là người thích hợp.”
“Đa tạ tướng quốc tiến cử!” Huệ Thi cười nhạt, đứng dậy vòng tay nói. “Đại nhân còn có điều gì căn dặn chăng?”
“Tạ ơn tiên sinh nâng đỡ!” Trương Nghi cũng đứng dậy, vái một vái dài, rồi xoay người, rảo bước đi luôn.
Trương Nghi đi khỏi chưa được bao lâu, thái tử Thân, Bạch Hổ, Chu Uy cùng hẹn mà tới, ra sức khuyên can Huệ Thi hãy lưu lại Đại Lương để chờ cơ duyên, song Huệ Thi chỉ lặng im không nói.
“Dám hỏi tiên sinh,” Thấy Huệ Thi ý đã quyết, thái tử Thân vòng tay hỏi, “chuyến này định tới nơi nào?”
“Mới vừa nãy, tân tướng quốc đặc biệt đến tiễn đưa, đã chỉ đường cho lão hủ rồi!”
“Trương Nghi?” Chu Uy sửng sốt.
“Phải, hắn muốn lão hủ tới Tắc Hạ, hoặc giả sẽ có được chức tế tửu!”
“Tiên sinh hẳn sẽ không nghe lời hắn!” Bạch Hổ thuận miệng tiếp lời. “Tiên sinh đi chuyến này, chắc là tới Sở.”
Huệ Thi nhìn thẳng vào Bạch Hổ hồi lâu, bật cười vài tiếng, rồi gật gù nói: “Tiểu tử mấy ngày không gặp, đã thấy tiến bộ!” Rồi thu lại nụ cười, đưa mắt nhìn qua mọi người một lượt, gằn mạnh từng tiếng. “Thiên hạ hiện nay, chế được bạo Tần, duy có Đại Sở mà thôi!”
Hồi Thứ 62
Dựa thế mạnh, Trung Sơn gây hấn biên cương
Bởi khinh suất, nước Triệu gặp nguy ba phía
Huệ Thi vừa đi khỏi, Trương Nghi đã lập tức dọn ngay vào phủ tướng quốc. Trong triều đường, vị trí của Trương Nghi ở phía sau thái tử Thân, bên trái Bàng Quyên. Trong suốt ba mươi năm Huệ Vương chấp chính, lần đầu tiên giữa tướng quốc và tướng quân có sự hoà hợp.
Trương Nghi nhiệm chức tướng quốc chưa được bao lâu, đã hợp mưu với Bàng Quyên, xúi giục Huệ Vương liên tiếp hạ chiếu thư, hoàn toàn theo đúng ý nguyện của Bàng Quyên, thanh lọc một lượt tất cả các đại phu và quan lại cấp quận huyện trở lên, rồi lấy danh nghĩa củng cố quốc gia để lựa chọn và bổ nhiệm các quan lại chủ chiến. Còn với một loạt các quan lại không chủ chiến như Chu Uy, hoặc chỉ cho hư chức, hoặc bãi chức, dọn sạch phần lớn chướng ngại vật trên con đường khuếch trương võ bị của Bàng Quyên. Không đầy một tháng, khắp trong triều ngoài nội, trên dưới không còn nghe lời phản đối, trong ngoài doanh trại, sát khí bừng bừng.
Tiếp đến, Tần Vương phái Sư Lý Tật đi sứ Ngụy, Trương Nghi và Tần kết minh ước, bí mật định ra sách lược diệt Triệu.
Bàng Quyên chiếu theo minh ước, điều chỉnh việc phòng ngự Hà Tây, thu hồi võ binh phạt Tần, âm thầm lên kế sách phạt Triệu.
Tần, Ngụy kết minh chưa đầy nửa tháng, ba vạn thiết kỵ quân Tần đã mượn đường nước Ngụy, hành quân dọc theo thung lũng sông Phần Thuỷ, tiến sát nước Triệu, hạ trại ở một dải đầm Đại Chiêu, núi Hồ Kỳ cách Tấn Dương trăm dặm, rêu rao ra ngoài rằng, họ đã mua lại vùng đồng cỏ rộng lớn giữa núi Hồ Kỳ và đầm Đại Chiêu từ đám lái buôn ngựa người Bạch Địch, nên tới đây nuôi ngựa, luyện ngựa.
Xét về lịch sử, từ phía đông Hà Thuỷ tới thung lũng sông Phần Thuỷ đích xác là địa bàn của người Bạch Địch, tuy nhiên, toàn bộ tộc Bạch Địch đã di dời sang phía đông từ hơn hai trăm năm về trước, men theo khe Tỉnh Hình qua núi Thái Hàng, xây dựng nên nước Trung Sơn hiện nay ở phía đông chân núi Thái Hàng. Thung lũng Phần Thuỷ hiện nay, về cơ bản thuộc phạm vi thế lực của người Triệu. Đám lái buôn ngựa người Bạch Địch lại nói với người Tần như vậy, còn lập cả khế ước, trắng trợn tuyên bố rằng vùng đất này là đất tổ tông của nhà mình, thái độ vô cùng ngang ngược, nói trắng ra, đây chính là cái cớ ngang tàng mà người Tần đặt ra.
Tấn Dương là đất phát của Triệu thất, cũng là Tây Đô của nước Triệu, còn là trung tâm quân sự duy nhất phía tây núi Thái Hàng của Triệu, được gọi là đại bản doanh cuối cùng của nước Triệu. Năm xưa họ Trí diệt Triệu, Triệu Giản Tử đã cố thủ thành này, mới có thể trụ vững tới thời khắc cuối cùng, và liên minh với hai nhà Hàn, Ngụy, xoay chuyển bại cục thành công, tiêu diệt họ Trí. Người Tần lần này tới đây, mục tiêu rành rành là Tấn Dương, mà Tấn Dương đối với nước Triệu, tuyệt đối không thể mất. Triệu Túc Hầu hay tin, vội vã phái thượng đại phu Lâu Hoãn tới Hàm Dương điều đình, đồng thời điều động một vạn quân trấn thủ Thượng Đảng tới hỗ trợ phòng thủ Tấn Dương, chỉ lệnh Triệu Báo cảnh giới người Tần, chuẩn bị chiến tranh ngự địch. Chẳng mấy chốc, thung lũng Phần Thuỷ đã người xe rậm rịch, lòng dân hoang mang.
Sau khi liên tiếp xuống đòn, Trương Nghi bèn giao lại tất cả quốc sự nước Ngụy cho Bàng Quyên, còn mình cải trang thành lái buôn đồ da, trà trộn vào đội ngũ thương nhân tới nước Trung Sơn, vượt qua biên giới nước Triệu, tiến vào lãnh thổ Trung Sơn.
Hơn một năm qua, Trung Sơn Vương Cơ Hấn chẳng khác nào như ngồi trên đống lửa.
Lửa giận của Cơ Hấn bắt nguồn từ người Triệu. Tháng chạp năm ngoái, Trung Sơn Thành Vương quy thiên, Cơ Hấn chưa đầy mười sáu tuổi vừa lên ngôi kế vị, quân lính trấn giữ Hạo Ấp biên giới nước Triệu phía bắc Hoè Thuỷ bất ngờ đột kích ba ngôi làng, giết hại hơn mười người, bị thương hơn trăm người, nguyên nhân là ngựa chiến do họ chăn thả ngoài đồng cứ thi thoảng lại bị bắt trộm, mấy ngày gần đó mất liền hơn chục con. Một tên trộm ngựa bị bắt quả tang, thẩm tra được biết, đó là một tên trộm ngựa lâu năm ở thôn gần đó, bọn chúng đã cấu kết thành băng nhóm, chuyên trộm ngựa rồi mang sang nước Tề bán. Binh lính áp giải tên trộm đi thương thảo, hòng đòi lại ngựa, song trên đường đi, bất ngờ bị dân chúng tấn công, kẻ trộm ngựa nhân lúc hỗn loạn đã chạy thoát. Lính Triệu về gọi quân chi viện, ban đêm tập kích ba thôn, dẫn tới xung đột.
Trộm ngựa là một chuyện, người Triệu nhân lúc Trung Sơn có đại tang xuất binh khiêu khích lại là chuyện khác. Khắp nước Trung Sơn trong triều ngoài nội đều căm giận, Cơ Hấn ngựa non háu đá hoả bốc ngùn ngụt, trong cơn thịnh nộ đã hạ chỉ đánh trả. Lính thú biên giới Trung Sơn tấn công năm ngôi làng của người Triệu, giết hại hơn trăm người, bị thương gần nghìn người, đến đàn bà trẻ nhỏ cũng không tha. Người Triệu nổi trận lôi đình, ba nghìn lính ở bờ nam Hoè Thuỷ lập tức tiến vào Hạo Ấp ngay trong đêm, thực hiện một cuộc báo thù rầm rộ hơn nữa với Trung Sơn, giết hại hàng trăm người, bị thương vô số. Biên giới Trung Sơn cấp báo truyền về liên tiếp, Trung Sơn Vương điều binh khiển tướng, tướng sĩ hai bên dựng luỹ đối đầu, gươm tuốt vỏ nỏ giương dây. Mắt thấy một cuộc đại chiến đã khó lòng tránh khỏi, tướng quốc Trung Sơn là Tư Mã Điêu vội vã sai bề tôi thân tín tới Hạo Ấp, đàm phán cùng tướng quân Triệu, cuối cùng cũng khiến cục thế căng thẳng tạm thời dịu bớt.
Nhưng người Trung Sơn không ai không hiểu, giữa họ và người Triệu đã không còn đường hoà hoãn nữa. Khối nhọt này sớm đã căng mủ, không nhổ không xong. Có thể nói, khối u nhọt này bắt nguồn từ nước Tấn, đã bắt rễ ngay từ thời Xuân Thu.
Tiền thân của người Trung Sơn là người Tiên Ngu, tiền thân của người Tiên Ngu là người Bạch Địch. Người Bạch Địch họ Cơ, có thuyết cho rằng là hậu duệ của Tất Vạn Công, dòng dõi đích mạch của Chu Văn Vương; cũng có thuyết cho rằng là hậu duệ của Quắc Thúc, em trai Chu Văn Vương, song dù là thuyết nào, Bạch Địch đều có quan hệ máu mủ với Văn Vương nhà Chu, xứng đáng là vương mạch chính tông, sống ở lưu vực Phần Thuỷ phía đông Hàn Thuỷ. Sau đó, có lẽ là vào thời Chu Tuyên Vương, người Bạch Địch di chuyển về phía đông bắc đến sông Tiên Ngu, từ đó gọi là người Tiên Ngu. Sông Tiên Ngu chính là chi lưu phía bắc của sông Hô Đà. Vùng đất này nằm ở phía tây núi Thái Hàng, là lòng chảo giữa núi, địa thế bằng phẳng, cỏ mọc tốt tươi, bốn bề hiểm trở, xứng đáng là một phương phúc địa. Tuy nhiên, tới giữa thời Xuân Thu, nước Tấn hưng khởi, người Tiên Ngu vừa hay nằm trên tuyến đường trọng yếu để người Tấn bành trướng ra ngoài, vì thế buộc phải tiếp tục di chuyển về phía đông, men theo khe Tỉnh Hình vượt qua núi Thái Hàng, dừng chân ở thành Trung Nhân bên ngoài Tỉnh Hình, chính thức lập nước. Do trong thành Trung Nhân có núi, nên người Tiên Ngu gọi nước mới của mình là nước Trung Sơn. Tuy nhiên, lòng tham của người Tấn không chỉ dừng ở đó, sông Tiên Ngu chẳng qua chỉ là một hành lang, thứ mà họ thực sự khao khát, chính là vùng đất màu mỡ ở phía đông núi Thái Hàng, phía tây Hà Thuỷ, gần như muốn gom toàn bộ vùng đất hình mặt bàn được Hà Thuỷ bao quanh ba phía này vào bản đồ của Đại Tấn, cũng có nghĩa là, người Tấn đang mưu đồ xây dựng một bá quốc siêu cường tây tới Hà Tây, nam tới Hào Hàm, đông tới Hà Thuỷ, bắc tới hoang mạc. Chính vì điều này, người Trung Sơn đang chiếm giữ cửa ải trọng yếu Tỉnh Hình một lần nữa lại trở thành chướng ngại vật, người Tấn truy đuổi liên tục, chinh phạt triền miên. Sau khi ba nhà phân Tấn, nước Triệu có được Hàm Đan, mở rộng về phía bắc, sau khi tiêu diệt nước Hình, trực tiếp đối mặt với Trung Sơn. Người Triệu nhiều lần thảo phạt, người Trung Sơn không có đường lui, chỉ dựa vào địa thế hiểm trở để cố thủ. Người Triệu chinh phạt không được, thấy người Ngụy cũng đang dòm ngó, Triệu Hầu bèn nảy ra một ý, cho người Ngụy mượn đường. Ngụy Hầu vui mừng khôn tả, phong Nhạc Dương, Ngô Khởi làm tướng, đưa quân chinh chiến đường xa, huyết chiến ba năm, cuối cùng giết chết Trung Sơn Vũ Công, diệt nước Trung Sơn. Người Triệu không cam tâm để người Ngụy độc hưởng Trung Sơn, lại âm thầm trợ giúp hậu duệ của Vũ Công là Cơ Hoàn đánh đuổi người Ngụy, khôi phục Trung Sơn. Người Triệu dã tâm thế nào, người Trung Sơn đều hiểu, do vậy, sau khi đánh đuổi người Ngụy, Hoàn Công lại nhiều lần tiến đánh người Triệu, đoạt lại ải Tỉnh Hình, xua đuổi người Triệu qua Hoè Thuỷ. Để vớt vát chút thể diện, người Triệu ỷ mạnh phát động chiến tranh, cuối cùng đã chiếm được bờ bắc Hoè Thuỷ, đoạt được Hạo Ấp, thọc sâu vào tận ruột gan của Trung Sơn. Người Trung Sơn coi Hạo Ấp là mảnh xương độc mắc trong cổ họng, chỉ muốn nhổ bỏ sớm ngày nào hay ngày đó, song khổ một nỗi quốc lực không đủ, chỉ biết im lặng nuốt giận, không dám tuỳ tiện gây chiến.
Hoạ đã khó bề tránh khỏi. Mảnh xương kia nhân lúc vua mới nhỏ tuổi non nớt, đứng còn chưa vững, đã phát tác tức thì. Vào ngày đại tế tiên vương nhập thổ tròn năm, Trung Sơn Hấn Vương đợi buổi tế kết thúc, đã đặc biệt giữ hai vị trọng thần phụ chính là tướng quốc Tư Mã Điêu và thượng khanh Trương Đăng lại bàn mưu tính kế.
“Hai vị ái khanh!” Cơ Hấn vòng tay hướng về phía hai người. “Người Triệu ức hiếp ta quá đáng, quả nhân thực khó lòng nhẫn nhịn, xin tướng phụ và Trương ái khanh hãy chỉ giáo quả nhân sách lược ứng phó!” Rồi hai mắt sáng rực, quét qua Trương Đăng, dừng lại trên người Tư Mã Điêu.
Tư Mã Điêu từ nhỏ đã đọc thi thư, thông kim bác cổ, là người cương trực, cuối đời Hoàn Công tập ấm tước vị của cha mà trở thành Trung Sơn đại phu, vào thời Thành Vương nhiệm chức cung uý, sau tiếp quản chức tướng quốc của Nhạc Trì, phò tá Trung Sơn Quân xưng vương, được thụ phong làm Lam Chư Quân, xứng danh là tôi hiền trị quốc trí dũng song toàn tiếp sau Nhạc Trì, nhiều lần giúp Trung Sơn hoá nguy thành an trong các cuộc đại chiến với nước lớn.
Chúa nhỏ quyền cao, Tư Mã Điêu mưu sự lại càng thêm thận trọng, vòng tay vái mà nói: “Hồi bẩm đại vương, thần cho rằng, Triệu mạnh ta yếu, hiện tại không nên khai chiến. Hơn nữa, nếu Triệu phạt ta, ắt phải dốc toàn lực chuẩn bị. Theo thần biết, từ sau khi xuất binh Hàm Cốc, người Triệu chưa có biến động gì lớn. Lần này biên cương tranh chấp, chỉ là va chạm bình thường, ta nên chuyện lớn hoá nhỏ, không nên phản ứng quá mức!”
Rõ ràng, câu trả lời này không phải là điều Cơ Hấn muốn nghe. Trầm ngâm hồi lâu, Cơ Hấn nhìn sang Trương Đăng: “Tướng phụ chủ trương chuyện lớn hoá nhỏ, ý Trương khanh thế nào?”
“Hồi bẩm đại vương!” Trương Đăng vòng tay đáp lời. “Lời tướng quốc nói, thần cho là chí lý. Thế nhưng, chỉ cần Triệu có được Hạo Ấp, dân chúng trong phạm vi trăm dặm tại biên giới của ta sẽ không thể sống yên. Thần cho rằng, đại vương có thể nhân cơ hội tốt đẹp này, một đòn đoạt lấy Hạo Ấp, đánh đuổi người Triệu ra khỏi Hoè Thuỷ, lại dựng thành luỹ dọc theo Hoè Thuỷ, thì đã có thể kê cao gối ngủ!”
“Chính hợp với ý quả nhân!” Hấn Vương phấn khởi ra mặt. “Trương khanh, hãy thử nói xem nên xuất binh thế nào?”
Trương Đăng chần chừ một lát, rồi nhìn Tư Mã Điêu.
Hấn Vương cũng nhìn sang, ánh mắt khẩn thiết.
“Xuất binh, là đại sự của quốc gia.” Tư Mã Điêu khép mắt một lát, rồi chậm rãi nói. “Xin cho thần suy nghĩ thấu đáo, rồi sẽ tấu báo sau!”
“Như vậy cũng tốt!” Hấn Vương lại vòng tay. “Quả nhân cung kính chờ đợi kế sách hay của tướng phụ!”
Tư Mã Điêu buồn bực trở về tướng phủ.
Khiến ông ta lo lắng lại không phải là Hấn Vương, mà là Trương Đăng. Trương Đăng vốn là gia thần của Nhạc phủ, do có tài mà được cựu tướng quốc Nhạc Trì hết lòng yêu mến, tiến cử làm đại phu. Mấy năm trước, liệt quốc đua nhau xưng vương, Trung Sơn Thành Công không cam chịu lép, bất chấp lời khuyên của Tư Mã Điêu, cũng quay mặt về nam xưng vương, khiến các nước lớn xung quanh như Tam Tấn, Tề, Yên vô cùng bất mãn, đặc biệt là nước Triệu tới nay vẫn chưa xưng vương và lúc nào cũng như rập rình nhòm ngó Trung Sơn, lần này có được lý do, luyện ngựa mài đao, sẵn sàng chinh phạt. Trong nguy nan, Trương Đăng thụ mệnh đi sứ ba nước Yên, Tề, Ngụy, dốc sức chu toàn, dựa vào miệng lưỡi sắc bén mà nhẹ nhàng hoá giải mối nguy cho Trung Sơn, lập nên công lớn, được Thành Vương trọng dụng, phong làm thượng khanh. Thành Vương băng hà, Trương Đăng cùng với Tư Mã Điêu trở thành đại thần phò tá, địa vị trong triều đình còn vượt qua cả người trong Nhạc phủ, chỉ xếp sau Tư Mã Điêu.
Đương nhiên, Tư Mã Điêu không bận tâm tới việc Trương Đăng ngoi lên cao đến đâu, mà thân là trọng thần phò tá, Trương Đăng không nên bất chấp tất cả chỉ để thuận theo ý quân chủ. Cơ Hấn dù sao vẫn còn non nớt xốc nổi, chưa trải qua chiến sự, vừa không hiểu nỗi khổ sát phạt, lại càng không biết khai chiến với một nước lớn như Triệu là sẽ ra sao, song Trương Đăng thì không thể không biết! Biết mà không can gián, mù quáng thuận theo ý quân vương, Trương Đăng kia rốt cuộc muốn làm gì?
Tư Mã Điêu càng nghĩ càng buồn bực, cứ thế giam mình trong thư phòng, đang nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ, bỗng nghe thấy có tiếng bước chân vọng lại, rồi con trai cả Tư Mã Hy gõ cửa, khẽ giọng bẩm báo: “Phụ tướng, thượng khanh đại nhân cầu kiến!”
“Ồ?” Tư Mã Điêu thoáng ngạc nhiên. “Mời vào!”
Cánh cửa được đẩy ra, Tư Mã Hy dẫn Trương Đăng bước vào, phía sau là Trương Nghi trong bộ dạng lái buôn đồ da.
Tư Mã Điêu đã đứng dậy, ánh mắt lướt qua Trương Đăng, dừng lại trên người Trương Nghi: “Vị này là...” Rồi lại nhìn sang Trương Đăng.
Không để Trương Đăng kịp giới thiệu, Trương Nghi đã tiến lên một bước, vòng tay vái mà nói: “Tướng quốc Ngụy Trương Nghi bái kiến tướng quốc đại nhân!”
“Tướng quốc Ngụy Trương Nghi?” Tư Mã Điêu sửng sốt, mắt chớp liền vài cái, sau đó nhìn trân trân vào Trương Nghi. Rõ ràng Trương Nghi gắn liền với chức danh tướng quốc nước Tần, lại còn vận trang phục lái buôn đồ da, khiến ông ta hết sức ngỡ ngàng.
“Bẩm tướng quốc!” Trương Đăng mỉm cười, giải thích. “Trương Tử vốn là tướng quốc nước Tần, ba tháng trước trả ấn sang Ngụy, hiện đã được Ngụy Vương bệ hạ bái làm tướng quốc.”
“Vậy...” Tư Mã Điêu vẫn chưa hết ngỡ ngàng. “Huệ tướng quốc thì sao?”
“Tư Mã huynh có điều không biết,” Trương Nghi bật cười vài tiếng, lập tức xưng huynh gọi đệ, “con người Huệ Tử, tính khí bộc trực, do chán ngấy làm tiên sinh ở Tắc Hạ Lâm Truy mới chạy sang nước Ngụy làm tướng quốc, đến giờ lại chán ngấy chức tướng quốc, thấy tại hạ tới Ngụy, tiện thể quẳng luôn gánh nặng sang vai tại hạ, rồi vội vã đánh xe ngựa chuồn ngay, đã trở về Tắc Hạ làm tiên sinh rồi, chưa biết chừng còn thành tế tửu cũng nên!”
Tư Mã Điêu đã hiểu rõ ngọn nguồn, thở phào một tiếng, ánh mắt dừng lại trên trang phục lái buôn của Trương Nghi.
“Tư Mã huynh phải chăng thấy thích bộ trang phục lái buôn trên người tại hạ?” Trương Nghi tiện tay giật một cái, loạt soạt mấy tiếng đã cởi bỏ lớp áo ngoài, để lộ quan bào nước Ngụy bên trong, lại lấy từ trong quan bào ra mũ mão đai lưng, lần lượt vận lên người, lập tức toát lên vẻ uy nghi của tướng quốc Đại Ngụy, cuối cùng, hai tay dâng lên tấm áo lái buôn.
Tư Mã Điêu phá lên cười lớn, tiện tay đặt sang bên cạnh, khom lưng vái dài mà nói: “Trương Tử tam biến, tại hạ có mắt như mù, thất lễ, thất lễ!” Rồi chỉ vào chỗ. “Trương Tử mời!” Quay sang Tư Mã Hy. “Hy Nhi, dâng trà!”
Trà được bưng lên, tân chủ khách sáo một hồi, Trương Đăng thỉnh cầu Tư Mã Điêu cho tả hữu lui ra, rồi chỉ vào Trương Nghi nói: “Bẩm tướng quốc, Trương Tử tới đây, là có đại sự muốn bàn bạc!”
“Hiểu rồi, hiểu rồi!” Tư Mã Điêu bừng bừng thần thái, hai mắt nhìn xoáy vào Trương Nghi, vòng tay mà nói. “Trương Tử hạ mình mặc thường phục, hẳn là vì đại sự. Nếu Trương Tử không coi Tư Mã Điêu là người ngoài, tại hạ xin được lắng nghe cao luận!”
Trương Nghi vòng tay đáp lễ, dõng dạc nói: “Trung Sơn tiên vương quy thiên, đại tang, tân vương đăng cơ, đại hỷ. Tại hạ phụng chỉ của Ngụy Vương tới đây, thứ nhất là phúng viếng tiên vương, thứ hai là chúc mừng tân vương, thứ ba là tặng Trung Sơn một vật, tạm coi là lễ mọn viếng cũ đón mới.”
“Đa tạ Ngụy Vương yêu mến!” Tư Mã Điêu vòng tay. “Dám hỏi là hậu lễ gì?”
“Quận Đại!” Trương Nghi dằn mạnh từng tiếng.
“Quận Đại?” Tư Mã Điêu không hiểu, nheo mắt hỏi lại. Quận Đại ở tận phía tây nước Yên, là đất sản sinh tuấn mã, từ đó đến Trung Sơn núi cao vực sâu ngăn cách, từ thời Triệu Tương Tử, vẫn là vùng đất thuộc Triệu, giờ gắn nó với nước Trung Sơn, đối với Tư Mã Điêu, hiển nhiên là một chuyện hoang đường khó tưởng tượng.
Trương Nghi thủng thẳng nói ra một lượt mưu kế ba nhà Tần, Ngụy, Trung Sơn phân Triệu.
Tư Mã Điêu nghe mà kinh hãi, hai mắt thoạt tiên trợn tròn, sau đó khép lại, sau nữa, lại từ từ mở ra, nhìn chằm chằm vào Trương Nghi hồi lâu, mới vòng tay nói: “Nghe đồn Trương Tử đến Sở diệt Việt, sang Tần diệt Ba, Thục, giờ vừa tới Ngụy, mở miệng đã đòi diệt Triệu, quả nhiên là mưu đại sự, tại hạ thán phục. Tuy nhiên, Trung Sơn chỉ là một nước nhỏ nhoi, quốc lực mỏng yếu, nào dám sánh ngang với Ngụy, Tần?”
Trương Nghi cười vang: “Tư Mã huynh thật quá khiêm nhường. Đại Triệu tới nay vẫn là nước hầu, Trung Sơn tuy là bang nhỏ, song đã quay mặt về nam xưng vương, cùng với các nước lớn như Tề, Ngụy, Yên, Sở, Tần, và cả đường đường Đại Chu thiên tử, sánh vai cùng bước đã nhiều năm rồi!”
Trương Nghi thẳng thừng vạch ra cái tệ Trung Sơn nước nhỏ mà xưng vương, khiến Tư Mã Điêu có phần lúng túng, tuy nhiên, sự thực là như vậy, ông ta cũng khó lòng biện hộ.
“Trung Sơn hiện nay,” Trương Nghi dõng dạc nói, “phía tây tới Thái Hàng, phía đông tới Hà Thuỷ, phía bắc tới Dịch Thuỷ, phía nam tới Hoè Thuỷ, đã là năm trăm dặm vuông, vượt xa Tống, Vệ. Nếu lại thêm quận Đại, lãnh thổ đã hơn nghìn dặm vuông. Quận Đại là quê hương của tuấn mã. Trung Sơn đây có đất đai màu mỡ, kia lại có ngựa tốt, sở hữu lãnh thổ nghìn dặm, nhân khẩu trăm vạn, đã có danh là vương, cũng lại có thực của vương, liệt quốc thiên hạ, ai dám coi là nước nhỏ nữa?”
Trương Nghi lại nhắc tới quận Đại, rõ ràng, đây là một sự cám dỗ quá ư lớn lao, Tư Mã Điêu bất giác hít vào một hơi thật sâu.
“Tư Mã huynh hiểu rõ Trung Sơn,” Trương Nghi tiến dần từng bước, “Trung Sơn và Ngụy, nước Triệu ngăn cách ở giữa, có oán cũ mà không có thù mới. Trung Sơn và Triệu, lại là một mất một còn! Vì đâu lại thế? Là vì Tỉnh Hình. Triệu Đông Đô là Hàm Đan, Tây Đô là Tấn Dương. Hàm Đan và Tấn Dương cách nhau nghìn núi muôn sông, tuy Triệu có đường Phẫu Khẩu Hình, song Phẫu Khẩu nối thông tới Thượng Đảng, mà Thượng Đảng một nửa là của người Hàn, không phải người Triệu độc hưởng, người Triệu muốn hưởng bình an, cần phải nhìn mặt người Hàn. Vả lại giữa Thượng Đảng và Tấn Dương, lại có núi cao ngăn cách, người Triệu vất vả vượt núi tới Thượng Đảng, vẫn chỉ tới được nửa đường. Còn Tỉnh Hình lại khác. Tỉnh Hình về tây, thông thẳng tới Tấn Dương, người Triệu sốt sắng chỉ muốn có được Tỉnh Hình. Mà Tỉnh Hình và Hà Thuỷ, xứng danh là hai mạch Nhâm Đốc của nước Trung Sơn, nhất thiết không thể mất. Tỉnh Hình mất, Trung Sơn mất, Tỉnh Hình còn, Trung Sơn còn!”
Trương Nghi chỉ thẳng vào Tỉnh Hình, cửa ải trọng yếu mà Trung Sơn buộc phải tranh giành với Triệu, khiến Tư Mã Điêu mồ hôi túa đầy trên trán.
“Tư Mã huynh!” Trương Nghi nở một nụ cười. “Không phải tại hạ thùng rỗng kêu to, mà thực sự là do tình thế bức bách! Thiên hạ hiện nay, không phải mình Trung Sơn đối đầu nguy cục. Tô Tần khởi xướng sáu nước hợp tung, chĩa mũi nhọn vào Tần. Sáu quân phạt Tần, tập kết ở ải Hàm Cốc, người Tần nguy trong sớm tối. Nhưng đến thời khắc then chốt, người Triệu lại bán đứng Ngụy, khiến đại nghiệp hợp tung vỡ trong một chốc, người Ngụy vì đó thâm hận người Triệu. Người Tần đánh bại quân hợp tung, có được Ba, Thục, thế nước ngày càng lớn mạnh. Để phá sách lược hợp tung của Tô Tần, Tần Vương nghe theo sách lược liên hoành của tại hạ, phái tại hạ tới Ngụy kết liên minh. Ngụy Vương thấu hiểu thời thế, vứt bỏ hiềm khích trước đây, bỏ tung theo hoành, phong tại hạ làm tướng quốc, kết minh với Tần, cùng phạt Triệu bất nghĩa. Gần đây nghe nói Trung Sơn và Triệu có xích mích, tại hạ phụng vương chỉ đích thân tới Trung Sơn, bàn chuyện ba nhà phân Triệu. Tư Mã huynh, dựa vào sức mạnh của Ngụy, Tần, sư đệ của tại hạ là Bàng Quyên dụng binh như thần, chỉ cần đông tây hợp kích, kết cục bại vong của người Triệu đã có thể khẳng định. Nếu Tư Mã huynh từ phía bắc đâm ngang một đao, nước Triệu không chết mới lạ.”
Tư Mã Điêu nghe Trương Nghi giải thích một lượt, cũng đã hiểu rõ ngọn ngành, nhìn Trương Đăng cười hiểu ý, rồi vòng tay nói với Trương Nghi: “Tại hạ ở nơi hẻo lánh, kiến văn nông cạn, được Trương Tử khai sáng, thực may mắn không gì bằng!” Thở dài một tiếng. “Than ôi, tại hạ không giấu gì Trương Tử, người Triệu xâm phạm biên cương Trung Sơn, cướp đoạt Hạo Ấp, lại nhân lúc Trung Sơn đại tang, tấn công thôn xóm, giết hại thần dân, hiếp đáp Trung Sơn quá đáng. Đại vương thịnh nộ, vốn muốn hưng binh đòi lại công bằng, song tại hạ không hiểu thời thế, nhiều lần lên tiếng khuyên can. Nay có hai nước lớn Ngụy, Tần trượng nghĩa trợ giúp, tại hạ đã không còn gì lo lắng nữa. Xin lập tức cùng Trương Tử vào cung, tấu lên đại vương, cùng bàn đại sự, được chăng?”
Trương Nghi vòng tay đáp: “Đa tạ Tư Mã huynh trợ giúp!”
Ba ngày sau, quân thần Trung Sơn cùng Trương Nghi trù hoạch mưu lược tường tận, Trung Sơn Hấn Vương phong Tư Mã Điêu làm chủ tướng, Nhạc Cử làm phó tướng, Tôn Cố làm tiên phong, Công Tôn Hoằng phụ trách lương thảo, Trương Đăng phụ trách bang giao, khắp Trung Sơn trên dưới đồng lòng, khởi năm vạn tinh binh, thế như chớp giật, nhanh chóng cắt đứt Hoè Thuỷ, vây khốn Hạo Ấp.
Cùng lúc này, Tư Mã Điêu vốn mưu kế lão luyện cũng đưa ra một nước cờ, mượn lời Trung Sơn Hấn Vương giữ Trương Nghi ở lại Linh Thọ, tiếng là để hoạch định kế sách, thực chất là giữ làm con tin, đề phòng Ngụy, Tần giở trò, bán đứng Trung Sơn cho nước Triệu.
Biên ải cấp báo, cung Triệu chấn động.
Tấn Dương nguy cơ chưa dứt, Trung Sơn lại khơi chiến hoả, Túc Hầu Triệu Ngữ sau khi từ Mạnh Tân trở về, sức khoẻ suy yếu, gần đây lại lâm bệnh liệt giường, nay nhận được chiến báo, còn chưa đọc hết, khí huyết đã hỗn loạn, thình lình hôn mê bất tỉnh. Cung Triệu đại loạn, hoạn giả lệnh Củng Trạch triệu gấp ngự y tới, thái tử Triệu Ung, An Dương Quân công tử Khắc và đình uý Phì Nghĩa hay tin cũng vội vã tới ngay.
“Phụ quân sao rồi?” Triệu Ung chụp lấy Củng Trạch, cuống quýt hỏi. Mấy năm không gặp, Triệu Ung đã cao lên rất nhiều, yết hầu đã nổi, giọng nói đã vỡ ồm ồm, trông ra dáng một thiếu niên vũ dũng, có điều tuổi tác vẫn nhỏ, còn lâu mới đến tuổi đội mũ.
Củng Trạch chỉ lắc đầu.
Triệu Ung mặt biến sắc, xông vào phòng trong, sụp xuống bên Túc Hầu, nắm chặt lấy tay Túc Hầu, cất giọng nghẹn ngào: “Phụ quân, phụ quân...”
Túc Hầu nằm đó im lìm, tuy vẫn hôn mê, song hơi thở đã đều đặn. Một lão ngự y đang châm cứu, lần lượt cắm kim vào các huyệt vị trên người Túc Hầu. Vài cung y khác đứng hầu bên cạnh.
Bên giường Túc Hầu, vẫn đặt bản cấp báo từ biên ải.
An Dương Quân bước lại, nói khẽ với ngự y: “Ngô thái y, chúa thượng thế nào rồi?”
“Hồi bẩm An Dương Quân,” Ngự y hạ thấp giọng nói, “xem mạch tướng, là cấp hoả công tâm.”
“Cấp tốc cứu chữa!” An Dương Quân bình tĩnh dặn dò, rồi quỳ xuống trước giường Túc Hầu, kéo tay Túc Hầu lại, bắt mạch một lát, ánh mắt dừng lại trên bản cấp báo, đoạn cầm lên, đọc kỹ một lượt, chầm chậm đứng dậy, vỗ vào vai Triệu Ung, hất hàm ra phía ngoài.
Triệu Ung hiểu ý, theo An Dương Quân ra ngoài.
Phì Nghĩa cũng theo ra.
“Điện hạ!” Ba người bước tới thiên điện, An Dương Quân nhìn Triệu Ung nói. “Hạ quan quan sát chúa thượng, tạm thời không phải lo lắng, đại sự trước mắt, chính là thứ này.” Trình cấp báo lên. “Điện hạ hãy xem!”
Triệu Ung đọc xong, mặt mày biến sắc, tiện tay đưa cho Phì Nghĩa.
“Trung Sơn đột ngột khởi binh, quả là kỳ quặc, bất luận thế nào, Hạo Ấp cũng không được mất, mong điện hạ mau chóng đưa ra quyết định!” An Dương Quân xưa nay thận trọng chín chắn, dù là chuyện nguy ngập đến đâu, giọng nói vẫn hết sức điềm tĩnh.
“Đình uý!” Triệu Ung nhìn Phì Nghĩa. “Nếu không có quân chi viện, Hạo Ấp có thể trụ được bao lâu?”
“Hồi bẩm điện hạ!” Phì Nghĩa cũng đã đọc xong, đặt cấp báo xuống. “Hạo Ấp nằm ở phía bắc Hoè Thuỷ, để đề phòng Trung Sơn tập kích, thần đã cho xây dựng đặc biệt kiên cố, thành cao hai trượng tư, cổng thành bọc đồng, hào rộng năm trượng, kết hợp với tám nghìn thủ quân, vũ khí phòng ngự không thiếu thứ gì, trong thành còn có ba vạn sáu nghìn thần dân, tích trữ lương thảo đủ dùng một năm, trong thành có hai sông giao hội, còn có ba mươi lăm giếng nước. Dựa vào sức mạnh hiện tại của người Trung Sơn, dù không có quân chi viện, chỉ cần quân dân trong thành đồng tâm hiệp lực, trong thời gian ngắn sẽ không lo thất thủ!
Triệu Ung thở hắt ra một hơi, nhìn sang An Dương Quân: “Thúc công?”
“Điện hạ!” An Dương Quân dằn mạnh từng tiếng. “Vì tương lai của Triệu, Hạo Ấp không thể mất!”
“Phì Nghĩa!” Triệu Ung quay sang Phì Nghĩa. “Thúc công nói rất đúng, quân tình nguy cấp, đình uý hãy đích thân tới Tín Đô, dẫn theo ba vạn thủ quân, chi viện cho Hạo Ấp, nhằm ổn định lòng quân Hạo Ấp. Những việc khác, đợi phụ quân tỉnh lại, sẽ bàn sau!”
Triệu Ung vào trong nội điện, lấy ra hổ phù điều binh, dùng danh nghĩa điện hạ thảo ra chỉ lệnh, giao cho Củng Trạch đóng ngọc tỷ của Túc Hầu, rồi đưa cho Phì Nghĩa.
Phì Nghĩa vừa đi khỏi, cung nhân bước ra, bẩm báo Túc Hầu đã tỉnh, cho triệu kiến hai người.
An Dương Quân, Triệu Ung vội vã vào trong, quả nhiên thấy kim bạc trên người Túc Hầu đã rút ra gần hết, khí sắc Túc Hầu đã ổn định, đang để lão cung y xoa bóp lòng bàn chân.
“Hiền đệ, Ung Nhi, ngồi đi!” Túc Hầu mỉm cười với hai người, chỉ vào mép giường.
Hai người chưa vội ngồi ngay, vòng tay vấn an.
“Quả nhân không sao, Hạo Ấp...”
“Bẩm phụ quân!” Triệu Ung đáp lời. “Ung Nhi vừa rồi đã bàn bạc với thúc công và đình uý, Ung Nhi làm theo ý thúc công, lệnh cho Phì Nghĩa tướng quân điều ba vạn thủ quân Tín Đô, gấp rút lên đường chi viện, Hạo Ấp thành cao hào sâu, lại có Phì Nghĩa tướng quân tiếp ứng, tạm thời không phải lo lắng!”
Túc Hầu nhìn sang An Dương Quân: “Tấn Dương hẳn có tấu báo?”
“Thưa có!” An Dương Quân hạ giọng bẩm báo. “Người Tần vẫn ở lì tại vùng đầm Đại Chiêu, núi Hồ Kỳ, hiện tại chưa có hành động gì bất thường, thần đã gửi thư cho Triệu Báo, căn dặn phải cảnh giới nghiêm ngặt. Cho dù phải động binh, quân Tần hành quân đường xa mệt mỏi, không đáng lo ngại, có Triệu Báo ở đó, quân huynh hãy cứ yên tâm.”
Túc Hầu khẽ gật đầu, nhắm mắt lại, một lát sau, từ từ mở mắt ra: “Tô tướng quốc... vẫn ở nước Yên?”
“Vâng!”
“Gửi thư cho Tô Tử, mời Tô Tử gấp rút quay về, nói rằng quả nhân... đang chờ!”
Tại kinh đô Kế Thành nước Yên, Yên Dịch Vương sau khi lên ngôi, suy tính đến nhiều bề, tạm chưa lập tướng quốc, cho nên Tô Tần vẫn ở trong toà phủ trạch do Yên Văn Công ban thưởng trước đây, trên cổng trạch phủ treo tấm hoành phi đề ba chữ “Phủ tướng quốc”.
Kể từ sau khi sáu nước phạt Tần thất bại, thoắt cái đã hơn hai năm. Trong khoảng thời gian này, công chúa Doanh Tường nước Tần cứ như gà mái đẻ trứng, sinh liền cho Dịch Vương hai vị vương tử, là Tử Vi và Tử Hối. Do Yên, Tề tranh chấp đã lâu, sau khi Dịch Vương lập vương hậu, thế lực chống Tề trong nội bộ cung Yên gần như đã chiếm thế thượng phong, Dịch Vương cũng vì tiền phu nhân Điền thị mà ghét lây Tử Khoái, một lòng muốn lập Tử Vi làm thái tử.
Sau khi Tô Tần từ Hàm Đan tới Kế Thành, phần là Tề Uy Vương không nỡ từ bỏ mười thành Hà Gián, phần là Yên Dịch Vương không muốn lập Tử Khoái, hai bên đều tìm cớ thoái thác, dây dưa mãi mà chưa quyết định, Tô Tần chẳng khác gì đèn cù, hết từ Kế Thành tới Lâm Truy rồi lại từ Lâm Truy về Kế Thành, trong vòng hai năm đi đi lại lại giữa Yên, Tề đến năm lần, cuối cùng đến gần đây cũng giải quyết được ổn thoả: Yên Dịch Vương chính thức cử hành nghi lễ long trọng tại thái miếu nước Yên, sắc lập Tử Khoái làm thái tử; Tề Uy Vương cũng ngậm ngùi chiếu lệnh cho Điền Kỵ, chuyển giao vùng Hà Gián mà người Tề đã “trị lý” nhiều năm qua cho tướng quân Tử Chi nước Yên.
Trong lúc Tô Tần tất bật bôn ba vì mười thành Yên, Tề, thì người em trai thứ ba Tô Đại dắt díu vợ con, đánh cả một đoàn bảy tám cỗ xe rong ruổi vài nghìn dặm từ Lạc Dương tìm tới tận Kế Thành. Cả nhà lớn bé đến sáu bảy người, cộng thêm hơn chục nô bộc nam nữ, khiến phủ tướng quốc vốn đang trống trải chốc lát đã chật ních.
Từ sau khi Tô Tần ra đi, Tô Đại chẳng còn tâm trí đâu mà lo việc đồng áng, quyết tâm theo anh hai rèn luyện công phu miệng lưỡi, do vậy vừa tới phủ trạch của Tô Tần, lập tức lẵng nhẵng bám riết lấy Tô Tần bất kể ngày đêm. Vốn là huynh trưởng, lại cũng vì đã hứa trước kia, nên Tô Tần cũng chỉ đành nhẫn nhịn, nhân lúc rảnh rỗi lại lôi cuốn “Âm phù bản kinh” do Quỷ Cốc Tử tặng trước lúc chia tay ra, giảng giải cặn kẽ cho Tô Đại về thuật bài hạp. Tô Đại từ nhỏ chỉ quen cấy cày, ít đọc sách vở, căn cơ quá ư kém cỏi, đối mặt với cuốn “sách trời” chữ nghĩa dày đặc như giun bò trùng múa, quả thực chẳng khác nào nhìn vào bức vách. Tuy nhiên, Tô Đại cũng không phải là phường bỏ đi, không những không chịu bỏ cuộc, mà còn áp dụng “công phu” mà Tô Tần từng dùng năm xưa, hễ Tô Tần không ở nhà, hắn cũng đóng chặt cửa, vùi đầu đọc sách thâu đêm, lúc mệt mỏi, cũng bắt chước Tô Tần sử ra chiêu mạnh lấy dùi đâm đùi, thi thoảng lộ mặt, lần nào cũng xoã tóc rối tung, cử chỉ kỳ quặc, cứ như bị ma ám, lúc thì hoa tay múa chân, lúc thì lảm nhảm một mình, bày ra đủ chuyện hoang đường, đủ trò quái đản, những sự việc đó qua miệng đám người hầu bị nhanh chóng lan truyền khắp mọi hang cùng ngõ hẻm Kế Thành. Đủ thứ hành vi quái đản đó, cộng với những truyền kỳ về Tô Tần khi mới xuất sơn đã được đám tiểu thuyết gia đồn thổi khắp liệt quốc, mau chóng lan khắp Kế Thành, Tô Đại cũng chóng vánh trở thành một nhân vật được khắp trong triều ngoài nội nước Yên lưu tâm đến.
Trước vô số những hành vi quái đản của Tô Đại, Tô Tần thoạt tiên cho là tẩu hoả nhập ma, cho tới lần thứ năm trở về Yên, mới nhận ra là Tô Đại cố tình làm ra như vậy. Một mảy da lông vẫn chưa hiểu được, đã làm bộ làm tịch đủ điều, cái tâm cơ đó, thực khiến Tô Tần lo lắng vô cùng. Tô Tần nhiều lần khuyên can, song Tô Đại chỉ vâng vâng dạ dạ ngoài miệng, mà trong lòng không phục. Tô Tần không biết làm sao, đành phải giảng giải thêm lần nữa về cái đạo bài hạp, thế nhưng Tô Đại rõ ràng vô duyên với đạo, Tô Tần vừa mở miệng, Tô Đại đã hai mắt đờ đẫn, Tô Tần chỉ còn biết thở dài, lắc đầu ngao ngán.
Mười thành Hà Gián đã đòi được về, Tử Khoái cũng đã được lập làm thái tử, Tô Tần thấy không cần thiết phải ở lại Kế Thành nữa, bèn sai Viên Báo thu dọn hành trang, vào cung từ biệt Dịch Vương, cho cả nhà Tô Đại lưu lại tướng phủ, còn mình dẫn theo hơn hai mươi cỗ xe lớn nhỏ, rồng rắn tiến tới Hàm Đan. Từ các nguồn tin thám báo đưa về trong những ngày gần đây, có thể đoán rằng, Hàm Đan hiển nhiên đã rơi vào tâm xoáy thiên hạ, Tô Tần không thể trì hoãn thêm một khắc.
Giữa Yên, Triệu chỉ có một con đường cái quan, tức là từ Kế Thành xuống phía nam, vượt qua Lai Thuỷ, tức Bắc Dịch Thuỷ, đi qua Vũ Dương, lại băng qua Nam Dịch Thuỷ, mượn đường Trung Sơn vào Triệu.
Vũ Dương là Hạ Đô nước Yên, nơi đặt lăng tẩm của tiên Yên Công, cũng là nơi thái hậu Cơ Tuyết đang ở goá. Để tránh nghi ngờ, Tô Tần cố ý đi chậm lại, hành trình đáng lẽ hai ngày, lại đi thành ba ngày, cho tới chập tối ngày thứ ba, Tô Tần mới lệnh cho Viên Báo đẩy nhanh tốc độ, phải tới nơi trước khi đóng cổng thành, đến trạm dịch Vũ Dương nghỉ đêm.
Thủ thành Vũ Dương vẫn là dũng tướng Chử Mẫn. Buổi tối hôm ấy, Chử Mẫn mở tiệc thiết đãi, Tô Tần uống đến hơi chếnh choáng, lấy cớ tức ngực, muốn về dịch quán nghỉ ngơi. Đến đầu canh ba, Tô Tần thay y phục đi đêm, bám theo Trâu Phi Đao, rời khỏi cửa phụ của dịch quán, quanh co lắt léo một hồi, rồi men theo phố nhỏ ngõ hẹp tới một tư dinh.
Xung quanh tư dinh, cổ thụ cao vút, rất đỗi thanh u. Cổng gỗ đã được mở sẵn, hai người bước vào trong, tới trước cánh cửa sơn đen. Cánh cửa mở ra, Tô Tần bước vào trong nhà, cửa sơn lập tức đóng lại. Trong phòng chính không có ánh sáng. Tô Tần theo Trâu Phi Đao lần dò đi vào phòng trong, ở đó đã có người mặc áo đen chờ sẵn, thấy Tô Tần tới, bèn dẫn đến trước một cánh cửa hầm. Tô Tần bước vào trong cửa, còn Trâu Phi Đao ở bên ngoài canh gác.
Tới tận lúc này, Tô Tần mới nhìn thấy ánh sáng, có người đang cầm nến cung kính đứng chờ sẵn.
Người cầm nến không phải ai khác, chính là Xuân Mai. Tô Tần theo Xuân Mai đi theo đường hầm khoảng hơn mười trượng tới trước một cánh cửa đá, cửa đá đã mở sẵn, hai người bước vào, cửa đá liền khép lại. Trước mắt hiện ra một gian phòng đá tao nhã, rộng khoảng hai trượng vuông, trong phòng đèn nến sáng trưng, sát tường kê một chiếc giường êm ấm. Cơ Tuyết đứng chờ trước giường sớm đã thắc thỏm ngóng trông, vừa nhìn thấy Tô Tần, liền hấp tấp bước lại đón, giọng nói run rẩy, gọi khẽ một tiếng: “Tô Tử!” Rồi toàn thân mềm nhũn ngã vào lòng Tô Tần.
Thì ra, tư dinh này liền kề với ly cung, vốn là nơi ở của người trông coi lăng tiên quân. Sau khi người coi lăng qua đời, con trai ông ta không muốn tiếp tục công việc canh lăng mà tới Kế Thành mưu cầu quan tước. Nơi này đã bị hắn bán đi, qua tay nhiều người, cuối cùng đến tay Mộc Hoa. Khuất Tương Tử sai người giỏi nghề xây dựng trong Mặc gia đào thành gian phòng ngầm dưới lòng đất ở ngay bên ngoài tường bao của ly cung, từ phòng ngầm có đường hầm thông tới hai đầu, một đầu là nơi ở của người canh lăng, một đầu là tẩm cung của Cơ Tuyết, lối vào mỗi đầu đều bố trí cơ quan, một đầu do Mặc giả trông coi, một đầu do Cơ Tuyết trông coi. Bên trên phòng ngầm là lớp đất dày chừng năm thước, trên mặt đất chi chít cây gai, tre trúc rộng đến vài mẫu, chim thú thích vào, người thì ít tới.
Trong lúc xây gian phòng này, Cơ Tuyết cũng sàng lọc kỹ lưỡng đám tỳ nữ bên mình, toàn bộ số tỳ nữ nghi ngờ là gian tế do Kỷ Cửu Nhi phái đến đều được sắp xếp ở trung viện và tiền viện, tẩm cung hậu viện chỉ giữ lại vài tỳ nữ trung thành tuyệt đối như Xuân Mai. Nhìn thấy hậu viện tường cao hào sâu, có lắp thêm cánh cũng khó lọt vào, đám gian tế của Kỷ Cửu Nhi cũng thấy yên tâm, chỉ còn chăm chú trông chừng phía cửa cung, gian mật thất dưới đất đã trở thành chốn ước hẹn bí mật an toàn tuyệt đối. Trong hai năm gần đây, mỗi lần qua Vũ Dương tới Tề, Tô Tần đều gặp gỡ Cơ Tuyết tại nơi này, không còn phải nơm nớp nữa.
Đám Xuân Mai hiểu ý, lui hết ra ngoài, trong phòng chỉ còn lại Tô Tần và Cơ Tuyết. Hai người không còn phải giữ ý nữa, bèn dắt tay nhau bước lại bên giường, cùng tháo đai cởi áo, ôm nhau trong chăn gấm.
Đôi tình nhân mấy tháng trời không gặp, khác nào hạn hán gặp mưa lành, đương nhiên quấn quýt triền miên, nồng nàn ân ái. Sau khi mây mưa đã tạnh, Cơ Tuyết thôi cơn hổn hển, bèn khẽ thì thầm: “Tô Tử, Tuyết Nhi có một nguyện vọng!”
“Tuyết Nhi có nguyện vọng gì, xin cứ nói!”
“Tô Tử phải đồng ý với Tuyết Nhi trước đã!”
“Tô Tần xin thề với trời đất, bất luận Tuyết Nhi có nguyện vọng gì, Tô Tần cũng sẽ tận tâm tận lực, để khiến Tuyết Nhi thoả nguyện!”
“Tô Tử!” Cơ Tuyết cười nói. “Chàng hà tất phải thề thốt như vậy, chỉ cần đồng ý là được rồi.”
“Ta đồng ý.”
“Nguyện vọng của Tuyết Nhi là...” Cơ Tuyết trở mình ngồi dậy, nhìn thẳng vào Tô Tần, ánh mắt tình tứ thiết tha, “sinh cho Tô Tử một đứa con.”
“Gì kia?” Tô Tần kinh hãi buột miệng kêu lên thành tiếng, toàn thân giật nảy, ngồi phắt ngay dậy.
“Tô Tử?” Cơ Tuyết sững sờ.
Tô Tần ngây người một lát, mới từ từ nằm xuống, nhắm mắt lại, lệ trào ra bên khoé mắt.
Cơ Tuyết quả thực một lòng một dạ vì Tô Tần.
“Tô Tử!” Cơ Tuyết cũng nằm xuống, gối đầu lên cánh tay Tô Tần, giọng nói khẩn khoản. “Không phải vì chàng, mà hãy coi như là vì Tuyết Nhi, được không? Tuyết Nhi muốn làm mẹ thực sự một lần!”
Tô Tần ôm siết nàng vào lòng, chặt đến nỗi nàng gần như nghẹt thở. Cơ Tuyết cảm thấy trên mặt mình ướt nóng, biết rằng đó là nước mắt của Tô Tần.
Rất lâu sau, Tô Tần buông nàng ra, ngồi dậy, lau khô nước mắt, nhìn nàng trân trân, rồi kiên quyết lắc đầu.
“Tô Tử?” Cơ Tuyết cũng ngồi dậy.
“Nàng là thái hậu!” Giọng Tô Tần nhỏ tới mức gần như không nghe thấy.
“Tuyết Nhi không sợ!” Lời Cơ Tuyết gấp gáp, ngữ khí kiên định. “Tuyết Nhi đã suy nghĩ kỹ rồi, khi nào Tuyết Nhi mang thai, sẽ đóng cửa ở trong phòng, loan tin ra ngoài rằng tiên quân về báo mộng, muốn thiếp bế quan một năm để giao tiếp với linh hồn của tiên quân. Đợi đến thời khắc tốt lành, Tuyết Nhi sẽ sinh nở ngay trong mật thất này, sau đó, sẽ giao đứa bé cho Mộc Hoa, nhờ tìm một gia đình họ Tô để gửi nuôi. Sau đó, Tuyết Nhi sẽ tìm cơ hội, nhận đứa trẻ về làm con nuôi, để nó đường đường chính chính gọi Tuyết Nhi là mẹ.”
Hiển nhiên, chuyện này nàng đã suy tính không biết bao nhiêu lần, đúng là kín kẽ chu toàn. Nghĩ tới nàng vì muốn có chốn gặp gỡ an toàn mà đã phải khổ sở thuyết phục Mộc Hoa mua lại căn nhà này, lại thỉnh cầu Khuất Tương Tử đích thân xây dựng tổ ấm uyên ương tại nơi đây, Tô Tần mới thực sự thấu hiểu thế nào là sự tinh tế và kiên gan của người phụ nữ sau khi rơi vào biển ái tình.
Chỉ có điều, Tuyết Nhi đã quá ngây thơ, hình như nàng không bao giờ biết được rằng xung quanh họ có bao nhiêu người đang rình ngó, có bao nhiêu cặp mắt đang săm soi, cũng không bao giờ biết được rằng những sức mạnh tà ác trong thế gian này hung hãn đến nhường nào, có bao nhiêu người lúc nào cũng chỉ nhăm nhăm nghiền nát Tô Tần, và cả nàng nữa, thành cám vụn.
Thế nhưng, Tuyết Nhi là một người đàn bà, một người đàn bà mà trong mơ cũng khao khát được làm mẹ. Nàng cũng đã ba mươi tuổi rồi, nếu được gả cho thường dân, thì có lẽ cũng đã con cái đề huề. Giống như nhà Tô Đại, trước sau chưa đầy mười năm, đã lốc nhốc năm con cả trai lẫn gái.
“Tuyết Nhi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Đây là chuyện hệ trọng, chẳng phải thế ư? Đối với ta và nàng, đây là một chuyện còn lớn hơn trời, chẳng phải thế ư?”
“Phải, đúng là còn lớn hơn trời!” Cơ Tuyết gật đầu.
“Nếu đã lớn hơn trời, thì chúng ta nên từ từ bàn tính, chẳng phải thế ư?” Tô Tần quyết định gác chuyện này lại, hơn nữa, hiện tại cũng không phải là lúc nói tới chuyện này.
“Tô Tử, chàng có tin vào trời không?”
“Tin!”
“Nếu tin, chàng chớ bận tâm đến nữa, tất cả hãy theo ý trời!” Cơ Tuyết khe khẽ vuốt ve làn da bụng trắng muốt, mịn màng, khuôn mặt rạng rỡ nụ cười, ánh mắt tràn đầy khao khát.
“Tuyết Nhi, ý nàng là...” Tô Tần như đã phát giác ra điều gì, mặt mày biến sắc. Phải rồi, mỗi lần ân ái, Cơ Tuyết thường rất chừng mực, vào thời khắc then chốt nhất, đều sẽ có biện pháp phòng ngừa, tính toán kỹ lưỡng trước sau kỳ kinh nguyệt, tuyệt đối không để xảy ra sơ suất. Mà lần này, Cơ Tuyết lại nói như vậy, hẳn là đã tính toán ổn thoả mọi chuyện rồi.
“Tô Tử, hãy theo ý trời!” Cơ Tuyết nằm xuống, áp mặt lên vòm ngực rộng của Tô Tần, cất giọng dịu dàng rất mực.
Tô Tần thở dài sườn sượt, khép hai mắt lại.
Lời Cơ Tuyết thỏ thẻ tỉ tê, chuyện trò không dứt, cứ thế, trời sáng lúc nào không hay.
Gà gáy lần đầu, tiếng gõ cửa vang lên. Tô Tần từ biệt Cơ Tuyết, hẹn nàng tối nay gặp lại, rồi mở cửa đi ra, cùng Trâu Phi Đao quay trở về dịch quán trước khi trời sáng, nằm xuống giường ngủ thiếp đi. Đang say giấc nồng thì bị Viên Báo gọi dậy, vội vàng xuống giường bước ra phòng khách, đã thấy sứ giả nước Triệu là Thiện Tông chờ sẵn ở đó. Hoá ra, đám Thiện Tông cũng đã tới Vũ Dương vào đêm hôm qua, sáng sớm hôm nay ra khỏi cổng thành đánh xe tới Kế Thành, khi đi qua Bắc Dịch Thuỷ, nghe nói Tô Tần đang ở Vũ Dương nên vội vã quay trở lại.
Tô Tần quen biết Thiện Tông, biết hắn là tâm phúc của hoạn giả lệnh Củng Trạch, mà Củng Trạch lại là cái bóng của Túc Hầu, người này tới tìm Tô Tần, ắt có chuyện lớn. Quả nhiên, sau dăm ba câu khách sáo, Thiện Tông bèn lấy từ trong ống tay áo ra một phong thư do chính tay Triệu Ung viết, lại truyền khẩu dụ của Túc Hầu.
Nghe đến đoạn Túc Hầu nằm trên giường bệnh thều thào “quả nhân đang chờ”, Tô Tần nước mắt giàn giụa, nghẹn ngào thăm hỏi bệnh tình của Túc Hầu. Thiện Tông kể lại vắn tắt, rồi khẩn cầu Tô Tần mau chóng lên đường, nếu không, quân thần họ e là nguy mất.
Tô Tần không nói một lời, lập tức sai Viên Báo chuẩn bị hành trang, viết vội một bức thư, giao cho Trâu Phi Đao, bảo hắn chuyển tới Cơ Tuyết. Chưa đầy nửa canh giờ, Tô Tần chẳng kịp cả chào từ biệt quận thú Vũ Dương Chử Mẫn, lập tức cờ giương trống mở, gấp rút lên đường, dẫn đầu đoàn người ra khỏi cổng nam Vũ Dương, hướng về Nam Dịch Thuỷ, cuốn bụi mà đi.
Xe qua Nam Dịch Thuỷ, đã vào nước Trung Sơn.
Trung Sơn và Yên gần đây không có chiến sự, cửa quan vẫn mở bình thường, lại thêm xe Tô Tần giương lá cờ chữ “Tung”, đặc biệt còn có một chữ “Tô”, nên qua ải hết sức thuận lợi.
Tuy nhiên, bên trong lãnh thổ Trung Sơn, cảnh tượng lại hoàn toàn khác hẳn. Người hô ngựa hí, không khí sục sôi, xe ngựa rậm rịch, rồng rắn kéo về phía nam, chật kín cả con đường cái quan. Tô Tần đành phải đè nén cơn sốt ruột, lệnh cho đội xe của mình đi lẫn vào đoàn xe của Trung Sơn, từ từ di chuyển.
Đi suốt một ngày, chỉ được hơn hai mươi dặm. Tới chập tối, Tô Tần đang vô cùng sốt ruột thì Trâu Phi Đao bước lại gần, chỉ vào trong rừng cây bên cạnh nói: “Chúa công, trong rừng có người đang đợi chúa công!”
Tô Tần theo hắn vào rừng, nhìn thấy một lão Mặc giả đứng dưới gốc cây, Mộc Hoa, Mộc Thực mỗi người đứng một bên, không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là Khuất Tương Tử, bèn vòng tay vái chào: “Vãn bối Tô Tần khấu kiến tiền bối Khuất Tương Tử.”
“Khuất Tương Tử bái kiến Tô đại nhân!” Khuất Tương Tử cũng vòng tay đáp lễ, chỉ xuống đất nói. “Tô đại nhân mời ngồi!” Rồi khoanh chân ngồi xuống trước.
Tô Tần cũng ngồi xuống đối diện.
“Tiền bối tận tâm tận lực, che chở bảo vệ vãn bối mọi đường, vãn bối từ lâu đã muốn bái kiến tiền bối để lắng nghe lời chỉ giáo, nhưng không ngờ công việc bận rộn, ước nguyện khó toại. Nay gặp được tiền bối ở đây, thực khiến vãn bối vui mừng ngoài sức tưởng tượng!” Tô Tần liền gạt bỏ những chuyện không vui suốt mấy hôm nay sang một bên, sắc mặt hoan hỷ.
“Cảm tạ Tô đại nhân quá khen!” Khuất Tương Tử cười vang vài tiếng. “Tô đại nhân lòng hướng về thiên hạ, nhân ái vô bờ, chúng ta phụng mệnh cự tử tới trợ giúp Tô đại nhân, Tô đại nhân nếu muốn tiến nhanh, chúng ta nguyện dốc sức khuyển mã!”
“Đa tạ tiền bối yêu mến! Dám hỏi tiền bối, hẳn có liên quan tới công tộc họ Khuất nước Sở?”
“Khuất Tương mồ côi cha từ nhỏ, thuở nhỏ nghe mẹ kể lại, tiên tổ là Khuất Đãng, từng nhiệm chức mạc ngao dưới thời Khang Vương. Có điều, Khuất Tương từ nhỏ ngông cuồng phóng túng, sau vào Mặc môn, chẳng còn chút vương vấn gì đến tông môn thế hệ nữa, nên cũng quên rồi.”
“Khuất môn của tiền bối, đời đời có kỳ tài. Mấy năm trước, vãn bối gặp được một người, tài năng kiệt xuất.”
“Ồ? Là ai vậy?”
“Họ Khuất, tên Bình, tự là Nguyên, tuy còn ít tuổi, song có hùng tài đại lược, hào khí ngút trời. Khuất môn có được tuấn kiệt nhường này, thực là may mắn cho nước Sở.”
“Tiểu tử của Khuất môn được đại nhân khen ngợi, lão hủ cũng lấy làm an ủi.” Khuất Tương Tử vòng tay cảm tạ, rồi chuyển sang chuyện khác. “Đại nhân lần này xuống nam vào Triệu, là vì việc của Trung Sơn?”
“Vãn bối cũng đang muốn thỉnh giáo tiền bối về chuyện của Trung Sơn!”
Khuất Tương Tử nhiều năm qua chu du khắp ba nước Trung Sơn, Triệu và Yên, đương nhiên hiểu rõ Trung Sơn, thấy Tô Tần hỏi vậy, bèn kể lại lần lượt về hình thế của Trung Sơn và nguyên nhân xung đột với Triệu gần đây, cuối cùng nói: “Tô đại nhân, Trung Sơn do nhỏ yếu nên bị các nước lớn xung quanh dòm ngó, tình thế nguy nan, dưới tay lão hủ hiện có hơn ba trăm đệ tử Mặc gia, đa phần đang ở Trung Sơn giúp họ phòng thủ. Nay biên giới Triệu và Trung Sơn xảy ra xung đột, tương lai hẳn sẽ có chiến tranh, Mặc giả nên tới đâu theo ai, lão hủ muốn nghe lời sáng suốt của đại nhân.”
“Tạ ơn tiền bối yêu mến.” Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, rồi nhìn thẳng vào Khuất Tương Tử, nói. “Nghe tiền bối phân tích tường tận, lại suy đoán dựa vào tình hình liệt quốc, vãn bối đã biết được rằng, xung đột lần này giữa Trung Sơn và Triệu, rất đỗi bất thường, có thể dẫn tới đại chiến thiên hạ. Đệ tử Mặc gia của tiền bối có thể tạm thời rút lui khỏi Trung Sơn, nghe ngóng tình hình, sau đó trợ giúp bên nào sẽ do tiền bối quyết định!”
“Cung kính thụ mệnh!” Khuất Tương Tử vòng tay nói, rồi chỉ vào còn đường lớn trước mặt. “Con đường này ban ngày ngựa xe đông đúc, nhưng đêm xuống khá vắng vẻ. Nếu đại nhân có việc gấp, có thể ngày ngủ đêm đi, Khuất Tương Tử không làm lỡ hành trình của đại nhân nữa.”
Hai người từ biệt nhau. Tô Tần nghe theo lời khuyên của Khuất Tương Tử, ngày nghỉ đêm đi, quả nhiên nhanh chóng hơn nhiều, chưa tới ba ngày đã gần tới vùng biên giới Trung Sơn và Triệu, Hạo Ấp đã trong tầm mắt.
Nhưng đường lại không thể đi được nữa.
Khắp nơi người Trung Sơn chen vai thích cánh, liếc mắt nhìn qua, chỉ thấy doanh trại trùng trùng, đồng cỏ rộng lớn đã bị giày xéo thành bình địa. Bị vây khốn trong tầng tầng lớp lớp doanh trại của đại quân Trung Sơn, Hạo Ấp cách đó vài dặm rõ ràng đang bị cô lập.
Đoàn xe ngựa của Tô Tần đang tìm đường tiến lên, bỗng một cỗ xe ruổi lại, trên xe có một viên tướng vòng tay vái mà hỏi: “Trên xe phải chăng là tướng quốc sáu nước Tô Tần đại nhân?”
“Chính là Tô Tần!” Tô Tần trên xe lập tức đáp lễ.
“Mạt tướng Nhạc Cử, phụng mệnh của tướng quốc Trung Sơn Tư Mã Điêu, kính mời Tô đại nhân tới trướng trung quân phía trước nói chuyện.” Nhạc Cử lại vái mà nói.
Nhạc Cử là con trai của cựu tướng quốc Trung Sơn Nhạc Trì, Nhạc Trì lại là cháu trai của Nhạc Dương, chủ tướng chinh phạt Trung Sơn thời Ngụy Văn Hầu, thực đúng là dòng dõi tướng lĩnh danh môn, lần này dụng binh, được phong làm phó tướng Trung Sơn, địa vị chỉ xếp sau chủ tướng Tư Mã Điêu. Trong lúc binh hoang mã loạn, được Nhạc Cử đích thân tới mời, rõ ràng rất nể mặt Tô Tần. Tô Tần sớm đã nghe Thiện Tông kể về mâu thuẫn biên giới giữa Trung Sơn và Triệu, lần này tới Trung Sơn, vốn cũng muốn bái kiến Tư Mã Điêu, yết kiến Trung Sơn Vương, mong tìm cách hoá giải, song lại nghĩ tới Túc Hầu đang hấp hối, e là không còn dịp gặp mặt, nên mới gắng sức đi mau, nào ngờ lại bị chặn đường xin gặp, cũng coi là đã thoả lòng, lập tức vòng tay đáp lễ, nói: “Cung kính không bằng tuân lệnh, Nhạc tướng quân, mời!”
Nhạc Cử quay đầu xe, đi trước dẫn đường. Tô Tần lệnh cho đám thuộc hạ dừng lại hạ trại, còn mình cùng ba người Trâu Phi Đao, Mộc Hoa và Mộc Thực đánh xe đi theo. Chẳng mấy chốc, hai cỗ xe ngựa đã tiến vào trong trướng trung quân. Tư Mã Điêu toàn thân nhung phục và thượng đại phu Trung Sơn Trương Đăng đã đứng chờ sẵn bên ngoài trướng.
Hành lễ xong xuôi, Tư Mã Điêu dắt tay Tô Tần bước vào trong trướng, đám Trâu Phi Đao đứng hầu ngoài cửa.
Hai bên cùng ngồi, trò chuyện khách sáo một lát, Tô Tần trong lòng có chuyện, vào ngay việc chính, chỉ ra ngoài trướng nói: “Lần trước tại hạ quá cảnh vào Tề, khắp Trung Sơn trên dưới bình hoà êm ấm. Trước sau chưa đầy hai tháng, mà giờ đây lại kiếm tuốt cung giương, dám hỏi tướng quân, đã xảy ra chuyện gì?”
“Than ôi!” Tư Mã Điêu lắc đầu than thở. “Không phải Trung Sơn kiếm tuốt cung giương, mà là người Triệu ức hiếp Trung Sơn quá đáng.”
“Ồ?” Tô Tần vờ như không biết, nhổm người về trước mà hỏi. “Tại hạ kiến văn nông cạn, xin giải thích rõ hơn!”
“Không giấu Tô đại nhân, nếu nhắc đến nguyên nhân, quả thực là chuyện vặt vãnh không đáng nói, chẳng qua chỉ là vài con ngựa chiến mà thôi. Người Triệu nghi ngờ ngựa chiến bị lấy trộm, tới làng lân cận lục soát, chỉ ra vài con, khăng khăng đổ cho dân làng lấy trộm. Dân làng không chịu, hai bên tranh cãi, người Triệu cậy mạnh giết người, dân làng không phục, đánh lại người Triệu. Người Triệu điều động đại quân, thảm sát làng mạc, đến người già, đàn bà, trẻ nhỏ cũng không tha. Trung Sơn Vương nổi trận lôi đình, phái người sang nói lý, người Triệu chẳng buồn đếm xỉa. Đại vương bị ép tới hết cách, mới phải dụng binh, muốn dùng nhiệt huyết đòi lại công bằng, không ngờ lại làm kinh động tới Tô Tử!”
“Chuyện này tại hạ có nghe nói đến. Tại hạ cho rằng, Trung Sơn Vương hưng binh động chúng, lại không phải chỉ vì vài con ngựa chiến, mà là vì Hạo Ấp.” Tô Tần một lời nói thẳng.
“Tô Tử sáng suốt!” Thấy Tô Tần không chút vòng vo, Tư Mã Điêu thoáng sững sờ, rồi cũng thẳng thắn thừa nhận. “Ngựa đích xác không phải là nguyên nhân, mà cái nhọt mủ là Hạo Ấp, đã tới lúc phải nặn bỏ rồi!”
“Hạo Ấp đúng là một cái nhọt mủ, sớm muộn cũng phải nặn bỏ, tuy nhiên, Tư Mã huynh dựa vào đâu mà phán đoán cái nhọt này đã tới hồi không thể không nặn?” Tô Tần hai mắt như đuốc, nhìn xoáy vào ông ta hỏi.
Nước Trung Sơn nhỏ bé lại dám diễu võ giương oai trước Đại Triệu, chắc chắn phải có nguyên do, hoặc là vua tôi Trung Sơn đã đầu óc mụ mị, hoặc là có nguyên nhân khác. Tân quân Trung Sơn lên ngôi, quyền hành nằm trong tay Tư Mã Điêu, mà Tư Mã Điêu cũng không phải người lỗ mãng, Tô Tần hỏi như vậy, hiển nhiên là có ý khác.
“Chuyện này...” Tư Mã Điêu nhất thời cứng họng, có phần lúng túng, nhìn sang Trương Đăng.
“Tô đại nhân quả nhiên tinh tường!” Trương Đăng hơi vòng tay, tiếp lời. “Trung Sơn đánh Triệu, là lấy trứng chọi đá, có điều, ngọc báu thà vỡ còn hơn chịu bẻ cong, tuấn mã thà chết còn hơn phải quỳ hí. Người Triệu ỷ mạnh hiếp yếu, cậy lớn khinh nhỏ, xâm chiếm vùng biên giới Trung Sơn, làm nhục thần dân Trung Sơn, Trung Sơn tuy nhỏ bé, song không chịu quỳ gối sống nhục.”
“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Thượng đại phu trả lời không đúng câu hỏi rồi. Là u nhọt cần nặn, tại hạ muốn hỏi lúc nào nên nặn.”
“Theo Tô đại nhân, lúc nào nặn mới là hợp lý?” Tư Mã Điêu đã trấn tĩnh trở lại.
“Đợi tới lúc chín muồi. Dưa chín cuống tự rụng, nhọt chín mủ tự chảy.”
“Hiện tại, lẽ nào nhọt còn chưa chín?”
Tô Tần nặng nề lắc đầu.
“Tại hạ ngu muội, xin Tô Tử giải thích rõ hơn.”
“Đúng như Trương huynh nói, nhỏ không khinh lớn, yếu không hiếp mạnh, trứng không chọi đá. Mà Trung Sơn dám lấy nhỏ khinh lớn, lấy yếu hiếp mạnh, lấy trứng chọi đá, xin dung thứ cho tại hạ mạo muội suy đoán, nguyên nhân không gì khác là có được trợ giúp từ bên ngoài.”
Tư Mã Điêu giật mình kinh hãi, nhìn sang Trương Đăng.
Trương Đăng cũng nhìn lại, một lát sau, bỗng bật lên một tiếng cười: “Tô Tử đã nói vậy, vì sao không chỉ rõ để hai người chúng ta nghe cho thống khoái?”
“Kết minh với Tần, Ngụy, mượn sức Tần, Ngụy để nặn bỏ cái nhọt này!” Tô Tần nói rành rọt từng chữ.
Thấy Tô Tần đã thấu tỏ mưu này, hai người không hẹn mà cùng đưa mắt nhìn nhau, đều hít ngược một hơi khí lạnh.
“Sáu nước hợp tung, Tần tất dùng liên hoành để phá.” Tô Tần vạch trần tới cùng. “Nước đầu tiên mà Tần phải liên hoành chính là nước Ngụy. Tần, Ngụy cùng mưu chiếm, ắt là nước Triệu. Nếu Tần, Ngụy mưu Triệu, ắt kết minh với Trung Sơn. Xin hỏi hai vị đại nhân, phải chăng tại hạ đã đoán bừa?”
Tô Tần suy luận chặt chẽ, lời lẽ mạch lạc, như thể tận mắt thấy mưu này, khiến Tư Mã Điêu và Trương Đăng kinh ngạc tới há hốc miệng.
“Dám hỏi Tô Tử,” Tư Mã Điêu đã kịp hoàn hồn, hạ thấp giọng nói, “cớ sao lại đoán rằng cuống này chưa rụng, nhọt này chưa chín?”
“Là nghĩa và lý.” Tô Tần chậm rãi giải thích. “Các nước hợp tung, tuy có rạn nứt song chưa đến mức thất nghĩa. Ngụy Vương ỷ thế hợp tung, dẫn đầu phạt Tần, thất bại mà oán Triệu, thực là bất minh. Nay lại nghe theo người Tần, muốn bỏ tung chọn hoành, thực là bất trí. Trung Sơn là nước nhỏ, chỉ vì một xó Hạo Ấp mà hợp mưu với Ngụy bất minh bất trí, liên minh với Tần lòng dạ sài lang, trở thành kẻ thù của nước khởi xướng hợp tung, là tự mình đối địch với các nước hợp tung, dù có lý thì việc cũng khó thành, bởi đó tại hạ mới đoán rằng, nhọt này chưa chín!”
“Đa tạ Tô Tử chỉ giáo!” Tư Mã Điêu vòng tay nói. “Trung Sơn ở nơi hẻo lánh, tại hạ kiến văn nông cạn, mạo muội thỉnh cầu Tô Tử nán lại tiểu bang vài ngày, tại hạ sẽ đích thân dẫn Tô Tử tới yết kiến đại vương, thâu đêm bàn chuyện, ý Tô Tử thế nào?”
“Đa tạ ý tốt của tướng quân!” Tô Tần đáp lễ nói. “Tại hạ e là khó được thoả nguyện. Triệu Hầu long thể bất an, lệnh cho tại hạ về gấp, tại hạ không thể chối từ. Đợi tại hạ trở về Hàm Đan vấn an Triệu Hầu xong, sẽ tới bái kiến đại vương, được chăng?”
“Tô Tử đã có việc gấp, tại hạ không dám miễn cưỡng!”
Tư Mã Điêu tiễn Tô Tần ra ngoài trướng, sai Trương Đăng, Nhạc Cử mang lễ vật đến tặng, dõi mắt nhìn theo đoàn xe lăn bánh xa dần, rồi bần thần quay vào trong trướng, đã thấy trên chiếu khách của Tô Tần vừa nãy, Trương Nghi đang ngồi chễm chệ.
Trương Nghi trông rất buồn bã, hai mắt khép hờ, dường như đang suy nghĩ điều gì.
Tư Mã Điêu liếc nhìn Trương Nghi, rồi ngồi xuống chiếu chủ.
Im lặng.
Không biết đã qua bao lâu, Tư Mã Điêu ngẩng đầu hỏi khẽ: “Lời Tô Tử nói, hẳn Trương Tử đã nghe thấy cả rồi?”
Đúng vậy, Trương Nghi đã nghe thấy. Hắn đã nghe không sót một từ. Khi Tô Tần đang sang sảng biện luận, Trương Nghi ngồi ngay sau trướng, chỉ cách Tô Tần một tấm rèm vải. Thậm chí hắn còn nghe thấy cả tiếng thở của Tô Tần.
Mới ngày nào từ biệt ở Hàm Đan, thấm thoắt đã bảy năm trường chưa gặp mặt. Bảy năm, còn dài hơn khoảng thời gian học chung trong Quỷ Cốc.
Kỳ thực, Tô Tần tới trướng, chính là do Trương Nghi dặn người mời đến. Trương Nghi mời Tô Tần đến đây, không phải để nghe Tô Tần cao đàm khoát luận, không phải để nghe Tô Tần giảng giải đại thế tung hoành, mà chỉ vì muốn trông thấy Tô Tần, được nghe giọng nói của Tô Tần. Trên đời này, tiên sinh không thể với, Thiền Nhi không thể phạm, tiểu đồng không thể đùa, Tôn Tẫn, Bàng Quyên không thể hiểu, người thực sự hiểu hắn và thực lòng quan tâm đến hắn, ngoài Hương Nữ ra, chỉ có Tô huynh.
Vậy mà, Tô huynh ơi là Tô huynh, vì sao huynh cứ mãi khăng khăng sống mái với nước cờ hợp tung? Khi hai chúng ta xuống núi, tiên sinh đã nói gì? Đại thế thiên hạ, duy có nhất thống, với tài học của huynh, há lại không hiểu? Lòng người sớm đã đổi thay, liệt quốc thuận hoà chỉ còn là ý nguyện đơn độc của mình huynh mà thôi. Huynh lại một mực hợp tung, là đi ngược đại thế, làm trái đạo lý, có khác gì bọ ngựa chống xe? Bọ ngựa chống xe, làm việc không thể, Tô huynh ơi là Tô huynh, tội tình gì mà phải làm thế?
“Tô Tử cho rằng, u nhọt chưa chín, mủ này chưa tới lúc nặn!” Thấy Trương Nghi mãi không nói năng gì, Tư Mã Điêu ngồi ngay ngắn lại, đặng hắng khẽ một tiếng, bắt đầu thuật lại trọng điểm.
“Tô huynh... đã gầy đi...” Trương Nghi lẩm bẩm vài tiếng chẳng ăn nhập gì, giọng nhỏ đến mức gần như không nghe thấy.
“Trương Tử!” Tư Mã Điêu rõ ràng không quan tâm tới chuyện béo gầy của Tô Tần. “Tại hạ cho rằng, lời Tô Tần nói, không hề vô lý, so với nước lớn, Trung Sơn quả thực chỉ là một tiểu bang bé nhỏ, không thể chen chân. Ngộ nhỡ...”
“Ngộ nhỡ làm sao?” Trương Nghi nhìn sang.
“Ngộ nhỡ chúng ta không lấy được Hạo Ấp, lại đắc tội với nước Triệu, hậu hoạ ắt khôn lường, đến đường rút lui cũng đứt.”
“Không lấy được Hạo Ấp?” Trương Nghi nhịp ngón tay lên mặt bàn đều đều. “Chỉ vỏn vẹn hơn vạn quân trấn thủ, mà sáu vạn đại quân hổ báo lại không lấy được Hạo Ấp, chuyện này mà lan truyền trong liệt quốc, chỉ e là rất khó nghe!”
“Trương Tử có điều không biết,” Tư Mã Điêu chỉ về phía Hạo Ấp, “tuy quân Triệu chỉ có hơn vạn, song gia đinh trai tráng trong thành lại tới hơn hai vạn, tên nào tên nấy tinh thông bách nghiệp, giỏi nghề đánh đấm. Tạm chưa tính đến chuyện này, Hạo Ấp thành cao hào sâu, dễ giữ khó đánh, người Triệu đề phòng bất trắc, đã tích trữ lương thảo, rèn luyện binh khí đủ dùng cho ba năm. Còn như cổng thành, tường thành, kiên cố còn hơn cả thành Hàm Đan, trong các thành nước Triệu, chỉ sau mỗi Tấn Dương, hơn nữa mấy vạn quân Triệu đều đang đóng ở bờ kia Hoè Thuỷ, bất cứ lúc nào cũng có thể vượt Hoè Thuỷ sang chi viện!”
Trương Nghi chỉ cười khẽ vài tiếng: “Nếu như có được Hạo Ấp dễ như trở bàn tay, Tư Mã tướng quân còn nhắc tới hai chữ ngộ nhỡ nữa chăng?”
“Dễ như trở bàn tay?” Tư Mã Điêu trợn tròn mắt.
“Mời tướng quân theo tại hạ một chuyến!”
Trương Nghi đứng dậy, đi ra khỏi trướng, Tư Mã Điêu bám sát theo sau.
Hai người lên xe chiến, chạy tới một vùng đất cao, từ trên nhìn xuống, Hạo Ấp cách đó không xa thu cả vào trong tầm mắt. Hoè Thuỷ rộng lớn giống như một dải đai lưng uốn lượn cách phía nam Hạo Ấp vài dặm, chầm chậm chảy về đông, vài nhánh sông chảy xuyên qua thành, hội tụ với Hoè Thuỷ tại nơi cách thành hơn chục dặm về phía đông.
“Nhìn rõ hình thế chưa?” Trương Nghi thu lại ánh nhìn, nheo nheo mắt, quay sang Tư Mã Điêu.
“Hình thế gì?” Tư Mã Điêu ngơ ngác như lạc trong sương mù.
“Hai con sông nhỏ chảy xuyên qua thành, và cả con sông Hoè Thuỷ kia!” Trương Nghi chỉ vào mấy dải sông trắng bạc phía xa xa.
“Ơ...” Tư Mã Điêu trầm ngâm suy nghĩ.
“Tướng quân vừa nãy nhắc tới sự kiên cố của Tấn Dương, liệu có còn nhớ tới cái lần Tấn Dương nguy khốn?”
“Tấn Dương nguy khốn?”
“Lẽ nào tướng quân không nhớ chút nào chuyện năm xưa Trí Bá liên kết với hai nhà Ngụy, Hàn tấn công Triệu, vây khốn Tấn Dương?”
Tư Mã Điêu đột nhiên bừng tỉnh, nói: “Ý Trương Tử là, chúng ta cũng có thể bắt chước Trí Bá, dùng Hoè Thuỷ nhấn chìm Hạo Ấp?”
“Khi ở Quỷ Cốc, tại hạ từng nghe Tôn huynh nói, không đánh mà thắng được người, mới là giỏi nhất trong những người tài giỏi.” Trương Nghi chỉ về chỗ ba con sông hội tụ phía xa. “Tướng quân chỉ cần đắp một con đập tại vùng đất trũng đằng kia, lại dẫn Hoè Thuỷ từ thượng lưu chảy vào, thành ấp hiện tại ắt sẽ trở thành biển nước!”
Tư Mã Điêu hít sâu một hơi, hai mắt sáng bừng.
Túc Hầu gắng gượng cầm cự một hơi thở cuối cùng, chờ Tô Tần đến.
“Tô Tử!” Túc Hầu đã đuổi hết tả hữu, bao gồm cả Củng Trạch ra ngoài, nắm chặt tay Tô Tần, cặp mắt già nua ánh lên vẻ hoang mang. “Khanh hãy thành thực trả lời quả nhân, liệt quốc hợp tung, còn có thể tiếp tục hay chăng?”
Một câu hỏi quá ư trầm trọng.
Tô Tần đã cảm nhận được, niềm tin của Túc Hầu, cũng giống như sức khoẻ của ông ta, đang tiêu biến dần, hoặc có lẽ đã gần như biến mất.
“Chúa thượng!” Tô Tần trong lòng nặng trĩu, song ngữ khí vẫn dứt khoát kiên định, không chút hồ nghi. “Có thể tiếp tục, cũng nhất thiết phải tiếp tục!”
“Sẽ... sẽ không sai lầm chứ?” Túc Hầu lại hỏi một câu.
“Chúa thượng!” Lòng dạ Tô Tần càng thêm như đá đeo, song ngoài mặt vẫn rất đỗi ung dung, còn khẽ mỉm cười. “Lẽ nào chúa thượng không tin Tô Tần? Lẽ nào chúa thượng không tin vào bản thân mình?”
Túc Hầu khép mắt lại, hồi lâu sau, mới từ từ mở mắt, nắm lấy tay Tô Tần, từ từ siết chặt, giọng nói cũng không còn đứt quãng nữa: “Tô Tử, quả nhân tin khanh, quả nhân sao có thể không tin khanh? Hợp tung là lý trời, lý trời sẽ không thể sai lầm.” Ánh mắt từ từ di chuyển khỏi khuôn mặt Tô Tần, dừng lại trên trần nhà, rồi chầm chậm khép lại. “Không giấu Tô Tử, mấy ngày nay, quả nhân nằm im trên giường, vừa chờ đợi Tô Tử, vừa nghĩ ngợi miên man, hết nhớ tiên tổ lại nhớ Giản Tử, hết nhớ Giản Tử lại nhớ Tương Tử, cứ thế nhớ hết người này đến người kia, rồi lại nhớ tới tiên quân, liệt tổ liệt tông Triệu thất, ai ai cũng từng lập nên công lao hiển hách cho Triệu thất, tạo dựng kỳ công cái thế cho đời sau, còn quả nhân thì sao? Quả nhân đời này đã làm được những gì? Quả nhân sắp phải ra đi, sắp được gặp mặt liệt tổ liệt tông, nếu họ lần lượt đến hỏi, xem quả nhân đời này đã làm được những gì cho Triệu thất, thì quả nhân biết ăn nói thế nào đây? Giúp Triệu thất mở rộng biên cương chăng? Khiến ba quân bách chiến bách thắng chăng? Giúp lê dân an cư lạc nghiệp chăng? Khiến cao sĩ bốn phương đua nhau tìm tới chăng? Quả nhân càng nghĩ càng thấy hổ thẹn. Mãi về sau, nghĩ đến Tô Tử, nghĩ tới sáu nước hợp tung, quả nhân mới cảm thấy thư thái cõi lòng. Quả nhân sẽ nói với liệt tổ liệt tông, sáu nước hợp tung, vừa là vì Triệu thất, cũng là vì thiên hạ, để giúp người trong thiên hạ an cư lạc nghiệp.”
Túc Hầu nói tới đây, trên mặt hiện một nét cười, hai mắt hé mở, lại nhìn lên trần nhà, như thể toàn bộ liệt tổ liệt tông đang ở trên đó.
“Chúa thượng!” Tô Tần nghẹn ngào.
“Tô Tử!” Túc Hầu ngoảnh đầu, nhìn sang. “Hợp tung tuy hay, song khó khăn chồng chất. Quả nhân được biết, Trương Nghi từ chức tướng quốc nước Tần, lên đường tới Ngụy, hiện đã được bái làm tướng quốc nước Ngụy, Huệ tướng quốc xe nhẹ lên đường, không biết đã đi đâu. Trương Nghi tới Ngụy, hẳn đã cấu kết với Bàng Quyên, khi sáu nước tấn công Tần, người Tần cố ý giăng bẫy, Bàng Quyên nghi ngờ người Triệu bán đứng, oán hận rất sâu, lần này lại thêm Trương Nghi, e là...”
“Chúa thượng suy nghĩ rất đúng!” Tô Tần gật đầu. “Nếu không nằm ngoài dự đoán của vi thần, Trung Sơn lần này vây đánh Hạo Ấp, chính là bởi có người Ngụy sau lưng.”
“Phải, nếu không có người Ngụy gây chuyện, nước Trung Sơn bé nhỏ lấy đâu ra gan to tày đình đến vậy! Nói tới chuyện này, can qua đã khởi, Tô Tử hẳn có kế hay ứng phó địch?”
“Tần đã nghĩ ra hai kế sách lâu dài và trước mắt. Kế sách trước mắt là, chúa thượng có thể từ bỏ Hạo Ấp, lấy Hoè Thuỷ làm biên giới, kết tình láng giềng hoà mục với Trung Sơn.”
“Còn kế sách lâu dài?”
“Chúa thượng quay mặt về nam xưng vương, cùng ngang hàng với liệt quốc. Thiên hạ đã ở vào thời đại cùng xưng vương, đến Trung Sơn, Tống cũng xưng vương cả rồi, nếu chúa thượng không xưng vương, các nước hợp tung lại sinh hiềm khích. Chúa thượng xưng vương, thần dựa vào thế của chúa thượng tiếp tục tập hợp tung thân, dựa vào năm thế Sở, Tề, Triệu, Hàn, Yên, uy hiếp Tống và Trung Sơn, hình thành đại thế, ép Ngụy bỏ hoành theo tung. Liệt quốc đều tung, Tần ắt rút về giữ Quan Trung, nguy cục có thể hoá giải.”
Huệ Hầu khép mắt lại, trầm ngâm suy nghĩ.
“Tô Tử!” Một lát sau, Túc Hầu lại hé mắt. “Trung Sơn không đáng lo, Hạo Ấp không thể bỏ, còn chuyện xưng vương, quả nhân đã lực bất tòng tâm. Tô Tử có thể bàn với Ung Nhi.” Rồi cao giọng. “Người đâu!”
Cánh cửa đẩy ra, Củng Trạch nghe tiếng bước vào.
“Cho gọi Ung Nhi!”
Triệu Ung bước vào, quỳ xuống trước giường.
“Ung Nhi!” Túc Hầu chỉ vào Tô Tần. “Hãy bái lạy Tô Tử!”
Triệu Ung quay sang Tô Tần, dập đầu.
Tô Tần vội vã phủ phục xuống đất, khấu lạy Triệu Ung.
Đợi Triệu Ung bái lạy xong, Túc Hầu kéo tay thái tử, đặt vào trong tay Tô Tần: “Tô Tử, quả nhân giao phó Ung Nhi cho khanh.”
“Chúa thượng!” Tô Tần vài dài sát đất.
“Ung Nhi!” Túc Hầu dằn mạnh từng chữ. “Bắt đầu từ hôm nay, con phải đối đãi với Tô Tử cung kính như thầy, quốc gia đại sự đều nghe theo kế sách lâu dài của Tô Tử, không được làm trái.”
“Nhi thần tuân chỉ!” Triệu Ung dập đầu đáp.
“Hợp tung phạt Tần, là kế sách lâu dài của Triệu, không thể từ bỏ.”
“Nhi thần kính cẩn ghi nhớ!”
“Lui ra, quả nhân mệt rồi!” Túc Hầu nhắm mắt lại.
Tô Tần, Triệu ưng đưa mắt nhìn nhau, bái lạy lần nữa rồi lui ra ngoài. Củng Trạch giữ Triệu Ung ở ngoài cửa trông chừng, sắp xếp Tô Tần về phủ tạm nghỉ ngơi một đêm, rồi tới thỉnh an sau. Đợi Tô Tần rời khỏi, Túc Hầu lập tức cho gọi Triệu Ung, An Dương Quân Triệu Thành, quốc uý Phì Nghĩa tới. Túc Hầu lần nữa ứa nước mắt gửi gắm con côi. Triệu Thành, Phì Nghĩa lần lượt thề nguyện trung thành trước thiếu chúa, rồi lui ra ngoài cửa điện, quỳ đó thỉnh an.
“Ung Nhi!” Túc Hầu sắp xếp xong mọi việc, bèn giữ một mình Triệu Ung lại, hỏi. “Cha giao con cho Tô Tử, tứ thúc công và Phì Nghĩa. Nếu bàn đại sự, trong ba người đó, con sẽ nghe ai?”
“Ung Nhi nghe cả ba người!” Triệu Ung trầm ngâm một lát, đáp lời.
“Nếu ý kiến của họ trái ngược nhau?”
“Ung Nhi sẽ không nghe ai!” Triệu Ung lại nói.
Túc Hầu lắc đầu.
“Nhi thần ngu muội, xin quân phụ dạy bảo!”
“Kế sách lâu dài của thiên hạ, có thể nghe Tô Tần. Theo như hiện tại, kế sách thiên hạ không nằm ngoài tung, hoành. Hợp tung, là kết yếu chống mạnh; liên hoành, là kết mạnh hiếp yếu. Hợp tung bắt nguồn từ Tô Tần, do Triệu phát động, Triệu là nước khởi xướng, từ bỏ tức là bỏ nghĩa, bỏ nghĩa thì Triệu mất thiên hạ. Tô Tử đề nghị xưng vương, con có thể nghe, quay về nam xưng tôn. Kế sách lâu dài của nước Triệu, có thể nghe Phì Nghĩa. Trung Sơn vô tình vô nghĩa, trở mặt lật lọng, là đại hoạ của nước Triệu ta. Để tiêu diệt họ, trừ hậu hoạ vĩnh viễn, liệt tổ liệt tông đã dốc hết sức lực, chỉ đáng tiếc là cơ duyên chưa tới, nên đến nay vẫn chưa thể hoàn thành. Phì Nghĩa sinh ra ở Đại Đô, lớn lên ở đất Bắc, am hiểu người Hồ. Muốn diệt trừ Trung Sơn, phải kết thân với người Hồ, điều này phụ quân đến cuối đời mới hiểu. Còn chuyện trong cung điện gia tộc, nhất nhất nghe theo tứ thúc công, có tứ thúc công bên cạnh, ta không còn gì lo lắng.”
“Nhi thần xin khắc cốt ghi tâm!”
Dặn dò xong mọi việc, Túc Hầu không còn vương vấn điều gì, ba ngày sau, trút hơi thở cuối cùng ở đài Hồng Ba.
Túc Hầu băng hà, Triệu Ung kế ngôi, dưới sự phò tá của ba vị đại thần Tô Tần, Triệu Thành và Phì Nghĩa, quay mặt về nam xưng vương, lúc đó mới mười bốn tuổi.
Lập tân quân, lại lo tang lễ cho Túc Hầu, suốt mười mấy ngày trời, Tô Tần bận rộn túi bụi, quay như chong chóng từ triều đường tới linh đường, từ tiếp đón liệt quốc phúng viếng tới xử lý xung đột biên cương, việc gì cũng đến tay, không có lấy một phút nghỉ ngơi. Tới ngày thứ mười lăm, nhìn thấy Tô Tần mặt mày nhợt nhạt, đi đường mà ngủ gà ngủ gật, Triệu Vương đặc biệt ân chuẩn cho Tô Tần không phải canh linh cữu, tạm về trạch phủ nghỉ ngơi.
Tô Tần cũng cảm thấy mọi việc đã thu xếp ổn thoả, bèn tạ ơn đại vương rồi đánh xe về phủ.
Vừa tới trước phủ, đã thấy Viên Báo chạy ra đón, bẩm báo rằng: “Chúa công, có khách từ xa tới, đã đợi ở trong phủ suốt mấy ngày rồi!”
“Khách từ xa tới?” Nhớ tới chuyện cả nhà Tô Đại không hẹn mà tới, Tô Tần đoán rằng hẳn lại có người ở quê ra, khẽ chau mày. “Ai vậy?”
“Một nam một nữ, nghe giọng nói có lẽ là người Quan Trung!” Viên Báo đáp.
“Quan Trung? Một nam một nữ?” Tô Tần giật nảy mình. “Có xưng danh tính không?”
“Tại hạ đã hỏi, nhưng họ dứt khoát không nói, chỉ bảo là người quen cũ của chúa công, nhất định đợi chúa công về.”
Người quen cũ? Tô Tần không hỏi gì thêm, vội vã vào trong phủ, thì không thấy hai người trong phòng khách. Viên Báo hỏi người hầu, được biết họ ra hậu hoa viên thưởng hoa, đang định đi gọi thì Tô Tần xua tay, sải bước về phía hậu hoa viên, từ xa đã nhìn thấy hai người một nam một nữ đang quay mặt về phía hồ sen, hiển nhiên là đang ngắm hoa.
Nghe thấy tiếng bước chân, hai người không hẹn mà cùng quay người lại. Người con gái nhìn thấy Tô Tần, vội cúi đầu xuống, nâng ống tay áo lên che mặt, không dám ngẩng lên. Người đàn ông quay lại, nhìn chằm chằm vào bộ hiếu phục trên người Tô Tần dò xét.
Người đàn ông đội mũ đen, thắt đai gấm, ăn vận kiểu đại phu, còn cô gái vàng đeo ngọc giắt, trông vô cùng lộng lẫy quý phái. Tô Tần nhìn họ một lúc, quả tình không tài nào nhớ ra hai người quen phú quý này ở đâu ra, bèn vòng tay vái mà hỏi: “Vị nhân huynh này, tới tìm Tô Tần ư?”
Người đàn ông lại nhìn Tô Tần một hồi, dường như cũng không nhận ra, bèn vòng tay đáp lễ: “Là Tô Tần đại nhân chăng?”
“Tô Tần người Lạc Dương chính là tại hạ!” Tô Tần lại vái.
“Đúng là Tô đại nhân rồi!” Người kia mừng rỡ, vội đáp lễ. “Còn nhớ đại ca cụt tay ở thôn Tiểu Tần đường Hàm Cốc không?”
Tô Tần lúc này mới nhận ra một bên tay áo người này trống rỗng, thì bừng tỉnh, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, vội bước lên một bước, chụp lấy tay hán tử reo lên: “Đại ca! Không ngờ lại là đại ca, tại hạ thực không thể nhận ra!”
“Ta cũng không nhận ra huynh đệ! Huynh đệ tốt... tại sao lại mang hiếu phục thế này?”
“Tiên quân băng hà, tại hạ đang để tang tiên quân!”
“Thảo nào khắp phố ai cũng mang trang phục trắng!” Hán tử cụt tay thốt lên một câu, rồi quay sang cô gái bên cạnh. “Quả Nhi, xấu hổ gì nữa, mau lại bái kiến tướng công đại nhân đi!”
Tô Tần lúc này mới sực nhớ ra, cô gái vàng ngọc rực rỡ kia chính là tiểu cô nương Thu Quả từng cứu mình năm xưa, liền quay sang cô gái vái dài một vái: “Thu Quả cô nương, Tô Tần có lễ!”
Thu Quả quỳ phịch xuống, phủ phục sát đất, không dám ngẩng đầu lên: “Thu Quả bái kiến Tô đại nhân!”
“Ồ...” Tô Tần vội nói. “Thu Quả cô nương, tại sao lại quỳ thế được? Cô nương là ân nhân của Tô Tần kia mà!”
“Thu Quả không dám!” Thu Quả lại dập đầu.
Tô Tần không tiện đưa tay kéo Thu Quả dậy, bèn nhìn sang hán tử cụt tay: “Tần đại ca, mau đỡ Thu Quả dậy, chúng ta quay về phòng khách nói chuyện!”
Hán tử cụt tay bèn kéo Thu Quả đứng lên, theo Tô Tần trở vào phòng khách. Hai bên lần lượt kể cho nhau nghe những chuyện xảy ra với mình kể từ lúc chia tay, lúc này Tô Tần mới biết Tần Công đúng là đã từng đi tìm mình, còn vì chuyện này mà khen thưởng nhà họ Tần thực, không những tấn tước, mà còn thăng làm đại phu. Hán tử cụt tay lấy làm cảm khái, cho rằng chăm sóc người bị thương chỉ là chuyện bình thường, thật không ngờ cứu được Tô Tần, lại được ban thưởng tương đương với cắt ba mươi tai địch. Hai người trò chuyện rôm rả, đến tận khi sắc trời đã tối, Viên Báo bày tiệc, Thu Quả xắn tay áo, rót rượu đứng hầu. Tô Tần và hán tử cụt tay nâng chén liên hồi, uống sảng khoái cho tới tận lúc trăng treo ngọn cây.
Không biết đã uống bao nhiêu, hán tử cụt tay bèn đặt chén rượu xuống, chỉ vào Thu Quả, nói thẳng vào chuyện chính: “Huynh đệ, lần này đại ca tới đây, không vì chuyện khác, chính là vì đứa con gái này.”
“Tạ ơn đại ca tin tưởng!” Tô Tần sớm đã hiểu ý, bèn vòng tay đáp. “Nhận ơn giọt nước, báo đáp dòng sông, năm xưa Tô Tần gặp nạn, được cả nhà đại ca, đặc biệt là Thu Quả cô nương mấy lần cứu giúp, Tô Tần dù có gan óc lầy đất, cũng khó lòng báo đáp. Ngàn vạn lời muốn nói, Tô Tần chỉ gói gọn trong một câu, nếu có việc gì cần đến Tô Tần, Tô Tần dứt khoát sẽ dốc hết sức lực, không dám từ nan.” Rồi quay sang Thu Quả. “Thu Quả cô nương, hãy nói đi, cô nương có ước muốn gì, a thúc đây sẽ thu xếp giúp!”
“Thu Quả chỉ mong được... ở bên cạnh... đại nhân, hầu hạ... đại nhân!” Giọng Thu Quả đứt quãng, lí nhí như thể thì thầm.
“Không giấu huynh đệ,” hán tử cụt tay vội đỡ lời con gái, “Quả Nhi đã tròn đôi chín, nếu ở đất Tần, đáng lẽ đã phải sinh con từ năm năm về trước rồi. Nhưng nó... lớn rồi, hiểu chuyện rồi, suy nghĩ cũng khác, chỉ một lòng muốn hầu hạ đại nhân, bất luận ai tới hỏi, cũng không chịu!”
Tô Tần mấp máy môi vài cái, rồi lại mím chặt.
“Huynh đệ đã hứa sau ba năm quay về đón nó, nó chờ đợi, chờ đợi đằng đẵng đã tám năm rồi!” Hán tử cụt tay than thở.
Tô Tần khép mắt lại.
“Quả Nhi tới đây, là một lòng nguyện theo huynh đệ, mong huynh đệ nể mặt đại ca, giúp nó toại nguyện!” Hán tử cụt tay đã dứt khoát chặn kín đường lui. “Không giấu gì huynh đệ, trên đường đi, đại ca đã hỏi Quả Nhi, nếu không gặp được Tô đại nhân, hoặc Tô đại nhân không chịu thì làm thế nào. Huynh đệ thử đoán xem, Quả Nhi trả lời ra sao? Quả Nhi nói, nó sống là người của huynh đệ, chết là ma của huynh đệ, nếu huynh đệ không chịu nhận, nó chỉ còn đường chết.”
Nói tới đây, thấy Tô Tần vẫn không tỏ thái độ gì, Thu Quả quýnh quáng, quỳ sụp xuống đất, bắt đầu nghẹn ngào.
“Thu Quả cô nương, cô nương... xin hãy mau đứng
dậy!” Tô Tần cuống lên.
Thu Quả vẫn chỉ nức nở.
“Than ôi, đại ca!” Tô Tần thở dài một tiếng, quay sang hán tử cụt tay. “Bảy năm về trước, tại hạ đúng là có nói sẽ tới đón Thu Quả, song vì vô số nguyên nhân, vẫn chưa thể tới Tần, để Quả Nhi phái chờ đợi lâu. Nay đại ca dẫn theo Quả Nhi không quản đường xa ngàn dặm tới đây, thực khiến tại hạ phải hổ thẹn. Đại ca nếu không chê trách, tại hạ có một ý này!”
“Huynh đệ cứ nói!”
“Tại hạ và đại ca kết tình huynh đệ, Thu Quả là ái nữ của đại ca, cũng chính là con gái của tại hạ. Tại hạ không có con cái, bắt đầu từ hôm nay, sẽ nhận Quả Nhi làm con gái nuôi, sớm tối ở lại trong phủ. Chờ đến một ngày, đợi Quả Nhi gặp người ưng ý, tại hạ sẽ giăng đèn kết hoa, làm lễ cưới gả đàng hoàng như con gái ruột, dám hỏi ý đại ca thế nào?”
“Chuyện này...” Ý của Tô Tần rõ ràng quá đỗi bất ngờ, hán tử cụt tay ngần ngừ một lát, rồi nhìn sang Thu Quả.
“Thu Quả tạ ơn nghĩa phụ đã cho phép ở lại!” Thu Quả đã thôi nức nở, đổi khóc thành cười, dập đầu sát đất hành đại lễ. “Nghĩa phụ ở trên, xin nhận của con gái một lạy!”
Tô Tần thở phào một tiếng, cho gọi Viên Báo tới, chuẩn bị đồ tế lễ cần thiết. Sáng sớm hôm sau, Tô Tần đã nghỉ ngơi đầy đủ, tinh thần phấn chấn, bèn tiến hành nghi lễ nhận nghĩa nữ trong phủ, sau đó giao hết mọi việc lặt vặt trong phủ, nhất là chuyện ăn mặc của mình cho Thu Quả quán xuyến. Còn hán tử cụt tay được Viên Báo dẫn đi chơi vài ngày trong thành Hàm Đan, rồi hoan hỷ quay về Tần.
Người khởi xướng hợp tung là Triệu Túc Hầu băng hà rõ ràng là chuyện lớn trong liệt quốc. Tô Tần muốn nhân tang lễ của Túc Hầu để chấn hưng hợp tung, rồi lấy danh nghĩa của người khởi xướng hợp tung, mời liệt vương hoặc đặc sứ của năm nước Sở, Tề, Hàn, Yên, Ngụy tới Hàm Đan, một là đưa tiễn Túc Hầu, hai là nhắc lại minh ước hợp tung, tiến cử tung ước trưởng mới, thực thi tung ước.
Năm vị sứ thần vừa ra khỏi biên giới, thì thượng đại phu Lâu Hoãn đi sứ Tần trở về đã báo rằng, người Tần đang tích thảo đồn lương, mưu đồ trỗi dậy. Tấn Dương cũng gửi cấp báo về, nói ngoài thành ngày càng xuất hiện nhiều người thân phận bất minh, quân Tần ở vùng đầm Đại Chiêu, núi Hồ Kỳ lại tăng thêm một chút, ước chừng đã hơn bốn vạn, rõ ràng mục đích tới đó không phải là chăn ngựa hay săn bắt. Triệu Báo đã điều động hai vạn nhuệ binh đóng quân tại Ngạch Dương, tiền tiêu của Tấn Dương, đồng thời bí mật phái năm nghìn quân sĩ tới đóng ở Trung Dương và Ly Thạch, tăng cường phòng vệ cho hai thành, đảm bảo Tấn Dương vây cánh an toàn, đồng thời tích cực quấy nhiễu hậu phương người Tần, cắt đứt đường lui khi cần thiết.
Quân thần Triệu thất đang bàn bạc về tình hình Tấn Dương, thì lại nhận được cấp báo từ Hạo Ấp. Người Trung Sơn dẫn nước Hoè Thuỷ vào thành, Hạo Ấp biến thành biển nước, vô số thường dân chết chìm, thành trì thất thủ.
Người Trung Sơn càn rỡ đến vậy, khiến cả kinh đô Triệu chấn động, triều thần lại càng hừng hực căm phẫn. Triệu Ung vừa mới xưng vương, hoả khí đang vượng, hạ lệnh điều ba vạn thủ quân Thượng Đảng, lại thêm hai vạn quân từ các ấp xung quanh Hàm Đan và ba vạn viện binh trước đó của Phì Nghĩa, gộp thành tám vạn nhuệ binh, chia thành tam quân, phong Phì Nghĩa làm chủ tướng, Lý Nghĩa Phu làm phó tướng, khí thế ngút trời xông thẳng tới Trung Sơn, quyết tâm một trận diệt trừ mối đại hoạ trong gan ruột, thực hiện lời trăn trối của Túc Hầu trước lúc lâm chung.
Tô Tần lo lắng tột cùng, nhiều lần can gián, song Vũ Linh Vương bịt tai không nghe.
Tô Tần nửa đêm tới gõ cửa phủ An Dương Quân, nói rõ tình thế nguy hiểm của Triệu. Song An Dương Quân nói: “Không giấu Tô Tử, những nguy hiểm này, Triệu Thành đều đã nhìn ra. Thế nhưng... sự tình đã tới nước này, biết làm sao được? Người Triệu xưa nay bộc trực khảng khái, thà chết không chịu nhục. Trung Sơn chỉ một nhúm đất nhỏ nhoi, đánh không thắng lại dùng thủ đoạn hạ tiện này. Đáng thương cho hơn vạn dũng sĩ, vài vạn dân thường Hạo Ấp, chỉ trong một đêm đã làm mồi cho Hà Bá. Chuyện này mà nhẫn nhịn được, thì còn gì không nhẫn nhịn được đây?”
Thấy An Dương Quân xưa nay vốn chín chắn thận trọng mà cũng nghĩ như vậy, Tô Tần hiểu rằng đã khó lòng cứu vãn, chỉ biết thở dài não nề mấy tiếng, rồi quay về phủ, càng nghĩ càng lo lắng, bèn cho gọi Lâu Hoãn tới, cùng bàn bạc kế sách ứng phó.
Tư Mã Điêu cũng sớm nhận được quân báo, một mặt dựng luỹ suốt dọc Hoè Thuỷ, bố trí phòng ngự, một mặt cấp báo lên Ngụy Vương xin viện trợ. Ngụy Vương lập tức phong Bàng Quyên làm chủ tướng, công tử Tự làm phó tướng, dẫn mười vạn quân tới chi viện Trung Sơn.
Bàng Quyên sớm đã sắp xếp ổn thoả, đại quân một mạch tiến thẳng tới Nghiệp Thành, vào một đêm trăng mờ gió lộng, vượt qua Chương Thuỷ, từ ba lộ đông, trung, tây đột phá phòng tuyến Phẫu Thuỷ của Triệu. Bàng Quyên đích thân thống lĩnh trung lộ vây đánh Chương Ấp, sau nửa ngày kịch chiến, chém chết vài nghìn quân Triệu, cướp được thành ấp, uy hiếp trực diện Hàm Đan. Cùng lúc đó, đông lộ chiếm được ấp Liệt Nhân, kiểm soát cửa ải trọng yếu phía đông Hàm Đan. Còn tây lộ do Thanh Ngưu chỉ huy ba nghìn quân hổ bôn, ngày nghỉ đêm đi, ngược dòng Chương Thuỷ mà lên, men theo thung lũng sông Thanh Chương, đâm thẳng vào khe Phẫu Khẩu, khí thế như thần binh hạ phàm, tập kích cửa ải Phẫu Khẩu. Lính Triệu trấn giữ cửa ải đa phần đều đang say giấc nồng, hốt hoảng ứng chiến, chưa đầy nửa canh giờ, chủ tướng đã bị Thanh Ngưu chém chết trong cơn hỗn loạn, cửa ải Phẫu Khẩu thất thủ, con đường duy nhất nối thông Hàm Đan với Thượng Đảng đã bị chặn ngang.
Phòng tuyến Phẫu Khẩu mà người Triệu đổ bao tâm huyết suốt mấy chục năm ròng để dựng nên, chỉ trong một đêm đã bị võ binh của Bàng Quyên phá tan tành, kinh đô Hàm Đan của người Triệu đã hoàn toàn bị phơi bày trước mũi nhọn của người Ngụy. Cho tới lúc này, Triệu Ung mới nhớ tới lời can gián của Tô Tần, dẫn An Dương Quân tới Tô phủ ngay trong đêm, thỉnh giáo sách lược ứng phó.
Quân Ngụy đã tới chân thành, Tô Tần cũng chẳng còn cách nào ứng phó, chỉ biết sắp xếp quân kháng cự. Theo lời khuyên của Tô Tần, Triệu Ung chỉ lệnh Phì Nghĩa rút quân khỏi Trung Sơn, trở về chi viện Hàm Đan, truyền dụ người Triệu ở xung quanh hoặc rút vào Hàm Đan, hoặc sơ tán vào các ấp, hoặc lui vào trong rừng núi phía tây, cố gắng bảo toàn lực lượng tối đa, kiên trì cố thủ không xuất đầu lộ diện.
Khi võ binh Ngụy tập kích cửa ải Phẫu Khẩu, tam quân do Lý Nghĩa Phu phụng chỉ xuất phát từ quận Thượng Đảng chinh phạt Trung Sơn đang băng qua khe Phẫu Khẩu, còn chưa tới cửa ải Phẫu Khẩu.
Đúng như tính toán của Bàng Quyên.
Ái Phẫu Khẩu đã vỡ, tàn quân Triệu vừa chiến vừa lui men theo khe Phẫu Khẩu, đụng đầu với đại quân của Lý Nghĩa Phu. Hay tin Phẫu Khẩu thất thủ, Lý Nghĩa Phu lập tức lệnh cho quân tiên phong tăng tốc, nhân lúc quân Ngụy còn chưa ổn định, quyết một trận giành lại cửa ải Phẫu Khẩu.
Ngụy, Triệu kịch chiến một trận trước ải Phẫu Khẩu. Tuy quân Ngụy không chiếm ưu thế về số lượng, song võ binh đều là quân hổ bôn, lại có được địa lợi, người Triệu tấn công ồ ạt hai ngày, tử thương hơn nghìn người, song không lay chuyển được lấy một tấc cửa ải. Hơn thế nữa, Thanh Ngưu đánh đang hăng máu, trong đợt tấn công thứ năm của lính Triệu, bỗng gầm lên một tiếng, vung tít một thân gỗ lớn to chừng miệng bát, mượn thế dốc núi xông thẳng xuống dưới, kè nào cản đường ắt chết, kẻ nào đụng phải ắt thương. Thấy chủ tướng như vậy, lính hổ bôn xung quanh ai nấy hùng dũng khác thường, đua nhau xuất kích, xông thẳng xuống núi. Quân Triệu hãi hùng, tan vỡ rút lui tới vài dặm mới ổn định được thế trận, tổn thất tới vài nghìn quân.
Vài ngày sau đó, đại quân Bàng Quyên đến dưới chân thành Hàm Đan, điều một vạn quân chi viện tới hợp sức phòng thủ cửa ải Phẫu Khẩu. Mắt thấy không chống chọi nổi người Ngụy, cũng không dám tự ý rút lui, Lý Nghĩa Phu chẳng biết làm sao, lệnh cho thuộc hạ đóng trại ở cách cửa ải vài dặm, đồng thời phái người đi theo con đường mòn bí mật trong núi, vòng qua doanh trại quân Ngụy, chạy về Hàm Đan xin ý chỉ.
Đại quân Phì Nghĩa đang chuẩn bị liều vượt Hoè Thuỷ, quyết chiến với Trung Sơn, thình lình nhận được chỉ lệnh, gấp rút quay về ngay trong đêm, nhưng đã muộn rồi. Bàng Quyên đã chặn đứng binh mã của Lý Nghĩa Phu ở bên ngoài cửa ải Phẫu Khẩu, còn quân chủ lực vòng qua Hàm Đan, từ phía tây thành chọc thẳng về phía bắc thành. Cùng lúc này, cánh quân vừa chiếm được ấp Liệt Nhân cũng đột phá về hướng đông bắc, binh mã hai lộ gặp nhau tại ngoại ô phía bắc Hàm Đan, bày trận thế dọc theo Minh Thuỷ, giao chiến kịch liệt với cánh quân tiên phong nước Triệu trở về trước tiên. Quân Triệu trong thành Hàm Đan cũng nhân thế tiếp ứng, chủ lực Triệu, Ngụy giao tranh dữ dội.
Đánh liền mấy ngày, Phì Nghĩa dốc hết toàn bộ bản lĩnh, quân Triệu liều mạng xung phong lâm trận, nhưng không những không thể công phá thế trận sắt thép của võ binh Đại Ngụy, mà ngược lại còn bị quân Ngụy đánh cho tan đàn xẻ nghé, quân tiếp ứng từ Hàm Đan tới cũng bị người Ngụy đánh tan tành, phải rút vào trong thành. Do thương vong quá nhiều, nên trong lúc cấp bách, không thể làm gì được quân Ngụy, lại thêm quân Trung Sơn cũng đang rập rình ở bờ bắc Hoè Thuỷ, uy hiếp sự an nguy của Tín Đô, Phì Nghĩa đành khua chiêng thu quân, rút lui về cố thủ bờ bắc Minh Thuỷ, dựa vào Tín Đô, bố trí thế trận dọc tuyến Vũ An, Lâm Minh quan, đối đầu với người Ngụy.
Trong lúc này, rất nhiều thành nhỏ xung quanh Hàm Đan đều đã bị người Ngụy công phá, quân nhu của người Triệu tích trữ trong các thành ấp đó cũng bị người Ngụy cướp sạch, Hàm Đan trở thành một toà thành cô lập. Mắt thấy binh mã phía Ngụy răm rắp chỉnh tề, trang bị hoàn chỉnh, uy võ tráng kiện, Triệu Ung không còn dám khinh suất, hạ lệnh đóng chặt cổng thành, cố thủ không ra.
Hàm Đan thành cao hào sâu, người Triệu thề chết phòng ngự, quân Ngụy tấn công liên tiếp vài ngày, vẫn không thể đột phá mảy may. Rõ ràng, nhanh chóng công phá Hàm Đan có vẻ như không nằm trong kế hoạch trước đó của Bàng Quyên. Thấy quân Ngụy công thành gặp nhiều thương vong, Bàng Quyên bèn khua chiêng thu quân, sắp đặt chốt chặn trên mọi tuyến đường trọng yếu thông tới Hàm Đan, đồng thời cử lính do thám giám sát ngoài thành Hàm Đan bất kể ngày đêm, tất cả người ra vào đều kiểm tra nghiêm ngặt. Cùng lúc đó, Bàng Quyên truyền lệnh xây dựng sáu doanh trại phòng ngự kiên cố ở ngoài Hàm Đan, hình thành thế lục lăng, vây chặt Hàm Đan, lộ rõ ý đồ vây đánh lâu dài, một mặt cho binh mã nghỉ ngơi, một mặt tìm kiếm cơ hội đột phá.
Hồi Thứ 63
Hàm Đan nguy cấp, Tô Tần rong ruổi tìm viện binh
Tề quốc bàng quan, Uy Vương sôi nổi bàn đua ngựa
Địa thế Hàm Đan tương đối cao, hơn nữa khi xây thành, để đề phòng ngập nước, tại cửa dẫn nước của hai đường nước chính chảy qua thành đều được thiết kế cửa cống kiên cố, có thể dễ dàng kiểm soát lưu lượng nước, lại có chức năng phòng ngự, do đó người Triệu không cần thiết phải lo lắng bi kịch Hạo Ấp tái diễn. Lương thảo dự trữ trong thành Hàm Đan đủ dùng cho một năm, binh sĩ có thể tham chiến không dưới ba vạn, ngoài ra còn có vài vạn dân đinh trai tráng và nô bộc tạp dịch của quý tộc thế gia, thợ thuyền các ngành, chỉ cần không có nội gián, việc giữ thành sẽ không có gì đáng ngại. Hơn nữa, đại thế đã tới nước này, triều đình và thần dân đã thực sự không còn đường lui, ai ai cũng quyết tâm liều chết tới cùng, người Ngụy công thành thất bại, chiến sự tạm thời lắng xuống.
Triệu Ung lúc này mới được rảnh tay chút ít, bèn cho gọi đám trọng thần Tô Tần, Lâu Hoãn, Triệu Thành tới bàn bạc kế sách đẩy lùi kẻ địch.
“Chư vị ái khanh!” Triệu Ung nhìn vào đám bề tôi có mặt, đặc biệt là Tô Tần, vòng tay với từng người, khoé miệng hiện lên nụ cười buồn bã, giọng nói không lớn, song lời nào cũng như dao chém đá. “Quả nhân mới lên ngôi, ngựa non háu đá, vào thời khắc then chốt đã không nghe theo lời Tô Tử, đến nỗi lâm vào cảnh khốn đốn hôm nay. Thế nhưng, quả nhân tin rằng, trời không diệt Triệu, trừ phi người Triệu tự diệt mình!”
Chỉ vài câu ngắn ngủi đã khiến lòng người ấm lại, ý chí lên cao. Tô Tần chua xót trong lòng, cảm ngộ sâu sắc thời thế tạo con người, trước sau mới chỉ vài ngày, Triệu Ung đã trưởng thành, chín chắn hơn hẳn, trở thành một vị quân chủ có thể đảm đương trọng trách.
Cũng giống như Tô Tần, quần thần đều cảm thấy trong lòng ấm áp, song cũng đau xót vô cùng. Đại thế bỗng chốc biến đổi, mây đen ập xuống đỉnh đầu, phía bắc đại quân Trung Sơn xâm phạm biên cương, phía đông là Hà Thuỷ, phía tây là Thái Hàng núi cao vực thẳm, kinh thành bị cường địch vây hãm trùng trùng, con đường duy nhất về tây lại bị cắt đứt, Tây Đô Tấn Dương cũng chịu sự uy hiếp của bạo Tần, bản thân còn lo chưa xong, người Triệu thực sự đã không còn đường lui, chỉ còn cách tử thủ Hàm Đan.
“Tô ái khanh!” Triệu Ung quay sang Tô Tần, cất lời thẳng thắn. “Sự việc đến nước này, quả nhân hối cũng đã muộn. Kế sách hiện giờ ra sao, thỉnh cầu ái khanh chỉ giáo!”
“Đại vương chớ nên lo lắng!” Tô Tần khẽ ôm quyền, cất giọng sang sảng. “Thần cho rằng, hiện tại ba nước xâm phạm bờ cõi, ta đang ở thế nguy, song không phải không thể phá giải. Mấy năm trước sáu nước phạt Tần, nước Tần chẳng phải cũng lâm vào tình cảnh tương tự đấy ư?”
Thấy Tô Tần lạc quan đến vậy, hiểu rằng đã có cách cứu nguy, quân thần đều thở phào. Đặc biệt là Triệu Ung, nhổm hẳn người về phía trước, ánh mắt khẩn thiết nhìn vào Tô Tần: “Quả nhân muốn nghe lời này, xin Tô Tử chỉ rõ!”
“Xin đại vương hãy nghe!” Tô Tần chậm rãi nói. “Đạo trời có âm dương, âm dương tuân theo nhân quả, tương sinh tương khắc, bổ trợ lẫn nhau, bởi vậy vạn vật vạn tượng trong thế gian, không gì không thành nhân quả. Nay ba kẻ địch phạt ta, mỗi phía đều có nhân riêng, cũng có quả riêng. Sáu nước hợp tung chế Tần, Triệu là nước khởi xướng, Tần tự khắc sẽ coi Triệu là kẻ thù đầu tiên, đó là chuyện đương nhiên. Ngụy sau cuộc chiến Hà Tây, thất bại suy sụp, Ngụy Vương may mắn có được Bàng Quyên, vài lần chấn hưng, vẫn chưa có thành tựu rõ rệt. Đặc biệt là sau khi Hàm Cốc thất bại, Ngụy Vương ý chí chấn hưng nguội lạnh, lại càng ngờ vực về hợp tung, nên đã nghe theo Trương Nghi, quay lưng lại với hợp tung, chuyển sang liên hoành với người Tần. Còn như nguyên nhân Trung Sơn xâm phạm, thần không nhiều lời, tin chắc chư vị đều đã hiểu.”
“Mấu chốt là phá giải!” Chủ tướng Hàm Đan Triệu Ngạn sốt ruột không muốn đợi thêm.
“Phá giải chỉ có một, hợp tung!” Tô Tần nói rành rọt từng tiếng. “Minh ước hợp tung còn chưa huỷ bỏ, Ngụy đã liên hoành với Tần, làm trái minh ước mà kết giao với địch, cùng tấn công nước khởi xướng hợp tung, như thế là thất đạo thất nghĩa với thiên hạ. Ta có thể liên kết các nước hợp tung. Chỉ cần các nước hợp tung xuất binh, Hàm Đan ắt được giải vây!”
“Xin hỏi Tô Tử, trong số liệt quốc hợp tung, liệu có nước nào đồng ý xuất binh?” An Dương Quân Triệu Thành vẫn trùng trùng nghi hoặc.
“Ngoài nước Yên, ba nước Sở, Tề và Hàn đều sẽ xuất binh!” Tô Tần chắc chắn mười phần.
Quân thần đưa mắt nhìn nhau, rồi không hẹn mà đều nhìn cả vào Tô Tần.
“Đương nhiên,” Tô Tần dường như đã nhìn thấu viễn cảnh, “họ chỉ xuất binh mà thôi, còn quyết chiến sống mái với Ngụy, e là chỉ có nước Tề.”
“Vì sao?” Triệu Ngạn không hiểu.
“Bởi vì nước Hàn khá yếu, lại đang bộn bề lo toan, khi cục thế chưa rõ ràng, sẽ không dám khinh suất. Còn nước Sở hẳn là chỉ tọa sơn quan hổ đấu.”
“Dám hỏi tướng quốc, vì sao có thể khẳng định nước Tề chắc chắn sẽ quyết chiến với Ngụy?”
“Bởi lẽ nước Tề đã trông chờ ngày này quá lâu rồi.” Tô Tần khẳng định chắc nịch, song trong giọng nói lại có chút thê lương. Thê lương ở chỗ, giống như một bậc trí giả ngồi trên đỉnh núi cao, Tô Tần sớm đã nhìn thấu tỏ những xung đột trong nội bộ hợp tung vốn đã tích tụ từ lâu, song lại không biết phải xử trí thế nào.
“Tô Tử!” Triệu Ung lòng đầy lo âu. “Người Tề... liệu có phải đối thủ của võ binh Đại Ngụy? Lại còn Bàng Quyên, Điền Kỵ e là...”
Cuộc chiến Hoàng Trì còn gác lại đó, bảy vạn hùng binh bị ba vạn lính mệt mỏi đánh cho tan tác, Điền Kỵ còn bị Bàng Quyên bắt sống, chịu nỗi nhục mặc quần áo đàn bà, tô son trét phấn ngay giữa triều đường, liệt quốc không ai không biết.
“Được!” Tô Tần siết chặt nắm đấm, ngữ khí kiên định.
“Tô Tử!” Triệu Ung đứng dậy, vái một vái dài. “Chuyện của nước Tề, e là phải nhọc công Tô Tử đi giúp một chuyến!”
“Thần phụng mệnh!” Tô Tần cũng đứng dậy, đáp lễ.
“Tử Ngạn tướng quân!” Triệu Ung quay sang Triệu Ngạn. “Sáng sớm ngày mai, khanh hãy chọn ra ba nghìn dũng sĩ, mở cửa đông, đột phá vòng vây, bảo vệ tướng quốc tới ải Lâm Minh, rồi từ ải Lâm Minh xuôi dòng thẳng xuống, băng qua Hà Thủy tới Tề! Quả nhân đích thân dẫn đại quân mở cổng bắc, bày trận giao chiến với Bàng Quyên, để yểm hộ cho Tô Tử.”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
“Chúa thượng!” Tô Tần nói xen vào. “Thần không cần một binh một tốt hộ tống!”
“Ái khanh?” Triệu Ung kinh ngạc.
“Thần chỉ xin một cỗ xe một ngựa kéo, mở cổng nam, đường đường chính chính băng qua Chương Thuỷ vào Ngụy, qua Vệ tới Tề!” Tô Tần thủng thẳng đáp lời.
“Vậy Bàng Quyên...”
“Thần tự có cách xử lý!”
Sáng sớm hôm sau, cổng nam thành Hàm Đan mở ra, một cỗ xe một ngựa kéo lao thẳng ra ngoài, ngựa rất khoẻ, rõ ràng là tuấn mã đã được tuyển lựa kỹ càng, Trâu Phi Đao kiêm nhiệm phu xe, ra roi thúc ngựa, bánh xe lịch xịch, cuốn bụi tung mù. Tô Tần ngồi ngay ngắn trong xe, hai mắt khép hờ. Trước và sau xe đều cắm một lá cờ, cờ phía trước để chữ “sứ”, cờ phía sau đề chữ “Tô”.
Xe ngựa đi chưa đầy hai trăm bước thì tới trạm gác của người Ngụy, một quân uý đã chờ sẵn cản đường, sau khi kiểm tra một lượt, biết là xe của tướng quốc liệt quốc Tô Tần, quân uý không dám khinh suất, vừa lựa lời khéo léo giữ người lại, vừa tức tốc bẩm báo Bàng Quyên.
Chưa đầy nửa canh giờ, một cỗ chiến xa tứ mã băng băng lao tới, người đứng trên xe chính là Bàng Quyên.
Hai xe đối mặt. Bàng Quyên và Tô Tần nhìn nhau.
Một lát sau, Bàng Quyên vòng tay nói: “Chẳng phải là Tô huynh đấy ư?”
“Tô Tần bái kiến Bàng huynh!” Tô Tần cũng vòng tay đáp.
“Tô huynh thế này là...” Bàng Quyên nhìn vào tuấn mã, cờ và sứ tiết.
“Giống như đã viết trên cờ,” Tô Tần giơ cao sứ tiết trong tay, “tại hạ phụng mệnh Triệu Vương đi sứ sang Tề, đang phải lên đường gấp.”
“Đã là sứ thần, cớ sao Tô huynh lại chỉ có một xe, một ngựa, một lính?”
“Bàng huynh dẫn đại quân vây thành, xe chiến và binh mã trong thành đều cần dùng đến, Tô Tần không dám mang theo nhiều!”
Bàng Quyên phá lên cười vang: “Tô huynh thực là biết tiết kiệm cho thằng nhóc Triệu Ung. Dám hỏi Tô huynh, đi sứ sang Tề, hẳn có sứ mệnh?”
“Có!”
“Nói cho tại hạ được chăng?”
“Mượn quân Tề cứu Triệu!”
“Ồ?” Bàng Quyên vờ kinh hãi, cố tình ra vẻ sợ sệt. “Tại hạ vừa nghe nói tới quân Tề, tay chân đã run lẩy bẩy. Tô huynh, chuyện này là thật chăng?”
“Thật!”
“Than ôi!” Bàng Quyên trở lại vẻ bình thường, thở dài một tiếng. “Tô huynh này, sao huynh lại nghĩ tới chuyện mượn binh nước Tề?”
“Xin hỏi Bàng huynh, tại hạ nên mượn binh ở đâu?”
“Nước Sở. Người Sở không sợ chết, có lẽ sẽ quyết một trận với tại hạ!”
“Người Sở sẽ xuất binh, song sẽ không tử chiến với Bàng huynh!”
“Tô huynh cớ sao lại suy đoán như vậy?”
“Xuất phát từ nghĩa, Sở sẽ xuất binh. Xuất phát từ lợi, Sở sẽ không tử chiến.”
“Thật không hổ danh Tô huynh!” Bàng Quyên gật đầu, khen ngợi. “Người Sở không chịu, Tô huynh cớ sao không mượn binh người Hàn? Người Hàn nỏ cứng, thương sắc, có lẽ sẽ đâm thủng được giáp trụ võ binh Đại Ngụy!”
“Hàn cũng sẽ xuất binh, song cũng sẽ không tử chiến với Bàng huynh.”
“Tô huynh cớ sao lại suy đoán như vậy?”
“Hàn nỏ cứng, thương sắc, song thế Hàn yếu ớt, nay có ba nước lớn Sở, Ngụy, Tần vây quanh rình rập, nếu Bàng huynh ở Hàn, liệu có muốn giao chiến vì Triệu hay chăng?”
“Ha ha ha, Tô huynh phân tích chí lý! Nếu tại hạ là Hàn Vương, cũng tuyệt đối không liều mạng vì một nước Triệu đã chết đến nơi! Xem ra, Tô huynh tới Tề, là khẳng định người Tề sẽ cho mượn binh!”
“Tại hạ không những khẳng định người Tề sẽ cho mượn binh, mà còn khẳng định Bàng huynh sẽ thất bại!”
“Ồ?” Bàng Quyên hai mắt trợn tròn. “Huynh dựa vào đâu mà chắc chắn đến thế?”
“Do Bàng huynh kiêu ngạo, binh kiêu tất bại!”
Bàng Quyên phá lên cười sằng sặc một tràng dài. “Được được được, coi như tại hạ kiêu ngạo! Vậy theo ý Tô huynh, Điền Nhân Tề sẽ cử ai cầm quân?”
“Điền Kỵ tướng quân!”
“Điền Kỵ là bại tướng trong tay tại hạ, Tô huynh cớ sao lại khẳng định kẻ này tất thắng?”
“Vì chiến sự chưa diễn ra, Bàng huynh đã khẳng định Điền tướng quân thất bại!”
“Còn gì nữa?”
“Điền tướng quân vì thất bại mà chịu nhục, nếm mật nằm gai suốt mấy năm qua, đương nhiên đã nghĩ ra cách phá giải chiến thuật của Bàng huynh!”
“Ha ha ha!” Bàng Quyên ngửa cổ cười lớn một tràng, rồi chìa tay nói. “Tại hạ vốn định bày bữa rượu nhạt tiễn Tô huynh lên đường, song lại không nỡ làm lỡ hành trình của Tô huynh, xin lập tức cung tiễn Tô huynh lên đường!” Quay sang quân uý, giọng nói có phần châm biếm. “Mở đường, cung tiễn sứ Triệu Tô Tần sang Tề mượn binh!”
Cửa luỹ được mở ra.
Tô Tần vòng tay cảm tạ, phu xe vung roi thúc ngựa, lao thẳng ra khỏi cửa luỹ.
Đi được chừng một tầm tên bắn, từ phía sau vẳng đến giọng nói sang sảng của Bàng Quyên: “Tô huynh, hãy chuyển lời tới họ Điền, rằng tại hạ ở đây đợi hắn, bảo hắn dụng binh cho cẩn thận, lần này nếu lại để bị bắt sống, e là không còn cái vinh hạnh mặc váy bôi son nữa đâu!”
“Bàng huynh yên tâm, tại hạ nhất định sẽ chuyển lời!” Tô Tần quay đầu lại, lớn giọng đáp.
Cục thế căng thẳng giữa bốn nước Trung Sơn, Ngụy, Tần và Triệu cũng đã truyền tới cung Tề, trở thành chủ đề nghị luận chốn triều đình.
Từ đầu đông năm ngoái, Tề Uy Vương bị phong hàn liên tiếp mấy lần, cơ thể đang khoẻ mạnh là thế, giờ bắt đầu suy sụp, chuyện triều chính gần như giao cả cho thái tử Tích Cương xử lý, còn mình chọn lấy vài ái phi trẻ tuổi, chuyển vào Tuyết cung vui vầy. Thân tín bên cạnh đều biết, long thể của Uy Vương hao kiệt cũng chính là vì đám phi tần trẻ trung kia. Phần vì hiểu rằng ngày tháng không còn dài, phần vì tin vào thuyết lấy âm bổ dương, mà Uy Vương ngày càng mê đắm đàn bà, đặc biệt là đám gái tơ nhỏ tuổi, ngực vừa mới nhú, thậm chí đến cả bé gái chưa đầy mười tuổi, hầu như đêm nào cũng lâm hạnh, bất chấp ngự y khuyên can thế nào cũng không chịu nghe. Có điều, dù xương cốt không còn rắn rỏi, song đầu óc của Uy Vương vẫn minh mẫn như trước, đối với chiến sự bốn nước, lại tỏ ra hào hứng chưa từng có, hầu như hôm nào cũng cho đòi đám trọng thần, bao gồm cả thái tử, tới Tuyết cung nghị sự, nội dung đều là chuyện Hàm Đan.
Mấy vị trọng thần đều hiểu rõ Uy Vương vẫn đang kìm nén trong lòng một cơn uất hận, phàm là chuyện liên quan tới nước Ngụy, đều thu hút sự chú ý của Uy Vương. Không chỉ Uy Vương, các triều thần không ai không nhớ như in mối nhục Hoàng Trì, đặc biệt là thượng tướng quân Điền Kỵ, ngay cả trong mơ cũng nghiền ngẫm chuyện phục thù.
Buổi đại triều hôm nay, quan viên từ cấp đại phu trở lên xếp hàng trong điện, vẫn là thái tử Tích Cương chủ trì buổi nghị triều như lệ thường. Tích Cương vừa ngồi xuống ngai vàng, ngoài cửa bỗng vọng vào những tiếng ồn ào, rồi nội tể túc trực bước vào bẩm báo: “Đại vương giá đáo, chư khanh cung nghênh!”
Thái tử rời khỏi chỗ, cùng quần thần quỳ xuống nghênh đón trước điện. Một lát sau, Uy Vương được hai đồng nữ dìu đỡ, từng bước tiến vào. Theo sau Uy Vương còn có hai người, một là nội tể thân cận, một là thượng đại phu Điền Anh.
Uy Vương ngồi vào ngai vàng, hai đồng nữ đứng hầu phía sau, nội tể đứng bên cạnh, thượng đại phu Điền Anh tự đứng vào hàng ngũ triều thần.
“Các khanh bình thần!” Uy Vương uy nghiêm phẩy tay.
Quần thần tạ ơn, rồi ai ngồi vào chỗ nấy.
“Chư vị ái khanh!” Uy Vương đưa mắt nhìn khắp lượt triều thần đông nghịt hai bên tả hữu. “Quả nhân đã lâu không tham chính, song hôm nay trong lòng bứt rứt, nên mới tới đây thăm các ái khanh.”
Quần thần đều nhìn Uy Vương, chăm chú chờ nghe.
“Vì cớ gì mà quả nhân đột nhiên thấy trong lòng bứt rứt?” Uy Vương tự hỏi rồi tự trả lời. “Là vì Hàm Đan! Sáng sớm nay, quả nhân mơ thấy cả bốn cổng Hàm Đan đều đã bị lính Ngụy công phá, người Triệu tử trận la liệt, máu chảy thành sông!”
Quần thần đưa mắt nhìn nhau.
“Chư vị ái khanh!” Uy Vương nói tiếp. “Về lý mà nói, Ngụy Anh ức hiếp Triệu Ngữ, Đại Lương đánh Hàm Đan, kiểu gì cũng là chuyện của người Tấn họ, không liên quan tới quả nhân. Song quả nhân đã ở độ tuổi này, vừa sáng sớm lại mơ thấy đổ máu, là rất chẳng lành. Quả nhân cứ trằn trọc mãi, không thể nào ngủ tiếp, chợt nhớ hôm nay có buổi đại triều, nên lập tức đến ngay.”
Triều đường tĩnh lặng như tờ, mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Uy Vương.
“Chư vị ái khanh, quả nhân xin chư vị hãy bàn luận thử, cuộc đổ máu này, nên xử trí ra sao?” Uy Vương đưa ra câu hỏi.
Gần nửa năm qua, Uy Vương chưa một lần lên triều, lần này không hẹn mà tới, vừa lên tiếng đã nhắc ngay tới Hàm Đan, khiến quần thần không khỏi một phen ngỡ ngàng, đều thắc mắc không biết trong lòng Uy Vương có ẩn ý gì.
Đợi hồi lâu, thấy quần thần vẫn im lặng, Uy Vương không thể kiên nhẫn thêm, bèn chỉ đích danh: “Trâu ái khanh hẳn có cao kiến?”
“Hồi tấu đại vương!” Trâu Kỵ bước ra khỏi hàng, vòng tay vái mà nói. “Thần cho rằng, Hàn, Triệu, Ngụy vốn là một nhà, Ngụy phạt Triệu, là chuyện nội bộ của Tam Tấn, đại vương nên tọa sơn quan chiến!”
“Thần cũng có tấu!” Điền Kỵ bước ra khỏi hàng, liếc mắt nhìn Trâu Kỵ, cất giọng sang sảng. “Sự việc Hàm Đan, liên quan tới bốn nước Trung Sơn, Tần, Ngụy và Triệu, không phải là chuyện của Tam Tấn. Ba đánh một, là lấy nhiều hiếp ít, không phải cuộc chiến có nghĩa. Ngụy, Triệu đều là nước hợp tung, minh ước còn chưa huỷ bỏ, Ngụy đã cấu kết với Tần phạt Triệu, chính là bội ước mà kết giao với địch. Là nước tham gia hợp tung, đại vương không thể ngồi nhìn!”
Lời Điền Kỵ khác nào một hồi chuông vang động, quần thần đều nhìn ông ta với ánh mắt tán thưởng. Trâu Kỵ thấy mất mặt, cười nhạt một tiếng, không nhìn Điền Kỵ, nhưng lời nói rõ ràng mang ý chống đối: “Đại Lương đánh Hàm Đan, kiểu gì cũng là chuyện của người Tấn họ, lời này lẽ nào lại sai?”
Quần thần đều chấn động. Câu này vừa được nói ra từ miệng Uy Vương, Trâu Kỵ giờ nhắc lại y nguyên, khác nào nói Điền Kỵ phạm thượng? Điền Kỵ vốn là kẻ võ biền, nói năng bộc tu ệch, thấy Trâu Kỵ dùng câu đó để chặn họng mình thì giận tới tím tái mặt mày, phẩy ống tay áo phần phật mấy tiếng, song lại không thể thốt ra được lời nào.
“Ha ha ha!” Uy Vương cười vang vài tiếng, giải vây cho Điền Kỵ. “Là lời quả nhân không thoả đáng.” Rồi quay sang các triều thần khác. “Trâu tướng quốc cho rằng ta nên ngồi yên quan sát, Điền tướng quân cho rằng ta không thể ngồi xem, chư vị ái khanh có cao kiến gì chăng?”
Triều thần lập tức chia thành hai phe, phe thường xuyên qua lại với tướng quốc thì tìm mọi lý do ủng hộ Trâu Kỵ, phe thường xuyên qua lại phủ tướng quân thì lại một mực tán đồng Điền Kỵ. Thoáng chốc, trên triều đường đã không còn chút kiêng dè, tranh cãi kịch liệt, ồn ào mãi vẫn chưa thể ngã ngũ. Uy Vương vuốt chòm râu dài, mặt hiện nét cười, hai mắt lim dim, nửa như ngủ gật, lại nửa như đang chăm chú lắng nghe.
Tranh cãi suốt một canh giờ, vẫn không bên nào chịu nhường bên nào, chỉ có hai người từ đầu chí cuối không nói một câu, im lặng quan sát, chính là điện hạ Điền Tích Cương và thượng đại phu Điền Anh.
Có lẽ là nghe đã đủ, cũng có lẽ là do cơ thể không kham nổi nữa, Tề Uy Vương ho lớn một tiếng, rồi e lực vẫn không đủ mạnh, bèn gập ngón tay gõ lên mặt bàn.
Quần thần liền im bặt.
“Thượng đại phu!” Tề Uy Vương không còn nhìn vào triều thần nữa, mà ánh mắt chuyển sang Điền Anh. “Hội đua ngựa đã chuẩn bị đến đâu rồi?”
“Khởi tấu đại vương, đã chuẩn bị xong xuôi, chỉ đợi ngày đẹp trời!” Điền Anh bước ra khỏi hàng, dõng dạc bẩm tấu.
“Đi!” Tề Uy Vương quay sang nội tể bên cạnh. “Ra xem hôm nay trời có đẹp không?”
Nội tể rảo bước đi ra ngoài, tới trước cổng điện ngửa cổ nhìn trời, rồi lại hối hả đi vào, bẩm tấu: “Trời quang mây tạnh, đại vương cát tường!”
Uy Vương bật cười vài tiếng: “Các khanh đợi ngày đẹp trời, ngày đẹp trời đã tới, thực là trời thuận lòng người!” Rồi ánh mắt sáng rực quét khắp lượt quần thần. “Ngựa chiến nghỉ qua thu đông, béo tốt sung sức, đã đến lúc phải ra ngoài chạy nhảy. Chư vị đã giam chân suốt một mùa đông, cũng nên ra ngoài đi lại, thư giãn gân cốt. Gần đây thời tiết tuyệt đẹp, vụ xuân cũng đã xong xuôi, chính là thời điểm thích hợp để ruổi ngựa. Quả nhân quyết định, hội đua ngựa sẽ tổ chức sau ba ngày nữa, trình tự cụ thể, sẽ do thượng đại phu tuyên chiếu!”
Điền Anh bước lên tuyên chiếu, chiếu thư đại ý như sau: Hội đua ngựa vẫn giống mọi năm, tự báo danh ứng thí, bề tôi nước Tề phàm là có ngựa, đều được phép tham gia. Vẫn chia thành năm khu vực đua chính, trường đua đặt ở năm đô, lần lượt là Trung Đô Lâm Truy, Đông Đô Tức Mặc, Tây Đô Bình Lục, Nam Đô Doanh Thành, Bắc Đô Cao Đường, mỗi đô sẽ chọn ra một giải nhất, năm ngựa giải nhất của năm đô sẽ tập trung ở Lâm Truy, thi đấu trận cuối cùng, tìm ra ngựa thắng cuộc, có thể thách đấu với vương mã. Người dự thi cần trình ra ba cỗ xe tứ mã, thi đấu theo ba cấp thượng, trung và hạ, hai thắng một thua sẽ được tính là thắng. Ngựa xe dự thi, phàm là vào được trường đua sẽ được thưởng mười đĩnh vàng, phàm là vào được vòng năm đô quyết đấu sẽ được thưởng ba mươi đĩnh vàng, phàm là vào được vòng quốc đô quyết đấu sẽ được thưởng một trăm đĩnh vàng. Nếu đủ tư cách thách đấu vương mã, sẽ được thưởng ba trăm đĩnh vàng. Nếu chiến thắng vương mã, sẽ được thưởng năm trăm đĩnh vàng.
Điền Anh tuyên xong chiếu thư, quay trở về chỗ.
Chư thần có mặt đều ngỡ ngàng, bởi lẽ giải thưởng lần này cao gấp đôi năm ngoái, đặc biệt là phàm người dự thi đều có thưởng, tức là bất kể người nào, chỉ cần đánh ba cỗ xe chiến vào trong trường đua, là nghiễm nhiên được lĩnh mười đĩnh vàng của vương thất.
Thấy quần thần đều ngây người sửng sốt, Tề Uy Vương mỉm cười, giơ tay nói: “Chiếu lệnh đã ban, bãi triều, chư vị ái khanh hãy quay về phủ, dồn hết bản lĩnh vào tàu ngựa nhà mình. Sau ba ngày, ai đúng ai sai, ai cao ai thấp, ai thắng ai thua, trên trường đua sẽ phân định rõ ràng! Còn nữa, quả nhân sửa lại ý chỉ, người thắng vương mã, lĩnh thưởng một nghìn đĩnh vàng!”
Quần thần lại một phen kinh hãi.
“Thần tạ ơn đại vương!” Trâu Kỵ trấn tĩnh lại đầu tiên, quỳ xuống dập đầu hô lớn.
Quần thần giờ mới hoàn hồn, đồng loạt quỳ xuống theo.
Tề Uy Vương chậm rãi đứng dậy, do hai đồng nữ dìu đỡ, từng bước ra khỏi cửa bên.
Uy Vương đã tuyên bố bãi triều và ra khỏi cửa từ lâu, song triều đường vẫn trật tự ngay ngắn, quần thần quỳ nguyên tại chỗ, như thể đại triều vẫn chưa kết thúc.
Người đứng dậy đầu tiên là thái tử, theo sau đại vương, đi ra khỏi cửa bên.
Tiếp đến là Điền Kỵ đứng dậy, vẩy ống tay áo, vòng tay về phía Trâu Kỵ: “Tướng quốc đại nhân, ai đúng ai sai, ai cao ai thấp, ai thắng ai thua, trên trường đua sẽ phân định rõ ràng!” Nói đoạn quay người đi thẳng, vừa đi vừa dài giọng ngân nga: “Ai chà, chúng ta về ruổi ngựa đi thôi!”
Điền Kỵ cố tình nhắc lại lời Uy Vương, rõ ràng muốn cười nhạo Trâu Kỵ, vì trước đó, Trâu Kỵ vừa dẫn lời Uy Vương chặn họng Điền Kỵ.
Hội đua ngựa ba năm lại đây mới trở nên rầm rộ, bắt nguồn từ bản tấu của Điền Kỵ. Trong số quần thần triều đình, người thạo ngựa không ai qua được Điền Kỵ, ba năm liên tiếp, đều là ngựa của Điền phủ giành được tư cách thách đấu vương mã. Còn ngựa của phủ tướng quốc, hai năm trước còn chưa vào được vòng quyết đấu, năm ngoái tuy đã vào được vòng quyết đấu, song cỗ xe tứ mã thượng đẳng lại vẫn về sau cỗ chiến xa của Điền phủ ba thân ngựa, không những thế, cỗ xe ngựa hạ đẳng của Trâu phủ tới khúc ngoặt cuối cùng, do vòng quá gấp mà cỗ xe lật nhào, ngựa chổng bốn vó, khiến đám đông được một phen cười vỡ bụng, đã trở thành chuyện cười trong trường đua.
Trước thái độ thách thức của Điền Kỵ, trước những ánh mắt của triều thần đua nhau chiếu tới, Trâu Kỵ dù điềm tĩnh đến mấy cũng khó tránh mặt đỏ phừng phừng. Nghe tiếng gót giày của Điền Kỵ nện thình thịch trên bậc thềm trước điện, xa dần rồi mất hẳn, nhìn những triều thần khác cũng lục tục ra về, Trâu Kỵ mới đứng dậy, khẽ phủi vạt áo vài cái, miễn cưỡng nở một nụ cười với thượng đại phu Điền Anh đang đứng chờ bên cạnh, khẽ hất hàm, hai người một trước một sau rời khỏi triều đường, ai lên xe người nấy, chỉ một lát sau, đã tới phủ tướng quốc.
Uy Vương không hẹn mà tới, trước tiên nêu ra chuyện Tam Tấn, khiến quần thần tranh luận om sòm, rồi lại đột ngột chuyển sang đua ngựa, lại còn thảo sẵn chiếu thư, rõ ràng là có tính toán từ trước, hơn nữa, mưu tính này, Điền Anh đương nhiên biết rõ. Trong phòng khách của phủ tướng quốc, Trâu Kỵ nói thẳng vào đề: “Ba hội đua ngựa trước đây đều được tổ chức sau tiết Cốc vũ, năm nay đại vương lại quyết định sau ba ngày nữa, thế là sớm hơn chục ngày. Thượng đại phu phụ trách cụ thể về hội đua, trong đó hẳn có ẩn tình, Trâu Kỵ bất tài, xin được thỉnh giáo.”
“Hồi bẩm tướng quốc,” Điền Anh vòng tay đáp lời. “Hội đua ngựa năm nay cớ sao lại tổ chức sớm hơn, hạ quan cũng không được biết. Vào giờ Nhân định tối qua, đại vương đột ngột triệu kiến hạ quan, bàn luận về chuyện đua ngựa, hỏi sau ba ngày nữa có thể cử hành hay chăng. Hạ quan đáp rằng, ngày xuân ấm áp, ngựa đua các nơi sớm đã nhảy nhót chộn rộn, ba ngày nữa có thể tổ chức được. Đại vương không hỏi thêm lời nào, bảo hạ quan hồi phủ. Hôm nay lên triều, có người chặn hạ quan lại, giao chiếu thư cho hạ quan, bảo hạ quan chờ ở bên ngoài. Nào ngờ là vương giá lâm triều.”
Rõ ràng, hiện tại đã không chỉ đơn thuần là chuyện đua ngựa nữa. Trâu Kỵ hít sâu một hơi, khép mắt lại, chìm trong suy nghĩ.
Bất đồ, Trâu Kỵ khẽ “a” lên một tiếng, đôi mày nhướng cao, mí mắt hé mở, như chợt hiểu ra điều gì, rồi nhìn sang Điền Anh.
“Tướng quốc?” Điền Anh cũng nhìn lại.
Trâu Kỵ lại ngẫm nghĩ một hồi, như thể đã khẳng định, bèn hướng về vương cung vòng tay vái lia lịa, giọng tràn đầy khâm phục: “Đại vương thánh minh!”
Điền Anh nhổm người về phía trước, hai mắt nhìn Trâu Kỵ không chớp, muốn nghe lời giải thích.
Trâu Kỵ bật cười vang mấy tiếng: “Xem ra cuộc đua năm nay khác hẳn với năm trước, thượng đại phu đã phụng vương chỉ chủ trì hội đua, hãy nên dốc hết tâm lực, cử hành cho thật long trọng!”
“Ồ...” Điền Anh vẫn mặt mày ngơ ngác. “Hạ quan ngu dốt, dám hỏi tướng quốc, cuộc đua năm nay vì sao lại khác trước đây?”
“Là vì chiến sự Hàm Đan!”
“Chiến sự Hàm Đan?” Điền Anh càng không hiểu.
“Thượng đại phu hãy xem!” Trâu Kỵ đĩnh đạc giảng giải. “Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ, ba nước phạt Triệu, Tần là chủ mưu, Trương Nghi từ chức tướng quốc nước Tần sang Ngụy, hất cẳng Huệ Thi, mục đích chỉ có một, kết Ngụy phạt Triệu, phá bỏ minh ước hợp tung để giải vây cho Tần. Triệu là nước khởi xướng hợp tung, Tô Tần là người khởi xướng hợp tung, kinh đô Triệu bị bao vây, ấu chúa Triệu tất trách cứ Tô Tần, Tô Tần chỉ còn biết cầu cứu các nước hợp tung, mà nước Tô Tần lựa chọn đầu tiên ắt là nước Tề. Đại vương hẳn đã đoán được Tô Tần đang trên đường tới Tề, nên mới hạ gấp chỉ lệnh, tổ chức hội đua ngựa trước mười ngày.”
“Ý tướng quốc là,” Điền Anh như đã hiểu ra, “đại vương không muốn xuất binh cứu Triệu, nên mượn hội đua ngựa để ứng phó với Tô Tần?”
“Đúng vậy!” Trâu Kỵ đáp lời. “Thượng đại phu hãy xem, Ngụy đánh Triệu, Triệu ắt liều chết chống cự. Ngụy, Triệu giao tranh, hai bên ắt đều thương vong. Ngụy được Tần trợ giúp, lại cấu kết với Trung Sơn, khí thế đang mạnh. Ta lúc này nếu như cứu Triệu, chính là đối đầu với thế mạnh, trở mặt với bạo Tần. Ta và bạo Tần cách xa nghìn núi muôn sông, không nên vì Triệu mà gây thù chuốc oán với Tần. Bởi vậy nên đại vương... ha ha ha...” Trâu Kỵ nói rồi nhịp ngón tay xuống mặt bàn, tâm tư vô cùng sảng khoái.
Điền Anh lúc này cũng bật cười. “Tướng quốc yên tâm, về hội đua ngựa, hạ quan nhất định sẽ dốc hết sức mọn, khuấy động đến từng ngóc ngách trên khắp nước Tề!” Rồi đứng dậy vòng tay. “Hạ quan xin được đi thu xếp!”
“Thượng đại phu dừng bước!” Trâu Kỵ giơ tay ngăn lại. “Trâu Kỵ còn có một điều muốn hỏi, nghe nói hội đua ngựa năm ngoái, các thành ấp đều không thiếu người cá cược, chuyện này có thật chăng?”
Điền Anh giật thột trong lòng, lại ngồi trở xuống.
Cá cược trong hội đua ngựa chính là biến tướng của đánh bạc, có thể nói là cơ hội tuyệt hảo để quan viên các phủ thu tiền hợp pháp. Do vậy, ngay từ hội đua ngựa lần thứ nhất, đã có những kẻ đầu óc nhanh nhạy nhờ dẫn dụ cá cược mà phát tài to. Hai hội đua tiếp theo, quan viên các cấp đua nhau đặt cược, cá cược đã trở thành trào lưu, đều thu về bộn bạc, phủ thượng đại phu chưởng quản hội đua ngựa, ngoài mặt sau lưng, đương nhiên cũng thu lời không ít. Đây là một mảnh ruộng màu mỡ cung cấp tiền bạc còn chóng vánh hơn cả phong ấp. Trâu Kỵ lúc này hỏi đến, dụng ý không nói cũng hiểu.
“Quả thực là có chuyện này!” Điền Anh không dám giấu giếm, bẩm báo chi tiết một lượt về nhà cái các vùng, cùng chuyện đặt cược, tỷ lệ phân chia.
“Nhà cái năm nay,” Trâu Kỵ nghe xong, nhổm người về phía trước hỏi, “thượng đại phu hẳn đã định đoạt?”
“Ý của hạ quan là, vẫn tuân theo quy cách của năm ngoái. Nếu tướng quốc đại nhân cảm thấy không ổn thoả, hạ quan sẽ huỷ bỏ toàn bộ nhà cái!”
“Đã thành quy cách rồi, sao có thể huỷ bỏ được?” Trâu Kỵ cười nói. “Hơn nữa, đến đại vương cũng còn đặt cược cả nghìn vàng, cho thấy cá cược là hợp với ý bề trên. Theo ý lão hủ, cá cược không những không nên huỷ, mà ngược lại, nên tăng cường gấp bội! Còn chuyện nhà cái, nếu như phủ doãn các nơi đều đã tham gia, thì phủ tướng quốc hẳn cũng nên góp vui, ý thượng đại phu thế nào?”
“Thế thì tốt quá!” Điền Anh thở phào nhẹ nhõm, cũng cười vài tiếng. “Có phủ tướng quốc tham gia làm nhà cái, hội đua ngựa năm nay chắc chắn sẽ khởi sắc chưa từng có.”
Tiễn Điền Anh về rồi, Trâu Kỵ lại ngồi thêm một lúc, rồi cho gọi quản gia lại, hai người đánh xe ra khỏi thành, tới thẳng bãi thả ngựa nhà mình.
Bãi thả ngựa của Trâu phủ mới được xây dựng vào năm kia, nằm dưới chân Tắc Sơn cách Lâm Truy hơn chục dặm về phía nam, chủ yếu là để hưởng ứng chiếu lệnh của Uy Vương. Lâm Truy địa thế nam cao bắc thấp, khắp vùng Tắc Sơn rừng cây rậm rạp, dưới chân núi vốn là ruộng vườn bát ngát, mấy năm gần đây thịnh hành nuôi ngựa, những mảnh ruộng này đa phần đã bị quý tộc trong thành khoanh thành bãi thả ngựa. Phủ tướng quốc tới sau mà vượt trước, chiếm lấy một mảnh tại đó, rộng chừng bốn tỉnh, bên trong nuôi trăm con ngựa, đều là ngựa tốt trăm con chọn một, hơn nữa ngày càng lớn mạnh thêm.
Trâu Kỵ đi xem xét một lượt các chuồng ngựa, rồi vòng về nhà chứa cỏ bên cạnh sân đua, ngồi nghỉ trên đài quan sát dựng tạm, đợi xem diễn tập đua ngựa. Một lát sau, ba cỗ xe đua đã qua tuyển lựa kỹ càng tề tựu ở sân đua, tổng quản trường ngựa Cừu Quy vừa phát hiệu lệnh, ba cỗ xe tứ mã đồng loạt lao vụt đi, bánh lăn rầm rập, cuốn bụi mịt mù. Trên ba cỗ xe chiến ghi rõ thứ hạng của ngựa đua, cứ thế lao vòng quanh sân đua. Tới vòng thứ năm, cỗ xe hạ đẳng đã bị bỏ lại tít phía sau, khoảng cách giữa xe ngựa thượng đẳng và trung đẳng dần dần xích lại, tới vòng cuối cùng, chỉ còn kém nhau đúng nửa thân xe.
Nhìn thấy Trâu Kỵ mặt mày rầu rĩ, Cừu Quy chỉ vào cỗ xe thượng đẳng, nói: “Bẩm chúa công, sở dĩ không thể kéo dài khoảng cách, là vì ngựa kéo xe. Bốn ngựa kéo xe thượng đẳng sức mạnh tương đương, ngựa thắng càng xe không thể bứt lên, không đảm đương được nhiệm vụ thống lĩnh ba ngựa còn lại, nên đã gây cản trở. Ngược lại, nhìn cỗ xe trung đẳng, ngựa thắng càng xe ngang sức với ngựa kéo xe thượng đẳng, nên có thể ung dung thống lĩnh ba con ngựa còn lại, xe ổn định mà chạy nhanh.”
Cừu Quy vốn là lái buôn ngựa đất Yên, giỏi nuôi ngựa, cũng am hiểu ngựa, hai năm trước gây ra án mạng ở nước Yên, bèn sang Tề lánh nạn, vừa hay Trâu phủ đang tuyển nhân tài nuôi ngựa, được Trâu Kỵ cất nhắc làm gia thần, cai quản bãi ngựa mới lập.
“Ồ...” Trâu Kỵ chau tít đôi mày hồi lâu. “Làm thế nào mới tìm được ngựa thắng càng thích hợp?”
“Ngựa kéo xe thượng đẳng đều là ngựa ký, một ngày có thể chạy tám trăm dặm, duy chỉ thiên lý mã mới có thể thống lĩnh được nó!”
“Thiên lý mã?” Trâu Kỵ hít ngược một hơi khí lạnh.
Cừu Quy khẽ thở dài một tiếng, ủ ê lắc đầu.
Tất cả đều đúng như dự tính. Sau hôm Tề Uy Vương ban chiếu tổ chức hội đua ngựa một ngày, Tô Tần từ Hàm Đan cuốn bụi suốt dọc đường tìm tới Lâm Truy, một xe một ngựa thẳng tiến vào cổng Tắc Môn phía tây thành, men theo con đường cái quan chạy giữa học cung Tắc Hạ, rong ruổi về đông, hai lá cờ lớn tung bay phấp phới trước sau cỗ xe, đặc biệt là lá cờ viết chữ “Tô” thật lớn cắm phía sau xe, càng thêm chói mắt dưới ánh nắng xuân rực rỡ đương lúc chính ngọ.
Xe Tô Tần chạy thẳng tới cung Tề, xin vào yết kiến Tề Vương. Nội thần túc trực ra đón, nói rằng Tề Vương không ở trong cung, đã tới trường đua ngựa rồi, còn nói hội đua ngựa sắp sửa diễn ra, quân thần nước Tề đều không còn tâm trí đâu mà lo quốc sự, khuyên Tô Tần tốt nhất đợi đến khi hội đua kết thúc hãy quay lại.
Đây là điều Tô Tần đã lường trước được, bởi lẽ khi sắp tới Lâm Truy, qua miệng ông chủ quán trọ, Tô Tần đã biết hội đua ngựa sẽ diễn ra sớm hơn thường lệ, và cũng đoán được rằng, nguyên do cử hành sớm hơn, có đến quá nửa là để đối phó với mình. Nhớ lại mấy năm về trước, khi tới nước Tề hợp tung, Tề Uy Vương đã đặc biệt bày ra cho mình cuộc thử thách Tắc Hạ, Tô Tần cười gượng một tiếng, bảo Trâu Phi Đao đánh xe quay lại trở về học cung Tắc Hạ.
Học cung Tắc Hạ vẫn giữ lại tòa trạch viện cho Tô Tần, còn có ba nô bộc thường xuyên quét dọn. Tô Tần sắp xếp xong xuôi, ăn qua loa chút trà bánh điểm tâm rồi sai Trâu Phi Đao đánh xe tới phủ Điền Kỵ.
Điền Kỵ không ở trong phủ, quản gia cho hay tối qua ông ta đã tới trường ngựa ở Nam Sơn. Tô Tần nhìn sắc trời, quyết định tới trường ngựa gặp Điền Kỵ. Thấy cỗ xe của Trâu Phi Đao chỉ có một ngựa kéo, lại mệt nhọc thấy rõ, quản gia bèn sai nô bộc dắt xe ngựa của Tô Tần vào chuồng ngựa ở hậu viện, tháo ngựa ra cho nghỉ ngơi, thay bằng một cỗ xe tứ mã, đích thân đưa Tô Tần lên đường tới trường ngựa.
Trường ngựa này, Điền Kỵ chăm chút đã nhiều năm, rộng gấp hơn hai lần so với trường ngựa của phủ tướng quốc, có đến gần năm trăm con ngựa, đa phần được lựa chọn từ trong nghìn vạn ngựa chiến. Trường ngựa có vài chục mã phu, gần trăm tay đánh xe cừ khôi, một khi xảy ra chiến sự, chỉ tính riêng gia binh, Điền Kỵ đã có thể xuất đến trăm cỗ xe chiến. Đây là một khối tài sản cự phách, cũng là nền móng vững vàng giúp Điền Kỵ dám ra mặt đối đầu với đám đại thần giữa chốn triều đường, bao gồm cả Trâu Kỵ.
Ráng chiều đỏ rực khắp trời, Điền Kỵ vẫn chưa hết cơn hào hứng, đang trò chuyện với mấy con ngựa cưng trong trường ngựa, hết vỗ về con này lại vuốt ve con kia. Mấy con ngựa mỗi con một kiểu biểu lộ niềm hoan hỷ. Thấy Tô Tần đến, Điền Kỵ vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, đưa cho Tô Tần một sợi dây cương, mình cũng dắt theo một con, để mấy con còn lại đi theo sau, vừa rong ngựa, vừa trò chuyện dọc theo trường ngựa. Tô Tần kể sơ qua về tình cảnh nguy khốn của Hàm Đan, Điền Kỵ cũng thẳng thắn thuật lại cuộc tranh luận trong triều đình.
“Phải rồi!” Tô Tần dừng bước. “Tại hạ suýt nữa thì quên mất một chuyện. Khi rời khỏi Hàm Đan, người Ngụy cản đường, nghe nói là tại hạ, Bàng Quyên đã đích thân tới gặp, nói là muốn bày tiệc tiễn đưa tại hạ. Được biết tại hạ muốn tới Tề cầu cứu, Bàng Quyên bèn giở giọng châm chọc, nói rằng ở trên đời này hắn chẳng sợ ai, chỉ sợ quân Tề, lại hỏi liệu Tề Vương sẽ cử ai cầm quân. Tại hạ có nhắc tới danh hiệu tướng quân, Bàng Quyên bèn nhờ tại hạ gửi lời nhắn tới tướng quân.”
Điền Kỵ biến ngay sắc mặt, cổ họng cũng cứng lại, chỉ ngắc ngứ được vài tiếng: “Hắn nói gì?”
“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Lời này... không nói là hơn!”
“Tô Tử cứ nói chớ ngại!” Điền Kỵ thúc giục.
“Tại hạ đi được một tầm tên bắn, Bàng Quyên còn gọi giật theo sau,” Tô Tần nhìn về phía tây, kéo dài giọng, bắt chước ngữ điệu của Bàng Quyên, “Tô huynh, hãy chuyển lời tới họ Điền rằng, tại hạ ở đây đợi hắn, bảo hắn dụng binh cho cẩn thận, lần này nếu lại để bị bắt sống, e là không còn cái vinh hạnh mặc váy bôi son nữa đâu!”
Dù đã lường trước, Điền Kỵ vẫn giận dữ đến thở phì phò, nắm tay siết chặt đến mức kêu lên răng rắc.
Nhẫn nhịn không quá ba hơi thở, Điền Kỵ bốc hoả đùng đùng, ném toẹt luôn dây cương xuống đất, chụp ngay lấy vạt áo Tô Tần nói: “Tô Tử, đi thôi, lập tức theo tại hạ tới Tuyết cung, cầu kiến đại vương, khởi binh hợp sức đánh thằng giặc kia!”
“Điền tướng quân!” Tô Tần xua tay nói. “Đại vương chí ở đua ngựa, không còn lòng dạ nào để bàn chính sự đâu!”
“Đua ngựa cái gì nữa?” Điền Kỵ thất khiếu bốc khói. “Họ Bàng làm nhục Đại Tề ta, đây là cố tình khiêu khích!”
“Điền huynh xin hãy nghe lời tại hạ!” Tô Tần nhặt dây cương ngựa lên, đặt lại vào trong tay Điền Kỵ. “Quân tử phục thù, mười năm chưa muộn. Điền huynh đã nhẫn nhịn chín năm rồi, đợi thêm vài ngày nữa cũng có hề gì?”
Điền Kỵ lại giậm chân vài cái, gắng gượng kìm nén cơn giận dữ.
Tô Tần thấy Điền Kỵ đã nguôi ngoai phần nào, mới vòng tay nói: “Điền huynh, các vị bận rộn với hội đua ngựa, tại hạ không có việc gì làm, lâu rồi không được gặp Tôn huynh, tại hạ muốn gặp gỡ để hàn huyên chuyện cũ.”
“Việc này thì dễ thôi!” Điền Kỵ đưa tay chỉ vào trong ngọn núi phía xa. “Tôn huynh ở tại sơn trang trước mặt!”
Hai người lập tức lên đường, đánh xe vào trong núi, đi chừng một canh giờ thì tới một thung lũng. Nói là thung lũng, kỳ thực là một khe cụt không có đường ra, đáy khe bằng phẳng, rộng khoảng trăm mẫu. Ngoài con đường dẫn vào trong khe, ba mặt khác đều là vách đá, cao tới vài chục trượng, đá nhiều đất ít, dựng đứng cheo leo. Trong kẽ đá cây cối um tùm, che khuất cảnh vật trong khe. Trên triền núi bên trái có thác nước đổ xuống, nước tuôn rào rào, nghe đến vui tai trong màn đêm tĩnh mịch.
Thung lũng này là sản nghiệp do tổ tiên Điền Kỵ để lại, truyền tới đời Điền Kỵ, liền cho xây tường cao trên các đỉnh dốc xung quanh, lại thiết kế cổng lớn ở ngay lối vào khe, cả ngày đóng kín, có nô bộc chuyên trông coi, người ngoài không được phép đặt chân vào, vừa là khu vườn nghỉ mát của Điền phủ, lại vừa làm chốn ẩn thân tạm thời những lúc nguy nan.
Trời đã tối hẳn. Điền Kỵ gọi người mở cổng sơn trang, đi thẳng vào trong.
Trong khe núi tối đen như mực, không một chút ánh sáng. Điền Kỵ đánh xe tới trước một gian nhà cỏ, nhảy xuống đất, cất giọng oang oang gọi: “Tôn huynh, tẩu phu nhân, có khách quý tới thăm!”
Âm thanh bên ngoài rõ ràng đã làm kinh động đến gian nhà cỏ từ nãy. Đèn nến vụt sáng, cánh cửa mở ra, một người đàn bà từ bên trong bước tới, cúi gập người vái chào. Nhận ra đó là Thụy Mai công chúa, Tô Tần cũng khom lưng đáp lễ, nói: “Tô Tần bái kiến tẩu phu nhân!”
Thụy Mai nhận ra Tô Tần, thì vô cùng mừng rỡ: “Đúng thực là khách quý! Phu quân nhà tôi chiều nay vừa mới nhắc tới Tô đại nhân.” Rồi lui sang một bên, nhường đường nói. “Tô đại nhân, Điền đại nhân, mời!”
Hai người vào phòng, Tôn Tẫn đã đợi sẵn bên trong. Huynh đệ gặp nhau, mừng vui khôn xiết. Phía này ba người hàn huyên tâm sự, phía kia Thụy Mai lúi húi trong bếp, chưa đầy nửa canh giờ, đã bưng lên mấy món ngon lành.
Tôn Tẫn tiếp hai người được vài tuần rượu, thì vào chuyện chính, cười hỏi Điền Kỵ: “Nghe nói hội đua ngựa tổ chức sớm hơn, đại vương treo thưởng nghìn đĩnh vàng, có chuyện này chăng?”
Điền Kỵ lập tức sầm mặt xuống, ực một hơi cạn sạch chén rượu, quẹt miệng nói: “Tôn huynh, uống rượu thì cứ uống đi, đừng nhắc tới chuyện không vui nữa!”
“Có chuyện gì không vui?”
“Đua ngựa!”
“Ha ha, đua ngựa chẳng phải là việc tướng quân yêu thích nhất ư?”
“Nếu là bình thường, đúng là thích nhất, nhưng lúc này,” Điền Kỵ thở dài một tiếng, cười gượng gạo, lắc đầu mà rằng, “chiến sự ở Hàm Đan vô cùng nguy cấp, đại vương lại hạ chỉ đua ngựa cược tiền, Tôn huynh nói thử xem, thế có sốt ruột không kia chứ?”
“Nói như vậy,” Tôn Tẫn quay sang Tô Tần, “Tô huynh tới đây cũng vì chiến sự Hàm Đan?”
Tô Tần gật đầu.
“Nhắc tới chuyện đua ngựa lần này, Tôn huynh cũng thực là đáng trách!” Điền Kỵ quay sang Tôn Tẫn, cất giọng trách móc.
“Cớ sao lại trách Tôn huynh?” Tô Tần ngạc nhiên.
“Không giấu gì Tô huynh,” Điền Kỵ có phân kích động, nói liền một mạch. “Ba năm trước, Tôn huynh bảo tại hạ tấu thỉnh đại vương tổ chức hội đua ngựa, không ngờ đại vương là kẻ mê ngựa, lập tức tán thành, hạ ngay chỉ lệnh cho thượng đại phu Điền Anh chủ trì, mỗi năm mở hội đua ngựa một lần vào sau vụ xuân tháng ba. Hiện tại, vụ xuân còn chưa tới, Hàm Đan lại quân tình nguy cấp, đại vương không bàn chuyện xuất binh cứu Triệu, ngược lại còn xuống chiếu cho mở hội đua ngựa sớm hơn lệ thường, thực khiến người ta...” Rồi lắc đầu nặng nề, thở dài sườn sượt, đấm mạnh xuống mặt bàn.
“Nói tới đua ngựa, tại hạ lại có điều muốn hỏi!” Tôn Tẫn thong thả cất lời, nheo mắt nhìn sang Điền Kỵ.
“Cứ hỏi!” Điền Kỵ nhìn lại, vẫn chưa hết bực bội.
“Năm nay có tổng cộng bao nhiêu xe ngựa dự thi?”
“Tính cả năm đô, không dưới ba trăm cỗ xe, một nghìn hai trăm ngựa kéo.”
“Một nghìn hai trăm ngựa kéo!” Tôn Tẫn nhắm mắt một lát, rồi ngẩng đầu hỏi tiếp. “Nếu như chiêu mộ, theo tính toán của tướng quân, trong vòng mười ngày, nước Tề có thể trưng dụng được bao nhiêu ngựa?”
Điền Kỵ gập ngón tay nhẩm tính, lẩm bẩm: “Ngựa đua ba cấp thượng, trung, hạ, nếu tính ba mươi chọn một, cũng phải tới ba vạn sáu nghìn con, cộng thêm những con khác, có lẽ sẽ trưng dụng được bốn vạn con.”
“Bốn vạn con?” Tôn Tẫn khẽ chau mày, lắc đầu. “Vẫn hơi ít!”
“Cái gì? Hơi ít?” Điền Kỵ trợn trừng con mắt. “Bốn vạn con ngựa có thể trưng dụng, nếu dùng vào kéo xe thì cũng đủ cho một vạn cỗ xe chiến tứ mã, xếp vào trận quân, thiên hạ vô địch!”
“Điền tướng quân!” Tôn Tẫn cứ như thể không nghe thấy, lại hỏi tiếp. “Trong số binh sĩ của tướng quân, bao nhiêu người có thể bỏ xe cưỡi ngựa?”
“Gì kia?” Điền Kỵ sửng sốt. “Vì sao lại muốn họ bỏ xe cưỡi ngựa?”
“Tướng quân còn chưa trả lời câu hỏi của tại hạ!”
“Có thể bỏ xe cưỡi ngựa, có lẽ khoảng ba nghìn người!”
“Tại hạ còn một câu hỏi, tướng quân có mong quyết chiến một trận với Bàng Quyên chăng?”
“Lại còn phải hỏi?” Điền Kỵ siết chặt nắm tay. “Tại hạ đến trong mơ cũng muốn băm vằm tên khốn đó thành trăm nghìn mảnh!”
“Nếu nói như vậy, tướng quân có thể để ba nghìn người này huấn luyện ra được ba vạn kỵ sĩ trong vòng một tháng không?”
“Ba vạn?” Điền Kỵ kinh ngạc.
“Điền tướng quân!” Tôn Tẫn mỉm cười, lại bồi thêm một câu. “Nếu muốn thủ thắng, việc này cần đảm bảo bí mật, còn như hiện tại, tướng quân hãy cứ an tâm dốc sức vào đua ngựa. Đại vương đã treo thưởng nghìn đĩnh vàng, tướng quân cũng nên giành lấy giải đầu mới đúng.”
“Được!” Điền Kỵ cất giọng sang sảng đáp lời. “Tô huynh, Tôn huynh, hai vị cứ từ từ thưởng thức rượu ngon món ngon của tẩu phu nhân, tại hạ lập tức trở về chuẩn bị, thề phải giành lấy giải đầu!” Rồi lần lượt vòng tay vái chào hai người, đứng dậy ra về luôn.
Đêm đã về khua, trong Tuyết cung một màu tăm tối. Thái tử Tích Cương thần sắc căng thẳng, theo sau nội tể, hấp tấp sải bước vào trong chính điện.
Dưới ánh đèn, Uy Vương ngồi ngay ngắn trên chiếu, rõ ràng đang chờ thái tử. Tề Uy Vương hiếm khi triệu kiến quần thần vào ban đêm, lần này gọi thái tử tới, chắc chắn là đã xảy ra chuyện lớn.
“Nhi thần khấu kiến phụ vương!” Tích Cương phủ phục dưới đất, giọng nói hơi run run.
Uy Vương phẩy tay, chỉ vào vị trí đối diện, thấy Tích Cương đã ngồi vào chỗ, lập tức nói thẳng vào chuyện: “Cương nhi, phụ vương cho vời con tới, không vì chuyện khác, mà chính là chuyện đua ngựa.”
“Chuyện đua ngựa?” Tích Cương nhìn sang Uy Vương, có phần ngỡ ngàng. “Dám hỏi phụ vương, chuyện đua ngựa thế nào?”
“Tôn ái khanh.” Uy Vương nhìn sang bên phải. “Khanh hãy nói cho thái tử biết, chuyện đua ngựa thế nào?”
Tích Cương đưa mắt nhìn theo, lúc này mới thấy chỗ đối diện có một người đang ngồi, chính là mã sư cung đình Tôn Duyệt. Do Tôn Duyệt vận trang phục đen, lại vừa hay ngồi chỗ khuất sáng nên Tích Cương trong lúc vội vã đã không nhận ra.
“Khởi bẩm điện hạ!” Tôn Duyệt vòng tay nói. “Hội đua ngựa trước đây đều do thượng đại phu Điền Anh chủ trì, năm nay đại vương triệu thần tới bàn bạc chuyện này, thần cho rằng, hội đua ngựa năm nay không như thường lệ, mới đề nghị điện hạ chủ trì. Đại vương lập tức ân chuẩn, nên mời điện hạ tới cùng bàn đại sự.”
Thấy là chuyện này, Tích Cương thở phào một tiếng, tâm tư nhẹ nhõm hẳn, nhìn sang Tôn Duyệt. Tôn Duyệt là hậu duệ đời thứ tám của mã sư nổi tiếng Bá Nhạc Tôn Dương thời Tần Mục Công, đời đời sống ở đất tổ Cáo Ấp. Cáo Ấp vốn là đô thành của nước Cáo, Cáo thất đã tuyệt tự từ trăm năm trước, lãnh thổ bị nước Tống thôn tính, ba mươi năm trước cắt cho Tề, hậu duệ của Bá Nhạc cũng theo đó mà trở thành dân Tề. Còn như Tôn Duyệt, do tinh thông thuật xem tướng ngựa tổ truyền mà được Uy Vương trọng dụng, đặc biệt cất nhắc làm mã sư của vương thất, chức quan tới đại phu, mười năm qua đã tìm kiếm cho vương thất được vài con thiên lý mã, còn ngựa hay thì chật ních trong chuồng. Nước Tề mấy lần đua ngựa, mà địa vị vương mã cho tới nay vẫn không hề suy suyển, đều là nhờ công lao của Tôn Duyệt.
Tích Cương nở một nụ cười, vòng tay đáp lễ, nói: “Tích Cương dốt nát kém cỏi, năm nay vì sao lại khác với trước đây, còn nhờ tiên sinh chỉ giáo!”
“Điện hạ cười chê nô tài rồi!” Tôn Duyệt cười đáp, rồi cất giọng dõng dạc. “Đua ngựa trước đây, chỉ là đua ngựa. Còn đua ngựa năm nay, ngoài đua ngựa còn có thêm một cuộc đua khác, chính là đua tiền!”
“Đua tiền?” Tích Cương hít vào một hơi thật sâu, ngả người về phía trước, sốt sắng hỏi lại.
“Theo thần được biết, nhà giàu có trong các đô ấp, không ai không đặt cược vào đua ngựa, ít thì vài đĩnh vàng, mà nhiều thì vài trăm đĩnh, thậm chí có người còn hơn thế nữa, đánh cược tới nghìn đĩnh vàng, vì thế nên thần mới nói là đua tiền.”
“Cương Nhi!” Uy Vương tiếp lời, cố tình kéo dài giọng. “Ngựa cũng tốt, mà tiền cũng tốt, đều là quốc lực. Thứ mang ra đua đã là quốc lực, thì nhất thiết không được qua loa đại khái, con phải tận tâm tận lực, không được sơ suất!”
“Phụ vương!” Thấy Uy Vương nhắc tới quốc lực, Tích Cương đột nhiên bừng tỉnh, hạ giọng bẩm báo. “Ba nước điều quân tới Triệu, Bàng Quyên vây khốn Hàm Đan, Tô Tần thỉnh cầu viện trợ, tình thế quá ư cấp bách!”
“Người Ngụy phạt Hàm Đan,” Uy Vương mỉm cười, liếc thái tử một cái, “chứ đâu phải là Lâm Truy, con sốt ruột gì kia?”
“Phụ vương?” Tích Cương ngỡ ngàng.
“Tích Cương!” Uy Vương thu lại nụ cười, nhổm người về phía trước. “Con nên nhớ, năm xưa Ngụy phạt Trung Sơn, có Văn Hầu anh minh, có Nhạc Dương, Ngô Khởi mưu trí, có võ binh Đại Ngụy hùng mạnh, vậy mà phải mất ba năm mới phá nổi, huống hồ ngày nay phạt Triệu?”
Tích Cương dường như đã hiểu ra, khẽ gật đầu.
“Hơn nữa, con lấy gì để đánh? Chiến tranh cần có tiền bạc, lương thảo. Quả nhân đã hỏi kỹ rồi, lương thảo tuy rằng không thiếu, song tiền bạc không đủ. Không có tiền, lấy đâu ra binh khí, quân nhu? Tiền ở đâu? Tiền ở trong tư khố của hộ giàu có các ấp. Làm thế nào mới khiến cho họ cam tâm tình nguyện bỏ ra? Chính là cá cược! Cho nên trong cuộc đua này, đua ngựa chỉ là thứ yếu, đua tiền mới là chủ chốt! Con có thể truyền ý chỉ của quả nhân, cấm chỉ năm đô lập nhà cái, tất cả nhà cái đều quy về vương thất quản lý!”
Thấy phụ vương tính toán tới nước này, Tích Cương lập tức bừng tỏ, thán phục sát đất, nhắm mắt suy ngẫm một hồi, dường như sực nhớ ra điều gì, bèn ngập ngừng lên tiếng: “Đúng là tuyệt diệu. Chỉ có điều quan lại các cấp, nhà cái các nơi, sớm đã rậm rịch chuẩn bị, đổ bao tâm huyết vào hội đua ngựa năm nay, nếu thình lình cấm chỉ năm đô lập nhà cái, e là sẽ khiến họ nhất thời...”
“Phải, ý con là lửa không thể dập vội!” Uy Vương gật đầu lia lịa, trầm ngâm một lát. “Vậy thì, hãy truyền chỉ Điền Anh, nhà cái ở năm đô vẫn do năm đô thiết lập, song cá cược trong cuộc quyết đấu sau cùng, phải do vương thất lập nhà cái, người khác không được can dự vào!”
“Nhi thần tuân chỉ!”
“Còn nữa,” Uy Vương nhìn sang Tôn Duyệt, “Tôn ái khanh, theo nhãn lực của khanh, hội đua năm nay, liệu có ngựa nhà nào có thể đọ tài cao thấp cùng vương mã?”
Tôn Duyệt lắc đầu.
“Ngựa của năm đô, liệu có con nào có thể đọ tài cao thấp cùng ngựa của phủ Điền tướng quân?”
Tôn Duyệt vẫn lắc đầu.
“Thế thì không thoả đáng!” Uy Vương ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi lắc đầu nói. “Sức mạnh chênh lệch quá lớn, cuộc đua sẽ không còn thú vị. Không còn thú vị, sẽ không thể kích thích. Không thể kích thích, thì còn có ai dám đứng ra làm nhà cái nữa?”
“Nếu nói như vậy,” Tôn Duyệt cười nói, “thần xin có một chủ ý!”
“Ái khanh cứ nói!”
“Có thể đọ tài cao thấp với ngựa đua của phủ Điền tướng quân, có lẽ là ngựa của Trâu tướng quốc, song ngựa của Trâu tướng quốc thua ở tứ mã thượng đẳng, là vì trong đó thiếu một con ngựa thắng càng xe hợp ý. Nếu như...” Tôn Duyệt dừng lại nửa chừng.
“Nói tiếp đi!” Uy Vương nhìn sang.
“Hai tháng trước, thần tìm được ở Trung Sơn một con tuấn mã, đặt tên là Như Phong, hiện tại bên ngoài vẫn chưa ai hay biết. Nếu đại vương không tiếc, thần xin...”
“Đi mau!” Uy Vương phẩy tay chặn lời Tôn Duyệt. “Cứ theo ý của ái khanh, nhất thiết phải sắp xếp cho ly kỳ vào. Mà phải rồi, con ngựa này đã tiêu tốn bao nhiêu kim khố của quả nhân?”
“Hai trăm đĩnh!”
“Nghe nói người nhà tướng quốc kinh doanh muối và thép, sản nghiệp không hề nhỏ, cái giá này...” Uy Vương hất hàm, nheo nheo mắt lại.
Tôn Duyệt hiểu ý, vòng tay nói: “Thần lĩnh chỉ!”
“Thiên lý mã?” Trâu Kỵ hai mắt sáng rực, hít sâu một hơi, ngả hẳn người về phía trước, nhìn trừng trừng vào môn khách Công Tôn Hãn vừa tới phủ. “Ngươi dám khẳng định?”
“Hồi bẩm chúa công!” Công Tôn Hãn có vẻ ngập ngừng. “Thần không am hiểu về ngựa, chỉ là sáng nay đi dạo ở chợ ngựa, tình cờ gặp một người bán con ngựa đang cưỡi. Thần quan sát thấy con ngựa đó hình thể tráng kiện lạ lùng, tiếng hí vang tận mây xanh, đoán rằng chẳng phải ngựa thường, cũng vì nhất thời hiếu kỳ, nên tiến lại hỏi giá. Người này mở miệng liền đòi ba trăm đĩnh, không bớt một đồng. Ba trăm đĩnh đúng là cái giá trên trời, thần vô cùng sửng sốt, quay trở về chỗ ở, bèn đem chuyện này kể với mọi người, mới biết chúa công đang khao khát ngựa quý, chỉ sợ làm lỡ đại sự của chúa công, nên mạo muội tới cầu kiến.”
“Con ngựa đó hiện đang ở đâu? Chủ ngựa là ai?” Trâu Kỵ vội hỏi.
“Chợ ngựa phố Bắc Nhai, thần chưa hỏi tên chủ ngựa, quan sát diện mạo, có lẽ là người Hồ đất Bắc, nói rằng vì hội đua ngựa nên mới đặc biệt tìm tới đây, giữa đường gặp mưa, do xót ngựa mà lỡ mất hành trình. Hôm qua mới tới chợ ngựa, muốn tìm chủ mới cho con ngựa này.”
Trâu Kỵ trầm ngâm một lát, thảo ngay một bức thư, đưa cho Công Tôn Hãn, nói: “Ngươi hãy cầm bức thư này, tới ngay trạch phủ của mã sư cung đình Tôn đại nhân, thỉnh cầu Tôn đại nhân cất công tới chợ ngựa phố Bắc Nhai một chuyến!”
Công Tôn Hãn vâng lệnh, vội vã đi ngay. Trâu Kỵ thay đổi trang phục, dặn quản gia chuẩn bị đủ ba trăm đĩnh vàng, chia làm ba rương xếp lên xe, dẫn theo vài chục gia thần tiền hô hậu ủng tiến thẳng tới phố Bắc Nhai, vào trong chợ ngựa. Công Tôn Hãn đã cung kính chờ sẵn ở bên ngoài nhà người Hồ, nói Tôn đại nhân sốt sắng không thể chờ đợi, đã theo người Hồ kia tới sân sau xem ngựa rồi. Trâu Kỵ không kịp hỏi han gì thêm, cứ thế ba chân bốn cẳng chạy theo Công Tôn Hãn tới tàu ngựa. Từ xa đã nhìn thấy Tôn Duyệt đang vuốt ve vành tai một con tuấn mã, miệng lẩm bẩm điều gì, hẳn là đang trò chuyện với ngựa. Tuấn mã đứng im phăng phắc, cứ như thể đang lắng nghe. Một hán tử tráng niên vận trang phục Hồ, râu quai nón, đứng dựa người vào cây cọc buộc ngựa, mặt mày dương dương tự đắc.
“Làm phiền Tôn đại nhân rồi!” Trâu Kỵ tiến lên một bước, vòng tay về phía Tôn Duyệt. “Công Tôn Tử tiến cử ngựa này, lão hủ mắt kém, nên thỉnh cầu đại nhân tới đây, là muốn nhờ cặp huệ nhãn của đại nhân xem thử!”
“Tạ ơn tướng quốc yêu mến, Tôn Duyệt hổ thẹn không dám nhận!” Tôn Duyệt rời khỏi con ngựa, vòng tay vái mà nói. “Tướng quốc nếu có việc cần, Tôn Duyệt nguyện dốc sức mọn.”
“Tôn đại nhân, vậy ngựa này...” Trâu Kỵ vô cùng nôn nóng, hỏi thẳng vào đề.
“Tướng quốc hãy xem!” Tôn Duyệt quay trở về bên tuấn mã, chỉ vào các bộ phận trên cơ thể ngựa mà tán thưởng luôn miệng. “Ngựa này sắc lông thuần nhất, đầu như đầu thỏ lột, hai mắt lồi ra, tròn mà ướt, to mà sáng, trông như chuông rủ, mũi to mà vuông, sắc đỏ như máu, miệng đỏ sáng bóng, môi trên xéo lại vuông, môi dưới phẳng lại nhiều vân, răng trên như móc câu, răng dưới như lưỡi cưa, tai căng mà ngắn, cứng dài hai tấc, hình như trúc vót, sống lưng to mà rộng, bằng phẳng mà cân đối, bụng đầy đặn, đùi chắc thịt dày, âm nang ngược với chiều lông, ẩn vào trong bụng, mông mỏng mà rộng, xương sườn có mười hai chiếc, tam phủ chỉnh tề, xương to mà dài, đuôi cứng lại khoẻ, xương đuôi cao mà rủ, chân trước thon dài, nách mở rộng, xương đùi ngắn mà cứng, vai rộng lại dài, miệng hùm mở rộng, rãnh mồ hôi sâu mà rõ...”
Tôn Duyệt dốc hết bản lĩnh nhà nghề, thao thao bất tuyệt tán dương con ngựa khắp một lượt trên dưới trong ngoài, bởi dùng toàn từ ngữ chuyên về ngựa, nên dù Trâu Kỵ là người trí tuệ, nhưng nghe cứ ù ù cạc cạc như lạc trong sương mù, song trong lòng hiểu rõ đã gặp được ngựa quý. Khó khăn lắm mới chờ được tới lúc Tôn Duyệt ngừng lời, bèn khẽ giọng hỏi: “Theo ý của tiên sinh, ngựa này...”
“Chính là thiên lý mã!” Tôn Duyệt một lời chắc nịch.
Trâu Kỵ chẳng nói thêm một lời, quay đầu lại, hất hàm với quản gia.
Quản gia lập tức sai nô bộc khiêng ba chiếc rương xuống, nói với người Hồ: “Khách nhân, tuấn mã này, chúa công nhà tôi xin mua. Ba chiếc rương này, mỗi rương đựng một trăm đĩnh vàng, xin khách nhân kiểm lại.”
“Ba trăm đĩnh?” Người Hồ nhún vai, khẽ lắc đầu.
“Ơ!” Quản gia nhìn sang Công Tôn Hãn.
“A?” Công Tôn Hãn quýnh quáng. “Chẳng phải hôm qua anh đã nói là ba trăm đĩnh rồi ư?”
“Đó là hôm qua!” Người Hồ cười. “Hôm nay không có giá này nữa!”
“Sao lại thế...” Công Tôn Hãn thấy mất mặt, đang định cãi lý thì quản gia xua tay, khoé miệng nặn ra một nụ cười, đổi cách xưng hô, trong giọng nói không còn vẻ khách sáo: “Khách thương, hãy ra giá đi!”
“Không giấu quan gia,” Người Hồ kia vẫn giữ nụ cười trên môi, “vừa rồi có rất nhiều đại nhân tới xem ngựa, giá đã tăng rồi, có người áp đảo quần hùng, ra giá bốn trăm năm mươi đĩnh, đang trở về phủ lấy vàng, để lại thanh kiếm này làm tin!” Người Hồ nói đoạn, bước tới bên tường, lấy ra một thanh kiếm.
Quản gia cầm lấy thanh kiếm, xem xét cẩn thận, thấy cuối chuôi tạc một chữ Điền, đoán là người của phủ Điền Kỵ, trong lòng giật thột, song ngoài mặt vẫn bình thản như không, đưa trả bảo kiếm, nói: “Khách thương xin đợi một lát!”
Quản gia bước về phía chuồng ngựa, ghé sát tai Trâu Kỵ thì thầm một hồi. Trâu Kỵ hít ngược một hơi khí lạnh, vuốt râu một lát, rồi giơ ra năm ngón tay, hất hàm ra hiệu. Quản gia hiểu ý, quay trở về chỗ người Hồ, cũng bắt chước xỉa năm ngón tay ra, chỉ vào ba chiếc rương nói: “Ngựa này phủ tôi nhất quyết mua, đây là vàng đặt cọc, chỗ còn lại sẽ mang tới trả đủ trong vòng một canh giờ nữa!”
Người Hồ gật đầu đồng ý. Quản gia không chút chậm trễ, sai nô bộc tâm phúc trở về phủ lấy vàng, rồi lôi thẻ tre, mực ra viết khế ước, ký tên điểm chỉ với người Hồ kia, trước sau chưa đầy một khắc, cuộc mua bán đã hoàn tất.
Có lẽ đi xa thấm mệt, sau khi gặp Tôn Tẫn lại quá chén, nên Tô Tần vừa đặt lưng xuống đã ngủ một mạch tới tận trưa ngày hôm sau.
Khi Tô Tần tỉnh dậy, thấy Tôn Tẫn ngồi đợi bên giường, đang nhìn mình chăm chú, không biết đã ngồi như thế bao lâu rồi. Tô Tần trong lòng chua xót, cảm động tới suýt rơi lệ, vội vàng dụi mắt, trở dậy vái mà nói: “Tôn huynh...” Giọng nói đã có phần nghẹn ngào.
“Tô huynh ngủ say quá!” Tôn Tẫn cười. “Hẳn mấy ngày qua không lúc nào tròn giấc?”
“Đúng vậy!” Tô Tần cười đáp. “Chỉ ở chỗ Tôn huynh, mới có được một giấc ngủ ngon!”
Trong lúc nói chuyện, Thụy Mai bưng chậu đồng vào, mang khăn lụa lại, hầu Tô Tần rửa mặt, súc miệng, sau đó đẩy chiếc xe lăn mà Điền Kỵ chế riêng cho Tôn Tẫn, dẫn Tô Tần vào trong vườn mai phía sau nhà.
Tới lúc này, Tô Tần mới phát hiện ra bụng Thụy Mai hơi nhô cao, rõ ràng đã mang thai, thì vô cùng cảm khái.
Vườn mai rất rộng, phải đến vài mẫu vuông, mới được trồng ba năm trước, nên thân cây phần nhiều mới chỉ to bằng quả trứng gà, đều chưa kết trái, chỉ có một gốc mai già to bằng miệng bát do Điền Kỵ sai người bứng tới trồng, qua hai mùa mưa móc thấm nhuần, lại được Thụy Mai tận tình chăm chút, năm nay rễ đã vươn sâu cắm chắc, cành lá sum suê, quả xanh trĩu cành, đều đã to bằng quả táo, khiến Tô Tần không khỏi mường tượng tới khung cảnh diễm lệ hoa nở đầy cành trong tiết tháng chạp mùa đông giá lạnh. Giữa vườn mai có một hồ sen, rộng chừng nửa mẫu, lá sen xanh ngát một màu, hệt như những tán quạt tròn xoe, nhưng không thấy một bông sen nào, có lẽ vì chưa đến mùa. Vào lúc bắt đầu hợp tung, Tô Tần từng nghe phó sứ nước Ngụy công tử Ngang kể chuyện gả em gái Thụy Liên cho Bàng Quyên, nói nàng và chị gái Thụy Mai tình như tay chân, nên thầm nghĩ hồ sen này hẳn là Thụy Mai trồng vì em gái.
Bàn ăn được kê ngay phía dưới cội mai già. Thụy Mai sắp xếp Tôn Tẫn, Tô Tần ngồi xuống trước bàn ăn, hai tỳ nữ bưng bát đũa, thức ăn tới. Tô Tần ăn uống thoải mái cho đến kỳ no. Thụy Mai thu dọn xong, bảo người hầu lui ra, để Tôn Tẫn và Tô Tần tiếp tục hàn huyên.
Nhìn theo bóng Thụy Mai vác bụng bầu đi xa dần, Tô Tần vòng tay về phía Tôn Tẫn nói: “Chúc mừng Tôn huynh, tẩu phu nhân đã có tin vui!”
“Ha ha ha, vui lắm, vui lắm, còn một tin vui nữa!” Tôn Tẫn cười rạng rỡ, quay sang gọi Thụy Mai. “Mai Nhi, đưa Cúc Nhi lại đây, cho Tô huynh bế nào!”
Thụy Mai ngoảnh lại nói: “Cúc Nhi theo Trâu huynh ra thác nước chơi rồi, không có nhà, xin Tô huynh hãy đợi cho một lát.”
“Được!” Tôn Tẫn đáp lời, quay sang Tô Tần. “Xem ra Tô huynh phải chờ rồi.”
“Cúc Nhi là...” Ánh mắt Tô Tần dò hỏi.
“Là cháu gái cả của Tô huynh đó, đã tròn hai tuổi, rất nghịch ngợm!”
“Tuyệt, tuyệt, đúng là tuyệt vời!” Tô Tần vòng tay lia lịa. “Chúc mừng Tôn huynh. Tôn huynh trước hết có được tẩu phu nhân, sau được Cúc Nhi, giờ lại quả treo đầu cành, Tô Tần vô cùng ngưỡng mộ!”
Tôn Tẫn bật cười vui vẻ: “Không giấu Tô huynh, tại hạ cũng chỉ có chút phúc báo này, có Mai, có Cúc, nếu lần này ông trời rủ lòng thương, cho mọc ra được tùng được bách, cũng coi như là trọn vẹn với tổ tông nhà họ Tôn!”
“Than ôi!” Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, quay sang nhìn những quả xanh đơm trĩu đầu cành. “Mấy huynh đệ chúng ta, Quỷ Cốc vừa từ biệt, chớp mắt đã xa vời, nếu Trương huynh, Bàng huynh cũng có mặt ở đây, huynh đệ chúng ta sẽ nâng chén chúc mừng Tôn huynh tin vui liên tiếp, cùng mong cho họ Tôn có được người nối dõi, thì tốt biết bao!”
“Cảm tạ ý tốt của Tô huynh!” Tôn Tẫn vòng tay. “Nghe nói Trương huynh lấy được con gái của Ngô quốc công họ Công Tôn, rất mực hiền thục, Bàng huynh có được công chúa Thụy Liên, cũng rất đẹp đôi, hẳn đều đã con cái đề huề. Duy có Tô huynh, Tẫn chưa từng nghe nói đến chuyện gia thất, rất đỗi băn khoăn, ở đây không có người ngoài, dám hỏi Tô huynh, liệu có thể tiết lộ một hai, để Tẫn được chia vui cùng không?”
Tô Tần ngoảnh mặt sang bên, thẫn thờ nhìn vào hồ sen cách đó không xa. Lá sen xanh mướt, đọt non đâm lên tua tủa, che phủ quá nửa mặt nước hồ, do vẫn đang xuân, chưa thấy ếch kêu bướm lượn. Tô Tần thu lại ánh nhìn, khép mắt một lát, thân tâm hoàn toàn thả lỏng, rồi không hề đề cập tới Tiểu Hỷ, chỉ kể lại từ đầu tới cuối chuyện mình với Cơ Tuyết, không giấu giếm điều gì, khiến Tôn Tẫn nghe mà xuýt xoa mãi không thôi.
“Không giấu Tôn huynh,” Tô Tần sắc mặt rầu rĩ, trút hết nỗi lòng, “nếu ông trời không thương xót, lúc này đây, e là công chúa cũng... cũng đã giống như tẩu phu nhân rồi!”
Tôn Tẫn hít vào một hơi dài, trầm ngâm suy nghĩ.
“Tôn huynh!” Tô Tần trong lòng trăm mối tơ vò. “Nếu công chúa mang thai thực, e là không phải hỷ sự, mà là tai hoạ. Tại hạ thì không đáng sợ, nhưng còn công chúa...”
“Tuyết công chúa nói rất phải!” Tôn Tẫn ngẩng đầu, mỉm cười. “Tất cả đều là ý trời. Nếu đã là ý trời, Tô huynh cũng nên thuận theo. Nghe Tô huynh vừa nói, công chúa là người thận trọng. Nàng có ý này, hẳn đã sắp xếp ổn thoả mọi chuyện, Tô huynh cũng không nên lo lắng. Hơn nữa, từ thời Xuân Thu, lễ nghi sớm đã băng hoại, giữa Tô huynh và công chúa, tình sinh ở trong, nghĩa vẹn ở ngoài, thực là hợp với ý trời, không phải là nhất thời dâm dật. Đạo tuân theo tự nhiên, chứ không phải quy củ do con người đặt ra, tại hạ và huynh đều theo tiên sinh học đạo nhiều năm, Tô huynh cũng chớ nên câu nệ lễ nghi Nho môn mà làm khó cho mình.”
“Được Tôn huynh giảng giải,” Tô Tần cười đáp lời, “tại hạ đã thấy yên tâm phần nào.” Rồi thu lại nụ cười. “Phải rồi, nhắc tới tiên sinh, tại hạ vừa hay có việc cần thỉnh giáo. Sáu nước hợp tung, tại hạ vốn cho rằng, loạn cục liệt quốc sẽ được thay đổi. Nào ngờ thiên hạ ngày càng hỗn loạn, tại hạ hoang mang, suy nghĩ mãi mà không tìm ra cách, vừa hay ngang qua Quỷ Cốc, bèn trở về chốn cũ, định thỉnh cầu tiên sinh giải đáp bến mê. Tiên sinh không chịu lộ mặt, chỉ sai đại sư huynh mang một bài thơ đến tặng, tại hạ bất tài, tới nay vẫn chưa ngộ ra. Các huynh đệ trong cốc, ngoài đại sư huynh, duy có Tôn huynh là tại hạ thực lòng thán phục. Lần này cầu kiến, một là để thoả nỗi khổ nhớ mong, hai là muốn thỉnh cầu Tôn huynh giải thích giúp thơ này!”
“Tô huynh quá lời rồi!” Tôn Tẫn ngửa cổ cười mà nói. “Tuy nhiên, dám hỏi tiên sinh đã tặng thơ gì?”
“Tung hoành thành cục, giữ lấy điều trung. Thiên hạ đại ngã, công tư tư công.” Tô Tần ngâm nga.
Tôn Tẫn ngẫm nghĩ một lát, ngẩng đầu cười nói: “Tâm của Tô huynh gần với tiên sinh nhất, Tô huynh còn không ngộ ra, thì tại hạ nào dám đoán bừa.”
“Nhìn sắc mặt Tôn huynh, hẳn đã có điều lĩnh ngộ, tại hạ xin cung kính lắng nghe!” Tô Tần vòng tay chờ đợi.
“Chỗ Tô huynh chưa hiểu, hẳn là câu cuối cùng, công tư tư công!”
“Đúng vậy!” Tô Tần gật đầu.
“Tiên sinh giỏi chuyện huyền hư, câu này có lẽ là thời vận của đạo trời, chỗ này Tô huynh mãi chưa lý giải được, hẳn là vận số chưa tới, Tô huynh bất tất phải nhọc lòng suy đoán. Còn như chuyện thiên hạ phân tranh khiến Tô huynh lo lắng, Tẫn tuy bất tài, cũng nguyện chia sẻ một hai phần với Tô huynh.”
Tô Tần kể sơ qua một lượt về tình hình liệt quốc từ sau khi sáu nước hợp tung đến nay, rồi khắc khoải nói: “Trương Nghi nay đã từ chức tướng quốc Tần, tới Ngụy liên hoành, ép đuổi Huệ Thi, giành chức tướng quốc Ngụy, bí mật cấu kết Bàng Quyên, liên minh Tần, Trung Sơn, ba lộ phạt Triệu. Triệu là nước khởi xướng hợp tung, Trương Nghi ngoài mặt phạt Triệu, thực chất là nhằm vào hợp tung. Nay Hàm Đan bị bao vây, ải Phẫu thất thủ, Triệu thất khác nào bị chém ngang lưng thành hai đoạn, nguy trong sớm tối. Bàng Quyên, Trương Nghi đều là kẻ hiếu chiến, nhìn vào thế này, ắt muốn diệt Triệu. Triệu vong, Hàn tất nguy, Trung Sơn rồi cũng sẽ diệt. Tam Tấn nếu như nhất thống, Tần, Ngụy ắt hợp lực đánh Tề, Tề cũng sẽ lâm nguy!”
“Điều Tô huynh lo lắng, e rằng không phải Tề lâm nguy, mà là thiên hạ lâm nguy!”
“Than ôi!” Tô Tần vòng tay, thở dài thườn thượt. “Suy nghĩ của tại hạ, Tôn huynh đều đã thấu tỏ. Thiên hạ mất tung mà thành hoành, dù có đổ máu, cũng chưa hẳn là không được. Vấn đề là ở chỗ, thiên hạ tuyệt đối không được để Tần nhất thống, Tần pháp nếu không trừ bỏ, thiên hạ do Tần nhất thống, ắt nguy!”
“Nếu nói như vậy, Tô huynh cớ sao không khuyên can Trương huynh, khiến Tần từ bỏ Tần pháp trước, rồi mới nhất thống thiên hạ, chẳng phải tốt hơn ư?”
“Than ôi!” Tô Tần lắc đầu nói. “Tại hạ đã nghĩ rồi, đây là nút chết, không thể gỡ được!”
“Vì sao không thể gỡ được?”
“Nếu Tần bỏ pháp, sẽ khó thành nhất thống. Nếu không bỏ pháp, nhất thống lại có thể thành, song thiên hạ ắt nguy!
“Tô huynh quả nhiên suy tính sâu xa!” Tôn Tẫn mỉm cười gật đầu. “Cuộc chiến tung hoành, liên quan tới thiên hạ, Tô huynh gánh nặng mà đường lại xa.”
“Nguy cấp trước mắt, là cứu Triệu!” Tô Tần nhìn sang Tôn Tẫn. “Nước tới đất chặn, binh tới tướng ngăn, cứu Triệu chống Ngụy, sự việc liên quan tới đại cục tung hoành, mà hiện giờ, cứu được Triệu, chỉ có thể là người Tề. Giao chiến với Ngụy, tức là đánh Bàng Quyên; đánh được Bàng Quyên, thiên hạ e rằng chỉ có một mình Tôn huynh!”
“Than ôi!” Tôn Tẫn thở dài một tiếng. “Những chuyện này, khi còn trong Quỷ Cốc, tiên sinh sớm đã đoán ra. Bàng huynh đi tới nước này, cũng là ý trời. Đã là ý trời, tại hạ chẳng còn lựa chọn nào khác, chỉ biết thuận theo. Chỉ có điều...”
“Tôn huynh cứ nói đừng ngại!”
“Ngụy hiện tại, đã khác xa với Ngụy trước đây, Bàng huynh hiện tại, cũng không còn là Bàng huynh lúc mới hạ sơn nữa.”
“Ồ?” Tô Tần nhoài người lên trước hỏi. “Tôn huynh dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Một là cuộc chiến Hàm Cốc, hai là bao vây Hàm Đan!” Tôn Tẫn dõng dạc nói. “Nhìn vào cuộc chiến Hàm Cốc, Bàng huynh mưu kế không phải không chu toàn, không phải không thần kỳ, đặc biệt đã dựa vào thời tiết lạnh giá, dựng cầu băng, chặn Hà Thuỷ, cắt ngang cửa ải trọng yếu Hàm Cốc, khiến người ta nhìn mà xuýt xoa khen tuyệt. Sở dĩ không thể thành công, là do trời không giúp Bàng huynh, chứ không phải do dụng binh sai lầm. Lại nhìn trận vây Hàm Đan lần này, Bàng huynh dụng binh, có thể nói là kín kẽ liền mạch, hai đường phòng tuyến Chương, Phẫu của người Triệu đều không cầm cự nổi một ngày, trọng ải Phẫu Thuỷ thậm chí mới hai canh giờ đã thất thủ. Trong việc này, không phải người Triệu không thiện chiến, không chuẩn bị chu đáo, mà sự thực là do Bàng huynh dụng binh thoả đáng, võ binh Ngụy sức mạnh không tiền khoáng hậu, tới đâu cũng là vô địch.”
“Võ binh Ngụy tới đâu cũng là vô địch?” Tô Tần kinh ngạc hỏi lại.
“Đúng vậy!” Tôn Tẫn gật đầu. “Theo như Tẫn biết, võ binh kiểu mới do Bàng Quyên huấn luyện, đặc biệt là gần vạn quân hổ bôn, người người đều có thể một chọi mười, còn hơn cả thời Ngô Khởi, liệt quốc hiện tại, ngoài quân Tần ra, không ai địch nổi, quân Tề còn xa mới là đối thủ!”
Tô Tần hít sâu một hơi, sắc mặt trầm trọng. Rõ ràng, Tô Tần hiểu biết quá ít về quân sự, Bàng Quyên dụng binh tới trình độ này, càng là điều Tô Tần chưa từng liệu tới.
“Đương nhiên!” Thấy Tô Tần sắc mặt âu lo, Tôn Tẫn bèn nói thêm. “Nước Tề cũng có ưu thế tương đương, dựa vào sức mạnh hiện tại của Tề, cũng không phải không thể giao chiến! Tuy nhiên, hai quân đối trận, Tẫn không thể đảm bảo mười phần thắng lợi!”
“Theo Tôn huynh, sẽ được mấy phần?” Tô Tần nhìn xoáy tới.
“Nếu ý trời tuỳ thuận, quân thần nước Tề đồng tâm hiệp lực, Tẫn đoán, hoặc giả sẽ được bảy phần.”
Tô Tần thở phào một tiếng, phủ phục xuống đất, bái lạy mà nói: “Tôn huynh ở trên, xin nhận của Tô Tần ba lạy!”
Tôn Tẫn cuống quýt, muốn lại đỡ Tô Tần dậy, song đang ngồi trên xe lăn, chỉ biết vỗ ghế kêu lên: “Tô huynh, đừng, đừng, đừng...”
“Không phải Tô Tần bái lạy, mà là Tô Tần thay mặt muôn dân thiên hạ kính bái Tôn huynh!” Nói đoạn, Tô Tần lại lạy thêm hai cái nữa.
Nước Tề ba năm liền tổ chức hội đua ngựa mùa xuân, đất Tề sôi sục, người người phát cuồng vì ngựa, giá ngựa tăng vọt, đừng nói là ngựa đua thượng đẳng, dù có là ngựa tồi cũng tăng từ ba đĩnh lên năm đĩnh, ngựa từ các nơi đổ về đất Tề như nước chảy. Từ đầu mùa đông, lái buôn ngựa ở các nước phương bắc, đặc biệt là Triệu, Trung Sơn, Yên đã ùn ùn kéo tới, những đoàn ngựa đông đến cả trăm rồng rắn nối đuôi không dứt trên đường. Thức ăn cho ngựa, vật dụng cho ngựa, xe ngựa cũng theo nhau tăng giá, nước nổi thuyền lên, người am hiểu ngựa đều đi tìm chủ, tha hồ triển lộ biệt tài.
Được biết năm nay giải thưởng tăng gấp đôi, những nhà phú hộ cỡ vừa và nhỏ không có ngựa đua hoặc ngựa đua không đạt tiêu chuẩn dự thi đều vô cùng hối tiếc, đua nhau tham gia cá cược, tiền đặt cược tại các đô ấp cứ tăng lên vùn vụt từng ngày.
Năm đô tổ chức thi đấu trong năm ngày, cuối cùng đã tìm ra được năm đội đua chiến thắng. Trải qua vài ngày bôn ba đường sá, vào ngày thứ mười, năm đội đua đã lần lượt tới Lâm Truy. Theo chân các đội đua còn có khách xem tứ xứ đổ về, nhất thời, quán sá hàng ăn trong thành Lâm Truy nhộn nhịp tưng bừng, phòng trọ kín mít không còn chỗ trống, thậm chí khách xem còn ngủ la liệt dưới mái hiên nhà người ta. Vương thất chủ trì cuộc đua, đúng là đại đại phát tài, không những nhà cái của vương thất mọc lên nhan nhản quanh trường đua, mà xung quanh trường đua còn được quây kín mít, chỉ mở một lối đi, ra vào đều phải trình một tấm thẻ đồng do chính vương thất phát hành, mà toàn bộ thẻ đồng đều do vương thất uỷ nhiệm cho nhà cái bán ra, mỗi tấm thẻ đồng có giá ba mươi đồng tiền đao. Tuy nhiên, số thẻ đồng này đa phần đều bị nhà cái mua đi bán lại, đưa vào chợ đen, cho đến trước khi cuộc thi diễn ra, do khách xem tranh cướp nhau mua, nên thông thường, giá thẻ đồng của cuộc đua bình thường đã lên tới một đĩnh, cuộc đua thách đấu vương mã còn vọt lên tới ba đĩnh.
Nơi được chọn làm trường đua quyết đấu chính là thao trường diễn tập và tuyên thệ trước khi xuất quân của ba quân ở gần Tắc Môn trong thành Lâm Truy, cách học cung Tắc Hạ chỉ ba tầm tên bắn. Theo quy định, đội đua của năm đô thi đấu luân lưu với nhau, trong hai ngày sẽ kết thúc, chọn ra hai đội, lại tiếp tục thi đấu, tìm ra đội thắng cuộc, sẽ có tư cách thách đấu với vương mã, rồi quyết chiến vương mã.
Để tăng thêm kịch tính, vào đêm trước ngày diễn ra trận quyết đấu, Uy Vương còn đặc biệt ban bố một chỉ lệnh cho cuộc đua, chia thành bốn điều. Thứ nhất, tăng tiền thưởng cho đội có được tư cách thách đấu vương mã từ ba trăm đĩnh lên năm trăm đĩnh. Thứ hai, phàm là người sống ở Lâm Truy, không phân biệt quê quán, nam nữ, già trẻ, đều có thể tham gia cá cược, tiền cược không giới hạn cao thấp. Thứ ba, tất cả mọi nhà cái đều phải được vương thất trao quyền, phàm những nhà cái tự lập, đều bị quy tội kháng chỉ, xử chém không tha. Thứ tư, mọi nhà cái thu tiền đặt cược, đều theo nguyên tắc tự nguyện đặt cược, nhà cái không được bức ép, dụ dỗ đặt cược, hoặc dùng cách thức nào khác làm khó dễ người đặt cược. Nhà cái cần lập khế ước với người đặt cược, sau khi đã đặt cược, tính toán quy đổi nhất loạt căn cứ đúng theo kết quả thắng thua của cuộc đua, được ăn cả, ngã về không, tất cả đều phải tuân thủ đúng theo khế ước đã lập từ trước, vương thất và nhà cái đều được rút lợi tức từ người thắng theo tỉ lệ mười ăn một. Những ai thua cược mà bất chấp khế ước, gây gổ sinh sự đều khép tội kháng chỉ, trừng phạt nghiêm khắc.
Tề Vương vừa hạ ý chỉ, toàn bộ Lâm Truy như thể phát cuồng, trước cửa những nhà cái lớn, đoàn người rồng rắn xếp hàng dài dằng dặc, người đặt cược qua lại như mắc cửi.
Hay tin Tề Vương tăng tiền thưởng cho người đủ tư cách thách đấu vương mã từ ba trăm đĩnh lên năm trăm đĩnh, Trâu Kỵ càng tin rằng việc bỏ ra năm trăm đĩnh vàng mua thiên lý mã là đúng. Suốt một ngày thi đấu luân lưu, tất cả khách xem đều phát cuồng vì Trâu phủ. Ngựa của Điền phủ trong những hội đua năm trước vốn không có đối thủ, lần này lại ngang ngửa với ngựa của Trâu phủ, trong một vòng đấu, ngựa của Trâu phủ thua một thắng hai, đấu trường hò reo bất tuyệt, thực khiến cho những người đã đặt cược cho Điền phủ trước trận đấu phải trợn mắt há miệng, không hiểu vì sao, còn Điền Kỵ lại càng gạt mồ hôi không ngơi tay.
Cuộc đấu ngày đầu, kết quả không có gì bất ngờ, ngựa của Điền phủ và Trầu phủ cùng sánh bước vào vòng quyết đấu để giành tư cách thách đấu với vương mã.
Trải qua trận đấu này, Trâu Kỵ càng thêm tin tưởng, lại mời Tôn Duyệt tới, vái dài mà nói: “Tạ ơn tiên sinh đã giới thiệu ngựa tốt, khiến bản tướng nở mày nở mặt!”
“Là tướng quốc gặp được phúc vận, đâu có liên quan gì tới hạ quan!” Tôn Duyệt đáp lễ nói.
“Dám hỏi tiên sinh, trận chiến ngày mai, liệu bản phủ nắm được mấy phần thắng?”
“Tướng quốc có thể nắm chắc năm phần thắng!”
“Dám hỏi năm phần là ở đâu?”
“Tướng quốc có lẽ thắng ở tứ mã thượng đẳng, thua ở tứ mã hạ đẳng, coi như đã hoà. Hươu chết về tay ai, cần xem tứ mã trung đẳng.”
“Tứ mã trung đẳng?” Trâu Kỵ chau tít đôi mày. “Đại nhân liệu có kế hay để tăng cường sức đua cho tứ mã trung đẳng chăng?”
“Theo như Tôn Duyệt thấy, tứ mã trung đẳng của Điền phủ và của tướng quốc sức lực khó phân cao thấp, khác biệt là ở người đánh xe!”
“Người đánh xe?” Trâu Kỵ thoáng ngỡ ngàng. “Đại nhân huệ nhãn biết người tài, liệu có thể tiến cử đại hiền?”
“Không giấu tướng quốc,” Tôn Duyệt cười gượng một tiếng, khẽ lắc đầu, “thuật đánh xe, trọng điểm là người, ngựa, xe phải hoà hợp thành một thể, không được thiếu thứ nào. Về mặt kỹ nghệ, mọi cỗ xe đua ở Lâm Truy đều có quy định rõ ràng, có thể xem là bất biến, còn người và ngựa đều là khả biến, chỉ khi hai bên thấu hiểu lẫn nhau, đánh xe mới được tài khéo. Nếu nhất thời đổi người đánh xe, sẽ gây trở ngại cho sự giao tiếp giữa người và ngựa, không có lợi.”
“Nếu nói như vậy,” Trâu Kỵ kinh hãi, “thì tứ mã thượng đẳng của bản tướng chẳng phải cũng...”
“Tướng quốc nhắc nhở rất đúng!” Tôn Duyệt gật đầu nói. “Tuy ngựa tại hạ giới thiệu là thiên lý mã, song cũng vì mới được đóng vào xe, nên giữa ngựa và ngựa, ngựa và người đánh xe đều thiếu hoà hợp, năm phần thắng của tướng quốc coi như mất đi một phần, nên chỉ còn là bốn phần thêm chín phân!”
Tiễn Tôn Duyệt về rồi, Trâu Kỵ ngẫm nghĩ một hồi, rồi cho triệu Công Tôn Hãn tới, lời lẽ cung kính, gọi bằng tiên sinh: “Công Tôn tiên sinh, đúng như Tôn đại nhân đã nói, ngựa của bản phủ và ngựa của Điền Kỵ đều có ưu thế riêng, sàn sàn như nhau, khó mà nắm chắc phần thắng, ngày mai quyết đấu, bản công thấy tiên sinh là đại tài, liệu có thể chỉ giáo cho kế hay chế địch?”
“Tạ ơn chúa công coi trọng!” Công Tôn Hãn vòng tay cảm tạ. “Hãn có một kế, không biết có nên nói hay không?”
“Tiên sinh cứ nói đừng ngại!”
“Nhìn vào trận đua ngày hôm nay,” Công Tôn Hãn dõng dạc nói, “có thể đoán rằng, trong trận quyết đấu ngày mai, chúa công có lẽ thắng ở ngựa thượng đẳng, thua ở ngựa hạ đẳng, ngang bằng ở ngựa trung đẳng. Theo Hãn, chúa công hãy tráo đổi ngựa trung đẳng thành ngựa hạ đẳng, bỏ một tranh hai, hoặc giả thắng được đối phương!”
Kế này xứng đáng là kế tuyệt sát.
Trâu Kỵ hít sâu một hơi, từ từ nhắm mắt lại, một lát sau, mở mắt ra nhìn vị học tử Tắc Hạ vừa tới tuổi tam thập nhi lập này.
Chẳng hiểu sao, từ khi Công Tôn Hãn vào phủ tới nay đã vài tháng, Trâu Kỵ chẳng hề có chút cảm tình đối với hắn. Thứ nhất vì thấy người này miệng nhọn má hóp, tướng mạo đê hèn, thứ hai là nghe nói hắn lang bạt liệt quốc, đổi chủ liên tục, sau khi tới Tề vẫn chưa an phận, trước hết theo Điền Anh nửa năm, sau tới Tắc Hạ bái Thận Tử làm thầy, còn chưa được nửa năm, lại đổi theo Thuần Vu Tử, cũng chính vì Thuần Vu Khôn ra sức tiến cử, nên Trâu Kỵ mới nể mặt, miễn cưỡng nhận làm môn khách, song trong lòng vẫn luôn dè chừng, chưa dám dùng vào việc lớn, nào ngờ người này đúng là không thể trông mặt mà bắt hình dong.
Tuy nhiên, Trâu Kỵ vẫn có nguyên tắc của riêng mình. Trâu Kỵ xưa nay luôn tự cho mình là Quản Trọng đương thời, phàm làm việc gì cũng học theo Quản Trọng, mà Quản Trọng cả đời dùng tín mà được lòng dân, dùng nghĩa để phò tá quân vương, dùng nhân mà dẹp yên thiên hạ, dùng lễ mà phụng sự thiên tử, mới có thể hoàn thành bá nghiệp một đời. Nay nếu nghe theo Công Tôn Hãn, đổi ngựa trung đẳng thành hạ đẳng, hạ đẳng thành trung đẳng, tuy có thể thủ thắng, song không phải chính đạo, nếu truyền tới tai thiên hạ, chẳng phải sẽ bị cười chê là thắng bằng mưu trá?
Trâu Kỵ khép mắt, ngẫm nghĩ hồi lâu, quyết định sẽ không vì cái nhỏ mà để mất cái lớn, lắc đầu nói: “Kế này của tiên sinh tuy tuyệt diệu, song không thích hợp với Trâu phủ! Bản tướng xưa nay luôn lấy tín nghĩa làm gốc, trận quyết đấu ngày mai, bản tướng có thắng cũng phải thắng cho đường đường chính chính, có thua cũng phải thua cho quang minh lỗi lạc.”
Một diệu kế thủ thắng tuyệt đối như thế, Điền Kỵ không dùng thì thôi, lại còn đem quang minh lỗi lạc ra để khinh thường, thực nằm ngoài tưởng tượng, khiến Công Tôn Hãn mặt mũi sượng sùng, thở dài một tiếng, đoạn cáo lỗi lui ra.
Vào trận quyết đấu ngày hôm sau, kết cục không nằm ngoài dự đoán của Tôn Duyệt, Trâu phủ một thắng hai thua, ngựa thượng đẳng thắng nửa thân xe, ngựa trung đẳng thua nửa thân xe, duy có ngựa hạ đẳng về sau ngựa Điền phủ đúng năm thân xe, khiến toàn bộ Trâu phủ trên dưới đều thấy mất mặt không để đâu cho hết.
Đêm ấy, trong phủ Điền Kỵ giết lợn mổ dê, bày tiệc rượu linh đình ăn mừng chiến thắng.
Điền Kỵ phấn khởi tột bực, nâng chén đón gió, hướng về phía đám triều thần, tướng quân, bằng hữu, gia thần tới chúc mừng mà nói lớn: “Chư vị bằng hữu, vì năm trăm đĩnh vàng đã về tay, cạn!”
“Chúc mừng tướng quân, vì năm trăm đĩnh vàng, cạn!” Đám đông đua nhau nâng chén.
Điền Kỵ một hơi uống cạn, đặt đánh cạch chén không xuống mặt bàn, hừ mũi một tiếng: “Lão cáo già Trâu Kỵ kia cứ ngỡ mình là thần thánh vạn năng cơ đấy, cái gì cũng muốn vơ cả về mình, lần này lại chẳng ngã cho dập mũi, cuối cùng cũng phải cúp đuôi rồi. Ha ha ha, hôm nay thật là hả dạ. Nào nào nào, để tại hạ rót rượu cho chư vị, không say không về!” Rồi nhấc bình rượu lên, lần lượt rót cho mọi người.
“Không say không về!” Đám đông nhao nhao hưởng ứng, giơ cao chén rượu, đang uống đến cao trào, bỗng một giọng nói từ bên ngoài vọng vào: “Điền tướng quân, có rượu ngọt thức ngon, sao không cho tại hạ nếm cùng?”
Mọi người quay đầu lại nhìn, thấy Tô Tần đẩy theo xe lăn bước vào trong tiệc, ngồi trên xe lăn chính là Tôn Tẫn xưa nay chưa từng lộ diện.
“Tiên sinh?” Điền Kỵ đặt bình rượu xuống, vội bước ra đón, đỡ lấy xe đẩy, hạ giọng hỏi. “Sao tiên sinh... lại tới?”
Tôn Tẫn cười nói: “Nghe nói hôm nay tướng quân đại thắng, muốn tới đây uống chén rượu mừng!”
“Uống, uống chứ!” Điền Kỵ vội nói. “Mau mang rượu lại đây, rót cho Tô đại nhân và... tiên sinh đây!”
Đã có người bưng rượu lại, Điền Kỵ sắp xếp chỗ ngồi cho Tô Tần, lại đưa chén rượu cho Tôn Tẫn, nâng chén nói với mọi người: “Chư vị bằng hữu, tại hạ xin giới thiệu,” chỉ vào Tô Tần, “vị này chính là tướng quốc sáu nước Tô Tần đại nhân danh chấn thiên hạ, hẳn mọi người đều đã biết.” Lại chỉ sang Tôn Tẫn. “Còn vị này chính là...”
Điền Kỵ cho rằng Tôn Tẫn tới đây lộ diện, là không muốn ẩn thân nữa, đang định trịnh trọng giới thiệu thì Tô Tần đằng hắng một tiếng cắt lời, nâng chén đứng dậy, cười nói: “Tại hạ Tô Tần, hay tin hôm nay tướng quân đại thắng, lấy làm vui mừng, đặc biệt dẫn bạn cũ Tôn tiên sinh tới chúc mừng, nào ngờ lại chậm một bước, quấy nhiễu nhã hứng của chư vị. Tại hạ xin uống phạt một chén!” Nói đoạn, một hơi cạn chén.
Đám người đua nhau đứng dậy, nâng chén uống cạn.
Điền Kỵ không ngờ Tôn Tẫn lại tới, càng không đoán nổi Tôn Tẫn đến đây là có ý gì, ngập ngừng một lát, rồi không nhịn nổi tò mò, đẩy xe lăn qua một bên, khẽ hỏi: “Tiên sinh tới đây, ắt có chuyện lớn, xin hãy nói mau!”
“Ha ha ha!” Tôn Tẫn lại cười. “Hay tin tướng quân ngày mai thách đấu vương mã, tại hạ không thể kìm được niềm phấn khởi, nên cậy nhờ Tô huynh tới đây xin hai tấm lệnh bài vào trường đua, cũng muốn tới xem náo nhiệt!”
“Tiên sinh chịu tới, quả thực tại hạ mong còn chẳng được. Sáng sớm ngày mai, tại hạ sẽ đích thân tới khe núi nghênh đón.”
“Đa tạ tướng quân đã tác thành!”
Hồi Thứ 64
Vương mã đua thắng bại, bại là đại thắng
Quân sư luận chính kỳ, kỳ tức kỵ binh
Trận quyết đấu cuối cùng thách đấu vương mã vào giờ Thân chiều hôm sau chính thức bắt đầu.
Trong trường đua người chen chúc như rừng như biển, phải đến hơn vạn, cả một khán đài rộng lớn bị vây kín mít đến nước hắt không lọt, chỉ chừa lại một đường đua với vài khúc ngoặt lớn. Có lẽ kết quả quá ư dễ đoán, hầu như toàn bộ người cá cược đều đặt cược vào vương mã, tỷ lệ cược của vương mã thấp đến mức đặt mười ăn một, trong khi ngựa của Điền phủ, tỷ lệ cược lại cao đến đặt một ăn mười.
Vào đúng giờ Thân, thi đấu bắt đầu, vòng thi đầu tiên là ngựa thượng đẳng, hai bên đưa ngựa vào sân, thượng đại phu Điền Anh đích thân thúc một hồi trống khai trận. Cùng với tiếng trống, hai cỗ xe chiến lập tức lao vùn vụt như lướt quanh trường đấu, chốc lát, chỉ thấy vó ngựa tung bay, bụi bốc cuồn cuộn, sau mười vòng tranh đua quyết liệt, vương mã về đích trước đúng năm thân xe, giành thắng lợi tuyệt đối. Vòng tiếp theo là ngựa trung đẳng, vương mã lại thắng, về đích trước hai thân xe. Thắng thua đã định, vòng thứ ba coi như thi đấu danh dự, người đánh xe ngựa hạ đẳng của vương mã không hiểu do thực lực chỉ có vậy, hay là muốn lưu lại chút thể diện, chỉ về trước ngựa hạ đẳng của phủ Điền đúng một thân xe.
Khắp trường đua hoan hô như sấm dậy, quần thần nhất loạt đứng lên, trước tiên chúc mừng Uy Vương, sau đến chúc mừng Điền Kỵ.
Điền Kỵ mặt mày hớn hở, đắc ý vòng tay đáp lễ với đám thân bằng, luôn miệng nhắc đi nhắc lại hai chữ “chia vui”, không hề thấy có mảy may thất vọng, cứ như thể thua vương mã là một niềm vinh hạnh.
Cuộc đua tới hồi kết thúc, thượng đại phu Điền Anh tuyên bố kết quả hội đua ngựa năm nay, tiếp đó, Uy Vương ban chiếu thư, đem toàn bộ danh sách tham gia đua ngựa của các đô ấp liệt vào vương mệnh, trương bảng công bố rộng rãi. Sau nữa, Uy Vương và thái tử chiểu theo quy chế đã định, ban thưởng cho tất cả những người tham gia thi đấu ở vòng năm đô, vòng quyết đấu và vòng thách đấu vương mã. Do vàng phải cân trọng lượng, không thể ban thưởng trực tiếp trên trường đua, nên theo quy chế, thay thế bằng vải lụa đặc chế của vương thất, mỗi vuông lụa ghi rõ số lượng vàng thưởng cụ thể, áp vương tỷ bên trên, chủ nhân có thể mang lụa tới bất cứ nhà cái nào để đổi lấy vàng.
Điền Kỵ nhận được vuông lụa có viết năm trăm đĩnh vàng, vênh vang đi quanh trường đua một vòng, giơ cao tay vẫy lia lịa về phía người xem đang hò reo như sấm, liên tục đáp lễ với những người đến chúc mừng, vẻ rạng rỡ tràn trề trên nét mặt.
Tô Tần cùng Tôn Tẫn ngồi tại một góc khuất không ai để ý. Khi Điền Kỵ đi lại gần đó, một là phong quang đã đủ, hai là thấy Tô Tần đưa tay vẫy, bèn cất vuông lụa đi, sải bước lại gần, ngồi xuống bên cạnh Tô Tần và Tôn Tẫn.
Tô Tần trong trang phục sĩ tử, chẳng hề có lấy mảy may dáng vẻ nhà quan. Tôn Tẫn ngồi trên xe lăn, đầu sùm sụp nón lá, mình mặc áo vải, ăn vận giống hệt một gã nhà quê. Lúc này, người xem đã lũ lượt ra về, chỉ còn lại Trâu Phi Đao ở bên cạnh hai người họ.
“Ba trận thua cả ba,” Tôn Tẫn nhìn Điền Kỵ hỏi, “Điền huynh không lấy làm hổ thẹn, ngược lại còn vui mừng nhường kia, hẳn có nguyên do?”
Điền Kỵ lại phá lên cười vui vẻ: “Tiên sinh có điều không biết, ngựa của tại hạ tuy là nghìn con mới chọn được một, song vương mã lại là ngựa do đất Hồ dâng tặng, phần nhiều là vạn con mới chọn được một, chuyện này tạm chưa nói đến, đại vương còn có được hậu duệ của Bá Nhạc là Tôn Duyệt trợ giúp, trong chuồng ngựa hầu hết đều là thiên lý mã, tại hạ lần này đánh bại được Trâu Kỵ, giành được phần thưởng năm trăm đĩnh vàng của đại vương, đã là mãn nguyện lắm rồi.”
Tôn Tẫn khẽ thở dài một tiếng, lắc đầu.
“Tôn huynh?” Điền Kỵ kinh ngạc.
“Dám hỏi Điền huynh,” Tôn Tẫn nhìn thẳng vào Điền Kỵ, hỏi, “hẳn cũng đã từng nghĩ tới chuyện thắng đại vương một lần?”
“Chưa từng nghĩ đến!” Điền Kỵ cười gượng, nhăn mặt nói. “Vả lại, có nghĩ cũng vô ích thôi!”
“Nếu có cơ hội thắng, lẽ nào tướng quân cũng không muốn?”
Thấy Tôn Tẫn nghiêm túc, Điền Kỵ hít sâu một hơi, nhìn chòng chọc vào Tôn Tẫn, rồi đưa tay sờ lên trán Tôn Tẫn: “Ồ, có sốt đâu nhỉ!” Nhìn Tôn Tẫn một lát rồi quay sang Tô Tần, chỉ vào ngực mình. “Tô huynh, chỗ này của Tôn huynh, không có vấn đề gì đấy chứ?”
Không để Tô Tần kịp trả lời, Tôn Tẫn lại tiếp: “Điền tướng quân, tại hạ hỏi một lần nữa, có muốn thắng vương mã không?”
“Muốn, muốn chứ!” Thấy Tôn Tẫn đổi giọng, Điền Kỵ mới quýnh lên, nói vội. “Trong mơ tại hạ cũng muốn!”
“Tại hạ còn một câu hỏi nữa.” Tôn Tẫn nhìn Điền Kỵ chăm chăm. “Ba loại tứ mã thượng, trung, hạ, cấp bậc do ai quyết định?”
“Ờ...” Điền Kỵ ngẩn ra một thoáng. “Hình như là không có người nào chuyên đánh giá, mà do người thi đấu tự quyết định!”
“Nếu nói như vậy,” Tôn Tẫn thu thần tĩnh khí, chậm rãi nói, “tướng quân hãy đi gặp đại vương và nói rằng, cuộc quyết đấu này, tướng quân không phục, sau ba ngày nữa, xin được đua lại với đại vương lần nữa, tại hạ đảm bảo tướng quân sẽ đánh bại vương mã!”
“Đánh bại vương mã?” Điền Kỵ tặc lưỡi lẩm bẩm. “Chuyện này là không thể!” Dừng lại một lát, lại cảm thấy không thoả đáng, bổ sung thêm một câu. “Ngựa thượng đẳng kém ba thân xe, ngựa trung đẳng kém hai thân xe, dù ngựa hạ đẳng người ta chỉ đua cho lấy lệ, cũng vẫn kém một thân xe!”
“Tại hạ có ngựa quý, có thể chiến thắng!” Tôn Tẫn nói rành rọt từng tiếng.
“Tôn huynh có ngựa quý?” Điền Kỵ sửng sốt. “Tôn huynh nói mau, ngựa quý hiện ở đâu? Vì sao không thấy Tôn huynh hé lộ nửa lời?”
“Nước có vật báu, không được để người khác thấy!” Tôn Tẫn dẫn lời Lão Tử, nở nụ cười bí hiểm. “Đã là ngựa quý, sao có thể tuỳ tiện tiết lộ?”
“Ồ...” Điền Kỵ rõ ràng không tin, nhìn sang Tô Tần, nửa như bóc mẽ Tôn Tẫn, nửa như trêu đùa. “Tôn huynh sống trong khe núi đã ba năm, theo tại hạ biết, chưa từng vượt qua cánh cửa lấy một bước, nếu thực sự có ngựa quý, cớ sao tại hạ lại không hay?”
“Điền huynh nói vậy là không hiểu Tôn huynh rồi!” Tô Tần cười đáp lại.
“Được rồi, được rồi!” Điền Kỵ thấy Tô Tần đỡ lời cho Tôn Tẫn thì thôi không nói thêm nữa, đảo con ngươi một vòng. “Theo quy tắc của hội đua, thắng thua đã định, dù tại hạ có muốn thi lại, chắc gì đại vương đã chịu!”
“Tướng quân chưa thỉnh cầu, sao biết đại vương không chịu?” Tôn Tẫn lời lẽ bức bách.
“Ờ...” Điền Kỵ vẫn lo sợ, lại nhìn sang Tô Tần.
“Tôn huynh nói phải đấy!” Tô Tần khích lệ. “Tướng quân hãy lập tức đi thỉnh cầu đại vương, nói rằng ba ngày sau đua thêm lần nữa, xem đại vương xử trí thế nào?”
“Nếu Điền huynh đánh cược nghìn đĩnh, đại vương ắt sẽ đồng ý!” Tôn Tẫn dồn Điền Kỵ đến chân tường.
“Đánh cược nghìn đĩnh?” Điền Kỵ hít ngược một hơi khí lạnh. “Nghìn đĩnh vàng là hai mươi năm thu hoạch từ đất phong của tại hạ đấy, chắc Tôn huynh không muốn nhà tại hạ trên dưới mấy trăm miệng ăn phải hứng gió tây bắc mà sống đấy chứ?”
“Tại hạ xin sửa lại một câu, hãy thỉnh cầu mỗi vòng một nghìn đĩnh, ba vòng thi đấu, là ba nghìn đĩnh.”
Điền Kỵ kinh hãi rụng rời, không thốt nổi một lời, hai mắt trợn trừng, hết nhìn Tôn Tẫn lại nhìn Tô Tần, dường như hai người này đang chơi trò xướng hoạ, giăng bẫy để dụ dỗ, hãm hại mình.
“Người thống lĩnh thiên binh vạn mã, đáng ra không nên bận tâm tới ba nghìn đĩnh vàng mới phải?” Tôn Tẫn cười nói.
“Ai bận tâm kia!” Điền Kỵ hấp tấp. “Mà là... mà là tại hạ dù có bán sạch gia sản, cũng không thể có nổi ba nghìn đĩnh vàng!”
“Chẳng phải đã có năm trăm đĩnh rồi đấy ư?” Tôn Tẫn hất hàm về phía vuông lụa trong ngực áo Điền Kỵ. “Năm trăm đĩnh còn lại, lẽ nào trong kho tàng của tướng quân lại không gom nổi?”
“Thế thì cũng mới có một nghìn.”
“Hai nghìn còn lại, tại hạ và Tô huynh mỗi người gánh một nghìn, tướng quân còn băn khoăn gì chăng?”
“Tô huynh?” Điền Kỵ quay sang Tô Tần.
“Lẽ nào tướng quân không tin tại hạ và Tôn huynh?” Tô Tần khẽ mỉm cười, rồi nhìn về phía Uy Vương đang đứng cách đó không xa. “Nếu muốn đua thì phải nhanh chân lên mới được, đại vương lại chẳng thích mê chớ kể!”
Thấy Tôn Tẫn, Tô Tần khăng khăng thúc ép, nhất quyết đòi đua lại, Điền Kỵ tuy không chắc chắn, song cũng không còn đường lui, đành phải nghiến răng dằn lòng, thôi thì cứ đánh cược với nhân phẩm của hai người kia vậy.
Trong lòng đã quyết, Điền Kỵ lấy hết can đảm, từng bước tiến về phía Uy Vương.
Cuộc đua đã kết thúc, mọi người tản đi gần hết, Uy Vương đã đứng dậy, chuẩn bị khởi giá hồi cung, đám đại thần thái tử, Trâu Kỵ, Điền Anh cũng đều đã đứng lên, nghiêm trang đứng hầu bên cạnh, đợi Uy Vương khởi giá.
Điền Kỵ tiến lại, đứng ngay trước án, phủ phục xuống đất bái lạy, rồi cất giọng dõng dạc: “Khởi bẩm đại vương, thần có tấu!”
Uy Vương lại ngồi trở xuống, liếc nhìn Điền Kỵ: “Ái khanh cứ nói!”
“Cuộc đua hôm nay, thần thua mà không phục, cả gan khẩn cầu đại vương cho đua lại lần nữa, mong đại vương ân chuẩn!” Điền Kỵ nói rành rọt từng chữ, giọng sang sảng như chuông đồng.
Quần thần đưa mắt nhìn nhau. Dù là Uy Vương cũng vô cùng kinh ngạc, vuốt râu hồi lâu, mới nhổm người về phía trước, sắc mặt đầy vẻ hồ nghi: “Điền ái khanh, khanh... nói thật chứ?”
“Thần không dám khi quân!” Điền Kỵ khẳng định chắc nịch.
Uy Vương hít sâu một hơi, lại vuốt râu, ngồi thẳng người lên, ánh mắt vẫn không rời khỏi Điền Kỵ: “Ái khanh, không phải quả nhân không đồng ý, mà là... nhìn vào tình thế hôm nay, sức ngựa của khanh còn thiếu ba phần, nếu lại đua tiếp, e là còn thất bại thảm hại hơn thế!”
“Thần có ngựa quý!”
“Ồ?” Uy Vương hào hứng thấy rõ, quay sang nhìn Tôn Duyệt ngồi cạnh, thấy Tôn Duyệt cũng tỏ vẻ ngạc nhiên, bèn cười nói. “Nếu quả là vậy, cũng thú vị đây. Có điều, ngựa của quả nhân, không thể tuỳ tiện xuất chiến, nếu như muốn đua...”
“Thần xin đặt cược!”
“Được!” Uy Vương đập bàn đánh chát. “Quả nhân đang đợi câu này! Xin hỏi ái khanh, muốn đặt cược bao nhiêu?”
“Thần xin đặt một nghìn đĩnh!”
“Điền đại tướng quân!” Trâu Kỵ ngồi phía bên kia Uy Vương tiếp lời, nửa như giễu cợt, nửa như khích bác. “Thách đấu với vương mã, đặt cược một nghìn đĩnh với đại vương, dứt khoát không phải trò đùa tầm phào, mong tướng quân suy nghĩ cho kỹ lưỡng!”
“Tướng quốc đại nhân,” Điền Kỵ điềm tĩnh đáp lời. “Chúng ta cùng trong một triều đã nhiều năm, đã từng thấy Điền Kỵ nói đùa bao giờ chưa?”
“Khởi bẩm đại vương,” Trâu Kỵ trịnh trọng gật đầu, quay sang Uy Vương, vòng tay nói. “Lời thỉnh cầu của thượng tướng quân nếu đã không phải là chuyện đùa, thần tấu thỉnh đại vương ân chuẩn!”
“Chuẩn tấu!” Uy Vương nhìn sang Điền Anh. “Thượng đại phu, cuộc đua hôm nay, Điền Kỵ tướng quân thua mà không phục, thỉnh cầu ba ngày nữa tái đấu. Quả nhân ứng chiến, vẫn chiểu theo quy chế cũ, phân ngựa thành thượng, trung, hạ, thi đấu ba vòng, thắng hai là thắng, tiền cược một nghìn đĩnh!”
“Thần cả gan thỉnh cầu, mỗi vòng đặt cược một nghìn đĩnh!” Điền Kỵ lại thốt ra một câu.
Điền Kỵ cứ như thể bị ma quỷ nhập hồn, bất chấp tất cả leo thẳng lên đầu sào, khiến quần thần có mặt một phen chấn động.
Uy Vương cũng kinh ngạc không kém, bàng hoàng hồi lâu mới định thần trở lại, nhìn Điền Kỵ một cái, rồi quay sang Điền Anh, cất giọng rành rọt: “Soạn chỉ, chuẩn tấu của Điền Kỵ tướng quân, ba ngày nữa tái đấu tại đây, mỗi vòng đặt cược nghìn đĩnh.”
Điền Kỵ vốn dĩ đã chiếm trọn phong quang, song lần này lại cố chấp đến vậy, mục đích là gì? Điền Kỵ tự nhận mình có ngựa quý, nếu quả thực là vậy, cớ sao lúc then chốt lại không dùng, mà đợi đến tận khi thất bại liểng xiểng mới đưa ra tái đấu? Hơn nữa, Điền phủ có bao nhiêu ngựa quý, nước Tề có bao nhiêu ngựa hay, trải qua hai hội đua, Trâu Kỵ từ lâu cũng đã biết một hai phần. Trận quyết đấu này, Điền phủ đã tung ra những con ngựa tốt nhất, chắc chắn không thể mới chớp mắt đã đẻ ra được con thiên lý mã còn hay hơn thế được!
Trâu Kỵ cứ thế ngồi bần thần trong phòng, càng nghĩ càng không thể lần ra manh mối, đột nhiên nhớ tới Công Tôn Hãn, bèn sai người gọi hắn tới.
“Công Tôn tiên sinh!” Trâu Kỵ đích thân rót trà cho hắn. “Chuyện ngày hôm nay, hẳn tiên sinh cũng đã thấy cả. Điền Kỵ ba trận đều thua, vẫn muốn tái đấu, nói là còn có ngựa quý, lại muốn đặt cược mỗi vòng nghìn đĩnh, chẳng phải là lấy trứng chọi đá, bị ma ám rồi hay sao? Lão hủ ngu muội, mong tiên sinh giải thích giúp!”
“Hồi bẩm chúa công!” Công Tôn Hãn tạ ơn, đỡ lấy chén trà, rồi nói thẳng. “Nếu không nằm ngoài dự đoán của Công Tôn Hãn, Điền Kỵ thỉnh cầu tái đấu, dứt khoát không phải là nhất thời u mê, mà là kỳ mưu!”
“Kỳ mưu thế nào?” Trâu Kỵ nhổm người lại hỏi.
“Mưu mà chúa công đã bỏ!” Công Tôn Hãn khẳng định chắc nịch.
Trâu Kỵ chết lặng trong lòng.
Mưu đã bỏ, chính là mưu đổi ngựa trung đẳng với ngựa hạ đẳng mà Công Tôn Hãn đã hiến kế trước khi hội đua bắt đầu. Nhớ lại trận đua hôm nay, Điền Kỵ ba trận đều thua vương mã, vậy mà vẫn nghênh ngang đến vậy, khiến Trâu Kỵ có chút hối hận vì đã không nghe theo lời Công Tôn Hãn, nếu không, kẻ đi quanh trường đua nói “chia vui” đã là ông ta rồi.
“Ý tiên sinh là,” Trâu Kỵ khép mắt một lát, “Điền Kỵ sẽ đổi ngựa trung đẳng thành ngựa hạ đẳng?”
“Không, đổi ngựa hạ đẳng thành ngựa thượng đẳng, rồi cứ tuần tự mà đổi.”
Trâu Kỵ hít vào sâu một hơi, đã hoàn toàn thấu tỏ. Đúng vậy, nếu làm như thế, Điền Kỵ có lẽ sẽ một thua, hai thắng, hẳn đó chính là nguyên do khiến Điền Kỵ dám đặt cược cả nghìn đĩnh vàng. Mưu kế tuyệt diệu nhường này, tuyệt đối không thể do Điền Kỵ nghĩ ra, nhất định phải có cao nhân bên cạnh, mà cao nhân này, cũng chỉ có thể là Tô Tần. Tô Tần muốn cứu Triệu, mà Điền Kỵ có mối thù bị Bàng Quyên làm nhục, nên Tô Tần chắc chắn sẽ du thuyết Điền Kỵ, dùng diệu kế này để kích động chiến tâm của đại vương.
Trâu Kỵ càng nghĩ càng thông tỏ, lại nhìn kỹ Công Tôn Hãn trước mặt, thấy tướng mạo hắn nào phải đê hèn, mà trái lại, rành rành là một bậc kỳ tài hiếm thấy, có thể sánh ngang với Tô Tần, bỗng thực lòng thán phục con mắt nhìn người của Thuần Vu Tử.
“Tiên sinh đã nhìn thấu âm mưu,” Trâu Kỵ vòng tay vái mà nói, “hẳn có thể chỉ giáo kế hay ứng phó?”
“Chỉ giáo thì không dám,” Công Tôn Hãn đáp lễ mà nói, “Hãn cho rằng, chúa công có hai kế hay ứng chiến. Thứ nhất, yết kiến đại vương, tấu báo mưu kế của Điền Kỵ, để đại vương kịp thời điều chỉnh vương mã, đánh bại Điền Kỵ. Thứ hai, không phá mưu này, dốc hết gia sản, đánh cược ngựa Điền Kỵ thắng, chúa công sẽ có được một khoản tiền kếch xù.”
Trâu Kỵ nhắm mắt suy nghĩ hồi lâu, trên gương mặt xuất hiện một nét cười nham hiểm: “Đa tạ mưu hay của tiên sinh. Có điều, bản công thứ nhất không muốn tấu thỉnh đại vương điều chỉnh ngựa, thứ hai không thiếu tiền bạc!”
“Chúa công hẳn có kỳ mưu khác?”
“Ha ha ha!” Trâu Kỵ phá lên cười lớn một tràng.
“Chúa công cười chuyện gì kia?”
“Cười Điền Kỵ!” Trâu Kỵ thu lại nét cười, rồi dằn mạnh từng chữ. “Tự gây nghiệt, không thể sống, Điền Kỵ hôm nay chính là như vậy!”
“Chúa công?” Công Tôn Hãn có vẻ băn khoăn.
“Tiên sinh hãy xem,” trong mắt Trâu Kỵ loé ra hai tia sáng thâm trầm, “nếu Điền Kỵ không theo lời đoán của tiên sinh, lại cũng không có ngựa quý dự phòng, sau ba ngày nữa tái đấu, chắc chắn sẽ thua ba nghìn đĩnh. Số của nả mà Điền phủ tích cóp được, nhiều lắm cũng không quá nghìn đĩnh, nếu thua ba nghìn đĩnh, khuynh gia bại sản tạm chưa nói tới, mà còn bị cả thiên hạ chê cười. Nếu đúng là hắn theo kế như tiên sinh nói, dùng ngựa hạ đẳng đua với ngựa thượng đẳng, dùng ngựa thượng đẳng đua với ngựa trung đẳng, dùng ngựa trung đẳng đua với ngựa hạ đẳng của vương thất, thì chính là khi quân. Theo luật pháp nước Tề, tội khi quân, tru di tam tộc! Điền Kỵ có được ba nghìn đĩnh vàng mà phải chịu tội tru di tam tộc, lại sẽ thành chuyện cười cho thiên hạ.”
“Chúa công mưu kế sâu xa, Công Tôn Hãn bội phục.” Công Tôn Hãn vòng tay vái dài.
“Là Điền Kỵ tự chuốc lấy cái chết, không thể oán trách bản công!” Trâu Kỵ gằn giọng, rồi nhìn sang Công Tôn Hãn. “Tuy nhiên, ta cũng không thể lơ là. Nhờ tiên sinh thăm dò tình hình, nếu Điền phủ thực sự có ngựa quý, lập tức báo cho ta biết!”
“Cung kính tuân mệnh!”
Tại Tuyết cung ở kinh đô Tề, Uy Vương chau tít đôi mày, chậm rãi đi đi lại lại trong đại sảnh.
Tích Cương hai con ngươi xoay tròn, di chuyển theo Uy Vương, phía đối diện là Tôn Duyệt hai mắt khép hờ, ngồi ngay ngắn bất động trên chiếu.
“Ha ha ha!” Tề Uy Vương bất chợt dừng bước, bật cười vài tiếng, quay trở về chỗ ngồi, siết chặt nắm tay, liên miệng kêu lên. “Quả nhân được rồi! Quả nhân được rồi!”
“Phụ vương?” Tích Cương khẽ gọi.
“Nhìn thấy Tô Tần chưa?” Uy Vương tươi cười hỏi.
“Tô Tần?” Tích Cương ngẩn người không hiểu. “Tô Tần sao kia?”
“Nếu không ngoài dự đoán của quả nhân, sau lưng Điền Kỵ hẳn có Tô Tần trợ lực, nếu không, hắn có mượn gan hùm cũng chẳng dám bất chấp tất cả, mà ngông cuồng liều mạng như thế!”
Tích Cương trầm ngâm suy nghĩ.
“Cương Nhi!” Uy Vương thực lòng khen ngợi. “Tô Tần kia thực là hiểu thấu lòng quả nhân. Hắn tới đây xin viện binh, đáng lẽ là chuyện nước lửa cấp bách, song lại cứ thủng thẳng như không, bởi lẽ hắn đã hiểu, quả nhân chắc chắn sẽ quyết sống mái với Ngụy Anh. Hàm Đan ư, quả nhân có muốn không cứu cũng không được!”
Tích Cương hít vào một hơi, hai mắt mở to chớp vài cái, dường như vẫn chưa hoàn toàn hiểu hết ý của phụ vương.
“Chuyện này tạm chưa nói tới, người này biết rõ quả nhân mở hội đua ngựa là trù bị cho chiến sự, làm nhà cái cá cược là để gom tiền tài, giờ lại lo lắng quả nhân vẫn chưa gom đủ, mới xúi giục Điền Kỵ tiếp tục thách đấu với quả nhân, lợi dụng triệt để cuộc đua lần này, đúng là dốc tận tâm huyết!”
“Nhưng...” Tích Cương vẫn băn khoăn. “Dụng ý của Tô Tử tuy tốt, song cũng là đi nước cờ hiểm, ít nhất đã ép Điền tướng quân vào đường cùng. Ngựa Điền phủ đua với vương mã, rõ ràng là lấy trứng chọi đá, có đấu đến trăm trận cũng thua cả mà thôi!”
“Than ôi!” Uy Vương thở dài một tiếng. “Đây cũng chính là chỗ khó của quả nhân. Thắng thua trên trường đua, dựa vào trí tuệ của Tô Tử, đương nhiên đã liệu trước cả rồi. Song hắn lại cầm chắc, nếu thi đấu lại, quả nhân chỉ có thể thua, không thể thắng!”
“Vì sao?”
“Là vì quả nhân không thắng nổi!”
Đã là tranh đua, lại còn có chuyện “không thắng nổi”? Tích Cương hai mắt trợn tròn, rõ ràng không hiểu.
“Cương Nhi, hãy nghĩ thử xem,” Uy Vương gập các ngón tay, “nếu đua lại, Điền Kỵ chắc chắn sẽ thua, điều đơn giản này, thiên hạ không ai không biết, nên mọi người chắc hẳn đều sẽ đặt cược cho vương mã thắng. Căn cứ vào tỷ lệ đặt cược thấp nhất là một ăn mười, nếu đặt cược vạn đĩnh, nhà cái phải trả thêm nghìn đĩnh, nếu đặt cược ba vạn đĩnh, quả nhân phải trả thêm bao nhiêu, con số này không khó để tính ra! Lại thêm tiền hoa hồng, cho dù quả nhân có hoà vốn không lỗ không lãi, thì việc mở hội đua lần này chẳng phải là công cốc hay sao?”
Tích Cương không thể ngờ rằng sự tình lại chuyển ngoặt như vậy, vô cùng khâm phục mưu tính tinh tường của Uy Vương.
“Than ôi, tạm chưa nói tới chuyện này, Tô Tần còn cầm chắc một chuyện nữa, đó là cho dù quả nhân có thắng Điền Kỵ, cũng sẽ chẳng làm gì được hắn. Gia sản của Điền Kỵ chỉ có bấy nhiêu, nếu như thua sạch, người chu cấp cho hắn vẫn cứ là quả nhân.”
“Cá cược dám chơi dám thua, phụ vương cớ sao phải chu cấp cho Điền Kỵ?”
“Còn có nguyên nhân nào khác nữa? Đến lúc chinh phạt Ngụy, chẳng nhẽ quả nhân lại đi bái một tên ăn mày không xu dính túi làm tướng quân?”
“Ý phụ vương là,” Tích Cương đột nhiên bừng tỏ, hạ giọng hỏi, “đợi cuộc đua kết thúc, chúng ta sẽ khởi binh cứu Triệu?”
“Than ôi!” Uy Vương thu lại nụ cười, khẽ thở dài một tiếng. “Sự việc không đơn giản như vậy. Không giấu gì con, mấy ngày nay, trong lòng ta thấp thỏm không yên, đang định chờ cuộc đua kết thúc, sẽ tới Thái miếu gieo một quẻ!”
“Phụ vương lo lắng vì cuộc chiến này?”
“Phải!” Uy Vương nheo nheo mắt, chậm rãi nói. “Tuy ta đã chuẩn bị chiến sự suốt tám năm trời, binh lính lương thảo đã đầy đủ, số xe ngựa cũng đã chiếm thượng phong, song Ngụy có Bàng Quyên và vài vạn võ binh do hắn huấn luyện, không thể xem thường, Điền tướng quân e không phải đối thủ! Cuộc chiến này, quả nhân nhất thiết phải thủ thắng, bởi lẽ quả nhân không thể thua, nước Tề cũng không thể thua!”
Tích Cương hít sâu một hơi, chậm rãi bật ra hai chữ: “Chính phải!”
“Tôn ái khanh!” Uy Vương quay sang Tôn Duyệt, chuyển sang chuyện khác. “Chuyện tái đấu với Điền Kỵ, có kế hay nào giúp Điền Kỵ được mở mày mở mặt không?”
“Đại vương muốn thần giả thua trước bao nhiêu con mắt?” Tôn Duyệt nghiêng đầu hỏi.
“Chuyện này sao có thể?” Uy Vương xua tay.
“Thần không có kế nào!” Tôn Duyệt khẽ lắc đầu. “Thần quan sát tốc độ của ngựa Điền phủ, tứ mã thượng đẳng chín trăm sáu mươi dặm, tứ mã trung đẳng chín trăm dặm, tứ mã hạ đẳng tám trăm năm mươi dặm, trong khi tốc độ ngựa của đại vương, tứ mã thượng đẳng là nghìn dặm, tứ mã trung đẳng là chín trăm năm mươi dặm, tứ mã hạ đẳng là chín trăm dặm, bất luận là tứ mã thượng, trung, hạ, sau mười vòng đua, khoảng cách chênh lệch đều không chỉ dừng lại ở một thân xe.”
“Hay là, chọn thêm con ngựa tốt cho hắn, để tứ mã hạ đẳng của hắn thắng?”
“Ngựa lần trước bán cho tướng quốc là do thần mới tìm thấy gần đây, nên quần thần đều không biết. Số vương mã còn lại, quần thần đều rõ mặt cả rồi, nếu chuyển sang tay Điền tướng quân, khác nào tuyên bố đại vương gian lận!”
“Ái khanh nói rất đúng!” Uy Vương gật đầu, cười gượng một tiếng. “Thôi kệ, cứ để Điền Kỵ tự tính toán. Đã dám cả gan sinh sự, cũng nên tự tìm cách dàn xếp! Quả nhân không cần thiết phải bận tâm về chuyện này!”
Hai ngày đã trôi qua, tới ngày thứ ba, Điền Kỵ không thể ngồi im được nữa, bèn vào khe núi thăm Tôn Tẫn.
Dưới cội mai già trong vườn mai, Thụy Mai y phục rộng rãi, tâm tư chìm đắm vào cây đàn cổ trước mặt. Tôn Tẫn và Tô Tần ngồi đối diện dưới chiếu, khép mắt lắng nghe.
Một đứa trẻ hơn hai tuổi ngồi trong lòng Tô Tần, tóc cắt chỏm đào, nghênh nghênh đầu nhìn bàn tay mẹ đang nhịp nhàng lên xuống trên những dây đàn.
Nhìn cảnh tượng này, dù Điền Kỵ ruột gan đang như lửa đốt cũng không dám lỗ mãng, bèn nhẫn nại chờ đợi cho tới khi Thụy Mai gảy xong khúc nhạc, mới đằng hắng một tiếng, lên tiếng gọi từ xa: “Hai vị nhân huynh thực có nhã hứng!”
Tôn Tẫn vẫy tay với Điền Kỵ, cười nói: “Tại hạ và Tô huynh đợi tướng quân đã lâu rồi.”
Điền Kỵ hấp tấp sải bước lại gần, cất giọng gấp gáp: “Ngày mai tái đấu rồi, dám hỏi Tôn huynh, ngựa quý của huynh ở đâu?”
“Ở trong tàu ngựa của tướng quân.” Tôn Tẫn lại cười.
“Trong tàu ngựa?” Điền Kỵ gãi gãi đầu, ngơ ngác. “Ồ, tại hạ vừa từ tàu ngựa ra, nào có nhìn thấy ngựa quý gì đâu!”
“Trong tàu ngựa của tướng quân không phải là ngựa quý, lẽ nào tướng quân chỉ nuôi toàn ngựa tồi?” Tôn Tẫn hỏi ngược lại.
“Đó là ngựa quý của tại hạ, không phải của Tôn huynh!” Điền Kỵ bắt đầu sốt ruột.
“Trận đấu ngày mai, là tướng quân thách đấu với vương mã, chứ có phải là tại hạ thách đấu với vương mã đâu? Ra trường đua đương nhiên phải là ngựa quý của tướng quân chứ!”
“Tôn huynh, huynh...” Điền Kỵ tức uất, không thốt nên lời.
“Điền huynh yên tâm,” Tôn Tẫn dịu giọng an ủi, “tại hạ đã dặn dò Cừu Quy kỹ lưỡng, mấy ngày nay cho ngựa ăn toàn ngũ cốc thượng hảo hạng, trận đấu ngày mai, quan trọng nhất là phải có sức khoẻ.”
“A... Tôn huynh hại ta rồi!”
Điền Kỵ quay ngoắt người định đi, sau lưng bỗng vọng lại tiếng Tô Tần: “Điền huynh dừng bước!”
Điền Kỵ đành dừng lại, quay đầu nhìn Tô Tần.
Tô Tần cũng bật cười. “Đại chiến chưa bắt đầu, thắng thua còn chưa rõ, Điền huynh cớ sao chẳng tĩnh tâm lại, lắng nghe một khúc nhã nhạc?” Rồi chỉ vào chỗ ngồi đã chuẩn bị sẵn bên cạnh. “Điền huynh, mời!” Rồi nhìn sang Thụy Mai. “Tẩu phu nhân, xin hãy vì Điền tướng quân mà gảy một khúc ‘Cao sơn, Lưu thuỷ’, để khích lệ tinh thần!”
Thụy Mai nhìn Điền Kỵ, nở một nụ cười rạng rỡ, hai tay vỗ đàn, bảy dây thánh thót ngân nga, trầm bổng dặt dìu.
Điền Kỵ bị bức đến chân tường, chỉ còn biết cười méo mó, hơi vòng tay về phía Thụy Mai nói: “Vất vả cho tẩu phu nhân rồi!” Sau đó tiến lại trước bàn, ngồi phịch xuống đất, miễn cưỡng nghe đàn.
“Ý tiên sinh là,” Trâu Kỵ nhìn trân trân vào Công Tôn Hãn, “ba ngày qua, chuồng ngựa của Điền phủ vẫn y như cũ, không hề thấy bóng dáng một con ngựa mới nào?”
“Đúng vậy!” Công Tôn Hãn khẽ đáp lời. “Chuyện này tạm chưa nói tới, buổi chiều hôm nay, Điền Kỵ còn tới một thôn trang nằm sâu trong Tắc Sơn, Hãn giả vờ lạc đường, lẻn vào trong đó, nhìn thấy Tô Tần đang cùng một kẻ mất đầu gối ngồi trong vườn mai nghe một người đàn bà gảy đàn. Hãn hỏi dò một đứa trẻ, mới biết Tô Tần kia suốt mấy ngày qua đều ở bên kẻ què gối kia, không rời nửa bước. Hãn còn dò la biết được, trong trận quyết đấu ba ngày trước, kẻ què gối kia cũng có mặt trên trường đua, ngồi xe lăn, được Tô Tần và một hán tử đẩy đến, rõ ràng kẻ đó không phải hạng tầm thường!”
“Kẻ mất đầu gối?” Trầu Kỵ hít ngược một hơi. “Lẽ nào hắn là...” Lời nói khựng lại nửa chừng, sắc mặt tràn đầy kinh ngạc.
“Chúa công?”
“Công Tôn tiên sinh!” Trâu Kỵ khẽ xua tay, chầm chậm thở ra, điều hoà hơi thở. “Có lẽ tiên sinh đã đúng. Gọi quản gia lại đây!”
Công Tôn Hãn gọi quản gia lại, Trâu Kỵ sai quản gia kiểm kê kho lẫm, mang ba trăm đĩnh vàng tới nhà cái, đặt cược cho ngựa Điền phủ.
Ba nghìn đĩnh vàng thực đúng là một ván cược trên trời, khiến cả nước Tề như phát cuồng, ngựa xe xếp hàng rồng rắn trước cửa các nhà cái trên trường đua, người tới đặt cược nườm nượp cả ngày lẫn đêm, tiền đặt cược cao gần gấp ba lần so với ba hôm trước. Cho tới giờ Thân, thượng đại phu Điền Anh hỉ hả thông báo với Uy Vương, tiền đặt cược trong cả nước đã gần ba vạn đĩnh, hầu như đều đặt vào vương mã, bởi lẽ tất cả mọi người đều nhận định, kết quả cuộc đua đã rõ ràng. Đặt cược cho ngựa Điền phủ chỉ có hai người, một là tướng quốc Trâu Kỵ và người kia là Điền Văn, thế tử của Tĩnh Quách Quân Điền Anh. Trâu Kỵ tin chắc vào phán đoán của Công Tôn Hãn, muốn quơ một mẻ lớn trong cuộc đua này, đồng thời đẩy Điền Kỵ vào chỗ chết. Còn Điền Văn là sau khi hỏi ý Tô Tần mới quyết định, trăm đĩnh vàng đem ra đặt cược, hoàn toàn là dựa vào niềm tin với Tô Tần bấy lâu nay.
Giờ Thân sắp tới, trên trường đua mọi thứ đã sẵn sàng, người đông như sóng, khách tới xem còn nhiều hơn ba phần so với ba hôm trước. Tề Uy Vương, thái tử Tích Cương và tất cả trọng thần nước Tề đều tới xem. Uy Vương còn đặc biệt mời đến các Tắc Hạ tiên sinh như Thuần Vu Tử, Thận Tử, sắp xếp cho họ ngồi trên khán đài chính, để tăng thêm không khí long trọng của cuộc đua.
Trên khán đài chính, Uy Vương ngồi nghễm nghện trên ghế chủ, một bên là Trâu Kỵ, một bên là Điền Kỵ. Thái tử và các trọng thần khác lần lượt chia nhau ngồi hai bên.
“Điền ái khanh!” Thấy thời giờ đã điểm, Uy Vương quay sang Điền Kỵ, mỉm cười nói. “Tuy sự việc đã tới nước này, song nếu ái khanh hối hận, quả nhân vẫn sẽ mở cho một đường thoát, hạ chỉ dừng ngay cuộc đua hôm nay!”
“Hồi bẩm đại vương!” Điền Kỵ vòng tay, mỉm cười bình thản. “Cung đã giương thì tên không thể thu về, thần lời đã nói ra, sao có thể nuốt lại?”
“Đã nói là vậy, thì hãy mau trình tiền cược ra đi!” Uy Vương cười cười.
Điền Kỵ sai mấy tráng hán lần lượt khiêng vào hai chiếc rương, đặt lên khán đài, mở nắp rương, chỉ vào những đĩnh vàng, nói: “Đây là nghìn đĩnh, mời đại vương kiểm tra!”
“Ồ, không phải là đặt cược ba nghìn đĩnh ư, sao chỉ có một nghìn?” Uy Vương không nhìn vào rương, mà nhìn thẳng vào Điền Kỵ.
“Số vàng còn lại ở chỗ đại vương!” Điền Kỵ thủng thẳng đáp.
“Ha ha ha!” Uy Vương liếc nhìn Điền Kỵ, bật cười vang. “Ái khanh lần này cầm chắc phần thắng, ăn chắc quả nhân rồi! Người đâu, bày vàng!”
Nội tể phẩy tay, cũng có hai tráng hán khiêng ra hai chiếc rương lớn, đặt lên khán đài.
“Điền ái khanh, quả nhân cũng tạm bày nghìn vàng, hai nghìn còn lại, tạm thời gửi trên người ái khanh!” Nói đoạn, nhìn sang Trâu Kỵ. “Trâu ái khanh, cuộc đua hôm nay, quả nhân mời khanh giám sát chấp pháp, trên trường đua coi trọng công bằng, tất cả đều tuân theo đúng quy tắc đã công bố trước kia, không ai được phép làm trái, quả nhân cũng không ngoại lệ!”
“Thần lĩnh chỉ!” Trâu Kỵ vái mà nói.
“Tới giờ chưa?” Uy Vương nhìn sang Điền Anh.
“Điền Anh gật đầu.”
“Khai đấu!” Uy Vương bật ra hai tiếng sang sảng.
Điền Anh gióng trống, hai cỗ xe chiến nhận được hiệu lệnh, lập tức lao đi băng băng. Hết vòng đua thứ nhất, ngựa của Điền phủ về sau ba thân xe. Hết vòng đua thứ hai, về sau năm thân xe. Khi vương mã đang lao về đích ở vòng thứ mười, thì ngựa của Điền phủ vẫn lẹt đẹt ở vòng thứ chín. Toàn bộ trường đua ầm ĩ tiếng la ó, ai nấy tràn đầy thất vọng.
“A!” Uy Vương vô cùng sửng sốt, nhìn sang Điền Kỵ. “Đây là tứ mã thượng đẳng của ái khanh đấy ư? Sao càng chạy lại càng kém cỏi làm vậy?”
“Thần xin nhận thua, nghìn đĩnh vàng này, thỉnh cầu đại vương vui lòng nhận lấy!” Điền Kỵ nhìn sang Trâu Kỵ đang chấp pháp.
Trâu Kỵ phẩy tay, hai binh sĩ chấp pháp bước tới trước mặt Điền Kỵ, lần lượt khiêng hai rương vàng tới bên cạnh Uy Vương.
Cuộc đấu thứ hai bắt đầu, vương mã trung đẳng và tứ mã trung đẳng của Điền Kỵ lao đi song song, cứ thế đến hết năm vòng đua, vẫn chưa phân thắng bại. Song tới vòng thứ bảy, kỳ tích đã xảy ra, ngựa của Điền Kỵ vọt lên trước vương mã nửa thân xe. Hơn nữa, ưu thế vẫn tiếp tục được duy trì, cho tới vòng thứ mười, cuối cùng đã về trước ngựa của vương thất đúng một thân xe.
Uy Vương bàng hoàng sửng sốt, người xem reo hò như sấm dậy, tất cả những người đã đặt cược vào vương mã mồ hôi như tắm. Duy có Trâu Kỵ nở một nụ cười âm hiểm, sau khi Điền Anh tuyên bố thắng bại, bèn sai binh sĩ khiêng lấy nghìn vàng Điền Kỵ vừa thua trả về chỗ cũ.
Ở cuộc đua thứ ba, kỳ tích của vòng thứ hai lại tái diễn, tứ mã hạ đẳng của Điền Kỵ tới vòng đua thứ bảy bắt đầu nhích lên, tới vòng chạy thứ mười, lại một lần nữa về đích trước tứ mã hạ đẳng của vương thất đúng một thân xe.
Uy Vương và hết thảy triều thần kinh ngạc đến trợn trừng mắt mũi, dù là mã sư Tôn Duyệt cũng ngây ra không hiểu tại sao.
Trâu Kỵ lại nở một nụ cười hiểm độc, sai binh sĩ khiêng nghìn đĩnh vàng của Uy Vương tới bên Điền Kỵ.
Toàn bộ trường đấu như thể vỡ tung, một số kẻ đã dốc hết gia sản đặt cược vào vương mã bất chấp thể diện, gào khóc om sòm trên khán đài. Gần như không một ai chúc mừng Điền Kỵ, bởi lẽ không có ai mong muốn Điền Kỵ thủ thắng, cũng không có ai lường trước được kết cục này.
Còn Điền Kỵ, lại không dương dương tự đắc đi vòng quanh trường đua “chia vui” giống như khi thua cuộc hôm trước, mà ngược lại, trên nét mặt không lộ mảy may phấn khởi. Đợi đến khi người xem đã tản đi hết, Trâu Kỵ mới đủng đỉnh bước tới trước mặt Uy Vương, đang định khởi tấu, thì Điền Kỵ đã quỳ xuống trước một bước, khấu đầu dõng dạc hô lên: “Thần Điền Kỵ có tấu!”
“Điền ái khanh!” Uy Vương tuy bại, song rất vui mừng, cười không khép nổi miệng. “Tấu thì cứ tấu, ái khanh lại quỳ xuống dập đầu như thế là vì cớ gì?”
“Thần thỉnh tội chết!”
“Ha ha ha ha!” Uy Vương bật cười vang. “Ái khanh hãy bình thân, quả nhân biết tội của khanh rồi, chỉ là một cuộc thắng thua mà thôi, ở đâu mà ra tội chết?”
“Thần có tội khi quân!”
“Tội khi quân?” Uy Vương thoáng sững sờ. “Hãy nói cho quả nhân nghe thử!”
“Hồi bẩm đại vương!” Điền Kỵ nói. “Cuộc đua lần này, sở dĩ thần giành chiến thắng, là vì đã dùng mưu kế!”
“Quả nhân đã nói rồi mà!” Uy Vương vuốt râu, kéo dài giọng. “Với mấy con ngựa trong tàu của ái khanh, sao có thể thắng được ngựa của quả nhân? Nói thử xem, khanh đã dùng mưu kế gì?”
“Thần dùng tứ mã hạ đẳng đua với tứ mã thượng đẳng của vương thất, dùng tứ mã thượng đẳng đua với tứ mã trung đẳng, tứ mã trung đẳng đua với tứ mã hạ đẳng, bỏ một lấy hai, nên đã chiến thắng.”
“Ồ!” Uy Vương khép mắt một lát, gật gù vài cái, lại vuốt râu. “Kế hay, kế hay, quả nhân thực lòng khâm phục! Xin hỏi ái khanh, kế này hẳn là của cao nhân?”
“Thần thỉnh cầu đại vương hãy cho tả hữu lui ra!”
Sau khi mọi người đã lui ra hết, Điền Kỵ tiến lại gần, ghé sát tai Uy Vương thì thầm vài câu. Uy Vương bàng hoàng chấn động, lẩm bẩm một mình: “Than ôi, thực không ngờ, quả nhân lại cứ ngỡ rằng người khuấy đảo phía sau là Tô Tử kia.” Im lặng một lát, lại nói với Điền Kỵ. “Điền ái khanh, hãy mời Tôn tiên sinh tới Tuyết cung yết kiến, quả nhân xin bày tiệc cung kính chờ đợi!” Rồi quay sang Trâu Kỵ. “Trâu ái khanh, theo quả nhân hồi cung, gặp gỡ một cao nhân!”
Khi Điền Kỵ đẩy xe lăn của Tôn Tẫn về phía Tuyết cung, Uy Vương đã cung kính chờ sẵn ngoài cửa, thái tử Tích Cương, Trâu Kỵ mỗi người đứng một bên, rất mực nghiêm trang.
Tôn Tẫn đang định xuống xe bái kiến, Uy Vương đã bước lại, ấn Tôn Tẫn ngồi xuống, đón lấy chiếc xe từ tay Điền Kỵ, với sự trợ giúp của Điền Kỵ, thái tử và Trâu Kỵ, chiếc xe được khiêng lên chín bậc thang trước chính điện, rồi được đích thân Uy Vương đẩy vào bên trong.
Vừa vào trong điện, bánh xe còn chưa kịp dừng hẳn, Tôn Tẫn đã dùng hai cánh tay rắn chắc bật người lên khỏi xe, trượt xuống dưới đất, dập đầu bái lạy, động tác dứt khoát, tốc độ mau lẹ, khiến hết thảy những người có mặt không ai không sững sờ kinh ngạc.
Do đã bị đục mất đầu gối, Tôn Tẫn không thể quỳ được, chỉ có thể ngồi trên đất, phủ phục người bái lạy.
Không đợi Tôn Tẫn dập đầu xong, Uy Vương đã kịp định thần, ra hiệu cho Tích Cương, đoạn hai người đỡ lấy Tôn Tẫn, dìu tới vị trí khách ngồi xuống, rồi quay trở về chỗ của mình. Những người khác cũng lần lượt ngồi vào chỗ theo đúng cấp bậc.
“Không giấu tiên sinh,” Uy Vương nhìn Tôn Tẫn hồi lâu, bất giác than thở, “hay tin tiên sinh bị Bàng Quyên hãm hại, quả nhân mấy đêm liền không chợp nổi mắt, không dưới một lần bàn với Trâu tướng quốc giải cứu tiên sinh, song sợ cứu không được, lại thành làm hại tiên sinh. Sau lại hay tin tiên sinh không biết đã đi đâu, nhiều lần cho người dò la, song vẫn bặt vô âm tín, người thì nói nhảy sông tự vẫn, người thì nói được người Tần cướp đi, người thì nói bị Bàng Quyên ngấm ngầm hãm hại, dù là kết cục nào cũng khiến quả nhân trong lòng đau xót. Thực không thể ngờ rằng, tiên sinh lại ẩn tàng ngay trước mắt quả nhân mà thần không biết quỷ chẳng hay, lại đợi đến thời khắc hệ trọng này mới xuất đầu lộ diện, thực là ông trời đã phù hộ cho đất nước giáp biển của quả nhân!” Nói đoạn, mừng rơi nước mắt, nâng vạt áo lên thấm lệ.
“Đại vương!” Tôn Tẫn cũng mừng mừng tủi tủi, nghẹn ngào mà rằng. “Tẫn có tài đức gì đâu, mà lại được đại vương sủng ái nhường này, đúng là đã khiến đại vương phải hao tâm tổn thần vì một kẻ tàn phế!”
“Có được tiên sinh, còn hơn mười vạn hùng binh!” Uy Vương khen ngợi một câu, rồi nhìn sang quần thần. “Không giấu chư vị, chuyện khác không nói, riêng chuyện tiên sinh có mặt trong hội đua ngựa lần này, dạy Điền tướng quân kế trộm xà đổi cột, khiến quả nhân thất bại trên trường đua, đã là lập công lớn với Đại Tề ta!”
Uy Vương tuyên bố như vậy, đừng nói là Trâu Kỵ, Điền Kỵ, dù là Tích Cương đã biết rõ nguyên do cũng cảm thấy ngỡ ngàng.
Uy Vương phá lên cười lớn: “Công đức nhường này, có lẽ chỉ tiên sinh mới hiểu.” Rồi quay sang Tôn Tẫn, chỉ vào quần thần. “Tôn tiên sinh, chư vị đây đều là tâm phúc của quả nhân, trụ cột của nước Tề, xin hãy giúp quả nhân giải thích cho sáng tỏ!”
Tôn Tẫn vòng tay vái liên hồi, giọng nói nghẹn ngào: “Thảo dân xúi giục thượng tướng quân mắc tội khi quân, đã gây ra tội chết, đại vương không những không trách phạt, trái lại còn cho là công lao, thực là thánh minh rất mực!”
“Ha ha ha, Tôn tiên sinh chớ nên quá khen, hãy nói về cái lợi khi quả nhân thua cuộc!”
“Chư vị đại nhân!” Tôn Tẫn lần lượt vòng tay với ba người, rồi nói. “Tuy Tẫn ngu dốt, song cũng không dám khi quân phạm thượng. Sở dĩ Tẫn hiến kế trộm xà đổi cột cho Điền tướng quân, là vì Tẫn biết đại vương tổ chức hội đua ngựa lần này, không muốn thắng ít, mà muốn thắng lớn!”
“Thế nào là thắng ít?” Điền Kỵ vội hỏi.
“Thắng thêm thượng tướng quân một lần nữa!”
“Thế còn thắng lớn?”
“Thua thượng tướng quân!”
“Ồ...” Điền Kỵ ngơ ngác, đưa mắt nhìn sang Trâu Kỵ, thái tử, rồi dừng lại trên người Uy Vương. “Đại vương, có đúng thế chăng?”
“Ha ha ha!” Uy Vương cười vang. “Tiên sinh nói chí phải, nếu quả nhân thắng thượng tướng quân, chỉ được ba nghìn đĩnh vàng, còn nếu thua thượng tướng quân, lại được ba vạn đĩnh vàng. Thượng tướng quân thử tính xem, ba nghìn đĩnh nhiều hơn, hay ba vạn đĩnh nhiều hơn?”
Lúc này, nghĩ tới chuyện người trong cả nước đều điên cuồng đặt cược vào vương mã, song vương mã lại bất ngờ thua ngựa Điền phủ, tiền đặt cược đều thuộc về nhà cái, người cai quản nhà cái lại là đại vương, triều thần lúc này mới vỡ lẽ, tấm tắc thán phục.
“Không giấu chư vị,” Uy Vương nhìn sang Điền Kỵ, “khi cuộc đua hôm đó kết thúc, quả nhân vốn dĩ cho rằng vạn sự đã viên mãn, nào ngờ Điền ái khanh không phục, ngay trên trường đua khẩn cầu tái đấu, thực khiến quả nhân vừa mừng vừa lo, cả đêm mất ngủ. Mừng vì nhân cơ hội này, quả nhân có thể thu thêm một khoản, còn lo là vì Điền ái khanh không thức thời, nếu lại để thất bại, chẳng phải sẽ làm hỏng mất đại sự của quả nhân?”
“Ồ?” Điền Kỵ ngỡ ngàng. “Nếu thần thua cuộc, đại vương thắng ba nghìn đĩnh, cũng coi như là thắng ít, cớ sao lại nói là làm hỏng đại sự?”
“Quả nhân thắng khanh ba nghìn đĩnh là thực, nhưng số tiền phải trả thưởng cho người đặt cược lại không chỉ có ba nghìn đĩnh!” Uy Vương giải thích, rồi quay sang Trâu Kỵ. “Nói tới chuyện này, quả nhân lại có một thắc mắc, muốn hỏi Trâu ái khanh, sao khanh không đặt cược vào vương mã, mà lại đặt cược vào thượng tướng quân?”
“Hồi bẩm đại vương!” Trâu Kỵ đảo con ngươi một vòng, cười mà đáp. “Thần thoạt tiên cũng lấy làm khó hiểu, suy nghĩ suốt một đêm ròng, mới ngộ ra đạo lý đại vương nên thua không nên thắng, do đó đã đặt cược vào thượng tướng quân.”
“Chậc chậc chậc!” Uy Vương tấm tắc khen ngợi, rồi lại lắc đầu than thở. “Ái khanh, lần này khanh đặt cược được phát tài, nhưng quả nhân lại mất trắng ba nghìn đĩnh!”
Quần thần đều cười rộ lên.
“Chư vị ái khanh!” Uy Vương bình tâm tĩnh khí, sắc mặt nghiêm trang. “Các khanh nói thử xem, trong đất nước giáp biển này, tất cả đều là của quả nhân, về lý mà nói, quả nhân chẳng thiếu thứ gì, thế nhưng giờ đây lại khẩn thiết sốt sắng, dốc hết tâm cơ, nát óc tính toán để gom góp tiền của, là cớ làm sao?”
Nghe thấy câu hỏi này, quần thần đều sững sờ, chỉ biết đưa mắt nhìn nhau.
“Xem ra,” Uy Vương nhìn sang Tôn Tẫn, “ở đây duy chỉ có tiên sinh trả lời được câu hỏi này, hãy nói cho chư vị nghe thử.”
“Thảo dân không dám đoán bừa ý bề trên.” Tôn Tẫn thấy quần thần đều đổ dồn ánh mắt về phía mình, thì vòng tay đáp lời. “Theo thiển ý của thảo dân, đại vương tích trữ tiền của, là để chuẩn bị cho chiến tranh, quyết chiến một trận với người Ngụy!”
Lời Tôn Tẫn vừa thốt ra, quần thần thoạt tiên chấn động, tiếp đó đưa mắt nhìn nhau.
“Thần có tấu!” Biết được Uy Vương khổ công tích luỹ tiền của để quyết chiến với Ngụy, Điền Kỵ phản ứng đầu tiên, tâm tư kích động muôn phần, phủ phục dưới đất mà nói. “Ý thần đã quyết, một nghìn đĩnh vàng có được hôm nay, cộng thêm một nghìn đĩnh vàng thắng cược, toàn bộ quyên vào quốc khố, dốc sức phạt Ngụy.”
“Thần cũng có tấu!” Điền Kỵ còn chưa dứt lời, Trâu Kỵ đã đứng dậy, dập đầu mà nói. “Ba nghìn đĩnh vàng thắng được hôm nay, cộng thêm ba trăm đĩnh đặt cược, đều xin quyên vào quốc khố, quyết chiến với Ngụy!”
“Ái khanh, tốt quá, tốt quá!” Uy Vương phấn khích không để đâu cho hết, tươi cười hớn hở, vòng tay lia lịa, quay sang nội tể. “Đã đến giờ rồi, thắp đèn lên, vì Tôn tiên sinh, vì chư vị ái khanh, bày tiệc!”
Đèn đuốc sáng trưng, chuông khánh vang rền, sáo đàn réo rắt, lời ca dìu dặt, tay áo dài múa lượn thướt tha. Một toán cung nhân hơn hai chục người nối đuôi nhau dâng thức ăn lên, rượu quý đồ ngon bày la liệt đầy bàn, quân thần nâng chén chuyện trò rôm rả. Rượu được vài tuần, được Uy Vương đề nghị, Điền Kỵ liền kể lại chuyện Tô Tần, Thuần Vu Khôn giải cứu Tôn Tẫn năm xưa, căng thẳng cam go, hồi hộp sống động, khiến người nghe xuýt xoa thán phục không ngơi miệng.
Tiệc vui đã tàn, đêm cũng về khuya, Uy Vương vẫn chưa hết hưng phấn, hạ lệnh giải tán đội nhạc, tống tiễn quần thần, chỉ giữ lại Tôn Tẫn trong cung, đẩy xe lăn ra hậu hoa viên, cùng Tôn Tẫn ngắm trăng trò chuyện.
“Quả nhân bất tài,” Uy Vương nhìn thẳng vào Tôn Tẫn, không thể kiên nhẫn được hơn, lập tức đi thẳng vào chuyện chính, “muốn thỉnh giáo tiên sinh việc binh, cung thỉnh tiên sinh chỉ giáo!”
“Chỉ giáo thì không dám!” Tôn Tẫn vòng tay đáp. “Nhưng nếu bàn về việc binh, thảo dân có vài điều muốn nói.”
“Xin cung kính lắng nghe!”
“Tiên tổ Tôn Vũ Tử có nói,” Tôn Tẫn dõng dạc cất lời, “việc binh, là đại sự của quốc gia, liên quan đến chuyện sống chết của quân dân, chuyện mất còn của đất nước, không thể không suy xét cho tường tận.”
“Chính phải! Chính phải!” Uy Vương nôn nóng đáp lời. “Suy xét thế nào, xin tiên sinh hãy chỉ giáo quả nhân!”
“Đạo dụng binh, không có nguyên lý bất di bất dịch. Đánh mà thắng, có thể cứu được đất nước lâm nguy mà tiếp nối được dòng họ đã tuyệt. Đánh mà không thắng, nhẹ thì cắt đất cắt thành, nặng thì nguy đến tông miếu xã tắc. Bởi vậy không thể không suy xét. Từ cổ chí kim, kẻ thích dụng binh đều tiêu vong, kẻ tham lợi mà gây chiến đều chuốc nhục. Cớ sao lại như vậy? Nguyên nhân chỉ có một, chính là dụng binh không phải chuyện vui mừng, chiến tranh không phải để thu lợi.”
“Dám hỏi tiên sinh,” Uy Vương hít ngược một hơi, nhổm người về phía trước hỏi, “dụng binh đã không phải chuyện vui mừng, chiến tranh đã không phải để thu lợi, vậy người làm tướng phải làm thế nào để chiến thắng?”
“Người không thích dụng binh, chắc chắn không tuỳ tiện gây chiến, ắt sẽ chuẩn kỹ càng mới giao chiến. Chuẩn bị kỹ càng rồi mới giao chiến, thành tuy nhỏ song giữ được lâu. Người không vì lợi mà gây chiến, chắc chắn không tham tiền tiếc đất, ắt sẽ vì nghĩa mà giao chiến. Vì nghĩa mà giao chiến, quân tuy ít song sức chiến đấu mạnh mẽ. Giữ mà không chuẩn bị, gây chiến mà không vì nghĩa, người làm tướng như thế mà muốn giành thắng lợi, đúng là vọng tưởng!”
“Tiên sinh dạy chí phải!” Uy Vương gật gù. “Lại hỏi tiên sinh, chuẩn bị kỹ càng mới giao chiến, vì nghĩa mà hưng binh, có thể đảm bảo không thất bại chăng?”
“Không thể!”
“Vậy... làm thế nào mới giành được chiến thắng?”
“Về đạo chiến thắng, tiên tổ Tôn Vũ Tử sớm đã tổng kết rằng: biết trước được nên đánh hay không nên đánh sẽ thắng; biết sử dụng chiến lược dựa trên binh lực nhiều hay ít sẽ thắng; trên dưới đồng lòng sẽ thắng; dùng quân có chuẩn bị đánh lại quân không có chuẩn bị sẽ thắng; tướng tài năng mà không bị vua chế ngự sẽ thắng.”
“Tướng tài năng không bị vua chế ngự?” Uy Vương lặp lại câu cuối cùng, từ từ khép mắt, rồi lại gật đầu. “Tôn Vũ Tử dụng binh, đã đạt đến độ xuất thần nhập hoá!” Rồi nhón lấy hạt khô trên đĩa, chậm rãi bóc vỏ từng hạt một, vừa bóc vừa hỏi. “Quả nhân muốn hỏi chuyện cụ thể, nếu hai quân đối đầu, cờ xí tương đương, tướng soái ngang ngửa, thế trận đều kiên cố, ai cũng không dám manh động, nên làm thế nào mới phải?”
“Có thể cử một viên dũng tướng, dẫn khinh binh tinh nhuệ xuất kỳ tập kích vào bên sườn trận địa của kẻ địch, không tính thắng thua, chỉ thăm dò thực hư, quan sát cách ứng phó, tuỳ cơ mà hành động, hoặc giả sẽ tìm ra cơ hội chiến đấu mà giành đại thắng.”
“Dụng binh ít nhiều, hẳn có nguyên lý?”
“Phải!”
“Ta mạnh địch yếu, ta đông địch ít, nên làm thế nào?”
Nghe hỏi vậy, Tôn Tẫn chống hai tay trên đất, rời khỏi chỗ ngồi, tiến tới trước mặt Uy Vương, phủ phục sát đất, lại hành đại lễ.
Uy Vương thoáng sững sờ: “Quả nhân chỉ là hỏi một câu, cớ sao tiên sinh lại hành đại lễ?”
Tôn Tẫn ngồi thẳng dậy, vòng tay nói: “Ta đông địch ít, ta mạnh địch yếu, mà đại vương vẫn hỏi câu này, thực xứng là minh quân!”
“Minh quân thì không dám!” Nhận được lời khen, Uy Vương trong lòng sung sướng, vòng tay tươi cười mà nói. “Là tiên sinh vừa rồi đã dạy quả nhân! Nếu dụng binh đã liên quan tới chuyện sinh tử mất còn, quả nhân sao có thể không thận trọng? Còn mong tiên sinh chỉ giáo đạo giành chiến thắng!”
“Ta mạnh địch yếu, ta đông địch ít, có thể dùng kế dụ địch, tức là thuận theo suy nghĩ của kẻ địch, cố tình khiến phe ta cờ quạt hỗn loạn, đội hình phân tán, khiến kẻ địch lơ là mất cảnh giác, chuyển cố thủ sang tấn công, quyết chiến với ta.”
“Địch đông ta ít, địch mạnh ta yếu, lại làm thế nào?”
“Có thể dùng kế thoái lui, tức là tránh né mũi nhọn, toàn quân lui về. Trong lúc rút lui, cần chuẩn bị tốt lực lượng bảo vệ phía sau, đều mang binh khí sắc dài, kết hợp với cung nỏ, đảm bảo đội ngũ rút lui tuần tự, an toàn. Khi rút lui tới địa thế thuận lợi, ta có thể dựa vào chỗ hiểm trở mà phòng ngự, khiến kẻ địch đánh lâu mệt mỏi, từ đó chờ cơ hội phản kích.”
“Thế lực tương đương thì sao?”
“Dùng kế nghi binh mê hoặc quân địch, phân tán binh lực địch, rồi nhanh chóng chớp thời cơ chiến đấu, đột kích thành công. Nếu kẻ địch không bị mắc lừa, không thể phân tán, ta nên án binh bất động, tiếp tục chờ đợi thời cơ. Nếu kẻ địch cũng dùng kế nghi binh, tuyệt đối không thể đánh.”
“Lấy một đấu mười, hẳn có diệu kế?”
“Xuất kích khi đối phương không đề phòng, tấn công khi đối phương không phòng bị.”
“Địa lợi như nhau, chiến lực tương đương, giao chiến lại bại, là như thế nào?”
“Trận thế không có mũi nhọn.”
“Hẳn có cách khiến ba quân tướng sĩ lúc nào cũng phục tùng hiệu lệnh?”
“Có uy lại có tín, chỉ huy nhất quán.”
“Sách lược của tiên sinh quả thực tuyệt diệu!” Uy Vương nghe mà hưng phấn, thật lòng khen ngợi. “Binh thế khôn cùng, tất cả đều ở trong lòng tiên sinh!” Rồi nhổm người về phía trước, nắm chặt lấy tay Tôn Tẫn, hai mắt sáng rực, thần khí bừng bừng, nhìn xoáy tới. “Nhân Tề còn muốn hỏi một câu, mong tiên sinh trả lời thành thực.”
“Đại vương cứ hỏi, thảo dân nếu biết sẽ không giấu!”
“Nếu khai chiến với Ngụy, ta có thể thắng?”
“Có!”
“Được mấy phần thắng?”
“Sáu phần!”
“Nghe nói Bàng Quyên trị binh nghiêm cẩn, võ binh Đại Ngụy kiên cố như sơn, không dễ lay chuyển, tiên sinh dựa vào đâu mà cho là thắng?”
“Ngựa!”
“Ngựa?” Uy Vương giật nảy trong lòng, đột nhiên bừng tỏ, nhìn vào Tôn Tẫn, ánh mắt tràn đầy cảm kích. “Quả nhân biết, ba năm trước, Điền ái khanh tấu thỉnh tổ chức hội đua ngựa, nếu quả nhân đoán không sai, hẳn là do tiên sinh hiến kế!”
“Chính phải!”
“Nói như vậy, cuộc chiến với Bàng Quyên, tiên sinh sớm đã có dự tính!” Uy Vương hai tay bưng đĩa hạt khô đã bóc hết vỏ lại trước bàn Tôn Tẫn. “Chỗ hạt khô này, tỏ chút lòng thành, mời tiên sinh thưởng thức!”
“Tạ ơn đại vương!” Tôn Tẫn vòng tay cảm tạ, cẩn thận bỏ toàn bộ vào trong ống tay áo.
“Vì sao tiên sinh không ăn?” Uy Vương ngạc nhiên hỏi.
“Hạt do đích thân thánh quân bóc, thảo dân không dám hưởng thụ một mình, muốn mang về hàn xá, cùng chung hưởng với thê tử!”
Nghe nói tới hàn xá và thê tử, Uy Vương hiểu ý, khẽ thở dài một tiếng, rồi sai nội tể: “Đêm đã khuya rồi, hãy hộ tống tiên sinh hồi phủ. Vào giờ Thân ngày mai, mời chư thần cấp trung đại phu trở lên tới Tuyết cung, mưu bàn chuyện Hàm Đan!” Rồi quay sang Tôn Tẫn, vòng tay. “Cũng mời tiên sinh ngày mai lại tới.”
“Thảo dân có tấu!”
“Ồ?”
“Buổi triều ngày mai, liệu thảo dân có thể không đến?”
“Ồ...” Uy Vương vội nói. “Quả nhân dốc sức trị nước suốt chín năm qua, chỉ là để quyết chiến một trận với Ngụy, song vẫn còn kiêng dè Bàng Quyên. Nay có tiên sinh, quả nhân không còn lo sợ nữa. Ngày mai quả nhân sẽ tế lễ cáo bày lên tiên tổ, bái tiên sinh làm tướng, dẫn quân cứu Triệu phạt Ngụy, tiên sinh không tới, sao có thể được?”
“Tạ ơn đại vương hậu ái!” Tôn Tẫn dập đầu bái tạ. “Người bị hành hình, không thể làm tướng!”
“Tiên sinh không chịu làm tướng, vậy ai có thể địch nổi Bàng Quyên?”
“Điền tướng quân. Thảo dân chỉ xin làm thuộc hạ, bày mưu tính kế giúp tướng quân.”
“Thuộc hạ thì không được!” Uy Vương trầm ngâm một lát, không đồng ý. “Tiên sinh xem thế này có được chăng? Quả nhân bái Điền Kỵ làm tướng, tiên sinh làm quân sư, tất cả mọi việc trong tam quân, đều tuân theo mệnh lệnh của tiên sinh!”
“Tạ ơn đại vương hậu ái!” Tôn Tẫn vòng tay cảm tạ. “Thần còn có một thỉnh cầu.”
“Cứ nói!”
“Thần cho rằng về việc quân sư, tạm thời chưa vội công khai, tránh gây rắc rối!”
“Xin nghe theo tiên sinh!”
Trâu Kỵ mặt ủ mày chau trở về phủ tướng, ngồi trong gian phòng yên tĩnh mà không thể bình tâm, càng nghĩ càng bực bội.
Trâu Kỵ không tham tiền tài, ông ta bực bội không phải vì trong nháy mắt mất đi ba nghìn ba trăm đĩnh vàng, mà là vì Điền Kỵ. Hễ nghĩ tới ân oán suốt mấy năm qua với Điền Kỵ, đặc biệt là chuyện Điền Kỵ khăng khăng thúc ép tổ chức hội đua ngựa ba năm về trước, Trâu Kỵ lại tức anh ách như có tảng đá đè trên ngực. Là một tôi hiền, Trâu Kỵ không có ân oán cá nhân nào với Điền Kỵ, chỉ là ghét cay ghét đắng bộ dạng diễu võ dương oai, động chút là dâng tấu đòi chinh phạt của Điền Kỵ. Trận chiến Hoàng Trì, Điền Kỵ phải chịu mối sỉ nhục tày đình, sau khi về nước, ỉu xìu như tàu lá chuối, náu mình nơi thôn dã trồng trọt cấy cày, Trâu Kỵ tuy không để lộ ra mặt, song trong lòng hết sức hả hê. Song ngày vui ngắn chẳng tày gang, thanh thản chưa nổi vài năm, đại quân của Việt Vương Vô Cương đã uy hiếp biên cương, Điền Kỵ vì thế lại được trọng dụng, sau đó tiếp tục giao chiến với người Yên, liên tiếp chiếm được mười thành, tinh thần hừng hực cứ như thể uống tiết gà, hễ mở miệng là sặc mùi máu tanh.
Là quan văn, Trâu Kỵ ngửi không quen, cũng không muốn ngửi mùi máu tanh. Ông ta tài hoa xuất chúng, song chí lại không lớn, chỉ muốn bình lặng làm một tôi hiền trong đời thịnh thế tại đất nước quay lưng ra biển này, giúp chúa thượng kê cao gối ngủ, giúp kẻ sĩ thoả chí bình sinh, giúp dân chúng an cư lạc nghiệp, đã mãn nguyện lắm rồi. Đồng liêu trong ngoài triều, gồm cả thượng đại phu Điền Anh và các học tử trong Tắc Hạ học cung, đa phần đều nghe theo ông ta, duy có Điền Kỵ luôn chống đối, không muốn nước Tề được hưởng một ngày thái bình, mà chỉ thích thiên hạ rối tinh rối mù mới vừa ý của họ Điền kia.
Đương nhiên, những bất đồng này vẫn chỉ là bề ngoài, là những điều hai bên thường xuyên lôi ra để bắt bẻ đối phương. Còn sâu xa hơn, cái mà hai bên tranh chấp, kỳ thực chính là địa vị trong cục thế triều đình. Điền Kỵ xuất thân vương tộc, từ nhỏ đã đọc binh pháp, rất được Uy Vương tín nhiệm, tới tuổi đội mũ đã cai quản lính cung vệ, tới tuổi ba mươi thống lĩnh quân đội năm đô, lần lượt chinh phạt các nước Sở, Triệu, Yên, Tống, Lỗ, đánh đâu thắng đó, được liệt vào hàng ngũ danh tướng trí dũng song toàn của liệt quốc, chiếm vị trí tôn quý trong tam quân nước Tề. Còn Trâu Kỵ lại xuất thân bần hàn, nhờ tài năng mới được nhập cung, gảy đàn ẩn dụ chính sự mà được Uy Vương trọng dụng, cất nhắc làm tướng quốc, cần cù phụ chính mười năm, khiến Tề đại trị, kho lẫm dư dật, dân chúng văn minh, của rơi ngoài đường không ai nhặt, đêm ngủ không cần khoá cửa, sau này còn ra sức khuyên Uy Vương mở rộng Tắc Hạ học cung do tiên quân sáng lập, xây dựng vạn gian nhà ở, che chở cho sĩ tử nghèo liệt quốc, được cả thiên hạ ca tụng, nổi tiếng là tướng hiền bậc nhất. Thoạt đầu, Trâu Kỵ không mâu thuẫn với Điền Kỵ, song do quyền cao chức trọng, Trâu môn thành ra cao quý, hàn sĩ tìm đến Trâu môn ngày càng đông, những nhân tài được Trâu Kỵ tiến cử làm quan mau chóng hình thành nên thế lực văn trị trong triều, khó lòng không xảy ra xung đột với phe thượng võ do Điền Kỵ cầm đầu. Hai bên mỗi bên một ý, khẩu chiến liên hồi, ngày tháng lâu dần, thành ra không bên nào chịu nhường bên nào.
Đang ngồi buồn bã thì quản gia gõ cửa, bẩm báo Công Tôn Hãn cầu kiến, hình như là có chuyện. Trâu Kỵ ngạc nhiên, bèn lấy lại tinh thần, bước ra khỏi tĩnh phòng, tới gian phòng khách bên ngoài.
“Công Tôn Hãn chúc mừng chúa công!” Vừa nhìn thấy Trâu Kỵ, Công Tôn Hãn đã vòng tay chúc tụng.
“Chuyện mừng ở đâu ra?” Trâu Kỵ nhất thời ngơ ngác.
“Ba nghìn đĩnh vàng!” Công Tôn Hãn vui vẻ nói. “Nhà nông mười mẫu ruộng, năm mẫu dâu, thức khuya dậy sớm, làm lụng mệt bở hơi tai, một năm cũng khó lòng thu được một đĩnh, chúa công chớp mắt một cái, giơ tay ra đã có ngay ba nghìn đĩnh, há chẳng phải chuyện mừng ư? Hãn mạo muội tới đây, một là muốn được chia vui, hai là muốn được uống rượu mừng, ba là muốn được khen thưởng!”
“Bày rượu!” Trâu Kỵ căn dặn quản gia, rồi quay sang Công Tôn Hãn, chỉ vào vị trí khách, cung kính nói. “Tiên sinh, mời!”
Hai người ngồi xuống, Trâu Kỵ nhìn thẳng vào Công Tôn Hãn nói: “Tiên sinh tới đây, rượu có thể uống, song không phải là để mừng!”
“Ồ?”
“Không giấu tiên sinh,” Trâu Kỵ cười nói, “tuy được ba nghìn đĩnh vàng, song giờ đã không còn thuộc về lão hủ nữa rồi. Một canh giờ trước, lão hủ đã quyên toàn bộ cho quốc khố, dùng vào việc phạt Ngụy!”
Hiển nhiên, Công Tôn Hãn không lường trước được diễn biến này, sững sờ mất một hồi mới định thần, lại vòng tay chúc mừng: “Chúa công khí tiết cao thượng, vì nước quên nhà, làm gương cho dân chúng năm đô, ắt được trời cao phù hộ, Hãn xin được chúc mừng chúa công!”
“Than ôi!” Trâu Kỵ cười gượng một tiếng, xua tay thở dài thườn thượt. “Cái gì mà vì nước quên nhà, rõ ràng chỉ là ném lia thia mặt nước mà thôi!”
“Chúa công?”
“Được rồi, không nói chuyện này nữa!” Trâu Kỵ dừng lại một lát, rồi nhìn hắn mà nói. “Tiên sinh tới thật đúng lúc, lão hủ đang có đại sự cần bàn với tiên sinh.”
“Chúa công cứ nói, Hãn xin lắng nghe!”
Trâu Kỵ kể vắn tắt một lượt sự việc trong cung, lại thở dài một tiếng: “Than ôi, không giấu tiên sinh, đúng là nuôi cò cò mổ mắt, toàn bộ sự việc, ngay từ đầu lão hủ đã nhìn lầm rồi. Ba năm trước, Điền Kỵ tấu thỉnh tổ chức hội đua ngựa, đại vương chuẩn tấu, lão hủ biết đại vương mê ngựa, nên cũng không nghĩ ngợi gì nhiều. Hội đua ngựa năm nay, đại vương tăng tiền đặt cược, lão hủ ngẫm nghĩ, cho rằng vương thất muốn dựa vào đó để gom góp tiền tài, thật không ngờ, lại là gom góp tiền tài chuẩn bị phạt Ngụy. Xem ra, đại vương vẫn không lúc nào quên mối nhục Hoàng Trì!”
“Đúng vậy!” Công Tôn Hãn thuận miệng hùa theo một câu, rồi nhổm người về phía trước hỏi. “Dám hỏi chúa công, đại vương phạt Ngụy rửa nhục, kìm hãm thế Ngụy, là chuyện hay, chúa công không vui lại còn bực bội, hẳn là vì Điền Kỵ tướng quân đắc chí?”
“Không phải!” Trâu Kỵ lắc đầu. “Nếu chỉ vì Điền Kỵ đắc chí hay không, thì tiên sinh đã coi thường lão hủ rồi. Sở dĩ lão hủ không vui, là vì một chuyện, hiện tại phạt Ngụy, bất lợi cho đất nước, e là không phải chuyện tốt lành.”
“Chúa công dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Theo suy đoán của lão hủ, khai chiến với Ngụy có ba điều không thoả đáng. Thứ nhất, võ binh Ngụy dũng mãnh, lại được Bàng Quyên huấn luyện cả năm trời, kinh qua nhiều trận chiến, đã tôi luyện nên lòng quả cảm, coi chém giết chốn sa trường là vinh dự. Ngược lại nhìn quân Tề mà xem, ăn sung mặc sướng tạm không tính đến, giờ lại phân thành năm đô, tản mát đã quen, e là không chiến đấu nổi. Thứ hai, hễ xảy ra chinh chiến, binh sĩ tất tử thương, nguyên khí tất hao tổn, lương thảo tích trữ tất cạn kiệt, kẻ địch bên ngoài tất sẽ lợi dụng cơ hội này. Nếu người Sở tranh Tứ Hạ của ta, người Yên tranh Hà Gián của ta, thì ta nên ứng phó thế nào? Thứ ba, kẻ hiếu võ đắc chí, ắt sẽ mở mang quân đội đấu đá với bên ngoài, gây bất lợi cho nội trị. Đất nước nội bộ không bình trị, ắt tiêu vong trong sớm tối!”
“Chúa công đã có ba mối lo, cớ sao không khuyên can trực tiếp với đại vương?”
“Khuyên can thế nào đây?” Trâu Kỵ lắc đầu. “Muốn khuyên đại vương, lão hủ cần phải nhìn khí, xem thế của đại vương. Hôm nay quan sát thấy, đại vương một lòng một ý, quyết tâm báo thù, Điền Kỵ khí thế hừng hực, quyết chí rửa nhục. Hàm Đan bị bao vây, tung hoành cùng quyết chiến, Tô Tần báo nguy, quân tình khẩn cấp, đã không thể trì hoãn nữa rồi. Trận chiến Tề, Ngụy lần này, không thể tránh khỏi, lão hủ chẳng còn cách nào khác, đành quyên tiền hưởng ứng, thuận theo ý đại vương!”
Công Tôn Hãn chìm vào suy nghĩ.
“Công Tôn tiên sinh!” Trâu Kỵ đưa mắt nhìn thẳng vào hắn. “Xem tiên sinh mưu sự vô cùng cơ trí, lão hủ cũng không muốn giấu. Lần trước Tô Tần cầu viện binh, đại vương lên triều bàn bạc có nên cứu viện hay không, Điền Kỵ và lão hủ mỗi người một phách, Điền Kỵ chủ trương xuất binh, lão hủ đề xuất ngồi yên quan sát, triều thần cũng không thống nhất, đại vương vì vậy mà gác lại tranh luận. Nào ngờ lão hủ lại hiểu lầm ý của đại vương, gây ra tình cảnh khó xử hiện tại, rất mong tiên sinh chỉ giáo!”
“Chúa công khách khí rồi!” Công Tôn Hãn vòng tay đáp lời. “Dốc sức vì chúa công, là bổn phận của bề dưới. Hãn cho rằng, trong tình thế hiện tại, chúa công không hề khó xử, mà ngược lại tiến có thể đánh, lùi có thể phòng!”
“Ồ?” Trâu Kỵ nhổm người về phía trước.
“Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ, trong vòng ba ngày nữa, đại vương chắc chắn sẽ lại bàn chuyện cứu Triệu, chúa công có thể chủ trương xuất binh, hơn nữa dốc sức tiến cử Điền Kỵ làm tướng. Điền Kỵ làm tướng, nếu chiến thắng, chúa công sẽ có công tiến cử; nếu không chiến thắng, Điền Kỵ chỉ có thể đối diện với hai kết cục, một là tử chiến nơi sa trường, hai là quỳ gối trước điện chịu phạt. Bất luận là kết cục nào, chúa công đều là người chiến thắng. Còn những chuyện như binh lính tử thương, quốc khố cạn kiệt, vốn là thứ của đại vương, là chuyện của đại vương, chúa công hà tất phải băn khoăn trăn trở. Hơn nữa, chúa công đã từng lên tiếng khuyên can rồi.”
Trâu Kỵ trầm ngâm hồi lâu, vòng tay mà rằng: “Đa tạ tiên sinh chỉ giáo. Từ hôm nay trở đi, tiên sinh hãy ở bên lão hủ, theo hầu sớm chiều.”
“Cảm tạ chúa công yêu mến!” Công Tôn Hãn vòng tay từ chối. “Hãn tuỳ tiện đã quen, không biết theo hầu, e sẽ làm hỏng đại sự của chúa công, mong chúa công thu hồi mệnh lệnh!”
“Ồ...” Trâu Kỵ sững người, hai mắt nhìn thẳng vào Công Tôn Hãn, thấy trong ánh mắt Công Tôn Hãn không chút sợ sệt, cũng không vẻ xu nịnh thì lấy làm kinh ngạc, cảm thấy người này hoàn toàn khác với những môn khách bình thường, hẳn là mang chí lớn, thì thở phào, nở nụ cười mà nói. “Lão hủ hồ đồ mất rồi, Công Tôn tiên sinh là bậc đại tài, đương nhiên phải được trọng dụng. Buổi triều ngày mai, lão hủ lập tức tấu lên đại vương, chiếu mệnh tiên sinh làm ngự sử đại phu của tướng phủ, thế nào?”
“Tạ ơn chúa công hậu ái!” Công Tôn Hãn lại vòng tay cảm tạ. “Hãn tự tại quen rồi, không hiểu lễ nghi, ngự sử đại phu là chức vị quan trọng trong tướng phủ, là mệnh quan của triều đình, Hãn e là không đủ sức gánh vác, lại xin chúa công thu hồi mệnh lệnh!”
“Ồ?” Trâu Kỵ ngỡ ngàng. “Tiên sinh thế này không chịu, thế kia không muốn, vậy lão hủ phải báo đáp thế nào mới phải?”
“Chúa công chỉ cần thưởng cho Hãn một khoảnh chiếu ngồi, ban cho cơm ăn, lại chịu nghe Hãn nói nhảm vài lời, thế là đã đủ lắm rồi!”
Trâu Kỵ đang định than vãn, thấy quản gia dẫn nô bộc bưng rượu thịt vào thì chuyển sang chuyện khác, bảo quản gia cùng ngồi xuống. Chủ tớ ba người vui vẻ nâng chén, tán gẫu tào lao chuyện nhà chuyện nước, mãi tới tận đêm khuya mới giải tán.
Vào giờ Thân ngày hôm sau, toàn bộ triều thần từ cấp trung đại phu trở lên bao gồm cả điện hạ, Trâu Kỵ, Điền Kỵ đều tập hợp ở Tuyết cung. Không phải là buổi triều sớm, cũng không phải là buổi đại triều, Tuyết cung càng không phải là chính cung hay chính điện nước Tề, do vậy lần bái kiến này không phải ăn vận theo nghi lễ, trong điện chỉ kê hai dãy bàn dài, bên trên bày thức uống, hoa quả, quan viên vừa bước chân tới cửa điện đã được nội tể thân cận của Uy Vương đích thân đón vào, phân chia cấp bậc ngồi xuống, được phục vụ trà, quả chu đáo.
Từ giờ Thân, hơn bốn mươi trọng thần văn võ đều đã chực sẵn trong điện, không dám đi lại, cũng không dám cử động, càng không dám to tiếng, người nào người nấy lặng lẽ uống trà, ăn quả tại chỗ. Ăn no lửng bụng quả, uống no căng bụng trà, một số triều thần chịu nhịn hết nổi bắt đầu rậm rịch ra vào, Uy Vương vẫn chưa xuất hiện, cũng không tuyên bố huỷ bỏ buổi yết kiến.
Qua đúng hơn một canh giờ, từ phía cửa bên có tiếng động vọng lại, một lát sau, Uy Vương đĩnh đạc tiến vào, đi về phía chỗ ngồi của quân vương.
Quần thần lật đật đứng dậy rời khỏi vị trí, chỉnh đốn mũ áo chuẩn bị hành đại lễ khấu bái thì Uy Vương giơ tay ngăn lại.
“Chư vị tân khách, chư vị ái khanh!” Uy Vương vươn thẳng người, giọng nói như chuông đồng. “Trước hết Điền Nhân Tề có lời cảm tạ chư vị!” Nói đoạn, hướng về phía quần thần, khom người một vòng.
Quần thần một phen rối loạn, nhất loạt phủ phục xuống đất, chưa kịp nói gì thì giọng Uy Vương đã lại vang lên: “Điền Nhân Tề cảm tạ chư vị, không phải là vì đã để chư vị chờ đợi quá lâu, mà là vì đã thắng tiền chư vị trong hội đua ngựa!”
Đám triều thần ở đây không người nào không đặt cược, không người nào không thua cược, song đều đã chấp nhận thua cuộc, vốn không có ý kiến gì, giờ thấy Uy Vương khơi ra chuyện này, hơn nữa còn ở ngay giữa điện đường, khiến ai nấy đều ngỡ ngàng sửng sốt.
“Thứ nữa,” ánh mắt Uy Vương dừng lại ở Điền Kỵ và Trâu Kỵ, “Điền Nhân Tề xin có lời cảm tạ tướng quốc Trâu Kỵ, thượng tướng quân Điền Kỵ, vì hai người này đã thắng tiền quả nhân!” Lại hướng về Trâu Kỵ, Điền Kỵ vái một vái.
Vẫn là một chữ tiền. Sau giây phút ngỡ ngàng, quần thần cười rộ lên, nhìn vào Trâu Kỵ và Điền Kỵ.
Trâu Kỵ, Điền Kỵ vội vàng đáp lễ.
“Tiếp nữa, Điền Nhân Tề xin cảm tạ tất cả thần dân đã mua ngựa, đặt cược trong hội đua ngựa năm nay, bởi lẽ họ đều đã trợ giúp quả nhân, san sẻ gánh lo với quả nhân, cùng chung mối thù với quả nhân!” Uy Vương lại vòng tay hướng về phía khoảng không.
Uy Vương liền một lúc cảm tạ quần thần những ba lần, ngoài một vài người đã biết nội tình, còn lại đều ngỡ ngàng không hiểu Tề Uy Vương định giở bài gì.
“Quả nhân đa tạ chư vị đang có mặt ở đây, quả nhân cảm tạ thần dân thiên hạ, đều vì một chữ tiền. Chư vị hẳn đang thắc mắc, quả nhân phải chăng quá tham tiền tài? Quả nhân phải chăng đang vơ vét tiền tài? Đúng vậy, quả nhân tham tiền, quả nhân đang vơ vét tiền tài. Thế nhưng chư vị ái khanh, có ai trong số chư vị trả lời được câu hỏi, quả nhân đời này đã bao giờ tham lam tiền tài? Quả nhân đời này đã bao giờ vơ vét tiền tài? Quả nhân bỗng chốc thành ra tham tiền, bỗng chốc vơ vét tiên tài, là bởi vì đâu?” Uy Vương dừng lại một lát, sắc mặt vụt biến, giọng gằn từng tiếng. “Chính là vì một chuyện, bắt sống Bàng Quyên, rửa mối nhục Hoàng Trì!” Nói đoạn, siết chặt tay quyền đến nỗi kêu lên răng rắc. “Chư vị có điều không biết, năm xưa quả nhân đồng ý cùng xưng vương với Ngụy Anh, chỉ là vì Bàng Quyên làm mưa làm gió sau lưng, trước hết lừa quả nhân trở mặt với Ngụy Anh ở Từ Châu, sau đó thực thi mưu kế xảo trá, dìm chết quân ta, làm nhục quả nhân. Thù này quả nhân đã khắc cốt ghi tâm suốt mười năm ròng, giờ đã đến lúc phải trả!”
Triều thần đã hiểu nguyên nhân, căm phẫn sục sôi, nhất loạt dập đầu hô lớn: “Đại vương thánh minh, chúng thần nguyện theo đại vương, thề báo quốc thù!”
“Đa tạ chư vị!” Uy Vương nhìn khắp lượt quần thần, vòng tay mà rằng. “Quả nhân cho mời chư vị tới đây, một là để bày tỏ lòng cảm tạ, hai là muốn bàn chuyện xuất binh. Cách đây không lâu, có người đã nhắc lại một câu của Tôn Vũ Tử, nói rằng, việc binh là đại sự của quốc gia, liên quan đến chuyện sống chết của quân dân, chuyện mất còn của đất nước, không thể không suy xét cho tường tận. Đã không thể không suy xét cho tường tận, thì quả nhân cũng không thể xốc nổi hưng binh, nên mới mời chư vị tới bàn bạc, nên xuất binh cứu Triệu, hay là cứ để mặc Bàng Quyên lộng hành ở Hàm Đan?”
Đa số triều thần đều lên tiếng hưởng ứng, có một vài người nhìn về phía Trâu Kỵ.
“Trâu ái khanh, ý khanh thế nào?” Uy Vương bèn chỉ đích danh.
“Thần cho rằng,” Trâu Kỵ trầm giọng thong thả đáp, “xuất binh cứu Triệu, có ba điều bất lợi!”
Trâu Kỵ xưa nay vẫn luôn phản đối chiến tranh, trước khi hội đua ngựa diễn ra, chưa từng có chủ trương cứu Triệu, nên vào lúc này, ông ta nói vậy, hiển nhiên không nằm ngoài dự đoán của quần thần. Uy Vương sắc mặt vẫn thản nhiên, chỉ giương cặp mắt ưng nhìn xoáy tới: “Bất lợi thế nào, khanh hãy nói thử xem!”
“Thứ nhất, chinh chiến ắt tử thương, nguyên khí ắt tổn hại, tích trữ ắt tiêu hao, kẻ địch bên ngoài ắt thừa cơ dòm ngó. Cường địch của ta ở nam ở bắc, chứ không phải ở đông tây, nếu người Sở nhân lúc ta chinh chiến phía tây, mưu chiếm Tứ Hạ của ta, người Yên tranh lấy Hà Gián của ta, thì ta sẽ ứng phó thế nào đây? Thứ hai, theo thần được biết, Bàng Quyên giỏi dụng binh, lính Ngụy dũng mãnh hơn người, đặc biệt là quân hổ bôn, không những sức mạnh vô địch, mà còn được Bàng Quyên huấn luyện cả năm trời, kinh qua nhiều trận chiến, coi chém giết chốn sa trường là vinh quang. Lại nhìn quân ta, phân thành năm đô, tản mạn rời rạc, nhàn hạ đã quen, thần e rằng...”
Trâu Kỵ còn chưa nói dứt lời, đám võ tướng đã nhao nhao đứng dậy định tranh luận, song bị Uy Vương giơ tay ngăn lại.
“Thứ ba,” Trâu Kỵ liếc nhìn đám võ tướng đang bất bình phẫn nộ, dõng dạc nói tiếp, “ba nước vây Triệu, là xuất phát từ hành động của người Tần nhằm phá sách lược hợp tung. Tần và ta cách ngăn Tam Tấn, vốn chẳng liên quan đến nhau, ta giúp Triệu giải vây, thắng thì không sao, thua thì tự chuốc lấy hoạ, Tần hẳn sẽ trút giận vào ta, mượn đường Ngụy tiến thẳng vào bờ cõi ta, đến lúc đó, khó tránh một trận sống mái!”
Quả đúng là một mối lo âu hệ trọng, quần thần đưa mắt nhìn nhau, mấy viên võ tướng gồm cả Điền Kỵ, Khuông Chương đều không biết nói gì, miệng mấp máy vài cái, rồi lại nín bặt.
Uy Vương hít ngược vào một hơi, khép mắt trầm ngâm. Hiển nhiên, trước đó, Uy Vương chưa từng nghĩ tới chuyện này, hoặc chí ít cũng là chưa nghĩ được cặn kẽ đến thế.
“Có điều,” Trâu Kỵ đổi giọng, “xuất binh cứu Triệu, cũng có ba điều lợi.”
“Nói mau!” Uy Vương mở choàng mắt.
“Điều lợi thứ nhất là, sáu nước kết minh, giao ước hợp tung, nay minh ước vẫn còn, mà Ngụy lại bội minh phản ước, cấu kết kẻ địch, thảo phạt nước liên minh, thất đạo với thiên hạ, nếu ta xuất binh, là chính nghĩa, sẽ được trời cao trợ giúp. Điều lợi thứ hai là, ba nước vây khốn Triệu, Triệu không có đường lui, duy có hai cách, hoặc là ký minh ước dưới thành, cắt đất chịu khuất, hoặc là như thú hoang bị vây khốn, liều mạng quyết chiến, tuyệt địa cầu sinh. Dựa theo tính khí của người Triệu, ắt chọn cách thứ hai. Điều lợi thứ ba là,” Trâu Kỵ nhìn sang Điền Kỵ và các võ tướng, “mối nhục Hoàng Trì, không chỉ đại vương, mà chư vị tướng quân hẳn cũng đều khắc cốt ghi tâm, đặc biệt là thượng tướng quân, nếm mật nằm gai, mười năm mài kiếm, chỉ vì để bắt sống Bàng Quyên, trả mối sỉ nhục ê chề năm xưa. Nay được ra trận, tất đồng chí chung thù, dũng mãnh thẳng tiến, bởi vậy thần...” nhìn sang Uy Vương, “chủ trương xuất binh, tấu thỉnh thượng tướng quân làm tướng, mong đại vương minh xét!”
Thấy Trâu Kỵ xưa nay luôn phản đối chiến tranh, giờ vòng vo một hồi lại nhắc tới xuất binh, hơn nữa còn từ bỏ hiềm khích trước đây, chủ động đề cử Điền Kỵ làm tướng, Uy Vương mừng vui khôn xiết, lập tức chuẩn tấu, chiếu mệnh Điền Kỵ làm tướng, Điền Anh làm phó tướng, Khuông Chương làm tả quân, Mâu Tân làm hữu quân, thái tử làm giám quân, Trâu Kỵ phụ trách cung ứng lương thảo, còn việc bổ nhiệm quân sư cho tam quân, sẽ xuống chiếu sau. Ngay từ hôm nay, chủ tướng điểm đủ mười hai vạn binh của năm đô lên đường cứu Triệu, chọn ngày lành làm lễ tế cờ.
Điền Kỵ bái tướng xong, lập tức lên xe đi vội, trước hết là tới trạch phủ của Tô Tần ở học cung Tắc Hạ. Từ sau khi xuống núi, vợ chồng Tôn Tẫn tới sống ở đây, thứ nhất là để tránh hiềm nghi, thứ hai là để chuyện trò với Tô Tần cho thoả chí.
Vừa bước vào cửa, Điền Kỵ đã hào hứng kể lại chuyện xảy ra trong cung, miệng nói tay lần tìm trong ống tay áo chiếu mệnh Uy Vương cho mình làm chủ tướng, hai tay đưa cho Tôn Tẫn.
Tô Tần thở phào một tiếng.
“Bái phục Tô huynh!”
Tôn Tẫn đọc xong chiếu mệnh, đưa cho Tô Tần, cười mà nói: “Tiên tổ Tôn Vũ Tử có nói, không đánh mà khuất phục được người, nay đúng là đã thấy ở Tô huynh rồi!”
“Tôn huynh quá khen!” Tô Tần xem xong chiếu mệnh, trả lại Điền Kỵ, lắc đầu đáp lời. “Không đánh mà khuất phục được người, là cảnh giới xuất thần nhập hoá, tại hạ sao có thể đạt tới? Chẳng qua tại hạ chỉ làm được đến ‘thắng địch trước rồi đánh sau’ mà thôi.”
‘“Không đánh mà khuất phục được người’, tại hạ có thể hiểu. Còn như Tô Tử nói ‘thắng địch trước rồi đánh sau’, tại hạ ngu muội, thế này là...” Điền Kỵ vò đầu hỏi.
Điền Kỵ vừa dứt lời, bên ngoài bỗng vọng vào tiếng huyên náo, Trâu Phi Đao dẫn một cung nhân bước vào, tuyên vương chỉ triệu kiến Tô Tần.
“Điền huynh, thế này đã giải thích được chưa?” Tô Tần nhận vương chỉ, nhìn Điền Kỵ cười cười, vòng tay từ biệt, rồi đi theo cung nhân.
Cỗ xe thẳng tiến tới Tuyết cung, còn chưa dừng lại, qua rèm cửa xe, Tô Tần đã nhìn thấy Uy Vương, thái tử và mấy cung nhân đứng đợi sẵn ngoài cửa. Tô Tần xuống xe, hấp tấp tiến lại, khom lưng vái dài về phía Uy Vương, thái tử: “Thần Tô Tần khấu kiến đại vương, khấu kiến điện hạ!”
Uy Vương cười vang, đáp lễ một vái. “Tô Tử, khanh để cha con chúng ta chờ lâu quá, may sao hôm nay ấm trời!”
“Thần ở Tắc Hạ, ngày đêm cung kính chờ đợi đại vương tuyên gọi, vừa nãy nhận được chỉ lệnh, giày không kịp đi, mũ không kịp chỉnh, lập tức hấp tấp vào cung, trên đường ngựa không dừng vó, vội vã gấp gáp, vậy mà vẫn cứ tới chậm.”
Tô Tần nói đoạn lại khom lưng xuống, Uy Vương cười vang tiến lại, cầm tay Tô Tần dẫn vào trong cửa cung.
Mọi người tới chính điện, phân ngôi quân thần ngồi xuống.
“Năm xưa,” Uy Vương đích thân rót chén trà thơm cho Tô Tần, nửa như bông đùa mà đi vào chuyện chính, “Thân Bao Tư vì cứu Sở, đã khóc liền bảy ngày bảy đêm ngoài cung Tần. Tô Tử khanh thì ngược lại, cầu cứu quả nhân, vậy mà cửa cung chưa bước vào một lần, lời ngon ngọt chưa buông ra một câu, nghe nói mấy ngày nay còn tới nơi hẻo lánh, thưởng mai nghe đàn!”
“Đại vương nói vậy là không hiểu về Thân Bao Tư, lại nghĩ oan cho thần rồi!” Tô Tần thuận miệng đáp lời, làm ra vẻ mặt ảo não.
“Ồ?” Uy Vương ngạc nhiên. “Hãy nói thử xem, quả nhân không hiểu Thân Bao Tư thế nào, nghĩ oan cho Tô Tử thế nào?”
“Thân Bao Tư từ nhỏ đã thích khóc, nói cũng khóc, cười cũng khóc, đói cũng khóc, no cũng khóc, tỉnh cũng khóc, ngủ cũng khóc, buồn cũng khóc, vui cũng khóc, đối với ông ta, mọi chuyện đều có thể khóc. Đừng nói là bảy ngày bảy đêm, dù ông ta có khóc liền dăm ba năm cũng là chuyện bình thường. Lại vừa hay Tần Công vốn dĩ rất sợ nghe tiếng khóc, nên chỉ còn cách cho ông ta mượn binh. Thần khác với Thân Bao Tư, vì thân bẩm sinh đã không biết khóc. Nay đại vương so sánh thần với Thân Bao Tư, thực khiến thần có miệng mà không thể phân bua!”
“Ha ha ha, chẳng phải khanh đang phân bua rất hay đấy ư?” Uy Vương đẩy chén trà đến trước mặt Tô Tần. “Tô Tử, mời dùng trà!”
Tô Tần cảm tạ, khẽ nhấp một ngụm, rồi chép miệng một hơi hơn chục cái rất đỗi khoa trương, lại tặc lưỡi hai tiếng, mới vòng tay nói: “Trà thơm của đại vương lại khiến thần sực nhớ tới một chuyện.”
“Cứ nói!”
“Năm xưa nếu Tần Công cũng như đại vương, mời Thân Bao Tư vào cung, bịt miệng bằng một chén trà thơm, có lẽ đã không còn phải nghe thấy tiếng khóc của ông ta.”
“Ha ha ha!” Uy Vương cười ngất. “Văn võ bá quan trong triều, quả nhân chỉ thích nghe khanh nói!”
“Tạ ơn đại vương khen ngợi!” Tô Tần vòng tay cảm tạ, nói. “Không giấu đại vương, vừa nãy đều là nói vui. Quay về chuyện chính, thần vì Triệu mà cầu cứu, song chưa từng tới khóc lóc trước cửa cung, không phải thần không hiểu lễ nghi, mà kỳ thực là vì thần biết, đại vương không giống Tần Công!”
“Ồ? Khanh tử nói xem, quả nhân cớ sao lại không giống Tần Công?”
“Thân Bao Tư khóc lóc trước cung Tần, là vì Tần Công thích mềm không thích cứng. Thần cầu cứu đại vương mà không khóc, là vì đại vương thích cứng không thích mềm.”
“Ồ?” Uy Vương ngẩn người. “Quả nhân sao lại thích cứng không thích mềm?”
“Phàm người hung bạo thiếu nghĩa, ắt đều ngoài cứng trong mềm, phàm người nhân ái trượng nghĩa, ắt đều ngoài mềm trong cứng. Đại vương ngoài mềm trong cứng, thần hẳn không nói sai?”
Uy Vương phá lên cười sảng khoái: “Cũng chỉ có Tô ái khanh mới nghĩ ra được những lời này. Được được được, quả nhân phục khanh rồi. Tô Tử, quả nhân mời khanh tới đây, không phải vì chuyện khác, chính là muốn nhờ khanh gửi lời tới kẻ hậu sinh họ Triệu kia, nói rằng hai nước Triệu, Tề chỉ cách một sông, gắn bó như môi với răng, quả nhân cùng Triệu Ngữ qua lại đã nhiều năm, vừa là bạn cũ, vừa là huynh đệ. Nay huynh đệ xương tàn còn chưa lạnh, đất nước đã gặp nạn lớn, quả nhân không đành lòng ngồi nhìn, đã hạ chiếu cho Điền Kỵ làm tướng, khởi hai mươi vạn đại binh tới cứu Hàm Đan, bảo Triệu Vương cứ an tâm mà chờ!”
Tô Tần đứng dậy, phủ phục khấu đầu, dõng dạc cảm tạ: “Thần thay mặt Triệu Vương, thay mặt ba trăm vạn con dân đất Triệu, cảm tạ đại vương ban ân!”
Nhận được chỉ dụ của Tề Vương, Tô Tần không dám chậm trễ, lập tức về Triệu phục mệnh. Tôn Tẫn bịn rịn chia tay, tiễn xa mười dặm mới thôi.
“Tô huynh!” Tôn Tẫn nắm tay Tô Tần nói. “Trên đường về Triệu, phiền Tô Huynh nhân tiện ghé qua Tống, Vệ, hẹn hai nước trợ giúp!”
“Ồ...” Tô Tần thoáng do dự. “Tống, Vệ thế yếu, xưa nay vẫn khiếp sợ trước uy thế Ngụy, chắc là sẽ không dám xuất binh!”
“Không phải muốn họ xuất binh, chỉ là muốn mượn đường họ.”
“Chuyện này không khó!” Tô Tần khảng khái nhận lời.
Tô Tần đi được ba ngày, Uy Vương cho triệu kiến chư tướng Điền Kỵ, Điền Anh, Khuông Chương, Mâu Tân tới Tuyết cung, chính thức thụ mệnh Tôn Tẫn làm quân sư, sự vụ trong quân đều do quân sư quyết định, ai trái lệnh, coi như tội kháng chỉ. Ngoài ra, chuyện Tôn Tẫn làm quân sư, tạm thời không tuyên bố trước ba quân tướng sĩ.
Chiếu mệnh đã xong, Uy Vương dẫn chư tướng tới tông miếu bái tế.
Lại qua ba ngày nữa, tam quân làm lễ tế cờ, toàn bộ nước Tề gấp rút chuẩn bị chiến sự, binh lính năm đô được điều động đầu tiên, theo lệnh của Điền Kỵ, tập trung tại trọng trấn vùng biên giới Tề, Ngụy là A Ấp. Cùng lúc đó, lương thảo, quân nhu từ khắp nơi kìn kìn vận chuyển về các kho lương ở biên giới phía tây, do trọng binh các ấp canh giữ.
Lễ tế cờ kết thúc, chủ tướng hữu quân Mâu Tân đánh xe tới con phố bán ngọc, mua một số lễ vật, chở thẳng tới Trâu phủ.
Mâu Tân vừa bước vào tuổi tam thập nhi lập, lứa tuổi sung sức nhất trong đời, lần này cứu Triệu, đối với hắn là một cơ hội hiếm có. Mâu Tân vốn là phó tướng dưới trướng của Cao Đường lệnh Điền Phán, được Điền Phán nhận làm con nuôi, khi lâm chung, Điền Phán tiến cử hắn tiếp quản chức Cao Đường lệnh. Cao Đường là trọng trấn ở vùng biên giới phía tây nước Tề, một trong năm đô của Tề, quản hạt hơn chục ấp phía tây, nên chức vị này xứng đáng là trọng thần biên cương. Điền Phán gả con gái cho con trai thứ của Trâu Kỵ, hai nhà kết thông gia, Mâu Tân do đó cũng quen biết Trâu phủ, tối ngày ra vào Lâm Truy đều mua chút lễ vật tới thăm hỏi, trò chuyện rất tâm đầu ý hợp, xin bái Trâu Kỵ làm thầy. Trâu Kỵ cũng muốn kết giao với nhà võ, nên thuận thế thu nạp làm đệ tử, mở rộng thế lực hòng đối đầu với Điền Kỵ. Lần này cứu Triệu, ấp Cao Đường phải đứng mũi chịu sào, Mâu Tân đã nhiều lần theo Điền Phán giao chiến với Triệu, hiểu rõ nước Triệu, được Uy Vương phong làm chủ soái hữu quân, thống lĩnh binh lính của hai đô Cao Đường và Bình Lục.
Trâu Kỵ hay tin, ra tận ngoài cửa nghênh đón, dắt tay Mâu Tân vào trong phòng khách.
Mâu Tân vừa bước vào phòng khách đã phủ phục xuống khấu lạy mà nói: “Ân sư ở trên, xin nhận của đệ tử một lạy!”
Trâu Kỵ nhận một lạy của hắn, rồi đỡ hắn đứng dậy, nói: “Mâu Tân, lão phu biết thế nào ngươi cũng đến, đã ở đây đợi ngươi đúng hai canh giờ rồi!”
“Ân sư!” Có lẽ do quá xúc động, Mâu Tân nâng ống tay áo che mặt, một lát sau mới cất giọng nghẹn ngào. “Đệ tử tới muộn!”
“Ha ha ha, không muộn, không muộn!” Trâu Kỵ cười nói. “Lần này chinh phạt về tây, đã tới lúc ngươi lập công dương uy, lão phu già cả, cậy nhờ cả vào ngươi!”
“Ân sư!” Mâu Tân nước mắt đầm đìa.
“Mâu Tân, đại trượng phu đầu rơi máu chảy, chết còn không sợ, còn khóc gì kia?”
“Ân sư!” Mâu Tân gạt nước mắt, ngẩng nhìn Trâu Kỵ. “Đệ tử lần này ra đi, quyết không phụ kỳ vọng của ân sư, đánh cho họ Điền kia phải mở to mắt nhìn!”
“Tốt lắm, tốt lắm!” Trâu Kỵ liên miệng tán dương. “Lão phu muốn nghe câu nói này của ngươi.”
Trâu Kỵ vỗ tay, rèm phía trong được vén lên, một gã thanh niên tráng kiện từ phòng bên sải bước lại gần.
Trâu Kỵ nói với gã thanh niên: “Tiểu Hạo, lại đây, bái kiến Mâu tướng quân!”
Gã thanh niên bước lại trước mặt Mâu Tân, vái một vái dài: “Vãn sinh Trâu Hạo bái kiến Mâu tướng quân!”
“Mâu tướng quân!” Trâu Kỵ chỉ Trâu Hạo nói. “Đây là khuyển tử của lão phu, lớn lên nơi thôn dã, có chút sức lực, từ nhỏ đã thích múa gậy luyện thương, hiểu qua binh pháp chiến trận, chỉ là không hợp tính với lão phu. Nay nước nhà có chuyện, lão phu cho gọi nó về, tiến cử với tướng quân, mong tướng quân rèn giũa tài bồi, sớm muộn lập nên công trạng, để lão phu khỏi phải nhọc lòng!”
Mâu Tân đứng dậy, đi một vòng quanh Trâu Hạo, vỗ mạnh một cái lên vai hắn: “Thực là một thiếu niên vũ dũng! Hạo đệ, tới dưới trướng đại ca rèn luyện một phen, có đồng ý không?”
“Trâu Hạo đồng ý!” Trâu Hạo dõng dạc đáp lời.
“Ân sư!” Mâu Tân quay sang Trâu Kỵ. “Hữu quân còn thiếu một viên tướng tiên phong, đệ tử đang tìm người, nay thấy Hạo đệ tuổi nhỏ anh hùng, làu thông văn thao võ lược, xứng mặt đại tài, vừa hay thích hợp với vị trí này!”
Trâu Kỵ khẽ chau mày, còn chưa kịp lên tiếng, Trâu Hạo đã vái dài sát đất: “Trâu Hạo đa tạ tướng quân giúp đỡ!”
Điền Kỵ chiếu theo vương mệnh, điểm đủ mười hai vạn quân năm đô, hăm hở mang danh sách các lộ quân báo lên Tôn Tẫn. Tôn Tẫn dặn Điền Kỵ tuyển lựa ra ba vạn bộ binh, trong vòng hai mươi ngày phải học được cách phi ngựa.
“Tôn huynh!” Điền Kỵ sắc mặt băn khoăn. “Ngựa là dùng để kéo xe, không phải dùng để cưỡi. Lần trước huynh bảo tập cưỡi, tại hạ cũng đã thử qua, ngã đến mấy lần.”
“Tướng quân đã học được?” Tôn Tẫn cười hỏi.
“Học thì có được, nhưng không hề dễ. Hai chân lơ lửng, khó mà bấu víu, chỉ có thể kẹp chặt vào bụng ngựa, nào ngờ con ngựa đó cũng thật quái đản, càng kẹp chặt lấy bụng, lại càng chạy nhanh, xóc nảy đến kinh người, sau hai vòng, xóc tới ê ẩm cả mông, ngã liền mấy bận. Tại hạ cũng được coi là người hiểu ngựa, vậy mà còn bị ngã, tướng sĩ khác chẳng cần nói cũng biết.” Điền Kỵ mặt mày nhăn nhó.
“Có thể học, đừng nói là mấy lần, dù có ngã ba chục lần cũng đáng. Phải rồi, tam quân đã huấn luyện được bao nhiêu binh sĩ biết cưỡi ngựa?”
“Không dưới vạn người.”
“Thế thì tốt quá. Vạn người này lại dạy cho hai vạn người khác, ngày ngày luyện tập, trong vòng hai mươi ngày, nhất định phải rèn luyện ra một đội kỵ binh tinh nhuệ.”
“Tôn huynh!” Điền Kỵ nhìn Tôn Tẫn khó hiểu. “Liệt quốc hiện tại đều trọng xe chiến, dựa vào mũ trụ áo giáp mà thủ thắng, Tôn huynh lại bỏ xe cưỡi ngựa, bỏ nặng lấy nhẹ, thực khiến tại hạ không hiểu nổi. Không giấu Tôn huynh, từ lúc huynh căn dặn chuyện này, tại hạ vẫn băn khoăn trong lòng, tới nay vẫn chưa thể lý giải.”
“Dám hỏi tướng quân,” Tôn Tẫn nhìn thẳng vào Điền Kỵ, “nếu hai quân số lượng tương đương, gặp nhau nơi đường hẹp, nổi trống giao tranh, liệu giáp sĩ nước Tề có thắng nổi võ binh nước Ngụy?”
Điền Kỵ lắc đầu.
“Xe chiến nước Tề liệu có thể đọ sức với xe chiến nước Ngụy?”
Điền Kỵ lại lắc đầu.
“Mưu kế của tướng quân liệu có hơn được mưu kế của Bàng Quyên?”
Điền Kỵ cứng họng.
“Cả ba đều không thể, lại hỏi tướng quân, tướng quân dựa vào đâu để khiến tướng sĩ của mình thủ thắng?”
Điền Kỵ mồ hôi lút đầu.
“Duy một chữ này, có thể giành chiến thắng!” Nói tới đây, Tôn Tẫn viết lên bàn một chữ “kỳ” thật lớn.
“Kỳ!” Điền Kỵ nhìn trân trân vào chữ này, miệng lẩm bẩm, đôi mày chau tít, một lát sau, ngẩng đầu nhìn Tôn Tẫn. “Phải giải thích thế nào?”
“Kỳ là ngược lại với chính.” Tôn Tẫn dõng dạc nói. “Lão Tử nói rằng, ‘dùng chính để trị nước, lấy kỳ để dụng binh, lấy vô sự để có được thiên hạ’, xứng là tuyệt diệu. Nếu là trị quốc, kỳ không thắng nổi chính; nếu là trị binh, chính không thắng nổi kỳ; nếu là trị thiên hạ, hữu sự không thắng nổi vô sự. Theo đó mà luận, chỗ kỳ diệu trong dụng binh chính là ở một chữ ‘kỳ’.”
“Ồ...” Điền Kỵ chưa từng nghe cao luận nhường này, nhất thời ngơ ngác, đưa tay lên gãi đầu.
“Nói thế này vậy,” Tôn Tẫn lại giải thích cách khác, “lấy trận hữu hình đấu với trận hữu hình, lấy xe đấu với xe, lấy lính đấu với lính, lấy sức đọ sức, là dùng chính. Lấy trận vô hình đấu với trận hữu hình, lấy xe đấu với lính, lấy lính đấu với xe, lấy trí đọ lực, là dùng kỳ.”
Điền Kỵ đột nhiên bừng tỉnh, khẽ gật đầu, tiếp tục hỏi: “Hai quân đối kháng, dựa vào đâu mà biết chính, dựa vào đâu mà dùng kỳ?”
“Điều tướng quân hỏi, chính là chỗ phân biệt tài cao thấp của binh gia!” Tôn Tẫn đáp lời. “Hai quân đối kháng, kỳ chính khó đoán, do biến hoá khôn lường nên khó mà phân định. Từ cổ chí kim, phàm người giỏi dụng binh, đều có một tài năng, chính là nhìn sở trường của địch mà biết sở đoản của địch, nhìn khiếm khuyết của địch mà biết chỗ đủ đầy của địch. Đây gọi là đoán địch như thần. Tiên tổ Tôn Vũ Tử có nói: ‘Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng; không biết người mà chỉ biết ta, một thắng một bại; không biết người cũng không biết ta, đánh đâu thua đấy’, chính là nói tới chuyện này. Không biết địch, không biết ta, thì không thể phán đoán địch dùng kỳ hay chính, bản thân cũng không thể dựa vào kỳ mà giành chiến thắng.”
Điền Kỵ hít vào một hơi dài, rồi từ từ thở ra: “Lời tiên sinh quá ư cao siêu, tại hạ ngu muội, cần phải lĩnh ngộ dần dần. Điều tại hạ lo lắng, vẫn là hai chữ ‘kỳ chính’ này, xin tiên sinh hãy lấy những việc quân thường gặp để giải thích rõ!”
“Vậy thì đơn giản thôi.” Tôn Tẫn cười vang mà nói. “Phàm những sự việc phơi bày hiển lộ, đều là chính; phàm những sự việc giấu giếm ẩn tàng, đều là kỳ. Hai quân đối trận, quan sát tình thế hiển lộ của địch, như thế là biết chính, ta ứng phó bằng tình thế ngược lại, là dùng kỳ. Ví dụ như, địch tĩnh, ta sẽ lấy động để chế ngự; địch động, ta lại lấy tĩnh để chế ngự; địch mệt mỏi, ta lại lấy nhàn để ứng phó; địch đói khát, ta lại dùng no để chế phục; địch ít, ta sẽ dùng đông để ứng phó. Dùng kỳ chú trọng ở ẩn tàng, nếu như khiến cho kẻ địch không hề hay biết, có không muốn thắng cũng khó.”
“Tại hạ hiểu rồi!” Điền Kỵ bừng tỉnh ngộ. “Võ binh Ngụy trang bị tận răng, di chuyển ắt sẽ chậm chạp, hợp tĩnh không hợp động, hợp trận pháp không hợp biến báo. Nếu ta dùng kỳ, chính là lấy động chế tĩnh!”
“Đúng vậy!” Tôn Tẫn khen ngợi. “Xe chiến dễ di chuyển, song bị hạn chế bởi thời tiết, đường sá. Cưỡi ngựa thì khác, có thể đi qua đường mòn lối hẹp, có thể lội suối vượt truông, có thể vào rừng rậm gai góc, có thể băng qua bùn lầy, có thể dễ dàng qua lại trong mưa gió, chóng vánh như gió, ồ ạt như lửa, tấn công chỗ kẻ địch không phòng bị, chính là có thể khắc chế võ binh nước Ngụy.”
“Chính phải!” Điền Kỵ bái phục.
“Cưỡi ngựa có mười cái lợi, tướng quân có biết?”
“Xin quân sư chỉ giáo.”
“Cưỡi ngựa có thể tách có thể hợp, có thể tán có thể tụ, rong ruổi trăm dặm, ra vào thông suốt, xứng đáng là đội quân tách nhập. Nếu khéo dùng ở sa trường, thứ nhất có thể đón đánh địch mới tới; thứ hai có thể lợi dụng sơ hở mà tấn công sau lưng; thứ ba có thể truy đuổi loạn quân tan rã; thứ tư có thể đón đánh tập hậu, khiến địch phải tháo chạy; thứ năm có thể đoạt lấy lương thảo của địch, cắt đứt đường tiến của địch; thứ sáu có thể chiếm lấy cửa ải bến sông, cắt đứt cầu của địch; thứ bảy có thể tấn công chỗ địch không phòng bị, đánh bại đội quân chưa kịp chỉnh tề; thứ tám có thể tiến đánh vào chỗ địch lỏng lẻo, tấn công chỗ địch không ngờ; thứ chín có thể thiêu huỷ kho lương của địch, càn quét sạch không phố chợ làng mạc của địch; thứ mười có thể cướp đoạt ruộng vườn của địch, khiến con cháu địch mệt mỏi! Có mười cái lợi này, hẳn tướng quân đã biết được ưu thế của cưỡi ngựa!”
“Đúng vậy!” Điền Kỵ siết chặt tay quyền, rít qua kẽ răng. “Ta có vài vạn kỵ binh tinh nhuệ, có tiên sinh mưu sâu, thì sợ gì không bắt sống được Bàng Quyên!”
Hồi Thứ 65
Mưu kỳ binh, Tôn Tẫn cứu Hàm Đan
Quyết tử chiến, Bàng Quyên bày quy trận
Mượn được đại binh, Tô Tần vẫn một xe một ngựa, do Trâu Phi Đao đánh xe trở về. Vì sự việc cấp bách, Tô Tần đi liền không nghỉ, qua Tống tới Vệ, sau mười ngày thì đến ngoại ô Hàm Đan, lại bị lính Ngụy chặn đường, dẫn vào trong đại trướng trung quân.
Bàng Quyên tươi cười bước ra đón, bày sẵn trà thơm. Tô Tần không uống, hai mắt nhìn thẳng vào Bàng Quyên.
Bàng Quyên nhìn vào mắt Tô Tần, thấy không có ý thù hận, không có vẻ khinh bỉ, không có nỗi tuyệt vọng, chỉ thấy thấp thoáng nét đau thương, song nét đau thương này đã có phần khác biệt so với hồi ở Quỷ Cốc. Hồi ở Quỷ Cốc, trong nét đau thương còn thấp thoáng vẻ đôn hậu và tự ti, còn nỗi đau thương bây giờ, vẻ đôn hậu vẫn còn, song không thấy tự ti đâu nữa, mà thay vào đó là... một cảm giác kỳ lạ mà Bàng Quyên không tài nào nói rõ.
“Tô huynh, ánh mắt của huynh rất lạ, phải chăng đang bất lực?” Bàng Quyên khẽ nhướng mày, cười hỏi.
“Là thương xót.” Tô Tần thu ánh nhìn về, bình thản đáp lời.
“Phải phải phải, chính là cảm giác này!” Bàng Quyên lập tức reo lên. “Tô huynh nói thử xem, là thương xót cho người Triệu, hay là người Tề? Hay là người Sở, người Hàn, người Yên?”
“Chính là thương xót cho Bàng huynh đó!”
“Sao kia?” Bàng Quyên thoạt tiên ngỡ ngàng, tiếp đó bật lên một tràng cười lớn. “Ha ha ha, Tô huynh được lắm, huynh thương hại tại hạ! Huynh thương hại Bàng Quyên tại hạ!” Lại chỉ vào Tô Tần cười ngặt nghẽo. “Tô huynh Tô huynh Tô huynh, Tô huynh được lắm! Nào nào nào, dùng trà!” Rồi rót đầy một chén. “Đây là trà thượng hạng, tại hạ đặc biệt sai người vào tận Quỷ Cốc hái về, chính là ở cái khe mà tiểu đồng đã từng dẫn chúng ta tới năm xưa!”
“Là đại sư huynh!” Tô Tần sửa lại.
“Phải phải phải, là đại sư huynh!” Bàng Quyên cười nói. “Ôi đầu óc của tại hạ, vừa xuống núi là quên béng chẳng còn nhớ gì nữa. Sao, lần này tới Tề, có mượn được binh cho người Triệu không?”
“Bàng huynh,” Tô Tần vòng tay, “tại hạ có một khẩn cầu, xin hãy lắng nghe!”
“Chúng ta là đồng học nhiều năm, hà tất phải dùng hai chữ khẩn cầu? Tô huynh có điều gì, cứ nói đừng ngại!”
“Biết đủ là dừng, thu binh thôi!”
“Tô huynh khẩn cầu điều này?” Bàng Quyên thoáng kinh ngạc.
“Hiện tại lui binh, may ra vẫn còn kịp!”
“Chuyện này ư, hãy cho phép tại hạ suy nghĩ chút ít.” Bàng Quyên hít sâu một hơi, làm bộ nhắm mắt ngẫm nghĩ, hồi lâu sau, mới mở mắt ra nói. “Tại hạ nghĩ thông rồi, Tô huynh bất tất phải khẩn cầu, tại hạ sẽ mau chóng lui binh!”
“Mau chóng là bao lâu?”
“Chính là đến khi đánh hạ Hàm Đan, bắt sống được thằng o ắt họ Triệu.”
Tô Tần thở dài một tiếng, khép mắt lại.
“Phải rồi!” Bàng Quyên ngả người sang. “Hình như Tô huynh vẫn chưa trả lời câu hỏi vừa rồi của tại hạ?”
“Câu hỏi nào kia?”
“Chính là chuyện mượn binh! Tô huynh hăm hở tới Tề mượn binh, không biết đã mượn được... hay chưa?”
“Tề Vương đã phát đại binh, chẳng mấy mà tới!”
“Ái chà!” Bàng Quyên vỗ khẽ lên ngực, giả bộ kinh hãi. “Tại hạ sợ quá đi mất! Dám hỏi Tô huynh, Tề Vương phải chăng phát mười hai vạn đại binh, Điền Kỵ làm chủ tướng, Điền Anh làm phó tướng, Khuông Chương làm tả quân, Mâu Tân làm hữu quân?”
“Quả là nhanh nhạy!” Tô Tần cười gượng một tiếng. “Chỉ là vẫn tính thiếu tám vạn. Theo như lời Tề Vương nói, thì là hai mươi vạn quân!”
“Ha ha ha!” Bàng Quyên cười vang. “Hai mươi vạn kia à! Thật không ngờ lão khọm Tề Vương cũng dốc sạch vốn liếng ra rồi đấy. Phải rồi, lão khọm Tề Vương lần này điều binh khiển tướng, chặt chẽ trăm bề mà vẫn còn một sơ hở.”
“Sơ hở gì?”
“Sau trận Hoàng Trì lần trước, hắn sai Điền Anh tới chuộc Điền Kỵ về. Lần này bổ nhiệm Điền Anh làm phó tướng, vậy biết lấy ai tới chuộc Điền Kỵ về đây?”
Tô Tần thở dài một tiếng, khép mắt lại.
“Tô huynh, huynh đi chuyến này cũng gần hai tháng, hẳn là không phải chỉ ở lì nước Tề mượn binh đấy chứ? Thế nào chẳng tới chỗ người Sở, người Hàn, cả người Yên nữa, có tin vui gì chia sẻ với tại hạ chăng?”
“Tại hạ đã báo cho nước Sở, nước Hàn và nước Yên, tin rằng đã không khiến Bàng huynh thất vọng!”
Bàng Quyên lại rú lên cười sằng sặc: “Tốt quá rồi! Tại hạ xưa hay hiếu khách, bất luận là tân khách tới từ phương nào, tại hạ cũng sẽ bày trận dưới chân thành Hàm Đan cung kính nghênh tiếp!” Rồi quay ra phía ngoài trướng, dõng dạc hô. “Người đâu, tiễn khách!”
Xe ngựa của Tô Tần lao thẳng tới chân thành Hàm Đan, từ xa đã có người nhìn thấy Tô Tần, cổng thành rộng mở, một đoàn binh mã long trọng tiến ra nghênh đón, đưa Tô Tần thẳng tới cung thành. Tân vương Triệu Ung đi chân trần ra tận dưới thềm điện ngoài cung nghênh đón, đỡ Tô Tần lên điện, đưa tới chiếu ngồi.
“Nhìn thần sắc của Tô Tử, người Tề hẳn đã đồng ý xuất binh?” Sau một hồi hàn huyên, Triệu Ung mới nín thở hỏi.
“Đã xuất binh rồi!” Tô Tần đáp lời. “Tề Vương còn uỷ thác thần chuyển tới đại vương vài câu khẩu dụ.”
“Cứ nói!”
Tô Tần bắt chước giọng Tề Vương, ngữ điệu chậm rãi, rành rẽ từng lời: “Hai nước Triệu, Tề chỉ cách một sông, gắn bó như môi với răng, quả nhân cùng Triệu Ngữ qua lại đã nhiều năm, vừa là bạn cũ, vừa là huynh đệ. Nay huynh đệ xương tàn còn chưa lạnh, đất nước đã gặp nạn lớn, quả nhân không đành lòng ngồi nhìn, đã hạ chiếu cho Điền Kỵ làm tướng, khởi hai mươi vạn đại binh tới cứu Hàm Đan, bảo Triệu Vương cứ an tâm mà chờ!”
Nghe nói Tề Vương phát hai mươi vạn đại binh, quân thần ai nấy sắc mặt hoan hỷ.
“Chư vị ái khanh, khẩu dụ của Tề Vương các khanh đã nghe rõ cả chưa?” Triệu Ung dõng dạc hỏi.
“Nghe rõ cả rồi!” Quần thần đồng thanh đáp lời.
“Truyền chỉ của quả nhân!” Triệu Ung thình lình đứng vụt dậy, siết chặt nắm tay, nhấn mạnh từng chữ. “Viết khẩu dụ của Tề Vương thành chiếu thư, hiểu dụ cho toàn bộ binh sĩ, thần dân trong thành Hàm Đan, hiểu dụ cho toàn bộ binh sĩ, thần dân các quận ấp khác trong toàn nước Triệu, không được thiếu một chữ!”
“Tuân chỉ!” Quần thần đồng loạt đáp lời.
“Lập tức đi truyền chỉ!”
Thấy quần thần đã lui ra hết, Triệu Ung lập tức cầm tay Tô Tần dẫn tới ngự hoa viên, dẹp hết tả hữu, hạ thấp giọng hỏi: “Tô Tử, khanh hãy nói thực, Tề Vương nhận lời xuất binh thật ư?”
“Phải!” Tô Tần gật đầu.
“Thực xuất bao nhiêu?”
“Mười hai vạn!”
“Sở, Hàn thế nào?”
“Nước Sở tăng quân tới Phương Thành, phao tin tiến đánh Hình Sơn. Nước Hàn cũng nhận lời xuất hai vạn binh, hai nước đều đã sai sứ thần tới Đại Lương rồi.”
“Tốt quá!” Triệu Ung vỗ xuống mặt bàn đá trong ngự hoa viên. “Đợi ta hồi phục quốc lực, nhất định sẽ tới Đại Lương, đích thân chém chết con chó già Ngụy Anh!”
“Đại vương!” Tô Tần muốn nói lại thôi.
“Tô Tử cứ nói!”
“Khi thần ở Tề, đã bàn mưu tính kế với Tôn Tẫn rất lâu, Tôn Tẫn cho rằng, Bàng Quyên hiện nay đã không còn giống trước đây, dụng binh tài khéo hơn nhiều, võ binh Ngụy so với thời Ngô Khởi, chỉ có hơn mà không có kém. Người Tề tuy đông, song không thể chắc thắng, trước mắt sẽ là một cuộc chiến cam go! Còn nữa, Sở, Hàn không đáng tin cậy!”
“Quả nhân hiểu!” Triệu Ung nghiến răng, mắt toé lửa giận. “Không giấu ái khanh, quả nhân sớm đã nhìn thấu, lần này người Ngụy dựa vào sức mạnh của Tần, muốn một miếng mà nuốt chửng Triệu, quả nhân đã không còn đường lui nữa. Dù người Tề không tới, quả nhân cũng thề quyết một trận sống mái với Ngụy, ngọc đá cùng tan, cùng lắm là một chết!”
“Đại vương ôm lòng quyết tử vì nước, đáng mừng, nhưng cũng đáng lo!”
“Ồ?” Triệu Ung nhìn sang. “Đáng lo chỗ nào kia?”
“Lo là lo cho bách tính Hàm Đan, bao nhiêu đàn bà trẻ nhỏ, bao nhiêu dân thường lương thiện, hẳn sẽ phải chết oan uổng chỉ vì suy nghĩ liều mạng của đại vương!”
“Ồ...” Triệu Ung ngỡ ngàng, hồi lâu sau mới hỏi. “Theo ý ái khanh, quả nhân nên làm thế nào?”
“Toàn lực chống cự, dựa vào tình hình mà tiến lui.”
“Được!” Triệu Ung trầm ngâm một hồi, rồi khẽ vòng tay. “Triệu Ung kính cẩn nghe theo Tô Tử!”
Tiễn Tô Tần đi rồi, Bàng Quyên không dám chậm trễ, triệu tập hơn chục viên tướng của ba quân tới đại trướng trung quân, nói: “Chư vị tướng quân, Hàm Đan bị vây khốn hơn hai tháng, lại thêm bách tính từ các ấp xung quanh đổ về, lương thảo tích trữ trong thành nhiều nhất cũng chỉ cầm cự được một năm. Các vật tư thiết yếu như muối, thuốc, cung, nỏ do không thể bổ sung, nên ngày càng hao hụt, chẳng mấy mà cạn kiệt. Sở dĩ ta bao vây không tấn công, thứ nhất là để làm nản lòng đối phương, thứ hai là công kích quân chi viện, thứ ba là chờ đợi một vị khách quý. Hôm nay đã có thể khẳng định, vị khách quý này sẽ tới!”
Chư tướng không biết vị khách quý này là ai, nhất loạt ngỏng cổ, nín thở chờ đợi, như thể vị khách quý này đã ở bên ngoài trướng.
“Vị khách quý này chính là,” Bàng Quyên gằn mạnh từng tiếng, “Điền Kỵ!”
Chư tướng ai nấy thở phào. Có người làm bộ ưỡn ẹo vuốt tóc, ỏn à ỏn ẻn như kiểu đàn bà, khiến mọi người cười rộ lên.
“Chư vị có biết người này cớ sao lại tới?” Bàng Quyên đưa mắt nhìn khắp lượt chư tướng, cất tiếng sang sảng.
“Tới trận Con Rùa của ta để ăn phân đấy mà!” Không biết là ai cất giọng châm chọc.
Chư tướng lại phá lên cười ầm ĩ.
“Không phải!” Bàng Quyên không những không cười, mà còn dứt khoát xua tay, sắc mặt nghiêm túc. “Người này tới đây để phục thù! Sau trận Hoàng Trì, người này phải chịu mối nhục làm đàn bà giữa chốn triều đường của đại vương ta, đã toan đâm đầu vào cột trụ tự vẫn, may có thượng đại phu nước Tề Điền Anh kịp thời giữ lấy mới thoát chết. Tại hạ nể hắn là một viên hổ tướng, lấy câu nói ‘quân tử báo thù mười năm chưa muộn’ để khích hắn biết quý trọng sinh mệnh, thật không ngờ người này quá ư nôn nóng, chưa tới mười năm, đã muốn báo thù rồi!”
Bàng Quyên vừa dứt lời, trong trướng như thể nổ tung: “Cứ để hắn tới, chúng ta sẽ chờ hắn tới!”
“Mẹ kiếp, lần này mà bắt được, lột truồng hắn mang diễu phố.”
“Lột truồng còn nhẹ, cắt phăng cái của quý của hắn đi cho làm quan hoạn, đưa vào hậu cung gấp chăn trải đệm cho đại vương ta!”
“Thế vẫn còn nhẹ, theo tôi thì cứ treo hắn lên lầu cổng thành, phơi nắng bảy tháng, khát thì cho uống nước tiểu, đói thì cho ăn phân!”
“Chư vị nghĩ rất hay, song đều chỉ là một phía mà thôi!” Đợi tiếng ồn ào lắng xuống, Bàng Quyên mới lên tiếng, giọng nói càng thêm nghiêm khắc. “Điền Kỵ không phải là phường giá áo túi cơm. Lần trước đại bại, không phải là Điền Kỵ thua chư vị, cũng không phải là thua Bàng Quyên, mà chỉ là thua chính bản thân mình. Kiêu binh ắt bại, nên chư vị tướng quân, nay thấy chư vị nói như vậy, tại hạ đã biết trước kết cục rồi!”
Thấy Bàng Quyên cất lời trấn áp, chư tướng không dám cuồng ngạo nữa, người nào người nấy hoặc mặt mũi sượng sùng, hoặc cúi đầu im lặng, hoặc gượng cười, hoặc nhăn mặt.
“Chư vị tướng quân, nếm mật nằm gai, mười năm mài kiếm, dù là một kẻ thô lỗ chốn quê mùa, ắt cũng học được mười vạn bản lĩnh, huống hồ là danh tướng liệt quốc Điền Kỵ. Tạm chưa nói tới chuyện này, cùng đến với hắn, còn có mười hai vạn quân năm đô! Chư vị tướng quân, mười hai vạn, dù toàn bộ đều là lợn, mặc cho các vị tha hồ chém giết, cũng đủ khiến các vị mệt bở hơi tai, huống hồ tên nào tên nấy đều là nhuệ binh dũng sĩ thiện chiến.”
Trước một loạt những cảnh cáo của Bàng Quyên, hơn chục viên chiến tướng đã tắt ngấm ngọn lửa kiêu mạn, ai nấy cum cúp cúi gằm đầu.
Trong trướng trung quân lặng ngắt như tờ.
“Chư vị tướng quân!” Giọng Bàng Quyên đã hoà hoãn trở lại. “Tại hạ nói vậy, không phải là khuếch đại chí khí của người Tề, hạ thấp uy phong của ta, mà là muốn trịnh trọng tuyên bố với chư vị, kẻ thù thực sự đã tới!”
“Chúa công!” Thanh Ngưu nãy giờ vẫn lặng im trong góc bỗng lên tiếng. “Chúa công hãy nói xem, chúng ta nên nghênh địch thế nào?”
“Phải, chúng ta nên nghênh địch thế nào?” Chư tướng đồng loạt hùa theo.
“Chư vị hãy đi theo tại hạ!” Bàng Quyên bước tới trước sa bàn, nhận lấy cây thước tre từ tay quân uý, chỉ vào cửa Túc Tư nơi Hà Thuỷ phân đôi, nói. “Nếu người Tề tới, ắt sẽ vượt sông từ đây.”
“Chúng ta dời toàn bộ thuyền qua sông sang phía này, xem thử hắn vượt sông bằng cách nào?” Có người nói.
“Không, chúng ta sẽ để lại toàn bộ thuyền bên kia bờ, hơn nữa, thay lái thuyền bằng binh sĩ của ta, trợ giúp người Tề từ từ vượt sông!” Bàng Quyên mỉm cười, chỉ vào con đường phía tây Hà Thuỷ thông tới Hàm Đan. “Người Tề sau khi vượt sông, ắt sẽ men theo đường này tới Hàm Đan, tìm ta quyết chiến, một là giải vây cho Hàm Đan, hai là mong muốn trong ứng ngoài hợp. Chúng ta cứ để chúng đi, bố trí sẵn phục binh trong núi Vân Mộng, đợi kẻ địch tới Chương Thuỷ, lập tức chặn đường rút lui, giành lấy thuyền cho ta dùng. Lúc này, người Tề phía đông là Hà Thuỷ, phía tây là núi lớn, phía nam có kỳ binh ta mai phục, hơn nữa còn ở giữa đất Đại Ngụy ta, không có đường lui, chỉ có thể tiến lên phía bắc, quyết chiến với chủ lực của ta!”
Thấy kế sách lớn lao đến vậy, hết thảy chư tướng hai mắt đều sáng rực.
“Chư vị tướng quân, liệu chư vị có dám quyết chiến giáp lá cà với lính Tề?” Bàng Quyên lớn giọng hỏi.
“Dám!” Chư tướng đồng thanh hô lớn.
“Chư vị có dám lấy một chọi ba không?” Bàng Quyên lại hỏi.
“Dám!” Chư tướng cất giọng hùng hồn.
“Được!” Bàng Quyên chọc thẳng thước tre vào Hàm Đan. “Người Tề vẫn chưa tập hợp, nhiệm vụ trước mắt của chư vị vẫn là nơi này, Hàm Đan, hãy bao vây chặt chẽ, cảnh giới nghiêm ngặt, tăng cường kiểm tra gắt gao người ra vào, một con ruồi cũng không được bỏ qua!”
“Tuân lệnh!”
Con đường lớn từ kinh đô Tề thông tới Trung Nguyên sau khi ra khỏi Lâm Truy chưa lâu, liền men theo đồng bằng Tế Thuỷ dưới chân núi Thái Sơn chạy lên phía tây, tới bờ Bộc Thuỷ, lại ngược dòng đi lên, tới Chân Ấp thì chia thành hai ngả, một ngả dọc theo Bộc Thuỷ xuống phía tây, qua biên giới Vệ chạy tới đường cái quan Ngụy, Triệu, qua cửa Túc Tư thẳng tới kinh đô Hàm Đan nước Triệu; một ngả rẽ về phía tây nam, men theo Tế Thuỷ xuống phía tây, tại mé tây đầm Đại Dã thì đi qua Tống vào Ngụy, tới Đại Lương và kinh đô Lạc Dương nước Chu.
Chủ tướng Điền Kỵ dẫn trung quân nước Tề men theo con đường này tiến về phía tây, qua hơn mười ngày hành quân gấp rút, vào một buổi chiều tà đã tới Chân Ấp.
Trong hàng ngũ hành quân, có một cỗ xe che kín mui trông không hề bắt mắt, chở theo Tôn Tẫn trong trang phục quân sư nước Tề. Chân Ấp là bản quán của Tôn Tẫn, Điền Kỵ cố tình hạ trại nơi đây, một là vị trí thích hợp, hai là để Tôn Tẫn trở về thăm nhà một chuyến, bái tế tổ tiên, thỉnh cầu tổ tiên linh thiêng phù hộ.
Khi trung quân tới nơi, binh mã bốn đô đã có ba đô tề tựu, phóng mắt nhìn xa, cờ xí rợp trời, binh mã trùng trùng điệp điệp, hai bờ Bộc Thuỷ, doanh trại quân Tề san sát.
Trời đã nhá nhem, Tôn Tẫn trèo lên xe cao, sau khi quan sát doanh trại các quân, bèn nói với Điền Kỵ: “Tướng quân có thể hạ lệnh, tam quân nghỉ ngơi tại chỗ, chọn nơi ẩn khuất, tích cực rèn tập cưỡi ngựa. Doanh trại tam quân hãy phân tán thêm nữa, treo thêm cờ quạt, hư trương thanh thế, trước sau đồng loạt rêu rao là hai mươi vạn hùng binh!”
Điền Kỵ theo lời Tôn Tẫn, ban bố mệnh lệnh, bán kính hạ trại của quân Tề chớp mắt đã mở rộng thêm gần mười dặm, lều trại ven sông tăng gần một nửa, trong khu hạ trại, trạm gác san sát, đặc biệt nơi huấn luyện kỵ binh, canh phòng cực kỳ nghiêm ngặt, trong phạm vi ba mươi dặm, người bình thường không được phép lai vãng.
Qua mười ngày, nhìn thấy ba vạn kỵ binh đã có thể lên xuống lanh lẹ, phi ngựa như bay, Điền Kỵ cười hớn hở bước vào trong trướng, phấn khởi báo tin: “Khởi bẩm quân sư, ba vạn kỵ binh đã huấn luyện thành thục, lương thảo đã chuẩn bị đầy đủ, dám hỏi tam quân đã có thể xuất phát hay chưa?”
“Đã có thể!” Tôn Tẫn gật đầu. “Có điều, dám hỏi tướng quân, xuất phát tới đâu?”
“Ồ, lẽ nào không phải Hàm Đan?” Điền Kỵ lấy làm kinh ngạc.
“Không phải!” Tôn Tẫn trả lời dứt khoát.
“A!” Điền Kỵ cuống lên. “Hàm Đan nguy trong sớm tối, đại vương muốn ta cứu Triệu, quân sư không tới Hàm Đan, vậy muốn tới đâu?”
“Đất Tống!”
“Đất Tống?” Điền Kỵ càng thêm kinh ngạc. “Bàng Quyên ở Hàm Đan, tới đất Tống để làm gì? Lẽ nào...”
“Lẽ nào gì kia?” Tôn Tẫn hỏi lại.
“Đánh Tống!” Giọng Điền Kỵ thì thà thì thào, như thể đang tiết lộ một bí mật tày trời.
Tôn Tẫn lắc đầu.
“Ồ, không phải đánh Tống, vậy chúng ta tới Tống làm gì?”
“Cứu Triệu!”
Điền Kỵ chau tít đôi mày, trầm ngâm hồi lâu, rồi mặt mũi nhăn nhó, giọng như thể cầu khẩn: “Quân sư ơi, xin hãy nói thẳng ra đi, tới đất Tống rốt cuộc thì có liên quan gì đến cứu Triệu?”
Tôn Tẫn hất hàm về phía búi tơ tằm dùng để lau chùi đặt trên bàn, nói: “Xin hãy cầm lên.”
Điền Kỵ bèn cầm búi tơ rối lên.
“Tướng quân có thể gỡ được búi tơ này chăng?”
Điền Kỵ hai tay hí hoáy lôi kéo một hồi, búi tơ không những không gỡ được, mà còn càng gỡ càng rối, bực bội ném toẹt luôn xuống đất, vừa hay rơi xuống bên chân Tôn Tẫn: “Thứ này dùng để lau bàn, gỡ làm cái gì?”
Tôn Tẫn cười ha hả, nhặt búi tơ lên, lần tìm một đầu sợi tơ, rồi rút ra từng tí một.
Điền Kỵ thấy vậy thì càng sốt ruột, đưa tay giật phăng búi tơ, nghiến răng vò đại mấy cái, rồi ném xuống đất, đưa chân giẫm lên bành bạch, hai mắt nhìn thẳng vào Tôn Tẫn: “Tôn huynh ơi là Tôn huynh, hẳn là huynh cố tình bắt người ta phải sốt ruột đến chết phải không?”
“Muốn tháo gỡ tơ rối, không thể dùng nắm đấm. Muốn can ngăn ẩu đả, không thể bị cuốn vào.”
“Ồ...” Điền Kỵ nửa hiểu nửa không, gãi đầu gãi tai. “Về lý mà nói, muốn can ngăn ẩu đả, đúng là không nên để mình bị cuốn vào. Nhưng chúng ta thì khác hẳn, chúng ta đi cứu người. Đối phó với cường đạo, nói lý là vô dụng, chỉ có thể dùng vũ lực!”
“Đúng là cần dùng vũ lực, song ý của tại hạ là không được cuốn vào chiến sự, mà là tấn công vào chỗ trống trải, chọc thẳng vào chỗ hiểm yếu, đánh vào chỗ buộc phải cứu!”
“Đánh vào chỗ buộc phải cứu?” Điền Kỵ vẫn không hiểu. “Lẽ nào nước Tống là chỗ buộc phải cứu?”
“Không phải nước Tống, chính là nước Ngụy! Bàng Quyên phạt Triệu, tất dốc hết quân tinh nhuệ toàn quốc, trong nước sẽ trống trải. Ta tránh thực đánh hư, người Ngụy thấy nguy, Bàng Quyên ắt bỏ Triệu quay về giải cứu, Hàm Đan tự khắc sẽ được giải vây!”
Điền Kỵ đã bừng tỉnh ngộ, tay đấm mạnh xuống mặt bàn: “Quân sư, quả là diệu kế, thằng giặc họ Bàng đã bắt được rồi!” Lại khẽ chau mày lại. “Có điều, chỗ Tống Y ển...”
“Chẳng qua chúng ta chỉ mượn đường mà thôi, Tô huynh đã giao hẹn với Tống Vương rồi. Hơn nữa, lần này tới Tống, chúng ta cũng giúp Tống thu hồi đất đai đã mất!”
“Giúp Tống thu hồi đất đai đã mất?” Điền Kỵ lại một phen sửng sốt.
“Giúp Tống thu hồi Tương Lăng! Tương Lăng vốn là nơi chôn cất tiên tổ Tương Công của nước Tống, nay bị người Ngụy chiếm cứ, người Tống không ai không đau đầu trong lòng. Nay nhờ vào sức của ta mà thu hồi được, Tống Công mừng còn chẳng kịp!”
Điền Kỵ lại đấm mạnh xuống bàn, hào hứng reo lên: “Hay lắm!”
“Tại hạ còn một câu hỏi!” Tôn Tẫn vẫn chưa thôi.
“Quân sư cứ nói!”
“Tướng quân thực phát bao nhiêu binh lực vào Tống?”
“Mười hai vạn!”
“Giảm đi. Phàm là già, non, bệnh tật, loại hết!”
“Những tướng sĩ này đều đã qua tuyển chọn, là binh sĩ hạng nhất cả!”
“Rà soát lại danh sách, phàm binh sĩ chưa tới tuổi đội mũ hoặc đã qua bốn chục, không được xuất chinh!”
“Loại bỏ như vậy, e là bớt mất hai vạn!”
“Phàm người ốm yếu bệnh tật, nhát gan sợ chiến, loại bỏ toàn bộ!”
“A... e là lại bớt đi hai vạn nữa!”
“Tướng quân có tám vạn binh sĩ thiện chiến, thế đã đủ rồi!” Tôn Tẫn vô cùng quả quyết. “Truyền lệnh ba quân, sau khi sàng lọc, cởi bỏ giáp trụ nặng nề, vận trang phục gọn nhẹ, vứt bỏ xe chiến, trong năm ngày đêm hành quân tới Định Đào nước Tống. Những tướng sĩ bị loại, vẫn đóng quân tại chỗ, canh giữ quân nhu, bảo đảm hậu cần!”
“Mạt tướng tuân lệnh!” Điền Kỵ vui vẻ phục tùng, rồi hướng ra ngoài trướng gọi lớn: “Người đâu, truyền lệnh!”
Ở ngoại ô Hàm Đan, trong trướng trung quân Ngụy, thám mã về bẩm báo quân năm đô của người Tề đã lũ lượt kéo tới Chân Ấp, hạ trại dọc theo bờ bắc Bộc Thuỷ dài tới hơn ba mươi dặm, trạm gác được bố trí vô cùng nghiêm ngặt, thám mã không thể tiếp cận, chỉ có thể quan sát tình hình từ xa. Nhìn vào số lượng lều trại bên bờ đối diện, tính sơ qua, tam quân không dưới hai mươi vạn.
“Hai mươi vạn quân?” Bàng Quyên lẩm bẩm một tiếng, nhắm mắt tính toán.
Quân năm đô của người Tề, nếu xuất ra hai mươi vạn, mỗi đô trung bình là bốn vạn, chuyện này gần như là không thể. Bàng Quyên đã cho người dò la kỹ càng, hai đô phía tây là Bình Lục và Cao Đường, được gọi là trọng trấn vùng biên ải nước Tề, toàn bộ binh sĩ có thể chiến đấu, gộp lại cũng không quá năm vạn. Tức Mặc là đô ấp phía đông, do không cần coi trọng phòng ngự, nên quân đóng tại đó cũng chỉ hơn một vạn, có thể điều động một vạn đã không phải chuyện dễ dàng. Quân đội đóng ở Cử Thành không dưới bốn vạn thật, song một ngày cũng không thể lơ là phòng bị người Sở, dám xuất ra hai vạn đã là quá mức rồi, còn trung quân ở kinh đô Lâm Truy nước Tề, kiểu gì cũng không quá ba vạn, cộng tất cả lại, không thể quá mười hai vạn mới phải, mà nay thám mã lại báo những hai mươi vạn, phù hợp với lời Tô Tần nói khi từ Tề trở về, thực khiến người ta phải đau đầu. Ngẫm đi ngẫm lại, Bàng Quyên tin chắc người Tề không thể dốc hết toàn lực chỉ vì một thành Hàm Đan, phô trương như vậy, hẳn là chỉ khoa trương thanh thế, doạ dẫm quân Ngụy mà thôi.
Bàng Quyên nghĩ đã thông, liền dò hỏi kỹ càng tình hình doanh trại quân Tề, biết được người Tề cắm trại qua loa thưa thớt, một số trại có vẻ như chỉ mới mọc lên qua một đêm, lại càng chắc chắn quân Tề dùng kế nghi binh, bèn ra lệnh tăng cường thám mã, theo dõi sát sao mọi động tĩnh của quân Tề, đồng thời tăng cường bố trí, điều động lực lượng, hơn nữa theo như âm mưu đã định, thay đổi toàn bộ lái thuyền ở cửa Túc Tư thành quân Ngụy, lại phái tướng quân đắc lực dẫn một vạn võ binh bí mật phục trong núi Vân Mộng, địa điểm cũng do đích thân Bàng Quyên lựa chọn, ở trong một khe núi nối từ Quỷ Cốc đến cửa Túc Tư, nếu không có sương mù dày đặc thì không được phép nổi lửa nấu cơm.
Tam quân vừa mới bố trí xong xuôi, quân uý phụ trách thám mã đã cuống quýt chạy vào, báo rằng quân Tề sáng nay đã nhổ hết doanh trại, song không tiến về tây, mà băng qua Bộc Thuỷ, rầm rộ tiến xuống phía nam rẽ về hướng đầm Đại Dã.
“Đầm Đại Dã?” Bàng Quyên vô cùng kinh ngạc, vội vã tiến lại trước sa bàn, nhìn về phía đầm Đại Dã, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi lẩm bẩm một mình. “Quái lạ, người Tề không tới Hàm Đan, lại tiến về đầm Đại Dã, lẽ nào...” Rồi bỗng giật nảy mình, vội vàng bước trở lại, dặn dò quân uý. “Phái thêm thám mã, theo dõi sát sao động tĩnh quân Tề!”
Hai ngày trôi qua, quân uý báo về, toàn bộ quân Tề đã vượt qua Tế Thuỷ, tiến vào đất Tống, thẳng tới Định Đào.
Bàng Quyên ngỡ ngàng cực độ.
Quân Tề tiến vào đất Tống, đã lập tức khiến cho kế hoạch tiêu diệt mà Bàng Quyên dày công sắp đặt phải tan tành như bọt bể. Người Tề tới Tống với mục đích gì, lại càng khiến Bàng Quyên phải nát óc suy nghĩ. Người Tề tới Tống, chỉ có thể có hai kết cục, thứ nhất là nhân lúc Ngụy phạt Triệu, lơ là mất cảnh giác mà diệt Tống; thứ hai là từ Tống xuất kích, tiến thẳng vào đất Ngụy, cắt đứt đường rút lui của Ngụy, chặn đứng quân Ngụy ở phía tây Hà Thuỷ. Kết cục thứ hai gần như là không thể, bởi lẽ nếu người Tề muốn cắt đứt đường rút lui của Ngụy, về cơ bản không cần thiết phải tiến quân vào Tống, chỉ cần từ Chân Ấp tiến về phía tây, qua biên giới Vệ, bịt kín cửa Túc Tư là được.
Bàng Quyên đang trầm ngâm suy nghĩ, từ bên ngoài bỗng vọng vào tiếng huyên náo, là Trương Nghi đã từ Trung Sơn trở về. Bàng Quyên vui mừng quá đỗi, vội nghênh đón vào trong trướng trung quân, chẳng kịp cả hàn huyên thăm hỏi, vừa mở miệng đã nói ngay tới tình hình quân Tề.
Thấy Bàng Quyên phán đoán quân Tề cắt đường rút lui của quân Ngụy, Trương Nghi khẽ lắc đầu.
“Nếu không phải là cắt đường lui của ta, thì ắt là muốn đoạt Tống?” Bàng Quyên gần như khẳng định.
Trương Nghi vẫn lắc đầu.
“Ồ, đã không đoạt Tống, cũng không cắt đứt đường lui của ta, vậy hành động của người Tề là có mục đích gì?”
“Đánh vào sào huyệt của ta!” Trương Nghi gằn mạnh từng tiếng, sải vài bước tới trước sa bàn, chỉ vào hình thế giải thích. “Bàng huynh hãy nhìn xem, đây là nước Tống. Người Tề trong thời khắc cam go này, không thể mưu đoạt Tống. Nếu người Tề muốn đoạt Tống, người Sở ắt không chịu ngồi nhìn, Tề, Sở sẽ giao chiến. Dù Tề, Sở có giao chiến, dứt khoát cũng không thể vào lúc này. Người Tề vào Tống, hẳn là nhằm vào Ngụy, từ Tống đánh Ngụy, Đại Lương nguy rồi!”
Bàng Quyên sắc mặt trắng bệch, nhìn trân trối vào sa bàn hồi lâu, mãi mới thốt nổi nên lời: “Trương huynh nói rất đúng! Nếu người Tề từ Tống đánh sang Ngụy, quả thực nằm ngoài dự liệu của tại hạ.”
“Có điều,” Trương Nghi lại nói, “người Tề vào Tống, mục đích là gì, còn cần quan sát kỹ lưỡng, Bàng huynh không thể vội vàng.”
“Binh quý ở thần tốc!” Bàng Quyên siết chặt nắm đấm. “Địch vừa có biến, ta cũng phải lập tức quyết đoán!”
“Ý Bàng huynh là, vượt sông quyết chiến với Tề?”
“Không!” Bàng Quyên gằn giọng. “Mau chóng chiếm lấy kinh đô nước Triệu, Hàm Đan!”
Ngoài thành Đại Lương, trong nhà Công Tôn Diễn, Chu Uy nôn nóng nhìn chằm chằm vào Công Tôn Diễn. Còn Công Tôn Diễn nửa quỳ nửa ngồi, nền nhà trước mặt vạch vẽ chằng chịt những đường kẻ trắng miêu tả địa thế dòng chảy, cửa ải thành ấp, đặt bên cạnh là viên đá vôi dùng để vẽ.
Công Tôn Diễn đang nhắm mắt suy tư.
Toàn bộ khu nhà đất yên ắng đến đáng sợ.
“Dù người Tề có vượt sông, cũng làm được gì? Cho dù thế nào, xét về tài cầm quân, Điền Kỵ cũng không phải là đối thủ của Bàng Quyên!” Chu Uy không thể nhẫn nhịn thêm được nữa, phá vỡ bầu yên lặng.
“Nếu người Tề không vượt sông thì sao?” Công Tôn Diễn bình thản đáp lại.
“Ồ, nếu không vượt sông, thì cứu Triệu thế nào?” Chu Uy ngẩn người.
Lời nói vừa dứt, bỗng có tiếng xe ngựa từ xa lại gần, rồi dừng bên ngoài cổng. Một người nhảy xuống khỏi xe, hấp tấp bước vào bên trong.
Là Bạch Hổ.
“Quả nhiên đều ở cả đây!” Bạch Hổ cất giọng gấp gáp. “Biên ải báo về, đại quân nước Tề đã tiến vào nước Tống!”
Chu Uy bàng hoàng nhìn sang Công Tôn Diễn.
Công Tôn Diễn mắt trợn trừng kinh hãi.
Bạch Hổ lấy ra cấp báo từ biên ải, đưa cho Chu Uy, Chu Uy tiện tay đẩy sang Công Tôn Diễn.
Công Tôn Diễn đặt cấp báo sang một bên, trợn mắt hỏi: “Tương Lăng do ai canh giữ?”
“Trịnh tướng quân!” Chu Uy đáp, lại bổ sung thêm. “Trịnh Khắc.”
“Trịnh Khắc? Đại nhân có biết người này?”
“Người này là hậu duệ của công thất nước Trịnh đã bị diệt vong, ông của người này là Trịnh U Công đã bị Hàn Ai Hầu tiêu diệt, cha của người này là Trịnh Sảng chạy trốn khỏi nước Hàn, tỵ nạn tại Đại Lương, được đại vương ta trọng dụng, cho làm đại phu, đổi họ Cơ thành họ Trịnh, để tưởng nhớ nước cũ. Tới thời Trịnh Khắc, rất thân thiết với tại hạ, thấy hắn cũng hiểu chút văn trị võ công, bèn tiến cử hắn làm đô uý Tương Lăng. Mấy năm trước, Bàng Quyên giao chiến với Sở, Trịnh Khắc lập công, được đại vương bổ làm Tương Lăng lệnh.” Chu Uy kể vanh vách lai lịch Trịnh Khắc, rồi quay sang Công Tôn Diễn. “Công Tôn huynh sao lại chú ý tới hắn?”
“Quân Tề vào Tống, Tương Lăng nguy rồi!” Công Tôn Diễn kêu lên.
Chu Uy, Bạch Hổ đều giật mình kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau, không hẹn mà cùng nhìn sang Công Tôn Diễn.
“Hai vị hãy nhìn đây!” Công Tôn Diễn cầm viên đá vôi lên, vẽ một vòng tròn nhỏ dưới đất. “Đây chính là Tương Lăng. Quân Tề vào Tống, người Tống không ngăn cản, chứng tỏ hai nước đã giao ước ngầm với nhau. Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ, giao ước ngầm này có lẽ là Tương Lăng!”
“Ý Công Tôn huynh là, người Tề muốn trợ giúp Tống Công thu hồi Tương Lăng?” Chu Uy trợn tròn mắt.
“Đúng vậy.”
“Vì sao?” Chu Uy càng không hiểu.
“Chư vị hãy nhìn đây!” Công Tôn Diễn chỉ vào Tương Lăng. “Tương Lăng với Tống thất, là nỗi đau khôn nguôi, trong mơ họ cũng muốn thu hồi. Tương Lăng với Ngụy thất, là vùng chiến lược trọng yếu, tiến có thể uy hiếp lưu vực sông Tứ, bức Tống chế Sở, lùi có thể hình thành thế ỷ giốc với Đại Lương, nên là vùng đất không thể mất.”
“Ý Công Tôn huynh là, người Tề tấn công Tương Lăng, là để ép Bàng Quyên rút quân về?”
“Đúng vậy!”
Chu Uy giờ đã hiểu ra, đứng dậy nói: “Tại hạ sẽ lập tức tấu thỉnh đại vương, gấp rút chi viện Tương Lăng!”
“Đại nhân bất tất phải mất công!” Công Tôn Diễn chậm rãi đứng dậy. “Nếu tại hạ đoán không nhầm, mục đích thực sự của người Tề chính là Đại Lương, đại vương e là đến tính mạng cũng khó bảo toàn!” Nói đoạn, thong thả quay bước trở về nhà cỏ.
Chu Uy mặt trắng bệch, đờ đẫn nhìn sang Bạch Hổ.
Hai người đang ngây thộn nhìn nhau, thì Công Tôn Diễn đã bước trở ra, trong tay cầm thanh bội kiếm năm xưa Bạch Khuê đã tặng: “Xem ra không thể cày cuốc được nữa rồi, tại hạ phải tới Tương Lăng một chuyến!”
Đất Tống, ngoài thành Định Đào, trong đại doanh quân Tề, Tôn Tẫn lần đầu lộ diện trong trướng trung quân, ngồi ở bên trái Điền Kỵ, hội kiến chư tướng tam quân.
“Chư vị tướng quân!” Điền Kỵ nói rõ tình thế, rồi cất giọng sang sảng hỏi rằng. “Trận đầu đánh Tương Lăng, vị nào muốn đoạt công này?”
“Có mạt tướng!” Điền Kỵ vừa dứt lời, Mâu Tân đã bước lên trước đáp liền.
“Được!” Điền Kỵ lấy lệnh tiễn ra. “Chủ tướng Tương Lăng Trịnh Khắc, có tám nghìn quân trấn thủ, bản tướng lệnh cho tướng quân điểm đủ binh mã bộ thuộc, lập tức xuất chinh!”
“Mạt tướng tuân mệnh!”
Mâu Tân đỡ lấy lệnh tiễn, quay người định đi, sau lưng bỗng vang lên giọng nói: “Tướng quân hãy khoan!”
Là Tôn Tẫn.
Mâu Tân quay lại, nhìn về phía Tôn Tẫn.
“Tướng quân đi lần này, hẳn đã biết phải tấn công Tương Lăng thế nào?”
Đường đường là tướng quân vùng trọng ấp biên giới Đại Tề, đã kinh qua bao trận mà còn không biết đánh thành thế nào ư? Mâu Tân thoạt tiên ngỡ ngàng, tiếp đó cười nhạt, cất giọng có phần châm chọc: “Mạt tướng không biết, dám mong quân sư chỉ giáo!”
“Tương Lăng dễ phòng khó đánh, tướng quân không thể dùng sức mạnh. Nên cắm nhiều trại, làm rối loạn thế trận, bố trí phục binh trong rừng rậm phía ngoại ô, dụ địch ra khỏi thành, bày mai phục mà tiêu diệt!”
“Nếu kẻ địch không chịu ra khỏi thành thì làm thế nào?” Giọng Mâu Tân vẫn đầy khiêu khích.
“Vây thành, đánh viện binh, tuỳ cơ hành động.”
“Mạt tướng tuân lệnh!” Mâu Tân hơi ôm quyền đáp lời, rồi quay phắt người, sải bước rời đi.
Trở về doanh trại, Mâu Tân ngồi xuống, khó khăn lắm mới đè nén được cơn giận âm ỉ trong lòng, sai người mời tiên phong Trâu Hạo tới, nói: “Tướng quân có tin vui rồi!”
“Tin vui ở đâu ra?” Trâu Hạo nôn nóng hỏi.
“Chủ tướng truyền lệnh, trận đầu đánh Tương Lăng. Tại hạ vì tướng quân mà thỉnh cầu đi lập công đầu, mở màn may mắn rồi hãy bàn tiếp!”
“A...” Trâu Hạo không cho là vui, ngược lại lo lắng nói. “Trận chiến này là thế nào vậy? Điền Kỵ tướng quân vì sao không chọc thẳng vào cửa Túc Tư, cắt đứt đường lui của Ngụy, sau đó vượt sông, cùng người Triệu giáp công từ hai phía, bao vây tiêu diệt Bàng Quyên ở thành Hàm Đan?”
“Than ôi!” Mâu Tân vốn định nổi nóng, lại cảm thấy không thoả, bèn thở dài thườn thượt, xua tay nói. “Hạo đệ có điều không biết, kiểu đánh này tại hạ cũng vô cùng khó hiểu. Đừng nói là tại hạ, dù là tướng quân Khuông Chương cũng có điều dị nghị, thế nhưng...” Lại thở dài một tiếng, lắc đầu nặng nề.
“Hẳn là Điền Kỵ tướng quân bị Bàng Quyên đánh cho mất mặt, đã khiếp nhược rồi, không dám giao tranh trực diện, nên mới nghĩ ra kế sách mạt hạng này, mềm nắn rắn buông, chọn bóp quả hồng nhũn cho xong chuyện với đại vương!” Trâu Hạo hậm hực nói.
“Thôi bỏ đi, không nói chuyện này nữa. Tướng ở bên ngoài, phục tùng mệnh lệnh là thiên chức. Đại vương đã trao quyền cho chủ tướng, thân là thuộc hạ, chúng ta chỉ biết phục tùng.” Mâu Tân cười gượng, rồi lôi từ dưới bàn ra một tấm bản đồ hình thế vẽ trên da dê, chỉ vào Tương Lăng nói. “Đây chính là Tương Lăng, bên phải là Tuy Thuỷ, bên trái là Tuế Thuỷ, giống như một chiếc sừng từ nước Ngụy chọc thẳng vào trung tâm lưu vực sông Tứ. Có hai thành ấp của Ngụy gần Tương Lăng nhất, một là Thừa Khuông, có năm nghìn quân trấn thủ; hai là Ung Khâu, có bảy nghìn quân trấn thủ. Thừa Khuông tuy gần, song ngăn cách bởi Tuế Thuỷ, Tuế Thuỷ không rộng nhưng sâu, vượt qua rất khó, nên không phải lo lắng. Điều khiến Hạo đệ lo lắng, hẳn là Ưng Khâu. Giờ sẽ giao cho Hạo đệ hai vạn bộ binh, còn bản tướng đích thân dẫn năm nghìn kỵ binh chọc thẳng tới chỗ này, cắt đứt đường viện binh của địch. Một khi tuyệt đường viện trợ, Tương Lăng sẽ là toà cô thành, tám nghìn quân lính trong thành, cứ tuỳ Hạo đệ chém giết.”
“Hai vạn bộ binh?” Trâu Hạo hào khí tràn trề, cất giọng kiêu mạn. “Trâu Hạo chỉ dẫn năm nghìn binh mã thuộc hạ, trong vòng ba ngày, nhất định sẽ mời tướng quân vào thành vỗ yên dân chúng!”
“Năm nghìn binh mã? Trong vòng ba ngày?” Mâu Tân nghe vậy thì thoáng sững sờ, rồi cười gượng một tiếng, hạ giọng nhắc nhở. “Hạo đệ, Tương Lăng là trọng trấn vùng biên giới Ngụy, thành cao hào sâu, dễ phòng khó đánh. Đừng nói là năm nghìn, dù có một vạn, cũng khó mà phục mệnh. Khi thụ mệnh, quân sư đã đặc biệt căn dặn, chúng ta phải bao vây chứ không được tấn công, rồi dụ địch ra khỏi thành, tiêu diệt chúng ở bên ngoài cổng thành!”
“Kẻ bị tẫn hình cũng ban phát hiệu lệnh cơ đấy!” Trâu Hạo chẳng biết nông sâu, đưa tay vỗ mạnh xuống bàn. “Chỉ vỏn vẹn có tám nghìn quân, mà bắt chúng ta phải diệt giặc ngoài thành, chuyện này mà đồn ra ngoài, chẳng phải mất hết uy danh của Đại Tề ta ư? Nếu một vạn cũng không đủ, thì được, Trâu Hạo thỉnh cầu một vạn tinh binh, lại thêm ba nghìn kỵ binh, bắt sống thằng giặc họ Trịnh kia trên lầu cổng thành, tướng quân chỉ cần ngồi chờ tin chiến thắng là được!”
Trâu Hạo dẫn một vạn bộ binh, ba nghìn kỵ binh, lên đường ngay trong đêm, cắt ngang lãnh địa nước Tống, tảng sáng thì tới chân thành Tương Lăng, bày trận ở vùng đất rộng lớn bên ngoài cổng bắc, dựng thương khiêu chiến.
Cổng thành chưa mở, trên lầu cổng thành náo loạn một hồi, chốc lát trên thành đã cờ xí như rừng, loáng thoáng có bóng người lố nhố. Trâu Hạo đợi tới tận trưa, cổng thành vẫn đóng im ỉm, không một người đáp lời, cứ như thể là toà thành ma. Trâu Hạo lửa giận ngút trời, hạ lệnh công thành.
Người Tề nghìn nghịt như kiến cỏ, loáng cái đã lấp bằng hào nước quanh thành, bắc thang mây, chia thành nhiều ngả trèo lên tường thành. Khi sắp lên được mặt thành, người Ngụy bất ngờ xuất hiện, vạn nỏ cùng bắn, đá lăn túi bụi, khiến quân Tề rào rào rơi khỏi thang mây, tử thương vô số, tiếng gào rú không dứt bên tai. Trâu Hạo đùng đùng nổi giận, càng dốc sức tấn công. Mâu Tân ngồi chờ trong trại sốt ruột, cuối cùng không thể yên tâm, phóng ngựa đến tận nơi xem xét, mắt thấy tình thế như vậy, vội vã hạ lệnh khua chiêng lui quân. Quân Tề rút lui năm dặm hạ trại, điểm lại quân số, đã tổn thất đến vài trăm.
Trâu Hạo nếm mùi thất bại, cũng biết an phận, hai ngày sau, chỉ khiêu chiến cách cổng thành một tầm tên bắn, không dám công thành nữa. Quân Ngụy treo cao thẻ miễn chiến, kiên quyết cố thủ không ra. Cứ thế hai ngày trời, quân Tề vẫn giậm chân tại chỗ. Trâu Hạo nghĩ ra một kế, lệnh cho binh sĩ thay nhau chửi bới nhục mạ khiêu chiến dưới chân thành.
Đến buổi chiều ngày thứ ba, trong lúc quân Tề vẫn đang chửi bới hăng say, từ trên lầu cổng thành bỗng vọng xuống tiếng trả lời, nói là chủ tướng Trịnh Khắc không chịu nổi lăng mạ, đồng ý nhận lời thách chiến của tướng Tề. Trâu Hạo mừng rơn, dẫn quân bày trận. Chỉ một lát sau, cổng thành mở toang, tướng Ngụy Trịnh Khắc một xe lao vọt ra, theo sau là ba mươi cỗ xe chiến, ba nghìn binh sĩ, dàn trận đối đầu.
Trâu Hạo tuy thông trận pháp, song chưa tham chiến thực sự bao giờ, bèn đánh xe lên khiêu chiến đúng theo lễ nghi học trong sách vở. Trịnh Khắc đánh xe lên đón đầu, chẳng nói chẳng rằng, vừa gặp đã đánh liền. Hai tướng giao chiến trước trận quân, được vài hiệp, Trịnh Khắc cố tình sẩy tay, để Trâu Hạo hất bay trường thương xuống đất, rồi làm ra vẻ hốt hoảng kinh hãi, cuống cuồng lao chéo xe bỏ chạy. Ba nghìn quân Ngụy thấy chủ tướng thất bại, sợ hãi cuống cuồng, đội hình lập tức tán loạn, nháo nhác tranh nhau chạy ùa theo sau, men theo bên ngoài hào nước mà chạy trối chết. Trên lầu cổng thành, quân Ngụy thấy tình hình bất ổn, tức tốc kéo cầu treo lên, đóng chặt cổng thành, đề phòng quân Tề cướp thành.
Trâu Hạo không biết là kế, lập tức truyền lệnh bắt sống Trịnh Khắc.
Bại quân phía Trịnh Khắc chạy hùng hục khoảng hai dặm dọc theo hào nước rồi rẽ vào cánh đồng hoang, lại chạy thêm chừng mười dặm nữa, thì chui tọt vào trong một vạt rừng thưa. Trâu Hạo một xe dẫn đầu, đuổi sát theo sau, vừa vào trong rừng không lâu, bỗng một hồi tù và rúc lên rền rĩ, hai bên đường vạn nỏ cùng bắn như mưa, lính Tề trúng tên ngã như ngả rạ. Trâu Hạo giờ mới biết là trúng kế, vội hô quân rút lui, song đã muộn rồi, đường lui sớm đã bị Công Tôn Diễn cắt đứt. Trịnh Khắc đang chạy ở phía trước cũng lộn lại chém giết. Quân Tề bốn phía gặp địch, trong rừng lại không thể triển khai trận hình, chỉ biết giơ đầu chịu báng, tiên phong Trâu Hạo bị quân Ngụy vây bủa trùng trùng. May mà Mâu Tân dẫn quân tới cứu nguy kịp thời, mở ra một con đường máu, cứu hắn thoát khỏi vòng vây, lui quân ngoài năm mươi dặm, mới ổn định được thế trận.
Mâu Tân điểm lại binh mã, không tính số bị thương, đã thiệt hại đến hơn năm nghìn.
Hoá ra, Trịnh Khắc sớm đã bày mưu với Công Tôn Diễn, bên này Trịnh Khắc giả vờ thua trận dụ địch, bên kia Công Tôn Diễn mượn quân từ Ung Khâu, mai phục trong cánh rừng ở ngoại ô phía nam, dụ Trâu Hạo mắc lừa.
Hai trận đều bại, tổn thất nặng nề. Mâu Tân không dám giấu giếm, một mặt an ủi Trâu Hạo vào trướng nghỉ ngơi, một mặt gửi ngay chiến báo, nói tướng quân tiên phong hữu quân Trâu Hạo tuân theo chiến thuật của quân sư, dụ địch ra ngoài thành, đang bao vây chém giết, nào ngờ quân Ngụy ở Ung Khâu tới chi viện, số lượng kinh người, tướng quân tiên phong Trâu Hạo chiến đấu dũng mãnh, giết địch vô số, song ngặt nỗi quân địch thế mạnh, đành khua chiêng thu quân, điểm lại quân số, tổn thất gần năm nghìn.
Mới qua vài ngày, Tương Lăng vẫn trơ trơ, mà đã tổn thất tới năm nghìn binh mã, đấy mới chỉ là tính sơ bộ. Điền Kỵ đọc chiến báo, kinh hãi rụng rời, cấp tốc phi ngựa tới nơi, thấy tướng sĩ quân Tề ai nấy ủ rũ cúi gằm, không chút sinh khí, binh lính bị thương kêu rên chửi bới om sòm, lập tức xuống ngựa hỏi han. Trông thấy chủ tướng, có kẻ bạo dạn đã bất chấp tất cả, kể lại tuốt một một lượt tình hình chiến trận mấy ngày qua không sót một từ. Điền Kỵ đùng đùng nổi giận, hạ lệnh bắt trói tướng tiên phong Trâu Hạo vẫn đang ngủ khò khò trong trướng, áp giải thẳng về đại trướng trung quân.
Mâu Tần hãi hùng, tới lúc định thần lại, vội vàng thảo một bức thư, sai lính phi ngựa tức tốc mang về Lâm Truy, đồng thời đánh xe chiến, chạy như điên thẳng tới Định Đào, đến bên ngoài trướng trung quân, vừa hay gặp ngay mấy tướng sĩ chấp pháp đang lôi Trương Hạo bị trói gô ra ngoài cửa trướng. Một tay đao phủ sải bước huỳnh huỵch theo sau.
Nhìn thấy Mâu Tân, Trâu Hạo như gặp cứu tinh, giãy giụa gào thét om sòm: “Đại ca cứu đệ, đại ca cứu đệ! Hạo đệ xả thân tắm máu, chưa lập công lao song cũng dốc hết sức rồi, mà Điền Kỵ kia không biết phải trái, không hỏi nguyên do đã lôi Hạo đệ ra trảm, rõ ràng muốn lợi dụng việc công báo thù tư, đại ca!”
“Đao hạ lưu tình!” Mâu Tân nhảy phốc xuống khỏi xe, quát đám quân sĩ chấp pháp tạm khoan hành hình, lệnh cho thuộc hạ trói mình lại, để lưng trần, cắm cành gai, lê gối vào trong trướng, nhìn thấy Điền Kỵ mặt mũi tím bầm, đang thở hồng hộc giận dữ, quân sư Tôn Tẫn ngồi bên cạnh, sắc mặt trầm ngâm, hiểu rằng Trâu Hạo hẳn đã không biết phải trái trắng đen mà buông lời xúc phạm.
“Tướng quân, tướng quân, đao hạ lưu tình!” Mâu Tân quỳ sụp dưới đất, cất giọng nghẹn ngào.
“Mâu Tân!” Điền Kỵ ấn tay xuống bàn, giọng rít qua kẽ răng.
“Tướng quân!” Mâu Tân dập đầu bình bịch. “Trâu Hạo không thể giết được!”
“Vì sao lại không thể giết?” Điền Kỵ cười nhạt, gằn giọng hỏi.
“Tướng quân!” Mâu Tân nước mắt đầm đìa. “Tất cả đều là lỗi của Mâu Tân, Mâu Tân xin chịu tội chết, chỉ mong tướng quân tha cho Trâu Hạo, hắn... hắn...”
“Hắn làm sao?”
“Hắn là con trai độc nhất của tướng quốc đại nhân!”
Điền Kỵ, Tôn Tẫn vô cùng kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau.
“Cha chả!” Điền Kỵ thình lình bật ra một tiếng cười lạnh tanh. “Thảo nào kẻ này ăn nói ngang tàng! Thảo nào kẻ này ngạo mạn đến thế! Bản tướng cứ tưởng là thần thánh phương nào giáng trần, hoá ra là cậu ấm nhà tướng quốc đại nhân!” Rồi đấm xuống mặt bàn đánh chát. “Vương tử phạm pháp, tội như thứ dân, huống hồ quân lệnh như sơn!” Đoạn quay ra ngoài trướng quát lên như sấm. “Mau giải tội nhân ra ngoài doanh trại, chém đầu thị chúng!”
Bên ngoài trướng vọng vào tiếng chửi rủa của Trâu Hạo, tiếng chân bước cấp tập mỗi lúc một xa.
“Tướng quân!” Mâu Tân gào lên một tiếng, lết tới vài bước, lại dập đầu bình bịch, khóc không thành tiếng. “Xin hãy lưu tình, tướng quân, Mâu Tân cầu xin tướng quân, đao hạ lưu tình!”
“Mâu Tân!” Điền Kỵ rút phắt quân báo, đập bàn chan chát. “Ngươi tới cũng đúng lúc lắm, bản tướng đang có chuyện muốn hỏi ngươi! Cái gì mà dụ địch ra khỏi thành? Rõ ràng là tướng địch bày mai phục dụ ta, mà ngươi lại giấu giếm quân tình, đáng tội gì đây? Ngươi tự tiện bổ nhiệm một cậu ấm chưa từng kinh qua chiến trận làm tướng tiên phong, không những giấu nhẹm không báo cáo, lại còn phóng tay cho hắn vượt phận tiên phong, thống lĩnh hơn vạn tướng sĩ, tham công liều lĩnh, là tội gì đây? Quân sư căn dặn không được công thành, ngươi lại nhắm mắt làm ngơ, để mặc Trâu Hạo làm liều, hai trận giao tranh mất không của ta sáu nghìn tướng sĩ, là tội gì đây? Người đâu, lôi Mâu Tân ra ngoài cổng doanh trại, chém đầu thị chúng!”
“Tướng... tướng quân...” Mâu Tân nhũn ra dưới đất.
“Chủ tướng hãy nguôi giận!” Tôn Tẫn kịp thời lên tiếng. “Hai quân chưa chiến, đã chém đại tướng, là không may mắn.”
“Nể tình quân sư cầu xin, miễn cho ngươi tội chết, ghi tội lớn một lần, cách chức chủ tướng hữu quân, giáng cấp thành phó tướng, cai quản lương thảo, chờ ngươi lập công chuộc tội.”
Sai lầm ở Tương Lăng không chỉ khiến quân Tề chết oan sáu nghìn binh sĩ, mà còn làm đảo lộn chiến lược của Tôn Tẫn. Tô Tần phải đánh đổi điều kiện đoạt lấy Tương Lăng mới khiến Tống Vương Y ển chịu cho mượn đường và đóng quân. Do Tương Lăng vị trí trọng yếu, là nơi quân Ngụy ắt phải cứu, Tôn Tẫn muốn dựa vào đó để ép Bàng Quyên quay về Ngụy quyết chiến, nên mới nghĩ ra sách lược chỉ vây không đánh, dụ địch khỏi thành, nào ngờ lại bị một kẻ lỗ mãng ngu si làm hỏng việc.
Trận đầu thất bại, đã ảnh hưởng nặng nề tới sĩ khí quân Tề, đặc biệt là hữu quân tới từ Cao Đường, Bình Lục. Điền Kỵ tấu báo tường tận lên trên toàn bộ quá trình dụng binh sai lầm của Mâu Tân, đề bạt phó tướng hữu quân, Bình Lục lệnh Trần Đà làm chủ tướng hữu quân, chọn ra sáu nghìn binh lính từ số quân bị loại bỏ bổ sung vào chỗ thiếu hụt, lại trở về vây khốn Tương Lăng, quấy nhiễu các thành ấp xung quanh, để yên lòng người Tống.
Cùng lúc này, Tôn Tẫn lưu lại Định Đào, chủ tướng Điền Kỵ đích thân dẫn vài trăm cỗ xe chiến và hai vạn kỵ binh cờ quạt rợp trời tiến thẳng tới Đại Lương. Điền Kỵ đủng đỉnh không chút vội vàng, ban ngày dẫn quân chậm rãi đi theo con đường cái quan từ Tống đến Ngụy, cờ xí rợp trời, vừa đến tối, liền sai kỵ binh chia đường quấy nhiễu, hoặc chiếm thành ấp, hoặc đốt rơm cỏ, nhà trống ở giữa đồng, rối loạn đến cả trăm dặm vuông, trước khi trời sáng liền quay về doanh trại, lại theo đại quân đủng đỉnh tiến tới Đại Lương. Chốc lát, các ấp phía đông nước Ngụy tứ bề chiến hoả, lửa khói ngút trời, nơi nơi náo loạn, trong lúc hoang mang, không biết người Tề kéo đến bao nhiêu binh mã. Phần lớn nhuệ binh nước Ngụy đã được Bàng Quyên đưa đến nước Triệu, lính giữ thành ở lại đa phần già yếu bệnh tật, kinh hãi sợ sệt, hoặc đóng cổng không ra, hoặc địch chưa đến đã chạy, bỏ lại thành trống và thôn xóm cho người Tề. Các nhà giàu có, phú thương, lão thần Ngụy thất lại càng hoang mang kinh hãi, dắt díu cả nhà ôm theo tiền của chạy tới Đại Lương lánh nạn.
Không tới năm ngày, đại doanh quân Tề đã áp tới sát ngoại ô Đại Lương. Từ trên thành Đại Lương nhìn xuống, xa gần hơn mười dặm, dày đặc toàn là doanh trại Tề, nhìn vào cờ quạt, nhẩm tính không dưới mười vạn.
Thành Đại Lương bày sẵn thế trận chờ đợi. Ngụy Huệ Vương đầy mình giáp trụ, lê tấm thân già, bỏ ra ba ngày trời đi tuần một vòng men theo tường thành, động viên binh sĩ thủ thành. Một lực sĩ theo sát phía sau, vác theo cây thương vàng trượng tám mà năm xưa Huệ Vương từng múa tít chốn sa trường, nhưng nay vác lên đã thấy hụt hơi, theo sau nữa là lão thần thân cận và vài trăm cung vệ.
Song quân Tề lại chưa công thành ngay, chỉ chiếm cứ toàn bộ thành trì trống trải của các ấp xung quanh Đại Lương, cung ứng tại chỗ, đủng đỉnh cắm trại ở khắp ngoại ô thành Đại Lương, vây thành kín mít, tra xét người qua lại nghiêm ngặt. Ban ngày, vô số chiến mã hoặc rong ruổi ra vào trong cánh rừng ngoài thành, hoặc vùn vụt ngược xuôi trên đường lớn, bánh xe rầm rập, cát bụi tung mù. Đêm xuống, hàng nghìn hàng vạn kỵ mã ngựa không dừng vó, quấy nhiễu khắp nơi. Trên khắp đất Ngụy rộng lớn, chỗ nào cũng rậm rịch tiếng vó ngựa quân Tề, đặc biệt trong đêm khuya thanh vắng, tiếng vó ngựa càng khiến người ta giật mình thon thót.
Nếu tính theo lệ thường, có ngựa thì có xe, có xe thì có lính, tiếng vó ngựa dồn dập bốn phía cho thấy số lượng quân Tề đông không kể xiết. Khi trọng ải Hình Sơn bên ngoài vài trăm dặm cũng truyền về tin cấp báo người Tề tập kích, không rõ số lượng binh mã, Ngụy Huệ Vương nghe mà thất kinh.
Đáng sợ hơn là sứ thần hai nước Sở, Hàn cứ như đã hẹn sẵn từ trước, vào cùng một ngày, nhất tề tiến vào Đại Lương hỏi tội, trình lên quốc thư, lời lẽ nghiêm khắc, khiển trách Ngụy bội ước hợp tung, muốn Ngụy lập tức rút quân khỏi Triệu, nếu không, quân “chính nghĩa” Sở, Hàn sẽ nhanh chóng tới nơi. Sở, Hàn đều là nước láng giềng, chỉ riêng thủ quân thường bị tại trọng trấn Phương Thành nơi biên giới Sở cũng đã hơn sáu vạn, nếu họ thừa cơ “thu hồi” các ấp Hình Sơn, nước Ngụy đúng là mất nhiều hơn được.
Trong lúc hoạ ngoài rình rập, nội loạn lại càng khiến Huệ Vương lo lắng không yên. Trưởng lão, quý tộc các ấp xa gần chạy vào Đại Lương trốn tránh quân Tề lũ lượt tìm tới vương cung, đàn ông khóc trước điện, đàn bà khóc ở hậu cung, tất thảy đều mong Huệ Vương mau chóng điều đại quân phạt Triệu trở về, đánh đuổi quân Tề. Vừa hay hai kẻ khởi sự là Trương Nghi và Bàng Quyên đều không có ở bên tả hữu, những triều thần ủng hộ phạt Triệu đa phần đều đang ở Triệu, quần thần còn lại trong triều phần lớn đều theo Huệ Thi, không tán thành phạt Triệu, khi Huệ Vương triệu kiến vào triều bàn bạc, thì trên từ thái tử, dưới đến đại phu đều tán thành Bàng Quyên rút binh. Tấu chương hặc tội Bàng Quyên tới tấp gửi về, bị tỳ nhân cố tình xếp thành một chồng cao ngất ngưởng, đặt trên ngự án của Huệ Vương, khiến Huệ Vương nhìn mà hoang mang rối bời, không biết phải làm gì. Nghe nói Chu Uy giám sát lương thảo vừa từ cửa Túc Tư trở về, vội vàng triệu kiến ngay trong đêm.
“Chúa thượng, rút quân thôi!” Chu Uy mở miệng nói liền, tiếp đến chỉ vào chồng tấu chương chất cao trên bàn, giải thích. “Những bề tôi này đều là người trung nghĩa, không hề sợ chết, sở dĩ họ lời lẽ gay gắt, là vì nghĩ cho xã tắc. Ba nhà Ngụy, Triệu, Hàn đều từ một Tấn, mấy trăm năm qua, ba nhà tuy có tranh chấp, song về cơ bản vẫn cùng chung hoạn nạn. Nay Tần cấu kết với ta diệt Triệu, là phá hợp tung. Dù chúa thượng không mấy hài lòng về hợp tung, song lại chưa chính thức chiếu cáo liệt quốc, huỷ bỏ tung ước. Tung ước chưa huỷ, mà đã thảo phạt nước khởi xướng hợp tung, là ta thất nghĩa. Thất nghĩa, tức là cho liệt quốc cơ hội. Người Tề và ta có mối thù Hoàng Trì, cứu Triệu là giả, chiếm ta mới là thực. Người Tề trận đầu đã đánh Tương Lăng, mà Tương Lăng vốn là đất Tống, nếu Tề hạ được Tương Lăng, nước Tống sẽ trở thành phúc địa của người Tề. Người Sở và ta có tranh chấp Hình Sơn, nếu chớp thời cơ này xuất binh tới Phương Thành, thì Hình Sơn nguy mất. Hơn nữa, người Tần lại không đáng tin, từ đầu bảo chúng ta tấn công Hàm Đan, còn người Tần đoạt Tấn Dương, chiếm đất Đại, thế nhưng sự thực thì sao? Theo thần được biết, người Tần chẳng qua chỉ xuất năm vạn binh, khua chiêng gõ trống ồn ào dưới chân thành Tấn Dương, đừng nói là đất Đại, đến đầu thành Tấn Dương hình thù ra sao còn khó lòng nhìn thấy. Bàng tướng quân muốn rửa mối hận bại trận Hàm Cốc, đã nghe lời Trương Nghi, cực lực chủ trương kết minh với Tần, đó không phải là thượng sách, chúa thượng!”
Chu Uy tấu liền một mạch khiến Huệ Vương nghe mà toát mồ hôi lạnh.
“Còn nữa!” Chu Uy hạ thấp giọng. “Điền Kỵ không đi cứu Triệu, mà lại tấn công Đại Lương, có lẽ là theo ý chỉ của Tề Vương. Thần quan sát quân Tề, doanh trại liên miên, xung quanh Đại Lương, khói lửa ngút trời, hẳn không dưới mười vạn quân. Trong khi nhuệ binh của ta đều ở đất Triệu, Đại Lương trống trải, ngộ nhỡ thành bị phá...”
“Soạn chiếu!” Huệ Vương không dám chậm trễ thêm, lập tức quay sang tỳ nhân. “Lệnh cho Bàng Quyên hoả tốc quay về cứu Đại Lương, quyết chiến với Tề!”
Ngoài thành Hàm Đan, trong trại trung quân Ngụy, Bàng Quyên bước chân nặng nề, đi đi lại lại.
Trên bàn, chiếu chỉ rút quân, hổ phù điều binh và vài cây kim tiễn bày thành một dãy. Rõ ràng, kim tiễn liên tiếp được gửi tới thúc giục sau chỉ lệnh tới nơi.
Bàng Quyên dừng bước, trong trí não bỗng hiện lên cảnh tượng ở Quỷ Cốc năm xưa. Giọng Quỷ Cốc Tử vang lên: “Giả dụ con đã có đủ cả ba điều đó, đại quân cũng đã bao vây đô thành của nước đó, đang lúc con định tấn công thì nhận được lệnh lui quân của quân chủ, lúc đó, con sẽ xử trí ra sao?”
Rồi giọng Bàng Quyên: “Việc này thì... tướng ở bên ngoài, có thể không theo lệnh quân chủ!”
Giọng Quỷ Cốc Tử: “Con có thể không theo lệnh quân chủ, nhưng quân chủ vẫn khăng khăng không chịu, liên tiếp phát chiếu thư lui quân, lúc này, con còn dám không nghe lệnh chăng?”
“Vậy... tại sao quân chủ nhất định muốn lui quân?”
Giọng Quỷ Cốc Tử: “Ta không biết, con phải đi hỏi quân chủ mới đúng!”
Bàng Quyên bất giác rùng mình ớn lạnh, nhưng thoáng chốc, một luồng khí cương nghị lập tức cuồn cuộn trong lòng, trên mặt lộ ra một nét cười khinh miệt, thầm nghĩ: “Tiên sinh, đến chuyện này người cũng đã lường trước được, nhưng đệ tử nhất quyết không tin cái chuyện tà quái này, giờ sẽ cho tiên sinh mở mắt!”
Trương Nghi cầm chiếu thư lên, đang đọc đi đọc lại, chợt thấy công tử Ngụy Tự mình mang nhung phục sải bước tiến vào, bèn tiện tay đưa cả chiếu thư và hổ phù cho công tử Tự.
“A...” Công tử Tự vội vã đọc lướt qua, rồi cuống lên. “Phụ vương đúng là hồ đồ mất rồi, vào thời khắc này, sao lại liên tiếp hạ chỉ bắt chúng ta rút quân kia chứ?”
“Công tử!” Bàng Quyên đã lấy lại bình tĩnh, quay sang Ngụy Tự. “Tình hình dưới chân thành thế nào rồi?”
“Cổng nam đột phá được một lần,” Ngụy Tự tiếc nuối đáp, “tiếc là lại bị quân Triệu phong kín, chúng đã dùng một loại xe phòng ngự kiểu mới.”
“Xe phòng ngự kiểu mới?” Bàng Quyên hít ngược vào một hơi dài. “Xe phòng ngự như thế nào?”
“Trên xe bọc một lớp đồng thau, cả bánh xe cũng vậy, rưới dầu đốt cũng không cháy. Mặt trước xe và nóc xe cắm chi chít trường mâu, vừa hay bịt kín cổng thành! Tại hạ dò la biết được, loại xe phòng ngự này do đệ tử Mặc gia gần đây mới chế tạo nên, đặc biệt những ngọn trường mâu kia có thể tự động đâm ra thu vào, cán thương cũng đều được đúc bằng đồng thau, lực sát thương cực mạnh.”
“Đệ tử Mặc gia?” Bàng Quyên thoáng sững sờ. “Chẳng phải họ đang giúp người Trung Sơn giữ thành ư? Sao thoáng chốc đã chạy tới Hàm Đan rồi?”
“Vì họ không muốn giúp người Trung Sơn nữa!” Trương Nghi tiếp lời.
“Tại sao?” Ngụy Tự không hiểu.
“Bởi đệ tử Mặc gia giúp yếu không giúp mạnh. Nước Trung Sơn nằm lọt thỏm giữa các nước mạnh, phía nam kháng Triệu, phía bắc kháng Yên, phía đông kháng Tề, thế yếu, nên đệ tử Mặc gia mới tụ tập tới đó, trợ giúp phòng ngự. Nay Trung Sơn kết thân Ngụy, liên minh Tần, giáp công nước Triệu, thế đã thành mạnh, đệ tử Mặc gia tự khắc muốn trợ giúp Triệu.”
“Đúng là quân phản phúc, không đáng nhắc đến!”
Bàng Quyên thấy Ngụy Tự lại muốn hỏi, bèn xua tay ngăn lại, nhìn sang Trương Nghi, hất hàm về phía chiếu thư và hổ phù. “Trương huynh, vương mệnh như sơn, rút lui, hay là không?”
“Ý Bàng huynh thế nào?” Trương Nghi hỏi lại.
“Tại hạ cho rằng,” Bàng Quyên kiên quyết, “quân Tề chẳng qua chỉ là hư trương thanh thế, không đáng lo ngại! Quân Sở, Hàn, nếu muốn xuất binh thì đã xuất rồi, sở dĩ không xuất, là muốn toạ sơn quan hổ đấu, theo dõi trận chiến Hàm Đan. Nếu ta thắng, bọn chúng sẽ cúp đuôi mà chạy. Nếu ta thua, bọn chúng sẽ thừa cơ xuất binh!”
“Bàng huynh nói chí phải!” Trương Nghi tán thưởng một câu, rồi lo lắng nói tiếp. “Có điều, theo tại hạ đoán, người Tề cũng không hoàn toàn chỉ là hư trương thanh thế.”
“Ồ?”
“Nhìn vào mọi mặt, lần này người Tề cứu Triệu song không tới Triệu, mà lại bao vây Đại Lương, thực đúng là thần diệu.”
“Diệu ở chỗ nào?” Ngụy Tự hỏi.
“Công tử hãy xem!” Trương Nghi vừa chỉ trỏ vừa nói. “Đại quân ta ở đất Triệu, nếu người Tề muốn vượt sông cứu Triệu, là lấy thực đối thực, hai quân tất giao chiến, ai thắng ai thua còn chưa đoán được, vòng vây Hàm Đan lại càng khó phá. Người Tề uy hiếp Đại Lương, ép ta rút quân, là lấy thực đối hư, vòng vây Hàm Đan có thể không chiến mà tự giải.”
“Vậy... nếu chúng ta kiên trì không rút thì sao?” Ngụy Tự hỏi tiếp.
“Đó chính là đi nước cờ hiểm!” Trương Nghi đáp lời. “Luận theo tình thế, đừng nói người Tề xuất hai mươi vạn binh, dù chỉ xuất mười vạn, Đại Lương cũng nguy trong sớm tối, dù sao đất Ngụy giờ đây không có cường binh, chịu không nổi một đòn.”
“Mẹ kiếp!” Bàng Quyên cười gằn. “Chỉ mấy năm không lộ diện, mà Điền Kỵ kia đã tiến xa đến thế!”
“Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ,” Trương Nghi tiếp lời, “trong doanh trại Tề còn có cao thủ khác, trí tuệ người này hẳn không thua kém Bàng huynh!”
“Ý Trương huynh là,” Bàng Quyên hít ngược một hơi khí lạnh, “chính là Tôn Tẫn?”
“Không thể!” Ngụy Tự ngắt lời. “Tôn Tẫn đã chết lâu rồi, hơn nữa, nếu người này ở Tề, bao nhiêu năm trời như thế, chẳng nhẽ không hé lộ chút phong thanh?”
“Là ai thì khó đoán, nhưng theo tại hạ biết, dựa vào tác phong của Điền Kỵ, hẳn sẽ không đi nước cờ này!”
Bàng Quyên ngồi xuống chiếu, khép hờ hai mắt, chìm trong suy nghĩ.
“Nhưng người Tề mới chỉ quấy nhiễu, vẫn chưa công thành!” Ngụy Tự nhìn sang Trương Nghi, rõ ràng nghi ngờ phán đoán của hắn.
“Bởi lẽ người Tề không muốn công phá Đại Lương, chỉ muốn chúng ta rút về!”
Ngụy Tự đang muốn hỏi nữa, thì Bàng Quyên đã mở mắt hỏi: “Trương huynh, theo ý huynh, ta nên làm thế nào?”
“Quay về cứu Đại Lương!” Trương Nghi lời lẽ chắc nịch, rõ ràng đã suy nghĩ từ trước.
“Về cứu thế nào?”
“Quay về theo cách của người Tề.”
“Ý Trương huynh là,” Bàng Quyên ngập ngừng, “đánh thẳng vào Lâm Truy?”
“Chính phải!” Trương Nghi đứng dậy, sải bước tới trước sa bàn, đợi Bàng Quyên, Ngụy Tự tiến lại gần, thì chỉ vào sa bàn mà nói. “Chúng ta có thể cho kỳ binh vượt sông từ đây, đi qua Hà Gián, lại vượt Hà Thuỷ, chọc thẳng vào Lâm Truy, đánh cho người Tề một đòn trở tay không kịp. Đợi quân Tề hốt hoảng quay về chi viện, sẽ tìm cơ hội quyết chiến giữa đường.”
“Tướng quốc, diệu kế!” Ngụy Tự vui mừng ra mặt.
“Quả là diệu kế!” Bàng Quyên tiếp lời. “Chỉ là quá ư mạo hiểm, không dễ thực thi.”
“Mạo hiểm ở đâu?” Ngụy Tự không hiểu.
“Thứ nhất, đại quân vượt Hà Thuỷ không phải là chuyện dễ dàng, hai lần vượt sông lại càng khó khăn. Thứ hai, mùa hè đã tới, Hà Thuỷ nước lên, Hà Gián phần nhiều lầy lội, bất lợi cho xe qua, chỉ có thể đi bộ. Thứ ba, võ binh ta đều trang bị giáp trụ hạng nặng, nếu lội bộ đường trường tới Lâm Truy, không chiến cũng tự rệu rã. Thứ tư, lương thảo tiếp tế thế nào?”
Bàng Quyên một mạch nêu ra bốn điều bất lợi, khiến Ngụy Tự cứng lưỡi.
“Vẫn là Bàng huynh suy nghĩ chu toàn.” Trương Nghi cũng cảm thấy kế này mạo hiểm, tán thưởng một câu, lại nói tiếp. “Tuy nhiên, người Tề đánh vào chỗ trống của ta, cắt đứt đường lương thảo của ta, ta không thể ở đây lâu được. Nếu Đại Lương có gì sơ sảy, chúng ta sẽ không gánh nổi tội đâu!”
“Tại hạ lo lắng, cũng chính là chuyện này.” Bàng Quyên đáp lời.
“Phải rồi!” Trương Nghi đảo con ngươi một vòng, chỉ vào cửa Túc Tư nói. “Ta có thể vượt sông từ đây, tiến quân vào Vệ, cắt ngang đường lui của quân Tề, vây khốn Điền Kỵ trong lãnh thổ của ta. Đại Lương nhất thời khó lòng công chiếm, đường lui, đường lương đều bị cắt đứt, quân Tề ắt không chiến mà loạn, lúc đó, ta có thể tìm thời cơ quyết chiến với địch, một trận mà thắng.”
“Tại hạ cũng có mưu này.” Bàng Quyên trịnh trọng gật đầu. “Có điều, trước khi quyết chiến với người Tề, ta hãy chiếm lấy Hàm Đan trước rồi hãy tính!” Quay sang Ngụy Tự. “Công tử, truyền lệnh chư tướng tam quân, tới trướng trung quân nghe lệnh!”
Thấy chư tướng tam quân đã tề tựu đông đủ, Bàng Quyên lấy ra tờ quân lệnh trạng đã viết sẵn tên mình ra, nói: “Triệu tập chư vị tới đây, là muốn chư vị cùng tại hạ ký tên vào một bức thư sinh tử. Trong vòng ba ngày, nếu chư vị hạ được Hàm Đan, tại hạ sẽ thỉnh công luận thưởng cho chư vị. Nếu không hạ được Hàm Đan, tại hạ sẽ tự sát ngay trong trướng trung quân này, để tạ vương mệnh!”
Thấy Bàng Quyên lập ra tờ quân lệnh trạng thế này, chư tướng đều sụt sùi rơi lệ, uống máu ăn thề trong trướng trung quân, rồi hừng hực khí thế ra về.
Quân lệnh trạng của Bàng Quyên mau chóng lan truyền khắp tam quân nước Ngụy, võ binh ai nấy mắt đều ngấn lệ, sôi sục căm phẫn xông thẳng tới bên thành. Trải qua nhiều ngày tấn công, tường thành Hàm Đan đã lở vỡ nham nhở, quân Ngụy lại như phát cuồng, khiến người Triệu chống cự không xuể, hai chỗ tường thành và một cổng thành bị công phá, sau đó đội vệ binh của Triệu Ung hay tin vội vàng xông tới, xả thân máu thịt chặn lại, đệ tử Mặc gia trợ giúp giữ thành cũng lũ lượt xông lên, liều mạng chống trả, đến Trâu Phi Đao không lúc nào rời khỏi Tô Tần nửa bước cũng xông lên tường thành, vùn vụt phóng ra những mũi phi đao đoạt mạng.
Thấy hai bên đều liều mình như chẳng có, Tô Tần ruột gan như lửa thiêu.
Đêm xuống, tướng sĩ hai bên sau một ngày quần thảo đều mệt mỏi rã rời, trong ngoài thành Hàm Đan cuối cùng đã yên ắng trở lại, chỉ thi thoảng nghe thấy tiếng kêu rên của binh lính bị thương vẳng lên từ một nơi nào đó.
Trong đài Hồng Ba, đám trọng thần Tô Tần, Triệu Thành, Lâu Hoãn sắc mặt trầm trọng nhìn về Triệu Ung.
Triệu Ung cắn môi tới bật cả máu tươi bên khoé miệng.
“Chúa thượng!” Triệu Thành lên tiếng. “Lời thỉnh cầu của Tô Tử, không phải không thể thực thi, nếu cứ tiếp tục giữ thành, e là...” Khẽ thở dài, quay mặt đi chỗ khác.
“Muốn đi, các khanh cứ việc đi. Ngày mai quả nhân đích thân lên lầu thành, cùng sinh tử với cổng thành.”
“Chúa thượng!” Tô Tần từ từ đứng dậy, quỳ xuống trước mặt Triệu Ung. “Tô Tần khẩn cầu chúa thượng!”
“Tô Tử?” Thấy Tô Tần quỳ xuống, Triệu Ung giật mình kinh ngạc.
Tô Tần phủ phục sát đất, cứ thế im lìm bất động.
Triệu Thành chần chừ một lát, cũng tiến lại, quỳ xuống bên cạnh Tô Tần. Mấy vị trọng thần khác, chẳng nói chẳng rằng, cũng lần lượt quỳ xuống theo sau.
“Các... các khanh...” Triệu Ung ngón tay run rẩy, “thực sự không còn lưu luyến cung thành này nữa ư? Thực sự không còn lưu luyến bách tính già trẻ trong thành này nữa ư? Còn nữa... Triệu thất... đã bồi đắp mấy trăm năm, cơ đồ cũng chỉ có nhường này, các khanh... các khanh sao có thể giương mắt đứng nhìn tất cả mọi thứ phải huỷ trong tay quả nhân...” Nói đoạn, tức uất nghẹn lời.
“Chúa thượng, xin hãy nghe thần nói một câu.” Tô Tần mắt ngấn lệ, giọng nói nghẹn ngào. “Nếu như cố giữ, thì thành này, cung này, và tất cả những thứ trong thành này, cung này, sẽ bị huỷ hoại thực sự! Chúa thượng bỏ thành, ngược lại sẽ mở ra đường sống cho tất cả!”
“Khanh... hãy nói rõ nguyên do!” Giọng Triệu Ung rít qua kẽ răng.
“Bởi lẽ người Ngụy đã khát máu cực độ. Nếu phá được thành, ắt sẽ thẳng tay chém giết! Thảm án Bình Dương, không thể không lấy làm gương!”
Nghe tới bốn chữ “thảm án Bình Dương”, quần thần và cả Triệu Ung bất giác đều rùng mình ớn lạnh.
“Chúa thượng!” Tô Tần tiếp lời. “Quân Tề phạt Ngụy, mục đích là điều động Bàng Quyên về cứu, mà Bàng Quyên không chiếm được Hàm Đan, ắt không cam lòng. Chúng ta bỏ thành, đồng nghĩa với mở ra một lối thoát cho Bàng Quyên, khiến hắn vẫn còn thể diện mà hồi triều. Thần rất hiểu Bàng Quyên, tuy hiếu chiến song không phải kẻ lỗ mãng, cũng không phải phường tàn bạo, sẽ không gây chuyện hồ đồ!”
“Tô Tử!” Thái độ của Triệu Ung đã có phần hoà hoãn, song chưa hết lo âu. “Chúng ta ở trong thành, có thể dựa vào địa thế hiểm trở mà cố thủ, hoặc giả vẫn còn cơ hội sống. Giờ nếu bỏ thành, chúng ta sẽ không còn biết dựa vào đâu, Bàng Quyên nếu thừa cơ bao vây tiêu diệt, chúng ta chẳng phải... chết không có chỗ chôn ư?”
“Giặc cùng đường không đuổi, đây là đạo dụng binh bất di bất dịch xưa nay, huống hồ hiện giờ, người Ngụy tâm không còn để vào người Triệu, mà là quay về cứu Đại Lương, tin chắc Bàng Quyên sẽ không tham đánh, để người Ngụy thiệt mạng oan uổng nơi đây.”
“Vậy bao giờ thì đột phá vòng vây?”
“Sự việc không thể chậm trễ, phải hành động ngay trong đêm nay trước khi trời sáng.”
“Được, quả nhân nghe theo Tô Tử.” Triệu Ung quay sang quần thần. “Đột phá vòng vây thế nào, sẽ do chư vị ái khanh lo liệu.” Nói xong, cất bước nặng nề trở về hậu cung, sắp xếp gia sự.
Nhận được ý chỉ, Tô Tần phái anh em Mộc Thực, Mộc Hoa nhân lúc đêm tối thả dây tụt xuống chân thành, tức tốc tới Vũ An, thông báo cho Phì Nghĩa dẫn quân tiếp ứng. Tảng sáng, khi quân Ngụy đang say giấc nồng, cổng thành ở hai hướng bắc và tây Hàm Đan đồng loạt mở toang, binh lính và thanh niên trai tráng trong thành tầng tầng lớp lớp bảo vệ Triệu Vương cùng đám hậu phi quý tộc, ào ào tràn ra như ong vỡ tổ, khí thế tựa nước vỡ bờ không gì cản nổi, đột phá được mấy ngả đường, cuốn bụi mà đi.
Quả như dự đoán của Tô Tần, Bàng Quyên hay tin mừng vui khôn xiết, căn dặn tướng sĩ không được đuổi đánh, thậm chí còn cố ý mở lối, thả cho người Triệu một con đường sống. Quân Phì Nghĩa bên ngoài thành cũng đã tới điểm hẹn, người Triệu các ngả tập kết tại một chỗ, tuần tự vượt qua Minh Thuỷ, tiến vào vùng đất an toàn.
Mặt trời lên đến đầu sào, Bàng Quyên dẫn theo ba quân chỉnh tề nhập thành, sai người kiểm kê vàng bạc, kho tàng, lấy danh nghĩa Ngụy Vương khao thưởng ba quân, chuẩn bị đầy đủ lương thảo, hạ lệnh nghiêm cấm cướp bóc, quấy nhiễu dân thường, chỉ đưa hết đám cung nữ trong cung Triệu và đám tỳ nữ, thiếp nô của các nhà đại phu, quý tộc ra ngoài thành, phân phát cho ba nghìn lính hổ bôn và hai vạn võ binh.
Sáng sớm hôm sau, trời vừa tinh mơ, hai vạn võ binh và ba nghìn lính hổ bôn sau một đêm no say nữ sắc, tinh thần sảng khoái, hăm hở tiến về phía cửa Túc Tư dưới sự chỉ huy của Bàng Quyên.
Kế sách của Bàng Quyên là từ cửa Túc Tư vượt Hà Thuỷ, tới Quế Lăng, qua Vệ vào Tống, chọc thẳng vào con đường cái quan nối liền Tề, Ngụy nằm giữa Tế Thuỷ và Bộc Thuỷ, cắt đứt đường rút lui của quân Tề. Số quân còn lại, chỉ lưu một bộ phận binh lính theo Trương Nghi ở lại Hàm Đan thu xếp, còn đại bộ phận do công tử Tự chỉ huy, theo con đường cái quan giữa Tề về Ngụy tiến thẳng về Đại Lương, hội tụ cùng với quân Ngụy ở Đại Lương, cùng cánh quân của Bàng Quyên ba lộ giáp công, quyết chiến một trận với Điền Kỵ ngoài ngoại ô Đại Lương.
Binh quý ở thần tốc, từ Hàm Đan tới cửa Túc Tư, gần ba trăm dặm đường, võ binh Đại Ngụy chỉ đi mất một ngày một đêm, rạng sáng hôm sau đã tới bến đò, bình minh thì vượt sông.
Ba nghìn lính hổ bôn vượt sông đầu tiên, tiến thẳng tới Tế Thuỷ. Còn chưa hành quân tới Bộc Thuỷ, ba nghìn quân hổ bôn đã trúng phải ổ mai phục của vô số lính nỏ trong rừng rậm ngay mé tây Quế Lăng. Quân hổ bôn tuy dũng mãnh, song do bất ngờ ứng chiến, cộng thêm hành quân quá gấp, mồ hôi đẫm lưng, nên đa phần đều đã cởi mũ bỏ giáp, dùng thương gánh trên vai mà đi, quân Tề lại bắn tên ở cự ly rất gần, chỉ trong khoảnh khắc, đoàn quân hổ bôn đã gục ngã quá nửa.
Số lính hổ bôn còn lại đùng đùng giận dữ, không kịp cả mặc áo giáp, bất chấp cơn mưa tên, cứ thế xông thẳng vào trong rừng. Lính nỏ của quân Tề bị bất ngờ, không kịp rút lui, bị chém giết không ít. Đội trường thương quân Tề hối hả xông lên, yểm hộ cho lính nỏ, vây chặt lấy lính hổ bôn.
Thanh Ngưu khua chiêng thu quân, lính hổ bôn mở một con đường máu quay về, đang lúc kịch chiến, quân Ngụy ở phía sau đã kịp xông lên, lính Tề buộc phải rút lui.
Bàng Quyên điểm lại quân số, thấy thiệt hại mất tám phần, ba nghìn lính hổ bôn giờ chỉ còn chưa đây năm trăm, chưa kể rất nhiều người bị thương nặng nhẹ khác nhau, Thanh Ngưu cũng bị trúng tên ở cánh tay trái, may mà vết thương không nặng, đã được thầy lang băng bó kịp thời.
Ba nghìn lính hổ bôn bị phục kích, lại tử vong quá nửa, sau giây phút bàng hoàng chấn động, Bàng Quyên vẫn cho rằng chỉ là một toán quân Tề hay tin tới cản đường, liền xua đại quân tiến lên vây đánh, hòng diệt gọn toàn bộ, nào ngờ lại đụng đầu với cả vài vạn lính Tề, hơn nữa lính Tề sớm đã chiếm cứ dải đồi thấp hai bên Quế Lăng và con đường chật hẹp ở giữa, bày trận chờ sẵn, chẹn cứng cả con đường cái quan dành cho xe đi.
Trên đỉnh ngọn đồi nhỏ, một lá cờ chủ tướng bay phấp phới, bên trên viết rành rành một chữ “Điền” thật lớn. Bàng Quyên thuận đà nhìn xuống, thấy đứng dưới lá cờ, quả nhiên là Điền Kỵ.
Bàng Quyên hít ngược một hơi thật sâu. Theo quân tình mà Bàng Quyên biết được, Điền Kỵ và quân chủ lực Tề hiện vẫn bao vây Đại Lương. Rõ ràng, bản thân hắn đã quá ư tự tin và sơ suất. Nếu trước khi ba quân lên đường, phái đi vài lộ thám mã, thì đâu đến nỗi sa vào tình thế quẫn bách này.
Sau cơn kinh hãi, Bàng Quyên nhìn khắp xung quanh, thấy nơi đây địa thế chật hẹp, bất lợi cho võ binh triển khai, bèn vội vàng hạ lệnh rút lui, đến vùng đất rộng cách đó vài dặm hạ trại chỉnh đốn đội ngũ, bố trí phòng ngự chặt chẽ, đồng thời phái năm quân sĩ tức tốc quay về cửa Túc Tư, yêu cầu công tử Tự hoả tốc chi viện, nào ngờ chưa được bao lâu, đám binh sĩ mang thư đi chỉ có một người trở về, mặt mũi đầy máu, chân bị trúng tên, bẩm báo rằng quân Tề đang tàn sát tại cửa Túc Tư, cửa Túc Tư e là không giữ nổi.
Lời vừa nói dứt, ở chân trời tây bắc, khói lửa bốc lên cuồn cuộn, như mây đen bao phủ. Phóng mắt nhìn đi, chính là phía cửa Túc Tư.
Không khó nhận ra, thứ đang bốc cháy không phải là nhà dân, mà là thuyền bè mà quân Ngụy dùng để vượt sông.
Không có thuyền bè, quân Ngụy ở Hà Tây kiểu gì cũng không thể vượt Hà Thuỷ, mà phía Đại Lương, trong vòng vài ngày không thể điều quân tới chi viện, cũng có nghĩa là, trong vài ngày tới, hơn hai vạn võ binh của Bàng Quyên sẽ trở thành cánh quân đơn độc!
Quế Lăng địa thế hết sức đặc biệt, hai bên đều có một dãy gò đồi cao chừng hơn hai chục trượng, kẹp lấy con đường cái quan không rộng lắm ở chính giữa, đường này đủ rộng cho hai xe chiến đi song song, sườn đồi tuy thoai thoải, song cây cối rậm rì, gai góc chằng chịt, có lợi cho phòng thủ mà bất lợi cho tấn công.
Chưa đầy nửa canh giờ, Bàng Quyên thăm dò sơ bộ biết được rằng, số lượng quân Tề tham gia bao vây không dưới sáu vạn, hơn nữa đã chia nhau chiếm cứ các địa thế có lợi khắp xung quanh, hình thành nên một thế trận hình cái túi, lại bố trí đầy chướng ngại vật trên đường cái quan trước sau chỗ quân Ngụy đóng trại, không chỉ bịt kín con đường, mà dọc theo hai bên đường cũng kết đến vài đường phòng tuyến, chằng chịt tới tận đỉnh đồi, rõ ràng là mưu đồ vây khốn người Ngụy trong cái khe hẹp phạm vi không tới vài dặm này.
Nguy hiểm hơn nữa là, ở đây không có nước.
Võ binh đưa mắt nhìn nhau. Dù là Bàng Quyên, trong đầu cũng thoáng qua một nỗi kinh hoàng.
Đúng vậy, Trương Nghi đã nói đúng, bên quân Tề có cao nhân, hơn nữa cao nhân này, thuật dụng binh còn hơn cả Bàng Quyên hắn. Tấn công Tương Lăng, quấy nhiễu đất Ngụy, vờ đánh Đại Lương, mai phục đốt thuyền... Tính toán nghiêm mật, bố trí kín kẽ đến nhường này, dường như tất cả mọi tiểu tiết đều được suy tính tường tận.
Có thể làm được đến mức này, trên thế gian chỉ có một người. Tôn Tẫn!
Phải, chắc chắn là Tôn Tẫn!
Bôn tập đường trường, đánh vào chỗ địch buộc phải cứu, xứng danh là pháp bảo dụng binh của Tôn Tẫn! Nhớ năm xưa cùng lệnh doãn nước Sở Chiêu Dương tranh giành đất Tống, trận chiến tuyệt diệu ngoài đánh Hạng Thành, ngầm đoạt Hình Sơn, cũng chính là do Tôn Tẫn vạch mưu!
Nghĩ tới Tôn Tẫn, Bàng Quyên bỗng lạnh buốt sống lưng. Quả là quái dị, không biết người này đã trốn chạy thế nào, ẩn nấp ra sao mà vẫn bặt tích đến tận ngày nay?
Bàng Quyên đang lúc suy nghĩ rối bời, thì tướng lính các bộ đã nhao nhao xúm lại, đều muốn liều mạng với người Tề, ai nấy hằm hè rậm rịch, xin lệnh đánh ngay.
“Chư vị tướng quân!” Bàng Quyên dứt khỏi dòng suy nghĩ, lấy lại lý trí, đưa mắt nhìn khắp lượt chư tướng, bình thản mà rằng. “Trong số chư vị, ai đã từng tham gia trận chiến Hoàng Trì, xin hãy giơ tay!”
Có năm người đồng loạt giơ tay, nét mặt không giấu vẻ tự hào.
“Tốt lắm!” Bàng Quyên vẫy tay về phía năm người. “Hãy đứng lên phía trước!”
Năm người bước lên trước hai bước, ngẩng cao đầu, đứng thành một hàng.
“Hãy kể cho mọi người nghe, chư vị đã giành chiến thắng như thế nào?”
Trận chiến Hoàng Trì được xem là trận chiến kinh điển oanh liệt nhất kể từ khi nước Ngụy lập quốc tới nay, người Ngụy từ đàn bà trẻ nít cũng biết, đừng nói là những người lính đang có mặt tại đây. Năm người đưa mắt nhìn nhau, một người dõng dạc trả lời: “Tướng quân bố trí trận Con Rùa đắm phân, đại phá quân Tề, bắt sống Điền Kỵ trong hố phân!”
Chư tướng cười ồ lên.
“Nói hay lắm!” Bàng Quyên lại không cười, giơ ngón tay cái về phía người vừa nói, khen ngợi một câu, rồi lại nhìn vào chư tướng. “Chư vị tướng quân, nhớ năm xưa, Tề có bảy vạn đại quân, ta chỉ có ba vạn tàn binh ít ỏi, kết quả thế nào? Bắt sống Điền Kỵ trong hố phân! Nay không có hố phân, song ta có hai vạn võ binh một địch nổi mười, hãy xem bản tướng lại bày trận, bắt sống Điền Kỵ!”
“Tướng quân, phải bày trận thế nào, xin hãy hạ lệnh!” Chư tướng đồng thanh nói.
“Tướng Tề Điền Kỵ chỉ xứng với một trận, trận Con Rùa!” Bàng Quyên nhảy lên xe chiến. “Chư vị tướng sĩ, hãy nhìn cờ hiệu của ta, nghe hiệu lệnh của ta, chính tại nơi đây, bày trận Con Rùa, bắt sống Điền Kỵ!”
Chư tướng đồng loạt hô vang: “Bày trận Con Rùa, bắt sống Điền Kỵ!”
Không đầy một canh giờ, hai vạn võ binh đã tuân theo cờ hiệu của Bàng Quyên, bày trận Con Rùa ngay tại chỗ.
Điền Kỵ đứng trên đỉnh núi, nhìn thấy rành rành, lửa giận bốc ngùn ngụt, sôi máu nói với Tôn Tẫn: “Bàng Quyên năm xưa bày ra trận này để bỡn cợt bản tướng, nay lại vẫn bày trận này, hẳn là tỏ ý liều chết!”
“Nhìn vào trận pháp này, Bàng huynh quả nhiên cao tay!” Tôn Tẫn lại tấm tắc khen ngợi.
“Gì kia!” Điền Kỵ nhìn sang, sắc mặt đầy vẻ ngỡ ngàng. “Tôn huynh, huynh cố tình chọc tức tại hạ ư, hay là...”
“Tại hạ đang cùng Điền tướng quân bàn về trận pháp.”
“Được, huynh hãy nói đi, trận pháp của hắn có gì cao tay!” Điền Kỵ hậm hực ra mặt.
“Phàm trận pháp có mười loại,” Tôn Tẫn cất giọng thong thả giống như đang giảng giải, “là trận vuông, trận tròn, trận thưa, trận mau, trận mũi dùi, trận cánh nhạn, trận móc câu, trận huyền, trận hoả, trận thuỷ. Từ cổ chí kim, nghìn vạn trận pháp, đều từ mười trận này biến hoá mà ra.”
Mười loại trận pháp Tôn Tẫn vừa nói hoàn toàn khác với hiểu biết của Điền Kỵ về trận pháp. Trận pháp mà Điền Kỵ biết đến, đều là trận pháp cụ thể, có trận đồ, tên gọi, có điểm mạnh, điểm yếu, chẳng hạn như trận Hổ Dực, trận Long Đằng, trận Trường Xà Chữ Nhất, trận Mê Hồn, trận Âm Dương Bát Quái,... tổng cộng không dưới trăm trận. Vậy mà Tôn Tẫn lại khái quát chung chung rằng tất cả trận pháp đều quy về mười loại này, khiến Điền Kỵ cảm thấy vô cùng mới mẻ.
Điền Kỵ thỉnh giáo về ưu thế và cách phá giải mười trận pháp, Tôn Tẫn bèn lần lượt giảng giải.
Điền Kỵ như đã hiểu ra, chỉ vào trận thế quân Ngụy, nói: “Nếu nói như vậy, thế trận trước mắt, hẳn là trận tròn?”
“Không hoàn toàn như vậy!” Tôn Tẫn không nhìn vào thế trận, mà nhìn Điền Kỵ nói. “Năm xưa Bàng huynh bày ra trận thế này, đúng là có ý bỡn cợt tướng quân, bởi lẽ khi Bàng huynh bày trận này, sớm đã chuẩn bị kỳ chiêu. Nay thì khác. Ta quân số gấp bội, lấy nhàn đối nhọc, quân Ngụy thế yếu, địa thế bất lợi, trong lúc nguy cấp, lại không có kỳ chiêu để dựa vào, trước mắt xem ra không có cách phòng ngự nào tốt hơn trận này.”
“Tốt ở chỗ nào?” Điền Kỵ hiển nhiên không phục.
“Tướng quân hãy nhìn xem!” Tôn Tẫn quay đầu lại, chỉ vào trận địch. “Trận này hình dạng giống như rùa phục, trong vuông có tròn, trong tròn có vuông, gồm đủ ưu thế của cả hai trận vuông, tròn. Vòng ngoài cứng mạnh, dày đặc binh khí dài nỏ cứng, xe chiến xếp thành hàng rào vây kín, rải đầy gai sắt tật lê, chẳng khác gì mai rùa thần, dù kẻ địch có mạnh đến mấy cũng không thể đột phá. Bên trong trống trải, thương binh chữa trị, bếp núc nấu nướng đều được đặt ở giữa. Đầu rùa và bốn vuốt biến hoá linh hoạt khôn lường, có thể thu vào, có thể duỗi ra, duỗi thì tấn công, thu thì phòng thủ. Bàng huynh trong lúc nguy cấp, vẫn có thể ngộ ra đạo lý của thế trận này, dùng vào phòng ngự, quả thực cao tay!”
Điền Kỵ quan sát lại trận thế này theo như lời Tôn Tẫn, rồi hít ngược một hơi, tấm tắc mà nói: “Nếu không nhờ Tôn huynh chỉ điểm, tại hạ... e là lại bị mắc lừa!”
Tôn Tẫn như thể không nghe thấy, ánh mắt vẫn dán vào trận thế bên địch, càng nhìn càng thán phục, tấm tắc khen ngợi: “Tiên tổ Tôn Vũ Tử có nói, hai quân giao chiến, dụng binh bố trận nếu đạt được đến sáu điều cực chí, sẽ đánh đâu thắng đấy!”
“Thế nào là sáu điều cực chí?” Điền Kỵ vội hỏi.
“Nhanh như gió, vững chãi như rừng, tấn công như lửa cháy, bất động như núi, ẩn nấp như bóng đêm, hành động như sấm sét. Quan sát kỹ thế trận này, Bàng Quyên đã đạt được hai điều.”
“Hai điều cực chí mà thằng giặc họ Bàng đạt được,” Điền Kỵ như đã ngộ ra, “hẳn là vững chãi như rừng, bất động như núi?”
“Đúng vậy!” Tôn Tẫn gật đầu. “Vững chãi như rừng, bất động như núi, chính là tinh tuý của trận Rùa, Bàng Quyên đã cùng tận được rồi.”
“Đã là trận Rùa,” Điền Kỵ như có điều nghĩ ngợi, “đã vững chãi như rừng, bất động như núi, thì ta vẫn có thể bao vây, khiến chúng đói khát, mệt mỏi mà chết.”
“Cũng được coi là một cách phá trận.” Tôn Tẫn đáp lời. “Có điều, hiện giờ không thể áp dụng. Rùa này chỉ cần phục ba ngày, quân chi viện của Đại Lương sẽ tới, quân Ngụy ở Hàm Đan cũng sẽ tìm cách vượt sông. Hà Thuỷ dài dằng dặc, nơi nào cũng có thể vượt qua, muốn phòng cũng phòng không xuể. Hơn nữa, quân ta gần như đã được điều động hết tới đây, không còn đủ sức canh phòng Hà Thuỷ. Lúc này, trong có trận Rùa, ngoài có quân chi viện, ta ngược lại sẽ bị bao vây tứ bề, sa vào thế bị động. Nhìn thế trận này, muốn cầm cự ba ngày lại không hề khó. Ta tuy cắt đứt nguồn nước, tuyệt đường lương thảo của địch, song quân sĩ hành quân đường trường, tất có chuẩn bị lương khô, túi nước, trong lúc cấp thiết, vẫn có thể giết ngựa cứu đói, uống máu giải khát, chống chọi ba ngày chẳng có gì khó khăn.”
Điền Kỵ thở hắt ra: “Ý quân sư là, trong vòng ba ngày, ta buộc phải phá giải trận Rùa, đánh tan Bàng Quyên?”
“Đúng vậy!”
“Ồ...” Điền Kỵ lo lắng. “Trận này kiên cố như vậy, làm thế nào để phá giải đây?”
“Muốn giết được rùa, chém đầu chặt vuốt.”
“Đầu rùa thụt trong mai, biết chém thế nào?”
“Có thể cho chiến sĩ dũng mãnh cảm tử khiêu chiến với đầu rùa, chỉ khuấy đảo ở trước đầu rùa, đầu rùa thò ra thì lùi, đầu rùa thụt vào thì tiến, khiến đầu rùa vô thức vươn dài ra. Sau đó để kỵ binh thọc vào chớp nhoáng, cắt đứt đầu rùa. Rùa ắt phải mau chóng biến hình di chuyển nhằm cứu lấy đầu, khi đã chuyển động, ắt lộ điểm yếu, ta có thể điều quân tinh nhuệ, bày ra trận mũi dùi, chia thành bốn lộ tấn công chân rùa, đột nhập vào chỗ trống bên trong. Trong bốn chân, nếu có một chân bị đột nhập, trận Rùa có thể phá.”
“Cách phá tuyệt diệu!” Điền Kỵ mừng rỡ. “Tại hạ lập tức đi sắp xếp, ngày mai phá trận!”
“Ngày mai không được!” Tôn Tẫn xua tay nói. “Quân Ngụy vừa bị vây khốn, khí thế ắt hừng hực như lửa. Tướng quân cứ vờ như không hiểu trận này, sử dụng chiến thuật luân phiên, ngày đêm quấy nhiễu thân rùa, vừa làm kẻ địch mệt mỏi, lại có thể khiến kẻ địch lơ là cảnh giác. Cứ thế hai ngày, khí của địch sẽ suy sụp, tâm lý đề phòng được loại trừ, lúc này, tướng quân mới phá trận, một chiêu chế địch!”
Điền Kỵ tuân lệnh, triệu tập chư tướng tới trại trung quân thụ mệnh, phát lệnh tiễn cho từng người, chỉ rõ chiến thuật.
Trong hai ngày sau đó, từng tốp quân Tề dùng xe chiến cũ kỹ luân phiên tấn công mai rùa, liên tục suốt ngày đêm không nghỉ, song không đột phá được chỗ nào. Cho cuối ngày thứ hai, quân Ngụy dần dần lơ là cảnh giác, dù là Bàng Quyên cũng nghĩ rằng Tôn Tẫn cũng chỉ đến thế mà thôi, lại nhẩm tính quân chi viện sắp tới, nên càng yên chí lớn.
Ngày thứ ba, trời đã hoàng hôn, quân Ngụy sau ba ngày liền căng thẳng, đều đã mệt mỏi rã rời, sĩ khí suy sụp. Chính vào lúc này, chủ tướng tả quân Khuông Chương đích thân dẫn hai nghìn nhuệ binh đánh thẳng vào đầu rùa. Đầu rùa là đám quân hổ bôn của Thanh Ngưu còn sót lại sau cuộc chiến vừa qua, cộng thêm năm trăm võ binh, tổng cộng một nghìn, do Thanh Ngưu chỉ huy, ai nấy dũng mãnh khác thường, đã nhẫn nhịn suốt hai ngày đêm mà chưa có cơ hội xuất chiến, lúc này thấy có quân khiêu chiến, lập tức tinh thần hừng hực, khí thế ngất trời nghênh chiến Khuông Chương.
Khuông Chương đánh không lại Thanh Ngưu, đấu chưa nổi ba hiệp, đã bại trận bỏ chạy.
Quân Tề trang bị nhẹ nhàng, hành động mau lẹ, võ binh giáp trụ nặng nề, di chuyển chậm chạp, nên Thanh Ngưu không thể đuổi kịp.
Khuông Chương lộn lại đánh tiếp, Thanh Ngưu lại ứng chiến, qua vài hiệp nữa, Khuông Chương vẫn không thể địch nổi, lại chạy. Cứ thế vài lần, Thanh Ngưu nổi giận đùng đùng, càng đuổi càng xa, đầu rùa thò ra ngoài cả dặm lúc nào không biết.
Bàng Quyên hay tin, gấp rút khua chiêng, song đã muộn rồi. Vó ngựa nổi lên dồn dập, một đoàn kỵ binh thình lình lao ra từ bên cạnh, đâm thẳng tới cổ rùa, cuốn bụi mù mịt, che khuất tầm mắt. Ngựa chiến nhanh hơn xe chiến rất nhiều, tất cả ngựa chiến đều mang áo giáp, thế mạnh lực bạo, tấm thân máu thịt của võ binh Ngụy sao có thể chống chọi, đa phần bị ngựa chiến đâm ngã rồi giày xéo lên, cổ rùa chớp mắt đã bị cắt thành hai đoạn.
Tiếp đến, binh sĩ quay đầu ngựa nhảy xuống, cầm binh khí ngắn mặc sức đâm chém đám võ binh Ngụy đang ngã dưới đất. Võ binh Ngụy đa phần chưa hết bàng hoàng, tới khi hoàn hồn, không ít người đã thành ma dưới mũi thương. Khuông Chương quay lại đánh tiếp, dũng khí tăng vọt, phía Thanh Ngưu biết đã mắc mưu, muốn rút lui song muộn mất rồi, bị quân Tề bao vây tầng tầng lớp lớp.
Bàng Quyên kinh hãi rụng rời, vội vã hạ lệnh cứu viện đầu rùa, thân rùa mau chóng di chuyển, bốn chân rùa phăng phăng tiến lên phía trước.
Đúng lúc này, bốn đội kỵ mã, mỗi đội đông đến hàng nghìn kỵ binh, đều mặc áo giáp, cầm binh khí nhọn, chia làm bốn ngả, nhanh như chớp xông tới bốn chân rùa đang di chuyển. Chân rùa muốn rụt về không được, muốn cản lại chẳng xong, bị đánh cho tan tác. Kỵ binh Tề lao thẳng vào bụng rùa trống trải, trận Rùa như giữa bụng nở hoa, tan tành tán loạn, tiếng hô giết vang trời, chiêng trống hỗn độn. Bàng Quyên không phân biệt rõ đâu ta đâu địch, hiệu lệnh không được, thân rùa chia năm xẻ bảy, võ binh Đại Ngụy chỉ còn biết đơn độc giao chiến.
Cùng lúc này, đại quân nước Tề ào ào xông lên như ong vỡ tổ, tầng tầng lớp lớp bao vây quân Ngụy, cứ ba giết một, lại thêm trời nhá nhem tối, võ binh Đại Ngụy không phân biệt rõ ta địch, đâm chém bừa bãi, trong khi người Tề có ký hiệu riêng, ai cũng quấn vải trắng trên cánh tay.
Thanh Ngưu thấy tình thế chẳng lành, chẳng còn tâm trí nào nữa, liền bỏ Khuông Chương, cùng mấy viên mãnh tốt bên mình quay ngược trở lại, chém giết mở đường trở về mình rùa, vừa đánh vừa hô gọi quân Ngụy đang hỗn chiến, tụ thành một nhóm trăm người, tiếp tục đâm chém trong hỗn loạn, từ xa nhìn thấy Bàng Quyên đang bị vây khốn trùng trùng.
Bên cạnh Bàng Quyên đã không còn mấy tuỳ tùng, tình thế cực kỳ nguy cấp.
Thanh Ngưu hét to một tiếng: “Thanh Ngưu tới đây!” Rồi xông thẳng vào trùng vây, cứu lấy Bàng Quyên, mở một đường máu về phía tây nam, phá vây mà ra. Đi chưa được vài dặm, đã đụng đầu ngay cánh quân của Mâu Tân phòng ngự bên ngoài, tay cầm đuốc, chắn ngang đường đi.
Thanh Ngưu sát khí đằng đằng, đã không rút lui, mà còn gầm lên một tiếng, vận lực bẻ gãy lấy một càng của cỗ xe chiến hỏng bên cạnh, cầm chắc trong tay, xông thẳng lên phía trước, đón đường xe chiến của Mâu Tân.
Ngựa kéo xe của Mâu Tân kinh hoảng, dựng vó hí dài. Mâu Tân phần vì trở tay không kịp, phần thì kinh hãi trước khí thế của Thanh Ngưu, còn chưa kịp phản ứng, ngựa kéo xe đã hoảng loạn quay đầu, điên cuồng chạy ngoặt sang ngang.
Thấy chủ tướng chạy trốn, đám binh lính nào dám tiếp chiến, đua nhau chạy dạt sang hai bên nhường đường. Đám Thanh Ngưu chưa tới trăm người, ai nấy dũng mãnh xông pha, tranh nhau lên trước, thế như chẻ tre, chẻ dọc cánh quân của Mâu Tân từ đầu đến đuôi, phá vây mà thoát ra, chạy ngược theo bờ Bộc Thuỷ, đến chiều hôm sau thì tới Hoàng Trì, mới gặp được quân Ngụy từ Đại Lương kéo đến chi viện.
Trên chiến trường chính, tiếng hò reo sát phạt đến tận nửa đêm về sáng mới dần dần lắng xuống.
Buổi sáng hôm sau, Tôn Tẫn muốn đi xem xét chiến trường. Điền Kỵ đề phòng bất trắc, nên đích thân đẩy xe lăn, cùng vài chục hộ vệ thân tín yểm hộ kín kẽ. Chiến trường sau một đêm sát phạt, cảnh tượng thê thảm tột cùng. Tướng sĩ quân Ngụy đa phần tử chiến, không có lấy một hàng binh, lính tử trận hầu hết bị mũi thương đâm từ phía trước, không ít kẻ chết trong tư thế tấn công.
Điểm lại quân Tề, dù chiếm ưu thế về mọi mặt số lượng, địa thế, song thương vong cũng xấp xỉ hai vạn, gần như ngang ngửa người Ngụy.
Phía trước có tiếng ồn ào vọng lại. Phóng mắt nhìn ra, thấy vài trăm tướng sĩ quây thành một vòng lớn, gào thét ầm ĩ một vùng. Trông thấy Điền Kỵ, một hiệu uý chạy như bay lại, hành lễ rồi nói: “Bẩm chủ tướng, ở đây có hơn ba trăm lính Ngụy, đều đã bị thương, song chống trả quyết liệt, thà chết không hàng!”
“Thà chết không hàng, giết ngay không phải hỏi!” Điền Kỵ sầm mặt đáp lời.
“Tuân lệnh!”
Hiệu uý vừa quay người chạy đi, sau lưng đã vọng lại tiếng gọi: “Hãy khoan!”
Hiệu uý bèn dừng lại.
Tôn Tẫn ra hiệu, Điền Kỵ đẩy xe lăn lại gần, quả nhiên thấy vài trăm lính Ngụy bị thương ngồi thành từng vòng tròn, vòng này bao lấy vòng kia, vòng tròn ngoài cùng là lính bị thương nhẹ nhất, vòng tròn trong cùng là lính bị thương nặng nhất, ai nấy lăm lăm binh khí, khắp người máu me, sắc mặt trầm trọng, sẵn sàng liều mạng một trận cuối cùng.
Trông thấy chủ tướng, quân Tề dạt sang hai bên mở đường, Điền Kỵ đẩy Tôn Tẫn lại gần, khi còn cách khoảng mười bước chân thì dừng lại.
“Chư vị tướng sĩ!” Tôn Tẫn cao giọng. “Tại hạ Tôn Tẫn, có lời chào chư vị!” Nói đoạn vòng tay, vái một vái dài.
Nghe thấy hai chữ “Tôn Tẫn”, tất cả lính Ngụy nhất loạt ngoái đầu lại nhìn, trong số đó có người biết mặt Tôn Tẫn, ngạc nhiên kêu lên: “Trời ơi, là Tôn giám quân! Đúng là Tôn giám quân rồi!”
“Chư vị tướng sĩ!” Tôn Tẫn ngồi thẳng dậy, một tay đặt trên tay vịn xe lăn, một tay giơ lên quá đầu. “Chư vị đúng là dũng sĩ chân chính, không hổ danh là quân sĩ, Tôn Tẫn kính trọng chư vị. Hai quân giao chiến, không giết kẻ đầu hàng, càng không giết kẻ bị thương, chư vị không đầu hàng, nhưng lại bị thương, Tôn Tẫn kính mong chư vị đừng nên cự tuyệt chữa trị, đừng nên tuyệt thực, Tôn Tẫn đảm bảo, quân Tề sẽ không đối xử với chư vị như với tù binh!”
Nghe những lời này, binh lính Ngụy đều cảm kích rơi lệ, đua nhau hạ vũ khí, thi lễ trước Tôn Tẫn.
“Mang nước, cơm cho các dũng sĩ, chữa trị vết thương cho họ!” Điền Kỵ căn dặn hiệu uý.
Hiệu uý tuân lệnh, lập tức đi sắp xếp.
“Truyền lệnh,” Tôn Tẫn quay sang Điền Kỵ, khẽ nói, “để lại một vạn tướng sĩ thu dọn chiến trường, chăm sóc thương binh, số còn lại mau chóng tới cửa Túc Tư, ứng chiến với quân Ngụy!”
Điền Kỵ y lời, để Điền Anh ở lại thu dọn chiến trường, còn mình đích thân dẫn đại quân tới cửa Túc Tư, nghênh chiến quân Ngụy đang vượt sông. Do không có thuyền vượt sông, quân Ngụy tạm thời ghép gỗ làm bè, số quân đã vượt sang sông không quá vài nghìn, trước thế tấn công vũ bão của quân Tề, hoặc chết hoặc hàng, số quân chưa kịp lên bờ vội vã quay ngược trở lại bờ kia.
Quân Triệu ở Hàm Đan hay tin quân Tề đánh bại Bàng Quyên ở Quế Lăng, liền đánh trở lại, ép quân Ngụy vào trong thành Hàm Đan. Mắt thấy bại cục đã định, hai phía đều bị tấn công, Trương Nghi, Ngụy Tự bèn chuyển công thành thủ, Trương Nghi soạn một bản tấu chương, khuyên Huệ Vương giảng hoà với hai nước Tề, Triệu.
Bàng Quyên về tới Đại Lương, quỳ xuống khóc tu tu trước mặt Huệ Vương.
Huệ Vương vừa lo sợ vừa buồn bực, đã nằm bẹp trên giường suốt mấy ngày, giờ chỉ biết ho sù sụ vài tiếng, lần tìm dưới gối bản tấu chương của Trương Nghi, gắng gượng điều hoà hơi thở, hỏi: “Tướng quốc tấu thỉnh giảng hoà, ý hiền tế thế nào?”
“Sắp thành lại bại,” Bàng Quyên nghẹn ngào, “nhi thần... không cam tâm!”
“Cam tâm cũng vậy, mà không cam tâm cũng vậy, phụ vương già rồi, vô dụng rồi!” Huệ Vương lại ho rũ vài tiếng, đoạn quay sang tỳ nhân, giọng nói khản đặc, có khí mà không có lực. “Triệu Chu Uy yết kiến!”
Hồi Thứ 66
Mắc mưu ly gián, chủ tướng đào vong
Nhận kí tử sinh, quân sư độn thổ
Chiến bại cầu hoà là điều mất mặt không gì bằng. Ngụy Huệ Vương lựa chọn Chu Uy, vừa là chọn người đúng tài, cũng là không còn sự lựa chọn nào khác, bởi lẽ phạt Triệu là do Trương Nghi, Bàng Quyên chủ trương, bảo hai người này đi sứ, sẽ chẳng có ai dám vác mặt đi. Thái tử Thân là quân chủ tương lai, để thái tử đi thì còn gì là thể diện đất nước. Huệ Thi là thích hợp nhất, song đã bỏ đi rồi, Bạch Hổ vị thế chưa đủ, phái hắn đi sợ làm hỏng việc, người có thể đứng ra thay mặt Ngụy thất, chỉ còn lại lão thần Chu Uy. Song Chu Uy bản tính thật thà, xét về tài đối đáp, mưu lược, vẫn chưa đủ độ.
Tuy nhiên, là nước chiến bại, tài mưu lược, đối đáp có giỏi tới đâu cũng vô dụng mà thôi, thành khẩn không chừng lại được việc.
Chu Uy không thể thoái thác, ngay ngày hôm sau đánh xe rời khỏi Đại Lương. Nhưng ông ta không đến thẳng Lâm Truy như sứ thần bình thường, mà thẳng tới đại doanh trung quân của nước Tề sớm đã đóng tại cửa Túc Tư. Cũng khéo trùng hợp, Chu Uy người còn chưa tới, từ xa đã nhìn thấy thái tử nước Tề Tích Cương áp tải lương thảo vượt đường xa nghìn dặm tới khao quân.
Chu Uy hạ trại tại chỗ, đợi cho Tích Cương nghỉ ngơi một đêm, sáng sớm hôm sau mới vào trại cầu kiến. Chu Uy vốn dĩ phản đối chiến sự, lần này cầu hoà lại càng cung kính, hai tay dâng lên quốc thư, quỳ dài dưới đất.
Tích Cương ban chỗ, sau khi đọc kỹ quốc thư, bèn đưa cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn đọc lướt qua, lại chuyển cho Điền Kỵ.
“Chu thượng khanh!” Điền Kỵ cười nhạt một tiếng, vứt toẹt quốc thư xuống đất. “Nếu là chuyện nhà của thượng khanh, cầu hoà không khó, nhưng nếu là chuyện của Ngụy thất, đương nhiên phải do người của Ngụy thất ra mặt!”
Lời nói hống hách, chẳng hề nể mặt Chu Uy.
“Điền tướng quân có điều không biết,” Chu Uy sắc mặt ngượng ngập, cười gượng một tiếng, vòng tay mà nói, “đại vương tuổi cao sức yếu, không thể bôn ba, điện hạ gần đây lại nhiễm phong hàn, không đi xa được, Ngụy thất đã chẳng còn ai phù hợp nữa. Tuy Chu Uy không phải thân tộc của Ngụy thất, song là rể trưởng của Ngụy môn, nay phụng vương chỉ cầu hoà, mong tướng quân nể tình chút ít.”
“Ý của tại hạ là,” Điền Kỵ cũng cảm thấy lỡ lời, vòng tay đáp lễ, rồi giải thích, “kẻ nào gây chuyện, kẻ đó nên đến mới phải! Thượng khanh là rể của Ngụy môn, vậy Bàng Quyên không phải ư? Ngụy Vương muốn khai chiến thì nghe theo Bàng Quyên, giờ muốn cầu hoà, cớ sao không bảo người này đến?”
Chu Uy thở dài sườn sượt, cúi gằm mặt xuống.
Điền Kỵ đang định nói tiếp, Tích Cương đã giơ tay ngăn lại, nói với Chu Uy: “Ngụy Vương nghĩ cho bách tính, có lòng cầu hoà, Tích Cương vui mừng lắm lắm. Có điều sự việc trọng đại, cho phép Tích Cương suy nghĩ, bẩm báo lên phụ vương, rồi mới có thể trả lời thượng khanh!”
“Tạ ơn điện hạ khoan dung, có điều... chiến sự một ngày chưa dừng, bách tính một ngày không yên, Chu Uy khẩn cầu điện hạ niệm tình nghìn vạn sinh linh mà sớm ngày định đoạt!”
“Thượng khanh hãy tạm quay về doanh trại, ngày mai lại tới, được chăng?” Tích Cương suy nghĩ một lát, rồi khách khí nói.
Chu Uy đứng dậy, lần lượt tạ ơn từng người, rồi lui khỏi doanh trại.
“Ngụy Anh nhận thua cầu hoà, chư vị ái khanh cùng bàn bạc xem, có nên chấp thuận không?” Tích Cương đưa mắt nhìn về phía ba người Điền Kỵ, Tôn Tẫn và Điền Anh.
“Không chấp thuận!” Điền Kỵ không chút do dự, lập tức đáp lời. “Bàng Quyên bại trận, tướng sĩ Ngụy chí khí suy sụp, giờ chính là thời cơ tốt đẹp cho ta phục thù! Hơn nữa, người Ngụy đã bị quân ta vây khốn ở bờ kia Hà Thuỷ, trước có người Triệu, sau có đại quân ta, muốn về chẳng được, muốn tiến không xong, khác gì tên bay hết tầm, chẳng còn sức mà đánh trả, chỉ có đường chờ chết!”
“Điền tướng quân, ý tướng quân thế nào?” Tích Cương nhìn vào phó tướng Điền Anh ngồi phía cuối cùng.
Điền Anh đang chăm chú đọc quốc thư của Ngụy thất vừa bị Điền Kỵ ném xuống đất, lúc này thấy Tích Cương hỏi đến, bèn đặt quốc thư xuống đáp lời: “Thần đã thăm dò biết được, tình hình đúng như lời chủ tướng, võ binh Ngụy gần như bị tận diệt, chủ tướng Bàng Quyên đã bỏ chạy, bên kia bờ Hà Thuỷ sĩ khí sa sút, chịu không nổi một đòn. Tuy nhiên...” Nhìn sang Tôn Tẫn, “cuộc chiến Quế Lăng sở dĩ thắng lợi, là nhờ diệu kế của quân sư, có nên đánh tiếp hay không, điện hạ xin hãy hỏi quân sư!”
Tích Cương mỉm cười, di chuyển ánh mắt sang Tôn Tẫn.
“Thần cho rằng,” Tôn Tẫn mỉm cười, vòng tay nói, “phàm chiến đều là vì hoà, hoà không thành thì chiến, chiến chỉ là bất đắc dĩ mà thôi. Ngụy đã cầu hoà, nếu ta vẫn cố chấp mà chiến, gọi là hiếu chiến. Hiếu chiến là phi nghĩa, kẻ sĩ không đâm đầu vào chỗ chết!”
“Chuyện này không thể!” Điền Kỵ thoạt tiên sững sờ, rồi lập tức phản đối. “Chỉ cần bản tướng hạ lệnh một tiếng, xem ba quân Đại Tề có kẻ nào dám không xung phong lâm trận?”
“Điều tướng quân vừa nói, gọi là dùng uy để phục. Dùng uy để phục, tướng sĩ kẻ chết sẽ oán hận, oán hận ắt sinh sát khí; kẻ sống sẽ sợ hãi, sợ hãi ắt không dám tiến.” Tôn Tẫn bình thản đáp lời.
“Tôn huynh...” Điền Kỵ gay gắt. “Lẽ nào cứ thế bỏ qua cho Bàng Quyên ư?”
“Hai quân giao chiến, không thể chỉ vì oán hận cá nhân. Hơn nữa, không biết đủ mà dừng, gọi là tham cầu. Tham cầu tất bại.” Tôn Tẫn vẫn ung dung đáp.
“Ý Tôn huynh là, nếu ta đánh tiếp, sẽ bại?” Điền Kỵ không phục.
“Ngụy tuy bất lợi, cũng chỉ là mất đi hai vạn binh sĩ, bên kia bờ Hà Thuỷ vẫn có gần bảy vạn tướng sĩ cảm tử, nếu bị bức đến đường cùng, ắt sẽ liều mạng chống trả, sĩ khí ngược lại sẽ lên cao. Một chọi với một, thắng thua khó mà lường trước! Dồn đến đường cùng không còn lối sống, giết địch một nghìn, ta cũng tổn thất tám trăm, trận Quế Lăng đã thấy rõ rành rành!”
Nhớ tới sự dũng mãnh của võ binh Ngụy trong trận Quế Lăng, Điền Kỵ bất giác rùng mình ớn lạnh.
“Còn nữa,” Tôn Tẫn vẫn thong thả tiếp lời, “Ngụy chiếm cứ phía tây Hà Thuỷ, từ cửa Túc Tư tới Nghiệp Thành đều là đất Ngụy, có hơn sáu mươi vạn dân, lương thảo đủ dùng cho một năm. Ngược lại nhìn vào quân ta, cung ứng khó khăn, nếu giao chiến lâu dài, khí tất suy, lực tất kiệt. Còn như nước Triệu, chỉ cần người Ngụy không để mất Phẫu Khẩu, người Triệu sẽ không có sức đánh trả. Người Ngụy bắc chiếm Hàm Đan, nam giữ Hà Thuỷ, đối đầu với ta, tướng quân sẽ ứng phó thế nào?”
Điền Kỵ không nói gì nữa.
Sáng sớm hôm sau, Chu Uy quay trở lại, Điền Tích Cương chấp nhận cầu hoà, rồi đùn đẩy trách nhiệm sang tay người khác, nói: “Đại vương ta đồng ý với thỉnh cầu của người Triệu mà xuất binh, thượng khanh nếu thực lòng cầu hoà, nên hỏi người Triệu. Nếu người Triệu đồng ý, tại hạ sẽ lập tức lui binh!”
Chu Uy chỉ mong đợi câu nói này, lập tức bái tạ, lên đường tới Hàm Đan, bái kiến Trương Nghi, bàn bạc điều kiện cầu hoà, rồi mang sứ tiết ra khỏi thành, vào doanh trại Triệu yết kiến Triệu Vương.
Trong đại trướng trung quân nước Triệu, sát khí hừng hực, bề tôi nước Triệu không ai không ngùn ngụt căm hờn, nhao nhao phản đối cầu hoà, cho rằng hiện tại là cơ hội tốt nhất để phản kích Ngụy, dù là An Dương Quân xưa nay điềm đạm là thế, cũng phản đối chuyện nghị hoà.
Rõ ràng, người Triệu đã phải chịu tổn hại quá lớn. Năm xưa, họ Trí nước Tấn liên kết với Hàn và Ngụy tấn công Triệu hơn một năm trời, nhấn chìm Tấn Dương trong biển nước đến mấy chục ngày, người Triệu phải “treo nồi mà nấu, đổi con mà ăn”, song đô thành vẫn trụ vững. Còn hôm nay, Bàng Quyên dẫn quân Ngụy dễ dàng cắt đứt ải Phẫu, thình lình vây bức Hàm Đan, người Triệu sao có thể nhẫn nhịn nổi!
Quần thần sục sôi, Triệu Ung tuổi nhỏ cương cường cũng khí thế hừng hực, đang định hạ chỉ, bỗng phía trước vang lên một tiếng đằng hắng khe khẽ.
Là Tô Tần. Từ đầu tới cuối vẫn ngồi phía trước Triệu Vương, lặng im không hé răng nửa lời.
Triệu Ung nhìn sang, quần thần cũng đều nhìn sang.
Sắc mặt Tô Tần chất chứa ưu tư.
“Tô ái khanh!” Triệu Ung lúc này mới sực nhớ tới vị cứu tinh của nước Triệu đang ở ngay bên cạnh, cảm thấy có phần thất lễ, vội vòng tay nói. “Người Ngụy phạt Hàm Đan của ta, Triệu, Ngụy không đội trời chung, nay Ngụy cầu hoà, quần thần đều muốn đánh, ái khanh có cao kiến gì chăng?”
“Tạ ơn đại vương hỏi đến.” Tô Tần vòng tay đáp lời. “Dám hỏi đại vương, lấy gì mà đánh? Đánh được bao lâu?” Rồi vòng tay hướng vào quần thần. “Chư vị đại nhân, giao chiến phải nhìn vào thực lực, không phải nhìn vào ý chí. Người Ngụy phía tây chiếm ải Phẫu, phía đông trấn Hà Thuỷ, phía nam là đất Ngụy, phía bắc là Trung Sơn, ta là thú bị vây, đã mất máu quá nhiều. Không giành được ải Phẫu, ta không thể tiếp máu, Hà Thuỷ hiểm trở, quân Tề không thể nóng vội vượt sông. Chỉ dựa vào sức hiện tại của ta mà quyết chiến với Ngụy, dám hỏi chư vị, chắc thắng được mấy phần? Chư vị nhà cửa đa phần ở Hàm Đan, cha mẹ thân bằng cũng đều ở Hàm Đan, máu nhuộm Hàm Đan, người thân lâm nạn, quân Ngụy cũng không cần phải xót thương, như vậy, Hàm Đan sẽ vì đó mà gà bay trứng vỡ, chỉ còn một vùng đổ nát thê lương.”
Lời Tô Tần vừa hợp tình hợp lý, lại đúng sự thực, khiến quần thần mới đó còn ý khí ngút trời, lúc này bỗng như bong bóng xì hơi, chốc lát đã xẹp lép.
“Chư vị đại nhân!” Tô Tần đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, vẻ mặt ưu tư ban nãy đã được thay bằng ánh mắt đầy khiêu khích, tựa như đang tìm kiếm sự phản bác. “Kho lương của ta đều ở Hàm Đan, người già yếu, bệnh tật, đàn bà, trẻ nhỏ đều ở Hàm Đan, thành cao hiểm trở cũng ở Hàm Đan, đều đã bị người Ngụy chiếm cứ, nếu ta bao vây, kết quả sẽ ra sao? Hơn nữa, ta biết lấy gì để bao vây? Hàm Đan đã liền một dải với Nghiệp Ấp, Chương Thuỷ không còn là trở ngại, người của ta tuy đông, song binh lính có thể chiến đấu lại chưa đầy năm vạn. Nay công và thủ đã giao hoán, ta lấy năm vạn chọi với bảy vạn, lấy không hiểm trở chọi với hiểm trở, lấy ý chí chọi với cường địch, không phải là hành vi của kẻ sáng suốt.”
Triệu Ung đã bị thuyết phục hoàn toàn, hít sâu một hơi: “Nên làm thế nào, xin ái khanh chỉ giáo!”
“Hồi bẩm đại vương!” Tô Tần quay mặt lại, nhìn sang Triệu Ung. “Theo như thần thấy, thượng sách hiện nay chính là giảng hoà với Ngụy, chấm dứt chiến tranh, cho dân nghỉ ngơi, hồi phục nguyên khí quốc gia. Ta tuy không chống cự nổi, song Ngụy cũng chịu không thấu, nay người Ngụy chủ động nghị hoà, thế là có lợi cho ta, đại vương nên thuận thế đẩy thuyền, giảng hoà với Ngụy, thu hồi đất đai trước đây của ta.”
“Triệu Ung kính cẩn nghe theo Tô Tử, phiền Tô Tử cùng Chu Uy bàn bạc chuyện nghị hoà!” Triệu Ung không nói gì thêm, lập tức quyết đoán.
“Tạ ơn đại vương giao phó trọng trách!” Tô Tần vòng tay nói. “Có điều, nếu thần ra mặt lại là không thoả, bởi thần tuy là tướng quốc Triệu, song cũng kiêm tướng quốc các nước khác!”
“Ồ...” Triệu Ung rõ ràng đã quên bẵng mất chuyện này. “Dám hỏi tướng quốc, người nào ra mặt mới thích hợp?”
“Thần tiến cử Phì Nghĩa đại nhân.”
Một tháng sau, phía nam thành Hàm Đan, trước dòng Chương Thuỷ cuồn cuộn về đông, sứ Ngụy Chu Uy cùng sứ Triệu Phì Nghĩa, sứ Tề Điền Anh, sứ Tần Sư Lý Tật, sứ Trung Sơn Trương Đăng cùng lập minh ước Chương Thuỷ. Theo minh ước này, người Ngụy trả lại vô điều kiện Hàm Đan và những vùng đất khác đã chiếm đóng cho Triệu; Tề, Tần và Trung Sơn rút quân vô điều kiện; Triệu và Trung Sơn lấy Hoè Thuỷ làm ranh giới, vĩnh viễn không xâm phạm lẫn nhau.
Một cuộc đại chiến thiên hạ kéo dài cả năm trời với sự tham dự của liệt quốc các phương, hai tháng sau khi quân Tề vây Ngụy, Bàng Quyên bại trận Quế Lăng, cuối cùng đã kết thúc bên bờ Chương Thuỷ.
Nói về lợi ích trước mắt, liệt quốc đều thua, kẻ thắng duy nhất là Trung Sơn, bởi lẽ cuối cùng đã giành lại được vùng đất chiến lược trọng yếu bấy lâu khao khát là Hạo Ấp từ tay người Triệu, về lý mà nói đã có được Hoè Thuỷ hiểm yếu. Vài năm sau, Trung Sơn cho xây dựng một dải tường thành chiến sự dọc theo bờ bắc Hoè Thuỷ, từ Hà Thuỷ phía đông thẳng tới chân núi Thái Hàng, thành thế đối đầu với người Triệu.
Tuy nhiên, nhìn về lâu dài, kẻ thắng thực sự vẫn là người Tần. Trương Nghi liên hoành thành công, hợp tung bất hoà, ba nước Triệu, Ngụy, Tề đều tổn thương nặng nề, còn nước Tần chẳng qua chỉ điều động đại quân tới chân thành Tấn Dương thị uy một vòng, gần như không mảy may sứt mẻ.
Đại quân nước Ngụy chinh chiến cả năm trời mà chẳng thu được chút công lao, rệu rã ủ ê vượt sông Hà Thuỷ, trở về Đại Lương. Chồng chất trên xe chiến đa phần không phải là chiến lợi phẩm, mà là quan tài của tướng sĩ tử trận ở các nơi trên đất Triệu. Trên khắp nước Ngụy, lại một lần nữa tiếng khóc vang trời, mọi nhà mọi hộ, các thôn các ấp, đâu đâu cũng thấy cảnh đưa tang.
Trương Nghi ngồi trong xe quân nhu, theo tam quân từ Hàm Đan trở về Đại Lương, suốt chặng đường đi, gần như chẳng nói năng với ai câu nào, trong lòng hỗn độn muôn mối cảm, vừa thất vọng hụt hẫng, lại vừa mãn nguyện.
Tới gần cửa Túc Tư, Trương Nghi hô dừng xe tại ngã ba đường mà năm xưa đã qua lại không biết bao lần, dặn bộ tướng dẫn quân đi tiếp, còn mình và vài tuỳ tùng rẽ vào trong núi, cho đám đông dừng cả dưới chân núi, chỉ dẫn theo một tâm phúc đi về phía Quỷ Cốc.
Tới trước lối vào Quỷ Cốc, có lẽ vì không muốn gặp Ngọc Thiền, Trương Nghi ngồi xuống phía trước tảng đá đề hai chữ “Quỷ Cốc”, tiện tay viết vài chữ, dặn tâm phúc vào trong khe núi, giao cho một người gọi là đại sư huynh.
Chỉ chốc lát sau, một đạo nhân trẻ vóc người dong dỏng, vạt áo phất phơ, tóc dài xoã vai, dung mạo thanh tú rảo bước theo sau gã tâm phúc tiến lại gần, nhìn thấy Trương Nghi, từ xa đã dừng lại, vòng tay mà nói: “Sư đệ, lâu không gặp, vẫn khoẻ chứ?”
“Đại sư huynh!” Trương Nghi nhìn chằm chằm vào đạo nhân, rõ ràng không nhận ra, hồi lâu sau, mới vái dài một vái, giọng nói không giấu nổi niềm xúc động. “Đã cao thế rồi ư?
“Đúng vậy!” Tiểu đồng cười vang. “Cái khác chẳng thấy tiến triển, mỗi cái thân này cao lên mà thôi. Có vài lần xuống núi, nghe nói sư đệ phong quang lẫm liệt lắm rồi!”
“Không một thành tựu, hổ thẹn vô cùng!” Trương Nghi vội buông lời khiêm tốn.
“Sư đệ hổ thẹn gì kia?” Tiểu đồng dường như không nghe ra ý khiêm nhường, nhìn thẳng vào Trương Nghi, truy hỏi đến cùng.
“Hổ thẹn...” Trương Nghi đảo con ngươi một vòng, “hổ thẹn với uỷ thác của tiên sinh, hổ thẹn với kỳ vọng của sư huynh!”
“Sư đệ hổ thẹn quá nhiều rồi!” Tiểu đồng nở một nụ cười. “Tiên sinh hoặc giả có uỷ thác thực, song đại sư huynh ta lại chưa từng kỳ vọng gì cả.” Rồi đổi giọng, hỏi thẳng vào chuyện chính. “Được rồi, không vòng vo nữa, sư đệ lần này đến đây, hẳn là muốn thăm chị Thiền Nhi?”
“Không... không phải!” Thấy tiểu đồng vẫn thông minh lanh lợi như ngày nào, lại còn nhắc tới Ngọc Thiền, Trương Nghi có phần bối rối, ngắc ngứ một câu, rồi nhanh chóng trấn tĩnh lại, dừng lời một lát, lấy lại thần thái, nhìn vào tiểu đồng hỏi. “Tiên sinh có nhà không?”
“Tiên sinh đang bế quan!” Tiểu đồng buông lời chặn họng. “Sư đệ đã trở về, cớ sao không theo sư huynh vào cốc, thăm lại chốn xưa?”
Trương Nghi cười gượng, từ từ khép mắt lại.
Tiểu đồng biết hắn không muốn gặp Ngọc Thiền, bèn cười nói: “Nên về thăm lại chốn xưa, chị Thiền Nhi vẫn thường nhớ đến sư đệ đấy!”
Trương Nghi mím chặt môi, một lát sau, lại cười gượng một tiếng, nói: “Phiền đại sư huynh chuyển lời tới sư tỷ, nói rằng Nghi tạ ơn sư tỷ nhớ đến. Nay dẫn quân trở về, trên đường qua cửa Túc Tư, nhìn thấy núi này, cảm khái dâng trào, cứ thế bất giác đi vào trong núi lúc nào không biết. Được gặp đại sư huynh, Nghi đã mãn nguyện lắm rồi, sẽ không vào cốc nữa.”
“Sư đệ lần này tới đây,” tiểu đồng chỉ vào trước ngực Trương Nghi, nói, “nếu đã có chuyện, sao chẳng nói ra cho nhẹ lòng?”
Trương Nghi sững sờ: “Đại sư huynh, sao... sao sư huynh biết sư đệ có chuyện?”
“Ha ha ha, nếu như không biết, chẳng phải là đã xưng bừa sư huynh trước mặt tướng quốc đại nhân rồi ư?”
“Đại sư huynh thần thông, tại hạ bội phục!” Trương Nghi đang không biết phải mở miệng thế nào, giờ được lời như cởi tấm lòng. “Sư đệ lần này tới đây, đúng là có một chuyện. Năm xưa sư đệ xuống núi, trước khi đi đã tặng cho sư huynh một cuốn thẻ tre, dám hỏi sư huynh có còn nhớ chăng?”
“Đúng là có việc này!” Tiểu đồng chẳng chút nghĩ ngợi, lập tức trả lời. “Chỉ có điều, cuốn thẻ tre đó sư huynh đây chẳng biết dùng vào việc gì, hình như ngay mùa đông năm đó đã đem làm củi đốt rồi.”
Nghe thấy hai chữ “hình như”, Trương Nghi trong lòng hiểu rõ, im lặng một lát, rồi vòng tay nói: “Phiền đại sư huynh nghĩ kỹ lại xem, ngộ nhỡ lúc đó cầm nhầm thì sao?”
“Sư đệ hãy đợi một lát,” tiểu đồng đáp lời, “đợi sư huynh quay về xem thử, nếu như chưa đốt, sẽ mang trả ngay cho sư đệ.”
Tiểu đồng quay về trong cốc, đi vào thảo đường, nói với Ngọc Thiền: “Là Trương Nghi tới.”
“Ồ?” Ngọc Thiền thoáng ngạc nhiên. “Hắn tới có việc gì?”
“Còn nhớ cuốn binh thư mà năm xưa tiên sinh dặn chúng ta xuống dưới vách núi đỉnh Hùng Kê nhặt về rồi lại mang đốt đi không? Bàng Quyên đã lén lút chép ra một bản, giấu trong hốc cây, bị Trương Nghi âm thầm lấy mất. Khi sắp xuống núi, Trương Nghi đã tặng cho tiểu đồng cuộn thẻ tre đó, tiểu đồng bèn tiện tay quẳng xuống dưới gầm giường. Bây giờ hắn lại tới đòi, có trả không?”
Ngọc Thiền ngẫm nghĩ một lát, rồi kéo tiểu đồng cùng vào trong động.
Quỷ Cốc Tử mắt vẫn khép chặt, quay về phía Ngọc Thiền, song lại nói cho tiểu đồng nghe: “Đã là vật của hắn, hắn vì muốn đòi nên mới tới đây, hãy trả cho hắn đi.”
Tiểu đồng vâng lời, quay về thảo đường, tìm bó thẻ tre dưới gầm giường, đoạn đi thẳng ra cửa cốc, đưa trả cho Trương Nghi.
“Tiên sinh!” Thấy tiểu đồng đã đi xa, Ngọc Thiền mới khẽ khàng hỏi. “Hắn mang đi, ắt giao cho Bàng Quyên, chẳng phải sẽ bất lợi cho Tôn Tẫn ư?”
“Thuận theo tự nhiên!” Quỷ Cốc Tử bình thản nói. “Chỉ là một bộ sách mà thôi, đâu có gớm ghê đến thế.” Lại nhắm mắt suy ngẫm một hồi, rồi mở mắt, lấy ra một đơn thuốc, cầm bút viết thêm một vị ở phía dưới, đưa cho Ngọc Thiền. “Thiền Nhi, con theo đơn này, vào trong núi hái thuốc, làm thành thuốc hoàn, đưa cho Tô Tần, bảo hắn tặng cho Tôn Tẫn, sẽ có lợi cho Tôn Tẫn!”
Ngọc Thiền nhìn đơn thuốc chăm chú, lát sau, kinh ngạc kêu lên: “Tiên sinh, đơn thuốc này...”
“Hoàn thuốc được làm từ đơn này,” Quỷ Cốc Tử chậm rãi nhắc lại một chuyện quá vãng xa xưa, “chính là hoàn thuốc mà năm xưa Tuỳ Sào Tử đã nhờ người tặng cho mẫu hậu của con đó!”
“Thuốc của Tuỳ Sào Tử, là của tiên sinh?” Ngọc Thiền kinh ngạc hỏi.
“Đúng vậy!” Quỷ Cốc Tử gật đầu. “Hồi mới quen Tuỳ Sào Tử, lão hủ đã thấy người này ôm ấp thiện niệm cứu đời, bèn tặng cho ông ta rất nhiều bài thuốc cứu thế, trong đó có đơn thuốc này.”
“Vậy...” Ngọc Thiền nhìn vào mấy chữ mới viết thêm phía dưới, “tiên sinh cho thêm vị này, là vì sao?”
“Có thể thành thuốc chết.”
“Thuốc chết?” Ngọc Thiền giật nảy mình, lắp bắp hỏi lại.
“Tôn Tẫn uống thuốc này, thân thể sẽ chết ngay lập tức, song hồn phách vẫn ở lại, một tháng sau, thân thể tự khắc hồi sinh.”
Ngọc Thiền hít ngược vào một hơi: “Tiên sinh, sự tình... thực sự nghiêm trọng đến thế ư?”
“Than ôi!” Quỷ Cốc Tử khẽ khép mắt lại, hồi lâu sau, mới thở dài một tiếng. “Tôn Tẫn không chết, Bàng Quyên sẽ không chịu buông tha, loạn lại càng thêm loạn. Chờ cho Tôn Tẫn vượt qua kiếp nạn này, cuộc cờ của hai người hoặc giả sẽ tới hồi kết thúc.”
Nghe thấy tiếng thở dài thườn thượt của Quỷ Cốc Tử và hai chữ “kết thúc” sau cùng, nghĩ tới Bàng Quyên có lẽ sẽ phải đối mặt với quả báo, Ngọc Thiền giật thót trong lòng, bất giác rùng mình ớn lạnh.
Phạt Triệu thất bại, cả nước tang thương, thần dân nản lòng nhụt chí, chỉ có Huệ Vương lại không suy sụp sau khi chiến bại như những lần khác, chỉ nằm bẹp trên giường vài ngày, lại đã tinh thần bừng bừng, bất ngờ xuất hiện trên triều đường Đại Ngụy, hơn nữa chỉ xử lý một chính sự duy nhất, gia phong Vũ An Quân Bàng Quyên ba nghìn hộ, một vạn lao dịch, thưởng ba trăm đĩnh vàng.
Binh bại mà lại được phong thưởng, thật khó tưởng tượng, đúng là chuyện lạ kỳ trong liệt quốc.
Triều thần thảy đều bàng hoàng kinh ngạc, đưa mắt nhìn nhau.
Bàng Quyên quỳ sụp dưới đất, khóc mà cảm tạ: “Thần mang tội chết, xin đại vương thu hồi mệnh lệnh! Thần dụng binh sai lầm, bại trận Quế Lăng, thiệt hại võ binh hai vạn, Hàm Đan vừa chiếm được lại vuột khỏi tay, sắp thành lại bại, khẩn cầu đại vương nghiêm trị cực hình, thần có chết vạn lần cũng không oán thán!”
“Vũ An Quân, khanh hãy nhớ, quả nhân không phải phong thưởng cho khanh, mà là cho ba quân tướng sĩ!” Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, cất giọng sang sàng, lý lẽ hùng hồn. “Chư vị ái khanh, lần này phạt Triệu, quả nhân cũng thấy đau thương, thế nhưng đêm qua, quả nhân đột nhiên thông tỏ một điều! Quả nhân đã thông tỏ chuyện gì? Chính là, từ lúc lên ngôi tới nay, quả nhân đông thảo tây phạt, nam chinh bắc chiến, có thể nói đã kinh qua vô số trận, song khiến quả nhân thống khoái thực sự, lại chỉ có một, chính là phạt Triệu lần này! Chư vị ái khanh, lần phạt Triệu này, Bàng tướng quân dụng binh như thần, kế sách tinh mật, đánh cho người Triệu trở tay không kịp, chiếm được cả kinh đô Hàm Đan, nêu cao uy vũ của Đại Ngụy ta! Đánh tan tác nhuệ binh nước Triệu, chiếm hạ kinh đô nước lớn, cho dù là danh tướng Ngô Khởi, cũng chưa từng lập được công lao nhường đó.
Thấy Huệ Vương nói ra lời này, khắp triều đường lặng bặt, chỉ còn tiếng Bàng Quyên khóc hu hu dưới đất: “Đại vương...”
“Chư vị ái khanh!” Huệ Vương vẫn chưa tận hứng, giọng nói hào hùng. “Đánh tan quân Triệu, hạ được Hàm Đan, giải toả cơn giận dữ ngấm ngầm trong lòng quả nhân suốt bao năm qua, thực khiến quả nhân hởi lòng hởi dạ! Tạm chưa tính đến chuyện này, lại càng khiến quả nhân thấy an ủi hơn nữa, là Bàng tướng quân đã huấn luyện cho Đại Ngụy ta hàng vạn dũng sĩ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, xông pha không chùn bước! Quả nhân sớm tối đọc chiến báo Quế Lăng, không lúc nào không rơi lệ. Hai vạn võ binh ta sa vào đường cùng, đối đầu với quân Tề đông đảo gấp bội, vậy mà không một ai thoái lui, quyết chiến tới người cuối cùng, chém chết hai vạn địch! Ba trăm quân sĩ của ta, trải qua một đêm kịch chiến, đều bị thương nặng, song thà chết không chịu đầu hàng. Riêng tướng quân Thanh Ngưu, chỉ dựa vào sức một mình, bảo vệ được chủ tướng đột phá trùng vây, đánh đâu tan đấy, thế như chẻ tre, khiến quân Tề nhìn mà vỡ mật. Quả nhân nào có tài đức gì đâu, mà lại có được tướng tài nhường vậy? Quả nhân nào có uy nhân gì đâu, mà có được tử sĩ nhường này!”
Nghe Huệ Vương khen thưởng tướng sĩ như vậy, triều thần thảy đều thán phục, gật đầu lia lịa, đều nhìn Bàng Quyên bằng ánh mắt tán thưởng.
Bàng Quyên phủ phục sát đất, mông chổng lên trời, càng khóc lóc thảm thiết.
“Than ôi!” Huệ Vương thở dài một tiếng. “Chư vị hiền thần, bại trận Quế Lăng, lỗi không phải ở Vũ An Quân, lỗi không phải ở tam quân, mà lỗi ở một mình quả nhân! Là quả nhân ngu muội, nhìn không ra gian kế nghi binh của người Tề, liên tiếp hạ chiếu thư, chỉ lệnh Bàng tướng quân rút quân, khiến Bàng tướng quân nôn nóng cứu chúa, nghìn dặm gấp gáp quay về, mới sa vào tuyệt địa. Cứ nghĩ tới chuyện này, quả nhân lại hối hận khôn nguôi. Quả nhân có lỗi với những tướng sĩ trận vong! Than ôi thương thay!...”
Huệ Vương đưa tay che mặt, nghẹn ngào mãi không thôi.
Những lời gan ruột cộng với tiếng than thở của Huệ Vương khiến Bàng Quyên lại càng nước mắt ròng ròng, cứ thế gào khóc thống thiết ngay giữa triều đường. Quần thần có mặt cũng đều xúc động, không ai không nức nở. Triều đình Đại Ngụy đã phấn chấn trở lại từ trong những tiếng khóc bi thương.
Khi tiếng khóc dần lắng xuống, Huệ Vương một lần nữa giao lại triều chính cho thái tử Ngụy Thân, rồi được tỳ nhân dìu đỡ, che mặt rời khỏi triều đường.
Chỉ lệnh đã ban xuống, song tư đồ Bạch Hổ cai quản kho lẫm lại không kiếm đâu ra ba trăm đĩnh vàng để khen thưởng theo lệnh Huệ Vương.
Mà đừng nói là ba trăm đĩnh, thậm chí đến một trăm đĩnh Bạch Hổ cũng không đào đâu ra.
Theo chiếu lệnh tuyển dụng võ binh Đại Ngụy, phàm võ binh tử trận, cả nhà được miễn thuế khoá và lao dịch mười năm, bên cạnh đó, phủ tư đồ phải trả hết một lần ba đĩnh vàng tiền tử tuất. Tướng sĩ tử trận ở Triệu và Quế Lăng tổng cộng gần ba vạn, chỉ riêng khoản tiền này đã gần mười vạn đĩnh, nếu cộng thêm cả tiền phủ tuất cho tướng sĩ bị thương, dù có bán toàn bộ quốc khố các ấp cũng chẳng đủ.
Tuy nhiên, chỉ lệnh đã ban bố, không thể không thực thi. Bạch Hổ không biết làm thế nào, đành tấu báo thực tình lên thái tử.
“Ngân khố vẫn là chuyện nhỏ, kho lương không đủ mới là chuyện lớn. Từ năm ngoái tới nay, mưa gió bất thường, vào dịp hè thu Hà Đông lại gặp nạn mưa đá, khiến vụ thu mất mùa nghiêm trọng, lương thực dự trữ đã dùng hết vào chiến sự Hàm Đan, hiện giờ gặp đúng nạn đói mùa xuân, đang trong kỳ giáp hạt, kho lương các nơi hầu như không vét nổi một thạch thóc cứu đói, nghe nói có người đói quá phải gán vợ đợ con...” Bạch Hổ nói nửa chừng thì nghẹn lại.
“Than ôi!” Thái tử Thân thở dài một tiếng. “Huệ tướng quốc đi rồi, Trương tướng quốc, Chu thượng khanh đều chưa trở về, Thân không có lấy một người để bàn bạc, giờ lại gặp đại sự nhường này, biết làm thế nào mới phải đây, than ôi...” Lại than thở một hồi. “Chuyện ba trăm đĩnh vàng, Thân sẽ tạm thời nói rõ với Vũ An Quân, trước mắt phủ tư đồ hiện có hai việc gấp phải làm ngay, thứ nhất là tìm cách cứu đói, thứ hai là phủ tuất tử sĩ thương binh.”
“Quốc khố đã cạn, lấy gì để phủ tuất đây?”
“Những người chưa được phát tiền phủ tuất, đợi Thân tấu lên phụ vương, hoặc lấy ruộng đất để bù, hoặc tạm thời nợ đó, đợi sau vụ hè, có thuế thu về, sẽ trả thêm lợi tức.”
“Như vậy cũng được, thần sẽ trù tính vụ này.”
Tiễn thái tử Thân về rồi, Bàng Quyên trong lòng nặng trĩu. Hắn không bận tâm tới ba trăm đĩnh vàng ban thưởng của Huệ Vương, mà chỉ bận tâm tới tình cảnh quẫn bách của quốc gia mà thái tử vừa nói rõ. Gần một năm qua, Bàng Quyên chỉ dốc hết tâm tư vào việc quân, rất hiếm khi ngó ngàng đến các việc khác, còn như dân chúng đói khổ, hắn lại càng chẳng chút lưu tâm, dù Bàng Thông có đôi lần bẩm báo, song hắn cũng đâu có lòng dạ nào mà nghe. Nay thái tử tới tận cửa nói lại, hắn mới cảm thấy sự việc cấp bách.
Đúng vào lúc này, Bàng Thông hấp tấp đi vào, nói: “Đại ca, mau lên, phủ Thanh Ngưu có chuyện rồi.”
“Hả!” Bàng Quyên thất kinh, vội hỏi. “Nói mau, xảy ra chuyện gì?”
“Già trẻ lớn bé, dễ đến vài trăm thân quyến đang chen chúc kéo tới phủ Thanh Ngưu đòi tiền phủ tuất, Thanh Ngưu một đĩnh cũng không đào đâu ra, đang quỳ trong sân khóc lóc!”
Trời ơi, một hán tử sắt thép giữa rừng đao thương cũng không hề biết sợ, vậy mà chỉ vì vài đồng tiền phủ tuất mà phải khóc lóc quỳ ở trong sân, Bàng Quyên không rét mà run, chẳng kịp nói năng, co giò chạy thẳng một mạch tới phủ Thanh Ngưu.
Trong trận Quế Lăng, nếu không có Thanh Ngưu, Bàng Quyên thực không dám tưởng tượng kết cục sẽ ra sao. Vì bảo vệ Bàng Quyên, Thanh Ngưu bị thương cùng mình, trong đó có hai chỗ bị thương tới tận xương. Có câu “thương gân động cốt một trăm ngày”, vì thế, dưới sự đôn đốc nghiêm khắc của Bàng Quyên, Thanh Ngưu ngoan ngoãn ở yên trong phủ tĩnh dưỡng, nào ngờ hôm nay...
Từ sau khi được Bàng Quyên cứu sống trước quỷ môn quan, Thanh Ngưu cảm ân đội đức, việc gì cũng nhất nhất nghe theo Bàng Quyên, phàm là chinh chiến, đều bất chấp sống chết, lập nhiều chiến công, trở thành hổ tướng số một dưới trướng Bàng Quyên, thống soái đội quân hổ bôn uy dũng bậc nhất Đại Ngụy. Ngụy Huệ Vương luận công khen thưởng, ban cho Thanh Ngưu một toà trạch phủ, nằm cùng một con phố với trạch phủ của Bàng Quyên, chỉ cách ba hộ, nên loáng cái, Bàng Quyên đã chạy tới nơi, từ xa nhìn thấy trước cổng phủ Thanh Ngưu quả nhiên đã cả một đám đông xúm xít, đều mặc đồ tang.
Bàng Quyên sải bước lại gần, Bàng Thông hô to: “Hương thân phụ lão, xin hãy nhường đường, Bàng tướng quân đã tới!”
Nghe nói là Bàng Quyên, đám đông lập tức quây kín lại, quỳ sụp xuống trước mặt hắn.
Bàng Quyên an ủi vài câu, đám người mở ra một khe nhỏ, đủ cho Bàng Quyên đi qua để vào trong sân, bất đồ thấy trong sân trắng toát áo tang, Thanh Ngưu băng bó quanh đầu đang phủ phục dưới sân, một thiếu phụ trẻ măng ôm con quỳ ở bên cạnh hắn, đứa bé khóc ngằn ngặt. Thiếu phụ tên gọi Thuý Bình, là con gái của cựu lão tướng Long Giả đã xả thân vì nước. Thuý Bình học võ công từ nhỏ, ái mộ anh hùng, chồng nàng vốn là tỳ tướng tả quân dưới trướng Long Giả, Long Giả tử chiến Hoàng Trì, không có con trai nối dõi. Sau khi chồng mất, Thuý Bình ở goá vài năm, Bàng Quyên hai năm trước đã mai mối cho Thanh Ngưu, kết hôn được một năm thì sinh được một con trai, nay đã hai tuổi, lưng hổ eo gấu, rất ra dáng một Thanh Ngưu nhỏ.
“Thanh Ngưu huynh đệ!” Bàng Quyên vội rảo bước lại gần, ngồi xuống bên cạnh Thanh Ngưu.
Nghe thấy giọng Bàng Quyên, Thanh Ngưu kêu lên một tiếng dài bi thiết: “Tướng quân...” Rồi khóc không thành tiếng.
Bàng Quyên quay sang Bàng Thông: “Mau, đỡ Thanh Ngưu huynh đệ về phòng, hắn không được phép đi lại!”
Bàng Thông gọi hai người hầu lại, không nhiều lời, dìu thẳng Thanh Ngưu về phòng, đặt lên giường, giao cho Thuý Bình chăm sóc.
Hơn hai trăm gia quyến mình bận áo tang, nam nữ già trẻ đều có, đồng loạt quỳ ở trong sân, cả khoảng sân rộng lớn là thế chật cứng không còn chỗ trống, không có tiếng khóc, cũng không ai nói câu nào, tất cả mọi thỉnh cầu, đều cất lên trong im lặng.
“Thông đệ!” Bàng Quyên quay sang Bàng Thông. “Trong nhà có còn vàng không?”
Bàng Thông tiến sát lại gần, hạ giọng bẩm báo: “Có, song không nhiều.”
“Bao nhiêu?”
“Trăm hai mươi dật!”
“Nói to lên!” Bàng Quyên nghiêm giọng ra lệnh. “Có bao nhiêu vàng?”
“Trăm hai mươi dật!” Bàng Thông cũng lớn giọng trả lời, hết thảy người có mặt đều nghe mồn một.
“Bạc thì sao?”
“Năm trăm tám mươi dật!”
“Đất phong tổng cộng có bao nhiêu điền sản?”
“Ờ... Ba trăm mười tỉnh!”
“Bán sạch tất cả điền sản, trong nhà một dật vàng bạc cũng không giữ lại, toàn bộ dùng để phủ tuất tướng sĩ trận vong!”
“Đại ca!” Bàng Thông lặng người kinh hãi, hạ thấp giọng thì thào. “Trong phủ cũng cần phải chi tiêu, còn có ba mươi đĩnh vàng, là... là của hồi môn đại vương tặng cho tẩu phu nhân, không thể động vào.”
“Không có gì là không thể động vào, vì tẩu phu nhân của ngươi cũng là người nước Ngụy!” Bàng Quyên gằn mạnh từng tiếng, rồi quay sang đám đông, giọng đầy kích động. “Chư vị phụ lão hương thân, dũng sĩ của chúng ta đã đổ máu, Bàng Quyên ta, và cả phu nhân ta, dù phải lên trời xuống đất, cũng tuyệt đối không để người thân của họ lại phải rơi lệ!” Rồi không đợi đám người đáp lời, siết chặt nắm tay, đầu không ngoảnh lại, cứ thế sầm sập bước đi.
Trong sân ngoài cổng, mọi người đều nghe thấy rõ, ai nấy sụt sùi rơi lệ. Không ai nói thêm một lời, thảy đều xúc động nghẹn ngào, lặng lẽ theo sau Bàng Quyên mà tản đi.
Mối nguy này cuối cùng đã được hoá giải chỉ bằng vài lời hào tráng dứt gan dứt ruột của Bàng Quyên. Tuy nhiên, dù mối nguy đã được giải quyết, song tâm tư của Bàng Quyên vẫn không hề cảm thấy nhẹ nhõm, mà lại càng thêm trĩu nặng.
Trở về tới phủ, Bàng Quyên giam mình trong tĩnh phòng, cũng chính là thư phòng cất giữ rất nhiều sách song hắn lại hiếm khi giở đến, rồi ngồi nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ trước những cuộn thẻ tre phủ đầy bụi bặm.
Tim Bàng Quyên đang nhỏ máu, không phải là vì ngân khố của hắn, không phải là vì điền sản của hắn, cũng không phải là vì những giọt nước mắt và nỗi vô vọng của đám thân quyến tử sĩ tới đòi phủ tuất.
Tất cả những điều đó, đều không lọt vào tầm nhìn của Bàng Quyên, cũng không xứng đáng để hắn bận tâm tới.
Tim hắn đang nhỏ máu vì gần hai vạn võ binh một tay hắn huấn luyện nên đã bị tận diệt chỉ trong một sớm. Vì những võ binh này, hắn đã tiêu tốn không biết bao nhiêu thời gian, lại càng đổ vào không biết bao nhiêu tâm huyết, giờ muốn gây dựng lại, sẽ gian nan biết nhường nào!
Đang lúc đau buồn, bên ngoài bỗng vọng lại tiếng bước chân, cửa phòng chưa gõ đã mở ra, một người đi thẳng vào, bước chân rất khẽ.
Ở trong phủ này, dám tự tiện ra vào tĩnh phòng chỉ có một người, chính là phu nhân Thuỵ Liên
“Phu nhân!” Bàng Quyên chẳng buồn nhìn đã ra giọng “đuổi khách”. “Nàng cứ về đi, ta muốn yên tĩnh một chút!”
Người tới lại không đi ra, mà chầm chậm ngồi xuống đối diện với hắn.
“Phu nhân, về đi, đừng nghe Thông đệ, chưa tới mức vạn bất đắc dĩ, ta tuyệt đối không động tới món hồi môn của phu nhân đâu!” Bàng Quyên lại nói một câu, hiển nhiên là đang giải thích.
“Bộp bộp bộp!” Người tới khẽ vỗ tay.
Bàng Quyên mở choàng mắt, kinh ngạc bật kêu lên: “Trương huynh!”
Chính là Trương Nghi.
“Về lúc nào thế?” Bàng Quyên hấp tấp hỏi.
“Vừa xong. Còn chưa kịp hồi phủ, đã tới thẳng chỗ Bàng huynh, đói bụng sắp chết rồi!”
“Người đâu!” Bàng Quyên quay ra phía ngoài gọi lớn.
“Không cần!” Trương Nghi cười nói. “Tại hạ đã gặp Thông đệ rồi, hắn đang đi lo liệu.” Rồi nhìn thẳng vào Bàng Quyên. “Trông thần sắc Bàng huynh, tâm sự chồng chất, dường như đang vô cùng phiền muộn.”
Bàng Quyên cười gượng gạo.
“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng. “Một cuộc cờ hay, chỉ thiếu một chút xíu nữa là thắng cuộc!”
“Đúng vậy!”
“Nói thử xem, Bàng huynh đang phiền muộn chuyện gì?”
“Ngoài võ binh, còn có thể là chuyện gì đây?” Bàng Quyên lại cười gượng, lắc đầu. “Hơn hai vạn huynh đệ, bất cứ người nào cũng là hán tử hàng đầu, chỉ qua một đêm, đã chẳng còn một mống.”
Trương Nghi bật cười vài tiếng: “Tại hạ cho rằng, điều đang khiến Bàng huynh phiền muộn lại không phải là những võ binh tử trận!”
“Ồ?” Bàng Quyên nhìn sang.
“Võ binh, có thể gây dựng lại; tiền bạc, lương thảo, có thể tích luỹ lại. Hơn nữa, dù ta tổn thất ở Quế Lăng, song lại có thu hoạch ở Hàm Đan. Rút quân về đây, thứ công tử Tự chở theo lại không phải chỉ có mỗi quan tài!”
“Ý Trương huynh là...” Bàng Quyên mừng rỡ.
“Quốc khố Hàm Đan, tại hạ sớm đã kiểm kê kỹ lưỡng, những thứ có thể chuyển được về, đều ở trong quan tài cả!”
“Bao nhiêu?” Bàng Quyên gắng kìm nén niềm hoan hỷ. “Vàng không dưới vạn dật, của cải khác cũng có một chút, hẳn cũng giải quyết được khó khăn trước mắt.”
“Tốt!” Bàng Quyên vỗ mạnh xuống bàn, im lặng một lát, sắc mặt lại sầm xuống. “Than ôi, chẳng qua cũng chỉ như muối bỏ biển mà thôi!”
“Cứ có được chỗ muối này đã rồi tính tiếp.” Trương Nhi hai mắt nhìn thẳng vào Bàng Quyên. “Khiến Bàng huynh phiền muộn thực sự, lại không phải chuyện này! Bàng huynh có muốn nghe chăng?”
“Quyên muốn nghe rõ!”
“Là Tôn huynh!” Trương Nghi thu lại nụ cười. “Một cuộc cờ chắc thắng mười mươi, phút chốc đã bị huỷ hoại về tay một Tôn huynh từ trên trời rơi xuống.”
“Đích xác!” Bàng Quyên nặng nề buông ra một tiếng, hai hàm răng nghiến vào nhau kèn kẹt.
“Theo tại hạ thấy,” Trương Nghi liếc xéo Bàng Quyên. “Tôn huynh chẳng có gì ghê gớm. Ví như cứu Triệu lần này, mưu kế của Tôn huynh gọi là ‘tránh thực đánh hư’, không có gì mới lạ. Kỳ thực, Bàng huynh sớm đã dự liệu được rồi, hiện giờ nghĩ lại, trước tiên Bàng huynh chuyển hướng tấn công Hàm Đan, chính là một đòn hữu hiệu. Nếu như lúc đó, Bàng huynh trở về chi viện Đại Lương, chính là mắc bẫy Tôn huynh. Sở dĩ Tôn huynh thắng trận Quế Lăng, không phải Tôn huynh mưu lược cao siêu, chỉ là Tôn huynh thắng ở chỗ tối, Bàng huynh không ngờ Tôn huynh đang ở Tề, cho rằng chỉ phải đối đầu với Điền Kỵ mà thôi! Nếu như Bàng huynh biết trước Tôn huynh ở Tề, kết cục chắc chắn đã khác, tin chắc Bàng huynh sẽ...”
“Đúng vậy!” Bàng Quyên thở hắt ra một hơi. “Nếu biết Tôn huynh đang ở doanh trại Tề, tại hạ sẽ không đi nước cờ hiểm đó, tại hạ sẽ điều binh khiển tướng, từ từ quần nhau với hắn trong lãnh thổ ta, khiến hắn tiêu hao đến chết!”
“Chính xác!” Trương Nghi khen ngợi. “Hơn nữa, khi còn trong Quỷ Cốc, theo tại hạ biết, Bàng huynh luôn hơn Tôn huynh một bực, chưa bao giờ bại trước Tôn huynh!”
“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng. “Mỗi thời mỗi khác!”
“Nói vậy nghĩa là sao?”
“Không giấu Trương huynh, kỳ thực, khi ở trong núi, tại hạ mạnh hơn Tôn huynh; sau khi hạ sơn, mưu của Tôn huynh đã vượt xa tại hạ!”
“Ồ?” Trương Nghi trợn mắt. “Có chuyện này ư?”
“Bởi lẽ Tôn huynh có được ‘Binh pháp Tôn Tử’ từ tiên tổ Tôn Vũ Tử, còn tại hạ thì... than ôi!” Bàng Quyên lại thở dài thườn thượt, ủ ê lắc đầu.
“Binh pháp của Tôn Vũ Tử thì có gì ghê gớm?” Trương Nghi bĩu môi. “Khi ở trong cốc, tại hạ nghe đại sư huynh nói, Bàng huynh sớm đã có được binh pháp Ngô Tử. Tại hạ không hiểu về binh pháp, lẽ nào binh pháp Ngô Tử lại không địch nổi binh pháp Tôn Tử? Không giấu Bàng huynh, nghe tiên sinh nói, binh pháp Ngô Tử và binh pháp Tôn Tử một chín một mười, tại hạ rất đỗi hiếu kỳ, nếu Ngô Khởi giao đấu với Tôn Vũ, sẽ như thế nào nhỉ?”
“Tại hạ cũng từng băn khoăn về chuyện này.” Bàng Quyên cười gượng một tiếng, đáp lời. “Tuy nhiên, hiện giờ, tại hạ đã không còn thắc mắc nữa!”
“Ồ?”
“Bởi lẽ Tôn Tẫn có được toàn bộ cuốn ‘Binh pháp Tôn Tử’, còn tại hạ...” Bàng Quyên ngần ngừ một lát, rồi cúi gằm mặt, “lại chưa được nhìn thấy toàn bộ diện mạo của ‘Binh pháp Ngô Tử’!”
“A?” Trương Nghi trong lòng hiểu rõ nhưng vẫn cố tình hỏi. “Thế thì quái lạ thật đấy, rõ ràng tại hạ nghe đại sư huynh nói, tiên sinh đã giao cho Bàng huynh toàn bộ quyển ‘Binh pháp Ngô Tử’ rồi kia mà!”
“Than ôi!” Bàng Quyên bị truy hỏi đến cùng, đành thở dài một tiếng, kể sơ qua một lượt chuyện tiên sinh giao sách khi còn trong Quỷ Cốc, rồi nói. “Than ôi, cũng vì tại hạ muốn kiệm sức, cho rằng chép ra một bản để tiện dùng sau này, từ từ lĩnh hội, nào ngờ lại bị con lợn rừng tha đi mất. Cũng vì tại hạ đa nghi, lo sợ tiên sinh lại truyền sách này cho Tôn huynh, nên đã ném cuốn sách xuống vách núi, rồi nói bừa là bị gió thổi rơi, ngỡ rằng tiên sinh sẽ không truy cứu. Nào ngờ tiên sinh cứ tưởng tại hạ đã thuộc lòng sách này, bèn sai sư huynh, sư tỷ nhặt toàn bộ thẻ tre về, một mồi lửa thiêu rụi. Chao ôi...” Lại thở than tiếc nuối.
“Trời!” Trương Nghi làm ra vẻ kinh hãi. “Bàng huynh, sao huynh không nói sớm? Bộ binh pháp này, tại hạ đã từng nhìn thấy rồi.”
“A?” Bàng Quyên giật mình sửng sốt. “Chuyện bí mật đến vậy, sao Trương huynh lại nhìn thấy được?”
Trương Nghi bật cười vài tiếng. “Bàng huynh không biết đấy thôi, hôm đó đại sư huynh và sư tỷ mỗi người xách theo một bó thẻ tre về cốc, vừa hay gặp tại hạ và Tô Tần, tại hạ hỏi là sách gì, đại sư huynh nói, là sách hỏng, không biết ai đã ném xuống dưới vách núi, sư phụ sáng sớm nay bảo đi nhặt về, mệt gần chết. Tại hạ hiếu kỳ, lại gần đòi xem, sư tỷ không cho, giục đi, đại sư huynh thấy tại hạ cứ nằng nặc đòi xem, bèn cho tại hạ liếc mắt qua một chốc.”
Thấy Trương Nghi nói năng kín kẽ không chút sơ hở, Bàng Quyên tin ngay, nghe hắn nói được “liếc mắt qua một chốc”, thì trong lòng khấp khởi, thuận miệng hỏi ngay: “Nghe nói Trương huynh đọc qua là thuộc, có nhớ được chăng?”
“Nhớ chứ, nhớ chứ!” Trương Nghi lúc lắc cái đầu. “Tại hạ chẳng có tài cán gì khác, chỉ có mỗi bản lĩnh này!”
“Vậy...” Bàng Quyên đảo con ngươi một vòng. “Trương huynh có thể đọc một chương cho tại hạ mở mang tầm mắt hay không?”
“Không biết Bàng huynh muốn nghe chương nào?”
“Chương đầu tiên!”
“Bàng huynh nghe này!” Trương Nghi khép hờ hai mắt, thong thả ngâm nga. “Ngô Khởi mặc áo nhà Nho, dùng cơ mưu quân sự để yết kiến Ngụy Văn Hầu. Văn Hầu nói, quả nhân không thích chuyện quân sự. Khởi nói, thần dùng cái hiển hiện để đoán cái ẩn vi, lấy quá khứ để xét đoán tương lai, sao chúa thượng lại nói lời không thật lòng? Nay chúa thượng quanh năm bốn mùa cho giết thú lột da, sơn son ra ngoài, tô màu xanh đỏ, vẽ hình voi tê giác. Da ấy mặc vào mùa đông thì không ấm, mặc vào mùa hè thì không mát. Rèn kích dài hai trượng bốn thước, kích ngắn một trượng hai thước. Xe bọc kín da, che bánh phủ trục, nhìn thì không thấy đẹp đẽ, ngồi đi săn thì không thấy nhẹ, không biết chúa thượng dùng vào việc gì? Nếu như để chuẩn bị cho tiến đánh lùi phòng, mà không đi tìm người biết sử dụng, chẳng khác nào đưa gà mái ấp đi đánh nhau với cáo, đưa chó con đang bú sữa đi khiêu khích cọp, tuy có lòng chiến đấu, song cũng chỉ là tự tìm cái chết! Ngày xưa vua tộc Thừa Tang, chỉ tu văn đức mà phế bỏ võ bị nên đất nước diệt vong. Vua tộc Hữu Hộ, cậy đông hiếu dũng nên xã tắc huỷ diệt. Vua sáng suốt biết nhìn gương đó, mà ắt phải trong lo tu sửa văn đức, ngoài lo huấn luyện võ bị. Bởi vậy, đối đầu với địch mà không dám tiến, không được coi là nghĩa; thấy xác quân sĩ chết trận mới buồn thương, không đáng gọi là nhân. Thế là Văn Hầu tự tay trải chiếu, phu nhân bưng chén, bày tiệc mời Ngô Khởi tại miếu đường, lập làm đại tướng, trấn giữ Tây Hà. Giao chiến với chư hầu bảy mươi sáu trận, toàn thắng sáu mươi tư trận, còn lại đều hoà, mở rộng bờ cõi bốn phía, chiếm ngàn dặm đất, đều là công của Khởi...”
“Chính xác, chính xác!” Thấy Trương Nghi đọc vanh vách không sai một chữ, Bàng Quyên kinh ngạc không để đâu cho hết, tấm tắc khen ngợi, rồi vội vàng hỏi. “Dám hỏi Trương huynh, ‘Binh pháp Ngô Tử’ tổng cộng bốn mươi tám chương, Trương huynh có thuộc hết toàn bộ không?”
“Đã là chuyện xưa cũ, có thuộc hết toàn bộ hay không, tại hạ thực không dám chắc. Bàng huynh hãy mang rượu lại đây, đợi tại hạ uống đến ngà ngà say, chưa biết chừng lại đọc hết ra được đấy!” Trương Nghi lấp lửng.
Bàng Quyên không nhiều lời, lập tức gọi Bàng Thông bày tiệc rượu. Uống được nửa vò, Trương Nghi hào khí bừng bừng, nhận lấy bút son, mượn hơi men viết ra một lèo hai mươi tư chương trong tổng số bốn mươi tám chương, rồi kêu mệt, trở về phủ ngủ vùi một đêm, hôm sau quay lại Bàng phủ, uống thêm nửa vò rượu nữa, lại viết ra nốt hai mươi tư chương cuối. Nội dung Trương Nghi chép ra, chính là từ bản sao mà Bàng Quyên đã đối chiếu với bản gốc mà viết ra từng chữ một, lại là toàn văn, trong khi Bàng Quyên chỉ giữ được sáu chương đầu, hơn nữa là do hắn viết lại theo trí nhớ. Bàng Quyên không tự tin lắm với trí nhớ của mình, vẫn luôn hoài nghi sáu chương này liệu có lệch lạc gì so với bản gốc hay không, nay được thấy nguyên văn, dần dần nhớ lại cảm giác khi sao chép trộm năm xưa, cứ xuýt xoa than thở mãi không thôi, vô cùng thống khoái.
Trương Nghi viết đến đâu, Bàng Quyên đọc đến đấy, Trương Nghi viết xong, Bàng Quyên cũng đọc xong, bèn vòng tay khen ngợi thực lòng: “Trương huynh quả là bực kỳ tài, đã lâu như vậy rồi mà vẫn nhớ không sai một chữ, thực khiến tại hạ thán phục!”
“Ha ha ha, Bàng huynh giờ đây đã được đọc toàn văn, hẳn đã có thể so tài cao thấp với Tôn huynh rồi!”
“Đó chính là mong muốn của tại hạ.” Bàng Quyên siết chặt nắm tay, hậm hực nói. “Không giấu Trương huynh, tại hạ bình sinh chỉ có một nguyện vọng, chính là trở thành đệ nhất binh gia trong thiên hạ. Nào ngờ tiên sinh lại ngấm ngầm giao cho Tôn huynh ‘Binh pháp Tôn Vũ Tử’, khiến tại hạ uất ức trong lòng. Có sách này rồi, tại hạ sẽ lập tức chỉnh đốn võ binh, cùng Tôn huynh quyết đấu thực thụ!”
“Bàng huynh nhất định sẽ thắng!” Trương Nghi khen ngợi một câu, rồi tiếp. “Khi còn trong cốc, tại hạ mang máng Tôn huynh từng nói một câu, bảo là trong binh thư của tiên tổ Tôn huynh có viết, đại ý là ‘thượng sách dụng binh, chính là không đánh mà khuất phục được quân địch’, tại hạ thiết nghĩ rất đúng. Chuyện nước Tề, tại hạ đã có sách lược ‘không đánh mà khuất phục được quân địch’, Bàng huynh hoặc giả không cần thiết phải xông pha sa trường.”
“Như vậy thì không khoái trá! Có điều,” Bàng Quyên do dự một lát, rồi nhổm người về phía trước hỏi, “dám hỏi Trương huynh có diệu kế gì?”
Trương Nghi thì thầm bên tai một hồi.
Bàng Quyên hít sâu vào một hơi, ôm quyền nói: “Trương huynh tuyệt lắm, đây đúng là ‘giết người không thấy máu’!”
Trong doanh trại Tề, Mâu Tân sau khi thất bại trong cuộc chiến Tương Lăng, tiếp đến lại để Bàng Quyên chạy thoát nên đã bị Điền Kỵ giáng liền ba cấp, giờ chỉ còn là một tướng quèn, đang ngồi uống rượu giải sầu với mấy ái tướng tâm phúc lúc này cấp bậc đều đã cao hơn hắn.
Rượu vào lời ra, Mâu Tân sẵn hơi men trong người, không kìm chế nổi miệng lưỡi nữa, lè nhè kể tội, nói Điền Kỵ và Trâu tướng quốc có mối tư thù, nay nhân dịp phạt Ngụy, đã lấy việc công báo thù tư, lại nói rằng bắt sống Bàng Quyên là lập công cực lớn, bản thân không thể bỏ qua cơ hội này, sở dĩ né tránh, là vì chiến mã kinh sợ, tất cả tướng sĩ đều có thể làm chứng. Mâu Tân càng buồn bực càng uống nhiều, càng uống nhiều càng nói lắm, càng nói lắm lại càng buồn bực, cuối cùng nói toẹt ra tuốt tuột mọi chuyện đấu đá cả công khai lẫn ngấm ngầm suốt bao năm qua giữa hai phủ Trâu, Điền, khiến đám tâm phúc nghe mà kinh tâm động phách.
Mấy người đang hậm hực trút giận, bỗng nghe “vèo” một tiếng, một mũi tên lao vọt vào, cắm phập lên một trụ gỗ trong trướng.
Vách trướng có tai!
Cả đám người kinh hoàng đến tỉnh cả rượu, mấy bộ tướng lảo đảo đuổi theo ra ngoài cửa trướng, song đến một bóng ma cũng chẳng thấy. Lại quay vào trong trướng, thấy Mâu Tân vẫn đang chết lặng nhìn sững vào mũi tên kia. Một viên bộ tướng bước vội lên, rút mũi tên ra, cảm thấy khác thường, lại quan sát mũi tên thấy có chốt nắp, bèn vặn mở ra xem, thấy bên trong có quấn một vuông lụa, bên trên viết chi chít những chữ. Viên bộ tướng này lại không biết chữ, chau mày nhìn một lát, bèn nói: “Tướng quân mau lại xem, bên trên có chữ!”
Mâu Tân cũng đã tỉnh rượu, xem xét một hồi, hai mắt đột nhiên trợn tròn, tim đập thình thịch như muốn bắn ra khỏi lồng ngực.
“Tướng quân, viết gì vậy?” Viên bộ tướng vừa rút tên đã nhận ra sự bất thường, vội vàng hỏi.
“Ha ha ha, không có gì to tát, chỉ là một mối làm ăn mà thôi!” Mâu Tân cẩn thận nhét bức thư vào trong ống tay áo, đứng dậy, vòng tay nói. “Chư vị huynh đệ, tại hạ có việc gấp phải tới Lâm Truy ngay, nếu Điền tướng quân có hỏi, làm phiền chư vị nói giúp!”
Mâu Tân lập tức mang theo ba con ngựa khoẻ, luân phiên đổi ngựa, phi như bay về Lâm Truy ngay trong đêm, vừa vào trong phủ tướng quốc, đã gọi lớn một tiếng: “Chúa công!” Rồi quỳ sụp dưới chân Trâu Kỵ mà khóc hu hu.
“Mâu tướng quân!” Trâu Kỵ thở dài một tiếng, chậm rãi đỡ hắn dậy. “Chuyện của khuyển tử, lão hủ đã biết rồi, còn cần phải cảm tạ tướng quân!”
“Chúa công hãy xem!” Mâu Tân thôi khóc, lần trong ống tay áo lôi ra bức mật thư, hai tay trình lên.
Trâu Kỵ đỡ lấy, đọc từ đầu đến cuối, hít ngược một hơi khí lạnh, rùng mình một cái, bất giác lảo đảo.
Bởi lẽ thư này không phải viết cho ai khác, mà chính là viết cho tướng Tề Điền Kỵ, người ký tên, chính là Công Tôn Diễn nức tiếng liệt quốc.
Thư viết rằng:
“Tử Kỳ huynh đài,
Thư trước biết được, cạm bẫy đã giăng sẵn sàng ở rừng Hoa Lâm ngoài thành Tương Lăng hai mươi dặm về nam, chuyên đợi ngựa hoang tới. Tại hạ đã hẹn Trịnh huynh vào giờ Thân ngày mai dụ ngựa vào tròng, nhất định sẽ diệt được ngựa này để thoả lòng huynh. Tại hạ trọng nghĩa không trọng lợi, tiền vàng thù lao, không cần nhắc tới.
Tê Thủ khấu đầu.”
“Tử Kỳ! Tê Thủ!” Trâu Kỵ gắng gượng đứng vững, gằn mạnh từng tiếng, giọng nói như thể rít qua kẽ răng.
Tử Kỳ là tự của Điền Kỵ, còn Tê Thủ là biệt hiệu của Công Tôn Diễn.
“Chúa công!” Mâu Tân đã đứng dậy, cất giọng căm hận. “Lệnh công tử đã bị Điền Kỵ kia hại chết oan ức!”
“Hạo Nhi của ta... đã bị người ta hại chết!” Trâu Kỵ nước mắt giàn giụa, khóc không thành tiếng.
“Chúa công!” Mâu Tân không bỏ lỡ thời cơ thêm dầu vào lửa, khóc lóc kể lể. “Lệnh công tử bị người ta hãm hại, mạt tướng có mọc miệng khắp người cũng không thể nào giải thích, chỉ biết giương mắt nhìn lệnh công tử bị... bị Điền Kỵ kia đưa lên đoạn đầu đài. Chúa công, nếu không bắt được bức thư này, thì mạt tướng...” Rồi cứ thế quỳ mọp dưới đất khóc nức nở.
Trâu Kỵ đau thương một hồi, bỗng sực nhớ ra điều gì, bèn lau nước mắt, cẩn thận đặt mật thư của Công Tôn Diễn lên bàn, xem xét kỹ lưỡng, rồi nhớ ra khi Công Tôn Diễn còn là tướng quốc nước Tần từng gửi quốc thư tới Tề, bèn sai người tìm lại bản sao cất ở phủ tướng quốc, đối chiếu kỹ lưỡng, thấy nét chữ giống hệt nhau, rõ ràng mật thư ở trước mặt chính là do Công Tôn Diễn viết.
Trâu Kỵ không còn nghi ngờ gì nữa, dẫn ngay Mâu Tân vào trong Tín cung, khóc rống lên trước điện.
“Trâu ái khanh!” Thấy lão tướng quốc khóc lóc thảm thiết, Uy Vương vô cùng kinh hãi. “Có chuyện gì vậy?”
Trâu Kỵ cũng không giải thích, khóc hu hu một chập, rồi đặt cái gói mang theo bên mình xuống trước mặt Uy Vương, bái lạy sát đất, nghẹn ngào mà rằng: “Đại vương nhân từ, thần Trâu Kỵ thỉnh cầu đại vương, nể tình lão thần tận trung với Tề thất bao nhiêu năm qua, mà thu hồi tướng ấn, để trao cho hiền tài khác!”
“A!” Uy Vương lại càng ngơ ngác. “Trâu ái khanh, khanh tự dưng từ chức, rốt cuộc là vì chuyện gì?”
“Hồi bẩm đại vương!” Trâu Kỵ sụt sùi. “Không phải thần không muốn tận trung, mà là thần... không dám tận trung nữa! Có kẻ lập mưu tính kế, tìm cách hại chết đứa con độc nhất của thần, bước tiếp theo, hẳn là tới lượt lão thần, thần... đã năm mươi sáu rồi, chắc chỉ còn vài năm dương thọ, thỉnh cầu đại vương thu hồi tướng ấn, cho phép lão thần về quê an dưỡng tuổi già, chết được toàn thây!”
“Trâu ái khanh!” Uy Vương đã nghe ra nguồn cơn, nghiêm mặt nói. “Khanh hãy bình thân, có gì từ từ nói!”
Trâu Kỵ lấy từ trong tay áo ra bức mật thư, hai tay trình lên, nói: “Oan khuất của thần, ở hết trong thư này!”
Uy Vương cầm lấy bức thư, nheo mắt đọc, sắc mặt dần sa sầm, hồi lâu, quay sang nội tể: “Triệu ngự sử!”
Ngự sử tới, Uy Vương giao mật thư cho ngự sử, nói: “Kiểm tra thật giả!”
Ngự sử cầm thư đi, đến nửa canh giờ sau, mới quay trở lại bẩm báo: “Thần đã kiểm tra, nét chữ giống hệt chữ Công Tôn Diễn.” Nói rồi, lôi ra bản chính của quốc thư nước Tần cất giữ từ mấy năm trước, hai tay trình lên.
Uy Vương khẽ xua tay, nói: “Khanh đã kiểm tra rồi, quả nhân không cần xem nữa.” Quay sang Trâu Kỵ. “Trâu ái khanh, khanh hãy nói xem, thư này từ đâu mà có?”
Trâu Kỵ bảo nội tể truyền gọi Mâu Tân vào.
Mâu Tân vào điện, tấu trong nước mắt: “Phạt Ngụy lần này, đại vương niệm tình mạt tướng trung dũng, cho mạt tướng làm chủ tướng hữu quân. Mạt tướng thống lĩnh hữu quân, đương nhiên có quyền bổ nhiệm tiên phong. Mạt tướng đã thử tài Trâu Hạo, thấy người này văn võ song toàn, binh pháp thao lược không thua kém gì mạt tướng, nên phá cách bổ nhiệm làm tiên phong, cũng đã viết biểu báo lên đại trướng trung quân. Đại quân tới Tống, Điền tướng quân hạ trại ở Định Đào, sai mạt tướng dẫn hữu quân vây đánh Tương Lăng. Cường binh phía Ngụy đều ở đất Triệu, Tương Lăng yếu ớt, mạt tướng muốn đánh một trận chiếm lấy, nhưng Điền tướng quân không cho, lệnh mạt tướng chỉ vây không đánh, khiêu chiến dưới chân thành, bố trí nghi binh ở cánh rừng ngoài thành. Thần tuy khó hiểu, song vẫn tuân lệnh, bố trí nghi binh ở ngoài thành. Qua vài ngày liền, rùa Ngụy vẫn rụt đầu không ra. Tới ngày thứ ba, Trịnh Khắc đột nhiên xông ra, chẳng nói chẳng rằng, giao chiến với Trâu tướng quân, song không thắng nổi, nên đã tan tác bỏ chạy. Trâu tướng quân dẫn binh đuổi theo, nào ngờ rơi vào bẫy của Công Tôn Diễn. Mạt tướng hay tin, cảm thấy có điều gian trá, vội vã dẫn quân tới cứu viện, song đã muộn mất rồi, từ xa nhìn thấy Trâu tướng quân rơi vào trùng vây, mà vẫn liều mình chiến đấu. Mạt tướng dẫn quân xông vào, bất chấp sống chết cứu lấy Trâu tướng quân, do không hiểu rõ địch tình, không dám tham đánh, mà quay trở về doanh trại. Nào ngờ về doanh trại chưa được bao lâu, đã thấy Điền tướng quân hằm hằm tìm tới, chẳng nói chẳng rằng, trói nghiến Trâu tướng quân vẫn còn đang mệt mỏi nằm nghỉ trong trướng, áp giải tới đại trướng Định Đào. Mạt tướng hay tin, tức tốc tới Định Đào, vừa hay thấy Trâu tướng quân bị đao phủ đẩy ra ngoài trướng, áp giải tới ngoài cửa trướng chém đầu. Mạt tướng bất chấp tất cả, vội vào trong trướng bẩm rõ sự tình, Điền Kỵ chẳng thèm để vào tai, đổ hết tội lỗi lên người mạt tướng, nói mạt tướng tự ý bổ nhiệm tiên phong, ươm mầm hoạ lớn, hạ lệnh chém đầu mạt tướng, may có quân sư Tôn Tẫn thỉnh cầu, Điền Kỵ không tiện cãi cố, mới chịu bỏ qua, song lập tức bãi chức chủ tướng hữu quân của mạt tướng, mạt tướng bị o ép, chịu nhục tới nay...”
Chu Uy Vương nghe xong, sai ngự sử mang chiến báo của Điền Kỵ lại, đọc kỹ một lượt, thấy thời gian, địa điểm, sự kiện, tình tiết đều trùng khớp với lời kể của Mâu Tân, có điều cách giải thích hoàn toàn khác nhau.
Trước chứng cứ rành rành, Uy Vương đã tin là thực. Uy Vương biết rõ hai người Điền, Trâu bất hoà, chỉ không ngờ Điền Kỵ lại to gan lớn mật đến vậy, vì trả thù riêng mà không tiếc thương sinh mệnh của sáu nghìn tướng sĩ viễn chinh, nhất thời giận đến môi miệng run lên bần bật, an ủi Trâu Kỵ xong, quay sang nội tể chiếu lệnh Điền Kỵ lập tức trở về Lâm Truy, vào cung thỉnh tội.
Điền Kỵ là chủ tướng tam quân viễn chinh nước Tề, trọng thần của triều đình, người tuân chỉ xét xử đương nhiên là thái tử đương triều. Nhận được chiếu lệnh, Tích Cương bàng hoàng kinh hãi, vội vã cho triệu Điền Anh vừa mới từ hội thề Chương Thuỷ hồi cung phục mệnh tới bàn bạc.
“Khởi bẩm điện hạ!” Điền Anh trầm ngâm hồi lâu, rồi bẩm tấu. “Thần cho rằng, việc này có nhiều điểm đáng ngờ. Thân là phó tướng, thần hầu như tham dự tất cả quyết sách. Tương Lăng là nơi người Ngụy nhất quyết phải giữ, nên thành cao hào sâu, dễ phòng khó đánh, chỉ vây mà không đánh là mưu kế dài lâu của Tôn tướng quân, mục đích là giảm bớt thương vong, yên lòng người Tống, ép Ngụy Vương triệu hồi Bàng Quyên, chứ không được công chiếm cướp thành, quyết chiến với Ngụy ở Tương Lăng. Xét về mưu lược, xứng là thượng sách. Khi Điền tướng quân hạ lệnh, thần cũng có mặt ở đó, là Mâu Tân chủ động thỉnh mệnh, chứ không phải Điền tướng quân rắp tâm mưu hại. Điền tướng quân là tướng, tính khí cương trực, dụng binh cẩn trọng, yêu quân như con, dứt khoát không có chuyện vì trả thù riêng mà coi sinh mạng hơn năm nghìn tướng sĩ như cỏ rác. Huống hồ, Điền tướng quân ôm nhục mười năm, cuối cùng đã có cơ hội quyết chiến rửa nhục, sao lại có thể chưa chiến đã cố tình tiêu hao quân mình? Hơn nữa, Trâu công tử tòng quân, được Mâu Tân đặc cách cho làm tiên phong, về lý mà nói cần phải báo lên trung quân, nhưng đừng nói là chủ tướng, thần là phó tướng cũng không hề hay biết. Sau khi sự việc xảy ra, thần và chủ tướng mới biết Trâu Hạo là lệnh lang của tướng quốc! Đã không biết, thì sao lại nói là rắp tâm được?”
“Đúng vậy!” Tích Cương sắc mặt trầm ngâm, hai mắt nhìn trân trân vào cái gọi là “bằng chứng rành rành” mà Uy Vương vừa chuyển tới. “Nhưng ngự sử đã kiểm tra, thư này đúng là bút tích của Công Tôn Diễn! Lời ái khanh nói, đều là suy đoán, nhưng thư này lại là vật thực. Nếu là sự thực, Điền Kỵ sẽ bị khép vào tội chết. Tề mà không có Điền Kỵ, Tích Cương không thể tưởng tượng!”
“Thần còn một điểm nghi ngờ!” Điền Anh không cần biết bút tích là giả hay thật, tiếp tục phân tích. “Chuyện vây khốn Trâu Hạo, thần biết là mưu kế của Công Tôn Diễn, bèn lập tức sai người điều tra rõ ràng, theo tin đáng tin cậy báo về, Công Tôn Diễn sau khi từ Tần về Ngụy, vẫn ở ngoại ô Đại Lương cày cấy, chưa làm quan lấy một ngày, lần này tới Tương Lăng giúp Trịnh Khắc, chỉ là quyết định cá nhân, không phải Ngụy Vương trao mệnh. Công Tôn Diễn có lẽ đã liên lạc với Trịnh Khắc, chứ không thể liên lạc với Điền tướng quân được. Thứ nhất, hai người này xưa nay chưa từng qua lại, Điền tướng quân dù muốn thông đồng với địch, cũng phải liên lạc với Trịnh Khắc mới đúng, chứ không thể là với Công Tôn Diễn. Hơn nữa, Điền tướng quân cũng không hề hay biết Công Tôn Diễn lại đột nhiên xuất hiện ở Tương Lăng!”
“Ái khanh nói chí phải!” Tích Cương cũng cho là vậy, ngẫm nghĩ một lát, lại nói. “Tuy nhiên, dưới gầm trời này, phàm việc gì cũng có thể xảy ra. Đã là thông đồng bí mật, thì không thể kết án bằng suy luận thông thường.” Dừng lại một lát, rồi dứt khoát. “Phiền ái khanh tới A Ấp một chuyến, mời Điền tướng quân hồi cung điều tra. Sự việc không điều tra không rõ ràng, lý lẽ không tranh luận không sáng tỏ, ái khanh nói có phải không?”
“Thần tuân mệnh!”
Điền Anh nhận chỉ, lập tức lên đường, chỉ vài ngày đã tới trướng trung quân ở A Ấp, vào trong trướng Tôn Tẫn, kể sơ qua một lượt về chuyện này và bút tích của Công Tôn Diễn.
“Than ôi!” Tôn Tẫn nghe xong, thở dài một tiếng, chỉ vào hai đầu gối của mình nói. “Hai đầu gối của tại hạ, chính là đã bị một bức thư giả khoét mất!”
“Ý quân sư là, bức thư này do Bàng Quyên làm giả?” Điền Anh thoáng sững sờ.
“Đúng cũng vậy, mà không đúng cũng vậy, sự việc đã xảy ra rồi.”
“Theo ý quân sư, nên làm thế nào mới phải?”
“Báo cho Điền tướng quân, để tướng quân biết rõ sự tình.”
Điền Anh vội tới trướng Điền Kỵ, kể hết mọi chuyện.
Còn chưa kịp nghe hết, Điền Kỵ đã nghiến răng ken két, đập bàn quát lên: “Tiểu nhân Mâu Tân, gian tặc Trâu Kỵ, hại chết sáu nghìn tướng sĩ của ta còn chưa tính sổ, lại còn nghĩ ra quỷ kế, hãm hại tại hạ. Hãy xem ta dẫn quân đánh về Lâm Truy, giết chết Mâu Tân, tính sổ với lão tặc Trâu Kỵ.”
Điền Anh hiểu rõ Điền Kỵ chỉ là nhất thời giận dữ, đợi Điền Kỵ nguôi ngoai cơn giận, bèn ra sức khuyên can một hồi, bảo Điền Kỵ cứ tạm thời hồi cung, giải thích rõ ràng với Uy Vương. Điền Kỵ ngẫm nghĩ một lát, nói: “Hồi cung không khó, chỉ có điều hiện tại còn nhiều việc quân cần giải quyết, đợi tại hạ xử lý xong, vài ngày nữa sẽ lập tức hồi cung, cùng với gian đồ Mâu Tân và lão tặc Trâu Kỵ đối chất rõ ràng trước công đường, xem ta ăn tươi nuốt sống bọn họ!”
Đêm khuya tăm tối, tai vách mạch rừng, cuộc trò chuyện giữa hai người sớm đã bị một kẻ áo đen nghe không sót một câu, rồi quay về ngay trong đêm, mật báo với Mâu Tân. Trâu Kỵ lại mang chuyện này đến làm ầm làm ĩ tại Tuyết cung. Uy Vương nổi trận lôi đình, không hỏi nguyên do, lập tức sai nội tể mang chiếu thư tức tốc tới A Ấp. Thấy vẫn không yên tâm, Trâu Kỵ lệnh cho Công Tôn Hãn cùng đi theo. Đoàn người tới đại trướng tam quân, nội tể tuyên chỉ, cách chức chủ tướng của Điền Kỵ, thu hồi ấn thụ chủ tướng tam quân, bổ nhiệm Điền Anh làm chủ tướng, áp giải nghịch tặc Điền Kỵ về cung trị tội.
Đường đường là chủ tướng tam quân, chốc lát đã bị nhốt vào trong xe tù, áp giải tới Lâm Truy, khiến toàn quân xôn xao náo loạn. Đám vệ sĩ tâm phúc của Điền Kỵ nhận được tin dữ, kinh hãi rụng rời, bất chấp tất cả đuổi theo ra khỏi cổng doanh trại, chặn đứng xe tù đã đi được vài dặm, cưỡng chế quay trở lại đại trướng trung quân, quỳ bên ngoài trướng, cầu xin tân chủ tướng Điền Anh.
Nội tể ngỡ là quân sĩ làm phản, trong lúc hoảng loạn, nghiêm khắc hạ lệnh cho Điền Anh trấn áp.
Nhìn thấy tướng sĩ bất mãn kéo tới mỗi lúc một đông, Điền Anh không tiện dùng vũ lực, bèn mềm mỏng khuyên nhủ, rồi quay trở vào trong trướng, nói với nội tể: “Giằng co nãy giờ, cũng đã muộn rồi, tể công chi bằng đợi tới giờ Thìn sáng mai hãy lên đường, mạt tướng sẽ đích thân áp giải, được chăng?”
Nội tể nhìn sang Công Tôn Hãn.
Công Tôn Hãn hiểu rõ đám đông giận dữ không thể mạo phạm, ngẩng nhìn sắc trời rồi nói: “Vậy cũng được!”
Đêm đó, Điền Anh cấp tốc tới trướng Tôn Tẫn, gấp rút bàn bạc.
“Sự việc đã tới nước này,” Tôn Tẫn ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nói, “Điền tướng quân không nên về cung!”
“A...” Điền Anh ngần ngừ một lát, hỏi. “Nếu không về, chẳng phải là thừa nhận tội danh?”
“Nếu đã bị người ngoài vu cáo, thừa nhận cũng thế, mà không thừa nhận cũng vậy, đại vương trong cơn thịnh nộ, phán đoán ắt sẽ sai lầm. Trâu tướng quốc đang đau đớn vì mất con, hẳn cũng không còn lý trí. Huống hồ họ có chứng cứ trong tay, Điền tướng quân có miệng khó cãi, nếu như về cung, cũng là lành ít dữ nhiều!”
“Nếu vậy, phải làm thế nào?”
“Bỏ trốn!”
“Bỏ trốn? Trốn thế nào?”
“Có thể ngấm ngầm phái những tướng sĩ đã cản đường xe tù hôm nay cướp tướng quân đi, trốn khỏi đất này, tạm thời tới nơi khác lánh nạn. Tỳ vết không che được ánh ngọc, đợi thời thế thay đổi, ắt sẽ có ngày chân tướng phơi bày. Lúc đó, ta lại bẩm báo sự thực lên chúa thượng, chúa thượng sẽ trả lại danh phận cho tướng quân.”
“Xin kính cẩn nghe theo lời quân sư!”
Ngay đêm đó, đám bộ tướng gây rối lúc ban ngày đã phá xe tù, đưa Điền Kỵ bỏ trốn mất tăm. Điền Anh tự mình gánh hết tội lỗi trị quân không nghiêm, dâng biểu thỉnh tội.
Sau hội thề Chương Thuỷ, người Ngụy rút lui đúng như giao hẹn, Triệu Ung dẫn theo hơn mười vạn quân quay trở lại Hàm Đan, đứng trước kho tàng đã bị người Ngụy cướp bóc sạch trơn và cảnh tượng hoang tàn mà người Ngụy để lại, hạ quyết tâm dốc sức phục hưng đất nước.
Bao việc dang dở đến tay, Tô Tần đi sớm về muộn, vất vả bôn ba bên ngoài, hôm nay đến tận tối mịt mới mệt mỏi rã rời trở về tới phủ.
Thu Quả bước ra đón, giúp Tô Tần tháo đai cởi áo, đưa vào phòng tắm, hầu hạ tắm táp xong xuôi, rồi bày bàn rượu, bưng lại mấy món ăn do nàng đích thân nấu nướng. Có lẽ do mệt, cũng có lẽ do nhiễm lạnh, Tô Tần cứ nhìn bàn ăn, mãi không động đũa.
“Tiên sinh!” Thu Quả nhìn Tô Tần chăm chăm, nước mắt ứa ra. “Quả Nhi... biết là không ngon, ngay sáng sớm nay Quả Nhi đã ra chợ mua cá thịt, nhưng... đi khắp cả chợ, đừng nói là thịt, đến rau cũng hiếm, đã mã xấu lượng ít, giá lại cao ngất ngưởng, đắt không biết bao nhiêu lần so với lúc trước khi chúng ta ra khỏi thành, nên Quả Nhi...” Nói nửa chừng thì nghẹn ngào, đưa ống tay áo lên lau nước mắt.
Thu Quả vào sống trong phủ tướng quốc với danh phận là con gái nuôi của Tô Tần, tuy nhiên, ngoài một lần duy nhất gọi Tô Tần là nghĩa phụ vào hôm làm lễ nhận cha nuôi, sau đó dù có người ngoài hay không, Thu Quả đều không gọi thế nữa, sớm tối gặp mặt, đều chỉ gọi là tiên sinh.
“Quả Nhi!” Tô Tần mỉm cười, giải thích. “Là cha đã ăn ở trong cung rồi, đại vương ban cho cha rất nhiều thứ ngon, cá thịt đầy ắp cả một bàn lớn, khiến cha ăn đến no căng bụng!”
“Tiên sinh nói dối!” Thu Quả bước tới trước mặt Tô Tần, hít ngửi vài lượt trên đầu, trên người hắn. “Nếu đã ăn rồi, sao lại không ngửi thấy mùi thức ăn?”
Tô Tần chỉ vào Thu Quả, cười mà nói: “Con ơi, sao không chịu động não một tí? Dù mùi thức ăn có nhiều đến mấy, cũng bị cả thùng nước nóng to tướng của con rửa trôi hết rồi còn đâu!”
“Quả Nhi ngốc thật!” Thu Quả lúc này mới nhớ Tô Tần vừa tắm xong, thì nhoẻn miệng cười khúc khích, đang định nói tiếp, bỗng nghe thấy có tiếng bước chân vọng lại, vội vàng bước ra đón, thì ra là quản gia Viên Báo.
“Chúa công!” Viên Báo bẩm báo. “Có khách tới cầu kiến, đã đưa vào phòng khách đợi rồi!”
“Mời vào!” Tô Tần vừa dứt lời, lại cảm thấy không ổn, vội đứng dậy ra đón, bất đồ nhìn thấy người đang đợi mình chính là đại sư huynh tiểu đồng trong Quỷ Cốc, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, vội vòng tay chào: “Đại sư huynh, không ngờ lại là huynh!”
Tiểu đồng lại không đáp lễ, chỉ cười cười, chỉ vào bụng mà nói: “Tướng quốc đại nhân, hãy mau thưởng chút đồ ăn, đại sư huynh đói rồi!”
“Đại sư huynh, mời!” Tô Tần vòng tay nhường đường.
Tiểu đồng đúng là đói thực, vừa ngồi xuống bàn, chẳng nói câu nào, đã cắm cúi ăn cho đến kỳ no, sau đó lấy ra một túi gấm đưa cho Tô Tần, nói: “Sư đệ, vật này là chị Thiền Nhi gửi cho sư đệ, dặn sư đệ nửa đêm mới được mở ra!”
Nghe nói là của Ngọc Thiền gửi đến, Tô Tần trong lòng run bắn, vì không biết là vật gì, lại dặn nửa đêm mới được mở, nên quả thực không tiện từ chối, đành hai tay nhận lấy, cất vào trong ống tay áo, vòng tay nói: “Nhờ đại sư huynh chuyển lời tới sư tỷ, Tô Tần vô cùng cảm tạ!”
Tiểu đồng không nói thêm một lời, lập tức đứng dậy cáo biệt. Tô Tần giữ không được, đành phải tiễn ra ngoài phủ, nhìn theo tới khi bóng đại sư huynh khuất hẳn trong màn đêm, thở ngắn than dài hồi lâu, mới trở vào trong phủ.
Thu Quả cũng đã thu dọn xong xuôi, châm hương thơm, bày đàn, lại buông tay áo gảy đàn như thường lệ.
Tô Tần khép mắt lắng nghe một khúc, rồi cười nói: “Thu Quả, đêm khuya rồi, con hãy về nghỉ đi. Cha... cũng mệt rồi!
“Tiên sinh!” Thu Quả đẩy đàn sang bên cạnh, xoay nghiêng khuôn mặt lại hỏi. “Quả Nhi có một chuyện không rõ. Người vừa tới trẻ hơn tiên sinh rất nhiều, cớ sao tiên sinh lại gọi là sư huynh?”
Tô Tần vốn đã đứng dậy, lại ngồi trở xuống, kể cho Thu Quả nghe mọi chuyện ở Quỷ Cốc, giải thích nguyên do tại sao lại phải gọi là đại sư huynh, và chuyện đại sư huynh đã dẫn dắt bốn người họ tu đạo trong núi ra sao.
“Thế còn chị Thiền Nhi?” Thu Quả nhìn chăm chăm vào Tô Tần, hỏi tiếp. “Người đó là ai?”
“Nàng ấy ư?” Tô Tần khẽ nhổm người dậy. “Nàng là sư tỷ của mấy người chúng ta!”
Thu Quả vẫn truy hỏi: “Vậy chị Thiền Nhi đó, hẳn là rất thích tiên sinh?”
Tô Tần lừ mắt nhìn nàng, quở trách: “Thiền Nhi là sư tỷ của cha, con nên gọi nàng là dì mới phải, tiểu bối không thể xưng hô bừa bãi.”
“Sư tỷ cái gì?” Thu Quả mím chặt môi. “Làm gì có sư tỷ nào lại nghìn dặm gửi đồ tới cho sư đệ, còn bắt sư đệ nửa đêm mới được mở ra xem?”
Tô Tần cứng họng, mặt mũi đỏ gay, rồi đứng phắt dậy, sải bước vào phòng ngủ, vừa đi vừa nói: “Con bé này, đừng có nghĩ lung tung, mau đi ngủ đi!”
“Không đời nào!” Thu Quả bám sát theo sau, cong môi mà nói. “Đêm nay, Quả Nhi sẽ ngủ trong phòng tiên sinh, ngủ ngay trên giường tiên sinh, cứ thế đợi tới nửa đêm, xem tiên sinh có mở cái túi thơm đó ra được không!”
“Quả Nhi!” Tô Tần thấy nàng cứ thế theo vào tận trong phòng thật, thì dừng lại, đẩy nàng ra khỏi cửa, nói. “Con gái lớn rồi nói ra những lời thế này mà không biết xấu hổ! Đi mau, nếu không, cha gọi Viên Báo đến lôi cổ con ra đấy.”
“Không đi, không đi, Quả Nhi dứt khoát không đi!” Thu Quả bám chặt lấy then cửa, nước mắt ứa ra, giận dỗi nói. “Trừ khi tiên sinh cho Quả Nhi xem cái thứ mà người đàn bà kia từ nghìn dặm gửi tới là bảo bối gì!”
“Được rồi, được rồi!” Tô Tần mỉm cười. “Quả Nhi ngoan, ngày mai cha nhất định sẽ cho con xem túi thơm! Hôm nay mệt rồi, cha muốn được nghỉ ngơi.”
Tô Tần nhẹ nhàng an ủi, vừa dỗ dành vừa đẩy Thu Quả ra khỏi cửa, rồi cài chặt then, nghe tiếng Thu Quả nức nở xa dần, mới quay vào phòng nằm xuống. Đợi tới nửa đêm, Tô Tần trở mình ngồi dậy, thắp đèn, mở túi gấm ra, chỉ thấy bên trong có một hoàn thuốc màu nâu sẫm, bên cạnh còn một vuông lụa, chữ viết bên trên, đúng là nét chữ thanh thoát của Ngọc Thiền.
Tô Tần đọc kỹ một lượt, hít sâu một hơi, đốt vuông lụa đi, thổi tan tàn tro, rồi ra ngoài đi tiểu, sau đó lên giường, chìm vào giấc ngủ.
Trời còn tờ mờ sáng, Thu Quả vẫn canh cánh bên lòng chuyện chiếc túi gấm của Ngọc Thiền, bèn hấp tấp tới phòng ngủ của Tô Tần, khẽ đẩy cửa, không thấy cài then, thì rón rén bước vào trong. Trên giường, Tô Tần đang say giấc nồng. Thu Quả đứng trước giường, nhờ ánh sáng hắt vào qua song cửa sổ, nhìn Tô Tần với ánh mắt chan chứa thâm tình. Người đàn ông đó, với nàng, chẳng phải là yêu, chẳng phải là hận, cũng chẳng phải là oán, vừa muốn chạm tới, lại vừa muốn thoát ra, người đàn ông mà số phận đã ban tặng cho nàng, song lại nhẫn tâm tách nàng ra xa, người đàn ông đã từng chịu ơn nàng, nhưng hiện giờ, nàng lại không thể không làm chuyện khuất tất với người đó. Bên khoé mắt nàng, lệ đã ứa ra.
Tô Tần dường như đang mê ngủ, khẽ mấp máy môi vài cái, lại trở mình ngủ tiếp.
Thu Quả bất ngờ nhìn thấy, trên ngực áo vừa hé mở của Tô Tần có đeo một con ve bằng vàng.
Nhớ tới “chị Thiền Nhi” mà người tối qua nhắc tới, Thu Quả hờn ghen trỗi dậy, tìm kiếm lục lọi khắp nơi, thấy túi gấm vẫn ở trong ống tay áo của Tô Tần, bèn khẽ khàng lấy ra, thấy túi đã mở, bên trong chẳng có thứ gì, chỉ có một hoàn thuốc.
Thu Quả ngỡ ngàng, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi đặt hoàn thuốc trở lại chỗ cũ.
Tới gần trưa, Trâu Phi Đao dẫn Mộc Hoa vào phủ, thấy Thu Quả cũng ở đó, bèn kiếm cớ đưa nàng ra ngoài.
Thu Quả đi rồi, Mộc Hoa đưa ra một túi gấm, là của Cơ Tuyết, bên trong chỉ có một món đồ thêu, là một bức tranh, thêu một bàn tay ngà ngọc đang vuốt ve cái bụng căng tròn. Nhìn vào bàn tay đó, Tô Tần như thể trông thấy một khuôn mặt xinh đẹp tràn trề hạnh phúc.
Thấy Cơ Tuyết bày tỏ thẳng thắn, không chút kiêng dè như vậy, Tô Tần trong lòng run bắn, khẽ hỏi: “Mộc huynh, công chúa ổn chứ?”
“Tất cả đều rất ổn!” Mộc Hoa đáp lời.
“Kế cung có quấy nhiễu không?”
“Trước mắt thì không. Công chúa nhờ người mời một bà mo tới, nói là làm phép cho tiên quân, sau đó tuyên bố hậu viện là cấm địa, ngoài thân tín, bất kỳ ai cũng không được phép bén mảng. Kế cung dường như cũng đã lãng quên nơi này, chẳng một ai ngó ngàng đến nữa.”
“Mộc huynh!” Tô Tần nhìn thẳng vào Mộc Hoa, căn dặn. “Đối với tại hạ, sự an nguy của công chúa vô cùng quan trọng!”
“Chúa công yên tâm!” Mộc Hoa trịnh trọng gật đầu. “Mọi việc ở Hàm Đan đã xong xuôi, sư phụ Khuất Tương đã tới đất Yên, ngày đêm trông chừng. Có sư phụ ở đó, tin rằng không xảy ra chuyện gì bất trắc!”
Tô Tần thở phào một tiếng, đang định trò chuyện tiếp với Mộc Hoa thì Trâu Phi Đao quay trở vào, theo sau còn có một người nữa, chính là Mộc Thực.
Mộc Thực cũng đưa ra một túi gấm, bên trong là mật thư do đích thân Tôn Tẫn viết.
Thực đáng kinh ngạc, hai anh em sinh đôi này cứ như thể đã bàn bạc từ trước, đến từ hai nơi khác nhau, cùng đem tới những tin tức quan trọng nhất từ hai người mà Tô Tần quan tâm nhất trên cõi đời này, một mừng một lo, một sinh một tử, đã thế lại chỉ cách nhau khoảng thời gian chưa đầy một nén hương.
Đọc xong thư của Tôn Tẫn, Tô Tần bất giác sờ vào trong ống tay áo, thấy túi thơm vẫn còn, bèn khẽ hỏi Mộc Thực: “Quân sư ổn không?”
“Hiện tại vẫn ổn.” Mộc Thực đáp. “Người bị hãm hại là Điền tướng quân, không phải quân sư. Tề Vương sai người bắt Điền tướng quân nhốt vào xe tù, là quân sư đã thuyết phục Điền Anh đại nhân thả Điền tướng quân đi.”
“Điền tướng quân trốn tới đâu rồi?”
“Qua Tống vào Sở, có lẽ là tới Uyển Thành. Điền tướng quân có giao tình với Cảnh Thuý nước Sở, nói là sẽ đến cậy nhờ Cảnh Thuý.”
“Vậy thì tốt rồi!” Tô Tần viết một bức thư, lấy túi gấm ở trong ống tay áo ra, kiểm tra hoàn thuốc, thấy không có gì bất thường, bèn đút vào trong túi gấm cùng với bức thư, khâu kín lại rồi đưa cho Mộc Thực. “Mộc huynh hãy lập tức tới A Ấp, tận tay giao túi gấm này cho Tôn Tẫn.”
Điền Kỵ bỏ trốn, Điền Anh trấn áp không nổi, khắp doanh trại rối tung rối mù. May sao chiến sự đã kết thúc, biên giới nước Ngụy cũng không có gì bất thường, Điền Anh tấu thỉnh Tề Vương giải tán quân năm đô, lập tức nhận được ân chuẩn. Các tướng sĩ tới từ năm đô đều nóng lòng muốn được về nhà, hối hả chuẩn bị hành trang, bên ngoài ngoại ô A Ấp, doanh trại tam quân đều bận rộn tất bật.
Mộc Thực cầm lệnh bài thông hành do đại trướng trung quân đặc biệt cấp phát, dễ dàng qua cửa doanh trại, nhân lúc trời tối, tới thẳng trại của Tôn Tẫn mà không bị ai chú ý. Tôn Tẫn nhận ra Mộc Thực, tìm cách đuổi hết tuỳ tùng ra ngoài. Mộc Thực xé lớp áo nâu, lấy ra chiếc túi thơm từ trong lần vải lót, trình lên. Tôn Tẫn mở túi, lấy vuông lụa ra, thấy là nét chữ quen thuộc của Tô Tần, viết rằng: “Kính cẩn trình Tôn huynh”, tiếp đó viết: “Kinh hãi hay tin Điền tướng quân ngộ nạn, lòng đệ đau như cắt. Được biết Tôn huynh vẫn bình yên vô sự, đệ cũng được an ủi phần nào. Chiều muộn hôm qua, đại sư huynh đích thân tới tệ xá, chuyển tới đệ túi thơm của sư tỷ, trong túi là vật tiên sinh gửi tặng cho huynh, chính là thuốc chết, huynh hãy uống vào, ba canh giờ sau dược tính phát tác, chết một tháng sẽ tỉnh. Hậu sự của huynh, đã có tại hạ lo liệu. Cấp bách, Tần đệ kính bái.”
Tôn Tẫn đọc xong, nhìn sang Mộc Thực, hỏi: “Tô tướng quốc vẫn ổn chứ?”
Mộc Thực gật đầu.
“Bẩm lại tướng quốc, nói rằng tại hạ xin đa tạ.” Tôn Tẫn vòng tay cảm tạ, rồi lấy hoàn thuốc ra bỏ vào trong miệng, chiêu một ngụm nước uống xuống, rồi đem đốt bức thư cùng với túi gấm, nhìn Mộc Thực mỉm cười. “Mộc Thực huynh đệ, tại hạ không giữ huynh đệ nữa!”
Mộc Thực quỳ xuống, dập đầu ba cái, rồi đứng dậy rời đi, biến mất vào trong bóng tối.
Sáng ngày hôm sau, tuỳ tùng vào trong trướng, định hầu Tôn Tẫn rửa mặt chải đầu, thì phát hiện ra Tôn Tẫn hơi thở gấp gáp, đã hôn mê bất tỉnh trên giường, vội vã báo lên Điền Anh.
Điền Anh lập tức đến ngay, cho triệu đông đảo thầy lang tới chẩn bệnh, song đều không đoán ra được bệnh gì. Nhìn Tôn Tẫn bệnh tình mỗi lúc một thêm nguy kịch, hơi thở có ra mà không có vào, sắc mặt trắng bệch, mạch tượng huyền tế, nhịp tim cứ thế chậm dần, nhìn vào đều thấy lành ít dữ nhiều, Điền Anh không dám chậm trễ, vội sai quân ruổi ngựa cấp tốc báo lên Uy Vương, đồng thời nhắn cho Thuỵ Mai biết bệnh tình của Tôn Tẫn.
Uy Vương hay tin kinh hãi rụng rời, lệnh cho ngự y cấp tốc tới chữa trị. Thuỵ Mai sắp tới ngày lâm bồn, bỗng đâu nhận được tin dữ, bất chấp bụng mang dạ chửa, cũng nằng nặc leo lên xe chiến tới A Ấp. Đường đi gập ghềnh, lại thêm trong lòng nôn nóng, Thuỵ Mai thân thể khó kham, tới ấp Lịch Hạ bên bờ Tế Thuỷ thì vỡ ối. Đi theo xe có bà đỡ, còn có cả ngự y, Thuỵ Mai lại là thai thứ hai, nên sinh nở thuận lợi, được một con trai.
Sau khi sinh, cơ thể yếu ớt, ngự y dặn nàng tạm thời ở lại Lịch Hạ nghỉ ngơi, đợi sức khoẻ hồi phục hãy tới A Ấp, nhưng Thuỵ Mai nhất quyết không chịu, dứt khoát đòi theo ngự y tới chỗ Tôn Tẫn.
Đoàn người đi ngày đi đêm, song đến khi tới được doanh trại, đã muộn mất rồi, Tôn Tẫn đã tắt thở vài ngày trước đó. Thuỵ Mai đau đớn, ôm lấy thi thể Tôn Tẫn khóc ngất mấy lần, may mà có ngự y ở bên, kịp thời cứu được tính mạng.
Hai đại công thần cứu Triệu, chưa đầy một tháng, người thì bỏ trốn, người thì ốm chết, binh lính năm đô không ai không thấy đau buồn. Nhiều tướng sĩ đã trên đường hồi hương, lại lộn trở về tiễn đưa Tôn Tẫn.
Thuỵ Mai không chịu đựng nổi những giày xéo thân tâm, cuối cùng đổ bệnh.
“Tẩu phu nhân!” Điền Anh tới thăm Thuỵ Mai, trước khi ra về bèn hỏi. “Quân sư đã nhập liệm, mai táng nơi đâu, tẩu phu nhân ý tứ thế nào?”
“Tạ ơn tướng quân quan tâm!” Thuỵ Mai nước mắt giàn giụa. “Tôn Tẫn mai táng nơi đâu, phận đàn bà không dám quyết định. Dưới gầm trời này, người hiểu Tôn Tẫn, không ai hơn được Tô huynh, phiền tướng quân hãy mời Tô huynh tới đây, tang lễ thế nào, mai táng nơi đâu, Thuỵ Mai nhất nhất nghe theo Tô huynh.”
“Nếu nói như vậy, tẩu phu nhân cứ yên tâm!” Điền Anh đáp lời. “Năm ngày trước, Điền Anh đã phái người phi ngựa tới Hàm Đan, nếu không có gì bất trắc, Tô Tử lúc này hẳn đang trên đường tới đây rồi.”
Quả đúng như vậy, hai ngày sau, Tô Tần tới nơi, phủ phục trước linh cữu Tôn Tẫn, khóc lóc thảm thiết.
Điền Anh lại hỏi nên mai táng ở đâu, Tô Tần đáp lời: “Lá rụng về cội. Đất tổ, từ đường của Tôn huynh đều ở Chân Ấp, chúng ta hãy đưa Tôn huynh về quê tổ chôn cất, có lẽ sẽ giúp Tôn huynh được thoả nguyện.”
“Xin kính cẩn theo lời Tô đại nhân!” Điền Anh bèn hạ lệnh đưa quan tài lên đường, đồng thời tấu báo lên cung Tề về việc cử hành tang lễ Tôn Tẫn.
Phường bát âm rền rĩ tấu nhạc tang, ba mươi hai vị tướng quân chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm tám người, thay phiên nhau khiêng quan tài, hơn vạn tướng sĩ đều mặc áo sô gai, cả đoàn người ngựa đông đảo, nghìn nghịt tiến về Chân Ấp, chôn cất quan tài Tôn Tẫn tại đất tổ.
Vài ngày sau, chiếu lệnh của Uy Vương cũng tới, truy phong Tôn Tẫn là Định Quốc Quân, thực ấp nghìn hộ, lại phát trăm đĩnh vàng, tu sửa từ đường và đất tổ của họ Tôn, lập bia dựng đền thờ tưởng niệm.
Do Hắc Điêu có mặt khắp nơi, nên Trương Nghi gần như lập tức nhận được tin Tôn Tẫn qua đời, khiến hắn rụng rời kinh hãi.
“Đến một cọng lông mũi của tại hạ cũng không chịu tin!” Bàng Quyên cười khẩy một tiếng, nhún vai nói. “Không giấu Trương huynh, cái trò này Tôn Tẫn đã giở ra nhiều lần lắm rồi. Tại hạ không hề nói oan, con người Tôn huynh hết sức khó lường, năm xưa hắn giả điên giả dại, đến cả phân cũng bốc nhét vào trong miệng, tại hạ thương xót hắn, chăm sóc hắn, còn hắn thì sao? Trương huynh hẳn cũng đã biết, từ đầu tới cuối, hắn chỉ lừa dối tại hạ. Lần này, không chỉ lừa tại hạ, mà còn lừa cả Trương huynh!”
“Sống là sống, mà chết là chết, lừa thế nào được?” Trương Nghi trách Bàng Quyên một câu, rồi thở dài nói. “Bàng huynh, bất luận thế nào, bốn người chúng ta đều là đệ tử đồng môn, có đấu có đá ra sao, thì những tháng năm trong Quỷ Cốc cũng từng ăn chung một nồi, đọ tài một chỗ, tình nghĩa đó, không gì có thể chia cắt được. Tại hạ tin rằng Tôn huynh đã chết thật, có lẽ Tôn huynh không kham nổi nữa. Cơ thể tàn tật, bôn ba nghìn dặm, lại phải moi gan vắt óc ra đấu trí đấu dũng với Bàng huynh, cộng thêm cảnh ngộ của Điền Kỵ, hẳn là Tôn huynh...”
“Có cách rồi!” Bàng Quyên đảo con ngươi vài vòng. “Nghe Trương huynh nói, Tôn huynh đã lấy công chúa Thuỵ Mai, sinh được một nam một nữ, thực hay quá! Tại hạ sẽ sai Bàng Thông hộ tống phu nhân Thuỵ Liên tới Chân Ấp thăm hỏi, một là an ủi chị gái, hai là thay mặt chúng ta phân ưu, nhân tiện thăm dò thực hư, chẳng phải càng tốt ư!”
“Cứ theo ý Bàng huynh!”
Linh cữu Tôn Tẫn chôn dưới đất chưa tới bảy ngày, Bàng Thông và Thuỵ Liên đã tới nơi. Tô Tần phụ trách việc tang sớm đã tỏ tường, sắp xếp mọi việc không một mảy may sơ suất, cứ mặc cho Bàng Thông đi lại thoải mái, tuỳ ý nghe ngóng thăm dò. Thuỵ Mai vẫn không hề hay biết nội tình, khóc lóc thảm thiết, thấy em gái tới thăm, thì càng nước mắt như mưa, nức nở một hồi lại ngất lịm.
Bàng Thông dò la vài ngày, xem xét lăng mộ và chiếu phong của Tề Vương, lại quan sát lời nói sắc mặt, thám thính khắp nơi, tập hợp tin tức từ mọi ngả, kết luận vẫn chỉ có một: Tôn Tẫn đã chết thực.
Chân Ấp nhỏ bé heo hút, làm gì cũng bất tiện. Thuỵ Liên sống ở Đại Lương đã quen, chưa nổi vài ngày, đã quyết định trở về.
“Chị ơi!” Thuỵ Liên mắt ngấn lệ nói với Thuỵ Mai. “Tôn tướng quân đi rồi, tâm nguyện của chị thôi hãy coi như xong. Chốn này hẻo lánh, chị lại một mình nuôi hai con mọn, nhất là thằng bé này vẫn chưa đầy tháng, bất tiện vô cùng. Hay là, chị hãy theo em về Đại Lương, trở về sống trong phủ thái tử. Có thái tử bên cạnh, em cũng cảm thấy yên tâm phần nào. Hơn nữa, em cả ngày rỗi rãi, cũng tiện ghé qua thăm chị. Phu quân em yêu trẻ nhỏ, chắc chắn sẽ đối xử tốt với hai cháu, nhất là thằng bé này, đợi nó lớn lên, em sẽ nhờ phu quân dạy nó binh pháp, chưa biết chừng lại sẽ là một tướng quân!”
“Cảm tạ ý tốt của em!” Thuỵ Mai nói. “Con gái lấy chồng khác nào bát nước đổ đi, chị đã được gả cho họ Tôn, sống là người của họ Tôn, chết là ma của họ Tôn. Tổ ấp của họ Tôn là ở đất này, Tề Vương hậu đãi họ Tôn, lại còn phong cho nghìn hộ, đủ để nuôi sống cả nhà. Hơn nữa, thi thể phu quân còn chưa lạnh, vẫn đang nằm trơ trọi trong quan tài dưới lòng đất, em bảo chị sao có thể...” Rồi lại khóc nức nở.
Thuỵ Liên hiểu rõ tính tình của Thuỵ Mai, chỉ biết than thở vài tiếng, rồi bịn rịn chia tay.
Chân Ấp cách Đại Lương chỉ hơn ba trăm dặm, Thuỵ Liên chưa tới vài ngày đã về đến nhà, kể lại kỹ càng mọi chuyện. Bàng Quyên lúc này mới tin Tôn Tẫn chết thực, thở phào một tiếng, song lại không tránh khỏi hụt hẫng trong lòng, lúc này mới thấm thìa nỗi tiếc thương tri âm đã mất.
Đêm xuống, trong hậu hoa viên phủ Bàng Quyên, khu nhà năm xưa Tôn Tẫn từng sống và giả điên đã được sắp đặt thành linh đường của Tôn Tẫn, nam nữ già trẻ trong phủ đều mặc áo tang, mời vu sư làm lễ, nhạc tang nỉ non. Bàng Quyên trong lòng bi thiết, khóc lớn thành tiếng.
Đang lúc Bàng Quyên khóc lóc thảm thiết thì Trương Nghi tới, hai người ngồi trước linh đường của Tôn Tẫn, bày một bàn thức ăn và bốn cái chén, bê tới một hũ rượu, vừa uống giải sầu, vừa ôn lại những chuyện đã qua. Sẵn có hơi men, Bàng Quyên kể lại vanh vách mọi chuyện năm xưa, từ chuyện hắn ra tay giúp Tôn Tẫn thoát khỏi tình cảnh quẫn bách trong quán rượu, chuyện Tôn Tẫn đã bất chấp tính mạng giúp lại hắn, theo hắn về quê cứu cha, rơi vào bẫy của Trần Chẩn mà phải vào tù, rồi chuyện Bạch Hổ giải cứu hai người, đều là những chuyện tốt đẹp mà Tôn Tẫn đã làm cho hắn, giọng nói tràn đầy cảm kích biết ơn, tuyệt không một lời oán trách.
Trương Nghi nghe mà thương cảm, mãi hồi lâu mới than thở mà rằng: “Hôm nay, tại hạ coi như đã nhìn thấy một Bàng huynh chân thực!”
“Than ôi, Trương huynh!” Bàng Quyên cũng than thở mà nói. “Trên đời này, hiểu tại hạ, thương tại hạ, không ai bằng được Tôn huynh. Hiểu Tôn huynh, cũng không ai bằng tại hạ. Năm xưa tại hạ nghe được câu chuyện Bá Nha và Tử Kỳ, lấy làm nực cười, hôm nay mới biết, tri âm khó tìm. Tại hạ và Tôn huynh cùng sống trên đời, vừa là địch thủ, lại là tri âm, đáng lẽ nên nâng đỡ lẫn nhau, cùng làm nên sự nghiệp, nào ngờ... Đại nghiệp chưa thành, tri âm đã mất, bảo tại hạ không đau xót sao được!”
Nghĩ tới mình và Tô Tần, Trương Nghi cũng không khỏi bùi ngùi than thở, trong lòng đau xót, cùng Bàng Quyên nâng chén liên hồi, uống tới say khướt.
Hôm nay tiết Thanh minh, vừa hay con trai tròn hai tháng, Thuỵ Mai dặn dò đầy tớ giết lợn mổ gà, cúng tế long trọng.
Mặt trời đã lặn về tây, trăng sáng sao thưa, trong từ đường nhà họ Tôn, không có người ngoài. Thuỵ Mai mang theo hai đứa nhỏ chậm rãi tiến tới trước dãy linh vị của liệt tổ hệt tông, lần lượt tế bái.
Từ đường lặng phắc như tờ, chỉ nghe thấy tiếng gió đưa cành liễu vọng lại trong vườn giữa tiết mùa xuân.
Linh vị cuối cùng chính là của Tôn Tẫn. Nhìn vào bài vị của phu quân, dòng lệ đang kìm nén của Thuỵ Mai lại tuôn trào. Nàng khẽ nâng đứa bé trai đang ngủ say lên, vừa sùi sụt vừa thì thầm: “Phu quân, hãy nhìn xem, nhìn con trai của chúng ta, nó giống hệt phu quân. Nó sinh ra trên đường bôn ba, nó rất ngoan, chưa bao giờ khóc quấy, nó... nó đang đợi chàng đặt cho một cái tên. Phu quân, chàng hãy lên tiếng đi...”
Thuỵ Mai đang khóc thảm thiết, sau lưng bỗng vang lên một giọng nói sang sảng: “Đặt tên là Tôn Nam!”
Trong buổi đêm thanh vắng, giữa từ đường trống trải không một bóng người, giọng nói kia, khác nào sét đánh giữa trời quang.
Thuỵ Mai lặng người kinh hãi.
Thuỵ Mai toàn thân run rẩy.
Thuỵ Mai như thể bị sét đánh ngang tai, lông tóc dựng ngược, thậm chí không dám cả rùng mình.
Cúc Nhi nghe thấy rành rành, quay phắt đầu lại, lập tức mừng rỡ, reo toáng lên: “Mẹ, nhìn xem, là cha!” Rồi đứng vụt dậy, lao ra phía cửa.
Tiếng gọi của con gái khiến Thuỵ Mai bừng tỉnh, vội quay đầu lại nhìn.
Dưới ánh đèn bập bùng, một chiếc xe lăn đỗ ngay giữa cửa, trên xe một người ngồi ngay ngắn, chính là phu quân Tôn Tẫn chứ còn ai.
Phía sau xe lăn, Tô Tần đang vịn tay đẩy, mỉm cười.
Sau nữa, là Trâu Phi Đao và Mộc Thực.
“Trời ơi!” Không biết là do sung sướng quá đỗi, hay ngỡ rằng mình gặp ma, Thuỵ Mai kinh hãi rú lên một tiếng, ngã xuống ngất lịm.
Buổi sáng hôm sau, dân chúng Chân Ấp sửng sốt phát hiện ra đại trạch họ Tôn không một bóng người, từ đường Tôn gia vẫn y hệt như hôm qua, chỉ là không thấy ba mẹ con Thuỵ Mai đâu nữa.
Hồi Thứ 67
Khước từ vay sắt, Hàn chuốc họa lớn
Đồng ý tặng lương, Tần giấu mưu sâu
Trong nháy mắt, quân sư, đại tướng người chết, kẻ trốn, Tề Uy Vương bàng hoàng kinh hãi, chỉ trong một đêm như đã già sọm hẳn đi. Chưa đầy hai tháng, tóc đã bạc trắng, răng cũng rụng liền mấy cái, ánh mắt vô thần, động tác đờ đẫn, lưng còng xuống, bước đi loạng choạng như trẻ mới tập đi, ngón tay thường xuyên run rẩy, có khi ngồi đờ đẫn cả buổi, có khi cứ lẩm bẩm một mình, chẳng khác gì cái xác biết đi, biết ăn biết uống, song chẳng nhớ nổi chuyện, chẳng nhận ra ai, đừng nói là đám vương hậu, thái tử, Trâu Kỵ lui tới thăm hỏi, dù là mỹ nữ ngày đêm hầu hạ trong tẩm cung cũng chẳng nhận ra nổi một người.
Thái tử Tích Cương bí mật cho gọi thái y tới, hỏi về bệnh tình của Uy Vương, thái y nói: “Bệnh này là do thận tinh khô kiệt. Theo ghi chép trong ‘Nội kinh’, ‘thận sinh tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ vượng não’. Một khi thận tinh khô kiệt, tuỷ sẽ không thể vượng não. Não là nơi cư trú của nguyên thần, nơi cư trú không vượng, nguyên thần bỏ đi, đại vương vì thế mới mắc bệnh này.”
“Hẳn có cách chữa trị?” Tích Cương lo lắng hỏi.
“Than ôi!” Thái y lắc đầu, hồi lâu sau mới than thở. “Không giấu điện hạ, thần nhiều lần khuyên can đại vương bỏ sắc dưỡng sinh, đại vương không những không nghe, lại còn chỉ lệnh cho thần chế ra thuốc cang dương. Thần không dám trái lệnh, chỉ còn cách cho thêm vào thuốc này những vị dưỡng âm, khiến đại vương vừa có thể hành phòng, lại có thể dưỡng sinh. Tuy nhiên, hiệu lực của những vị thuốc này có hạn, lại thêm đại vương...” Ngập ngừng một lát, không dám nói ra hai chữ “quá dâm”, lại thở dài một tiếng. “Đại vương ngày càng hư nhược, giờ thì thận tinh khô kiệt, thần... đã hết cách cứu vãn!”
“Nếu đã như vậy, không thể trách khanh, hãy chú ý cho phụ vương điều dưỡng! Ngoài ra, bệnh tình của phụ vương, không được truyền ra ngoài!” Tích Cương dặn dò vài câu, bảo thái y lui ra, sai nội tể của Uy Vương soạn chiếu thụ mệnh, đóng ấn tỷ của Uy Vương, uỷ thác lại mọi chuyện triều chính lớn nhỏ cho thái tử.
Tới lúc này, nước Tề bề ngoài vẫn là Điền Nhân Tề làm vua, song thực chất, tất cả quyền hành đều đã chuyển sang tay thái tử Điền Tích Cương.
Cả nhà Tôn Tẫn bốn người được Tô Tần âm thầm sắp xếp tới Định Đào nước Tống, địa điểm do Tôn Tẫn lựa chọn. Khi vây Ngụy, Tôn Tẫn đóng trại ở Định Đào, đã chú ý thấy trong một ngõ hẻm hẻo lánh có một cội mai già trăm tuổi, nghĩ tới Thuỵ Mai, nên quyết định tới đây ẩn thân. May mắn làm sao chủ hộ có cây mai già kia lại di cư tới Tuy Dương, để lại ngôi nhà trống, Trâu Phi Đao liền đứng ra thuê.
Tô Tần bố trí Mộc Thực và vài vị Mặc giả bảo vệ, còn mình cùng Trâu Phi Đao trở về Hàm Đan. Về tới phủ, đã thấy Mộc Hoa cung kính chờ sẵn, thông báo một tin vui nằm trong dự liệu: Cơ Tuyết đã sinh hạ một bé gái, mời Tô Tần tới đặt tên cho đứa trẻ.
Tô Tần không kịp nghĩ ngợi gì thêm, lập tức chuẩn bị xe ngựa, cùng Trâu Phi Đao, Mộc Hoa gấp rút lên đường tới Vũ Dương.
Để đề phòng bất trắc, Tô Tần cải trang thành thương nhân đồ da từ Hàm Đan tới nước Yên buôn bán, Trâu Phi Đao và Mộc Hoa cải trang thành người hầu, tìm một quán trọ hẻo lánh kín đáo trong thành Vũ Dương nghỉ lại, vào giờ Nhân định, nhân lúc đêm tối, mau chóng tìm tới chỗ ở của Mặc gia nằm sát vách ly cung, Khuất Tương Tử trong trang phục thợ mộc đã chờ sẵn ở đó.
“Khuất tiền bối!” Tô Tần quỳ sụp xuống, nói. “Vãn bối đã làm liên luỵ tới tiền bối!”
“Tô đại nhân, người thân phận quý báu, lão hủ không dám nhận.” Khuất Tương Tử cười lớn, không để Tô Tần kịp dập đầu, đã kéo Tô Tần dậy, đỡ ngồi xuống chiếu.
“Tiền bối, nghe tiền bối nói vậy, Tô Tần càng thêm kinh hãi!” Tô Tần vòng tay vái lia lịa.
“Đại nhân bất tất phải kinh hãi” Khuất Tương Tử lại cười. “Cự tử Tuỳ Sào Tử trước khi thăng thiên, đã đặc biệt căn dặn lão hủ rằng, sự an nguy của Tô Tử có liên quan tới phúc lợi của thiên hạ, lệnh cho lão hủ bằng mọi giá phải bảo vệ Tô Tử. Thân là Mặc giả, không dám trái mệnh cự tử, lão hủ còn sống ngày nào thì còn theo đại nhân ngày đó!”
“Tuỳ Sào Tử tiền bối linh thiêng trên trời, xin nhận của Tô Tử một lạy!” Tô Tử lại đứng dậy, nhìn lên trời cao mà bái lạy.
Lần này, Khuất Tương Tử không ngăn cản.
“Khuất Tương Tử tiền bối!” Tô Tần lạy xong, trở về chỗ ngồi, vòng tay hướng vào Khuất Tương Tử. “Chuyện của vãn bối và Tuyết Nhi, thực sự không nên, chỉ có điều, sự việc đã tới nước này, nên làm thế nào, kính mong tiền bối chỉ dạy.”
Khuất Tương Tử lại cười vài tiếng: “Chuyện của đại nhân và công chúa, trước sau thế nào, công chúa đều đã kể hết cho lão hủ, không có gì là nên hay không nên. Duyên do trời định, hai người nếu đã có duyên, cũng nên thuận trời thuận mệnh.” Rồi chỉ về phía đường hầm bí mật. “Tô Tử, lão hủ đã bẩm báo với công chúa rồi, tiểu công chúa lúc này hẳn đang nóng lòng muốn gặp mặt cha!”
Tô Tần tạ ơn, đứng dậy đi vào đường hầm, chỉ một lúc sau, đã tới tẩm cung quen thuộc dưới lòng đất.
“Tô Tử...” Cơ Tuyết đang mỏi mắt mong chờ, vội chạy ra đón, lao vào lòng Tô Tần.
Hai người ôm ghì lấy nhau.
“Tô Tử!” Giọng Cơ Tuyết có phần nghẹn ngào. “Tuyết Nhi... Tuyết Nhi muốn sinh cho Tô Tử một đứa con trai, thế nhưng...”
“Tuyết Nhi!” Tô Tần càng ôm chặt lấy nàng. “Con trai thì có gì tốt đẹp, Tô Tần ghét con trai, Tô Tần tạ ơn ông trời đã ban cho ta và nàng một cô con gái!”
Tô Tần buông Cơ Tuyết ra, hấp tấp bước lại trước giường, dưới ánh sáng lờ mờ, nhìn đăm đăm vào bé gái sơ sinh đang nằm trong tã.
Bé gái đang ngủ say sưa.
Tô Tần cúi xuống, hôn nhẹ lên khuôn mặt bé nhỏ phúng phình của đứa bé, rồi quay sang Cơ Tuyết: “Tuyết Nhi, rất giống nàng!”
“Giống chàng!” Cơ Tuyết cười rạng rỡ. “Từ nhỏ đã nghe mẫu hậu nói, con gái giống cha, con trai giống mẹ, nay nhìn Phi Nhi, đúng là rất giống chàng, khuôn mặt kia, chiếc mũi kia, cả cái miệng nữa, chẳng có chỗ nào giống thiếp!”
“Phi Nhi?”
“Vâng!” Cơ Tuyết đáp lời. “Vào ngày sinh nở, vừa đúng tiết Thanh minh, mưa bụi mịt mờ, nên thiếp liền đặt tên cho con là Phi Nhi. Đây là tên mụ, còn tên chính thức phải để cha nó đặt. Tô Tử, chàng hãy chọn cho con một cái tên!”
“Xưa ta đi xa, dương liễu phất phơ. Nay ta trở lại, mưa tuyết mịt mờ.”(1) Tô Tần bất giác ngâm nga, ứa hai dòng lệ.
Cơ Tuyết tức cảnh sinh tình, đặt tên cho con gái theo tâm tư của “chinh nhân” là Tô Tần, thực khiến hắn cảm động khôn xiết.
“Phải!” Cơ Tuyết cũng nhỏ nước mắt. “Rau vi nhú mầm, mau tay hái lấy. Hỏi rằng ngày về, hết năm chẳng thấy.” Tuyết Nhi hiểu, Tô Tử không phải không trở về, mà là: “Chiến xa đã đóng, bốn ngựa oai phong. Nào dám nhàn nhã, tháng mấy chiến công.”
Cơ Tuyết lại mượn thơ này, trước sự ra đi biền biệt không về của “chinh nhân”, đã không oán hận nửa lời, mà trái lại còn có ý khen ngợi Tô Tần thân mang vương mệnh, vất vả bôn ba, lại thu được thành tựu huy hoàng “tháng mấy chiến công”, và hơn thế nữa, nàng hiểu rõ “chinh nhân” chẳng lúc nào không khắc khoải ngóng trông, chẳng lúc nào không nhớ thương nàng, thế là đã đủ.
“Tuyết Nhi!” Tô Tần nắm chặt tay Cơ Tuyết, đôi mắt nhoà lệ nhìn thẳng vào nàng. “Gặp phải chinh nhân này... nàng có hối hận không?”
Cơ Tuyết lắc đầu, một lát sau, khẽ nói: “Phu quân, hãy đặt tên cho Phi Nhi.”
“Đây chính là tên!” Tô Tần nhìn đứa bé, chỉ vào Cơ Tuyết, lại chỉ vào mình. “Cơ Tô Phi Phi!”
“Là Tô Phi Phi.” Cơ Tuyết thì thầm. “Bỏ chữ Cơ đi.”
“Tuyết Nhi!” Tô Tần nhìn vẻ phía xa xăm. “Ta lấy nghĩa của câu thơ ‘bên bờ Cơ Thuỷ, hoa tô bạt ngàn’, cái tên này có nàng, có ta, để cho Phi Phi của chúng ta không còn liên quan gì tới chinh nhân nữa!”
Cơ Thuỷ là đất phát hưng của tổ tiên Chu thất, cũng là đất tổ của họ Cơ, hoa tô là hoa tía tô, loài cây dại mọc khắp ven đường ngoài nội, nở hoa màu tím.
“Vì sao kia?” Cơ Tuyết nép vào Tô Tần, giọng nói càng thêm êm dịu. “Vì chinh nhân đã mệt mỏi quá rồi chăng?”
Tô Tần thở dài, ôm chặt Cơ Tuyết vào lòng.
“Chinh nhân ơi!” Cơ Tuyết nhổm dậy. “Hẳn đã mệt rồi, vậy chúng ta hãy đi nghỉ thôi!”
“Tuyết Nhi!” Tô Tần lại ôm lấy nàng. “Trước khi đi nghỉ, nàng hãy đồng ý với ta một việc!”
“Chàng cứ nói!”
“Cơ Tô Phi Phi, ngày mai ta sẽ mang nó đi!”
“Mang... mang đi?” Cơ Tuyết sững sờ.
“Phải! Tuyết Nhi, còn nhớ lần trước khi ta đến đây, nàng đã từng nói gì không? Chuyện liên quan tới Phi Phi!”
“Thiếp...” Cơ Tuyết nhắm nghiền mắt lại, cái đêm năm ngoái lại hiện về, bên tai nàng văng vẳng giọng nói của chính mình. “Tuyết Nhi đã suy nghĩ kỹ rồi, khi nào Tuyết Nhi mang thai, sẽ đóng cửa ở trong phòng, loan tin ra ngoài rằng tiên quân về báo mộng cho thiếp, muốn thiếp bế quan một năm để giao tiếp với linh hồn của tiên quân. Đợi đến thời khắc tốt lành, Tuyết Nhi sẽ sinh nở ngay trong mật thất này, sau đó, sẽ giao đứa bé cho Mộc Hoa, nhờ tìm một gia đình họ Tô để gửi nuôi. Sau đó, Tuyết Nhi sẽ tìm cơ hội, nhận đứa trẻ về làm con nuôi, để nó đường đường chính chính gọi Tuyết Nhi là mẹ.”
Cơ Tuyết bật khóc.
“Tuyết Nhi, nàng nói rất phải. Phi Phi đã tới thế giới này, chúng ta phải có trách nhiệm với nó. Nó không thể ở lại nơi này, nó buộc phải đi!”
“Chàng... chàng định đem nó đi đâu? Giao cho ai kia?”
“Giao cho Khuất tiền bối, giao cho chư tử Mặc gia!”
Cơ Tuyết khẽ gật đầu.
“Tuyết Nhi, từ ngày mai, Phi Phi của chúng ta sẽ trở thành Mặc giả!”
Cơ Tuyết lại gật đầu.
Đêm đó, Cơ Tuyết không ngủ, Tô Tần cũng không ngủ. Hai người im lặng ngồi bên nhau, bốn con mắt đăm đăm dán chặt vào đứa bé đang nằm trong tã, như thể muốn ghi tạc hình bóng đứa con vào trong đáy mắt, khắc sâu vào trong tâm khảm.
Phi Phi rất ngoan, cho tới tận khi trời sáng, không khóc, không quấy, cũng không đòi ăn, cứ thế nằm ngủ im lìm.
Bên hồ sen trong hậu hoa viên cung Yên ở Kế Thành, Dịch Vương đang tay nắm tay dạy Tử Vi học chữ. Tử Vi là đứa con đầu tiên mà vương hậu Tần Cơ, cũng chính là trưởng nữ của Tần Huệ Vương, Doanh Tường, sinh cho Dịch Vương ngay sau khi kết hôn. Tử Vi kháu khỉnh bụ bẫm, mắt giống Doanh Tường, song dáng dấp, thậm chí cả dáng đi, lại giống Dịch Vương như lột, nên được Dịch Vương vô cùng yêu thương. Mẫu hậu Doanh Tường đứng tựa lan can đình hóng mát ở phía xa, lơ đãng nhìn về phía hai cha con họ.
Hai cha con đang vui vẻ thân mật, thì Kỷ Cửu Nhi sải bước tiến lại, ghé sát tai Dịch Vương thì thầm một câu. Dịch Vương sững sờ kinh ngạc, dặn Tử Vi chạy lại chỗ vương hậu, còn mình hối hả theo Kỷ Cửu Nhi tới tiền điện.
Quỳ trong điện là một hoạn quan, chính là tai mắt của Kỷ Cửu Nhi được cài ở chỗ Cơ Tuyết.
“Có chuyện gì, hãy bẩm báo tường tận lên đại vương!” Kỷ Cửu Nhi ra lệnh.
“Đại vương vạn an!” Hoạn quan kia khấu lạy xong, bèn tấu báo. “Nô tài chịu mệnh đại vương hầu hạ thái hậu, mọi việc đều lo liệu chu toàn, chỉ có điều gần một năm qua, thái hậu thay tính đổi nết, không rời khỏi ly cung lấy một bước. Không những thế, mà tối ngày còn khoá chặt cửa hậu viện, đuổi hết hơn chục nô bộc ra ngoài, chỉ giữ lại ba người bọn Xuân Mai.”
“Chuyện này bản vương biết rồi!” Dịch Vương đáp. “Lần trước nghe ngươi bẩm báo, thái hậu mơ thấy tiên quân, muốn mời bà mo tới cầu khấn cho tiên quân, không biết đã tìm thấy bà mo chưa?”
“Tìm thấy rồi!” Tên hoạn quan trả lời. “Lạ lùng chính là ở chỗ bà mo đó, sau khi đi vào, tuyệt nhiên không thấy đi ra nữa, cánh cổng dẫn tới hậu viện ngày đêm cài then chặt kín, chỉ tới khi dùng bữa mới hé ra để lấy đồ ăn. Nô tài nhìn qua khe cửa, thấy trong sân hiếm khi có bóng người, sai người trèo lên nóc nhà quan sát, cũng không thấy có gì bất thường.”
“Đã không có gì bất thường, ngươi còn đến đây bẩm báo cái gì?” Dịch Vương bực mình, đứng dậy định đi.
“Đại vương hãy khoan!” Hoạn quan nói tiếp. “Cách đây một tháng, cũng là vô tình, nô tài đau bụng, nửa đêm đi ngoài, bỗng nghe loáng thoáng có tiếng trẻ sơ sinh khóc.”
“Tiếng trẻ sơ sinh khóc?” Dịch Vương chau tít đôi mày, nhìn sững vào tên hoạn quan.
“Vâng!” Hoạn quan tiếp lời. “Tiếng khóc mơ hồ, cứ như cách xa vài dặm, người thường tuyệt đối không nghe thấy, nhưng nô tài bẩm sinh đã tai thính khác thường, đừng nói là tiếng chim muông côn trùng, dù rắn trườn qua cỏ cách xa chục trượng, nô tài cũng có thể nghe ra, huống hồ đang giữa đêm khuya.”
“Đứa trẻ ở đâu?”
“Nô tài nhìn về hướng phát ra tiếng khóc, song đó lại là lăng tẩm của tiên quân. Lăng tẩm của tiên quân khoảng mười dặm vuông, ngoài người canh lăng, không còn ai khác. Vài ngày sau đó, thần đã sai người dò la, biết được trong đám người canh lăng không nhà nào có trẻ sơ sinh cả.”
“Vậy... còn tiếng khóc?”
“Tiếng khóc, nô tài đã dốc hết sức lắng nghe, ban ngày ồn ào, chỉ đến đêm khuya thanh vắng mới thi thoảng nghe thấy.”
“Đêm nào cũng nghe thấy ư?”
“Gần như là vậy, có lúc cách một, hai đêm.”
“Không phải là...” Dịch Vương nghe mà dựng ngược tóc gáy, “ma quỷ đấy chứ?”
“Có ma hay không, nô tài không biết, tuy nhiên chục ngày gần đây, nô tài suốt mấy đêm liền không còn nghe thấy nữa.”
“Không còn nghe thấy là được rồi!” Dịch Vương thở phào một tiếng.
“Đại vương không thấy quái lạ ư?” Kỷ Cửu Nhi phẩy tay cho hoạn quan lui ra, rồi khẽ hỏi.
“Ồ?”
“Thái hậu đuổi hết người hầu, hơn một năm không ra khỏi cửa, bà mo chỉ vào không ra, nửa đêm có tiếng trẻ khóc...”
“Ý ngươi là...” Dịch Vương hít vào một hơi, nhìn Kỷ Cửu Nhi với ánh mắt không thể tin nổi.
“Đại vương!” Kỷ Cửu Nhi nói. “Nô tài cho rằng, chỗ thái hậu, chưa biết chừng lại có ma thật đấy!”
“Ngươi mau đi điều tra kỹ lưỡng!” Dịch Vương đưa mắt nhìn Kỷ Cửu Nhi, dừng lại một lát, lại dặn dò. “Bất luận xảy ra chuyện gì, đều không được làm kinh động tới thái hậu, giờ vẫn chưa phải lúc động chạm đến bà ta.”
“Thần lĩnh chỉ.”
Bỗng dưng có được cả bộ “Binh pháp Ngô Khởi”, Bàng Quyên coi như báu vật, nghiền ngẫm suốt mấy ngày liền, tâm đắc vô số, rồi nhìn lại toàn bộ những chuyện trước sau trận chiến Quế Lăng, không thể không thực lòng thán phục chiến lược bao quát và chiến thuật chi tiết của Tôn Tẫn. Nhìn vào mặt chiến lược, Bàng Quyên đã hiểu được rằng, Tôn Tẫn chiến thắng ở ngựa, đổi xe chiến thành ngựa cưỡi, Tôn Tẫn đã mở rộng phạm vi cơ động của quân Tề rất nhiều, không những khiến quân Tề giảm bớt được nhược điểm tự thân trước võ binh Đại Ngụy, mà còn khiến đất Ngụy khắp nơi chiến hoả bao trùm, thực hiện thành công kế nghi binh, ép Huệ Vương phải liên tiếp ban chiếu lệnh rút quân. Còn nhìn vào mặt chiến thuật chi tiết, Tôn Tẫn cũng vô cùng tuyệt diệu, đặc biệt là lần dùng mưu trí phá vỡ thế trận rùa rụt đầu của hắn, điều này tuyệt đối không phải là nhờ may mắn.
Thế nhưng, phải phá giải thế nào đây?
Bàng Quyên vắt óc suy nghĩ, suốt mấy đêm liền không ngủ. Muốn phá khinh kỵ của Tề, trước hết phải biết cưỡi ngựa. Bàng Quyên hồi nhỏ từng cưỡi la, sau cưỡi ngựa, song theo như hắn biết, lưng ngựa trơn tuột, tuy có học theo cách của người Hồ, kỵ binh trải một lớp đệm mềm bằng da thú trên lưng ngựa, nhưng cưỡi lâu vẫn thấy ê mông, huống hồ chiến mã phi nước đại, xóc nảy dữ dội, dù không bị hất văng đi cũng phải xây xẩm mặt mày. Nguy hiểm hơn là, hai chân kỵ binh lơ lửng hai bên sườn ngựa, dù là người Hồ từ nhỏ đã sống trên lưng ngựa, cũng có lúc ngã nhào xuống đất. Chẳng nói cũng biết, người Tề huấn luyện kỵ mã, tuyệt đối không phải là chuyện một sớm một chiều. Nghĩ tới người Tề vì cuộc chiến này mà mấy năm liền tổ chức hội đua ngựa, cả nước phát cuồng vì ngựa, kỹ thuật nuôi ngựa lại càng tiến bộ vùn vụt, thậm chí chẳng kém gì người Hồ đất bắc, trong khi nước Ngụy vẫn chỉ phát triển lính bộ, chiến mã đa phần chỉ dùng để kéo xe, kỹ thuật cưỡi ngựa chỉ dành cho lính thám mã trinh sát địch tình, trong thời gian ngắn sẽ không thể nào đuổi kịp người Tề, Bàng Quyên bắt đầu lo lắng.
“Người Tề có thể dùng ngựa, vì sao ta lại không thể?” Bàng Quyên lòng đã quyết. “Bất luận thế nào, ta cũng phải xây dựng kỵ binh, lấy kỵ đối kỵ, lấy cơ động đối cơ động.”
Bàng Quyên mưu đã định, bèn cho gọi thiên tướng Sái Anh phụ trách thám mã tới, bàn bạc chi tiết về sách lược xây dựng kỵ binh, cấp phát cho hắn năm nghìn quân mã, trao quyền cho hắn thiết lập một cánh kỵ binh cơ động và thần tốc.
Giải quyết xong việc này, Bàng Quyên bắt đầu dốc sức khôi phục võ binh. Hơn hai vạn võ binh và vài nghìn quân hổ bôn thuộc hạ của Thanh Ngưu, hoặc tuẫn thân ở Quế Lăng, hoặc tử chiến ở đất Triệu, đang cấp thiết chờ bổ sung, thậm chí là xây dựng lại từ đầu. Bàng Quyên và Thanh Ngưu bàn bạc mấy ngày trời, cảm thấy trước mắt nhân lực không thiếu, chỉ thiếu trang bị, đặc biệt là binh khí và giáp trụ, bởi vì trong trận Quế Lăng, giáp trụ và binh khí của tướng sĩ đã bị quân Tề thu hết làm chiến lợi phẩm. Áo giáp và binh khí của võ binh đều do thợ khéo nước Ngụy hoặc đất Hàn chế tác, mỗi một món đều vô cùng tinh xảo, chỉ tính riêng chuyện này, nước Ngụy đã tổn thất nặng nề, khiến Bàng Quyên đau xót suốt mấy tháng trời.
Việc chế tác áo giáp, binh khí lại đều do công xưởng đảm nhiệm, mà công xưởng thuộc quyền quản lý của phủ tư đồ. Bàng Quyên bày sẵn rượu thịt, mời Bạch Hổ tới. Thế nhưng, Bạch Hổ không những không cảm kích, mà trái lại, Bàng Quyên còn chưa kịp mở miệng, đã thao thao kể khổ.
“Ân huynh!” Bạch Hổ đẩy chén rượu mà Bàng Quyên tự tay rót sang một bên, sắc mặt nặng trĩu lo âu. “Vụ thu vừa rồi gặp thiên tai, thu hoạch chẳng đáng bao nhiêu, hiện tại chưa vào vụ mới, dân được bữa nay lo bữa mai, các huyện ấp đều nạn đói lan tràn, nghìn vạn dân chúng bỏ nhà bỏ quê đi ăn xin, chen chúc trên đường, cứ nghĩ tới chuyện này, tại hạ lại lòng đau như dao cắt. Nghe nói tam quân khi rút khỏi Hàm Đan đã mang về không ít tiền của, ngu đệ khẩn cầu ân huynh cấp phát cho chút ít, chẩn tế nạn đói mùa xuân, cứu bách tính trong cơn nước lửa!”
“Tiền của Hàm Đan?” Bàng Quyên khẽ chau mày, thở dài một tiếng. “Than ôi, hiền đệ, những lời đồn thổi này mà đệ cũng tin ư? Khi tam quân rút lui, đệ đã thấy rồi đấy, bách tính cả nước đã thấy rồi đấy, người Triệu dọc đường cũng đã thấy rồi đấy, trên xe chỉ chở toàn thi thể tướng sĩ trận vong, đào đâu ra tiền của? Từ đầu tới cuối, hiền đệ chưa lần nào tới Hàm Đan, còn đại ca lúc nào cũng túc trực ở đó. Trong thành Hàm Đan rất nhiều của cải, song người Triệu làm gì có chuyện cam tâm tình nguyện giao cho chúng ta? Ngay từ lúc vây thành, họ đã lường trước tình huống xấu nhất, trước khi bỏ thành đã xử lý xong xuôi, kim ngân tài vật, hoặc giấu dưới đất, hoặc mang theo bên mình khi phá vòng vây, thứ để lại chỉ là ít thóc gạo trong kho chưa kịp cất giấu, song lại quẳng cho chúng ta dễ đến mười vạn dân chúng đói lả, đại ca nỡ lòng nào nhìn người dân Triệu chết đói ngay trước mắt mình? Còn như vải lụa, châu báu trong cung Triệu, đám tướng sĩ đúng là có chở về được chút ít, song đều kiểm kê rõ ràng, lập danh sách đầy đủ sung vào quốc khố, do đại vương phân phối ban thưởng. Ba quân tướng sĩ chỉ biết xông pha nơi sa trường, không dám giấu giếm riêng tư!”
“Than ôi!” Bạch Hổ thấy Bàng Quyên chặn họng, cũng thở dài một tiếng. “Dân chúng đang cơn hoạn nạn, trong kho lại không còn lương thực, thân là tư đồ, tiểu đệ...” ngoảnh mặt nhìn sang một bên, hồi lâu sau, bật ra vài chữ, “lòng như dao cắt!”
“Được rồi, được rồi!” Bàng Quyên hết kiên nhẫn cắt ngang lời Bạch Hổ, nâng chén rượu lên. “Ở đây không phải triều đường, không bàn đến chuyện dân chúng đói kém, huynh mời hiền đệ tới đây, là vì hai việc. Thứ nhất là việc riêng, đã lâu không gặp hiền đệ, muốn uống vài chén với hiền đệ, ôn lại chuyện xưa. Thứ hai là việc công, muốn cầu hiền đệ giúp một tay, hoàn thành một việc lớn.”
“Cầu thì không dám, ân huynh xin hãy nói việc công!”
“Trận chiến Quế Lăng, võ binh tổn thất lớn nhất.” Bàng Quyên dõng dạc nói. “Trước mắt đại ca có hai việc gấp, thứ nhất là học lấy sở trường của người Tề, xây dựng kỵ binh. Thứ hai, tái lập võ binh, chấn hưng uy phong của võ binh. Việc xây dựng kỵ binh, sẽ do đại ca lo liệu, còn việc chiêu mộ võ binh, đại ca đã giao cho Thanh Ngưu, chỉ cầu mong hiền đệ giúp cho một việc, chính là trong vòng sáu tháng, hiền đệ hãy giúp đại ca chế tạo hai vạn bộ giáp trụ!” Rồi đưa tay kia nâng chén rượu trên bàn lên, đưa cho Bạch Hổ. “Nào, hiền đệ, vì hai vạn bộ giáp trụ, cạn chén!”
“Ân huynh!” Bạch Hổ nhận lấy, lại từ từ đặt xuống. “Chén rượu này, thứ lỗi cho đệ không thể cạn!”
“Vì sao?”
“Bởi vì hai vạn bộ giáp trụ, đừng nói là trong vòng nửa năm, dù có ba năm, ngu đệ cũng không thể làm nổi!” Nói đoạn, Bạch Hổ khẽ vòng tay, dứt khoát đứng dậy bỏ đi.
Bàng Quyên không thể ngờ Bạch Hổ lại thẳng thừng đến vậy, một bầu hy vọng bỗng chốc tan thành mây khói, mặt đỏ phừng phừng ngồi chết lặng, tai nghe tiếng chân Bạch Hổ xa dần cho tới khi mất hẳn bên ngoài cổng phủ, mới ngửa cổ lên, một hơi dốc cạn chén rượu, rồi thuận tay ném đánh vèo ra phía ngoài sảnh, mặt mày biến dạng vì giận dữ.
Sau khi ra khỏi Bàng phủ, Bạch Hổ chần chừ một lát, rồi đánh xe thẳng tới phủ Chu Uy, kể sơ qua một lượt chuyện vừa rồi. Chu Uy cảm thấy sự tình nghiêm trọng, bèn kéo Bạch Hổ tới chỗ thái tử Thân.
“Những chuyện này, Thân biết cả rồi!” Nghe Bạch Hổ kể xong, thái tử Thân lấy ra một tập tấu báo, nói. “Đây là tấu thỉnh hôm kia của Vũ An Quân, đại vương chuyển tới chỗ Thân, Thân cũng đang định triệu hai vị tới bàn bạc.”
Chu Uy, Bạch Hổ đưa mắt nhìn nhau.
“Một bên là dân chúng lầm than, đang khắc khoải chờ cứu tế, một bên là hưng binh chế giáp, chấn chỉnh võ công. Đại vương uỷ thác toàn bộ chính sự cho Thân, Thân lại không biết phải làm thế nào, dám hỏi hai vị có cao kiến gì chăng?”
“Tất cả đều là mưu của Trương Nghi!” Chu Uy giận dữ nói. “Thần lần nữa thỉnh cầu điện hạ đuổi Trương Nghi đi, mời Công Tôn Diễn chủ trì chính sự!”
“Than ôi!” Thái tử Thân khẽ thở dài một tiếng. “Không phải Thân dùng Nghi, nên đương nhiên Thân cũng không thể đuổi Nghi. Phụ vương còn ở trong cung ngày nào, thì đuổi Nghi là điều không thể! Có điều, hai vị có thể mỗi người tự viết một bản tấu, bộc bạch mọi nỗi khổ tâm, xem phụ vương nói thế nào!”
Bạn cũ nay thành kình địch, Bàng Quyên bực bội trong lòng, vô thức tìm tới phủ tướng quốc, kể hết mọi chuyện với Trương Nghi.
“Thật khổ cho Bàng huynh!” Trương Nghi khẽ cười một tiếng, nửa như châm chọc, nửa như tự trách mình. “Nay thời thế loạn lạc, võ bị một ngày không thể bỏ. Phủ tư đồ chịu sự cai quản của phủ tướng quốc, tư đồ chưa báo cáo lên tại hạ, đã tự ý cự tuyệt võ bị, đó là tại hạ chưa làm tròn chức trách.”
Lời này, rõ ràng có ý trách cứ Bàng Quyên đã vượt phận bao đồng, Bàng Quyên nghe ra ẩn ý, vội vòng tay vái lia lịa mà rằng: “Không trách Trương huynh, là do tại hạ lỗ mãng. Tại hạ cứ ngỡ rằng bản thân có giao tình tốt đẹp với Bạch Hổ, nên mời hắn tới uống rượu, thứ nhất là nể mặt hắn, thứ hai là thăm dò ý tứ hắn, nào ngờ kẻ này... than ôi, lại chẳng hề nể nang gì tại hạ.”
“Than ôi!” Trương Nghi cũng thở dài một tiếng. “Bàng huynh có điều không biết, dù là Bàng huynh tìm tới tại hạ, tại hạ cũng cảm thấy khó xử. Tuy được Bàng huynh tiến cử, được đại vương yêu mến mà tại hạ mới có được địa vị này, song suy cho cùng, tại hạ chân ướt chân ráo mới tới, chưa lập được chút công lao. Tại hạ và Bàng huynh hợp sức phạt Triệu, vốn là vì đại nghiệp nước Ngụy, nào ngờ người Tề lại nhúng tay vào, khiến chúng ta sắp thành lại bại. Nay phạt Triệu bất lợi, bá quan nghi ngờ, lại thêm Chu Uy, Bạch Hổ ở Ngụy vốn cội gốc sâu dày, uy tín lớn lao, còn được thái tử Thân che chở, hai người chúng ta có nóng vội cũng vô ích.”
“Phải!” Bàng Quyên hùa theo một câu, vỗ đùi đánh đét. “Phải rồi, bọn họ dựa vào thái tử, chúng ta cũng sẵn có người trợ giúp, cớ sao lại không tìm tới?”
“Ý Bàng huynh là... là công tử Tự?”
“Đúng vậy!” Bàng Quyên hấp tấp đáp lời. “Phạt Triệu lần này, công tử Tự thân là phó tướng, chiến đấu dũng cảm, tiến thoái hợp lý, hành động thoả đáng, theo tại hạ thấy, công tử tiền đồ xán lạn vô cùng. Nghe Liên Nhi nói, từ sau khi công tử Ngang tuẫn quốc, trong số các công tử, đại vương ưng ý nhất chỉ có công tử Tự.”
“Công tử Tự dâm đãng vô độ, gàn bướng thiếu quyết đoán, không đủ tư cách để mưu sự!” Trương Nghi một lời phủ nhận.
“Ồ...” Bàng Quyên thoáng sửng sốt. “Trương huynh dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Phạt Triệu lần này, Tử Tự được làm phó tướng, là nhờ vào xuất thân, chứ không phải nhờ vào chiến công. Trước sau khi phạt Triệu, Tử Tự chưa từng nghĩ ra một mưu, chưa từng bày được một kế. Người Triệu rút khỏi Hàm Đan, Bàng huynh xuất chinh chiến Tôn Tẫn, để Tử Tự ở Triệu, mọi việc lớn nhỏ, Tử Tự đều không có chủ trương, nhất nhất nghe theo tại hạ sắp xếp. Ở Hàm Đan vài tháng, Tử Tự chỉ quyết đoán duy nhất một việc, đó là ở lì trong cung Triệu, mặc sức trêu ghẹo đám tần phi trong cung thất, tai tiếng dâm đãng truyền khắp Hàm Đan, gái Triệu tránh hắn như tránh tà.”
“Than ôi...” Bàng Quyên cười gượng một tiếng. “Tại hạ nhìn lầm người mất rồi. Tại hạ cứ ngỡ Tử Tự vũ dũng, là một tướng tài.” Rồi nhìn sang Trương Nghi. “Tử Tự không thể trông cậy, vậy làm thế nào?”
“Nghe nói đại vương mắc chứng phong thấp, chúng ta nên vào cung thỉnh an mới phải!”
“Đúng đấy!” Bàng Quyên bừng tỉnh, cười nói. “Quân quốc đại sự, nên bẩm báo lên đại vương định đoạt, tại hạ đi nhầm đường vòng mất rồi!”
“Hiền đệ hãy cầm theo cái này!” Trương Nghi lấy ra một túi gấm, đưa cho Bàng Quyên. “Trong túi này có vài tễ thuốc cao, là phương thuốc bí truyền của người Sở, chuyên trị phong thấp, hiệu nghiệm vô cùng!”
“Trương huynh thực chu đáo, đến cả thứ này cũng chuẩn bị sẵn sàng!” Bàng Quyên thán phục.
“Không phải là chuẩn bị cho đại vương đâu,” Trương Nghi thực thà đáp lời, “Hương Nữ sau khi đỡ cho tại hạ một đòn đâm của gái Ba, bị thương ở bả vai, hễ trời ẩm lạnh là lại đau nhức thấu xương, tại hạ thương xót trong lòng, đi khắp nơi tìm thuốc, cách đây không lâu mới có được phương thuốc bí mật này, chế thành thuốc cao, tìm người thử nghiệm, thấy rất hiệu quả. Vừa hay đại vương cũng mắc bệnh này, Bàng huynh dâng lên, chẳng phải là tuyệt diệu?”
Bàng Quyên cảm tạ, cất thuốc vào trong ống tay áo, cùng Trương Nghi vào cung yết kiến.
Trong ngự thư phòng, Huệ Vương nằm nghiêng trên giường, hai mắt khép hờ, mặc cho đám cung nhân xoa bóp chân đùi. Tỳ nhân đứng ở bên cạnh, cất giọng lên bổng xuống trầm ngâm nga từng bản tấu sớ.
Có tiếng bước chân tới gần, rồi nội tể túc trực bước vào, bẩm báo: “Vũ An Quân, Trương tướng quốc vào cung thỉnh an, đang đợi yết kiến bên ngoài!”
Huệ Vương ngồi thẳng dậy, phẩy tay xua đám cung nhân ra, hất hàm với tỳ nhân.
Tỳ nhân đặt tấu sớ xuống, hô lớn: “Đại vương có chỉ, mời Vũ An Quân, Trương tướng quốc yết kiến!”
Trương Nghi, Bàng Quyên bước vào, khấu đầu yết kiến. Bàng Quyên dập đầu nói: “Nhi thần nghe nói phụ vương long thể bất an, vô cùng lo lắng, nên đặc biệt tới thỉnh an!”
“Ha ha ha, chỉ là bệnh cũ mà thôi!” Huệ Vương chỉ vào chân trái. “Là cái chân này, năm xưa giao chiến với Hàn, Triệu ở Trọc Trạch, quả nhân bị trúng tên của người Triệu, xuyên tới tận xương, mỗi khi thấp khí xông lên, bệnh tình lại tái phát, mấy hôm trước đau ghê gớm, nay đỡ nhiều rồi!”
“Phụ vương!” Bàng Quyên hai tay dâng lên tễ thuốc cao. “Thuốc này là phương thuốc bí truyền của người Sở, chuyên trị phong thấp, nhi thần thỉnh cầu phụ vương dùng thử!”
“Được được được!” Huệ Vương đáp liền mấy câu, nhìn sang tỳ nhân.
Tỳ nhân nhận lấy thuốc cao, cất đi.
“Hai khanh tới thật đúng lúc!” Huệ Vương ban chỗ, thấy hai người đã ngồi xuống, bèn chỉ vào chồng tấu chương bên cạnh. “Những tấu chương này, quả nhân nghe mà phiền lòng, đang định cho gọi hai khanh tới.”
“Hẳn là về chuyện thiên tai?” Trương Nghi nhìn sang chồng tấu chương.
“Than ôi!” Huệ Vương thở dài một tiếng. “Nơi nơi mất mùa, nạn đói hoành hành, các quận các ấp đều ngửa tay xin quả nhân cứu tế, quả nhân...”
“Đại vương chớ nên lo lắng!” Trương Nghi tấu. “Tình hình đói kém các nơi, thần đã hiểu rõ, cũng đã tấu báo với người Tần. Tần Vương hay tin ta gặp nạn đói, đã hạ chỉ cho đất Thục vận chuyển tới ba vạn thạch lương, lúc này hẳn đang trên đường, không lâu nữa sẽ tới Hà Đông, hoặc giả có thể giải quyết cơn nguy cấp.”
“Cha chả!” Huệ Vương hai mắt sáng rực, cười không khép nổi miệng. “Ái khanh ơi, tin tức tốt lành nhường này, đáng lẽ khanh nên bẩm báo sớm hơn mới phải!”
“Thần cũng chỉ mới vừa hay tin, không dám chậm trễ một khắc!”
“Than ôi!” Huệ Vương thở dài một tiếng, nói với Bàng Quyên. “Gặp chuyện thình lình, thực sự giúp ta, vẫn là người Tần. Tuy nhiên, Tần Vương khảng khái đến vậy, quả thực nằm ngoài dự đoán của quả nhân!”
“Không phải Tần Vương khảng khái,” Trương Nghi tấu bày, “mà là Tần Vương niệm tới sách lược láng giềng hoà mục giữa Tần, Ngụy, nên không so đo chuyện khác. Không giấu đại vương, theo thần được biết, năm ngoái Hà Đông đại hạn, Hà Tây cách Hà Đông một con sông, cho đến tận Quan Trung, cũng cạn khô không còn một giọt nước. Quan Trung cũng đang thiếu lương!”
“A!” Ngụy Huệ Vương sửng sốt. “Người Tần cũng đang thiếu lương, lại trợ giúp ta ba vạn thạch, bảo quả nhân... nên làm thế nào đây?”
“Đại vương bất tất phải lo cho người Tần.” Trương Nghi dõng dạc nói. “Người Tần đã có kho lương là đất Thục, sợ gì thiếu đói? Không giấu đại vương, đất Thục do thần một tay khai phá, dõi mắt mà trông, đúng là ngàn dặm đất đai màu mỡ! Hơn thế nữa, người Thục giỏi trị thuỷ, không sợ hạn lụt, nên lương thực làm ra ăn không hết, toàn đem nuôi lợn nuôi gà.”
“Cha chả!” Huệ Vương tấm tắc khen ngợi. “Tần Vương được Thục, khác nào được đại bảo bối!”
“Không giấu đại vương,” Trương Nghi đáp lời, “Tần Vương năm xưa lại không nghĩ như vậy. Lúc đó, Tần Vương vì tức giận đại vương hợp tung sáu nước tấn công Tần, mới lập ra quốc sách, thề phải đánh Ngụy. Thần cho rằng không sáng suốt, mới ra sức khuyên can Tần Vương tránh mạnh tìm yếu, kết tình láng giềng hoà mục với Ngụy, chiếm Thục phía tây. Tần Vương thoạt đầu không nghe, sau mới làm theo lời can gián của thần, dùng kế của thần mà bình Ba chiếm Thục, nên mới có được ngày hôm nay.”
“Than ôi!” Ngụy Vương lại thở dài một tiếng. “Là Tần Vương mệnh tốt vận may, được làm láng giềng với Ba, Thục, còn quả nhân thì...”
“Trong mắt thần, mệnh của đại vương còn tốt hơn cả Tần Vương, vận của đại vương cũng không hề thua kém Tần Vương.”
“Ồ?”
“Đại vương hãy xem,” Trương Nghi chỉ về phía đông, “phía đông Đại Lương, hạ lưu sông Tứ đất đai màu mỡ ngàn dặm, đều là nước yếu. Phía bắc Đại Lương, từ phía đông Thái Hàng cho tới Kế Thành nước Yên, đồng rộng mênh mông, vượt xa hạ lưu sông Tứ. Còn như về sự giàu có của năm đô nước Tề, thần...”
“Chuyện này thì...” Huệ Vương cười gượng một tiếng, nét mặt lộ vẻ bất lực.
“Đại vương!” Trương Nghi cất giọng sang sảng. “Tần Vương có được Ba, Thục, không phải do Tần Vương mệnh tốt vận may, mà là Tần Vương coi trọng võ bị, coi võ bị là nhiệm vụ hàng đầu. Từ khi Thương Quân biến pháp tới nay, Tần cả nước trọng binh, tất cả nam giới từ nhỏ đã tôi rèn võ nghệ, ai ai cũng coi chuyện xả thân sa trường là vinh dự. Nhìn vào ba quân của Tần, thế trận chỉnh tề, kỷ luật nghiêm khắc, vũ khí tinh xảo, lương thực dồi dào, thiên hạ không ai sánh kịp. Có thể địch nổi quân Tần, duy có võ binh Đại Ngụy dưới cờ Bàng tướng quân. Hai hổ đấu nhau, ắt đều bị thương, đây cũng là nguyên nhân khiến thần cực lực can gián Tần Vương bỏ Ngụy tranh Thục. Tần được Ba, Thục, có thể mưu Sở. Đất Sở vốn là đất Nam Man, người Tần giành lấy, không động chạm tới một cọng tóc Trung Nguyên. Trung Nguyên ruộng đồng màu mỡ, không dưới nghìn dặm, thần khuyên Tần Vương nên để lại cho võ binh Đại Ngụy, để lại cho Bàng huynh, để lại cho đại vương. Thần một mực khổ tâm, dám mong đại vương thương xót.”
Huệ Vương hít sâu vào một hơi, từ từ khép mắt lại.
“Phụ vương?” Mãi không thấy Huệ Vương mở mắt ra, Bàng Quyên khẽ gọi.
“Than ôi!” Cuối cùng, Huệ Vương thở dài một tiếng, nặng nề lắc đầu. “Già rồi, già rồi, quả nhân già thật rồi!”
“Đại vương sai rồi!” Trương Nghi đáp lời. “Từ cổ chí kim, chẳng ai sống tới vạn tuổi, ai rồi cùng già, ai rồi cũng chết. Thế nhưng, có ai vì mình mà sống, lại vì mình mà chết hay chăng? Ngụy thất to lớn nhường này, lập quốc thực sự mới chưa quá bốn đời, lẽ nào đại vương đành lòng giương mắt nhìn xã tắc Đại Ngụy sau khi đại vương trăm năm lại sụp đổ trong một sớm?”
Trương Nghi lời lời tựa mũi dùi, xuyên thấu tâm can.
Huệ Vương rùng mình ớn lạnh, ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên: “Hiền tế, nghe nói con muốn tái lập võ binh, có chuyện này chăng?”
“Nhi thần đang có ý này!” Bàng Quyên dõng dạc đáp lời. “Nhi thần đã tuyển dụng được hai vạn võ sĩ, mọi việc đều đã xong xuôi, chỉ thiếu giáp trụ mà thôi.”
“Chỉ thiếu giáp trụ, cũng là chuyện nhỏ!” Huệ Vương quay sang tỳ nhân. “Truyền chỉ Bạch Hổ, nhanh chóng chế tạo hai vạn bộ giáp trụ.”
“Đại vương!” Tỳ nhân khẽ giọng bẩm báo. “Tư đồ đại nhân có tấu sớ ở đây, lão thần mới vừa đọc xong!”
Huệ Vương lúc này mới sực nhớ tới tấu chương mà tỳ nhân vừa đọc, liền bừng tỉnh, đôi mày từ từ chau tít, quay sang Trương Nghi: “Theo tấu báo của tư đồ, áo giáp đa phần được chế tạo từ sắt ròng, chỉ riêng một bộ giáp trụ đã tiêu tốn hơn hai mươi dật sắt, hai vạn bộ cần tới năm mươi vạn dật. Gần đây giá sắt tăng vọt, gần bằng giá đồng thau, năm mươi vạn dật sắt cần đến hơn một vạn dật vàng, mà trong quốc khố chỉ còn không đầy ba nghìn dật. Riêng tiền phủ tuất cho tướng sĩ thương vong cũng cần tới tám nghìn dật, còn thiếu năm nghìn dật nữa.”
“Những điều này, nhi thần đều biết.” Bàng Quyên đáp lời. “Sắt đa phần có nguồn gốc từ nước Hàn, ta có thể tạm thời khất nợ một thời gian, đợi quốc khố dồi dào, tính lãi mà trả cũng được!”
“Phải, cũng hay!” Huệ Vương khẽ gật đầu, nói với tỳ nhân. “Triệu tư đồ!”
Bạch Hổ tới, Huệ Vương đưa tấu chương của Bạch Hổ ra, nói: “Bạch ái khanh, theo lời khanh tấu, hai vạn bộ giáp trụ khó ở sắt, sắt khó ở tiền vàng. Vừa rồi Vũ An Quân đưa ra một ý, chính là khất nợ người Hàn, đợi khi quốc khố dồi dào, ta có thể tính lãi mà trả họ. Quả nhân thấy ý này rất hay, nên triệu khanh tới, xem nên bàn bạc chuyện này với người Hàn thế nào.”
“Hồi bẩm đại vương!” Bạch Hổ cười gượng một tiếng. “Thần sớm đã bàn chuyện này với người Hàn, song người Hàn không chịu cho nợ!”
Bàng Quyên liền lớn tiếng hỏi: “Vay rồi sẽ trả, chuyện buôn bán xưa nay vẫn thế, người Hàn nếu đã làm ăn với ta, cớ sao không chịu cho nợ?”
“Hồi bẩm Vũ An Quân!” Bạch Hổ vẫn thong thả đáp. “Mấy năm trước, chúng ta chế tạo giáp trụ, cung nỏ, áo da, xe ngựa, vẫn còn nhiều nợ cũ, ước tính không dưới ba nghìn dật, tới nay vẫn chưa trả, người Hàn không chịu cho vay nữa.”
“Làm gì có cái lý ấy!” Bàng Quyên nổi trận lôi đình. “Nợ cũ là nợ cũ, nợ mới là nợ mới, đường đường là Đại Ngụy, lẽ nào lại quỵt nợ của họ ư?”
“Vũ An Quân đại nhân!” Bạch Hổ cũng đã bực mình. “Đạo làm ăn buôn bán, coi trọng công bằng, nợ tiền phải trả, mua bán tự do, là phép tắc hiển nhiên. Nay ta thiếu nợ không trả, người Hàn không chịu, cũng là lẽ thường tình.”
“Đủ rồi!” Bàng Quyên gần như gầm lên.
“Đại nhân...” Bạch Hổ cũng giận, mặt đỏ phừng phừng, hừ mũi một tiếng, quên bẵng là mình đang ở trong cung, đứng phắt dậy, quay người, sải bước đi luôn.
“Than ôi!” Nhìn theo bóng dáng giận dữ của Bạch Hổ xa dần, Trương Nghi cố tình thở dài một tiếng. “Tư đồ đại nhân dựa vào thế lực nào mà dám coi ngự thư phòng của đại vương như hậu hoa viện nhà mình thế kia!”
“Soạn chỉ!” Huệ Vương nghe Trương Nghi nói vậy thì giận run người, quay sang tỳ nhân. “Tạm bãi chức tư đồ của Bạch Hổ, để hắn đóng cửa sám hối một tháng.”
Đêm đã về khuya, trong từ đường Bạch gia, một ngọn đèn leo lét, vài nén hương cháy dở.
Bạch Hổ quỳ trước linh vị Bạch Khuê, không khóc lóc, không kể lể, chỉ quỳ lặng phắc như một pho tượng.
Lão quản gia đã đứng phía sau Bạch Hổ rất lâu, khẽ gọi: “Chúa công?”
Bạch Hổ vẫn im lìm bất động, như thể không nghe thấy.
“Chúa công!” Lão quản gia đưa tay lau nước mắt, càng hạ thấp giọng hơn nữa. “Giờ đã qua canh ba, phòng phu nhân... vẫn sáng đèn, hẳn là đang chờ chúa công.”
Bạch Hổ đứng dậy, rồi lại quỳ xuống, cứ thế vài lần, hành đại lễ ba lạy chín dập đầu, lễ xong, bèn lấy bài vị của Bạch Khuê xuống, cẩn thận để vào trong một chiếc rương đã chuẩn bị từ trước.
“Chúa công định... định làm gì vậy?” Lão quản gia ngỡ ngàng.
“Gia lão!” Bạch Hổ mắt ngấn lệ nhìn sang. “‘Thi’ có câu, ‘chẳng đoái đến ta, ta tìm cõi tốt’. (2) Nơi này chúng ta ở quá lâu rồi, đã đến lúc phải chuyển đi nơi khác. Sáng sớm mai, gia lão hãy sắp xếp nhân lực, thu dọn hành trang, chuẩn bị xe ngựa. Ngày kia, vào lúc gà gáy, chúng ta sẽ rời thành.” Rồi lấy ra một bọc vải đỏ, đưa lại. “Còn ấn tỷ này, hãy sai người mang tới phủ thượng khanh, nhờ thượng khanh chuyển lên đại vương giúp.”
Lão quản gia hai tay đỡ lấy ấn thụ, nước mắt tuôn rơi. Bạch Hổ lê bước nặng nề, chậm chạp tiến về phía cửa phòng.
Phu nhân Khởi Y đang đứng trước cửa.
“Phu quân!” Khởi Y hỏi. “Chúng ta sẽ đi đâu?”
“Dương Địch nước Hàn.”
“Chúa công!” Lão quản gia sửng sốt, vội vã bước lại gần. “Dương Địch không thể đến, nhất thiết không thể đến được đâu! Nếu chúa công muốn đi, hãy tới Định Đào nước Tống!”
“Tại sao?” Bạch Hổ hỏi.
“Chúa công!” Lão quản gia sắc mặt lo âu. “Sở dĩ thương nhân lớn nhỏ ở Dương Địch cho Ngụy mua chịu, chỉ có thể vì hai nguyên nhân, thứ nhất là nể mặt nhà họ Bạch, thứ hai là nhờ thân phận tư đồ của chúa công. Nay chúa công không làm tư đồ nữa, nhà họ Bạch cũng từ lâu không còn buôn bán kinh thương, thì khoản nợ vài nghìn dật của nước Ngụy, chúa công tới đó, chẳng phải là...”
“Lời gia lão rất phải!” Bạch Hổ khẽ cười, đáp lời. “Sở dĩ thương khách lớn nhỏ ở Dương Địch chịu bán nợ cho ta, là nhìn vào thân phận tư đồ của Bạch Hổ. Bạch Hổ giờ đây không làm tư đồ nữa, về tình về lý, cũng nên tìm các thương khách kia nói cho rõ ràng, còn muốn đánh muốn phạt thế nào, cứ để họ quyết định.” Rồi nhìn sang Khởi Y. “Phu nhân, có phải không?”
“Phu quân!” Khởi Y gật đầu, nắm chặt tay Bạch Hổ. “Khởi Y nghe theo phu quân. Bất luận phu quân tới đâu, dù có lên rừng đao hay xuống biển lửa, Khởi Y cũng nguyện đi theo.”
Buổi sáng hôm sau, Chu Uy hay tin Bạch Hổ bỏ đi, vội vã chạy tới, khuyên can năm lần bảy lượt, Bạch Hổ vẫn khăng khăng không nghe. Chu Uy đành gạt nước mắt từ biệt, quay trở về phủ, càng nghĩ càng buồn bã, cộng thêm lao lực tích tụ trước đây, sức khoẻ lại càng suy sụp, bèn quyết định cáo bệnh không lên triều.
“Con sẽ theo phụ thân tới Dương Địch?” Bàng Quyên ngỡ ngàng nhìn Bạch Khởi, giờ đã cao ngang mắt mình.
“Vâng!” Bạch Khởi trịnh trọng gật đầu.
“Lúc nào lên đường?”
“Gà gáy sáng mai, khi cổng thành mở.”
Bàng Quyên đi tới đi lui trong phòng, rồi đột nhiên dừng lại, đặt tay lên vai Bạch Khởi: “Khởi Nhi, con đừng đi Dương Địch, được không?”
“Tại sao?”
“Nghĩa phụ không muốn để con đi!”
“Vì sao nghĩa phụ lại không muốn Khởi Nhi đi?” Bạch Khởi nghiêng đầu nhìn hắn.
“Bởi vì... bởi vì...” Bàng Quyên ngắc ngứ một hồi, mới tiếp. “Nghĩa phụ không nỡ xa con! Nghĩa phụ muốn giữ con lại bên mình, muốn con trở thành một tướng quân thực thụ, bách chiến bách thắng.”
“Giống như nghĩa phụ ư?” Bạch Khởi mở to mắt hỏi. “Không giống!” Bàn tay Bàng Quyên càng ấn mạnh hơn xuống vai Bạch Khởi. “Nghĩa phụ tin chắc con dứt khoát sẽ hơn cả nghĩa phụ!”
“Nghĩa phụ dựa vào đâu mà tin chắc như vậy?”
“Vì khởi điểm của con là ở trên vai nghĩa phụ!”
“Nghĩa phụ, cho phép Khởi Nhi suy nghĩ, được chăng?” Bạch Khởi ngẩng đầu khẩn cầu.
“Không được, con phải lập tức trả lời nghĩa phụ, con có muốn trở thành một vị tướng quân vô địch vượt qua cả nghĩa phụ, tung hoành liệt quốc hay không?”
“Khởi Nhi muốn, trong mơ Khởi Nhi cũng muốn!” Bạch Khởi dừng lại một lát, rồi lại đổi giọng. “Nhưng... Khởi Nhi không thể nhận lời nghĩa phụ!”
“Ồ?” Bàng Quyên ngồi thụp xuống, hai mắt nhìn chăm chăm vào Bạch Khởi. “Nói cho nghĩa phụ biết, tại sao?”
“Vì nếu con ở lại, sẽ không thể tận hiếu với cha con!”
“Vậy... con không muốn tận hiếu với nghĩa phụ ư?”
“Nghĩa phụ chỉ là nghĩa phụ, cha con mới là phụ thân. Thân là nhân, nhân lớn hơn nghĩa, phải không?”
Bàng Quyên vốn không có con cái, nghe vậy khác nào bị ai bóp nghẹt lấy tim, hồi lâu sau mới cười gượng một tiếng: “Được, nhân lớn hơn nghĩa. Nghĩa phụ không nói chuyện này nữa. Nghĩa phụ không muốn con đi, còn vì một nguyên nhân khác, con có muốn nghe không?”
“Nghĩa phụ cứ nói!”
“Cha con tới Dương Địch, là tự tìm đường chết, hẳn con đã biết? Nghĩa phụ không cho con đi, là không muốn con đi vào chỗ chết!”
“Tại sao?”
“Là vì cha con nợ thương nhân Dương Địch rất nhiều vàng, giờ tới Dương Địch lại không một xu dính túi, chắc chắn sẽ rất nguy hiểm!”
“A?” Bạch Khởi kinh hãi, hồi lâu sau mới thốt nổi nên lời. “Cha con vì sao lại nợ người ta nhiều vàng đến vậy?”
“Vì đất nước. Võ binh cần có giáp trụ, cung nỏ, sắt, những thứ này phần lớn đều mua của thương nhân Dương Địch. Nhưng chúng ta không có nhiều tiền đến thế, cha con bèn lấy thân phận tư đồ ra bảo đảm!”
Bạch Khởi trầm ngâm suy nghĩ.
Hồi lâu, Bạch Khởi ngẩng đầu, trịnh trọng nhìn Bàng Quyên: “Hồi bẩm nghĩa phụ, nếu như vậy, Khởi Nhi càng phải đi!”
“Ồ?”
“Cha nợ con trả, là thiên kinh địa nghĩa. Cha con thiếu nợ, bỏ mình trả nợ, là nghĩa. Thân là trưởng nam, thân là thần dân nước Ngụy, nếu Khởi Nhi trốn tránh, với cha mẹ là bất hiếu, với đất nước là bất trung, với chủ nợ là bất nghĩa. Nghĩa phụ lẽ nào muốn Khởi Nhi trở thành một kẻ bất hiếu, bất trung, bất nghĩa?”
Thấy Bạch Khởi tuổi còn nhỏ mà đã nói ra được những lời như vậy, Bàng Quyên vô cùng chấn động, khẽ xoa đầu Bạch Khởi, nói: “Bạch Khởi giỏi lắm!” Rồi quay người vào trong phòng, lấy ra sáu chương “Binh pháp Ngô Khởi” mà năm xưa mình đã lén lút chép trộm từng chữ một, đưa cho Bạch Khởi. “Bộ ‘Binh pháp Ngô Khởi’ này là do Quỷ Cốc tiên sinh truyền thụ cho nghĩa phụ khi còn ở trong Quỷ Cốc, nay nghĩa phụ tặng lại cho con! Đợi tám năm nữa, khi con trưởng thành khôn lớn, hãy quay lại tìm nghĩa phụ bất cứ lúc nào, nghĩa phụ sẽ đem toàn bộ học vấn bình sinh truyền thụ cho con!”
“Tạ ơn nghĩa phụ ban sách!” Bạch Khởi hai tay nhận lấy, quỳ xuống dập đầu cảm tạ, sau đó lấy từ trong ngực áo ra một bông hoa sen bằng ngọc, hai tay dâng lên, nói. “Mồng ba tháng sau là sinh nhật của nghĩa mẫu, bông hoa này Khởi Nhi đặt người làm cho nghĩa mẫu từ ba tháng trước, nay sự việc cấp bách, đành kính tặng lên trước, nhờ nghĩa phụ thay con dâng tặng nghĩa mẫu!”
“Vật quý trọng thế này, hẳn tiêu tốn không ít tiền vàng, con... lấy đâu ra tiền?”
“Là tiền mừng tuổi của Khởi Nhi. Mỗi khi Tết đến, nghĩa phụ, nghĩa mẫu, phụ thân, mẫu thân, còn có lão quản gia, Chu đại nhân, đều mừng tuổi Khởi Nhi kha khá, Khởi Nhi tích cóp lại, dùng toàn bộ để đặt làm bông hoa sen này.”
“Khởi Nhi!” Bàng Quyên mắt nhoè lệ, hít sâu một hơi, khẽ ôm Bạch Khởi vào lòng, nói. “Con đã có lòng như vậy, vì sao không vào trong phòng, tận tay tặng cho nghĩa mẫu?”
“Khởi Nhi không dám gặp người!”
“Vì sao?”
“Sợ nghĩa mẫu đau lòng!”
Bạch Khởi tuột ra khỏi vòng tay Bàng Quyên, phủ phục xuống đất, lại lạy vài cái nữa, sau đó quay bước rời đi, không ngoảnh đầu lại.
Từ sau khi Bạch Hổ bỏ đi, Bàng Quyên không còn kiêng dè gì nữa, lấy danh nghĩa Huệ Vương soạn ra một bức quốc thư, gửi tới Hàn Vương, lời lẽ cũng coi là thành khẩn, trước hết thuật lại tình hữu hảo lâu đời giữa hai nước Ngụy, Hàn, cảm tạ Hàn Vương đã trợ giúp Ngụy thất, tiếp đến thỉnh cầu Hàn Vương tiếp tục hợp tác như xưa, rồi gửi kèm theo một bản danh sách liệt kê những thứ cần Hàn thất cung ứng, đều là vật tư cần thiết cho quân đội, bên trên áp ngọc tỷ của Ngụy Vương, lại thêm tỷ ấn của Vũ An Quân.
Vào năm Trương Nghi chinh phục Ba, Thục, nước Hàn gặp đại hạn, dân chúng khốn quẫn, Chiêu Vương Hàn Vũ cả đời tằn tiện, lúc này lại không thương xót dân đói khổ, điên rồ hạ chỉ cho bề tôi tiêu tốn vô khối tiền bạc, hưng công rầm rộ, xây dựng một toà lầu xa hoa ở cổng tây cung thành, sử gọi là Cao Môn. Động thổ không hợp thời, trời ắt gieo quả báo. Nước Sở có cao nhân dự đoán Chiêu Vương không thể qua được Cao Môn, quả đúng như vậy, Chiêu Vương đã băng hà đúng vào ngày Cao Môn khánh thành.
Kế tục ngôi vị là trưởng nam của Chiêu Vương, Tuyên Huệ Vương, bái Công Trọng Xỉ làm tướng quốc, Hàn Cử làm tả tư mã, cai quản tam quân, bổ nhiệm hậu duệ của Thân Bất Hại là Thân Sai làm tư đồ, kiêm cai quản công xưởng các nơi.
Nhận được quốc thư của Đại Ngụy, Tuyên Vương đọc đi đọc lại, do dự khó quyết, nhìn vào tỷ ấn của Vũ An Quân Bàng Quyên đóng trên quốc thư, càng khiến Tuyên Vương cảm thấy như có luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Suy ngẫm hồi lâu, Tuyên Vương cho gọi ba triều thần Công Trọng Xỉ, Hàn Cử và Thân Sai lại bàn kế ứng phó.
Ba vị trọng thần đọc xong thư, đều lấy làm tức giận, đặc biệt là Thân Sai phụ trách công xưởng.
“Bàng Quyên ức hiếp ta quá đáng!” Thân Sai phẫn nộ khó kham, giận dữ nói. “Người Ngụy còn nợ ta vài nghìn dật, nhiều nhà xưởng ở Dương Địch do không còn tiền mua vật liệu, hoặc là sắp lụn bại, hoặc là đã đóng cửa, thương nhân lớn nhỏ hễ nghe nhắc đến Ngụy là mặt mày biến sắc, chẳng ai còn muốn kinh doanh với người Ngụy nữa! Các chủ mỏ sắt ở Nghi Dương do thương nhân Dương Địch khất nợ mà đã ngừng cung cấp hàng, có kẻ còn đóng cả mỏ khoáng.”
“Tư đồ nói rất phải!” Công Trọng Xỉ hùa theo. “Tiền bạc của thần dân, vương thất tiêu tốn gần nửa, đa phần dựa vào tiền thuế của thương nhân Dương Địch. Nay người Ngụy nợ tiền không trả, thương nhân Dương Địch oán thán khắp nơi, người Ngụy không thấu hiểu nỗi khổ của ta, đã lần lữa thì chớ, giờ lại đòi hỏi ngang ngược, chuyện này mà nhịn được thì còn chuyện gì không nhịn được đây!”
“Tạm gác chuyện nợ nần sang một bên,” Hàn Cử hai mắt dừng lại trên quốc thư, “thần cho rằng, bán binh khí cho người Ngụy rất không thoả đáng. Ngụy, Hàn tuy như môi với răng, song Ngụy cậy mình thế mạnh, chưa từng xem ta là đồng minh. Thứ Ngụy dựa vào, chính là võ binh và hổ bôn. Thứ ta sợ hãi, cũng chính là võ binh và hổ bôn. Trải qua hai trận Hàm Đan, Quế Lăng, võ binh và hổ bôn tổn thất nặng nề, sở dĩ Bàng Quyên muốn ta gấp rút cung ứng vật tư, là vì muốn chấn hưng võ binh và hổ bôn. Nếu ta cung cấp, chính là lắp cánh cho hổ, càng khiến thế Ngụy mạnh thêm.”
“Than ôi, những điều này làm sao quả nhân lại không biết?” Tuyên Vương thở dài một tiếng, chỉ vào quốc thư nói. “Hiện tại ta yếu Ngụy mạnh, giả sử không đồng ý với Ngụy, lỡ Bàng Quyên khởi binh đánh ta, biết làm thế nào đây?”
“Ta sợ gì kia!” Hàn Cử đấm thẳng xuống mặt bàn. “Trận Quế Lăng, võ binh mười phần chết sáu, hổ bôn mười phần chết tám, Bàng Quyên đã không còn gì để cậy vào nữa, ta đường đường là Đại Hàn, việc gì phải sợ?”
Tuyên Vương ngoảnh đầu nhìn sang Công Trọng Xỉ.
“Đúng như Hàn tướng quân nói,” Công Trọng Xỉ gật đầu đáp, “thế Ngụy đã suy, Bàng Quyên không còn phong quang nữa, đại vương chớ nên lo lắng.”
“Vậy cứ theo ý các khanh!” Tuyên Vương vốn sẵn bực bội trong lòng, nghiến răng mà nói. “Thỉnh cầu chư vị hãy chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương, đào hào dựng luỹ, quả nhân sẽ cự tuyệt Ngụy Anh, cùng lắm là đánh một trận mà thôi!”
Hay tin Bạch Hổ tới Dương Địch, thương nhân lớn nhỏ lũ lượt kéo đến, vòng trong vòng ngoài bao vây kín mít quán trọ nơi Bạch gia đang ở.
“Chư vị phụ lão, chư vị huynh đệ, chư vị đại nhân!” Bạch Hổ nhảy lên trên một chiếc bàn đá trong sân, ôm quyền chào hết một vòng, nói. “Tại hạ Bạch Hổ, con trai của Bạch Khuê người Ngụy, tư đồ nước Ngụy, cách đây chục ngày, do nhiều nguyên do, đã treo ấn tư đồ, dắt díu gia quyến từ Đại Lương tới đây...”
Lời còn chưa dứt, đã bị đám đông ầm ĩ chặn ngang: “Bạch Hổ, đừng phí lời nữa, mau trả tiền cho ta!”
“Tư đồ hay không thì có liên quan gì đến ta? Đã tới đây rồi, mau mang tiền ra trả!”
“Bạch tư đồ, cả nhà ta từ lớn đến bé chỉ trông chờ vào chút nghề buôn bán này, giờ nợ nần chồng chất, làm sao mà sống nổi đây?”
“Chúng ta đều vì nể mặt nhà họ Bạch nên mới chịu làm ăn, đây là phép tắc kinh doanh của nhà họ Bạch các người ư?”
“Bạch tư đồ, cầu xin tư đồ, hãy cứu lấy cả nhà tôi...”
Không biết ai là người quỳ xuống đầu tiên, đám người cứ thế lũ lượt quỳ theo, chốc lát, trong sân ngoài cổng, người tới đòi nợ đã quỳ chật kín.
Bạch Hổ cũng “phịch” một tiếng quỳ xuống theo, nước mắt giàn giụa.
Một đám thanh niên xông thẳng vào sân, cầm theo gậy gộc đao kiếm, rẽ đám người ra, lao tới phía trước bàn đá, tên cầm đầu chụp lấy Bạch Hổ, dí kiếm vào cổ, lớn tiếng gầm lên: “Họ Bạch kia, nói mau, ngươi nợ tiền mồ hôi nước mắt của chúng ta, có chịu trả hay không?”
Người cầm đầu không phải ai khác, chính là Sái Vi, con trai của Sái Đà, người giàu có nhất Dương Địch. Trong khoản tiền khổng lồ mà nước Ngụy đang nợ, phần lớn là của họ Sái, được coi là chủ nợ lớn nhất của Bạch Hổ ở Dương Địch.
“Trả!” Bạch Hổ đã nhận ra hắn, nói khẽ. “Tại hạ nhất định sẽ trả!”
“Trả thì tốt rồi, Bạch đại tư đồ, tiền đâu?”
“Tại hạ... không có tiền.”
“A? Không có tiền, ngươi lấy gì để trả? Định tới giễu cợt người Dương Địch bọn ta hẳn?” Sái Vi ghì đầu Bạch Hổ xuống.
“Không phải thế!” Bạch Hổ gắng sức rướn thẳng cần cổ lên, ngẩng cao đầu. “Tại hạ muốn dùng cái mạng này để gán nợ, được chăng?”
“Ha ha ha!” Sái Vi bật cười vài tiếng, nhìn về phía đám đông, nói. “Phụ lão hương thân, các vị đều nghe rõ cả chứ, đại tư đồ nước Ngụy Bạch Hổ, con trai thiên hạ đệ nhất thương gia Bạch Khuê, nợ tiền quỵt không trả thì chớ, lại còn dám vác mặt tới Dương Địch, nói là lấy mạng để gán nợ, còn hỏi chúng ta có được không? Phụ lão hương thân, các vị nói xem, có được không?”
“Không được!” Đám người đồng thanh trả lời.
“Nghe rõ chưa?” Sái Vi thẳng tay giật ngược tóc Bạch Hổ lên, khiến Bạch Hổ đau đến nghiến răng nghiến lợi. “Họ Bạch kia, ta vào nam ra bắc, cũng đã gặp không ít kẻ quỵt nợ, song chưa từng gặp ai lấy mạng ra gán nợ như ngươi! Ta hỏi ngươi, ngươi không quan không chức, trong người không có lấy một đồng, cái mạng đã bèo bọt đến vậy, thì đáng bao nhiêu vàng đây? Một trăm dật? Một nghìn dật? Họ Bạch kia, ngươi nợ Dương Địch tổng cộng ba nghìn dật đấy!”
Ba nghìn dật vàng chẳng khác nào một lời nguyền khủng khiếp, úp chụp xuống đầu mỗi chủ nợ.
Khắp sân lặng phắc.
Không biết do quá kích động, hay do quá đau đớn, Sái Vi thả lỏng bàn tay đang túm tóc Bạch Hổ.
Bạch Hổ nước mắt đầm đìa, cúi gằm mặt xuống.
Chính vào thời khắc lặng phắc này, bỗng “rầm” một tiếng phía xa xa. Mọi người quay đầu nhìn, thấy một thằng bé tung người nhảy vọt ra từ một ô cửa sổ vừa bị đẩy tung, đứng vững chãi dưới đất. Tiếp đến, một thiếu phụ cũng chui ra qua ô cửa sổ, được đứa trẻ kia đỡ lấy, bước xuống đất.
Không nói cũng biết, đó là Khởi Y và Bạch Khởi vừa bị Bạch Hổ khoá trái trong phòng.
Hai mẹ con dìu nhau, chậm rãi tiến lại.
Hai mẹ con bước tới trước bàn đá, Bạch Khởi đẩy Sái Vi ra, đỡ mẹ giẫm lên bàn đá, quỳ xuống bên cạnh Bạch Hổ, sau đó cũng nhảy lên trên, đứng ở bên kia Bạch Hổ.
“Chư vị phụ lão hương thân!” Bạch Khởi vòng tay về phía đám đông giống như một người lớn thực thụ. “Tại hạ Bạch Khởi, Bạch Hổ là thân phụ của tại hạ. Người bên cạnh là thân mẫu của tại hạ. Nợ tiền phải trả, đó là thiên kinh địa nghĩa. Tuy nhiên, oan có đầu, nợ có chủ, nợ các vị số tiền lớn ba nghìn dật kia, không phải là nhà họ Bạch chúng tôi, mà là Ngụy Vương; làm ăn với các vị, cũng không phải là nhà họ Bạch chúng tôi, mà là tư đồ nước Ngụy do Ngụy Vương bổ nhiệm. Thân phụ Bạch Hổ của tại hạ, mười ngày trước là tư đồ của nước Ngụy, hiện giờ đã bị Ngụy Vương cách chức, không còn là tư đồ nữa. Bạch Hổ đã không còn là tư đồ, chư vị cứ bám riết lấy nhà họ Bạch chúng tôi, là vì lẽ gì? Có gan thì tới thẳng Đại Lương mà đòi nợ.”
Lời của Bạch Khởi hợp tình hợp lý, khiến đám người đứng ngẩn tò te, đưa mắt nhìn nhau.
“Ồ?” Sái Vi bị đẩy sang một bên giờ mới bừng tỉnh, trợn trừng mắt, chỉ vào Bạch Khởi quát lớn. “Thằng nhãi con, mới tí tuổi đầu mà mồm mép liến thoắng gớm nhỉ!” Rồi rút đánh soạt từ trong ống tay áo ra một bản khế ước. “Thằng nhãi, mở to mắt ra mà đọc bản khế ước này đi, là ai ký tên bảo đảm? Chính là thân phụ Bạch Hổ của ngươi đó! Thằng nhãi, có hiểu thế nào là bảo đảm không? Có hiểu thế nào là ký tên không? Có hiểu cóc khô gì đâu mà ở đó nói năng hùng hổ, thoạt nghe ra, đúng là quỵt nợ mà vẫn già mồm thật đấy!”
“Được rồi, là tại hạ không hiểu.” Bạch Khởi ngẩng cao đầu, hai mắt nhìn thẳng vào hắn, chỉ vào đầu mình. “Thử nói xem, cái đầu này của tại hạ, đáng giá bao nhiêu vàng?”
“Ngươi...” Sái Vi lùi lại một bước.
“Tráng sĩ không ra giá, thì tại hạ tự ra giá vậy!” Bạch Khởi nhìn vào đám người, dõng dạc nói. “Tại hạ Bạch Khởi, đã sống trên thế gian này qua mười hai cái xuân thu, giờ có một cái đầu này, xin ra giá ba nghìn dật vàng, nay bán cho chư vị có mặt ở đây, để bồi thường món nợ của nước Ngụy, các vị tự lấy hay là tại hạ dâng lên, xin tuỳ ý các vị!”
Đám người lại một phen chấn động.
“Thằng ranh!” Sái Vi cáu tiết. “Cái mạng hèn của ngươi, đào đâu ra cái giá ba nghìn dật?”
“Xin hỏi tráng sĩ,” Bạch Khởi cười khẩy một tiếng, “mạng của tại hạ không đáng ba nghìn dật, vậy đáng bao nhiêu?”
“Cùng lắm một dật!”
“Tại hạ trả ba dật, mua mạng của tráng sĩ, thế nào?”
“Ngươi...” Sái Vi giận điên người.
“Nhìn vào tuổi tráng sĩ, chắc cũng tầm ba chục, nay nói ra lời này, đúng là sống uổng ba mươi năm!” Bạch Khởi cười nhạt một tiếng, quay về phía đám đông. “Sinh mạng người ta là do tinh huyết cha mẹ dưỡng dục, do thiên địa nhật nguyệt tôi rèn, mỗi người chỉ có một mạng. Khổng Khâu nước Lỗ có nói, ngoài cái chết ra, chẳng có gì là chuyện lớn. Có nghĩa là, con người ta sống ở trên đời, không gì hệ trọng bằng cái chết. Chết đàng hoàng cũng chẳng bằng sống tạm qua ngày, đói một ống cơm, khát một gáo nước, thế là đủ. Dù có nghìn dật, vạn dật, nếu phải chết đi, cũng có ích gì?” Chỉ vào Sái Vi. “Tại hạ ra giá cho sinh mạng quý báu của mình chỉ ba nghìn dật, người này lại chê đắt, thương nhân như vậy, thực là xấu hổ cho người Dương Địch!”
Sái Vi thẹn quá hoá giận, lùi lại hai bước, rút phăng bội kiếm, đang định ra tay, thì từ ngoài cổng bỗng vọng vào tiếng quát: “Vi Nhi, không được vô lễ!”
Đám đông quay cả lại nhìn, thảy đều sửng sốt.
Một ông lão đang lẩy bẩy đứng bên cổng, cạnh ông ta là lão quản gia của nhà họ Bạch.
Không cần hỏi cũng biết, ông lão kia chính là Sái Đà. Đám đông rẽ ra một lối đi, Sái Đà và lão quản gia chầm chậm tiến vào.
Sái Vi tra kiếm vào bao, tiến lên trước vài bước, thận trọng đỡ lấy ông lão.
“Cha, sao cha lại tới đây?”
Sái Đà chậm rãi bước tới phía trước Bạch Hổ, quay người lại, hơi vòng tay hướng về phía đám đông: “Các vị chủ nợ, Sái Đà tới đây, có lời muốn nói!” Rồi chỉ vào lão quản gia. “Nghe lão đệ nói, Bạch gia vì Ngụy thất mà đứng ra vay nợ rất nhiều tiền bạc, tính sơ sơ cũng tới ba nghìn dật, theo lão phu tính toán, trong đó của lão phu là một nghìn năm trăm dật, các hộ khác một nghìn năm trăm dật. Khoản nợ của lão phu, lão phu sẽ tự tính toán, còn khoản nợ của các vị, lão phu có một mỏ sắt ở Nghi Dương, ước tính trị giá hơn hai nghìn dật, tạm lấy đó để bảo lãnh cho Bạch gia!”
“Cha!” Sái Vi tức giận đến méo cả giọng. “Cha... cha hồ đồ mất rồi ư? Khoản nợ là của Bạch gia bọn họ, có làm sao lại phải đem cả mỏ khoáng của nhà ta ra bảo lãnh!”
“Cha không hồ đồ!” Sái Đà chỉ vào cả nhà Bạch Hổ. “Bởi lẽ mỏ khoáng mà con vừa nói, vốn là của Bạch gia!” Rồi quay sang Bạch Hổ, quỳ sụp xuống, dập đầu mà nói. “Chúa công ở trên, xin nhận của lão bộc Sái Đà một lạy!”
Sự việc thình lình khiến hết thảy những người Dương Địch có mặt đều kinh ngạc đến ngây thộn, đừng nói là Sái Vi, mà cả nhà Bạch Hổ, kể cả lão quản gia đã theo Bạch gia bao nhiêu năm cũng phải sững sờ.
“Cha!” Sái Vi hoàn hồn lại đầu tiên. “Cha nói mỏ khoáng đó là của Bạch gia, hẳn có bằng chứng?”
“Không có bằng chứng!” Sái Đà chậm rãi đáp lời.
“Vậy... không có bằng chứng, dựa vào đâu mà nói mỏ đó là của Bạch gia?”
“Dựa vào cái này!” Ông lão đưa tay chỉ vào một vết sẹo nơi góc trán. “Tiên tổ của ta là công tộc nước Sái, cách đây hơn trăm năm, Sái bị người Sở tiêu diệt, người trong tộc mấy đời đều phải làm nô bộc của công tộc họ Chiêu nước Sở, ta vừa sinh ra, đã bị thích một chữ ‘Chiêu’ ở chỗ này. Tiên chúa công Bạch Khuê đại nhân chu du tới Sở, buôn bán với Chiêu môn, thấy ta nói năng hoạt bát, tâm địa thực thà, đã bỏ ra một khoản tiền lớn chuộc ta về, sai người xoá chữ ‘Chiêu’ này đi, dạy cho ta đạo kinh thương, giao tất cả việc kinh doanh ở Dương Địch cho ta, song lại không hề cho người ngoài biết. Mười hai năm trước, tiên chúa công lại âm thầm sai ta tới Nghi Dương, mua lấy mỏ khoáng này, và dặn ta, bất luận Bạch gia xảy ra chuyện gì, cũng không được để lộ chuyện này, trừ khi hậu duệ Bạch gia chạy nạn tới Dương Địch! Nay tiểu chúa công chạy nạn tới đây, tính mệnh ngàn cân treo sợi tóc, đã ứng với lời tiên đoán của tiên chúa công rồi!” Lại giơ tay vẫy Sái Vi. “Vi Nhi, lại đây, hãy bái lạy cả nhà chúa công!”
Sái Vi thoắt cái đã từ chủ thành tớ, cứ thế đứng chết trân, lúc này nghe thấy tiếng gọi, mới thẫn thờ bước lại, chật vật quỳ xuống bên cạnh cha, người cứng đờ như khúc gỗ mà dập đầu sát đất.
Đám đông không ai không xuýt xoa cảm động, thảy đều vái lạy cả nhà họ Bạch và lão nghĩa bộc Sái Đà.
Nhận được thư cự tuyệt của nước Hàn, dù Hàn Tuyên Vương lời lẽ rất uyển chuyển, song vẫn khiến Bàng Quyên nổi giận đùng đùng, tức tốc tới phủ tướng quốc, vứt toẹt quốc thư của Hàn Vương xuống trước mặt Trương Nghi, nói: “Trương huynh, hãy đọc đi!” Rồi nện thẳng nắm đấm vào cột trụ. “Mới làm vua có mấy ngày, nói năng đã không biết trời cao đất dày, thực khinh người quá đáng!”
Quốc thư này được gửi tới phủ tướng quốc trước tiên, rồi do phủ tướng quốc trình lên Ngụy Vương, sau đó mới đến tay Bàng Quyên, nên Trương Nghi đương nhiên đã đọc.
Trương Nghi chính là đang chờ đợi chuyện này.
“Theo ý Bàng huynh,” Trương Nghi liếc xéo quốc thư, “hẳn là muốn phạt Hàn?”
“Từ lâu đã muốn phạt rồi, chỉ là...” Bàng Quyên lại đấm vào cột trụ.
“Chỉ là sao?” Trương Nghi khẽ cười một tiếng. “Nước Tần gửi tới tin vui, ba vạn thạch lương từ đất Thục đã vận chuyển tới kho lương Hà Tây, tại hạ đang định bẩm báo lên đại vương, để tới chở về.”
“Tốt quá!” Bàng Quyên hai mắt sáng rực, song lại lập tức tối sầm xuống, thở dài một tiếng. “Than ôi, Trương huynh, thứ tại hạ cần, không chỉ là lương thực, còn cần thứ khác quan trọng hơn kia!”
“Bàng huynh cứ nói!”
“Hai vạn bộ giáp trụ võ binh!” Bàng Quyên gằn mạnh từng tiếng.
“Bàng huynh bao giờ thì cần?”
“Đương nhiên càng nhanh càng tốt!”
“Trong vòng ba tháng, tại hạ sẽ chuẩn bị đủ cho Bàng huynh, được chăng?”
“Gì kia?” Bàng Quyên trợn trừng hai mắt. “Trong vòng ba tháng? Hai vạn bộ giáp trụ?” Rồi cười nhăn nhó. “Trương huynh đang đùa đấy phải không?”
“Tại hạ đã bao giờ đùa Bàng huynh chưa?” Trương Nghi vẫn tươi cười.
“Được rồi!” Bàng Quyên thôi cười, hai mắt nhìn chòng chọc vào Trương Nghi. “Dám hỏi Trương huynh, xin hỏi Trương huynh, huynh không phải thần tiên, làm sao có thể trong vòng ba tháng chế tạo ra hai vạn bộ giáp trụ?”
“Tại hạ không thể, song người Tần có thể!” Trương Nghi thu lại nụ cười, giọng chắc nịch.
“Người Tần?” Bàng Quyên vỗ đầu. “Đúng là tại hạ lại không nghĩ đến. Tuy nhiên, chế tạo giáp trụ không phải chuyện nhỏ, ngộ nhỡ người Tần không chịu thì sao?”
“Dựa vào miệng lưỡi của tại hạ, dựa vào thể diện của Bàng huynh, và cả thành ý của Ngụy Vương, Tần Vương làm gì có chuyện không chịu?”
“Vậy tại hạ tin Trương huynh!” Bàng Quyên đảo con ngươi một vòng. “Còn phải cậy nhờ Trương huynh xin thêm cho vài thứ, để tránh đơn điệu!”
“Bàng huynh còn muốn gì?”
Bàng Quyên cầm bút, chóng vánh kê ra một bản danh sách, đưa cho Trương Nghi.
“Được lắm!” Trương Nghi đọc bản kê, chau tít đôi mày. “Năm nghìn cung nỏ, năm vạn mũi tên, một vạn cây thương! Bàng huynh được lắm, huynh coi người Tần là binh công xưởng của nhà mình thật đấy ư?”
“Ha ha ha!” Bàng Quyên cười vang mấy tiếng, vòng tay nói. “Trương huynh đã mở miệng vàng, thì cũng nên xin nhiều nhiều một chút, kẻo không người Tần lại dị nghị, cười chê miệng lưỡi của Trương huynh không dẻo, thể diện của tại hạ không lớn, thành ý của đại vương không đủ.”
“Bàng huynh thực đúng là được chân lân đến cổ!”
“Tại hạ không lân đến đầu là đã nể mặt người Tần lắm rồi!” Bàng Quyên lại cười. “Thử nghĩ mà xem, lần trước đại vương muốn tại hạ phạt Tần, tại hạ lại nghe theo lời Trương huynh, quay sang phạt Triệu, đã tiết kiệm cho người Tần bao nhiêu thứ. Nay tại hạ phạt Hàn, người Tần chỉ phải bỏ ra có chút xíu này, đã là...”
“Được rồi được rồi!” Trương Nghi vội vòng tay. “Tại hạ bái phục Bàng huynh!” Rồi bước sang bên cạnh thay trang phục. “Tại hạ không tán hươu tán vượn với Bàng huynh nữa, giờ lập tức vào cung xin đại vương ban cho sứ tiết!”
Hay tin sứ Ngụy Trương Nghi tới Hàm Dương, Tần Huệ Vương dẫn đám bề tôi thân tín Tư Mã Thác, Sư Lý Tật, công tử Hoa, Cam Mậu ra tận ngoài thành nghênh đón. Quân thần gặp nhau, bốn mắt giao nhau, nghìn vạn điều muốn nói đều trong chỗ không lời.
Vua tôi cùng lên vương xa, trở về cung, vào trong chính điện, chiếu theo cấp bậc mà ngồi vào chỗ.
“Chúa thượng!” Trương Nghi ngồi xuống, nhìn quanh triều đường quen thuộc, cười nói. “Thần đã khá lâu không được ngồi ở chốn này.”
“Phải!” Huệ Vương mỉm cười, chỉ vào chỗ ngồi của Trương Nghi. “Sau khi ái khanh đi rồi, vị trí này vẫn luôn để trống!”
“Tạ ơn đại vương yêu mến!” Trương Nghi cảm tạ, nín thở ngưng thần, rồi kể hết một lượt mọi chuyện trong cung Ngụy cho Huệ Vương nghe, đặc biệt là tình cảnh khó khăn trước mắt, cuối cùng nói. “Lần này thần đi sứ tới đây, là muốn xin một số tín vật.”
“Ái khanh cứ nói!”
“Ba vạn thạch lương, hai vạn bộ giáp trụ, năm nghìn cung nỏ, năm vạn mũi tên, một vạn cây thương sắt! Các vật khác, cũng xin đại vương xem xét tình hình mà cung cấp.”
“Trương huynh!” Tư Mã Thác giật mình sửng sốt. “Huynh xin nhiều thứ như vậy để làm gì?”
“Không phải tại hạ xin, mà là Bàng Quyên thỉnh cầu!” Trương Nghi đáp.
“Bàng Quyên?” Tư Mã Thác kinh ngạc. “Hắn cần những thứ đó để làm gì?”
“Phạt Hàn!”
Quân thần đều hít vào một hơi, đưa mắt nhìn nhau.
Hồi lâu sau, Huệ Vương trịnh trọng gật đầu: “Bàng tướng quân đã có thỉnh cầu, quả nhân ân chuẩn.”
“Thần còn có một lời thỉnh cầu.” Trương Nghi nhìn thẳng vào Huệ Vương.
“Cứ nói!”
“Khi Bàng Quyên phạt Hàn, thần thỉnh cầu đại vương hãy giao ước tấn công Nghi Dương nước Hàn, nhằm chiếm lấy kinh đô sắt thép, khiến người Hàn đầu đuôi khó lòng tiếp ứng.”
“Hàn, Ngụy xung đột,” Huệ Vương trầm ngâm một lát, nói, “là chuyện riêng của Tam Tấn họ, nếu ta trực tiếp nhúng tay vào Nghi Dương là không thoả đáng. Có điều, ta cũng có thể dàn quân ở Hào Hàm, áp sát Nghi Dương, khiến quân ở Nghi Dương không còn rảnh rang mà lo cho phía đông. Khanh hãy bàn bạc với Bàng Quyên, bảo hắn tốt nhất hãy nhường lại ba ấp Thiểm, Tiêu, Khúc Ốc, để ta tiện bề triển khai quân đội!”
“Thần tuân mệnh!” Trương Nghi đáp. “Có điều, thế Ngụy đã suy yếu, lại thêm ba nước Triệu, Tề, Sở như hổ đói rình rập, thần e Bàng Quyên một mình khó lòng chống đỡ, chẳng còn dũng khí phạt Hàn. Bởi vậy, thần cho rằng, ta chỉ dàn quân uy hiếp Nghi Dương là chưa đủ, còn phải thỉnh cầu đại vương uy hiếp Thượng Đảng mới được. Ta có đại quân ở bên, giả sử người Hàn thực sự dám điều quân Thượng Đảng, Nghi Dương tới Trịnh Thành hộ giá, tướng sĩ ta sẽ lập tức thừa cơ đánh vào, bất luận chiếm được Nghi Dương hay Thượng Đảng, đối với đại vương đều là thu hoạch bất ngờ.”
“Chuẩn tấu thỉnh cầu của ái khanh.” Huệ Vương phẩy tay ân chuẩn, rồi nhìn Trương Nghi. “Ái khanh trở về thật đúng lúc, quả nhân đang có vài chuyện muốn bàn với khanh, phần lớn đều liên quan tới nước Sở, mà bất lợi cho ta.”
“Thần cung kính lắng nghe.”
“Thứ nhất, Huệ Thi tới Sở, được Sở Vương phong làm khách khanh, trong triều ngoài nội hô hào liên minh Tề đánh Tần, dần thành thế lực. Thứ hai, tướng Tề Điền Kỵ bỏ trốn sang Sở, nương náu vào nhà họ Cảnh, trấn giữ Uyển Thành. Thứ ba, Sở Vương Hùng Thương ốm liệt giường, nếu đúng như suy đoán, hẳn không qua khỏi tháng này, thái tử Hùng Hoè đương nhiên sẽ kế vị.”
“Sự việc cuối cùng, có lẽ chính là phúc của đại vương!” Trương Nghi tiếp lời.
“Ồ?”
“Thần hiểu Hùng Hoè còn hơn cả hiểu đại vương!”
Huệ Vương thoạt tiên ngỡ ngàng, tiếp đó cười vang: “Được lắm, được lắm, ái khanh đã nói như vậy, quả nhân không có gì phải lo lắng nữa.”
“Hồi bẩm đại vương!” Trương Nghi vòng tay, trầm giọng đáp lời. “Ngụy vì hai trận chiến Hàm Đan, Quế Lăng mà hao tổn nặng nề, lần này lại phạt Hàn, thế lực kiệt quệ, đại vương sẽ không còn phải lo lắng nữa. Triệu, Tề đều tổn thương, trong vòng dăm ba năm, nguyên khí khó lòng hồi phục. Trong vài năm tới, đối thủ thực sự của ta chính là người Sở. Bởi vậy, thần cho rằng, không thể để Huệ Thi ở Sở. Ngoài ra, Bàng Quyên phạt Hàn, Triệu không đủ sức cứu, Sở nếu có đại tang, có lẽ sẽ không xuất binh, cứu Hàn chỉ có thể là Tề. Tôn Tẫn đã chết, lính năm đô chỉ Điền Kỵ mới có thể chỉ huy, bất luận thế nào, ta cũng không thể để Điền Kỵ quay trở về Tề. Nếu không, Hàn, Tề giáp công, Bàng Quyên khó mà thủ thắng. Nếu Bàng Quyên lại thất bại lần nữa, hắn có lẽ sẽ bị đuổi khỏi Ngụy, đại kế liên hoành coi như sắp thành lại hỏng.”
“Theo quả nhân biết, giỏi cách đuổi người, thứ nhất là ái khanh, thứ hai là Trần Chẩn. Nay Trần Chẩn ở Sở, Huệ Thi và Điền Kỵ cũng ở Sở, quả nhân có thể khiến Trần Chẩn lập hai công này.”
“Thần lại không hy vọng.” Trương Nghi khẽ nhếch mép. “Trần Chẩn là kẻ hai lòng, nay ở đất Sở, hẳn đã phản bội Tần!”
“Đúng như lời ái khanh nói,” Huệ Vương khẽ gật đầu, “Trần Chẩn tới Sở, rồi cũng theo Sở. Chỉ có điều trước mắt, Trần Chẩn vẫn nợ quả nhân một món nợ ân tình, quả nhân không có yêu cầu gì khác, chỉ nhờ hắn đuổi hai kẻ cản đường kia đi, hẳn hắn cũng không đến nỗi không nể mặt quả nhân!”
“Như vậy thì tốt quá, thần cung kính chờ tin vui!”
Màn đêm dần buông, Huệ Vương nghĩ cho Tử Vân, nên không giữ Trương Nghi ở lại yến ẩm.
Trương Nghi về phủ, Tử Vân quả nhiên đang ngóng đợi, hai người nhìn nhau, Tử Vân vui mừng quá đỗi mà rơi lệ. Sau một đêm mặn nồng, vừa sáng hôm sau, Tử Vân dậy trước, tất bật chuẩn bị hành trang.
“Phu nhân, nàng bận rộn gì thế?” Trương Nghi ngạc nhiên nhìn Tử Vân hỏi.
“Chẳng phải phu quân muốn về Ngụy rồi ư? Tử Vân sẽ đi cùng!”
“Không được!” Trương Nghi kinh hãi kêu lên.
“Tại sao?” Tử Vân dừng tay hỏi.
“Bởi vì,” Trương Nghi chớp mắt vài cái, “phu nhân ở Tần, nhà của Nghi cũng ở Tần, Nghi sẽ không suy nghĩ vẩn vơ, đương nhiên sẽ dốc hết sức lực vì Tần. Nếu phu nhân theo Nghi tới Ngụy, thì nhà của Nghi sẽ ở Ngụy chứ không phải ở Tần nữa.”
“Ồ...” Tử Vân ngẩn ngơ.
“Nghi đã nói rõ rồi, phu nhân có tới Ngụy hay không, hãy tự mình quyết định!”
Tử Vân cúi đầu ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi lòng đã định, ngẩng đầu nhìn Trương Nghi: “Phu quân đã nói như vậy, Tử Vân sẽ không theo tới Đại Lương nữa, chỉ ở nhà chờ đợi phu quân, ngày ngày cầu phúc cho phu quân!”
“Như vậy mới phải!”
Trương Nghi cười vang mấy tiếng, ở trong phủ đúng ba ngày, tới ngày thứ tư, bèn nói với Tử Vân: “Phu nhân, Nghi đã tạm biệt vương huynh, quyết định hôm nay lên đường, trở về Đại Lương. Trên đường đi, Nghi muốn vào trong núi một chuyến, ghé thăm Hương Nữ, nên nói trước với nàng một tiếng.”
“Tử Vân cũng có ý này!” Tử Vân thực lòng đáp. “Nếu như không chê, Tử Vân xin được theo cùng.”
“Nghi thay mặt Hương Nữ cảm tạ phu nhân nhớ đến!” Trương Nghi vòng tay nói. “Chỉ có điều, nếu phu nhân đi, tuy nghìn vạn cái tốt, song lại có một cái dở, đó là Hương Nữ e rằng khó tu thành đạo.”
Tử Vân cúi đầu, không nói gì thêm. Đúng vậy, suy bụng ta ra bụng người, nếu nàng là Hương Nữ, cũng không muốn gặp người đàn bà đã ngang nhiên cướp mất chồng mình.
Trương Nghi để đám tuỳ tùng trong sứ đoàn Ngụy lưu lại Hàm Dương, cùng người Tần bàn bạc cụ thể chuyện giao lương thực, giáp trụ, còn mình tới núi Chung Nam, đợi trong nhà cỏ của Hàn Tuyền Tử suốt ba ngày trời, song Hương Nữ vẫn nhất quyết không chịu gặp.
Trương Nghi thở ngắn than dài, đành để lại thuốc cao trị phong thấp mà mình đã đổ bao công sức tìm kiếm lại chỗ Hàn Tuyền Tử, rồi rầu rĩ xuống núi, xuất ải Hàm Cốc.
Trở về Đại Lương, Trương Nghi kể lại cho Bàng Quyên nghe quá trình đi sứ sang Tần và thành quả thu được, khiến Bàng Quyên sung sướng đến cười không khép nổi miệng.
“Có điều,” Trương Nghi đổi giọng, “Tần Vương cũng muốn có đi có lại!”
“Đương nhiên, đương nhiên!” Bàng Quyên cười nói. “Người Tần xưa nay vẫn vậy, không chịu thiệt bao giờ. Trương huynh cứ nói đi, Tần Vương muốn báo đáp gì, đừng quá đáng là được!”
“Muốn ta rút quân khỏi ải Lâm Tấn, lùi về Hà Đông, cùng Tần lấy Hà Thuỷ làm giới tuyến, đồng thời trả lại cho Tần ba ấp Thiểm, Tiêu, Khúc Ốc bên ngoài ải Hàm Cốc.”
“Chuyện này...” Bàng Quyên hít ngược vào một hơi.
“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng. “Tại hạ đã nói hết lời, nhưng Tần Vương không chịu nhượng bộ. Có điều, Tần Vương cũng có lời hứa hẹn!”
“Hứa hẹn gì?”
“Cho đại quân đóng ở ba ấp Thiểm, Tiêu, Khúc Ốc, dựa lưng vào Hàm Cốc, chĩa mũi nhọn vào Nghi Dương, khiến quân Hàn ở Nghi Dương không dám xao nhãng phòng thủ, giảm bớt áp lực cho Bàng huynh. Ngoài ra, nếu đại vương đồng ý cho mượn đường, Tần Vương nguyện xuất một vạn tinh binh tới Hà Đông, đe doạ Thượng Đảng, khiến quân trấn giữ Thượng Đảng không dám vọng động!”
Bàng Quyên nhắm mắt, suy nghĩ hồi lâu, rồi ngẩng lên nói: “Ải Lâm Tấn có thể nhường, còn ba ấp Thiểm, Tiêu, Khúc Ốc, ta chỉ có thể nhường một, là Khúc Ốc, giữ lại hai ấp Thiểm, Tiêu để bảo vệ bến đò. Còn quân Hàn ở Thượng Đảng, đã có quân đóng ở An Ấp lo liệu, không phải phiền tới người Tần.”
“Bên ngoài ải Hàm Cốc, chỉ nhường cho người Tần một ấp, tại hạ e khó lòng ăn nói. Bàng huynh xem thế này được không, nhường thêm một ấp nữa, là Tiêu Ấp, ta chỉ giữ lại Thiểm Ấp, nơi này vừa hay ở chính giữa hai bến đò, trái phải đều được bảo vệ.”
“Ồ!” Bàng Quyên trợn tròn mắt. “Này Trương huynh, huynh là tướng quốc nước Ngụy mà lại đi cò kè mặc cả với tại hạ giống như người Tần là sao?”
“Than ôi, Bàng huynh!” Trương Nghi cười nhăn nhó. “Bây giờ là chúng ta đi cậy nhờ người Tần, chứ không phải người Tần tới cậy nhờ chúng ta. Nếu người Tần bằng lòng, tại hạ còn mong họ nhường luôn cả Hàm Dương cho ta kia.” Rồi hạ thấp giọng. “Hơn nữa, Bàng huynh mà mượn được người Tần giáp trụ, lương thảo, binh khí, nếu không có điều bất trắc, ta có thể một đòn đánh tan nước Hàn, chiếm lấy kinh đô và Dương Địch của họ, cái khác không nói tới, chỉ riêng Dương Địch...” Nói rồi, khẽ nhịp ngón tay xuống mặt bàn.
“Được rồi!” Bàng Quyên đáp lời. “Cứ theo ý Trương huynh, chỉ có điều, sự việc hệ trọng, chúng ta cần bẩm báo lên đại vương, do đại vương quyết định!”
Hai người vào cung, tấu báo lên Ngụy Huệ Vương.
“Trương ái khanh!” Huệ Vương lời lẽ cũng giống hệt Bàng Quyên. “Khanh có thể đi sứ sang Tần thêm chuyến nữa, thương lượng lại với Tần Vương xem có thể giữ lại ải Lâm Tấn hay không. Nơi đó... vùi chôn vài vạn thi thể tướng sĩ ta, Thanh minh hàng năm, cũng phải có chỗ cho mọi người tới cúng tế!”
Trương Nghi hiểu rõ lòng dạ của Huệ Vương, không phải vì cúng tế, mà là vì vẫn còn nặng lòng với Hà Tây, bèn cười gượng một tiếng, nói: “Đại vương, thần đã nói hết lời với Tần Vương rồi, quân ta rút lui khỏi ải Lâm Tấn, nhường lại toàn bộ Hà Tây là yêu cầu bất di bất dịch của người Tần. Tần Vương ngay từ đầu đã nhắc tới yêu cầu này. Hơn nữa, thần cho rằng, Tần, Ngụy chia sông mà trị, cũng không phải không thể. Chừng nào ải Lâm Tấn còn trong tay ta, Tần Vương sẽ không thể ngủ ngon, cứ suy từ ta mà ra...”
“Được rồi, được rồi!” Huệ Vương bực bội ngắt lời. “Muốn quả nhân nhường ải Lâm Tấn cũng không phải không thể, song người Tần cần xuất thêm ba vạn thạch lương nữa. Nếu quả nhân nhớ không nhầm, ba vạn thạch lương mà người Tần cung cấp lần này đều dùng để cứu đói, khanh và Bàng tướng quân ngày ngày tấu báo phạt Hàn, quả nhân kiểu gì cũng không thể để ba quân tướng sĩ bụng rỗng mà xuất chinh được!”
Bàng Quyên lấy làm thán phục trước yêu cầu mà Huệ Vương vừa đưa thêm, ánh mắt khẩn thiết nhìn sang Trương Nghi.
“Thần lĩnh chỉ, sẽ lập tức dâng tấu lên Tần Vương!” Trương Nghi vòng tay đáp.
Sau khi Trương Nghi gửi thư đi, Ngụy Vương và Bàng Quyên đã phải bất ngờ vì Tần Vương không những đồng ý cấp phát thêm ba vạn thạch lương, mà còn tặng thêm năm nghìn ngựa chiến Tây Nhung và một trăm người dạy cưỡi ngựa, khiến Bàng Quyên vô cùng phấn khởi.
Có tiền có lương, Bàng Quyên đã yên tâm chuẩn bị chiến sự. Ngụy Vương cũng liên tục hạ chỉ, khen thưởng quân công, phàm những hộ có người nhập ngũ, ngoài việc được hưởng ưu đãi đặc biệt về sưu thuế như đã ban bố trước đây, còn lập tức thưởng ngay một thạch lương. Lúc này nạn đói đang khốc liệt, người đói đầy đường, nên thanh niên đua nhau nhập ngũ, vừa có thể giảm bớt miệng ăn cho gia đình, lại có thể kiếm thêm chút lương thực. Trước sau chưa đầy một tháng, Bàng Quyên đã chiêu mộ được hơn năm vạn thanh niên cường tráng, lại từ trong tam quân và số người vừa nhập ngũ tuyển lựa được hai vạn tráng sĩ, bổ sung vào võ binh, giao do Thanh Ngưu huấn luyện.
Phạt nước lớn, về lý mà nói, cần chuẩn bị ba năm. Vậy mà, Bàng Quyên như thể một năm cũng không chờ nổi, vừa mới hết vụ thu, đã dâng tấu phạt Hàn.
Sau khi Huệ Thi, Bạch Hổ bỏ đi, Chu Uy cáo bệnh, trong triều đình đa phần là vây cánh của Trương Nghi, Bàng Quyên, đều là phe chủ chiến, không nghe thấy một lời phản đối. Nhìn quần thần sục sôi khí thế, Ngụy Huệ Vương cũng thoả chí mãn nguyện, hạ chỉ phạt Hàn, lại chọn ngày đẹp tế lễ Thái miếu, phong Bàng Quyên làm chủ tướng, công tử Tự làm phó tướng, thái tử Thân làm giám quân, Thanh Ngưu làm tiên phong, Trương Nghi phụ trách lương thảo, phát tam quân tám vạn, tế cờ xuất chinh.
Sách lược của Bàng Quyên là chia quân Ngụy thành hai lộ, một lộ theo lối Hình Sơn, dọc theo thung lũng sông Dĩnh Thuỷ chọc thẳng tới Dương Địch, chiếm lấy trọng trấn binh xưởng và kinh thương của Hàn; một lộ từ Đại Lương tiến thẳng tới Tân Trịnh, bức ép Hàn Vương ký kết minh ước dưới thành.
Đúng như kế hoạch, Bàng Quyên chia ba quân tám vạn thành hai lộ, Bàng Quyên và thái tử Thân chỉ huy năm vạn trung quân và hữu quân, tấn công Trịnh Thành. Công tử Tự dẫn ba vạn tả quân tới Hình Sơn, cùng với quân trấn thủ Hình Sơn hợp sức tấn công Dương Địch.
Tam quân sắp sửa khởi hành, thái tử Thân vốn dĩ chẳng hề mong muốn xuất chinh, lại càng không muốn phạt Hàn, vậy mà lại bị Huệ Vương một lần nữa bổ nhiệm làm giám quân, sẵn trong lòng buồn bực, lại thêm đúng vào sáng sớm hôm làm lễ tế cờ lại mơ một giấc mộng chẳng lành, nên vào lúc chỉ còn cách thời khắc xuất chinh một canh giờ, tức tốc đánh xe tới phủ Chu Uy từ biệt.
Chu Uy đúng là đổ bệnh thật, đã chục hôm rồi vẫn chưa thể xuống giường, nghe nói thái tử giá đáo, thì gắng gượng ngồi dậy, định xuống giường hành lễ, song thái tử Thân ngăn lại.
“Điện hạ xuất chinh, lão thần đáng lẽ phải tới tiễn chân, nào ngờ...” Chu Uy cười ảo não.
“Bệnh của ái khanh là lo lắng cho giang sơn xã tắc, việc cần trước mắt là nghỉ ngơi dưỡng sức, còn những chuyện khác, chỉ là phù phiếm mà thôi!” Thái tử Thân ngồi xuống bên giường, trên mặt lộ vẻ buồn bã và bất lực.
“Nhìn khí sắc của điện hạ, dường như có tâm sự.”
“Mọi việc đều tốt, chỉ là sáng sớm nay, trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Thân đột nhiên mơ thấy một chuyện lạ, nên trong lòng thấp thỏm không yên.”
“Dám hỏi là chuyện lạ thế nào?”
“Thân dẫn quân phạt Hàn, đi qua một vùng đất lạ,” thái tử Thân hồi tưởng lại giấc mơ, “Thân đứng trên xe chiến, đang tiến về phía trước, bỗng xuất hiện một ông lão râu dài chắn ngang đường, hỏi: ‘Người trên xe phải chăng là thái tử nước Ngụy?’ Thân vội dừng xe, vòng tay thi lễ, nói: ‘Chính là Ngụy Thân. Tiên sinh hạ cố gặp Thân, có gì căn dặn?’ Ông lão quê mùa kia bèn nói: ‘Thái tử dẫn binh, hẳn là phạt Hàn?’ Thân đáp: ‘Đúng vậy. Thân phụng vương mệnh, dẫn quân phạt Hàn.’ Ông lão nói: ‘Tại hạ là Từ Sinh người Ngoại Hoàng, có thuật bách chiến bách thắng, thái tử có muốn nghe chăng?’ Thân đáp: ‘Quả nhân muốn nghe!’ Từ Sinh bèn nói: ‘Thái tử nói xem, vật quý trong thiên hạ, có thứ gì hơn được vương vị không?’ Thân đáp: ‘Quả nhân chưa từng nghe nói.’ Từ Sinh bèn nói: ‘Thái tử đã quý là thái tử, nay lại dẫn quân phạt Hàn, là không sáng suốt. Nếu may mắn chiến thắng, chẳng qua chỉ là xưng vương mà thôi, ngộ nhỡ không thắng thì sao?’ Thân nói: ‘Xin tiên sinh chỉ giáo!’ Từ Sinh bèn nói: ‘Thu quân quay về Lương, thái tử sẽ tránh được tai hại do thất bại, ngồi mà hưởng vương vị, thuật bách chiến bách thắng của lão hủ chính là như vậy.’ Thân vòng tay nói: ‘Tuyệt diệu! Quả nhân xin nghe theo lời chỉ giáo của tiên sinh, lập tức lui quân.’ Từ Sinh không nói gì nữa, một tay vuốt râu, một tay chỉ vào đầu Thân, cười vang mấy tiếng, rồi cưỡi gió lướt đi. Thân bừng tỉnh, mới biết là mơ, nhớ lại ông lão kia mà kinh hãi. Đúng là thần tiên.”
Chu Uy khép mắt trầm ngâm.
“Khi tế cờ, Thân đột nhiên thấy tức ngực, tim đập thình thình, nhớ lại giấc mơ ban sáng, cảm thấy rất đỗi hoang mang. Phạt Hàn sẽ phải tới đất Hàn, người chặn đường Thân lại xưng là Từ Sinh ở Ngoại Hoàng, hẳn vùng đất xa lạ kia chính là Ngoại Hoàng không sai. Ngoại Hoàng ở phía đông nam Đại Lương, không ở trên đường phạt Hàn. Hơn nữa, những lời Từ Sinh kia nói, cũng rất chính xác. Thân không tham gì ngôi cửu ngũ, chỉ là phạt Hàn thực sự trái với tâm nguyện của Thân. Phụ vương nghe theo Bàng Quyên, Trương Nghi, gây chiến với bên ngoài, không thương xót dân chúng lầm than, cứ thế lâu dần, đất nước sẽ nguy. Nay phụ vương lệnh cho Thân làm giám quân, Thân không phục tùng, là bất hiếu với cha, bất trung với nước, mà nếu Thân phục tùng, lại trái với tâm nguyện. Thân tiến thoái lưỡng nan, thực sự rối bời.
“Điện hạ có tấm lòng thương xót, thực là may mắn cho người Ngụy.” Chu Uy lại ngồi dậy, chật vật xuống giường. “Đại vương đang lúc u mê, xin điện hạ hãy giúp lão thần một tay, dìu lão thần vào cung can gián đại vương thu hồi chỉ lệnh!”
“Than ôi!” Thái tử Thân thở dài một tiếng, khẽ lắc đầu, lại ấn Chu Uy ngồi xuống. “Chu ái khanh, khanh vẫn nên dưỡng bệnh là hơn. Đạo theo tự nhiên, mệnh do trời định. Cái gì tới, hãy cứ để nó tới, Thân đành thuận theo mệnh trời vậy thôi!”
Hồi Thứ 68
Giữ Điền Kỵ, Tần Vương nhờ người cầu Chiêu phủ
Bức Huệ Thi, Trương Nghi khiển sứ thuyết Sở Vương
Dù đã có chuẩn bị từ trước, song khi hay tin người Ngụy xuất binh thực, trong triều ngoài nội nước Hàn vẫn một phen chấn động. Từ vương công quý tộc đến nô bộc thường dân, trên mặt đều lộ rõ vẻ căng thẳng và kích động trước cuộc đại chiến sắp nổ ra, đừng nói là làm việc hay nói năng, mà đến cả dáng đi cũng khác, nhịp bước hối hả hơn hẳn thường nhật.
Căng thẳng nhất, kích động nhất, đương nhiên chính là Tuyên Huệ Vương vốn chưa hề kinh qua đại chiến kể từ sau khi lên ngôi. Tuyên Huệ Vương đi đi lại lại liên hồi trong cung điện, mặt cúi gằm, đôi mày nhíu chặt như hai con rết lớn.
Trên ngự án chính giữa đại điện, thù lù bản hịch văn tuyên chiến của nước Ngụy.
“Đại vương?” Tướng quốc Công Trọng Xỉ hai mắt nhìn chằm chằm vào Tuyên Huệ Vương không chớp, giọng nói rất khẽ, song vào thời khắc hệ trọng này lại hết sức rành rọt, vừa có ý nhắc nhở rằng mình đã chờ đợi quá lâu, cũng lại như trấn an vị quân vương trẻ tuổi đang ruột gan rối bời.
“Ái khanh!” Tuyên Vương lúc này cũng đã định thần, dừng bước chân lại. “Người Ngụy nói đánh là đánh ngay, khanh hãy nói xem, tình hình hiện tại, quả nhân nên ứng phó thế nào?”
“Quân tới tướng chặn, nước tới đất ngăn.” Công Trọng Xỉ gằn mạnh từng chữ.
“Ái khanh!” Tuyên Vương âu lo thấp thỏm. “Điều này thì quả nhân biết! Thế nhưng... đối thủ của chúng ta là võ binh Đại Ngụy, là Bàng Quyên, biết lấy gì để đối chọi đây? Biết dùng ai để chống đỡ Bàng Quyên đây? Hàn Cử ư? Thân Sai ư?”
“Thần nguyện làm chủ tướng, chống lại Bàng Quyên!”
“Khanh...” Tuyên Vương hít sâu một hơi, hai mắt nhìn sững vào Công Trọng Xỉ.
“Đại vương lẽ nào không tin vi thần?”
“Ồ!” Tuyên Vương cười gượng một tiếng, khẽ lắc đầu. “Ái khanh, đây là dẫn quân đánh trận, động đến đao thương đấy ái khanh...”
“Thần hiểu!” Công Trọng Xỉ bình thản đáp. “Thần tuy không giỏi đao thương, song có thể bày mưu tính kế trong trướng.”
“Dám hỏi ái khanh, sẽ dùng kế sách gì để đối phó với Bàng Quyên?”
“Tường cao hào sâu, lấy nhàn đối nhọc, tạm thời ứng phó, để chờ chi viện từ bên ngoài!”
“Chi viện từ bên ngoài?” Tuyên Vương lại cười não nề. “Ai tới chi viện đây? Người Sở ư? Người Tề ư? Người Triệu ư?”
“Đúng vậy!”
“Than ôi!” Tuyên Vương thở dài thườn thượt. “Ái khanh, khanh là lão thần, sao vẫn còn ngây thơ đến thế? Người Sở xưa nay bất hoà với ta, xây Phương Thành ở phía nam nước ta, thời cơ chưa thích hợp thì co đầu rụt cổ trong thành, đến lúc thời cơ thích hợp lại xông ra quấy nhiễu ta, cứ như hổ đói rình rập bên mình. Sau cuộc chiến Hàm Đan, người Triệu tổn thương nặng nhất, dù muốn cứu viện cho ta, cũng lực bất tòng tâm. Người Tề vốn có thể nhờ cậy, song Điền Kỵ bỏ đi rồi, Tôn Tẫn thì đột tử, không còn ai địch nổi Bàng Quyên nữa.”
“Đại vương!” Công Trọng Xỉ vẫn bình thản đáp. “Thần lại không nghĩ vậy. Thần cho rằng, người Ngụy phạt ta, ba nước Sở, Triệu, Tề ắt sẽ xuất binh cứu trợ, có ba lý do.”
“Ái khanh xin hãy nói rõ!” Tuyên Vương nhổm người về phía trước.
“Người Ngụy nợ tiền không trả, cậy mạnh phạt ta, là mất công nghĩa với thiên hạ. Mất công nghĩa với thiên hạ, thiên hạ cùng diệt, là đạo lý xưa nay, đây là lý do thứ nhất. Minh ước sáu nước hợp tung còn chưa bỏ, Ngụy lại hết lần này đến lần khác cấu kết với địch, thảo phạt nước hợp tung, rõ ràng khinh khi tung ước, đã mất chính nghĩa với thiên hạ. Mất chính nghĩa với thiên hạ, thiên hạ cùng diệt, là đạo lý xưa nay, đây là lý do thứ hai.”
Tuyên Vương cười buồn, nói: “Từ thời Xuân Thu đã không còn chữ nghĩa, huống hồ là ngày nay.”
“Đại vương nói chính phải!” Công Trọng Xỉ trầm giọng đáp lời. “Đừng nói là thời Xuân Thu, dù thời Tam Hoàng Ngũ Đế, thiên hạ cũng không có chiến tranh vì nghĩa. Tuy nhiên, duy có chữ nghĩa là cái cớ xuất binh tốt nhất, dấy binh chinh phạt, không thể thiếu chữ này. Người Ngụy thất nghĩa, chưa chiến đã kém thế rồi!”
“Được rồi!” Tuyên Vương không tranh luận nữa, nhìn Công Trọng Xỉ hỏi. “Hai lý do vừa rồi đều là chữ nghĩa, lý do thứ ba hẳn là chữ lợi!”
“Đại vương thánh minh!” Công Trọng Xỉ vòng tay đáp. “Tam Tấn giao chiến, có lợi cho cường Tần, bất lợi cho Tề, Sở. Tề, Sở bất lợi, ắt không chịu ngồi nhìn, lần trước người Tề vây Ngụy cứu Triệu, có thể thấy được đạo lý này. Tam Tấn lãnh thổ đan cài khăng khít, nương tựa vào nhau, môi hở thì răng lạnh, người Ngụy phớt lờ tình hữu hảo xưa nay, trước phạt Triệu, sau phạt Hàn, người Triệu phẫn nộ đã lâu, ắt sẽ xuất binh cứu ta.”
“Vậy thì tốt quá, quả nhân sẽ lập tức sai sứ đi cầu viện Tề, Sở, Triệu!”
“Theo ý thần, đại vương không cần thiết phải cầu viện ba nước này!”
“Ồ?” Tuyên Vương kinh ngạc. “Đã muốn ba nước ra tay cứu trợ, lại không cho quả nhân đứng ra cầu viện, ái khanh, rốt cuộc khanh muốn quả nhân làm gì đây?”
“Đại vương chỉ cần làm một việc.” Công Trọng Xỉ điềm nhiên nói. “Bình tĩnh ung dung, cố thủ chờ cứu viện!”
“Vậy... ai sẽ đi xin cứu binh đây?”
“Tướng quốc sáu nước, Tô Tần người Lạc Dương!”
Tuyên Vương trong lòng chấn động, ngẩng phắt lên hỏi: “Tô tướng quốc hiện đang ở đâu?”
“Có lẽ vẫn ở Hàm Đan.”
“Phái người ruổi ngựa báo cho Tô Tần!”
“Thần tuân chỉ!”
“Còn nữa, cuộc chiến chống Ngụy, ái khanh nếu là chủ tướng, ai sẽ là phó tướng?”
“Hàn Cử.”
Vốn dĩ chẳng cần báo tin, Tô Tần sớm đã hay tin ngay từ khi nước Ngụy xuất binh, là do Công Tôn Diễn sai người mang thư tới. Công Tôn Diễn làm theo uỷ thác của Chu Uy.
Hiển nhiên, việc Bàng Quyên, Trương Nghi hợp mưu phạt Hàn đã không được lòng người Ngụy.
Tô Tần vắt óc suy tính. Nhìn vào cục thế trước mắt, có thể địch nổi Bàng Quyên, chỉ mình Tôn Tẫn. Nhớ tới Tôn Tẫn, trước mắt Tô Tần bỗng vụt hiện ra hoàn thuốc kia. Tiên sinh sai tiểu đồng mang thuốc tới cho Tôn Tẫn, hiển nhiên đã đoán trước mọi chuyện sau này. Nghĩ đến phương thuốc của Quỷ Cốc Tử, Tô Tần bỗng có dự cảm chẳng lành. Nếu Tôn Tẫn tái xuất, thì Bàng Quyên coi như đến hồi chung cục.
Nghĩ tới hai chữ “chung cục”, Tô Tần bất giác rùng mình ớn lạnh.
Tuy nhiên, sự việc đã đến nước này, Tô Tần cũng chẳng còn biết phải làm sao. Trương Nghi xúi bẩy, Bàng Quyên ỷ mạnh, hai người cấu kết, không những gây trở ngại cho đại nghiệp hợp tung, mà còn gieo mầm hoạ cho thiên hạ. Mà tất cả những điều này, lại đều bắt nguồn từ việc năm xưa mình đã cố tình sắp đặt để tiến cử Trương Nghi.
Sớm biết như vậy, hà tất xưa kia. Tô Tần cười buồn một tiếng, khép hờ đôi mắt. Tất cả đều là tạo nghiệp, tất cả đều là số mệnh an bài. Nhớ lại quẻ bói của Quỷ Cốc Tử khi lần đầu tiên gặp mình trên phố Lạc Dương, và những chứng nghiệm sau này, Tô Tần không thể không tin vào thiên mệnh. Đã là thiên mệnh an bài, Tô Tần hắn hà cớ chi lại làm trái ý trời?
Tô Tần suy nghĩ lao lung suốt một đêm ròng, cuối cùng chủ ý đã quyết, bèn lên đường tới Tống.
Tô Tần nói đi là đi ngay, Thu Quả ngỡ ngàng chết lặng.
Thấy Tô Tần đã bước ra tới cổng, xe ngựa của Trâu Phi Đao chờ sẵn bên ngoài, Thu Quả đang sững sờ đột nhiên hét to một tiếng: “Gượm đã!” Rồi quay người chạy vào phòng, tiện tay quơ nháo nhào một gói hành trang, lại vội vã chạy đuổi ra ngoài.
“Thu Quả?” Tô Tần nhìn sững vào nàng.
“Quả Nhi cũng muốn đi!”
“Có biết cha đi đâu không?” Tô Tần cười hỏi.
“Không biết!”
“Không biết vẫn muốn đi theo?”
“Quả Nhi... Quả Nhi không biết tiên sinh đi đâu, nhưng Quả Nhi biết tiên sinh đi xa. Quả Nhi... Quả Nhi không muốn ở nhà một mình!” Thu Quả mím môi. “Quả Nhi nghĩ kỹ rồi, từ nay về sau, tiên sinh đi đâu, Quả Nhi sẽ theo đó!”
“Ồ...” Tô Tần lo lắng. “Cha tới Tống, đường đi trắc trở gian nan, con phận nữ nhi, đi thế nào được!”
“Nghĩa phụ!” Thu Quả đã tìm ra lý do. “Chính vì trắc trở gian nan, Quả Nhi mới phải đi theo, bên cạnh nghĩa phụ không thể thiếu Quả Nhi, bên cạnh Quả Nhi cũng không thể thiếu nghĩa phụ!”
Thấy Thu Quả liên miệng gọi “nghĩa phụ” và sự quan hoài của Thu Quả dành cho mình, trong lòng Tô Tần bỗng trào dâng một cảm giác lạ lùng, không tránh khỏi niềm chua xót.
“Quả Nhi!” Tô Tần nhìn thẳng vào nàng, nói. “Cha đi lần này, trước hết tới Tống, sau đó tới Lâm Truy, xa xôi nghìn dặm, dãi gió dầm sương, con phận nữ nhi yếu đuối, nếu như đi theo, chưa tính đến vất vả nhọc nhằn, mà còn có nhiều bất tiện. Con hãy về đi, đợi cha tới Lâm Truy ổn định rồi, sẽ bảo Trâu thúc quay lại đón con!”
“Trâu thúc?” Thu Quả nhìn sang Trâu Phi Đao cười dịu dàng. “Quả Nhi chỉ gọi là Trâu đại ca thôi! Trâu đại ca, đúng không?” Rồi ném phắt túi hành lý lên xe, nhún nhẹ một cái, đã đứng vững vàng trước mặt Tô Tần.
Trâu Phi Đao cũng cười, rồi ra roi thúc ngựa.
“Quả Nhi!” Tô Tần kinh ngạc nhìn Thu Quả. “Con biết võ công?”
“Vâng!” Thu Quả cười nói. “Quả Nhi chỉ biết một môn công phu, phi thân!”
“Công phu tuyệt diệu, học lúc nào thế?”
“Lần trước nghĩa phụ tới Yên, nghĩa phụ nói một tháng sẽ trở về, nào ngờ đi liền ba tháng, Quả Nhi rảnh rỗi không có việc gì làm, đã bái sư Viên đại ca học võ. Viên đại ca hỏi Quả Nhi muốn học công phu gì, Quả Nhi nói, chỉ học một công phu, là phi thân. Vừa rồi để lộ một ngón, khiến nghĩa phụ đại nhân chê cười rồi.”
“Phi thân được lắm.” Tô Tần khen ngợi. “Nói thử xem, vì sao muốn học công phu này?”
“Ngộ nhỡ có người hành thích nghĩa phụ, Quả Nhi nhảy vọt lên cao, có thể đỡ ám khí cho nghĩa phụ!” Thu Quả nghiêng mặt nhìn Tô Tần.
“Quả Nhi...” Tô Tần trong lòng chấn động, kêu lên. “Con đừng có ngốc nghếch như thế, sẽ không có ai hành thích cha đâu!”
“Quả Nhi chỉ nói ngộ nhỡ thôi mà!”
Mấy người trò chuyện rôm rả suốt dọc đường đi, chưa tới bảy ngày, xe ngựa đã đến Định Đào, dừng lại bên ngoài một con ngõ nhỏ. Trâu Phi Đao dẫn ngựa đi nghỉ ngơi, còn Tô Tần, Thu Quả vào trong con ngõ, gõ một cánh cửa gỗ đơn sơ.
Người mở cửa là Mộc Thực.
Hai người theo Mộc Thực tới hậu viện, thấy Tôn Tẫn và Thuỵ Mai nhàn tản ngồi trong sân, vui vẻ nhìn ngắm Tôn Nam đang chập chững tập đi. Con gái Tôn Cúc cầm một quả bóng gỗ sơn màu sặc sỡ, đứng nhử trước mặt Tôn Nam, Tôn Nam đứng im, Tôn Cúc cũng đứng im, Tôn Nam đi một bước, Tôn Cúc cũng lùi lại một bước. Thấy Tôn Nam đã sắp đuổi kịp, Tôn Cúc lại lùi vài bước, Tôn Nam rối lên, lao lên phía trước, song Tôn Cúc né sang một bên, khiến Tôn Nam ngã sấp xuống đất, khóc toáng lên. Tôn Cúc ném vội quả bóng gỗ đi, chạy lại định đỡ em dậy, song Tôn Tẫn đã ho khẽ một tiếng ngăn lại. Tôn Cúc bèn nhặt quả bóng lên, huơ huơ trước mặt Tôn Nam. Tôn Nam ngẩng đầu, quay sang nhìn Thuỵ Mai, nhưng Thuỵ Mai ngoảnh đi chỗ khác; lại nhìn Tôn Tẫn, Tôn Tẫn cũng nhắm mắt làm ngơ. Tôn Nam đành phải nín khóc, lồm cồm bò dậy, đứng lên.
Tô Tần vỗ tay khe khẽ.
“Tô huynh!” Tôn Tẫn ngoái đầu lại, mừng rỡ reo lên.
Tô Tần vái chào, nói: “Tô Tần bái kiến Tôn huynh, bái kiến tẩu phu nhân!”
Vợ chồng Tôn Tẫn đáp lễ, rồi cùng nhìn vào Thu Quả.
“Tôn bá phụ, Tôn bá mẫu, Quả Nhi xin có lễ!” Thu Quả khom lưng vái thật sâu.
“Đây là Thu Quả?” Thuỵ Mai hỏi.
“Vâng!” Thu Quả đáp lời. “Quả Nhi từ lâu đã nghe nghĩa phụ kể về Tôn bá phụ, Tôn bá mẫu, hôm nay được gặp, thực là vạn hạnh cho Quả Nhi!”
Thuỵ Mai bước tới trước mặt Thu Quả, ngắm nghía một hồi rồi khen ngợi: “Cô bé thật xinh đẹp, thảo nào Tô huynh thường xuyên nhắc tới!”
“Thật ư?” Thu Quả lộ vẻ mừng rỡ, vội hỏi. “Nghĩa phụ nhắc tới Quả Nhi khi nào? Nhắc như thế nào kia?”
Thuỵ Mai cười vui vẻ, thuật lại những chuyện Tô Tần đã kể về việc Thu Quả mấy lần cứu sống Tô Tần. Tôn Tẫn biết Tô Tần có việc mới tới đây, thấy hai người đang chuyện trò rôm rả, thì ra hiệu cho Mộc Thực đẩy xe lăn đi, cùng Tô Tần trở vào phòng khách trò chuyện.
“Tô huynh tới đây, hẳn là vì chuyện nước Hàn?” Tôn Tẫn nói thẳng vào chuyện chính.
“Đúng vậy!” Tô Tần kể sơ qua cục thế hiện tại, rồi lấy bức thư của Chu Uy ra, nói. “Đây là thư do Chu thượng khanh nhờ Công Tôn Diễn chuyển tới. Trương huynh đã đuổi Huệ Thi, bức Bạch Hổ bỏ Ngụy ra đi, Chu thượng khanh cũng cáo bệnh không lên triều. Trương huynh và Bàng huynh hợp sức liên hoành, phá hoại hợp tung của ta, dẫn tới chiến hoạ liên miên, thiên hạ không được yên bình. Bàng Quyên nay lại phạt Hàn, khiến sinh linh thêm đồ thán, hợp tung lần nữa lâm nguy. Khối nhọt mủ này, không thể không nặn bỏ. Người cản được Bàng Quyên, hiện chỉ có Tôn huynh, tại hạ tới đây, chính là để bàn kế cứu Hàn.”
“Than ôi!” Tôn Tẫn than thở. “Thực đúng là vận mệnh trêu ngươi. Tiên sinh sớm đã lường trước mọi chuyện, giữa tại hạ và Bàng huynh, xem ra đã không còn đường lui nữa, chỉ có thể quyết chiến mà thôi. Tại hạ chỉ lo lắng một điều, chính là dụng binh nơi nào, Tô huynh hẳn đã tính tới?”
“Không giấu Tôn huynh,” Tô Tần đáp lời, “nước Triệu vẫn chưa thể phục hồi sau trận chiến Hàm Đan, có thể xuất binh, song không đủ sức chiến đấu. Sở Vương băng hà, nước Sở tang tóc, hiện tại, Tôn huynh có thể dùng được, e vẫn chỉ có quân Tề!”
“Nhìn vào tình thế hiện tại, nước Ngụy đã như tên bắn hết tầm, võ binh cũng đã hết thời, đáng tiếc Bàng huynh vẫn không tỉnh ngộ, cứ hiếu dũng cậy mạnh như trước, không hiểu thời thế, một mực mơ tưởng giấc mộng Ngô Khởi năm xưa. Tại hạ có được quân Tề, đã đủ chống Ngụy, chỉ có điều...” Tôn Tẫn ngập ngừng.
“Tôn huynh cứ nói!”
“Trong trận Quế Lăng, quân năm đô có phần sợ hãi ý chí liều mình quyết tử của võ binh Ngụy, lại thêm Điền Kỵ bị hãm hại phải bỏ trốn, chẳng còn ai chế phục được quân năm đô nữa. Nếu giao chiến với Ngụy, Điền Kỵ tướng quân buộc phải trở về.”
“Điền Kỵ tướng quân hiện đang ở quận Uyển nước Sở, Khuất Tương Tử là người Sở, tại hạ đã phái Mộc Hoa báo tin cho Khuất Tương Tử. Khuất tiền bối sẽ đích thân ra mặt, tới Sở đón Điền tướng quân về.”
“Vậy thì tốt quá. Chúng ta sẽ ở đây đợi Điền tướng quân chăng?”
“Còn có một chỗ khó, chính là cung đình nước Tề. Quế Lăng thắng trận, đối với người Tề, chính là rửa được mối nhục Hoàng Trì, nay muốn nước Tề xuất binh lần nữa, chúng ta vẫn phải bỏ chút công sức! Tiếp nữa chính là chỗ Trâu tướng quốc, ông ta tuyệt đối sẽ không đồng ý xuất binh, huống hồ chúng ta lại mời Điền tướng quân quay về, khác nào đòi mạng ông ta!”
“Hiện tại không thể nghĩ nhiều đến vậy, tại hạ sẽ lập tức cùng Tô huynh tới Lâm Truy!”
Sở Uy Vương cuối cùng vẫn chết vì đan dược, là do một tiên nhân tên gọi Lăng Hư Tử ban cho, nghe nói uống vào có thể tóc hạc da hồng, cải lão hoàn đồng. Sở Uy Vương uống liền ba tháng, xem ra đúng là tóc hạc da hồng thực, thậm chí một độ hùng phong tái khởi, một đêm lâm hạnh năm lần vẫn không biết mệt. Song ngày tốt không dài, chưa đầy nửa năm, đầu tiên lỗ mũi chảy máu, tiếp đến đi tiểu ra máu, cuối cùng đại tiện ra máu. “Tiên nhân” trốn bặt tích, thần y khắp nơi đổ xô về, châm cứu thuốc thang đủ cả, song đều vô hiệu. Vào đúng ngày Hạ chí năm đó, Uy Vương băng hà ở đài Chương Hoa, nơi ông ta đã hưởng thụ đủ mùi cực lạc nhân gian.
Ba ngày sau, Hùng Hoè lên ngôi kế vị, quay mặt về nam xưng vương, đại xá thiên hạ, chiếu lệnh cả nước chịu tang. Ở nước Sở, chịu tang vua là đại sự hệ trọng, còn hơn cả chuyện chinh phạt. Phụ trách tang sự, đương nhiên là lệnh doãn Chiêu Dương, mà trợ thủ đắc lực giúp ông ta lo liệu mọi việc trước sau, đương nhiên là thượng khanh nước Tần Trần Chẩn hiện đang làm khách nước Sở, vốn rất thông thạo lễ nghi Trung Nguyên.
Từ sau vụ Thương Ngô Tử, Trần Chẩn thất sủng ở cung Sở, dù là Uy Vương hay thái tử, đều tỏ ra lạnh nhạt với ông ta, chỉ còn một mình Chiêu Dương là vẫn đối đãi như trước, song với Trần Chẩn, chỉ một Chiêu Dương đã quá đủ rồi. Đất Sở tuy rộng, song chẳng qua cũng chỉ ba dòng tộc, mà trong ba dòng tộc này, thao túng quyền bính Đại Sở hiện nay chính là họ Chiêu. Có họ Chiêu là có được Sở, được Sở là được thiên hạ, huống hồ hiện tại Trần Chẩn đã ngũ tuần, qua cái tuổi tung hoành thiên hạ từ lâu, tìm được một chỗ an thân trong thời loạn lạc, được chút nể vì, có miếng cơm ăn, là đã mãn nguyện lắm rồi.
Trần Chẩn đang tất bật vì họ Chiêu, bất đồ nhận được thư tay của Tần Huệ Vương do một người thần bí mang tới. Trong thư, trước tiên là những lời khách sáo, sau đó khẩn thiết cậy nhờ Trần Chẩn làm thêm hai việc cho Tần. Thứ nhất là tìm cách cản trở không cho Điền Kỵ về Tề, thứ hai là đuổi Huệ Thi khỏi Sở. Gửi kèm theo thư còn có một trăm hoàn vàng và một ít báu vật đất Tần.
Nhìn vào thư tay của Huệ Vương, lại ngẫm tới cục thế trước mắt, Trần Chẩn đoán chừng: “Hai sứ mệnh này đều có liên quan tới nước Ngụy, hẳn là do tay Trương Nghi kia xúi bẩy sau lưng. Nếu Ngụy phạt Hàn, người Tề ắt sẽ cứu viện, mà chỉ có Điền Kỵ mới có thể cầm quân. Nay Điền Kỵ ở Sở, Trương Nghi kia muốn ta giữ Điền Kỵ lại, chẳng qua là muốn gây khó dễ cho việc xuất binh của người Tề. Còn đuổi Huệ Tử đi, lại là chuyện đáng hả lòng hả dạ. Huệ Tử tới Ngụy tranh mất chức tướng quốc của ta, khiến ta gặp phải bao điều ngang trái. Lần này lão ta bị Trương Nghi bức ép ra đi, lưu lạc tới Sở, ta ít nhiều thấy hả dạ, xem ra đã quá nhỏ nhen. Huệ Thi ngần ấy tuổi rồi mà không chịu về Tống an hưởng tuổi già, lại vượt nghìn dặm xa xôi lặn lội tới Sở, rõ ràng là nuốt không trôi cục tức này, muốn mượn Đại Sở chế Tần, đấu với Trương Nghi. Than ôi, trời đã ban Huệ Tử cho ta, thế mà ta lại liên tục phá đám lão trước mặt Chiêu Dương hết lần này tới lần khác, quả thực không nên.”
Nghĩ tới đây, Trần Chẩn cầm bút chấm mực, hồi âm một thư, viết rằng: “Thần nhận được thủ bút của đại vương, vừa băn khoăn vừa mừng rỡ. Thần băn khoăn là vì, Chẩn hãm hại Trương Nghi tại Sở là phụng mệnh đại vương. Đại vương dùng Nghi, mà Nghi không dung thứ Chẩn, đại vương tin nghe Nghi mà đuổi Chẩn tới Sở, khiến Chẩn phải lang thang phiêu bạt, hoang mang như chó mất nhà. Thần vui mừng là vì, đại vương hiểu Chẩn, giữ Chẩn, dùng Chẩn, che chở Chẩn, nỗi niềm nhớ nhung tha thiết, đều hiện cả trong thư. Đại vương mệnh cho thần hai việc, một là giữ Điền Kỵ ở Sở, hai là đuổi Huệ Thi khỏi Sở. Giữ Điền Kỵ, thần ắt tận lực. Còn đuổi Huệ Tử, thần lại có thỉnh cầu. Huệ Tử làm tướng quốc Ngụy đã nhiều năm mà một sớm lại bị đuổi đi, cùng chung số phận với Chẩn, làm khách khanh ở Sở, Chẩn thực không nỡ đuổi. Nếu đại vương nhất thiết phải đuổi Huệ Tử, thỉnh cầu hãy tìm người khác. Chút tình riêng mỏn mọn, mong đại vương ân chuẩn. Chẩn lần nữa dập đầu bái thỉnh.”
Trần Chẩn viết xong, làm thành mật thư, lại chia đôi số châu báu và trăm hoàn vàng mà Tần Vương ban tặng, giữ lại một nửa, còn một nửa cất cùng mật thư vào trong chiếc rương tinh xảo mà Tần Vương gửi tới, rồi đích thân niêm phong, giao lại cho kẻ thần bí vẫn đang ở trong sảnh đợi hồi âm.
Tiễn người Tần về rồi, Trần Chẩn thở phào một tiếng, thay phục trang, thủng thẳng đi tới Chiêu phủ.
Hàn Tuyên Vương lại không chịu nghe theo lời can gián của Công Trọng Xỉ, mà cắn rách ngón tay, viết huyết thư cầu cứu, sai bề tôi thân tín mang tới ba nước Tề, Sở, Triệu. Sở Vương đang lo tang sự trong cung, sứ Hàn chẳng còn cách nào khác, đành phải hai tay nâng huyết thư của Hàn Vương, học theo cách Thân Bao Tư cầu cứu Tấn năm xưa, quỳ trước phủ Chiêu Dương, khóc lóc thảm thiết cầu viện.
Sứ Hàn quỳ liền ba ngày, không ăn không uống, hai mắt chảy cả máu, khiến người Sở bàn tán xôn xao. Chiêu Dương sợ xảy ra chuyện, sai Hình Tài ra đón sứ Hàn, đích thân nhận lấy huyết thư của Hàn Vương, ngẫm nghĩ một lát, bảo Hình Tài đi mời Trần Chẩn và Huệ Thi lại, bàn bạc chuyện này. Chẳng hiểu vì sao, Chiêu Dương rất có thiện cảm với Huệ Thi, chỉ vì Trần Chẩn lời ra tiếng vào nên vẫn chưa dùng, song mọi chi tiêu của Huệ Thi tại Sở, đều do Chiêu phủ chu cấp.
Trần Chẩn chưa mời đã tự đến, Hình Tài vòng tay đón vào trung đường, hầu trà nước xong bèn đi mời Huệ Thi.
“Hai vị nhân huynh!” Đợi Huệ Thi tới nơi, Chiêu Dương mình mặc áo tang sải bước tiến vào, hành lễ xong xuôi, bèn trải huyết thư của Hàn Vương lên mặt bàn, nói. “Người Ngụy phạt Hàn, Hàn Vương gửi huyết thư cầu cứu. Cung Sở có đại tang, đại vương chẳng tâm trí nào nhìn đến, sứ Hàn cứ khóc lóc trước phủ tại hạ suốt mấy ngày trời, tại hạ bất đắc dĩ, đành nhận lấy huyết thư, còn ứng phó thế nào, tại hạ ngu muội, nên mời hai vị cao hiền tới đây cùng bàn bạc.”
Trần Chẩn cầm huyết thư lên xem kỹ lưỡng. Huệ Thi vẫn giống như khi ở Đại Lương, ngồi ngay ngắn trên chiếu, khép mắt lặng im.
“Kính thỉnh tiên sinh chỉ giáo!” Chiêu Dương biết Huệ Thi đã có chủ kiến, bèn vòng tay gọi đích danh.
“Hồi bẩm đại nhân!” Huệ Thi đáp lễ, nói. “Người Ngụy lần trước phạt Triệu, giờ lại phạt Hàn, xét từ thế nhỏ là bang quốc giao tranh, xét từ thế lớn là tung hoành tranh giành, kẻ chủ mưu đều là Trương Nghi nước Tần. Trương Nghi và Tô Tần cùng học ở Quỷ Cốc, song mỗi người một chí. Tô Tần luận tung, Trương Nghi lại luận hoành. Hoành, có lợi cho người Tần; tung, lại có lợi cho người Sở. Hoành mà thành, Tần sẽ xưng bá thiên hạ. Tung mà thành, Sở sẽ hiệu lệnh chư hầu!”
“Theo ý tiên sinh, ta hẳn nên cứu Hàn?”
“Lời tại hạ nói, chỉ là đại lý, còn cứu hay không, vẫn do đại nhân quyết định.”
“Tiên sinh đã nói là đại lý, thì hẳn sẽ còn tiểu lý. Tại hạ ngu muội, dám hỏi tiên sinh, tiểu lý là thế nào?”
“Tiểu lý sẽ thuận phục theo đại lý.” Huệ Thi dõng dạc nói. “Tần, Ngụy cấu kết, hợp thành thế hoành, lần trước phạt Triệu, hẳn là mưu Tề, lần này phạt Hàn, chính là mưu Sở. Bởi vậy người Tề nên cứu Triệu, người Sở nên cứu Hàn!”
“Ồ?” Chiêu Dương nhổm người về phía trước. “Xin hãy nói kỹ!”
“Người Tề hùng cứ ở phía đông, phía nam có thể tranh giành lưu vực sông Tứ, phía bắc có thể tranh giành Hà Gián, do lưu vực sông Tứ và Hà Gián đều là nước yếu, người Tề dễ dàng khuất phục. Người Tề lo sợ, vẫn là Tam Tấn. Nếu Tam Tấn hợp nhất, phía tây bất lợi cho Tần, phía đông bất lợi cho Tề. Bởi vậy Tam Tấn hợp tung theo Tô Tần, người Tề lại thuận theo, khiến cho ngọn lửa Tam Tấn hoà hợp sẽ thiêu đốt tới Tần phía tây. Người Tần liên hoành, giúp Ngụy diệt Triệu phạt Hàn, mục đích cũng là hợp nhất Tam Tấn. Tam Tấn nếu liên minh thêm Tần, ngọn lửa này ắt thiêu đốt tới Tề phía đông. Người Tề kinh sợ, nên mới dốc sức cứu Triệu.”
“Phạt Triệu có thể hiểu. Thế nhưng người Ngụy phạt Hàn, vì sao lại là giúp người Tần mưu Sở?”
“Người Ngụy phạt Hàn, tất sẽ đánh Trịnh Thành và Dương Địch. Người Hàn ở Nghi Dương ắt sẽ dốc sức cứu Trịnh Thành, cứu Trịnh Thành tất sơ hở, Tần ắt lợi dụng sơ hở mà tấn công. Nghi Dương là kinh đô sắt đồng, sánh ngang với quận Uyển nước Sở. Hiện tại, sắt và đồng mà người Tần sử dụng, quá nửa đến từ quận Uyển, còn hàng của Nghi Dương, đều cung cấp cho Tam Tấn, thậm chí còn bán tới tận nước Tề xa xôi. Nói cách khác, người Sở đang bóp chặt cần cổ của người Tần. Nếu người Tần có được Nghi Dương, không những không cần cậy nhờ đến Sở, ngược lại còn có thể khống chế Tam Tấn, tác động tới nước Tề giáp biển.”
Chiêu Dương nhìn sang Trần Chẩn, thấy Trần Chẩn đã đặt huyết thư của Hàn Vương xuống, bèn vòng tay nói: “Huệ Tử chủ trương cứu Hàn, ý thượng khanh thế nào?”
“Huệ tướng quốc nhìn xa trông rộng, tại hạ thán phục.” Trần Chẩn vòng tay đáp lời. “Tại hạ cho rằng, nếu tính kế vì hợp tung, đại nhân nên cứu Hàn; nếu tính kế vì người Sở, đại nhân nên ngồi xem Tam Tấn giao tranh; nếu tính kế vì đại nhân, nên dốc sức lo tang sự.”
Chiêu Dương nhắm mắt trầm ngâm, lát sau bèn nói: “Hai vị quả không hổ là cao hiền, lời ai cũng đều hữu lý, cho phép tại hạ suy nghĩ kỹ lưỡng, rồi sẽ quyết định sau!”
Huệ Thi cáo từ, Trần Chẩn cũng đứng dậy, song do trong lòng còn vướng mắc, định đi lại dừng, đang lúc chần chừ, thì Chiêu Dương vẫy tay nói: “Thượng khanh xin dừng bước.”
Trần Chẩn nhân thể ngồi luôn xuống.
Chiêu Dương tiễn Huệ Thi về, quay trở vào nói: “Ba kế Trần huynh vừa nói, đều rất hợp ý tại hạ, chỉ là Trần huynh nói quá ngắn gọn, tại hạ ngu dốt, kính mong Trần huynh giải thích rõ hơn!”
“Đại nhân băn khoăn nhất, có lẽ là kế cuối cùng ‘tính kế vì đại nhân’?”
“Chính phải!”
“Dám hỏi đại nhân,” Trần Chẩn nheo mắt hỏi, “dòng họ Chiêu được tiên vương sủng ái, hay là được đại vương đương kim sủng ái?”
“Ồ...” Chiêu Dương thoáng do dự. “Là được tiên vương sủng ái.”
“Dòng họ Chiêu sở dĩ được tiên vương sủng ái, là vì đại nhân được tiên vương sủng ái. Nay tiên vương băng hà, tân vương quay mặt về nam xưng vương, nước Sở, nói một cách nhẹ nhàng là mới cũ thay thế, nói một cách nặng nề là đất trời thay đổi. Đất trời thay đổi, đại nhân ở trong đó, liệu có thể không thích ứng với sự thay đổi của đất trời chăng?”
“Xin hỏi Trần huynh, tại hạ nên thích ứng thế nào?”
“Cung Sở đang có đại sự, là chuyện tang lễ. Nhiệm vụ cấp bách của đại nhân hiện nay, đương nhiên cũng là tang sự. Còn chiến tranh Hàn, Ngụy, lời Huệ tướng quốc không thể không nghe, song theo thần biết, người Tần tuyệt đối sẽ không thừa cơ tấn công Nghi Dương.”
“Vì sao?”
“Nghi Dương địa thế hiểm trở, dễ thủ khó công, nếu chiến sự nổ ra, thì người Hàn cũng đã có chuẩn bị từ trước, người Tần nếu tấn công, tất sẽ tổn thương gốc rễ, Tần Vương có ngốc nghếch đến đâu cũng sẽ biết tính toán chuyện sinh tử, chí ít trước mắt sẽ không dám mạo hiểm. Hơn nữa, Tần Vương cũng chỉ mong người Hàn điều hết binh lực tới, quyết một trận một mất một còn với người Ngụy. Huệ Thi nói ra lời này, hẳn là không hiểu Tần Vương.”
“Trần huynh nói rất đúng. Tuy nhiên, Hàn, Ngụy giao tranh, Hàn tất không địch nổi, nếu hai nơi Trịnh Thành và Dương Địch thực sự bị Bàng Quyên chiếm cứ, cũng là điều tại hạ không mong muốn.”
“Đại nhân bất tất phải lo lắng, tai ương của người Hàn, tự khắc sẽ có người giải cứu!”
“Không phải là người Tề chứ?”
“Người Tề không thể không cứu!”
Chiêu Dương hít sâu một hơi, hồi lâu sau mới nói: “Xin hãy nói rõ!”
“Nếu Tề không cứu Hàn, người Hàn ắt sẽ thất bại. Nếu người Hàn thất bại, thế Ngụy mạnh lên, sẽ chỉ bất lợi cho người Tề.”
“Phải!” Chiêu Dương vuốt râu đáp lời.
“Tuy nhiên, người Tề cứu Hàn, dù thắng dù bại, đều bất lợi cho người Sở.”
“Ồ?”
“Đất Tống ở Tứ Thượng, ruộng đồng màu mỡ, không chỉ người Sở nhòm ngó, mà người Tề, người Ngụy cũng thèm thuồng. Người Tề cứu Hàn, nếu Tề thất bại, đất Tống sẽ quy về Ngụy; nếu Ngụy thất bại, đất Tống sẽ quy về Tề. Nếu như người Sở chỉ ngồi yên quan sát, tâm huyết bao năm của đại nhân cũng sẽ đổ xuống sông xuống biển.”
“Thượng khanh hẳn có diệu kế?”
“Có lợi cho Sở chỉ có một cục diện, không để người Tề xuất binh.”
“Ồ... làm thế nào mới khiến người Tề không xuất binh?”
“Giữ Điền Kỵ lại!” Trần Chẩn trầm giọng đáp. “Tôn Tẫn đã chết, nước Tề nếu cứu Hàn, buộc phải trọng dụng lại Điền Kỵ. Chẩn khuyên đại nhân, nhất thiết không được để Điền Kỵ về Tề!”
Thấy Trần Chẩn vòng vo một hồi, cuối cùng dừng lại ở Điền Kỵ, Chiêu Dương thở phào một tiếng, cười nói: “Thượng khanh mưu hay, song lại không hiểu việc quân, đã khuếch trương Điền Kỵ thái quá rồi. Theo tại hạ biết, Điền Kỵ còn xa mới là đối thủ của Bàng Quyên, lần trước thắng ở Quế Lăng, là công của Tôn Tẫn.”
“Chẩn không cho là vậy.” Trần Chẩn đáp. “Điền Kỵ tuy không phải đối thủ của Bàng Quyên, song cũng là mãnh tướng liệt quốc, hai lần giao chiến Bàng Quyên một thắng một bại. Bàng Quyên tuy mạnh, song thế Ngụy đã suy, đặc biệt sau hai trận chiến Hàm Đan và Quế Lăng, khác nào như tên mạnh hết tầm. Nếu không ngoài dự đoán của tại hạ, lần này Bàng Quyên dụng binh, là dựa vào sức người Tần. Mượn lực chinh phạt, lực tất không đạt, huống hồ nước Ngụy vô duyên vô cớ phạt Hàn, chính là khởi binh phi nghĩa, chưa chiến đã mất khí thế trước. Người Hàn bảo vệ nước nhà, tất sẽ liều mạng quyết chiến. Hai quân tương đương, chỉ cần có ít nhiều viện trợ bên ngoài, chiến cục ắt sẽ thay đổi. Thế nhưng, nếu Điền Kỵ không về Tề, Tề không thể nắm chắc phần thắng, Tề Vương kiêng dè Bàng Quyên, có lẽ không dám xuất binh. Nếu Điền Kỵ về Tề, Tề Vương có lẽ sẽ xuất binh, Tề, Hàn hợp lực, có thể thắng Ngụy. Người Tề thắng Ngụy, thế Tề ắt mạnh, quay đầu lại tranh Tống với đại nhân, đại nhân sẽ ứng phó thế nào?”
“Thù gần của Sở, chỉ có Hình Sơn, Điền Kỵ đánh Ngụy, đáng ra có lợi cho Sở mới phải. Trần huynh thử nghĩ mà xem, nếu Điền Kỵ thắng Bàng Quyên, tại hạ có thể thuận thế thu hồi Hình Sơn. Điền Kỵ không thắng Bàng Quyên, Tề, Ngụy đều tổn thương, tại hạ hẳn có thể thừa cơ phạt Tống!”
“Đại nhân đã có ý này, Chẩn xin hiến một kế, có lẽ càng hợp ý đại nhân.”
“Trần huynh cứ nói.”
“Chỉ cần Điền Kỵ không về Tề, người Tề sẽ không cứu Hàn. Nước Hàn gần đây không có đại chiến, nguyên khí vẫn còn, Ngụy thì lại khác, Hàn, Ngụy một chín một mười. Hai nước đối địch giao tranh, hoặc là cả hai cùng tổn thất, hoặc là Hàn không địch nổi Ngụy. Bất luận kết quả thế nào, tướng quân đều có thể nhân lúc Hàn, Ngụy bận bịu chiến sự mà lơ là đề phòng, vứt bỏ Hình Sơn, đột kích Tương Lăng. Tương Lăng cách biên giới Hàn khá xa, người Ngụy dù thắng hay bại, đều không thể kiêm cả hai nơi. Nếu tướng quân được Tương Lăng, thứ nhất có thể trả mối thù cũ Hình Sơn, thứ hai có thể bảo toàn cho người Hàn, thứ ba có thể hất cẳng người Ngụy, uy hiếp biên giới Tống, tranh giành Tống với người Tề.”
“Trần huynh nói chí phải!” Chiêu Dương đáp. “Chỉ có điều, Điền Kỵ rất thân thiết với Cảnh Xá, sau khi tới Sở, vẫn sống trong Cảnh phủ, nghe nói người này hiện đang ở Uyển Thành. Uyển Thành cách đây khá xa, tại hạ roi dài khó với, làm sao ngăn hắn về Tề được?”
“Đại nhân không cần ngăn cản.” Trần Chẩn đáp. “Điền Kỵ dù gì cũng là mãnh tướng nức tiếng liệt quốc, nay tới Sở, sao có thể ăn nhờ ở đậu mãi nhà người khác? Là mãnh tướng thì nên trọng dụng, đại nhân có thể tấu thỉnh đại vương gia phong Điền Kỵ làm Thượng Dung Quân, cho ông ta trấn giữ Thượng Dung. Đất Thượng Dung ở Hán Trung, là trọng trấn vùng biên giới tây bắc, lại chịu sự cai quản của họ Khuất. Điền Kỵ thân với Cảnh phủ, song lại xa lạ với Khuất phủ. Điền Kỵ khuất mình tới Sở, phải ăn nhờ ở đậu, nay được tướng quân tiến cử, ắt sẽ cảm kích ân đức của đại nhân. Đại nhân làm như vậy, ngoài có thể chế Tần, trong có thể chế họ Khuất, lại thêm thu phục được danh tướng Điền Kỵ, thực là một công ba việc!”
Trần Chẩn phân tích cặn kẽ, suy nghĩ chu toàn không một kẽ hở, khiến Chiêu Dương nghe mà gật đầu lia lịa, thán phục mà rằng: “Tuyệt diệu, cứ làm theo ý thượng khanh!”
Tại kinh đô Lâm Truy nước Tề, Tô Tần bố trí cả nhà Tôn Tẫn sống trong phủ trạch của mình tại Tắc Hạ, rồi vào cung yết kiến.
Cung Tề vẫn do thái tử chấp chính. Tô Tần nêu chuyện cứu viện Hàn, Tích Cương lệnh cho Tô Tần về phủ chờ chỉ, rồi triệu đám trọng thần Trâu Kỵ, Điền Anh, Đoạn Can Luân, Trương Cái vào cung nghị sự.
“Chư vị ái khanh!” Điền Tích Cương khẽ vòng tay, nói. “Nước Hàn gặp nạn, mấy ngày trước, Hàn Vương gửi huyết thư tới cầu cứu ta, nay tướng quốc sáu nước Tô Tần lại tới, cũng là bàn chuyện cứu Hàn. Cứu, hay không cứu? Nếu cứu, thì cứu thế nào? Nếu không cứu, thì trả lời sứ Hàn và Tô Tử ra sao? Hưng binh động chúng, là đại sự của quốc gia, Tích Cương ngu dốt, không dám tuỳ tiện quyết định, kính thỉnh chư vị hiến kế sách!”
Tích Cương nói xong, hồi lâu vẫn không có ai lên tiếng.
Trong số quyền thần, Trâu Kỵ quyền cao chức trọng, lại vừa mất đi ái tử trong cuộc chiến với Ngụy lần trước, giờ vừa nghe nói đến chuyện đánh Ngụy, cộng thêm lão thần tiền triều Trương Cái cũng có mặt, thì sắc diện hơi sầm xuống, liếc Trương Cái một cái, khép hai mắt lại, lặng thinh không ừ hữ gì. Điền Anh là phó tướng phạt Ngụy lần trước, sau khi Điền Kỵ bỏ đi đã kiêm luôn ngôi chủ tướng, thấy Trâu Kỵ như vậy, biết ông ta vẫn tức giận chuyện trước đây, nên chỉ mấp máy miệng vài cái rồi lại im bặt. Chỉ còn lại hai người, là Đoạn Can Luân và Trương Cái, tuy đều là chức nhàn quan trong triều, song đều mang danh vị thượng khanh, chuyên tham nghị những chuyện khó quyết. Đoạn Can Luân vốn là người Ngụy, tổ tiên là Đoạn Can Mộc từng được phong làm quốc sư dưới thời Ngụy Văn Hầu. Sau thời Văn Hầu, dòng họ Đoạn Can thất sủng, tới thời Huệ Hầu, hậu duệ họ Đoạn Can đa phần bỏ quê hương đi. Đoạn Can Bằng tới Tề, được Hoàn Công bái làm thượng khanh, con trai Đoạn Can Luân tập ấm chức vị của cha, trở thành thượng khanh của Uy Vương, cha con đều được Tề thất họ Điền hậu đãi. Trương Cái là cựu thần thời Hoàn Công, năm xưa Sở Vương cấu kết với Lỗ Công phạt Tề, Trương Cái phụng mệnh đi sứ sang Lỗ, chỉ nhờ miệng lưỡi đã khiến Lỗ Công không xuất binh. Người Sở thấy người Lỗ không động binh, cũng rút quân đình chiến, vì thế mà trở thành giai thoại dùng miệng lưỡi đánh lui quân địch, nay tuổi đã xế chiều, từ lâu không dự vào quốc sự nữa. Nghị sự lần này, Tích Cương đặc biệt cho vời ông ta tới, thứ nhất là muốn nghe ý kiến, thứ hai cũng là muốn nhờ vào uy vọng của ông ta để trấn áp Trâu Kỵ, bởi lẽ gần đây, thái tử ngày càng tin chắc Điền Kỵ đã phải chịu oan khuất, mà Trâu Kỵ chính là thủ phạm gây ra nỗi oan ức này, nên những chuyện liên quan tới Ngụy, không thể chỉ nghe mình Trâu Kỵ.
“Thần cho rằng,” thấy không khí lặng phắc, Đoạn Can Luân bèn lên tiếng trước, “người Ngụy lần trước phạt Triệu, nay lại phạt Hàn, hoàn toàn dựa vào thế Tần. Tần, Ngụy hợp sức, Tam Tấn chia lìa, người Ngụy dù là diệt Triệu hay diệt Hàn, đều bất lợi cho ta. Ta đã từng cứu Triệu, thì nay cũng nên cứu Hàn.”
Đoạn Can Luân mở miệng đã muốn cứu Hàn, Trâu Kỵ nhịn không nổi, mở mắt ra nói: “Hàn là nước hợp tung, nay gặp nạn, thân là một nước hợp tung, theo lý ta nên cứu. Tuy nhiên, cứu thế nào, cần bàn kế sách. Nước hợp tung không phải chỉ mình ta, nếu không nằm ngoài dự liệu của thần, huyết thư của Hàn Vương hẳn đã tới tay Triệu Vương, Sở Vương. Đã đều là nước hợp tung, người Triệu vì sao không cứu? Người Sở vì sao không cứu? Lại nói Tô Tần, đã là ngoại tướng sáu nước, đương nhiên cũng là ngoại tướng nước Tề. Thế nhưng, nhìn vào cách hành sự của hắn, thoạt tiên thiên vị Yên, sau thiên vị Triệu, nay lại thiên vị Hàn, rất ít khi nghĩ cho ta. Lần trước đại vương nghe theo người này, khởi binh cứu Triệu, kết quả thế nào? Ta một tấc đất cũng không giành được, đã thương vong gần ba vạn tướng sĩ, lương thảo quân nhu hao tổn lại càng nhiều không kể xiết, chỉ có thành công duy nhất là cứu được Triệu thoát khỏi tai ương.”
Trâu Kỵ lời lẽ quyết liệt, không những phủ nhận hợp tung, lại còn tỏ ra bất mãn với Tô Tần, quần thần có mặt thảy đều ngỡ ngàng, bầu không khí một lần nữa lặng im phăng phắc.
“Tam Tấn và ta,” Trâu Kỵ rõ ràng chưa chịu dừng, tiếp tục khảng khái tâu bày, “tuy là môi răng, song lại không nương tựa vào nhau, lần trước ta cứu Triệu, hôm khác Triệu vẫn có thể dẫn binh vào ta. Nay ta cứu Hàn, đạo lý cũng vậy. Thần thấy, hoạ của người Hàn, chi bằng không cứu!”
Không cứu người Hàn, rõ ràng không phải là điều Tích Cương mong muốn. Thấy chư tướng không ai nói gì, Tích Cương hít sâu một hơi, nhìn sang Trương Cái.
“Thần đồng ý với Đoạn Can Tử.” Trương Cái vuốt chòm râu dài, lời lời như chém đinh chặt sắt. “Bất luận có thừa nhận hay không, nay thiên hạ đã ở trong đại cục tung hoành. Hợp tung, bất lợi cho Tần; liên hoành, lại bất lợi cho ta. Tam Tấn phân hợp, không chỉ liên quan tới cách cục hợp tung, liên quan tới tương lai thiên hạ, mà còn liên quan tới lợi ích thiết thân của ta. Liệt quốc thiên hạ, Tam Tấn ở giữa. Tam Tấn, người Ngụy ở giữa. Nước Tần liên hoành nước Ngụy, phía bắc công Triệu, phía nam phạt Hàn, mục đích chỉ có một: nhất thống Tam Tấn. Tam Tấn nếu do Ngụy nhất thống, thế Ngụy sẽ hùng cường, ắt tiến về đông uy hiếp ta. Nay nếu ta không cứu Hàn, chính là vứt bỏ công lao cứu Triệu trước kia, hơn hai vạn tướng sĩ đổ máu coi như công cốc.”
Trương Cái lời lời chấn động tâm can, vô cùng thuyết phục. Trâu Kỵ há miệng ra, nhưng dường như không tìm được lời phản bác, lại khép miệng lại.
Tích Cương nhìn sang Điền Anh: “Lời Trương lão, ái khanh có ý kiến gì chăng?”
“Hồi bẩm điện hạ,” Điền Anh liếc nhìn Trâu Kỵ, Trương Cái và Đoạn Can Luân, rồi dừng lại ở Tích Cương, mỉm cười, nói, “thần cho rằng, Trâu tướng quốc, Trương lão đều có lý, Hàn vừa nên cứu, cũng lại không nên.”
Điền Anh ăn nói nước đôi, chẳng mất lòng ai, Trâu Kỵ, Trương Cái đều sầm mặt xuống, còn Đoạn Can Luân lại cười mà rằng: “Này thượng đại phu, ông học được cái cách nói năng gian ngoan khôn khéo từ khi nào thế? Cứu là cứu, không cứu là không cứu, thượng đại phu nói như vậy, chẳng thà không nói cho xong!”
“Lời Đoạn Can huynh rất chí lý.” Điền Anh mỉm cười đáp, rồi quay sang Tích Cương, giải thích cặn kẽ. “Luận bàn của chư vị quá ư cao rộng, thần tầm nhìn hạn hẹp, không thế trông xa, chỉ nói vài chuyện nhỏ nhặt. Nếu theo ý tướng quốc, ta không cứu Hàn, thì cả nước yên ổn, bách tính an nhàn, thần dân hoan hỷ. Nếu ta cứu Hàn, thì cứu thế nào đây? Địch nổi Bàng Quyên, duy có Tôn Tẫn. Phục tùng được binh lính năm đô, duy có Điền Kỵ. Nay Tôn Tẫn đã chết, Điền Kỵ bỏ trốn, nên thần...” Dừng lại, ngoảnh mặt nhìn ra phía ngoài.
Hiển nhiên, Điền Anh đã nêu ra một vấn đề thực tế. Vấn đề hiện tại, không phải là cứu hay không, mà là dựa vào gì mà cứu? Ép Điền Kỵ bỏ trốn chính là Trâu Kỵ, lời của Điền Anh khiến Trâu Kỵ nghe mà rát mặt, song dù sao cũng nửa vô tình nửa hữu ý hùa theo ông ta, đưa ra được căn cứ chắc nịch cho việc không nên xuất binh, vì thế Trâu Kỵ lấy làm cảm kích liếc sang mỉm cười đáp lễ với Điền Anh. Không có Điền Kỵ và Tôn Tẫn, nước Tề không ai địch nổi Bàng Quyên, dù có xuất binh, chắc chắn cũng sẽ thất bại. Lời của Điền Anh, rõ ràng đã khiến Trương Cái, Đoạn Can Luân cứng họng, cũng đã điểm trúng tử huyệt của nước Tề.
“Than ôi!” Tích Cương thở dài một tiếng. “Nếu ta không xuất binh, biết ăn nói ra sao với Tô Tử và sứ Hàn đây?”
“Điện hạ!” Trâu Kỵ phấn chấn ra mặt, không bỏ lỡ thời cơ nói tiếp. “Hưng binh phạt quốc đã là quốc gia đại sự, thì xuất binh nên hết sức thận trọng. Phía sứ Hàn, thần sẽ lo liệu, còn phía Tô Tử, điện hạ cớ sao lại không đẩy sang đại vương?”
Đẩy sang phụ vương? Tích Cương trong lòng chấn động. Trâu Kỵ đã đưa ra một chủ ý quá ư tuyệt diệu, bởi lẽ bệnh tình của Uy Vương, chắc hẳn không giấu nổi cặp mắt của Tô Tần. Trước mặt một quân vương như vậy, Tô Tần hẳn cũng hết đường xoay sở.
“Cứ theo ý tướng quốc!” Tích Cương dứt khoát.
Nhận được chỉ dụ của Tích Cương, Tô Tần lập tức tới Tuyết cung yết kiến Uy Vương. Tuyết cung hẳn sớm đã nhận được chỉ lệnh của điện hạ, nên nội tể túc trực đã nghênh đón sẵn sàng, dẫn Tô Tần vào trong điện. Song Uy Vương không có ở trong điện, Tô Tần theo nội tể đi lòng vòng một hồi, tới hậu hoa viên của Tuyết cung, từ xa đã nhìn thấy bóng Uy Vương.
Nội tể chỉ về phía Uy Vương, khúm núm chìa tay nói: “Bệ hạ ở phía trước, Tô đại nhân, mời!”
Thấy Uy Vương một mình trơ trọi ngồi xoay mặt vào một gốc cổ thụ, Tô Tần ngập ngừng một lát, rồi quay sang nội tể. Nội tể ngoảnh mặt đi chỗ khác, rõ ràng không muốn nhiều lời.
Tô Tần bước lên phía trước, khi còn cách Uy Vương năm bước, bèn quỳ xuống khấu đầu: “Thần Tô Tần khấu kiến đại vương!”
Uy Vương vẫn lặng phắc, quay mặt vào gốc cổ thụ.
Tô Tần nín thở ngưng thần, đợi một hồi, thấy Uy Vương vẫn không nói gì, lại khấu đầu hô: “Thần Tô Tần khấu thỉnh đại vương vạn an!”
Uy Vương vẫn ngồi im bất động. Tô Tần lại đợi hồi lâu, lấy làm kinh ngạc, quay lại nhìn nội tể, thấy nội tể vẫn đứng nguyên tại chỗ, bộ dạng bình thản như không. Tô Tần dường như đã nhận ra được điều gì, chầm chậm đứng dậy, bước lại sát bên cạnh Uy Vương, nhìn chăm chú.
Tô Tần đã nhìn thấy rõ, người ngồi trước mặt chính là Uy Vương, chỉ có điều trông già nua suy sụp, râu tóc bạc trắng, không còn chút vẻ uy nghi, khoé miệng nhễ u cả nước dãi, hai mắt đờ đẫn nhìn dán vào một khối u sần sùi trên gốc cây, dường như đang ngắm nghía, lại dường như nhìn mà không thấy, suy nghĩ đang vơ vẩn tận đẩu đâu.
Chẳng lẽ Uy Vương cố tình làm ra bộ dạng này để ứng phó với Tô Tần? Nghĩ tới những lần đi sứ trước đây, Uy Vương bày đủ mọi cách để chơi trò ú tim với mình, Tô Tần giật thột trong lòng, lại vội vàng quỳ xuống, khẽ gọi: “Đại vương?”
Uy Vương vẫn không phản ứng.
“Đại vương!” Tô Tần cao giọng.
Uy Vương lần này đã nghe thấy, cơ thể khẽ nhúc nhích, ngoảnh mặt lại, cười ngây ngô, nước dãi từ trên cằm nhỏ xuống, nhễ u thành một đường lòng thòng trên chòm râu trắng xoá, rớt xuống đất.
“Đại vương, thần Tô Tần khấu thỉnh vạn an!” Tô Tần lại bái lạy.
Uy Vương vẫn cười ngô nghê, nước dãi vẫn nhỏ xuống tong tỏng.
Bộ dạng thảm hại của Uy Vương, dứt khoát không phải là giả tạo để ứng phó với Tô Tần, lẽ nào... Tô Tần đột nhiên bừng tỉnh, sực nhớ tới ông lão hàng xóm hồi mình còn bé tí, ngày ngày ngồi bên bờ Y Thuỷ, cứ thế cười sằng sặc với một búi cỏ tranh, nước dãi ròng ròng bên khoé miệng, hệt như Uy Vương lúc này.
Tô Tần bất giác rùng mình ớn lạnh.
Thảo nào bên cạnh không thấy có phi tần, đến nội tể cũng không.
Uy Vương lâm bệnh thật rồi, là bệnh ngẩn ngơ.
Nhớ tới vẻ uy nghiêm một thuở của Uy Vương, Tô Tần ứa nước mắt, lê gối lên trước vài bước, rút từ trong ống tay áo ra một mảnh khăn lụa, lau nước dãi bên khoé miệng cho Uy Vương, giọng nói run rẩy: “Đại vương...”
Uy Vương vẫn cười ngây dại, nước dãi vừa lau khô đã lại chảy ra.
Một người ngồi, một người quỳ, một người chảy nước dãi, một người lau nước dãi, một người cười ngây dại, vô lo vô nghĩ, một người thấy cảnh sinh tình, trong lòng rỉ máu, một vua một tôi cứ thế nhìn nhau như vậy.
Không biết đã bao lâu, nội tể dẫn hai cung nhân lại, mỗi người đỡ một bên tay Uy Vương, dìu vào trong cung.
“Tô đại nhân!” Nội tể mắt ngấn lệ. “Đại nhân đã thấy hết rồi phải không?”
“Đại vương như vậy đã bao lâu rồi?” Tô Tần hỏi.
“Hơn một năm rồi, từ sau khi Điền tướng quân ra đi, Tôn tướng quân qua đời!”
“Đại vương!” Ngẫm thấy Uy Vương hẳn là mất đi hai ái tướng mới thành ra như vậy, Tô Tần lại nghẹn ngào.
Khi rời khỏi Tuyết cung, nội tể kéo Tô Tần dừng lại, dặn Tô Tần phải tuyệt đối giữ bí mật về bệnh tình của Uy Vương, còn nói đó là ý chỉ của điện hạ. Tô Tần gật đầu đồng ý, buồn bã trở về Tắc Hạ, đem hết mọi chuyện kể cho Tôn Tẫn nghe. Hai người than thở một hồi về nhân tình thế thái, rồi lại quay về tình thế trước mắt. Tô Tần nói: “Trước khi vào cung có gặp Điền Văn, hắn nói thầm với tại hạ, rằng hôm qua điện hạ cho mời bốn triều thần là phụ thân hắn, Trâu Kỵ, Đoạn Can Luân, Trương Cái vào cung nghị sự, rất muộn mới về. Nay điện hạ cố tình để mặc tại hạ tới Tuyết cung tấu thỉnh cứu Hàn, cho thấy nghị sự hôm qua bất lợi cho ta. Bệnh tình của bệ hạ là bí mật lớn nhất trong cung Tề, mà điện hạ lại để tại hạ vào cung tấu thỉnh, có hai dụng ý rõ ràng. Thứ nhất, muốn cho tại hạ thấy được chỗ khó khăn của cung Tề; thứ hai, thoái thác, trì hoãn việc cứu Hàn. Tình thế hiện đã bế tắc, nên làm thế nào mới phải đây?”
“Có thể hỏi Điền Anh!” Tôn Tẫn đáp.
Tô Tần ngẫm nghĩ một hồi, đích thân viết một tấm thiệp mời, giao cho Trâu Phi Đao chuyển tới Điền Văn. Ngay đêm đó, một cỗ xe ngựa phi như bay tới Tắc Hạ, dừng lại bên ngoài cổng phủ Tô Tần. Tô Tần ra nghênh đón, quả nhiên bước xuống xe là hai cha con Điền Anh.
“Tô huynh đại giá quang lâm, Điền Anh chưa kịp nghênh tiếp, thật hổ thẹn!” Điền Anh vừa gặp đã ôm quyền tỏ lòng áy náy.
“Điền huynh khách khí rồi!” Tô Tần đáp lễ, cười vang mà nói. “Là tại hạ lễ tiết chưa được chu đáo, đáng lẽ tại hạ nên tới quý phủ bái kiến Điền huynh mới phải!”
“Tô huynh nói vậy càng khiến người ta hổ thẹn!” Điền Anh cười đáp, rồi giật ống tay áo Tô Tần, khẽ hỏi. “Nghe Văn Nhi nói, trong quý phủ có bậc dị nhân, hãy mau giới thiệu, tại hạ đã sốt sắng suốt dọc đường rồi!”
“Điền huynh, mời!” Tô Tần giơ tay nhường, Điền Anh không khách khí nữa, sải bước vào trong, đi tới phòng khách, thấy đèn nến sáng trưng, dưới ánh đèn, thấy ngay một cái đầu bóng loáng.
Chỉ nhìn vào cái đầu, đã biết ngay là Thuần Vu Khôn.
Điền Anh bước vào trong sảnh, nhìn khắp tứ phía, thấy ngoài Thuần Vu Khôn ra, không còn ai khác, thì ngạc nhiên nhìn về phía Tô Tần.
“Ha ha ha!” Thuần Vu Khôn lúc lắc cái đầu trọc lóc, nheo mắt nhìn thẳng vào Điền Anh. “Điền đại nhân, đại nhân đang tìm gì vậy?”
“Tìm người.”
Thuần Vu Khôn liếc xéo Điền Anh một cái, lại lúc lắc cái đầu, “Ồ” lên một tiếng dài dằng dặc, rồi chỉ vào cái đầu bóng lưỡng của mình, nói: “Này họ Điền kia, chỉ mấy ngày không gặp, mà cặp mắt ti hí kia đã mù nhanh đến thế kia à? Tại hạ có mũi, có mắt, có đầu, có mặt, vừa rồi vẫn còn được coi là người, lẽ nào lúc này không còn là người nữa?”
“Thôi thôi, đừng có phá phách nữa!” Điền Anh lừ mắt nhìn Thuần Vu Khôn. “Tại hạ đang tìm dị nhân!” Rồi con ngươi lại đảo tít vài vòng, hai ánh mắt sáng rực nhìn thẳng vào Tô Tần.
“Y Nhân ư?” Thuần Vu Khôn cười tít. “Sao không nói sớm?” Rồi huýt sáo một tiếng, một con chó mực lập tức lao vọt vào, chạy đến trước mặt ông ta ngoáy đuôi rối rít, kêu lên vài tiếng mừng rỡ, ngồi chồm hỗm trước mặt Thuần Vu Khôn, thè lưỡi chờ lệnh.
“Y Nhân, Điền thúc đây đang tìm mày đấy, mau lên, hãy trổ hết tài nghệ cho Điền thúc mày xem!” Thuần Vu Khôn ra lệnh cho con chó.
Lời nói vừa dứt, Thuần Vu Khôn khe khẽ ngâm nga: “Lau xanh ngăn ngắt, móc trắng làm sương. Người ta nói đến, cách dòng một phương. Ngược dòng theo mãi, trắc trở đường trường. Thuận dòng theo tới, dường như giữa dòng trong...”(1)
Con chó theo giọng ngâm nga của chủ, lúc cúi lúc ngửa lúc đi lúc chạy, hệt như đang múa, trông rất lanh lợi đáng yêu.
Điền Anh lúc này mới nhớ ra con chó cưng của Thuần Vu Khôn tên là Y Nhân thật, thì vừa bực vừa tức cười, nhăn nhó mặt mày, quay đầu nhìn sang Tô Tần, song không thấy bóng dáng đâu nữa, bèn lớn tiếng kêu lên: “Ồ, Tô huynh đâu? Tô huynh... hưng binh động chúng thế này, hẳn không phải để tại hạ tới đây ngắm nghía cái lão trọc này và trò hề của lão đấy chứ?”
Không ai đáp lời.
“Ha ha ha!” Thuần Vu Khôn bật cười vài tiếng, nói. “Họ Điền kia, ông đã coi thường lão trọc ta, lão trọc ta sẽ biểu diễn thêm một trò nữa, xem có doạ chết ông không?”
Lời nói vừa dứt, Thuần Vu Khôn suỵt đuổi con chó mực đi, chắp hai bàn tay lại, vỗ nhẹ ba tiếng. Bên cạnh bỗng vang lên những tiếng lộc cộc, rồi rèm cửa vén lên, một chiếc xe lăn được Tô Tần đẩy ra. Trên xe ngồi chễm chệ một người, chính là Tôn Tẫn!
Điền Anh há hốc miệng, đứng ngây như phỗng.
Thuần Vu Khôn phá lên cười sảng khoái: “Họ Điền kia, đây hẳn là dị nhân mà ông đang nóng lòng muốn gặp?”
Điền Anh như thể không nghe thấy, hai mắt nhìn trân trối vào Tôn Tẫn, cứ như thể gặp ma.
“Điền huynh, từ biệt đến nay vẫn bình an chứ?” Tôn Tẫn mỉm cười, vòng tay với Điền Anh.
Nghe thấy giọng Tôn Tẫn, Điền Anh mới bừng tỉnh, lắp bắp: “Tôn... Tôn huynh... thế... thế này là...”
“Này họ Điền kia!” Thuần Vu Khôn chỉ Điền Anh cười tít mắt. “Thân là tướng quân, gặp quân sư còn không mau hành lễ?”
“Tại hạ bái kiến Tôn huynh!” Điền Anh vội đáp lễ, đưa ánh mắt kinh ngạc nhìn vào Tô Tần đang đẩy xe.
Tô Tần đỡ Tôn Tẫn khỏi xe, ngồi xuống chiếu, còn mình cũng ngồi vào vị trí chủ, thủng thẳng kể lại mọi chuyện cho Điền Anh nghe, từ lúc Quỷ Cốc tiên sinh tặng cho thuốc chết, rồi chuyển cho Tôn Tẫn ra sao, tiếp đó Tôn Tẫn đã hồi sinh thế nào. Hai cha con Điền Anh nghe mà ngỡ như chuyện thêu dệt của đám tiểu thuyết gia.
“Không giấu Điền huynh,” Tô Tần kể xong bèn nói, “tiên sinh sở dĩ tặng thuốc chết, là để tránh Bàng Quyên. Lần trước Bàng Quyên hãm hại Tôn huynh, khiến Tôn huynh phải chịu tẫn hình, nay lại hành động trái đạo, hợp mưu với Tần, trước phạt Triệu, sau phạt Hàn, khiến thiên hạ sinh linh đồ thán. Tiên sinh biết, Bàng Quyên sau khi đuổi Điền tướng quân đi, tiếp theo sẽ hãm hại Tôn huynh, nên đã tặng cho thuốc chết, để Bàng Quyên từ bỏ tâm địa này. Nay Bàng Quyên hưng binh phạt Hàn, hợp tung lại rơi vào nguy cục, nên tại hạ khẩn cầu Tôn huynh xuống núi lần nữa, quyết tử chiến một trận với Bàng Quyên.”
“Than ôi!” Điền Anh thở dài một tiếng. “Hôm qua điện hạ cho mời tại hạ...”
“Khoan khoan khoan!” Điền Anh còn chưa nói hết câu, Thuần Vu Khôn đã giơ tay ngăn lại. “Họ Điền kia, dị nhân đã tới rồi, các người hãy bàn đại sự, lão hủ và Y Nhân ra ngoài chơi đây!” Nói đoạn đứng dậy, khẽ vòng tay về phía mọi người, lúc lắc cái đầu trọc bước ra ngoài cửa, huýt sáo một tiếng, cùng con chó mực ra khỏi cổng.
Mọi người cùng ra cửa tiễn, rồi quay trở vào phòng, Điền Anh lúc này mới nói nốt lời dang dở vừa nãy: “Hôm qua điện hạ cho mời tại hạ vào cung nghị sự, là vì chuyện cứu Hàn. Nghe ý tứ của điện hạ, có lòng cứu Hàn, hai vị lão thần Đoạn Can Luân và Trương Cái đều ra sức ủng hộ, duy có Trâu tướng quốc một mực phản đối. Điện hạ hỏi ý tại hạ, tại hạ ủng hộ Trâu tướng quốc, bởi lẽ trong số quần thần, chỉ có tại hạ hiểu rõ sự tình. Địch được Bàng Quyên, duy có quân sư, trị được quân đội năm đô, duy có Điền Kỵ tướng quân. Nước Tề không có hai người này, nếu đường đột xuất chiến, sẽ cầm chắc thất bại. Nay đại vương mắc bệnh, điện hạ hữu danh vô thực, bách quan hoang mang, cuộc chiến Quế Lăng lần trước tổn thất quá nặng nề, nay còn chưa hồi phục, nước Tề có thể xuất chiến, song chịu không nổi thất bại.”
“Điền huynh nói rất chí lý!” Tô Tần đáp lời. “Có điều sự việc cấp bách, cứu được Hàn, duy có quân Tề. May sao vẫn còn Tôn huynh, nếu thêm Điền Kỵ tướng quân, quân Tề hẳn sẽ thắng lợi. Hơn nữa, theo tại hạ biết, tuy ta mệt mỏi, song Ngụy còn tệ hại hơn. Mấy năm gần đây, nước Ngụy gây chiến liên miên, khác nào tát ao bắt cá, khiến quốc lực suy yếu chưa từng, Huệ Thi, Bạch Hổ theo nhau bỏ đi, Chu Uy một mình khó chống đỡ, cáo bệnh ở nhà, tôi hiền trị nước im tiếng, tướng sĩ hiếu chiến nổi lên, quốc thế đã nguy. Theo tại hạ thấy, Bàng Quyên phạt Hàn, không vì nguyên nhân nào khác, chỉ là để dương oai. Phạt Hàn cho thấy, nước Ngụy đã tới đường cùng, Bàng Quyên đang ráng sức giãy giụa trong ngõ cụt.”
“Tô huynh cao kiến, tại hạ thán phục! Nay có quân sư, ta không phải sợ Bàng Quyên. Song không có Điền Kỵ tướng quân, vậy quân năm đô...” Điền Anh băn khoăn.
“Điền huynh chớ nên lo lắng. Tại hạ đã sai người đến thỉnh cầu Điền tướng quân. Nếu không nằm ngoài dự liệu, Điền tướng quân trong vòng hai tháng nữa sẽ quay trở về Lâm Truy.”
“Tốt quá!” Điền Anh mặt mày rạng rỡ, song lại lập tức sa sầm. “Có Trâu tướng quốc ở đây, Điền tướng quân... liệu có chịu về không?”
“Điền huynh yên tâm, Điền tướng quân vẫn đang canh cánh một chuyện trong lòng, chính là bắt sống Bàng Quyên. Chỉ cần Điền tướng quân biết quân sư còn sống, nhất định sẽ trở về. Có điều, nhắc tới Trâu tướng quốc, lại có chút khó khăn. Điền huynh xem thế này được không? Chuyện của Điền Kỵ và Tôn huynh, tạm thời hãy giữ bí mật, tránh để tướng quốc biết được, gây thêm phiền toái.”
“Đương nhiên rồi!” Điền Anh gật đầu. “Chỉ có điều, chỗ điện hạ, liệu có thể hé lộ chút phong thanh?”
“Được, chúng ta phải cho điện hạ biết sự tình. Nếu điện hạ hay tin Điền tướng quân và Tôn huynh đều quay về, hẳn sẽ vững tin xuất binh. Điền huynh có thể thuận thế tấu thỉnh điện hạ, trả lời sứ Hàn, đồng ý cứu viện, để củng cố ý chí cố thủ của người Hàn. Tiếp đó tấu thỉnh điện hạ, tạm khởi quân năm đô, trước hết đóng tại A Ấp, đề phòng quân Tần, Ngụy vượt biên giới tập kích ta. Tam Tấn giao tranh, ta điều quân cố thủ biên giới là chuyện thường tình, Trâu tướng quốc sẽ không có lý do phản đối. Đợi Điền tướng quân trở về Lâm Truy, chúng ta lại chính thức tấu thỉnh xuất quân cứu viện Hàn, lúc đó, ván đã đóng thuyền, Trâu tướng quốc dù có không vui, cũng phải thuận theo thôi.”
“Cứ theo ý Tô huynh!” Điền Anh đáp lời.
Điền Kỵ chạy trốn sang Sở, lại không muốn tới Sính Đô, bởi vì tới Sính Đô, sẽ phải cầu kiến Chiêu Dương, trong khi Điền Kỵ từng giao tranh vài trận với Chiêu Dương ở Tứ Hạ, trước hai quân trận, đã nói vô số lời quá quắt, lại cộng thêm mối nhục bị Bàng Quyên tô son trát phấn lên mặt, lần này tìm tới cửa, ngộ nhỡ Chiêu Dương chê cười, chẳng phải tự chuốc lấy nhục vào thân? Lòng vòng mãi, cuối cùng Điền Kỵ tới thẳng Nam Dương, cậy nhờ Cảnh Thuý. Tiên phụ Cảnh Thuý là Cảnh Xá từng có giao tình tốt đẹp với tiên phụ của Điền Kỵ, khi Cảnh Xá qua đời, Điền Kỵ sai người vượt nghìn dặm xa xôi tới Sở phúng viếng, biếu tặng hậu lễ, Cảnh Thuý lấy làm cảm kích, cũng đáp lễ lại, từ đó hậu duệ hai nhà qua lại thân mật, do đều là võ tướng, nên rất trân trọng nhau.
Nghe nói Điền Kỵ tới cậy nhờ, Cảnh Thuý vội vã từ Sính Đô tới Uyển Thành, đón tiếp hết sức chu đáo. Do Điền Kỵ ở Tề có địa vị rất cao, nên Cảnh Thuý không thể sắp xếp chức vị, cũng không muốn đi cầu cạnh Chiêu Dương, hơn nữa Điền Kỵ cũng không muốn làm quan ở Sở, nên hai người ở Uyển Thành ngày ngày dạo chơi, đêm đêm đàn nhạc, thi thoảng nghiên cứu binh pháp chiến trận, sống những ngày tháng thư thái an nhàn. Sau đó Uy Vương băng hà, Cảnh Thuý về Sính chịu tang, Điền Kỵ mê vàng đen (sắt), bái sư học nghệ, cả ngày ngược xuôi nơi mỏ khoáng lò luyện, tối đến nghiên cứu kỹ thuật hợp kim, dự định tự tay chế tạo một thanh bội kiếm hợp kim và một thanh trường thương sắt ròng. Đúng lúc Điền Kỵ đang hăng say mê mải trước lò rèn, đột nhiên có người từ cung Sở tới, tuyên vương chỉ, phong Điền Kỵ làm Thượng Dung Quân kiêm Thượng Dung quận doãn, ban cho thực ấp nghìn hộ, trong vòng ba tháng tới nhiệm chức.
Sở Vương tức thái tử Hùng Hoè vừa lên ngôi kế vị, sử gọi là Hoài Vương, Điền Kỵ có tìm hiểu về Hùng Hoè, biết rằng Hùng Hoè cũng được coi là chuyên cần chính sự, có hoài bão lớn lao, thụ phong lần này, hẳn là do Cảnh Thuý tiến cử.
Không có công lao mà được phong đất, Điền Kỵ lấy làm cảm thán, thực lòng tin rằng Hùng Hoè là bậc thánh quân. Nghĩ tới mình cả đời chưa từng giao tranh với người Tần, Thượng Dung tuy xa xôi hẻo lánh, song lại là tiền tuyến chống Tần, Điền Kỵ cũng lấy làm phấn khởi, tạ ơn xong, bèn thu dọn hành trang, ba ngày sau đó, cùng vài tuỳ tùng tâm phúc và một người thông thạo đường đất trong phủ Cảnh Thuý rời Uyển Thành, thẳng tới Thượng Dung.
Chưa đầy vài ngày, ba cỗ xe nhẹ đã tới Nhương Ấp. Nhương Ấp vốn là lãnh thổ nước Đặng, thời Sở Văn Vương, Đặng Công bị Sở tiêu diệt, người Sở bèn phong quân đặt huyện ở đây, trở thành trọng trấn. Nước Sở phong quân vô số, ngoài ba dòng họ Cảnh, Chiêu, Khuất, còn thì tuyệt đại đa số phong quân, Điền Kỵ đều không biết, cũng không muốn tìm hiểu. Thân nơi đất khách, Điền Kỵ thừa biết nên khiêm tốn thu mình, bởi vậy không khua chiêng gõ trống, đội ngũ rùm beng dọc đường giống như các phong quân hoặc doãn thừa khác khi nhậm chức. Sau khi tới đất Nhương, sắc trời đã tối, Điền Kỵ đánh ngựa vào Nhương Thành, không đi bái kiến Nhương Quân và huyện doãn theo gợi ý của người trong phủ Cảnh Thuý, nhìn thấy có một quán trọ nhỏ khá sạch sẽ ở bên đường, bèn dừng xe nghỉ chân.
Trời đã về khuya, Điền Kỵ tắm rửa xong, đang định lên giường nghỉ ngơi, bỗng nghe bên ngoài huyên náo, lại có vài người tới thuê trọ. Khách vừa tới rõ ràng không phải người có tiền, chỉ cần nằm ở trước hiên sảnh phụ, ôm mớ rơm trải xuống đất ngủ là xong. Cơm cũng không ăn, chỉ xin vài bát nước trắng, lấy lương khô mang theo ăn cùng. Ngủ hiên và nước trắng, nên chủ trọ cũng ngại thu tiền, nhưng không lấy làm vui vẻ. Nghe giọng nói, nhìn cách ăn bận, Điền Kỵ đoán là người Mặc gia. Điền Kỵ xưa nay vẫn luôn kính phục Mặc giả, bèn sai tuỳ tùng dặn chủ quán trọ sắp xếp cho họ vài gian phòng và một bữa cơm, phí tổn sẽ do Điền Kỵ chi trả.
Chủ quán mừng rỡ, vội đi sắp xếp ngay, Mặc giả cũng không từ chối, ăn uống qua loa, rồi một người trong đám ngỏ ý muốn cầu kiến ân nhân. Điền Kỵ không tiện từ chối, hơn nữa cũng muốn kết thân với Mặc giả, bèn chỉnh trang y phục, chuẩn bị trà bánh, mời người này vào phòng khách.
Người cầu kiến không phải ai khác, chính là Khuất Tương Tử vẫn luôn bám theo Điền Kỵ suốt dọc đường.
Khuất Tương Tử xưng danh, Điền Kỵ thoạt tiên ngỡ ngàng, sau đó vái dài sát đất, nói: “Khuất tiền bối đại danh như sấm bên tai, chỉ là Điền Kỵ phúc mỏng, không có duyên gặp gỡ, nào ngờ ông trời có mắt, đã cho Điền Kỵ gặp mặt ở đây, thực là vinh hạnh!”
“Không phải ông trời có mắt, mà là lão hủ đi tìm đại nhân nên mới lần theo tới đây!” Khuất Tương Tử mỉm cười, đáp lễ mà nói.
“Tiền bối tìm vãn bối?” Điền Kỵ càng kinh ngạc. “Có chuyện gì chăng?”
“Tướng quân xin hãy đọc thư này!” Khuất Tương Tử lần trong ống tay áo lấy ra một bức thư, trình lên Điền Kỵ.
Là thư tay của Tô Tần
Điền Kỵ đọc xong thư, đôi mày chau tít, hồi lâu sau, nhìn thẳng vào Khuất Tương Tử, cười buồn một tiếng, nói: “Tô Tử muốn vãn bối lập tức quay về nước Tề, dẫn quân cứu Hàn, chuyện này...”
“Tướng quân có điều gì lo lắng?”
“Không giấu tiền bối,” Điền Kỵ thở dài một tiếng, “tại hạ đến nằm mơ cũng chỉ muốn về Tề, huống hồ là tái chiến với Bàng Quyên. Tuy nhiên, tại hạ thân đang mang tội, nước Tề hiện nay... tại hạ có muốn về cũng không được nữa rồi!”
“Tướng quân chớ nên lo lắng!” Khuất Tương Tử đáp. “Nước Tề hiện nay đã không còn là nước Tề trước đây nữa, theo lão hủ biết, Tề Vương sau khi hay tin tướng quân chạy trốn sang Sở, Tôn Tẫn lâm bệnh qua đời, liền không rời khỏi Tuyết cung một bước, mọi chuyện trong triều đều phó thác cho thái tử lo liệu. Thái tử biết tướng quân hàm oan, có ý rửa oan cho tướng quân. Hơn nữa, gia quyến tướng quân đều vẫn ở Tề, Tề Vương lại chưa từng vì chuyện tướng quân bỏ đi mà có ý đồ bức hại, giờ tướng quân chịu oan khuất, nếu muốn rửa oan, chỉ có về Tề mới là thượng sách. Lão hủ già cả thế này, Tô đại nhân nếu không nắm chắc mười phần, tuyệt đối sẽ không để lão hủ phải đi một chuyến uổng công.”
“Đa tạ Tô Tử yêu mến!” Điền Kỵ vòng tay về phía xa xăm, rồi mặt lộ vẻ khó xử, lại quay sang Khuất Tương Tử. “Tấm lòng của Tô Tử, không phải vãn bối không nhận, mà là vì có uẩn khúc khác. Tô Tử giỏi đối đáp, song không hiểu việc quân. Tô Tử muốn vãn bối về Tề không khó, khó ở chỗ vãn bối lại phải giao chiến với Bàng Quyên. Cuộc chiến Hoàng Trì, vãn bối vẫn cho rằng Bàng Quyên thắng vì may mắn, trong lòng không phục, nên đã chuẩn bị suốt nhiều năm, mưu đồ phục thù. Cho tới trận chiến Quế Lăng, vãn bối mới hiểu nông sâu, mỗi lần nghĩ lại, khó tránh hãi hùng. Không giấu tiền bối, đừng nói là lính Tề khó lòng địch nổi võ binh Ngụy, chỉ riêng vãn bối, đã thua xa Bàng Quyên. Chiến thắng Quế Lăng là công của một mình quân sư, không phải của vãn bối! Nay quân sư đã qua đời, tại hạ...”
“Quân sư chưa chết!” Khuất Tương Tử mỉm cười cắt lời.
“Sao kia?” Điền Kỵ trợn trừng hai mắt, nhìn sững vào Khuất Tương Tử. “Tiền bối nói gì?”
“Tôn Tẫn vẫn sống, nếu không ngoài dự đoán, lúc này hẳn đã cùng Tô Tần tới Lâm Truy rồi!” Khuất Tương Tử nói xong, kể sơ qua một lượt chuyện Tôn Tẫn giả chết cho Điền Kỵ nghe.
Điền Kỵ vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, thán phục vô cùng, một lúc sau, lấy ra mệnh thư, ấn tỷ của Sở Vương, lại băn khoăn: “Tại hạ nhờ Cảnh huynh tiến cử, được Sở Vương hậu ái, vừa được phong làm Thượng Dung Quân, hiện đang trên đường tới nhậm chức. Giờ nếu quay về Tề, biết ăn nói thế nào với Sở Vương và Cảnh huynh đây?”
“Lão hủ đã điều tra rõ, người tiến cử tướng quân lần này không phải là Cảnh Thuý, mà là Chiêu Dương!”
“Tiền bối làm sao biết được?” Điền Kỵ kinh ngạc hỏi.
“Tướng quân vừa đi khỏi, môn nhân của Cảnh Thuý đã mang thư về. Nghe người này nói, Cảnh Thuý không muốn tướng quân tới Thượng Dung, song mọi việc đã muộn.”
Điền Kỵ hít ngược một hơi khí lạnh, hồi lâu sau mới hỏi: “Cớ sao Chiêu Dương lại tiến cử tại hạ?”
“Vì hắn không muốn tướng quân về Tề, quyết chiến với Ngụy!”
“Vì sao không muốn?”
“Cò ngao tranh hùng, ngư ông đắc lợi. Vị trí ngư ông này, Chiêu Dương chắc chắn không muốn hai tay dâng cho tướng quân và người Tề!”
Điền Kỵ nhắm mắt ngẫm nghĩ.
“Tướng quân, xin nghe lão hủ một câu!” Khuất Tương Tử nói tiếp. “Mặc giả thích nói đến chữ lợi. Tướng quân lập thân, lập nghiệp ở Tề, được lợi ở Tề, nước Tề vẫn là cội gốc của tướng quân, gửi thân đất khách, suy cho cùng không phải kế lâu dài. Từ sau khi tướng quân bỏ đi, tam quân nước Tề không ai trị nổi, Tôn Tẫn tuy có thể vạch mưu lược, song trị quân thứ nhất không có căn cơ, thứ hai không phải chỉ ngày một ngày hai là được. Nếu tướng quân không về, Bàng Quyên sẽ không còn ai chế phục!”
“Lời của tiền bối, Điền Kỵ xin kính cẩn tuân theo, chỉ có điều...” Điền Kỵ ngập ngừng một thoáng, “nếu Chiêu Dương thực sự không muốn vãn bối về Tề đánh Ngụy, ắt đã có đề phòng, cũng sẽ nhúng tay vào việc này, vãn bối làm thế nào mới tránh được sự giám sát của Chiêu Dương, an toàn rời khỏi nước Sở?”
“Tướng quân chớ nên lo lắng!” Khuất Tương Tử đáp. “Kế rời Sở, Tô đại nhân sớm đã bày xong, tướng quân hãy ghé tai lại đây!”
Điền Kỵ nhoài người lại, Khuất Tương Tử ghé sát tai Điền Kỵ thì thầm thế này thế kia, Điền Kỵ cứ thế gật đầu lia lịa.
Sáng hôm sau, ba cỗ xe nhẹ và đám tuỳ tùng của Điền Kỵ tiếp tục thẳng tiến tới Thượng Dung, mấy vị Mặc giả cũng từ biệt chủ quán lên đường.
Chỉ có điều, trong đám Mặc giả, có một người đã đổi chỗ cho Điền Kỵ.
Khuất Tương Tử, Điền Kỵ cứ thế thẳng tiến lên phía bắc, qua vùng ngoại ô Niết Dương, tiến vào vùng núi cao phương bắc, băng qua Phương Thành nước Sở, vòng qua Lỗ Quan, tới đại doanh của Mặc gia, nghỉ ngơi vài ngày ở đó, rồi tiến vào đất Hàn. Điền Kỵ và đám Mặc giả cải trang thành thương nhân Định Đào buôn bán đồ gốm sứ, trà trộn vào một đoàn thương nhân nước Tống, từ Hàn vào Ngụy, thẳng tới Đại Lương, rồi ung dung đi qua ngay trước mũi Bàng Quyên, đến Định Đào nước Tống. Mộc Thực đã chờ sẵn ở đó, đoàn người tiếp tục cải trang thành thương nhân, từ Định Đào vượt sông vào Tề, xe lăn rầm rập, thẳng tiến tới Lâm Truy.
Còn ba cỗ xe nhẹ cứ thế đi tiếp về phía tây, thêm mười ngày nữa, thình lình biến mất tăm hơi. Phong ấn của Điền Kỵ, mệnh thư của Sở Vương, và cả bức thư từ nhiệm do đích thân Điền Kỵ viết đều được để lại trong một quán trọ. Người Sở phát hiện, liền từng cấp báo lên, nhanh chóng chuyển về Chiêu phủ.
Chiêu Dương nhận được tin báo, triệu Trần Chẩn tới, đưa tất cả mọi thứ cho Trần Chẩn xem, nói: “Đúng như Trần huynh dự đoán, Điền Kỵ đã về Tề mất rồi! Than ôi, đúng là đề phòng không xuể!”
“Về cũng tốt!” Trần Chẩn vẫn thản nhiên như không. “Chúng ta lại được xem một tấn trò hay có một không hai!”
“Trò hay gì kia?”
“Tề, Ngụy đại chiến!” Trần Chẩn mặt đầy trông đợi. “Bàng Quyên cấu kết Trương Nghi, đại chiến với Tô Tần và Điền Kỵ!” Dừng lại một lát, cảm khái khẽ thở dài. “Chỉ đáng tiếc là Tôn Tẫn chết rồi, nếu kẻ này còn sống, đúng là Quỷ Cốc tứ tử đại chiến Trung Nguyên, ngàn năm có một!”
“Nếu như Tôn Tẫn còn sống, Bàng Quyên tất bại, Trần huynh hẳn cũng được nguôi ngoai nỗi uất hận năm xưa bị hắn đuổi khỏi nước Ngụy!”
“Ha ha ha!” Trần Chẩn cười đáp. “Già rồi, quên hết rồi, chuyện năm xưa, tại hạ đã không còn nhớ nổi. Chỉ cảm thấy Bàng Quyên kia vẫn là kẻ tài năng, cũng được coi là anh hùng đương thế. Tô Tần so với Trương Nghi, là ngang tài ngang sức. Tôn Tẫn chết rồi, Điền Kỵ so với Bàng Quyên, hơi yếu hơn chút ít, thực là trời không thuận ý người!”
“Đúng vậy!” Chiêu Dương gật đầu. “Xin hỏi Trần huynh, trò hay lần này đã sắp trình diễn, hẳn tại hạ cũng không nên chỉ ngồi xem?”
“Tướng quân nếu có nhã hứng, có thể đồng ý với sứ Hàn, tấu thỉnh phạt Ngụy, ba nước Sở, Hàn, Tề hợp sức chế phục Bàng Quyên, thứ nhất có thể vĩnh viễn trừ bỏ mầm hoạ, thứ hai có thể thu chút lợi lộc, bằng không, trong trận chiến đuổi hươu này, nước Sở đến nước canh cũng chẳng được một muôi!”
Chiêu Dương cũng cho là vậy, lập tức vào cung, trình lên Hoài Vương thư xin từ chức và những vật mà Điền Kỵ để lại, nói đúng như lời Trần Chẩn, tấu thỉnh chấp thuận thỉnh cầu của Hàn, khởi nghĩa binh phạt Ngụy, rửa mối thù Hình Sơn.
Hoài Vương mới lên ngôi, đang muốn hưng binh ra uy, lập tức chuẩn tấu, lệnh cho Chiêu Dương làm chủ tướng, Cảnh Thuý làm phó tướng, Ngân Thượng làm giám quân, điểm đủ sáu vạn quân Phương Thành và Uyển Thành, khởi binh phạt Ngụy.
Trương Nghi nhận được tin của Tần Vương, nói là Trần Chẩn chỉ nhận lời giữ Điền Kỵ lại, song không nhận lời đuổi Huệ Thi đi, thì cười nhạt một tiếng, thầm nghĩ: “Tay Trần Chẩn này cũng được đấy, đúng là không thể coi thường! Có kẻ này ở Sở, đã khó nhằn rồi, giờ lại thêm một Huệ Thi, nước Sở ắt sẽ lớn mạnh, Hùng Hoè dù có kém cỏi đến mấy, có hai người này ở bên, cũng sẽ hoàn thành đại nghiệp. Trần Chẩn ở Sở nhiều năm, thông thạo nước Sở, huống gì lại có Chiêu Dương nắm quyền trong tay, muốn động tới hắn ắt phải tiêu hao sức lực. Song Huệ Thi vẫn chưa vững chân, ta phải nghĩ cách, đuổi lão ta ra khỏi Sở mới được.”
Trương Nghi đóng cửa tiễn khách, suy ngẫm hồi lâu, đột nhiên nảy ra một ý, sáng sớm hôm sau tấu thỉnh Ngụy Vương, phái sứ thần tới Sính Đô, thứ nhất là điếu viếng tiên vương nước Sở, thứ hai là kết giao với tân vương Hùng Hoè. Ngụy Vương chuẩn tấu, làm theo thỉnh cầu của Trương Nghi, lệnh cho trung đại phu Phùng Hách vốn giỏi ứng biến đi sứ sang Sở. Phùng Hách trước khi lên đường, tới phủ tướng quốc từ biệt Trương Nghi, Trương Nghi bèn dặn dò kỹ lưỡng những việc cần làm sau khi tới Sở.
Phùng Hách thẳng tiến tới Sính Đô, khi đi qua Phương Thành, Uyển Thành, thấy dọc đường ngựa xe tấp nập, binh mã tập kết, lương thảo quân nhu vận chuyển ùn ùn, rõ ràng đang chuẩn bị chiến tranh. Phùng Hách hỏi dò biết được, Sở Vương đã hạ chỉ cứu Hàn, bèn vội vàng phái người phóng ngựa về cấp báo với Trương Nghi, đồng thời ra roi thúc ngựa, chưa đầy nửa tháng đã tới Sính Đô, vào buổi thượng triều hôm sau, trình lên quốc thư, làm như không hề hay biết chuyện Sở phạt Ngụy, chỉ lấy danh nghĩa Ngụy Vương điếu viếng tiên vương nước Sở, dâng lên hậu lễ.
Sở Hoài Vương mới nắm quyền triều chính, đang nôn nóng gây dựng tiếng vang với bang quốc, nên rất chú ý tiếp đãi sứ thần liệt quốc, đặc biệt là sứ thần nước Ngụy sắp sửa giao chiến, không chỉ nhận trọng lễ của Phùng Hách, mà còn giữ hắn lại thiết yến.
Trong bữa tiệc, Phùng Hách vòng tay nói: “Trên đường tới Sính Đô, Phùng Hách từ xa đã thấy binh mã lương thảo đông đảo khắp đường. Hiện tại không phải dịp đi săn mùa đông, cũng không phải dịp đi săn mùa thu, Phùng Hách lấy làm tò mò, dám hỏi đại vương chuyện này là thế nào?” Rồi chiếu ánh mắt dò hỏi vào Hoài Vương.
Hoài Vương bật cười đáp: “Nghe nói trên thao trường của quý quốc cũng sát khí ngút trời, khắp mọi ngả đường cũng người hô ngựa hí. Đã không phải dịp đi săn mùa đông, cũng không phải dịp đi săn mùa thu, xin hỏi sứ thần, lẽ nào đại vương bên đó đang bắt chước U Vương, tự bày trò tiêu khiển?”
Phùng Hách đảo con ngươi, rồi vòng tay khen ngợi: “Đại Vương tinh anh, Phùng Hách khấu phục. Đại vương thần diễn luyện binh mã, là vì Hàn Vương khinh miệt nước thần, đại vương muốn đòi Hàn Vương lẽ phải.”
“Quả nhân diễn luyện binh mã, là vì Hàn Vương viết huyết thư cầu cứu. Hàn, Sở láng giềng thân thiết lâu năm, Hàn Vương đã phái người mai mối, muốn gả công chúa sang Sở, kết tình thông gia. Nay thông gia có lời cầu xin, quả nhân cũng cần thể hiện thanh thế, nên chăng?”
“Nên, nên!” Phùng Hách gật đầu lia lịa. “Có điều, Phùng Hách ở đây cũng muốn khẩn cầu đại vương, thể hiện thanh thế cũng được, song chớ nên coi là thật. Ngoài ra, nếu đại vương có hứng thú kết thông gia, bất luận là công tử chờ cưới hay công chúa chờ gả, Ngụy thất đều không thiếu, Phùng Hách nguyện làm mai mối!”
Hoài Vương cười lớn một tràng dài: “Hay lắm, hay lắm, đúng là rất hay! Hậu cung của quả nhân đang thiếu người, dám hỏi sứ thần có muốn làm mai mối hay chăng?”
“Phùng Hách lấy làm vinh hạnh!” Phùng Hách vòng tay đáp lời. “Có điều, nếu là chuyện cưới hỏi của đại vương, thần địa vị thấp hèn, e là không dám làm mai mối! Kính thỉnh đại vương hiểu dụ bát tự sinh thần của đại vương cho Phùng Hách, đợi Phùng Hách về Ngụy, sẽ tìm cho đại vương một người mai mối phù hợp!”
“Ồ?” Hoài Vương nhổm người lên trước hỏi. “Là người nào thế?”
“Tướng quốc Trương Nghi!”
“Trương Nghi?” Hoài Vương lại ngồi thẳng dậy, đưa tay vuốt râu, lát sau bèn nói. “Ừm, quả nhân và người này đã từng qua lại, cũng hiểu rõ người này, là một nhân tài. Nghe nói người này lang bạt nhiều nơi, cuối cùng tới Tần, địa vị cực cao, song không hiểu vì nguyên cớ gì, lại bỏ Tần sang Ngụy, được phong tướng quốc, muốn cấu kết Bàng Quyên phạt Triệu lập công, không ngờ binh bại Quế Lăng, hại Bàng Quyên suýt nữa mất mạng, những chuyện này có thực chăng?”
“Đại vương mới chỉ biết một mà chưa biết hai!” Phùng Hách thản nhiên đáp lời.
“Xin sứ thần chỉ giáo!”
“Theo Hách được biết, khi Trương tướng quốc ở Sở, giúp Sở diệt Việt. Khi ở Tần, trước hết giúp Tần chống lại liên quân sáu nước ngoài ải Hàm Cốc, sau đó đích thân chỉ huy quân Tần, chỉ với năm vạn quân ít ỏi mà tiêu diệt Ba, Thục trong vòng một năm, lập nên công lao cái thế. Nay lại tới Ngụy, dẫn quân Ngụy phạt Triệu, chiếm được kinh đô nước lớn. Còn trong trận chiến Quế Lăng, là Bàng tướng quân không chịu nghe theo diệu kế của tướng quốc, tự ý dẫn quân giao chiến với quân chủ lực nước Tề, đã thế còn liều lĩnh tiến công, nên mới trúng bẫy Tôn Tẫn!”
“Quả nhân ngu dốt, dám hỏi tướng quốc có diệu kế gì?”
“Khinh binh vượt sông, tránh thực đánh hư, từ Hà Gián chọc thẳng vào kinh đô Lâm Truy của Tề!”
Hoài Vương hít ngược vào một hơi, nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau, tấm tắc khen ngợi: “Quả là diệu kế!”
“Đại vương có điều không biết,” Phùng Hách lại vòng tay, “ngoài tài bày mưu tính kế, Trương tướng quốc còn có một sở trường nữa.”
“Ồ?” Hoài Vương lại nhổm người về phía trước.
“Đuổi người!” Phùng Hách dõng dạc nói. “Phàm những người tướng quốc không ưa, đều sẽ bị tướng quốc đuổi đi. Ở Tần có Công Tôn Diễn, ở Ngụy có Huệ Thi!”
“Phải!” Hoài Vương khẽ gật đầu. “Có điều, ở đất Sở của quả nhân, hắn cũng bị người khác đuổi đi, nghe nói khi rời khỏi Sở, người này thảm hại vô cùng!”
“Đại vương có điều không biết, Trương tướng quốc xưa nay là người lỗi lạc, hành sự quang minh, mưu dương không mưu âm, đuổi người cũng phải đuổi cho công khai minh bạch. Còn ở quý quốc, lại có người ưa nấp trong bóng tối, ám hại người ta, nên tướng quốc tuy bại vẫn vinh!”
Cảnh ngộ của Trương Nghi ở Sở, Hoài Vương đều hiểu rất rõ, trước lý lẽ của Phùng Hách, đã không phản bác, lại còn thừa nhận, khẽ thở dài một tiếng, đổi giọng mà nói: “Than ôi, tài của Trương Nghi, quả nhân rất tâm đắc, chỉ là người này bỏ Tần tới Ngụy, đúng là ngọc sáng tới chỗ tối.”
“Mỗi người mỗi chí!” Phùng Hách đáp lời. “Huống hồ tướng quốc vốn là người Ngụy, tiên phụ của tướng quốc cũng là bề tôi nước Ngụy, từng vì Ngụy mà đổ máu chốn biên cương, tướng quốc về Ngụy dốc sức vì nước, cũng coi là tận trung báo quốc. Hơn nữa, đại vương thần là người trọng tài, đối đãi với tướng quốc cũng không bạc!”
Hoài Vương lại thở dài vài tiếng, hẳn là tiếc nuối vì Sở đã để mất Trương Nghi.
Phùng Hách nhằm đúng thời cơ, vòng tay nói: “Nhắc tới tướng quốc, thần còn có một chuyện muốn được tấu thỉnh đại vương!”
Cứ nói!”
“Trước khi Hách đi, tướng quốc nắm tay Hách, đặc biệt dặn dò, muốn Hách chuyển lời thăm hỏi tới Huệ tướng quốc. Hách mới đến Sở, còn lạ nước lạ cái, muốn tới vấn an Huệ tướng quốc, lại lo tướng quốc hiềm nghi...” Phùng Hách ngập ngừng một lát, rồi nói thẳng vào trọng tâm. “Nghe nói Huệ tướng quốc đã được đại vương trọng dụng, Phùng Hách bạo gan thỉnh cầu đại vương giúp Hách chuyện này, chuyển lời hỏi thăm của Hách tới Huệ tướng quốc.”
Hoài Vương cười nói: “Sứ thần muốn quả nhân chuyển lời không khó, có điều, sứ thần hãy về hồi bẩm Trương Nghi, nói rằng Huệ Thi ở đây chưa được trọng dụng, nước Sở đất rộng của nhiều, nuôi thêm một người, cũng chẳng có gì khó khăn.”
“Phùng Hách nhất định sẽ chuyển lời tới tướng quốc!” Phùng Hách vòng tay nói. “Đại vương chu cấp cho Huệ tướng quốc, đủ thấy lòng từ ái. Đại vương không dùng Huệ tướng quốc, đủ thấy sự anh minh. Cho dù như vậy, Hách có một lời, như xương mắc trong họng, không nói ra thì ấm ức, mà nói ra, lại e mạo phạm long uy của đại vương!”
“Sứ thần có lời, cứ nói đừng ngại”
“Huệ Tử tới Sở, đại vương giữ lại, là thiếu sáng suốt!”
“Thiếu sáng suốt như thế nào, xin hãy nói tường tận!”
“Dám hỏi đại vương, tài của Huệ Tử so với Trương Nghi thế nào?”
“Huệ Tử không bằng.”
“Đại vương thánh minh.” Phùng Hách thuận thế đáp lời. “Tuy Huệ Tử không bằng Trương Nghi, song vẫn xứng đáng là đại tài của thiên hạ. Huệ Tử tới đây cậy nhờ đại vương, nếu đại vương dùng, Trương Nghi ắt không vui lòng, nếu có một ngày, Nghi không được đắc chí ở Ngụy, có ý tới Sở, song vì chuyện không vui này mà từ bỏ ý định, có lẽ lại quay về Tần, đại vương sẽ mất nhiều hơn được. Nếu đại vương không dùng Huệ Tử, sẽ khiến sĩ tử thiên hạ thất vọng, đại vương cũng mang tiếng có hiền tài mà không biết dùng. Đây chỉ là suy xét về phía đại vương và Trương tướng quốc. Còn về phía Huệ Tử, do bị Trương tướng quốc đuổi đi, sinh lòng căm hận, nếu biết được đại vương có giao tình thân thiết với Trương tướng quốc ắt sinh hai lòng.”
Phùng Hách miệng lưỡi dẻo quẹo, song không phải không có lý. Hoài Vương trầm ngâm một hồi, rồi vòng tay nói: “Dám hỏi sứ thần, hẳn có diệu kế chỉ giáo quả nhân?”
“Diệu kế thì không dám, Hách có lời này, đại vương xin hãy nghe thử!” Phùng Hách vòng tay đáp lễ. “Huệ Tử là người Tống, nghe nói Tống Vương rất coi trọng Huệ Tử, từng chiếu cáo cả nước Huệ Tử là hiền tài, chuyện này đã thành giai thoại trong thiên hạ. Nay Huệ Tử và Trương tướng quốc bất hoà, cả thiên hạ đều biết. Hiện tại, nếu suy xét cho đại vương, Hách cho rằng, đại vương có thể phái người trực tiếp hộ tống Huệ Tử tới Tống, đích thân viết thư tiến cử Huệ Tử lên Tống Vương. Nếu làm vậy, đại vương sẽ một tên trúng ba đích. Thứ nhất gia ân cho Trương tướng quốc, Trương tướng quốc nếu biết được đại vương vì mình mà đuổi Huệ Tử đi, ắt tạ ân đại vương; thứ hai, ban đức cho Huệ Tử, do Huệ Tử nay đã lâm vào đường cùng, được đại vương tiến cử tới Tống, mở cho đường sống, Huệ Tử ắt cảm tạ đức của đại vương; thứ ba, ban huệ cho Tống Vương, do nước Tống gần đây không có đại tài, Tống Vương nếu được Huệ Tử, nước tất thịnh trị, ắt sẽ ghi nhớ ơn huệ của đại vương.”
“Hay lắm, quả là diệu kế!” Hoài Vương lấy làm thán phục, truyền chỉ bày tiệc rượu, cùng Phùng Hách yến ẩm tới tận đêm khuya.
Dụ chỉ của Hoài Vương được Chiêu Dương truyền tới Huệ Thi. Huệ Thi nghe xong, rầu rĩ chán nản, không muốn lưu lại lấy một khắc, ngay đêm đó thu dọn hành trang, gà vừa gáy sáng đã lặng lẽ rời khỏi Sính Đô, thậm chí không cả tới chào Chiêu Dương một tiếng.
Tới khi Trần Chẩn được Hình Tài bẩm báo lại, đã là nửa canh giờ sau.
Trần Chẩn chẳng kịp nói năng, lập tức chuẩn bị xe tứ mã, đuổi gấp lên phía bắc. Đuổi được hơn ba mươi dặm thì nhìn thấy đoàn ngựa xe của Huệ Thi đang lộc cộc lăn bánh.
“Tiên sinh dừng bước!” Trần Chẩn ra roi đuổi theo, lớn tiếng gọi.
Huệ Thi hô dừng xe lại, song vẫn ngồi im trên xe, chỉ ôm quyền mà nói: “Thượng khanh tới đưa tiễn chăng?”
Trần Chẩn xuống xe, vội vã bước tới trước xe Huệ Thi, ôm quyền nói: “Tại hạ không phải tới đưa tiễn, mà là tới giữ tiên sinh!”
“Là thượng khanh muốn giữ, hay là thượng khanh giữ hộ người khác?”
“Là tại hạ muốn giữ!” Trần Chẩn vội nói. “Tại hạ hỏi qua lệnh doãn, biết được đại vương tin lời Phùng Hách, đặc chỉ đưa tiễn tiên sinh. Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ, sứ Ngụy Phùng Hách ắt là người của Trương Nghi. Tiên sinh, không phải tại hạ nhất định muốn giữ, mà tại hạ nghĩ rằng, với tài của tiên sinh, vì sao chỗ nào cũng để tên tiểu nhân xảo trá kia chế ngự? Chỉ cần tiên sinh bằng lòng, tại hạ có thể nhờ Chiêu Dương ra mặt, nói rõ chỗ lợi hại với đại vương, tin chắc đại vương sẽ nghe lời Chiêu Dương, giao cho tiên sinh trọng trách. Có tiên sinh ở Sở, chúng ta cùng hợp sức, có thể đấu lại Trương Nghi!”
Huệ Thi cười khẽ mấy tiếng: “Thượng khanh đa nghi quá rồi. Là lão hủ tự rời khỏi Sở, không liên quan tới Trương Nghi!”
“Tiên sinh?” Trần Chẩn kinh ngạc.
“Không giấu thượng khanh,” Huệ Thi đáp lời, “Lão hủ tới Sở, là muốn cậy nhờ Sở Vương, muốn dựa vào sức mạnh của Đại Sở, quyết đấu với Tần. Không ngờ Đại Sở đổi vua, Sở Vương này đã khác Sở Vương kia!”
“Ý tiên sinh là,” Trần Chẩn hít sâu một hơi, “Sở Vương hiện nay chưa xứng đáng để cậy nhờ?”
“Chỉ nghe lời một phía đã lập tức đuổi người đi, là thiếu minh mẫn. Trương Nghi bỏ Tần tới làm tướng Ngụy, muốn hợp Tam Tấn để chế Sở, Sở Vương có mắt mà không thấy, là thiếu sáng suốt. Tần vương mới đăng cơ, đúng lúc đang cần dùng người, lão hủ đường cùng tới cậy nhờ, vua này đã không triệu không gặp thì chớ, giờ lại chưa hỏi cho ra nhẽ đã đuổi đi, là thiếu trí tuệ. Nhà vua đã thiếu minh mẫn, thiếu sáng suốt, thiếu trí tuệ, cậy nhờ thế nào được đây?”
Huệ Thi giờ bỏ đi, cũng chẳng nể nang gì nữa, nói hết ra những bất mãn trong lòng.
Trần Chẩn nghe đã hiểu ra, bật cười vài tiếng, đáp lời: “Theo tại hạ biết, vua thiếu minh mẫn, thiếu sáng suốt, thiếu trí tuệ, thiên hạ không ai hơn được Ngụy Vương, mà tiên sinh đã phò tá Ngụy Vương những mười năm, cớ sao bây giờ một ngày cũng không muốn ở lại Sở?”
“Chính vì lão hủ đã phò tá Ngụy Vương mười năm, nên giờ mới một ngày cũng không muốn ở lại Sở.”
Trần Chẩn thoáng ngỡ ngàng, rồi vô cùng nể phục, vòng tay nói: “Tiên sinh đi lần này, hẳn là muốn tới nước Tống?”
“Đúng vậy.”
“Hẳn muốn phò tá Tống Vương?”
“Than ôi!” Huệ Thi khẽ lắc đầu. “Sở Vương đã không thể phò tá, huống hồ là Tống Vương? Đời người ngắn ngủi, năm tháng uổng hoài, lão hủ đã đến tuổi biết mệnh trời, lá rụng về cội, niềm vui cuối đời, đáng lẽ phải là về nơi quê cha đất tổ, cùng Trang Chu biện luận danh thực mới đúng. Sở dĩ lão hủ bỏ Ngụy tới Sở, kỳ thực là tức giận nhất thời, thật quá ư nực cười.” Đoạn vẫn ngồi nguyên tại chỗ, khẽ vòng tay. “Thượng khanh nếu không còn lời nào khác, lão hủ phải lên đường đây!” Rồi không đợi Trần Chẩn đáp lời, đã vung roi thúc ngựa, tiếp tục hành trình.
Nhìn theo cát bụi mịt mù mỗi lúc một xa, Trần Chẩn không khỏi than vắn thở dài.
Tam quân Đại Ngụy chia thành hai lộ, khí thế ngùn ngụt, tiến thẳng tới biên giới Hàn. Ngựa hí xe lăn, bụi cuốn mù trời, tiếng bước chân rầm rập chỉnh tề, nghe đinh tai nhức óc. Võ binh tiên phong đồng loạt khoác giáp trụ sắt ròng do Tần chế tác, bắt sáng lấp loá dưới nắng trời.
Biên giới nước Hàn, lửa hiệu nối nhau bùng cháy.
Cùng lúc đó, năm vạn quân Hàn do Công Trọng Xỉ, Hàn Cử chỉ huy sớm đã dựa vào địa hình, dàn sẵn thế trận ở vùng Hoa Dương phía bắc Trịnh Thành, nghênh đánh trực diện Bàng Quyên.
Đối mặt với kẻ địch yếu ớt, Bàng Quyên có thừa tự tin, vì thế vẫn chọn chính thuật, không giở thủ đoạn kỳ chiêu, binh đối binh, tướng đối tướng, giao tranh trực diện trên sa trường.
Hai quân đối trận, Thanh Ngưu lên khiêu chiến trước, chém liền ba tướng nước Hàn. Quân Hàn đang cơn kinh hãi, bỗng một toán quân uy mãnh xông ra từ bên sườn, tuyền là võ binh giáp trụ, đánh thẳng vào bên phải trận quân Hàn. Sườn phải trận quân Hàn dùng nỏ mạnh tên sắc bắn trả, song giáp trụ và khiên của võ binh Ngụy đúc bằng sắt ròng của chính nước Hàn lại đỡ tên rất hiệu quả, võ binh Ngụy cứ thế ép thẳng tới gần, trường thương tua tủa chĩa thẳng về phía trước, khiến quân Hàn kinh tâm táng đởm, cứ thế đua nhau thoái lui, khiến trận thế rối loạn. Bàng Quyên phất cờ, trung quân thừa thế xông lên chém giết. Quân Hàn chống cự không nổi, hoàn toàn tan rã, lùi liền ba mươi dặm mới ổn định được thế trận, điểm lại binh mã, thương vong hơn vạn, quân nhu, binh khí tổn thất vô số.
Bàng Quyên cũng không vội đuổi theo, quân Ngụy ung dung duy trì đội hình, tiến lên phía trước dọc theo đường lớn, xông thẳng tới phòng tuyến thứ hai của quân Hàn. Quân Hàn dựa vào địa thế lại nghênh chiến, song một lần nữa thất bại, tiếp tục lui về mười dặm hạ trại. Cứ thế đánh liền ba trận, thất bại cả ba, Công Trọng Xỉ không dám đối đầu trực diện, hạ lệnh từ bỏ vùng ngoại ô, rút về cố thủ Trịnh Thành, dựa vào thành trì mà kháng cự đến cùng.
Đại quân Bàng Quyên nhanh chóng áp sát, ung dung bao vây Trịnh Thành từ bốn phía.
Cùng lúc này, Dương Địch cách đó hơn trăm dặm về phía nam cũng bị công phá bởi hữu quân do công tử Tự chỉ huy.
Dương Địch không chỉ là kinh đô thứ hai của nước Hàn, mà còn là trọng ấp kinh thương, có hơn ba vạn binh lính, song đánh hai trận đều thua, đành phải lui về cố thủ trong thành. Quân Ngụy vây thành, Bạch Hổ và Bạch Khởi đích thân lên thành, hỗ trợ phòng thủ. Trong thành, đám thương nhân không ai không căm hận thấu xương người Ngụy quỵt nợ không trả, đua nhau quyên tiền quyên gạo, thợ thuyền các nhà cũng cầm vũ khí, tình nguyện xả thân chống Ngụy.
Trải qua vài ngày kịch chiến, người Ngụy đã để lại dưới chân thành hơn nghìn thi thể, song chưa một lần leo tới được đầu thành. Công tử Tự giận dữ, lại muốn công thành lần nữa, song Bàng Quyên đã ruổi ngựa đến nơi, lệnh cho quân Ngụy lui về năm dặm hạ trại, chỉ bao vây Dương Địch, cắt đứt đường lương. Dương Địch là đất kinh thương, lương thực đều dựa cả vào thương nhân buôn bán, tích trữ không nhiều, Bàng Quyên hiển nhiên muốn vây khốn người Hàn đến chết.
Trong lúc Hàn, Ngụy đang hỗn chiến, Điền Kỵ và Tôn Tẫn cùng xuất hiện trong cung Tề.
Bá quan một phen chấn động, đặc biệt là tướng quốc Trâu Kỵ, nhìn thấy Tôn Tẫn, ngỡ là ma quỷ hiện hình, lại thấy Điền Kỵ, lập tức hoả bốc lên đầu, người lảo đảo vài cái, ngã vật xuống đất. Ngự y vội vã tới cứu, hồi lâu mới khiến Trâu Kỵ thở được một hơi, cung nhân bèn đưa về phủ an dưỡng.
Tham gia nghị sự lần này, vẫn là mấy vị trọng thần được Tích Cương vời tới, là Đoạn Can Luân, Trương Cái, Điền Anh và Trâu Kỵ, chỉ là có thêm ba người Tô Tần, Tôn Tẫn và Điền Kỵ.
Trâu Kỵ chết giấc phải đưa về phủ, Điền Tích Cương cười gượng một tiếng, nói: “Về việc cứu Hàn, chư vị cứ bàn bạc trước, đưa ra sách lược, rồi thượng đại phu sẽ bẩm báo lại tướng quốc sau!”
Điền Kỵ khẽ hừ mũi một tiếng, quay mặt sang chỗ khác.
“Chư vị ái khanh!” Tích Cương vào ngay chuyện chính. “Quân Ngụy đã vào biên giới Hàn, nước Hàn bốn bề chiến hoả. Hàn Vương viết huyết thư báo nạn, quả nhân đã hồi âm sứ Hàn, đồng ý cứu Hàn.”
Quần thần nhìn nhau, cùng gật đầu.
“Không giấu chư vị,” Tích Cương nhìn khắp lượt quần thần, rồi ánh mắt dừng lại trên người Tôn Tẫn và Điền Kỵ, “khi hồi âm huyết thư của Hàn Vương, quả nhân vẫn còn băn khoăn trong dạ, nhưng nay trời đã giúp ta, quân sư sống lại, Điền tướng quân trở về, quả nhân cho rằng đã có thể xuất chiến! Bởi vậy, nghị sự hôm nay, không phải bàn chuyện cứu hay không cứu, mà là cứu sớm hay cứu muộn, và cứu như thế nào?”
“Thần cho rằng,” Đoạn Can Luân lên tiếng trước tiên, “cứu muộn không bằng cứu sớm. Nếu cứu muộn, người Hàn có lẽ sẽ phục tùng theo thế Tần, Ngụy mà bỏ tung chọn hoành.”
“Thần không cho là vậy!” Trương Cái tiếp lời. “Cứu sớm không bằng cứu muộn. Hiện tại cuộc chiến Hàn, Ngụy mới chỉ khởi đầu, binh lực đang mạnh, nếu như ta cứu, chính là giơ đầu chịu báng thay Hàn, mất sức mà lại bất lợi, không chừng còn phải nghe theo mệnh lệnh người Hàn. Nhìn vào người Ngụy, hừng hực ý chí phạt Hàn, người Hàn đối mặt với sinh tử tồn vong, lại có đại vương hứa hẹn, ắt sẽ quyết tâm tử chiến. Thần cho rằng, hãy đợi đến khi hai quân Hàn, Ngụy đều mệt mỏi, ta mới xuất quân, thì nước có thể mạnh, lợi có thể được, danh có thể dương.”
Tích Cương nhìn sang Tô Tần, Tô Tần nhìn sang Tôn Tẫn, nói: “Thần tán thành ý của Trương lão, còn dụng binh thế nào, điện hạ có thể hỏi Tôn Tẫn!”
Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tôn Tẫn.
“Hồi bẩm điện hạ!” Tôn Tẫn vòng tay nói. “Phạt nước lớn, cần chuẩn bị ba năm, tích trữ lương thảo ba tháng. Nay người Ngụy xâm phạm bờ cõi Hàn, hai quân đã giao tranh, sinh tử tồn vong treo trên sợi tóc, bây giờ xuất binh, e đã là cứu muộn rồi. Huống hồ lính năm đô của ta còn chưa tập kết, lương thảo cũng còn chưa cung ứng đủ.”
“Được!” Điền Tích Cương nói. “Chuyện này không cần bàn nữa, quả nhân ý đã quyết, phong Điền Kỵ làm tướng, Tôn Tẫn làm quân sư, Điền Anh làm phó tướng, Khuông Chương chỉ huy tả quân, Trần Đà chỉ huy hữu quân, khởi tam quân mười vạn, chọn ngày làm lễ tế cờ!”
Việc làm đầu tiên của Điền Kỵ sau khi bái tướng chính là cùng Tôn Tẫn vào Tuyết cung thăm Uy Vương. Song Uy Vương không nhận ra họ, nhìn họ mà chẳng khác nào nhìn người xa lạ.
Nhìn vị quân vương uy thế lẫy lừng suốt bao năm qua, nay lại thành ra ngẩn ngơ ngây dại, Điền Kỵ không kìm nổi nước mắt.
Điền Kỵ tính khí nóng nảy, nói làm là làm ngay, vào ngày thứ ba sau khi bái tướng, lập tức điểm binh trên thao trường, vào ngày thứ năm làm lễ tế cờ. Một ngày sau đó, trung quân Lâm Truy khí thế bừng bừng, kéo ra từ các doanh trại dưới chân núi Tắc Sơn, nghìn nghịt tiến về tây.
Trâu Kỵ đổ bệnh.
Ngay sau hôm chết ngất trên triều, Trâu Kỵ đã viện cớ đau ốm, chính thức trình lên thư từ chức, giao trả ấn thụ. Điền Tích Cương tới tận phủ thăm hỏi, an ủi vài câu, trả lại ấn thụ cho Trâu Kỵ, dặn Trâu Kỵ hãy an tâm dưỡng bệnh, trước lúc ra về, còn nắm tay Trâu Kỵ nói: “Hiện tại tam quân đã lên đường, lương thảo quân nhu là quan trọng hàng đầu, ái khanh sức yếu, không tiện đi xa, theo ý ái khanh, giao cho ai giám sát vận chuyển là phù hợp hơn cả?”
“Tô Tần!” Trâu Kỵ ngẫm nghĩ một lát, trầm giọng đáp. “Phạt quốc dụng binh, tướng quân tướng quốc cần hoà hợp. Lần trước phạt Ngụy, lão thần và Điền tướng quân nảy sinh mâu thuẫn, lần này Điền tướng quân lại xuất chinh, chuyện lương thảo, tốt nhất nên giao cho người mà Điền tướng quân tin tưởng đảm nhiệm.”
Tích Cương ngẫm nghĩ một lát, rồi nói: “Cứ theo ý tướng quốc!”
Tô Tần nhận lệnh giám sát vận chuyển lương thảo, tới phủ tướng quốc bái kiến. Trâu Kỵ nằm trên giường, bệnh nặng rên hừ hừ, nên tể phụ Mâu Tân bàn giao cho Tô Tần danh sách quan viên phụ trách lương thảo các ấp và số lượng lương thảo cung ứng các nơi, đồng thời bẩm báo mọi việc liên quan.
Vừa nghe Mâu Tân xưng tên, Tô Tần đã âm thầm kinh ngạc. Trong cuộc chiến vây Ngụy, Tô Tần không dưới một lần nghe Tôn Tẫn nhắc tới Mâu Tân, trong ký ức vẫn còn nhớ như in cái tên này, biết chuyện hắn bao che cho công tử Trâu phủ, cũng là người nhận được mật thư hãm hại Điền Kỵ. Nay người này thoắt cái đã trở thành tể phụ của phủ tướng quốc, hơn nữa tới đây sẽ trợ giúp Tô Tần công việc vận chuyển lương thảo trong một thời gian dài, Tô Tần bất giác hít sâu một hơi, ánh mắt sắc sảo nhìn thẳng vào hắn.
Hai luồng ánh mắt dường như xuyên thấu lục phủ ngũ tạng Mâu Tân!
Mâu Tân cúi gằm mặt, không dám nhìn thẳng.
Hồi lâu sau, Tô Tần thu ánh mắt lại, tiến hành bàn giao. Trong suốt quá trình, có lẽ do kinh hãi trước vẻ uy nghiêm của Tô Tần, cũng có lẽ do khiếp sợ trước chính khí của Tô Tần, Mâu Tân cứ nơm nớp lo sợ, đến thở mạnh cũng không dám. Đợi bàn giao xong xuôi, Mâu Tân cung kính tiễn Tô Tần ra khỏi phủ, nhìn theo xe ngựa khuất dần, cuối cùng mới thở phào một tiếng, buồn bực trở về phủ tướng, tới trước giường Trâu Kỵ.
“Bàn giao xong chưa?” Trâu Kỵ đã ngồi dậy, bỏ khăn ướt đắp trên trán, nhìn Mâu Tân hỏi.
“Đã xong rồi!”
“Ngươi lần đầu tiên gặp Tô Tần?”
“Vâng!”
“Cảm giác thế nào?”
“Ờ...” Mâu Tân thoáng ngập ngừng. “Đệ tử cũng không biết nói thế nào! Chỉ cảm thấy người này lần đầu gặp đệ tử, ánh mắt sắc lẹm, khí thế bức người, khiến đệ tử vô cùng căng thẳng.”
“Sao lại căng thẳng?”
“Cứ như muốn xuyên thấu tâm can đệ tử!”
Trâu Kỵ cười nói: “Là vì ngươi trong lòng có điều chột dạ, nên bản thân ngươi đã căng thẳng, không phải do Tô Tần!” Chỉ vào Công Tôn Hãn bên cạnh. “Nếu là Công Tôn tiên sinh đây, sẽ chẳng có chuyện căng thẳng đâu!”
“Đệ tử...” Mâu Tân ấp úng nói. “Đệ tử không phục! Đệ tử đúng là có điều chột dạ! Chúa công” Giọng nói trở nên khẩn thiết. “Điền Kỵ lần này trở về, hẳn là muốn đòi mạng đệ tử!”
“Đúng vậy. Mâu Tân, ngươi thử nói xem, ngươi có dự định gì?”
“Đệ tử... muốn để họ Điền đó không có gì mà ăn!” Mâu Tân dường như đã bừng tỉnh, dựng ngón cái lên mà nói. “Giờ xem ra, ân sư lần này giả bệnh, thực là tuyệt diệu. Điện hạ để Tô Tần phụ trách lương thảo, mà Tô Tần vốn ở Triệu, chẳng hiểu gì về đất Tề ta, việc phụ trách lương thảo, chẳng phải vẫn nằm cả trong tay đệ tử? Đệ tử chỉ cần giở chút tiểu xảo, Điền Kỵ kia chắc chắn sẽ phải khốn đốn.”
“Hồ đồ!” Trâu Kỵ biến ngay sắc mặt, nghiêm giọng trách cứ. “Mâu Tân, ngươi tuyệt đối không được làm bừa!” Thở hổn hển vài cái rồi mới dịu giọng mà nói. “Mâu Tân, ngươi chớ hiểu lầm ý ta. Chúng ta đều là người Tề, đất Tề là quê nhà của ta. Nếu nước lâm nạn, nhà tất thương vong. Nay ba quân viễn chinh, sự việc liên quan tới tính mạng của nghìn vạn tướng sĩ, chúng ta nên đồng tâm nhất chí, nhất quyết không được làm bừa, lại càng không được vì thù oán riêng tư mà làm hỏng quốc gia đại sự. Còn như Điền Kỵ đắc thế, cũng chỉ là tạm thời, có thể dần dần tính sau!”
“Ân... ân sư!” Mâu Tần giật mình kinh hãi, vội vàng nói chữa. “Đệ tử sai rồi! Đệ tử nhất định kính cẩn tuân lệnh ân sư, tận tâm tận lực, trợ giúp Tô Tần đảm bảo cung ứng quân nhu!”
“Đi đi!” Trâu Kỵ phẩy tay. “Bất luận tiền tuyến xảy ra chuyện gì, đều phải báo ngay cho ta!”
“Đệ tử tuân mệnh!” Mâu Tân quỳ xuống, lạy ba lạy từ biệt.
“Công Tôn tiên sinh!” Nhìn theo bóng Mâu Tân, Trâu Kỵ khẽ thở dài một tiếng, quay sang Công Tôn Hãn. “Lão hủ lần này để Mâu Tân trợ giúp Tô Tần giám sát vận chuyển lương thảo, liệu có sơ suất nào chăng? Nhìn con người này, lão hủ cứ cảm thấy không thể yên tâm!”
“Chúa công!” Công Tôn Hãn nhìn thẳng vào Trâu Kỵ. “Chúa công muốn Điền Kỵ thất bại, hay muốn Điền Kỵ chiến thắng?”
Hiển nhiên, đây là một câu hỏi khiến Trâu Kỵ phải lúng túng. Trâu Kỵ khẽ mấp máy môi vài cái, lại thôi, hồi lâu sau, nằm lại xuống giường, tiếp tục đắp khăn ướt lên trán, từ từ khép mắt lại.
Hồi Thứ 69
Đứt quân lương, Tôn Tẫn dọc đường giết ngựa
Đuổi kình địch, Bàng Quyên Mã Lăng sa cơ
Sau khi Điền Kỵ rời Sở, vì muốn chiếm lấy tiên cơ, Chiêu Dương thỉnh tấu Sở Vương, đích thân làm chủ tướng, dẫn sáu vạn quân, uy hiếp tới Hình Sơn. Đồng thời, Hoài Vương hạ chỉ cho văn học thị tùng Khuất Nguyên khởi thảo một bản hịch văn khai chiến lời lẽ hùng hồn, rồi đích thân chép lại, đóng ngọc tỷ, phái sứ giả mang tới Đại Lương.
Do mấy năm về trước từng được Tô Tần giao phó thảo minh ước sáu nước phạt Tần, nên Khuất Nguyên không chỉ danh vang liệt quốc, mà còn được trong triều ngoài nội nước Sở suy tôn là đệ nhất tài tử. Phạt Tần thất bại, Khuất Nguyên được thái tử Hoè giữ lại bên mình, hầu hạ sớm tối. Sau khi kế ngôi, trong danh sách nhiệm chức bãi chức đầu tiên, thái tử Hoè đã đặc cách cất nhắc Khuất Nguyên làm văn học thị tùng, liệt vào hàng trung đại phu, chuyên trách thảo các loại chiếu thư, dụ chỉ, tương đương với chức ngự sử của liệt quốc Trung Nguyên. Khuất Nguyên xưa nay tán thưởng sách lược hợp tung của Tô Tần, lấy làm đau lòng trước việc Ngụy hết phạt Triệu lại phạt Hàn, do vậy bản hịch văn đã bộc bạch được cảm xúc trong lòng, lời lẽ bén nhọn, ngôn từ hoa mỹ, dù là Ngụy Huệ Vương đọc nhiều hiểu rộng, cũng không kìm được mà tấm tắc ngợi khen, cứ đọc đi đọc lại mãi.
Trước khi hịch văn nước Sở kịp tới Đại Lương, Bàng Quyên đã nhận được mật báo của sứ Ngụy Phùng Hách, đồng thời thám mã các lộ cũng liên tục cấp báo về tình hình điều động của quân Sở.
Sở có nỗi đau Hình Sơn, điều binh lần này, hẳn là muốn đòi lại Hình Sơn. Bàng Quyên không dám coi thường, một mặt tạm thời trì hoãn tấn công Hàn, tăng cường dò la thám thính, củng cố phòng ngự Hình Sơn, mặt khác chuẩn bị sẵn sàng hai vạn nhuệ binh khinh kỵ mới được tổ chức phỏng theo người Tề, ngày đêm sẵn sàng chờ lệnh, hễ nước Sở tấn công Hình Sơn, lập tức điều động cánh kỵ binh do Tần chi viện, vượt đường xa đánh tập hậu quân Sở, cho Chiêu Dương một đòn trí mạng.
Tuy nhiên, một tháng sau, quân Sở vẫn chưa đánh Hình Sơn, chỉ đóng trại bên một đầm nước cách Hình Sơn chừng ba chục dặm, quân chủ lực vẫn co cụm trong Phương Thành. Lính thám mã ngày nào cũng báo tin về, quân Sở vẫn án binh bất động.
Chính vào lúc quân Ngụy bắt đầu lơ là, công tử Tự tới báo tin, nói là gần sáu vạn đại quân nước Sở hôm qua thình lình xuất phát, vòng qua trọng ải Hình Sơn, tiến về phía đông chọc thẳng vào Hạng Thành, Khổ Huyện.
Bàng Quyên vội vã bước tới trước sa bàn, sau một hồi xem xét, nhận định rằng Chiêu Dương tiến quân chỉ nhằm một mục đích, chính là né tránh Bàng Quyên và quân chủ lực nước Ngụy, thừa cơ tấn công Tương Lăng. Bàng Quyên hiểu rõ, nhiều năm qua, Chiêu Dương lúc nào cũng nhăm nhe đất Tống, mà Tương Lăng nước Ngụy giống như một mũi dao nhọn chặn đứng trước cửa ngõ tây nam nước Tống, chỉ cách kinh đô Tuy Dương nước Tống trong gang tấc, không chỉ khiến người Tống khó chịu, mà còn khiến người Sở phải kiêng dè.
Có được phán đoán này, Bàng Quyên không những không lo lắng, trái lại còn thở phào nhẹ nhõm. Lần trước người Tề cứu Triệu, Tôn Tẫn trận đầu đã đánh Tương Lăng, khiến Bàng Quyên bỗng chốc phát giác ra được tầm quan trọng của vùng đất này. Sau trận Quế Lăng, Bàng Quyên tăng cường phòng ngự Tương Lăng, đặc biệt tấu thỉnh Huệ Vương, cất nhắc tướng quân có công phá địch Trịnh Khắc làm quận thú Tương Lăng, chỉ huy gần bốn vạn quân trấn thủ của năm ấp vùng biên giới. Bên cạnh đó, Bàng Quyên sớm đã biết được, đứng phía sau Trịnh Khắc chính là Công Tôn Diễn, chỉ cần có Công Tôn Diễn ở đó, Chiêu Dương có muốn thừa cơ cũng không phải dễ dàng.
Tạm gác người Sở sang một bên, Bàng Quyên tập trung toàn bộ tâm trí vào người Tề.
Thực ra, Bàng Quyên thực sự lo lắng và cũng thực lòng muốn đánh, vẫn là người Tề. Trận chiến Quế Lăng thất bại trước Điền Kỵ vẫn luôn khiến Bàng Quyên canh cánh trong lòng. Dù biết đối thủ thực sự của mình là Tôn Tẫn, song suy cho cùng, Điền Kỵ vẫn là chủ soái trên danh nghĩa. Tôn Tẫn đã mất, lần này nếu quân Tề lại tới, Bàng Quyên vẫn hy vọng chủ tướng là Điền Kỵ, hắn muốn đánh một trận thực sự với Điền Kỵ, cho Điền Kỵ một lần nữa nếm mùi nhục nhã, nhân tiện lĩnh hội thế nào là chiến thuật.
Thật đáng tiếc, kế hoạch này đã bị Trương Nghi phá đám. Nếu Điền Kỵ không thể về Tề, Tề Vương sẽ không phái quân chi viện Hàn. Nước Sở không dám giao tranh, nước Triệu không còn thực lực, lại không có nước Tề chi viện, nước Ngụy độc chiến với Hàn, đối với Bàng Quyên, đúng là vô vị.
Tuy nhiên, đúng lúc Bàng Quyên đang cảm thấy buồn bực ít nhiều, thì Trương Nghi tới nơi, vừa đưa cho Bàng Quyên bản hịch văn do Khuất Nguyên thảo, vừa gõ lên mặt bàn mà nói: “Bàng huynh, tại hạ còn mang tới cho huynh hai tin nữa.”
“Nói mau!” Bàng Quyên đặt hịch văn xuống, nhìn thẳng vào Trương Nghi.
“Tin thứ nhất, vừa tốt vừa xấu, tức là không phải tin tốt với nước Ngụy, song lại chưa hẳn đã là tin xấu đối với một người hiếu chiến như Bàng huynh. Tại hạ nhận được tin báo, Tề Vương đã hạ chỉ xuất binh cứu Hàn, nếu không nằm ngoài dự liệu, quân năm đô nước Tề sau nửa tháng nữa sẽ tập kết ở A Ấp!”
“Hay lắm!” Bàng Quyên đấm thẳng xuống bàn.
“Bàng huynh đoán thử xem chủ tướng là ai?”
“Không phải Điền Anh chứ?”
“Là Điền Kỵ. Trần Chẩn kia không thể cầm chân Điền Kỵ, đã để hắn chuồn về Tề mất rồi.”
Bàng Quyên ngửa cổ phá lên cười một tràng dài rồi nói: “Mối làm ăn tới rồi, tại hạ đang đợi chính là người này!”
“Tin thứ hai không vui chút nào, e là Bàng huynh không muốn nghe.”
“Trương huynh cứ nói đừng ngại!” Bàng Quyên nói, song vẫn chưa thể thu lại nụ cười.
“Tôn huynh chưa chết!”
Nụ cười vụt tắt trên môi Bàng Quyên. Hắn trợn trừng hai mắt, chết lặng hồi lâu mới thốt được nên lời: “Chuyện này... chuyện này làm sao có thể?”
“Tại hạ nhận được nguồn tin rất đáng tin cậy.” Trương Nghi chậm rãi nói. “Tôn huynh chỉ giả chết. Sau khi Điền Kỵ ra đi, có người tặng Tô huynh một hoàn thuốc, sau đó không lâu, Tôn huynh đã chết. Nhân lúc đại quân ta phạt Hàn, Tô huynh tới Định Đào nước Tống, tìm thấy Tôn huynh ở một khu phố sầm uất, hai người cùng tới Lâm Truy. Không lâu sau đó, Điền Kỵ cũng trở về.”
Bàng Quyên cứ như không nghe thấy Trương Nghi nói gì, hồi lâu sau mới lên tiếng: “Là ai tặng thuốc cho Tô Tần?”
“Đoán là tiên sinh. Theo tin tình báo, người mang thuốc tới là đại sư huynh, nói rằng sư tỷ tặng. Nếu đúng như phán đoán của tại hạ, sư tỷ tặng thuốc, ắt có liên quan tới chuyện Tôn huynh giả chết.”
“Lão già chết tiệt!” Bàng Quyên rít qua kẽ răng.
“Bàng huynh?” Thấy Bàng Quyên buông lời bất kính với tiên sinh, Trương Nghi nghiêm mặt nhắc nhở.
Bàng Quyên lúc này mới bừng tỉnh, bèn cười gượng gạo tỏ vẻ hối lỗi, rồi siết chặt nắm tay, nói: “Tôn huynh chưa chết cũng hay. Tại hạ đang muốn chơi một trận minh bạch rõ ràng với hắn.”
“Cũng phải!” Trương Nghi nửa như phân tích, nửa như xúi bẩy. “Thất bại Quế Lăng lần trước, là do Bàng huynh không ngờ đối thủ lại là Tôn huynh. Tôn huynh ở chỗ tối, Bàng huynh ở chỗ sáng. Lần này Tôn huynh giả chết, hơn nữa cố ý giấu giếm tới tận ngày nay, rõ ràng muốn tái diễn màn kịch cũ, chỉ là không ngờ chúng ta đã biết tỏng chuyện này. Hiện giờ xem ra, tình thế đã hoàn toàn đảo ngược, Tôn huynh ở chỗ sáng, chúng ta lại ở chỗ tối. Hơn nữa, thứ Tôn huynh dựa vào là ‘Binh pháp Tôn Tử’ của tiên tổ, còn Bàng huynh trong tay cũng đã có đủ bộ ‘Binh pháp Ngô Tử’, ai thắng ai thua, phải thử mới biết!”
“Đúng vậy!” Bàng Quyên hào khí bừng bừng, lại siết chặt nắm tay. “Trời không thể có hai thái dương, rừng không thể có hai chúa tể. Khi còn trong Quỷ Cốc, tại hạ đã hiểu rằng, tại hạ và Tôn huynh không thể song hành trên đời. Trận chiến này, kiểu gì cũng khó lòng tránh khỏi.”
“Bàng huynh nói chí phải!” Giọng Trương Nghi cũng trở nên kích động, vung quyền hưởng ứng. “Tại hạ và Tô huynh cũng giống vậy. Tô huynh khởi xướng hợp tung, tại hạ lại khởi xướng liên hoành. Tung hoành không thể cùng tồn tại trên đời, tại hạ và Tô huynh, cũng nên quyết đấu. Lần trước cứu Triệu, Tô huynh tất bật ngược xuôi, đôn đáo khắp nơi. Nay cứu Hàn, Tô huynh lại càng là xắn tay vào trận, nghe nói hiện đã thay thế Trâu Kỵ, đích thân giúp Tôn huynh giám sát vận chuyển lương thảo. Tô huynh đã như vậy, tại hạ cũng không thể ngồi yên. Chúng ta liên thủ, cùng đấu một trận với Tô huynh, Tôn huynh.”
“Được!” Bàng Quyên giọng khàn đi, trên mặt đằng đằng sát khí.
Không nằm ngoài dự đoán của Trương Nghi, quân năm đô nước Tề một lần nữa hội tụ ở A Ấp.
Có lẽ đã coi trận chiến với Bàng Quyên sắp tới là trận quyết chiến cuối cùng, nên sau khi rời khỏi Lâm Truy, tâm tư Tôn Tẫn không được vui vẻ, lúc thì ngồi lì trong xe mặc cho lắc lư xóc nảy, lúc thì ngồi im trong doanh trại, nhắm mắt suy tư, cực kỳ ít nói, khác xa với lần vây Ngụy cứu Triệu trước đây cứ thao thao chỉ dẫn Điền Kỵ suốt dọc đường.
Có lẽ biết rõ Tôn Tẫn vẫn chưa mưu tính xong xuôi, Điền Kỵ không hề sốt suột, dặn dò bộ tướng, không ai được phép quấy rầy Tôn Tẫn. Tuy nhiên, toàn bộ đại quân đã đóng tại A Ấp, mà Tôn Tẫn vẫn án binh bất động, từ sớm tới tối cứ ngồi lặng phắc trong trướng, hết ngày này qua ngày khác, cuối cùng Điền Kỵ không nhịn nổi nữa, bèn kéo phó tướng Điền Anh tới trướng Tôn Tẫn, hỏi: “Lần trước cứu Triệu, quân sư vạch ra sách lược vây Ngụy. Lần này cứu Hàn, quân sư hẳn đã có diệu kế?”
“Vây Đại Lương!” Tôn Tẫn hiển nhiên đã tính toán xong xuôi, chỉ chờ hỏi đến.
“Chuyện này, chuyện này...” Điền Kỵ sửng sốt, quay sang Điền Anh, thấy Điền Anh cũng ngỡ ngàng chẳng kém, lại nhìn Tôn Tẫn, hồ nghi nói. “Quân sư không coi Bàng Quyên là kẻ ngốc đấy chứ?”
“Theo ý tướng quân, nên cứu Hàn thế nào?” Tôn Tẫn hé mắt, nhìn vào Điền Kỵ.
“Bàng Quyên lần trước phạt Triệu, lần này phạt Hàn, tình giống mà thế khác!” Điền Kỵ mưu định trong lòng, dõng dạc nói. “Lần trước phạt Triệu, Ngụy hợp sức với quân Tần, Trung Sơn, khí thế ngút trời; lần này phạt Hàn, Ngụy một mình giao chiến. Lần trước, nước Triệu chưa chuẩn bị đã ứng chiến, Bàng Quyên thắng do đánh bất ngờ, người Triệu đông tây chia lìa, bắc nam tan tác; lần này, người Hàn đã chuẩn bị từ trước, binh lính tinh nhuệ, lương thảo đầy đủ, tuy bại vài trận song khí thế chưa giảm. Chuyện này tạm chưa nói đến, người Sở giờ đã khai chiến với Ngụy, Chiêu Dương đóng quân ở Khổ Huyện, quân tiên phong tiến thẳng tới Tương Lăng, quân Sở ở Phương Thành cũng đang rình thời cơ hành động, bất cứ lúc nào cũng có thể uy hiếp Hình Sơn. Lại nhìn người Ngụy, tuy đã tấn công chiếm đất của người Hàn, song chỉ là thắng lợi nhỏ, Trịnh Thành, Dương Địch tới nay vẫn chưa suy suyển. Bàng Quyên bên trong có xương cứng chờ gặm, bên ngoài có địch mạnh nhòm ngó, lòng quân hoang mang, khó mà liệu việc vẹn toàn. Ta nên bắt tay với người Sở, mượn sức của người Sở, quyết chiến với Bàng Quyên ở đất Hàn. Ý tại hạ là, ta có thể chia quân thành hai lộ, một lộ cho quân khinh kỵ qua Tống, từ Tương Lăng đâm thẳng tới tây nam, lại từ đất Sở tiến vào đất Hàn, từ phía đông ép lại, kết hợp với quân Sở ở Phương Thành đánh giáp công vào Hình Sơn, bức bách quân Ngụy vây Dương Địch phải quay về ứng cứu, Dương Địch sẽ được giải vây. Lộ còn lại là quân chủ lực, từ Tương Lăng xuống phía tây, thẳng vào đất Ngụy, từ phía sau chặn đứng người Ngụy, cùng người Hàn đánh giáp công hai mặt, quyết chiến với Bàng Quyên dưới Trịnh Thành!”
Điền Kỵ nói liền một mạch, rồi nhìn Tôn Tẫn chờ đợi.
Tôn Tẫn im lìm bất động, hai mắt mịt mờ.
“Tôn huynh?” Điền Kỵ khẽ giọng thúc giục.
“Loại hết người già yếu, bệnh tật, nhỏ tuổi, tuyển lựa ra sáu vạn quân thiện chiến, vây Đại Lương!” Tôn Tẫn kiệm lời như vàng.
Bàng Quyên dưới trướng có tám vạn lính Ngụy, Tôn Tẫn lại chỉ điểm có sáu vạn, còn ít hơn hai vạn so với lần cứu Triệu trước đây, Điền Kỵ, Điền Anh trong lòng giật thót. Bất kể thế nào, dùng sáu vạn đối đầu với tám vạn võ binh, phần thắng gần như không có.
“Xin hỏi quân sư,” Điền Anh đã trấn tĩnh lại, cắt ngang, “vẫn giống như lần cứu Triệu trước đây, chỉ dùng kỵ binh dương công Đại Lương chăng?”
“Tam quân cùng tiến, dốc hết toàn lực, tấn công Đại Lương!” Tôn Tẫn gằn mạnh từng tiếng, nói xong, lại khép mắt lại.
Hiển nhiên, Tôn Tẫn mưu sách đã định.
Điền Kỵ kinh ngạc mất một lúc, nhìn sang Điền Anh: “Huy động tam quân, chọn ra sáu vạn binh sĩ cảm tử, ba ngày nữa, khởi binh tới Đại Lương!”
Chính vào lúc tam quân nước Tề theo mưu Tôn Tẫn, khởi binh tới Đại Lương, thì ở bên ngoài Trịnh Thành, trước đại sa bàn trong đại trướng trung quân nước Ngụy, Trương Nghi và Bàng Quyên cũng đang bàn bạc về động thái của quân Tề.
“Theo tính toán của Bàng huynh,” Trương Nghi chỉ vào sa bàn, nhìn Bàng Quyên hỏi, “lần này Tôn huynh sẽ dụng binh thế nào?”
“Ồ,” Bàng Quyên mỉm cười, đẩy ngược trở lại, “Trương huynh đã thuộc làu ‘Binh pháp Ngô Tử’, hẳn sớm đã suy đoán ra diệu kế của Tôn huynh, dám xin chỉ giáo!”
“Bàng huynh thế là ép tại hạ phải khoe xấu rồi!” Trương Nghi cười đáp, rồi thu thần nói. “Đất Hàn không giống đất Triệu. Triệu, Tề tiếp giáp, Hàn, Tề lại ngăn cách bởi Tống, Ngụy, nên quân Tề là vượt đường trường tập kích. Nếu tại hạ là Tôn huynh, vẫn sẽ bỏ xe dùng ngựa.” Tay chỉ vào sa bàn. “Tôn huynh có lẽ chia quân thành hai lộ, một lộ là khinh kỵ, từ chỗ này tới chỗ này, rong ruổi mà tới, kết hợp với người Sở, giáp công Hình Sơn, để giải vây Dương Địch. Còn ngả kia, từ đây tới Trịnh Thành, kết hợp với người Hàn, quyết chiến với quân chủ lực của ta.”
Bàng Quyên nhếch mép cười, rồi khẽ lắc đầu.
“Ồ...” Trương Nghi đảo con ngươi một vòng. “Tôn huynh có lẽ không đếm xỉa tới nước Hàn, hợp mưu với Sở, giáp công nam bắc, nhân lúc binh lực ta ở Hàn, không còn rảnh tay để nhìn tới việc khác, liền chia xẻ nước Tống, thuận đà cướp lấy Tương Lăng, ép ta rút quân cứu Tống và Tương Lăng, rồi cùng quyết chiến, nước Hàn do đó mà tự được giải vây.”
Bàng Quyên lại nhếch mép cười.
“Chà chà!” Trương Nghi trở nên hào hứng, đưa ra liền ba phương án, nào ngờ đều bị Bàng Quyên phản đối.
“Ồ!” Trương Nghi tắc tị, nhịp ngón tay lên giá sa bàn, nhìn Bàng Quyên với vẻ không phục. “Này Bàng huynh, thế này không đúng, thế kia cũng không phải, vậy theo ý Bàng huynh, Tôn huynh sẽ dụng binh thế nào?”
Bàng Quyên giơ tay chỉ vào Đại Lương, vẽ một vòng tròn quanh đó.
“Ý Bàng huynh là, Tôn huynh vẫn sẽ xuất binh tới Đại Lương?” Trương Nghi kinh ngạc hỏi.
Bàng Quyên gật đầu.
Trương Nghi hừ mũi một tiếng, mỉm cười nói: “Này Bàng huynh, hôm nay có uống rượu đâu, sao lại hồ đồ đến thế? Tôn huynh đã từng bao vây Đại Lương, dù có là kẻ ngốc cũng sẽ không lặp lại chiêu này!”
“Không giấu Trương huynh,” Bàng Quyên nhìn chăm chú vào sa bàn, nói, “tại hạ đã đứng trước sa bàn này vắt óc suy nghĩ suốt mấy ngày nay, đưa ra không dưới ba mươi phương án, nhưng rồi lại đều bác bỏ. Nhìn vào cách Tôn huynh dụng binh, chỉ có một diệu kế, chính là đánh vào chỗ buộc phải cứu. Năm xưa giao chiến Chiêu Dương, người này hiến kế ngoài đánh Hạng Thành, ngầm chiếm Hình Sơn. Lần trước cứu Triệu, mưu của người này vẫn là như vậy. Lần này cứu Hàn, nơi duy nhất ta phải cứu, ngoài chỗ này ra, không còn nơi khác.”
“Ha ha ha!” Trương Nghi cười nói. “Bàng huynh coi Tôn huynh là khúc gỗ đấy ư? Đạo trong trời đất, không nằm ngoài biến hoá. Quân tình vô thường, tuỳ cơ ứng biến, Tôn huynh thông thạo binh pháp, lẽ nào lại nhất thành bất biến, chỉ có một chiêu chế địch?”
“Còn cần xem là ai dụng binh, dụng binh với ai mới được.” Bàng Quyên đáp. “Chính vì Tôn huynh thông thạo binh pháp, tại hạ mới có suy đoán này!”
“Được rồi!” Trương Nghi phẩy tay, nói. “Bàng huynh đã khẳng định như vậy, hẳn đã có kế sách ứng phó?”
“Thứ nhất, tuyệt đường lương thảo. Thứ hai, uy hiếp Tống Vương, ép Tống Vương vào lúc quân Tề rút quân, không được mở đường tiếp nhận.”
Trương Nghi hít sâu một hơi, trầm ngâm hồi lâu, rồi tấm tắc khen ngợi: “Bàng huynh quả nhiên cao mưu. Sau đó thì sao?”
“Giống như cuộc chiến Hàm Đan lần trước, đại quân ta cứ án binh bất động, vây khốn nước Hàn, để mặc cho quân Tề bao vây Đại Lương. Tới lúc lương thực cạn kiệt, quân Tề ắt rối loạn, Điền Kỵ sẽ rút lui. Lúc đó, ta có thể khởi binh truy kích. Con đường nhanh nhất để về Tề chính là tiến vào đất Tống, do người Tống cung cấp lương thảo, từ đó mà quay về Tề. Người Tống nếu không cho mượn đường, Điền Kỵ hoặc sẽ khai chiến với Tống, hoặc phải đổi đường qua Vệ, từ Vệ trở về Tề, hoặc tới biên giới Sở, hợp quân với Sở. Tại hạ phán đoán, người Tề sẽ không khai chiến với Tống, cũng sẽ không chịu để Sở chế ước, ắt sẽ mượn đường nước Vệ. Lúc này, ta sẽ đuổi tới Vệ, quyết chiến với người Tề ở biên giới Tề, Vệ, bắt sống Điền Kỵ!”
“Quả là diệu kế!” Trương Nghi nghe mà con mắt trợn trừng. “Tuy nhiên, nếu Tôn huynh không tới Đại Lương thì sao?”
“Vừa rồi đã nói,” Bàng Quyên đáp, “tại hạ đã suy nghĩ rất nhiều, chiêu này là thượng thượng sách. Tôn huynh dụng binh, ắt theo đạo này, nếu không, người Tề càng không thể thắng!”
“Vậy sẽ đánh cược vào kế sách này vậy!” Trương Nghi chớp mắt vài cái, nói. “Dụng binh giao chiến, vẫn là Bàng huynh lợi hại, tại hạ xin nghe theo Bàng huynh. Bàng huynh chỉ cần ở đây yên tâm diệt Hàn, còn mọi chuyện Bàng huynh vừa nói, cứ để tại hạ lo liệu.”
Từ biệt Bàng Quyên, Trương Nghi thẳng tiến tới Tuy Dương, vào cung Tống bái kiến Tống Vương.
Tống Vương tên Y ển, vốn là con trai thứ của Tống Tích Công, từ nhỏ vũ dũng hơn người, nghe nói sức lực có thể bẻ thẳng móc câu. Tống Tích Công băng hà, thái tử Tích Thành tức vị, công tử Y ển không phục huynh trưởng, cậy mình vũ dũng, dẫn quân tập kích Tích Thành. Tích Thành chống cự không nổi, chạy trốn sang Tề, không lâu sau chết nơi đất khách. Y ển bèn lên ngôi, sau khi Tề, Ngụy cùng xưng vương không lâu, ban chiếu thiên hạ, tuyên bố xưng tôn. Dù cho vương vị này bị khắp trong triều ngoài nội dè bỉu, cho tới nay, đừng nói là nước lớn trong thiên hạ, dù các nước nhỏ ở Tứ Thượng cũng không nhà nào thừa nhận. Song Tống Vương Y ển vẫn dương dương tự đắc, không chỉ bỏ ra vô số tiền bạc chiêu mộ võ sĩ trong thiên hạ, tiêu diệt triều thần hai lòng, trọng dụng tiểu nhân a dua nịnh hót, mà ngay từ lúc mới xưng vương, đã bắn trời đánh đất ngay trước triều đường, tỏ thái độ coi thường lễ nhạc Đại Chu.
Trong thời Chiến Quốc, chuyện này đã thành quen thuộc, chẳng còn là sự lạ. Đuổi huynh trưởng, loạn lễ nhạc, khinh nhờn trời đất, ngông cuồng xưng tôn, không biết lượng sức mình như vậy, đáng lẽ thiên hạ phải hợp sức tiêu diệt mới phải. Tuy nhiên, Tống Y ển mặc sức bạo ngược trên đất Tống đã hơn tám năm trời, mà cho tới nay, vẫn bình yên vô sự.
Không phải không ai muốn phạt, mà là có quá nhiều người muốn thảo phạt Tống Y ển.
Chiêu Dương nước Sở là hăng nhất. Ngay sau khi Tống Y ển chiếm ngôi Tích Thành một năm, Chiêu Dương đã dẫn quân phạt Tống, không ngờ Điền Kỵ nước Tề xuất quân chi viện, hai quân Sở, Tề giằng co hơn tháng trời bên bờ Tứ Thuỷ, Chiêu Dương không có cơ hội tấn công, chưa đánh đã phải rút lui. Sau khi Tống Y ển xưng vương, Chiêu Dương nhân lúc người Tề đang dồn sức ứng phó với Việt Vương Vô Cương, không còn rảnh rang để ý đến chuyện khác, một lần nữa lại đánh Tống. Nào ngờ nước Ngụy xuất binh, Bàng Quyên, Tôn Tẫn liên thủ, bày mưu đánh vào chỗ buộc phải cứu khiến người Sở đại bại, Chiêu Dương một tấc đất cũng không chiếm được, lại tổn thất sáu vạn binh, đánh mất trọng ải Hình Sơn phía bắc.
Tống Vương Y ển hiểu rằng, Tề, Ngụy bất chấp đổ máu tới cứu, không phải vì mình đức cao vọng trọng, mà là vì mình đang chiếm cứ vùng đất phì nhiêu vài trăm dặm vùng Tế Thuỷ, Tứ Thượng, đông tới Bành Thành, tây tới Tuy Dương (vốn là Tương Lăng, năm xưa đã bị tướng Ngụy Ngô Khởi chiếm đoạt), bắc tới Định Đào. Phía bắc có Hồng Câu, phía nam có Hoằng Thuỷ, phía đông có Tứ Thuỷ, ở giữa có Tuy Thuỷ, vùng đất bốn sông đan xen này đích xác là một vựa lương thực thiên nhiên. Bên cạnh đó, tiên tổ nước Tống là Vi Tử, vốn là thương nhân, buôn bán kinh thương là truyền thống đời đời của người Tống, Đào Ấp nơi biên giới phía bắc, cũng chính là Định Đào, lại càng là kinh đô thương nghiệp nức tiếng thiên hạ, ngay từ thời Xuân Thu đã sinh ra vị thương nhân giàu có nghiêng ngửa thiên hạ là Đào Chu Công. Thương nhân Bạch Khuê nước Ngụy mới qua đời trước đó không lâu cũng học được đạo kinh thương từ nơi này, tích luỹ gia tài hàng vạn.
Một miếng thịt béo bị bao vây giữa ba con cá sấu lớn là Tề, Ngụy, Sở, lại thành ra an toàn nhất. Trong ba con cá sấu lớn này, bất luận con nào mở miệng, Tống Y ển đều có thể cầu hai con còn lại viện trợ, hơn nữa sẽ luôn luôn được chấp thuận. Có Tề, Ngụy, Tống Y ển không sợ Sở; có Tề, Sở, Tống Y ển cũng không sợ Ngụy. Chuyện này tạm chưa tính đến, Tống Y ển còn nhiều lần phái sứ thần bợ đỡ nước Tần, khích lệ dân chúng trong nước thông thương với Tần. Trong mắt Tống Y ển, những nước lớn trong thiên hạ, ông ta đều có thể đùa giỡn trong lòng bàn tay. Đây cũng là căn cơ giúp cho Tống Vương Y ển có thể ung dung tự đắc giữa vòng vây nước lớn.
Điều Trương Nghi muốn phá huỷ, chính là cái căn cơ này của Tống Y ển.
Tống Vương Y ển hiểu rõ con người Trương Nghi, cũng hiểu rõ mục đích hắn tới đây. Thế nhưng, trước có thất bại của Ngụy ở Quế Lăng, nay có hai nước Tề, Sở xuất binh, Tống Y ển đã chẳng còn coi người Ngụy ra gì. Vào buổi đại triều, Tống Y ển cứ ra vẻ ngẩn ngơ, nhìn sững vào Trương Nghi hồi lâu, mới ngả người về phía trước hỏi, giọng điệu cực kỳ cung kính: “Tống Y ển có một thỉnh cầu, không biết Trương Tử có nể mặt hay chăng?”
“Đại vương bất tất phải khách khí, Nghi xin rửa tai lắng nghe!” Trương Nghi cố tình nhấn mạnh hai chữ “đại vương”.
“Nghe nói Trương Tử lưỡi dài ba thước, Tống Y ển rất đỗi hiếu kỳ, từ lâu đã muốn chiêm ngưỡng, tới tận hôm nay mới có cơ duyên, mong được Trương Tử nể mặt!”
“Đại vương xin hãy lại gần!”
Tống Y ển quả nhiên rời khỏi chỗ, bước về phía Trương Nghi. Trương Nghi há ngoác miệng, thè lưỡi ra ngoài hết cỡ. Tống Y ển ngắm nghía một lát, quay lại chỗ ngồi, ngửa cổ cười một tràng.
“Đại vương cười hẳn là vì cái lưỡi dài ba thước của Nghi?” Trương Nghi nghiêng đầu hỏi.
“Lưỡi của Trương Tử, chẳng qua cũng chỉ như người bình thường mà thôi.” Tống Y ển thu lại nụ cười, đổi cách xưng hô “Tống Y ển” thành “quả nhân”, lắc đầu mà nói. “Nếu không tận mắt chứng kiến, quả nhân suýt nữa tin vào lời đồn nhảm của người đời.”
“Nghi đã khiến đại vương thất vọng!” Trương Nghi nhếch mép cười một cái, khẽ vòng tay nói.
“Nghe nói Trương Tử ở Sở nhiều năm, rất am hiểu Sở. Từ lúc quả nhân tức vị, rất xem trọng người Sở, coi như mãnh hổ. Nào ngờ con hổ này hai lần phạt Tống, song cả hai lần đều phải chuốc nhục. Quả nhân kém cỏi, dám hỏi Trương Tử, là người Sở không tự lượng sức, hay là quả nhân...” Tống Y ển cố tình bỏ lửng nửa chừng.
Trương Nghi mỉm cười, hơi ngả người ra phía sau.
“Không giấu Trương Tử, người Sở nhiều lần trêu cợt Tống, thần dân đại Tống cực lực tấu đòi phạt Sở, quả nhân vì chuyện này mà mưu tính nhiều năm, định vào mùa xuân năm sau khởi năm vạn đại quân phạt Sở, Trương Tử thấy có được chăng?”
“Nghe nói đại vương sức khoẻ bẻ thẳng móc câu, Nghi không dám tin, xin được tận mắt nhìn!” Trương Tử lảng sang chuyện khác.
“Mang móc câu lại đây!” Tống Y ển quát lớn.
Có người dâng lên một cái móc câu, móc câu được làm bằng sắt ròng, to bằng quả hồ đào. Tống Y ển hai tay nắm lấy, thủ thế sẵn sàng, âm thầm vận lực, trước bao nhiêu con mắt của quần thần, móc câu bằng sắt từ từ bị uốn thẳng.
Quần thần vỗ tay như sấm.
“Quả là lực sĩ, Trương Nghi thán phục!” Trương Nghi vòng tay, chỉ vào cây cột trụ bằng gỗ nam đầy một vòng ôm ở bên cạnh. “Xin đại vương hãy thử lay cây cột kia!”
“Ồ...” Tống Y ển nhìn cây cột trụ, rồi lại nhìn Trương Nghi đầy khó hiểu. “Đây là cột trụ chống đỡ cung điện, sao có thể lung lay?”
“Đại vương lay chuyển một chút xíu thôi cũng được!”
“Đây là cột trụ gỗ nam, có thể chống đỡ vạn cân, cho dù có sức khoẻ phi thường, cũng không thể khiến nó mảy may xê dịch!”
“Đại vương thánh minh!” Trương Nghi thuận thế đáp. “Đại vương có thể bẻ thẳng móc câu, song không thể lay chuyển cột trụ gỗ nam dù chỉ mảy may. Đại vương trị vì Tống, giống như bẻ thẳng móc câu sắt, còn đại vương phạt Sở, cũng giống như lay chuyển cột trụ gỗ nam!”
“Trương Tử nói hay lắm!” Tống Y ển cười lớn vài tiếng, rồi vòng tay nói. “Trương Tử đã nói vậy, quả nhân sẽ không phạt Sở nữa. Dám hỏi Trương Tử tới đây, hẳn có điều muốn chỉ giáo quả nhân?”
“Xin đại vương cho tả hữu lui ra!”
Tống Y ển ngẫm nghĩ một lát, phẩy tay: “Chư vị ái khanh, bãi triều!” Rồi quay sang Trương Nghi. “Nếu Trương Tử rảnh rỗi, hãy theo quả nhân tới hậu hoa viên trò chuyện!”
Hai người đi tới hậu hoa viên, cùng ngồi trên một lầu gác bằng gỗ.
“Trương Tử, nơi này không có ai, có gì cứ nói!”
“Trước khi Nghi lên đường,” Trương Nghi khoé miệng mỉm cười, song hai mắt lại lộ rõ vẻ khinh miệt, “Ngụy Vương có ngâm một câu thơ cho Nghi nghe, Tống Vương có muốn biết không?”
“Ồ?” Tống Y ển thoáng ngạc nhiên, không nén nổi tò mò hỏi. “Ngụy Vương ngâm thơ gì?”
“Mưa đổ dầm dề, sông sâu lại rộng, chỉ trời mà thề.” Trương Nghi khép mắt ngâm nga.
Tống Y ển ngỡ ngàng không hiểu, bèn hỏi: “Dám hỏi Trương Tử, thơ này có ẩn ý gì?”
“Đại vương không biết thật ư?” Trương Nghi mở mắt, lấy làm kinh ngạc. “Nghe nói quý quốc có một thường dân tên gọi Hàn Bằng, Hàn Bằng có vợ tên là Tức Lộ. Tức Lộ ra ngoài hái dâu, nhà vua thấy nàng xinh đẹp, bắt nàng vào cung. Hàn Bằng oán hận, vua bèn thịnh nộ, phạt làm khổ sai, cho đi xây dựng môn lầu ở cung thành. Thơ này do vợ Bằng là Tức Lộ viết ra.”
“Ồ?” Tống Y ển vò đầu bứt tai, ánh mắt sửng sốt. “Sao quả nhân lại không biết chuyện này nhỉ? Phải rồi, thơ này phải giải thích ra sao?”
“Mưa đổ dầm dề, ngụ ý nhà vua hiếu sắc dâm đãng. Sông sâu lại rộng, ngụ ý nhà vua thế lớn lực mạnh. Chỉ trời mà thề, ngụ ý người đàn bà này không thiết sống nữa, giao hẹn với chồng cùng chết.”
“Sau đó thì sao?” Tống Y ển vội hỏi.
“Người đàn bà này bí mật nhờ người chuyển bài thơ cho Hàn Bằng. Hàn Bằng y hẹn dùng dải lụa treo cổ tự vẫn dưới lầu thành. Vua hay tin hả giận, dẫn Tức Lộ tới xem. Tức Lộ nhân lúc vua không để ý, lao mình nhảy xuống lầu. Vua nhanh tay túm lấy áo nàng, nào ngờ vải áo đã bị nàng cố tình làm mủn từ trước, vua giữ không được, chỉ biết giương mắt nhìn mỹ nữ rơi xuống chân thành. Nhà vua xót thương người đàn bà này, xuống thành xem xét, tìm thấy một vuông lụa giắt ở thắt lưng nàng, bên trên lại có một bài thơ nữa, đại vương có muốn nghe chăng?”
“Thơ thế nào?” Tống Y ển lấy làm tò mò hỏi.
“Vua lợi lúc sống, thiếp lợi lúc chết, xin đưa xác thiếp, hợp táng cùng Bằng.”
“Vậy thi thể của họ có được chôn cùng không?” Tống Y ển lại hỏi.
“Việc này phải hỏi vua mới phải!” Trương Nghi nhìn thẳng vào Tống Y ển.
“Phải, phải!” Tống Y ển vỗ vỗ đầu. “Trương Tử hãy kể tiếp.”
“Nhà vua ghen tức, không ban hợp táng, cố tình đặt hai ngôi mộ cách xa nhau vài trượng. Không ngờ chỉ trong một đêm, trên mỗi ngôi mộ mọc lên một cây, một đực một cái, chưa đầy mười ngày đã tán phủ rợp trời, bên trên cành lá nối liền, dưới gốc rễ lan quấn quýt, tình vợ chồng thắm thiết, khiến đất trời cũng phải nghẹn ngào, quỷ thần cũng phải khóc thương. Nghi hay tin, cũng khó tránh thổn thức.”
Tống Y ển cũng xuýt xoa một hồi, rồi dường như đột nhiên bừng tỉnh, nhìn thẳng vào Trương Nghi, sắc mặt giận dữ: “Dám hỏi Trương Tử, Trương Tử thêu dệt nên chuyện này, hẳn là cố tình giễu cợt quả nhân?”
“Nghi không dám.” Trương Nghi đáp lời. “Nghi chỉ nghe Ngụy Vương kể lại.”
“Ngụy Vương nghe được từ đâu?”
“Chuyện này Nghi không rõ, có lẽ từ tiểu thuyết gia chăng? Trong ngoài thành Đại Lương, tiểu thuyết gia nhiều không đếm xuể, chuyên thêu dệt chuyện liệt quốc để kiếm cơm ăn.”
“Ha ha ha!” Tống Y ển phá lên cười. “Đúng vậy. Có điều Ngụy Vương chỉ biết nghe tin đầu đường xó chợ mà đánh mất sáng trí, đợi quả nhân rảnh rỗi, cũng sẽ tới đầu đường xó chợ, tìm vài tiểu thuyết gia, thêu dệt nên mấy câu chuyện về Ngụy Anh chơi.”
“Đại vương có biết,” Trương Nghi hai mắt nhìn chằm chằm vào Tống Y ển, “đám tiểu thuyết gia cớ sao lại thêu dệt chuyện này?”
“Quả nhân không biết!”
“Là vì đại vương thất đạo, đã không được lòng dân!” Trương Nghi gằn mạnh từng tiếng.
Tống Y ển sững sờ.
“Từ cổ chí kim, được lòng dân thì được thiên hạ. Không được lòng dân, chết cũng không có chỗ chôn!”
“Ngươi...” Tống Y ển tức uất. “Được lắm, Trương Nghi, dám thêu dệt câu chuyện không có thực trước mặt quả nhân, lại còn nói quả nhân thất đạo? Được, ngươi thử nói xem, quả nhân thất đạo ở đâu?”
“Nghe nói đại vương ỷ mạnh đuổi giết tiên quân Tích Thành, có chuyện này chăng?”
“Là người này vô đạo, không thương xót thần dân, đáng chết! Quả nhân giữ lại cho hắn một mạng đến Tề, đã là từ bi lắm rồi!”
“Nghe nói đại vương bắn trời đánh đất, thiêu huỷ xã tắc thần kỳ, có chuyện này chăng?”
“Trời đất bất nhân, xã tắc bất nghĩa, khiến lãnh thổ trù phú màu mỡ vài trăm dặm của quả nhân hạn hán ba năm liền, nhiều ấp không một hạt thóc, lẽ nào không đáng bị bắn, bị đánh, bị thiêu huỷ?”
“Nghe nói đại vương cắt lưng người gù, chặt chân người lội nước buổi sớm, có chuyện này chăng?”
“Nói bậy!” Tống Y ển nổi trận lôi đình, đứng phắt dậy, chỉ mặt Trương Nghi. “Đến những lời độc địa ô uế nhường này mà ngươi cũng tin, còn dám nhận bừa là kẻ hùng biện trong thiên hạ!”
“Ha ha ha!” Trương Nghi phá lên cười một tràng dài. “Đại vương bớt giận! Đường ngang ngõ hẹp, đều lan tràn những lời đồn nhảm của đám tiểu thuyết gia, Nghi chỉ tiện miệng nói bừa, đại vương nghe tạm mà thôi.” Rồi chỉ vào chỗ ngồi. “Đại vương mời ngồi, Nghi có lời thực muốn nói!”
Tống Y ển thở hồng hộc ngồi xuống.
“Việt Vương Vô Cương sở hữu giang sơn ba nghìn dặm, cai trị trăm năm mươi vạn thần dân, hiệu lệnh hai mươi vạn tinh binh, người Tề phải dốc toàn lực của cả nước ra ứng phó, vẫn không thể đề phòng cho xuể! Dám hỏi đại vương, có thể sánh với Việt Vương Vô Cương?”
Tống Y ển thoáng bối rối, nói: “Quả nhân không bằng.”
“Hai vua Ba, Thục thống lĩnh Ba sơn, Thục thuỷ vài nghìn dặm vuông, núi cao vực sâu, tứ bề hiểm trở, lại có hơn hai trăm vạn dân Ba, Thục chưa được giáo hoá, Sở Vương chinh chiến vài trăm năm với Ba mà không làm gì nổi Ba Vương, Tần Quân hẹn Thục Vương dạo chơi ở Hán Trung, Tần Quân bị bỡn cợt. Dám hỏi đại vương, có thể sánh với hai vua Ba, Thục?”
Tống Y ển ngoảnh mặt sang chỗ khác, hồi lâu sau mới lẩm bẩm một câu: “Quả nhân không bằng.”
“Không nói đến man di, chỉ nói tới liệt quốc Trung Nguyên, đại vương có thể sánh với Triệu Hầu? Nghe theo Tô Tần, dốc sức toàn quốc, hợp tung sáu nước chống Tần, đại quân kéo tới trước ải Hàm Cốc, nổi trống tiến công, chấn động ngũ nhạc.”
Tống Y ển hít sâu một hơi, giọng nói càng thêm yếu ớt: “Quả nhân không bằng.”
“Không nói đến Triệu mạnh, chỉ nói đến Hàn yếu, sự giàu có của Định Đào, liệu có thể sánh với Dương Địch? Mảnh đất năm trăm dặm không có một nơi hiểm yếu để cố thủ, có thể sánh với nghìn dặm sông núi nước Hàn? Uy của đại vương có thể sánh với Hàn Vương?”
Giọng Tống Vương chỉ còn lí nhí trong cổ họng: “Quả nhân không bằng.”
“Đại vương hãy nghe!” Trương Nghi lời như thác đổ, khí thế hào hùng. “Nghi rời khỏi Quỷ Cốc, khiến Việt Vương Vô Cương dẫn theo hai mươi vạn đại quân thuỷ lục quay đầu, rời Tề đến Sở, tự lao vào đường chết. Nghi tới Tây Tần, trước hết phò tá Tần Quân dùng sức của một nước mà đẩy lùi quân sáu nước, tiếp đến dẫn đại quân vượt núi băng rừng, tiến sâu vào vùng đất khô cằn, trong vòng một năm mà tiêu diệt Ba, thu phục Thục, bình định nghìn dặm biên thuỳ tây nam. Nghi rời Tần đến Ngụy, khiến sư đệ Bàng Quyên hãm Triệu vào bước đường cùng, chiếm lấy Hàm Đan, nay lại phạt Hàn, hai vùng Trịnh Thành, Dương Địch, phóng mắt nhìn đi, mênh mông bất tận, đều là doanh trại võ binh Ngụy! Dám hỏi đại vương, miệng lưỡi của Nghi liệu có dài qua ba thước?”
Nghĩ tới lời lẽ khinh miệt của mình khi nãy, Tống Y ển cúi gằm mặt xuống. Bất luận thế nào, lời Trương Nghi không hề giả, những điều vừa kể, Tống Y ển cũng đều biết rõ.
“Không giấu đại vương,” Trương Nghi đổi giọng, “cách đây mười ngày, Nghi ở dưới chân Trịnh Thành, trong trướng Bàng Quyên, cùng bàn bạc về chuyện của đại vương. Bàng Quyên có ý trách cứ đại vương âm thầm trợ giúp người Tề trong lần phạt Triệu trước đây, nói rằng hạ được Trịnh Thành sẽ điều quân tới Tuy Dương, đích thân hỏi thử đại vương, nước Ngụy rốt cuộc đắc tội với đại vương vào lúc nào và vì chuyện gì? May sao Nghi kịp thời chen ngang một câu, lần này sẽ tới Tuy Dương tìm đại vương thương lượng.”
Nghe Trương Nghi hết dụ dỗ lại đe doạ một thôi một hồi, Tống Y ển vốn miệng hùm gan sứa lập tức khí thế xẹp lép, vội vòng tay vái lia lịa mà rằng: “Quả nhân không biết, kính thỉnh Trương Tử chỉ giáo!”
“Chỉ giáo thì không dám, Nghi có vài lời muốn nói với đại vương. Dù là người Tề hay người Sở, đều đang nhòm ngó vùng đất quý báu mà đại vương đang chiếm cứ, đại vương ngồi trên đỉnh núi đao mà lại không hề hay biết. Mười năm về trước, Chiêu Dương phạt Tống, người Tề cứu viện, không phải vì cứu đại vương, mà vì không muốn để người Sở chiếm lấy đất Tống. Sau này quân Việt phạt Tề, Chiêu Dương thừa cơ lại khởi binh phạt Tống, là Bàng Quyên xuất binh, đánh bại Chiêu Dương, mới có thể đảm bảo đất Tống bình yên vô sự. Nay lại là Bàng tướng quân phạt Hàn, Chiêu Dương khởi sáu vạn binh, lấy danh nghĩa cứu Hàn, song lại đóng quân ở Khổ Huyện. Còn như người Tề, Nghi lại càng không phải nói. Lần trước người Tề phạt Ngụy, đại vương cho mượn đường, hẳn là vì muốn lấy Tương Lăng? Tuy nhiên, đường đã mượn rồi, còn Tương Lăng của đại vương đâu? Người Tề đưa binh lính già cả ốm yếu dương công Tương Lăng, chỉ là để đãi bôi với đại vương, song lại dùng quân chủ lực tấn công Đại Lương. Đại vương hãy tự hỏi lòng, trong bốn nước láng giềng, thực tâm giúp đỡ đại vương, phải chăng chỉ có Ngụy Vương? Sở dĩ đại vương được an cư một góc, bình yên vô sự cho tới nay, là vì có mười vạn võ binh Đại Ngụy sau lưng chống đỡ. Nếu đại vương nhìn mà không thấy, ngạo mạn vô tri, đến khi quân Sở, Tề lại sinh lòng, e là Bàng tướng quân...” Trương Nghi bỏ lửng giữa chừng.
“Không không không!” Tống Y ển nghe mà mồ hôi đẫm trán, vội vòng tay nói. “Kính thỉnh Trương Tử chuyển lời tới Bàng tướng quân, nói là Tống Y ển kính cẩn nghe lời Trương Tử, Bàng tướng quân, chỉ nhất nhất theo ý Trương Tử, Bàng tướng quân.”
“Đại vương nhất nhất theo ý không phải Nghi, cũng không phải Bàng tướng quân, mà là Ngụy Vương!”
“Phải phải phải, là Ngụy Vương! Kính thỉnh Trương Tử chuyển lời tới Ngụy Vương, nói là Tống Y ển hồ đồ. Kể từ hôm nay, Tống Y ển chỉ nhất nhất theo ý Ngụy Vương.”
Nói rồi, Tống Vương truyền chỉ bày tiệc, cùng Trương Nghi yến ẩm tới tận chập tối.
Trương Nghi thế cờ đã thắng, khe khẽ ngâm nga trở về trạm dịch, bất ngờ thấy công tử Hoa cung kính chờ sẵn ngoài sảnh. Công tử Hoa chuyển lời hỏi thăm của Tần Vương, rồi bẩm báo: “Đại vương hay tin Ngụy, Hàn đang trong thế giằng co, lo lắng Bàng tướng quân lương thảo thiếu thốn, lại điều động thêm ba vạn thạch lương, đủ cho tam quân Đại Ngụy dùng trong vài tháng!”
“Đại vương thánh minh!” Trương Nghi ngước lên bầu không cảm tạ, lập tức cho gọi tuỳ tùng, chuyển tin vui này thành cấp báo, lệnh cho thám mã hoả tốc mang tới cho Bàng Quyên và Ngụy Vương.
“Còn một chuyện nữa, Trương huynh có lẽ còn mừng hơn!” Công tử Hoa hạ giọng nói.
“Công tử cứ nói!”
Công tử Hoa lấy từ trong ống tay áo ra một vuông lụa. Trương Nghi nhận lấy, mở ra đọc kỹ một lượt, sửng sốt kêu lên: “Danh sách quan lại giám sát vận chuyển lương thảo quân nhu của năm đô, đường đi, số lượng, thời gian tới nơi? Mâu Tân? Tô Tần?”
Công tử Hoa gật đầu.
“Cơ mật đến vậy,” Trương Nghi kinh ngạc nói, “Công tử cớ sao lại có được thứ này?”
“Là Tô huynh của Trương huynh cung cấp đấy.” Công tử Hoa thản nhiên nói.
“Tô huynh?” Trương Nghi trợn tròn mắt.
“Không giấu Trương huynh,” công tử Hoa cười bí hiểm, “về Tô huynh của Trương huynh, tại hạ có thể nói là làu làu như lòng bàn tay. Đừng nói là danh sách này, đến cả chuyện ba ngày trước đây Tô huynh ăn phải cơm thừa mà đau bụng, nửa đêm đi ngoài bốn lần, tại hạ cũng đều nắm rõ.”
“Chà chà!” Trương Nghi tặc lưỡi, không thể tin nổi. “Hai nước khai chiến, lương thảo là chuyện hệ trọng, Tô Tần giám sát vận chuyển lương thảo, tất ru rú trong nhà, phòng vệ nghiêm ngặt, dám hỏi công tử, làm thế nào mà có được thứ này?”
Công tử Hoa bèn kể lại đầu đuôi chuyện Thu Quả, Trương Nghi nghe mà luôn miệng xuýt xoa, tấm tắc than thở: “Có Hắc Điêu này ở bên, Tô huynh có thể không bại?”
Tích Cương lệnh cho Tô Tần phụ trách vận chuyển lương thảo, quả là đã làm khó cho Tô Tần, bởi lẽ Tô Tần chẳng có căn cơ gì ở Tề, hơn nữa trong tay không có lấy nổi một thân tín tài giỏi đáng tin cậy, thông thạo tình hình các ấp. Tô Tần vốn định dùng Điền Văn, nào ngờ Điền Văn lại được Điền Anh điều làm chủ tướng của hai vạn quân các ấp Nam Đô. Tô Tần biết, Điền Văn bố trí thế này là vì con trai. Bất luận thế nào, trên sa trường sẽ có thể trực tiếp lập công, còn vận chuyển lương thảo, trên phải đối mặt với tam quân viễn chinh, dưới phải đối diện với bách tính các nơi, là công việc vất vả lại không được lòng người. Nếu làm tốt, hoặc giả có thể trở thành “anh hùng phía sau”, nếu làm không tốt, đặc biệt là làm lỡ kỳ hạn vận chuyển, dù là nguyên nhân nào, đều có thể phải gánh trọng tội.
Trong tay không có người, Tô Tần không thể không nhờ cậy vào Mâu Tân vốn đã đồn thú nhiều năm ở biên giới phía tây. Để trấn áp Tô Tần, Mâu Tân ra bài phô trương thanh thế, cho gọi toàn bộ đám quan lại phụ trách vận chuyển lương thảo của năm đô tới, đua nhau khoe khoang tài nghệ trước mặt Tô Tần, gảy bàn tính tanh tách, đối chiếu sổ sách, đưa ra đủ thứ số liệu. Cứ thế tính toán suốt ba ngày trời, Tô Tần quả nhiên đôi mày chau tít. Tam quân mười vạn, tuy tạm thời cắt bớt bốn vạn, song chưa giải tán, vẫn cần cơm ăn, cộng thêm gần năm vạn nhân công phục vụ hậu cần quân nhu các nơi, mỗi ngày tiêu tốn không dưới năm trăm thạch lương, lại cộng thêm những vật tư thiết yếu như rau thịt, củi rơm, thực là một con số khổng lồ tới kinh ngạc. Nước Tề gần đây tuy có tích trữ, song nhiều năm liền nuôi ngựa, ruộng vườn bị chiếm dụng rất nhiều, nông nghiệp hoang phế, lần trước khai chiến với Ngụy, gần như đã dùng hết lương thảo tích trữ trong kho, lại thêm năm ngoái nhiều nơi hạn hán, vụ thu mất mùa, vài tháng trước, các đô ấp chỉ chuyển vào kho lương A Ấp và các nơi khác không tới một vạn thạch lương, chỉ đủ cho tam quân cầm cự trong hai mươi ngày. Còn như cỏ rơm cho ngựa, lại càng thiếu thốn trầm trọng. Tô Tần lần đầu tiên hiểu ra, một cuộc đại chiến không phải trò đùa, cũng thấu hiểu sâu sắc các bậc thánh nhân xưa nay vì sao không tuỳ tiện khai chiến, thậm chí đã loáng thoáng hiểu ra, vì sao Trâu Kỵ vốn giỏi trị nước lại ra sức phản đối chiến tranh.
Khai chiến thông thường, tam quân chưa động, lương thảo đã phải lên đường trước. Lần này xuất chinh gấp rút, nước Tề còn chưa kịp chuẩn bị đầy đủ, cung ứng lương thảo lại càng thêm căng thẳng. Tô Tần lệnh cho Mâu Tân, trong vòng mười ngày phải vận chuyển thêm một vạn thạch lương tới A Ấp, bảo đảm tam quân đủ ăn trong bốn mươi ngày. Còn quân lương sau bốn mươi ngày, Tô Tần dự định sẽ mua của các nước ở Tứ Thượng, việc này do hắn và thái tử trù định.
Mâu Tân nhất loạt lĩnh mệnh, vâng dạ luôn miệng.
Trở về trong trướng, Mâu Tân trằn trọc mãi, cả đêm mất ngủ, bị dằn vặt bởi một nỗi kinh hoảng thấu tâm can. Mâu Tân hiểu, Điền Kỵ trở về, Tôn Tẫn sống lại, tuyệt đối không phải là chuyện hay ho với hắn.
Mãi đến khi trời sáng bảnh, Mâu Tân mới ngủ thiếp đi, quá trưa thì tỉnh dậy, nghe báo là có người đã đợi nhiều giờ liền ở trước trướng. Mâu Tân rửa mặt chải đầu xong xuôi, đủng đỉnh bước ra, thấy tham tướng phụ trách lương thảo và một người lạ vận trang phục thương nhân đang đứng ở ngoài trướng.
Hành lễ xong xuôi, Mâu Tân dẫn hai người vào trướng, tham tướng nói: “Bẩm chúa công, vị thương khách này từ Định Đào tới, hay tin chúng ta có ý định mua lương, nên đặc biệt tới hỏi thăm.”
Quái lạ, Tô Tần vừa dặn mua lương thực ngày hôm qua, vì sao hắn đã biết nhanh đến vậy? Mâu Tân giật thột trong lòng, nhìn sang kẻ đó, khẽ vòng tay, hỏi: “Vị khách thương kia, sao ông biết chúng tôi cần mua lương thực?”
“Ha ha ha!” Người kia cười nói. “Đã là người buôn bán thì mũi phải thính chứ, đặc biệt là chúa công nhà tôi.”
“Chúa công nhà ông quý danh là gì?”
“Chúa công đã dặn, tại hạ không dám nói bừa.”
“Được!” Mâu Tân gật đầu. “Dám hỏi chúa công nhà ông có bao nhiêu hàng tích trữ?”
“Thế này!” Người kia giơ ra ba ngón tay.
“Ba trăm thạch?”
Người kia lắc đầu.
“Ba nghìn thạch?”
Người kia vẫn lắc đầu.
“Không phải là ba vạn thạch đấy chứ?” Mâu Tân hít sâu vào một hơi.
“Chỉ nhiều không ít.” Người kia nở một nụ cười, nói. “Chúa công nhà tôi là nhà buôn gạo lớn nhất Tứ Thượng, có tới vài chục kho tàng, đừng nói là ba vạn thạch, dù là mười vạn thạch, cần ngay lúc này cũng là chuyện nhỏ, đương nhiên, giá cả cũng cần hợp lý.”
“Giá cả thế nào?” Mâu Tân vội hỏi.
“Chuyện này tại hạ không có quyền quyết định, nếu quý quân đưa ra số lượng khả quan, chúa công sẵn sàng gặp mặt tướng quân để bàn bạc.”
Mâu Tân trong lòng chấn động, nghĩ thầm: “Nếu ta mua được nhiều lương thảo đến vậy, ắt lập công lớn với Tề, Tô Tần hẳn sẽ nói giúp ta vài câu, như vậy, Điền Kỵ sẽ không làm gì được ta. Hơn nữa, bức thư kia cũng không phải do ta bịa tạc ra, cho dù không phải sự thực, cũng chẳng phải lỗi của ta. Hơn nữa, tướng quốc và đại vương cũng đã xem qua, sợ quái gì!”
Nghĩ là vậy, Mâu Tân cũng lấy lại chút can đảm, lập tức giữ người kia lại, cấp tốc tới trướng Tô Tần, kể sơ qua sự việc. Tô Tần mừng rỡ, sai hắn gấp rút tới Định Đào đàm phán, cố gắng hạ giá thấp nhất có thể, đặt mua trước ba vạn thạch, còn mình sẽ tới Lâm Truy xoay xở tiền nong.
Mâu Tân từ biệt Tô Tần, dẫn theo vài tuỳ tùng thân tín, cùng với thương khách kia tức tốc tới Định Đào nước Tống. Khi xe ngựa dừng lại trước một toà trạch phủ hào nhoáng nằm khá ẩn khuất, đã có người chờ sẵn ở bên ngoài, đích thân dẫn hai người vào trong sảnh phụ tiếp đón, sau đó chỉ đưa Mâu Tân vào trong sảnh chính.
Người ở trong sảnh chính, chính là Trương Nghi.
Trương Nghi lại không mặc trang phục thương nhân, mà mặc quan phục, khẽ nhổm người lên trước, tươi cười với Mâu Tân, chỉ tay vào chỗ ngồi dành sẵn.
Mâu Tân không hề biết Trương Nghi, thấy thế thì sững sờ, nhìn vào chỗ ngồi mà đối phương dành cho mình, miễn cưỡng ngồi xuống, quay đầu lại tìm vị thương khách dẫn mình tới, song không thấy đâu cả.
“Tại hạ Trương Nghi, cung kính chờ tướng quân ở hàn xá đã lâu rồi!” Trương Nghi vòng tay nói.
Biết được người ngồi trước mặt mình chính là tướng quốc nước địch Trương Nghi nức tiếng thiên hạ, Mâu Tân kinh hãi đến há hốc miệng, toàn thân cứng đờ. Còn chưa hết bàng hoàng thì vị thương khách kia đã bước vào, song lại mặc trên mình trang phục nước Tần.
“Mâu tướng quân!” Trương Nghi chỉ vào người mặc trang phục Tần. “Vị này là công tử Doanh Hoa, hai người hẳn đã quen biết nhau?”
Trời ơi, kẻ đích thân tới doanh trại Tề, dẫn mình tới đây lại chính là công tử Hoa đại danh đỉnh đỉnh, được Tần Vương sủng ái rất mực! Mâu Tân gần như ngộp thở.
“Vị này chính là chúa công của tại hạ!” Doanh Hoa mỉm cười với Mâu Tân, chỉ vào Trương Nghi, đi thẳng vào chuyện chính. “Mâu tướng quân giờ đã có thể bàn bạc chuyện lương thảo.”
“Lương... lương thảo...” Mâu Tân lắp bắp.
“Mâu tướng quân,” Trương Nghi chỉ vào Doanh Hoa, “kỳ thực, tại hạ không có lương thảo, người thực sự có lương thảo, là vị Doanh công tử này. Đã nghe nói về kho lương đất Thục chưa? ở đó, đừng nói là ba vạn thạch, dù là ba mươi vạn thạch cũng không thành vấn đề.”
Mâu Tân định đứng dậy, mà hai mông như thể nặng nghìn cân. Muốn ngồi tiếp, song không biết tiếp theo sẽ xảy ra chuyện gì.
“Trước khi bàn chuyện,” công tử Hoa nhìn thẳng vào Mâu Tân, “tại hạ muốn nhắc tướng quân cảm tạ một người.”
“Là... là ai?”
“Chúa công của tại hạ!” Doanh Hoa hất hàm về phía Trương Nghi, giải thích. “Còn nhớ bức mật thư không? Chúa công của tại hạ nghe nói Trâu công tử chết oan ức trong tay Điền tướng quân, hơn nữa còn liên luỵ tướng quân sa vào hiểm cảnh, cảm thấy bất nhẫn, nên mới viết ra thư đó!”
Mâu Tân lập tức bừng tỉnh, hoàn toàn hiểu ra, không nói thêm lời nào nữa, bèn đứng dậy khấu lạy sát đất: “Mâu Tân và toàn bộ gia quyến lớn nhỏ cảm tạ ân công!”
“Tướng quân mau đứng dậy,” Trương Nghi phẩy tay, “chúng ta cùng bàn chuyện mua bán!”
“Ân công có việc gì, xin cứ căn dặn.”
“Mua bán thì không có chuyện gì khác, chỉ hỏi tướng quân một câu, tướng quân muốn Điền tướng quân tuẫn thân vì nước trên sa trường, hay là muốn Điền tướng quân anh dũng khải hoàn?”
“Mâu Tân chỉ muốn hắn chết!” Mâu Tân rít qua kẽ răng.
“Được!” Trương Nghi dõng dạc đáp lời, quay sang Doanh Hoa. “Công tử sai người tới Cao Đường, đón toàn bộ gia đình Mâu tướng quân tới phủ tướng quốc Đại Lương, tại hạ đã bố trí người lo liệu!”
“Ân công...” Mâu Tân khóc không thành tiếng, lại bái lạy sát đất.
Hơn sáu vạn quân Tề, tung tin ra ngoài là mười vạn, thêm hơn một vạn nhân lực lo liệu quân nhu, khí thế hừng hực, bao vây Đại Lương. Cờ quạt đủ loại rợp đất, dễ đến cả vạn lều trại cắm dày đặc bên ngoài thành Đại Lương, từ trên thành nhìn xuống, uy thế ngút trời, khiến người ta nhìn mà choáng váng. Tuy nhiên, vài ngày sau đó, tình hình quân Tề vẫn không có động tĩnh gì, hoàn toàn rập khuôn theo chiến thuật cứu Triệu lần trước, đại quân ban ngày bao vây ngoài thành, hoặc luân phiên khiêu khích, hoặc thu cờ im trống, ban đêm số ít kỵ binh toả ra quấy nhiễu tứ bề.
Ngụy Huệ Vương đã rút ra kinh nghiệm từ trận chiến Hàm Đan, nên lần này hết sức bình tĩnh, không mảy may kinh hãi, cũng không đích thân lên thành khích lệ sĩ khí, mà ngày ngày ung dung ngồi trên đài câu trong hậu hoa viên, khép mắt câu cá. Khác với những lần buông câu bình thường trước đây, bất luận Huệ Vương câu được thứ gì, tỳ nhân lại lớn giọng ngâm nga cứ như là truyền chỉ, rồi lại được các cung nhân khác tiếp giọng tuyên lên, cứ thế cho tới tận tai từng tướng sĩ giữ thành. Chiêu khích lệ sĩ khí kiểu mới của Huệ Vương vô cùng hữu hiệu, thần dân khắp thành thấy đại vương điềm tĩnh tới vậy, cũng hết sức an tâm, ai lo việc nấy.
Vào lúc này, các ấp xung quanh sớm đã nhận được chỉ lệnh của Bàng Quyên, nhà nhà đóng cửa, ruộng vườn thu dọn sạch trơn, nếu có lương thực thừa, đều chôn kỹ dưới đất. Kỵ binh Tề quấy rối nhiều nơi, hầu như chẳng thu hoạch được gì. Lại thêm Tôn Tẫn nghiêm cấm nhũng nhiễu nhân dân, nên lương thảo cho sáu vạn quân Tề hoàn toàn do hậu cần cung cấp.
Hơn mười ngày liền, cuộc đại chiến bốn nước Tề, Ngụy, Sở, Hàn chìm trong trạng thái tĩnh lặng lạ thường. Quân Hàn co cụm trong thành ấp không ra, sáu vạn quân Sở nấp trong Khổ Huyện theo dõi từ xa. Tám vạn quân Ngụy lượn lờ ngoài thành Dương Địch và Trịnh Thành, chẳng khác gì mèo vờn chuột. Sáu vạn quân Tề trật tự bao vây Đại Lương. Trong thành Đại Lương, cuộc sống vẫn diễn ra bình thường, chỉ là cổng thành đóng chặt, trên tường thành chốc chốc lại vang lên tiếng ngâm nga Huệ Vương câu được mấy con cá, cá nặng mấy cân mấy lạng.
Tuy nhiên, phía sau tất cả sự tĩnh lặng này, một cánh quân Ngụy khoảng ba nghìn người, do tướng trấn giữ Tương Lăng Trịnh Khắc chỉ huy, dưới sự dẫn dắt của vài kẻ áo đen, ngày nghỉ đêm đi, bí mật vượt qua nước Tống, vòng qua phía đông đầm Đại Dã, chọc thẳng vào căn cứ lương thảo của quân Tề ở A Ấp, nhờ sự tiếp ứng của Hắc Điêu nước Tần do công tử Hoa thống lĩnh, bất ngờ đột kích trước lúc bình minh. Khi kho lương, rơm cỏ bốc cháy, lính gác quân Tề đa phần vẫn đang ngủ say sưa.
Cùng lúc đó, tất cả đều đúng như kế hoạch, ba cánh quân vận chuyển lương thảo của quân Tề đều bị quân Ngụy chia quân mai phục tấn công tại những chỗ khác nhau trên đường chuyển lương, vài trăm xe quân nhu gần như bị thiêu trụi cùng một lúc, khói bốc cuồn cuộn đến tận trời xanh, lửa cháy rừng rực suốt vài dặm vuông, cảnh tượng vô cùng kinh động.
Tô Tần sau khi đã xoay xở được một khoản tiền từ Lâm Truy, đang hoan hỷ trên đường trở về, từ xa nhìn thấy khói lửa ngút trời, kêu lên một tiếng “thôi rồi”, lập tức thúc ngựa lao đến. Khi tới nơi, chỉ còn một vạt hoang tàn, lương thảo đã bị thiêu rụi toàn bộ, lính Tề canh giữ hoặc chết hoặc bị thương, số sống sót đang hối hả dập lửa.
Tô Tần cuống cuồng cho gọi Mâu Tân, song hắn đã biến mất tự bao giờ.
Hay tin kho lương và lương thảo vận chuyển trên đường chỉ trong một đêm đã bị thiêu huỷ toàn bộ, Điền Kỵ, Điền Anh đều bàng hoàng kinh hãi, ngây ra như tượng. Tôn Tẫn hít sâu vào một hơi, nhắm mắt suy ngẫm.
Trong trướng trung quân, thời gian ngưng trệ.
Không biết đã trôi qua bao lâu, Điền Anh định thần lại đầu tiên, nhìn sang Tôn Tẫn: “Dám hỏi quân sư, trước mắt phải dụng binh thế nào?”
“Lui quân!” Tôn Tẫn bình thản đáp.
Điền Anh nhìn sang Điền Kỵ.
“Theo lời quân sư!” Điền Kỵ buông một câu, mắt ngấn lệ, ngửa cổ thở dài một tiếng, sắc mặt tràn đầy tuyệt vọng. “Trời không giúp ta, biết làm sao đây, biết làm sao đây?”
Điền Anh quay sang Tôn Tẫn: “Lui quân thế nào, lui về đâu, kính thỉnh quân sư nói rõ!”
“Bộ binh đi đầu, phu dịch quân nhu đi giữa, lính nỏ đi sau đoạn hậu, duy trì đội hình, ổn định lui về, đi đường gần nhất tới biên giới Tống. Mặt khác, cho kỵ binh quấy nhiễu tây nam, đột kích Hình Sơn, đánh được thì đánh, không đánh được thì lùi!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
“Còn nữa, chuyện lương thảo bị thiêu huỷ, cấm loan truyền trong tam quân!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
“Bà nó chứ!” Bàng Quyên hay tin kho lương của người Tề bị thiêu rụi, siết chặt nắm tay, đi quanh trướng trung quân vài vòng. “Họ Điền kia, và cả Tôn huynh nữa, lần này là do các người tự chuốc lấy, đừng trách Bàng Quyên ta vô tình!”
Sau một hồi hưng phấn, Bàng Quyên nhìn sắc trời, bình tĩnh trở lại, một mặt sai thám mã đi thông báo chư tướng tam quân tới trướng trung quân nghe lệnh, mặt khác ngồi đối diện sa bàn, suy tính lần nữa về kế sách bao vây tấn công mà mình đã hoạch định từ trước, chỉ lo vạn nhất có gì sơ suất.
Chập tối, chư tướng tam quân, bao gồm cả công tử Tự chỉ huy tả quân, đều tới đủ. Một sa bàn cỡ lớn được cố định bằng nhựa cây bày ở chính giữa đại trướng. Trên sa bàn, tất cả hình thế núi sông trong khoảng giao giới giữa Ngụy, Tống, Vệ, Hàn đều được tái hiện chi tiết, vừa nhìn đã thấy rành rành.
Nhận được tin vui kho lương người Tề bị thiêu rụi, chư tướng đều vô cùng phấn khích, đua nhau thỉnh chiến. Đang lúc ồn ào, thám mã bỗng vào cấp báo, nói rằng cả vạn quân Tề xuất hiện ở phía bắc Hình Sơn, nhân lúc đêm tối tấn công quân Ngụy, trong rừng chim bay tán loạn, cát bụi tung mù, dường như cũng có đại quân tập kết, trọng ải báo nguy.
Mọi người thảy đều rụng rời kinh hãi, đặc biệt là chủ tướng tả quân công tử Tự, đang định cấp tốc quay về, thì Bàng Quyên giữ lại. Bàng Quyên không hề lo lắng, ngược lại còn tỏ vẻ vui mừng, lệnh cho thám mã tiếp tục dò la, rồi quay sang thái tử Thân và chư tướng, nói: “Chư vị tướng quân, ta tuyệt đối không thể để đám kỵ binh kia làm lung lạc! Nếu không nằm ngoài suy đoán của bản tướng, lần này người Tề đã lui quân, ta nên dốc toàn lực truy kích!” Rồi quay sang thái tử Thân, vòng tay nói. “Dám hỏi điện hạ phán đoán thế nào?”
“Mọi việc trong quân, Thân nghe theo tướng quân!” Thái tử Thân đáp lễ nói.
“Thái tử có chỉ,” Bàng Quyên quay sang chư tướng, dõng dạc nói lớn, “xét thấy quân Tề cạn nguồn lương thực, toàn quân tan vỡ, ta lập tức nhổ trại, dốc toàn lực truy kích người Tề! Chư vị tướng quân nghe lệnh!”
“Mạt tướng nghe lệnh!” Chư tướng đồng thanh hô vang.
“Trở về bản doanh, đêm nay cho tướng sĩ ăn no ngủ say, chuẩn bị đủ lương khô ba ngày, sáng sớm mai nhổ trại, tiến quân về Đại Lương, truy kích bại binh Tề!”
“Mạt tướng tuân lệnh!” Chư tướng cùng hô lớn, tiếng như sấm rền.
Lính Tề vây khốn Đại Lương hơn nửa tháng trời, lương thảo mang theo đã gần cạn kiệt, đang đợi đoàn xe lương tới bổ sung, nào ngờ Mâu Tân cố tình dây dưa, đến khi tiền phương thôi thúc mới phát liền ba chuyến, giờ lại bị thiêu rụi hoàn toàn. Lương thảo chỉ đủ cho tam quân cầm cự ba ngày, mà trong ba ngày, tướng sĩ tam quân kiểu gì cũng không thể rút được về đến lãnh thổ của mình, bởi lẽ Tôn Tẫn, Điền Kỵ đều hiểu rõ, đại quân rút lui, quan trọng nhất là quy củ trật tự, nếu mất quy củ, sẽ thành tai hoạ. Nếu muốn đảm bảo quy củ, cần di chuyển chậm rãi, ổn định, đặc biệt là còn có một lượng lớn phu dịch phụ trách quân nhu không có sức chiến đấu rút lui cùng.
Từ lúc tam quân xuất chinh tới lúc đại quân rút lui, thái độ của Tôn Tẫn đều hết sức lạ lùng, nếu Điền Kỵ, Điền Anh không hỏi đến, thì gần như rất ít mở lời, hoàn toàn khác biệt với thái độ sôi nổi thoả chí khi mưu tính kế sách cứu Triệu trước đây. Điền Kỵ, Điền Anh rõ ràng đã nhận thấy điều này, đặc biệt là sau khi kho lương bị thiêu rụi, đại quân rút lui, hai người ngày càng lo lắng, thậm chí có lúc còn cho rằng sở dĩ Tôn Tẫn hoàn toàn khác trước, có lẽ là do viên thuốc chết mà sư phụ tặng cho đã phá huỷ trí tuệ của Tôn Tẫn mất rồi. Thế nhưng, Tôn Tẫn ngoài lặng lẽ ít nói, mọi việc khác vẫn rất bình thường, đặc biệt là khi ban bố quân lệnh, vẫn lời lẽ súc tích, rành rọt sắc sảo, không hề có chút hàm hồ, càng không rườm lời rối rắm, dù là mệnh lệnh lui quân, cũng rất hợp tình hợp lý, không một sơ hở. Vì thế, tuy hai người có hồ nghi, cũng chỉ là nghĩ thầm trong dạ mà thôi.
Nơi gần Đại Lương nhất là Ngoại Hoàng, ấp biên giới của Tống, từ Đại Lương tới Ngoại Hoàng là một con đường cái quan rộng hơn một trượng, đủ cho hai cỗ xe chiến đi song song, bên cạnh vẫn còn chỗ cho người đi bộ. Sáu vạn đại quân Tề, cộng thêm hơn vạn phu dịch quân nhu, phía trước là bộ binh, ở giữa là xe quân nhu, sau cùng là xe chiến, kỵ binh bảo vệ hai bên, nối đuôi nhau như một con rắn dài dằng dặc, trước sau đến hơn hai mươi dặm, trật tự mà chậm rãi tiến bước. Với lộ trình hơn một trăm năm mươi dặm, tam quân đi suốt hai ngày trời, mới tới được đất Tống.
Tại vùng giáp ranh Tống, Ngụy, hai nước đều bố trí cửa quan. Cửa quan nước Ngụy, lính canh sớm đã kinh hãi mà chuồn sạch, cửa quan mở toang. Điều bất ngờ là cửa quan bên nước Tống lại đóng kín, không thể đi qua.
Điền Kỵ hay tin, bàng hoàng kinh hãi, vội vã chạy lên xem, quả nhiên bên trong cửa quan, người Tống canh phòng nghiêm ngặt, nhìn từ xa lại, phải có đến vài nghìn quân, rõ ràng đã có chuẩn bị từ trước.
Điền Kỵ đánh xe tới trước cửa quan, vòng tay nói: “Tại hạ tướng Tề Điền Kỵ, xin mời tướng Tống trên cửa quan mau ra nói chuyện!”
Một lát sau, trên lầu cửa quan xuất hiện một người dáng chừng là tham tướng, vòng tay đáp lễ nói: “Mạt tướng Sái Bằng bái kiến Điền tướng quân!”
“Tam quân Đại Tề viễn chinh Đại Lương nước Ngụy, hôm nay khải hoàn, muốn mượn đường quý quốc trở về, kính xin hãy mở cửa quan!”
“Điền tướng quân hẳn đã có giấy thông quan?”
“Đại quân quá cảnh, lấy đâu ra giấy thông quan?”
“Đại vương nước tại hạ có chỉ, không có giấy thông quan, bất cứ ai cũng không được phép qua!” Sái Bằng từ chối thẳng thừng.
“Ngươi... dám cản đường mười vạn tướng sĩ quân ta?” Điền Kỵ nổi cơn thịnh nộ, rút kiếm, cố tình khuếch trương quân tình.
“Điền tướng quân bớt giận!” Sái Bằng tươi cười nói, lại vòng tay. “Mạt tướng sức mọn, đã không dám cản đường tướng quân, cũng không dám làm trái vương chỉ. Tướng quân xin chờ bên ngoài cửa quan chốc lát, mạt tướng sẽ lập tức tấu báo đại vương, chờ chỉ đại vương tới rồi, mạt tướng sẽ lập tức mở cửa quan!”
Điền Kỵ tức uất, vung kiếm định xông lên, thì Điền Anh đã thúc ngựa lao đến, hô lớn từ xa: “Tướng quân hãy khoan, quân sư có lệnh, không cần vào Tống, khởi quân tới Tế Dương!”
Điền Kỵ lửa giận ngút trời, giậm chân bình bịch, vung kiếm chỉ thẳng vào lầu cửa quan: “Các ngươi nghe cả đây! Chuyển lời tới Tống Y ển, sự việc hôm nay, bản tướng khắc cốt ghi tâm, sẽ có một ngày, lại dẫn ba quân tướng sĩ tới gọi cửa quan!” Nói rồi, quay ngoắt xe lại, cùng đại quân cuốn bụi mà đi.
Nhìn thấy quân Tề xa dần, phía sau lầu cửa quan bước ra hai người, một là Trương Nghi, một là công tử Hoa.
“Công tử!” Trương Nghi nhìn cát bụi mịt mù, khẽ giọng căn dặn. “Tiếp theo đã đến lúc dùng người của công tử rồi!”
“Tướng quốc yên tâm!” Công tử Hoa mỉm cười. “Tại hạ sớm đã sắp xếp ổn thoả!”
“Sao không nhìn thấy Mâu Tân kia đâu?”
“Tại hạ cũng lấy làm lạ, đã nói là hẹn ở Định Đào, chờ hắn hai ngày liền, vẫn không thấy bóng dáng đâu. Hay là, để tại hạ phái người đi tìm hắn?”
“Không cần. Chỉ là loài cặn bã mà thôi.”
Giữa hai cửa quan là một ngã tư, hướng đông tây là từ Đại Lương tới Ngoại Hoàng, thông thẳng đến kinh đô Tuy Dương nước Tống; hướng nam bắc, kẹp giữa vùng tiếp giáp giữa hai nước, từ Tương Lăng thông thẳng tới Tế Dương.
Hai nước lấy con đường này làm ranh giới, song ở cả hai đầu đường đều là ấp của người Ngụy, trên thực tế, con đường này phần lớn là do người Ngụy sử dụng. Vì là đường cái vùng biên nên hơi chật hẹp, chỗ rộng cũng không quá tám thước, do hai bên cần chừa chỗ trống cho người đi bộ, nên chỉ có thể đủ cho một xe chiến đi mà thôi. Vì thế đội ngũ quân Tề lại càng kéo dài lê thê hơn nữa.
Đi chưa tới nửa ngày, lương khô ba quân tướng sĩ mang theo đã dùng hết, gạo cũng cạn kiệt. Do các tướng lĩnh hay tin kho lương bị thiêu rụi đều nghiêm ngặt giấu nhẹm tình hình, nên vào buổi trưa, quân sĩ vẫn như thường lệ, vừa ngồi bên đường nghỉ ngơi, vừa đợi cơm ăn. Tuy nhiên, đừng nói là cơm, đến khói bếp cũng không thấy đâu. Binh sĩ đang băn khoăn nghi hoặc, thì lại có lệnh hành quân, đành phải ôm bụng đói mà đi. Lại qua nửa ngày nữa, binh sĩ bắt đầu đói lả, mệt mỏi khó kham. Ngựa cũng không chịu đi, hễ nhìn thấy cỏ là dừng lại gặm lấy gặm để, có quất roi cũng vô ích.
Binh sĩ nhao nhao đòi tướng lĩnh cơm ăn. Tướng lĩnh cũng đều đã đói meo, người nào biết chuyện thì giả vờ như không biết, tìm mọi cách vỗ yên, người nào không biết chuyện thì kéo nhau lên hỏi cấp trên.
Gió đông nam thổi đến, lay động cành cây, từ cánh rừng nơi đầu gió, đột nhiên xuất hiện rất nhiều quả bóng hơi, bên trên buộc những mảnh lụa mỏng, màu sắc sặc sỡ, bay lượn đầy trời, nhìn rất bắt mắt. Thấy những quả bóng hơi bay qua trên đầu, rất nhiều binh sĩ giương cung bắn rụng, hoá ra đều là bong bóng lợn thổi phồng. Nhìn lại những vuông lụa, có người biết chữ lẩm nhẩm đọc, lập tức rụng rời kinh hãi, bởi lẽ đều viết về chuyện kho lương A Ấp và xe chở lương của Tề đã bị thiêu rụi hoàn toàn. Nhớ lại ba ngày trước, đột nhiên có lệnh rút quân, hôm nay lại mãi không có cơm ăn, lính Tề lập tức bừng tỉnh, lòng quân náo loạn, nỗi hoang mang lập tức lan truyền khắp ba quân, đội ngũ không còn tề chỉnh, có người nhân lúc rối loạn bỏ trốn, song đa số quân sĩ đã được huấn luyện kỹ càng, vẫn giữ được bình tĩnh. Người có kinh nghiệm tìm chỗ ngồi xuống, nhắm mắt dưỡng thần, cố gắng giữ sức.
Điền Anh cấp báo lên Điền Kỵ. Điền Kỵ không biết làm thế nào, kéo Điền Anh nhảy lên cỗ xe tứ mã kéo dài chế riêng cho Tôn Tẫn.
Từ lúc rút quân đến giờ, bất kể ngày đêm, Tôn Tẫn không lúc nào rời khỏi cỗ xe này, cũng không muốn gặp bất cứ ai, kể cả Điền Kỵ. Cùng ở trên xe với Tôn Tẫn có hai tham quân tả hữu, sự tình bên ngoài đều do hai tham quân này bẩm báo với Tôn Tẫn, chỉ lệnh của Tôn Tẫn cũng được hai người này truyền đạt ra ngoài.
Nhìn thấy hai vị tướng quân, tham quân tả hữu đều xuống xe, nhường lại chỗ ngồi.
Tôn Tẫn hai mắt khép hờ, dường như mọi chuyện bên ngoài không hề liên quan tới mình.
“Quân sư!” Điền Kỵ nhìn Tôn Tẫn một lát, thấy Tôn Tẫn vẫn không mở mắt, sốt ruột kêu lên. “Tam quân đã cạn lương một ngày rồi, tướng sĩ đã biết chuyện lương thảo bị thiêu rụi, lòng quân hoang mang, sự tình nguy cấp, giờ phải làm thế nào đây?”
“Người Ngụy ở đâu?” Tôn Tẫn không trả lời, mà lên tiếng hỏi một câu không ăn nhập vào đâu.
“Theo thám mã báo tin, quân chủ lực của Bàng Quyên rút về từ Trịnh Thành tối qua đã tới Đại Lương, cánh quân của công tử Tự rút về từ Dương Địch đoán chừng tối mai sẽ tới.”
“Tốt quá!” Tôn Tẫn thình lình bật ra một câu không đầu không cuối, rồi quay sang Điền Anh. “Hiện tại còn bao nhiêu ngựa?”
“Do chinh phạt quá gấp, điều động không kịp, chỉ có chưa đầy ba vạn cỗ.”
“Ngựa xấu bao nhiêu?”
“Chưa đến bảy nghìn, số còn lại đều là ngựa chiến. Hai vạn để cưỡi, ba nghìn để kéo xe, bảy nghìn để chở quân nhu!”
“Giết một nghìn ngựa xấu, dựng ngay tại chỗ bếp ăn cho sáu vạn quân theo lối hành quân!”
“Giết... giết ngựa?” Điền Kỵ hít vào một hơi khí lạnh.
Tôn Tẫn không trả lời.
“Giết ngựa rồi, xe quân nhu biết làm thế nào?” Điền Kỵ hỏi tiếp.
“Vứt bỏ!” Tôn Tẫn trả lời dứt khoát.
Người Tề đều yêu quý ngựa, ba quân tướng sĩ hay tin giết ngựa, đều đau đớn cõi lòng. Đặc biệt là những con ngựa xấu dùng để kéo xe quân nhu, đều là bảo bối của nhà nông, mà binh sĩ cũng đa phần xuất thân từ nhà nông. Người nuôi ngựa thì khóc, người ăn thịt ngựa thì đau lòng, quang cảnh nơi bếp ăn ảm đạm thê lương, chẳng khác gì đang cử hành tang lễ.
Điền Kỵ, Điền Anh ngồi đối diện nhau, im lặng không nói, vừa ăn thịt ngựa vừa suy nghĩ mải miết.
“Chủ tướng!” Điền Anh như nghĩ ra điều gì, một lát sau, bỏ miếng thịt ngựa xuống. “Hay là quân sư đói quá đâm hồ đồ mất rồi. Giết ngựa thì cứ giết, chất củi nướng thịt là xong, sao lại nhất quyết bắt chúng ta dựng bếp ăn như lệ thường, xẻ thịt nấu nướng, chẳng phải là... rước thêm việc vào thân ư?” Dừng lại một lát, đột nhiên bừng tỉnh. “Phải rồi, quân sư hẳn là lo cho tướng sĩ quá đói, nếu chỉ ăn thịt nướng, sẽ bị mắc nghẹn, tức bụng.”
“Thượng đại phu chỉ nghĩ được những chuyện vặt vãnh thế thôi ư?” Điền Kỵ cười nhăn nhó, chau tít đôi mày. “Chỗ khó lớn nhất của chúng ta không phải ở đây! Lui quân kiểu này, đúng là không sợ người Ngụy rải quân đánh tạt sườn, cũng không dễ tan rã, nhưng... cứ chậm chạp như sên bò thế này, mỗi ngày đi chưa nổi năm mươi dặm, Bàng Quyên có ngốc nghếch đến đâu cũng sẽ đuổi kịp. Nếu như Bàng Quyên chia quân hai lộ, một lộ truy đuổi theo sau, một lộ phi ngựa cấp tốc tới Tế Dương, chắn đầu quân ta, ta trước không có đường đi, sau không có đường rút, bên trái là người Ngụy, bên phải là người Tống, chẳng phải sẽ rơi vào tuyệt địa ư?”
“Phải rồi!” Điền Anh cũng bắt đầu căng thẳng. “Theo kế của tướng quân, nên ứng phó thế nào?”
“Cho một vạn kỵ binh ra roi phi nhanh tới Tế Dương trước, đảm bảo đường lui quân của ta được thông suốt!”
“Tướng quân suy nghĩ rất đúng. Quân sư gần đây lạ lùng quá. Tại hạ sẽ lập tức đi truyền lệnh!”
Điền Kỵ gật đầu: “Cứ làm theo lời thượng đại phu, mau đi truyền lệnh!”
Điền Anh đang định truyền lệnh, thì tham tướng của Tôn Tẫn bước lại, hạ giọng nói: “Quân sư căn dặn, qua ba khắc nữa, tam quân nhổ bếp lên đường, duy trì đội hình, không được khinh suất tiến quân, trật tự tiến về Tế Dương, hạ trại bên bờ Tế Thuỷ nghỉ qua đêm!”
Điền Anh nhìn sang Điền Kỵ.
“Nghe lệnh quân sư!” Điền Kỵ hít sâu vào một hơi, nghiến răng nói.
Vào đêm quân Tề bắt đầu giết ngựa chống đói, năm vạn quân chủ lực của Bàng Quyên từ Trịnh Thành rút về đã tới Đại Lương trước một bước, cắm trại cách ngoài thành vài dặm.
Ngụy Huệ Vương vẫn bình thản như không trong suốt thời gian người Tề vây thành, lúc này mở rộng cổng thành, tinh thần phấn chấn, dứt khoát không cho Bàng Quyên vào cung yết kiến, mà khăng khăng ra ngoài thành khao thưởng tam quân. Người Ngụy giết lợn mổ bò, đại trướng trung quân tưng bừng tiếng nhạc.
Ngụy Vương cầm tay Bàng Quyên, giọng đầy hoan hỷ: “Bàng Nhi, con đánh hay lắm, dương đông kích tây, thiêu rụi lương thảo của Tề, người Tề cuống cuồng rút chạy, quả nhân tận mắt nhìn thấy chúng tan tác không thành đội ngũ!”
“Là nhờ phụ vương điềm tĩnh ngồi câu, thần dân Đại Lương ý chí tựa thành đồng, cầm cự với người Tề hơn hai mươi ngày, Trương tướng quốc đích thân tới Tống, Trịnh tướng quân nghìn dặm tập kích bất ngờ, Bàng Nhi không dám nhận công!”
“Ha ha ha, có công, có công!” Huệ Vương khen liền mấy tiếng, chỉ về phía đông mà nói. “Quyên Nhi, Điền Nhân Tề chuyên gây hiềm khích với quả nhân, quả nhân nhẫn nhịn người này đã nhiều năm rồi, trận chiến Hoàng Trì tuy đã hả giận, song hắn lại sai Điền Kỵ, Tôn Tẫn hai lần bao vây Đại Lương ta, làm hỏng việc tốt của ta, thực là đáng hận. Không ngờ ông trời lại không giúp hắn, nay người Tề trong không lương thảo, ngoài không viện binh, chỉ có nước giơ đầu chịu báng. Quả nhân muốn nhắc nhở con một câu, nhất thiết không được sinh lòng từ bi đối với loài quỷ dữ tham lam ấy, hãy dẫn quân đánh thẳng tới, giúp quả nhân trút bỏ nỗi uất ức này!”
“Phụ vương yên tâm, nhi thần sẽ lập tức dẫn quân truy kích, đánh thẳng vào Lâm Truy, bắt sống cả nhà họ Điền, cho phụ vương tuỳ ý xử trí.”
Huệ Vương phấn khởi, khen không ngơi miệng, rồi theo Bàng Quyên đi thị sát một vòng quanh trướng trung quân, sau đó hưng phấn mãn nguyện hồi cung nghỉ ngơi.
Bàng Quyên trở về trướng trung quân, vừa mới ngồi xuống, đã thấy Trương Nghi từ Ngoại Hoàng đất Tống trở về, kể lại tường tận với hắn từ đầu đến cuối chuyện quân Tề tới Tống thế nào, bị người Tống từ chối không mở cửa quan ra sao, rồi chuyện hắn sai người chia đường đốt cháy lương thảo của người Tề, khiến quân Tề kinh hãi ra sao, binh sĩ trốn chạy thế nào, cuối cùng kết luận: “Quân Tề đã tan rã, Bàng huynh có thể mau chóng cho xe nhẹ quân nhanh chọc thẳng vào Tế Thuỷ, chặn đầu người Tề ở phía tây đầm Đại Dã, là đã có thể báo thù trận Quế Lăng.”
“Quân Tề cả thảy bao nhiêu binh mã?” Bàng Quyên hỏi.
“Chưa tính cụ thể, ước chừng sáu vạn.”
“Tôn Tẫn có ở trong quân?”
“Có một cỗ xe dài hơn hẳn, hẳn là chở Tôn huynh!”
Lời nói vừa dứt, lính thám mã đã về báo tin: “Quân Tề bắt đầu giết ngựa, để lại xương ngựa chất đống!”
“Giết ngựa lúc nào?” Bàng Quyên vội hỏi.
“Có lẽ là buổi trưa.”
“Là nướng thịt ngựa ư?”
“Nhìn vào dấu vết để lại, là dựng bếp nấu, trong chỗ canh thừa hắt bỏ dưới đất thấy có nhiều rau dại!”
“Đã đếm số bếp chưa?”
“Đã đếm sơ qua, không dưới hai vạn.”
“Hai vạn?” Bàng Quyên thoáng sửng sốt. “Người Tề bình thường năm người một bếp, hai vạn bếp, tương ứng với mười vạn quân mới phải!” Quay sang Trương Nghi. “Trương huynh, sao huynh nói chỉ có sáu vạn?”
“Tại hạ tận mắt nhìn thấy, hơn nữa, còn sai người nấp trong khu rừng phía xa đếm chừng số lượng, không thể sai lệch lớn đến thế được!”
“Tại hạ tin lời Trương huynh” Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, gật đầu nói. “Hẳn là Tôn Tẫn cố tình dựng thêm bếp nấu để giở kế trá Ngụy!” Suy nghĩ một lúc, lại nói. “Trương huynh, người Tề đều yêu quý ngựa, hôm nay giết ngựa, cho thấy đã cạn sạch lương thảo, rất trùng hợp với dự đoán của ta trước đó. Một con ngựa bình thường, ít thì vài đĩnh vàng, nhiều thì vài chục đĩnh, ăn thịt ngựa sẽ tổn hại đến ngân khố quốc gia. Thêm nữa, thịt ngựa cũng không thể ăn thường xuyên, lại càng không thể ăn thay cơm, tin chắc người Tề sẽ không thể cầm cự được bao lâu nữa. Nếu không nằm ngoài dự đoán, người Tề hẳn là tiến thẳng tới Tế Dương, dọc theo Tế Thuỷ đi về phía đông, qua Hà Mật rồi tiến vào biên giới Tề. Dựa theo tốc độ hành quân hiện thời của người Tề, có lẽ tối mai sẽ tới Tế Dương, ngày kia tới Hà Mật, thêm một ngày nữa sẽ tới Chân Ấp ở biên giới nước Tề.”
“Bàng huynh phân tích rất đúng!” Trương Nghi khen ngợi.
“Trương huynh, việc quân quý ở thần tốc, chúng ta chia quân hai lộ, tại hạ và thái tử dẫn ba vạn xa kỵ truy kích trước, lập tức khởi hành, cố gắng cầm chân người Tề giữa Hà Mật và Chân Ấp. Còn Trương huynh dẫn bộ binh hợp với hữu quân của công tử Tự, tiếp ứng phía sau, hợp kích tiêu diệt Điền Kỵ ở biên giới Tề, thế nào?”
“Việc quân, xin nhất nhất nghe theo Bàng huynh!”
Hành quân đường trường suốt nhiều ngày liền, quân năm đô bình thường rèn luyện không đủ, lại thêm trước đó ăn toàn lương khô, bị bỏ đói một ngày, sau đó lại ăn quá nhiều thịt ngựa, nên bụng no tức, tốc độ hành quân chậm hẳn lại, dự kiến trước khi trời tối sẽ đến Tế Thuỷ, kết quả là qua canh một mới đến nơi, còn có rất nhiều người tụt lùi phía sau, vì phải dừng lại bên đường đi ngoài.
Điền Kỵ điểm lại binh mã, do có thịt ngựa chống đói nên binh sĩ bỏ trốn rất ít. Tôn Tẫn không nói gì thêm, Điền Kỵ hạ lệnh nghỉ ngơi tại chỗ, trước khi trời sáng vượt sông tiến về phía đông, men theo con đường cái quan ở bờ bắc Tế Thuỷ, đến trưa sẽ tới vùng ngoại ô Hà Mật của Ngụy.
Quân trấn thủ Hà Mật như gặp cường địch, đóng chặt cổng thành không ra.
Thịt ngựa tuy chống đói được lâu, song một ngày trời không ăn gì, quân Tề đều đã đói meo.
Tôn Tẫn lại hỏi về tình hình quân Ngụy, truyền lệnh hạ trại bên một đầm nước ngoài thành Hà Mật, vẫn giết nghìn ngựa, song chỉ cho dựng sáu nghìn bếp, vứt lại năm trăm bộ xương ngựa, năm trăm bộ xương còn lại chở theo xe, đồng thời sai kỵ binh bố trí nghi binh dọc theo các tuyến đường lân cận.
Những chuyện khác còn được, song chuyện chở theo năm trăm bộ xương ngựa quả là một mệnh lệnh hết sức kỳ khôi, Điền Kỵ và Điền Anh đều không thể hiểu nổi.
Điền Kỵ càng nghĩ càng băn khoăn, mặt mày rầu rĩ nói: “Quân sư, xe chở quân nhu đã vứt bỏ lại rồi, số còn lại dùng để vận chuyển binh khí, lều bạt, huống hồ binh sĩ đều mỏi mệt, sức ngựa phần nhiều cũng đã rã rời, liệu... liệu có thể đừng lôi theo mớ xương ngựa hay không!”
Tôn Tẫn từ từ khép mắt.
Điền Kỵ đợi thêm một hồi, Tôn Tẫn vẫn chẳng nói chẳng rằng, lại đưa tay kéo rèm xe xuống.
Hai người bước sang bên cạnh. Điền Anh liếc nhìn Điền Kỵ, khẽ nói: “Tướng quân, quân sư cứ khăng khăng ý mình, làm thế nào đây?”
“Cứ làm theo lệnh quân sư!” Điền Kỵ cười méo mó. “Tại hạ cũng muốn xem thử, quân sư muốn dùng đám xương ngựa kia vào việc gì?”
Đại Lương cách Tế Dương khoảng hai trăm dặm, Tế Dương cách Đào Ấp khoảng trăm dặm. Bàng Quyên bỏ lại bộ binh, cùng thái tử Thân dẫn ba vạn xa kỵ tiến thẳng tới Tế Dương. Ngựa nhanh xe chậm, song lần bị phục kích ở Quế Lăng vẫn gây ám ảnh sâu sắc trong tâm trí Bàng Quyên, do vậy, Bàng Quyên căn dặn xe chiến và kỵ mã không được tách rời nhau, tăng thêm ít xe quân nhu, lại vượt qua gần mười con sông, ba vạn đại quân tới gần trưa hôm sau thì đuổi tới nơi quân Tề đã hạ trại bên bờ Tế Thuỷ.
Người ngựa đều đã mệt mỏi, Bàng Quyên hạ lệnh nghỉ ngơi một lát, đích thân tới chỗ quân Tề hạ trại thám thính. Nhìn từ xa, lại không thấy có dấu hiệu cắm trại, chỉ thấy trên đất dọc ngang dấu vết binh lính nằm ngủ và một số vật dụng sinh hoạt không mấy quan trọng không ảnh hưởng tới hành quân. Hỏi dân địa phương, quả nhiên được biết đêm hôm kia có đại quân nghỉ chân ở đây, tính toán lộ trình, thấy mình chỉ tới sau người Tề có một ngày rưỡi. Dựa theo tốc độ hành quân năm mươi dặm một ngày của người Tề, thì hai quân chỉ còn cách nhau chưa đầy tám mươi dặm. Tám mươi dặm, đối với xa kỵ thì chưa mất đến nửa ngày.
Bàng Quyên thở phào một tiếng, truyền lệnh khởi hành, tam quân thẳng tiến về Hà Mật trước khi trời sáng, tính toán lộ trình, thấy chỉ còn cách người Tề hơn nửa ngày đường.
Thám mã về báo, các nẻo đường quanh đó đều thấy có kỵ binh Tề thoắt ẩn thoắt hiện, dường như nghi binh, phía trước không xa, có bếp nấu của quân Tề. Bàng Quyên vội tới nơi xem xét, quan sát từ xa, thấy tan hoang một vùng, khắp nơi vung vãi xương ngựa và các loại quân nhu, thậm chí còn thấy cả trong rừng cây và bụi cỏ cách đó rất xa. Xương ống đều bị đập vỡ để hút lấy tuỷ.
Bàng Quyên sai người đếm số bếp, thấy chưa đầy sáu nghìn, sai đếm xương ngựa, không quá năm trăm cỗ, lại đích thân kiểm tra phân ngựa và phân của lính Tề, thấy phần nhiều đen kịt, hỏi thầy lang, được biết người Tề do chỉ ăn thịt mà không có hạt ngũ cốc nào nên mới như vậy.
Không cần hỏi dân địa phương, chỉ nhìn vào phân là đã biết, người Tề mới rời khỏi đây chưa tới nửa ngày, nhiều lắm cũng chỉ đi được ba mươi dặm, nếu phi ngựa đuổi theo, hai canh giờ là kịp.
“Nhìn vào tình hình hiện tại,” Bàng Quyên bẩm báo với thái tử Thân, “Tề đã hoàn toàn cạn kiệt lương thảo, mỗi ngày chỉ nấu một bữa. Quân Tề nấu ăn, thường là năm người một bếp, hôm kia đếm thấy hơn hai vạn bếp, tương đương với mười vạn người ăn, hẳn là Tôn Tẫn hư trương thanh thế, kỳ thực số lượng ước chừng sáu vạn, đúng như Trương huynh quan sát. Hôm nay không tới sáu nghìn, nhìn vào thực tế, cho thấy quân Tề không tới ba vạn. Chỉ trong một ngày, quân Tề từ sáu vạn chỉ còn ba vạn, cho thấy đã trốn chạy quá nửa, chẳng mấy mà tan rã. Người Tề giết năm trăm ngựa, cũng là ứng với ba vạn quân, phù hợp với số lượng bếp. Đoán rằng binh sĩ đã đói khát rã rời, chẳng còn hơi đâu mà dựng bếp giả nữa. Rõ ràng, Tôn Tẫn đã biết nguy, nên cố tình bày kế nghi binh ở các nẻo đường để lung lạc quân ta, cố tìm cách kéo dài thời gian.”
“Người Tề đã tan rã, ta đuổi theo có ích gì?” Thái tử Thân chau mày hỏi.
“Đánh tới Lâm Truy, bắt sống Điền Kỵ!” Bàng Quyên gằn mạnh từng tiếng.
“Cổ nhân nói, quân tan rã chớ đuổi, kẻ tàn tật chớ đánh. Người Tề tự động rút quân, giờ lại đã tan rã, theo ý Thân, ta nên dừng lại thì hơn, thấy đủ là dừng!”
“Thần không cho là vậy!” Bàng Quyên hậm hực nói. “Quân Tề tuy tan rã, song chủ lực vẫn còn. Hai con hổ Điền Kỵ, Tôn Tẫn kia đã hai lần làm hỏng đại sự của ta, nay đã nằm trong tay ta, nhất thiết không thể thả chúng về rừng! Hơn nữa, quân Tề hai lần bao vây Đại Lương ta, gây kinh động đến phụ vương, cớ sao ta lại không thừa thắng mà truy đuổi đến Lâm Truy, cũng để cho Tề Vương nếm mùi bị vây khốn?”
“Tướng quân quyết ý như vậy, Thân cũng không nói gì thêm. Phải truy kích ngay trong đêm ư?”
“Người Tề tuy rơi vào thế bất lợi, song Tôn Tẫn dụng binh quỷ quyệt, chúng ta cũng nên đề phòng hắn. Giờ đã khuya rồi, cứ để tướng sĩ ngủ ngon một đêm, đợi tới sáng mai, dốc sức truy kích, xa kỵ đuổi theo bộ binh, tin rằng tối mai hai quân sẽ chạm trán. Chưa biết chừng tối mai, người Tề đã tan rã ngay trên đường rồi, chúng ta có thể thuận lợi thẳng tới Lâm Truy!”
Tam quân nước Tề lại một lần nữa ăn no thịt ngựa, sức khoẻ hồi phục, theo lời Tôn Tẫn, gia tăng tốc độ, chưa đầy ba canh giờ đã hành quân được sáu mươi dặm, vào giờ Nhân định thì tới Chân Ấp.
Chân Ấp là ấp ở biên giới nước Tề, cũng là nơi Tôn Tẫn từng cư ngụ.
Cuối cùng đã về đến nước mình, Điền Kỵ thở phào một tiếng, truyền lệnh hạ trại. Tô Tần sớm đã hay tin, dẫn theo dân chúng và lính hậu cần cầm đuốc xách đèn, đợi sẵn ở bên đường khích lệ lòng quân.
Dù phía Tô Tần đã chuẩn bị đầy đủ lương thảo, nấu nướng sẵn sàng, hơn nữa bữa trưa vừa mới ăn thịt ngựa, song Tôn Tẫn vẫn truyền lệnh, dựng ngay ba nghìn bếp, giết một trăm ngựa, róc thịt nấu ăn, vứt xương xuống đất. Lúc này lương thực đã đầy đủ, hoàn toàn không cần thiết phải giết ngựa, thế mà vẫn cứ giết, Điền Kỵ thực không tài nào hiểu nổi, bèn hỏi Tôn Tẫn, nhưng Tôn Tẫn vẫn ngồi im lìm trong xe, hai mắt khép hờ, cứ như nửa tỉnh nửa mơ, chẳng buồn để ý đến câu hỏi của Điền Kỵ.
Điền Kỵ bực bội trở về đại trướng, càng nghĩ càng hoang mang. Tuy nhiên, lệnh của quân sư, không thể không nghe. Ngộ nhỡ quân sư có kỳ mưu nào thì sao? Điền Kỵ suy nghĩ nát óc mà vẫn không thể lý giải. Vừa hay Tô Tần, Điền Anh đều tới trướng, Điền Kỵ bèn giãi bày mọi thắc mắc trong lòng, rồi nói: “Không giấu Tô huynh, lần này cứu Hàn, thái độ của Tôn huynh hoàn toàn khác với lần cứu Triệu trước đây, về chuyện này, không ai có thể hiểu rõ hơn tại hạ. Tại hạ cứ lo lắng, hay là cái này của quân sư...” chỉ vào đầu mình, “do uống phải viên thuốc chết kia mà hỏng mất rồi?”
Tô Tần nhìn sang Điền Anh.
“Chủ tướng nói đúng đấy!” Điền Anh hùa theo. “Quân sư quả thực rất lạ lùng, ngay cả khi biết tin lương thảo bị thiêu trụi, vẫn không hề hoảng loạn. Còn nữa, quân sư từ sáng tới tối chỉ ngồi lì trong xe mà không chịu ở trong trướng, cũng hiếm khi nói năng với đám tại hạ, lúc nào cũng nhắm mắt dưỡng thần, nửa như suy nghĩ, lại nửa như đang ngủ. Rất hiếm khi hạ lệnh, dù hạ lệnh, cũng thường rất kỳ quặc. Lần trước bao vây Đại Lương, quân sư giải thích rất tường tận, lần này lại bao vây Đại Lương, quân sư một câu cũng không nói. Còn nữa, lần trước bao vây Đại Lương là giả, lần này lại là thật, bảo phải dốc hết sức lực, kết quả là lương thảo bị thiêu rụi. Quân sư hạ lệnh rút lui qua Tống, song người Tống không chịu mở cửa, Điền tướng quân muốn đánh Tống, quân sư lại không cho. Kết quả phải đi đường vòng, buộc phải giết ngựa cứu đói. Quân sĩ đói lả, hành quân lại gấp rút, tốt nhất là nên nướng thịt cho nhanh gọn, vậy mà quân sư lại bắt dựng bếp nấu ăn, còn bắt dựng thêm gấp đôi số bếp, khiến quân sĩ oán thán. Lần thứ hai giết ngựa, quân sư lại bắt chở theo năm trăm bộ xương ngựa, nhìn xem, toàn bộ đều ở đây cả. Hôm nay lại càng kỳ quặc hơn nữa, Tô huynh hẳn đã thấy cả rồi đấy, không cần thiết phải giết ngựa, mà vẫn cứ đòi giết trăm con, còn bắt dựng bếp...”
“Việc quân, tại hạ không tiện hỏi nhiều,” Tô Tần trầm ngâm một lát, rồi chậm rãi nói. “Những gì hai vị tướng quân đây nhìn thấy và đang lo lắng, đều rất hữu lý, nhưng dù là vậy, tại hạ cũng xin hai vị hãy tin tưởng Tôn huynh. Tôn huynh hoàn toàn vẫn giống như trước khi uống thuốc. Nghe hai vị nói, theo tại hạ thấy, mệnh lệnh quân sư đưa ra trước đây, không có gì quá đáng. Lương thảo đã bị thiêu rụi, hoang mang cũng vô ích, quân sư lui quân là rất đúng. Rút lui tới Tống, cũng là hợp lý. Người Tống không cho qua, hẳn là nằm ngoài dự liệu của quân sư. Còn như quân sư không nói, cũng không chịu giải thích với hai vị, hẳn là có nỗi khổ riêng, không tiện nói ra. Cho tới nay, hai vị tuy hồ nghi, song vẫn làm theo lệnh, cho thấy hai vị vẫn rất tin tưởng quân sư. Niềm tin này không hề dao động. Đối phó với Bàng Quyên, ngoài Tôn huynh, thiên hạ không có người thứ hai. Phải rồi, tại hạ còn cần bẩm báo hai vị chuyện lương thảo bị hoả thiêu. Tại hạ đã điều tra rõ, là có Mâu Tân làm nội ứng. Mâu Tân quá ư so đo được mất, đã trúng kế của kẻ địch, lần trước hãm hại Điền tướng quân phải chạy tới Sở, lần này lại làm nội ứng cho người Ngụy, thiêu trụi lương thảo các nơi của ta, khiến đại quân ta phải rút về. Mâu Tân là do Trâu tướng quốc tiến cử, tại hạ đã hấp tấp dùng ngay, mà chưa điều tra cho kỹ...”
Lời còn chưa dứt, Điền Kỵ đã siết chặt nắm đấm, giáng thẳng xuống mặt bàn: “Ác tặc ở đâu?”
“Sau khi chỉ điểm cho người Ngụy hoả thiêu lương thảo của ta, định trốn sang nước Tống, đã bị tiền bối Mặc gia Khuất Tương Tử sai người bắt sống ở bên ngoài thành Đào Ấp. Tại hạ đã thẩm vấn kỹ lưỡng, tấu báo lên đại vương, áp giải tới Lâm Truy rồi!”
“Đợi tại hạ trở về Lâm Truy, sẽ đích thân róc xương lóc thịt hắn!”
“Hai vị tướng quân!” Tô Tần khẽ vòng tay, đứng dậy cáo từ. “Hai vị cứ ở đây bàn bạc việc quân, tại hạ tới chỗ Tôn huynh xem thế nào.”
Vừa tiễn Tô Tần ra khỏi trướng, đã có thám mã về báo, nói là đại quân Bàng Quyên đã đuổi tới Hà Mật, chỉ còn cách đây không tới sáu mươi dặm, xe ngựa hai canh giờ nữa sẽ tới. Hai người nghe mà dựng tóc gáy. May mà buổi chiều hành quân cấp tốc, nếu không, đã bị người Ngụy đuổi kịp mất rồi.
“Sự việc nguy cấp,” Điền Anh quay sang Điền Kỵ, “đại quân nên ứng phó thế nào, chúng ta nên nghe theo quân sư, hay là...”
“Ý Điền huynh thế nào?”
“Xin nghe theo chủ tướng!”
“Bất luận Tô Tần nói thế nào,” Điền Kỵ dứt khoát, “theo trực giác của tại hạ, không thể nghe theo lệnh quân sư được nữa, tại hạ thấy đó là kế sách sai lầm nhất. Hiện tại quân nhu của ta đa phần đã vứt bỏ, lương thảo không còn, sĩ khí rệu rã, không nên giao chiến. Ngược lại nhìn quân Ngụy, nắm chắc phần thắng trong tay, sĩ khí hừng hực, nóng lòng tìm ta quyết chiến. Quân Ngụy chia quân ba lộ, Bàng Quyên dẫn quân chủ lực, đa phần là võ binh, sức mạnh lớn nhất, mục đích là cầm chân quân ta. Tiếp đến là bộ binh, cuối cùng chắc là quân bao vây Dương Địch. Nhìn vào đó, ta nên tránh địch, không nên giao chiến, dụ địch vào sâu trong vùng đất hoang vu. Theo ý tại hạ, sáng sớm ngày mai, tam quân canh năm khởi hành, rút về phía đông nam tới Lẫm Khâu, vòng qua đầm Đại Dã xuống phía nam, vừa ngăn cản quân Ngụy, vừa rút về Bình Lục. Bình Lục là Tây Đô của ta, tường cao hào sâu, xung quanh đầm Đại Dã lại có rừng rậm um tùm, đầm hồ ngang dọc. Ta bỏ hết quân nhu, di chuyển dễ dàng, ngược lại quân Ngụy giáp trụ nặng nề, đường sá không thông thuộc, đầm nước bùn lầy, xe chiến khó lòng thi triển, xem thử Bàng Quyên làm gì nổi ta?”
“Kế này rất hay, tại hạ chỉ có một băn khoăn, ngộ nhỡ Bàng Quyên không thèm để ý tới ta, cứ tiến thẳng tới Lâm Truy thì sao?”
“Hắn hẳn không dám!” Điền Kỵ tràn đầy tự tin nói. “Chỉ cần tại hạ và Tôn huynh còn quanh quẩn bên đầm Đại Dã, Bàng Quyên có nghìn lá gan cũng không dám bỏ qua mối uy hiếp sau lưng mà xông thẳng tới Lâm Truy!”
“Được, tại hạ sẽ lập tức truyền lệnh tam quân!”
Vào lúc gà gáy ngày hôm sau, tam quân chuẩn bị sẵn sàng, chờ lệnh xuất phát, theo lệnh của Điền Kỵ, sẽ tuần tự tiến về Lẫm Khâu. Sắp tới giờ khởi hành, tham quân của Tôn Tẫn bất ngờ truyền lệnh quân sư, phải hành quân lên phía bắc, trước khi trời tối, rút vào Tân Ấp, hơn nữa vẫn phải chở theo năm trăm bộ xương ngựa.
Điền Kỵ phát hoảng, đang định lờ đi quân lệnh của Tôn Tẫn, thì thấy Tô Tần hối hả bước tới, ghé sát tai thì thầm một hồi, Điền Kỵ thoạt tiên kinh ngạc sững sờ, tiếp đến vui mừng khôn xiết, quay sang Điền Anh nói: “Y lệnh quân sư, tiến quân về bắc tới Tân Ấp!”
Gần trưa ngày hôm sau, đại quân Bàng Quyên đã tới biên giới Tề. Chỉ thấy nơi đây tan hoang bát nháo, lính gác cửa ải đã bỏ chạy từ lâu. Tới buổi chiều, đại quân đã tới Chân Ấp, song chỉ thấy cổng thành khép hờ, không có lấy một bóng lính canh, dân chúng trong thành đa phần đã bỏ chạy hết, chỉ còn lại một số ít gia đinh trông nhà của các hộ giàu có và người già cả không nỡ bỏ nhà cửa vườn tược mà đi.
Bàng Quyên tìm thấy vài người, dò hỏi biết được về “thảm trạng” của quân Tề, hơn nữa còn được biết dân chúng sợ bị đánh, nên chút lương thực còn sót lại cũng đã bị đám lính Tề tan rã kia “vét sạch”. Sai người đi kiểm tra số lượng bếp ăn, báo rằng không đến ba nghìn, xương ngựa không quá trăm bộ. Bàng Quyên phân tích, ba nghìn bếp, giảm một nửa so với ngày hôm qua, cho thấy quân Tề đã tan rã rất nhiều, tàn binh sót lại không tới hai vạn, giết ngựa lại chỉ trăm con, hẳn là vì đã “cướp bóc” được lương thực. Sai người đi kiểm tra chỗ quân Tề hạ trại, quả nhiên thấy có ngũ cốc vương vãi dưới đất.
Bàng Quyên không còn nghi ngờ nữa, lúc này việc cần làm là phán đoán chính xác tàn quân chủ lực của Tề hiện rút về đâu. Bởi lẽ Chân Ấp là biên giới của Tề, cũng là đầu mối giao thông quan trọng, có rất nhiều tuyến đường, hai con đường cái quan giao nhau ở đây, hướng đông tây là đường cái quan nối liền hai nước, đủ rộng cho ba xe lớn đi song song; hướng nam bắc là đường cái quan nối liền hai thành, đủ rộng cho hai xe lớn đi song song. Quân Ngụy từ phía tây đuổi tới, hiện đang đứng trước ba ngả đường. Ngả đường thứ nhất tiếp tục đi về hướng đông, qua Lẫm Khâu phía bắc đầm Đại Dã tiến thẳng tới A Ấp, rồi tới Lâm Truy. Ngả đường thứ hai là hướng tây nam, tiến thẳng tới Thuỳ Đô và Thừa Khâu nước Ngụy. Ngả đường thứ ba là hướng bắc, tiến tới Tân Ấp và Cao Đường. Người Tề sẽ không quay về Ngụy nữa, nên ngả đường thứ hai không cần tính tới, trước mặt người Tề chỉ có hai con đường có thể đi, thứ nhất là tiếp tục tiến sang phía đông, rút về Lâm Truy; thứ hai là tiến lên phía bắc, rút tới Cao Đường.
Thám mã hồi báo, hướng đông và bắc đều có dấu xe và đồ vật vứt bỏ lại. Dấu xe ở hướng đông rõ rệt hơn, đồ vật bỏ lại đều là đồ dùng của người dân. Hướng bắc có ít dấu xe hơn, song đồ vật vứt lại đa phần là vật dụng của tam quân như cờ, mâu, kích.
Bàng Quyên cười nhạt một tiếng, nói: “Tôn huynh đúng là mưu cùng rồi, giờ là lúc nào mà còn lôi trò trẻ con này ra lừa ta! Truyền lệnh, dốc toàn lực truy kích về hướng đông, xem Điền Kỵ chạy đâu cho thoát?”
Gần ba vạn xa kỵ của Đại Ngụy tiến như vũ bão về phía Lẫm Khâu, đi khoảng hơn ba mươi dặm, cuối cùng cũng đuổi kịp người Tề, song lại chỉ là đám dân thường đi theo phía sau, có gia đinh, người già và trẻ nhỏ. Nhìn từ phía xa, dân chúng rất đông, chật kín cả đường sá. Thấy quân Ngụy sát khí đằng đằng, dân chúng không ai không kinh hoàng mất vía. Mấy người còn động đậy nổi đầu lưỡi bị đẩy tới trước mặt Bàng Quyên. Bàng Quyên dò hỏi, bách tính đều không nói lời nào, thần sắc hoảng loạn, nhớn nhác nhìn ngang ngó dọc. Bàng Quyên đoán ra nguyên nhân, rút kiếm bức bách, doạ dẫm nếu không nói sẽ chém ngay. Dân chúng hoảng vía, mới chịu nói ra “sự thực”: đi về phía đông toàn là dân thường, Tô đại nhân bảo họ đi về phía đông, lại cho họ mượn xe chiến chở đồ, căn dặn họ không được nói cho người Ngụy biết.
“Tô đại nhân đâu?” Bàng Quyên sầm mặt hỏi.
Đám người chỉ biết lắc đầu.
Hiển nhiên, Tôn Tẫn đã giăng sẵn cạm bẫy, khiến Bàng Quyên phải chui đầu vào rọ. Bàng Quyên giận đến sôi máu, lại không thể phát tiết ra, còn không kịp cả bày sa bàn, cứ thế trải bản đồ, đưa mắt lướt theo con đường phía bắc, dừng lại ở Tân Ấp, đột nhiên bừng tỉnh, nghiến răng trèo trẹo mà nói: “Truyền lệnh, hậu quân đổi thành tiền quân, quay về Chân Ấp.”
Hậu quân do thái tử Thân chỉ huy, nghe thấy lệnh của Bàng Quyên, cho rằng Bàng Quyên không truy kích nữa mà muốn rút lui, lấy làm phấn khởi, truyền lệnh quay đầu.
Lặn lội hơn một canh giờ, đại quân vừa mới về tới Chân Ấp, thái tử Thân đang định đánh xe thẳng tiến về đất Ngụy thì bị Bàng Quyên cấp tốc gọi lại. Một lát sau, Bàng Quyên đã tới trước xe thái tử Thân.
“Có chuyện gì vậy?” Thái tử Thân ngỡ ngàng hỏi thẳng.
“Hồi bẩm điện hạ,” Bàng Quyên vòng tay nói thực, “Quyên đã trúng kế Tôn Tẫn. Chủ lực quân Tề không phải rút lui về phía đông, mà đã rút lui lên phía bắc rồi.”
“Quân Tề cớ sao lại rút lui lên phía bắc?”
“Có hai ý đồ. Thứ nhất là không muốn chiến hoả lan tới Lâm Truy, thứ hai là áp sát vùng biên giới Triệu, Tề, mượn sức người Triệu đối kháng với ta. Người Triệu nợ ân tình của người Tề, lại có Tô Tần khéo ăn khéo nói, hẳn sẽ xuất quân chi viện!”
“Nếu chủ lực của quân Tề rút lên phía bắc, tướng quân đáng lẽ phải nhân cơ hội này đánh vào Lâm Truy mới đúng!” Thái tử Thân băn khoăn hỏi.
“Điện hạ nói chí phải!” Bàng Quyên đáp lời, rồi hậm hực nói. “Có điều, bắt sống Điền Kỵ và Tôn Tẫn, Quyên vẫn thấy hứng thú hơn là tấn công Lâm Truy. Chỉ cần bắt sống được hai người này, đánh tan tành chủ lực quân Tề, chiếm Lâm Truy sẽ dễ như trở bàn tay, muốn lấy sớm hay lấy muộn, chỉ chờ lệnh của điện hạ!”
“Tướng quân đã quyết, Thân chỉ biết nghe theo! Chỉ có điều, truy kích thế nào, còn đợi tướng quân chỉ giáo!”
Bàng Quyên lôi tấm bản đồ da dê ra, vừa chỉ vừa nói: “Chính là con đường này, tiến lên phía bắc thẳng tới Tân Ấp, đi qua Tân Ấp, là tới Cao Đường. Tân Ấp không đáng lo, song Cao Đường lại là Bắc Đô của nước Tề, thành cao hào sâu, dân cư đông đúc, lương thảo sung túc. Người Tề chỉ cần cố thủ mười ngày, viện quân nước Triệu sẽ tới. Nếu Tô Tần lại thuyết phục người Sở, từ phía nam tập kích ta, ta tất rơi vào thế bất lợi!”
“Tướng quân định dùng kế sách nào, xin hãy nói rõ!”
“Tạ ơn điện hạ tin tưởng!” Bàng Quyên vòng tay. “Trời không phụ ta, nay ban cho cơ hội tốt, có thể trút bỏ uất ức tích tụ bấy nay, không thể không theo ý trời. Tính theo tốc độ hành quân của người Tề, một canh giờ chỉ đi được mười lăm dặm, nay lại ôm bụng đói hành quân liên tục nhiều ngày, sức lực đã kiệt quệ, hiện không thể đi quá mười hai dặm. Người Tề xuất phát lúc sáng sớm, lúc này đã đi được bốn canh giờ, hẳn cũng chưa nổi năm mươi dặm. Nơi này cách Tân Ấp khoảng một trăm hai mươi dặm, nếu ta dùng xe chiến đuổi theo, ra roi thúc ngựa, chạy năm mươi dặm một canh giờ, thì chỉ trong vòng hai canh giờ, có thể đuổi kịp Điền Kỵ.”
“Ồ...” Thái tử Thân nhìn sắc trời, chau mày nói. “Giờ đã là nửa chiều, có vội cũng chẳng vội một lúc này, chi bằng tướng quân hãy nghỉ lại đây một ngày, rồi thong thả truy sát cũng chưa muộn!”
“Việc quân quý ở thần tốc, sự việc không thể chậm trễ!” Bàng Quyên rõ ràng đã nắm chắc phần thắng, dõng dạc nói. “Người Tề đã không còn tâm trí giao chiến, ta nên đuổi kịp người Tề nhân lúc chúng chưa kịp tới Tân Ấp! Điện hạ, để đảm bảo chắc chắn, Quyên sẽ dẫn quân hổ bôn truy kích trước, cầm chân quân Tề, điện hạ hãy dẫn quân theo sau. Nhìn vào tình hình trước mắt, chưa cần tới sự trợ giúp của Trương tướng quốc và công tử Tự, chúng ta vẫn có thể đánh cho quân Tề tan tác, bắt sống Điền, Tôn, rửa hận cho phụ vương!”
“Được, Thân nghe theo tướng quân.”
Thanh Ngưu một xe tiên phong đi đầu, Bàng Quyên đích thân dẫn theo hai trăm cỗ xe chiến, năm nghìn lính hổ bôn, gấp rút ruổi lên phía bắc tiến tới Tân Ấp. Thái tử Thân dẫn hai vạn quân, bám theo phía sau.
Thanh Ngưu đuổi miết không nghỉ, cứ thế chạy liên tục hơn một canh giờ, đến sẩm tối thì tiến vào đường Mã Lăng. Phóng mắt nhìn đi, phía trước dốc núi trập trùng cao chừng vài trượng, nhấp nhô như sóng, một con đường quanh co khúc khuỷu chạy ngoằn ngoèo giữa núi cao vực sâu, hai bên rừng rú rậm rạp, cây cao chọc trời, gai góc ken dày, địa thế khá là hiểm trở. Thanh Ngưu từng nếm mùi thất bại trong trận Quế Lăng, theo trực giác vội hô dừng xe ngựa, một mặt sai người lên trước dò đường, một mặt cấp báo Bàng Quyên.
Bàng Quyên đánh xe tới trước khe núi, rồi nhảy xuống khỏi xe. Nào ngờ do trời đã nhá nhem, Bàng Quyên lại quá nôn nóng, vừa nhảy xuống, đã giẫm ngay phải một bãi phân ngựa, trượt một cái, cả người loạng choạng chực ngã, may mà có Thanh Ngưu đỡ kịp. Bàng Quyên đứng vững trở lại, bực bội giơ chân đá bay bãi phân ngựa đi, bước vào trong khe núi, quan sát một lượt, lại leo lên đỉnh núi, phóng mắt nhìn ra xa, thấy con đường trước mặt quanh co ngoắt ngo éo, cây cối đen đặc, ngoài mấy chục bước, chẳng nhìn thấy gì. Lại quan sát những đồ vật bị bỏ lại trong cỏ rậm ven đường, thấy toàn là giáp trụ, đao thương chế tác tinh xảo. Chúng bị bỏ lại, chỉ là vì quá nặng, rõ ràng lính Tề đã không còn sức để mang vác nữa, nên mới lén lút vứt bỏ.
Đang quan sát, thì thám mã áp giải hai lính Tề quay về, báo rằng con đường phía trước càng đi càng hẹp, một số đoạn đường chỉ vừa cho một cỗ xe đi qua, nơi đường hẹp đều có cây cối chắn ngang, còn có vài xe chiến bị tháo bánh, vứt chỏng chơ giữa đường.
Bàng Quyên quan sát hai tên lính, thấy mỗi tên chỉ đi một chiếc giày, một tên đi chân bên trái, một tên đi chân bên phải, lấy làm ngạc nhiên, chỉ vào chân chúng, dịu giọng hỏi: “Bản tướng Bàng Quyên, muốn biết vì sao hai ngươi chỉ đi có một chiếc giày?”
Nghe nói người ở trước mặt chính là Bàng Quyên, hai tên lính đều giật mình kinh ngạc, mặt đầy hoảng hốt. Thấy Bàng Quyên vẫn mỉm cười, tên lính trông nhiều tuổi hơn mới bạo gan nói: “Hồi... hồi bẩm tướng quân, hai... hai chúng tôi là... huynh... huynh đệ kết nghĩa, lòng bàn chân bị phồng rộp, đi không nổi nữa!”
“Bản tướng muốn hỏi, vì sao hai ngươi chỉ đi có một chiếc giày?” Bàng Quyên thu lại nụ cười, nhắc lại câu hỏi.
“Vâng vâng vâng!” Tên lính run rẩy. “Tối qua ngủ ngoài trời, do quá mệt mỏi nên nghĩa đệ bị người ta tháo mất giày mà không hay biết, sáng nay không tìm thấy giày đâu, đại quân lại phải lên đường ngay, tiểu nhân thấy nghĩa đệ hai chân phồng rộp, bèn tháo giày, nhường cho nghĩa đệ đi. Nghĩa đệ khăng khăng không chịu, tiểu nhân cũng không nghe, hai người tiểu nhân đành phải mỗi người đi một bên giày, cứ năm dặm đổi một lần. Đi tới khe núi này, vết phồng rộp của nghĩa đệ bị vỡ, thực sự không thể đi nổi nữa. Tiểu nhân được tướng quân cho phép, ở lại đây để chăm sóc nghĩa đệ.”
“Nói xem, các ngươi có tổng cộng bao nhiêu người? Tới đây vào lúc nào?”
Thấy hỏi về việc quân, tên lính ngoảnh mặt nhìn sang hướng khác.
“Mau trả lời tướng quân!” Thanh Ngưu gằn giọng.
Tên lính run bắn, liếc nhìn Thanh Ngưu một cái, lại quay đầu đi.
Bàng Quyên hất hàm về phía tên nghĩa đệ đứng bên cạnh. Thanh Ngưu hiểu ý, liền kề kiếm vào cần cổ hắn.
“Này vị quân sĩ kia!” Bàng Quyên bình thản nói. “Nếu ngươi chịu nói ra sự thực, bản tướng không chỉ mở đường sống cho hai ngươi, mà còn trọng thưởng cho hai ngươi. Còn nếu không nói, nghĩa đệ của ngươi sẽ đầu lìa khỏi cổ ngay trước mặt ngươi.”
“Tướng... tướng quân!” Tên lính hốt hoảng quỳ sụp xuống. “Tiểu... tiểu nhân sẽ... sẽ nói... sự thực...”
Sau đó, tên này hỏi gì đáp nấy, thật thà kể hết “tình cảnh” của quân Tề, cuối cùng nói: “Bọn tiểu nhân hành quân suốt nhiều ngày trời thì tới khe núi này, thấy đường khó đi thì không muốn đi nữa, lại thêm trời đã tối muộn, bèn nhao nhao thỉnh cầu nghỉ đêm ở đây. Nào ngờ Điền tướng quân dứt khoát không chịu, nói là quân sư lệnh cho đại quân phải tới Tân Ấp trước khi trời sáng, ai trái lệnh chém đầu. Có người không chịu nổi...” đưa tay chỉ vào cánh rừng bên cạnh, “không giấu tướng quân, rất nhiều binh sĩ nhân lúc trời tối đã trốn vào trong cánh rừng này, nếu tướng quân không tin, cứ phái người đi tìm, chưa biết chừng lại bắt được thêm ối người đấy!”
“Con đường núi này dài bao nhiêu?” Bàng Quyên nhìn vào con đường phía trước, nheo mắt hỏi.
“Không dài lắm, chỉ tầm mười dặm đổ lại, đoán chừng đại quân lúc này hẳn đã ra khỏi khe núi rồi. Đoạn này khó đi nhất, Điền tướng quân nói, qua khỏi khe này, sẽ tới đường bằng.”
Bàng Quyên không nghi ngờ nữa, nói với tham tướng ở bên cạnh: “Thưởng hai quân sĩ đây mỗi người một đĩnh vàng, thả cho họ đi!”
Huynh đệ hai người dập đầu cảm tạ, nhận lấy hai đĩnh vàng, vội vã lủi vào trong cánh rừng bên cạnh, bất chấp chân đau, chuồn nhanh như mèo đêm.
“Thanh Ngưu tướng quân!” Bàng Quyên rút bảo kiếm, trỏ vào con đường núi trước mặt. “Truyền lệnh, dọn dẹp chướng ngại vật trên đường, dốc sức truy kích người Tề, bắt sống Điền Kỵ!”
Bàng Quyên vừa hạ lệnh, Thanh Ngưu không còn băn khoăn gì nữa, dẫn vài tướng sĩ lực lưỡng mở đường phía trước, xe ngựa theo sau. Tiến lên thuận lợi, đi khoảng mười dặm, quả nhiên thấy đường đã rộng hơn chút ít, hai xe có thể cùng đi, song còn lâu mới được coi là đường bằng, con đường vẫn bị kẹp giữa hai dãy núi thấp. Bàng Quyên cũng chẳng hề nghi ngờ, tiếp tục hạ lệnh tăng tốc truy kích.
Thanh Ngưu đánh xe đi thêm vài chục bước, đột nhiên thấy trên đường xuất hiện chướng ngại vật màu trắng lờ nhờ, giơ tay nhấc thử, hoá ra là xương ngựa. Ngước mắt nhìn lên, thấy con đường phía trước trắng rợn một màu, sai người đi dò la, thì ra tuyền là xương ngựa. Thanh Ngưu trong lòng giật thột, vừa sai binh sĩ dọn dẹp, vừa hồi bẩm Bàng Quyên. Bàng Quyên tiến lên phía trước, phóng mắt nhìn đi, quả nhiên rặt là xương ngựa, từng bộ từng bộ xếp nối tiếp nhau, trước mỗi bộ xương đều đặt một cái sọ ngựa.
Bàng Quyên chau tít đôi mày.
“Quái lạ thật đấy!” Thanh Ngưu vò đầu bứt tai nói. “Người Tề không thể giết ngựa ở đây, lấy đâu ra nhiều xương ngựa đến thế? Xem ra, không dưới vài trăm bộ.”
Chẳng hiểu vì sao, một cơn ớn lạnh bỗng trỗi dậy trong tâm can Bàng Quyên, chạy dọc sống lưng, khiến hắn bất giác rùng mình.
“Lẽ nào lần trước giết ngựa, quân Tề chưa ăn hết, nên mang theo tới đây?” Thấy Bàng Quyên không đáp, Thanh Ngưu hạ giọng nói khẽ, nửa như tự nhủ, nửa như giải thích, song lại lập tức phủ định. “Vậy cũng không đúng, nếu chưa ăn hết, mang theo thịt là được, còn chở theo xương làm gì? Dùng làm chướng ngại vật ư? Cũng không phải, chặt bừa mấy cây to ven đường, vần tới ít đá, còn tiết kiệm sức bằng mấy so với tha theo cả đống xương!”
Thanh Ngưu còn đang lẩm bẩm, bỗng một binh sĩ đi dọn xương ngựa hộc tốc chạy ngược lại, nói: “Báo cáo, phía trước có cây to chắn ngang đường, bên trên còn có chữ viết!”
Bàng Quyên vội vã chạy tới. Dưới ánh đuốc đám binh sĩ vừa châm lên, thấy rõ thân cây kia vốn dĩ mọc ở ven đường, chắc hẳn vừa bị đốn hạ, nằm chắn ngang đường, đoạn giữa thân cây bị cạo sạch vỏ, bên trên viết một dòng chữ: “Quân sư diệu đoán, đường Mã Lăng ba mươi dặm, bắt sống Bàng Quyên. Điền Kỵ.”
Nhìn thấy hàng chữ “Đường Mã Lăng ba mươi dặm”, Bàng Quyên mới sực tỉnh ra rằng đã bị hai tên lính kia lừa gạt, thì vỗ trán kêu lên: “Hỏng rồi!”
“Sao vậy?” Thanh Ngưu vội hỏi, thuận tay xoay chuyển trường thương, cảnh giác nhìn khắp tứ phía.
Bàng Quyên không trả lời, hai mắt trân trân nhìn vào những bộ xương ngựa la liệt đầy đường. Dưới ánh đuốc lờ mờ, những sọ ngựa trắng ởn ngỏng cao lạnh lẽo, giống như vô số ác ma đang hướng vào Bàng Quyên khiêu chiến.
Bàng Quyên hít ngược một hơi khí lạnh, trước mặt bỗng chốc hiện lên cảnh tượng trước khi xuống núi năm xưa, bên tai lại như văng vẳng lời nói của Quỷ Cốc Tử: “Hoa này tổng cộng có mười hai bông, ý chỉ con sẽ hưng thịnh mười hai năm. Hoa này hái ở Quỷ Cốc, thấy mặt trời mà héo úa, chữ ‘quỷ’ đặt cạnh chữ ‘uỷ’, ám chỉ nơi con thành công sẽ là nước Ngụy... Sau khi con hái được lại vứt đi, vứt đi rồi nhặt lại, là có hai lòng. Trước mặt lão hủ lại giấu giếm không nói, cho thấy con sau này ắt sẽ lừa dối người, cuối cùng bản thân lại bị lừa dối... Hoa này tên là mã đâu linh, ngựa thích ăn nó, nhưng dê thì không, vì vậy lão hủ tặng con một câu: ‘Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì tuyệt’...”
Nghĩ tới đây, tất cả những sự việc xảy ra sau khi xuống núi bỗng chốc nối tiếp nhau lướt nhanh qua trí não hắn. Bàng Quyên bất giác thầm kêu khổ trong lòng, lấy làm hối hận. Phải rồi, bây giờ nghĩ lại, đúng là muôn điều hối hận. Hối hận đã không tin vào chuyện bói hoa, ma xui quỷ khiến thế nào lại đi chọn mã đâu linh, mà thứ hoa hèn hạ này lại chỉ nở có mười hai bông. Hối hận đã xem thường lời dặn dò mà tiên sinh ban tặng trước khi ly biệt, “gặp dê thì vinh” đã ứng nghiệm rồi, vậy thì hắn phải đề phòng “gặp ngựa thì tuyệt” mới phải, tại sao hắn lại quên bẵng mất vào đúng thời khắc then chốt này? Tên hoa có chữ “mã” là ngựa, Tôn Tẫn lần trước dùng ngựa đánh bại hắn ở Quế Lăng. Lần này truy kích, trên đường gặp toàn xương ngựa, vừa rồi lại giẫm phải phân ngựa, ông trời đã liên tiếp cảnh báo, thế mà hắn lại... Than ôi, ngẫm nghĩ kỹ lại, tiên sinh đoán hắn sẽ hưng thịnh mười hai năm, nay đã hết kỳ hạn rồi, tiên sinh dùng từ “tuyệt”, xem ra là trời đã tuyệt đường hắn mất rồi...
“Thanh Ngưu!” Bàng Quyên giờ mới sực nhớ tới vài nghìn tướng sĩ, giật mình kinh hãi, vội vã truyền lệnh. “Ta đã trúng kế, mau, chạy khỏi khe núi!”
Thế nhưng, đã muộn mất rồi. Bàng Quyên còn chưa dứt lời, tiếng trống đã dồn dập tứ bề, tù và rúc vang, chỉ trong chốc lát, từ dãy núi hai bên, tên bắn rào rào như châu chấu. Quân Ngụy bị kẹt giữa đường hẹp, không kịp đề phòng, chắn đỡ không xuể, trúng tên ngã xuống như ngả rạ.
Ác mộng Quế Lăng tái hiện!
Thanh Ngưu không kịp nói năng, quát lên như sấm: “Mau, bảo vệ tướng quân!”
Nói rồi, đẩy mạnh Bàng Quyên tới bên một gốc cây to, lấy thân cây làm lá chắn, dùng thân mình và khiên che kín kẽ cho Bàng Quyên.
Đám lính Ngụy còn sống sót nghe tiếng cũng chạy lại, vây kín thành một vòng tròn lớn xung quanh Bàng Quyên, giơ khiên che chắn.
Trong khe núi, ánh lửa sáng rực tứ bề, muôn tên cùng bắn, tiếng kêu rú thảm thiết của lính Ngụy trúng tên, tiếng hô “bắt sống Bàng Quyên” dồn dập chấn động cả bầu trời đêm trên khe núi.
Khoảng cách chỉ chưa đầy ba mươi bước, hơn vạn xạ thủ của quân Tề hầu hết đều sử dụng nỏ mạnh cung cứng, giáp trụ của võ binh có dày đến đâu, khiên có chắc đến mấy cũng là vô ích. Mười dặm khe núi, chốc đã trở thành pháp trường đẫm máu. Chưa đầy nửa canh giờ, thương thay cho vài nghìn lính hổ bôn và hơn nghìn chiến mã, còn chưa kịp nhìn thấy mặt mũi quân Tề, đa phần đều đã bỏ mạng dưới tên sắc.
Xung quanh Bàng Quyên, lính Ngụy cầm khiên đã tử thương quá nửa, chỉ còn hơn chục người, vẫn đang liều mạng che chắn.
Quân Tề trùng trùng xuất hiện, bủa vây kín mít. Tên bắn như mưa, lửa đuốc sáng rực như ban ngày. Binh tướng Ngụy bên cạnh Bàng Quyên theo nhau ngã gục, cuối cùng chỉ còn lại Bàng Quyên và Thanh Ngưu, cũng đều đã trúng tên. Đặc biệt là Thanh Ngưu, khắp người tên găm chi chít như một con nhím khổng lồ, máu me bê bết, đến mắt cũng không mở nổi.
Một tràng cười vang lên, là tiếng của Điền Kỵ.
Trong vòng bảo vệ của chư tướng, Điền Kỵ tay cầm trường thương, từ trong lớp lớp xương ngựa tiến lại gần, giơ tay hô lớn: “Dừng bắn!”
Trận mưa tên lập tức dừng lại.
Điền Kỵ thủng thẳng bước từng bước về phía Bàng Quyên, còn cách hắn mười bước thì dừng lại, dài giọng mà hỏi: “Đây chẳng phải là Bàng tướng quân ư?”
Bàng Quyên lúc này đã trúng vài mũi tên, chống thương xuống đất, gắng gượng đứng dậy, quệt máu trên mặt, nhìn thẳng vào Điền Kỵ: “Tôn huynh đâu?”
“Tôn huynh?” Điền Kỵ cười nhạt một tiếng, chĩa thương vào hắn. “Ngươi hại quân sư ra nông nỗi này, còn mặt mũi mà gọi là Tôn huynh ư? Mau buông trường thương, giơ tay chịu trói!”
“Tôn huynh đâu?” Bàng Quyên cao giọng quát hỏi.
“Được!” Điền Kỵ lại cười nhạt một tiếng, nói. “Ngươi đã truy hỏi như vậy, Điền mỗ cũng sẽ giúp ngươi thoả lòng hiếu kỳ.” Rồi trỏ thương vào tầng tầng xương ngựa phía trước, “ở đây có năm trăm bộ xương ngựa, là Điền mỗ đã nghe theo lời dặn của Tôn huynh ngươi, cực nhọc chở theo tới tận đây. Tôn huynh của ngươi, và cả Tô huynh của ngươi nữa, đang bày tiệc rượu ở sau dãy xương ngựa này, kính chờ ngươi tới, để giúp ngươi tẩy trần!” Rồi tránh sang bên đường. “Bàng tướng quân, dù ngươi đã từng làm nhục bản tướng, song bản tướng độ lượng, lại nể tình quân sư và Tô tướng quốc năm lần bảy lượt cầu xin tha mạng cho ngươi, mới không so đo với hạng tiểu nhân như ngươi, mà nhường đường cho ngươi. Bàng tướng quân, mời!” Nói đoạn, quay sang quân sĩ. “Chư vị tướng sĩ, hãy nhường đường, đưa Bàng tướng quân tới nơi dự tiệc!”
Tướng sĩ lập tức theo nhau tránh sang bên đường.
“Ha ha ha!” Bàng Quyên cười dài một tràng, chẳng buồn ngó ngàng tới Điền Kỵ, nhìn thẳng vào con đường dằng dặc xương ngựa trắng rợn, không thấy điểm tận cùng. “Tôn huynh, Tô huynh, hai người hãy nghe đây, sư đệ Bàng Quyên xin đi trước một bước. Trước lúc lên đường, tại hạ có lời muốn nói với Tôn huynh. Huynh bị tẫn hình, là do tại hạ vu cáo hãm hại, chúng ta kết nghĩa, tại hạ lừa gạt huynh chỉ duy nhất lần này! Còn huynh giả điên một lần, giả chết một lần, là hai lần lừa tại hạ, cũng coi như đã hoà. Trận chiến hôm nay, và cả trận chiến Quế Lăng, Tôn huynh đã thắng, tại hạ thua rồi, tuy nhiên, tại hạ không phục, bởi Tôn huynh thắng ở chỗ tối, mà tại hạ thua ở chỗ sáng. Thất bại hôm nay, không phải do chiến lực, mà là ý trời diệt ta...” Nói đoạn ngửa cổ, gào lên thật lớn. “Ý... trời... diệt... ta...”
Khe núi giữa đêm khuya dội lại tiếng gào của Bàng Quyên, văng vẳng hồi lâu không dứt.
Tiếng vọng đã im bặt, khe núi lặng ngắt như tờ.
“Thanh Ngưu huynh đệ!” Bàng Quyên ném trường thương đi, nhìn thẳng vào Thanh Ngưu, vòng tay nói. “Là tại hạ đã làm liên luỵ tới huynh đệ và các tướng sĩ!” Nói đoạn, rút ngay bảo kiếm, cứa ngang cần cổ.
“Bàng tướng quân...” Thanh Ngưu rú lên một tiếng bi thiết, vứt thương xuống đất, quỳ sụp xuống, phủ phục lên người Bàng Quyên, hồi lâu không dậy.
Thình lình, Thanh Ngưu lảo đảo đứng dậy, hai tay bế xốc Bàng Quyên lên, loạng choạng bước từng bước về phía dãy xương ngựa dài dằng dặc. Hiển nhiên, hắn muốn đưa Bàng Quyên tới phía cuối con đường xương ngựa, đến chỗ hai vị huynh đệ, cũng đồng thời là đối thủ bình sinh.
Nhìn vào đệ nhất dũng sĩ nước Ngụy trên mình chi chít hơn chục mũi tên, áo giáp đẫm máu, quân Tề bên cạnh ai nấy phát run, cũng lấy làm kính phục, bèn kéo nhau đi theo sau hắn. Ngay cả Điền Kỵ mắt cũng ướt nhoà.
Một bước lại một bước, một bộ xương lại một bộ xương, Thanh Ngưu càng đi càng chậm. Cuối cùng, sau khi đã bước qua một trăm bộ xương ngựa, không biết vướng phải thứ gì mà ngã huỵch xuống đất.
Thanh Ngưu ôm chặt Bàng Quyên, muốn gượng đứng dậy, song hết lần này đến lần khác, đã dốc hết sức tàn mà vẫn không thể đứng lên.
“Bàng tướng quân!” Thanh Ngưu quỳ xuống đất, bật khóc thảm thiết. “Thanh Ngưu... hết sức rồi...”
Nói rồi, ngoái nhìn đám xạ thủ nước Tề phía sau lưng, gầm lên: “Bắn đi, lũ hèn!”
Đám xạ thủ không nỡ nhìn, đua nhau ngoảnh mặt đi chỗ khác.
Điền Kỵ lau nước mắt, cắm phập thương xuống đất, cầm lấy cung tên từ trong tay một binh sĩ, lắp tên, đi vòng tới trước mặt Thanh Ngưu, vái hắn một vái thật sâu, nói: “Thanh Ngưu tướng quân, bản tướng tác thành cho ngươi!” Rồi kéo căng dây cung, một tên xuyên thẳng giữa sống mũi.
Thanh Ngưu lảo đảo, rồi từ từ đổ gục xuống người Bàng Quyên.
Tận cùng đoạn đường xương ngựa là một bãi trống không quá rộng, vài ngọn đuốc chiếu sáng một tảng đá lớn bằng phẳng ở chính giữa bãi trống. Trên tảng đá, không bày thức ăn, không có đũa gắp, chỉ có ba bát rượu.
Tô Tần, Tôn Tẫn ngồi đối mặt nhau, im lìm như tượng. Hai cặp mắt đẫm lệ lấp loáng dưới ánh đuốc.
Bốn bề tĩnh lặng như tờ, tiếng dọn dẹp chiến trường trong khe núi nghe như vẳng đến từ một cõi khác.
Không biết đã qua bao lâu, Tô Tần gạt nước mắt, bưng bát rượu trước mặt lên, khẽ khàng tưới xuống đất, rồi ném cái bát không xuống mặt đá.
Tôn Tẫn cũng làm theo, tưới rượu, ném bát.
Chỉ còn một chiếc bát, vẫn đầy rượu, đơn độc phản chiếu ánh lửa đuốc sóng sánh trong bóng đêm lặng lẽ.
Còn gọi là Đại thượng tạo, tên quan, là chức quan cao nhất của nhà Tần thời Chiến Quốc, nắm giữ đại quyền quân chính, cũng dùng làm tên tước.
Nay là phía đông bắc huyện Mạnh Tân, Lạc Dương, Hà Nam.
Đô thành nước Sở, nay là phía bắc Kinh Châu, Hồ Bắc.
Chức quan thời xưa chuyên trực bên đồng hồ nước để báo thời gian.
Nhà chính trị, nhà quân sự nổi tiếng thời kỳ đầu Chiến Quốc, phò tá Ngụy Văn Hầu biến pháp, trước tác có Ngô Tử binh pháp.
Đại tướng thời Ngụy Văn Hầu, tổ tiên của Nhạc Nghị.
Chức chỉ huy đứng đầu một nghìn quân lính.
Cân thời xưa, tương đương khoảng 0,5kg hiện nay.
Tức Đạo đức kinh, trước tác của Lão Đam (Lão Tử).
Đơn vị trọng lượng thời cổ, một dật bằng hai mươi lượng.
Chức quan đặt ra từ thời Chiến Quốc, đứng đầu một quận ở biên cương, nắm quyền hành chính, quân sự tối cao của khu vực đó.
Dùng phép chiết tự, trong chữ Hán, ba chữ Mộc-Vũ-Khuy ghép lại chính là chữ Sư.
Một đoạn trong bài thơ “Kiêm hà” phần “Tần phong” sách Kinh Thi. Kinh Thi xưa gọi là Thi, là bộ tổng tập thơ ca nổi tiếng tập hợp những sáng tác khuyết danh trong khoảng từ đầu Chu đến giữa Xuân Thu, trong đó phần nhiều là dân ca của các vùng đất khác nhau, như “Tần phong” là thơ ca của đất Tần. Thời Chiến Quốc, Thi được coi là “sách giáo khoa” bắt buộc phải học, về sau được liệt vào Ngũ kinh của Nho gia, gọi là Kinh Thi.
Thời xưa, nam giới hai mươi tuổi làm lễ đội mũ, biểu thị đã thành niên.
Ngày 16 âm lịch, tức sau ngày rằm một hôm.
Nhân định, tức giờ Hợi (21 - 23 giờ). Do lúc này đã rất khuya, mọi người đều chìm vào giấc ngủ, nên gọi là “nhân định”.
Tuần ngày xưa gồm mười ngày, cũng chỉ quãng thời gian khá ngắn.
Tiền bố: Một loại tiền được sử dụng rộng rãi thời Xuân Thu Chiến Quốc, có hình lưỡi cuốc.
Tức sao Kim.
Vu chúc, tức thầy cúng, thầy mo. Đại vu chúc là chức quan đứng đầu các thầy cúng, chủ trì các nghi lễ cúng tế, giao tiếp với thần linh trong Thái miếu thời cổ.
Tức người chỉ huy nhóm một trăm binh sĩ.
Cự tử là danh xưng dùng để gọi nhân vật thủ lĩnh của Mặc gia.
Xưa Tấn Hiến Công muốn tiêu diệt nước Quắc, bèn tặng nước Ngu lễ vật hậu hĩnh để mượn đường qua nước Ngu đánh Quắc. Sau khi diệt Quắc, quân Tấn trên đường quay về lại đánh úp nước Ngu. Sau dùng câu “mượn đường diệt Quắc” để chỉ việc dùng lợi ích dụ dỗ, rồi chớp thời cơ tiêu diệt.
Một đoạn trong bài “Hà thảo bất hoàng” phần “Tiểu nhã” trong Kinh Thi.
Giờ Kê minh, tức giờ Sửu, là khoảng từ 1 giờ đến 3 giờ sáng, do vào giờ này gà bắt đầu gáy, nên gọi là “kê minh”, tức gà gáy.
Chỉ đội quân đầu vấn khăn xanh. Thời Chiến Quốc, dùng để chỉ dân đinh dưới cờ của chủ nhân, đa phần là trai tráng ở thôn quê.
Liệt Ngự Khấu: Liệt Tử, nhà tư tưởng đầu thời Chiến Quốc. Cùng Lão Tử, Trang Tử, là những nhân vật đại diện cho tư tưởng Đạo gia.
Thuần Vu Khôn là nhà chính trị và nhà tư tưởng nổi tiếng thời Chiến Quốc. Học vấn uyên bác, nổi tiếng giỏi biện luận, là một trong những học giả lớn nhất trong học cung Tắc Hạ.
Thời xưa thường dùng mạnh, trọng, thúc để chỉ thứ tự lớn bé, trước sau. Trọng thúc là chú thứ hai, quý thúc là chú út.
Tử đồng: Cách nhà vua gọi hoàng hậu, hoặc hậu phi tự xưng, có ý khiêm xưng.
Trích từ bài “Bắc Sơn” phần “Tiểu Nhã” trong Kinh Thi.
Đạo trời thưởng cho người cần cù.
Tật lê: Cụm gai sắt có nhiều ngạnh sắc nhọn, dùng để rải lên tường làm chướng ngại vật.
Tức bốn thủ thuật chẩn bệnh thời xưa, lần lượt là: quan sát, lắng nghe, hỏi bệnh, bắt mạch.
Tức can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh, do có tám chữ, nên gọi là bát tự.
Ba đoạn này là bài thơ Thử ly thuộc Vương phong, Kinh Thi, nói về cảnh hoang tàn của cố đô sau khi nhà Chu dời đô về tây và nỗi buồn của người dân nhớ nước cũ.
Miếng ngọc hình khuyên tròn, xẻ ở giữa, dùng làm đồ trang sức.
Chức quan canh giữ cổng thành.
Trùng Nhĩ là tên của Tấn Văn Công (697 - 628TCN), quân chủ đời thứ 24 của nước Tấn. Đến năm 403TCN, nước Tấn cắt đất chia cho ba nhà Hàn, Triệu, Ngụy, sau đó phần đất của Tấn lại bị hai nhà Hàn, Triệu xâm chiếm. Sự kiện “ba nhà phân Tấn” đã đánh dấu cho sự khởi đầu của thời Chiến Quốc.
Tức Hữu Sào thị, một vị thủ lĩnh trong truyền thuyết Trung Hoa, tương truyền dạy người dân làm nhà trên cây để tránh thú dữ.
Đoạn đầu trong bài Quan thư., bài thơ mở đầu Kinh Thi.
Tịch cốc, tức không ăn ngũ cốc, hay nhịn ăn, là một phép tu đạo dưỡng sinh thời xưa, được ghi chép sớm nhất trong Trang Tử.
Cơ tâm, thuật ngữ của Đạo gia, chỉ cái tâm khôn khéo phức tạp như máy móc, đối lập với đạo tâm là cái tâm thuần phác, thuận ứng tự nhiên.
Một thuật thần thông, có thể nhìn thấu tâm ý của người khác.
Quan niệm thiên văn xưa cho rằng, mỗi khu vực trên bầu trời tương ứng với một vùng trên mặt đất. Vị trí của các vùng đất được quy chiếu lên bầu trời theo cách này gọi là “phân dã”.
Bài thơ Hoàng điểu thuộc Tần phong trong Kinh Thi, nói về lúc Tần Mục Công qua đời, bắt nhiều người sống phải tuẫn táng, trong đó có ba anh em họ Tử Xa là Yêm Tức, Trọng Hàng, Kiếm Hổ. Bài thơ bày tỏ nỗi đau xót, thương tiếc của người dân trước cảnh ba tráng sĩ bị tuẫn táng.
Dịch đạo, hay quan đạo, tức đường lớn do triều điều xây dựng, có đặt dịch trạm dọc đường, làm chỗ nghỉ ngơi, đổi ngựa, chủ yếu để quan viên, tướng sĩ sử dụng vào việc công, như quân sự, kinh tế, truyền tin...
Còn gọi là cây khố rách, sơn dịch, phòng kỷ, là một loài dây leo, hoa nở tỏa mùi thối rữa, thu hút các loại côn trùng ưa loại phân hủy như ruồi nhặng tìm đến.
Trong chữ Hán, chữ Ngụy gồm chữ quỷ (ma quỷ) đặt cạnh chữ ủy (héo úa).
Tức Khương Thượng (?-1015 TCN), còn gọi là Lã Thượng, Lã Vọng, Khương Tử Nha, Khương Thái Công, nhà chính trị, quân sự kiệt xuất, khai quốc công thần của nhà Chu, phò tá Chu Vũ Vương diệt Trụ, được phong đất Tề, trở thành Tề Thái Công. Âm phù bản kinh là một bộ phận trước tác của Khương Thượng, đã thất truyền.
Thổ tức thở ra, nạp là hít vào, công pháp thổ nạp tức là công phu hô hấp, phương pháp dưỡng sinh qua cách hô hấp.
Hai câu trong bài Tử khâm, phần Trịnh Phong, sách Kinh Thi, nói về niềm nhớ nhung, ở đây chỉ nỗi mong ngóng hiền tài.
Hai câu trong bài Lộc minh, phần Tiểu Nhã, sách Kinh Thi, ý nói dùng hiền tài nước khác để phò tá cho nước mình.
Hai câu trong bài thơ Quan thư thuộc phần Chu Nam trong Kinh Thi, là bài thơ mở đầu của Kinh Thi, nói về nỗi niềm tương tư.
Ba đoạn trong bài Bắc phong phần Bội phong sách Kinh Thi, nội dung mượn cảnh tuyết gió khốc liệt để ví với nền chính trị bạo tàn, khiến người dân phải dắt díu nhau bỏ đi nơi khác.
Những câu mở đầu trong bài Quan thư phần Chu nam sách Kinh Thi, nói về tình yêu đôi lứa.
Người xưa chia một năm 360 ngày thành 72 giai đoạn nhỏ, gọi là 72 hậu, mỗi hậu kéo dài 5 ngày.
Tức đô thành thứ hai sau kinh đô của một nước.
Nhẫn là đơn vị đo chiều dài thời xưa. Vào thời Chu, một nhẫn xấp xỉ tám thước.
Thuần Quân là tên một thanh kiếm nổi tiếng thời cổ đại, tương truyền do U Dã Tử đúc ra.
Tam đại, tức ba triều đại, sách xưa dùng để chỉ ba triều Hạ, Thương, Chu trong cổ sử Trung Quốc.
Nay là quần đảo Châu Sơn, ở vùng biển phía đông Chiết Giang.
Tức: Cây kéo đệ nhất vương thành.
Ba đoạn trên là bài thơ Vô y thuộc phần Tần phong trong Kinh thi, mô tả người dân Tần khẳng khái anh dũng ra sa trường, chống lại quân Tây Nhung xâm lược.
Bàn cờ vây thông thường được tạo thành bởi 19 đường ngang và 19 đường dọc, quân cờ được đặt vào giao điểm của các đường thẳng. Giao điểm nằm chính giữa bàn cờ được gọi là thiên nguyên. Xung quanh thiên nguyên có 8 điểm khác phân bố đều trên 4 đường thẳng thứ 4 tính từ mép bàn cờ, đối xứng nhau, 8 điểm này được chấm màu đen để dễ định vị, gọi là “tinh”, “tinh vị” hay “sao”. Khi muốn nhường nhau, người ta thường đặt quân cờ vào các điểm sao. Luật cờ vây là quân đen đi trước, quân trắng đi sau, khi kết thúc ván cờ, tính thắng thua bằng cách đếm số mục. Do đi sau, quân trắng được cộng thêm năm mục rưỡi.
Các giao điểm trống nằm ngay sát quân cờ được gọi là khí của quân cờ đó, nếu quân cờ không còn khí, sẽ bị bắt và đưa ra khỏi bàn cờ.
Trong Hán tự, ba chữ “Mộc” (), “Vũ” (), “Khuy” () ghép lại sẽ thành chữ “Sư” ().
‘Tẫn’ có nghĩa là xương bánh chè. Tẫn hình có nghĩa là khoét bỏ xương bánh chè, khiến người chịu hình phạt không đi lại được.
Tiền hoàn là một loại tiền đúc bằng đồng, có hình tròn, ở giữa có lỗ, lưu hành tại nước Tần thời Chiến Quốc.
Ngày hối, tức ngày không trăng, là ngày cuối tháng âm lịch.
Bộ nạch (, tức bệnh tật) ghép với chữ “phong” (, tức gió), thành chữ “phong” (), nghĩa là điên cuồng.
Hoạn giả lệnh là một chức quan thời Chiến Quốc, tức viên hoạn quan tổng quản các hoạn quan, nội thị trong cung.
Một loại tiền cổ, đúc bằng đồng, có hình thanh đao, diễn biến từ loại đao công cụ sản xuất mà thành.
Ba đoạn này là bài Đào yêu phần Chu phong trong Kinh Thi, nói về cảnh người con gái xuất giá vào mùa hoa đào nở.
Tức Lễ ký, cuốn sách ra đời vào thời Chiến Quốc, ghi chép lại các lễ nghi, phong tục thời cổ, sau được liệt vào Ngũ kinh của Nho gia, được gọi là Kinh Lễ.
Trích trong bài Tử khâm phần Trịnh phong sách Kinh Thi, nói về lòng nhớ nhung mong ngóng người hiền tài.
Vũ cống là một thiên trong sách Thượng Thư, cũng chính là Kinh Thư, một trong ngũ kinh của Nho gia sau này.
Trích từ chương Nhiệm thành trong Đạo đức kinh.
Đan Chu là con trai trưởng của Đế Nghiêu, vì có ba năm xưng đế nên gọi là Đế Đan Chu.
Thời cổ, khi hội minh, thường có nghi thức uống máu ăn thề. Minh chủ của hội minh sẽ thực hiện nghi thức cầm tai bò để cắt lấy máu, nên về sau, người cầm tai bò mang ý nghĩa minh chủ, thủ lĩnh.
Đây là đoạn thứ hai trong bài Mộc qua phần Vệ phong sách Kinh Thi, nói về sự báo đáp ân tình, có qua có lại.
Đạo nhân là tên một chức quan thời Chu, quản lý việc trồng cấy, ruộng đồng.
Trích trong thiên Tục bạc sách Đạo đức kinh.
Hai câu trong bài Quan Thư, phần Chu Nam sách Kinh Thi.
Hai câu trong bài Đường Đệ, phần Tiểu Nhã sách Kinh Thi.
‘Phi công’ là một quan niệm quan trọng trong tư tưởng Mặc gia, cũng là tên một chương trong sách Mặc Tử, nội dung phản đối chiến tranh.
Trong dân gian Trung Quốc, từ sau ngày Đông chí thì bắt đầu ‘nhập cửu’ hay ‘đếm cửu’, cứ 9 ngày là 1 cửu, hết 9 cửu là sang xuân. Bởi vậy ‘nhập cửu’ là thời gian giá lạnh nhất trong năm.
Củ ấu tàu, hay gấu tàu, ô đầu, là loài thực vật thuộc họ mao lương dùng để làm thuốc, dược tính cực độc, chỉ một lượng nhỏ đã có thể giết chết những động vật lớn.
Tịch cốc là một phương pháp tu luyện của Đạo gia, tức không ăn ngũ cốc, không ăn thức ăn nấu qua lửa, chỉ uống nước và ăn một số thức ăn thiên nhiên, hoặc hoàn toàn không ăn, chỉ nạp khí, hấp thu nguồn năng lượng tự nhiên.
Trong Hán tự, chữ “gian” () là do ba chữ “nữ” () hợp thành.
Trong Hán tự, chữ “Chương” () gồm hai chữ “âm” () và “thập” () ghép thành.
Là đơn vị đo lường thời xưa, mười thăng bằng một đấu.
Trong Hán tự, chữ “tính” () do bộ “tâm” () và chữ “sinh” () ghép lại mà thành.
Trong Hán tự, chữ “ba” () là sóng do bộ “thuỷ” () là nước và chữ “bì” () là da ghép lại mà thành.
Trong bài Thất nguyệt thuộc Kinh Thi có câu “Thất nguyệt lưu hoả” (tháng bảy nóng đổ lửa), về sau thường nói tháng lưu hoả tức tháng bảy.
Là những câu thơ trong bài “Thái vi” phần “Tiểu nhã” trong “Thi”, nói về chinh nhân phụng vương mệnh xuất chinh vào một ngày xuân, tới tận mùa đông vẫn chưa thể trở về, chỉ có thể dõi trông xa thẳm quê nhà mà nhớ nhung khắc khoải.
Hai câu trong bài Thạc thử, thuộc Ngụy phong trong Kinh thi.
Trích trong bài Kiêm hà phần Tần phong sách Kinh Thi, trong nguyên văn có từ “y nhân”, có nghĩa là “người ấy”, trong tiến Hán có phát âm giống như “dị nhân”.