Chương 7: Chương Hồi Thứ 50
Bàng Quyên hợp sáu quân về Hàm Cốc
Sào Tử trao trọng trách tại Nghiêu Sơn
Đúng vào lúc Tô Tần áo gấm về làng, vở kịch lớn phạt Tần của các nước hợp tung đã khai màn trong chiêng trống rùm beng.
Vai chính của “vở kịch” chính này là Bàng Quyên. Sau khi tính toán kỹ lưỡng, Bàng Quyên quyết định sẽ đánh thẳng vào đại bản doanh của Tần, tức là đại doanh trung quân ở Thằng Trì. Thằng Trì ở Hào Quan, sẽ là trận địa tiền tiêu phạt Tần.
Sau trận Hình Sơn, nước Ngụy không có thêm một cuộc chiến quy mô lớn nào nữa, có được vài năm nghỉ ngơi dưỡng sức, nhờ thế mà Bàng Quyên cũng dư dả thời gian để trù bị kế sách phạt Tần. Tuy nhiên, đúng như Tô Tần nói, Tần có bốn cửa ải kiên cố, dưới sự trị vì của Huệ Văn Công, thế như mặt trời giữa trưa, Bàng Quyên không thể nắm chắc toàn thắng. Nào ngờ đúng lúc này, Tô Tần hợp tung thành công, mang lại cho Bàng Quyên nhiều trợ lực bất ngờ, khiến hắn thứ nhất không phải lo lắng sau lưng, thứ hai có được sức mạnh của sáu nước, tự cho rằng đã nắm chắc phần thắng trước Tần.
Dù là vậy, Bàng Quyên cũng không phải kẻ lỗ mãng. Hắn hiểu rõ hơn ai hết, trên chiến trường không có tướng quân trăm trận trăm thắng, một chút sơ sảy cũng đủ lãnh hậu quả trí mạng. Hắn không sợ chết, hắn chỉ sợ thất bại. Từ sau khi rời khỏi Quỷ Cốc, hắn đã giao chiến với nhiều nước lớn xung quanh như Tề, Triệu, Sở, đánh đâu thắng đấy, song đối với Hàn và Tần, lại vẫn còn lạ lẫm.
Hàn tuy cùng Triệu và Ngụy đều thuộc Tam Tấn, song không mạnh bằng Triệu, càng kém xa Tề và Sở, do vậy Bàng Quyên không hề sợ. Song người Tần thì khác.
Bàng Quyên đóng cửa không tiếp khách, lôi ra toàn bộ sách của người Tần mà mình đã thu thập được trong mấy năm gần đây, gần như bày kín cả đại doanh trung quân. Bàng Quyên lật xem từng cuốn, thi thoảng lại chìm đắm trong suy tư, bày đi bày lại ván cờ phạt Tần hùng tráng mà mình đã nghiền ngẫm dễ tới nghìn vạn lần, cân nhắc tỉ mỉ đến từng nước đi.
Cứ như vậy suốt ba ngày trời, cuối cùng Bàng Quyên cũng cuộn sách lại, ăn một bữa ngon miệng, ngủ một giấc say sưa, tắm táp sảng khoái, rồi mở cửa đại doanh, đặt xuống quân cờ đầu tiên: phát liền năm bức thư, mời đến chủ tướng quân hợp tung của năm nước là Chiêu Dương, Điền Anh, Phì Nghĩa, Công Trọng, Tử Chi, lại cho gọi thêm trợ thủ của mình là phó tướng tam quân Đại Ngụy Trương Mãnh, cùng tới đại doanh trung quân uống rượu.
Trong năm viên chủ tướng trên, duy có chủ tướng Triệu Phì Nghĩa là không tới. Đi thay Phì Nghĩa là phó tướng Lý Nghĩa Phu. Lý Nghĩa Phu vai rộng lưng dày, mày rậm bao mắt, râu quai nón kín mặt, ngoại hình tuy thô lỗ, song suy nghĩ lại hết sức tinh tế kín kẽ, khéo mưu thiện chiến, nhiều năm đảm đương chức quận thú quận Thượng Đảng, từng ba lần giao chiến với Hàn, hai lần giao chiến với Ngụy, ba thắng, một hoà, một thua, cũng được coi là một viên mãnh tướng của Triệu. Thực lòng mà nói, Bàng Quyên thấy ưa hắn hơn là Phì Nghĩa.
Tuy nhiên, người cần đến lại không đến, nhớ tới chuyện Triệu Túc Hầu bỏ về không một lời từ biệt, Bàng Quyên trong lòng vẫn thấy bực bội. Hành lễ xong xuôi, Bàng Quyên đưa ánh mắt sắc bén như lưỡi kiếm nhìn thẳng vào Lý Nghĩa Phu, cười mà như không cười, hỏi: “Dám hỏi Lý tướng quân, Phì Nghĩa tướng quân không phải là đổ bệnh đấy chứ?”
Lý Nghĩa Phu hơi ngẩn người: “Ồ, mạt tướng còn chưa bẩm báo, sao tướng quân đã biết?”
Nhìn vẻ ngỡ ngàng của Lý Nghĩa Phu, Bàng Quyên trong lòng cũng thấy hả hê đôi chút, ánh mắt dịu lại ít nhiều: “Nếu không ngoài dự đoán của tại hạ, bệnh của Phì tướng quân hẳn không phải bệnh bình thường.”
“Thần kỳ!” Lý Nghĩa Phu càng thêm kinh ngạc.
Chủ tướng nước Tề Điền Anh cười nói: “Lý tướng quân, nói thực cho tướng quân biết, Bàng tướng quân đây là thần nhân của Quỷ Cốc, có thể dự đoán trước sau tám trăm năm đấy!”
Mọi người cùng phá lên cười.
Chiêu Dương cười phì phì vài tiếng qua lỗ mũi, vừa như giải thích, vừa như cạnh khoé: “Phải đấy, phải đấy, Phì tướng quân cơ thể như sắt như đồng, bệnh bình thường sao có thể xâm phạm tới tướng quân? Lý tướng quân, nói thử xem, Phì tướng quân mắc bệnh gì?”
“Chiêu tướng quân nói phải lắm! Phì tướng quân ngã từ trên mình ngựa xuống, bị thương đến xương cốt.”
“Ồ?” Đám người đều đều ngạc nhiên. “Đúng là nuôi ong lại để ong đốt! Lý tướng quân mau nói xem, Phì tướng quân ngã ngựa thế nào?”
“Người Hồ đất bắc mang tặng một con ngựa quý, lông đỏ như máu, nghe nói có thể ngày đi nghìn dặm. Phì tướng quân rất thích, lập tức cưỡi thử, nào ngờ con ngựa tính khí cực hung dữ, đi chưa được vài bước, đã hất văng Phì tướng quân xuống đất, còn đạp mạnh một cú, khiến tướng quân gãy cả cẳng chân. Hiện tướng quân đang phải nẹp chân dưỡng thương.”
Các tướng ai chẳng yêu ngựa, bèn nhao nhao hỏi thăm. Lý Nghĩa Phu đành phải kể tường tận một lượt từ đầu tới cuối, mô tả về con ngựa quý kia sống động như thể đang hiện hữu bằng xương bằng thịt trước mắt, khiến chư tướng nghe mà xuýt xoa không ngớt, đua nhau bàn tán rôm rả về ngựa Hồ.
Thấy các tướng càng nói càng xa, Bàng Quyên liền đặng hắng một tiếng, chỉ vào bàn rượu bên cạnh, cười nói: “Chư vị tướng quân còn không nhập tiệc, món ngon nguội ngắt cả rồi!
Chỗ ngồi đã được sắp xếp từ trước, mọi người lần lượt ngồi vào chỗ của mình.
Bàng Quyên không hề khách sáo, ngồi vào vị trí chủ, nâng chén mà nói: “Chư vị tướng quân đã không quản đường sá xa xôi tới doanh trại Ngụy, tại hạ vô cùng cảm kích, tạm chuẩn bị bữa rượu nhạt, kính mời chư vị. Chư vị cứ tự nhiên, tại hạ xin kính trước một chén.”
Bàng Quyên một hơi uống cạn, chư tướng cũng đều cạn chén.
Rượu được vài tuần, Bàng Quyên đi thẳng vào chuyện chính: “Chư vị tướng quân, người Tần ngang ngược, gây hoạ cho liệt quốc đã nhiều năm. Nay liệt quốc hợp tung, chư vị quân chủ cùng quần tụ ở Mạnh Tân, vui vẻ bỏ qua ân oán ngày trước, kết minh phạt Tần, cùng suy tôn tung ước trưởng để điều động liệt quốc. Còn phạt Tần thế nào, tung ước trưởng hạ lệnh cho chúng ta bày mưu tính kế. Được chư vị quân chủ yêu mến, tại hạ tạm thời ngồi vào vị trí chủ tướng, tiếc rằng tài trí thiển cận, kiến thức nông cạn, nên kính mời chư vị tướng quân tới đây cùng nghị sự, mong chư vị chớ tiếc lời chỉ giáo, cùng hiến diệu kế, để cùng thành tựu công này.”
Chư tướng đưa mắt nhìn nhau, Điền Anh cười nói: “Bàng tướng quân là chủ tướng, hẳn đã có sẵn diệu kế phạt Tần, chúng tôi xin kính cẩn nghe theo!”
Chư tướng thảy đều đồng tình.
“Được, được!” Bàng Quyên vòng tay cười nói. “Nếu chư vị đã không chịu mở miệng vàng, tại hạ sẽ xin nói trước vài lời, coi như ném ngói dụ ngọc!” Rồi chậm rãi đứng dậy. “Chư vị tướng quân, xin đi theo tại hạ!”
Chư tướng đứng dậy, đi theo Bàng Quyên tới bên trái đại doanh, vây quanh một giá gỗ lớn phải đến vài trượng vuông, trên giá phủ một bức màn gấm màu xanh lục. Chư tướng còn đang đoán già đoán non thì Bàng Quyên đã ra hiệu, một tham tướng đứng hầu bên cạnh lập tức bấm nút gạt cần, sau vài tiếng lạch cạch, bức màn gấm từ từ được kéo sang hai bên, để lộ ra trước mặt mọi người một sa bàn quân sự thiết kế tinh xảo, tỉ lệ thích hợp, sống động như thật, phía đông tới Lạc Dương, phía tây tới Quan Trung, phía bắc tới Thiếu Lương, phía nam tới vùng sơn cốc Thương Ư, bao gồm cả Hà Đông, Hà Tây. Địa hình, sông núi, thành ấp, làng mạc, thành luỹ, biên ải, tất cả đều được thâu tóm trên sa bàn. Dòng Hà Thuỷ quanh co gấp khúc, vạch qua trùng trùng núi non, hình thành những vực sông sâu hút hiểm trở. Con đường cổ Hàm Cốc phía nam Hà Thủy càng giống như một con giun, len lỏi giữa các đỉnh núi chót vót.
Nhìn vào công trình tinh xảo khéo đoạt hoá công nhường này, chư tướng liệt quốc không ai không kinh hãi. Bởi lẽ bản đồ hình thể mà họ sử dụng đa phần là vẽ tay sơ sài, chưa nói tới tỉ lệ lệch lạc, mà hình thế cũng thiếu chuẩn xác. Còn sa bàn này lại rõ ràng sinh động, vừa nhìn đã hiểu. Chỉ nhìn vào điểm này, họ đã thua Bàng Quyên một nước.
Thấy chư tướng ngây người kinh ngạc, Bàng Quyên cũng thầm đắc ý trong lòng. Đây chính là kiệt tác mà hắn đã phải huy động rất nhiều thợ khéo trong quân ngũ miệt mài chế tác suốt mấy năm trời, vốn chỉ định dùng vào việc huấn luyện chư tướng ba quân, nào ngờ nay lại có cơ hội trưng ra để uy phục liệt quốc.
“Chư vị tướng quân, Tần là nước bốn bề hiểm ải, là những ải nào? Mời chư vị nhìn xem!” Bàng Quyên cầm lấy thanh gỗ sơn đen mà tham tướng đưa lại, chỉ vào sa bàn. “Ải thứ nhất là Hà Thuỷ. Đây là Hà Thuỷ, từ bắc tới nam, từ Hồ Khẩu, Sơn Nam tới Thiếu Lương, lại chảy về nam tới Lâm Tấn quan, lại chảy về nam tới Âm Tấn, từ đây ngoặt sang đông, cuồn cuộn suốt bảy trăm dặm. Phía tây Hà Thuỷ đều là đất của người Tần, phía bắc là Nghĩa Cừ, núi non trùng điệp, thế lực của ta không thể với đến, xứng là một ải. Từ phía đông Âm Tấn tới Hàm Cốc quan, có đường Hàm Cốc dài chừng hai trăm dặm, hai bên đường vách núi dựng đứng, xung quanh không còn con đường nào khác, lại thêm cửa ải Hàm Cốc do người Tần chiếm giữ, xứng là một ải. Từ Hoa Sơn về nam, núi cao trập trùng bất tuyệt, kéo dài đến sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, có thể thông tới nước Tần, nay cũng thuộc về người Tần, xứng là một ải. Từ vùng sơn cốc Thương Ư về nam, có vài trăm dặm sơn cốc Bao Hán, có thể theo núi Chung Nam vào Tần, song đến một nửa các ấp ở Bao Hán đã bị người Tần chiếm cứ, lại thêm núi Chung Nam hiểm trở dị thường, xứng là một ải. Tần dựa vào bốn cửa ải này, có thể chống lại trăm vạn hùng binh!”
Đây là kiến thức thông thường, thân là tướng lĩnh nam chinh bắc chiến, mọi người đương nhiên đều hiểu rõ. Tuy nhiên, bốn cửa ải của Tần đa phần mới chỉ gặp trong văn từ, hoặc đánh dấu trên bản đồ, hoặc hình dung trong tưởng tượng, nay được Bàng Quyên làm thành sa bàn, bày ra trước mắt sống động như thật, khiến chư tướng không khỏi động phách kinh tâm. Điền Anh ở nước Tề phía đông xa xôi, hiếm khi tiếp xúc với người Tần, lại càng là mồ hôi vã ra đẫm lòng bàn tay.
“Đây là địa lợi!” Bàng Quyên chuyển sang chuyện khác. “Từ sau khi Thương Ưởng biến pháp, nước Tần thế ngày một mạnh, nhân khẩu Quan Trung hưng thịnh, số hộ dân Hà Tây cũng tăng đáng kể. Theo tại hạ được biết, tổng số dân nước Tần có lẽ không ít hơn bốn trăm năm mươi vạn, tráng đinh có thể trưng binh không dưới trăm vạn, đây là nhân hoà.”
Chư tướng đưa mắt nhìn nhau.
Sáu nước hợp sức phạt Tần, tương quan lực lượng chênh lệch cực lớn, song Bàng Quyên lúc này lại đủ kiểu khoa trương mặt mạnh của người Tần, khiến chư tướng chẳng ai hiểu hắn có ý đồ gì.
“Chư vị tướng quân!” Bàng Quyên đột ngột cao giọng, lời lời sang sảng. “Người Tần chỉ thiếu duy nhất một điều, chính là thiên thời. Là trời muốn diệt Tần! Trời muốn diệt Tần, Tần không thể không vong! Nay sáu nước hợp tung, lục quân nghìn nghịt như mây, quân hùng đông đảo như kiến, lại có chư vị tướng quân kinh qua trăm trận, người Tần dù có chiếm được sông trời hiểm trở, sở hữu bốn cửa ải khoá kín, cũng sẽ bị giã nát như bột, nghiền nát như tương dưới vó sắt của chúng ta.”
“Bàng chủ tướng!” Chiêu Dương nhếch mép cười khẩy một tiếng. “Đúng là cũng khoái trá đấy, nói thử xem tướng quân sẽ nghiền nát người Tần như tương bằng cách nào?”
“Chiêu tướng quân chớ vội, muốn chế địch trước hết cần hiểu địch. Tuy Tần có địa lợi, lại kiêm nhân hoà, song cũng có mặt yếu, có thể tổng kết thành năm điều bất lợi.” Thấy mọi ánh mắt đều đổ dồn vào mình, Bàng Quyên lại hơi lớn giọng. “Bất lợi thứ nhất, Tần trước có trận chiến Hà Tây, sau có trận chiến Thương Ư, tuy đều chiến thắng, song quốc lực tổn thương, khiến cho sau đó, phạt Tấn Dương nước Triệu bất lợi, phạt Nghi Dương nước Hàn không thành, không còn dám động binh đao. Bất lợi thứ hai, Tần thất đổi chủ, cung đình nội chiến, Thương Ưởng bị giết, Tần pháp tổn thương, đặc biệt là vùng Hà Tây, Thương Ư vẫn chưa được lòng người, dân chúng đua nhau quay về Hà Đông. Bất lợi thứ ba, Quan Trung hạn hán liền ba năm, sản lượng ngũ cốc giảm một nửa, một vài thành ấp còn xảy ra nạn đói, khiến cung Tần phải mở kho cứu tế. Bất lợi thứ tư, các tộc Tây Nhung bất ổn, Nghĩa Cừ lúc lại quấy nhiễu, tuy Tần có vỗ yên, song khó mà khuất phục được hoàn toàn. Bất lợi thứ năm, Tần mất Thương Ưởng, nước không có đại tài, tuy có Công Tôn Diễn, song cũng không đáng sợ. Còn như Tư Mã Thác, chẳng qua chỉ là kẻ thất phu, hữu dũng vô mưu.”
“Bàng tướng quân nói rất phải!” Điền Anh vòng tay tán đồng.
“Lại nhìn vào chiến lực của nước Tần!” Bàng Quyên tiếp tục chỉ vào sa bàn. “Tuy Tần có vài chục vạn tráng đinh có thể trưng binh, song đa phần là dân binh, không đủ sức xông pha trận mạc, lính thiện chiến không quá ba mươi vạn. Ngoài lính canh giữ các thành ấp và lính trấn thủ vùng biên ải Nghĩa Cừ, Tây Nhung, số quân Tần có thể dùng để đối kháng đội quân vó sắt của ta không tới hai mươi vạn. Ta có hơn bốn mươi vạn quân hợp tung, vài nghìn cỗ chiến xa, toàn bộ là lính thiết giáp từng trải trăm trận chiến. Do vậy, tại hạ cho rằng, lần phạt Tần này, chỉ cần mưu lược thoả đáng, kỳ binh bất ngờ, tại hạ có thể nắm chắc phần thắng.”
“Bàng tướng quân, đừng dài dòng nữa, hãy mau nói ra kế sách lớn của tướng quân!” Chiêu Dương sốt ruột giục giã.
“Tại hạ cho rằng, ta có thể chia quân làm ba lộ. Tả lộ là Sở, xuất quân từ Tương, Uyển, đánh thẳng tới Thương Ư, phá Vũ Quan vào Tần. Hữu lộ là Triệu, Yên, đi qua vùng sơn cốc Phần Thuỷ, từ đất của Nghĩa Cừ tiến về phía tây, vượt qua Hà Thủy, tiến từ bắc xuống nam công phá Hà Tây, tại hạ đã thuyết phục Nghĩa Cừ cho mượn đường. Trung lộ là liên quân ba nước Hàn, Tề, Ngụy, chia quân làm hai đường, một đường đánh thẳng vào ải Hàm Cốc, một đường đánh thẳng tới ải Bồ Bản. Ba lộ đại quân đồng loạt xuất kích, Tần ắt sẽ kéo vạt lộ khuỷu, đầu đuôi không thể tiếp ứng cho nhau.”
Công bằng mà nói, mưu lược chia lộ tấn công của Bàng Quyên vừa hợp lý, lại có thể né tránh được rất nhiều điểm yếu của đại quân sáu nước như binh chủng không thống nhất, sức mạnh chênh lệnh, tướng soái khó phối hợp, có thể xem là thượng sách khả thi.
Chư tướng đang ngẫm nghĩ, Chiêu Dương bỗng cất giọng lạnh tanh: “Mưu này tuy hay, song vô ích với Tần!”
“Ồ?” Bàng Quyên chầm chậm chuyển ánh mắt sang Chiêu Dương. “Chiêu tướng quân hẳn có mưu hay?”
“Xin hỏi chủ tướng, khi giao đấu, bàn tay mạnh hơn hay nắm đấm mạnh hơn?” Chiêu Dương lấy câu hỏi làm đáp án, giơ luôn hai tay ra, một bàn tay xoè rộng, một bàn tay nắm quyền.
“Tướng quân xin cứ nói thẳng!”
“Chúng ta sáu nước hợp tung, là để hình thành hợp lực, dùng thế mạnh trấn áp kẻ thù. Thế nên hợp, không nên phân. Như tướng quân vừa nói, Tần có bốn cửa ải kiên cố, nếu ta phân tán binh lực, e là một ải cũng không thể phá. Nếu ta hợp quân một chỗ, dù có là thành đồng vách sắt, cũng có thể nghiền thành cám vụn.”
Chiêu Dương nói ra lời này, là xuất phát từ tư lợi. Nếu theo mưu kế của Bàng Quyên, quân Sở sẽ phải đơn độc đánh vào vùng sơn cốc Thương Ư, chính là cùng chung phương hướng với mưu kế của Khuất Vũ. Quan trọng hơn cả, đó là Chiêu Dương hầu như mù tịt về vùng sơn cốc Thương Ư. Nếu như để một mình quân Sở đánh vào Thương Ư, đồng nghĩa với việc ông ta buộc phải hai tay dâng quyền chủ trì phạt Tần cho dòng họ Khuất, từ đó lỡ mất cơ hội một mình lập công diệt Tần. Còn nếu như quân hợp tung chọc thủng Hàm Cốc, chiếm được Hàm Dương, Thương Ư tự khắc không đánh mà tự phá, với tay là lấy được. Lúc đó, nếu tính công lao, sẽ không có chỗ cho họ Khuất.
Bàng Quyên chau tít đôi mày, đưa mắt về phía Điền Anh và Công Trọng.
Điền Anh hùa theo Chiêu Dương: “Phải, lời Chiêu tướng quân rất chí lý, tại hạ tán thành!”
Công Trọng khi còn là tướng dưới cờ Thân Bất Hại đã từng giao chiến với Chiêu Dương, vốn chẳng kiêng nể gì ông ta, lần này lại phụng ý chỉ của Chiêu Hầu, dốc lòng trợ giúp Bàng Quyên, nên càng không coi Chiêu Dương ra gì, liếc xéo ông ta một cái, rồi vòng tay về phía Bàng Quyên, dõng dạc nói: “Tại hạ tán thành sách lược chia quân tấn công của Bàng tướng quân!”
Bàng Quyên nhìn hắn gật đầu, rồi quay sang Tử Chi và Lý Nghĩa Phu: “Chiêu tướng quân chủ trương hợp binh một chỗ, tấn công Hàm Cốc, ý kiến của hai vị tướng quân thế nào?”
Hai người cùng vòng tay đồng thanh: “Xin nghe theo mệnh lệnh của chủ tướng!”
Bàng Quyên đáp lễ, rồi quay sang Chiêu Dương khẽ vòng tay, cất giọng ôn tồn: “Chiêu tướng quân, tại hạ cho rằng, đường Hàm Cốc hiểm trở chật hẹp, phía trước cửa ải, người Tần lại xây dựng rất nhiều thành hai bên đường, dễ phòng khó đánh, vừa bất lợi cho quân ta triển khai binh lực, lại vừa khó phát huy ưu thế số lượng. Tại hạ nói thẳng, xin Chiêu tướng quân nghĩ kỹ.”
Chiêu Dương cũng vòng tay, mỉm cười nói: “Tướng quân giỏi giao chiến nơi đồng rộng, song chưa hẳn đã giỏi công thành phá luỹ. Không giấu tướng quân, trong doanh trại của tại hạ có một tay thợ giỏi, khéo chế tạo xe mây. Loại xe này cao khoảng vài trượng, xung quanh bọc giáp, phía dưới lắp nhiều bánh, có thể di chuyến dễ dàng. Mỗi xe chở được mười người, trên có lỗ bắn tên. Một khi đã nâng lên, dù thành lũy cao lớn đến đâu cũng giống như đất bằng. Chỉ cần đột phá được cửa ải này, tuy phía sau ải còn hai trăm dặm đường khe núi, song ta và địch lại cùng phải đi chung, phía ta quân khoẻ lương nhiều, gặp ải đánh ải, gặp lũy phá lũy, có gì phải sợ?”
Thấy ông ta cố chấp như vậy, Bàng Quyên từ từ chau tít đôi mày, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi gật đầu đáp: “Cũng được! Nếu Chiêu tướng quân đã có vũ khí đánh thành hiệu quả, tại hạ đồng ý hợp quân một chỗ, quyết chiến với Tần trước ải Hàm Cốc!” Quay sang chư tướng. “Chư vị còn có ý kiến khác chăng?”
Công Trọng khẽ mấp máy môi, song thấy những người khác không nói năng gì, lại ngậm miệng như cũ.
“Được, đã không có ý kiến khác, chư vị tướng quân nghe lệnh!” Bàng Quyên thu thần tụ khí, lớn giọng thực thi uy quyền chủ tướng.
“Xin lắng nghe mệnh lệnh của đại tướng quân!” Chư tướng đồng thanh đáp.
“Một tháng sau, cùng dẫn binh mã bản bộ tiến về Hào Quan, hội quân phạt Tần!”
Chư tướng nhận lệnh lui ra.
Bàng Quyên giữ lại Chiêu Dương, Điền Anh, lần lượt tạ lỗi về chuyện Hình Sơn, Hoàng Trì, đồng thời hứa rằng, Ngụy Vương đã có chỉ, chỉ cần phạt Tần thành công, Ngụy sẽ trả lại Hình Sơn cho Sở, không nhúng tay vào chuyện nước Tống của Tề.
Nước Tống là chỗ ngứa của Tề, Hình Sơn là nỗi đau của Sở, hai người nghe Bàng Quyên hứa hẹn như vậy, lấy làm phấn chấn. Đặc biệt là Chiêu Dương, vốn dĩ có ít nhiều thành kiến với Bàng Quyên, giờ đây oán hận cũ bỗng tiêu tan hết sạch, tay bắt mặt mừng, vô cùng hỉ hả! Trước khi từ biệt, Bàng Quyên năm lần bảy lượt dặn ông ta mau chóng chế tạo xe mây. Chiêu Dương luôn miệng đồng ý, hoan hỷ lên xe cáo từ.
Hai người vừa rời khỏi doanh trại, Trương Mãnh liền cấp tốc bước vào, lớn giọng bẩm báo: “Bàng tướng quân! Mưu kế này của Chiêu Dương là hạ hạ sách, tướng quân không những không phản đối, lại còn chấp nhận, thực sự khiến mạt tướng không hiểu!”
Bàng Quyên cười lớn mà nói: “Tướng quân thực sự nghĩ như vậy ư?”
“Nghĩ như vậy không chỉ có mình mạt tướng!”
“Ồ? Còn có ai nữa?”
“Công Trọng tướng quân. Công Trọng tướng quân trước lúc ra về, có dặn đi dặn lại mạt tướng chuyển lời giúp. Công Trọng tướng quân nói, quân của liệt quốc nên phân không nên hợp. Nếu ta xuất kích từ bốn phía, thứ nhất có thể phát huy ưu thế người đông thế lớn, thứ hai có thể phân tán sức phòng ngự của người Tần. Quân đội đông đảo đến vậy hợp lại một chỗ, sáu quân khác nào một quân, hợp tung như thế, thà chẳng hợp còn hơn!”
“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng. “Người cùng suy nghĩ với ta, chỉ có Công Trọng tướng quân!”
“Nhưng tướng quân lại...”
“Trương tướng quân, mưu này đã không thể, cũng chưa hẳn đã không thể.”
“Ồ...”
Bàng Quyên dẫn Trương Mãnh tới trước sa bàn, chỉ vào sa bàn mà nói: “Tướng quân hãy nhìn xem, từ Thằng Trì tới Thiểm Tây, lại tới Khúc Ốc, dài hơn trăm dặm, trừ đi vài chục dặm Hào Quan, còn lại đều là vách dốc thoai thoải, thung lũng rộng rãi, thuận lợi cho quân liệt quốc đóng quân hạ trại. Ngược lại, hãy nhìn phía người Tần, từ ải Hàm Cốc tới Âm Tấn, đường nhỏ khe hẹp, bất lợi cho đại binh hành quân, không thuận lợi cho chi viện phía sau. Sáu cánh quân của ta tề tựu ở đây, lại có xe mây đánh thành của Sở, Tần tất kinh hãi, buộc phải tử thủ Hàm Cốc. Sơn cốc chật hẹp mà người đông đảo, phòng bị phía sau không thể chu toàn. Lúc này, tướng quân dẫn một cánh kỳ binh, từ chỗ này...” chỉ vào dòng Hà Thuỷ phía bắc Âm Tấn, “chính là Phong Lăng, bí mật vượt Hà Thuỷ, đột kích chiếm lấy Âm Tấn.”
Trương Mãnh ngẫm nghĩ một lát, gật đầu khen ngợi: “Đúng là kỳ mưu! Nếu ta vượt Hà Thuỷ thành công, đừng nói là đột kích chiếm Âm Tấn, cho dù chỉ chặn đứng nơi này, dựng luỹ hai bên, đã có thể cắt đứt tuyến đường thông tới đường Hàm Cốc, khiến quân giữ Hàm Cốc phía trước có đại quân, phía sau không lối thoát, hãm vào tuyệt lộ.”
“Không! Không phải!” Bàng Quyên quả quyết cắt lời. “Nhất định phải đột kích chiếm lấy Âm Tấn! Chỉ có chiếm được Âm Tấn, mới coi như khống chế được đường Hàm Cốc trong tay. Khống chế được đường Hàm Cốc trong tay, thì nghìn dặm Tần Xuyên sẽ không còn nơi nào hiểm yếu để trấn giữ. Dựa vào sức của người Tần, làm sao chống chọi nổi liên quân sáu nước của ta?”
“Tướng quân nói rất phải! Có điều, mạt tướng vẫn còn một mối lo ngại.”
“Xin cứ nói!”
“Công Tôn Diễn túc trí đa mưu, đặc biệt thông thạo Hà Tây. Mạt tướng năm xưa từng qua lại với hắn, hiểu rõ con người này. Mưu của tướng quân, Công Tôn Diễn ắt đã có đề phòng. Hơn nữa, Hà Thuỷ khó vượt, kế này quan trọng ở xuất thần, ở bí mật, chỉ cần người Tần có chút ít đề phòng, thì quân vượt sông của ta sẽ rơi vào nguy khốn.”
“Kẻ này đúng là cũng có chút bản lĩnh!” Bàng Quyên nhìn sa bàn một lát, cười khẩy mà nói. “Tuy có bản lĩnh, song phương lược lại cũ kỹ sáo mòn. Tại hạ nhiều lần suy ngẫm về cuộc đại chiến năm xưa, thấy kế của Công Tôn Diễn chẳng qua chỉ là vài trò thủ thắng kém cỏi. Song lúc đó Ngụy mạnh Tần yếu, dù chỉ là vài trò kém cỏi, cũng đủ để giữ vững Hà Tây. Đáng tiếc là bệ hạ đầu óc mụ mị, đến điều này cũng không chịu nghe, nên mới tặng không Hà Tây cho địch.”
Trương Mãnh thán phục mà nói: “Tướng quân nói rất phải! Nhớ lại trận đại chiến năm đó, mạt tướng vẫn thấy uất hận trong lòng.”
“Có điều, người này cũng không thể không đề phòng. Để đảm bảo chắc chắn, ta có thể bày thêm một chỗ nghi binh tại đây, chính là tuyến Phần Âm, đóng trại kết bè men theo Hà Thuỷ, giương cờ gióng trống, ắt có thể lừa gạt người Tần.”
“Như vậy tuyệt hay!”
“Công Tôn Diễn tuy không đáng sợ, song có một người khác lại khiến tại hạ lo lắng.”
“Ai vậy?”
“Tôn Tẫn!”
“Người này... chẳng phải bị điên rồi ư? Nghe nói đã nhảy sông chết rồi kia mà!”
“Người này không hề nhảy sông, mà bị người Tần cướp mất!”
“Ý tướng quân là, Tôn Tẫn đang ở Tần?” Trương Mãnh vô cùng kinh ngạc.
“Đúng vậy!” Bàng Quyên trịnh trọng gật đầu. “Công tử Hoa đóng giả thương nhân Nhung Địch, sống ẩn dật ở Đại Lương suốt một thời gian dài, nhân lúc ta không đề phòng, đã cướp mất người này. Tại hạ hay tin đuổi theo tới tận biên ải, không ngờ công tử Hoa lại giở kế trộm xà đổi cột mà đạt được âm mưu.”
“Mạt tướng cũng có ít nhiều tai mắt ở Tần, song chưa từng nghe nói tới chuyện Tôn Tẫn tới Tần.”
“Đúng vậy! Tại hạ cũng từng sai người đi dò la, đến nay vẫn chưa điều tra được gì. Chung sống vài năm trong Quỷ Cốc, tại hạ hiểu rõ kẻ này quỷ kế đa đoan, trong ngoài bất nhất. Lần này tới Tần, chưa tới thời khắc then chốt thì hắn dứt khoát không xuất đầu lộ diện.”
“Tướng quân hẳn đã có kế ứng phó?”
“Hừm!” Bàng Quyên nhún vai, cười nhạt một tiếng. “Một kẻ điên như hắn thì làm gì nổi ta? Hơn nữa, dù hắn không điên, tại hạ và hắn đơn binh độc chiến, tại hạ cũng chưa hẳn đã sợ hắn. Huống hồ hiện tại sáu phạt một, dù hắn có bản lĩnh bằng trời, chẳng qua cũng chỉ là châu chấu đá xe mà thôi!”
“Tướng quân nói rất phải!” Trương Mãnh cũng cười lớn.
Cách Lỗ Quan ở phía bắc Phương Thành nước Sở không xa, có một dãy núi dài trập trùng bất tận, tên gọi Nghiêu Sơn. Tương truyền núi này là quê cũ của thánh vương Đế Nghiêu tộc Hoa Hạ thời viễn cổ, đỉnh núi chót vót chọc trời, đá tảng lởm chởm, cây cối rậm rạp, thác đổ suối tuôn, suối nước nóng dày đặc, chim lạ thú hiếm nhiều không kể xiết, quả là thắng địa vùng Hoa Hạ.
Sâu thẳm trong núi Nghiêu Sơn có một chốn non nước thần tiên, là nơi chào đời và mai táng của nhất đại tông sư Mặc Địch. Tại nơi chôn cất cự tử Mặc Địch, đệ tử Mặc gia đã dựng lên vài chục nếp nhà đơn sơ dựa bên núi đá, gọi là đại doanh Mặc gia. Một năm bốn mùa, đệ tử Mặc gia cũ có, mới có đều quần tụ về đây để tưởng nhớ tới tiên sư, tu luyện Mặc đạo, củng cố ý chí.
Đại doanh Mặc gia được xây dựng bởi một tay cự tử đời thứ tư của Mặc gia là Tuỳ Sào Tử. Chính giữa là một gian thảo đường rộng lớn, tuy thô sơ song kiên cố, kết cấu gỗ tre, mái lợp cỏ tranh, sáng sủa thông thoáng, chứa được đến trăm người.
Từ ngày Quỷ Cốc Tử đồng ý thu nhận đệ tử, Tuỳ Sào Tử như trút được gánh nặng trong lòng. Có lẽ đã có điều đốn ngộ, hoặc có lẽ cảm thấy sức khoẻ không còn được như trước, không chừng sắp đến lúc gần đất xa trời, nên sau khi giải quyết xong một số việc gấp, Tuỳ Sào Tử thay đổi phong cách hành sự đích thân gánh vác của Mặc gia, lặng lẽ trở về Nghiêu Sơn, kết cỏ dựng nhà trước mộ tiên sư, chuyên tâm trước thuật, hiếm khi ra ngoài. Mặc giả các nơi hay tin cự tử ở đây, đua nhau kéo đến, dần dần dựng nên cả một khu nhà. Tuỳ Sào Tử cũng thuận thế đẩy thuyền, một mặt ở đây tu thân dưỡng tính, chỉnh lý những điều tâm đắc, mặt khác chỉ dạy cho các Mặc giả hậu sinh, gián tiếp quản lý những sự vụ của Mặc gia trong thiên hạ.
Nhiều năm bôn ba đã vắt kiệt cơ thể của Tuỳ Sào Tử. Đặc biệt là sau lúc vào thu, sinh mệnh của ông chẳng khác gì ngọn đèn tàn chập chờn trong gió núi, có thể tắt phụt bất cứ lúc nào.
Chập tối hôm nay, những Mặc giả thân cận của Tuỳ Sào Tử đều hiểu rõ, thời khắc vĩnh biệt đã tới gần. Mọi người lặng lẽ hầu bên cạnh Tuỳ Sào Tử, và còn nhiều người hơn nữa vẫn đang ngày đêm vượt đường, từ bốn phương tám hướng gấp rút trở về.
Không khí trong thảo đường rất đỗi trang nghiêm. Tuỳ Sào Tử nằm nghiêng trên giường gỗ kê sát bức tường chính của thảo đường, sắc mặt võ vàng như sáp. Trước giường đặt một bát thuốc, còn phân nửa nước thuốc đen quánh, đã nguội ngắt.
Trước mặt ông, Hồ Phi Tử, Cáo Tử ngồi trên tấm chiếu cỏ đã hơi sờn rách, sắc mặt trầm trọng. Phía sau hai người là Tống Kiển, Khuất Tương Tử và hơn trăm người khác, đa phần là Mặc giả đời thứ hai, đời thứ ba, thậm chí đời thứ tư, thứ năm, tất cả đều ngồi theo đúng thứ tự vai vế.
Trước cửa thảo đường, liên tục có thêm Mặc giả đi vào. Giống như những người đến trước, sau khi vào thảo đường, họ lặng lẽ ngồi vào vị trí đúng với cấp bậc của mình.
Trong giây phút hấp hối, Tuỳ Sào Tử gắng gượng ngồi dậy. Nhìn chư Mặc giả cũ mới từ khắp nẻo kéo về, trên mặt ông hiện một nét cười, đưa ánh mắt nhân từ nhìn khắp lượt trong phòng, dừng lại trên mặt từng người một, tựa như muốn khắc sâu hình bóng họ vào tâm khảm.
“Chư vị không ngại vất vả, từ bốn phương tám hướng trở về đây thăm lão hủ...” Tuỳ Sào Tử khó nhọc vòng hai tay, “lão hủ...” ho khẽ hai tiếng, “lão hủ vô cùng cảm tạ!”
Mọi người liền chuyển từ ngồi sang quỳ, khấu đầu, đồng thanh nói: “Đệ tử Mặc gia tham kiến cự tử, chúc cự tử quý thể sớm ngày bình phục!”
Tuỳ Sào Tử khẽ xua tay, cười gượng một tiếng: “Cái thân hèn của lão hủ đây đã sắp nhập quan tài, còn có gì đáng quý nữa? Chư vị huynh đệ, chư vị tỷ muội, mọi người đều là người của Mặc gia, chớ nên nói những lời nghi thức sáo rỗng như vậy. Ngồi đi!”
“Xin tuân lệnh!” Đám Mặc giả lại chuyển từ quỳ sang ngồi, vòng tay lần nữa.
“Lão hủ cho triệu chư vị tới,” Tuỳ Sào Tử lại xua tay, “chủ yếu là có ba việc. Thứ nhất là việc riêng của lão hủ, thứ hai là việc nhà của Mặc đạo, thứ ba là việc công của thiên hạ.”
Chư Mặc giả hiểu rằng cự tử sắp giao phó đại sự, ai nấy thần thái nghiêm trang, tất cả mọi ánh mắt đều tập trung vào Tuỳ Sào Tử.
Thảo đường lặng im phăng phắc.
“Việc thứ nhất,” Tuỳ Sào Tử mỉm cười, nhìn khắp lượt đệ tử, “lão hủ rất đỗi tưởng nhớ chư vị, trước khi ra đi vẫn tham tiếc muốn nhìn thấy chư vị, muốn gặp mặt chư vị lần cuối. Chư vị đã tới, nguyện vọng này của lão hủ đã được như ý. Tiếp theo là việc thứ hai.”
Đám đông đồng loạt vòng tay, lệ trào trong mắt.
Tuỳ Sào Tử chậm rãi nói tiếp: “Từ lúc tiên sư khai sáng Mặc đạo, Mặc gia tới nay đã lập thế trăm năm. Người theo Mặc đạo ban đầu chỉ lác đác mấy người, tới nay đã lên tới vài nghìn, phân bố khắp liệt quốc, có thể nói người sau tiếp bước người trước, đời nào cũng có hào kiệt. Cho tới hiện nay, Mặc đạo lưu hành trong thiên hạ, đến phụ nữ trẻ em đều biết, có thể sánh ngang với cái học Khổng Nho, song hành cùng cái học Hoàng Lão, sự nghiệp đang lên phơi phới. Lão hủ bất tài, may được tiên cự tử Mạnh Thắng yêu mến, được chư vị Mặc giả ủng hộ, đã giữ vị trí cự tử hơn ba mươi năm, trong khoảng thời gian này, tuy không lập nên thành tựu gì, song cũng thận trọng tận tuy, không dám một ngày biếng nhác. Gần đây lão hủ thấy trí cạn lực kiệt, không thể bôn ba được nữa, không nên tiếp tục ngồi lì ở vị trí này, vốn đã sớm có ý chọn người hiền để tiếp tục giương cờ Mặc đạo, tiếc thay trời không chiều lòng người, nên mới lề mề cho tới tận ngày nay. Hôm nay trời yên gió lặng, thời tiết tốt lành, Mặc giả từ muôn nẻo đường tề tựu về đây, lão hủ không dám lại bỏ lỡ thời cơ, quyết định lập tức tiến cử cự tử mới, để cự tử mới lãnh đạo chư hiền, tiếp tục đại nghiệp Mặc đạo. Sau khi bàn bạc cùng chư lão, lão hủ tiến cử cự tử mới là...” ánh mắt sắc sảo như lưỡi kiếm chiếu thẳng vào Cáo Tử, “Cáo Bất Hại!”
Không ai kinh ngạc.
Cáo Tử tên là Bất Hại, người Tức Mặc nước Tề, từ nhỏ đã đi theo tiên cự tử, về lý mà nói là cùng vai vế với Tuỳ Sào Tử, Hồ Phi Tử, song do ít tuổi hơn rất nhiều, nên khiêm tốn tự lùi một bậc, coi mình là đệ tử của Tuỳ Sào Tử, Hồ Phi Tử. Thế hệ đệ tử đầu tiên của Mặc gia đa phần đã qua đời, trong số những bậc lão bối còn sống có Tương Lý Tử, Tương Phu Tử, Đặng Lăng Tử đều đã tuổi xế bóng chiều giống như Tuỳ Sào Tử, do đường sá xa xôi còn chưa tới kịp. Hồ Phi Tử tuy đã có mặt, song tuổi cao sức yếu, bệnh tật đầy mình, không kham nổi trọng trách. Duy có Cáo Tử vẫn còn khoẻ mạnh, học vấn uyên thâm, lại có được căn cơ của Mặc đạo. Để Cáo Tử đảm nhiệm chức cự tử, vừa không nằm ngoài dự đoán, cũng là mong muốn của mọi người.
Song Cáo Tử lại lo lắng hoang mang, quỳ xuống khóc mà nói: “Cự tử, đệ tử...”
Tuỳ Sào Tử đưa tay chỉ vào vị trí chủ trước giường, nói: “Bất Hại, lại đây, hãy ngồi vào đây!”
Cáo Tử nhích lên vài bước, ngồi vào vị trí chủ trước giường.
Mọi người, gồm cả Hồ Phi Tử, thấy Cáo Tử đã ngồi yên vị, nhất loạt đổi từ ngồi sang quỳ, đồng thanh khấu đầu hô: “Tham kiến tự cử!”
Mặc gia không giống Nho gia, không có nghi lễ rườm rà, tất cả quỳ bái coi như đã thừa nhận cự tử mới.
Hồ Phi Tử sắc mặt nghiêm trang, cũng vòng tay nói: “Mặc giả Hồ Phi tham kiến cự tử, xin lắng nghe lời sai bảo của cự tử!”
Cáo Tử mắt lệ rưng rưng, đỡ Hồ Phi Tử ngồi xuống, lại vái ông một vái, sau đó quay trở về ngồi xuống trước giường Tuỳ Sào Tử, quỳ xuống hướng vào Tuỳ Sào Tử.
Tuỳ Sào Tử đưa tay nắm chặt lấy tay Cáo Tử, bàn tay già nua hơi run rẩy: “Bất Hại, kể từ hôm nay, lão hủ sẽ giao phó lại cho con cục diện thiên hạ rối loạn này.”
“Cự tử!” Cáo Tử nắm chặt tay Tuỳ Sào Tử, giọng nói nghẹn ngào, nước mắt tuôn rơi. “Đệ tử đức mỏng lực yếu, sợ rằng sẽ phụ lời uỷ thác của cự tử!”
Tuỳ Sào Tử khó nhọc xua tay: “Không nói tới chuyện này nữa!” Đoạn phẩy tay về phía đám đông. “Chư vị Mặc giả, tiếp theo, lão hủ xin được nói tới việc thứ ba, là việc công của thiên hạ!” Ho húng hắng vài tiếng, lại quay sang Cáo Tử. “Con là cự tử mới, việc này sẽ do con chủ trì.”
“Xin tuân mệnh!” Cáo Tử không từ chối nữa, liền gạt nước mắt, lùi lại hai bước, lạy Tuỳ Sào Tử liền ba lạy, rồi đổi sang ngồi, cất giọng rành rọt. “Bẩm cự tử, cục thế trước mắt, đại sự thiên hạ đang ở Hàm Cốc. Quân hợp tung sáu nước gần bốn mươi vạn tập trung bên ngoài cửa ải, thế muốn phạt Tần. Tần không chịu nhịn, dốc hết sức mạnh toàn quốc ứng chiến. Cuộc đại chiến đã sắp bùng nổ, không thể vãn hồi!”
Cục thế ngoài núi giống như mưa bão sầm sập tới gần, điều này ai ai cũng rõ. Tuy vậy, khi nghe thấy những lời chậm rãi của Cáo Tử, không khí trong thảo đường vẫn trở nên trầm trọng, tựa như có tảng đá nặng nghìn cân đè trĩu trong tâm khảm mọi người.
Song Cáo Tử vẫn thấy chưa đủ, dừng lại một lát, lại khắc khoải thêm vào một câu: “Nếu quân hợp tung khai chiến, binh lực bảy nước có lẽ hơn bảy mươi vạn, quy mô chưa từng có xưa nay, thiên hạ ắt phải chịu cảnh sinh linh đồ thán, máu chảy trôi chày!” Rồi ngẩng đầu nhìn Tuỳ Sào Tử. “Ứng phó thế nào, đệ tử cầu xin cự tử chỉ giáo.”
Tuỳ Sào Tử khó nhọc nở một nụ cười với Cáo Tử, rồi từ từ khép hai mắt lại, thều thào gọi: “Tống Kiển, lại đây...”
Tống Kiển tiến lại, gọi khẽ: “Cự tử!”
“Đỡ... đỡ ta... nằm xuống. “
Tống Kiển đỡ Tuỳ Sào Tử nằm xuống, kê gối gỗ dưới đầu ông, rồi phủ phục bên giường.
Thấy Tuỳ Sào Tử đã nhắm nghiền hai mắt, Cáo Tử hiểu rằng, toàn bộ gánh nặng đã đặt trọn lên vai mình, không thể nhờ vào ai khác, bất giác trong lòng run rẩy, quay đầu nhìn sang Hồ Phi Tử.
Hồ Phi Tử chau tít đôi mày, lặng yên bất động, hệt như một pho tượng đất.
Cáo Tử nhắm mắt ngưng thần, sau một hồi trấn tĩnh, lại mở mắt ra, quay về phía chư Mặc giả, vái sâu một vái, cất giọng thề rằng: “Chư vị Mặc giả! Được cự tử yêu lầm, được chư vị thiên vị, Bất Hại xin tạm thời giữ ngôi cự tử. Từ thời khắc này, Bất Hại thề chung một đường với chư vị hiền đạt, dốc kiệt sức lực, sẵn sàng lao vào dầu sôi lửa bỏng vì Mặc đạo lưu hành, thiên hạ đại đồng, trăm họ an cư, có chết cũng không lùi bước!”
Đám đông Mặc giả đều đứng dậy cùng thề: “Chúng tôi nguyện theo cự tử, sẵn sàng lao vào dâu sôi lửa bỏng vì Mặc đạo lưu hành, thiên hạ đại đồng, trăm họ an cư, có chết cũng không lùi bước!”
Cáo Tử lại vòng tay nói: “Chư vị hiền đạt, thiên hạ khói lửa lại khởi lên, đại chiến sắp bùng phát, Bất Hại tài kém, mong chư vị chỉ giáo diệu kế ứng phó.”
Chư Mặc giả liền nhao nhao tỏ ý, thảo luận ồn ào, nhưng bàn bạc hết một tuần hương, Cáo Tử thấy vẫn chưa ai đưa ra được kế sách thiết thực khả thi, lại sợ làm phiền tới việc nghỉ ngơi của Tuỳ Sào Tử, nên đề nghị ngày mai bàn tiếp.
Chư Mặc gia lũ lượt kéo nhau về, trong phòng chỉ còn lại Hồ Phi Tử, Khuất Tương Tử, Tống Kiển và Cáo Tử. Khuất Tương Tử là đệ tử đầu tiên của Hồ Phi Tử, còn Tống Kiển đã nhiều năm theo Tuỳ Sào Tử, hai người đều là nhân vật chủ chốt trong lớp đệ tử thứ hai của Mặc gia.
Trải qua sự gắng gỏi vừa rồi, Tuỳ Sào Tử dường như đã sức cùng lực kiệt, mặt vàng như nghệ, trên trán lấm tấm những giọt mồ hôi to bằng hạt đậu, đưa tay nắm chặt lấy tay Tống Kiển, rõ ràng đang cố gắng chịu đựng điều gì đó.
Hồ Phi Tử vội bước lên trước, đưa tay bắt mạch Tuỳ Sào Tử, khẽ gọi: “Tuỳ Sào huynh!”
Tuỳ Sào Tử khẽ mở mắt, nắm lấy bàn tay nhăn nheo của Hồ Phi Tử, gượng cười một tiếng: “Hồ Phi huynh...”
Ba người Cáo Tử, Khuất Tương Tử và Tống Kiển đều quỳ xuống, khóc mà gọi: “Cự tử...”
Tuỳ Sào Tử khẽ thở dài một tiếng, không nói thêm lời nào. Im lặng hồi lâu, đợi thần sắc hồi phục đôi chút, mới nhìn vào khuôn mặt râu ria lởm chởm của Khuất Tương Tử, tiếp tục cất lời: “Khuất Tương, đệ tử Phi Đao của con có tin tức gì không?”
Khuất Tương Tử vòng tay đáp lời: “Bẩm cự tử, hắn vẫn luôn theo sát Tô Tử, chưa hề rời xa nửa bước.”
“Công phu của hắn hẳn đã tiến bộ?”
“Rất tiến bộ, đặc biệt là tài nghệ phi đao đã đạt tới độ xuất thần nhập hoá!”
“Tốt lắm!” Tuỳ Sào Tử nở một nụ cười. “Người này trung dũng, lòng dạ thực thà thuần hậu, rất có triển vọng. Võ công của hắn đã là thượng thừa trong số Mặc giả, giờ lại tiến bộ hơn nữa, thực đáng mừng. Con hãy chuyển lời tới hắn, sự an nguy của Tô Tử, lão hủ giao cả cho hắn!” Quay sang Cáo Tử. “Tôn Tẫn có tin tức gì không?”
“Hồi bẩm cự tử!” Cáo Tử đáp lời. “Tôn Tử đã được cứu thoát. Tô Tử sắp xếp Thuần Vu Tử cứu Tôn Tử tới Tề, ẩn mình trong phủ thượng tướng quân Điền Kỵ.”
Tuỳ Sào Tử thở phào một tiếng: “Đến Tề thì tốt rồi! Người này một ngày chưa rời khỏi Đại Lương, lão hủ một ngày không thể yên tâm.”
Tống Kiển nói xen vào: “Đệ tử có một thắc mắc.”
“Nói đi!” Tuỳ Sào Tử mỉm cười.
“Quỷ Cốc tiên sinh đã có lòng cứu vớt thiên hạ, thu nhận Tô Tần, Tôn Tẫn là được rồi, vì cớ gì còn thu nạp cả Bàng Quyên và Trương Nghi? Có hai kẻ đó, đặc biệt là Bàng Quyên kia, thiên hạ không loạn mới lạ!”
“Nước cờ của Quỷ Cốc Tử rất sâu xa, nhãn lực của các con sao có thể nhìn thấu?”
“Đệ tử dám hỏi, sâu xa ở chỗ nào?” Tống Kiển vẫn không chịu thôi.
Nhớ lại năm xưa Quỷ Cốc Tử từng nói đến đạo lý dao sắc cắt độc, Tuỳ Sào Tử thở dài một tiếng: “Than ôi, sâu xa tới mức thầy đây cũng không nhìn được rõ!” Quay sang Cáo Tử. “Lão hủ bận rộn cả đời, song chiến loạn trong thiên hạ không những không thể dẹp yên một mảy, mà ngược lại ngày càng kịch liệt. Mấy năm gần đây, lão hủ sức khoẻ suy sụp, ở trong sơn cốc thâm u này tạm giữ chút hơi tàn, mới có thời gian suy nghĩ lại những chuyện đã qua. Mặc đạo sở dĩ chưa thể thịnh hành trong thiên hạ, không phải là lỗi của Mặc đạo. Lão Tử của Đạo gia từng nói, ‘đại đạo mất mới có nhân nghĩa, trí tuệ sinh mới có gian trá lớn, lục thân bất hoà mới có người hiền thảo, đất nước hỗn loạn mới có trung thần’. (1) Ngày nay thiên hạ thất đạo, càng ngày càng loạn, càng loạn càng cần Mặc đạo chúng ta. Còn việc chúng ta khổ cầu mà chưa có kết quả, không phải vì Mặc đạo không thông, mà là thuốc không đúng bệnh. Sau chuyến đi tới Quỷ Cốc, lão hủ có đôi điều cảm ngộ. Quỷ Cốc Tử không ngại gian lao, chỉ trong vài năm ngắn ngủi đã dạy dỗ nên đại tài thiên hạ là Tô Tần, Tôn Tẫn, uy phục liệt quốc, thực khiến lão hủ lấy làm hổ thẹn. Đệ trị loạn tượng hiện nay, Tô Tử đã đưa ra sách lược hợp tung liệt quốc, quả là diệu kế! Các con phải dốc hết sức lực, trợ giúp Tô Tần, thúc đẩy thiên hạ hợp tung.”
“Đệ tử kính cẩn ghi nhớ!”
“Chiến sự trước mắt, ngoại trừ, Tô Tử không ai có thể hoá giải. Lão hủ quan sát liệt quốc, thấy tuy đã hợp tung, song mỗi nước lại có chí riêng, không cùng một đường với Tô Tử. Mục đích của hợp tung là trừ bỏ Tần, người Tần đương nhiên cũng không cam chịu, có lẽ sẽ hãm hại Tô Tử. Tô Tử gánh nặng đường xa, không thể không phòng bị.” Nói tới đây, Tuỳ Sào Tử quay sang Khuất Tương Tử. “Khuất Tương, trong chư Mặc giả, nói về võ công và nghĩa hiệp, không ai sánh bằng con. Hai thấy trò con, trò ở chỗ sáng, thầy ẩn chỗ tối, phò tá Tô Tử, trợ giúp hắn hoàn thành nghiệp lớn của thiên hạ!”
Khuất Tương Tử vòng tay đáp lời: “Đệ tử tuân lệnh!”
“Chư vị hiền đạt!” Tuỳ Sào Tử nhìn lần lượt từng người, rồi dừng lại ở Cáo Tử. “Bất luận Tô Tử có thành công hay không, Mặc đạo cũng phải phát dương quang đại, Mặc đạo cũng nhất thiết phải phát dương quang đại. Mà muốn phát dương Mặc đạo, cần phải có đại tài trong thiên hạ. Tắc Hạ nước Tề hội tụ sĩ tử học vấn uyên thâm trong liệt quốc, có lẽ sẽ tìm được đại tài ở đấy. Cáo Tử, con hãy phái người tới Tắc Hạ, chọn lựa đại tài để làm rạng danh Mặc đạo ta.”
“Đệ tử tuân mệnh!”
Sau khi đã bàn giao nhiệm vụ cho cự tử mới, Tuỳ Sào Tử vẫn gượng trụ thêm được ba ngày nữa, tới ngày thứ tư, vào lúc chính Ngọ đã trút hơi thở cuối cùng trên giường gỗ tại thảo đường trong sự tiễn đưa lặng lẽ của gần trăm vị Mặc giả.
Ngay sau ngày tiên cự tử tạ thế, Cầm miếu ở bờ đông Y Thuỷ thôn Hiên Lý, Lạc Dương cũng được khánh thành. So với từ đường, mộ địa, phủ viện của Tô gia mà công tử Ngang đã hưng công rầm rộ xây dựng trước đó, Cầm miếu tường đất, mái cỏ, không có tường bao, từ xa nhìn vào giống như túp lều ẩn dật trong núi, thấp lè tè, đơn độc sơ sài. Không phải công tử Ngang tiếc tiền bạc gì, mà là Tô Tần khăng khăng muốn làm như vậy, nói rằng cầm sư không cần nhà cao cửa rộng, chỉ cần một gian nhà cỏ để chắn gió che mưa.
Vào lễ khánh thành, Chu Hiển Vương đích thân tế lễ, tự tay treo bức chân dung của vương hậu tại chính đường, đối diện với tượng cầm sư. Cầm sư ngồi dưới đất nhập tâm quên mình, vương hậu ngự trên tường mê mẩn như say, quả là cảnh tượng tri âm gặp gỡ, người đàn hoà hợp.
Chu Hiển Vương bày đồ cúng, ngồi bên cạnh nhìn ngắm một lát thì bật khóc nức nở. Tô Tần cũng khóc theo. Những người có mặt thảy đều nhỏ lệ.
Tuy nhiên, người khóc thương tâm nhất, tiếng khóc vang vọng nhất trong đám lại không phải là Tô Tần, mà là công tử Ngang. Có lẽ cảm động trước cuộc đời bi thảm của cầm sư, có lẽ liên tưởng tới Tô Tần, Bàng Quyên trẻ tuổi như vậy mà đã lập nên kỳ công hiển hách, trong khi mình đã sắp bốn mươi mà vẫn chẳng nên cơm cháo gì, có lẽ nhớ tới tám trăm dặm Hà Tây và tám vạn tướng sĩ đã thiệt mạng vì sự bất tài của bản thân, nên công tử Ngang càng khóc càng thống thiết, nước mắt đầm đìa như suối chảy.
Tiếng khóc của hắn khiến Hiển Vương nghe mà điếc tai. Khi tiếng khóc lắng xuống, Hiển Vương chầm chậm đứng dậy, ngưng thần ngẫm ngợi, đoạn múa bút viết ra năm chữ “Thiên hạ đệ nhất cầm” lên một tấm da dê, rồi khởi giá hồi cung.
Công tử Ngang cắt đặt thợ mộc chiểu theo đó chế tác một bức hoành phi bằng gỗ đoạn, nền đen chữ vàng, treo lên mi cửa Cầm miếu. Hai bên khung cửa treo đôi câu đối do Tô Tần tặng, vế trên là “Hai dây văn vũ hoà tấu Cao sơn Lưu thuỷ”, vế dưới là “Năm âm thiên địa cùng ngâm gió mát trăng thanh”, rất đỗi hài hoà với bức hoành phi “Thiên hạ đệ nhất cầm” của Hiển Vương.
Đợi thợ mộc đóng xong đôi câu đối khắc trên gỗ lên khung cửa, công tử Ngang lùi lại vài bước, nheo mắt ngắm nghía một hồi, tấm tắc khen ngợi: “Hai dây văn vũ, là nói tới hai vua Văn, Vũ vào đầu thời Chu, phù hợp với văn trị vũ công của nhân gian. Năm âm thiên địa, là cung, thương, giốc, chu ỷ, vũ, là năm dây sơ thuỷ của cổ cầm, phối hợp với ngũ hành kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ của trời đất. Cao sơn, Lưu thủy là nhã khúc của trần thế, gió mát trăng thanh là thanh vận của trời cao. Bảy dây cùng ngân nga, mọi thứ trên trời dưới thế không gì không gồm đủ, hợp thành ‘Thiên hạ đệ nhất cầm’. Quả là một đôi câu đối tuyệt vời!”
Tô Tần nhìn sững vào đôi câu đối, khoé miệng lộ một nụ cười gượng gạo: “Thật không ngờ nói tới âm luật, công tử lại tinh tế đến thế!”
“Tô Tử quá khen!” Công tử Ngang biết là bị chế giễu, song vẫn cười ha hả, thuận đà nói tiếp. “Theo truyền thuyết, thời thượng cổ họ Phục Hy chế ra đàn cầm để mô phỏng âm thanh của trời đất. Tại hạ cho rằng, âm thanh của trời đất quá ư cao viễn, quá ư xa vời, sao có thể thực tế, nhu hoà bằng âm luật của nhân gian. Ha ha ha, ‘Thi’ có câu: ‘Cô gái hiền thục, ước duyên sắt cầm’.”(2) Đoạn đưa mắt liếc xéo Tô Tần. “Ồ, nói tới đây, tại hạ lại sực nhớ ra một chuyện, muốn hỏi Tô Tử.”
“Công tử cứ hỏi!”
“‘Thi’ có câu ‘Vợ con hòa hợp, như gảy sắt cầm’(3), Tô Tử xa nhà nhiều năm, khó khăn lắm mới trở về, đáng lẽ phải cùng tẩu phu nhân cầm sắt hài hoà mới phải. Nhưng tại hạ lại thấy Tô Tử ngày ngày ở lì trong doanh trại, để tẩu phu nhân một mình vò võ phòng không.”
Tô Tần cúi đầu không nói.
Công tử Ngang chợt hiểu ra, bật cười mà nói: “Tại hạ hiểu rồi! Tẩu phu nhân quả thực quá quê mùa, không xứng đôi với Tô Tử!” Lại cười vài tiếng. “Có điều, nói gì thì nói, người vợ đầu tiên vẫn cứ là tốt nhất. Như tại hạ đây, đời này cũng coi là phong lưu, đàn bà qua tay vô số, song người thực sự biết yêu thương đồng cảm, vẫn chỉ có chính thất phu nhân. Tẩu phu nhân tuy quê mùa, song theo tại hạ thấy, lại hiền thục ôn nhu cung kính, mọi nết toàn vẹn. Tô Tử lạnh nhạt với tẩu phu nhân như vậy, thật là không phải!”
Tô Tần không biết nói gì cho phải, khẽ thở dài một tiếng, bước vào trong miếu, quỳ xuống trước tượng cầm sư, từ từ nhắm mắt lại.
Hoàng hôn đã buông mà thôn Hiên Lý vẫn ồn ào huyên náo. Vô số binh sĩ và thợ thuyền đang luôn tay bận rộn trong bóng tối nhá nhem để dựng cho xong phủ họ Tô. Phủ mới được chọn xây ở phía bắc thôn, chiếm đến nửa thửa đất, phía đông kéo dài tới vườn dâu nhà họ Tô, phía tây sát bờ Y Thuỷ, trước sau tổng cộng sáu dãy nhà, phần còn lại là vườn tược. Trong nước Chu, ngoài vương cung và cung thất của hai vị Chu Công Đông, Tây ra, đây là toà phủ có quy mô lớn nhất.
Tiểu Hỷ rõ ràng chưa quen với đại phú đại quý ập đến thình lình, vẫn cắm cúi bận rộn trong bếp. Bận bịu từ sáng sớm đến tối mịt, Tiểu Hỷ đã thấm mệt. Cho con Mực ăn xong, đóng hết cổng cửa, đang định vào phòng ngủ, bỗng nghe có tiếng gõ cửa.
Thấy là vợ Tô Lệ, Tiểu Hỷ miễn cưỡng nặn ra một nụ cười: “Chị dâu...”
“Em dâu!” Vợ Tô Lệ quặt tay khép luôn cửa lại, kéo Tiểu Hỷ vào trong phòng, cất giọng gấp gáp. “Em không nghe lời khuyên của chị à? Chị đã hiến kế cho em đầy một sọt, mà em lại cứ án binh bất động, thật tức chết đi được!”
Tiểu Hỷ cắn chặt môi, cúi đầu im lặng.
“Em dâu!” Vợ Tô Lệ hạ thấp giọng. “Vừa rồi nghe bố lũ trẻ nói, chú hai, à không, tướng gia, tướng gia vẫn đơn độc một mình, bên cạnh không có lấy một người đàn bà, đến một tỳ nữ cũng không, rặt là mày râu cả! Đàn ông con trai lớn bằng đấy, mà bên mình lại không có đàn bà, thì chỉ có một cách giải thích, là chú ấy không có thói trăng hoa. Con người tướng gia đúng là quái lạ, song có quái lạ đến đâu, bên mình không có đàn bà thì cũng không được. Chỗ trống này vốn là của em dâu, em dâu không đứng vào, sớm muộn cũng sẽ có kẻ tới chiếm mất!”
Tiểu Hỷ càng cắn môi chặt hơn nữa.
“Em dâu, nói gì thì nói, em hãy cứ thử lấy một lần xem sao. Nếu tướng gia khăng khăng không chịu, chúng ta cũng đành chấp nhận. Nhưng theo như chị đoán, tướng gia lần này trở về, không giống với lần trước.”
Tiểu Hỷ hơi ngẩng đầu lên, đưa mắt nhìn chị ta.
“Trước kia chú ấy trở về, do chưa đắc chí, không còn mặt mũi nào nhìn mọi người, trong lòng ấm ức, đương nhiên cũng sẽ cáu bẳn với em dâu. Lần này thì khác, chú ấy đã là tướng gia của sáu nước, làm rạng danh tổ tông, uy phong lẫm liệt, đúng là gió xuân đắc ý, lúc nào cũng thẳng lưng ưỡn ngực, ở trong làng gặp ai cũng chào hỏi. Trong nhà lại càng khác xưa, chưa nói đến cách đối xử với mẹ, với anh cả hay Tô Đại, dù là với chị dâu đây cũng là lễ phép chu toàn. Trước đây chị dâu có mắt như mù, đối xử tệ bạc với chú ấy như vậy, mà chú ấy còn không hề để bụng, huống chi là đối với em dâu? Theo chị dâu thấy, em dâu không làm gì có lỗi với chú ấy, mà là chú ấy có lỗi với em dâu. Chú ấy còn làm vành làm vẻ không tới tìm em, chắc chắn là vì đại trượng phu ưa sĩ diện, không chịu hạ mình. Em dâu ơi, nghe lời chị đi, chú ấy muốn sĩ diện thì ta phải chủ động, tìm lấy cơ hội nhào vào lòng chú ấy, xem chú ấy có cứng rắn tới mức đẩy em dâu ra không?”
“Chuyện này...” Tiểu Hỷ há hốc miệng, lắp bắp, “liệu có được không?”
“Có được hay không, không thử sao biết? Hơn nữa, tướng gia quan cao chức trọng, lại càng coi trọng thể diện. Em dâu nói gì thì nói cũng là chính cung nương nương của chú ấy, nếu thực sự hết cách thì cứ làm ầm lên, xem chú ấy dàn xếp hậu quả thế nào?”
Tiểu Hỷ lại cắn chặt môi lần nữa, một hồi lâu mới ngẩng đầu nhìn vợ Tô Lệ: “Bên cạnh tướng gia có rất nhiều người, e là... không gặp nổi!”
“Ôi trời, đúng là em dâu, đến con Mực cũng chẳng thật thà được như em! Em muốn tìm lý do, kiểu gì chả kiếm được cả sọt. Lại đây, em dâu, chị sẽ chỉ cho em một kế!” Vợ Tô Lệ ghé sát lại, thì thầm vào tai Tiểu Hỷ.
Tiểu Hỷ do dự hồi lâu, cuối cùng cũng khẽ thốt ra một tiếng: “Vâng!”
Vào giờ Nhân định, thợ thuyền lần lượt về nghỉ, thôn xóm dần chìm vào yên tĩnh.
Tô Tần sải dài bước chân, hối hả rảo bước theo con đường đất trong thôn trở về nhà, Trâu Phi Đao vẫn bám sát theo sau. Còn cách cổng nhà khoảng vài chục bước, con Mực đánh hơi thấy Tô Tần, phóng vọt ra khỏi cổng, lao bổ về phía Tô Tần vẫy đuôi mừng tíu tít.
Tô Tần không để ý tới nó, hấp tấp lao vào trong sân, chạy xộc vào nhà chính, vừa chạy vừa gọi: “Mẹ ơi, mẹ ơi...”
Trong gian nhà chính vẫn sáng ánh đèn, giữa nhà bày linh vị của Tô Hổ. Tô Diêu thị ngồi ngay ngắn trên chiếu cỏ, sắc mặt điềm tĩnh.
Tô Tần tiến vào trong nhà, quỳ xuống trước mặt Tô Diêu thị, đưa tay sờ trán bà, thấy không hề sốt, cũng chẳng thấy có người thân nào ở bên cạnh, thì thoáng ngạc nhiên, khẽ hỏi: “Mẹ, nghe nói mẹ bị bệnh, là bệnh gì?”
“Mẹ thấy tức ngực!” Tô Diêu thị chi tay vào lồng ngực.
“Mẹ bắt đầu tức ngực từ bao giờ?” Tô Tần lo lắng.
“Đã nhiều năm rồi” Tô Diêu thị chậm rãi trả lời.
“Sao chưa bao giờ nghe mẹ nhắc tới?” Tô Tần lấy làm ngạc nhiên, quay ra ngoài gọi. “Trâu huynh!”
Trâu Phi Đao lập tức tiến lại, đứng ngoài cửa đáp lời: “Chúa công có gì sai bảo?”
“Mau mời thầy lang!”
Trâu Phi Đao “vâng” một tiếng, vừa quay người định đi thì Tô Diêu thị đã ngăn lại: “Khoan đã!”
Trâu Phi Đao dừng bước, nhìn Tô Tần.
“Mẹ, tức ngực là bệnh nặng, không khám không được!” Tô Tần khuyên nhủ.
Tô Diêu thị mỉm cười với Trâu Phi Đao, khẽ lắc đầu mà nói: “Chàng trai, chứng bệnh của bà lão này không đáng ngại, chưa cần làm phiền tới thầy lang. Ta chỉ muốn trò chuyện dăm ba câu với Tần Nhi mà thôi!”
Nhìn Tô Diêu thị sắc mặt điềm tĩnh, giọng nói bình hoà, quả nhiên không giống như người có bệnh, Trâu Phi Đao thấy hơi khó hiểu, quay sang nhìn Tô Tần, thấy hắn cũng sắc mặt ngỡ ngàng, bèn hiểu ý mà quay người lui ra, đứng canh ngoài cổng.
“Tần Nhi, lại đây!” Tô Diêu thị chỉ vào vạt chiếu bên cạnh mình. “Ngồi bên cạnh mẹ!”
Tô Tần ngồi xuống trước mặt Tô Diêu thị, mắt nhìn bà không chớp: “Mẹ, chứng tức ngực...”
“Mẹ u uất trong lòng, không phải là bệnh.”
“Tại sao?”
“Than ôi!” Tô Diêu thị thở dài buồn bã. “Tần Nhi, mẹ dò la biết được, con vẫn không có người đàn bà nào bên cạnh. Con nay ngoài ba mươi tuổi, sớm đã qua tuổi tự lập, bên cạnh lại không có lấy một người đàn bà, liệu có được không? Hơn nữa, Tiểu Hỷ được gả cho nhà chúng ta, chớp mắt đã chục năm rồi, ngày lại ngày một mình vò võ phòng không, mẹ mắt nhìn tình cảnh đó mà đau đớn trong lòng. Đàn ông cả ngày bên ngoài, công việc bộn bề, có cái để mà bận rộn. Đàn bà quanh quẩn trong nhà, nếu không có gì để nhớ, mỗi một khắc trôi qua có khác nào giày vò. Lần này con trở về, hẳn cũng không ở lại lâu. Mắt thấy từng ngày từng ngày trôi qua, trong lòng mẹ vô cùng sốt ruột, nên hôm nay muốn hỏi con. Này Tần Nhi, rốt cuộc con đang nghĩ gì thế?”
“Mẹ...” Tô Tần đổi từ ngồi sang quỳ, cúi gục đầu xuống.
“Tần Nhi!” Tô Diêu thị khẽ xoa lên đầu con trai. “Con hãy nói thực lòng, là Tiểu Hỷ không xứng với con, hay là trong lòng con đã có người khác?”
Tô Tần vẫn cúi đầu không nói, nước mắt đầm đìa.
“Tần Nhi, con không nói thì trong lòng mẹ cũng đã rõ. Song con nghĩ đi cũng phải nghĩ lại, Tiểu Hỷ mặt nào cũng tốt, là đứa con dâu hiếu thảo, đừng nói là trong nhà mình, mà ngay cả hàng xóm láng giềng cũng không ai phàn nàn về nó điều gì. Khiếm khuyết duy nhất của nó là bị thọt, song đó không phải là lỗi của Tiểu Hỷ. Nói gì đi nữa, nó cũng là người của nhà ta, là con dâu cưới hỏi đàng hoàng của nhà ta. Trước đây con chưa thành tựu, có ngang bướng ra sao, mọi người cũng không nói đến. Nay con đã làm quan, nếu vẫn giống như ngày trước, bảo người khác nhìn con như thế nào đây?”
Tô Tần càng cúi đầu thấp hơn, không thốt lấy một lời.
“Than ôi!” Tô Diêu thị lại thở dài. “Tần Nhi, con không muốn nói thì thôi vậy! Cha con đã mất rồi, việc này hãy nghe lời mẹ, về tình về lý, con đều nên hoà hợp với Hỷ Nhi. Hỷ Nhi!”
Trong gian buồng phía đông chợt vang lên tiếng loạt soạt. Tấm rèm vải được vén lên, Tiểu Hỷ hai tay bưng mặt, tập tễnh bước ra khỏi cửa bên, quỳ xuống bên cạnh Tô Tần, nghẹn ngào: “Mẹ...”
Tiểu Hỷ thình lình bước ra khiến Tô Tần giật mình kinh ngạc, ngẩn ra một hồi mới dịch người tránh ra, lên giọng trách móc: “Sao nàng... lại ở đây?”
Tiểu Hỷ vùi mặt vào khuỷu tay, sụt sùi mà nói: “Tiện... tiện thiếp...”
Cả gian nhà bỗng nhiên lặng phắc.
Tô Tần đã kịp định thần, ngồi thẳng người lên, nghiêm sắc mặt mà nói với Tiểu Hỷ: “Chu Tiểu Hỷ, đúng như lời mẹ vừa nói, nàng hiền thục, chăm chỉ, có hiếu, là nàng dâu ngoan hiền của Tô gia. Ta sẽ nhận nàng!”
“Tướng... tướng công...” Tiểu Hỷ sung sướng đến trào nước mắt, cất giọng run rẩy.
“Mọi thứ trong nhà, thứ gì thuộc về ta thì cũng thuộc về nàng. Ta quanh năm vắng nhà, mẹ lại tuổi cao sức yếu, nàng hãy thay ta báo hiếu cho mẹ. Còn có con chó này...” Tô Tần đưa tay vỗ lên mình con Mực đang nằm bên chân, “vẫn để cho nàng chăm sóc như xưa. Nó chính là ta, ta chính là nó.”
Tiểu Hỷ sững sờ, ánh mắt dừng lại trên mình con Mực, nước mắt lăn dài.
“Còn nữa!” Giọng Tô Tần lạnh lẽo như băng. “Nàng có thể làm phu nhân của ta, song ta sẽ không bao giờ chung phòng với nàng, nàng cũng từ bỏ ý nghĩ này đi! Nàng đã tình nguyện gả vào Tô môn thì hãy làm con dâu của Tô gia. Không phải ta có lỗi với nàng, mà chính là nàng đã lựa chọn như vậy!” Nói đoạn quay sang Tô Diêu thị. “Mẹ, đã muộn rồi, mẹ hãy nghỉ ngơi cho sớm. Nếu không còn việc gì nữa, con đi đây!” Lời còn chưa dứt, người đã đứng dậy, sải bước ra thẳng ngoài sân.
Tai nghe tiếng bước chân ngoài cổng mỗi lúc một xa, cho đến khi tứ bề lại lặng phắc như cũ, Tiểu Hỷ mới như choàng tỉnh khỏi cơn ác mộng, chúi người vùi đầu vào lòng Tô Diêu thị, gào lên một tiếng dài thê thiết: “Mẹ...”
Từ trong nhà đi ra, Tô Tần cứ thế đi thẳng về doanh trại, chợt thấy anh cả Tô Lệ, em ba Tô Đại một người bên trái một người bên phải, đang ngồi chồm hỗm trước cổng chờ đợi. Thấy Tô Tần tiến lại, hai người bèn đứng dậy, chẳng nói chẳng rằng đi theo Tô Tần vào trong. Tô Tần ngồi xuống trước bàn, vừa định lên tiếng, bỗng nghe từ phía xa vọng lại tiếng bước chân, rồi công tử Ngang và một thầy lang hối hả tiến lại. Công tử Ngang bảo thầy lang đợi bên ngoài, còn mình sải bước vào trong, vừa đi vừa gọi ông ổng: “Tô Tử, lão phu nhân ngọc thể sao rồi?”
Tô Tần nhìn hắn sắc mặt lo lắng, song hai mắt sáng rực, biết rằng hắn chỉ mong ở đây có chuyện, bất giác cười nhạt, chỉ vào vị trí đối diện, nói: “Công tử đấy ư, mời ngồi!”
Công tử Ngang nhìn chằm chằm vào Tô Tần một hồi, rồi chậm rãi ngồi xuống chiếu: “Nhìn sắc mặt của Tô Tử, hẳn lão phu nhân... không sao?”
“Mẹ... mẹ làm sao?” Tô Lệ, Tô Đại mặt đều biến sắc, đồng thanh hỏi.
Tô Tần xua xua tay, gượng cười một tiếng: “Không sao, chẳng qua là muốn trò chuyện với em mà thôi!”
Tô Lệ, Tô Đại đều thở phào nhẹ nhõm.
“Tốt quá!” Công tử Ngang ngẩn ra một thoáng, bèn cười cười tiếp lời. “Không sao thì tốt quá! Tại hạ vốn đã đi nghỉ, nghe nói lão phu nhân khó ở, lập tức cho gọi thầy lang tới ngay!” Rồi quay ra ngoài cửa. “Không sao cả, ông về đi!”
Thầy lang “vâng” một tiếng, quay người bước đi.
Tô Tần ôm quyền hướng vào công tử Ngang, nói: “Chuyện của gia mẫu, đã khiến công tử phải nhọc lòng!”
“Tô Tử nói gì vậy?” Công tử Ngang đáp lễ, tiện thể vòng tay hành lễ với Tô Lệ, Tô Đại. “Hai vị huynh đệ, hãy nói thử xem, lão phu nhân cả đời vất vả, cuối cùng cũng đợi được đến ngày nở mày nở mặt, có thể hưởng mấy bữa phúc nhàn, làm sao lại để xảy ra chuyện bất trắc cho được?”
“Không nói chuyện này nữa!” Tô Tần cắt lời. “Công tử cũng đến thật đúng lúc, tại hạ vừa hay có chuyện quan trọng muốn bàn cùng công tử!”
“Tô Tử cứ nói!”
“Hợp tung mới bắt đầu, trăm việc còn đang bề bộn, tại hạ lại vì bận bịu việc nhà, để lỡ đại sự, trong lòng thực không yên tâm. Nay gia phụ đã mai táng xong xuôi, ở đây không còn việc gì quan trọng nữa, tại hạ muốn...”
Công tử Ngang xua tay cắt lời Tô Tần: “Hiện tại mộ phần còn chưa xây xong, phủ mới vẫn chưa hoàn thành, Tô Tử sao có thể đi được? Hơn nữa, bốn mươi chín ngày là lễ cúng quan trọng cho lệnh tôn, hôm qua tại hạ đã hiểu dụ liệt quốc, tổ chức lễ cúng long trọng cho lão tiên sinh. Lúc đó, liệt quốc đều tới viếng tang, Tô Tử lại vắng mặt, sao có thể được?”
Tô Tần thở dài sườn sượt: “Than ôi...”
Công tử Ngang liền đổi mặt tươi cười: “Này Tô Tử! Tô Tử từ sáng tới tối mặt ủ mày chau, có thấy mệt không? Tại hạ kể cho Tô Tử nghe một chuyện vui để giải sầu nhé! Chiều nay, Tây Chu Công sai người tới, mang tặng chín cây gỗ tử đàn. Có biết vì sao lão lại tặng gỗ tử đàn không? Chúng ta xây nhà dựng phủ ở đây, rầm rộ ồn ào, khiến Chu thất trên dưới không ai không kinh động, có tiền góp tiền, có sức góp sức, duy có Tây Chu Công không chịu bỏ ra một xu. Tại hạ rất đỗi bực mình, dò la biết được lão ta có giấu chín cây gỗ tử đàn trong cung, đều to tày một vòng ôm, dài chừng hai trượng, thì nảy ra một ý, sai tham tướng tới tận nhà hỏi mua. Lão già này lại không biết điều, nhất quyết không bán, nói rằng mấy cây gỗ tử đàn đó mua về từ nước Sở, chuẩn bị để năm tới tu sửa cung thất. Tại hạ giận điên người, bèn báo với lão ta một tin, nói rằng hơn một vạn binh mã hợp tung suốt một tháng qua vẫn đóng quân ở Đông Chu, dường như có vẻ thiên vị, sắp tới sẽ tới Tây Chu đồn trú vài ngày, bảo lão ta liệu mà lo thu xếp. Lão già hoảng quá, liên sai người tới báo tin, nói là muốn dâng tặng mấy cây gỗ, không lấy một đồng, coi như lễ vật chúc mừng. Ha ha ha... Xây dựng cung điện, tử đàn là loại gỗ thượng hạng, mỗi cây chí ít cũng đáng giá mười lượng vàng, chỉ riêng món này, chúng ta cũng đã tiết kiệm được cả trăm lượng!”
Tô Tần kinh ngạc: “Chuyện này sao có thể được?” Rồi lập tức quay sang Tô Đại. “Em ba, sáng sớm mai, em hãy tới ấp Hà Nam một chuyến, vào cung Tây Chu yết kiến Tây Chu Công, nói rằng nhà ta cảm tạ ý tốt của ông ta. Nhà ta chỉ xây nhà dân, không dùng đến gỗ tử đàn, dặn ông ta không cần mang tới. Nhớ rằng phải nói năng lễ phép, cảm tạ đàng hoàng, không được gây thêm phiền phức!”
Tô Đại gật đầu vâng lời, miệng ấp úng: “Anh hai...”
Tô Tần chợt nhớ lại bộ dạng của hai người họ khi nãy, đoán rằng hẳn là có chuyện, bèn hỏi: “Có việc gì vậy?”
“Em... em...” Tô Đại ấp úng, rồi cúi gằm mặt xuống.
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Em ba, nếu không có việc gì gấp, để ngày mai hãy nói.”
“Anh hai, em... em không muốn làm... làm ruộng nữa!”
“Không làm ruộng, em muốn làm gì?”
“Nghe nói anh hai học được bản lĩnh từ Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng, em... em cũng muốn đi, xin anh hai hãy cầu xin giúp trước Quỷ Cốc tiên sinh.”
Tô Tần phì cười mà nói: “Chuyện này không được! Tiên sinh từ lâu đã không nhận đệ tử nữa!”
“Vậy...” Tô Đại sốt sắng, “em sẽ theo học anh hai!”
Tô Tần không đáp lời hắn, mà chuyển ánh nhìn sang Tô Lệ: “Anh cả, anh có việc gì?”
Tô Lệ cười hiền lành: “Chị dâu em mấy hôm trước giấu anh lén mua hai mươi thửa ruộng ở đất Đông Chu, mua xong mới biết là dại.”
“Dại thế nào?”
“Đất đó toàn là ruộng nước thượng đẳng, nhiều mương lạch, thích hợp trồng lúa nước. Lúa nước đắt lúa mạch rẻ, chị dâu em thích nó cũng là vì thế. Nhưng chị dâu em lại không lường trước được rằng, thế đất là phía tây cao, phía đông thấp, nước ở Đông Chu đa phần chảy lại từ đập chắn nước trên thượng lưu Lạc Thuỷ. Mấy năm nay, hai vị Chu Công bất hoà, Tây Chu Công sai người canh giữ đập nước, vào mùa hạn hán nhất quyết không tháo cho một giọt, vào mùa mưa lại xả ầm ầm, khiến ruộng lúa tốt đành phải bỏ không. Nếu không phải do vậy, làm gì có chuyện người ta bán rẻ ruộng tốt? Chị dâu em không hiểu, vừa thấy rẻ đã vội vàng mua ngay. Mua xong, nghe anh giải thích mới hiểu ra, hối hận khóc lóc suốt cả ngày trời, bảo anh tới cầu xin em, nói rằng em có uy thế, liệu có thể nói vài lời trước Tây Chu Công, để ông ta xả nước đúng thời vụ, anh chị đồng ý trả thêm tiền nước. Nếu không, ruộng tốt thế này lại đổi thành ruộng cạn thì thật đáng tiếc!”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát rồi quay sang Tô Đại: “Em ba, vừa rồi em nói muốn theo học anh hai, hiện giờ còn muốn học nữa không?”
Tô Đại hấp tấp đáp lời: “Muốn, muốn, muốn, trong mơ cũng muốn!”
“Anh theo tiên sinh tu học tài miệng lưỡi, chỉ dựa vào miệng lưỡi để kiếm cơm. Nếu em muốn học, chỉ có thể học cái này.”
“Anh hai bảo em học gì thì em học nấy!”
“Được thôi! Có điều, nếu em muốn học, anh cũng phải xem em có tố chất hay không. Ngày mai đi bái kiến Tây Chu Công, nếu em có thể nhân tiện giải quyết êm xuôi chuyện của anh cả thì anh sẽ nhận em.”
Tô Đại sững sờ kinh ngạc: “Tây Chu Công chỉ hận không bóp chết được Đông Chu Công, làm gì có chuyện nghe lời em?”
“Còn phải xem em nói năng thế nào!”
“Anh hai!” Tô Đại vò đầu bứt tai. “Em biết nói gì đây?”
“Sau khi gặp mặt, trước hết em hãy hết lời ca ngợi Tây Chu Công, nói rằng ông ta là người đại đức.” Tô Tần khép mắt lại, giống như đang giảng bài cho trẻ nhỏ. “Ông ta sẽ hỏi em dựa vào đâu mà nói vậy, em hãy trả lời rằng, nghe nói Đông Chu và Tây Chu bất hoà, Đông Chu Công bạc tình bạc nghĩa, song chúa thượng lại lấy đức báo oán, nhiều lần ban ân cho Đông Chu, nên có đại đức. Tây Chu Công đương nhiên sẽ băn khoăn, và nói rằng ông ta chưa từng nghĩ tới chuyện ban ân cho Đông Chu. Lúc này em hãy nói, ông ta không tháo nước cho Đông Chu chính là đã ban ân rồi. Tây Chu Công nghe vậy, ắt sẽ ngạc nhiên, lúc này em hãy nói rằng, không tháo nước vào Đông Chu, chính là làm giàu cho dân Đông Chu. Vài trăm năm qua, dân Đông Chu chỉ biết trồng lúa nước, không biết trồng các loại ngũ cốc khác. Tây Chu Công không tháo nước, dân Đông Chu không thể trồng lúa nước, đành phải chuyển sang trồng lúa mạch, lúa tẻ, dâu đay, học đủ các nghề mưu sinh, không phải cầu xin Tây Chu nữa. Tây Chu Công ắt sẽ nhờ em hiến kế. Ông ta sẽ nói rằng ông ta và Đông Chu Công ở thế đối đầu, phải làm sao mới gây bất lợi cho Đông Chu? Em hãy trả lời rằng, cứ vào mùa trồng lúa nước thì tháo nước vào Đông Chu, dân Đông Chu hễ thấy nước, ắt sẽ trồng lại lúa nước. Lúc này chúa thượng phao tin thu nước, dân Đông Chu còn ai dám không dựa dẫm vào chúa thượng?”
Nghe được những lời này, đám người đều tấm tắc khen “diệu kế”. Mọi người trò chuyện cười nói một hồi, Tô Lệ, Tô Đại mặt mày hớn hở ra về. Công tử Ngang thấy trời đã muộn, cũng đứng dậy cáo từ. Tô Tần tiễn ra ngoài trại, đang định quay trở vào, bỗng từ xa nhìn thấy có vài người cầm đèn lồng tiến lại gần.
Người đi đầu chính là Lâu Hoãn.
Mấy ngày nay, công tử Ngang lúc nào cũng kè kè bên cạnh, không những nghĩ ra đủ chuyện vặt vãnh để trói chân Tô Tần, lại còn thay mới toàn bộ thuộc hạ của Tô Tần, chỉ giữ lại Trâu Phi Đao đi theo bảo vệ. Tô Tần đã mất hết tai mắt, chẳng hay biết gì về tin tức bên ngoài. Nhìn thấy Lâu Hoãn tìm đến, Tô Tần mừng không kể xiết, bèn nắm tay Lâu Hoãn dắt vào trong trại, vội vã hỏi ngay: “Lâu Tử, nói đi, tình hình bên ngoài thế nào rồi?”
“Than ôi!” Lâu Hoãn khẽ thở dài một tiếng. “Quân hợp tung sắp sửa tấn công Hàm Cốc. Trong số các nước hợp tung, chỉ có quân Triệu chưa tới. Bàng Quyên lấy danh nghĩa chủ tướng quân hợp tung nhiều lần giục giã, chúa thượng lấy làm khó xử. Phát binh, thì trái với mong muốn; không phát binh, lại e ảnh hưởng tới đại cục hợp tung. Chúa thượng không biết làm thế nào cho phải, nên mới phái tại hạ tới hỏi ý kiến Tô Tử, đi hay không, sẽ do Tô Tử quyết định.”
Tô Tần chau tít đôi mày.
“Sự việc đã rất nguy cấp. Bàng Quyên đã di chuyển doanh trại tới Thiểm Thành, đang điều binh khiển tướng. Quân Tề, Sở, Hàn đều đã nhổ trại, Bàng Quyên ra lệnh trong vòng mười ngày phải tới Hổ Lao, men theo Hà Thủy tiến về phía tây, hội quân với Ngụy, Yên đã lên đường trước đó tại Thằng Trì, tiến đánh Hàm Cốc.”
“Ty hợp tung còn có ai không?”
“Không còn ai!”
“Phía Điền đại nhân thế nào?”
“Chủ tướng quân Tề là Điền Anh Điền đại nhân đã quay về. Công tử Chương bị Hàn Hầu triệu về, công tử Như theo Sở Vương về Sính. Công tôn Khoái cũng gấp rút về Yên mấy hôm trước, dường như có chuyện gì đó rất gấp. Than ôi, mới trước đó còn đông đảo là thế, Tô Tử vừa bước chân đi, người ở lại đã tan đàn xẻ nghé!”
Tô Tần nhấp một ngụm trà, khẽ thở dài một tiếng, lắc đầu cười khổ.
“Tô Tử!” Ánh mắt Lâu Hoãn đầy vẻ hoài nghi. “Tại hạ xin hỏi một chuyện, người Tần thực sự không thể đánh ư?”
“Ý Lâu Tử thế nào?”
“Tại hạ cho rằng, từ ngày Tần Hiếu Công trọng dụng Thương Ưởng tới nay, người Tần đồ cường, Tam Tấn đều phải chịu khổ, người Sở bị hại cũng nhiều. Liệt quốc đều oán Tần, Tần đã thất đạo trong thiên hạ. Tô Tử khởi xướng hợp tung, mục đích là chế Tần, nên thiên hạ mới hưởng ứng. Nay thiên hạ đã hợp, quân chủ liệt quốc đều nói phạt Tần, quân đội hợp tung khí thế hừng hực, có lẽ chính là thời cơ tốt để phạt Tần. Tô Tử không tiến lại lui, không vui lại buồn, tại hạ thực sự không hiểu. Dám hỏi Tô Tử lo lắng điều gì?”
“Phạt Tần thất bại!”
“Ý Tô Tử là, lần phạt Tần này không thể thủ thắng?”
“Tình thế trên chiến trường biến đổi khôn lường, dù là Tôn Vũ Tử cũng không dám khẳng định chuyện thắng bại khi chưa giao chiến.”
“Đã không thể chắc chắn, Tô Tử nên vui buồn ngang nhau mới phải. Nhưng nhìn vẻ âu lo của Tô Tử, rõ ràng dữ nhiều lành ít.”
“Dù lành hay dữ, tại hạ đều khó lòng vui được, bởi vậy nên mới lo buồn.”
“Tại hạ càng không hiểu. Nếu phạt Tần thắng lợi, Tô Tử còn buồn gì đây?”
“Nếu giành thắng lợi, sáu nước có lẽ sẽ tiêu diệt nước Tần. Khác với nước Việt, nước Tần của cải dồi dào, thế đất hiểm trở, dân giàu nước mạnh, sáu nước tất sẽ sinh ra tranh chấp vì chia chác không đều. Lúc này, không những hợp tung đổ vỡ, mà thiên hạ sẽ lại rơi vào hỗn chiến, từ đó mất đi tông chỉ của hợp tung. Còn nếu như thất bại, kết cục thế nào, tại hạ không cần nói nữa. Lâu Tử biết đấy, thiên hạ mới hợp, các nước hợp tung đã không thể thắng, lại càng không thể bại!”
Lâu Hoãn lúc này đã hiểu ra sự tình nghiêm trọng, mồ hôi lạnh rịn đầy lưng áo: “Theo ý Tô Tử, nên làm thế nào mới phải?”
“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Ngụy Vương nóng lòng báo thù, Bàng Quyên nóng lòng lập công, nhất quyết kéo đại nghiệp hợp tung xuống hầm lửa. Tại hạ đơn thương độc mã, lại bị công tử Ngang kè kè giữ chặt, muốn đi cũng không xong. Lâu Tử tới thật đúng lúc, có thể tiếp ứng cho tại hạ.”
“Tô Tử muốn đi đâu?”
“Cầu kiến Bàng Quyên!”
Hồi Thứ 51
Cung đình đại biến, Cơ Tuyết đối đầu thái tử
Đường xa khẩn cấp, Tô Tần cứu loạn cung Yên
Tô Tần chỉ mang theo Trâu Phi Đao, thay trang phục thường ngày, lẩn tránh tai mắt do công tử Ngang bố trí, nhân lúc đêm tối âm thầm rời khỏi thôn Hiên Lý, chạy thẳng tới doanh trại
quân Ngụy. Khi qua Hào Quan, trước mắt chỉ thấy cảnh quân Ngụy kìn kìn áp tải xe quân nhu, rầm rập đầy đường, nối đuôi không dứt. Do là đường núi, xe ngựa lại nhiều, hai người họ hết tránh né lại phải nhường đường, lúc nhanh lúc chậm, mãi đến buổi chiều ngày thứ ba mới tới nơi.
Hai người tới đại doanh của Bàng Quyên, Tô Tần trình bái thiếp, Bàng Quyên tránh mặt không gặp, lấy lý do đang ở bên ngoài thị sát quân tình. Tô Tần đợi hai ngày liền, Bàng Quyên vẫn không chịu gặp. Trâu Phi Đao muốn xông vào, Tô Tần ngăn hắn lại, bảo quay trở về theo đường cũ, tới thẳng Đại Lương bái kiến Ngụy Vương. Khi sắp tới Tỵ Thuỷ quan, phía sau bỗng có vài kỵ sĩ đuổi tới, người đi đầu từ xa đã lớn tiếng gọi: “Trâu huynh! Trâu huynh!”
Trâu Phi Đao vội ghìm cương ngựa, quay đầu lại nhìn, kinh ngạc kêu lên: “Viên huynh!”
Người này chính là Viên Báo.
Tô Tần xuống xe, Viên Báo thở hổn hển chạy lại, vòng tay mà nói: “Chúa công, cuối cùng cũng tìm thấy chúa công!”
Tô Tần vội hỏi: “Viên huynh, xảy ra chuyện gì vậy?”
Viên Báo chỉ tay vào một người ở phía sau: “Hắn là Thiệu Thông, thuộc hạ cũ của tại hạ, hiện vẫn đang làm việc trong cung, đảm đương chức vị trước đây của tại hạ. Phụng mật chỉ của phu nhân, trình thư cấp báo lên chúa công!”
Thiệu Thông dập đầu nói: “Mạt tướng Thiệu Thông khấu kiến tướng quốc đại nhân!” Rồi cởi áo ngoài, xé rách lớp lót trong, lấy ra một bức mật thư, hai tay trình lên: “Mật thư của phu nhân, mời tướng quốc đại nhân xem!”
Tô Tần bóc mật thư, bên trong là một tấm khăn lụa, vừa mở ra, một luồng hàn khí đã xộc thẳng lên não, bất giác rùng mình run bắn, gần như đứng không vững.
Là huyết thư!
Là bức huyết thư do Cơ Tuyết đã cắn đấu ngón tay, nặn máu tươi thay mực, từng nét từng nét viết thành. Trong thư không một lời phân trần, chỉ vẻn vẹn bốn chữ: “Đến mau! Cơ Tuyết.”
Tô Tần gấp bức huyết thư lại, hơi khép mắt, đứng đờ tại chỗ.
Không biết đã trôi qua bao lâu, thấy Tô Tần vẫn đứng im bất động, Trâu Phi Đao sốt ruột, khẽ gọi: “Chúa công?” Tô Tần lúc này mới bàng hoàng bừng tỉnh, mắt nhìn Thiệu Thông không chớp: “Thiệu tướng quân, phu nhân giao cho tướng quân bức thư này trong tình cảnh nào?”
Thiệu Thông bẩm báo: “Ngay đêm chúa thượng hồi cung, đã băng hà tại ngự thư phòng. Điện hạ nối ngôi, quay mặt về nam xưng vương, ban lệnh giới nghiêm trong cung. Tới phiên trực của mạt tướng, Mai cô nương bí mật tới triệu mạt tướng vào. Mạt tướng bái kiến phu nhân, phu nhân bèn lấy ra một bức thư, tự tay khâu vào lớp áo trong của mạt tướng, dặn mạt tướng cải trang ra khỏi thành, tới Hàm Đan tìm Viên tướng quân, chuyển thư này đến tướng quốc đại nhân. Mạt tướng sợ làm lỡ việc lớn của phu nhân, lập tức gọi thêm hai người bạn thân tới, gấp rút đi suốt ngày đêm tới Hàm Đan, sau đó lại cùng Viên tướng quân tìm đến Lạc Dương, rồi đuổi tới đây.”
Nghe nói Văn Công băng hà, Tô Tần mặt biến sắc, người hơi lảo đảo một chốc, song gắng gượng trấn tĩnh lại được, rồi trầm giọng hỏi: “Chúa thượng đang khoẻ mạnh, cớ sao lại băng hà?”
“Mạt tướng không biết! Mạt tướng nghe nói vào đêm chúa thượng trở về, đã thông đêm triệu kiến triều thần và thái tử trong cung Minh Quang, sáng hôm sau thì có tin chúa thượng băng hà. Điện hạ lập tức lên ngôi, chiếu lệnh Kế Thành giới nghiêm, toàn quốc để tang.”
“Khi phu nhân triệu kiến tướng quân, thần sắc thế nào?”
“Vô cùng bình thản, giọng nói cũng rất từ tốn. Khi khâu bức mật thư này, từng đường kim mũi chỉ chậm rãi, không hề thấy có chút hoảng loạn. Chỉ khi mạt tướng chuẩn bị lên đường, phu nhân mới tỏ ra hơi lo lắng, dặn đi dặn lại mạt tướng phải đích thân giao thư này cho đại nhân, càng nhanh càng tốt.”
Tô Tần khép hai mắt lại.
“Đại nhân!” Thiệu Thông thoáng ngần ngừ. “Mạt tướng không dám đoán bừa, chi cảm thấy sự tình quái lạ. Chúa thượng hồi cung, trước sau đều do mạt tướng hộ tống. Khi chúa thượng xuống xe, mạt tướng bước lại định đỡ thì chúa thượng vung tay gạt ra, tự mình xuống xe. Mạt tướng nhìn thần sắc của chúa thượng, tuy cũng mỏi mệt, song không có vẻ gì đáng ngại. Thật không thể ngờ lại lập tức băng hà ngay trong đêm đó!”
“Ý tướng quân là, chúa thượng...” Tô Tần dừng lại, chau mày đăm chiêu.
“Mạt tướng không dám!” Thiệu Thông run bắn người.
Tô Tần liếc mắt nhìn bức huyết thư, hỏi: “Ngoài việc này, cung Kế còn chuyện gì khác không?”
“Sứ Tần Sư Lý Tật xin kết thông gia, điện hạ đã đồng ý, sai người sang Tần đón dâu. Nghe trong cung đồn thổi, điện hạ có ý lập công chúa nước Tần làm phu nhân!”
Tô Tần trong người lạnh toát, bàn tay cầm bức huyết thư run bắn lên, rồi quay người lại, gắng gượng leo lên xe.
“Chúa công?” Trâu Phi Đao tung người nhảy lên xe, ngoảnh đầu lại hỏi.
Từ miệng Tô Tần bật ra hai chữ: “Kế Thành!”
Trong cung Cam Đường tại Kế Thành, Cơ Tuyết mình mặc áo tang quỳ lặng phắc trước linh vị của lão Yên Công. Linh đường của Yên Công được bày ở chính điện, song Cơ Tuyết nhất quyết không tới đó. Yên Dịch Vương, tức thái tử Tô vừa xưng vương cách đấy chưa lâu, mới lên ngôi được một hôm đã lập ngay Cơ Tuyết làm thái hậu, do không thể lay chuyển ý nàng, đành phá lệ ân chuẩn cho nàng lập án thờ tại cung Cam Đường.
Trước linh đường đặt một bát canh sâm còn non nửa, là bát canh sâm mà lão Yên Công đã uống trước lúc lâm chung. Ngay đêm lão Yên Công vừa về tới cung, đã lập tức triệu kiến thái tử tại cung Minh Quang, cho tới sáng hôm sau vẫn không thấy quay về. Cơ Tuyết suốt đêm không ngủ được, trời vừa tảng sáng đã sai Xuân Mai đi dò la, không ngờ phát hiện thấy lão Yên Công một mình ngồi bất động trên ngai vàng, đã tắt thở, trên ngự án trước mặt là bát canh sâm còn non nửa. Xuân Mai là người thông minh, vội giấu ngay bát canh đi rồi mới hô hoán lên, sau đó nhân lúc hỗn loạn, cất vào trong ống tay áo, mang về cung Cam Đường.
Lão Yên Công qua đời một cách bất thường, khiến Cơ Tuyết ngờ rằng là do thái tử hãm hại. Trước đó, lão Yên Công không dưới một lần bàn với nàng chuyện phế bỏ thái tử Tô, trực tiếp truyền ngôi cho cháu trai công tôn Khoái, song Cơ Tuyết lo lắng nước Yên sẽ rơi vào nội loạn, nên đã nhiều lần khuyên can Yên Công, muốn ông đợi thêm một thời gian nữa. Hẳn là chuyện này đã tới tai thái tử Tô, nên hắn mới ra tay tàn độc. Cơ Tuyết đoán rằng, nhân lúc mình và lão Yên Công tới Mạnh Tân, thái tử lâm triều, hắn đã sắp xếp trù bị sẵn sàng. Nếu không phải vậy, dựa vào tính cách của hắn, tuyệt đối không dám ngang nhiên trái chỉ, độc đoán tự quyết, chấp thuận hôn ước của người Tần.
Giờ thì xem ra, là nàng đã quá ngây thơ. Lão Yên Công nói đúng, thái tử Tô là hạng tiểu nhân, không thể đảm đương trọng trách, càng không thể giao phó nước Yên cho hắn. Lão Yên Công chết oan uổng, người có thể vạch trần bộ mặt của thái tử Tô với người Yên, chỉ có thể là nàng. Nàng phải đứng lên, một là để an ủi oan hồn của lão Yên Công, hai là để thực hiện nguyện vọng của lão Yên Công lúc sinh thời, ba là cứu nước Yên thoát khỏi cơn nguy ngập.
Tuy nhiên, hiện tại ván đã đóng thuyền, thái tử Tô khống chế hoàn toàn cục trong ngoài, trong cung trong triều đều là người của hắn. Nàng chẳng qua là phận nữ nhi yếu đuối, nếu không có đủ chứng cứ, nếu không có thời cơ thích hợp, dứt khoát không thể liều lĩnh.
Chứng cớ chính là bát canh sâm!
Cơ Tuyết đang nhìn đờ đẫn vào bát canh thì Xuân Mai tất tả bước vào, hạ giọng bẩm báo: “Công chúa, nô tỳ đã về!”
Cơ Tuyết sốt sắng nhìn Xuân Mai: “Mai Nhi, nói mau!”
Xuân Mai lôi từ trong ống tay áo một chiếc lọ nhỏ, sắc mặt lộ vẻ thất vọng: “Hồi bẩm công chúa, trời vừa sáng, nô tỳ đã lặng lẽ ra hậu hoa viên, cải trang làm người đưa sữa lẻn ra phố bằng lối cửa sau, âm thầm tìm tới vài thầy thuốc. Họ đều kiểm tra kỹ lưỡng, nói rằng chỉ là canh sâm, bên trong không có độc tố.”
Cơ Tuyết sững sờ.
“Công chúa!” Xuân Mai từ từ đổ canh sâm từ trong lọ vào lại bát. “Bát canh sâm này đúng là ma quái!”
Cơ Tuyết ngẩng đầu nhìn Xuân Mai.
“Nô tỳ cho rằng, đây là bát canh sâm mà điện hạ cố tình để lại cho chúng ta. Điện hạ biết công chúa chắc chắn sẽ sai nô tỳ tới tìm chúa thượng, nên đã đặt sẵn bát canh sâm này tại hiện trường. Còn bằng chứng thực sự, chắc chắn điện hạ đã mang đi rồi.”
Cơ Tuyết mặt trắng bệch, kết quả này hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của nàng. Xem ra, nàng đã đánh giá thấp hắn, cũng đã đánh giá cao hắn. Đánh giá thấp sự mưu mô xảo trá của hắn, mà đánh giá cao lương tâm của hắn.
“Công chúa, chắc chắn là điện hạ đã hại chúa thượng. Chúa thượng sức khoẻ có yếu đến mấy, song đêm đó vẫn tự mình đi tới được tiền điện. Hơn nữa, chúa thượng sớm tối ra ngoài, lúc nào cũng có lão nội thần kè kè bên cạnh như hình với bóng. Tuy nhiên, sáng hôm đó, chúa thượng lại chỉ có một thân một mình, lão nội thần và hai thái giám tuỳ tùng tới nay vẫn không thấy tung tích, hẳn cũng đã bị hãm hại mất rồi!”
Cơ Tuyết nghiến chặt hàm răng.
“Công chúa, giờ phải làm thế nào? Điện hạ...”
Lời nói vừa dứt, cung chính đã bước vào, cuống quýt bẩm báo: “Bẩm thái hậu, đại vương giá lâm!”
Cơ Tuyết còn chưa kịp truyền lời, đã nghe thấy tiếng bước chân sầm sập, Yên Dịch Vương mình mặc hiếu phục sải bước tiến thẳng vào, phía sau là lão nội thần và vài thái giám của hắn.
Dịch Vương đứng lại trước mặt Cơ Tuyết, khẽ vái mà nói: “Quả nhân bái kiến thái hậu!”
Cơ Tuyết liếc nhìn hắn, ánh mắt lạnh như băng.
Dịch Vương di chuyển ánh mắt tới linh vị của Văn Công, dừng lại trên bát canh sâm. Nhìn một lát, Dịch Vương đưa tay bưng bát lên, thần sắc quái đản, nói: “Thái hậu đúng là người cẩn thận, đây là bát canh cuối cùng mà tiên quân đã uống, đặt ở đây cũng là thích hợp. Tuy nhiên...” Ghé mũi lại gần, hít ngửi vài cái, làm ra vẻ buồn nôn. “Canh này đã có mùi rồi, e là không còn hợp khẩu vị của tiên quân nữa!”
Ánh mắt Cơ Tuyết càng thêm lạnh lẽo.
“Thái hậu!” Dịch Vương cười nhạt một tiếng. “Quả nhân tới đây, là muốn thỉnh an người, vậy mà người lại không hề có vẻ thân thiện!”
Giọng Cơ Tuyết lạnh ngắt như phát ra từ sông băng: “Người nói xong chưa?”
“Chưa!” Dịch Vương đủng đỉnh ngồi xuống vị trí chủ, chỉ tay vào nội thần. “Quả nhân và thái hậu nghị sự, các ngươi cũng xứng để nghe ư? Lui ra!”
Cung chính, nội thần, đám thái giám và cung nữ đều lui cả ra, chỉ có Xuân Mai vẫn đứng im không nhúc nhích, thản nhiên nhìn hắn.
“Ồ, ngươi muốn kháng chỉ?” Dịch Vương cao giọng quát hỏi.
Cơ Tuyết bèn nói: “Mai Nhi, lui ra đi!”
Xuân Mai lại nhìn Dịch Vương lần nữa, rồi mới lui ra. Nội thần canh cửa tiện tay khép cửa lại.
“Hờ hờ!” Dịch Vương cười gượng gạo vài tiếng. “Quả nhân gọi người là mẫu hậu đã nhiều năm qua, giờ đây lại không biết xưng hô với người thế nào cho phải. Nếu vẫn gọi người là mẫu hậu, thứ nhất người không phải là mẫu thân của quả nhân, thứ hai người kém quả nhân những mười lăm tuổi, chỉ bằng tuổi trưởng nữ của quả nhân, bảo quả nhân mở miệng thế nào đây?”
Cơ Tuyết vẫn lạnh lùng nhìn hắn.
“Ồ, phải rồi!” Dịch Vương sắc mặt âm hiểm, lại cười vài tiếng. “Quả nhân đã phong người làm thái hậu, nên gọi người là thái hậu mới phải. Thái hậu là gì? Thái là đại, là lớn, còn hậu là gì, hẳn là quả nhân không cần phải giải thích thêm!”
“Cơ Tô, có chuyện gì cứ nói thẳng ra!”
“Quả nhân không có chuyện gì, chỉ muốn bàn bạc về cách xưng hô sau này mà thôi. Quả nhân có một ý này, xin người hãy nghe. Trước mặt mọi người, cũng chính là trước triều đường, quả nhân kính người là thái hậu. Còn sau lưng mọi người, cũng chính là ở đây, trong cung Cam Đường này, quả nhân sẽ gọi người là Tuyết Nhi!”
“Ngươi...” Cơ Tuyết toàn thân run bắn, ánh mắt như toé lửa. “Ngươi nhắc lại xem!”
Dịch Vương chậm rãi đứng dậy, nụ cười gian xảo hiện trên nét mặt: “Lời vàng không nói hai lần!”
Yên Dịch Vương chầm chậm tiến lên phía trước.
Cơ Tuyết lập tức đứng bật dậy, cơn giận bùng lên ngùn ngụt, lùi liền vài bước. Khi lùi tới trước linh đường, không còn chỗ để thoái lui, Cơ Tuyết bèn quay phắt người lại, tiện tay nhấc lấy một chiếc lư đồng đang đốt hương nghi ngút trên án, rít qua kẽ răng: “Ngươi là đồ súc sinh!”
Yên Dịch Vương sửng sốt, vội vã lùi lại vài bước, thấy Cơ Tuyết mắt quắc lên giận dữ, không lùi mà tiến, cứ thế áp sát lại gần, thì vừa lùi vừa lắp bắp: “Ngươi... dám...”
Cơ Tuyết dừng bước, xoay nghiêng người chỉ vào bài vị của lão Yên Công, đanh giọng quát lớn: “Súc sinh, mở to mắt mà nhìn xem, đây là gì? Tiên quân vẫn đang ở đây, tiên quân đang nhìn ngươi đó!”
Dịch Vương lắp bắp: “Ngươi... ngươi dám mắng...”
Cơ Tuyết gằn từng chữ: “Súc sinh! Giết chúa soán ngôi, khinh nhờn linh vị của tiên quân trên trời, ngươi còn không xứng để chửi mắng! Bản cung nói cho ngươi biết, nếu còn có suy nghĩ bất kính...” thẳng tay ném đánh “choang” lư hương xuống nền gạch, “ta và ngươi đồng thời bỏ thây, máu phun năm bước!”
“Được! Được lắm!” Dịch Vương mặt cắt không còn hạt máu, nghiến chặt hàm răng. “Ngươi dám uy hiếp quả nhân ư?” Rồi nổi giận đùng đùng, ngoắt người đi ra phía cửa cung, tới cửa còn ném lại một câu. “Đồ ngựa hoang, nghe đây! Ở nước Yên, ở Kế Thành, và ở trong cung thành này, tất cả đều phải nghe theo lời quả nhân! Quả nhân muốn làm việc gì, trời cũng không cản được! Quả nhân gọi ngươi là Tuyết Nhi, thì ngươi phải là Tuyết Nhi!” Rồi cười gằn vài tiếng, nghênh ngang bước đi.
Sau khi bị dội gáo nước lạnh tại cung Cam Đường, Dịch Vương trở về hằm hằm giận dữ, ngồi phịch xuống ngai vàng, hồi lâu vẫn không nói được tiếng nào.
Mấy ngày nay, Dịch Vương cầu được ước thấy, đi liền vài nước cờ lớn, đều đã thành công. Dưới sự trợ giúp của đám trọng thần tâm phúc như thái phó, ngự sử, đại tư mã, nhân lúc Tử Chi, Văn Công và quần thần trong triều tới dự hội thề ở Lạc Dương, đã kiếm cớ tăng cường phòng ngự biên cương, trước hết điều động Chử Mẫn và vài trọng thần “không nghe lời” ra khỏi Kế Thành, tới các quận bên ngoài, cất nhắc một loạt thân tín, khống chế toàn bộ đại quyền trong triều, sau đó độc đoán tự quyết, kết thông gia với Tần, một mạch kín kẽ, cướp ngôi đoạt vị.
Tuy nói là mãn nguyện, song trong lòng Dịch Vương vẫn chưa yên hẳn. Hắn cần phải đi thêm một nước cờ lớn: thừa thắng chinh phục mỹ nhân băng giá Cơ Tuyết. Nào ngờ, mới vừa ra quân đã nếm mùi thất bại, cúp đuôi chạy về.
Thấy Dịch Vương bừng bừng thịnh nộ, nội thần tân nhiệm, cũng chính là nội tể Đông cung đã theo hầu hạ hắn nhiều năm là Kỷ Cửu Nhi thận trọng đứng hầu bên cạnh, vừa thấy hơi thở của hắn điều hoà đôi chút, lập tức chớp lấy thời cơ phô ra một nụ cười nịnh bợ.
Dịch Vương giận dữ quát lên: “Này, ngươi hãy nói xem, tại sao đàn bà lại đáng ghét đến vậy?”
“Đại vương muốn nói tới... thái hậu?” Kỷ Cửu Nhi vờ như không biết.
“Còn ai vào đây nữa?” Dịch Vương ném một cái nhìn hằn học về phía Kỷ Cửu Nhi.
“Hì hì!” Kỷ Cửu Nhi xoa xoa tay vào nhau. “Trong cung có ba nghìn mỹ nữ, đâu đâu cũng thấy người tài sắc vẹn toàn, đại vương muốn sủng ái ai thì sủng ái người đó, hà cớ gì phải buồn bực vì thái hậu?”
“Chó chết!” Dịch Vương chửi mắng sỗ sàng. “Tâm sự của quả nhân, người khác không hiểu đã đành, đến ngươi cũng không hiểu? Ngươi nói xem, ba nghìn cung tần mỹ nữ, liệu có ai bằng được một phần vạn người này?”
Song Kỷ Cửu Nhi lại không cho là đúng, cười khanh khách mà nói: “Nếu nói về chuyện này, lão nô lại không thấy thế. Thái hậu đẹp thì có đẹp, song quá lạnh lùng, giống như hoa lạp mai, nhìn từ xa thì rực rỡ lộng lẫy, mà tới gần lại như bọc lớp sáp nến, sờ vào lạnh buốt cả tay. Hơn nữa, tuổi tác không chiều lòng người, thái hậu tính ra cũng xấp xỉ ba mươi rồi. Lão nô ngu dốt, song cũng biết đàn bà càng trẻ càng ngon lành. Công chúa nước Tần năm nay mới mười bốn tuổi, như búp nụ hoa vừa hé, nghe nói cũng là tuyệt sắc giai nhân, về sắc vóc hay thần thái, hẳn không hề thua kém thái hậu.”
“Vẫn là ngươi nói đúng!” Dịch Vương đã bớt phần buồn bực, nở một nụ cười âm hiểm. “Phải, người này có đẹp tới đâu, cũng chỉ là một ả đàn bà. Nói về chuyện ái ân giường chiếu, quả nhân chẳng phải chỉ có một mình ả. Có điều, những thứ ngươi nhìn thấy mới chỉ là vẻ bề ngoài!”
“Lão nô ngu si, xin đại vương khai sáng!”
Dịch Vương gõ nhẹ lên mặt bàn, trên mặt ít nhiều lộ vẻ đắc ý: “Thứ nhất, quả nhân cũng coi là chơi qua vô số đàn bà, biết rõ nhất loại đàn bà nào mới là hiếm có. Đa phần đàn bà con gái chỉ biết vâng vâng dạ dạ, mà nhạt nhẽo chẳng có gì thú vị. Người này việc gì cũng có chủ kiến, chưa từng vâng dạ phục tùng, đàn bà tầm thường không thể bì kịp. Quả nhân nếu có nàng ở bên, còn hơn có được tướng hiền. Thứ hai, người này rất được lòng dân nước Yên, đặc biệt trong loạn Vũ Dương, lâm nguy không loạn, cử chỉ vẫn ung dung điềm tĩnh, đừng nói là triều đình dân chúng, dù là quả nhân đây cũng kính nể tới ba phần. Quả nhân mới lên ngôi, không thiếu triều thần nảy sinh lòng khác, đặc biệt là đám quyền thần Tử Chi, Chử Mẫn, vốn dĩ đã có thành kiến với quả nhân. Nếu quả nhân được người này giúp đỡ, hẳn bọn họ sẽ không còn dám nói gì. Còn một điều nữa, người này là đồng hương người Chu với Tô Tần, có ân với hắn. Tô Tần hợp tung, danh tiếng lẫy lừng liệt quốc, quả nhân có được người này, tức là có được Tô Tần, có được Tô Tần cũng tức là có được thiên hạ!”
Kỷ Cửu Nhi lấy làm thán phục, giở giọng nịnh nọt: “Đại vương nhất cử tam tứ tiện, thật là thần mưu!”
“Than ôi!” Dịch Vương thở dài. “Chỉ có điều người đàn bà này một là con ngựa hoang, khó lòng thuần phục!”
“Lão nô lại không nghĩ vậy. Lão nô từ nhỏ đã vào cung, cũng hiểu đôi chút về đàn bà trong cung. Đa phần đàn bà, không ai không ngoài lạnh trong nóng. Thái hậu gả cho tiên quân, là cô gái tơ gả cho ông già lụ khụ, từ lâu đã u uất trong lòng. Đại vương yêu mến thái hậu, cho thái hậu được hầu hạ, thái hậu đương nhiên thấy vui vẻ. Bề ngoài cứng rắn, chẳng qua là giả vờ cho người khác thấy mà thôi.”
“Phải phải phải, ngươi nói rất đúng!” Dịch Vương gật gù. “Quả nhân thực sự cảm thấy nàng ấy đáng thương, thấy nàng thông minh đĩnh ngộ, lại có vài phần tư chất, tuổi còn trẻ đã phải chịu cảnh goá bụa, mới ban ân trạch cho nàng, cho phép nàng hầu hạ bên gối, theo lý nàng nên cảm ơn mới phải. Nhưng... ngươi cũng thấy rồi đó, nàng lại không hề biết điều, bảo quả nhân phải làm thế nào đây?”
“Lão nô có một kế, sẽ giúp đại vương được toại nguyện!”
“Nói mau!”
“Đàn ông ưa mềm không ưa rắn, phụ nữ ưa rắn không ưa mềm. Càng mềm mỏng với thái hậu, thái hậu lại càng được thể làm già.”
“Ý ngươi là...”
“Đại vương, con người sinh ra trên đời này, chẳng chuyện gì lớn bằng sinh tử. Theo lão nô thấy, thái hậu tuy tính tình cương liệt, song không có ý muốn chết. Người không muốn chết, tại sao không dùng cái chết để uy hiếp?”
“Nàng là thái hậu, quả nhân không thể vô duyên vô cớ kề dao lên cổ nàng được!”
“Hề hể, đâu cần phải thế! Thái hậu không chịu phục tùng đại vương, hẳn là quyến luyến tiên quân. Ý của lão nô là, nếu thái hậu vẫn quyến luyến tiên quân, tiên quân đã băng hà, chỉ một mình thái hậu sống thừa trên cõi đời này, kể cũng vô vị. Đại vương cớ sao lại không...”
Dịch Vương ngẫm nghĩ một hồi, rồi tấm tắc khen ngợi: “Phải, đúng là diệu kế! Ngươi lập tức đi truyền chỉ tới người này, hoặc là phục tùng theo ý quả nhân, hưởng thụ vinh hoa phú quý trong cung Cam Đường; hoặc là quả nhân ân chuẩn thỉnh cầu của nàng, chọn ngày đẹp giờ tốt, thoả cho ước nguyện được đi theo tiên quân của nàng!”
Kỷ Cửu Nhi vừa đi chưa được bao lâu đã thấy quay về, nói rằng thái hậu nguyện theo tiên quân.
“Đồ chó chết!” Dịch Vương vô cùng hối hận, lớn giọng trách mắng. “Lần này đi nước cờ chết rồi, bảo quả nhân phải làm thế nào đây?”
“Đại vương chớ lo!” Kỷ Cửu Nhi hạ giọng đáp lời. “Đến loài giun kiến còn mong được sống, huống hồ lá ngọc cành vàng như thái hậu. Thái hậu hẳn là tin chắc đại vương quá yêu mình, mới rắn mặt như vậy. Sao đại vương không thử làm tới, xem thái hậu gan lì được bao lâu?”
“Cũng được!” Dịch Vương gật đầu đồng ý. “Ngươi cứ cân nhắc mà làm. Nhớ rằng, nhất định phải chừng mực. Quả nhân không muốn nàng chết, chỉ muốn nàng sống!”
Vua tôi đang bàn luận thì thái giám vào bẩm báo, nói là đại tư đồ Tần Kỳ, ngự sử Mao Ninh cầu kiến. Hai vị trọng thần không triệu mà tới, chắc hẳn có việc hệ trọng.
Dịch Vương tuyên kiến, vội hỏi: “Hai vị ái khanh, xảy ra chuyện gì vậy?”
Mao Ninh lấy từ trong ống tay áo ra một bức quốc thư, hai tay trình lên.
Dịch Vương liếc thấy dấu vương tỷ của Tề Vương trên mép thư, trong lòng giật thột: “Điền Nhân Tề muốn gì?”
“Hồi bẩm đại vương!” Mao Ninh bẩm tấu. “Tề Vương nói rằng muốn ăn cá chép tươi sống ở Hà Thuỷ, đã dẫn theo năm vạn quân, chiến xa một nghìn, do thượng tướng quân Điền Kỵ hộ giá, tới Nhiêu An săn bắn!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Tề, Triệu đối diện nhau qua dòng Hà Thuỷ, đoạn sông Hà Thuỷ mà Tề sở hữu nửa lòng sông dài không dưới ba trăm dặm, nếu Tề Vương muốn ăn cá chép, lẽ ra phải tới các ấp Cao Đường, Bình Nguyên mới phải, vì sao nhất quyết phải tới Nhiêu An? Nhiêu An phía bắc cách Hà Thuỷ trăm dặm, vi thần cho rằng, Tề Vương tới không phải vì cá chép!”
Dịch Vương quay sang Tần Kỳ.
Tần Kỳ cũng lấy từ trong tay áo ra bản cấp báo của vùng biên ải: “Đại vương! Mùa đông lạnh giá sắp tới, người Hồ phía bắc bắt đầu rục rịch, gần đây hay tin ta có đại tang, càng trở nên ngang ngược. Các quận Ngư Dương, Hữu Bắc Bình, Liêu Tây, Liêu Đông của ta đều có cấp báo, còn phát hiện thấy bên ngoài trường thành của ta, người Hồ tập kết đông đảo, giết chóc dân chúng vùng biên cương, cướp bắt súc vật, số lượng cụ thể chưa rõ!”
“Chuyện này...” Dịch Vương trán vã mồ hôi lạnh, “ý ái khanh thế nào?”
“Hồi bẩm đại vương!” Tần Kỳ đáp lời. “Ta có trường thành, người Hồ tạm thời không đáng ngại, đáng ngại chính là người Tề. Đất Hà Gián của ta rộng tới trăm dặm, đều màu mỡ tốt tươi, người Tề thèm nhỏ dãi đã lâu, có lẽ muốn nhân lúc ta có đại tang, tướng quân Tử Chi vắng mặt, mưu chiếm Hà Gián của ta. Ba quân tinh nhuệ của ta hầu hết đang ở Mạnh Tân, tuyến Hà Gián chưa xây thành trì bảo vệ, ngoại trừ Hà Thuỷ, ta hầu như không có chỗ hiểm yếu để cố thủ!”
Dịch Vương dường như sực nhớ ra điều gì, cất giọng giận dữ: “Hiểu rồi, quả nhân hiểu rồi! Chắc chắn là do mụ đàn bà thối tha kia gây ra!”
Tần Kỳ, Mao Ninh đưa mắt nhìn nhau, không nói thêm lời nào nữa. Mụ đàn bà thối tha mà Dịch Vương vừa nhắc tới chính là chính cung Điền thị, cũng là thứ nữ của Điền Nhân Tề, mẹ đẻ của công tử Khoái. Dịch Vương lên ngôi, phong thái hậu mà không phong vương hậu, quần thần lấy làm kinh ngạc, nhiều lần khuyên sắc phong Điền thị, đều bị từ chối. Sau này, quần thần mới dần hiểu ra, vị trí này sớm đã được đại vương hứa dành cho công chúa nước Tần. Tề Vương lần này tức giận đi săn, chắc chắn là viện binh của Điền phu nhân, hòng ép hắn phong hậu. Tuy nhiên, những chuyện này lại là việc riêng của vương thất, thân là ngoại thần, hai người kia cũng không tiện nói nhiều.
Dịch Vương trong lòng uất hận, quay sang Tần Kỳ: “Quân tới tướng chặn! Ái khanh là đại tư mã, hẳn có kế chống địch?”
Tân Kỳ vòng tay mà nói: “Hồi bẩm đại vương, người chống nổi Điền Kỵ, duy chỉ có Tử Chi tướng quân!”
Dịch Vương chau mày, bực bội xua tay, quay sang Kỷ Cửu Nhi: “Lấy hổ phù, điều động Tử Chi tướng quân. Hạ lệnh cho Tử Chi và ba vạn quân hợp tung rút về nước, đến đóng quân tại Hà Gián, hỗ trợ phòng ngự dọc theo Hà Thuỷ!” Quay sang Tần Kỳ. “Đại tư mã đích thân đi truyền chỉ, đòi hắn mau chóng rút quân về. Quả nhân ở đây kết thân với Tần, ở kia lại tăng binh chinh phạt, chẳng phải làm trò cười cho thiên hạ ư?”
“Thần tuân chỉ!”
Công tử Khoái phi ngựa thẳng tới Đông cung.
Cơ Tô tuy kế ngôi vua, song phu nhân của hắn là Điền thị, cũng chính là mẹ đẻ của công tử Khoái, vẫn tạm thời sống ở Đông cung. Công tử Khoái vốn dĩ thông thạo đường đi lối lại trong Đông cung, hối hả rảo bước vào trong bái kiến mẫu thân. Từ ngày công tử Khoái đi sứ liệt quốc tới nay đã gần hai năm, mẹ con gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi, ôm nhau khóc nức nở.
Khóc một hồi, công tử Khoái ngẩng đầu lên hỏi: “Mẫu hậu, linh đường của tiên tổ công ở chỗ nào, Khoái Nhi muốn tới canh linh cữu.”
“Khoái Nhi!” Điền phu nhân lau nước mắt, chậm rãi cất lời. “Lẽ nào con không muốn biết tiên tổ công cớ sao lại băng hà ư?”
Công tử Khoái thoáng chút ngỡ ngàng, nhìn chằm chằm vào mẫu thân, hồi lâu mới gật đầu.
“Là bị người ta mưu sát!”
“Ai kia?” Công tử Khoái buột miệng kêu lên, giọng run bắn.
“Chính là phụ vương của con đó. Giết cha, giết vua!”
Công tử Khoái nghe như sét đánh ngang tai, hai mắt đờ dại, nhìn mẫu thân trừng trừng như không dám tin, hồi lâu sau, mới hét lên lạc giọng: “Không... không thể có chuyện đó!”
“Ông ta đã dùng thứ này!” Điền phu nhân chậm chạp mở ngăn kéo, lấy ra một chiếc lọ nhỏ. “Không có gì khác biệt so với hương liệu thông thường, gọi là mê hương, cũng gọi là đoạn hồn hương, có nguồn gốc từ thầy cúng Cao Di, là dịch độc hỗn hợp từ sáu loại trùng kịch độc và sáu loại cỏ kịch độc, lại kết hợp với sáu loại dầu thơm, trải qua sáu mươi ngày và sáu mươi công đoạn pha chế tinh xảo mà thành. Để có được nó, phụ vương con đã bỏ ra một số tiền khổng lồ. Hơn nữa, loại hương này không cần đốt, chỉ cần hé mở cái nút này, một mùi hương kỳ lạ sẽ toả ra. Hễ ngửi phải, dù là ai cũng không thể trụ nổi quá ba hơi thở.”
Điền phu nhân lời lẽ thong thả, như thể đang kể lại một chuyện rất đỗi bình thường. Công tử Khoái nghe mà lông tóc dựng ngược, toàn thân run bắn: “Mẫu... mẫu hậu...”
“Đừng gọi ta là mẫu hậu, ta không phải là mẫu hậu! Và con, cũng không thể là thái tử, bởi phụ vương con đã nhận lời với người Tần, muốn lập một đứa con gái còn chưa cưới về làm hậu, còn muốn lập một đứa trẻ chưa được sinh ra làm thái tử!”
Công tử Khoái ánh mắt đờ đẫn, hiển nhiên vẫn chưa thể định thần sau cơn kinh động vừa rồi.
“Khoái Nhi!” Điền phu nhân cao giọng.
“Mẫu... mẫu thân...” Công tử Khoái giật nảy mình, ánh mắt như dò hỏi.
“Con còn muốn biết chuyện gì?”
“Mẫu thân, sao người lại biết được những chuyện này?” Công tử Khoái nghi ngờ nhìn mẹ.
“Con muốn hỏi về thứ hương kia?” Điền phu nhân dường như nhìn thấu mối ngờ vực trong lòng công tử Khoái, từ tốn đáp lời. “Có gì đâu, mẫu thân từ nhỏ đã rất hiếu kỳ, đặc biệt là đối với phụ vương con. Phàm nhất cử nhất động của ông ta, mẫu thân đều thấy hứng thú. Bởi vậy, dù ông ta làm gì, cũng đều không thể lọt qua cặp mắt của mẫu thân.”
Công tử Khoái đứng ngây người nhìn mẹ, như thể nhìn mặt người xa lạ.
“Không nói chuyện này nữa!” Điền phu nhân đổi giọng. “Hai mẹ con ta còn có đại sự cần làm đây!” Bà nhìn thẳng vào mắt công tử Khoái một lúc, rồi nói. “Khoái Nhi, lần này mẫu thân liều mạng một phen, chỉ là vì con!”
“Vì con?”
“Đúng vậy!” Điền phu nhân gật đầu. “Tổ công con không ưa gì phụ vương con, có lòng giao phó nước Yên cho con. Phụ vương con biết chuyện, không cam tâm để mất ngôi vị, nên mới ra tay trước.”
“Chuyện này không thể!” Công tử Khoái vội nói.
“Có thể hay không thể, mẹ không muốn nói nhiều, con hãy đi hỏi bà trẻ của con, có lẽ người này biết rõ nội tình!” Điền phu nhân từ từ di chuyển ánh mắt tới cái lọ. “Khoái Nhi, không nói đến chuyện này nữa. Giờ mẹ muốn nói, phụ vương con đối xử thế nào với tổ công con, mẹ cũng sẽ đối xử như vậy với ông ta!”
Công tử Khoái nghe mà kinh hãi, mồ hôi lạnh toát ra đẫm người, vội quỳ phịch xuống đất, ôm chặt lấy chân Điền phu nhân, bật khóc: “Mẫu thân, không thể, dứt khoát không thể, mẫu thân...”
“Khoái Nhi!” Điền phu nhân chợt nghiêm giọng.
“Mẫu thân!” Công tử Khoái đứng phắt dậy, lùi lại hai bước, rút phắt bảo kiếm ra, nhìn trừng trừng vào bà ta, vừa khóc vừa nói. “Mẫu thân, nếu người... người nhất định làm như vậy, Khoái Nhi sẽ chết ngay trước mặt người!”
“Khoái Nhi!” Điền phu nhân kinh hãi. “Mau, mau cất kiếm đi!”
“Người hãy hứa với con!”
“Ta...”
Công tử Khoái vung bảo kiếm lên, kề ngang cổ: “Mẫu thân, người chớ ép con!”
“Ta... ta hứa!”
“Đưa cái lọ cho con!”
“Khoái Nhi...”
“Đưa cho con!”
Điền phu nhân bàn tay run rẩy, chìa cái lọ ra.
Công tử Khoái nhận lấy, chạy như bay ra ngoài cung, mở nút, dồn sức ném thẳng xuống ao sen, rồi chạy trở lại, quỳ xuống trước mặt Điền phu nhân, nghẹn ngào mà nói: “Mẫu thân, phụ thân sai rồi, chúng ta không thể lại mắc sai lầm! Khoái Nhi không cần ngôi báu, Khoái Nhi không cần làm thái tử, Khoái Nhi chẳng cần gì cả, chỉ cần mẫu thân sống bình yên, chỉ cần nước Yên bình yên, chỉ cần thiên hạ bình yên, mẫu thân...”
“Khoái Nhi, ngốc quá, sao con lại ngốc nghếch đến vậy?” Điền phu nhân ôm chằm lấy công tử Khoái, cũng bật khóc thất thanh.
Sáng sớm hôm sau, công tử Khoái từ biệt mẹ, tới cung Minh Quang bái kiến Dịch Vương. Công tử Khoái chưa gọi đã tới, khiến Dịch Vương trong lòng kinh ngạc: “Ồ, chẳng phải con đang ở Lạc Dương ư, sao đã trở về rồi?”
“Nhi thần hay tin tổ công băng hà, vội vã đi thâu đêm trở về chịu tang.”
“Chuyện tổ công con băng hà, quả nhân còn chưa báo tang liệt quốc, con ở Trung Nguyên xa xôi, sao lại biết được sự tình? Hẳn là mẫu thân con đã cho gọi con về?” Dịch Vương sầm mặt nhìn công tử Khoái.
“Là mẫu thân cho gọi nhi thần về!” Công tử Khoái thành thực đáp lời.
“Về lúc nào?”
“Tối qua!”
“Hôm qua đã về, vì sao không tới bái kiến ngay? Có phải đã đi gặp mẫu thân con?”
“Vâng!”
Dịch Vương cười nhạt một tiếng: “Quả nhân hạ lệnh cho con, kể từ hôm nay, con không được phép tới gặp mụ đàn bà độc địa đó nữa!”
Công tử Khoái yên lặng, nước mắt chảy dài.
Dịch Vương lấy ra tấm hịch văn của nước Tề, vứt toẹt lên mặt bàn: “Quả nhân biết con không phục. Đọc đi!” Công tử Khoái dường như không nghe thấy gì, chỉ đờ đẫn dập đầu dưới đất.
Dịch Vương cầm lấy hịch văn, đập cành cạch xuống mặt bàn: “Con không muốn xem cũng chẳng sao, quả nhân sẽ nói cho con biết. Mẫu thân của con, thân làm mệnh phụ của quả nhân, song lại ăn cây táo rào cây sung, bán rẻ quả nhân, bên trong không giữ chức phận, náo loạn hậu cung, bên ngoài đưa rước giặc Tề, huỷ hoại biên giới, đáng gọi là quốc tặc. Nếu con vẫn nhận quả nhân làm cha, thì hãy tránh xa mụ ta ra!”
Công tử Khoái bật khóc thất thanh: “Phụ thân...” Nghe thấy tiếng khóc bi thương, Dịch Vương cũng cảm thấy lời mình hơi thái quá, liền thở dài một tiếng, ngữ khí cũng hoà hoãn bớt: “Khoái Nhi, đứng dậy đi! Phụ vương chẳng qua là quá giận dữ mới buột miệng chửi mắng vài câu cho hả giận. Dù thế nào, kẻ đó cũng là mẫu thân con. Chỉ có điều... than ôi, con người đó thực quá ư đáng giận. Tổ công con băng hà, quả nhân mới lên ngôi, cả nước đang bận rộn tang lễ, kẻ đó lại chẳng đếm xỉa tới chuyện này, lập tức khăng khăng ép quả nhân phong mình làm hậu. Quả nhân không phong, bà ta thẹn quá hoá giận, cầu người Tề điều binh uy hiếp. Người Tề là ai? Người Tề là đại địch của nước Yên ta, trong mơ cũng muốn chiếm đoạt đất đai màu mỡ của Đại Yên ta. Hơn nữa, không phải quả nhân không phong bà ta, mà là...” Dừng lại một lát mới nói tiếp. “Sao bà ta không thử bưng chậu nước soi lại mình xem, với chút đức hạnh nhỏ mọn của bà ta, liệu có xứng làm quốc hậu, xứng làm mẫu nghi thiên hạ hay không?”
“Phụ vương!” Công tử Khoái không muốn nghe tiếp nữa, bèn cắt ngang. “Việc người Tề xuất binh, nhi thần sẽ đi sắp xếp!”
“Không cần!” Dịch Vương trở giọng lạnh lùng. “Quân tới tướng chặn, quả nhân tự có sách lược chống địch, con hãy về nghỉ ngơi đi!”
“Nhi thần...”
“Được rồi, con lui ra đi! Đã về rồi thì hãy cư xử cho phải phép, đừng gây chuyện phiền phức cho quả nhân!”
“Nhi thần... cáo từ!”
Công tử Khoái lại bái lạy, rồi mau chóng lui ra.
Gió Bắc vi vút, trời đất âm u.
Bên ngoài cung Cam Đường, mấy con quạ đang rượt theo nhau trên vài tán cổ thụ đã trụi lá trơ cành, những tiếng kêu “quạ quạ” chốc chốc lại truyền vào trong cung, khiến cho bầu không khí trở nên ngột ngạt và căng thẳng.
Cơ Tuyết ngồi trên một tấm thảm, im lìm bất động.
Xuân Mai quỳ ở sau lưng, cầm lược cẩn thận chải mớ tóc rối trên đầu nàng. Hơn chục cung nữ, sáu thái giám sắc mặt căng thẳng đứng hầu bên cạnh, hơn hai chục cặp mắt đều nhìn không chớp vào lão cung chính đang phủ phục dưới đất. Trừ Xuân Mai vẫn đang thong thả chải tóc, không khí dường như ngưng đọng.
Cơ Tuyết phẩy tay, Xuân Mai bèn dừng lại.
“Hắn còn nói những gì?” Cơ Tuyết nhìn cung chính.
“Nội tể còn nói,” cung chính hơi run rẩy, “đại vương có chỉ, nếu thái hậu khăng khăng cố chấp, mọi sinh mệnh trong cung Cam Đường đều sẽ bị tuẫn táng, đến con kiến cũng không thoát.”
Dù giọng cung chính đã hạ thấp tối đa, vẫn khiến cho tất thảy những người có mặt đều kinh hoàng thất sắc.
“Ngươi nghĩ sao?” Cơ Tuyết điểm tĩnh hỏi.
“Lão nô nguyện theo phu nhân, theo phu nhân hầu hạ tiên quân!” Cung chính khấu đầu sát đất.
Cơ Tuyết khẽ gật đầu, rồi ngước mắt lướt nhìn khắp lượt mọi người: “Còn các ngươi?”
Tất thảy cung nữ, thái giám đểu theo nhau quỳ xuống. Không ai nói một lời.
Sau một hồi im lặng nặng nề, Cơ Tuyết khẽ thở dài một tiếng: “Đứng dậy cả đi!”
Không một ai đứng dậy.
Ngược lại, dường như không ai hẹn ai mà cùng đồng thanh: “Chúng nô tỳ nguyện theo phu nhân, hầu hạ tiên quân!
“Các ngươi đã nghĩ kỹ chưa?”
“Hồi bẩm phu nhân, đã suy nghĩ kỹ!”
“Bản cung cảm tạ các ngươi!” Cơ Tuyết nhắm mắt lại, để mặc cho hai hàng lệ từ từ lăn dài trên má, hồi lâu sau, mới khẽ nhấc cánh tay lên. “Ra ngoài đi, bản cung muốn yên tĩnh một lát!”
Đám người đứng dậy, lục tục kéo nhau ra ngoài.
Cơ Tuyết hỏi Xuân Mai: “Mai Nhi, Thiệu tướng quân rời cung đã được bao nhiêu ngày rồi?”
“Đã hai mươi tám ngày!”
Cơ Tuyết quay sang cung chính: “Trong cung còn chuyện gì không?”
“Nghe nói đại công tử đã trở về.”
“Biết rồi, lui ra đi!”
Cung chính vừa lui ra ngoài, Cơ Tuyết bèn sai Xuân Mai: “Mau, đi gọi công tử Khoái lại đây, đừng để người khác nhìn thấy.”
Vào lúc chập tối, Xuân Mai và công tử Khoái, đã cải trang thành cung nhân, lặng lẽ theo lối cổng phụ ở hậu hoa viên lẻn vào cung Cam Đường, đi thẳng vào phòng trong.
“Tổ phu nhân...” Công tử Khoái bật khóc, bái lạy sát đất.
Sự tình cấp bách không cho phép Cơ Tuyết kể lể dài dòng.
“Khoái Nhi!” Cơ Tuyết lập tức nói thẳng vào chuyện chính. “Nước Yên lại có đại nạn rồi! Con về thật đúng lúc, tổ phu nhân hỏi con, lần này từ Trung Nguyên trở về, con đi hết bao nhiêu ngày đường?”
“Tôn nhi đi suốt ngày đêm, cả thảy mất mười hai ngày.”
“Nói như vậy,” Cơ Tuyết hai mắt vụt sáng. “Tô Tử chẳng bao lâu nữa sẽ tới!”
“Tô Tử tới được thì tốt quá!” Công tử Khoái phấn khởi ra mặt.
“Tô Tử sẽ tới! Khoái Nhi, bản cung muốn hỏi con một chuyện, con hãy trả lời thành thật.”
Công tử Khoái gật đầu.
Cơ Tuyết nhìn thẳng vào mắt công tử Khoái, nói rành rọt từng chữ: “Con có muốn nắm quyền bính nước Yên không?”
“Tổ... tổ phu nhân, con... con...” Công tử Khoái giật nảy mình, kinh hoàng thất sắc, lắp bắp không thành câu.
“Khoái Nhi, con chỉ cần trả lời, có muốn hay không?”
“Chuyện này... chuyện này sao có thể được?”
“Có thể!” Cơ Tuyết vẫn cất giọng rành rọt. “Bởi vì Cơ Tô kia không xứng đáng để ngồi lên ngai vàng của tiên tổ công con!”
Chợt nhớ tới những lời nói của mẫu thân hôm trước, công tử Khoái mặt mũi nóng bừng.
Dịch Vương suy cho cùng vẫn là cha ruột của công tử Khoái, Cơ Tuyết dường như đã hiểu thấu suy nghĩ trong lòng hắn, lập tức nói rõ sự tình: “Khoái Nhi, đây không phải là ý của bản cung, mà là di nguyện của tiên tổ công con. Tiên tổ công con sớm đã có ý giao phó nước Yên cho con, để con theo Tô Tử đi sứ liệt quốc, cũng là muốn tôi luyện con. Hai năm qua con không ở trong triều, tiên tổ công cũng còn có điều băn khoăn khác, nên chưa thực hiện được việc này. Sau buổi hội thề trở về, tiên tổ công con đã một lòng quyết chí, đang định hạ chỉ triệu con hồi triều, nhường lại ngôi vị cho con, song đáng tiếc là đã chậm trễ một bước.”
Cơ Tuyết rõ ràng đã xác thực lời nói của Điền thị, công tử Khoái nghe mà trống ngực đập thình thình.
“Khoái Nhi!” Cơ Tuyết dường như nhìn thấu tâm can của công tử Khoái. “Điện hạ đức hạnh ra sao, những điều cần thấy con đã thấy cả rồi, những điều cần nghe đã nghe cả rồi, bản cung không muốn nói nhiều nữa. Bản cung chỉ muốn nói rằng, con nắm quyền bính nước Yên, không phải vì con, cũng không phải vì mẫu thân con, càng không phải vì tổ phu nhân, mà là vì nước Yên!”
Công tử Khoái cắn chặt môi, một lát sau, ngẩng đầu nhìn Cơ Tuyết: “Tạ ơn sự coi trọng của tiên tổ công, tổ phu nhân. Nhưng... ván đã đóng thuyền, trong ngoài cung đều đã nằm cả trong tay phụ vương, chuyện này...”
“Chúng ta vẫn còn cơ hội. Tiên tổ công con băng hà bất thường, tuỳ tùng thân tín tới nay vẫn không rõ tung tích, trong triều ngoài nội đều dấy nghi ngờ, điện hạ một tay che trời chỉ là nhất thời. Chỉ cần Tô Tử và Tử Chi tướng quân hồi triều, chúng ta sẽ có chỗ dựa. Điện hạ đã phong bản cung làm thái hậu, bản cung sẽ cố gắng lợi dụng danh phận này, để yêu cầu tới Thái miếu, truy hỏi nguyên nhân băng hà của tiên quân. Một khi bản cung lên tiếng, ắt gây kinh động triều nội, điện hạ có muốn giấu cũng không giấu nổi. Chỉ cần tìm ra chân tướng, mọi việc sẽ rõ như ban ngày!”
Nghe thấy mấy chữ “nguyên nhân băng hà”, công tử Khoái lập tức nhớ tới thứ mê hương mà mẫu thân nói tới. Thấy tổ phu nhân dốc lòng muốn điều tra chân tướng, công tử Khoái trong lòng đau xót, đang định mở miệng nói đến cái lọ nhỏ đã bị mình ném xuống ao sen, song bất chợt thấy trong tim đau quặn, vành môi vừa khẽ mấp máy, lại gắng sức nén chặt lời muốn nói xuống cổ họng.
Cơ Tuyết không phát giác thấy điều này, lại ngẩng đầu hỏi: “Đã gặp mẫu thân con chưa?”
“Đã gặp rồi!” Công tử Khoái lí nhí đáp.
“Con hãy bàn với mẫu thân con, bà ấy sẽ giúp con.”
“Mẫu thân con đã bị phụ vương giam lỏng!”
“Ồ?” Cơ Tuyết lấy làm kinh ngạc. “Vì sao kia?”
“Phụ vương nói mẫu thân bán rẻ nước Yên, dẫn quân Tề tới xâm phạm biên cương.”
Cơ Tuyết ngưng thần suy nghĩ, hồi lâu sau, bèn cất giọng quyết đoán: “Khoái Nhi, con không thể ngồi yên chờ đợi được nữa. Việc không được phép chậm chễ, con hãy mau chóng rời cung, đến chỗ Tử Chi tướng quân!”
“Tôn nhi tuân chỉ!”
Kỷ Cửu Nhi bẩm báo lại với Dịch Vương chuyện cung Cam Đường trên dưới đều tình nguyện tuẫn táng, cuối cùng than thở: “Than ôi, đều là lão nô vô dụng, đúng là đã đi nước cờ chết thật rồi!”
“Nghĩ tiếp đi, xem còn cách nào khác không?” Dịch Vương không chịu bỏ cuộc. “Chắc chắn nàng ấy phải có điểm yếu nào chứ?”
“Ở đất Yên, thái hậu ngoài không có người thân, trong không có con cái, chỉ một thân một mình trong cung, ngoài đám cung nữ và thái giám thân tín, chẳng còn gì vướng bận.”
“Vậy phải làm thế nào đây?”
“Đại vương!” Kỷ Cửu Nhi tiến gần lại một bước. “Thái hậu e là đã quyết chí, sẽ không chịu hồi tâm chuyển ý đâu! Lão nô vừa rồi mới nhận được tin báo, đêm qua thái hậu bí mật sai người liên lạc với Đông cung, sau đó đại công tử cải trang cung nhân tới cung Cam Đường!”
“Gì kia?” Dịch Vương kinh hãi. “Nó tới cung Cam Đường làm gì?”
“Lão nô không biết! Cung Cam Đường canh phòng nghiêm ngặt, đến con kiến cũng không chui lọt!”
Dịch Vương bậm chặt hai môi.
“Lão nô sợ rằng, nếu thái hậu và Điền phi cấu kết với nhau, e là...” Kỷ Cửu Nhi ngập ngừng bỏ lửng nửa chừng.
“E là sao?” Dịch Vương nhìn trừng trừng vào hắn.
“E là bất lợi cho đại vương. Đại vương cũng biết, tiên quân...”
Kỷ Cửu Nhi còn chưa nói dứt lời, thái giám túc trực đã tất tả bước vào, quỳ xuống dập đầu mà nói: “Bẩm đại vương, quân uý tại cổng nam tới báo, giờ Tý đêm qua, đại công tử cầm theo lệnh bài, gọi mở cổng thành, sau đó vội vã rời thành rồi!”
Dịch Vương hít ngược một hơi khí lạnh. Việc Văn Công muốn truyền ngôi cách đời cho công tử Khoái, Cơ Tuyết đương nhiên đã biết. Đêm qua Cơ Tuyết bí mật triệu kiến công tử Khoái, công tử Khoái sau đó lại rời thành ngay trong đêm, hẳn cũng là vì chuyện này. Nếu công tử Khoái có mật chỉ của tiên quân trong tay, tìm được tới Tử Chi, hậu quả thật khó lòng tưởng tượng.
Nghĩ tới đây, Dịch Vương mặt vàng ệch như sáp, mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa. Đúng vậy, hắn đã đánh giá thấp người đàn bà này. Nàng tuẫn tử là giả, chống đối mới là thật. Nàng không hề coi hắn ra gì trong mắt, vẫn luôn nghi ngờ về cái chết của tiên quân, tìm kiếm cơ hội phục thù, trong khi hắn vẫn một mực si mê nàng! Lại còn Điền phi, mụ đàn bà này bề ngoài nhu mì, mà bên trong âm hiểm. Lần này cầu viện binh Tề, trước đó không hề để lộ chút phong thanh. Nghĩ đi nghĩ lại, mụ ta được gả vào cung Yên đã hai mươi năm, có thể nói đã hiểu hắn như lòng bàn tay, còn hắn dường như lại không hề biết gì về mụ ta. Có hai người đàn bà này bên cạnh, bảo hắn sao có thể sống yên ổn?
Dịch Vương càng nghĩ càng kinh sợ, cười nhạt một tiếng, nghiến răng kèn kẹt mà nói: “Hừm, mấy con cá chạch bé xíu mà cũng đòi khuấy đảo đầm sâu?” Quay sang thái giám túc trực. “Công tử Khoái chỉ có thể đến hai nơi, một là đến chỗ Tử Chi, hai là chạy sang nước Tề. Truyền chỉ cho đình uý, phái người chặn đường, bắt sống về đây!”
Thái giám lĩnh chỉ lui ra.
“Kỷ Cửu Nhi!”
“Có thần!”
“Điền phi không gìn giữ đạo làm vợ, phản vua bán nước, rước giặc vào nhà, tội không thể dung tha. Tân nương nước Tần mươi ngày nữa sẽ tới, người này không nên lưu lại trong cung. Ngươi lập tức ban cho mụ ta một dải lụa trắng, lệnh cho tự vẫn. Còn thái hậu, quả nhân sẽ gia hạn cho ba ngày, nếu vẫn u mê không tỉnh, nhất quyết muốn tuẫn tiết, quả nhân đành phải thuận theo. Việc thái hậu tuẫn táng theo tiên quân cần phải thông qua Thái miếu. Ngươi hãy truyền lệnh tới Thái miếu lệnh, bảo đám thầy cúng chuẩn bị chu đáo cho thái hậu.”
“Thần lĩnh chỉ!”
Tô Tần suốt đường quất ngựa phi nhanh, ngày đêm không nghỉ, mỗi ngày đổi một ngựa, ba ngày đổi một xe, khoảng mười ngày sau thì tới biên giới nước Yên.
Khi tới Vũ Dương, trời đã sắp xế bóng.
Vũ Dương nằm bên bờ sông Dịch Thuỷ, đối diện với nước Triệu và Trung Sơn, là trọng trấn ở phía tây nam nước Yên. Trời còn chưa tối hẳn, trên hào nước quanh thành đã kéo cầu treo, hơn chục thị vệ đang hợp sức đóng cổng thành lại. Viên Báo, Thiệu Thông nói gãy cả lưỡi mới thuyết phục được thị vệ tới phủ thú thừa bẩm báo.
Thú thừa chính là Chử Mẫn, Kế Thành lệnh trước đây. Nghe nói Tô Tần tới, Chử Mẫn đích thân ra cổng thành nghênh đón, cầm tay dắt vào trong nha phủ. Thấy người trong phủ trên dưới đều mặc áo tang, Tô Tần nghẹn ngào nói: “Chử tướng quân, nơi này có linh vị tiên quân chăng?”
“Cao Lăng của tiên quân ở góc tây nam của thành này, cách đây không xa, là nơi tiên quân đã lựa chọn khi còn sống, hiện thợ thuyền đang xây dựng, ba tháng nữa có thể hoàn thành. Phía đông Cao Lăng là ly cung của tiên quân, phía bắc dựa vào đồi lớn, phía nam nhìn ra Dịch Thuỷ, hễ tới mùa hạ, tiên quân rất thích tới đây hóng mát!”
“Cao Lăng chưa hoàn thành, trong thành còn có nơi nào để tế bái?”
“Thái miếu trong ly cung có bày linh vị tiên quân.”
Tô Tần theo Chử Mẫn đi tới Thái miếu, nghiêm cẩn hành đại lễ tế bái. Tế xong, hai người trở về sảnh đường, Chử Mẫn đuổi hết người hầu ra ngoài, nhìn Tô Tần hồi lâu, đột nhiên cất tiếng hỏi: “Lần này về Yên, Tô Tử hẳn là vì phu nhân của tiên quân?”
Thấy Chử Mẫn nói năng thẳng thắn đến vậy, Tô Tần thoáng chút kinh ngạc, cũng không biết trả lời thế nào, nhìn sững vào hắn một lát, rồi gật đầu nói: “Phải, song cũng không hoàn toàn là vậy.”
“Sự việc đã rất cấp bách, người cứu được thái hậu, chỉ có Tô Tử mà thôi!”
Tô Tần nhìn xoáy vào Chử Mẫn: “Có chuyện gì ư?”
Chử Mẫn kể lại một lượt những chuyện xảy ra gần đây ở Kế Thành, cuối cùng than thở mà rằng: “Than ôi, tại hạ không thể ngờ rằng điện hạ lại ra như vậy. Không giấu Tô Tử, có lẽ điện hạ sợ tại hạ gây trở ngại, nên tiên quân vừa khởi giá tới Mạnh Tân vào buổi sáng, thì ngay buổi chiều điện hạ đã lấy cớ phải tăng cường phòng thủ trọng ấp Vũ Dương để điều tại hạ rời khỏi Kế Thành. Khi tiên quân trở về có đi qua đây, tại hạ cũng khuyên tiên quân hãy tạm ở lại ly cung, tuyên điện hạ và văn võ bá quan tới Vũ Dương yết kiến, song tiên quân không nghe, một mực đòi về Kế Thành.”
“Khi rời Vũ Dương, chúa thượng long thể ra sao?” Tô Tần hỏi.
“Tuy có mệt mỏi, song... theo tại hạ thấy, chưa thể đến nỗi...” Chử Mẫn khẽ thở dài một tiếng. “Hơn nữa, có phu nhân luôn ở bên cạnh, tại hạ cũng không nghĩ ngợi nhiều. Không ngờ chúa thượng ra đi lần này, lại thành vĩnh biệt!”
“Phu nhân vì sao lại tuẫn thân?”
“Tại hạ không được rõ. Có điều, theo tại hạ biết, phu nhân một lòng lo lắng cho nước Yên, nay nước Yên xảy ra đại sự nhường này, tiền đồ chưa rõ, theo tính cách của phu nhân, dứt khoát không thể lập tức tuẫn thân. Hẳn là phu nhân đã bị bức ép, bất đắc dĩ mới phải theo cách này. Tại hạ... trong lòng như lửa đốt, song... song lại chẳng làm được gì. Tô Tử, ngài tới thật đúng lúc!”
“Tân quân có ý chỉ gì không?”
Chử Mẫn lần trong ống tay áo lấy ra một đạo chỉ dụ: “Đây là chỉ dụ tại hạ vừa nhận được, Tô Tử hãy xem!”
Tô Tần nhận chỉ dụ, đọc qua một lượt, rồi nói với Chử Mẫn: “Tại hạ muốn lập tức vào cung. Làm phiền tướng quân chuẩn bị cho hai mươi cỗ xe, hai người thợ may, ba xấp vải cờ đủ màu sắc, ba trăm binh lính, ba mươi tay trống!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Điền phi chết không cam tâm. Khi Kỷ Cửu Nhi ép bà phải chui vào dây thòng lọng kết bằng lụa trắng, bà đã thốt lên một câu cuối cùng: “Khoái Nhi hại ta rồi!”
Cái chết của Điền phi càng khiến bầu không khí trong cung Cam Đường sặc mùi chết chóc.
Vào buổi trưa nay, cũng chính là giờ tốt ngày đẹp theo lời Kỷ Cửu Nhi, trong cung Cam Đường hơi nước mờ mịt, hương thơm ngào ngạt toả khắp tứ bề. Hơn hai mươi thái giám, cung nữ ăn mặc chỉnh tề, phân thành nam nữ phủ phục ở hai bên một tấm màn.
Bên trong màn che là một thùng tắm lớn, mặt nước bập bềnh vô số cánh hoa rực rỡ sắc màu. Một cung nữ vén cánh màn, Cơ Tuyết ung dung bước ra khỏi thùng tắm, hai cung nữ đứng hầu choàng tấm khăn lên người nàng, rồi đỡ nàng bước vào phòng thay y phục.
Xuân Mai sắc mặt đờ dại đứng ở một bên, thẫn thờ nhìn Cơ Tuyết.
“Mai Nhi!” Cơ Tuyết thay xong xiêm y, khẽ gọi.
Xuân Mai vẫn đứng ngây như khúc gỗ.
Cơ Tuyết nhìn Xuân Mai, mỉm cười mà nói: “Trang điểm thôi!”
Xuân Mai nước mắt giàn giụa, quỳ phịch xuống, bật khóc mà gọi: “Công chúa!”
“Nhìn kìa, chẳng khác gì đứa trẻ!” Cơ Tuyết lại cười. “Nào, trang điểm cho chị đi!”
Xuân Mai gật đầu, theo Cơ Tuyết tới trước bàn trang điểm.
Cơ Tuyết ngồi xuống trước gương, Xuân Mai giúp nàng thoa phấn, rồi dừng tay, hỏi khẽ: “Công chúa, liệu có phải... Tô đại nhân vẫn chưa nhận được thư?”
Cơ Tuyết nhìn sững Xuân Mai một hồi, rồi đứng dậy bước lại phía giường, ôm ra một chiếc hộp, tháo bỏ tầng tầng gấm lụa, để lộ một thanh kiếm gỗ. Cơ Tuyết lại lấy từ trong ngực áo ra một tấm da dê, bên trên là bài thơ mà Tô Tần gửi tặng cách đây không lâu. Cơ Tuyết nhìn ngắm bài thơ một chốc, rồi từ từ nâng thanh kiếm lên bên má.
Thời gian như ngừng trôi...
“Công chúa...” Xuân Mai ngập ngừng như có điều muốn nói.
Cơ Tuyết chậm rãi đặt thanh kiếm gỗ xuống, vuốt ve một hồi, rồi ngẩng đầu, ánh mắt nhìn Xuân Mai kiên định, nói khẽ: “Tô Tử sẽ tới!”
Xuân Mai trịnh trọng gật đầu.
Cơ Tuyết ôm theo thanh kiếm bước tới trước bàn trang điểm, đang định ngồi xuống, bỗng thấy bên ngoài huyên náo, rồi cung chính quýnh quáng lao vào, quỳ sụp xuống đất dập đầu, nước mắt ầng ậc mà gọi: “Phu nhân...”
Cơ Tuyết đưa mắt nhìn ông ta: “Tới giờ rồi ư?”
Cung chính khóc không thành tiếng.
Cơ Tuyết quay đầu đi.
Có tiếng chân vọng lại, Kỷ Cửu Nhi bước vào cửa cung, lớn giọng bẩm báo: “Khởi bẩm thái hậu, đại vương có chỉ, giờ cát đã tới, mời nương nương thi hành đại lễ!” Không đợi Cơ Tuyết đáp lời, đã quay đầu cất giọng réo rắt. “Xin mời đại vu chúc!”
Vu nhạc nổi lên, một đoàn cả chục vu nữ nối đuôi nhau tiến vào trong tiếng nhạc.
Cơ Tuyết lạnh lùng liếc qua đám vu nữ, đoạn lớn giọng nói với Xuân Mai: “Mai Nhi, trang điểm!” Đợi Xuân Mai tiến tới gần, bèn hạ thấp giọng. “Kéo dài thời gian.”
Xuân Mai trong lòng thấp thỏm, hỏi nhỏ: “Nếu... không tới được thì sao?”
“Thì kéo dài tới ngày mai!”
Xuân Mai gật đầu, thần thái điềm tĩnh, bắt đầu trang điểm cho Cơ Tuyết.
Vu nhạc nổi lên hết khúc này sang khúc khác, mấy vu nữ nhảy múa điệu lên đồng, đại vu chúc lầm rầm tụng niệm, không biết đang lảm nhảm những gì.
Xuân Mai vẫn thong thả trang điểm.
Ồn ào một hồi lâu, vu chúc phẩy tay, vu nhạc bèn ngừng bặt.
Vu chúc đưa mắt nhìn Kỷ Cửu Nhi, thấy ông ta gật đầu, bèn dõng dạc lên tiếng: “Giờ cát đã tới, thực thi đại lễ cho thái hậu!”
Một vu nữ trên tay bưng chiếc khay đen bước vào, trên khay là một bình nhỏ đựng kịch độc.
Cơ Tuyết sắc mặt điềm nhiên, ngồi lặng im bất động. Xuân Mai vẫn tiếp tục trang điểm cho nàng. Đại vu chúc băn khoăn nhìn sang Kỷ Cửu Nhi. Kỷ Cửu Nhi tiến lên vài bước, vừa định mở miệng thì Xuân Mai đã quắc mắt nhìn ông ta, quát lớn: “Không thấy thái hậu đang trang điểm vì tiên quân ư? Còn không mau lui xuống!”
Lời Xuân Mai không thể bắt bẻ. Thái hậu sắp đi hầu hạ tiên quân, đương nhiên cần trang điểm cho tiên quân vui lòng. Kỷ Cửu Nhi đảo mắt mấy vòng, rồi quay sang vu chúc phẩy tay. Đám vu sư lùi lại vài bước, vu nhạc lại nổi. Xuân Mai bước theo mấy bước, mang ra một tấm rèm châu, dặn hai thái giám treo lên trước điện, rồi quay sang Kỷ Cửu Nhi quát lớn: “Ồn ào quá thể! Ra ngoài kia mà khua khoắng, thái hậu muốn được yên tĩnh!”
Kỷ Cửu Nhi sắc mặt đỏ bừng, song Dịch Vương đã dặn hắn không được thất lễ, nên đành phải nhẫn nhịn, bảo đám người lui ra ngoài cung, cho dừng tấu nhạc.
Lại nửa canh giờ nữa trôi qua, Kỷ Cửu Nhi không thể chờ đợi thêm được nữa, bèn nói với vu chúc: “Thái hậu hẳn đã trang điểm xong rồi. Tấu nhạc!”
Nhạc cúng lại vang lên, đám vu nữ tiếp tục nhảy múa nghiêng ngả.
Kỷ Cửu Nhi đang định dẫn đám người xông vào cửa, thì một cung nữ thở hổn hển không ra hơi chạy vọt tới như bay, xông thẳng vào cửa cung, vừa chạy vừa hét gọi đến lạc giọng: “Mai tỷ...”
Kỷ Cửu Nhi hét lớn: “Bắt ả lại!”
Vài người xông tới, giữ chặt lấy cung nữ.
Cung nữ liều mình như chẳng có, vừa vùng vẫy thật lực, vừa gào lớn về phía cửa cung: “Tô đại nhân hồi triều rồi! Mau lên, Mai tỷ, mau bẩm báo với nương nương, Tô đại nhân hồi triều rồi!”
Hết thảy những người có mặt đều bàng hoàng sửng sốt.
Tô Tần không hẹn mà tới, người kinh hãi nhất chính là Dịch Vương: “Nói lại xem nào!”
Ngự sử Mao Ninh đang trực ở tiền điện bẩm tấu: “Đại vương, đúng là tướng quốc sáu nước Tô Tần, giương cao cờ sáu nước, cùng hai mươi cỗ xe ngựa, ba trăm quân sĩ, suốt dọc đường khua trống tấu nhạc. Thuộc hạ dưới cờ của hắn là Viên tướng quân đã đến trước tấu báo, hiện đang ở tiên điện. Toàn bộ nước Yên thảy đều kinh động, tin tức mau chóng lan truyền, dân chúng Kế Thành hay tin tướng quốc sáu nước Tô Tử hồi triều, đều reo hò nhảy múa, dìu già dắt trẻ nườm nượp kéo tới cổng thành nam nghênh đón.”
“Tô Tử? Cổng nam? Cờ sáu nước?” Dịch Vương lẩm bẩm nhắc lại.
“Giờ này e là đã đi qua cổng nam rồi!”
Dịch Vương cuối cùng cũng bừng tỉnh từ trong kinh hãi, cất giọng gấp gáp: “Mau lên, khởi giá ra đón!” Đột nhiên lại sực nhớ ra một điều, liền quay sang thái giám. “Truyền Kỷ Cửu Nhi, đại lễ của thái hậu tạm thời dừng lại.”
Dịch Vương mau chóng thay vương phục, triệu tập các bề tôi đang trực trong cung ra cửa cung nghênh đón. Trên con phố lớn trước cung thành sớm đã chật ních, tiếng người ồn ã, chiêng trống vang trời, bách tính từ già tới trẻ đứng chen chúc hai bên phố cung kính nghênh đón Tô Tử.
Đằng xa, đoàn xe của Tô Tần đang lộc cộc từ phía nam tiến tới.
Xe của Tô Tần dần tiến lại gần.
Thấy dân chúng kéo tới mỗi lúc một đông, Dịch Vương khẽ nhướng mày, rồi cúi người tháo bỏ hài rồng, đi chân trần ra nghênh đón. Đây gọi là “chân trần nghênh đón”, là đại lễ đón khách của chư hầu liệt quốc. Quần thần thấy vậy, cũng đều cúi xuống cởi giày, đi chân trần đứng ở phía sau Dịch Vương.
Tô Tần sớm đã xuống xe đi bộ, nhìn thấy rõ hành động của đám quân thần, cũng vội vã đá văng đôi giày đi.
Hai đoàn người dần tiến lại gần nhau. Khi chỉ còn cách tầm mười bước chân, Tô Tần khuỵu gối quỳ xuống, khấu đầu hô lớn: “Vi thần Tô Tần khấu kiến chúa thượng!”
“Ái khanh miễn lễ!” Dịch Vương vội bước lên trước, đỡ Tô Tần dậy, cầm tay Tô Tần, quan sát một lượt từ đầu tới chân, giọng ngạc nhiên xen lẫn trách móc: “Ái khanh, quả nhân sớm đã tâm niệm rằng, hễ ái khanh hồi triều, quả nhân sẽ xuất thành ba mươi dặm nghênh đón. Thế mà... ái khanh nói về là về ngay, chẳng hề cho quả nhân lấy một chút cơ hội, khiến cho ý nguyện của quả nhân tan thành mây khói!”
“Vi thần vội vã, chưa kịp tấu báo, cầu xin chúa thượng trị tội!”
Dịch Vương cười vang mà nói: “Ái khanh hiển quý là tướng quốc của sáu nước, quân chủ của một tiểu bang sao dám trị tội tướng quốc sáu nước đây?”
“Chúa thượng nói vậy, vi thần càng thêm sợ hãi!”
Tô Tần cúi gập người, ra chiều muốn thỉnh tội! Dịch Vương ngăn lại, cười mà nói: “Thôi, không nói chuyện này nữa. Ở đây gió lạnh, ái khanh mau theo quả nhân hồi cung, quân thần chúng ta cùng trò chuyện!”
Dịch Vương nắm tay Tô Tần quay trở về cung, nói dăm ba câu khách sáo, rồi vào ngay chuyện chính: “Sáu nước hợp tung, mọi việc bộn bề, Tô Tử không hẹn mà về, thực ngoài dự liệu của quả nhân. Dám hỏi Tô Tử, có chuyện gì mà cấp bách đến vậy?”
“Hồi bẩm chúa thượng!” Tô Tần trầm giọng đáp lời. “Nếu không có nước Yên, thần đâu có được ngày hôm nay. Hay tin tiên quân không kham nổi đường xa vất vả, long thể đổ bệnh, vi thần ăn không ngon, ngủ không yên, lập tức hồi cung xem sự thể ra sao. Vi thần ruổi ngựa ngày đêm không nghỉ, nào ngờ...” hai mắt ngấn lệ, “nào ngờ vẫn đã muộn rồi!”
Thấy Tô Tần nhắc tới Yên Văn Công, Dịch Vương không nói lời nào, cố nặn ra vài giọt nước mắt, nghẹn ngào mà nói: “Than ôi, hội thề lần này, công phụ đích thân ngự giá, quả nhân lo lắng cho sức khoẻ của người, đã nhiều lần khuyên can, tỏ ý muốn đi thay công phụ, song công phụ dứt khoát không đồng ý. Quả nhiên, công phụ đã...” Rồi nấc lên từng chặp, lần tìm khăn lụa lau nước mắt.
“Than ôi!” Tô Tần thở dài buồn bã. “Vi thần lo lắng nhất là long thể của tiên quân. Trong hội thề, vi thần quan sát tiên quân, thấy long thể vẫn khoẻ, ăn uống cũng không có gì đáng ngại. Hội thề vừa kết thúc, tiên quân đột nhiên khởi giá về Yên, vi thần thấy lạ thường, dò hỏi điện hạ công tử Khoái, điện hạ cũng không biết. Vi thần trong lòng sợ hãi, muốn tiễn cũng chẳng kịp. Nào ngờ tiên quân trở về lần này, lại... lại thành vĩnh biệt!” Nức nở vài tiếng, lại ngẩng nhìn Dịch Vương. “Dám hỏi chúa thượng, tiên quân lần này gấp rút trở về, phải chăng trong nước có đại sự?”
Dịch Vương lại gạt nước mắt vài lần, cố ghìm tiếng nghẹn ngào: “Kỳ thực, trong nước không hề có đại sự, có lẽ công phụ cảm thấy thân thể bất thường, không muốn băng hà nơi đất khách, mới vội vã khởi giá hồi cung. Quả nhân hay tin công phụ trở về, đã phái ngự y tới Vũ Dương nghênh đón. Nghe ngự y nói, lúc đó công phụ đã nguy rồi. Ngự y khuyên người ở lại Vũ Dương nghỉ ngơi vài ngày, tĩnh dưỡng long thể, công phụ lại không chịu, kiên quyết đòi về cung Kế. Kết quả là, ngay hôm công phụ vừa về đến cung, đã... đã...”
Dịch Vương lại lau nước mắt.
“Vi thần muốn tế bái tiên quân, thỉnh cầu chúa thượng ân chuẩn.”
“Được! Được! Quả nhân sẽ cùng đi!” Dịch Vương quay sang Kỷ Cửu Nhi lúc này đã từ cung Cam Đường trở về. “Khởi giá tới Thái miếu!”
Quân thần hai người tới Thái miếu, lần lượt tế lễ trước linh vị Văn Công.
Tô Tần nhìn đăm đăm vào linh vị Văn Công một hồi, rồi quay sang nói với Dịch Vương: “Hay tin chúa thượng đã phong phu nhân của tiên quân làm thái hậu, dám hỏi thái hậu ngọc thể có khoẻ không?”
“Than ôi!” Dịch Vương thở dài một tiếng. “Công phụ băng hà, mẫu hậu đau thương đến không thiết sống, mấy ngày liền chẳng buồn ăn uống, một lòng... một lòng muốn theo công phụ...”
“Ồ?” Tô Tần ra vẻ kinh ngạc. “Chúa thượng có đồng ý không?”
“Mẫu hậu hiền lương thục đức, là mẫu nghi thiên hạ, rất được người Yên yêu mến, quả nhân sao có thể đồng ý?” Dịch Vương lại thở dài một tiếng. “Chỉ có điều... mẫu hậu ý đã quyết, quả nhân khổ sở khuyên can nhiều lần, song người dứt khoát không nghe. Là vãn bối, quả nhân không dám cãi lời mẫu hậu, nếu ân chuẩn thì thực không mong muốn; nếu không ân chuẩn, lại là bất hiếu. Không giấu Tô Tử, quả nhân tiến thoái lưỡng nan, đang vì chuyện này mà đau đầu khổ sở!”
Nghe thấy Cơ Tuyết vẫn chưa bị tuẫn táng, Tô Tần thở phào một tiếng, hướng về linh vị Văn Công lạy liền mấy lạy, rồi quay sang Dịch Vương vòng tay nói: “Chúa thượng không ân chuẩn, đủ thấy đức dày của chúa thượng, thực là may mắn cho nước Yên, may mắn cho bách tính, may mắn cho chúa thượng!”
“May mắn cho quả nhân?” Dịch Vương ngạc nhiên, nhìn sững vào Tô Tần.
Lời Tô Tần ý vị sâu xa: “Chúa thượng, phong tục trong thiên hạ đã thay đổi, tuẫn táng người sống từ lâu đã bị coi là hủ tục man rợ, nơi nơi tẩy chay, dù là Kinh Sở vùng nam man cũng coi đó là sỉ nhục. Cách đây không lâu, vọng tộc họ Chiêu nước Sở mai táng người thân, con trai Chiêu Dương thân làm lệnh doãn, đã tiên phong phá bỏ hủ tục này, thả hết ba mươi hai đồng nam đồng nữ vốn định dùng để tuẫn táng theo mẹ, mà thay bằng tượng gốm, được vạn dân Kinh Sở hết lòng ca ngợi. Thái hậu hiền lương thục đức, mẫu nghi thiên hạ, nay lại muốn tuẫn táng, thiên hạ hẳn đều ngỏng cổ dõi theo. Chúa thượng nếu như đồng ý, bảo thiên hạ phải nhìn người Yên thế nào đây? Bảo người Yên phải nhìn chúa thượng thế nào đây? Chúa thượng làm sao có thể lưu lại tiếng thơm trong sử sách? Bởi vậy, vi thần mới chúc mừng chúa thượng, chúc mừng nước Yên!”
Những lời này khiến Dịch Vương nghe mà lạnh toát trong lòng: “Tô Tử nói rất phải. Song thái hậu khăng khăng đòi tuẫn táng, quả nhân thực không biết phải làm sao.”
“Nếu đúng như lời chúa thượng nói, hẳn là do thái hậu quá nặng tình với tiên quân. Tiên quân băng hà, phu nhân đau thương quá độ, khăng khăng muốn tuẫn thân là điều dễ hiểu. Theo vi thần biết, phu nhân hiền thục hiểu lễ, hẳn sẽ không cố chấp tình riêng với tiên quân mà bỏ quên đại nghĩa với nước. Vi thần có hiểu chút tâm thuật, có lẽ sẽ can gián được phu nhân thay đổi ý định này.”
“Vậy thì tốt quá!” Dịch Vương quay sang Kỷ Cửu Nhi. “Mau đi bẩm báo thái hậu, nói rằng khoảng một tuần hương nữa, quả nhân sẽ cùng tướng quốc sáu nước Tô Tử tới thỉnh an.”
Ngự giá đã tới, song không có lấy một ai ra quỳ trước cung nghênh đón như thường ngày.
Bước vào cung Cam Đường, một bầu không khí tang tóc xộc thẳng vào trước mặt, thậm chí, vẻ tang tóc này còn nặng nề hơn cả khi đám vu sư đến hành đại lễ vài canh giờ trước đó. Tất cả cung nhân đứng dàn hàng ở hai bên sảnh, thảy đều mình mặc áo sô, ai nấy đứng sẵn trên ghế đẩu, tay nâng dải lụa trắng, một đầu dải lụa đã buộc vào thanh gỗ bắc ngang trên trần, thanh gỗ rõ ràng cũng vừa được bắc.
Nhìn thấy tình cảnh này, dù là ai cũng phải dựng ngược tóc gáy.
Phía cuối hai hàng cung nhân treo một bức rèm châu, sau bức rèm là một Cơ Tuyết lạnh lùng tựa băng sương đang ngồi nghiêm ngắn. Nàng vận bộ trang phục tân nương từng mặc khi xuất giá, khắp người vàng ngọc rực rỡ, châu sa chói lọi. Đứng sau lưng nàng là Xuân Mai lạnh lùng y hệt, trên đầu cũng lủng lẳng một dải lụa trắng, chân giẫm lên ghế đẩu. Trên mặt bàn phía trước Cơ Tuyết đặt một khay bạc, trên khay là lọ sứ xám xịt, hiển nhiên, trong đó đựng thứ thuốc độc mà nàng sắp phải uống vào.
Trận thế hùng hồn này khiến tất cả những người vừa tới đều hồn bay phách lạc. Dịch Vương vừa bước vào tới cửa cung bất giác lùi liền mấy bước, ngã ngồi xuống đất. Kỷ Cửu Nhi cuống quýt chạy lại, đỡ hắn dậy.
Dịch Vương chỉ tay vào trong cung, hỏi Kỷ Cửu Nhi: “Nói mau, chuyện này... chuyện này là thế nào?”
Kỷ Cửu Nhi thoạt tiên cũng bàng hoàng, song đã nhanh chóng hiểu ra, vừa cuống vừa giận, song lại không dám nói toẹt trước mặt Tô Tần, chỉ biết ấp úng: “Lão... lão nô không biết!”
Dịch Vương loạng choạng lao tới trước bức rèm châu, khấu đầu mà nói: “Mẫu hậu, chuyện này... chuyện này là thế nào?”
“Nghe nói giờ tốt đã tới!” Cơ Tuyết cất giọng lạnh lẽo. “Bản cung muốn hành đại lễ, đi theo tiên quân. Đại vương tới đây, hẳn là muốn đích thân tiễn biệt bản cung?”
Dịch Vương kinh hãi không thốt nên lời, chỉ dập đầu lia lịa.
“Tạ ơn đại vương!” Cơ Tuyết lạnh lùng khẽ liếc xéo hắn, rồi nói với Xuân Mai. “Mai Nhi, đưa lọ độc lại đây, đã tới lúc bản cung đi hầu hạ tiên quân rồi!”
Xuân Mai dõng dạc “vâng” một tiếng, buông tay khỏi dải lụa trắng, nhảy xuống ghế, đi lên phía trước, cầm lấy chiếc lọ trên khay bạc, đang định mở nút bình thì Dịch Vương giơ tay kêu lớn: “Mẫu hậu, không được! Dứt khoát không thể!”
“Ồ?” Cơ Tuyết lạnh lùng nhìn hắn. “Đại vương còn có ý chỉ gì?”
“Mẫu hậu!” Dịch Vương nước mắt ròng ròng. “Nhi thần bất hiếu, nhi thần khẩn thiết cầu xin mẫu hậu, chớ... chớ nên tuẫn thân!”
Cơ Tuyết lại “ồ” lên một tiếng, cười nhạt mà nói: “Bản cung đi theo hầu hạ tiên quân là do đại vương khâm định, ngày tốt giờ lành cũng là do đại vương lựa chọn, đại vương ở ngôi cửu ngũ chí tôn, lẽ nào cũng nói lời rồi lật lọng?”
Dịch Vương cứng họng không thốt nên lời, chỉ biết khấu đầu liên hồi.
“Đại vương long thể vàng ngọc, chớ nên để da đầu sứt mẻ!” Cơ Tuyết thấy hắn dập đầu cồm cộp trên nền nhà, thì cất lời nhạt nhẽo.
“Là... là nhi thần nói đùa, nhi thần biết sai rồi! Nhi thần khẩn cầu mẫu hậu, đừng... đừng tuẫn thân nữa!” Dịch Vương luống cuống, lời nói cũng thành ra không đầu không cuối.
Cơ Tuyết thu thần nghiêm mặt, giọng đầy châm biếm: “Đại vương tôn quý, có thể nói đùa, còn bản cung thì không thể. Người Yên trọng chữ tín, giữ lời thề, bản cung đã gả cho người Yên, đương nhiên sẽ tuân thủ thánh chỉ, tuẫn thân theo tiên quân. Mai Nhi, còn chần chừ gì nữa?”
Mai Nhi bèn mở nút bình, lấy ra một hoàn thuốc.
Dịch Vương cuống cuồng hét lớn: “Kỷ Cửu Nhi!”
Kỷ Cửu Nhi lao vọt tới như tên bắn, kéo rèm châu, đưa tay cướp lấy hoàn thuốc.
Xuân Mai bản lĩnh cao cường, chỉ cười nhạt một tiếng, nghiêng người né tránh, trừng mắt quát lớn: “To gan, dám làm càn trước mặt thái hậu!” Rồi tung chân đạp Kỷ Cẩu Nhi ngã lộn nhào trên đất, lại bồi thêm một cước, đá hắn văng ra ngoài rèm châu, khiến Kỷ Cửu Nhi đau đến mặt mày méo xẹo, song không dám kêu rên lấy một tiếng.
Sự tình đã tới nước này, Dịch Vương không còn biết ứng phó ra sao. Xuân Mai đưa hoàn thuốc cho thái hậu, thái hậu cầm ở trên tay, nhìn qua một lát, rồi môi son hé mở, toan uống vào. Bỗng từ phía sau Dịch Vương vang lên một tiếng ho khẽ.
Dịch Vương quay phắt người lại, thấy Tô Tần không biết đã quỳ ở đó từ bao giờ, thì như bắt được cứu tinh, cuống quýt kêu lên: “Tô Tử, mau lên, mau nói gì đi!”
“Vi thần Tô Tần cung chúc thái hậu thánh an!” Tô Tần cuối cùng đã lên tiếng.
Thân thể Cơ Tuyết rùng khẽ một cái, rồi lại mau chóng im lìm.
Trong cung lặng phắc như tờ.
“Con dân Đại Chu Tô Tần tham kiến công chúa, cầu chúc công chúa vạn an!” Tô Tần đổi giọng, không gọi là thái hậu nữa, mà đổi thành công chúa.
Nghe Tô Tần nhắc lại lối xưng hô xưa kia, giọng nói khẩn thiết, Cơ Tuyết quả nhiên đã động lòng, toàn thân run rẩy, rồi nhân đà bật khóc mà nói: “Tô Tử tới đây hẳn cũng là muốn đưa tiễn bản cung?” Rồi nâng khăn lụa lau nước mắt. “Tốt! Tốt lắm! Trước lúc bản cung ra đi còn được gặp đồng hương cũ, cũng đã mãn nguyện rồi. Chỉ có điều, Tô Tử đã tới, bản cung muốn cậy nhờ một việc. Lúc nào Tô Tử trở về Lạc Dương, hãy thay mặt bản cung khấu đầu vấn an phụ vương, nói rằng con gái bất hiếu Cơ Tuyết trung hiếu không thể vẹn cả đôi đường, đã tận trung mà không tận hiếu!” Nói đoạn, hai tay bưng mặt, nức nở nghẹn ngào.
“Thái hậu nhầm rồi!” Tô Tần lại đổi cách xưng hô, giọng nói cũng khàn đi. “Tô Tần tới đây, không phải là để đưa tiễn thái hậu.”
“Không phải để đưa tiễn, vậy Tô Tử tới đây làm gì?”
“Khuyên can thái hậu hãy nghĩ cho bách tính thiên hạ, nghe lời đại vương, chớ nên tuẫn táng!”
Cơ Tuyết dừng cơn nức nở, giọng nói lại lạnh lùng: “Tô Tử, còn muốn nói gì nữa không?”
“Tô Tần còn có một lời, thỉnh cầu thái hậu lắng nghe!”
“Cứ nói!”
“Thái hậu nếu khăng khăng đòi tuẫn táng, tuy mãn nguyện cho mình, song có năm điều không thoả đáng.”
“Là năm điều gì?”
“Đạo trời nhân từ, thánh nhân không theo hủ tục. Tuẫn táng người sống là đi ngược với đạo trời, chính là hủ tục. Nếu thái hậu tuẫn thân, tức là làm trái đạo trời, đây là điều không thoả đáng thứ nhất. Tiên quân là bậc quân chủ nhân từ hiếu sinh, thấy chim non lạc mẹ cũng còn thương xót, nếu thái hậu tuẫn táng, là làm trái với thánh đức của tiên quân, đây là điều không thoả đáng thứ hai. Liệt quốc đều đã bỏ tục tuẫn táng người sống, thay bằng đồ vật hoặc tượng gốm, thái hậu là mẫu nghi thiên hạ, nếu bản thân lại tuẫn táng, bảo vạn dân biết theo bỏ thế nào đây, đây là điều không thoả đáng thứ ba. Đại vương mới lên ngôi, mọi việc bề bộn, mới bắt đầu thực thi nền chính trị nhân nghĩa, nếu thái hậu tuẫn táng lúc này, chính là đã đẩy đại vương vào chỗ bất nhân bất nghĩa, đây là điều không thoả đáng thứ tư. Người Yên ở vùng hoang vu phía bắc, tai hoạ liên miên, cuộc sống cơ hàn. Nay tiên quân băng hà, tân vương mới vừa tức vị, lòng dân cần được vỗ về, xã tắc cần được an định. Thái hậu đức hạnh làm gương mẫu cho vạn dân, nếu như tuẫn táng, bảo đại vương phải đối mặt với muôn dân nước Yên thế nào? Đây là điều không thoả đáng thứ năm. Có năm điều không thoả đáng này, vi thần khẩn cầu thái hậu suy xét lại!”
Tô Tần vừa nói dứt câu, Dịch Vương cũng đã tìm ra được lý do, lập tức tiếp lời: “Tô Tử nói rất phải. Mẫu hậu, nhi thần khẩn cầu mẫu hậu hãy nghĩ cho bách tính thiên hạ, nghĩ cho bách tính nước Yên, chớ nên tuẫn táng!”
“Than ôi!” Sau một hồi lâu im lặng, Cơ Tuyết thở dài một tiếng. “Tô Tử đã nói tới nước này, bản cung có thể không tuẫn thân. Song, bản cung có một thỉnh cầu.”
“Chỉ cần mẫu hậu lên tiếng, đừng nói là một, dù là mười lời thỉnh cầu, nhi thân cũng sẽ chấp thuận!” Dịch Vương vội vã đáp lời.
“Từ ngày mai, bản cung sẽ rời khỏi cung Cam Đường, tu thân dưỡng tính. Mọi việc trong cung, không được phiền tới bản cung nữa!”
Cơ Tuyết nói ra lời này, đừng nói là Dịch Vương, mà ngay cả Tô Tần cũng giật mình kinh ngạc.
“Dám hỏi mẫu hậu di giá tới đâu?” Dịch Vương vội hỏi.
“Trông lăng cho tiên quân!” Cơ Tuyết đáp rành rọt.
Tô Tần khẽ thở phào, thầm thán phục mưu này của Cơ Tuyết. Lăng mộ tiên quân xa tận Vũ Dương, Cơ Tuyết nếu muốn thoát khỏi tay Dịch Vương, thì lựa chọn tốt nhất chính là rời khỏi Kế Thành.
Cơ Tuyết muốn đi trông coi lăng mộ cho tiên quân là điều Dịch Vương tuyệt đối không thể ngờ tới.
“Chuyện này...” Dịch Vương bất giác liếc mắt sang Kỷ Cửu Nhi, như thể hắn mới là chủ nhân của mình.
Không để Kỷ Cửu Nhi kịp lên tiếng, Cơ Tuyết đã cắt ngang: “Sao?”
“Nhi... nhi thần...”
“Bản cung đã thành hôn với tiên quân, đương nhiên là người của tiên quân. Tiên quân ra đi, thân này lại không thể tuẫn táng, chẳng nhẽ tới trông coi lăng mộ cho tiên quân mà đại vương cũng không cho phép ư?” Cơ Tuyết cất giọng lạnh lẽo như băng.
“Nhi thần không... không có ý đấy!” Dịch Vương đảo con ngươi vài vòng, đáp lời. “Như Tô Tử đã nói, mẫu hậu hiền lương thục đức, mẫu nghi thiên hạ, Kế cung không thể vắng mẫu hậu, nước Yên càng không thể thiếu mẫu hậu.”
“Không thể thiếu ư, nói hay lắm!” Cơ Tuyết cười nhạt. “Tiên quân băng hà, bản cung thân là thái hậu, đã trở thành quá khứ. Đợi đến khi tân nương của đại vương nhập cung, tự khắc sẽ có bậc mẫu nghi thiên hạ. Còn với nước Yên, bản cung chỉ là đi trông nom lăng mộ của tiên quân, lẽ nào Cao Lăng của tiên quân không phải ở nước Yên?”
Dịch Vương cứng họng không nói được lời nào, lại thêm đã lỡ hứa trước, chỉ còn biết đáp lời: “Nếu mẫu hậu đã thỉnh cầu như vậy, nhi thần không dám từ chối!” Đoạn quay sang Kỷ Cửu Nhi. “Truyền chỉ Vũ Dương lệnh, tu sửa ly cung, nghênh đón loan giá của thái hậu. Ly cung phải cung phụng đầy đủ, giống như cung Cam Đường.”
“Thần tuân chi!”
Sau khi rời khỏi cung Cam Đường, Tô Tần cùng Dịch Vương trở về cung Minh Quang. Dịch Vương suốt dọc đường u uất buồn bực, Tô Tần lại hết sức thận trọng ngồi thêm với hắn nửa canh giờ, cũng chẳng biết nói chuyện gì cho phù hợp, bèn kể lại một lượt chuyện hội thề hợp tung ở Mạnh Tân cho Dịch Vương nghe. Vì đây là chuyện cũ, lại bởi trong lòng nặng trĩu, nên Dịch Vương gắng gượng nghe được một lúc thì ngáp liền mấy cái. Tô Tần hiểu ý, vòng tay cáo từ. Dịch Vương nói thêm vài câu khách sáo, rồi sai Kỷ Cửu Nhi tiễn khách.
Tiễn Tô Tần về rồi, Kỷ Cửu Nhi mau chóng quay trở lại, thấy Dịch Vương vẫn âu sầu buồn bã, bèn khẽ giọng bẩm báo: “Chuyện ngày hôm nay, lão nô thấy rất lạ lùng!”
Dịch Vương đưa mắt nhìn Kỷ Cửu Nhi, không nói gì, song hiển nhiên là muốn nghe.
“Thái hậu nếu thực lòng muốn tuẫn thân, thì giờ Ngọ đã phải ra đi rồi mới phải. Lão nô và thầy cúng đã mấy lần giục giã, song thái hậu nào là tắm gội, nào là trang điểm, nào là xông hương, lần lữa kéo dài, vốn không hề có ý tuẫn thân. Lão nô thoạt tiên ngỡ rằng thái hậu vẫn còn muốn sống, còn khuyên thái hậu hồi tâm chuyển ý, nào ngờ thái hậu cố tình kéo dài thời gian là để chờ người tới.”
“Ý ngươi là, thái hậu biết Tô Tử sắp tới?” Dịch Vương trợn mắt.
“Lão nô cho rằng, thái hậu không chỉ biết Tô Tử sắp tới, mà sự xuất hiện của Tô Tử nhất định có liên quan tới thái hậu. Đại vương thử nghĩ mà xem, quân hợp tung sáu nước đều tập trung ở Hàm Cốc phạt Tần, Tô Tử thân là tướng quốc sáu nước, phải bận rộn đến nhường nào, tại sao lại bỏ bê mọi việc, vượt ngàn dặm xa xôi chạy tới nước Yên?”
“Tô Tử có ân tri ngộ với tiên quân, hay tin tiên quân băng hà, tới chịu tang cũng là lẽ thường tình.”
“Tiên quân băng hà, đại vương còn chưa chiếu cáo liệt quốc, Tô Tử vì sao lại biết? Hơn nữa, nếu tính kỹ ra, từ lúc tiên quân băng hà tới nay, được nổi bao nhiêu ngày, Tô Tử dù có nhận được tin, cũng dứt khoát không thể tới nhanh đến vậy. Nếu không nằm ngoài dự đoán của lão nô, hẳn là thái hậu đã gọi hắn về.”
Dịch Vương hít ngược một hơi dài, trầm tư suy ngẫm, hồi lâu sau mới ngẩng đầu lên, “ừm” một tiếng rồi nói: “Đúng là có hơi lạ lùng. Khi Tô Tử gặp thái hậu lần đầu, nghe lời nói của thái hậu, ta cảm thấy giữa họ đã thân quen từ trước, Tô Tử có lẽ là tới cậy nhờ thái hậu. Sau này, Tô Tử được tiên quân trọng dụng, hẳn là cũng có sự trợ giúp của thái hậu.”
“Sự việc ngày hôm nay càng thêm rõ ràng!” Kỷ Cửu Nhi tiếp lời. “Thái hậu hay tin đại vương và Tô Tử tới vấn an, đã cố tình bày ra cảnh tượng kia, là muốn ép buộc đại vương đồng ý với thỉnh cầu của mình.”
“Ngươi muốn nói tới việc thái hậu đòi đi trông lăng cho tiên quân?”
“Trông lăng là giả, mưu phản là thật!”
“Mưu phản?”
“Thái hậu sớm đã đoán ra nguyên nhân cái chết của tiên quân, chỉ là không có bằng chứng xác thực, hơn nữa bản thân lại đang ở Kế Thành, dù có điều tra ra, cũng không làm gì được, vì đã bị đại vương khống chế. Nếu thái hậu tới Vũ Dương, tình thế sẽ khác hẳn, ngang với thả hổ vào rừng, cá ra biển lớn, gần có Chử Mẫn, xa có Tô Tần, nếu lại có Tử Chi điều binh ở ngoài...” Kỷ Cửu Nhi nói tới đây thì dừng lại.
Dịch Vương bất giác rùng mình ớn lạnh.
“Khoan chưa nói tới chuyện này,” Kỷ Cửu Nhi nhân đà nói tiếp, “nếu lão nô đoán không nhầm, giữa thái hậu và Tô tướng quốc không chừng còn có mối quan hệ không minh bạch.”
“Gì kia?” Dịch Vương kinh ngạc.
“Vừa rồi ở cung Cam Đường, nô thần chú ý thấy, khi Tô Tần cất lời, thái hậu toàn thân run rẩy, đến giọng nói cũng đổi khác.”
Dịch Vương hồi tưởng kỹ lưỡng, rồi gật đầu nói: “Phải, hình như cũng có ít nhiều! Coi như ngươi nhanh mắt!” Nói đoạn nghiến răng ken két. “Con đàn bà hạ tiện, thảo nào không chịu phục tùng quả nhân, hoá ra là...” Thở hào hển mất một lúc, rồi nhìn sang Kỷ Cửu Nhi. “Sự việc đã tới nước này, theo ngươi, quả nhân nên làm thế nào?”
“Vô độc bất trượng phu, hay là nhân lúc còn chưa muộn, hãy đem thái hậu...” Kỷ Cửu Nhi đưa tay cứa ngang cần cổ.
“Chẳng ra sao!” Dịch Vương mắng một câu, rồi chìm vào suy nghĩ.
Khoảng một khắc trôi qua, Dịch Vương đột nhiên bật cười thành tiếng.
“Đại vương?”
“Nếu quả có chuyện tốt đẹp nhường vậy, quả nhân cớ gì lại không tác thành?” Càng nghĩ càng thấy phấn khích, Dịch Vương phá lên cười lớn một tràng.
Kỷ Cửu Nhi băn khoăn ngơ ngác.
Dịch Vương thôi cười, cất giọng lạnh lẽo thâm hiểm: “Tiên quân băng hà, quả nhân thân là thái tử, đường đường chính chính kế ngôi, xem kẻ nào dám cả gan mưu phản? Còn nếu giữa thái hậu và tướng quốc sáu nước, hô hô, nếu quả thực là có chuyện này, quả nhân mong còn chẳng được!”
“Ý đại vương là...” Kỷ Cửu Nhi dường như đã hiểu ra, cũng cười.
“Ngươi hiểu thì tốt!” Dịch Vương hạ thấp giọng căn dặn. “Đây là chuyện cơ mật, ngươi hãy cài người vào trong đám thị vệ, theo dõi sát sao thái hậu.”
Kỷ Cửu Nhi dõng dạc đáp lời: “Lão nô lĩnh chi!”
Trạch phủ mà Văn Công ban thưởng cho Tô Tần vẫn còn. Khi Tô Tần về phủ, Viên Báo đang cùng đám người hầu quét dọn lau chùi.
“Chúa công, thái hậu không sao chứ?” Viên Báo bước ra đón, vội hỏi.
“Tạm thời không có gì đáng ngại!” Tô Tần thấy hắn bận rộn đến mồ hôi đầm đìa, cười khẽ một tiếng, khen ngợi. “Viên huynh thực là người chăm chỉ.”
“Sao, chúa công muốn đi rồi ư?” Viên Báo giật mình.
“Nơi này có thể ở lâu được ư?” Tô Tần lại cười gượng, rồi lôi từ trong ống tay áo ra một bức mật thư. “Lại phải phiền Viên huynh giúp đỡ. Hiện tại đại sự đang ở Hàm Cốc, huynh hãy mau tới Thằng Trì, giao bức thư này cho Bàng tướng quân. Huynh hãy nói với Bàng tướng quân rằng, vài hôm nữa tại hạ sẽ tới!”
Viên Báo giấu thư vào túi ngầm trong lớp lót áo kép, quay người định đi chuẩn bị ngựa xe.
“Có vội đến đâu cũng không phải vội một chốc này!” Tô Tần cười nói với Viên Báo. “Đêm nay hãy ngủ ngon một giấc, sáng sớm mai lên đường cũng chưa muộn.”
Rạng sáng hôm sau, Viên Báo vừa đi khỏi, Trâu Phi Đao đã hối hả chạy tới, giao cho Tô Tần một mảnh lụa, nói là của Xuân Mai chuyển tới.
Tô Tần mở thư, vừa nhìn đã nhận ra bút tích của Cơ Tuyết, chỉ đề bốn chữ: “Gặp ở Vũ Dương”.
“Thái hậu rời cung khi nào?” Tô Tần hỏi.
“Nghe Xuân Mai nói, khởi giá vào giờ Ngọ.”
Hồi Thứ 52
Cầm sắt giao hòa, Cơ Tuyết tỏ nguyện
Tề - Yên tranh chấp, Tô Tần bôn ba
Tô Tần chờ trong phủ ba ngày liền, vẫn không thấy Dịch Vương triệu kiến. Tới ngày thứ tư, đúng hôm đại triều, Tô Tần lên triều với danh phận ngoại tướng, khiến bá quan rất mực chú tâm. Tô Tần nhìn khắp lượt, thấy triều đường toàn là người lạ, hai ban văn võ đa phần là thân tín của Dịch Vương, lão thái sư xưa kia vốn dĩ vô công rồi nghề ngồi nhà cũng xuất hiện trong hàng ngũ, chiếm chỗ đầu tiên trong dãy văn thần.
Dịch Vương tới chậm ba khắc, đã thế sau khi lên triều, chỉ xử lý một việc duy nhất: nghênh thân công chúa nước Tần. Qua tấu báo của triều thần, Tô Tần biết được, đoàn xe đưa dâu của nước Tần đã qua Triệu vào Yên, ba ngày nữa sẽ tới Kế Thành, đặc sứ đưa dâu vẫn là thượng đại phu Sư Lý Tật.
Nhìn thấy ván đã đóng thuyền, Tô Tần biết rằng có khuyên can cũng vô ích. Hơn nữa, đại chiến Hàm Cốc đã cận kề, Tô Tần thứ nhất không còn tâm trí đâu mà đấu khẩu với tình địch cũ Sư Lý Tật ở Kế Thành, thứ hai đã có hẹn với Cơ Tuyết ở Vũ Dương, do vậy không muốn nán lại Kế Thành thêm nữa, bèn lấy cớ bận việc hợp tung, cáo từ Dịch Vương. Dịch Vương nói vài câu đãi bôi níu giữ Tô Tần, rồi cũng thuận nước đẩy thuyền mà ân chuẩn.
Tô Tần cùng Trâu Phi Đao mau chóng tới ly cung. Xuân Mai đón hai người, đưa vào một khu nhà ẩn khuất. Trong nhà không một bóng người, Xuân Mai ngăn Trâu Phi Đao lại, dẫn Tô Tần vào trong phòng khách, rồi quay trở ra, tiện tay khép cổng, cùng Trâu Phi Đao đứng canh phía ngoài.
Trong phòng khách vắng vẻ, Cơ Tuyết mình mặc hiếu phục, ngồi ngay ngắn trên chiếu chủ, lặng phắc như pho tượng. Tô Tần đứng trong cửa, trơ trơ như một gốc cây, song trái tim lại nhảy loạn trong lồng ngực.
Cơ Tuyết cũng vậy.
Trong phòng khách rộng lớn tại chốn thâm cung tĩnh mịch, một nam một nữ, một ngồi một đứng, không biết đã trôi qua bao lâu, chẳng ai mảy may xê dịch, thậm chí có thể cảm nhận được hơi thở và nhịp tim mỗi lúc càng thêm dồn dập của đối phương.
Người phá vỡ bầu tĩnh lặng, chính là Cơ Tuyết. Giọng nàng hơi run rẩy: “Tô Tử muốn đứng mãi thế ư?”
Tô Tần lúc này mới định thần lại, bèn bước lên trước hai bước, quỳ xuống dập đầu nói: “Vi thần Tô Tần khấu kiến thái hậu!”
“Miễn lễ!” Cơ Tuyết đáp khẽ một tiếng, chỉ vào chỗ ngồi đối diện. “Tô Tử mời ngồi, mời dùng trà!”
“Tạ ơn thái hậu!” Tô Tần lại bái lạy, rồi ngồi xuống.
Trên bàn trước mặt đã bày sẵn chiếc bát ngọc, Tô Tần bưng bát lên tay, mắt nhìn Cơ Tuyết không chớp. Mới có hai năm không gặp, Cơ Tuyết đã vóc dáng hao gầy, hình dung cũng tiều tụy thấy rõ.
“Là trà hoa nhài!” Cơ Tuyết cúi đầu tránh ánh nhìn của Tô Tần, cất giọng dịu dàng.
“Vậy ư?” Tô Tần vốn không để tâm tới trà, song vẫn nhấp một ngụm.
Cơ Tuyết cười buồn, nâng chén trà lên, nhấp khẽ, gượng tâm tư bình tĩnh trở lại.
Tô Tần biết, Cơ Tuyết khẩn cấp cho gọi mình tới, dứt khoát không phải để mời trà. Tô Tần lại nhấp vài ngụm, rồi đặt bát ngọc xuống, đi thẳng vào chuyện: “Thái hậu, mọi việc đều đã qua rồi, song vi thần thấy thái hậu âu lo chưa hết, là vì chuyện gì?”
Cơ Tuyết thuật lại một lượt từ đầu tới cuối sự biến trong cung Kế Thành, chỉ lược bỏ chuyện Dịch Vương uy hiếp, muốn làm điều bất chính với mình, cuối cùng khóc sụt sùi mà nói: “Thiếp bạc mệnh, gặp sự biến bất ngờ mà bị gả tới Yên thất. Yên thất cách xa Trung Nguyên, thiếp ngày ngày cô đơn trơ trọi, vốn dĩ muốn được sống yên ổn ở đất Yên cho đến hết đoạn đời tàn, không ngờ việc này nối tiếp việc kia, muôn việc bức bách, bảo thiếp...” Rồi nghẹn ngào không nói tiếp được nữa, nâng ống tay áo lên lau nước mắt.
Thấy Cơ Tuyết tự xưng là “thiếp”, Tô Tần trong lòng đau đớn, che ống tay áo khóc mà nói: “Là Tần vô dụng, đã để công chúa phải chịu khổ!”
Cơ Tuyết khẽ lắc đầu: “Là thiếp mệnh khổ, đâu liên quan gì tới Tô Tử?” Rồi lau nước mắt, ngẩng nhìn Tô Tần.
“Tô Tử, thiếp chỉ là việc nhỏ, nước Yên mới là việc lớn. Nay thiếp gọi gấp Tô Tử tới đây, là muốn cậy nhờ việc lớn.”
“Xin kính cẩn lắng nghe lời căn dặn của công chúa!”
“Cơ Tô đã mất đi nhân tính, huỷ diệt nhân luân, trước ép anh ruột, sau giết cha đẻ, sao có thể kế thừa đại nghiệp? Thiếp cho rằng, có thể dựa vào sức của Tử Chi, Chử Mẫn, triệu tập cựu thần của tiên quân, thiếp sẽ đứng ra, chiếu cáo di nguyện của tiên quân, truyền hịch thiên hạ, phế bỏ Cơ Tô, lập công tử Khoái, chỉnh đốn Yên thất.”
Tô Tần trầm ngâm suy nghĩ. Hồi lâu sau, khẽ lắc đầu.
Cơ Tuyết ngạc nhiên: “Ồ?”
“Dựa vào tình hình trước mắt,” Tô Tần chậm rãi giải thích, “nếu nói rằng điện hạ giết tiên quân, vẫn chưa đủ bằng chứng. Tuỳ tùng của tiên quân mất tích, tới nay vẫn không rõ hành tung, chúng ta có thể nghi ngờ, song không thể kết luận. Điện hạ danh phận đã định, nước Yên không ai không biết. Tiên quân băng hà, điện hạ kế ngôi, cũng là chính thống, khó nói là cướp đoạt ngôi vua. Tuy tiên quân có ý phế bỏ điện hạ, truyền ngôi cách đời, song tiếc là không có di chiếu. Không có di chiếu, chúng ta vô cớ xuất binh, người Yên không hiểu nguyên do, sao có thể tâm phục? Hơn nữa, điện hạ sớm có dã tâm cướp ngôi, từ lâu đã trù bị kỹ càng. Nay vây cánh hùng hậu, trong triều đình đều là thân tín, còn có thêm sự giúp sức từ ngự đệ của tiên quân là lão thái sư. Thân tộc cũ trong Yên thất đa phần răm rắp nghe theo thái sư, điện hạ có được sự trợ giúp của ông ta, nền móng đã vững chắc. Trọng thần của tiên quân, hoặc bị miễn chức, hoặc bị giáng chức, người có thể dùng được, chỉ có hai vị tướng quân Tử Chi và Chử Mẫn. Hai người này, chỉ dựa vào khẩu dụ của công chúa, chưa chắc đã chịu đứng ra. Những điều này tạm khoan nói đến, cái khó nhất vẫn là ở công tử Khoái. Công tử Khoái tấm lòng nhân hậu, kế thừa được phong thái của tiên quân. Nếu là người khác cướp ngôi, công tử có lẽ sẽ nghe lời công chúa. Song kẻ cướp ngôi lại chính là cha ruột của công tử, bảo công tử lựa chọn thế nào đây?”
Lời của Tô Tần khác nào một gáo nước lạnh hắt thẳng xuống đỉnh đầu. Cơ Tuyết ngả người ra sau, mặt nhợt nhạt không còn huyết sắc, nhắm nghiền mắt lại, hai dòng lệ lăn dài trên má. Đúng vậy, mấy ngày qua, trong lòng nàng chỉ canh cánh một chuyện này, chính là làm sao thực hiện được di nguyện của tiên quân, phế bỏ Cơ Tô, lập công tử Khoái, lập nên một vị quân chủ nhân từ cho Yên thất. Niềm thôi thúc quá lớn đã che mờ trí tuệ, khiến nàng chưa từng nghĩ được xa xôi đến vậy, chi tiết đến vậy.
“Công chúa?” Tô Tần không hiểu nguyên do, nhìn thấy thái độ của Cơ Tuyết mà kinh hãi, vội xoay người quỳ xuống. “Công chúa...”
“Tô Tử!” Không biết đã bao lâu sau, Cơ Tuyết mới từ từ mở mắt, nâng khăn lụa thấm đi dòng lệ, sắc mặt đã điềm tĩnh hơn nhiều. “Tô Tử về đi, ta... hơi mệt.”
Tô Tần trong lòng đau đớn đến chực khóc, vốn muốn giải thích vài câu, song ngập ngừng một lúc lại thôi, thay vào đó từ trong miệng chỉ thốt ra vài chữ hàm hồ đến bản thân cũng không nghe rõ: “Vi thần... cáo... lui...”
Tô Tần lại bái lạy rồi đứng dậy, chầm chậm lui ra. Tô Tần lui ra tới sân, từ trong phòng khách lại vọng ra giọng nói của Cơ Tuyết, rất đỗi nhu hoà: “Tô Tử, ngày mai sau lúc hoàng hôn, có rảnh rỗi chăng?”
“Có!” Tô Tần lập tức buột miệng đáp liền.
Giọng nói càng thêm dịu dàng: “Ngày mai là bàng sinh bá, là ngày tốt lành. Thần thiếp muốn mời Tô Tử thưởng nguyệt, được chăng?”
Bàng sinh bá là cách người Chu gọi ngày trăng rằm. Vào đêm rằm, trăng tròn vành vạnh, rất thích hợp cho thưởng nguyệt.
Tô Tần nghe thấy trong giọng nói của Cơ Tuyết không có mảy may trách cứ, thì biết rằng nàng không những không hiểu lầm, mà ngược lại rất thấu hiểu hắn, trong lòng vô cùng cảm động, run giọng đáp lời: “Xin vâng lời công chúa!”
Sau khi rời khỏi ly cung, Tô Tần lại tới phủ Chử Mẫn. Hai người ngồi bàn bạc một vài việc nước như tu sửa lăng mộ tiên quân, bảo vệ ly cung. Rồi Tô Tần cáo từ, quay về trạm dịch.
Trên đường đi, Tô Tần thấy Trâu Phi Đao chốc chốc lại lấy ra một vật từ trong tay áo, đưa lên trước mũi hít hà, bèn cười hỏi: “Trâu huynh có bảo bối gì vậy, tại hạ có thể thưởng lãm chăng?”
Trâu Phi Đao đưa lại một vật. Một làn hương lạ xộc vào mũi Tô Tần, thoang thoảng vấn vương, trong trẻo thanh khiết.
“Túi thơm thật đẹp!” Tô Tần khen ngợi. “Tô huynh có được thứ này ở đâu vậy?”
“Là Mai cô nương vừa mới tặng.” Trâu Phi Đao thực thà đáp. “Ồ, mà chúa công, ngài nói thử xem, vì sao Mai cô nương lại tặng tại hạ vật này?”
Tô Tần không trả lời, mà hỏi ngược lại: “Trâu huynh cảm thấy Mai cô nương thế nào?”
“Là người tốt!”
“Thích nàng ấy không?”
“Thích!”
Tô Tần cười vang mà nói: “Thích thì tốt!” Rồi đưa trả túi thơm. “Vật này quý giá, Trâu huynh hãy giữ gìn cẩn thận, chớ phụ lòng tốt của Mai cô nương.”
“Chỉ là,” Trâu Phi Đao lộ vẻ bối rối, “tại hạ chưa từng làm được chuyện gì cho Mai cô nương, cớ sao nàng ấy lại tặng tại hạ hậu lễ nhường này?”
“Nếu Trâu huynh cảm thấy áy náy, cớ sao không tặng lại một vật?” Tô Tần bèn gợi ý cho hắn.
“Không giấu chúa công, tại hạ cũng đã nghĩ tới chuyện này. Nhưng nhìn đi nhìn lại, chẳng thấy bên mình có vật gì quý giá, không biết tặng lại thứ gì?”
“Dám hỏi Trâu huynh, vật gì khiến huynh cảm thấy khó từ bỏ nhất?”
Trâu Phi Đao khẽ lắc đầu: “Tại hạ chẳng có thứ gì không thể từ bỏ.”
“Vậy thì...” Tô Tần lại gợi ý, “trong thời khắc sinh tử, nếu Trâu huynh vẫn còn một ý niệm, thì đó là gì?”
“Chúa công!”
“Tại hạ xin nghe, hãy nói đi!”
“Đã nói rồi đấy thôi, chính là chúa công. Chỉ cần chúa công được bình yên, tại hạ có chết cũng cam lòng!”
Nhìn vị nghĩa sĩ trung dũng vốn không quen biết song lại không màng sống chết bảo vệ mình suốt mấy năm qua, trong lòng Tô Tần chợt trào dâng một nỗi xúc động khôn tả.
“Trâu huynh!” Tô Tần khẽ gọi một tiếng từ sâu trong tâm khảm, rồi chầm chậm khép đôi mắt lại.
Ngày hôm sau, vào đêm trăng rằm.
Hoàng hôn vừa qua, một vầng thỏ ngọc dần nhô lên phía đằng đông, nhẹ lướt qua những đám mây trắng mỏng manh như lụa. Trên đài lộ thiên trong hậu hoa viên ly cung, gió bắc thổi mang theo hơi giá, nhuốm lạnh mặt nước hồ trong veo phía trước đài, khiến vầng trăng dưới đáy nước bị kéo dài thành muôn vệt sáng, tản mạn theo sóng.
Trên đài lộ thiên rộng lớn, ngoài chủ tớ Cơ Tuyết và Tô Tần, không còn ai khác. Cơ Tuyết trái ngược hẳn với hôm qua, tuy vẫn phục sức giản dị, son phấn nhẹ nhàng như trước, song trên mình đã thay áo lụa, không còn vận hiếu phục sô gai, tinh khí thần đều đã khác hẳn. Kiểu tóc cũng thay đổi, không còn chải búi cao theo lối phu nhân nước Yên, mà để búi tóc theo kiểu công chúa trong vương cung Lạc Dương ngày trước, có hơi xoã rối, toát lên vẻ phóng khoáng ngây thơ. Tô Tần nhận thấy những ưu sầu trong nàng đã hoàn toàn tan biến. Dưới ánh trăng vằng vặc, Tô Tần thậm chí còn nhận ra niềm hân hoan thấp thoáng trên nét mặt, và nét cười ẩn hiện nơi khoé môi nàng.
Tô Tần biết, đêm trăng tròn này thuộc về hắn, tất cả những chuẩn bị này, đều là vì hắn. Trong lòng Tô Tần xúc động dâng trào, cổ họng như có vật gì tắc nghẽn, nuốt không xuống, nhả không ra, cứ nghẹn ứ tại chỗ, cứ thế lan toả xuống dưới, luồn sâu vào tận trong tim.
“Tô Tử!” Cơ Tuyết nở một nụ cười ngọt ngào. “Thiếp lâu lắm rồi không động tới đàn cầm, hôm nay gió trong trăng sáng, thiếp chợt khởi hứng, muốn gảy tặng Tô Tử một khúc, cho thoả tai nghe.”
Tô Tần cổ họng vẫn nghẹn đắng, không thốt nổi thành lời, chỉ biết vòng tay vái lia lịa.
“Mai Nhi, bày đàn!”
Xuân Mai mang lại chiếc bàn dài, đặt xuống trước mặt Cơ Tuyết, lại nâng cây đàn bên cạnh lên, bày lên bàn.
“Mai Nhi, hôm nay gió lạnh trăng cao, chị gảy đàn một mình cũng không tận hứng. Sao không mang đàn sắt của em lại đây, chị em ta cùng hoà tấu một khúc tặng Tô Tử, chẳng phải càng tuyệt diệu hơn ư?”
Xuân Mai vốn không thông âm luật, từ sau khi cùng Cơ Tuyết tới cung Yên, mới theo công chúa học nghệ. Cơ Tuyết yêu đàn cầm, cho Xuân Mai học đàn sắt. Có công mài sắt có ngày nên kim, hơn mười năm qua, cầm nghệ của Xuân Mai cũng đã thành xuất sắc. Chủ tớ hai người thường hoà tấu cầm sắt, để tiêu khiển cho qua những tháng năm dằng dặc. Tuy nhiên, trong một buổi tối thế này, ở trước mặt hai người đàn ông kia, công chúa không chỉ công khai xưng chị em với Xuân Mai, mà còn gọi cùng hoà tấu cầm sắt, quả thực Xuân Mai nằm mơ cũng không nghĩ tới.
Xuân Mai vừa kinh ngạc vừa hoang mang, lắp bắp: “Công chúa, nô... nô... nô tỳ thân phận hèn hạ, nào... nào dám...”
“Mai Nhi!” Cơ Tuyết cảm khái mà nói. “Hãy nhớ rằng, trong lòng chị, từ lâu em đã không còn là nô tỳ, mà là em gái. Khi ở Lạc Dương, em vốn theo Vũ Nhi, là Vũ Nhi không nỡ ly biệt, mới để em theo chị. Em thay Vũ Nhi theo chị, thì cũng chính là em gái của chị. Mai Nhi, đi nào, mang đàn sắt lại đây, hôm nay dưới ánh trăng trong, chị em ta hãy hoà tấu một khúc tặng Tô Tử. Tô Tử tinh thông âm luật, xứng là tri âm, khúc nhạc của chúng ta, có thể nhờ Tô Tử chỉ giáo.”
Lời Cơ Tuyết xuất phát tự đáy lòng, rất mực chân thành, khiến Xuân Mai cảm động đến nước mắt giàn giụa, bèn quỳ xuống sụt sùi mà nói: “Công chúa...”
Tô Tần cũng cảm động, vòng tay nói: “Tại hạ được nghe nhã tấu của Mai cô nương, thật là diễm phúc!” Chợt nhướng mày một cái, quay sang Trâu Phi Đao. “Trâu huynh, lại đây, huynh đệ chúng ta cùng thưởng thức nhã tấu của hai chị em công chúa, chẳng phải thoả chí lắm ư!”
Trâu Phi Đao ngượng nghịu vặn xoắn hai bàn tay, cười nói: “Tại hạ tai trâu, chỉ e làm hỏng nhã khúc!” Song lời vừa dứt, người đã tiến tới, ngồi xuống bên cạnh Tô Tần.
Xuân Mai liếc nhìn hắn, đôi má đỏ bừng, may mà có ánh trăng che giấu giúp phần nào. Đã tới nước này, Xuân Mai cũng khó lòng từ chối, lại mang tới một chiếc bàn nữa, lấy đàn sắt ra, từ tốn ngồi xuống, bắt đầu chỉnh dây đàn như Cơ Tuyết vẫn thường làm.
Một lát sau, các dây đàn đã được chỉnh xong.
Xuân Mai, Cơ Tuyết nhìn nhau gật đầu, rồi cùng khởi tấu.
Thoạt đầu, hai người tay đưa chậm rãi, cầm sắt hài hoà, âm điệu ngân nga, tựa như gió lạnh thổi qua sườn dốc, nhạn thu lướt ngang bầu không. Đến đoạn thứ hai, cầm sắt mỗi đàn một điệu, cầm xướng sắt hoạ, xen kẽ giao thoa, như tiếng chim đối đáp, trời đất giao hoà. Tiếp đến, tiếng đàn cầm trong trẻo du dương, tiếng đàn sắt nỉ non trầm lắng, hai điệu hai âm, sắt cầm hoà quyện, như bầy chim bay lên từ bãi sậy, như gió mạnh thổi xuyên qua núi rừng. Những đoạn tiếp theo, tiếng đàn sắt bật dây xen lẫn với tiếng đàn cầm trượt phím, tự do khoáng đạt, bát ngát hoang lương, như chim hồng hốt hoảng chao cánh, như mưa rào chợt đổ, thi thoảng âm thanh vút cao chót vót, hoặc như tiếng sấm rền từ chín tầng trời, hoặc như giông bão ào qua khe núi, hoặc như sắt đá va đập, hoặc như sóng dữ xô bờ. Thình lình, cầm sắt lại hài hoà, ngón tay nhấn nhá, dây đàn nhẹ rung, dư âm vương vấn, khác nào nắng lên sau khi tuyết tạnh, gió lạnh phất phơ phả vào trước mặt, khí trong mát thấm vào tận ruột gan.
Tô Tần vốn là người hiểu nhạc. Cầm sắt vừa khởi, Tô Tần đã khép hờ hai mắt, nghiêng tai lắng nghe. Lúc đầu còn dõi theo ngón đàn của hai người, phẩm giá từng điệu. Nhưng không lâu sau, trong tai có âm, trong tâm không ngón. Tiếp nữa, âm và ngón đều biến mất, chỉ thấy thân tâm bay bổng, bồng bênh phiêu dật, như dải lụa cuốn bay theo gió. Sau cùng, thân tâm cũng đều biến mất, như si như mộng, trong cõi mơ màng, chợt nghe vài tiếng vang vọng, cầm sắt đều dừng, mọi âm im bặt.
Tô Tần choàng tỉnh, vỗ tay mà thốt lên kinh ngạc: “Quả nhiên cầm sắt hoà hợp, đúng là khúc đàn tuyệt diệu trong thiên hạ!”
“Đa tạ Tô Tử khen ngợi!” Cơ Tuyết vòng tay cảm tạ.
Xuân Mai dường như vẫn đang chìm đắm trong tiếng nhạc, tay tuy đã dừng, song người vẫn thẫn thờ tại chỗ.
“Dám hỏi công chúa, khúc này tên gọi là gì mà kỳ diệu đến vậy?”
“Không có tên. Là do thiếp trong đêm dài đằng đẵng, nhìn gió trong trăng lạnh mà tự làm ra. Nếu Tô Tử muốn đặt tên, hãy miễn cưỡng gọi nó là ‘Tuyết lạnh trăng hàn’!” Giọng Cơ Tuyết có phần run rẩy.
Tô Tần rầu rầu không nói. Đất Yên lạnh lẽo, đêm dài dằng dặc, ngày qua ngày, năm lại năm, trong đó chất chứa bao nỗi thê lương, bao niềm chua xót, đè trĩu lên cơ thể mảnh mai yếu ớt của công chúa, một khúc “Tuyết lạnh trăng hàn” kia tuyệt không thể nào thấu tận.
Hồi lâu sau, Tô Tần mới thốt được một lời từ sâu trong tâm khảm: “Công chúa, công chúa đã... chịu khổ rồi!”
“Tô Tử...” Có lẽ quá ư xúc động, có lẽ không kham nổi cái giá lạnh trên đài lộ thiên, Cơ Tuyết bỗng nhiên cơ thể mềm rũ, ngã nghiêng trên cây đàn cầm đầu phượng.
“Công chúa!” Tô Tần lao vụt tới bên Cơ Tuyết, đưa tay giữ lấy nàng, bật khóc mà gọi. “Công chúa, nàng làm sao thế này?”
Cơ Tuyết từ từ hé mắt, giọng mong manh yếu ớt: “Tô Tử, trời lạnh trăng hàn, đêm nay... chàng đừng về, được không?”
Đêm đó, Tô Tần đã không về.
Hôm sau, rồi hôm sau nữa, Tô Tần cũng không về. Tô Tần và Cơ Tuyết giống như hai đống củi khô nỏ cuối cùng đã bắt được một đốm lửa trong ngày đông gió lạnh, thoắt đã bùng cháy rừng rực.
Chập tối ngày thứ tư, người kề cận trong phòng ngủ lại không phải Cơ Tuyết, mà là Xuân Mai.
Xuân Mai mình mặc áo ngủ, lặng lẽ đứng ở bên giường, đầu cúi gằm, sắc mặt đỏ ửng, giống như một đứa trẻ đang nhận lỗi.
“Xuân Mai, không còn sớm nữa, hãy về nghỉ đi!” Tô Tần nằm nghiêng trên giường, chăn bông đắp ngang người, cất giọng ôn tồn.
Xuân Mai lí nhí “vâng” một tiếng, rồi thổi tắt đèn dầu, bắt đầu sột soạt tháo đai cởi áo.
“Xuân Mai, cô... cô làm gì thế?” Tô Tần nghe thấy âm thanh bất thường, bất giác giật mình.
“Tô đại nhân...” Xuân Mai dừng tay, từ từ quỳ xuống bên giường, khẽ khàng bẩm báo. “Nô tỳ thân phận hèn mọn, phụng mệnh công chúa hầu hạ đại nhân, mong đại nhân không chê bỏ!”
“Chuyện này... chuyện này sao có thể được?” Tô Tần bàng hoàng kinh sợ, mò mẫm lần tìm đá mồi lửa bên mép giường, vội đánh lửa thắp đèn. “Mau lên, đứng dậy đi, mặc áo ngoài vào!”
Xuân Mai quỳ dưới đất không chịu đứng dậy, bật khóc mà nói: “Đại nhân hẳn là chê bai nô tỳ?”
“Sao... sao... sao cô lại nói như vậy?” Tô Tần dứt khoát đưa tay kéo cô ta dậy, cầm tấm áo ngoài khoác lên người cô ta. “Mau gọi công chúa vào đây, ta có điều muốn hỏi nàng!”
Xuân Mai ngập ngừng một lát, rồi quay người bước ra khỏi cửa.
Không để Xuân Mai phải gọi, Cơ Tuyết đã đẩy cửa phòng, chậm rãi bước vào.
Tô Tần tiến lên vài bước, đưa tay giữ lấy Cơ Tuyết, lập tức trách móc: “Tuyết Nhi, nàng... nàng mụ mị mất rồi ư, sao lại hồ đồ đến vậy?”
“Tô Tử, lẽ nào chàng không ưng Mai Nhi?” Cơ Tuyết dịu dàng đáp lời. “Mai Nhi tuy là nô tỳ, song thần thiếp đã xem cô ấy như em một. Mai Nhi thông minh, lanh lợi, rất mực trung thành, chàng cũng đã thấy rồi, chỉ trong mười năm, ngón đàn sắt của Mai Nhi đã tuyệt diệu nhường nào, không thua kém gì thiếp. Hơn nữa, Mai Nhi còn rất giỏi nữ công...”
“Tuyết Nhi, nàng đừng nói nữa! Trên đời này, ngoài Tuyết Nhi, dù là tiên nữ hạ phàm, Tô Tần cũng không chút động lòng!”
“Tô Tử!” Cơ Tuyết ôm chặt lấy Tô Tần, khẽ sụt sùi. “Như vậy... thật không công bằng.”
“Cớ sao nàng lại nói vậy?”
“Tô Tử, chàng vì thiếp mà giữ mình như ngọc, còn thiếp... lại không thể dành cho chàng một tấm thân nguyên vẹn, trong lòng vô cùng đau khổ. Mai Nhi tuy không phải là thiếp, song lại là xử nữ, với thiếp lại ý hợp tâm đầu, có thể thế thân cho thiếp, mong Tô Tử đừng chê.”
“Tuyết Nhi, nàng...” Tô Tử nhẹ nhàng vuốt ve mái tóc mềm của Cơ Tuyết, “nàng thực sự coi trọng chữ trinh đến vậy ư?”
“Theo như thiếp biết, tất cả nam tử đều coi trọng.”
“Trinh nữ trong thiên hạ đông đến hàng vạn, song Tuyết Nhi lại chỉ có một. Nam tử trong thiên hạ đông đến hàng vạn, song Tô Tần cũng chỉ có một. Tuyết Nhi, nàng hãy nhớ, đối với Tô Tần, là xử nữ hay không chỉ là vô nghĩa, duy chỉ có nàng là có nghĩa với ta, Tuyết Nhi!”
“Tô Tử...” Cơ Tuyết thì thầm, nhìn Tô Tần mà nước mắt giàn giụa.
“Tuyết Nhi, nàng hãy nghe cho kỹ!” Tô Tần từ từ quỳ xuống, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. “Có thiên địa nhật nguyệt chứng giám, Tô Tần đời này chỉ yêu duy nhất một người, chính là Tuyết Nhi!”
“Tô Tử...” Cơ Tuyết nức nở, lao vào lòng Tô Tần, vùi mặt vào ngực hắn.
Nhìn thấy Xuân Mai mình mặc áo ngủ chậm rãi bước vào phòng ngủ của thái hậu, lòng Trâu Phi Đao khác nào kim châm dao cứa.
Hắn biết người đang đợi trong gian phòng kia là ai, cũng biết Xuân Mai vào trong đó làm gì, bởi khi thái hậu dặn dò Xuân Mai, hắn đã nghe không sót một chữ.
Hắn không phải cố tình nghe lén. Tô Tần và thái hậu đêm đêm gặp gỡ, để đề phòng bất trắc, hắn và Xuân Mai cùng nhau canh gác trong thiên điện ngoài cung cấm. Đêm dài dằng dặc, trong cung hai tình hoà hợp, ngoài cung bốn mắt giao nhau, tình cảm giữa hai người ngày càng nồng đượm. Vào đêm nay, hắn đã hạ quyết tâm, vội vã chạy về trạm dịch, mở tay nải vẫn mang theo bên mình, lấy ra một món báu vật. Chính là một mũi phi đao trông rất đỗi bình thường, được đúc từ sắt tinh, chỉ nạm chút đồng trên chuôi. Vật này tuy không quý giá, song đối với Trâu Phi Đao, lại là vô giá, bởi đó là của sư phụ tặng cho. Hắn giấu kỹ như báu vật, sự tình có nguy cấp tới đâu cũng không nỡ lấy ra dùng. Lúc này, hắn quyết định nghe theo lời của chủ nhân, đem tặng Xuân Mai, người con gái duy nhất trên đời này trong lòng có hắn, thực sự yêu thương hắn.
Trâu Phi Đao cất phi đao vào ống tay áo, tâm tư kích động chạy tới ly cung, song không ngờ lại nghe thấy những lời thái hậu dặn dò Xuân Mai. Tiếp đến, hắn nhìn thấy Xuân Mai mình mặc áo ngủ, nhích từng bước chậm chạp vào trong tẩm cung. Khi những ngọn đèn trong phòng ngủ của thái hậu lần lượt tắt phụt, Trâu Phi Đao đang đứng trong bóng tối cách đó không xa.
Trâu Phi Đao hai chân cứng đờ, máu huyết ngưng tụ, tim như ngừng đập.
Dường như cũng chỉ trong khoảnh khắc, Trâu Phi Đao đã định thần trở lại, quay đầu vội vã bỏ đi.
Trâu Phi Đao chạy như bay ra khỏi ly cung, lao vào một cánh rừng nằm sâu thẳm trong đồng hoang. Vài chùm ánh trăng chênh chếch xuyên qua tán lá lưa thưa, rọi xuống mặt hắn. Hắn chậm chạp ngồi xuống một vạt cỏ, lặng lẽ lôi chiếc túi thơm của Xuân Mai ra, lại lần tìm trong tay áo mũi phi đao mà hắn định tặng cho nàng, đặt hai vật song song trên đất, một mình đau khổ.
Đúng vào lúc này, từ trong cánh rừng vọng lại những âm thanh khác lạ.
Có người bám theo hắn!
Trâu Phi Đao cả kinh, rút phắt mũi phi đao giắt trên mình, lạnh lùng quát lớn: “Ai? Ra mau!”
Người kia lại không xuất hiện, chỉ nghe vài tiếng lào xào từ bụi cây bên trái trước mặt.
Trâu Phi Đao sẵn đang bực bội trong lòng, “vụt” một tiếng phóng luôn mũi phi đao về phía phát ra tiếng động. Đây là mũi phi đao đoạt mạng, đao phi máu chảy. Song trong lùm cây lại không thấy phát ra tiếng ngã đổ hay tiếng kêu rú thảm thiết như dự đoán, trong khi tiếng lào xào vẫn y như cũ. Trâu Phi Đao kinh hãi, lại phi liền mấy mũi nữa về phía lùm cây, đao đao trí mạng. Người kia đã không hề ngã xuống, ngược lại còn cười lên khanh khách, chậm rãi bước ra, rồi ung dung tiến thẳng lại gần, hai tay dang ngang.
Dưới ánh trăng mờ ảo, Trâu Phi Đao nhìn thấy những mũi phi đao nhỏ bé vừa phóng đi đều bị kẹp gọn giữa các kẽ ngón tay của người kia.
Trâu Phi Đao trợn mắt há miệng, đứng ngây tại chỗ.
Người kia đầu đội nón lá, mình mặc áo nâu cánh ngắn, cứ thế tiến sát lại gần, mới vung tay một cái, quăng toàn bộ số phi đao trong tay xuống trước mặt Trâu Phi Đao, cười vang mà nói: “Phi đao tuyệt diệu, suýt nữa đã lấy mất mạng già này!”
Trâu Phi Đao giờ mới nhận ra là ai, vội quỳ sụp xuống đất, vui buồn lẫn lộn, bật khóc mà gọi: “Sư phụ...”
Người tới, chính là Khuất Tương Tử.
Sau khi an táng Tuỳ Sào Tử xong xuôi, Khuất Tương Tử lập tức rời khỏi Nghiêu Sơn, trước hết tới Lạc Dương, sau tới Kế Thành, rồi lần theo tung tích tới đây.
“Sư phụ, sao... sao người lại tới đây? Đệ tử có nằm mơ cũng nhớ đến sư phụ, cứ ngỡ rằng đời này... không còn được gặp lại... sư phụ nữa!”
“Ha ha, chẳng phải đã tới rồi ư?” Khuất Tương Tử mỉm cười, khoanh chân ngồi xuống trước mặt hắn, ánh mắt dừng lại trên chiếc túi thơm và mũi phi đao dưới đất, ngắm nghía một lát, rồi cầm túi thơm lên hít hà vài cái. “Thơm quá, là cô nương nào tặng cho con vậy?”
“Mai cô nương.”
“Là thị nữ thân tín của thái hậu nước Yên?”
“Đúng vậy!”
Rõ ràng, Khuất Tương Tử sớm đã hiểu rõ sự tình. Ông đặt túi thơm xuống, nhìn chăm chú vào hai vật đặt song song trên đất, hồi lâu sau mới nghiêng đầu nhìn Trâu Phi Đao: “Con sắp đặt như vậy, có thể nhìn ra dụng tâm của con. Xem ra, con vẫn chưa được thoả nguyện. Gặp phải chuyện không như ý rồi ư?”
“Không... không có!”
“Ha ha, trước mặt sư phụ, còn không chịu thừa nhận? Con tận mắt nhìn thấy Mai cô nương bước vào tẩm cung hầu hạ Tô Tử, trong lòng hẳn là thất vọng, phải không?”
“Sư... sư phụ...”
“Con theo Tô Tử mấy năm rồi?”
“Hơn ba năm!”
“Con mụ mẫm vì tình mất rồi. Hơn ba năm, tức là hơn nghìn ngày, con ngày ngày đều theo Tô Tử, Tô Tử là người thế nào, con còn không hiểu ư?”
Đúng là một lời thức tỉnh người trong mộng.
Trâu Phi Đao đang đau đớn cõi lòng, lúc này tựa như bị dội xuống một thùng nước lạnh.
“Ta lại hỏi con, có yêu Mai cô nương không?”
“Yêu!”
“Yêu gì ở cô ấy?”
Trâu Phi Đao cúi thấp đầu.
“Con có biết thế nào là yêu không?”
“Đệ... đệ tử không biết!”
“Yêu có hai loại, một là đại ái, hai là tiểu ái. Chút ít tình yêu như con, gọi là tiểu ái. Tiểu ái lại phân thành bốn loại, yêu do hoạn nạn, yêu do tưởng tượng, yêu do quen biết, yêu do dung mạo. Con thử nghĩ xem, tình yêu của con dành cho Mai cô nương thuộc loại nào?”
Trâu Phi Đao nghe mà ngẩn tò te, cúi đầu suy nghĩ một hồi, đột nhiên ngẩng đầu lên hỏi: “Sư phụ, đệ tử dám hỏi thế nào là đại ái?”
Khuất Tương Tử không trả lời, mà nhìn xa xăm lên bầu trời đêm, ngắm vầng trăng tròn lơ lửng ngọn cây hồi lâu, rồi hỏi ngược lại hắn: “Con có biết thế nào là dũng không?”
“Dũng tức là không sợ chết!”
Khuất Tương Tử vẫn nhìn miên man lên bầu trời, nửa như tự nhủ, nửa như trả lời: “Phải, dũng tức là không sợ chết. Hai mươi năm trước, sư phụ cũng đã trả lời như vậy.”
“Sư phụ?”
“Khi đó, sư phụ tuổi cũng bằng con bây giờ, tuổi trẻ khí thịnh, võ nghệ siêu quần, dũng vũ hàng đầu thiên hạ. Một ngày nọ, sư phụ nghe nói có một vị Mặc giả tuyên truyền ‘Phi công’(1) trên phố, rất không phục, bèn đeo kiếm dài đội mũ cao, chạy tới trước mặt ông ta hét lớn: ‘Vãn sinh Khuất Tương hiểu dũng, nghe tiên sinh phản đối tranh đấu, tới xin chỉ giáo.’ Vị Mặc giả kia liếc mắt nhìn sư phụ, rồi từ tốn hỏi: ‘Thiếu hiệp đã hiểu dũng, vậy có biết dũng là gì chăng?’ Sư phụ dõng dạc trả lời: ‘Dũng là không sợ chết.’ Mặc giả kia lắc đầu lia lịa. Sư phụ tức giận, bèn rút kiếm chỉ vào đầu ông ta quát: ‘Nói thì tha, không nói thì chết!”’
Trâu Phi Đao sốt sắng hỏi: “Sư phụ, vị Mặc giả đó có nói không?”
“Đương nhiên là có nói!” Khuất Tương Tử thu lại ánh nhìn, quay sang Trâu Phi Đao, chậm rãi kể tiếp. “Mặc giả kia dõng dạc đáp lời: ‘Theo tại hạ được biết, dũng có năm loại. Xông pha vào rừng rậm, chém tê giác hổ báo, bắt gấu, beo, là dũng của thợ săn. Lao xuống vực sâu, chém thuồng luồng, bắt ba ba, cá sấu, là dũng của người đánh cá. Leo cao vượt hiểm, đứng thẳng nhìn ra tứ phía, sắc mặt không thay đổi, là dũng của thợ gốm. Đánh là đâm, nhìn là giết, là dũng của người hành hình. Còn có một loại dũng nữa, thời xưa từng gặp ở người Lỗ. Tề Hoàn Công khởi binh phạt Lỗ, muốn lấy đất Lỗ làm vùng đất phía nam của mình. Lỗ Công lo lắng, ba ngày liền không thiết ăn uống. Người Lỗ Tào Quế hay tin, bèn tới doanh trại Tề, gặp Hoàn Công liền nói: ‘Thần nghe nói, quân chủ nhục thì bề tôi chết, nay quân chủ của thần chịu nhục, thần chỉ có chết mà thôi. Thần thỉnh cầu lui binh, nếu không lui binh, thần xin tự cắt cổ, dùng máu phun lên người chúa thượng.’ Nói xong, Tào Quế rút kiếm kề ngang cổ, nhìn trừng trừng vào Hoàn Công. Hoàn Công thất kinh, Quản Trọng nhân dịp can gián, cuối cùng Tề Lỗ kết minh ước, trở thành láng giềng hoà thuận, hai bên tự động lui binh. Tào Quế vốn là kẻ thất phu đi bộ, áo vải giày cỏ, một cơn thịnh nộ mà đẩy lui được đội quân vạn cỗ xe, giữ được một nước nghìn cỗ xe. Dũng này hào khí trường tồn, xứng danh là dũng của quân tử. Năm loại dũng này, dám hỏi công tử, thứ nào tốt nhất?”
“Sư phụ, người trả lời thế nào?”
“Sư phụ nào có trả lời được, lập tức tháo kiếm dài, bỏ mũ cao, quỳ sụp xuống vái lạy, xin được nhận làm đệ tử.”
“Người đó có thu nạp không?”
“Ha ha ha!” Khuất Tương Tử cười sảng khoái. “Nếu không đồng ý, thì làm gì có sư phụ ngày nay của con!”
“Vị Mặc giả đó là ai?”
“Ông chính là sư phụ của sư phụ, Hồ Phi Tử, không chỉ là đệ tử yêu của tiên thánh Mặc gia Mặc Tử, mà còn là sư huynh của tiên cự tử Mặc gia Tuỳ Sào Tử, không những học vấn uyên thâm, mà võ công cũng vào hàng tuyệt đỉnh!”
Trâu Phi Đao lại bái lạy mà nói: “Đệ tử đã hiểu thế nào là đại ái. Đệ tử có một thỉnh cầu, mong sư phụ ân chuẩn!”
“Cứ nói!”
“Mặc giả dạy khắp bốn phương, nghĩa đầy thiên hạ, đệ tử sớm đã ngưỡng mộ trong lòng. Đệ tử nguyện theo sư phụ, vì đại ái thiên hạ, có phải lao vào dầu sôi lửa bỏng cũng cam lòng!”
Khuất Tương Tử trịnh trọng nói: “Con đã là đệ tử của sư phụ, đương nhiên cũng đã là Mặc giả. Những năm qua, con hiệp nghĩa can đảm, cứu giúp nguy nan, trợ giúp Tô Tử hợp tung thiên hạ, khiến cho bách tính tránh được binh hoạ can qua, chính là đang thi hành Mặc đạo. Tiên cự tử rất coi trọng con, sư phụ tới đây, là phụng theo di nguyện của tiên cự tử, giao phó cho con một trọng trách.”
Nghe nói là việc do tiên cự tử đích thân giao phó, Trâu Phi Đao tim đập thình thịch, hai mắt nhìn chằm chằm vào sư phụ không chớp.
Khuất Tương Tử cất giọng rành rọt: “Bảo vệ Tô Tử, trợ giúp Tô Tử hoàn thành đại nghiệp hợp tung thiên hạ.”
Một trọng trách quá đỗi nặng nề.
Lúc trước Trâu Phi Đao bảo vệ Tô Tần, chỉ là vì nghĩa khí, vì khâm phục nhân phẩm của Tô Tần. Nhiệm vụ bảo vệ này, chỉ qua một đêm đã tăng tiến thành đại nghiệp Mặc gia, hơn nữa lại là di mệnh của tiên cự tử, đã khiến Trâu Phi Đao có phần do dự, suy ngẫm hồi lâu mới ấp úng mà nói: “Di mệnh của tiên cự tử, đệ tử dù có thịt nát xương tan, cũng không từ chối! Nhưng...”
Khuất Tương Tử khẽ vỗ tay, lập tức từ trên hai gốc cây lớn gân đó có hai người áo nâu lao vụt xuống như cánh dơi, đứng sừng sững phía sau Khuất Tương Tử. Trâu Phi Đao trợn trừng hai mắt, bản lĩnh tới như hắn cũng không biết họ bay lên cây từ lúc nào.
Trâu Phi Đao còn chưa hết bàng hoàng thán phục, Khuất Tương Tử đã cười vang mà nói: “Con không đơn độc một mình!” Rồi chỉ vào hai người. “Đây là Mộc Hoa, còn đây là Mộc Thực, đều là cao thủ trong hàng cao thủ, cũng là sư huynh đệ của con. Từ hôm nay trở đi, họ sẽ theo sát con, nghe con sai bảo. Ngoài ra, sư phụ cũng đi theo, không rời xa con. Lúc nào sự việc cấp bách, tự khắc sẽ liên lạc với con.”
Trâu Phi Đao vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, vội đáp lời: “Đệ tử kính cẩn tuân lệnh sư phụ!”
Sớm hôm sau, vào giờ ăn sáng, Xuân Mai mang lên bữa điểm tâm và trà, rồi đứng hầu bên cạnh.
Tô Tần nhìn Xuân Mai, cười tủm tỉm đầy ẩn ý, hỏi: “Mai cô nương, Trâu huynh đâu rồi?”
Nghe ra ẩn ý của Tô Tần, Xuân Mai sắc mặt đỏ ửng, cúi thấp đầu khẽ đáp: “Nô tỳ không biết.”
“Cô nương mau đi tìm hắn, bảo hắn lại ăn sáng.”
Xuân Mai vâng lời, vội vã đi ra ngoài.
Nhìn theo bóng Xuân Mai một lúc, Tô Tần bèn ngoảnh đầu nói với Cơ Tuyết: “Tuyết Nhi, ta định tác thành một chuyện tốt đẹp, muốn hỏi ý kiến của nàng.”
Cơ Tuyết cười nói: “Việc chàng muốn làm, hãy cứ làm đi!”
“Chuyện này có liên quan tới Tuyết Nhi.”
“Ồ?” Cơ Tuyết thoáng ngạc nhiên.
Tô Tần liền nói thẳng. “Nàng tự nhận là chân thân của Mai cô nương, ta lại muốn làm mai cho nàng ấy. Nếu chân thân không đồng ý, tâm ý này há chẳng công cốc ư?”
Cơ Tuyết cười hỏi: “Ai vậy?”
“Xa tận chân trời, gần ngay trước mắt.”
“Ý chàng là... Trâu Phi Đao?”
Tô Tần khẽ gật đầu.
Cơ Tuyết thoáng ngần ngừ: “Thiếp phải hỏi Mai Nhi có đồng ý không đã.”
“Nàng ơi!” Tô Tần khẽ lắc đầu, cười vang mà nói. “Đã không hiểu Tô Tần của nàng, cũng chẳng hiểu về thế thân của nàng. Sự thực là hai người họ đã hai tình cùng ưa, sớm đã phải lòng nhau rồi, nàng lại không biết, còn ở đó mà chia rẽ uyên ương.”
Cơ Tuyết ngẩn người kinh ngạc.
Tuy nhiên, khi Tô Tần nhắc tới việc này, Trâu Phi Đao lại chần chừ không quyết.
“Trâu huynh!” Tô Tần đợi một lát, rồi cười nói. “Mai cô nương là người tốt, là một kỳ nữ hiếm có, với huynh lại rất mực tình thâm, huynh chớ nên phụ lòng người ta.”
Trâu Phi Đao nghiến chặt hàm răng, rồi lấy túi thơm ra, hai tay đưa cho Tô Tần: “Làm phiền chúa công chuyển lời tới Mai cô nương, tại hạ có lỗi với nàng ấy. Cũng nhờ chúa công trả lại bảo bối này cho nàng.”
Tô Tần sửng sốt: “Trâu huynh?”
“Chúa công!” Trâu Phi Đao trầm giọng nói. “Tại hạ lang thang phiêu bạt, không cửa không nhà, ngang ngạnh hiếu dũng, ra vào nơi nguy hiểm, tính mạng của bản thân còn lo chưa nổi, sao có thể sánh duyên đôi lứa, ăn đời ở kiếp với nàng?”
“Trâu huynh!” Tô Tần hiểu hắn muốn nói gì, run giọng mà rằng. “Là tại hạ đã làm liên luỵ tới huynh!”
“Chúa công chớ nên nói vậy!” Trâu Phi Đao quỳ xuống, bật khóc mà nói. “Tại hạ vốn là kẻ vô danh nơi đầu đường xó chợ, chúa công đã không chê bai, lại còn cho đi theo thực hiện đại nghiệp thiên hạ, như vậy tại hạ đã thoả nguyện rồi. Không phải tại hạ không yêu Mai cô nương, mà là tại hạ tâm mỏng lực yếu, bảo vệ chúa công còn không đủ, sao có thể để vướng bận thêm, khiến cho Mai cô nương phải nơm nớp sợ hãi?”
Những lời thẳng thắn của Trâu Phi Đao thực nằm ngoài dự liệu của Tô Tần, cũng khiến trong lòng hắn trào dâng một niềm chua xót. Đúng vậy, thiên hạ loạn lạc, tình thế nguy cấp, ải Hàm Cốc sắp máu chảy thành sông, vậy mà hắn lại rời xa cơn lốc xoáy, cứ mãi ở đây đắm đuối với chuyện nam nữ tư tình. Chuyện này khoan nói tới, đúng như Trâu Phi Đao đã nói, hắn đã không thể cho Cơ Tuyết một danh phận, cũng không thể ở lại bên nàng, đã không giúp được gì cho nàng, ngược lại còn khiến nàng phải lo âu sầu muộn. Hỡi ôi, đạo lý này đến kẻ tuỳ tùng bên mình còn thấu hiểu, vậy mà Tô Tần hắn lại...
“Trâu huynh!” Tô Tần chậm rãi ngẩng đầu lên. “Đa tạ huynh. Tại hạ nhất định ghi nhớ những lời huynh nói hôm nay!” Rồi cầm lấy túi thơm. “Bên cạnh công chúa không thể thiếu Mai cô nương, túi thơm này tại hạ sẽ trả lại cho nàng ấy giúp huynh. Huynh hãy mau đi chuẩn bị, chuyện ở Hàm Cốc không thể chậm trễ nữa rồi, chúng ta phải mau chóng lên đường mới được!”
“Xin nghe lời chúa công!”
Buổi tối hôm đó, khi Tô Tần trả lại túi thơm, Xuân Mai như sét đánh ngang tai, sắc mặt trắng bệch, hồi lâu mới định thần trở lại, hai tay run run đỡ lấy túi thơm, miễn cưỡng nặn ra một nụ cười nhạt nhẽo: “Đại nhân, công chúa, giờ không còn sớm nữa, nô tỳ cáo lui!” Nói xong, chậm chạp lui ra.
Nghe tiếng sụt sùi khe khẽ vọng lại từ ngoài cửa, Tô Tần, Cơ Tuyết đều thở dài sườn sượt.
Quân hợp tung sáu nước nghe theo quân lệnh của chủ soái Bàng Quyên, chia đường thẳng tiến tới Hào Quan.
Ải Hào Quan nằm ở phía tây Lạc Dương, bờ nam Hà Thuỷ, bắt đầu từ Thằng Trì phía đông, kết thúc ở Khúc Ốc phía tây, dài khoảng trăm dặm, núi cao khe sâu, đường đi khúc khuỷu, hiểm trở chẳng kém gì đường Hàm Cốc. Chỉ khác ở chỗ, Hào Quan rộng hơn, chỗ hẹp nhất cũng phải hơn mười trượng, có lợi cho hành quân vận lương. Còn đường Hàm Cốc hẹp hơn nhiều, đa phần chỉ rộng tầm một trượng, dễ thủ khó công.
Bàng Quyên đã bố trí xong xuôi. Chủ lực ba quân Ngụy, Hàn, Triệu đóng quân ở Thiểm và Khúc Ốc phía tây Hào Quan, đối diện với ải Hàm Cốc, đây là tuyến thứ nhất. Chủ lực quân Yên, Tề, Sở đóng quân ở vùng Thằng Trì phía đông Hào Quan, coi là tuyến thứ hai, hô ứng từ xa với tuyến thứ nhất. Tuy nhiên chỉ là đóng quân tạm thời, khi tiến công, mọi bố trí sẽ bị xáo trộn, lúc đó điều động thế nào, đều phải tuân theo mệnh lệnh của chủ soái.
Thiểm và Khúc Ốc là hai trọng ấp, nằm giữa Hào Quan và Hàm Cốc, phía bắc giáp Hà Thuỷ, ba mặt đều có núi non bao bọc, là vùng đất lòng chảo giữa vùng núi non, dễ phòng khó đánh, chu vi vài chục dặm, vào thời Xuân Thu thuộc về nước Bắc Quắc, đất Thiểm được gọi là Tiêu Thành, Khúc Ốc được gọi là Tang Điền. Do nơi này nối thông với hai cửa ải quan trọng, nên xưa nay vẫn là vùng đất tranh giành của binh gia, hiện tại vẫn thuộc lãnh thổ nước Ngụy.
Khu vực này rộng lớn bằng phẳng, chỉ có một ít gò đồi, là một sa trường vô cùng lý tưởng, đặc biệt có lợi cho chiến xa xung trận. Bàng Quyên bố trí quân tiên phong ở Khúc Ốc, bố trí ba đường phòng tuyến ở bên ngoài ải Hàm Cốc, trại tướng soái trung quân được đặt trên một vạt đồi đất bên ngoài Thiểm Thành, thành ấp biến thành trọng địa lương thảo và là nơi cứu thương, điều trọng binh trấn giữ.
Gió Bắc ào ào cuốn theo giá rét tái tê, thổi cờ xí đủ màu của quân hợp tung bay phần phật.
Trái ngược với cái giá lạnh thấu xương, sĩ khí của quân đội hợp tung hừng hực lên cao, đặc biệt là trong doanh trại quân Ngụy kéo dài bất tận, càng là sát khí đằng đằng. Tiếng hô xung phong tập trận trong các doanh trại hô ứng với tiếng giáo mác va chạm loảng xoảng từng hồi không ngớt bên tai.
Bên ngoài trại chủ soái trung quân, không khí rất mực trang nghiêm, binh lính giáp trụ uy phong, cầm kích đứng thành hai hàng. Trong trại, hai tham tướng và vài quân uý nghiêm trang chờ lệnh, mắt nhìn thẳng về phía trước. Chủ soái Bàng Quyên ngồi ngay ngắn phía sau bàn lớn, hai mắt mơ màng, hai tai dựng đứng, thần tình chăm chú, hiển nhiên đang tập trung lắng nghe gì đó, chốc chốc lại gập ngón tay gõ xuống mặt bàn.
Từ xa bỗng có tiếng xe ngựa lọc cọc vọng lại. Tiếng vó ngựa dừng bặt, phó tướng quân Ngụy Trương Mãnh nhảy xuống chiến xa, cấp tập bước vào trong trại, đang định bẩm báo, chợt thấy vẻ chăm chú của Bàng Quyên thì vội dừng lại, khẽ khàng bước lên trước, đứng nghiêm trang cách bàn chủ soái vài bước.
Bàng Quyên dường như không hề hay biết, vẫn chuyên tâm lắng nghe.
Trương Mãnh cũng nghiêng tai nghe, song xung quanh đủ loại âm thanh hỗn tạp, có tiếng khẩu lệnh, có tiếng ngựa hí, có tiếng chân bước rầm rập, có tiếng binh khí va chạm, có tiếng chim kêu rít, còn có cả tiếng cờ bay phần phật trong gió, hắn thực sự không thể nhận ra được chủ soái đang nghe gì, mà lại nghe đến xuất thần thế kia.
Lại đợi thêm một hồi, thấy Bàng Quyên vẫn chìm đắm trong nghe ngóng, Trương Mãnh khẽ đặng hắng một tiếng, rồi hạ giọng bẩm báo: “Chủ soái...”
“Suỵt!” Bàng Quyên phẩy tay ra hiệu. “Nghe này!” Rồi gập ngón tay lại gõ nhịp lên mặt bàn.
Cùng với nhịp gõ của hắn, Trương Mãnh dần dần nghe thấy một âm thanh rất mơ hồ. Âm thanh xuất phát từ một doanh trại rất xa, dù có vẻ hào hùng, song không thể át đi những tạp âm hỗn loạn xung quanh, nếu không chú ý lắng nghe, chắc chắn đã chìm nghỉm.
Là tiếng trống chiêng tấu nhạc và tiếng hát của binh sĩ. Rõ ràng có hai đội đang luân phiên hát cùng một bài, hệt như đang thi đấu. Lời ca rằng: “Vượt cầu, vượt cầu sông Hà, khởi binh thảo phạt tận nhà Tần Vương...”
Trương Mãnh cười hỏi: “Chủ soái đang nghe hát ư?”
Bàng Quyên quay sang, cười cười đáp lời: “Đây chính là bài hát mà bệ hạ và ba vị vương Sở, Tề, Hàn cùng hát ở Hổ Lao quan. Giờ được nghe thấy, thật là thú vị!”
Trương Mãnh ngần ngừ một thoáng: “Chủ soái hẳn là muốn các doanh các trại đều hát bài này, để khích lệ sĩ khí?”
“Ha ha ha, Trương tướng quân đã đoán đúng!” Bàng Quyên cười vang vài tiếng, rồi quay sang nói với tham tướng đứng hầu bên cạnh. “Truyền soái lệnh, từ hôm nay trở đi, các doanh trại của quân hợp tung đều hát bài này, nửa tháng sau sẽ mở hội thi, doanh trại nào hát hay, hát vang thì bản soái sẽ phong doanh trại đó làm tiên phong diệt địch!”
Tham tướng tuân lệnh đi ngay.
Trương Mãnh lại lấy làm kinh ngạc: “Chủ soái, chuyện này...”
Trương Mãnh định nói rằng, lấy việc hát vang, hát hay để chọn làm tiên phong diệt địch, liệu có phải là quá hoang đường, song cuối cùng lại im bặt.
“Không nói chuyện này nữa!” Bàng Quyên đổi giọng, chỉ vào chỗ ngồi phía trước. “Trương tướng quân, mời ngồi. Nhìn sắc mặt của tướng quân, hẳn có việc gấp, mau nói đi!”
Thấy Bàng Quyên đã hỏi, Trương Mãnh đành vòng tay bẩm báo: “Mạt tướng tới cầu chiến, tướng sĩ không thể chờ thêm nữa.”
“Hẳn là Trương tướng quân không thể chờ thêm nữa?” Bàng Quyên hỏi ngược lại.
Trương Mãnh bị hắn nhìn thấu tâm can, thì ấp úng: “Chủ soái, thời gian không đợi ta! Vài chục vạn quân hợp tung chờ lệnh đã hơn một tháng trời, nếu vẫn chưa quyết chiến, khoan nói tới chuyện ảnh hưởng tới sĩ khí, e là...”
“E là sao?”
“Việc khác chưa tính đến, chỉ riêng chuyện lương thảo đã vô cùng đáng ngại. Đại quân chen chúc trong Hào Quan, giờ đang là mùa đông, Hào Quan lại chỉ có một con đường, chúng ta vừa dùng để hành quân, lại vừa dùng để vận chuyển lương thảo, càng gấp càng không thể đáp ứng kịp. Hơn nữa, thời tiết thế này...”
“Được lắm, được lắm!” Bàng Quyên vô cùng hào hứng, khoa tay mà nói. “Tướng quân hãy nói về thời tiết đi!”
“Tiết Đại tuyết đã qua, Đông chí sắp tới, chẳng mấy mà nhập cửu (2). Thời tiết mỗi ngày một lạnh lẽo, vạn nhất đất trời băng giá, tuyết phủ kín đường, đừng nói là tấn công ải Hàm Cốc...” Trương Mãnh không dám nói tiếp nữa.
Song Bàng Quyên lại phấn khởi ra mặt, bất giác bật lên một tràng cười thật dài.
Trương Mãnh thấy Bàng Quyên cười thì sững lại, ngơ ngác nhìn hắn.
Bàng Quyên thôi cười, cất giọng sang sảng mà hỏi: “Trương tướng quân thông thạo đất này, tại hạ rất muốn biết, đất này lúc nào mới ‘đất trời băng giá, tuyết phủ kín đường’ như lời tướng quân vừa nói?”
“Cũng khó nói lắm! Sau khi nhập cửu, chỉ cần gió Tây Bắc thổi liền hai ngày, toàn bộ sông núi sẽ đóng băng hết.”
Bàng Quyên cười vang, gật đầu lia lịa: “Nói đúng lắm, trời có mưa gió khó lường!” Rồi quay ra ngoài trại gọi. “Người đâu!”
Một quân uý nghe tiếng bước vào.
“Chuẩn bị hai thùng gỗ, đổ đầy nước, đặt ở bên ngoài trại cho nước đóng băng, ngày quan sát hai lần sáng tối, ghi lại độ dày của lớp băng, tiên tục báo cáo cho ta!”
Quân uý “vâng” một tiếng, quay người bước đi.
Trương Mãnh nghi hoặc nhìn Bàng Quyên.
“Trương tướng quân!” Bàng Quyên cười hỏi. “Tướng quân còn có việc gì nữa không?”
“Mạt tướng... mạt tướng muốn...”
“Tướng quân muốn biết rốt cục là ngày nào phạt Tần ư? Được, hãy theo ta!” Bàng Quyên kéo Trương Mãnh ra ngoài trại, thấy quân uý đang đổ nước vào hai thùng gỗ, thì chỉ vào chúng mà nói. “Chính là ngày hai thùng nước kia đóng băng hoàn toàn.”
Trong đại doanh quân Yên, tướng Yên Tử Chi ngồi ngay ngắn, mắt chăm chú nhìn vào hổ phù điều binh trên bàn. Bên cạnh hổ phù đặt chiếu thư của tân quân cung Yên, nói rằng người Tề muốn tập kích Yên, yêu cầu Tử Chi lập tức rút quân, quay về phòng ngự Hà Gián.
Văn Công băng hà, điện hạ đăng cơ, quay mặt về nam xưng vương, nghênh thân công chúa nước Tần, Tề Yên hiềm khích, chiếu mệnh quay về phòng ngự... Sau khi hội thề sáu nước kết thúc, trước sau chưa đầy hai tháng, cung Yên liên tiếp xảy ra biến cố kinh tâm, dù Tử Chi có túc trí đa mưu đến đâu cũng khó lòng trù tính. Hợp tung là nền chính trị tương lai mà Văn Công cực lực chủ trương, tân quân lại không quan tâm tới thề ước hợp tung, hành sự kiểu này, càng khiến Tử Chi tiến thoái lưỡng nan. Không lui quân, vương mệnh khó trái. Mà lui quân, biết giải thích thế nào với các nước hợp tung? Nước Yên sau này sao có thể khiến thiên hạ tin tưởng?
Tử Chi đang không biết phải làm sao, bỗng thấy công tử Khoái chạy vào, khóc lóc kể lại đầu đuôi một lượt các biến cố trong cung, gồm cả chuyện mẫu thân cầu cứu nước Tề và bị phụ vương ban chết, chuyện thái hậu xin tuẫn táng, nhưng riêng chuyện phụ vương hạ độc giết tiên quân thì giấu nhẹm.
Tử Chi ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi trâm giọng hỏi: “Công tử, mạt tướng và công tử đã kết giao nhiều năm, cũng coi là tri kỷ. Mạt tướng có điều muốn hỏi công tử, xin công tử nói thực lòng.”
“Tướng quân cứ nói!”
“Mạt tướng nói ra lời đại nghịch, là đúng hay sai, xin công tử cứ tạm nghe thử. Mạt tướng quan sát điện hạ nhiều năm, biết điện hạ bụng dạ hẹp hòi, đã không thể mưu xa, phán xét cũng thiếu sáng suốt, phẩm hạnh uy đức không thể bằng phần vạn của tiên quân. Nếu không nằm ngoài dự đoán của mạt tướng, cung Yên để điện hạ nắm quyền, ắt sinh tai hoạ, đại nạn rồi sẽ giáng xuống nước Yên.”
“Tướng quân có kế hay chăng?”
“Phẩm hạnh của công tử, có thể theo kịp tiên quân. Người cứu được nước Yên, không ai khác ngoài công tử!”
Công tử Khoái trợn trừng hai mắt.
“Nếu công tử có lòng cứu Yên, mạt tướng dù gan óc lầy đất, cũng nguyện giúp công tử vãn hồi nguy cục. Điện hạ khăng khăng cưới công chúa nước Tần đã khiến liệt quốc hợp tung phẫn nộ, trong có thái hậu, ngoài có mạt tướng, lại thêm sự trợ giúp của liệt quốc hợp tung, đặc biệt là thế lực của ông ngoại công tử, việc này tất thành, công tử xin đừng lo lắng.”
Công tử Khoái khẽ lắc đầu: “Đại nghĩa của tướng quân, Cơ Khoái ghi nhận trong lòng. Có điều, việc này dứt khoát không thể. Phụ vương đã kế vị, là quân chủ nước Yên. Ta thân là bề tôi, không thể sinh lòng phản nghịch!”
“Công tử, thời cơ không thể bỏ lỡ!” Tử Chi lại khuyên.
“Ý ta đã quyết, tướng quân bất tất phải nói thêm!” Công tử Khoái lại lắc đầu. “Nước Yên vốn đã nhiều tai nạn, không thể lại loạn thêm nữa. Phụ vương đã tức vị, cũng đã chiếu cáo thiên hạ, chúng ta nên gắng sức phò tá, làm tròn đạo bề tôi. Hơn nữa, tướng quân làm bạn với Khoái, hẳn cũng hiểu Khoái. Khoái không có ý lên ngôi, chỉ cần nước Yên bình an vô sự, thần dân an cư lạc nghiệp, thế là đã thoả nguyện rồi!”
“Than ôi!” Tử Chi thở dài. “Công tử ý đã quyết, mạt tướng cũng không có gì để nói.” Rồi quay ra phía ngoài gọi. “Người đâu, truyền lệnh ba quân, đêm nay chuẩn bị, sáng sớm mai nhổ trại lui quân!”
Vào giờ Thân, Bàng Quyên nhận được quân báo của nước Yên.
Bàng Quyên vội vàng đọc lướt qua một lượt, rồi đưa cho Trương Mãnh.
Trương Mãnh xem xong, hít vào một hơi khí lạnh, vội hỏi quân uý đưa thư: “Tử Chi tướng quân đâu?”
Quân uý đáp lời: “Lính thám mã báo, do quân tình cấp bách, nước Yên nhổ trại ngay trong đêm, Tử Chi tướng quân đã theo đại quân lui về rồi.”
Sắp tới lúc phạt Tần, một trong số những nước đi đầu hợp tung bỗng dưng không đánh mà lui trước, đã thế còn tự ý hành động, không hề thông báo, đến tận khi đại quân đã rút rồi mới mang tới một bức quân báo vô thưởng vô phạt, thực không thể chấp nhận.
Trương Mãnh trả lại quân báo cho Bàng Quyên, làu bàu: “Quân hợp tung sáu nước còn chưa khai chiến, một quân đã tự ý rút lui, ảnh hưởng nặng nề tới sĩ khí. Hơn nữa, thiên hạ đã hợp tung, còn ai có thể đột kích nước Yên vào lúc này?”
Bàng Quyên chau tít đôi mày, suy ngẫm một lúc rồi nói: “Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ, tập kích người Yên hẳn là người Tề.”
“Người Tề?” Trương Mãnh sửng sốt.
“Tiên quân băng hà, tân quân tức vị, là cơ hội tốt nhất cho cường địch tấn công. Phía bắc nước Yên là người Hồ, phía nam là Tề, Triệu và Trung Sơn, Triệu, Yên để xướng hợp tung, Trung Sơn và người Hồ không đủ sức đe doạ nước Yên, đương nhiên không dám vọng động. Nước đủ mạnh để đe doạ Yên, hơn nữa bức ép tân quân nước Yên phải hạ lệnh cho Tử Chi tướng quân rút về, chỉ có thể là người Tề.”
“Sáu nước hợp tung vừa mới thành công, minh ước còn chưa ráo mực, người Tề hẳn không tới mức...”
“Hợp tung cái nỗi gì?” Bàng Quyên hừ mũi một tiếng. “Chỉ là mong ước một phía của gã ngốc Tô Tần mà thôi, lẽ nào lại coi là thật? Thứ khác không tính đến, chỉ riêng chuyện liệt quốc hợp tung đều khởi đại binh phạt Tần, tướng quân nói xem có thực là vì hợp tung hay không? Chẳng qua là vì bản thân mỗi người mà thôi! Tam Tấn và người Sở, có nước nào không phải là kẻ thù của người Tần? Chỉ có người Tề và người Yên không thù hằn gì với Tần, xem kìa, lần này có chuyện rồi phải không? Lão Yên Công vừa nằm xuống, xương còn chưa kịp lạnh, tân Yên Công đã kết thân với người Tần, là vì lẽ gì? Chính là để chế ngự người Tề. Nước Tề phía nam là nước Sở hùng mạnh, phía tây là Tam Tấn, đều là cục xương cứng không dễ gặm, chỉ nước Yên là có thể ức hiếp. Xưa nay có Sở và Tam Tấn cản trở, người Tề còn ít nhiều dè chừng. Giờ đây, thiên hạ đều đổ dồn vào Hàm Cốc, Sở, Tần và Tam Tấn không còn sức đâu mà chú ý đến chỗ khác, Tử Chi tướng quân lại không ở trong triều, thời cơ tốt đẹp đến vậy, lão Tề Vương sao có thể bỏ qua?”
Trương Mãnh lo lắng nói: “Bứt một sợi tóc mà kinh động toàn thân. Nếu Tề, Yên thực sự khai chiến, sẽ không chỉ có người Yên lui về, mà người Tề tất cũng rút quân. Người Tề rút quân, người Triệu có lẽ cũng thấy bất an. Còn lại có người Sở và người Hàn, vậy thì...”
“Tướng quân nói rất phải!” Bàng Quyên khẽ gật đầu.
“Có điều, lần này phạt Tần, tại hạ vốn không định dựa vào Yên, Tề, chỉ cần họ không quay lưng quấy nhiễu là được. Sở và Tam Tấn đều là kẻ thù của Tần, họ mới là chỗ dựa của ta. Người Tần nhiều lần rêu rao phạt Nghi Dương của Hàn, người Hàn đương nhiên không cần phải nói. Người Tần tung nội gián, suýt nữa tập kích chiếm mất Tấn Dương, người Triệu khắc ghi mối thù này, cũng sẽ tận tâm. Hội thề lần này, bốn vương tập hợp ở Hổ Lao quan, bệ hạ lại không mời Triệu Hầu, song Triệu Hầu không để bụng, vẫn phái ba vạn quân tới, do Lý tướng quân làm chủ tướng. Chỉ nhìn vào một điểm này, người Triệu đương nhiên không phải lo âu. Khiến tại hạ lo lắng nhất chính là người Sở, đặc biệt là Chiêu Dương kia, tuy cũng có tài, song chỉ chăm chăm tính toán được mất cá nhân, không thể tin tưởng. Lần này phạt Tần, chủ tướng của quân Sở đáng lý ra phải là Khuất Vũ, giỏi như Sở Vương mà lại phái Chiêu Dương tới, thực khiến người khác không thể hiểu nổi. May mà người này thấy lợi mờ mắt, tại hạ đã tặng hắn một miếng thịt béo, hẳn hắn sẽ không đến nỗi không tận lực.”
“Tướng quân nói rất phải! Lần này phạt Tề, đúng là người Sở thu lợi lớn nhất, chẳng tốn sức mà có được vùng sơn cốc Thương Ư và các ấp Hán Trung đã đành, chúng ta còn tặng không cho hắn các ấp Hình Sơn mà chúng ta phải đổ máu mới có được!”
“Hừm!” Bàng Quyên cười nhạt. “Dù tại hạ tặng không cho hắn, cũng e hắn khó mà nuốt trôi!” Đột nhiên sực nhớ ra một điều. “Nói tới chuyện này, Trương tướng quân, làm phiền tướng quân tới doanh trại Sở một chuyến, xem xe mây đã chế tạo xong chưa. Mang theo mười thùng rượu để uý lạo đám thợ thuyền. Nếu mọi thứ đúng như lời hắn nói, xe mây hẳn rất tuyệt vời, sau này sẽ hữu dụng.”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Đại doanh quân Sở đặt trên một ngọn đồi cách phía tây nam Thằng Trì hơn chục dặm, dựa lưng vào sườn đồi, nhìn ra hồ nước, vị trí tuyệt hảo.
Chiêu Dương hớn hở dẫn Trương Mãnh vòng ra trái núi phía sau, tới một bãi đất rộng rãi. Đây là công xưởng tạm thời của quân Sở. Có tới vài chục thợ thuyền đang gấp rút chế tạo xe mây trong ánh lửa rực trời.
Mọi người bước tới trước một xe mây sắp hoàn thiện. Xe mây này cao đến vài trượng, to cỡ ngôi nhà, xung quanh bọc kín đồng và da tê giác, giáo mác đao tên không thể chọc thủng. Có vài chục lỗ bắn tên, lại có vài chục cây thang ngang và cánh cửa có thể đóng mở tuỳ ý, nếu như kề sát tường thành, có thể bắc ngang cây thang thẳng đến ụ thành của đối phương.
Quan lệnh của công phường bước ra đón, Trương Mãnh hỏi han kỹ lưỡng về tình hình chế tạo, công phường lệnh bẩm báo chi tiết, rồi gọi đám thợ tới diễn tập ngay tại chỗ. Xe mây quả nhiên vô cùng linh hoạt, chỉ vài người đẩy đã có thể di chuyển tự do đủ hướng trước sau phải trái.
Trương Mãnh xem mà mặt mày hớn hở, quay sang Chiêu Dương, giọng đầy thán phục: “Có vật kỳ diệu này, ải Hàm Cốc lo gì không phá nổi?”
Chiêu Dương cười hềnh hệch đáp lời: “Trương tướng quân hài lòng là được rồi! Không giấu tướng quân, tại hạ vất vả mấy năm mới nghiên cứu ra vật này, chuyên dùng để đánh thành phá luỹ. Đừng nói là ải Hàm Cốc chỉ cao ba trượng, dù có cao thêm hai trượng nữa, cũng chỉ có nước phủ phục dưới chân!”
“Tướng quân mưu trí hơn người, tại hạ khâm phục!” Trương Mãnh khen nịnh một câu, rồi chỉ vào cỗ xe mây chưa hoàn thiện. “Dám hỏi tướng quân, những xe mây này bao giờ có thể dùng?”
“Tại hạ đang dốc sức chế tạo gấp rút năm cỗ xe, trong vòng mười ngày có thể hoàn thành. Xin tướng quân bẩm báo lên chủ soái, lúc nào đánh ải Hàm Cốc, người Sở xin đánh trận đầu!”
“Ha ha ha!” Trương Mãnh cười liền vài tiếng, vòng tay đáp lời. “Tướng quân yên tâm! Có vật kỳ diệu này, chẳng ai dám tranh giành công đầu phá Tần của tướng quân đâu!”
“Tạ ơn tướng quân ủng hộ!”
Mấy cỗ xe mây lập tức đem lại thể diện lớn lao cho quân Sở, khiến Chiêu Dương vô cùng đắc ý.
Tiễn Trương Mãnh về rồi, Chiêu Dương vừa đi vừa khẽ hát nghêu ngao, về tới đại doanh, chợt nhìn thấy hai người đang chờ trong trại. Một người là quản gia Hình Tài, đang khom lưng nghênh đón. Người kia là Trần Chẩn, hai tay trói quặt sau lưng, mặt cúi gằm quỳ mọp trên đất. Chiêu Dương không hỏi đã biết, là Trần Chẩn chạy tới Sính Đô bắt Hình Tài phải đưa mình tới đây.
Chiêu Dương lạnh lùng liếc xéo Trần Chẩn, rồi quay sang Hình Tài hỏi: “Sao ngươi lại tới đây?”
“Hồi bẩm chúa công!” Hình Tài đáp lời. “Trần đại nhân năm lần bảy lượt thỉnh cầu, tiểu nhân không thể thoái thác, đành phải đưa đại nhân tới đây.”
“Tại hạ cứ tưởng là ai quỳ ở đây, hoá ra là Trần thượng khanh!” Chiêu Dương lúc này mới cười nhạt một tiếng, quay sang Trần Chẩn, chế giễu. “Tới thì cứ tới, lại phải trói quặt hai tay thế kia là cớ làm sao?”
“Hay tin đại nhân hưng binh phạt Tần, quân phí thiếu thốn, tại hạ tự trói mình tới đây, có lẽ sẽ giúp đại nhân xoay sở được chút tiền bạc, để bổ sung vào nơi thiếu thốn.”
“Ông? Xoay sở quân phí?” Chiêu Dương nghe mà sửng sốt.
Trần Chẩn dõng dạc đáp lời: “Lúc ở Sở, đại nhân rất mực chăm lo cho tại hạ. Ân đức của đại nhân, tại hạ không biết lấy gì báo đáp. Tại hạ cũng không dư dả tiền bạc, nghĩ đi nghĩ lại, thấy duy có cái thân hèn này là đáng giá. Tại hạ tới đây, là muốn lấy thân hèn này quyên tặng cho đại nhân, mong đại nhân vui lòng nhận lấy, để thoả tấm lòng thành của tại hạ.”
“Ha ha ha!” Chiêu Dương chỉ tay vào Trần Chẩn, phá lên cười lớn. “Một đống thịt mỡ trên người ông thì đáng giá bao nhiêu?” Nói xong lại cười ngặt nghẽo.
“Năm trăm lượng!”
“Ồ?” Chiêu Dương thu lại nụ cười. “Trên người ông có chỗ nào quý báu mà đáng giá những năm trăm lượng?”
“Cái này!” Trần Chẩn hai tay bị trói, chỉ biết lắc lư cái đầu. “Chính là thứ đang lúc lắc đây!”
“Hừm!” Chiêu Dương cười nhạt. “Thứ này chặt xuống e chỉ tổ lãng phí lưỡi đao, ở đâu ra mà lại đáng giá năm trăm lượng?”
“Đại nhân nói sai rồi!” Trần Chẩn lắc đầu quầy quậy. “Cái đầu này của tại hạ, ở chỗ đại nhân có lẽ là vô giá trị, song trong mắt người khác, ít nhất cũng đáng giá năm trăm lượng.”
Nghe thấy lời nói ẩn ý sâu xa, Chiêu Dương không nén nổi tò mò, bèn tiến lên một bước: “Ai?”
“Bàng Quyên!”
Chiêu Dương thình lình bừng tỉnh, cười vang mà nói: “Phải, phải! Nếu nói vậy, vật này đúng là đáng giá năm trăm lượng. Nghe nói phía trước linh cữu tiên phụ của Bàng tướng quân tới nay vẫn còn chừa chỗ cho nó!” Rồi bước lại gần, vỗ vỗ lên đầu Trần Chẩn. “Nói đi, Trần thượng khanh, theo bản công biết, con người ông xưa nay tham của tiếc thân, cớ sao lần này lại khảng khái đến vậy?”
“Ai rồi cũng phải chết, Trần Chẩn có thể hiến thân vì đại nhân, chết cũng đáng.”
“Hô hô!” Chiêu Dương bật cười âm hiểm. “Lời này nghe thật giả dối. Tuy nhiên...” bất chợt nghiến răng ken két, “nợ cũ vẫn phải tính, thượng khanh nợ tại hạ một mạng mẹ già, vừa hay đem thân tới trả. Người đâu!”
Từ bên ngoài xông vào hai vệ sĩ, một trái một phải đứng ở hai bên Trần Chẩn.
“Lôi kẻ này ra ngoài, chặt lấy vật trên hai vai kia xuống!” Hai vệ sĩ túm lấy Trần Chẩn, đang định lôi ra, chợt Hình Tài khẽ đặng hắng một tiếng: “Chúa công...”
Chiêu Dương phẩy tay, vệ sĩ lập tức thả Trần Chẩn ra.
Hình Tài bước tới bên Chiêu Dương, thì thầm vào tai: “Thượng khanh tới đây, là có đại sự muốn bẩm báo với chúa công.”
Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lát, rồi quay sang vệ sĩ: “Cởi trói!”
Vệ sĩ cởi trói cho Trần Chẩn xong thì lui ra ngoài trại.
Chiêu Dương ngồi xuống chiếu, chỉ vào vị trí khách, nói với Trần Chẩn: “Trần thượng khanh, ngồi đi!”
Trần Chẩn vòng tay cảm tạ, rồi ngồi xuống chiếu. Hình Tài rót trà cho hai người, đứng hầu ở bên.
“Trần thượng khanh, có việc gì bẩm báo?”
“Đại nhân!” Trần Chẩn thong thả nhấp một ngụm trà, rồi đặt chén xuống, vòng tay mà nói. “Tội nhân tới đây, là phụng ý chỉ của Tần Công, dâng tặng đại nhân một phần công lao.”
“Hừm!” Chiêu Dương giận dữ, đập bàn đánh “rầm” một tiếng. “Chưa đầy ba tháng nữa, móng sắt của sáu quân sẽ san bằng Tần Xuyên, chỉ e là Doanh Tứ kia lên trời không có đường, xuống đất không có cửa, cớ sao còn dám ngông cuồng xưng là Tần Công?”
“Ha ha ha!” Trần Chẩn cười khẽ vài tiếng. “Những lời đó chỉ là mong muốn đơn phương của một mình Bàng Quyên, lẽ nào đại nhân cũng tin?”
“Bản công tin tưởng tuyệt đối!”
“Xem ra, đại nhân thực sự không hiểu người Tần!” Trần Chẩn khẽ ôm quyền. “Tạm không nói tới núi sông hiểm trở, dù là giao chiến trực diện, ai chết dưới tay ai e cũng khó lòng dự đoán, huống hồ...”
“Huống hồ gì?”
“Chuyện này... Thôi tội nhân không nói nữa. Tội nhân chỉ xin hỏi đại nhân một câu, đại nhân dựa vào đâu mà đạp bằng Tần Xuyên?”
“Dựa vào đại quân năm mươi vạn của ta!” Chiêu Dương không buồn suy nghĩ, buột miệng nói khống lên hơn mười vạn.
“Đừng nói là năm mươi vạn quân, dù có thêm năm mươi vạn nữa, đại nhân cũng chưa chắc đã được như ý.”
“Thượng khanh!” Chiêu Dương hơi thở đã có phần gấp gáp, dằn mạnh chén trà cầm trên tay xuống mặt bàn, khiến nước trà bắn tung toé. “Hãy thử nói nguyên do!”
“Sáu nước sáu quân!” Trần Chẩn gằn mạnh từng tiếng.
Chiêu Dương trong lòng chấn động, nhìn Trần Chẩn trừng trừng.
Trần Chẩn chậm rãi giải thích: “Có câu chuyện người Tề trị bệnh điên, đại nhân hẳn đã từng nghe nói?”
“Chưa từng nghe!”
“Theo ghi chép trong ‘Tề hài’, Hoàn Công thực thi nền nhân chính rộng rãi, lập trại người điên ở Lâm Truy, tập hợp người điên trong thiên hạ tới đây để chăm sóc. Một ngày nọ, Hoàn Công tới thị sát trại người điên, thấy trong trại toàn là kẻ điên, chỗ này một người, chỗ kia một người, hoặc đi tha thẩn, hoặc nói lảm nhảm, hoặc vẽ vời, hoặc viết chữ, hoặc nhảy nhót, hoặc chạy loăng quăng, hoặc ngâm nga, hoặc la hét, hoặc nhìn đờ đẫn, hoặc cười ngẩn ngơ, rất trật tự quy củ, mà gần như không thấy bóng dáng người trông giữ. Hoàn Công lấy làm ngạc nhiên, hỏi quan trông coi trại rằng, trong trại có bao nhiêu người điên? Viên quan này đáp rằng, có một nghìn hai trăm người điên. Hoàn Công cả kinh, hỏi có bao nhiêu người chăm sóc? Viên quan trả lời, có mười hai người. Hoàn Công lo lắng hỏi, nếu đám người điên này liên thủ với nhau, các người sẽ làm thế nào? Viên quan cười đáp, ‘chúa thượng có điều không biết, nếu họ có thể liên thủ với nhau, hà tất phải sống trong trại này’.”
“Ý thượng khanh là...” Chiêu Dương cũng đã hiểu ra, “quân hợp tung là sáu quân sáu nước, sáu tướng sáu tâm?”
“Đại nhân!” Trần Chẩn ngả người về phía trước, vòng tay nói. “Tại hạ dám hỏi, sáu quân chủ hợp tung liệu có thực sự vứt bỏ hiềm khích trước đây để hợp sức phạt Tần? Các tướng của sáu quân liệu có thực sự từ bỏ tham vọng của mình để nghe theo quân lệnh độc đoán của Bàng Quyên?” Dừng lại một chốc, rồi trả lời thay cho Chiêu Dương. “Nói trắng ra, tại hạ cho rằng, dựa vào thực lực hiện tại của người Tần, dù là người Ngụy hay người Sở, nếu giao chiến riêng rẽ, dù là nhà nào tìm đến, người Tần cũng không nắm chắc phần thắng. Duy có liên minh sáu nước, người Tần chắc chắn sẽ đánh thắng!” Rồi dừng lại không nói thêm nữa, hai mắt nhìn chằm chằm vào Chiêu Dương.
Từng câu từng lời của Trần Chẩn như những nhát búa bổ thẳng vào lòng Chiêu Dương.
Đúng vậy, sáu quân bất hoà đúng là sự thực. Quân hợp tung bề ngoài thế lớn, thực chất lại như một đĩa cát rời. Chiến cục chưa bắt đầu, Tề, Yên đã giao tranh trước, quân Yên rút lui, quân Tề muốn về, sáu thế đã mất đi hai. Dù là Hàn, Triệu, cũng chưa chắc đã đồng lòng với Ngụy. Bàng Quyên ỷ mạnh, điều binh khiển tướng, bố trí phòng ngự đã không giải thích nguyên do, cũng không trưng cầu ý kiến của chủ tướng liệt quốc, đừng nói là Chiêu Dương, dù là chủ tướng Hàn, Triệu cũng không hài lòng, đặc biệt là Lý Nghĩa Phu, xưa nay vẫn không coi Bàng Quyên ra gì, chỉ ngặt vì Triệu là nước khởi xướng hợp tung, mới nín nhịn cầu toàn. Rõ ràng lần này phạt Tần, Chiêu Dương đã quá lạc quan. Đường Hàm Cốc dễ phòng khó đánh, người Tần vốn hiếu chiến, lần này lại bị ép vào đường cùng, ắt dựa vào thế hiểm mà tử thủ. Xe mây tuy lợi hại, song chưa từng dùng trong thực tế, kết quả thế nào, trước mắt chưa thể dự đoán. Nếu chiến cục dằng dai, quân hợp tung đánh mãi không thắng nổi, tất nảy sinh mâu thuẫn. Mà đối với Chiêu Dương, đừng nói là chiến bại, dù hai bên có cầm hoà, quân Sở chẳng tổn thương lấy một binh một tốt, cũng rơi vào cảnh viễn chinh công cốc, thất thểu dẫn quân về triều. Lúc đó, dòng họ Chiêu đường đường của ông ta còn mặt mũi nào nhìn dòng họ Khuất?
Chiêu Dương không dám nghĩ tiếp, ngẩng đầu nhìn Trần Chẩn: “Thượng khanh đã tới, hẳn có kế hay, Chiêu mỗ rất muốn nghe.”
Trần Chẩn ôm quyền mà nói: “Tội nhân thân hèn lời mọn, không dám hiến mưu. Có điều, đại nhân lấy đức báo oán, nhiều lần ban ân cho tội nhân, tội nhân tuy không có sức kết cỏ ngậm vành, song cũng nguyện tặng đại vương bốn chữ để báo đáp.”
“Là bốn chữ gì?”
“Ngồi xem thời biến!”
“Ngồi xem thời biến?” Chiêu Dương lẩm bẩm nhắc lại, nhắm mắt suy nghĩ, càng nghĩ càng tỉnh ra, sắc mặt cũng tươi trở lại, quay sang Trần Chẩn vòng tay vái lia lịa mà nói. “Phải, bốn chữ này tuyệt hay, tại hạ xin lĩnh giáo.” Dừng lại một lát. “Vừa rồi thượng khanh nói rằng Tần Công có ý tặng tại hạ một phần công lao, tại hạ muốn được nghe kỹ.”
“Nếu người Ngụy phá được cửa ải vào Tần, chuyện này coi như nói nhảm. Nếu người Ngụy phá ải không thành, đại nhân lại giữ thế trung lập, Tần Công đã hứa, nhất định sẽ dâng tặng sáu trăm dặm vùng sơn cốc Thương Ư, cùng Đại Sở kết minh ước láng giềng hoà thuận.”
“Lời này là thật ư?”
“Tần Công chính miệng nói ra, Chẩn không dám dối trá nửa lời!”
“Nếu quả là vậy, cũng không phải là không làm được!” Chiêu Dương khẽ gật đầu. “Có điều, việc này hệ trọng, tại hạ cần suy xét. Thượng khanh gần đây có bận gì không?”
“Tạm không bận gì!”
“Tại hạ nhàn rỗi sinh buồn, muốn được rèn giũa kỳ nghệ với thượng khanh, mong được chỉ giáo.”
“Cung kính không bằng tuân lệnh.”
Hà Thuỷ bắt đầu phân nhánh tại cửa Túc Tư phía đông nam Triều Ca, một nhánh chảy dọc theo biên giới Vệ vào Tề, đổ ra biển tại biên giới Tề, Yên; một nhánh sau khi chảy vào biên giới, lại tiếp tục phân nhánh đổ ra biển ở Phù Liễu. Vùng đất giữa ba nhánh Hà Thuỷ này được gọi là đất Hà Gián.
Đất Hà Gián lại phân thành hai vùng lớn là trên và dưới, vùng trên chu vi hơn trăm dặm, là đất chung của Tề, Triệu; vùng dưới là nơi chảy về biển, chu vi hơn trăm dặm, là đất riêng của nước Yên. Đất Hà Gián tuy hè thu có lũ lụt, song vô cùng phì nhiêu màu mỡ, đầm lầy ngang dọc, cây cối tốt tươi, chim muông tôm cá, kỳ trân dị bảo nhiều không kể xiết, là thắng địa săn bắn, vựa lớn đặc sản, người Tề sớm đã thèm nhỏ dãi, chỉ còn thiếu lý do thôn tính.
Nay lý do đã có.
Uy Vương sau khi nhận được huyết thư cầu cứu của ái nữ, lập tức mượn cớ thái tử nước Yên mưu phản cướp ngôi, làm nhiều điều bất nghĩa, lạm sát người vô tội, đã phong Điền Kỵ làm tướng, khởi năm vạn binh phạt tội. Điền Kỵ dụng binh bí hiểm, không trực tiếp vượt sông, mà từ thượng lưu Hà Thuỷ mượn đường nước Triệu, như thuỷ triều ào ào đổ vào Hà Gián. Người Yên không kịp đề phòng, chưa đầy bảy ngày, mười ấp Hà Gián thảy đều thất thủ. Điền Kỵ dường như vẫn không muốn dừng, ra lệnh cho quân sĩ tập kết thuyền bè, rõ ràng có ý vượt Hà Thuỷ lên phía bắc, mở rộng chiến quả. Lại có tin báo về, Tề Vương thậm chí còn dự tính rút quân hợp tung phạt Tần về, tăng cường tám vạn đại quân, ngự giá thân chinh, dẫn quân thẳng tới Kế Đô, thể đòi lại công bằng cho con gái.
Quân tình nguy cấp, Dịch Vương đang vui vầy duyên mới đành phải gạt vợ đẹp sang một bên, gấp rút triệu tập các trọng thần thân tín như thái sư, thái phó, Kế Thành lệnh, ngự sử đại phu tới bàn luận sách lược ứng phó ngay trong đêm.
Quần thần tới đông đủ, song lại không ai nói năng gì.
Dịch Vương giận dữ quát lên: “Các ngươi... các ngươi... sao không ai nói gì? Bình thường thì ồn ào điếc óc, bên tai toàn là giọng nói của các ngươi, mà giờ đây câm hết rồi ư? Quốc nạn giáng xuống đầu, quả nhân phải nhờ cậy vào các ngươi, mà các ngươi lại... Lẽ nào thực sự muốn quả nhân cúi đầu xưng thần với Điền Nhân Tề?”
“Đại vương bớt giận!” Lão thái sư bước lên một bước, chậm rãi đáp lời. “Lão thần cho rằng, tình thế nguy cấp trước mắt, không phải không có cách giải quyết.”
“Ái khanh mau nói!”
“Quân tới tướng chặn. Lão thần cho rằng, đại vương có thể bố trí ba tuyến phòng ngự chống lại người Tề. Thứ nhất, chiếu lệnh tướng quân Tử Chi bố trí phòng ngự dọc Hà Thuỷ, là tuyến phòng ngự thứ nhất. Thứ hai, chiếu lệnh Chử Mẫn dẫn binh bảo vệ các ấp Vũ Dương, Phương Thành, đây là tuyến phòng ngự thứ hai. Thứ ba, đại vương đích thân cầm quân, điều động binh lính các ấp xung quanh tới Kế Thành, quyết chiến với người Tề.”
“Được!” Dịch Vương nói. “Quả nhân chuẩn tấu cho ái khanh!”
“Còn nữa!” Lão thái sư dõng dạc tiếp lời. “Tiên quân nghe theo lời Tô Tần, đi đầu khởi xướng hợp tung. Sáu nước kết thân, minh ước còn chưa ráo mực, người Tề đã ngang nhiên làm trái minh ước, khởi binh phạt ta, thế này còn gọi gì là hợp tung? Sáu nước hợp tung, mục đích là phạt Tần, Tô tướng quốc là người khởi xướng hợp tung, lại là tướng quốc của sáu nước, kết quả là người Tần còn chưa bị phạt, mà người phe ta đã tự đánh nhau. Chuyện quái lạ nhường này, sao đại vương không cho gọi Tô Tử đến hỏi cho ra nhẽ, chưa biết chừng lại có kế hay đẩy lui kẻ địch!”
“Thái sư nói rất đúng! Sáu nước hợp tung là do Tô Tử khởi xướng, đại vương hãy cho gọi hắn đến, xem hắn nói gì?” Quần thần đã trấn tĩnh trở lại, đều hùa theo hưởng ứng.
Dịch Vương cũng sực nhớ tới Tô Tần, thì thở phào một tiếng, quay sang Kỷ Cửu Nhi: “Ngươi mau tới Vũ Dương một chuyến, truyền chỉ Chư Mẫn, bảo hắn thống lĩnh binh lính của mười hai ấp Vũ Dương, Phương Thành, cùng chống giặc Tề. Đồng thời cung kính mời Tô tướng quốc hồi cung nghị sự!”
Tô Tần ở lại ly cung tại Vũ Dương thêm hai ngày nữa, vào sáng sớm ngày thứ ba bèn cùng Trâu Phi Đao trở về dịch trạm. Trâu Phi Đao sớm đã chuẩn bị ngựa xe sẵn sàng, đoàn người rời khỏi cổng nam, hướng về Lạc Dương.
Xe qua Dịch Thuỷ, Tô Tần bảo phu xe ra roi tăng tốc.
Đi chưa được năm mươi dặm, Tô Tần đang ở trong xe nhắm mắt suy nghĩ cách ứng phó với chiến sự Hàm Cốc, chợt thấy vài tuấn mã ào tới như lốc xoáy, đuổi sát sau xe, một người giơ tay lớn giọng hô vang: “Tô đại nhân, Tô đại nhân, xin đợi một lát, đại vương có chỉ!”
Trâu Phi Đao đưa mắt dò hỏi, Tô Tần hạ lệnh dừng xe.
Đám người đuổi tới là mấy kẻ áo đen trong cung, người đi đầu trình lệnh bài, dõng dạc tuyên bố: “Tô tướng quốc nghe chỉ, đại vương có khẩu dụ, cung kính mời Tô tướng quốc hồi cung nghị sự!”
Tô Tần bèn hỏi: “Trong cung hẳn có đại sự?”
“Hồi bẩm đại nhân!” Một người áo đen đáp lời. “Công chúa nước Tần hôm kia vu quy, đại vương hoan hỷ, nói là sẽ chọn ngày lành làm đại lễ lập hậu.”
Tô Tần chau mày: “Đại vương triệu kiến tại hạ, là vì chuyện này ư?”
“Không phải vì chuyện này!” Tên áo đen lắc đầu. “Là quân Tề phạt ta, cướp mất mười ấp Nhiêu An của ta!”
Tô Tần nghe mà bên tai ù đặc, trong lòng trống rỗng, hồi lâu sau mới định thần lại được, trầm tư suy ngẫm về cục thế trước mắt. Một bên là đường Hàm Cốc gươm tuốt nỏ giương, một bên là Tề, Yên giao chiến, mà Tô Tần chỉ có một, không thể phân thân.
Bên nào nặng, bên nào nhẹ, theo bên nào, bỏ bên nào, Tô Tần cần phải quyết đoán lập tức.
Nhân vật quyết đoán phạt Tần ở Hàm Cốc không chỉ có Bàng Quyên, còn có Ngụy Vương. Sự thực cho thấy, một khi Ngụy Vương nóng lòng muốn bành trướng, ắt sẽ không còn sáng suốt. Hiện tại, cặp vua tôi này tâm trí đã hoàn toàn mụ mẫm trước ưu thế áp đảo và khả năng thủ thắng có được nhờ hợp tung, bởi vậy càng không thể nhận ra mối nguy tiềm ẩn. Thần dân nước Ngụy, thậm chí cả những binh sĩ bình thường, cũng đa phần bị ngọn lửa phục thù thiêu đốt, đánh bại bạo Tần, giành lại Hà Tây đã trở thành hy vọng nhiệt thành của quân dân. Vào thời khắc này, dù có tới Hàm Cốc, Tô Tần cũng chưa chắc đã thuyết phục nổi họ. Hơn nữa, chiến sự vốn không thể đoán trước. Hai bên còn chưa giao chiến, sao Tô Tần có thể khẳng định chắc chắn quân hợp tung sẽ bại?
Dù khả năng không lớn, song mọi việc đều có vạn nhất. Vạn nhất quân hợp tung thủ thắng, người Tần thất bại, đối với đại nghiệp hợp tung mà nói, tuy không phải là chuyện tốt, song cũng chưa hẳn là chuyện xấu, chí ít có thể tránh được hậu quả thảm khốc là người Tần nhất thống thiên hạ bằng hình pháp hà khắc.
Tuy nhiên, Tề Yên giao chiến lại khác hẳn.
Khiến các nước hợp tung thành một khối chính là bạo Tần, mà trong sáu nước hợp tung, Tam Tấn và Sở đều qua lại với người Tần, liên quan tới lợi hại, duy chỉ có Yên, Tề cách núi ngăn sông với Tần. Nếu coi Tần là kẻ thù, Tam Tấn và Sở có thể tiên phong, còn Yên, Tề làm hậu thuẫn, là đại hậu phương của hợp tung. Phía trước còn chưa giao chiến, phía sau đã chém giết lẫn nhau, dù thế nào cũng là chuyện khiến bên ta đau buồn, kẻ địch hỉ hả, không những tổn thương đến nguyên khí hợp tung, mà còn tạo ra tiền lệ xấu cho việc khuấy động xung đột trong nội bộ hợp tung sau này.
Nghĩ tới đây, Tô Tần chủ ý đã quyết, bèn quay sang Trâu Phi Đao đang đợi lệnh, nói: “Về Kế Thành!”
Kế cung tiễn cũ đón mới, tứ bề hỷ khí tưng bừng, dường như chỉ trong một đêm đã che khuất hoàn toàn cảnh tượng tang tóc trước đó. Cung nhân ai nấy ăn bận sặc sỡ, sắc mặt tươi cười.
Chỉ có Dịch Vương cười không nổi.
Sau khi Cơ Tuyết đi rồi, Dịch Vương cho sửa sang lại cung Cam Đường chút ít, thêm vào chút phong cách đất Tần, đổi tên là cung Ngọc Đường, để làm tẩm cung cho chủ nhân mới. Chủ nhân mới tức công chúa Doanh Tường, trưởng nữ của Tần Huệ Văn Công, vẫn chưa đầy mười bốn, còn chưa tới tuổi cập kê, về lý mà nói vẫn đang ở độ tuổi trẻ con nhõng nhẽo, đã bị coi là lợi khí của đất nước mà đem gả cho Yên quốc xa xôi. Sau chặng đường dài gập ghềnh mệt mỏi, thể lực còn chưa kịp hồi phục, đã phải hầu hạ động phòng, công chúa cơ thể yếu đuối không kham nổi, cộng thêm lạ nước lạ cái, thương nhớ quê hương, một bụng đau buồn mà không biết thổ lộ cùng ai, chốc chốc lại nước mắt đầm đìa. Dịch Vương đang sẵn âu lo việc nước, nghe thấy tiếng khóc lóc nỉ non của nàng, lại càng não nề ruột gan. Muốn trách nàng, song lại thấy không nỡ; muốn dỗ dành nàng, song lại trái với lòng mình.
Dịch Vương đang lúc buồn bực, thì Kỷ Cửu Nhi từ Vũ Dương trở về, tấu báo Chử Mẫn đã phụng chỉ điều binh, bố trí hai tuyến phòng ngự, Tử Chi cũng dẫn quân trở về, quân tiên phong qua Vệ tới Triệu, sắp tới Vũ Thành, ước tính trong vòng ba ngày tới có thể đến Hà Gián, đối đầu với Tề.
Dịch Vương cuối cùng đã có thể thở phào, chậm rãi hỏi: “Còn Tô Tần?”
“Ở đó!” Kỷ Cửu Nhi nở một nụ cười xảo quyệt, tiến lại gần thì thào một hồi.
Dù cũng đã đoán ra từ trước, song nghe Kỷ Cửu Nhi chứng thực, Dịch Vương vẫn khó tránh lửa ghen ngùn ngụt, nghiến răng mà rít lên: “Chẳng trách tiện nhân kia không chịu hầu hạ quả nhân, lại muốn dời tới Vũ Dương, bên trong đúng là có uẩn khúc! Đáng tiếc cho tiên công một đời tinh minh, cuối cùng lại bị tiện nhân ám hại!”
“Dám hỏi đại vương, phải xử lý đôi gian phu dâm phụ này thế nào?”
Dịch Vương lừ mắt với Kỷ Cửu Nhi: “Kẻ đó tới chưa?”
“Tới lâu rồi, đang đợi chỉ ngoài cung.”
“Truyền hắn vào!” Lời vừa dứt, Dịch Vương lại phẩy tay một cái, đổi ngay nét mặt, giọng điệu cũng đổi khác. “Xin mời Tô tướng quốc!”
Kỷ Cửu Nhi tâm lĩnh thần hội, không quay ra ngoài dõng dạc truyền lệnh như mọi khi, mà rảo bước ra ngoài cửa cung, cung kính vòng tay với Tô Tần: “Đại vương có chỉ, mời Tô tướng quốc yết kiến!”
Tô Tần theo Kỷ Cửu Nhi vào trong, khấu bái dưới điện.
Dịch Vương bước xuống, đích thân đỡ Tô Tần dậy, dẫn lại chỗ ngồi, phân ngôi quân thần ngồi xuống, than thở mà nói: “Than ôi, ái khanh vừa mới lên đường, đã cho gọi ái khanh quay trở lại, hại ái khanh phải vất vả đi đi về về, quả nhân thực lòng áy náy.”
“Đại vương chớ bận tâm! Vi thần thân thể hèn mọn, được vất vả vì đại vương, chính là diễm phúc!”
“Ái khanh hẳn đã biết vì sao quả nhân gấp rút cho gọi ái khanh về?”
“Xin đại vương nói rõ!”
“Ái khanh hãy xem thứ này!” Dịch Vương lần trong ống tay áo, lấy ra một bức chiến báo, Kỷ Cửu Nhi nhận lấy, đưa cho Tô Tần. Tô Tần xem xong, đặt xuống góc bàn, đưa mắt nhìn Dịch Vương.
“Tiên quân nghe lời ái khanh, là nước tiên phong hợp tung trong liệt quốc. Tuy đã hợp tung, song nước Yên ta có được những gì?” Dịch Vương ra chiều thất vọng. “Minh ước còn chưa ráo mực, hài cốt của tiên quân còn chưa kịp lạnh, mà Điền Nhân Tề đã coi thường đạo nghĩa, nhân lúc nước ta có tang, dẫn binh tập kích, quấy nhiễu dân chúng, cướp đoạt của cải, chiếm lấy thành ấp của ta...”
“Đại vương...” Thấy Dịch Vương chỉ biết trách cứ người khác mà không một lời phản tỉnh bản thân, Tô Tần không nhịn được, bèn lên tiếng cắt ngang.
“Ái khanh cứ nói!”
“Than ôi!” Đứng trước hạng quân chủ này, Tô Tần chẳng muốn nói nhiều, chỉ thở dài một tiếng, đi ngay vào chuyện chính. “Đại vương gấp rút cho gọi thần tới, có phải là vì mười thành kia?”
“Phải, phải, phải!” Dịch Vương gật đầu lia lịa. “Ái khanh tới Yên, là do tiên quân trợ giúp ái khanh sang Triệu thực thi kế sách hợp tung, mới được nổi danh thiên hạ. Nước Yên vì ái khanh mà khởi xướng hợp tung, thiên hạ vì hợp tung mà kết liên minh. Điền Nhân Tề đã kết liên minh hợp tung, đáng lẽ phải giữ lời thề, trở thành láng giềng hoà mục mới phải. Nào ngờ hắn lại ỷ mạnh hiếp yếu, bội tín huỷ ước, nhân lúc nước ta có quốc tang mà làm điều bất nghĩa, khởi binh chiếm thành trì của ta. Quả nhân khinh thường hắn, không thèm cãi lý với hắn. Nước Yên vì ái khanh mà trở thành trò cười cho thiên hạ, ái khanh liệu có thể vì Yên mà đi sứ sang Tề, đòi lại công bằng hay không?”
Tô Tần đứng dậy, vòng tay mà nói: “Vi thần xin phụng chỉ đi sứ sang Tề, đòi lại mười thành cho đại vương!”
Dịch Vương thuận nước đẩy thuyền, vòng tay đáp lễ: “Tình thế cấp bách, quả nhân cũng không giữ ái khanh nữa!”
Dịch Vương tiễn Tô Tần ra khỏi cung, dừng lại ngoài cửa, nắm chặt tay Tô Tần, khoé miệng nở một nụ cười gian hiểm: “Còn một việc nữa, quả nhân muốn giao phó cho ái khanh. Dọc đường qua Vũ Dương, phiền ái khanh ghé vào thăm hỏi, an ủi thái hậu giúp. Thái hậu đã quen với sự náo nhiệt ở Kế Thành, sợ rằng nơi đó một mình vò võ phòng khuê, mà thấy cô đơn khó chịu.”
Nghe thấy lời này, Tô Tần thầm rùng mình kinh hãi, suy ngẫm một chốc mới nghĩ ra lời đối đáp: “Đại vương nói rất phải. Tiếc là vi thần lần này đi sứ sang Tề, không qua Vũ Dương. Làm phiền đại vương phái sứ thần khác tới an ủi.”
“Ha ha ha, như vậy không ổn!” Dịch Vương không chịu buông tha, cố tình nói tới cùng. “Người thái hậu nhớ mong, duy chỉ có ái khanh. Nếu thay bằng người khác, khiến thái hậu bực bội, lại trách quả nhân thì sao?”
Tô Tần trong lòng khó chịu, song lại không thể biện bạch, đành vòng tay từ biệt: “Đại vương dừng bước, vi thần cáo lui!”
“Vất vả cho ái khanh!”
Bước ra khỏi cung Yên, Tô Tần cảm thấy sống lưng lạnh buốt từng hồi. Dịch Vương đã nói lời này, rõ ràng đã biết tỏng mối quan hệ giữa hắn và Cơ Tuyết. Than ôi, chỉ trách bản thân nhất thời bất cẩn, chưa từng nghĩ tới việc Dịch Vương sẽ cài tai mắt tại ly cung.
Về tới phủ, Tô Tần vội vã soạn một bức mật thư, dặn Trâu Phi Đao chuyển cho Cơ Tuyết, để nàng biết cách ứng phó. Trâu Phi Đao giao thư cho Mộc Hoa, còn mình và Mộc Thực cùng bảo vệ Tô Tần lên đường tới kinh đô nước Tề.
Đoàn người đi gấp suốt ngày đêm không nghỉ, chẳng mấy ngày đã tới bờ bắc Hà Thuỷ, từ xa đã thấy cảnh người hô ngựa hí, doanh trại trập trùng. Tô Tần sai người tới hỏi thăm, biết rằng là ba vạn quân Yên vừa rút về từ Hàm Cốc.
Tô Tần hiểu rằng Tử Chi đã quay về, lấy làm mừng rỡ, vội vã đi thẳng tới đại trại trung quân, không ngờ lại gặp cả công tử Khoái đã bặt vô âm tín bấy lâu.
Đêm đó, ba người ngồi quây quần bên bếp lửa trò chuyện, bàn luận thế cục hiện tại cho tới tận khi trời sáng. Buổi sáng hôm sau, đám Tô Tần tới bến đò, bất ngờ phát hiện ra do trời đột ngột chuyển lạnh, khắp mặt sông Hà Thuỷ đều đã đóng băng.
Tử Chi đập vỡ lớp băng, thử thăm dò độ dày, lo lắng nói: “Băng này nếu dày thêm một tấc nữa thì người Tề có thể trượt băng vượt sông. Người Tề thế lớn, mạt tướng e rằng khó lòng chống cự!”
“Tướng quân chớ lo lắng!” Tô Tần đáp lời. “Dù sông này có đóng băng toàn bộ, tại hạ đoán rằng người Tề cũng sẽ không vượt sông.”
Tử Chi sửng sốt hỏi: “Cớ sao lại nói vậy?”
Tô Tần cười mà nói: “Tướng quân cứ chờ khắc biết!” Rồi quay sang công tử Khoái. “Tại hạ lần này tới chỗ ông ngoại của công tử để đòi lại thành trì, muốn đưa công tử cùng đi, không biết công tử có hứng thú không?”
“Tại hạ xin kính cẩn nghe theo!”
Hồi Thứ 53
Kịch chiến biên ải, Hàm Cốc lúc thất lúc đắc
Ly gián hợp tung, Hào Quan khi túng khi cầm
Lúc này, thời gian đã qua ba cửu, gió Tây Bắc mỗi ngày một mạnh, tiếp đó tuyết bay mù mịt đầy trời, gần như phủ kín toàn bộ nhà cửa trong thành Lâm Truy.
Trong màn tuyết trắng mênh mông, Tuyết cung toạ lạc ở góc tây bắc của cung Tề trông càng nguy nga tráng lệ.
Tuyết cung là cung điện thời Khương Tề, tuy niên đại đã khá lâu, song vẫn là một trong những cung điện đặc sắc nhất của cung Tề, đặc biệt là vào mùa đông, trong những ngày tuyết lớn như hôm nay. Đây cũng là lý do duy nhất khiến nó được đặt tên là Tuyết cung.
Bên ngoài đất trời băng giá, song trong cung lại không hề thấy lạnh, bởi các khung cửa sổ rất mực khít khao, vách tường lại rỗng ở giữa, nối thông tới lò sưởi trong tường, sau khi đốt than, trong cung sẽ ấm sực như buổi cuối xuân, dù mặc áo mỏng cũng không hề thấy lạnh.
Tề Uy Vương ngồi trên tấm đệm thêu, thư thái khép hờ hai mắt, để cho hai cung nữ y phục mỏng manh đấm lưng bóp vai. Phía trước có hai bề tôi ngồi hầu, một là thái tử Tích Cương, hai là tướng quốc Trâu Kỵ. Hai người vốn đã cởi bỏ áo khoác mà vẫn thấy nóng nực, đặc biệt là Trâu Kỵ, tuổi cao sợ lạnh, nên ních đầy áo bên trong, trước mặt quân vương ngại không dám cởi thêm, vì thế chỉ một lát sau, trán đã đẫm mồ hôi, bèn nâng tay áo lên quệt liên hồi.
Tề Uy Vương dường như cũng nhận thấy sự khó xử của Trâu Kỵ, bèn mở mắt nhìn ông ta mà nói: “Lão ái khanh, không phải ngần ngại, thấy nóng thì cứ cởi ra!” Rồi quay sang cung nữ đang đấm lưng. “Mau lại cởi áo giúp tướng quốc đại nhân!”
Được cung nữ cởi áo, Trâu Kỵ lập tức nhẹ nhõm sảng khoái, bèn vòng tay cảm tạ: “Tạ ơn bệ hạ thương tình. Mấy năm qua, cái thân tàn này đúng là đã già cỗi thật rồi, lạnh không chịu nổi đã đành, đến nóng cũng không chịu nổi.”
“Than ôi!” Uy Vương than thở. “Quả nhân cũng vậy, già rồi, không chịu được gió thổi, cũng không chịu nổi dầm mưa. Lúc trước còn chưa vào đông, mà tâm tư của quả nhân đã chạy đến Tuyết cung rồi, không phải vì nguyên do nào khác, chỉ là không thể nào kham nổi.”
“Bệ hạ long thể vẫn tráng kiện lắm!”
“Than ôi!” Uy Vương lại than thở. “Tráng kiện hay không, chỉ có quả nhân hiểu rõ. Già rồi, không gánh vác nổi nữa rồi, đã tới lúc quả nhân phải thả lỏng đôi vai. Cương Nhi!”
“Có nhi thần!”
“Kể từ hôm nay, việc trong ngoài triều đều do con đảm đương, nhân lúc quả nhân và Trâu ái khanh còn có thể trợ giúp, hãy nhận lấy gánh nặng này, để quả nhân được thanh thản tận hưởng mấy ngày nhàn nhã.”
Tích Cương quỳ xuống khấu đầu: “Nhi thần non nớt, e rằng chưa đủ sức. Phụ vương!”
“Được rồi, không nhắc tới chuyện này nữa. Hãy nói về tình hình trước mắt, quả nhân già rồi, chẳng nhớ được chuyện gì.”
“Thượng đại phu Điền Anh gửi chiến báo về, nói là bên ngoài ải Hàm Cốc, quân hợp tung liệt quốc đã bày sẵn thế trận chờ đợi, Bàng Quyên vẫn chưa có động tĩnh gì, không ai có thể đoán được suy nghĩ trong lòng hắn. Quân Yên đã lui về Dịch Thuỷ, cách sông đối đầu với tướng quân Điền Kỵ. Thượng đại phu có ý rút quân hợp tung về, tấu xin ý chỉ. Tướng quân Điền Kỵ gửi chiến báo, nói rằng Hà Thuỷ đã đóng băng, đợi thêm vài ngày nữa là có thể vượt sông. Tướng quân tấu xin viện binh, dự định vượt sông thẳng xuống Vũ Dương, tiến tới Kế Thành.”
“Con thấy thế nào?” Uy Vương chậm rãi hỏi.
“Nhi thần cho rằng, Yên quân thất đạo, làm nhiều điều bất nghĩa. Ta đã khởi đội quân chính nghĩa, cũng nên thừa thắng truy kích, vượt sông phá địch, giết chết hôn quân, đòi lại công bằng cho chị!”
“Ý lão ái khanh thế nào?” Uy Vương chậm rãi hỏi.
Trâu Kỵ vòng tay bẩm tấu: “Vi thần cho rằng, điện hạ nói rất đúng. Yên quân vô đạo, nên vượt sông truy kích.”
Uy Vương nhắm mắt suy nghĩ.
Một lát sau, Uy Vương từ từ mở mắt, nhìn ra phía cửa cung, nữa như tự nhủ, nửa như trả lời: “Hãy nhìn ra ngoài cửa! Băng tuyết kín trời, chinh chiến thế nào đây?”
Chiếu theo lệ thường, ngày đông nông nhàn, chính là thời điểm để săn bắt, chinh chiến, Uy Vương có già đến mấy, có lú lẫn đến mấy cũng không thể không biết điều này.
Tích Cương, Trâu Kỵ đưa mắt nhìn nhau, đều cảm thấy ngờ vực.
“Phụ vương!” Tích Cương lo lắng, không còn để ý tới câu cú hoa mỹ, nói thẳng ra suy nghĩ trong lòng. “Ta phía đông là biển lớn, không có đất để chiếm. Phía tây là Tam Tấn, cũng không có sức để phạt. Hiện tại mưu đồ được, duy chỉ có đất Yên và lưu vực sông Tứ. Lão Yên Công băng hà, tân quân thất đạo, liệt quốc đều đang bận rộn phạt Tần, chẳng còn rảnh rỗi mà để ý tới phía đông. Quân ta xuất binh chính nghĩa, hãy nhân lúc này đánh Yên cướp đất, không thể để lỡ thời cơ.”
“Cương Nhi, vật cực tất phản, sự việc chớ nên nóng vội. Mạng của chị con đã đánh đổi được mười thành nước Yên, quả nhân thấy như vậy cũng đủ rồi!”
Tích Cương đang trầm ngâm suy nghĩ, chợt có tiếng động bên ngoài cửa cung, nội thần túc trực bước vào bẩm báo: “Tướng quốc sáu nước Tô Tần cầu kiến.”
Mọi người đều sững sờ, đặc biệt là Điền Tích Cương, ngỡ ngàng kêu lên: “Ồ, chẳng phải người này đã về quê thăm thân rồi ư, vì sao lại ở đây?”
“Than ôi!” Vẫn là Uy Vương tỉnh táo nhất, khẽ thở dài một tiếng. “Người này đã tới đây, dù là mười thành kia, e cũng khó lòng giữ nổi!”
Tích Cương, Trâu Kỵ trong lòng hồ nghi, mắt nhìn Uy Vương không chớp.
Uy Vương sắc mặt lộ vẻ bất lực, buông thõng hai tay, quay sang nói với nội thần: “Truyền chỉ tướng quốc sáu nước, sáng sớm ngày mai lên đại triều yết kiến.”
Nội thần túc trực vâng lệnh lui ra.
“Cương Nhi!” Uy Vương nhìn sang Tích Cương. “Vừa rồi nghe con nói, thượng đại phu tấu xin ý chỉ. Vậy hãy truyền chỉ cho hắn: lập tức lui quân, viện trợ Điền Kỵ!”
Đã không ân chuẩn vượt sông tấn công Yên, đến mười toà thành đã chiếm được cũng giữ không nổi, vì sao còn muốn thượng đại phu rút quân, chi viện cho Điền Kỵ? Điền Tích Cương kinh ngạc, cứ đứng sững tại chỗ, nhìn Uy Vương chằm chằm: “Phụ vương?”
“Quả nhân mệt rồi, muốn nghỉ ngơi!” Uy Vương đứng dậy, do cung nữ dìu đỡ, chầm chậm bước về phía tẩm cung.
Vào buổi đại triều trong cung Tề sáng hôm sau, do chuẩn bị triệu kiến tướng quốc sáu nước Tô Tần, Tề Uy Vương cho bài trí nghi trượng vô cùng long trọng ngoài cửa cung, trên triều đường càng là trăm quan đông đảo, không khí rất mực nghiêm trang.
Trong phòng chờ chỉ dưới điện, Tô Tần ngồi trên chiếu, thần sắc tĩnh lặng, dường như đang nhắm mắt dưỡng thần.
Công tử Khoái có vẻ sốt ruột, nhịn không nổi bèn hỏi khẽ: “Tô Tử, mười thành Hà Gián đã là miếng thịt béo trong miệng Tề Vương, Tô Tử nay đòi trả lại, Tề Vương... liệu có đồng ý không?”
Tô Tần lắc đầu: “Đương nhiên là không!”
“Ồ... Tô Tử đã biết Tề Vương không chịu, cớ sao còn tới đòi?”
“Tề Vương không đồng ý với tại hạ, song sẽ đồng ý với công tử. Đây cũng là lý do tại hạ xin công tử cùng đi.”
“Tại hạ?” Công tử Khoái thoạt tiên sửng sốt, sau đó ủ rũ buồn rầu. “Tô Tử nói đùa rồi. Tại hạ đã mất mẫu thân, giờ lại phụ thân không dung, khác nào chó mất chủ, giữ được tính mạng đã là may mắn, làm sao có thể đòi lại thành trì cho nước Yên?”
Tô Tần còn chưa kịp trả lời, đã nghe thấy giọng đại phu truyền chỉ cất lên sang sảng ngoài phòng: “Bệ hạ có chỉ, mời tướng quốc sáu nước Tô Tần lên điện yết kiến!”
Tô Tần nhận chỉ xong, đứng dậy nói với công tử Khoái: “Công tử hãy ở đây đợi tại hạ.”
Tô Tần đi theo đại phu truyền chỉ, bước vào cửa điện, thong thả tiến lên phía trước, tới chính giữa điện khấu kiến Uy Vương, lại bái lạy rồi đứng dậy, ngửa cổ cười dài ba tiếng, lại cúi đầu khóc lớn ba tiếng.
Tô Tử danh tiếng lẫy lừng lại hành sự kỳ quặc đến vậy, khiến bá quan trong triều thảy đều ngỡ ngàng.
Uy Vương từ từ nheo mắt lại: “Xin hỏi ái khanh, vì sao lại cười ba tiếng?”
Tô Tần dõng dạc đáp lời: “Thần ngửa mặt lên trời cười ba tiếng, là để chúc mừng. Tiếng cười thứ nhất chúc mừng nước Tề, tiếng cười thứ hai chúc mừng người Tề, tiếng cười thứ ba chúc mừng bệ hạ!”
“Xin hãy giải thích rõ!”
“Chúc mừng nước Tề mở rộng trăm dặm lãnh thổ, chúc mừng người Tề có thêm mười vạn nhân đinh, chúc mừng bệ hạ có được mười thành trì mới.”
Quần thần ai nấy đều nghe ra Tô Tần đang nói ngược, bèn đưa mắt nhìn nhau.
“Ái khanh khóc ba tiếng là có ý gì?” Uy Vương vẫn nheo nheo hai mắt, cơ thể hơi ngả về phía trước.
Tô Tần chậm rãi đáp lời: “Thần nhìn xuống đất khóc ba tiếng, là để kính viếng. Tiếng khóc thứ nhất là kính viếng nước Tề, tiếng khóc thứ hai là kính viếng người Tề, tiếng khóc thứ ba là kính viếng bệ hạ!”
“Hãy giải thích rõ!”
“Khóc vì nước Tề mở rộng trăm dặm lãnh thổ, khóc vì người Tề tăng thêm mười vạn nhân đinh, khóc vì bệ hạ có được mười thành trì mới.”
Quần thần đều ngơ ngác trước lời lẽ của Tô Tần, cứ đứng ngây ra sững sờ, tới lúc định thần trở lại, sắc mặt ai nấy đều lộ vẻ tức giận. Tuy nhiên, Tô Tần thân kiêm tướng quốc sáu nước, đương nhiên cũng là tướng quốc nước Tề, trên triều đường này, địa vị ngang với Trâu Kỵ, người có thể trấn áp Tô Tần, cũng chỉ có Tề Vương. Uy Vương không tỏ thái độ, còn ai dám nói bừa!
Tuy nhiên, lão tướng Trâu Kỵ đã nhịn không nổi.
Tô Tần danh tiếng lẫy lừng liệt quốc, Trâu Kỵ trong lòng vốn đã không ưa, giờ lại thấy hắn gây loạn trong triều đường, nói ra những lời phi lý, thực khó lòng nhẫn nhịn, bèn liếc nhìn Tích Cương, thấy thái tử vẫn đang trầm ngâm, bèn bước lên trước một bước, vòng tay hướng vào Tô Tần mà nói: “Tô Tử vừa chúc mừng vừa kính viếng, đều là vì mười thành, dám hỏi là vì sao?”
Tô Tần rõ ràng không muốn nhiều lời với ông ta, vòng tay vái ông ta vài vái, rồi đưa mắt nhìn sang Uy Vương.
Trâu Kỵ bị bẽ mặt, đang lúng túng không biết làm sao, thì Uy Vương bỗng từ từ mở mắt, nhìn Tô Tần mỉm cười, giải vây cho Trâu Kỵ: “Phải, Trâu Tử hỏi rất đúng! Xin hỏi Tô Tử, chúc mừng và kính viếng đều vì mười thành, tại sao hai chuyện đó lại theo nhau nhanh chóng đến vậy?”
Tô Tần vòng tay đáp lời: “Tần từng nghe nói, xưa kia có một người đói lả đến gần chết, tìm mãi mới được mười củ ấu tàu (1). Tần dám hỏi bệ hạ, người đó có ăn không?”
Uy Vương lắc đầu.
“Người đó vì sao lại không ăn?”
Uy Vương đưa mắt nhìn sang Tích Cương, tỏ ý bảo hắn trả lời.
Tích Cương bèn đáp: “Ấu tàu là độc dược, tuy ăn vào có thể no bụng, nhưng sẽ chết.”
Tô Tần quay người, vòng tay hướng vào thái tử mà nói: “Điện hạ nói rất đúng. Đói cũng chết, ăn củ ấu tàu cũng chết. Đằng nào cũng chết, dám hỏi điện hạ, người đó vì sao không chọn làm ma no?”
“Cùng là cái chết, song chết vì củ ấu tàu rất thống khổ.”
“Tạ ơn điện hạ đã giải thích!” Tô Tần vòng tay đa tạ, rồi quay sang Uy Vương và quần thần, vái khắp một lượt, dõng dạc mà nói. “Bệ hạ, điện hạ, chư vị đại nhân, mười thành của Yên chẳng khác nào mười củ ấu tàu trong tay người đói, có được thì vui mừng, mà ăn vào thì thảm thương, nên vừa rồi Tô Tần mới vừa chúc mừng đã lại kính viếng là vì vậy.”
Thấy Tô Tần so sánh như vậy, mọi người nhất thời không hiểu, thảy đều hoang mang, đưa mắt nhìn nhau. Dù là người túc trí đa mưu như Trâu Kỵ, lúc này cũng băn khoăn nghi hoặc, nhắm mắt suy ngẫm.
Uy Vương hít sâu một hơi, trong người lạnh toát, ngả người về phía trước hỏi: “Tô Tử ví mười thành như mười củ ấu tàu, dám hỏi dựa vào đâu mà ví như vậy?”
“Bệ hạ!” Tô Tần thong thả đáp lời. “Mười thành của nước Yên, chẳng khác gì mười củ ấu tàu trong tay người đói, có được thì dễ, mà ăn vào thì nguy. Thần không phải nói lời khoa trương để doạ dẫm, mà do tình thế thiên hạ thành ra như vậy.”
“Dám hỏi tình thế ra sao?”
“Thiên hạ hiện nay, có bảy nước lớn, là Tề, Sở, Tần, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy. Từ năm ngoái tới nay, thiên hạ chia làm hai phần từ ải Hàm Cốc, sáu nước phía đông ải Hàm Cốc hợp tung, chống lại nước Tần tại Quan Trung. Minh ước hợp tung còn chưa ráo mực, đại vương lại vì một phút nóng giận, dùng sức mạnh của một nước mà đối đầu thiên hạ, thần thiết nghĩ là việc thiếu sáng suốt.”
“Tô Tử nói quá rồi!” Uy Vương ngả người ra phía sau. “Thái tử nước Yên thất đạo, dối dưới lừa trên, bức anh giết cha, mưu đồ soán vị, lạm sát người vô tội, làm nhiều điều bất nghĩa. Ái nữ của quả nhân vô duyên vô cớ bị hại, trước khi lâm nạn có gửi tới quả nhân một bức huyết thư cầu cứu. Quả nhân không thể nhẫn nhịn mới khởi binh hỏi tội, đòi lại công bằng cho ái nữ, cớ sao lại không được?”
“Lời của vi thần, dứt khoát không phải là khuếch đại để doạ dẫm. Dám hỏi bệ hạ, dựa vào thực lực hiện tại của Tề, có thể đối đầu với cả thiên hạ hay chăng?”
“Quả nhân chẳng qua chỉ là chiếm mười thành của hắn, liên quan gì tới thiên hạ?”
“Thần xin giải thích để bệ hạ thấy. Yên Công băng hà, thái tử kế ngôi, không phải là cướp ngôi, nói ‘giết cha’ là vô căn cứ. Tân quân nước Yên tức vị, được người Yên ủng hộ, cũng không phải là thất đạo. Còn như Yên lạm sát người vô tội, vi thần mới từ nước Yên tới, tận mắt chứng kiến, thấy lời này thật không đáng tin. Nay bệ hạ kiếm cớ phạt tội, chiếm đoạt mười thành trì của nước Yên, tức là đã liên quan tới thiên hạ. Như vừa rồi đã nói, thiên hạ chia đôi, không phải nước hợp tung thì là nước Tần. Nước Tề đã đồng ý hợp tung, minh ước còn chưa ráo mực, bệ hạ đã chiếm mười thành của nước hợp tung, lòng dân liệt quốc hợp tung tất nguội lạnh. Tân quân nước Yên đã cưới con gái Tần, là con rể của Tần Công. Cha vợ con rể một nhà, Tần và Yên đã kết thân, Tề cướp đất Yên, dân Tần ắt phẫn nộ. Nếu người Yên báo thù, người Tần trợ giúp, các nước hợp tung cũng hợp sức đánh Tề, bệ hạ sẽ ứng phó thế nào? Thần cho rằng, bệ hạ vì mười thành mà làm mất lòng thiên hạ, được không bù nổi mất, nên mới ví von với củ ấu tàu.”
Tô Tần vừa dứt lời, quân thần đều kinh hãi, bởi không ai có thể suy nghĩ sâu xa tới vậy.
Uy Vương ngả hẳn người về phía trước, giọng khàn đi: “Theo ý ái khanh, quả nhân nên làm thế nào?”
“Lão Đam nói, ‘hoạ là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ ẩn của hoạ’, phúc hoạ nương tựa lẫn nhau, người tài thời xưa giỏi chuyển hoạ thành phúc. Nếu bệ hạ chịu nghe lời thần, hãy rút quân chinh phạt về, trả lại cho nước Yên mười thành Hà Gián. Yên không phải giao chiến mà giành về được mười thành, ắt vui mừng. Các vua Ngụy, Triệu, Hàn, Sở hay tin bệ hạ vì ái nữ mà phạt Yên, giành được mười thành, song lại vì hợp tung mà rút quân, trả lại mười thành, ắt cũng hoan hỷ, tung thân càng thêm kiên cố. Tần Công biết bệ hạ vì công chúa Tần mà trả lại Yên mười thành, ắt cũng vui vẻ. Bệ hạ làm một việc mà khiến mọi người đều vui vẻ, dùng mười thành mà lấy được lòng thiên hạ, chẳng phải đáng mừng ư?”
Tề Uy Vương bật cười vang, đưa tay chỉ vào Tô Tần mà nói: “Miệng lưỡi thật sắc bén, quả nhân khâm phục!” Rồi quay sang quần thần. “Chư vị ái khanh, có ai tấu gì không?” Thấy không ai nói gì, bèn phẩy tay. “Bãi triều!”
Tô Tần vẫn sống trong phủ trạch mà Uy Vương ban tặng trong Tắc Hạ.
Ba ngày sau, Tề Vương sai người đánh vương xa tới đón Tô Tần vào Tuyết cung dự yến.
Tô Tần gọi công tử Khoái lại nói: “Đi thôi, công tử! Nước Yên có đòi lại được mười thành hay không, còn phải trông vào công tử.”
“Tại hạ?” Công tử Khoái ngẩn người, hỏi lại. “Phải làm thế nào?”
“Tới lúc gặp Tề Vương, công tử chớ coi ông ta là Tề Vương.”
“Vậy... coi là gì?”
“Là ông ngoại!”
“Ông ngoại?”
“Đúng vậy!” Tô Tần nhìn thẳng vào công tử Khoái. “Tề Vương là cha ruột của mẫu thân công tử, đương nhiên là ông ngoại của công tử.”
Công tử Khoái gật đầu, song vẫn băn khoăn: “Tại hạ nên làm thế nào?”
“Thử tưởng tượng xem, nếu công tử là một người dân bình thường, cha công tử giết mẹ công tử, ông ngoại công tử báo thù cho con gái, cho người tới cướp mất một con trâu nhà công tử. Cha công tử không chịu, sai người đi đòi trâu về. Một bên là cha, một bên là ông ngoại, đều là người thân của công tử. Công tử không muốn hai người thân của mình ẩu đả chỉ vì một con trâu, bèn chủ động đứng ra dàn xếp, tìm ông ngoại đòi trâu. Trong tình cảnh đó, công tử nên xử trí thế nào?”
“Tại hạ...” Công tử Khoái nghe Tô Tần nói mà đau đớn cõi lòng, nước mắt giàn giụa. “Tại hạ... còn biết làm gì ngoài đau đớn khóc lóc nữa?”
“Phải, công tử cứ khóc!”
“Khóc?” Công tử Khoái thôi khóc, ngẩn người kinh ngạc.
“Sau khi gặp ông ngoại, công tử đừng nói câu nào, cứ quỳ xuống đất mà khóc, khóc càng thảm thiết càng tốt. Còn con trâu kia, cứ để tại hạ đòi về.”
Công tử Khoái thở phào một tiếng, gật đầu đồng ý.
Hai người lên vương xa, tới Tuyết cung.
Hai người vào yết kiến. Công tử Khoái mình mặc hiếu phục, vừa bước vào cửa cung đã khấu đầu sát đất, kêu lên một tiếng thê lương: “Ông ngoại...” Rồi lập tức bật khóc thảm thiết.
Khi Tô Tần sang Tề hợp tung, công tử Khoái là phó sứ nước Yên, Uy Vương vốn đã gặp mặt, song giờ đây thấy công tử Khoái mình mặc áo tang, lại khóc lóc thảm thiết, nhất thời chưa thể nhận ra, chỉ vào công tử Khoái mà hỏi Tô Tần: “Người này là ai?”
Tô Tần dụi mắt mà nói: “Là cháu ngoại của bệ hạ, trưởng công tử nước Yên Cơ Khoái!”
“Khoái Nhi?” Uy Vương lấy làm kinh ngạc. “Sao cháu lại tới đây?”
Công tử Khoái dập đầu sát đất, chỉ khóc nức nở.
“Khoái Nhi!” Uy Vương vẫy tay gọi công tử Khoái. “Hãy lại đây, để ông ngoại được nhìn cháu!”
“Ông ngoại...” Công tử Khoái lê gối lên trước vài bước, gục đầu trước gối Uy Vương, hai vai rung lên bần bật, càng gào khóc thảm thương hơn nữa.
Uy Vương vỗ về công tử Khoái, thở dài một tiếng, quay sang Tô Tần: “Những lời ái khanh nói hôm trước, quả nhân thấy rất phải. Hôm nay quả nhân triệu ái khanh tới đây, cũng là muốn bàn tiếp chuyện này. Mười thành kia, quả nhân có thể hoàn trả, song Cơ Tô vô duyên vô cớ sát hại ái nữ, nỗi hận này phải giải toả thế nào đây?”
“Bệ hạ!” Tô Tần khấu đầu nói. “Người chết không thể sống lại được. Bệ hạ dù có hạ lệnh giày nát đất Yên, giết hết người Yên, cũng không thể khiến Điền phu nhân sống lại, mà sẽ chỉ càng khiến bi thương chồng chất. Điền phu nhân tuy đã ra đi, song huyết mạch vẫn còn, công tử Khoái vừa là công tử đích mạch của Yên Vương, cũng là huyết mạch của bệ hạ. Bệ hạ hoàn trả mười thành cho Yên, bề ngoài là trả cho Yên Vương, song thực chất là trả cho công tử!”
Uy Vương hai mắt vụt sáng: “Ý ái khanh là...”
“Bệ hạ sao không nhân thời cơ tốt đẹp này viết thư cho Yên Vương, bảo ông ta lập công tử làm thái tử? Nước Yên tương lai sẽ thuộc về công tử, như vậy thứ bệ hạ có được, đâu chỉ là mười thành kia?”
“Quả nhân sẽ nghe theo lời ái khanh!” Uy Vương mặt mày rạng rỡ, vỗ về công tử Khoái mà nói. “Khoái Nhi, cháu đừng khóc nữa, quả nhân vì cháu mà hoàn trả mười thành cho Yên.” Rồi quay sang Tô Tần. “Có điều, Cơ Khoái có thành thái tử hay không, còn phải nhờ vào sự giúp đỡ của ái khanh.”
“Vi thần nhất định sẽ tận lực!”
Đúng vào lúc hai thùng gỗ chứa đầy nước ở bên ngoài doanh trại chủ tướng sắp sửa đông cứng, thượng đại phu nước Triệu Lâu Hoãn, thượng khanh nước Ngụy Chu Uy đến cầu kiến Bàng Quyên. Theo sau họ là Viên Báo.
Viên Báo bẩm báo qua thân phận, rồi lấy ra một bức mật thư, trình lên Bàng Quyên.
Bàng Quyên thấy là thư của Tô Tần, lập tức bóc ra, thấy trong thư viết rằng: “Tại hạ một lần nữa khẩn cầu Bàng huynh tạm dừng phạt Tần. Không phải là Tần không thể phạt, mà là thời cơ chưa tới. Khi ở Quỷ Cốc, từng nghe tiên sinh và Tôn huynh luận binh, có nói rằng: ‘Nên dùng binh thượng sách là dùng mưu, thứ đến là dùng bang giao, thứ đến là đánh trận, hạ sách là đánh thành. Đánh thành là bất đắc dĩ.’ Tình thế hiện nay, dựa vào đại tài của huynh, ắt cũng thấu tỏ. Sáu nước vừa mới hợp tung, sáu tâm còn chờ quy về một mối, các tướng còn chờ hoà hợp, tiền của còn chờ tích luỹ, binh tướng vẫn còn là đám ô hợp. Dùng đoàn quân ô hợp để tấn công đất nước bốn ải khoá kín, trộm nghĩ là không thoả đáng. Thảo phạt bằng mưu là thượng sách, đại mưu là ở đạo. Hợp tung mục đích là chế Tần, không phải là phạt Tần. Sáu nước hợp tung, đã thành đại thế, Tần tự nhiên sẽ phải dè chừng. Giáo hoá bằng đại đạo, răn dạy bằng đại nghĩa, quy phạm bằng khuôn phép, Tần không dám không nghe. Nếu nghe, ta ‘không chiến mà khuất phục được người’; không nghe, huynh vẫn tiếp tục dẫn quân thảo phạt, ắt bại. Tô Tần bái thư.”
Bàng Quyên đọc xong, sắc mặt vẫn bình thản như không, vứt đánh toẹt lá thư lên mặt bàn, song dường như cảm thấy bất kính, lại với tay nhặt lên, nhét vào trong tay áo, ôm quyền hướng về phía Lâu Hoãn, Chu Uy mà nói: “Lâu đại phu, Chu thượng khanh, chinh phạt đã sắp bắt đầu, điều khiến tại hạ lo lắng nhất chính là lương thảo. Nghe nói hai vị áp tải lương thảo tới đây khao quân, thực là như nắng hạn gặp mưa lành, tại hạ thay mặt tướng sĩ ba quân, tạ ơn hai vị.”
Lâu Hoãn ôm quyền nói: “Bàng tướng quân khách sáo rồi! Chinh phạt sắp bắt đầu, tại hạ có vài lời bâng quơ, không biết có nên nói ra hay không?”
“Thượng đại phu cứ nói!”
“Từ khi theo Tô Tử hợp tung, tại hạ đã nhiều lần được nghe cao luận của Tô Tử. Trong buổi hội thề, Tô Tử lại luận bàn về hợp tung với tại hạ, sắc mặt lộ vẻ lo âu. Thiên hạ hợp tung, hoàn toàn dựa vào Tô Tử, nay đã thành công, lại thấy Tô Tử lo âu, tại hạ lấy làm quái lạ, bèn hỏi tại sao, Tô Tử nói, một khi hợp tung thành công, thiên hạ ắt sẽ phạt Tần. Tại hạ cho rằng bạo Tần đáng phạt, đã tranh luận với Tô Tử. Tô Tử bèn nói ra một đạo lý, tại hạ tầm mắt hạn hẹp, lúc đó không cho là đúng. Giờ nhìn vào tình thế hiện tại, tại hạ đã hiểu phần nào. Tần có bốn cửa ải kiên cố, Hàm Cốc hiểm trở, lấy nhàn đối nhọc, mười vạn binh lính có thể địch nổi hai mươi vạn quân. Nay đại quân ta áp sát biên giới, Tần không còn đường lui, tất trên dưới đồng lòng, tử chiến vệ quốc, hai mươi vạn có thể chống lại bốn mươi vạn. Nhìn lại quân hợp tung của ta, còn chưa bày trận, nội chiến đã nổ ra, sáu thế nay mất đi hai thế. Tuy tại hạ không am hiểu việc quân, song cũng nhận ra đại thế, nay nói thẳng lời này, mong tướng quân suy nghĩ kỹ.”
Lâu Hoãn vừa dứt lời, Bàng Quyên lập tức phá lên cười lớn, mỉa mai mà rằng: “Thượng đại phu khiêm tốn thái quá rồi! Nghe thượng đại phu giáo huấn, tại hạ thực lấy làm hổ thẹn. Thượng đại phu đã nhận ra đại thế, lại hiểu việc binh, thực là đại tài tuyệt thế, Bàng mỗ vô cùng kính phục. Tuy nhiên...” lập tức đổi giọng, ngữ khí đanh thép, “thượng đại phu chỉ biết một mà không biết hai. Thân là bề tôi, đương nhiên phải phục tùng quân chủ. Quân chủ sáu nước hội thề hợp tung, đã quyết định hợp quân diệt Tần. Không phải tại hạ không nhận ra đại thế, mà kỳ thực là tại hạ phụng chỉ phạt Tần, quân mệnh không thể trái! Lẽ nào thượng đại phu nhất định muốn tại hạ kháng chỉ của sáu vị quân vương, để nghe theo mệnh lệnh của một mình Tô Tử?”
Lâu Hoãn thành tâm khuyên nhủ, song lại nhận phải lời giễu cợt vỗ mặt, sắc mặt hết đỏ gay lại trắng bệch, cúi đầu im lặng.
“Thượng đại phu!” Bàng Quyên vẫn không chịu buông tha, giọng nói càng thêm bén nhọn. “Trận quân chưa bày, trống trận chưa nổi, thượng đại phu lại ở trước mặt chủ soái sáu quân khuếch trương uy lực của bạo Tần, hạ thấp thế của hợp tung, là có ý gì? Tại hạ muốn hỏi, là thượng đại phu sợ hãi, hay là người Triệu các vị sợ hãi?”
Lâu Hoãn tức giận: “Bàng tướng quân, tướng quân... nói vậy là có ý gì?”
Bàng Quyên cũng cảm thấy hơi quá lời, ngữ khí có phân dịu lại: “Lời thượng đại phu vừa nói, nếu chỉ là ý của thượng đại phu, tại hạ tạm coi như không nghe thấy. Còn nếu là phụng ý chỉ của quân chủ nước Triệu, xin thứ lỗi không thể phục tùng. Tại hạ là chủ soái của sáu quân, không phải chủ tướng của quân Triệu, nếu có chỗ nào bất kính, dám mong thượng đại phu lượng thứ!”
Chu Uy thấy không khí căng thẳng, đành đứng lên giảng hoà, vòng tay hướng vào Lâu Hoãn mà nói: “Thượng đại phu bất tất phải để bụng. Kỳ thực, điều thượng đại phu lo lắng, Bàng tướng quân không phải không nghĩ tới. Theo tại hạ biết, Bàng tướng quân xưa nay dụng binh thận trọng, nếu không phải vậy, đại quân đã khai chiến với người Tần từ lâu rồi, còn đóng trại vài tháng ở đây để làm gì?”
Chu Uy lời lẽ khéo léo, vừa giữ được thể diện cho Bàng Quyên, cũng lại tán thành ý của Lâu Hoãn, Bàng Quyên không còn tỏ vẻ hống hách nữa, dịu giọng mà nói: “Chu thượng khanh nói rất phải. Tuy nhiên, cung đã kéo căng, tên khó lòng thu lại. Về việc ngừng chiến, thượng đại phu chớ nên nhắc lại nữa. Tại hạ thân là chủ soái, duy chỉ biết phục tùng mệnh lệnh của tung ước trưởng mà thôi!”
Tiễn Lâu Hoãn, Chu Uy và Viên Báo đi rồi, Bàng Quyên thở hồng hộc trở vào trong trại, bực bội ngồi trước bàn chủ soái một hồi, rồi lôi bức thư của Tô Tần ra, đọc lại một lượt, hậm hực ném thẳng lên bàn, giận dữ rít lên: “Cái gì mà Tôn huynh nói, cái gì mà dùng binh thượng sách là dùng mưu? Một thằng đần chỉ biết khua môi múa mép cũng đòi bàn việc quân! Hừm, đợi ta phá Tần xong, xem hắn có thấy bẽ mặt không! Người đâu!”
Tham tướng đáp lời, bước vào.
“Gọi hai tướng quân Trương Mãnh, Ngụy Ngang tới trại chủ soái nghe lệnh!”
Dông tố chiến tranh đã sầm sập tới gần, nước Tần động viên toàn quốc, trên dưới sôi sục, đều quyết chí hy sinh vì nước. Huệ Văn Công phong đại lương tạo Công Tôn Diễn làm chủ tướng, quốc uý Tư Mã Thác làm phó tướng kiêm tiên phong phá địch, Cam Mậu phụ trách vận chuyển lương thảo, khởi mười lăm vạn quân tinh nhuệ nghênh địch. Huệ Văn Công ở Hàm Dương bồn chồn thắc thỏm, đứng ngồi không yên, bèn khởi giá gấp rút tới Ninh Tần, Trương Nghi đi theo hộ tống.
Ninh Tần chính là Âm Tấn, một đường nối thông với ải Hàm Cốc, là do Tư Mã Thác vài năm trước nhân lúc Tề phạt Ngụy đã cướp lấy từ tay quân Ngụy. Lần này sáu nước phạt Tần, cùng tiến quân áp sát ải Hàm Cốc. Ninh Tần phía đông thông Hàm Cốc, phía nam chế Hà Tây, phía tây tới Hàm Dương, giống như yết hầu của Tần, xứng đáng là vùng thắng địa chiến lược, tuyệt đối không thể đánh mất. Hai tháng trước, Huệ Văn Công bổ nhiệm công tử Hoa làm tướng giữ thành, tích thảo đồn lương, gia cố thành trì, đồng thời bí mật điều động ba vạn quân tinh nhuệ hạ trại trong khe núi Hoa Sơn, hô ứng với Ninh Tần.
Dù là vậy, Huệ Văn Công vẫn chưa yên tâm, bèn sai binh sĩ khiêng theo phương thiên hoạ kích và cây cung báu năm thạch của mình, dẫn theo ba nghìn vệ binh, khí thế hừng hực tiến tới Ninh Tần, chứng tỏ cho dân chúng thấy quyết tâm tử chiến.
Chính vào lúc Bàng Quyên triệu tập chư tướng nghe lệnh, Huệ Văn Công đã tới Ninh Tần. Đám Công Tôn Diễn, Tư Mã Thác, Cam Mậu, Sư Lý Tật cũng mau chóng từ các hướng khác nhau ruổi ngựa tới, tề tựu tại phủ đệ của công tử Hoa.
“Chư vị ái khanh!” Thấy quần thần đều đã yên vị, Huệ Văn Công đặng hắng khẽ một tiếng, chậm rãi nói. “Tô Tử hợp tung, Bàng Quyên hưng binh tác loạn, vài chục vạn quân hợp tung đã tập kết bên ngoài ải Hàm Cốc, nỏ giương gươm tuốt. Không phải quả nhân muốn đánh, mà là người ta đã ép tới tận cổng nhà chúng ta!” Đưa mắt nhìn quần thần, nói tiếp. “Mấy vị ái khanh đây không những là trợ thủ đắc lực của quả nhân, mà còn là đầu não và tâm phúc của nước Tần. Trận đại chiến này, quả nhân không thể bại, nước Tần cũng không thể bại. Quả nhân cho gọi chư vị tới, là muốn nghị bàn chiến lược nghênh địch sau cùng, bảo đảm phải vạn phần trọn vẹn.”
Dù giọng nói của Huệ Văn Công rất đỗi bình thản, song quần thần vẫn cảm nhận được một sức nặng ngàn cân. Không một ai lên tiếng.
Thấy quần thần sắc mặt căng thẳng, Huệ Văn Công cười nói: “Nói đi chứ, sao ai nấy cứ ngồi dài mặt ra thế kia, cứ như quả nhân đang nợ bổng lộc của các khanh vậy!” Lại đợi thêm một lát, thấy lời nói đùa chẳng có mảy may tác dụng, bèn thu lại nụ cười, chỉ đích danh. “Công Tôn ái khanh, khanh là chủ tướng ba quân, hãy nói trước đi!”
“Thần cho rằng,” Công Tôn Diễn đi thẳng vào đề, “Bàng Quyên dàn quân hợp tung liệt quốc tại hai đầu ải Hào Quan, có lẽ chỉ là nghi binh. Hàm Cốc quan đường hẹp ải hiểm, dễ phòng khó đánh, binh lực tuy nhiều cũng không thể triển khai. Dựa vào tài của Bàng Quyên, dứt khoát sẽ không suy tính nông cạn như vậy!”
“Theo ý ái khanh, Bàng Quyên sẽ tập trung tấn công từ đâu?”
“Chính là từ chỗ này!” Công Tôn Diễn trải bức bản đồ hình thế mang theo bên mình ra, chỉ vào dải Hà Thuỷ phía đông thành Thiếu Lương. “Vượt sông!”
“Vượt sông?” Hết thảy mọi người, gồm cả Huệ Văn Công đều sững sờ kinh ngạc.
“Mọi người hãy xem!” Công Tôn Diễn chỉ vào một đoạn lòng sông Hà Thuỷ. “Từ đây tới đây, dài khoảng mười dặm, địa thế tương đối bằng phẳng, lòng sông rộng bảy tám dặm, nước chảy êm đềm, hai bên bờ đều là đầm lầy, bùn ngập đến cổ, rong rêu um tùm, hiếm người qua lại, là chốn thiên đường của chim cá, người địa phương gọi là bãi Lạn Nê, cũng gọi là bãi Chết Người, không ai dám bén mảng lại gần.
Mọi người càng nghe càng không hiểu, Cam Mậu bèn lên tiếng hỏi: “Nếu như bùn ngập đến cổ, hiếm người qua lại, vậy quân hợp tung vượt sông thế nào?”
Huệ Văn Công đột nhiên bừng hiểu, mặt mày biến sắc: “Ý ái khanh là, Bàng Quyên đợi nước sông đóng băng?”
“Quân chủ thánh minh!” Công Tôn Diễn khẽ vòng tay, sắc mặt trầm trọng. “Theo vi thần được biết, đoạn sông Hà Thuỷ này nếu gặp tiết trời giá rét cực độ, sẽ đóng thành băng cứng. Bùn lầy kết thành một khối, rắn như đá tảng. Dù giữa dòng vẫn có chỗ chảy xiết khó đóng băng cứng, song với tiết trời lạnh giá thế này, chỉ là chuyện nhỏ, có thể bắc cầu phao dễ dàng. Do vậy thiên binh vạn mã vượt sông, khác nào đi trên đất bằng!”
Rõ ràng, phán đoán của Công Tôn Diễn tuyệt không phải là võ đoán.
Tư Mã Thác vỗ đùi kêu lên: “Thảo nào Bàng Quyên lề mề không hạ chiến thư, báo hại mạt tướng ngứa ngáy không yên, hoá ra hắn có kế ngầm, chỉ là đợi thời tiết!”
Huệ Văn Công đã trấn tĩnh lại, quay sang công tử Hoa: “Người Ngụy tại Hà Đông có gì bất thường chăng?”
“Hồi bẩm chúa thượng, theo vi thần dò la biết được, người Ngụy ở Hà Đông vẫn chưa có biểu hiện nào khác lạ. Tuy nhiên, quân Ngụy gần An Ấp gia tăng thấy rõ, song chưa thấy quân hợp tung của liệt quốc.”
Tình thế đã rất rõ ràng.
Huệ Văn Công khẽ gật đầu: “Phải! Quan sát mấy lần dụng binh của Bàng Quyên, không lần nào không phải xuất kỳ chế thắng, tấn công vào chỗ bất ngờ. Lần này giao chiến, hắn lại tái diễn trò xưa, cho quân hợp tung tập hợp ngoài ải Hàm Cốc, thu hút sự chú ý của ta, sau đó, nhân lúc đất trời giá lạnh, Hà Thuỷ đóng băng, cho kỳ binh vượt qua Hà Thuỷ, rồi đại binh tiến theo, vòng qua Hàm Cốc, chế ngự Hà Tây của ta.”
Quần thần nhao nhao tán đồng.
Huệ Văn Công quay sang Công Tôn Diễn: “Ái khanh đã nhìn thấu mưu kế của địch, hẳn có sách lược ứng phó?”
“Ải Hàm Cốc hiện có mười vạn tinh binh, thần thiết nghĩ hãy triệu hồi ba vạn, hỗ trợ phòng ngự Thiếu Lương, chuẩn bị vật dẫn cháy, ngấm ngầm sắp xếp chốt canh dọc bờ Hà Thuỷ, một khi phát hiện thấy người Ngụy vượt sông, lập tức ra tay ngay khi chúng vừa hành động, ép chúng phải rút lui, đốt cháy cầu phao, cách sông đối đầu với địch.”
Huệ Văn Công trầm ngâm hồi lâu, lắc đầu mà nói: “Ải Hàm Cốc đối đầu trực diện với cường địch, mười vạn đã không phải là nhiều. Hãy điều động ba vạn quân tinh nhuệ trấn thủ Ninh Tần tới Thiếu Lương!”
Trương Nghi khẽ mấp máy môi vài cái, song lại cố gắng nín nhịn.
“Ái khanh hẳn có điều muốn nói?” Ánh mắt Huệ Văn Công đã liếc thấy.
Trương Nghi ôm quyền mà nói: “Thần cho rằng, Ninh Tần là vùng yết hầu xung yếu của ta, quan trọng hơn hẳn Thiếu Lương. Hà Thuỷ chỉ cần có quân dân Hà Tây bảo vệ là đã đủ rồi. Đô uý quận Hà Tây là Ngô Thanh tướng quân nhà ở Thiếu Lương, thông thạo các ấp Hà Tây, cũng có tài chinh chiến, nếu chúa thượng giao cho trọng trách, tất có thể bảo vệ vững chắc Thiếu Lương, Hà Thuỷ không phải lo lắng.”
“Được, hãy nghe theo lời ái khanh!” Huệ Văn Công ngẫm nghĩ một lát, đoạn quay sang ngự sử đang đứng phía sau. “Soạn chỉ, thăng cấp cho đô uý Hà Tây Ngô Thanh làm quận thú Hà Tây, rút một nghìn quân tinh nhuệ từ các ấp lớn, năm trăm quân tinh nhuệ từ các ấp nhỏ trong quận Hà Tây, đảm bảo không được đánh mất Thiếu Lương, giữ vững Hà Thuỷ!”
“Thần lĩnh chỉ!”
Chư thần lại bàn bạc một hồi, rồi ai nấy lĩnh chỉ ra về.
Gió Tây Bắc lại nổi lên, giống như những lưỡi dao lạnh buốt chém ngang mọi sinh mạng trên mặt đất.
Trong trại trung quân, Trương Mãnh, công tử Ngang bốn mắt nhìn không chớp vào sa bàn rộng lớn. Trên sa bàn bày thù lù hai thùng gỗ lớn vừa được khiêng từ ngoài trại vào.
Bàng Quyên cầm gậy, đập vào thùng gỗ, phát ra những tiếng “bộp bộp” trầm nặng. Không cần phải nhìn, chỉ nghe âm thanh cũng biết hai thùng nước đã đóng băng hoàn toàn.
Khoé miệng Bàng Quyên nhếch khẽ một nụ cười, ánh mắt lướt sang Trương Mãnh: “Trương tướng quân, việc tại hạ giao phó, đã chuẩn bị xong chưa?”
Trương Mãnh dõng dạc đáp lời: “Mọi thứ đều đã chuẩn bị sẵn sàng theo đúng lời dặn của chủ soái, ba vạn quân tinh nhuệ đã nai nịt gọn gàng chờ lệnh!”
“Tốt!” Bàng Quyên đột ngột thu lại nụ cười, gằn mạnh từng chữ. “Hai vị tướng quân, nghe lệnh!”
Công tử Ngang, Trương Mãnh lập tức đứng nghiêm trang.
“Ngụy Ngang nghe lệnh!”
“Có mạt tướng!”
Bàng Quyên nhìn thẳng vào công tử Ngang: “Bản soái lệnh cho tướng quân làm tiên phong phạt Tần, dẫn năm vạn lính bộ trong thành An Ấp, tới chỗ này, bãi Lạn Nê,” chỉ vào đoạn sông Hà Thuỷ phía đông Thiếu Lương, “vượt sông phá địch!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
“Biết đánh thế nào chưa?”
“Sau khi vượt sông, đột kích Thiếu Lương, chiếm lấy Hà Tây!” Công tử Ngang lập tức trả lời, không cần suy nghĩ, rõ ràng mưu này đã ấp ủ từ lâu.
“Đúng vậy!” Bàng Quyên khen ngợi. “Công tử hãy trống giương cờ mở, chia quân thành nhiều ngả, phân tán ra đột kích các ấp Hà Tây, chỗ nào đánh được thì đánh, không đánh được thì nghi binh doạ dẫm, không nhất thiết phải đánh hạ bằng được thành trì. Ngoài ra, công tử cần cắm cờ bốn phía, đốt khói tứ tung, khiến năm vạn biến thành mười vạn, mười lăm vạn, thanh thế càng lớn càng tốt, khiến cho người Tần hoang mang không biết thực hư. Chủ lực của người Tần đều ở tuyến Hàm Cốc, Âm Tấn, còn Thiếu Lương và Hà Tây chỉ có quân phòng thủ, có thể dùng kế nghi binh.”
“Ờ...” Công tử Ngang có vẻ vẫn chưa hiểu.
“Trương tướng quân!” Bàng Quyên cũng không giải thích thêm, liền quay sang Trương Mãnh. “Tướng quân dẫn ba vạn quân tinh nhuệ, chọc thẳng vào chỗ này!” Chỉ vào vùng Phong Lăng. “Khe Phi Viên! Tại hạ từng tới tận đó quan sát, thấy nơi đó tuy nước chảy xiết, song khe nhỏ hẹp, có thể bắc cầu phao trên mặt nước. Đợi vượt sông thành công, lập tức cắt đứt đường Hàm Cốc, chia quân hai lộ, một lộ tiến về phía đông, tấn công ải Hàm Cốc từ sau lưng, chọn nơi hiểm trở dựng luỹ, chặn đứng đường rút lui của quân địch ở ải Hàm Cốc. Lộ còn lại tiến về phía tây, đánh vào Âm Tấn, chọn nơi hiểm trở dựng luỹ, cản trở viện binh của người Tần!”
Đây là phương án chế địch cực kỳ liều lĩnh, bất ngờ song hiệu quả, Bàng Quyên giữ bí mật tuyệt đối, ngoài Huệ Vương và Trương Mãnh, không hé lộ cho ai biết, tới lúc này mới ra mệnh lệnh.
Công tử Ngang nghe mà hai mắt trợn trừng, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ.
“Hai vị xem đây!” Bàng Quyên chỉ vào sa bàn. “Ải Hàm Cốc như cái miệng của Tần, hung hãn nhe nanh, muốn cắn xé ta. Đường Hàm Cốc như cổ họng của Tần, Âm Tấn như cái bụng của Tần, Quan Trung như lục phủ ngũ tạng của Tần. Nếu ta cắt ngang họng của Tần, thì mười vạn quân tinh nhuệ của chúng ở ải Hàm Cốc trước mặt sau lưng đều có địch, lương thảo bị đứt, khác nào ba ba trong hũ, ngoài bó giáo ra hàng, sẽ chẳng còn đường lui nào khác. Trừ khử được chúng, đường Hàm Cốc đã thuộc về ta. Lúc đó, ta sẽ xua quân tiến thẳng, khuấy đảo lục phủ ngũ tạng của Tần. Tuy nhiên...” ánh mắt từ từ chuyển sang Trương Mãnh, ngữ khí càng thêm trầm trọng, “hành động của tướng quân, như miếng xương kẹt ngang cổ họng, người Tần ắt dốc toàn lực vây bủa, nhiệm vụ của tướng quân là phải trụ vững. Nếu yêu cầu tướng quân phải bám trụ trong vòng hai mươi ngày, ba vạn quân có đủ chăng?”
“Đủ!” Trương Mãnh sớm đã thuộc làu địa thế nơi này như lòng bàn tay, gật đầu đáp lời. “Chủ soái đã chọn đúng chỗ tốt. Từ đường Hàm Cốc tới khe Phi Viên lại hẹp thêm chút nữa, phía nam là núi lớn, quay lưng vào Hà Thuỷ, ít có chỗ xoay xở, binh lực có nhiều cũng khó triển khai. Cho dù là ba vạn lính bộ, chí ít nhất cũng phải kéo dài sang trái phải mỗi bên hai mươi dặm, đã đủ khiến cho người Tần phải lao đao.”
“Tại hạ sẽ điều thêm cho tướng quân một vạn viện binh, đóng ở Hà Bắc, khi tình thế nguy cấp, cũng có chỗ tiếp ứng. Tóm lại, tướng quân phải như một chiếc đinh, cắm thật chắc tại nơi đó.”
Trương Mãnh cất giọng sang sảng: “Chủ soái yên tâm, mạt tướng dù thịt nát xương tan, cũng phải chặn đứng cổ họng của kẻ địch.”
Công tử Ngang lúc mày mới hiểu ra, quỳ phịch luôn xuống đất, khóc hu hu mà nói: “Chủ soái...”
Bàng Quyên sửng sốt: “Công tử... có chuyện gì vậy?”
“Chủ soái!” Công tử Ngang lê gối lên trước vài bước, khóc lớn. “Tại hạ... tại hạ bất tài, muốn đổi chỗ cho Trương tướng quân, dẫn tinh binh tới khe Phi Viên, khẩn cầu chủ soái đồng ý!”
“Công tử!” Bàng Quyên lấy làm cảm động, kéo công tử Ngang dậy, nắm chặt tay hắn mà nói. “Không phải tại hạ không đồng ý, mà kỳ thực đây là yếu quyết dụng binh. Ngô Tử nói, ‘người có sở trường sở đoản, khí có lúc thịnh lúc suy’, chỗ cốt yếu trong dùng tướng là ở chỗ phát huy tài năng của từng người. Trương tướng quân trấn thủ Âm Tấn, cai quản ải Hàm Cốc lâu năm, thông thạo địa hình sông núi, thành luỹ, cửa ải trên đường Hàm Cốc như lòng bàn tay, trọng trách này không thể giao cho ai khác ngoài Trương tướng quân. Còn sở trường của công tử là tạo thế, nếu dẫn quân thẳng tiến vào Hà Tây, tất có thể khiến Hà Tây náo loạn, quấy nhiễu quân Tần, giảm bớt áp lực cho Trương tướng quân. Ngoài ra, để công tử tấn công Hà Tây, tại hạ còn có dụng ý khác. Hà Tây đã mất trong tay công tử, cũng nên do công tử đòi về mới phải. Bãi Lạn Nê không phải là đánh nghi binh, mà là mũi tấn công chủ lực. Sau khi công tử vượt sông, có thể chia quân thành nhiều ngả, dễ dàng đánh phá. Chủ lực của quân Tần đều ở ải Hàm Cốc, lục phủ ngũ tạng sau lưng nó sẽ do công tử tha hồ khuấy đảo. Nếu công tử dư sức, còn có thể đánh thẳng tới Âm Tấn, trợ giúp Trương tướng quân một tay. Đợi cho quân địch tại Hàm Cốc đều bị tiêu diệt, Âm Tấn bị phá, lòng quân phía Tần phân tán, lúc đó sẽ đánh thẳng vào Hàm Dương, công tử lại đang ở tuyến đầu, vị trí tiên phong ắt không phải nhường cho ai khác.”
Nghe thấy Bàng Quyên sắp đặt chu đáo đến vậy, công tử Ngang mới thôi khóc lóc, trịnh trọng gật đầu.
Đêm đã về khuya, trên thành Ninh Tần, đèn đuốc thưa thớt, gió lạnh ào ào.
Huệ Văn Công đứng trên lầu cổng thành, lòng nặng trĩu lo âu, phóng mắt nhìn về phía xa. Ở tận cuối tầm nhìn, là những dãy núi cao thấp trập trùng, trong màn đêm tối tăm, trông chẳng khác gì những bóng ma đen kịt. Phía sau “bóng ma” là dòng Hà Thuỷ cuồn cuộn đang bị băng giá bủa vây.
“Chúa thượng sắc mặt âu lo, vì chuyện gì vậy?” Trương Nghi đứng phía sau khẽ hỏi.
“Không giấu ái khanh, đại chiến sắp tới gần, quả nhân... lòng không chắc chắn!”
“Ha ha ha, điều chúa thượng nghĩ, khác với điều vi thần nghĩ.” Trương Nghi mỉm cười, ngữ khí rất mực nhẹ nhõm.
“Ồ?” Huệ Văn Công quay đầu lại.
“Vi thần chỉ nghĩ tới có một chữ, thắng! Vi thần muốn hỏi, chúa thượng muốn đại thắng hay tiểu thắng?”
“Tiểu thắng là thế nào?”
“Giữ vững nước nhà, không mất lấy một tấc đất.”
“Thế còn đại thắng?”
“Phá vỡ hợp tung, mở rộng lãnh thổ.”
“Quả nhân...” Huệ Văn Công hít vào một hơi thật sâu, khe khẽ lắc đầu. “Dựa vào tình hình hiện tại, tiểu thắng đã không nắm chắc, nói gì tới đại thắng?”
Trương Nghi dõng dạc nói: “Binh không ở đông, mà ở tướng. Thắng không ở thế, mà ở mưu. Khi ở Quỷ Cốc, vi thần đã hiểu rõ Bàng Quyên. Người này có tiểu tài, không có đại lược, có âm sách, không có dương mưu, có dã tâm, không có độ lượng, không đáng sợ. Đáng sợ chỉ có hai người, một là Tô Tần, hai là Tôn Tẫn. Bàng Quyên cậy thế Ngụy Vương, hại Tôn Tẫn, đuổi Tô Tần, sáu quân không có đại mưu, chưa đánh đã thất bại trước. Lại quan sát sáu nước, tuy kết tung thân, song thực chất đã lục đục. Chúa thượng gả con gái, khiến Yên Tề trở mặt. Yên đã rút quân, nếu không ngoài dự đoán của vi thần, người Tề tất cũng lui binh. Sở có Trần thượng khanh, lòng ắt nản. Sáu thế thực chất đã mất đi ba, Bàng Quyên chỉ còn trông chờ duy nhất vào Tam Tấn. Vi thần quan sát Tam Tấn, thấy cũng không phải là một khối vững chãi, không đáng sợ. Vi thần đoán rằng, trong cuộc chiến này, ta tất sẽ thắng!”
“Vậy... phá vỡ hợp tung, mở rộng lãnh thổ thế nào?”
“Chia rẽ Tam Tấn. Vi thần đã có một kế, chờ đại vương định đoạt!” Trương Nghi tiến lại gần Huệ Văn Công, ghé tai thì thầm.
“Quả là diệu kế!” Huệ Văn Công mừng rỡ ra mặt, cười lớn mà nói. “Quả nhân sẽ mật chỉ cho Công Tôn tướng quân!”
Ngay sau khi công tử Ngang, Trương Mãnh nhận lệnh lui ra, Bàng Quyên chính thức hạ chiến thư, hẹn hai ngày sau quyết chiến với Tần ở ải Hàm Cốc.
Chiến thư vừa hạ, chủ tướng quân Tề Điền Anh liền sai người cấp báo, nói rằng người Yên phạt Tề, biên giới nước Tề nguy cấp, Điền Anh đã phụng chỉ Tề Vương lệnh cho quân Tề lui về chi viện.
Người Tề rút lui đã nằm trong dự tính của Bàng Quyên, do vậy không lấy làm bất ngờ. Bàng Quyên sắp xếp ổn thoả, sai người lần lượt tới tam quân Sở, Hàn, Triệu, yêu cầu mỗi nước điều động ba vạn tinh binh, trong vòng hai ngày gấp rút tới Hàm Cốc quan, tập kết trước cửa ải, nghe lệnh bày trận, quyết chiến với Tần.
Thời tiết lạnh lẽo khắc nghiệt, người Sở vốn ở phương Nam ấm áp, lúc này rất nhiều binh sĩ chịu đựng không nổi, đổ bệnh ngày một nhiều, binh sĩ chờ khám bệnh xếp hàng rồng rắn, doanh trại nào cũng sực mùi thuốc.
Chiêu Dương đang lo lắng về chuyện này thì lệnh của chủ soái tới nơi. Chiêu Dương tập tức cho gọi Trần Chẩn lại bàn kế, Trần Chẩn bèn mách nước cho ông ta. Chiêu Dương y kế sắp xếp đâu ra đấy, rồi mới sai người ra đón tham tướng truyền lệnh vào, dẫn hắn đi vòng qua chỗ thầy lang. Tham tướng từ xa đã nhìn thấy binh sĩ đau ốm xếp thành mấy hàng, tiếng kêu rên khóc lóc không dứt bên tai, thì kinh hãi hỏi nguyên do, mới biết trong doanh trại Sở đang có dịch phong hàn, có đến ba phần binh sĩ đã mắc bệnh, Chiêu tướng quân cũng không tránh khỏi, đang điều trị trong đại trại. Tham tướng vội tới đại trại trung quân, quả nhiên thấy Chiêu Dương đầu quấn khăn ướt, trước giường đặt hai bát thuốc, sắc mặt mệt mỏi bơ phờ. Mấy thầy lang hoặc khám bệnh, hoặc kê đơn, bận rộn luôn tay luôn chân. Bảy tám tướng Sở đứng hầu trước giường, sắc mặt lo lắng.
Tham tướng rút lệnh bài, nói rõ mệnh lệnh.
Chiêu Dương gắng gượng ngồi dậy, miễn cưỡng nặn ra một nụ cười: “Tướng quân thấy cả rồi đấy, ba quân lòng dạ hoang mang, bản tướng lại bộ dạng thế này, muốn phục tùng soái lệnh mà lực bất tòng tâm. Xin tướng quân quay về bẩm báo chủ soái, đợi bản tướng hồi phục, ba quân yên lòng, lập tức sẽ dẫn quân tới trợ chiến, tiêu diệt người Tần!”
Dường như sực nhớ ra điều gì, bèn quay sang dặn dò một tướng. “Chu tướng quân, mấy cỗ xe mây đã chế tạo xong, hãy để tướng quân đây mang về trước, chủ soái hẳn cần dùng gấp! Cử thêm hai thợ tới bẩm rõ nguyên lý hoạt động với chủ soái, để tiện sử dụng.”
Viên tướng vâng lệnh, đi chuẩn bị xe mây. Chiêu Dương nằm lại xuống giường, nhắm nghiền hai mắt. Tham tướng cáo từ, mang theo xe mây gấp rút trở về trại chủ soái, phục mệnh Bàng Quyên.
Bàng Quyên nghiến răng uất hận: “Phong hàn cái nỗi gì? Là ông ta cố tình diễn kịch cho bản soái xem!” Lại nghĩ một hồi, khoé miệng chợt nhếch lên một nụ cười. “Ha ha ha, kẻ này không tới cũng tốt, dù sao ở đây cũng không cần tới ông ta. Có mấy cỗ xe mây, cũng coi như ông ta đã góp chút công lao. Đợi bản soái phá tan Hàm Cốc, tiêu diệt người Tần, ông ta cũng có lý do để bám theo sau, cắn cái phao câu gà mà mút mát!”
Trên ải Hàm Cốc, phủ quan doãn được đặt ở lưng chừng một vách núi phía sau cửa ải, cách lầu cổng thành khoảng ba tầm tên bắn.
Trong gian chính của nha phủ, chủ tướng quân Tần Công Tôn Diễn, phó tướng Tư Mã Thác ngồi đối diện nhau, ở giữa kê một chiếc bàn, trên bàn trải một tấm da dê vẽ bản đồ thế núi xung quanh. Chiến thư của Bàng Quyên tan tác vương vãi trên mặt đất, là do khi trải bản đồ, Tư Mã Thác đã tiện tay hất hết xuống.
“Tư Mã huynh!” Công Tôn Diễn thần sắc nghiêm nghị, cất giọng quyết đoán. “Chúng ta cần đi một thế cờ hiểm.”
Vừa nói dứt lời, Công Tôn Diễn tay cầm bút son, từ từ vẽ dọc theo một khe núi cách phía sau cửa ải không xa. Nét vẽ này ngoằn ngoèo uốn khúc, tiến thẳng tới Hà Thuỷ, lại dọc theo Hà Thuỷ chạy về phía đông, rẽ qua mấy khúc ngoặt lớn, men theo một khe núi phía bắc Thằng Trì quanh co chạy sang phía nam, rồi dừng lại ở một nơi, hạ một chấm thật đậm.
Tư Mã Thác trợn tròn mắt, nhìn sững vào vệt mực son, hồi lâu sau, đột nhiên bừng tỉnh, nện thẳng nắm đấm xuống tấm bản đồ: “Nước cờ tuyệt diệu!”
Công Tôn Diễn đặt cây bút son xuống: “Tư Mã huynh, hãy nói thử xem, nước cờ kỳ diệu này nên đi như thế nào?”
Tư Mã Thác chỉ vào chấm đỏ mà nói: “Đây là kho lương của quân Sở, nếu chúng ta một đòn đốt cháy, quân Sở tất loạn.”
“Chỉ thế chưa đủ!” Công Tôn Diễn lại cầm bút son, chấm liền vài chỗ. “Đây là kho lương của quân Hàn, đây là kho lương của quân Triệu, đây là kho lương của quân Ngụy.”
Tư Mã Thác phấn khởi xoa hai tay vào nhau: “Mạt tướng sẽ dẫn quân tới đó, một mồi lửa thiêu rụi toàn bộ.”
Công Tôn Diễn khẽ lắc đầu, chỉ vào kho lương của quân Triệu: “Chỗ này để lại!”
“Ồ, tại sao?” Tư Mã Thác không hiểu, hậm hực nói. “Người Triệu tiên phong hợp tung phạt ta, đáng căm hận nhất, nên thiêu rụi kho lương của họ đầu tiên mới phải!”
“Là ý chỉ của chúa thượng!” Công Tôn Diễn nhớ tới bức mật thư mà Huệ Văn Công vừa khẩn cấp gửi tới, khâm phục thốt lên. “Than ôi, chỗ tuyệt diệu của kế này chính là ở đây. Đại Tần ta có được minh quân nhường này, thực đội ơn trời. Quân chủ Ngụy không biết tự lượng sức mình, chỉ tổ làm trò cười cho thiên hạ!”
Tư Mã Thác vội hỏi: “Chúa thượng cớ sao lại bênh vực người Triệu?”
Công Tôn Diễn không trả lời, chỉ tay vào đường mực son trên bản đồ: “Tư Mã huynh, tại hạ đã chuẩn bị hai vạn lính bộ cho huynh, chập tối ngày mai, đợi khi màn đêm bao phủ, huynh hãy dẫn quân lên đường, mang đủ năm ngày lương, đi dọc theo khe núi này tới Hà Thuỷ, rồi men theo lòng sông Hà Thuỷ sang phía đông, ngày ẩn nấp đêm hành quân. Tại hạ đã cho người dò la toàn bộ tuyến đường, khe núi này bình thường không thể vượt qua, song hiện tại ông trời trợ giúp, khiến Hà Thuỷ đóng băng. Bãi Lạn Nê dọc bờ sông, thậm chí là một bộ phận Hà Thuỷ đã đóng thành băng cứng, vừa hay có thể băng qua. Nếu không nằm ngoài dự tính, tới ngày thứ ba, đội quân của huynh có thể tới đây.” Chỉ vào vùng núi phía bắc Thằng Trì. “Hãy chọn nơi cây cối rậm rạp trong khe núi này mà ẩn nấp, sét đánh cũng không ra, không kinh động đến chim muông. Vào đêm thứ năm, huynh hãy chia đường ra khỏi núi, đốt cháy ba kho lương thảo của Sở, Ngụy, Hàn, tập kích doanh trại quân Sở. Người Sở vốn không có tâm chiến đấu, tất kinh hãi mà tan rã. Huynh không được truy kích, mà phải mau chóng trở về trấn thủ ải Hào Quan trước khi trời sáng, đợi quân thất trận của Bàng Quyên tới, thì bỏ qua người Triệu, chỉ tập trung chặn binh mã Ngụy, Hàn.”
Tư Mã Thác trợn mắt kinh ngạc: “Ý chủ tướng là, người Triệu và chúng ta...”
“Cũng là ý chỉ của chúa thượng!” Công Tôn Diễn bình thản đáp lời.
Lần này phạt Tần đã chuẩn bị tới vài năm, dù là Huệ Vương hay Bàng Quyên cũng coi như đã đặt cược toàn bộ vốn liếng. Số võ binh cơ động của Đại Ngụy đã lên tới mười lăm vạn. Công tử Ngang dẫn năm vạn quân qua bãi Lạn Nê tấn công Hà Tây, Trương Mãnh dẫn bốn vạn quân chọc thẳng vào khe Phi Viên, sáu vạn còn lại đều tập trung vào Hàm Cốc, do Bàng Quyên đích thân chỉ huy. Trước ải Hàm Cốc, ngoài sáu vạn quân Ngụy, còn có năm vạn quân Hàn, năm vạn quân Triệu, tổng cộng mười sáu vạn đại quân, chưa cần tính số quân Sở dự bị ở Thằng Trì, số lượng cũng đã gấp đôi người Tần.
Đã áp đảo, tất phải tấn công.
Trận chiến mở màn theo đúng lễ. Trên bãi đất rộng lớn đã hẹn rõ trong chiến thư, Bàng Quyên chọn ra đội quân tinh nhuệ, bày thế trận Hổ Dực mà hắn từng dùng trong trận chiến mở màn với Điền Kỵ năm xưa, quân Ngụy ở giữa là thân hổ, quân Hàn ở bên trái là cánh trái, quân Triệu ở bên phải là cánh phải. Bàng Quyên ở vị trí đầu hổ, oai phong lẫm liệt đứng trên chiến xa, bên dưới lá cờ thêu chữ “soái”.
Công Tôn Diễn và Bàng Quyên tuy có quen biết từ trước, song giao chiến thực sự lại là lần đầu tiên. Bàng Quyên danh vang liệt quốc, Công Tôn Diễn đương nhiên không dám khinh suất, bèn leo lên cao quan sát từ xa, nhận rõ thế trận, vội dẫn sáu vạn quân tinh nhuệ ra khỏi cửa ải, phất cờ điều động, bày ra thế trận Long Đằng giống như Điền Kỵ xưa kia, khiến miệng rồng đối diện đầu hổ. Trận Long Đằng là khắc tinh của trận Hổ Dực, song Bàng Quyên cậy bên mình khí thế áp đảo, lại có ba nghìn quân hổ bôn bên cạnh, căn bản không coi trận thế bên địch ra gì.
Chính vào lúc Bàng Quyên và Công Tôn Diễn nhe nanh giương vuốt đối trận trước ải Hàm Cốc, Trương Mãnh dẫn quân tiến thẳng tới khe Phi Viên, vào lúc chập tối, đúng theo kế hoạch trước đó, dùng bè hồ lô vượt Hà Thuỷ, kết mấy đường dây thừng lơ lửng trên không, từ bờ bắc xếp các tấm ván gỗ dọc theo dây thừng, vứt rơm rạ xuống, tưới nước sông lên trên. Đêm đấy giá rét dị thường, Hà Thuỷ chốc lát đã đóng băng, không cần phải cố định, đã khiến rơm rạ, gỗ và dây thừng kết thành một khối, kiên cố không thể phá vỡ, trở thành một cầu phao tự nhiên bắc qua chỗ nước chảy xiết. Cầu phao dần được kéo dài đến giữa dòng sông, do ven bờ đã đóng băng, chỗ còn chảy xiết chỉ rộng chưa đầy năm trượng. Khi trời lờ mờ sáng, công việc đã hoàn tất, một chiếc cầu phao trắng bạc rộng khoảng một trượng đã vắt ngang trên mặt Hà Thuỷ. Ba vạn đại quân nối đuôi nhau băng qua cầu, chẳng khác gì một mũi tên bén nhọn xuyên thẳng tới đường Hàm Cốc.
Vài vạn người vượt sông, quân Ngụy dù có cẩn thận tới đâu, cũng khó tránh gây ra tiếng động. Nếu là ban ngày, âm thanh này có thể không bị phát giác, song trong màn đêm tĩnh mịch trước bình minh, dù một tiếng ho khẽ cũng vang xa vài dặm.
Đường Hàm Cốc tuy cách đấy tám dặm, song đó là tính đường khe núi ngoằn ngoèo, còn nếu tính đường chim bay thì chưa đầy bốn dặm, chỉ cần có người qua lại, là có thể nghe thấy loáng thoáng những tiếng ồn khác lạ trên sông.
Cũng thực không may mắn cho người Ngụy. Đại chiến sắp nổ ra, lương thảo đương nhiên là khẩn yếu, dù đang lúc nửa đêm, đường Hàm Cốc chốc chốc vẫn có xe lương đi qua. Hán tử cụt tay sống ở thôn Tiểu Tần phía tây Ninh Tần cùng vài tráng hán trong thôn mấy hôm trước đã tải lương tới ải Hàm Cốc, chập tối hôm qua đánh xe không trở về, lúc tờ mờ sáng, vừa hay đi tới chỗ này. Tiếng xe ngựa lóc cóc vốn có thể át đi những tạp âm trên sông, song thật tình cờ, lại có một người vào rừng đi đại tiện, mọi người đều dừng xe lại đợi anh ta. Xe vừa dừng, những tiếng lào xào lập tức loáng thoáng vọng lại, lúc có lúc không. Một người trong nhóm kêu toáng lên, nói rằng dưới sông có ma, khiến đám người sợ hãi định bỏ chạy. Song hán tử cụt tay từng có kinh nghiệm chiến đấu ở chiến trường Hà Tây, cũng từng nếm mùi đau khổ do người Ngụy tập kích đã giơ tay chặn lại, kéo theo một người gan dạ hơn cả, cùng mình leo lên sườn núi gần đó. Dưới ánh sáng lờ mờ lúc chớm bình minh, họ đứng trên cao nhìn xuống, bất giác lông tóc dựng ngược.
Hai người tức tốc chạy trở lại, hán tử cụt tay bảo đám người đẩy xe giấu vào trong lùm cây gần đó, rồi chia làm hai nhóm, một nhóm chạy thẳng tới ải Hàm Cốc, một nhóm chạy nhanh về Ninh Tần.
Huệ Văn Công nhíu chặt đôi mày.
Trương Nghi hai mắt khép hờ, dường như đang chìm vào suy nghĩ.
“Than ôi!” Huệ Văn Công thở dài thườn thượt. “Tay Bàng Quyên kia quả nhiên lợi hại!” Rồi quay sang Cam Mậu. “Nhớ ghi công cho mấy người nông dân tải lương kia, thưởng ngang với chém ba đầu địch.”
“Thần tuân chỉ!” Cam Mậu đáp lời.
Công tử Hoa hối hả bước vào bẩm báo: “Chúa thượng! Hà Tây có chiến báo, vài vạn quân Ngụy vượt sông từ bãi Lạn Nê, chủ tướng là công tử Ngang. Ngô Thanh dẫn ba vạn đại quân liều chết chống cự, hai bên đang kịch chiến tại bãi sông.”
Trương Nghi mở choàng mắt, đầu mày giãn ra, sắc mặt thư thái, thong thả tiếp lời: “Chúa thượng, địch ở Hà Tây không đáng lo. Tại hạ đã mật báo Ngô Thanh, hắn tự khắc biết cách chống cự quân địch.”
Huệ Văn Công thở phào một tiếng, tự trách bản thân: “Than ôi, điều quả nhân lo lắng không phải là Hà Tây. Chiêu này của Bàng Quyên, quả nhân thật không thể ngờ!”
“Chiêu nào?” Công tử Hoa kinh ngạc hỏi lại.
Cam Mậu hạ giọng mà nói: “Vừa rồi nhận được chiến báo, rất đông quân Ngụy lén vượt Hà Thuỷ từ khe Phi Viên, muốn cắt đứt đường Hàm Cốc.”
“Gì kia?” Công tử Hoa mặt biến sắc.
“Trương ái khanh!” Huệ Văn Công quay sang Trương Nghi. “Nhìn sắc mặt của khanh, hẳn đã có cách phá giải?”
“Chúa thượng!” Trương Nghi từ tốn đáp. “Theo như mấy người nông dân kia nhìn thấy, quân Ngụy bắc cầu phao tại khe Phi Viên vượt sông, ở đó khe sâu, nước chảy xiết, vốn không thể bắc cầu, người Ngụy bắc cầu thành công, là nhờ vào thời tiết, nhờ vào đóng băng!”
“Ý ái khanh là...”
“Người Nguỵ đã dựa vào thời tiết, cớ sao chúng ta không thể?”
Huệ Văn Công vẫn chưa hiểu, ánh mắt dò hỏi.
“Chúa thượng hãy nhìn đây!” Trương Nghi trải bản đồ, chỉ vào khe Phi Viên. “Đường Hàm Cốc là yết hầu của ta, còn cầu phao này, là yết hầu của người Ngụy vượt sông. Ngụy chặn họng ta, ta vì sao không chặn họng lại chúng?”
Huệ Văn Công hai mắt sáng bừng: “Chặn thế nào?”
Trương Nghi chỉ vào một đoạn Hà Thuỷ: “Thứ người Ngụy muốn chặn là đường Hàm Cốc, nên tại lòng sông, ắt không để phòng. Ta có thể từ đây tiến xuống theo khe núi, đốt cháy cầu phao, cắt ngang Hà Thuỷ. Công Tôn tướng quân bịt kín đường Hàm Cốc từ phía đông, còn chúng ta bịt kín từ phía tây, người Ngụy qua sông tất trở thành ba ba trong hũ, có mọc cánh cũng khó lòng thoát thân!”
Cam Mậu lo lắng hỏi: “Người Ngụy bị khốn ở đây, dựa vào địa hình hiểm trở mà cố thủ, ta cũng phải bó tay. Quân trấn giữ ải Hàm Cốc quan nếu biết đường lui bị cắt...”
Trương Nghi đáp lời: “Cam huynh bất tất phải lo lắng. Người Ngụy cậy bên mình tiếp ứng tiện lợi, hẳn không mang theo nhiều lương khô. Chúng ta dù chỉ vây không đánh, người Ngụy cũng không trụ nổi quá bảy ngày.”
Huệ Văn Công trầm ngâm hồi lâu, rồi cất giọng sang sảng: “Yết hầu của quả nhân làm sao có thể để người Ngụy chặn cứng đến bảy ngày? Trương Nghi, Doanh Hoa nghe lệnh!”
“Có thần!” Hai người đồng thanh đáp lời.
“Hai khanh dẫn hai vạn quân, đốt cháy cầu phao, vây kín lòng sông, chia đường xuất kích dọc theo khe núi, phân cắt người Ngụy thành nhiều đoạn, sau đó bao vây tiêu diệt từng đoạn, mau chóng mở thông đường Hàm Cốc.”
“Thần lĩnh chỉ!”
Huệ Văn Công quay sang Cam Mậu: “Truyền lệnh, tướng sĩ còn lại, theo quả nhân phong kín đường Hàm Cốc!”
Bên ngoài ải Hàm Cốc, trước hai trận quân, Bàng Quyên và Công Tôn Diễn cùng đánh xe lên trước trận chào nhau, rồi trách mắng nhau theo thông lệ, sau đó lùi về trận quân mình, mỗi bên đều cử mãnh tướng lên sa trường giao chiến, chém giết vài hiệp, hai bên đều có tử thương.
Tới buổi chiều, Bàng Quyên phất cờ hiệu lệnh, đích thân đánh trống. Thanh Ngưu xung phong đi đầu, dẫn ba nghìn dũng sĩ hổ bôn xông trận. Từ sau khi lập quân, đây là lần đầu tiên những dũng sĩ hổ bôn chứng tỏ bản lĩnh trước hai trận quân, ai nấy đều đua nhau tranh công khoe dũng, tiếng hô “giết” rền vang như sấm động, tiếng chân chạy huỳnh huỵch như búa giã, lại được trang bị giáp dày khiên cứng, nên mũi tên bình thường không thể tổn thương. Hai bên đánh giáp lá cà, quân Tần không địch nổi, tử thương vô số. Công Tôn Diễn vội hạ lệnh gióng chiêng, cùng lúc này, từ bên cánh phải thế trận quân Tần xông ra vài trăm cỗ xe chiến, liều mạng chặn đứng quân hổ bôn, nỏ liên châu trên xe bắn vào góc trận, bảo vệ ba quân rút lui.
Bàng Quyên trận mở màn thắng lợi, nhìn sắc trời đã muộn, bèn khua chiêng thu quân, sai người kiểm đếm thành quả, tổng cộng chặt đầu hơn nghìn, thu về vô số chiến xa, quân nhu, truyền lệnh ghi công biểu dương.
Sáng hôm sau, quân hợp tung lại tới trước cửa ải khiêu chiến, quân Tần đóng chặt cửa không ra. Bàng Quyên cũng không lấy làm nôn nóng, chỉ lệnh cho quân sĩ thay phiên nhau khiêu chiến. Qua một buổi sáng, Bàng Quyên từ xa nhìn thấy bờ bắc Hà Thuỷ có ba cột khói bốc cao ngùn ngụt tới trời, biết là Trương Mãnh đã thành công, đường Hàm Cốc đã bị cắt đứt, lúc này mới xuất thủ, điều động năm cỗ xe mây đồng loạt đánh vào cửa ải.
Người Tần chỉ biết dựa vào tường thành cao sừng sững. Quân hợp tung có xe mây, nên người Tần cũng mất đi lợi thế độ cao, giáo đâm tên bắn cũng vô hiệu với xe mây, trong lúc cấp bách không biết phải đối phó thế nào, chỉ biết trợn mắt nhìn xe mây lừ lừ tiến lại, áp sát tường thành.
Người Ngụy bắc cầu ván, leo lên tường thành. Người Tần dùng chiến thuật ruồi bu, thương đao kiếm kích đâm chém loạn xạ. Xe mây quá ít lại quá nhỏ, sức chứa có hạn, những người Ngụy leo lên thành đầu tiên ít không địch nổi nhiều, theo nhau tử trận, xe mây đành phải lùi lại, chuẩn bị cho đợt xung kích tiếp theo.
Công Tôn Diễn đang đứng trên lâu thành chỉ huy cách ứng phó xe mây thì Sư Lý Tật vùn vụt chạy lên, kéo ông ta sang một bên, ghé sát tai thì thầm vài câu.
Công Tôn Diễn thoạt tiên kinh hãi, sau đó trấn tĩnh lại ngay, phát liền bốn lệnh. Thứ nhất, lệnh cho Sư Lý Tật dẫn hai vạn quân quay trở về mở thông đường Hàm Cốc. Thứ hai, lập tức thông báo với toàn thể tướng sĩ rằng người Ngụy đã cắt đứt đường lui, nhằm khuấy động quyết tâm vệ quốc của người Tần, hiệu triệu họ thề chết bảo vệ cánh cổng đất nước, cùng sống chết với ải Hàm Cốc. Thứ ba, lệnh cho tướng sĩ tưới nước xuống theo tường thành, để đóng thành băng trên đất, khiến quân địch trơn trượt, không thể đi vững. Thứ tư, lệnh cho một bộ phận tướng sĩ bố trí đá tảng, gỗ súc dọc theo sườn núi hai bên đường Hàm Cốc, tích trữ lương khô, dựng tường băng và chướng ngại vật trên đường, sẵn sàng tử thủ nếu ải Hàm Cốc thất thủ.
Bốn lệnh của Công Tôn Diễn vừa phát ra, Bàng Quyên liền sai người bắn lên một bức thư, nói rằng người Tần đã không còn đường lui, trước mắt chỉ có một đường duy nhất, là dâng ải đầu hàng. Công Tôn Diễn phá lên cười lớn, giương cung bắn trả thư hồi âm.
Bàng Quyên nổi giận, đích thân đánh trống công ải.
Trước ải Hàm Cốc lại vang lên tiếng hô xung phong dậy đất.
Quân hợp tung đánh liền ba ngày, vẫn không thể phá nổi quan ải. Tới ngày thứ tư, Công Tôn Diễn đã nghĩ ra một kế đối phó với xe mây. Khi xe mây sắp tới gần, lập tức lệnh cho tướng sĩ hắt dầu sôi, sau đó ném đuốc cháy vào xe, chẳng mấy chốc đã thiêu huỷ hoàn toàn năm cỗ xe mây.
Chính vào lúc Bàng Quyên đang khổ sở không biết phải làm sao, thì tướng Hàn Công Trọng tìm được một người hái thuốc, qua người này biết được tại Nam Sơn Khúc Ốc có một khe núi sâu nối thông với một khe núi kín đáo ở phía sau ải Hàm Cốc chừng hai dặm, vào những ngày giá rét thế này, nếu có vật trợ giúp như dây thừng, có thể vượt qua. Bàng Quyên mừng rỡ, lệnh cho năm nghìn tinh binh của quân Hàn theo người hái thuốc đi theo con đường bí mật vòng xuống phía nam vài chục dặm, tới khe núi phía sau ải Hàm Cốc, đợi khi trời sáng, xông lên tập kích quan ải từ sau lưng. Lính Tần canh giữ cửa ải căng thẳng quyết chiến suốt mấy ngày trời, mệt mỏi quá độ, không kịp đề phòng, bị người Hàn đột kích từ sau lưng, cửa quan thất thủ, Công Tôn Diễn cướp đường mà chạy.
Trương Nghi, công tử Hoa dẫn hai vạn quân, mang theo vật dẫn lửa, âm thầm men theo bờ nam Hà Thuỷ mà xuống. Hà Thuỷ quanh co uốn lượn, hai bên bờ toàn là vách núi dựng đứng. Bờ nam Hà Thuỷ chỉ có vài khe núi kín đáo là có thể nối liền đông tây Nam Sơn, thông tới đường Hàm Cốc, người không thạo đường tuyệt đối không thể nhìn ra.
Trương Nghi bố trí nghìn quân mai phục trong mỗi khe núi ngầm, dặn họ tìm đường ra khỏi khe, đánh lên đường Hàm Cốc, rồi đích thân dẫn số quân còn lại thẳng tiến tới khe Phi Viên. Khi còn cách khe Phi Viên chỉ vài dặm, Trương Nghi cho quân dừng lại, hạ lệnh lấy hồ lô, gỗ, tre mang theo kết thành bè hồ lô ngay tại chỗ, rồi xếp đầy các vật dẫn lửa như dầu, lưu huỳnh, nhựa thông, củi nỏ cỏ khô lên trên, thả xuống nước. Vô số bè hồ lô thuận theo dòng chảy xiết, trôi về phía cầu phao của quân Ngụy. Bị cầu phao ngăn lại, đám bè tụ thành một mảng lớn đen kịt. Tới khi lính Ngụy canh cầu phát giác ra, người Tần đã đồng loạt bắn tên lửa rào rào, lửa lập tức bùng lên dữ dội dọc theo cầu phao. Cầu phao hoàn toàn do băng đá kết thành, gặp lửa lập tức tan chảy, trong chốc lát, toàn bộ cây cầu sập xuống từng mảng, chìm nghỉm vào trong dòng nước xiết lạnh giá.
Cùng lúc này, công tử Hoa dẫn quân men theo phía nam cầu phao, thuận theo khe núi leo lên sườn dốc, đánh thẳng lên đường Hàm Cốc, thế như lốc xoáy, chiếm lấy những nơi địa thế thuận lợi hai bên đường, cắt đứt đường rút lui và chi viện của quân Ngụy. Ba vạn võ binh bị khống chế cả hai ngả đông tây, đường rút lui bị cắt đứt, lại bị từng tốp quân Tần ào ra từ các bụi rậm đường mòn dọc theo thềm sông đột kích, chia cắt thành nhiều đoạn mà bao vây tiêu diệt, dần dần sa vào đường cụt. Lính Ngụy hoặc chết hoặc đầu hàng, chưa đầy hai ngày đã chẳng còn lại được bao nhiêu.
Trương Mãnh dẫn mấy bộ tướng và vài chục binh sĩ lui tới một góc chết, dựa vào đó bày ra thế trận.
Vài trăm lính Tần đông nghịt như kiến bủa vây tới.
Mũi tên sớm đã dùng hết, lính Ngụy tụ lại bên Trương Mãnh, người nào người nấy cầm chắc binh khí, sẵn sàng quyết chiến một trận cuối cùng.
“Trương tướng quân, các ngươi đã không còn đường lui nữa, mau hạ binh khí đầu hàng!” Công tử Hoa nói lớn.
Trương Mãnh ngửa cổ cười một tràng dài, khẽ lắc lư cây thương trong tay, dõng dạc nói: “Binh khí ở đây, có giỏi thì đến lấy đi!”
Công tử Hoa cười nhạt một tiếng, khẽ phẩy tay, vài chục tay nỏ lập tức kéo căng dây cung. Chư tướng sĩ liền đứng sát vào nhau, vài tấm khiên còn sót lại đều dùng để che chắn trước mặt Trương Mãnh. Trương Mãnh đẩy tướng sĩ ra, cởi bỏ áo giáp, để lộ bộ ngực trần rắn rỏi, rung cây thương trong tay vài cái, khinh miệt nhìn về phía lính Tần.
Công tử Hoa đang định hạ lệnh bắn tên, bỗng từ phía xa vọng lại một giọng nói: “Công tử dừng tay...”
Trương Nghi dẫn theo người rầm rập phi ngựa tới nơi.
Công tử Hoa phẩy tay, đám nỏ thủ liền hạ nỏ xuống.
Trương Nghi bước lên phía trước, quỳ sụp xuống đất, khấu đầu mà gọi: “Trương thúc phụ!”
Trương Mãnh nhìn kỹ một hồi, kinh ngạc kêu lên: “Ngươi... là Nghi Nhi ư?”
Trương Nghi lại dập đầu nói: “Đúng là cháu bất hiếu Trương Nghi!”
“Sao cháu lại ở phía người Tần?”
“Trương thúc phụ hãy buông binh khí xuống, để Nghi Nhi từ từ giải thích!”
“Than ôi!” Trương Mãnh thở dài một tiếng, giọng nói bỗng chốc lạnh tanh. “Nghi Nhi, lẽ nào cháu... đã quên cha mẹ mình chết như thế nào ư?”
Trương Nghi bật khóc mà nói: “Cháu vẫn khắc ghi trong tâm khảm!”
“Đã khắc ghi trong tâm khảm, sao... sao cháu có thể khoác lên mình màu áo đen của người Tần?”
“Trương thúc, xin cho cháu nói một câu!” Trương Nghi lại bái lạy, nước mắt đầm đìa mà nói. “Huyết thù của cha mẹ, kiếp nạn của Hà Tây, ân oán giữa Tần Ngụy, Nghi Nhi không bao giờ dám quên. Tuy nhiên, sống trong Quỷ Cốc nhiều năm, Nghi Nhi đã có chút lĩnh ngộ. Thù nhà hận nước, Hà Đông Hà Tây, người Ngụy người Tần, trong mắt Nghi Nhi đã không còn quan trọng nữa. Điều quan trọng chính là trật tự trong thiên hạ, thái bình cho muôn dân. Chư hầu chinh chiến, dân chúng lầm than, không có lấy một ngày yên ổn. Nếu như thiên hạ bất ổn, nếu còn chém giết lẫn nhau, sẽ càng có nhiều hơn những mối huyết hải thâm thù, càng có nhiều hơn cảnh sinh ly tử biệt. Điều Nghi Nhi muốn, chỉ là nhanh chóng kết thúc cảnh thiên hạ phân tranh, trở về với thái bình thịnh thế.”
Trương Mãnh nghe mà chấn động trong lòng, hồi lâu mới khẽ gật đầu: “Nghi Nhi... cháu đã trưởng thành rồi!”
“Trương thúc phụ, cháu cầu xin thúc hãy buông vũ khí!” Trương Nghi lại dập đầu mà nói.
Trương Mãnh quay sang các tướng sĩ thuộc hạ: “Chư vị tướng sĩ, mọi người... hãy nghe lời hiền điệt của ta, hạ binh khí xuống!”
Chư tướng đưa mắt nhìn nhau.
“Hạ xuống!” Trương Mãnh dẫn đầu vứt thanh trường thương trong tay xuống đất.
Chư tướng sĩ thấy vậy, đua nhau quẳng bỏ binh khí trong tay.
“Lại đằng kia!” Trương Mãnh lại ra lệnh.
Tướng sĩ lại nhìn nhau, rồi lũ lượt đi sang một bên.
Thấy họ đều đã đi cả, Trương Mãnh từ từ rút thanh bảo kiếm, nói với Trương Nghi: “Nghi Nhi, Trương thúc đã không còn gì để nói. Những tướng sĩ này theo thúc đã nhiều năm, đều có tài cán, cháu phải đối xử tốt với họ. Thúc có vài lời muốn nói với cha cháu, thúc đi đây, cháu hãy bảo trọng!” Nói đoạn, vung kiếm cắt ngang cổ.
“Trương thúc phụ!” Trương Nghi rú lên thảm thiết, lao vụt lại, song đã muộn rồi.
Tiêu diệt hết tàn quân địch, Huệ Văn Công hạ chỉ tức tốc chi viện Công Tôn Diễn.
Quân hợp tung phá vỡ cửa ải, chiếm hết số lương thảo quân nhu mà người Tần tích luỹ trong ải. Bàng Quyên thống lĩnh quân hợp tung ba nước Hàn, Triệu, Ngụy thừa thắng truy kích, Công Tôn Diễn chống cự không nổi, đành phải dẫn quân rút lui, tưới nước lên đá dựng thành năm bức tường băng cao chừng vài trượng, rộng chừng một trượng, sử dụng những vật liệu đã tích trữ sẵn ở hai bên vách núi chật hẹp trên con đường dài khoảng mười dặm phía tây ải Hàm Cốc, lăn đá tảng, gỗ súc liều chết ngăn cản.
Bàng Quyên một mặt lệnh cho võ binh Đại Ngụy chiếm lấy các sườn dốc hai bên đường, mặt khác sai binh lính đẩy những cỗ xe lớn chất đầy củi khô tẩm dầu lao vào những bức tường bằng đá băng. Quân Ngụy đi đầu, dũng mãnh vô địch, bất chấp sống chết, phá liền một mạch bốn bức tường băng. Quân Tần từng bước thụt lùi, chỉ còn lại một bức tường băng sau cùng, vừa hay Trương Nghi, công tử Hoa dẫn quân chi viện tới kịp.
Công tử Hoa lệnh cho người treo mũ trụ và trường thương của Trương Mãnh lên bức tường băng, cố tình cho người Ngụy nhìn thấy.
Bàng Quyên hay tin chạy tới, nhận ra đúng là di vật của Trương Mãnh, biết là mưu kế thất bại, đại thế đã mất, thất vọng rơi lệ, thở dài một tiếng, hạ lệnh khua chiêng lui quân.
Bàng Quyên vào trong đại trại trung quân, mới vừa ngồi xuống, đã thấy thám mã chạy về cấp báo, nói là người Tần không hiểu từ đâu vượt qua ải Hào Quan, đột kích chiếm lấy Thằng Trì, lương thảo liệt quốc đều bị thiêu trụi. Người Sở lui quân về Phương Thành ngay trong đêm, người Tần lại nhân lúc đêm tối, đổi trang phục quân Ngụy, trà trộn trong đám tàn binh lẩn vào trong ải Hiệp Thạch, từ phía sau tập kích cửa quan. Tướng sĩ canh gác cửa quan không nhận ra ta địch, chủ tướng tử trận, quan ải thất thủ.
Bàng Quyên bàng hoàng, hồi lâu sau mới từ từ hoàn hồn trở lại, đờ đẫn hỏi: “Tướng Tần là ai?”
“Người Tần sau khi chiếm được cửa quan, thấy giương cờ hiệu Tư Mã!” Thám mã bẩm báo.
Bàng Quyên đang đờ đẫn suy nghĩ thì tướng Triệu Lý Nghĩa Phu, tướng Hàn Công Trọng hộc tốc đi vào, thấy Bàng Quyên đôi mày chau tít, thì đưa mắt nhìn nhau, rồi đứng dạt sang hai bên.
“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài thườn thượt, tự trách mình. “Hai vị tướng quân, là tại hạ tính sai rồi. Mấy ngày nay không thấy Tư Mã Thác đâu, tại hạ cứ ngỡ hắn tới Tây Hà, nào ngờ kẻ này...” Nhún vai bất lực, lắc đầu cười nhăn nhó. “Đúng là tình thế đảo ngược, vốn định đánh bọc sườn người Tần, nào ngờ lại bị người Tần đánh bọc sườn trở lại!”
Công bằng mà nói, kế sách tập kích Tần của Bàng Quyên, nếu chỉ tính về mặt dùng binh, quả thực xứng đáng là kỳ mưu, đừng nói là Công Trọng, dù tướng Triệu Lý Nghĩa Phu cũng tâm phục khẩu phục. Song thực không thể ngờ, ngoài núi lại có núi cao hơn, người Tần không những đánh bại Trương Mãnh, còn đưa quân đột kích, thọc sâu vào sau lưng quân hợp tung, thiêu trụi lương thảo, cắt đứt đường lui của tam quân, thực là cờ cao hơn một bậc.
“Quân tình khẩn cấp, chúng ta nên tiến hay lùi, đang chờ chủ soái quyết định!” Lý Nghĩa Phu bước lên một bước nhắc nhở.
Bàng Quyên khẽ phẩy tay sang bên cạnh, chậm chạp bước về phía sa bàn trận địa.
Nhìn vào sa bàn, trước mặt mọi người lúc này là một dải sơn cốc dài và hẹp, phía tây bắt đầu từ ải Hàm Cốc, phía đông chạy tới Hào Quan, từ đông tới tây dài khoảng sáu mươi dặm, từ nam tới bắc chỉ rộng hơn mười dặm. Dải sơn cốc này vốn thuộc lãnh thổ của người Ngụy, quân Ngụy bố trí hai thành trì ở hai đầu sơn cốc, đầu phía tây là Khúc Ốc, đầu phía đông là Thiểm Ấp, kiểm soát Hào Quan.
Lúc này, dải đất dài hẹp này đã bị đại quân hơn chục vạn của ba nước Hàn, Triệu, Ngụy phân chia đồn trú, chỗ nào cũng dày đặc doanh trại. Hơn chục vạn đại quân Tần đã bị chặn lại trên đường Hàm Cốc chật hẹp chạy dài phía tây ải Hàm Cốc, nếu như phá cửa ải mà ra, sẽ đánh thốc trực diện vào liên quân trong vùng sơn cốc.
Ai cũng hiểu rõ, ải Hàm Cốc sẽ không thể giữ nổi, bởi người Tần tấn công từ phía sau quan ải. Cửa ải Hàm Cốc do người Tần xây dựng, mặt chính hướng về phía đông, dễ phòng ngự khó tấn công, còn sau lưng là căn cứ của quân Tần. Để thuận lợi cho việc vận chuyển quân nhu, con đường dẫn lên cửa ải rộng rãi thông thoáng, đều là bậc thang, người Tần lại thông thạo địa thế, hiển nhiên dù tấn công hay phòng thủ đều chiếm lợi thế.
Không phòng ngự thì phải tấn công, tuy nhiên Trương Mãnh tập kích thất bại, việc liên quân tiếp tục theo đường Hàm Cốc tiến về phía tây đã trở nên vô nghĩa, trước mắt chỉ còn một lối thoát duy nhất, chính là từ bỏ ải Hàm Cốc, men theo sơn cốc rút quân.
Quan trọng là rút quân như thế nào?
Thông tới ải Hào Quan chỉ có hai con đường, một là đường Bắc Hào, cũng tức là con đường chính sau khi ra khỏi Hàm Cốc liền thẳng tới Lạc Dương; hai là đường Nam Hào, thông thẳng tới Nghi Dương nước Hàn. Chắn ngang hai con đường này lần lượt là hai cửa ải hiểm trở, tức là ải Hiệp Thạch trên đường Bắc Hào và ải Nhạn Linh trên đường Nam Hào. Hai cửa quan này tuy không hung hiểm bằng ải Hàm Cốc, song đều chiếm cứ địa thế hiểm trở, dễ phòng khó đánh. Cửa ải Hiệp Thạch là do người Tần lập nên, còn ải Nhạn Linh là do người Hàn xây dựng. Tư Mã Thác đã đột kích chiếm được ải Hiệp Thạch, đường rút lui hiện tại, chỉ còn lại ải Nhạn Linh.
Bàng Quyên trấn tĩnh lại, quay sang Công Trọng: “Công Trọng tướng quân, có kế hay nào chăng?”
“Hồi bẩm chủ soái!” Công Trọng chỉ vào sa bàn. “Theo thiển ý của tại hạ, có thể chia thành hai đường rút lui. Một đường ra khỏi ải Nhạn Linh, rút về Nghi Dương; một đường lên phía bắc, vượt Hà Thuỷ, rút tới An Ấp.”
Lên phía bắc vượt Hà Thuỷ, chính là vượt Hà Thuỷ từ hai bến đò là bến Thái Dương và bến Mao Tân ở phía bắc Thiểm Ấp. Hai bến này cách nhau hơn chục dặm, vốn là hai bến đò thuận tiện, có thuyền cỡ lớn, song lúc này đất trời băng giá, lòng sông nơi hai đầu bến đều đã đóng băng, giữa dòng nước chảy rất xiết, thuyền bè phải phá băng mới có thể cập bến, lại không dám đỗ lại lâu tại vùng “nước chết” gần bờ, nên cứ vào mùa đông, bến đò đều đóng cửa.
Mà liên quân Triệu, Ngụy gần mười vạn người, trong khi tổng số thuyền bè tại bến đò không quá hai chục chiếc, với số thuyền này mà phá băng vượt sông, e là một tháng cũng khó lòng chở hết. Vượt Hà Thuỷ không phải kế hay, chỉ có thể tiến về phía nam tới Nghi Dương. Mà như vậy, đối với quân Hàn là về nhà, còn đối với liên quân Triệu, Ngụy lại phải đi một quãng đường vòng lớn.
Đi đường vòng là chuyện nhỏ, mất Hào Quan là chuyện lớn, mất thể diện cũng là chuyện lớn. Hơn nữa, nếu đánh mất Hào Quan, Thằng Trì cũng sẽ không thể giữ nổi. Hào Quan, Thằng Trì nếu để người Tần chiếm được, thì con đường về đông của người Tần sẽ không còn trở ngại, có thể tiến thẳng tới vương thành Lạc Dương, uy hiếp thiên tử mà hiệu lệnh chư hầu.
Hiển nhiên, đường Nam Hào không thể đi. Mà Công Trọng vào lúc này lại nói ra lời này, có thể thấy rõ hắn muốn chia đường, mạnh ai nấy đi.
Bàng Quyên trong lòng không vui, song không thể bộc lộ, khoé miệng vẫn mỉm cười, quay sang Lý Nghĩa Phu: “Công Trọng tướng quân muốn tới Nghi Dương, Lý tướng quân có ý kiến gì chăng?”
“Mạt tướng xin nghe lời chủ soái!” Lý Nghĩa Phu dõng dạc đáp lời.
“Tốt!” Bàng Quyên siết chặt nắm đấm, quay sang Công Trọng. “Công Trọng tướng quân, tướng quân hãy dẫn quân chủ lực Hàn lui về phía ải Nhạn Linh, để lại một cánh quân hỗ trợ tại hạ bảo vệ ải Hàm Cốc, yếm hộ đại quân rút lui.
Công Trọng nhận lệnh, sải bước đi ngay.
“Lý tướng quân!” Bàng Quyên quay sang Lý Nghĩa Phu. “Người Tần chiếm đoạt Hào Quan, cắt đứt đường lui của ta, ta chỉ còn cách đánh. Tại hạ sẽ giữ chân người Tần ở ải Hàm Cốc, còn tướng quân quay về cướp lại Hào Quan, được chăng?”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
Lý Nghĩa Phu dẫn quân quay về tấn công Hào Quan, chân vừa bước đi, ải Hàm Cốc đã lập tức thất thủ. Thanh Ngưu và các tướng giữ ải Hàm Cốc toàn thân bết máu, lê gối vào trong đại trại thỉnh tội. Bàng Quyên an ủi Thanh Ngưu, đích thân dẫn đại quân bày thế trận bên ngoài thành Khúc Ốc, nghênh chiến với quân Tần.
Lý Nghĩa Phu dẫn ba vạn quân Triệu quay lại đánh ải Hào Quan. Khi tới ải Hiệp Thạch, vốn định huyết chiến một trận, không ngờ lại thấy cửa ải mở rộng, trên dưới cửa quan không một bóng người Tần. Lý Nghĩa Phu đích thân lên cửa ải xem xét, phóng mắt nhìn đi, chỉ thấy núi non xa gần trùng điệp, tuyệt không một bóng người, song trên cửa ải vẫn còn vô số vết máu, rõ ràng nơi đây vừa trải qua một cuộc kịch chiến.
Người Tần chiếm được cửa ải mà không giữ, rõ ràng đã rút lui hết. Chư tướng quân Triệu đều thở phào nhẹ nhõm, nhìn sang chủ tướng. Lý Nghĩa Phu trầm ngâm hồi lâu, đoạn kiên định bước xuống cửa ải, phẩy tay một cái, ra hiệu cho ba quân xông thẳng vào ải Hào Quan.
Giống như ải Hiệp Thạch, trăm dặm Hào Quan cũng không một bóng người Tần. Ba vạn quân Triệu ung dung thẳng tiến, chưa đầy nửa ngày đã ra khỏi Hào Quan, thẳng tới thành Thằng Trì.
Cửa thành Thằng Trì mở toang, cũng không có lính Tần, chỉ thấy dưới cổng thành vệt máu loang lổ, trong thành hỗn loạn, đâu đâu cũng thấy dấu vết lửa thiêu. Dân chúng, binh lính trong thành hoặc cứu hoả, hoặc cứu chữa người bị thương, hoặc nhặt xác mang chôn, ai nấy đều bận rộn túi bụi.
Lý Nghĩa Phu không đếm xỉa đến mọi thứ, lập tức chạy thẳng tới kho lương thảo của quân Triệu, thấy kho lương vẫn còn nguyên vẹn, quân sĩ bảo vệ không mảy may thương tổn, dường như người Tần đã hoàn toàn quên mất ở đây còn có một kho lương.
Chư tướng đều hết sức hồ nghi.
Lý Nghĩa Phu trầm ngâm hồi lâu, rồi quyết định không đi cùng với Bàng Quyên nữa, chỉ viết một bức thư thông báo vắn tắt quân tình, nói người Tần tập kích đã rút lui cả, trăm dặm Hào Quan không thấy một bóng lính Tần, đoạn sai ngựa hoả tốc gửi cho Bàng Quyên. Sau đó, truyền lệnh lưu lại lương thảo trong kho cho người Ngụy, chỉ cho quân sĩ mang theo số lương khô đủ dùng cho bảy ngày, tiến sang phía đông, vượt Hà Thuỷ tại Mạnh Tân, quay trở về Thượng Đảng.
Hay tin người Tần tập kích đã rút lui toàn bộ, Bàng Quyên thoạt tiên sửng sốt, sau đó mới bừng tỉnh, nhủ thầm trong bụng: “Phải, hẳn là Công Tôn Diễn kia thấy ta thế mạnh, đã bày gian kế, sai Tư Mã Thác dẫn một tốp binh mã quấy rối hậu phương của ta, thiêu trụi vài đụn lương thảo của ta, công phá Hào Quan, nhằm làm ta nhụt chí. Chỉ có điều hiện tại kế của ta đã thất bại, ba quân Tề, Yên, Sở chưa chiến đã lui, Triệu, Hàn giờ đã lui quân, cứ giằng co tại đây cũng là không sáng suốt. Chi bằng tạm thời thu binh, đợi sang năm thời cơ chín muồi, tìm người Tần phục thù cũng chưa muộn.”
Nghĩ tới đây, Bàng Quyên một mặt sai hữu quân giữ vững thế trận, chống trả người Tần, mặt khác lệnh cho tả quân nhổ trại, rút về phía Hào Quan, bản thân cũng thống lĩnh trung quân, yên chí lui về ải Hào Quan.
Tiên phong của tả quân vừa tới ải Hiệp Thạch, đang lúc hành quân băng băng, thì cửa quan thình lình đóng sầm lại. Ngay sau đó, trên lầu cửa quan trống thúc vang trời, vạn nỏ cùng bắn, đá, gỗ ầm ầm quăng xuống. Quân Ngụy không kịp đề phòng, thế trận đại loạn, thương vong không đếm xuể, phải lùi liền vài dặm mới ổn định lại thế trận. Bàng Quyên hay tin thất kinh, vội nhìn quanh, thấy trên lầu cửa quan vô số cờ Tần tung bay phần phật, đập vào mắt là các chữ “Tần”, “Tư Mã”.
Nhìn cửa quan đóng chặt và cờ Tần trên lầu cửa quan, Bàng Quyên bèn lấy ra thư báo “đường quan không người” của Lý Nghĩa Phu, lại nhớ ra quân Tần đã thiêu rụi kho lương của ba nước Sở, Ngụy, Hàn, chỉ chừa lại kho lương của người Triệu, bất giác rùng mình ớn lạnh, rít qua kẽ răng: “Người Triệu bán đứng ta rồi!”
Uất hận xen lẫn thịnh nộ, Bàng Quyên vung kiếm chỉ vào lầu cửa quan, gầm lên như sấm: “Xông lên...”
Lời vừa dứt, chiến xa của Bàng Quyên như mũi tên vọt khỏi dây cung, bất chấp tất cả xông thẳng tới ải Hiệp Thạch.
Ba quân tướng sĩ cũng đều ra roi thúc ngựa, hô xung phong vang dậy, bám sát ngay sau chủ soái.
Khi còn cách cửa ải một tầm tên bắn, chiến xa của Bàng Quyên đột nhiên khựng lại.
Ba quân dừng bước, vô số cặp mắt khát máu đổ dồn vào Bàng Quyên.
Bàng Quyên nhìn trân trối vào cánh cổng hồi lâu. Đúng lúc chúng tướng đang ngong ngóng chờ lệnh, sẵn sàng cướp ải chém giết, Bàng Quyên lại hét lớn: “Lui!”
Rồi dẫn quân quay về Khúc Ốc.
Hồi Thứ 54
Khuấy đảo Hà Tây, Ngụy Ngang quyết chí phục thù
Cứu vãn hợp tung, Tô Tần tìm thầy thỉnh giáo
Đêm đông tịch mịch, gió lạnh ào ào.
Có lẽ do quá lạnh, có lẽ do quá mệt mỏi, có lẽ thấy không phải cấp thiết tấn công người Ngụy đã bị dồn vào chân tường, quân Tần đánh chiếm vùng sơn cốc thấy Bàng Quyên lui binh, cũng nhân lúc trời tối rút vào trong ải Hàm Cốc, đóng chặt cửa quan nghỉ ngơi. Quân Ngụy trải qua nhiều ngày kịch chiến, mệt mỏi khó kham, cũng ôm thương chống đao, đốt lửa trong trại, mặc nguyên áo giáp mà ngủ.
Có một người không tài nào ngủ nổi, chính là chủ soái Bàng Quyên, ngồi bên sa bàn, hai đầu lông mày chau tít như liền thành một khối.
Tình thế đã tới hồi cực kỳ nguy cấp. Trước trận chiến, Bàng Quyên dự tính đến cả vạn khả năng, chỉ không ngờ kết quả lại bi thảm như hiện tại. Trước mắt, xem ra Tô Tần đã đúng. Lần này phạt Tần, là do hắn đầu óc nhất thời mê muội, nôn nóng thái quá mà nên hoạ. Ba nước Yên, Tề, Sở chưa đánh đã tự ý bỏ về, quân Triệu đã đi xa, quân Hàn cũng đã rút lui. Công Trọng tuy có để lại ba nghìn tay nỏ trợ giúp phòng ngự như đã hẹn, song toàn bộ đều trấn thủ trước ải Nhạn Linh, có cũng như không, bất cứ lúc nào đều có thể chuồn mất dạng. Chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, sáu nước phạt Tần mới đó còn khí thế ngút trời, vậy mà chớp mắt đã chỉ còn trơ lại võ binh Ngụy một mình đối diện hiểm nguy, bị người Tần giáp công hai mặt giữa hai ải Hào, Hàm.
Đau lòng hơn nữa là Trương Mãnh đã bỏ mình vì nước, gần nửa quân lính tinh nhuệ của Đại Ngụy hoặc tử chiến theo Trương Mãnh, hoặc đi theo công tử Ngang. Còn lại tám vạn tướng sĩ bên mình, thực sự đủ sức chiến đấu chỉ có ba nghìn dũng sĩ của Thanh Ngưu và ba vạn trung quân, mà hai đội quân này trong trận chiến kịch liệt vài ngày trước đã thương vong không ít.
Tướng giỏi dù bại cũng không loạn. Bàng Quyên chau mày tụ thần, vận hết công phu tĩnh định đã tu luyện được từ khi còn trong Quỷ Cốc, vắt óc nghĩ kế.
Bàng Quyên không sợ quân Tần, cũng không lo quân Ngụy phải đơn độc đối đầu nguy hiểm, song cục thế hiển nhiên bất lợi cho hắn. Thứ nhất không có quân chi viện, thứ hai thiếu thốn lương thảo, càng ở thế thua kém về binh lực. Khúc Ốc, Thiểm Ấp không thể giữ, mà cũng giữ không nổi nữa.
Khúc Ốc, Thiểm Ấp có thể mất, song Hào Quan dứt khoát không được mất, đây là giới hạn cuối cùng của Bàng Quyên. Tần đã chiếm được Hàm Cốc, nay lại có được Hào Quan, thì đường tiến về phía đông đã không còn trở ngại, có thể tiến thẳng tới vương thành Chu thất. Sáu nước phạt Tần do một mình hắn khởi xướng, vậy mà không những không phạt nổi Tần, nay đến Hào Quan và vương thành Đại Chu cũng để người Tần đoạt mất, thì chủ soái là hắn sẽ còn mặt mũi nào đây? Sử sách sẽ chép về hắn thế nào đây?
Nghĩ tới ghi chép trong sử sách, Bàng Quyên bất giác rùng mình ớn lạnh. Đúng vậy, hắn cần thu phục Hào Quan, giữ lấy ải Hào, đây là đại sự hàng đầu mà hắn buộc phải thực hiện bằng được trong tình cảnh hiện tại.
Bàng Quyên đưa tay cầm lấy thư cấp báo của Lý Nghĩa Phu, khép mắt một hồi, lại chìm vào suy nghĩ. Tư Mã Thác có được Thằng Trì mà không giữ, lại phóng hoả thiêu trụi kho lương, thả quân Triệu đi, chỉ có một cách lý giải, đó là binh lực không đủ.
Bàng Quyên mở mắt nhìn vào sa bàn, từ từ di chuyển ánh nhìn tới sườn núi hai bên ải Hiệp Thạch. Ngẫm nghĩ một hồi, Bàng Quyên gọi tới một số lính trấn thủ Hào Quan còn sót lại sau chiến bại, qua một lão binh biết được có một khe núi ẩn khuất thông thẳng tới sườn núi, cách lầu cửa quan chưa đầy trăm bước, hơn nữa lại được nhà kho che chắn, có thể băng qua. Trong khe ngầm cây cối um tùm, không có đường đi, hiếm người biết đến, dù là tướng giữ cửa quan cũng không hay biết. Lão binh này vài tháng trước do đuổi theo một con lợn rừng bị thương mà vô tình phát hiện ra khe này.
Bàng Quyên phấn khởi ra mặt, dẫn lão binh tới trước sa bàn, để ông ta đánh dấu rõ vị trí khe núi, rồi lập tức gọi Thanh Ngưu lại, lệnh cho hắn dẫn quân hổ bôn lên đường ngay trong đêm, theo chỉ dẫn của lão binh, tìm tới khe núi.
Sáng sớm hôm sau, khi sắc trời còn lờ mờ chưa tỏ, Bàng Quyên điểm tướng trong đại doanh, rút ra một vạn tay nỏ phối hợp với hai vạn hữu quân bày thế trận Trăng Non, giống như một lưỡi liềm sắc bén phong toả kín mít ải Hàm Cốc, lại lệnh cho vài tướng dẫn theo binh lính bản bộ, trấn thủ các tuyến đường trọng yếu ở hai phía nam bắc của ải Hiệp Thạch.
Tất cả đều đã bố trí xong xuôi, Bàng Quyên đích thân dẫn theo trung quân, khí thế hừng hực, một lần nữa xông thẳng tới ải Hiệp Thạch, tới trước cửa ải bày trận, sẵn sàng liều mạng quyết đánh hạ cho bằng được, thúc trống vang trời, hò la như sấm, tấn công điên cuồng hết lần này đến lần khác.
Chính vào lúc người Tần toàn thần cố thủ quan ải, bỗng một đội quân hổ báo đột ngột xông thẳng tới sau lưng, kẻ nào kẻ nấy cao to lực lưỡng, diện mạo quái dị, hệt như thần binh hạ phàm. Dẫn đầu là Thanh Ngưu, tay cầm rìu lớn, bổ ngang chém dọc, hạ gục tất cả những kẻ ngáng đường. Người Tần kinh hãi, thế trận đại loạn, Tư Mã Thác thấy không địch nổi, vội hạ lệnh rút lui, không ngờ đường dưới núi đều có phục binh, người Tần không còn đường chạy, thương vong trầm trọng. Tư Mã Thác chỉ dẫn theo được hơn trăm người liều chết đột phá trùng vây, chạy về đoạn Hà Thuỷ phía bắc.
Hà Thuỷ mênh mông trống trải, không có đường đi, cũng không có chỗ ẩn náu, trong mắt người Ngụy, đây chính là đường chết. Lính Ngụy ai nấy khí thế hừng hực, dũng mãnh bội phần, sát khí ngút trời, những tiếng hô “bắt sống Tư Mã Thác”, “phục thù cho Trương tướng quân” oang oang điếc óc.
Tư Mã Thác giáp trụ bết máu, thương tích đầy mình, trường thương, mũ trụ đều đã rơi sạch, chỉ còn lại thanh đoản kiếm đẫm máu, dẫn tàn quân nhảy xuống lòng sông Hà Thuỷ, men theo lớp băng cứng ven sông bước thấp bước cao chạy về phía thượng lưu. Quân Ngụy đuổi theo hơn chục dặm, mắt thấy đã sắp đuổi kịp đến nơi, bỗng từ trong bụi rậm xồ ra một đội quân Tần dũng mãnh đánh tạt ngang sườn. Người Ngụy thấy người Tần thế đông, không dám liều lĩnh, người Tần cũng không ham đánh, chỉ bảo vệ đám Tư Mã Thác lui về Hàm Cốc.
Chính vào lúc Bàng Quyên dốc toàn lực truy sát Tư Mã Thác, thì quân Tần trong ải Hàm Cốc cũng không màng sống chết dốc hết sức lực đánh ra phía ngoài. Lính nỏ phía quân Ngụy đã bắn hết tên, được lính trường thương yểm trợ, vừa đánh vừa lui, một dải sơn cốc dài hẹp nằm giữa hai ải Hàm, Hào, đến cả các ấp như Khúc Ốc, Thiểm Ấp đều bị Công Tôn Diễn đoạt lại.
Bù lại, trong cuộc chiến ở ải Hiệp Thạch, người Ngụy đã tiêu diệt hơn chục tướng Tần, chém đầu gần vạn quân Tần, bắt sống vài nghìn lính Tần, suýt nữa còn bắt sống được Tư Mã Thác, dù sao cũng đã lấy lại được chút thể diện cho Bàng Quyên.
Đại quân lui về đến Thằng Trì, Bàng Quyên bố trí phòng ngự, kiểm tra tổn thất, sau khi sắp xếp ổn thoả, chợt nhớ tới công tử Ngang, lập tức phái thám mã hoả tốc tìm đến, bảo hắn lui quân, đồng thời lệnh cho Thanh Ngưu dẫn năm vạn quân, vượt sông qua bến đò Mao Tân, băng qua núi Trung Điều, tới ải Lâm Tấn tiếp ứng.
Ở Hà Tây, đối đầu với công tử Ngang là quận thú Hà Tây tân nhiệm Ngô Thanh.
Hai người đều là mãnh tướng, song Ngô Thanh còn xa mới bằng đối thủ, bởi lẽ công tử Ngang từ nhỏ đã thông thạo binh pháp, say mê việc binh, lại trải qua nhiều thử thách máu lửa và thất bại đau thương mà đúc rút nên giáo huấn sâu sắc. Khoan nói tới chuyện này, khác hẳn với quận thú Ngô Thanh gần một năm qua thuận buồm xuôi gió, sung túc an nhàn, công tử Ngang đã nhận được sự kèm cặp, rèn giũa của Bàng Quyên và Tô Tần, tâm trí ngày càng chín chắn, giờ đây hắn lại có thêm chí khí hy sinh vì tổ quốc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, về mặt khí thế lại càng hơn hẳn.
Để đánh tốt trận này, công tử Ngang đã khổ công nghiên cứu suốt mấy tháng trời. Bàng Quyên lệnh cho hắn tấn công nghi binh, gây rối Hà Tây, thu hút sự chú ý của chủ lực quân Tần, song công tử Ngang lại không nghĩ như vậy. Hắn muốn biến Hà Tây thành chiến trường chính để tiêu diệt người Tần.
Vào đêm trước lúc xuất binh, công tử Ngang triệu tập bộ tướng, chỉ vào Hà Thuỷ, cất giọng hào hùng: “Chư vị tướng sĩ, chư vị đều đã nhìn thấy, ngay bên kia sông chính là Hà Tây, là Hà Tây của người Ngụy chúng ta! Mười năm trước, Hà Tây rơi vào tay Tần, tám vạn tướng sĩ phải đổ máu, đều là lỗi lầm của tại hạ. Hôm nay, tại hạ chỉ có một suy nghĩ, chính là thu phục Hà Tây, rửa mối nhục này! Chư vị xem đây!” Nói đoạn rút kiếm phạt đứt phăng một thân cây bên sông. “Nếu không thành công, tại hạ sẽ như cây này!”
“Thu phục Hà Tây, rửa mối nhục này!” Chư tướng khí thế sục sôi, đua nhau rút kiếm phạt cây.
Tới giờ đã định, công tử Ngang nhìn thấy xa xa phía Phong Lăng có khói bốc ngùn ngụt, biết rằng Trương Mãnh lén vượt sông thành công, lập tức dẫn đại quân vượt sông trên mặt Hà Thuỷ rộng chừng vài dặm gần Phần Âm.
Nơi này lòng sông rộng lớn, nước Hà Thuỷ chảy lững lờ, chỗ bãi nông đều đã đóng băng, nơi nước sâu chảy xiết rộng chỉ vài chục trượng. Người Tần sớm đã chuẩn bị sẵn rất nhiều thuyền bè, bắc gỗ làm cầu, tưới nước lên cho đóng thành băng, dùng dây thừng chằng buộc với nhau thành chuỗi, từ bờ này thuận theo dòng đẩy sang bờ kia.
Đi qua Hà Thuỷ là tới Thiếu Lương, quận phủ của Hà Tây Ngô Thanh không dám lơ là, sớm đã dàn tuyến phòng ngự dọc bờ sông, bày sẵn thế trận sẵn sàng trực chiến.
Chính vào lúc hai bên kẻ công người thủ kịch liệt trên bãi sông, từ phía sau lưng người Tần bất ngờ xông ra một cánh quân Ngụy đông nghịt. Hoá ra, vài ngày trước, công tử Ngang đã điều động một đội kỳ binh, đều trùm vải trắng, nhìn từ xa lẫn vào màu tuyết, từ Bì Ấp vượt sông, men theo mé tây núi Long Môn vòng qua đồng mộng hoang vu tại Tịch Cô, Phồn Bàng, âm thầm từ bắc xuống nam như những bóng ma, chọc thẳng vào Thiếu Lương.
Quân Tần trước sau ngự địch, cuống cuồng ứng chiến, thương vong nặng nề. Ngô Thanh dẫn tàn quân rút vào trong thành Thiếu Lương, kiên cường cố thủ không ra.
Cùng lúc này, một đội kỳ binh khác do công tử Ngang điều động cũng đã vượt sông thành công ở phía tây bắc Tấn Bản, đoạn này nước sông chảy xiết, tưởng chừng không thể vượt qua, nên người Tần cũng không chú ý phòng ngự. Sau đó, ngựa không dừng vó thẳng tiến về phía ải Lâm Tấn.
Khi quân Ngụy tới ải Lâm Tấn, trời vẫn chưa sáng hẳn, trên cửa quan quân Tần còn đang ngon giấc. Người Ngụy đập cửa ải, lính gác còn tưởng là người buôn bán, vừa làu bàu vừa mở cửa quan. Nào ngờ vài nghìn lính Ngụy ồ ạt tràn vào như ong vỡ tổ, gần như chẳng cần giao chiến đã chiếm lại được cửa quan, kiểm soát được cửa ải quan trọng bên bờ Hà Thuỷ.
Tiếp đó, công tử Ngang bỏ qua Thiếu Lương, chia năm vạn đại quân thành tám tuyến, theo đúng kế hoạch ban đầu, tuyến nào cũng như hổ đói tìm mồi, lần lượt đột kích các cửa ải trọng yếu tại Hà Tây, đánh thành chiếm đất, tự cung cấp quân nhu. Công tử Ngang thống lĩnh một vạn binh trấn thủ ải Lâm Tấn, một mặt bắc cầu phao tại bến sông, thông tới Hà Đông, mặt khác ở giữa điều động, hô ứng chặt chẽ với binh mã các lộ.
Vài vạn binh mã tấn công Hà Tây tuy không phải là võ binh tinh nhuệ, song thảy đều hừng hực khí thế, chất chứa căm thù, dũng mãnh gấp bội, một địch cả mười. Trong nháy mắt, khắp vùng đồng hoang rộng lớn tại Hà Tây, đâu đâu cũng thấy lính Ngụy tung hoành chiếm đánh. Một số người dân Ngụy trong lòng vốn đã ít nhiều bất mãn với pháp chế hà khắc của Tần, thấy đồng hương đánh tới thì đua nhau trở giáo, chạy về phe Ngụy. Hơn hai mươi thành ấp tường không kiên cố, binh lực mỏng yếu chỉ trong vòng ba ngày đã lần lượt cắm lên cờ Ngụy. Trường thành nhiều nơi bị phá, khói bốc cuồn cuộn tứ bề. Một cánh quân Ngụy vượt qua trường thành, xông tới Lạc Thuỷ, đánh thẳng vào ải Đại Lệ. Do Hà Tây hầu hết đã thuộc về người Tần, nên ải Đại Lệ cũng không còn ý nghĩa quân sự, gần như bỏ ngỏ, chỉ có chưa đầy trăm lính canh giữ, người Ngụy không tốn bao nhiêu sức lực đã cướp được ải Đại Lệ về tay. Sau khi cướp được cửa ải, người Ngụy một mặt càn quét người Tần dọc tuyến Lạc Dương, một mặt dựng luỹ phòng thủ, nhấn chìm thuyền bè, chặn đứng đường chi viện của người Tần.
Quân giữ Hà Tây rối bời trước chiến thuật chia quân đánh du kích của công tử Ngang, nhất thời không rõ rốt cục có bao nhiêu quân hợp tung đánh tới. Những thành ấp chưa thất thủ không còn tâm trí đâu mà để ý đến chuyện khác, đua nhau đóng cửa né tránh giao chiến.
Ngô Thanh liên tục sai thám mã cấp báo lên Tần Công.
Quân Ngụy tiến đánh bất ngờ, vượt sông chớp nhoáng, hơn nữa sau khi vượt sông, lại bôn tập đường dài tập kích ải Lâm Tấn, chia quân tấn công Hà Tây, toàn bộ thế cờ liền mạch trước sau, kín kẽ khăng khít, vòng này nối tiếp vòng kia, dù là Huệ Văn Công cũng nhìn mà kinh hãi.
Tuy nhiên, lúc này Huệ Văn Công vẫn đang dốc hết sức lực truy sát tàn quân Trương Mãnh kẹt trong khe núi, chẳng còn rảnh rỗi đâu mà để ý đến phía tây.
Hay tin người Tần đốt đứt cầu phao, vây khốn cánh quân của Trương Mãnh trong đường Hàm Cốc, công tử Ngang đang chỉ huy quân Ngụy càn quét Hà Tây bàng hoàng kinh hãi, suy ngẫm hồi lâu, rồi truyền lệnh cho các lộ quân từ bỏ những thành trì đã chiếm, hợp quân một chỗ, đột kích Ninh Tần, kiểm soát Đồng Quan, từ phía tây đánh thông tới đường Hàm Cốc, tiếp ứng cho Trương Mãnh.
Ninh Tần chính là Âm Tấn của Ngụy trước đây, phía bắc tiếp giáp Hà Thuỷ, phía nam liền với Hoa Sơn, chặn ngang đường thông với Hàm Cốc, đúng là cửa ngõ chiến lược phía tây ải Hàm Cốc. Đánh rắn phải đánh trúng tim, kế sách này của công tử Ngang vừa hay giáng trúng chỗ yếu hại của đường quan ải.
Do quân Tần tại đây đa phần đã được điều động tới đường Hàm Cốc truy đuổi Trương Mãnh, nên quân trấn thủ còn lại ở Ninh Tần chỉ khoảng bảy nghìn, đa phần là không đủ khoẻ mạnh để tham gia dã chiến. Số quân có thể chiến đấu thực thụ chỉ có ba nghìn quân hộ vệ của Huệ Văn Công, song trách nhiệm của đội quân này là hộ giá Tần Công, không phải ra trận chống địch. Vài vạn quân Ngụy quay mũi giáo, đột phá Lạc Thuỷ tập kích tới nơi, khiến tình thế trở nên cực kỳ nguy cấp. Huệ Văn Công hạ lệnh đóng chặt cổng thành, dốc toàn lực phòng ngự, bản thân cũng mặc áo giáp, tay cầm trường kích, cùng Sư Lý Tật leo lên lầu thành, đích thân chỉ huy quân chống trả.
Từ xa nhìn thấy Tần Công, lính Ngụy càng thêm hưng phấn gấp bội, công tử Ngang hai mắt vằn tia máu, giằng lấy dùi gỗ, thúc trống công thành. Lính Ngụy hè nhau khiêng theo công cụ phá thành, đánh thẳng vào cổng thành và tường thành trong tiếng trống chiến rền vang của đích thân chủ soái.
Huệ Văn Công và Sư Lý Tật sánh vai đứng trên lầu cổng thành, hai mắt nhìn chăm chăm vào quân Ngụy đông như kiến cỏ đang ùa lại gần.
Thế địch tràn đến như thác lũ, song Huệ Văn Công lại không để mắt tới, chỉ nhìn chăm chú vào công tử Ngang đang điên cuồng gõ trống, vẻ hết sức hiếu kỳ.
“Chúa thượng!” Sư Lý Tật nhìn theo ánh mắt của Huệ Văn Công, đôi mày chau tít. “Vi thần nghĩ mãi không hiểu, đúng là chuyện quái lạ dưới gầm trời, kẻ bất tài vô dụng kia mà cũng có lúc phát lộ uy phong.”
“Ha ha ha!” Huệ Văn Công vẫn nhìn chăm chú, phá lên cười lớn. “Khanh đúng là nhìn người qua khe cửa, chỉ biết xem thường người khác. Quả nhân nói cho khanh hay, kẻ này không phải hạng bất tài vô dụng, mà là một chiến tướng trời sinh!”
“Chiến tướng cái gì?” Sư Lý Tật cất giọng khinh khỉnh. “Thương Quân lúc sinh thời coi thường nhất kẻ này.”
“Thương Quân còn coi thường một người nữa, là Trần Chẩn. Mấy năm qua, khanh hẳn cũng thấy Trần Chẩn không phải phường vô dụng?”
“Quả là vậy!” Sư Lý Tật bần thần một lát, rồi cười mà cất giọng thực tình. “Trần Chẩn vừa vào tay chúa thượng, cứ như thể thoát thai hoán cốt!” Đoạn chỉ vào công tử Ngang. “Chúa thượng hẳn không phải muốn thu nạp luôn kẻ này đấy chứ?”
“Coi như khanh đã đoán đúng!” Huệ Văn Công thu ánh mắt về, dừng cười, cất giọng rành rọt. “Sư Lý ái khanh, truyền chỉ, bắt sống công tử Ngang, kẻ nào trái lệnh, chém!”
“Vi thần lĩnh chỉ!” Sư Lý Tật hiển nhiên đã hiểu thấu ý đồ của quân chủ, bèn quay sang phía quân uý đang túc trực, dõng dạc tuyên chỉ. “Truyền ý chỉ của chúa thượng tới tất thảy tướng sĩ giữ thành: bắt sống công tử Ngang, kẻ nào trái lệnh, chém!”
Ý chỉ “bắt sống công tử Ngang” mau chóng được truyền đi, chẳng mấy chốc, quân Tần giữ thành người người lĩnh chỉ, ai nấy đều hưng phấn, một trận đại chiến khốc liệt giữa hai bên phá thành và tử thủ lập tức mở màn. Tới ngày thứ ba, cánh quân Tần tại đường Hàm Cốc đã được rảnh rang, theo nhau kéo về, quân giữ thành xa gần như Nhạc Dương, Vũ Dương cũng hay tin đua nhau tới cứu giá, tứ phía hợp lại, lúc này vở kịch lớn mới coi như hạ màn.
Công tử Ngang như thể đã thành tinh, mở màn tuyệt diệu, mà hạ màn cũng xuất sắc. Sau khi từ miệng từ binh Tần hay tin Trương Mãnh bỏ mình vì nước, lại nhìn thấy lính Tần ồ ạt kéo tới chi viện, biết chắc không thể chiếm nổi Ninh Tần, lập tức gióng chiêng thu quân, rút lui về phía ải Lâm Tấn.
Song người Tần lại không chịu bỏ qua.
Chỉ lệnh của Huệ Văn Công đã truyền tới mọi binh sĩ, lính Tần vì muốn lập công đầu, không ai không hùng dũng gấp bội, suốt đường bao vây truy quét tới cùng. Trải qua nhiều ngày bôn ba, lại thêm liên tục đánh thành, lính Ngụy đuối sức đáng kể, mệt mỏi vì ứng chiến, tử thương vô số, đành rút lui tới Lạc Thuỷ, nhưng vẫn bị người Tần bám riết không buông. Công tử Ngang một mặt chỉ huy kháng cự, mặt khác lệnh cho các tướng sĩ ném hết các quân nhu mang theo, gồm cả chiến xa xuống sông. Mùa đông nước Hà Thuỷ vốn cạn, lại thêm thời tiết giá lạnh, chỗ nước nông đã đóng băng hoàn toàn, chỉ nơi dòng sâu là nước còn chảy xiết, trong nháy mắt đã bị lấp nghẽn, người Ngụy bắt đầu giẫm đạp qua đó mà vượt sông, chiếm lấy trận địa bờ sông bên kia.
Nhìn thấy quân Ngụy sắp chạy thoát, quân Tần tức nổ đom đóm mắt, truy sát càng quyết liệt.
Công tử Ngang cởi bỏ mũ trụ, giao cho tham tướng thân cận là Mục Trang, nói: “Mục tướng quân, hãy đem vật này về giao cho chủ soái! Đi mau!”
Mục Trang biết hắn muốn liều chết, làm gì chịu đi, bèn quỳ xuống khóc mà cầu xin: “Tướng quân hãy rút lui trước, mạt tướng xin đi đoạn hậu!”
“Ngươi dám kháng quân lệnh?” Công tử Ngang nghiêm giọng quát lớn. “Đi mau! Nhớ truyền quân lệnh của ta, chiến đấu tới người cuối cùng, giữ bằng được ải Lâm Tấn, để bảo lưu mảnh đất bàn đạp cho Đại Ngụy ta.”
Mục Trang và chư tướng sĩ không ai không rơi lệ từ biệt.
Hai mươi vệ sĩ thân cận dứt khoát không chịu đi, đều tháo hết mũ trụ giao cho Mục Trang, thề sống chết cùng chủ tướng.
Quân Tần xông tới như thác.
Công tử Ngang xoã tóc, oai phong lẫm liệt đứng giữa đầu cầu. Hai mươi tử sĩ xếp thành hai hàng trái phải, kiên gan tử thủ ở đầu cầu.
Tướng Tần phẩy tay ra hiệu, lính Tần đồng loạt dừng lại cách họ ngoài hai mươi bước.
Công tử Ngang tóc dài kín vai, đứng hiên ngang trước gió. Hai mươi tử sĩ cùng xoã tóc đi chân trần, thương kích trên tay đều có chỗ sứt mẻ, thấm đẫm máu tươi, áo giáp cũng không còn nguyên vẹn.
Lính Tần thảy đều chấn động, mọi ánh mắt đổ dồn vào tướng Tần.
Tướng Tần giơ tay, vài chục cung thủ tiến lên vài bước, lắp tên vào cung.
Hai mươi tử sĩ mặt không biến sắc, vẫn đứng nghiêm trang lẫm liệt.
Tướng Tần thình lình vung tay, tên sắc đồng loạt bắn ra rào rào, hai mươi tử sĩ đều ngã gục tại chỗ, duy có công tử Ngang vẫn tay nắm ngân thương đứng hiên ngang.
Hai bên tiếp tục kiên gan lui về.
Tướng Tần phẩy tay, đám cung thủ hạ cung lùi về, lính bộ tiến lên vây bủa.
Ước chừng quân Ngụy rút xa rồi, công tử Ngang mới múa tít ngân thương, gầm lên một tiếng: “Giết!” Rồi lao mình vào trận quân Tần, xông thẳng về phía tướng Tần.
Tướng Tần lật đật lùi lại né tránh.
Công tử Ngang tả xung hữu đột, lính Tần cũng tránh trái né phải, đã không trốn chạy, cũng không ứng chiến, chỉ từ từ dồn hắn vào giữa.
Công tử Ngang như vào chốn không người, cứ thế một mình xông pha thêm một chặp, rồi cười dài một tràng, quăng trường thương xuống đất, rút bảo kiếm ra, kề sát bên cổ, đang định cứa ngang, chợt từ phía xa vang lên tiếng gọi: “Thượng tướng quân!”
Công tử Ngang liếc mắt nhìn về phía đó, thì thấy một cỗ chiến xa đang lao như bay tới, đứng trên xe là Sư Lý Tật, bèn cười khinh khỉnh mà nói: “Thượng đại phu tới đây hẳn là muốn tiễn đưa bản tướng? Vậy hãy mang rượu lại đây!”
“Tại hạ xin chào thượng tướng quân!” Sư Lý Tật nhảy xuống chiến xa, tiến lên vài bước, vòng tay hành lễ mà nói. “Tại hạ quả thực là muốn uống rượu tiễn đưa thượng tướng quân, tiếc là chưa tới lượt!”
“Nói vậy là sao?”
“Bởi vì...” Sư Lý Tật dừng lại một lát, khoé mắt liếc về phía một quân uý đứng phía sau công tử Ngang, thấy hắn đã hiểu ý, bèn nói tiếp, “sớm đã có một người khác muốn uống rượu tiễn đưa thượng tướng quân!”
“Là Doanh Tứ chăng?” Công tử Ngang nhếch mép cười nhạt.
“Không phải!”
“Ồ?” Công tử Ngang thoáng ngạc nhiên. “Không phải Doanh Tứ, vậy là ai?”
“Tử Vân công chúa!”
Trong thời khắc cấp bách này, Sư Lý Tật đột ngột bật ra cái tên Tử Vân công chúa, khiến công tử Ngang không khỏi giật nảy trong lòng.
Lời chậm việc nhanh, chính vào khoảnh khắc công tử Ngang chỉ thoáng chút phân tâm, quân uý phía sau đã thình lình phóng tới một thương, đầu thương đâm thẳng vào khuỷu tay công tử Ngang không chệch một ly, thuận thế hất mạnh, thanh bảo kiếm “xoảng” một tiếng rơi luôn xuống đất.
Lính Tần lập tức ào ào lao tới, đè cổ công tử Ngang xuống, trói nghiến lại, áp giải về Ninh Tần.
Công tử Ngang khách đoạt ngôi chủ, chiến công lừng lẫy Hà Tây, không chỉ sát thương gần hai vạn quân Tần, khuấy loạn Hà Tây đến đất trời đảo ngược, mà còn đánh chiếm và giữ được ải Lâm Tấn, bất ngờ thêm vào một mảng màu rực rỡ cho cuộc đại chiến phạt Tần của sáu nước do Bàng Quyên phát động lần này.
Nhận được chiến báo Hà Tây cùng với mũ trụ của công tử Ngang và hai mươi tử sĩ, Bàng Quyên quỳ sụp xuống đất, khóc lóc thống thiết, lệnh cho ba quân mặc áo sô chịu tang, cử hành hợp táng cho hai mươi mốt chiếc mũ trụ ở ải Lâm Tấn theo nghi lễ thượng tướng, phong Mục Trang làm thú thừa ải Lâm Tấn, sai Thanh Ngưu dẫn một vạn quân đóng trại ở bờ kia Hà Thuỷ nhằm tiếp ứng, thấy đại quân Tần đã rút lui, không có dấu hiệu khả nghi, mới thu quân quay về đất Lương.
Chiến báo gửi về, Ngụy Huệ Vương đứng tại chỗ đọc ngay. Đọc tới đoạn Trương Mãnh tuẫn thân, Hàn, Triệu rút quân, người Tần chiếm ải Hào Quan, Ngụy Huệ Vương như sét đánh ngang tai, chết lặng mất một lúc, sau đó hai mắt tối sầm, cơ thể lảo đảo mấy cái rồi đổ vật xuống sàn.
Ngụy Huệ Vương đổ bệnh.
Kể từ lúc đó, Ngụy Huệ Vương không lên triều nữa, từ sáng tới tối nhốt mình trong ngự thư phòng, chỉ giữ lại tỳ nhân hầu hạ bên cạnh.
Buổi chiều hôm nay, tỳ nhân khẽ giọng bẩm báo: “Bệ hạ, Vũ An Quân đã dẫn quân về đến!”
Ngụy Huệ Vương khẽ hé mắt: “Ồ, là Bàng ái khanh ư? Về thì tốt rồi!”
“Bệ hạ, Vũ An Quân yết kiến, đang ở ngoài cửa.”
“Vậy ư?” Ngụy Huệ Vương chậm chạp ngồi dậy. “Truyền vào!”
Bàng Quyên thân mặc áo sô, hai tay trói quặt sau lưng, lê gối tới trước mặt Huệ Vương, khóc thảm thiết mà gọi: “Bệ hạ...”
“Ái khanh!” Huệ Vương nhìn sững vào hắn một hồi. “Khanh đang làm gì vậy?”
“Phạt Tần thất bại, tam quân xuất chinh không có công lao, sáu vạn tướng sĩ đổ máu, lương thảo bị thiêu huỷ, để mất đất Thiểm... Tất cả những chuyện này, đều là do vi thần vô dụng, khẩn cầu bệ hạ ban cho thần tội chết, để tạ tội với dân chúng nước Ngụy!” Bàng Quyên phủ phục dưới đất, để lộ tấm lưng trần, trên lưng không phải cắm cành gai, mà là ba thanh sắt chi chít gai nhọn.
“Than ôi!” Huệ Vương thở dài não nề. “Phạt Tần chưa thành, không phải lỗi do chiến đấu, ái khanh cớ sao lại nói những lời này?”
Bàng Quyên khóc thất thanh: “Bệ hạ...”
“Ái khanh, chiến báo quả nhân đã xem cả rồi. Ái khanh không phải vô dụng, tướng sĩ không phải không lập được công. Còn như nói thất bại, lại chưa thực đúng. Ta chưa thành công, người Tần cũng chưa thủ thắng. Tần giết vài vạn tướng sĩ của ta, ái khanh cũng đã càn quét vài vạn quân Tần. Tướng sĩ ta tuy hy sinh sáu vạn, song cũng đã chém chết từng đấy quân Tần. Ta tuy mất lương thảo, song cũng đã khuấy đảo Hà Tây, khiến người Tần tổn thất không nhỏ. Ta tuy mất đất Thiểm, song được ải Lâm Tấn... So sánh hai bên, ái khanh và người Tần coi như hoà nhau, tuy không lập nên đại công, song cũng chưa tới nỗi đại bại!” Huệ Vương quay sang tỳ nhân. “Cởi trói cho Bàng ái khanh, bày chỗ!”
Tỳ nhân rút bỏ thanh sắt, cởi trói cho Bàng Quyên.
“Phụ vương!” Bàng Quyên lạy tạ, lau nước mắt, đổi cách xưng hô, đứng dậy đi lại chỗ chiếu bên cạnh ngồi xuống, siết chặt nắm đấm, nghiến răng uất hận mà nói. “Cuộc chiến này chưa thể thành công, nhi thần vô cùng phẫn uất! Nhi thần không phục!”
“Quyên Nhi, là những phẫn uất gì? Hãy nói cho phụ vương nghe.”
Bàng Quyên lôi từ trong ống tay áo ra một bản tấu, hai tay trình lên: “Phụ vương hãy xem!”
Huệ Vương cầm lấy, đọc lướt qua vài dòng, tiện tay đặt xuống, thở dài mà nói: “Quyên Nhi, không giấu gì con, không chỉ mình con, mà phụ vương đây cũng thấy phẫn uất. Hợp tung cái gì? Minh ước cái gì? Giờ thì quả nhân đã nhìn thấu tỏ, hai con chó già Hùng Thương và Điền Nhân Tề để quả nhân giữ chức tung ước trưởng thực không có ý đồ tốt đẹp, vừa bắt đầu đã giăng bẫy hại ta!”
“Phụ vương!” Bàng Quyên giận dữ mà nói. “Hai con chó già này vẫn chỉ là thứ yếu, kẻ thực sự hại ta chính là giặc Triệu!”
“Ồ?” Huệ Vương hít ngược một hơi dài. “Triệu Ngữ?”
“Đúng vậy!” Bàng Quyên nhìn vào bản tấu, nói. “Chi tiết cụ thể, nhi thần đã viết cả trong đó, xin phụ vương ngự lãm.” Huệ Vương lại cầm tấu chương lên tay, chau mày đọc hết một lượt, rồi nện nắm đấm đánh “rầm” xuống bàn mà gầm lên: “Triệu Ngữ khinh ta quá lắm!”
“Đúng vậy!” Bàng Quyên uất hận nói. “Nhìn lại cuộc chiến này, người Triệu phát binh muộn nhất, chủ tướng Phì Nghĩa không tới, phái phó tướng Lý Nghĩa Phu đi cho lấy lệ. Khi tấn công Hàm Cốc, Lý Nghĩa Phu sợ địch chùn bước, khác hẳn Công Trọng xông xáo liều mạng. Hay tin người Tần cắt đứt ải Hào Quan của ta, nhi thần hạ lệnh lui binh, Lý Nghĩa Phu chủ động lĩnh mệnh, vi thần mới đâu ngỡ hắn muốn lập công chuộc tội, nào ngờ quân Triệu qua cửa quan, không hề kinh qua sát phạt, ba quân không tổn hại đến mảy may. Không những thế, lại còn gửi cấp báo, nói Hào Quan không thấy quân Tần. Nhi thần nghe hắn nói vậy, mới lơ là cảnh giác, dẫn quân trở về, nào ngờ người Tần phục binh ồ ạt xông ra, tổn thất trầm trọng. Nhi thần vắt óc suy tính, cũng bày kỳ binh đánh bọc sườn quân Tần, vốn muốn bắt sống Tư Mã Thác cho hả giận, nào ngờ để hắn chạy thoát! Phụ vương, người Triệu lần này giậu đổ bìm leo, chuyện này mà chịu được thì còn chuyện gì không chịu được?”
Có lẽ do quá kích động, Huệ Vương thở hồng hộc, uất ức tới nghẹn họng, mặt mày tím tái. Tỳ nhân vội bước lại, vỗ liên hồi lên lưng Huệ Vương. Huệ Vương mới dần dần hồi lại được, thở sâu mấy hơi, gắng gượng trấn tĩnh.
Tỳ nhân đưa mắt ra hiệu cho Bàng Quyên, không cho hắn nói tiếp nữa.
Bàng Quyên đứng dậy, dập đầu sát đất mà nói: “Phụ vương, nhi thần...”
Biết Bàng Quyên vẫn còn chuyện nghiêm trọng khác, Huệ Vương nhìn thẳng vào hắn: “Quyên Nhi, cứ nói đi!”
“Nhi thần... Phụ vương... chỉ có bấy nhiêu thôi, nhi thần...” Bàng Quyên lại dập đầu xuống, sắc mặt đầy vẻ đau thương.
“Quyên Nhi, nói đi, còn chuyện gì nữa?”
“Phụ vương!” Bàng Quyên khóc rống lên. “An Quốc Quân đã...”
“Ngang Nhi? Ngang Nhi làm sao?” Huệ Vương hỏi dồn.
“An Quốc Quân đã... bỏ... bỏ mình... vì nước rồi...” Bàng Quyên dập đầu lia lịa xuống sàn.
Lúc này, ngoài tiếng dập đầu bình bịch và tiếng khóc thảm thiết của Bàng Quyên, trong điện không còn một âm thanh nào khác.
Không biết bao lâu sau, Bàng Quyên mới thôi khóc, nghẹn ngào mà nói: “Bệ hạ, bại tướng Bàng Quyên to gan... thỉnh công cho An Quốc Quân.”
“Chuẩn tấu!” Sau một hồi im lặng kéo dài, Huệ Vương cất giọng khàn đặc. “Phạt Tần lần này, tuy bại vẫn vinh, muốn thỉnh công gì cho ai, ái khanh hãy soạn biểu tấu!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Truyền chỉ Thái miếu lệnh, lập bài vị cho Ngang Nhi ở chính điện.”
Sau khi đến Tuyết cung đòi về mười thành cho Yên Vương, Tô Tần không kịp tới phủ Điền Kỵ thăm Tôn Tẫn, đã lập tức lên đường tới Hàm Cốc, để có thể quan sát chiến sự được gần hơn, nhằm hỗ trợ Bàng Quyên, đồng thời dặn công tử Khoái mau chóng trở về Kế Thành, phục mệnh Dịch Vương.
Tô Tần đi suốt ngày đêm không nghỉ, vừa tới đất Vệ đã nhận được tin dữ Bàng Quyên bại trận, quân hợp tung tan rã.
Dù đã dự liệu từ trước, song Tô Tần vẫn không khỏi bàng hoàng chấn động, đám Trâu Phi Đao, Viên Báo kinh hãi tới trợn mắt há miệng. Đối với họ, hợp sức mạnh sáu nước để đánh quân một nước, mà lại thảm bại tan tành, thực sự ngoài sức tưởng tượng.
Đến khi trấn tĩnh trở lại, Tô Tần bảo phu xe ra roi thúc ngựa, lao nhanh đến Đại Lương.
Suốt dọc đường đi, trên khắp đất Ngụy tiếng khóc than dậy đất, đô thành Đại Lương càng là bao trùm trong không khí tang tóc cực độ, trên phố lớn không còn thấy nụ cười, không còn sắc màu xanh đỏ, chỉ thấy người người áo sô khăn trắng, ngay cả tiếng chuông đồng báo giờ trên đỉnh Thái miếu cũng đậm vẻ bi thương.
Tô Tần chưa vào dịch quán đã đi thẳng tới cửa cung, song thấy cửa cung đóng chặt, không một bóng người.
Tô Tần nhờ người vào bẩm báo Huệ Vương, rất lâu sau, mới thấy tỳ nhân cử nội thần túc trực ra truyền chỉ, nói bệ hạ long thể bất an, bảo hắn tạm thời về dịch quán nghỉ ngơi, chờ chỉ yết kiến. Tô Tần cũng thấy mình quá nóng vội, bèn vòng tay từ biệt, quay về dịch quán.
Triều thần nước Ngụy không một ai ra tiếp đón họ. Quan lại, thị tùng trong dịch quán cũng không thấy ra chào, tuy không đuổi khách, song sắc mặt lạnh tanh, dẫu trời đang giá rét căm căm, song đừng nói là đốt lửa sưởi ấm, ngay cả một chén nước nóng cũng chẳng có.
Đường đường là tướng quốc sáu nước, lại bị đối xử thất lễ như vậy ngay trong dịch quán chuyên tiếp đón quan viên liệt quốc tại kinh đô đất nước của tung ước trưởng, thực là một trò cười lớn trong thiên hạ. Trâu Phi Đao hằm hằm tức giận, muốn tìm người hỏi cho ra nhẽ, song bị Tô Tần ngăn lại.
Viên Báo ra phố, đến nhập nhoạng tối thì chở về một xe thức ăn, đồ dùng, lại thêm vài sọt than và hai hũ rượu. Mỗi người một chân một tay, gần nửa canh giờ sau mới tạm thu xếp ổn thoả.
Sách lược hợp tung vừa mới mở màn đã bị xé toang, chỗ rách không chỉ có một. Đêm đến, Tô Tần suy đi tính lại, quyết định tìm gặp Bàng Quyên. Sáu nước hợp tung, nước trung tâm là Ngụy, tung ước trưởng lại là Ngụy Huệ Vương. Lần này phạt Tần, Ngụy bị Tề, Sở xúi giục, xung phong đi đầu, nên tổn thất đương nhiên cũng nặng nề nhất. Trước khi yết kiến Huệ Vương, Tô Tần muốn tìm hiểu chi tiết tình hình cuộc chiến, muốn biết rõ quân hợp tung đã chiến bại ra sao, và bại ở chỗ nào. Nếu không, sẽ khó lòng tính toán nước cờ tiếp theo, cũng không thể hàn gắn mâu thuẫn giữa các nước hợp tung. Là chủ soái phạt Tần, đương nhiên Bàng Quyên hiểu rõ nội tình hơn ai hết.
Tô Tần đã nghĩ ra cách ứng phó Bàng Quyên, thế nên sáng sớm hôm sau liền tự tin sải bước phăm phăm tới phủ Vũ An Quân, không ngờ lại bị cự tuyệt từ ngoài cổng. Quản gia Bàng Thông mình mặc áo tang, đi ra trước cổng vòng tay nói rằng, Vũ An Quân nhận được cấp báo từ vùng biên cương, đã lên đường tới Hà Tây ngay trong đêm.
Nhìn vào ánh mắt láo liên của Bàng Thông, Tô Tần biết chắc hắn đang nói dối, Bàng Quyên không tới biên cương, hơn nữa còn đang ở ngay trong phủ. Tuy nhiên, Bàng Quyên đã không chịu gặp, có nói trắng ra cũng chẳng ích gì. Tô Tần thở dài một tiếng, vòng tay cáo biệt, bảo phu xe tới phủ tướng quốc.
Huệ Thi đang vùi đầu đọc tấu báo. Sau đại chiến, có cả núi công việc cần xử lý. Huệ Vương không lên triều, tấu báo lớn nhỏ từ khắp nơi gửi về đều chất chồng trên bàn Huệ Thi. Huệ Thi chuyên về cái học danh thực, thích bàn chuyện trên trời dưới biển, thích luận việc lớn lao không ưa việc nhỏ nhặt, ghét nhất là phải xử lý những chuyện vụn vặt cụ thể. Bình thường, những việc này đều giao cả cho Chu Uy, Bạch Hổ, song mấy hôm nay, hai người này đang phải bận rộn bù đầu để xử lý các hậu quả tại tiền tuyến, Chu Uy ở Thằng Trì, Bạch Hổ ở ải Lâm Tấn, Huệ Thi buộc phải còng lưng gánh vác.
Huệ Thi đang đọc tới hoa mắt chóng mặt, nghe nói có Tô Tần tới thăm, tinh thần phấn chấn hẳn lên, bèn đẩy chồng tấu báo sang một bên, sải bước đi ra, đón Tô Tần vào chính đường.
Hai người không buồn khách sáo, lập tức đi thẳng vào đề. Tô Tần hỏi liền mấy chuyện đang nóng lòng muốn biết, song Huệ Thi lại không trả lời ngay. Đợi Tô Tần hỏi xong, Huệ Thi nhấc lên một chồng chiến báo mà Bàng Quyên gửi tới, chuyển sang bàn Tô Tần: “Điều Tô đại nhân muốn biết, hẳn đều ở đây cả!”
“Tạ ơn tướng quốc!” Tô Tần vòng tay cảm tạ, rồi cầm lên đọc ngấu nghiến một lượt, đôi mày chau tít, rồi khẽ lẩm bẩm như tự nhủ. “Thảo nào bệ hạ không cho yết kiến, dịch quán không chịu đốt lửa, hoá ra là vì vậy!”
“Đúng vậy!” Huệ Thi gật đầu. “Bàng chủ soái trút hết mọi oán hận lên đầu các nước hợp tung, nhất là nước Triệu, cho rằng nước Triệu ngấm ngầm cấu kết với Tần, bán rẻ nước Ngụy.”
“Chuyện này không thể!” Tô Tần vội nói. “Bán rẻ nước Ngụy không phải là nước Triệu, cũng không phải nước Hàn, mà là...”
“Là Sở và Tề, phải không?” Thấy hắn ngập ngừng, Huệ Thi bèn tiếp lời.
Tô Tần khẽ nhếch mép, nặn ra một nụ cười khổ sở thay cho câu trả lời.
“Than ôi!” Huệ Thi khẽ thở dài. “Tại hạ thực tình không hiểu nổi, cùng là cao đồ của Quỷ Cốc, mà Bàng chủ soái sao đến điều này cũng không nhìn ra, bị người khác bán rẻ, vậy mà vẫn...” Rồi lắc đầu ngao ngán, cũng dừng lại không nói nữa.
“Huệ tướng quốc!” Tô Tần trầm ngâm hồi lâu, rồi vòng tay nói. “Tại hạ có đôi lời muốn tâu lên bệ hạ, mong tướng quốc giúp cho!”
“Than ôi!” Huệ Thi lại thở dài. “Không giấu gì Tô Tử, trận chiến này đã làm tiêu tan tất cả hy vọng và mộng ước của bệ hạ, hiện giờ bệ hạ không lên triều, cũng không chịu gặp ai. Nghe người trong cung nói, bệ hạ từ sáng tới tối chỉ ngồi ngẩn ngơ trong thư phòng, đứng nói là triều thần bình thường, dù là vương hậu tần phi, cũng không chịu gặp. Vài ngày trước công tử Tự bị bệnh, sốt cao mê sảng, khiến cả cung kinh động, vương hậu ba ngày liền chẳng ăn chẳng nói, bệ hạ đến một lời hỏi thăm cũng không. Theo tại hạ biết, trong chư vị công tử, ngoài thái tử, bệ hạ sủng ái nhất là công tử Tự.”
“Ồ...” Tô Tần hít vào một hơi dài, khép hai mắt lại.
Hồi lâu, Tô Tần mới mở mắt ra, nói: “Tướng quốc đại nhân, hội thề sáu nước, mực còn chưa ráo, lời thề vẫn còn bên tai, đại nghiệp hợp tung vừa mới khởi sự đã tiêu tan tức thì, tại hạ thực không cam tâm. Ngụy thuộc Tam Tấn, là then chốt của thiên hạ, nếu nước Ngụy rút lui, sẽ nguy hại tới hợp tung, xin tướng quốc đại nhân minh xét!”
“Tô đại nhân!” Huệ Thi hít vào một hơi dài, trên gương mặt hiện một nét cười gượng gạo. “Tại hạ tuy bất tài, song cũng hiểu được đạo lý này. Tuy nhiên, liệt quốc phạt Tần, ngoài Yên, Tề bất hoà không tính đến, Tam Tấn Ngụy, Hàn và Sở đều có tổn thất, duy có quân Triệu không mảy may thương tổn, Bàng Quyên dựa vào đó mà khẳng định nước Triệu bán rẻ Ngụy, ba quân tướng sĩ cũng đều tận mắt nhìn thấy, bảo bệ hạ sao có thể nghĩ khác?”
“Đây là kế ly gián của người Tần!”
“Đúng vậy! Người Tần làm thế, là để ly gián. Tuy nhiên, sự thực vẫn mạnh hơn hùng biện, nước Triệu có trăm miệng cũng chẳng thể biện bạch. Tại hạ cho rằng, hiện tại việc cấp bách của Tô Tử không phải là yết kiến bệ hạ, mà là mau chóng tới nước Triệu, điều tra chân tướng sự việc, rồi quay về giải thích với bệ hạ, trả lại sự trong sạch cho người Triệu. Chỉ có xoá bỏ hiểu lầm, Tam Tấn mới có thể hoà hợp trở lại. Chỉ khi Tam Tấn hoà hợp trở lại, hợp tung mới không tan rã.”
“Đa tạ đại nhân chỉ giáo!”
Tô Tần đứng dậy cáo lui, trở về dịch quán, suy ngẫm suốt nhiều giờ, cảm thấy lời Huệ Thi rất thiết thực khả thi, hơn nữa cũng là cách giải quyết duy nhất, nên gọi mọi người lập tức lên đường, thẳng tiến tới Hàm Đan.
Từ Đại Lương tới Hàm Đan phải đi qua cửa Túc Tư, rồi từ đó vượt Hà Thuỷ, thẳng tới Chương Thuỷ.
Vừa tới cửa Túc Tư, Tô Tần đã nhảy vụt xuống khỏi xe, sải bước trên con phố đã từng quen thuộc vô cùng, chốc chốc còn rẽ vào một vài cửa hàng nhỏ bé. Tô Tần vẫn nhận ra nhiều người bán hàng ở đây, tuy nhiên chẳng có lấy một ai trong số họ nhận ra Tô Tần. Đúng vậy, nay đã khác xưa, họ tuyệt đối không thể ngờ được rằng, vị đại quan nhân khí thế hiên ngang trước mặt lại là tên thư sinh khố rách áo ôm cứ vài tháng lại tới đây mua hàng vào năm đó.
Tô Tần tới một cửa hiệu, chọn mua vài súc lụa và vải tạp, kim chỉ, mấy tấm chăn gấm, vài túi gạo, bột, dầu tương mắm muối và một số đồ nhật dụng không có sẵn trong núi, chia vào vài sọt trúc lớn, còn mua thêm mấy chiếc đòn gánh và dây thừng, chất cả lên xe.
Nơi đây lòng sông Hà Thuỷ rất rộng, toàn bộ đã đóng băng, băng rất dày, bên trên còn phủ một lớp tuyết trắng, chịu được trọng lượng của cỗ xe. Đám Tô Tần dễ dàng đánh xe băng qua Hà Thuỷ, tới ngã ba thì rẽ về phía núi Vân Mộng.
Xe tới trước núi, Tô Tần bảo đám Viên Báo quay về cửa Túc Tư, tìm quán trọ nghỉ chân, còn mình và Trâu Phi Đao chọn ra vài tráng sĩ, gánh theo các sọt trúc, đi về phía Quỷ Cốc.
Năm năm sống trong Quỷ Cốc, quãng đường núi này Tô Tần đã đi không biết bao nhiêu lần, nhắm mắt cũng không sợ lạc. Tuy nhiên, lúc này đang độ giữa đông, núi cao giá rét, sau mấy trận mưa tuyết lớn trước đó, tuyết vẫn chưa tan, phóng mắt nhìn ra, chỉ thấy một vùng mênh mông trắng xoá, không thấy đường đi. Dù là người trong núi, vào mùa này cũng hiếm khi ra ngoài. Đám Tô Tần vừa lần dò tìm đường, vừa thay nhau gánh sọt, lúc đi lúc dừng, khi đến được sơn cốc, mặt trời đã lặn xuống núi tây.
Trong sơn cốc, tuyết phủ trắng xoá một màu, tĩnh lặng tới nghẹt thở, tĩnh lặng tới đáng sợ. Thảo đường phía xa cũng chìm trong tuyết dày bao phủ, nếu không tới gần sẽ không thể nhìn ra. Trong sơn cốc không một dấu chân người, thậm chí tới dấu chân muông thú thường gặp năm xưa cũng tuyệt nhiên không thấy. Phóng mắt nhìn đi, phía thảo đường quen thuộc không thấy khói bếp bốc lên, về lý mà nói, giờ đã tới lúc thổi cơm chiều.
Lẽ nào... Tô Tần bất giác rùng mình kinh sợ, bàn chân cũng bất giác rảo bước nhanh hơn. Không, tiên sinh sẽ không chọn nơi tiên cảnh khác, tiên sinh chắc chắn vẫn ở đây! Tiên sinh chắc chắn biết rõ hắn đang gặp phải trở ngại lớn, chắc chắn sẽ đoán được hắn sẽ về núi lúc này để cầu xin chỉ giáo, chắc chắn đã ngồi trong thảo đường tươi cười chờ sẵn!
Đã tới thảo đường!
Tô Tần phẩy tay. Đám người dừng lại cách thảo đường hơn trăm bước chân, đặt đòn gánh xuống.
Tô Tần tiến từng bước về phía thảo đường, âm thanh duy nhất trong sơn cốc lúc này chính là tiếng giày lạo xạo giẫm trên nền tuyết.
Trước cửa thảo đường không có lấy một dấu chân. Cánh cửa thảo đường đóng im ỉm, bên trong tối om không một chút ánh đèn, cũng không thấy hơi hướng của con người.
Tim Tô Tần như ngừng đập.
Tô Tần dừng lại trước cửa thảo đường, khép hai mắt, hít vào một hơi thật sâu, rồi khẽ khàng gõ cửa.
Cánh cửa lập tức mở ra.
Đứng sau cửa là Ngọc Thiền y phục trắng muốt.
“Sư... sư tỷ...” Tô Tần quá đỗi bất ngờ, giật lùi một bước, miệng lắp bắp.
Ngọc Thiền không đáp lời, chỉ đứng im bất động, vóc hình như cây ngọc trước gió, chỉ có đôi mắt to tròn nhìn sững vào Tô Tần không chớp, như thể đứng trước mặt nàng là một giống quái vật lạ lẫm.
Tô Tần trấn tĩnh trở lại, vội vã vòng tay nói: “Sư tỷ, lâu nay có khoẻ không?”
Ngọc Thiền không đáp, hai mắt vẫn mở to, nhìn Tô Tần đăm đăm.
Ánh mắt khác thường của Ngọc Thiền khiến Tô Tần hoang mang. Sau khi bình tâm trở lại, Tô Tần cũng nhận ra câu hỏi vừa rồi có chút nực cười. Người ta đang đứng sờ sờ ra đấy, mà mình lại vô duyên vô cớ hỏi có khoẻ không, thực là sáo rỗng, sắc mặt bỗng đỏ bừng, bèn vái một vái dài: “Sư tỷ, lãng tử Tô Tần... đã trở về nhà!”
“Đã trở về nhà!” Ngọc Thiền thì thầm nhắc lại, lại ngơ ngẩn thêm một chặp, mới định thần lại được, khẽ mỉm cười, vòng tay đáp lễ. “Ngọc Thiền xin chào Tô huynh!” Rồi đứng né sang một bên, chìa tay nói. “Tô huynh, mời!”
Tô Tần bước vào, đưa mắt nhìn khắp một lượt thảo đường, không thấy tiên sinh, tiểu đồng đâu, bèn quay sang Ngọc Thiền hỏi: “Tiên sinh có khoẻ không?”
“Vẫn khoẻ!” Ngọc Thiền khẽ gật đầu.
“Sư huynh có khoẻ không?”
“Cũng vẫn khoẻ!” Ngọc Thiền lại gật đầu, ánh mắt vẫn nhìn hút vào Tô Tần, giọng đầy quan tâm. “Tô huynh... đã gầy đi nhiều!”
“Phải!” Tô Tần cố làm ra vẻ ung dung, cười cười, rồi co duỗi cánh tay mấy cái. “Gầy bớt cũng tốt, đi lại cũng nhẹ nhõm hơn.”
Giọng Ngọc Thiền càng thêm lo lắng quan hoài: “Ấn đường xanh đỏ, xem ra Tô huynh có việc không thuận lợi. Râu tóc dựng đứng, xem ra Tô huynh thần trí căng thẳng. Nếp nhăn hằn ngang trên trán, xem ra Tô huynh suy nghĩ quá nhiều. Tóc mai điểm bạc, xem ra Tô huynh lao lực quá sức. Xuống núi mấy năm, cuộc sống của Tô huynh có vẻ không được như ý?”
Thấy Ngọc Thiền quan sát tinh tế đến vậy, quan tâm sâu sắc đến vậy, Tô Tần trong lòng trào dâng một nỗi xót xa, phải cố gắng kìm nén để khỏi bật khóc, song giọng nói vẫn run rẩy, lại vái dài mà nói: “Tô Tần bất tài, đã để sư tỷ phải lo lắng!”
Ngọc Thiền im lặng không nói.
Tình cảnh đang lúc ngượng ngập, bỗng từ xa vọng lại tiếng xoa tay và tiếng hít hà. Hoá ra, đám Trâu Phi Đao đi liên tục suốt ngày không thấy lạnh, lúc này dừng lại, áo trong đẫm mồ hôi chẳng khác gì lưỡi dao băng giá cứa vào da thịt, rét buốt khó kham. Tô Tần nhìn Ngọc Thiền cười khẽ, rồi mở cửa đi ra, vẫy tay về phía đám Trâu Phi Đao. Đám người bèn gánh sọt lên, tiến lại gần, đứng ở trước cửa.
“Trâu huynh!” Tô Tần chỉ vào gian nhà cỏ của bốn người vẫn còn nguyên cách đó không xa. “Huynh và các huynh đệ hãy tới mấy gian nhà cỏ kia nghỉ ngơi, đốt lửa sưởi ấm, ngủ tạm đêm nay.”
Trâu Phi Đao gật đầu, dẫn đám người đi về phía nhà cỏ. Tô Tần khiêng toàn bộ sọt tre vào trong thảo đường, lấy ra từng thứ một, Ngọc Thiền cũng giúp một tay, mọi thứ mau chóng được sắp xếp gọn gàng. Tô Tần cười nói: “Những thứ này đều mua lúc chiều nay khi đi qua cửa Túc Tư, hẳn là sẽ được dùng đến.”
“Đúng là kịp thời!” Ngọc Thiền mỉm cười đáp. “Đã nửa tháng nay ở đây không nổi lửa.”
“Ồ?” Tô Tần kinh ngạc. “Mọi... mọi người...”
“Đừng lo!” Ngọc Thiền lại cười. “Thiền Nhi quen rồi, hiện giờ đang tịch cốc (1), đừng nói là nửa tháng không ăn ngũ cốc, dù là một tháng cũng chẳng sao.”
“Sư tỷ...” Tô Tần nước mắt ứa ra. “Tịch cốc là một chuyện, nhịn ăn lại là chuyện khác, mọi người...” Nói nửa chừng, đã nghẹn ngào không thành tiếng.
“Phải, đúng là có hơi sơ ý. Thiền Nhi và sư huynh vốn định xuống núi mua sắm, nào ngờ gặp liền hai trận tuyết lớn, phủ kín đường núi. Sư huynh khăng khăng đòi đi, song Thiền Nhi khuyên nhủ can ngăn, nói là hãy nhân cơ hội này để thi tài cao thấp một phen, xem công lực của chúng ta có thể nhịn ăn được bao lâu. Vậy mà, vừa mới tịch cốc được nửa tháng, Tô huynh đã mang lương thực tới. Tô huynh chớ nên hiểu lầm!” Lời nói vừa dứt, Ngọc Thiền bật cười khanh khách, trông rất thư thái tự nhiên.
Tô Tần nhìn kỹ sắc mặt Ngọc Thiền, thấy quả là nàng không có vẻ gì khó ở. Ngày đông giá rét nhường này, trong thảo đường không đốt than lửa, Ngọc Thiền lại ăn mặc phong phanh, vậy mà nàng không hề có vẻ lạnh, ngược lại da dẻ hồng hào, ánh mắt sắc sảo, cử chỉ linh hoạt, thậm chí còn trẻ trung xinh đẹp, hoạt bát hơn hẳn mấy năm về trước. Chỉ là trong những đường nét mảnh mai đã thấp thoáng nét đẹp mặn mà của người thiếu nữ trưởng thành mà trước đây Tô Tần chưa phát giác ra.
“Thật không ngờ, mấy năm không gặp, công phu của sư tỷ, sư huynh đã cao thâm đến nhường này, nếu không tận mắt chứng kiến, tại hạ hẳn không tin là thật!” Tô Tần vô cùng thán phục, cất lời khen ngợi tự đáy lòng.
“Tô huynh quá khen!” Ngọc Thiền cười đáp. “Tiên sinh có thế nửa năm không ăn, nửa tháng không uống, Thiền Nhi và sư huynh cùng lắm chỉ có thể tịch cốc sáu mươi ngày, nhịn nước không quá nổi ba ngày, còn xa mới đạt tới hoả hầu.”
“Sư tỷ, sư huynh dám so sánh cùng tiên sinh, đã đủ để Tô Tần kính phục!” Tô Tần thành tâm khen ngợi, rồi chuyển sang chuyện chính. “Sư tỷ, sư đệ lần này trở về là muốn bái kiến tiên sinh, phiền sư tỷ bẩm báo giúp.”
Ngọc Thiền có vẻ lúng túng: “Thực không may, tiên sinh đã đi vân du từ trước khi tuyết đổ.”
“Ồ...” Tô Tần sửng sốt.
“Tô huynh!” Ngọc Thiền chỉ vào chỗ ngồi bên cạnh. “Cứ đứng mãi thế này thật không hay, hãy ngồi xuống nói chuyện thì hơn. Tiên sinh đi vắng, đêm đông dằng dặc, Thiền Nhi cũng có nhiều điều muốn trò chuyện với Tô huynh.”
“Tại hạ...” Tô Tần bình tâm trở lại, ấp úng một tiếng, thấy Ngọc Thiền đã ngồi xuống chiếu, đành bước lại, đứng ở bên cạnh. “Đại sư huynh đâu? Tại hạ sẽ đi tìm sư huynh, ba chúng ta sẽ cùng trò chuyện thâu đêm.”
“Ngồi xuống đi!” Ngọc Thiền chỉ tay vào chiếu. “Sư huynh không tới đâu.”
“Vì sao? Sư huynh...” Tô Tần ngẩn người.
“Vì ba hôm trước, sư huynh đã nhập định!”
“Ồ...” Tô Tần không còn lý do nào khác, đành từ từ ngồi xuống, nét mặt lộ rõ vẻ bối rối.
“Chia tay mới đó đã vài năm, Thiền Nhi kiến văn hạn hẹp, dưới núi náo nhiệt, Tô huynh có thể kể vắn tắt vài lời được chăng?” Ngọc Thiền mắt vẫn nhìn Tô Tần đăm đăm.
“Sư tỷ muốn nghe, Tô Tần không dám giấu. Chỉ có điều trời đã tối muộn, đi cùng tại hạ còn có vài huynh đệ nữa, Tô Tần muốn tới xem họ thu xếp thế nào, rồi sẽ quay lại ngay.”
“Thiền Nhi kính cẩn chờ đợi!” Ngọc Thiền mỉm cười với Tô Tần, khẽ gật đầu.
Tô Tần đứng dậy, tiến lại chỗ lương thực vừa dỡ xuống, xúc lấy ít gạo, tìm một chiếc nồi đồng dùng để nấu cơm, rồi đi thẳng ra ngoài. Khi Tô Tần quay trở lại, trong thảo đường đã đốt cháy hai cành thông, than bắt đầu đượm hồng, ấm áp hơn không biết bao lần so với lúc nãy. Trên chiếc bàn trước chiếu bày vài đĩa hạt khô, một bình trà đã pha sẵn, hai chén đựng đầy trà được đặt gần chậu than để giữ ấm.
“Đa tạ sư tỷ, đã để sư tỷ phải đợi lâu!” Tô Tần ngồi ngay ngắn xuống chiếu, vòng tay mà nói.
“Chớ nên khách sáo. Nếu muốn đa tạ, Thiền Nhi phải đa tạ Tô huynh mới phải!” Ngọc Thiền chỉ vào mấy súc vải và số kim chỉ bên cạnh. “Những thứ này Thiền Nhi rất thích, từ ngày ra khỏi cung, đã lâu lắm rồi không may vá thêu thùa.”
“Sư tỷ thích thì tốt quá!” Tô Tần cười hồn hậu. “Tô Tần vốn dĩ định mua cho tiên sinh và sư tỷ mỗi người một bộ y phục, song lại sợ kích thước không vừa, nên mới nghĩ ra hạ sách, khiến sư tỷ phải vất vả.”
“Có Tô huynh tới, Thiền Nhi sẽ không tịch cốc nữa!” Ngọc Thiền tươi cười, nhón lấy hạt khô, bóc vỏ, khoan thai đưa vào miệng, khẽ nhấp một ngụm trà. “Tô huynh, mời!”
Tô Tần cũng bóc một hạt, nhấm nháp với trà thơm.
“Nói đi, Tô huynh, Thiền Nhi rửa tai chờ nghe!”
“Các việc dưới núi, rối loạn bộn bề, hệt như một mớ bòng bong, không biết sư tỷ muốn nghe chuyện gì?”
“Hãy nói về chuyện của Tô huynh! Bất kể việc lớn việc nhỏ, Thiền Nhi đều muốn nghe hết, Tô huynh hãy cứ từ từ mà kể.” Khi nói ra lời này, ánh mắt Ngọc Thiền rực sáng, nỗi niềm yêu thương trào dâng trong từng cử chỉ.
Tô Tần khẽ rung động trong lòng, hơi ngoảnh mặt đi chỗ khác, né tránh ánh nhìn của Ngọc Thiền, đặng hắng khẽ một tiếng lấy giọng, rồi bắt đầu kể chuyện mình và Trương Nghi xuống núi thế nào, chia tay ra sao, rồi chuyện Trương Nghi tới nước Việt, du thuyết Việt Vương, lại đi sang Sở, bày mưu diệt Việt, sau đó bị hãm hại mà tháo chạy khỏi nước Sở thế nào, nghĩ ra kế trâu vãi phân vàng ra sao... Tất cả mọi chuyện, Tô Tần đều kể lại sống động và tường tận từ đầu chí cuối, chỉ giấu nhẹm chuyện Trương Nghi đã thành thân với Hương Nữ và chuyện mình dùng kế ép hắn tới Tần.
Ngọc Thiền không có phản ứng gì, chỉ ngồi im lặng, khép mắt lắng nghe.
Tô Tần kể tới khô cổ rát họng, mãi mới kể xong hết đầu đuôi, rồi cúi đầu nhấp một ngụm trà. Ngọc Thiền khẽ hé mắt hỏi: “Chuyện của Trương sĩ tử đã hết chưa?”
“Hết... hết rồi!” Tô Tần ngẩn người, ấp úng đáp.
“Trương sĩ tử quả là thú vị!” Ngọc Thiền quay sang nhìn hắn cười nói. “Còn chuyện nào thú vị nữa không, Thiền Nhi vẫn muốn nghe nữa.”
Tô Tần tiếp tục kể chuyện Tôn Tẫn và Bàng Quyên, thuật lại Bàng Quyên đố kỵ thế nào, hãm hại Tôn Tẫn ra sao, Tôn Tẫn phải giả điên tránh hoạ thế nào... Ngọc Thiền nghe mà đau đớn xuýt xoa, thổn thức nghẹn ngào. Khi nghe tới đoạn Thuần Vu Khôn ra tay cứu giúp, Tôn Tẫn và Thuỵ Mai công chúa chạy sang đất Tề lánh nạn, Ngọc Thiền mới thở phào một tiếng, khẽ nói: “Kết cục này, tiên sinh sớm đã đoán ra!”
“Đúng vậy!” Tô Tần gật đầu. “Khi Tôn huynh xuống núi, tiên sinh đã đổi tên Tôn huynh thành Tẫn, tại hạ và Trương huynh đều không hiểu. Nào ngờ, sự việc sau này đều đã ứng nghiệm.”
“Tô huynh!” Ngọc Thiền nhìn thẳng vào Tô Tần. “Lẽ nào huynh không muốn kể về mình ư? Là Thiền Nhi... không đủ tư cách để nghe chăng?”
“Sư... sư tỷ...” Tô Tần trong lòng rối bời, bệnh nói lắp bỗng dưng tái phát. “Sư... sư đệ... đang... đang... đang định kể đây!”
“Kể đi!” Ngọc Thiền phì cười. “Cứ nói như thế, lâu lắm rồi mới nghe thấy giọng nói lắp của Tô huynh.”
“Tại... tại hạ...” Tô Tần mặt đỏ bừng, “tại hạ xin kể đây.”
Tô Tần uống hết một chén trà, lại rót tiếp một chén khác, cho thêm vài viên than vào chậu lửa, để mình bình tâm trở lại, rồi bắt đầu kể chuyện của mình, thuật lại từ khi xuống núi chu du liệt quốc, sau đó về nhà, được cha chia đất phân nhà, rồi lại bán ruộng đất tổ tiên, sắm sanh áo quần sang trọng tới Chu thất, được Chu Vương tiếp đãi ra sao, bày tỏ nỗi nhớ nhung Ngọc Thiền thế nào, rồi khẩn thiết bảo hắn kể chuyện về Ngọc Thiền trong núi; kể về nỗi hoài niệm vương hậu của Chu Vương; kể về lão cầm sư hàng ngày gảy đàn cho vương hậu ở ngoài cửa cung cấm...
Ngọc Thiền dù có định lực tới mấy, cũng không nén nổi nước mắt đầm đìa, vài lần nâng khăn thấm lệ, nhưng hai luồng ánh mắt vẫn xuyên qua màn lệ nhoà, dịu dàng chiếu lên gương mặt rất đỗi thân quen, tuy còn trẻ song dạn dày sương gió ở ngay trước mặt, nghe như nuốt lấy từng lời của Tô Tần.
Tô Tần hai mắt khép hờ, ngữ điệu không nhanh không chậm, sắc diện không hề biến đổi, cứ chậm rãi kể lại từng câu về tất cả những chuyện đã xảy ra với hắn trong suốt mấy năm nay. Rằng hắn đã xe sang ngựa đẹp tới Tần như thế nào, chẳng biết lượng sức, nghênh ngang đắc chí khai đàn luận chính tại Hàm Dương ra sao, lĩnh hội về Tần pháp thế nào, chịu nhục ở Tần ra sao. Sau đó là chuyện chạy trốn khỏi Tần, suýt nữa bỏ mạng nơi đất khách quê người, rách rưới thảm hại về quê, rồi ở trong túp lều cỏ đầu thôn mà lĩnh ngộ được lời giáo huấn của cầm sư, tìm ra sách lược trị thế. Kể về chuyện nửa đêm bất chợt nghe đàn, trong tâm chấn động, rồi ngộ ra sách lược hợp tung trong khi chôn cất lão cầm sư. Rồi chuyện rời nhà tới Triệu thực thi kế sách hợp tung thiên hạ, rồi lại tiếp tục từ Triệu tới Yên, được gặp phu nhân nước Yên, rồi chuyện phu nhân nước Yên hỏi thăm Ngọc Thiền ra sao, nhớ nhung Ngọc Thiền thế nào. Rồi sau đó được Yên Công trọng dụng, trợ giúp mình thực thi đại nghiệp hợp tung ra sao...
Kể về mình, Tô Tần trở nên chọn lọc, không hề nhắc đến những sự nghiệp lừng lẫy như khẩu chiến sáu nước, phát dương đại nghiệp hợp tung, tập hợp sáu nước hội thề ở Mạnh Tân, được đeo ấn vàng của sáu nước, mà chỉ kể lại những sự hoang đường vô lý, ân hận đớn đau và phản tỉnh sâu sắc của bản thân, cùng niềm cảm ân sâu nặng đối với Cơ Tuyết và lão Yên Công. Thậm chí có vài lần quá xúc động, Tô Tần thậm chí còn suýt thổ lộ về mối tình nồng nàn giữa mình và Cơ Tuyết để Ngọc Thiền đừng nên dành tình cảm cho hắn, tuy nhiên, lời ra đến miệng, lại bị gắng gượng nuốt xuống.
Không phải Tô Tần không muốn nói, không dám nói, mà là hắn không thể nói, cũng không nói được nên lời. Cơ Tuyết dù gì cũng là phu nhân của lão Yên Công, mối tình giữa hai người họ chính là giẫm đạp lên Chu lễ, nếu như thổ lộ, khác nào mũi dao đâm nát trái tim Ngọc Thiền.
Chẳng biết trời đã sáng tự lúc nào, bên ngoài thảo đường đã nghe thấy tiếng kêu lích chích của những chú chim cần mẫn.
Có lẽ nói suốt đêm đã mệt, có lẽ cũng đã kể hết những gì cần kể, Tô Tần nhắm chặt hai mắt, lặng im hồi lâu, không nói thêm câu nào nữa.
“Nghe Tô huynh kể chuyện, thật là thú vị!” Ngọc Thiền vòng tay cảm tạ, rồi chậm rãi nói. “Một ngày trong núi bằng vài năm ngoài núi. Thiền Nhi ở trong núi này, ngày lại qua ngày, êm đềm như nước, những sự việc thế gian dần dần nhoà nhạt, ngay cả nỗi nhớ cũng biến thành tiếng đàn mơ hồ phiêu lãng, lúc đứt lúc nối, thi thoảng lắm mới chợt vang lên một tiếng, rồi mau chóng tan biến trong sơn cốc. Cùng là từng ấy năm, Tô huynh lại có nhiều kỳ ngộ, nhiều kỳ thú, nhiều cảm ngộ nhường này, thật khiến Thiền Nhi ngưỡng mộ!”
“Sư tỷ nói vậy, thực khiến Tô Tần hổ thẹn!” Tô Tần vòng tay nói.
“Dám hỏi Tô huynh,” Ngọc Thiền di chuyển ánh mắt về phía hàng dãy vật dụng mà Tô Tần mới chuyển đến tối qua, “Tô huynh tới đây, là để thăm tiên sinh, và mang đến những thứ kia ư?”
“Không giấu sư tỷ,” Tô Tần trầm ngâm hồi lâu, rồi thở dài sườn sượt mà nói, “Tô Tần hợp tung gặp phải trở ngại, tiến thoái lưỡng nan, lần này tới là muốn thỉnh cầu tiên sinh chỉ giáo sách lược, nào ngờ tiên sinh lại... vân du mất rồi!”
“Ồ?” Ngọc Thiền khẽ mỉm cười. “Chuyện này hẳn cũng thú vị. Tô huynh hãy nói thử xem, đã gặp phải trở ngại gì, tiến thoái lưỡng nan ra sao? Thiền Nhi bất tài, nghĩ không ra cách hoá giải, nhưng có thể nghe được chứ?”
Thấy Ngọc Thiền hỏi vậy, Tô Tần cũng chẳng tiện nói gì, đành kể vắn tắt về cục thế khốn đốn trước mắt, rồi thở dài sườn sượt mà nói: “Than ôi, khi tại hạ và Trương sư đệ xuống núi, tiên sinh đã bày ra một thế cục cho hai người tại hạ, dùng đạo đánh cờ để ví von với việc trị thế, và dặn dò rằng, cái đạo thiên hạ thái bình, duy có hai cách, một là nhất thống thiên hạ, hai là chư hầu hoà thuận. Trương sư đệ có hỏi, trong hai cách này, cách nào hay hơn. Tiên sinh trả lời rằng, lòng người không còn thuần phác như xưa, chư hầu đều mang lòng tư lợi, muốn chư hầu hoà thuận, khác nào bảo hổ lột da. Thiên hạ đã giống như người mang ung nhọt trong mình, duy có cách hạ nhanh dao sắc, thi hành thủ thuật phi phàm, mới có thể thành công. Bởi vậy nhất thống chính là thượng sách. Tại hạ bỏ thượng sách nhất thống, đi lựa chọn hạ sách mà khổ sở thực thi. Nay xem ra, mọi thứ đúng như tiên sinh nói, tại hạ đã dốc kiệt tâm tư để khiến chư hầu hợp tung, song sáu nước đều có tâm riêng, đều mưu lợi riêng, khó mà hoà hợp.”
“Dám hỏi một câu, Tô huynh vì lẽ gì mà bỏ đi thượng sách nhất thống?”
“Tại hạ và Trương sư đệ phán đoán gần giống nhau, trong sáu nước, nước có thể nhất thống thiên hạ, hoặc là Tần, hoặc là Sở. Trương sư đệ có thù với nước Tần, đã chọn nước Sở, tại hạ bèn quyết định đến Tần. Tại hạ tìm tới Hàm Dương, sống vài tháng ở Tần, dần dần lĩnh hội về Tần pháp, cảm thấy Tần pháp diệt nhân dục, tuyệt nhân luân, trái với đạo trời. Người Tần chỉ biết tuân theo pháp, chỉ biết nghe theo mệnh, Tần pháp có thể biến người Tần trở thành loài dã thú trong chinh chiến. Nếu để mặc cho giống dã thú này tàn sát bừa bãi, thiên hạ dù có nhất thống, cũng sẽ không thể thái bình dài lâu. Chính vì suy nghĩ này mà tại hạ ăn không ngon, ngủ không yên, nên đã rời khỏi nước Tần, vắt óc tìm sách lược ứng phó, cuối cùng quyết định chọn cách thứ hai mà tiên sinh đã nói, hợp tung liệt quốc, chế ngự nước Tần. Hợp tung vốn là để dừng chiến tranh, nào ngờ hợp tung mới thành, đã khiến ải Hàm Cốc biến thành chiến trường đẫm máu, dân chúng điêu linh, thực trái ngược với mong muốn của tại hạ. Sáu nước phạt Tần, hợp tung bất lợi, liệt quốc nảy sinh hiềm khích nghi ngờ, tại hạ thực sự rơi vào bế tắc.”
Nghe Tô Tần thuật lại một mạch về những tâm nguyện của mình, Ngọc Thiền vô cùng xúc động, đứng dậy vái Tô Tần một vái dài mà nói: “Thiền Nhi xin thay mặt bách tính thiên hạ kính lễ với Tô huynh!”
Tô Tần cũng vội đứng dậy, cúi gập người trước Ngọc Thiền: “Đại lễ của sư tỷ, thật khiến Tô Tần vô cùng hổ thẹn!”
“Tiên sinh đi vắng, dám hỏi Tô huynh có dự định gì?”
“Quân hợp tung chiến bại, người Ngụy nghi ngờ người Triệu cấu kết với người Tần, nên sinh lòng thù hận. Bởi vậy, tại hạ muốn tới nước Triệu, điều tra rõ thực hư.”
“Ồ...” Ngọc Thiền thoáng sững sờ, trầm ngâm một lát, rồi giọng đầy lo lắng. “Tô huynh đường xa vất vả, lại qua một đêm không ngủ, hẳn giờ đã mệt lắm rồi. Hôm nay hãy tạm nghỉ ngơi một ngày, rồi mai lên đường, được chăng?”
“Tạ ơn ý tốt của sư tỷ!” Tô Tần vòng tay. “Thiên hạ nguy cấp, tại hạ còn tiếc gì tấm thân hèn!” Trên gương mặt hiện lên một nét cười gượng gạo, nói thêm một câu. “Hơn nữa, được trò chuyện cùng sư tỷ, tại hạ chẳng hề thấy mệt. Được sư tỷ khích lệ, tại hạ giờ đây khác nào rồng hổ?”
Ngọc Thiền nhìn Tô Tần đăm đăm, một lát sau mới vòng tay mà nói: “Tô huynh khăng khăng muốn đi, Thiền Nhi cũng không miễn cưỡng níu giữ. Đường sá xa xôi, hãy để Thiền Nhi nấu cho Tô huynh một bát cháo nóng!” Rồi quay người lấy gạo, đi xuống nhà bếp bên cạnh thảo đường bận rộn một hồi.
Khi mặt trời lên khỏi Đông Sơn chừng một cây sào, đám Tô Tần và Trâu Phi Đao đã ăn no cháo nóng, từ biệt Ngọc Thiền lên đường.
Đoàn người vừa tới cửa sơn cốc, thình lình bắt gặp một người đứng chặn ngay giữa đường, là một trang nam tử anh tuấn phiêu dật, tiên phong đạo cốt, áo trắng phất phơ.
Dù nam tử này hai tay trống không, tướng mạo ôn hoà, song vẫn khiến Trâu Phi Đao đi đầu giật mình sững lại, đang định lên giọng tra hỏi, thì Tô Tần đã đưa tay ngăn lại, bước lên trước vài bước, nhìn người kia chăm chú.
Nhìn một lát, Tô Tần cảm thấy quen quen, song lại không dám chắc, bèn vòng tay hỏi: “Tiên sinh là...”
Người này khẽ mỉm cười, vòng tay đáp lễ: “Tiểu đồng xin chào Tô sư đệ!”
“Đại sư huynh!” Tô Tần lúc này đã nhận ra, lập tức chạy vụt lại, nắm chặt tay lấy tay người đó, nước mắt ứa ra. “Đại sư huynh!”
Bốn bàn tay siết chặt lấy nhau.
Một lát sau, Tô Tần mới rút tay về, lau nước mắt, ngắm nghía kỹ lưỡng từ đầu tới chân tiểu đồng, cảm khái thốt lên: “Đại sư huynh thoắt cái đã biến thành một trang nam tử nhường này, nếu đại sư huynh không nói ra, sư đệ thực tình không dám nhận.”
“Phải rồi!” Tiểu đồng nở một nụ cười hiền hoà. “Từ sau khi các sư đệ xuống núi, tiểu đồng chẳng tiến bộ được gì, duy có thân người cứ cao lên vùn vụt, chỉ uống nước lã cũng không thể hãm lại.”
“Tối qua nghe sư tỷ nói, sư huynh viễn du tiên cảnh, phải mấy ngày nữa mới trở về, sư đệ bận rộn việc thế tục, không thể chờ lâu, đành phải ôm tiếc nuối mà lên đường, nào ngờ... lại được gặp sư huynh ở đây.”
“Sư đệ đã trở về, tiểu đồng còn viễn du được chăng?” Tiểu đồng lại cười, lấy từ trong tay áo ra một túi gấm, hai tay đưa lại. “Tiên sinh đoán rằng sư đệ hẳn sắp về, trước khi xuất du, đã gửi lại túi gấm này, dặn tiểu đồng giao cho sư đệ.”
“Tiên sinh...” Tô Tần hai tay đỡ lấy túi gấm, quỳ sụp xuống đất, ngước nhìn bầu không lạy liền mấy lạy, bật khóc mà nói. “Đệ tử bất tài, đến giờ... đến giờ lại phải làm phiền tới tiên sinh!”
Đợi Tô Tần kính lễ xong, tiểu đồng mới lùi lại một bước, vòng tay mà nói: “Đường đi trắc trở lại xa xôi, sư đệ lên đường bảo trọng!”
Tô Tần cũng lùi lại một bước, vòng tay nói: “Sư huynh cũng bảo trọng!”
Ngọc Thiền đứng ngoài cửa thảo đường, nhìn theo đám Tô Tần càng đi càng xa, rồi khuất hẳn sau một tảng đá lớn, mới thở dài một tiếng, quay người trở vào trong thảo đường, khép cửa lại, tựa lưng vào cửa, mặc cho nước mắt tuôn rơi lã chã.
Buồn bã một hồi, Ngọc Thiền liền gạt nước mắt, múc nước lạnh rửa mặt, rồi chậm rãi đi vào trong động.
Ngoài núi giá buốt, song trong động lại ấm sực. Tiến lại phía trước tấm rèm vải, Ngọc Thiền dừng bước, đợi trấn tĩnh lại, rồi mới vén rèm, khoan thai bước vào.
Trên một tấm da báo hoa văn lốm đốm, Quỷ Cốc Tử đang ngồi nghiêm trang.
Ngọc Thiền cũng ngồi xuống một tấm da thú chênh chếch trước mặt ông, khẽ nói: “Tiên sinh, Tô Tần đi rồi!”
Quỷ Cốc Tử không đáp.
Trong động tĩnh mịch như tờ, ngay đến hơi thở của hai người một già một trẻ dường như cũng ngưng đọng.
Cuối cùng, một tiếng thở dài bỗng bật ra từ trong cổ họng Quỷ Cốc Tử, dù rất khẽ khàng, song trong sơn động tĩnh mịch như chết, chẳng khác nào tiếng gió rít trong hang trống, hổ gầm chốn rừng xa, mồn một bên tai, ý vị sâu thẳm.
“Dám hỏi tiên sinh, tiếng thở dài này hẳn là vì Tô Tần?” Ngọc Thiền không để lỡ thời cơ, lại lên tiếng.
“Phải!” Quỷ Cốc Tử khẽ gật đầu.
“Tiên sinh,” Ngọc Thiền giọng đầy lo lắng, “Thiền Nhi có một chuyện không hiểu.”
“Nói đi!”
“Tô Tần lặn lội băng tuyết mà tới đây, cớ sao tiên sinh lại tránh mặt không gặp?”
“Thiền Nhi, con đã nhìn thấy sư tử đực chưa?”
Ngọc Thiền lắc đầu.
“Khi sư tử đực còn bé, chỉ quanh quẩn bên chân cha mẹ, nhưng sẽ có một ngày, nó phải rời xa cha mẹ, đi chinh phục thế giới bên ngoài. Khi nó rời nhà, đi một bước ngoái đầu ba lần.”
“Bởi nó biết, nó sẽ không bao giờ trở về nữa, phải không?”
“Đúng vậy!”
“Nếu... nó gặp nạn, đầy mình thương tích thì sao?”
“Nó sẽ tìm lấy một chỗ, tự liếm vết thương cho mình.”
“Tiên sinh!” Ngọc Thiền cắn chặt môi. “Ý tiên sinh là, Tô Tần tới đây...”
“Thiền Nhi, Tô Tần là một con sư tử đực, tới đây không phải để liếm vết thương, mà là tìm cách phá giải cục thế nguy nan trước mắt.”
“Tiên sinh!” Ngọc Thiền mở to mắt. “Tiên sinh biết hết rồi ư?”
“Không những biết hết, mà lão hủ còn bảo tiểu đồng đưa cho hắn cách phá giải!”
Ngọc Thiền thở phào một tiếng, dịch lại gần ông, cúi gục đầu xuống, áp sát vào đầu gối ông. Hồi lâu sau, mới nghiêng mặt nhìn Quỷ Cốc Tử, khẽ hỏi: “Tiên sinh, Thiền Nhi không hiểu về thiên hạ, không hiểu về trị thế, vốn cũng không có ý định tìm hiểu. Song... từ ngày Tô Tần xuống núi, Thiền Nhi lại cứ vô thức mà vấn vương với những chuyện này.”
“Thiền Nhi!” Quỷ Cốc Tử nhìn Ngọc Thiền với ánh mắt hiền từ. “Vương vấn là tình, không hiểu là hiểu. Khi con dần dần thông với đạo, vạn vật trong thiên hạ đều sẽ nằm cả trong lòng bàn tay!”
“Tiên sinh đã kỳ vọng quá cao, Thiền Nhi thực sự không hiểu. Ví dụ như những chuyện dưới đây, Thiền Nhi quả tình không thể nhìn thấu.”
“Cứ nói đi!”
“Tô Tần chọn cách hợp tung để ứng phó với loạn thế hiện nay, có phải là cách thức chính đáng không?”
“Trị lý quốc gia, không có cách thức chính đáng, cũng không có cách thức tà vậy. Thiên hạ có bệnh, chư tử mỗi người tự bắt một mạch, tự kê một đơn, đều có chỗ hay dở. Tuy nhiên, xét cho đến cùng, tuy khác đường song cùng quy về đạo, như trăm sông hợp dòng về biển. Đạo là gốc của trời đất, biển là vực của đồng bằng.”
Ngọc Thiền trầm ngâm hồi lâu, khẽ “vâng” một tiếng, rồi ngẩng đầu hỏi tiếp: “Nghe Tô Tần nói, Trương Nghi đang ở Tần, ắt sẽ nghĩ kế liên hoành ứng phó với hợp tung. Thiền Nhi đã hiểu đạo lý tung hoành, song vẫn còn một điều chưa sáng tỏ, đó là kế hợp tung của Tô Tần, mục đích là ở liệt quốc chung sống hài hoà; còn kế liên hoành của Trương Nghi, mục đích là ở nhất thống thiên hạ. Chung sống hài hoà và nhất thống, đối đầu kịch liệt, như nước lửa tương khắc, mà đại thế thiên hạ, lại chỉ dung nạp một kết cục, hai người họ mỗi người đều chỉ nắm một đầu, theo tiên sinh, ai sẽ thắng đây?”
“Nhìn về lâu dài, Tô Tần tất thắng. Còn nhìn vào hiện tại, Trương Nghi sẽ chiếm thượng phong.”
“Tiên sinh!” Ngọc Thiền hít vào một hơi dài, vừa như bẩm báo, vừa như giải thích giúp Tô Tần. “Nghe Tô Tần nói, hắn thoạt tiên tới nước Tần, muốn giúp nước Tần nhất thống thiên hạ, song thấy luật Tần hà khắc, pháp Tần độc đoán, nước Tần đang dần biến thành một con dã thú chiến tranh. Luật pháp là hình, hình là thuật, thuật lưu hành trong thiên hạ, mà không có đạo chế ngự, hậu quả không thể tưởng tượng. Tô Tần vô cùng sợ hãi nên mới rời khỏi nước Tần, vùi đầu đọc bản ‘Âm phù’ mà tiên sinh chú thích, đã ngộ ra sách lược tung thân chế hoành. Còn sách lược của Trương Nghi, chẳng qua chỉ là suy nghĩ của Tô Tần khi mới tới Tần mà thôi!”
“Con nói rất đúng!” Quỷ Cốc Tử khẽ gật đầu, song lại lắc đầu ngay tức thì. “Cũng không hoàn toàn đúng.”
“Thiền Nhi ấu trĩ, xin tiên sinh giải thích.”
“Tô Tần từ bỏ kế sách giúp Tần nhất thống, là đã nhìn thấy viễn cảnh không tốt đẹp của pháp trị và chuyên chế của Tần, chứng tỏ hắn đã nhìn xa hơn Trương Nghi. Song con đường liệt quốc cùng trị mà hắn đang thúc đẩy, lại giống như đi thuyền ngược dòng, vất vả gấp bội mà thành tựu chẳng mấy.”
“Vì sao?”
“Liệt quốc nếu muốn thực sự cùng trị, quyết không phải chuyện dễ dàng. Nền móng của cùng trị là hạn chế tư dục, coi thiên hạ là chung. Nay thiên hạ tư dục đầy rẫy, Tô Tần lấy lợi hại khắc chế tư dục, lấy sợ hãi khắc chế lòng tham, chọn cách lấy độc trị độc, tuy có thể thu được hiệu quả nhất thời, song muốn duy trì hiệu quả này lại như đi thuyền ngược dòng, vô cùng khó khăn. Trừ bỏ cái riêng tư của sáu nước đã khó như vậy, huống chi là khiến họ đều vì việc chung?”
“Nếu theo lời tiên sinh, thành công trong tương lai hẳn là Trương Nghi?”
“Tương lai ai sẽ thành công, tự có ý trời quyết định. Luận theo tình thế trước mắt, Trương Nghi nỗ lực nhất thống, là thuận theo đại thế của thiên hạ, giống như thuyền đi xuôi dòng, ít vất vả mà hiệu quả gấp bội.”
“Nhưng...” Ngọc Thiền vẫn không cam tâm, “tiên sinh, nghe Tô Tần nói, nếu trong tương lai, người Tần thực sự nhất thống, chắc chắn sẽ thực thi cường quyền hà khắc, gặp nhau trên đường chẳng dám chào hỏi, quan lại chuyên quyền, dân chúng đồ thán. Một thiên hạ như vậy, hẳn không phải là điều tiên sinh mong muốn?”
“Bởi vậy nên ta mới nói, Tô Tần là nhìn về lâu dài. Còn hiện tại,” Quỷ Cốc Tử lấy ra một bàn cờ từ dưới bàn, chỉ vào những đường dọc ngang trên bàn cờ, mỉm cười nói, “chỉ có dọc mà không có ngang, khó lòng thành cục.” Rồi thuận tay lấy ra hai hộp cờ. “Nào, Thiền Nhi, hãy cùng lão hủ tung hoành một ván, được chăng?”
Ngọc Thiền đứng dậy, châm cháy hai cành thông, khiến trong động sáng bừng, sau đó, ngồi xuống đối diện với Quỷ Cốc Tử, cầm lấy hộp quân đen, cười mà nói: “Tiên sinh, Thiền Nhi xin đi trước!”
Trên con đường dịch đạo dẫn tới Hàm Đan, một cỗ xe tứ mã lớn đang lăn bánh khó nhọc trên mặt đường phủ dày tuyết trắng, bánh xe nghiến trên những tảng băng kết từ tuyết đọng, nước, bùn, phát ra những tiếng vỡ lạo xạo.
Trong khoang xe, Tô Tần hai mắt nhắm nghiền, đôi mày rậm chau tít.
Chốc lát sau, Tô Tần bỗng mở trừng mắt, rút từ trong ống tay áo ra chiếc túi gấm mà tiểu đồng đã trao cho, rũ ra một miếng da dê nhỏ.
Tô Tần mở miếng da dê, thấy có bốn hàng chữ viết bằng mực đen, là một bài kệ mười sáu chữ.
Tung hoành thành cục,
Giữ lấy điều trung.
Thiên hạ đại ngã,
Công tư tư công.
Tô Tần hít sâu một hơi dài, rồi khép mắt lại.
“’Tung hoành thành cục’,” Tô Tần lẩm bẩm, “là tiên sinh đã thừa nhận yếu sách trị thế của ta và Trương sư đệ. “’Giữ lấy điều trung’, vốn là lời vua Thuấn răn dạy vua Vũ, tiên sinh dẫn ra đây, có lẽ là răn đe ta phải thận trọng giữ lấy đạo trung chính hoà hợp. Trung chính hoà hợp tức không được thiên lệch, là chuẩn tắc mà tung thân phải giữ gìn, không có gì nghi vấn. ‘Thiên hạ đại ngã’? Đối lập với đại ngã, là tiểu ngã, tiểu ngã là riêng, đại ngã là chung, thiên hạ đại ngã hẳn là thiên hạ của công, thiên hạ của công chính là mục đích sau cùng mà tiên sinh đã đặt ra cho đại cục hợp tung. Vậy còn câu ‘công tư tư công’ nên hiểu thế nào đây? Là sách lược khả thi mà tiên sinh định ra vì thiên hạ của chung ư? ‘Thiên hạ đại ngã, công tư tư công’, nếu căn cứ theo mạch ý nghĩa trước sau, có thể lý giải như vậy. Nếu lý giải như vậy, thì công tư tư công là thế nào? Ngộ nhỡ lý giải như vậy không đúng thì sao...”
Tô Tần lại mở mắt, ánh mắt dừng trên hàng chữ cuối cùng của bài kệ.
Bốn chữ “công tư tư công” rành rành trước mắt.
Hai đầu mày mỗi lúc càng thêm nhíu chặt.
Hồi Thứ 55
Doanh Hoa mượn rượu ép lang quân
Trương Nghi buông lời trừ đối thủ
Sư Lý Tật chỉ nhẹ tênh bật ra bốn chữ “Tử Vân công chúa”, đã khiến công tử Ngang biến thành tù binh nước Tần.
Tuy nhiên, công tử Ngang sớm đã có chí nguyện hy sinh vì nước, dù Tần Công đích thân cởi trói cho hắn, đối xử theo nghi lễ thượng khách, công tử Ngang vẫn không chịu hàng phục. Tần Công chẳng còn cách nào, đành “mời” hắn về Hàm Dương, gửi trong phủ Sư Lý Tật.
Nửa tháng sau, Trần Chẩn từ đất Sở khải hoàn, lập tức vào cung tấu báo với Tần Công, thuật lại tỉ mỉ từ chuyện Chiêu Dương chuẩn bị giao chiến ra sao, sốt sắng lập công như thế nào, rồi mình dùng cách gì để thuyết phục Chiêu Dương, khiến Chiêu Dương thay đổi ý định, rồi Sở Vương ra mật chỉ ngồi yên quan sát. Tần Công nghe xong, nắm chặt tay Trần Chẩn, khảng khái mà thốt lên rằng: “Sáu nước phạt ta lần này, thế như Thái Sơn sập xuống đỉnh đầu. Vào thời khắc nguy nan, người can đảm dấn thân, cứu vãn lấy cơ nghiệp Đại Tần bên bờ sụp đổ, không ai khác chính là ái khanh!”
“Chúa thượng...” Trần Chẩn xúc động đến trào nước mắt, quỳ xuống bật khóc mà nói. “Vi thần chẳng qua chỉ là làm tròn chức trách cỏn con của mình, chúa thượng khen ngợi như vậy, vi thần thực sự... hổ thẹn không dám nhận!”
Tần Công phá lên cười sảng khoái: “Ái khanh bất tất phải khiêm tốn. Lần này ngự địch, sở dĩ đường Hàm Cốc chưa mất, Hà Tây, Thương Ư bình yên vô sự, đều là do người Sở không động binh. Mà người Sở không động binh, công lao là ở một mình ái khanh.”
“Tạ... tạ ơn tri ngộ của chúa thượng!”
“Soạn chỉ!” Tần Công quay sang nội thần. “Trần thượng khanh đi sứ sang Sở đẩy lùi hợp tung, công lao hiển hách, thưởng cho trăm lượng vàng, mười vũ nữ, mười bốn súc gấm lụa, một viên dạ minh châu, một cỗ xe kiệu, hai con ngựa quý.”
Nội thần ghi chép lại từng món đồ vật mà Tần Công ban thưởng.
“Chúa thượng!” Trần Chẩn tạ ơn. “Vi thần chỉ làm chút việc cỏn con, chúa thượng lại ban thưởng hậu hĩnh đến vậy, vi thần thực sự không dám nhận...” Nói rồi khấu đầu lia lịa.
“Ái khanh hãy bình thân!” Tần Công mỉm cười với Trần Chẩn, khẽ phất tay. “So với công trạng to lớn của ái khanh, chút lễ vật này có thấm tháp gì? Hơn nữa, quả nhân còn có một thỉnh cầu!”
Trần Chẩn đứng dậy ngồi vào chỗ, vòng tay nói: “Tấm thân hèn này đã thuộc về chúa thượng, chúa thượng nếu cần sai khiến, vi thần sẵn sàng lao vào dầu sôi lửa bỏng, có chết cũng không từ!”
“Không, không, không!” Tần Công lắc đầu quầy quậy. “Ái khanh là bảo bối của quả nhân, không thể chết được!” Rồi ngả người về phía trước. “Quả nhân nghe nói ái khanh có giao tình mật thiết với công tử của Ngụy Vương là An Quốc Quân, có chuyện này chăng?”
“Quả có chuyện này! Dám hỏi chúa thượng có gì sai bảo?”
“Tần không thiếu binh, có thiếu là thiếu tướng tài điều binh. Nhìn vào trận chiến này, An Quốc Quân phạt Hà Tây của ta, mưu trí vũ dũng hơn người, xứng đáng là tướng tài hiếm có.” Tần Công vòng tay. “Đại tài như vậy, quả nhân thực lòng muốn có được, mong ái khanh trợ giúp.”
“Chúa thượng!” Trần Chẩn ngẫm nghĩ một lát, cười mà như mếu. “An Quốc Quân có phải tướng tài hay không, liệt quốc đều biết rõ. Theo vi thần thấy, về tài điều binh của người này, trí không bằng Công Tôn Diễn, dũng không bằng Tư Mã Thác. Trong tam quân của Đại Tần, người có trí như Công Tôn Diễn, dũng như Tư Mã Thác không phải là hiếm, vậy mà chúa thượng lại coi trọng người này đến vậy, dám hỏi...”
“Than ôi!” Tần Công thở dài một tiếng. “Ái khanh đã hỏi như vậy, quả nhân cũng đành nói thực lòng. Năm xưa khi tiên quân còn tại thế, đã gả em gái ta cho An Quốc Quân, tuy là bị bức bởi tình thế, song em gái ta và An Quốc Quân dù sao cũng có nghĩa vợ chồng. Em gái ta đã lập đại công cho nước Tần, nay lại sống lủi thủi trong cung, gả cho người khác e là không thoả, mà nếu không gả, quả nhân sao có thể đành lòng nhìn nó đơn độc cả đời?”
“Chúa thượng!” Thấy Tần Công nói tới nước này, Trần Chẩn rất đỗi xúc động, vòng tay mà nói. “Lòng nhân từ của chúa thượng, vi thần đã thấu hiểu. Chỉ có điều, An Quốc Quân...” Lại ngập ngừng, sắc mặt lộ vẻ băn khoăn.
“Người này không bị tổn thương lấy một cọng tóc, hiện tại đang ở Hàm Dương, sống trong phủ thượng đại phu. Hôm qua nghe Sư Lý ái khanh nói, An Quốc Quân ôm chí hy sinh vì nước, đã tuyệt thực ba ngày trời. Quả nhân không muốn để hắn chết, mà người duy nhất khiến hắn sống, chỉ có thể là ái khanh!”
“Tạ ơn chúa thượng coi trọng!” Trần Chẩn khẽ vòng tay. “Vi thần xin phụng chỉ tới thăm bạn cũ!”
Hậu viện trong phủ thượng đại phu tĩnh mịch không một bóng người.
Trong một căn phòng bên, cánh cửa hơi hé mở, công tử Ngang mình mặc nhung phục, hai mắt khép hờ, ngồi ngay ngắn trên chiếu.
Trên bàn trước mặt bày vài đĩa thức ăn ngon, đều đã nguội tanh nguội ngắt. Dưới đất để một hũ rượu quý, nắp hũ đã mở, chén rượu trên bàn cũng đã rót đầy, mùi rượu thơm, mùi thức ăn sực nức tứ phía, song rõ ràng chưa có ai động chạm, đôi đũa ngọc vẫn đặt ngay ngắn ở nguyên vị trí.
Cánh cửa cót két mở ra. Trần Chẩn bước vào, từ từ ngồi xuống trước mặt công tử Ngang.
Công tử Ngang rõ ràng đã biết có người tới, tấm lưng càng vươn thẳng, hai mắt càng nhắm chặt.
“Thượng tướng quân, là hạ quan Trần Chẩn tới thăm!” Trần Chẩn nói rất khẽ.
Công tử Ngang rùng mình một cái, mở choàng mắt, hai luồng nhãn quang sắc như lưỡi kiếm chiếu thẳng vào Trần Chẩn.
“Trần Chẩn bái kiến thượng tướng quân!” Trần Chẩn vòng tay nói.
“Hừm!” Công tử Ngang liếc xéo Trần Chẩn, không giấu vẻ khinh miệt. “Ta còn tưởng là ai, hoá ra là kẻ gian này!”
“Hay, hay lắm!” Trần Chẩn dựng ngón tay cái lên. “Thượng tướng quân chửi rất hay!”
“Ngươi...” Công tử Ngang giận dữ. “Thực chưa gặp người nào vô sỉ như ngươi!”
“Không, không, không,” Trần Chẩn lắc đầu quầy quậy. “Thượng tướng quân có thể chửi Chẩn là kẻ gian, song không được chửi Chẩn là vô sỉ.”
“Ồ?” Công tử Ngang khựng lại, hai mắt nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn. “Vì sao lại không thể?”
“Thượng tướng quân hãy xem!” Trần Chẩn cầm lấy chén rượu trước mặt công tử Ngang, đổ ra một ít, chấm ngón tay vào rượu, vẽ ra một chữ “gian” trên mặt bàn. “Ba nữ thành gian (1), nữ là gia thất, gia thất là riêng tư, gian tức là riêng tư. Chẩn là người thô tục, thích sơn hào hải vị, đam mê mỹ nữ, công danh phú quý, là một kẻ gian thực thụ. Song, Chẩn tuy là kẻ gian, nhưng không phải là kẻ vô sỉ. Chẩn ở Ngụy hơn chục năm, thượng tướng quân đã từng thấy Chẩn làm ra chuyện vô sỉ nào chưa? Đã từng thấy Chẩn cướp bóc lừa gạt ai chưa? Đã từng thấy Chẩn bất trung bất hiếu chưa? Đã từng thấy Chẩn vong ơn phụ nghĩa chưa? Đã từng thấy Chẩn ăn nói bất tín chưa? Đã từng thấy Chẩn ngang nhiên cưỡng đoạt chưa? Chẩn dám thề với trời cao, Chẩn đã dựa vào bản lĩnh để kiếm cơm, cũng dựa theo quy củ để làm người, tuy có lòng gian, song biết liêm sỉ.”
“Trần Chẩn!” Công tử Ngang cười nhạt một tiếng. “Tới nước này mà ngươi còn có thể thốt ra những lời đó! Ta hỏi ngươi, ngươi bày ra sòng bạc, dụ dỗ thiếu gia nhà họ Bạch thua sạch gia sản, đã tính là cướp đoạt chưa? Ngươi bịa ra chuyện phượng hót rồng ngâm gì đó, xúi giục phụ vương quay mặt về nam xưng vương, khiến Đại Ngụy từ đó rơi vào nguy cục, đã tính là bất trung chưa? Phụ vương đối đãi với ngươi không tệ, ngươi lại quay lưng với phụ vương, giúp đỡ kẻ thù không đội trời chung với Ngụy, đã tính là vong ân phụ nghĩa chưa? Còn như đời này đã từng làm chuyện bất tín hay không, ngươi hãy tự hỏi lương tâm mình đi!”
“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài một tiếng, nước mắt ứa ra. “Người khác không biết nội tình, nói vậy còn được, sao thượng tướng quân lại có thể thốt ra những lời như thế? Tại hạ mở lầu Nguyên Hanh là thật, song tại hạ mở ra là vì ai? Chẳng phải là vì thượng tướng quân ư? Bạch thiếu gia rơi vào cảnh đó, là do hắn tự nguyện, tại hạ đâu có sai người bức ép hắn? Quay mặt về nam xưng vương vốn là tâm nguyện của bệ hạ, tại hạ nghĩ ra chuyện phượng hót rồng ngâm, là tận trung với bệ hạ. Bệ hạ đối đãi không tệ với tại hạ, song tại hạ cũng đã dốc hết tâm can vì bệ hạ. Còn về việc phải bỏ chạy khỏi Ngụy, thượng tướng quân đã hiểu rõ nội tình. Nếu Chẩn không đi, thượng tướng quân còn có thể gặp Chẩn ở đây chăng? Chuyện giữ chữ tín cũng vậy, Chẩn không muốn tự biện bạch, hãy để công luận phán xét. Người khác không cần nói đến, theo những gì thượng tướng quân biết được, trong những năm qua, Chẩn đã từng làm ra chuyện thất tín nào chưa?”
Công tử Ngang cứng họng không biết phải nói gì.
“Thượng tướng quân!” Trần Chẩn lau nước mắt. “Những năm qua, nỗi lòng của Chẩn, duy có tướng quân là hiểu rõ. Oan khuất của Chẩn, cũng chỉ có thể giãi bày với tướng quân. Chẩn thoát được hoạ lăng trì của Bàng Quyên, cũng coi như đã chết một lần. Từ ngày Chẩn đến Tần, vốn cho rằng đã chẳng còn ai tri kỷ, nào ngờ ý trời thương tình, nay được gặp lại thượng tướng quân, có chết cũng không còn gì đáng tiếc!” Rồi lấy từ trong giỏ ra một cái chén, bưng hũ rượu lên, rót đầy vào chén, hai tay nâng chén rượu đầy đưa tới trước mặt công tử Ngang.
Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, Trần Chẩn chính là khắc tinh của công tử Ngang, mới thốt ra vài lời, đã khiến công tử Ngang không còn cách nào phản bác. Thấy Trần Chẩn cung kính dâng rượu mời mình, công tử Ngang không thể từ chối, lưỡng lự một hồi rồi cũng đưa tay nhận lấy.
“Thượng tướng quân!” Trần Chẩn nâng chén rượu trước mặt lên. “Không nói tới chuyện này nữa, hãy cạn chén vì mối giao tình bao năm qua giữa hai ta!” Nói xong, uống liền một hơi, rồi chìa chén rượu trơ đáy về phía công tử Ngang.
Công tử Ngang nhắm mắt lại, cũng một hơi cạn chén.
“Nào!” Trần Chẩn lấy ra một đôi đũa, gõ lanh canh lên đĩa thức ăn. “Thượng tướng quân, hãy lót dạ một chút để còn uống rượu. Ở đây không có người khác, hai ta phải uống thật say mới được!”
Đã có một, đương nhiên sẽ có hai. Công tử Ngang thở dài một tiếng, cầm đũa lên, gắp thức ăn bỏ vào miệng.
Do tuyệt thực đã ba ngày trời, thể lực suy yếu, trong bụng đói khát, giờ lại ăn uống đột ngột, lấy đồ nhắm làm cơm, lấy rượu làm nước, nên chưa đầy nửa canh giờ sau, công tử Ngang vốn dĩ tửu lượng cũng khá đã chịu không nổi, uống thêm chén đầy nữa thì tinh thần kích động, trước tiên là gõ cành cạch chén rỗng xuống bàn, tiếp đến đứng lên nhảy múa điên cuồng, đâm cả đầu vào cột trụ, sau đó nằm phủ phục dưới chân cột trụ gào khóc thống thiết.
Trần Chẩn ngồi im tại chỗ, không động thanh sắc, thấy tiếng khóc của công tử Ngang đã nhỏ lại, mới từ từ đứng dậy, tiến lại gần, hai tay đặt lên vai hắn ấn mạnh một cái mà nói: “Bắt đầu từ hôm nay, tại hạ không gọi công tử là thượng tướng quân nữa, cũng không gọi là An Quốc Quân nữa, mà sẽ gọi là Ngang huynh!”
“Trần huynh...” Công tử Ngang siết chặt tay Trần Chẩn. “Ngụy Ngang đời này sống thật uổng hoài!”
“Ngang huynh, hãy nói thử xem, uổng hoài thế nào?”
“Ngụy Ngang từ nhỏ say mê binh pháp, song hễ chiến là bại, khó khăn lắm mới đánh được một trận thống khoái, mà nay lại trở thành tù binh...” Công tử Ngang nghẹn họng không nói tiếp được nữa, lại đập đầu vào cột trụ.
“Bởi vậy, Ngang huynh, hãy nghe Chẩn nói một câu, núi xanh còn đó, sợ gì không có củi đun. Hãy nghĩ cho rộng, cơ hội chinh chiến ngày sau còn nhiều!”
“Tại hạ...” Công tử Ngang siết chặt nắm đấm, khiến các khớp ngón tay kêu lên răng rắc.
“Ngang huynh, đời người như mộng, nâng rượu ca vang. Thôi, hôm nay không nói chuyện này nữa, uống rượu!” Trần Chẩn nắm lấy cánh tay hắn, kéo trở lại trước bàn, tiếp tục nâng chén rượu mời.
Uống thêm vài chén nữa, công tử Ngang đã say mềm như bún. Trần Chẩn khẽ thở dài một tiếng, sai người cõng hắn lên xe, đưa về phủ của mình, sắp xếp tỳ nữ hầu hạ.
Trong trận chiến Hàm Cốc, nước Tần dựa vào sức mạnh một nước mà đối đầu với liên quân sáu nước, không thắng cũng coi như đã thắng.
Đây cũng là một lần hiện diện thực thụ trên vũ đài liệt quốc của Tần Công kể từ sau khi kế vị. Một tháng sau cuộc chiến, Tần Công hạ lệnh kiểm kê tổn thất, trợ giúp người bị thương, phủ tuất người tử chiến, tiếp đó luận công ban thưởng, tất cả các tướng sĩ như Công Tôn Diễn, Trần Chẩn, Tư Mã Thác, công tử Hoa, Sư Lý Tật, Cam Mậu, phàm là người tham chiến, đều được ban thưởng hậu hĩnh. Dù là Ngô Thanh bị công tử Ngang đánh cho tơi bời hoa lá, phải đóng chặt cửa không dám ló đầu ra, thất thủ liền vài chục ấp Hà Tây, song nhờ có kế sách ứng phó khôn khéo mà giúp Tần tránh khỏi tổn thất nặng nề hơn, đã không bị trách phạt, ngược lại còn được thăng tước một bậc.
Tần Công trên triều ban thưởng cho hàng loạt triều thần, duy chỉ không có Trương Nghi.
Triều thần cũng không bàn tán gì, đa phần cho rằng hắn tuy tham chiến, song không lập được công lao, do hắn chưa chém nổi lấy một cái đầu, cũng không trực tiếp cầm quân, mưu sách cũng là ngấm ngầm, đa phần chỉ nói cho một mình Tần Công nghe, dù là Công Tôn Diễn cũng không biết được.
Trương Nghi mới đầu cũng lấy làm ngạc nhiên, cho rằng Tần Công hẳn có sắp đặt khác, song đợi liền vài ngày, vẫn không thấy nói năng gì, dường như trường đại chiến này không có mảy may liên quan gì tới Trương Nghi hắn.
Trong thành Hàm Dương, mọi phủ trạch đều tổ chức ăn mừng, duy có phủ hữu thứ trưởng của Trương Nghi là im lìm như thóc thối, đừng nói là quản gia Tiểu Thuận tính khí hiếu thắng cảm thấy mất mặt, mà ngay cả Hương Nữ cũng tỏ ra bất bình, bảo hắn vào cung đòi lại công bằng. Song Trương Nghi rõ ràng đã nhìn thấu sự tình, chỉ cười mà nói rằng, trò hay còn ở phía sau, bảo Hương Nữ lập tức chuẩn bị tiệc rượu, sắp có khách quý tới nhà.
Quả đúng như vậy. Không lâu sau đó, vài cỗ xe ngựa đỗ xịch trước phủ, ba người Sư Lý Tật, công tử Hoa, Tư Mã Thác cùng bước xuống xe, đi thẳng vào chính đường.
Hương Nữ bày rượu thịt, bốn người vừa uống rượu vừa chuyện trò rôm rả, không đầy nửa canh giờ sau, đều đã ngà ngà say. Trong đám, chỉ có Sư Lý Tật hiểu rõ công lao của Trương Nghi, lúc này uống đã nhiều, bèn mượn rượu tỏ ý bất bình, công tử Hoa lớn tiếng phụ hoạ. Được biết việc mình xuất kỳ binh vốn là kế của Trương Nghi, Tư Mã Thác lấy làm thán phục, lập tức tỏ ý lúc nào lên triều sẽ thỉnh công cho Trương Nghi.
“Chư vị!” Trương Nghi xua xua tay, cầm chén rượu cười mà nói. “Tại hạ gọi chư vị tới, không phải cầu chư vị giúp tại hạ thỉnh công.”
Đám người thoáng ngỡ ngàng.
“Tại hạ có hai chuyện. Thứ nhất là,” Trương Nghi nâng chén rượu lên, “mời chư vị uống rượu. Tại hạ tuy là kẻ nát rượu, song không thích uống rượu buồn, mong chư vị trợ hứng. Nào, xin mời nâng chén!”
Ba người đua nhau nhấc chén rượu lên.
Trương Nghi nâng chén, vòng tay hướng về mọi người, một hơi uống cạn.
Song ba người không nâng chén, chỉ mở thao láo hai mắt nhìn hắn chằm chằm, đợi lời tiếp theo.
“Thứ hai là,” Trương Nghi mím môi, “là muốn tặng chư vị một công lao.”
Ba người đều đặt chén rượu xuống.
Trương Nghi ra hiệu, ba người bèn chụm đầu lại. Trương Nghi nói liền một lèo, ba người nghe xong thảy đều sửng sốt, đưa mắt nhìn nhau.
“Chư vị!” Trương Nghi cất lời dứt khoát. “Nếu tin tưởng tại hạ, hãy làm theo lời tại hạ, chắc chắn không có sai lầm.”
Sau một hồi trầm ngâm, ba người lần lượt gật đầu.
“Tốt lắm!” Trương Nghi lại rót một chén rượu. “Nào, vì công trạng này, cạn chén!”
Bốn người cùng chạm chén.
Nửa tháng sau đó, vào buổi đại triều trong cung Tần, Trương Nghi khởi tấu rằng nửa đêm quan sát thiên văn, thấy trên bầu trời Hàm Dương vương khí xung thiên. Công tử Hoa khởi tấu có phượng hót ở Kỳ Sơn, Sư Lý Tật khởi tấu thấy rồng bay ở Vị Thuỷ, Tư Mã Thác khởi tấu có kỳ lân xuất hiện ở ngoại ô phía bắc Hàm Dương. Mấy vị trọng thần kẻ xướng người hoạ, theo nhau bẩm tấu toàn những tượng lạ điềm lành, khiến toàn bộ triều đường nhất thời ngơ ngác.
Giống hệt như quần thần, Tần Công cũng trợn mắt kinh ngạc. Sau khi định thần trở lại, Tần Công đổi mặt làm giận, trách cứ mấy người một trận nên thân, nói vài câu vu vơ khuôn sáo đại loại như “địch lớn tuy đã lui, song hợp tung còn đó, cuộc chiến đầu tiên tuy thắng, song không được nôn nóng tự mãn, quay mặt về nam xưng vương...”, sau đó hạ lệnh bãi triều, phẩy ống tay áo bỏ đi.
Văn võ bá quan trong triều quay mặt nhìn nhau, rồi cùng đổ dồn ánh mắt vào người khởi tấu đầu tiên là Trương Nghi. Trương Nghi vỗ tay đôm đốp vài tiếng, rồi cũng quay người bước đi.
Chẳng ai hiểu nổi vì sao hắn lại vỗ tay.
Công Tôn Diễn đầy vẻ ngỡ ngàng, khép mắt suy nghĩ một hồi, rồi khẽ thở dài một tiếng, cũng lắc đầu bỏ đi.
Nhìn theo bóng Trương Nghi xa dần, khoé miệng Trần Chẩn bỗng hiện lên một nét cười méo mó rất khó hiểu, chau tít đôi mày tỏ rõ niềm thán phục, từ từ hít vào một hơi dài. Đúng vậy, những lời này đều là trò hay mà ông ta đã từng diễn, song năm xưa ông ta diễn trò này vất vả là thế, mà nay Trương Nghi lại chỉ tiện miệng nói bừa, đến một nhân chứng vật chứng cũng chẳng thèm chuẩn bị.
Quan trọng là, Trương Nghi đã diễn đúng thời điểm.
Luận theo tình thế thiên hạ, Tần Công cũng đã tới lúc xưng vương.
Suốt vài ngày liền, Tần Công không buồn lên triều.
Công tử Hoa có chuyện muốn bẩm tấu, nghe nói quân chủ đang ở trong ngự hoa viên, bèn tới đó cầu kiến, song bị nội thần túc trực chặn lại bên ngoài cổng. Công tử Hoa bèn kéo nội thần lại, hỏi rõ đầu đuôi.
“Không giấu công tử!” Nội thần khẽ nói. “Mấy ngày nay chúa thượng tâm sự trùng trùng, cả ngày chỉ ngồi ngơ ngẩn, đừng nói là gặp người khác, đến ăn uống cũng giờ giấc đảo lộn. Có điều, hôm nay tâm trạng có vẻ tốt hơn, nghe nói hoa nghênh xuân trong vườn nở rộ, đã khởi giá tới thưởng hoa, mọi người đều phấn khởi. Nội tể đặc biệt căn dặn tiểu nhân canh gác ở đây, bất cứ ai tới cũng không cho phép vào, tránh làm chúa thượng mất hứng.”
“Ồ...”
“Nếu là việc gấp, công tử hãy chờ ở đây, đợi lúc chúa thượng trở ra, có thể yết kiến.”
“Cũng được!” Công tử Hoa vòng tay cảm tạ, rồi tiến lại chỗ con đường rợp bóng cây gần đó lững thững tản bộ.
Đang dạo bước, chợt công tử Hoa nghe thấy có tiếng chân bước líu ríu phía sau, một mùi hương thanh tao thoảng tới, bèn quay đầu lại nhìn, ngạc nhiên thốt lên: “Vân muội!”
Là Tử Vân công chúa!
“Nhị ca!” Tử Vân dừng bước, hơi thở có phần hổn hển.
“Vân muội, có chuyện gì mà phải vội vàng đến thế?”
“Tìm nhị ca!” Tử Vân đưa mắt lườm công tử Hoa.
“Tìm ta?” Công tử Hoa cười vui vẻ. “Có đồ ăn ngon chăng, hay là có chuyện gì thú vị?”
“Nhị ca lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện tốt cho mình,” Tử Vân lại trách móc, “chưa bao giờ chịu nghĩ cho Tử Vân!”
“Ồ, Vân muội!” Công tử Hoa trông càng hớn hở. “Nói như vậy là oan cho nhị ca rồi! Nhị ca hỏi Vân muội, đã có lúc nào nhị ca không nghĩ cho Vân muội chưa? Đã có chuyện gì nhị ca không nghĩ cho Vân muội chưa? Nhớ năm xưa Vân muội muốn ăn quả trường thọ trong chậu hoa của lão thái hậu, là ai đã đi hái trộm về cho Vân muội ngay dưới cây gậy đầu rồng của lão thái hậu?”
“Chỉ bảo nhị ca trộm quả một lần, mà tối ngày ra rả bên miệng!” Tử Vân làm bộ giận dỗi.
“Được rồi, được rồi!” Công tử Hoa tiến lại, dịu giọng hỏi. “Vân muội muốn nhị ca làm gì, xin cứ hé miệng ngọc!”
“Vân muội...” Tử Vân mặt thoáng ửng hồng, “muốn gặp một người!”
“Ai?”
“Chính là... chính là... chính là...” Mặt Tử Vân càng đỏ bừng.
Công tử Hoa cười hề hề, ghé sát tai nàng thì thào: “Là An Quốc Quân ư?”
Tử Vân nhổ phì một cái, giơ tay túm chặt lấy vành tai công tử Hoa, nghiến răng uất hận: “Còn nhắc tới tên đáng chết đó, xem cái tai này đứt làm đôi!”
“Ái chà!” Công tử Hoa ôm tai xoa lấy xoa để. “Không phải là hắn... thì là ai?”
“Chính là người mà nhị ca thường nhắc tới đấy!”
“Ồ...” Công tử Hoa thoáng bối rối. “Nhị ca thường nhắc tới nhiều người lắm, Vân muội muốn gặp người nào?”
“Chính là... cái người miệng biết nói năng đấy!”
Công tử Hoa gãi đầu gãi tai: “Vân muội ơi, cái miệng nào mà chẳng biết nói năng?”
“Hữu thứ trưởng!” Tử Vân công chúa thẳng thừng. “Chính là Trương Nghi!”
“Trương Nghi?” Công tử Hoa sững sờ. “Vân muội, chuyện này... chuyện này không được!”
“Tại sao?”
“Tại vì...” Công tử Hoa vò đầu bứt tai, “tại vì Trương Nghi đã có gia thất lâu rồi!”
“Tử Vân biết rồi. Phu nhân của chàng tên là Hương Nữ, cơ thể bẩm sinh toả hương thơm lạ, còn biết múa kiếm!”
“Phải, phải, phải!” Công tử Hoa dựng ngón tay cái tỏ vẻ khen ngợi. “Vân muội quả nhiên tai mắt tinh tường!”
“Nhị ca!” Khuôn mặt Tử Vân đã không còn sắc hồng, trong mắt ánh lên vẻ cương quyết ngang ngạnh, chiếu thẳng tới công tử Hoa. “Vân muội đã ưng ý người này, nhị ca nhất định phải giúp!”
“Chuyện này...” Công tử Hoa vô cùng lúng túng. “Vân muội có điều không biết, Trương Nghi và phu nhân ân ái mặn nồng. Không giấu Vân muội, nhị ca chưa từng nghe nói hắn gặp gỡ người đàn bà nào khác bên ngoài, trong phủ cũng không nạp thiếp, hẳn Trương Nghi là kẻ chung tình!”
“Nếu họ không mặn nồng, nếu kẻ đó không chung tình, thì Tử Vân cũng chẳng thèm để mắt!” Tử Vân càng nói càng kiên quyết. “Nhị ca, em đã ưng chàng rồi, em muốn gặp chàng.”
Rõ ràng Tử Vân không phải nhất thời suy nghĩ nông nổi, mà thực sự đã phải lòng. Công tử Hoa trấn tĩnh trở lại, hít sâu một hơi, ngẫm nghĩ một hồi, rồi vỗ đánh đét vào trán mà nói: “Có rồi!”
“Nhị ca hãy nói mau!”
“Trương Nghi rất ham rượu, nhị ca sẽ chuốc hắn say mèm, để Vân muội và hắn gạo nấu thành cơm, thế nào?”
“Chuyện này...” Tử Vân sắc mặt đỏ ửng, chần chừ một lát, rồi lập tức gật đầu. “Cũng được! Nghe nói Hương Nữ năm xưa cũng thành hôn với chàng bằng cách này.”
“Ồ!” Công tử Hoa kinh ngạc. “Vân muội thực thần thông, chuyện gì cũng biết, còn hơn cả đám Hắc Điêu của nhị ca!”
Tử Vân ngượng ngùng, cúi gằm mặt xuống.
Nghĩ lại việc mình cần tấu không thực quan trọng, công tử Hoa lập tức đổi ý, mời Tử Vân tới phủ của mình, dặn dò Phạm Trù chuẩn bị rượu và đồ nhắm ngon lành, đích thân đi mời Trương Nghi.
Trương Nghi sớm đã nghe nói về hũ rượu trăm năm, thấy công tử Hoa tới mời, không chút chần chừ, cất bước đi ngay.
Phạm Trù trổ hết tài nghệ, chuẩn bị một bàn thức ăn đầy ắp với đủ loại món nguội món nóng ngon lành, lại múc lấy một bình từ hũ rượu lâu năm do tổ tiên để lại, bày giữa sảnh đường. Trương Nghi vừa bước vào sân đã ngửi thấy mùi rượu thơm ngào ngạt, tấm tắc khen ngợi, lập tức sà ngay vào mâm, ngồi phịch xuống chiếu.
Công tử Hoa cũng chẳng nhiều lời, liền ngồi xuống đối diện với Trương Nghi, cầm lấy bình rượu đã bày sẵn trên bàn, hít hà vài cái, hào hứng kể lại sự tích về hũ rượu trăm năm của dòng họ Phạm, rồi nói rằng số người được uống rượu này chỉ đếm được trên đầu ngón tay, ở đất Ngụy, duy chỉ có hai người chết và hai người sống là từng được uống. Hai người chết là ông nội và cha của Phạm Trù, hai người sống là Tôn Tẫn và công tử Hoa. Đừng nói là Bàng Quyên, đến Ngụy Vương cũng chưa từng được nếm. Mà ở đất Tần, được uống rượu này cũng chỉ có ba người, một là Tần Công, hai là Doanh Kiền, phụ thân của công tử Hoa, và ba là Trương Nghi. Trương Nghi chưa uống đã say, cầm bình rượu lên, hít hà vài cái, đang định rót rượu vào chén thì công tử Hoa ngăn lại.
“Trương huynh, khoan đã!” Công tử Hoa cầm lấy bình rượu, tươi cười mà nói. “Nay có mỹ tửu, phải có mỹ nhân rót rượu mới đúng!” Nói xong, vỗ tay một tiếng, Tử Vân xiêm y trắng muốt, tha thướt bước vào, không thấy châu báu xa hoa, không thấy tô son điểm phấn, chỉ thấy hai má ửng hồng, đôi mắt long lanh, ánh mắt liếc khoé miệng cười đều toát lên một vẻ đẹp tinh khôi quyến rũ.
Dù Trương Nghi là kẻ lịch duyệt đã nhiều, song lúc này vẫn nhìn mà ngơ ngẩn, trong lòng thốt nhiên xao động, bèn quay sang công tử Hoa khen ngợi: “Quả là mỹ nữ, công tử nhà vàng giấu giai nhân, hôm nay tại hạ đã có phúc ngắm nhìn!”
“Tiểu nữ đa tạ lời hay ý đẹp của tiên sinh!” Tử Vân quỳ xuống, cầm lấy bình rượu, khoan thai rót vào trong chén, cử chỉ giống hệt tỳ nữ bình thường.
Nhìn trang phục của Tử Vân, Trương Nghi cho rằng nàng chỉ là tỳ nữ trong phủ, thì không hỏi thêm gì, quay sang vừa trò chuyện với công tử Hoa, vừa thưởng mỹ tửu.
Quả là rượu ngon. Chẳng mấy chốc, “rượu tiên” trong bình đã thưởng hết, mà tửu hứng của hai người chỉ vừa mới khởi đầu. Công tử Hoa bèn sai người mang lên tiếp bình rượu ủ ba mươi năm, vui vẻ uống tiếp.
Có mỹ nữ rót rượu, lại có mỹ tửu hiếm có dạo đầu, hai người càng thêm tận hứng. Chưa đầy nửa canh giờ sau, hũ rượu lâu năm đã trơ đáy, công tử Hoa lại gọi người mở tiếp một hũ nữa, đồng thời gọi người vào ca múa. Mười sáu nhạc công lần lượt tiến vào, quỳ ngay ngắn dưới chiếu, tấu khúc nhã nhạc. Mời sáu vũ nữ uyển chuyển lướt ra, múa theo tiếng nhạc. Âm nhạc du dương, thế múa yêu kiều, lại có mỹ nhân hầu rượu, công tử chuốc rượu liền tay, Trương Nghi không thể cưỡng lại, chốc lát đã uống tới say mèm.
Người khác say mèm, hoặc nôn hoặc ngủ, Trương Nghi say rượu, lại nổi tính điên khùng, đột nhiên đứng phắt dậy, lảo đảo bước ra giữa sân nhảy múa. Tử Vân thấy vậy, cũng đứng dậy theo, tiến lại bên hắn múa cùng. Trương Nghi hai mắt lờ đờ, Tử Vân thiết tha tình tứ, nhảy múa chưa được bao lâu, hai thân thể đã một qua một lại, áp sát vào nhau.
Thấy Trương Nghi chân bước xiêu vẹo, công tử Hoa liền ra hiệu, Tử Vân bèn dìu ngay hắn vào phòng bên, đỡ hắn nằm lên giường.
Khi Trương Nghi tỉnh dậy đã là nửa đêm. Trong phòng vài ngọn đèn vẫn cháy, hai chậu than đỏ lửa, không gian sáng sủa lại ấm sực. Tử Vân nằm gọn trong lòng hắn, đang ngủ say sưa, nhưng xiêm y lỏng lẻo, đầu tóc xoã rối, thứ gác lên bộ ngực đầy đặn nửa kín nửa hở của nàng chính là cánh tay hắn.
Trương Nghi kinh hãi đến toát mồ hôi hột, cuống quýt buông vội tay ra, lật người ngồi dậy.
Trương Nghi cử động khiến Tử Vân cũng choàng tỉnh dậy theo. Phát giác ra tình thế khó xử, Tử Vân thẹn thùng đỏ mặt, luống cuống khép vội xiêm y, chẳng kịp để ý chỉnh trang đầu tóc, cứ thế chạy vụt ra khỏi phòng.
Thấy Tử Vân bỏ chạy, Trương Nghi mới thở phào một tiếng, hồi tưởng lại toàn bộ những sự việc xảy ra tối qua, vỗ vào trán liền mấy cái, lẩm bẩm: “Trương Nghi, uống rượu là gây chuyện, nhớ kỹ lấy, nhớ kỹ lấy!”
Ngái ngủ mất một lúc, cảm thấy mót tiểu, Trương Nghi đứng dậy, vội đi tìm nhà xí mà không thấy, nhìn ngó xung quanh chẳng thấy ai, bèn xả bừa vào một bụi trúc trong sân, rồi quay trở vào phòng, đổ người xuống giường ngủ tiếp.
Khi Trương Nghi tỉnh lại, trời đã sáng bảnh, trong sân vọng lại tiếng người.
Tiếp đó là tiếng bước chân rậm rịch, rồi công tử Hoa xuất hiện.
Nhớ lại chuyện đêm qua, Trương Nghi tỏ vẻ ngượng ngùng, vòng tay mà nói: “Rượu ngon của công tử, đã khiến Trương Nghi gây chuyện hổ thẹn!”
Công tử Hoa cũng vòng tay, cười sảng khoái mà rằng. “Nghe nói Trương huynh là người nồng nhiệt, đến hôm qua mới tin! Rượu không làm say người, mà là người tự say. Trương huynh uống đến sau cùng, hai mắt đờ đẫn, trong mắt chỉ có mỹ nhân, đến tại hạ cũng không thèm đếm xỉa.”
Trương Nghi khắp mặt nóng ran: “Là công tử mưu hại tại hạ!”
“Ồ, đã được lợi còn lên mặt, trên đời này sao lại có kiểu người như Trương huynh kia chứ?” Công tử Hoa được thể lấn tới.
“Được rồi, được rồi!” Trương Nghi vòng tay vái lia lịa. “Tại hạ phục công tử rồi!” Rồi ngẩng nhìn sắc trời. “Tại hạ xin cáo từ, suốt đêm qua không về phủ, Hương Nữ hẳn đang lo lắng!”
“Này Trương huynh!” Công tử Hoa vẫn không buông tha. “Trương huynh chỉ biết tới tẩu phu nhân, lẽ nào không hỏi xem đêm qua đã ân ái canh thâu, gối ấp tay kề với ai ư?”
“Là ai?” Trương Nghi trong lòng giật thột.
“Chính là ngự muội ruột thịt của bệ hạ Đại Tần tương lai!” Công tử Hoa nhìn thẳng vào Trương Nghi, khẽ mỉm cười, hào hứng nói tiếp. “Huệ nhãn của Tử Vân công chúa đã nhắm trúng Trương huynh, tại hạ sắp được uống rượu mừng của Trương huynh rồi!”
Trương Nghi mặt mày thất sắc, hồi lâu sau mới thở dài một tiếng: “Than ôi, uống rượu mừng cái nỗi gì? Công tử, lần này công tử đã đẩy tại hạ lên tường lửa rồi!”
Sau nhiều ngày không lên triều, Tần Công đột nhiên cho gọi đại lương tạo Công Tôn Diễn và thượng khanh Trần Chẩn vào cung yết kiến, khiến hai người đều giật mình kinh ngạc.
Qua lại chưa được vài câu khách sáo, Tần Công đã lập tức nhắc đến bản tấu của Trương Nghi, nhìn hai người chằm chằm mà nói: “Hai vị ái khanh, trời giáng điềm lành, hữu thứ trưởng và các quan dâng tấu xin quả nhân tế trời tế đất, quả nhân không dám làm trái ý trời, song tế lễ trời đất là sự việc vô cùng trọng đại, quả nhân trong lòng thấp thỏm, nay cho gọi hai vị ái khanh tới là muốn nghe cao kiến của hai vị, mong hai vị cứ nói thẳng suy nghĩ trong lòng.”
Công Tôn Diễn, Trần Chẩn đưa mắt nhìn nhau, rồi đều cúi đầu xuống.
Một lát sau, thấy hai người không ai chịu mở miệng, Tần Công bèn chỉ đích danh: “Công Tôn ái khanh!”
“Chúa thượng!” Công Tôn Diễn vòng tay mà nói. “Tấu của hữu thứ trưởng, vi thần cho rằng có ba điều không thoả đáng.”
“Ồ?” Huệ Văn Công ngả người về phía trước. “Ái khanh cứ nói!”
“Thứ nhất,” Công Tôn Diễn liền nói thẳng, “trời giáng điềm lành chỉ là lời đồn thổi, vi thần đã sai người điều tra, tới nay vẫn chưa có bằng chứng xác thực. Theo Tần pháp, không có bằng chứng thì không coi là thực. Thứ hai, liệt quốc Sơn Đông đều đã xưng vương, chúa thượng lúc này lại xưng tôn là bám gót liệt quốc, đã không có gì mới mẻ, cũng khó gây được tiếng vang. Thứ ba, những lời lẽ mà chúa thượng năm xưa từng biện luận với Tô Tử trên Luận Chính đàn, hẳn đã lan truyền khắp thiên hạ, liệt quốc đều nhớ rõ.” Công Tôn Diễn phản đối thẳng thừng Trương Nghi, liên tiếp đưa ra ba điều phản bác, điều nào cũng nhằm trúng trọng tâm. Điều thứ nhất, ở nước Tần, Tần pháp là tối thượng, Trương Nghi tuy suy tính chu toàn, song lại chưa nghĩ tới điều này. Điều thứ hai, chẳng khác nào nhắc lại lời Huệ Văn Công đã nói trước triều đường, dùng ý quân chủ để phản đối Trương Nghi. Còn điều thứ ba, chính là phủ định triệt để tấu chương của Trương Nghi.
Ba lời phản bác này, hiển nhiên là nằm ngoài dự liệu của Tần Công. Tần Công vuốt râu trầm ngâm, không gian lặng phắc như tờ.
Suy nghĩ hồi lâu, Tần Công mới ngẩng đầu, nhìn thẳng vào Công Tôn Diễn: “Ái khanh hẳn có mưu kế lâu dài?”
“Vi thần cho rằng,” Công Tôn Diễn nhân đà nói luôn, “sáu nước hợp tung mưu phạt ta, kẻ thù tuy đã rút lui, song nguy cục chưa được phá giải, ta nên dùng ba sách lược để ứng phó. Thứ nhất là ngấm ngầm tụ thế, tích thảo đồn lương, chuẩn bị chiến sự. Thứ hai là kết giao với liệt quốc, ổn định Nhung Địch, biến thù thành bạn. Thứ ba là theo mưu kế của Tô Tử, chọn thời điểm thích hợp để xưng đế thiên hạ, nhằm áp đảo quần hùng.”
“Ý của ái khanh là, không xưng vương mà xưng đế?” Huệ Văn Công chất vấn.
Công Tôn Diễn hiểu ý, nên ậm ờ không tiện nói tiếp.
“Về bản tấu của Trương Tử, Trần ái khanh có ý kiến gì chăng?” Huệ Văn Công im lặng một lát, rồi quay sang hỏi Trần Chẩn.
“Hồi bẩm chúa thượng!” Trần Chẩn vòng tay bẩm tấu. “Trời giáng điềm lành, ắt có chứng thực, chúa thượng có thể hạ lệnh cung cấp bằng chứng. Chuyện tế lễ đất trời, đã liên quan tới trời đất thì nên nghe theo ý trời, chúa thượng có thể tới Thái miếu bốc quẻ!”
“Ái khanh nói rất phải!” Huệ Văn Công gật gù, rồi vòng tay tiễn khách. “Quả nhân đã làm phiền hai vị ái khanh!”
Công Tôn Diễn, Trần Chẩn bái lạy cáo từ, rồi cùng rời khỏi cung.
Vừa bước xuống bậc thềm trước điện, Công Tôn Diễn rõ ràng không muốn đi cùng Trần Chẩn, đang định sải bước đi luôn thì Trần Chẩn đã dừng lại, vòng tay hướng về phía Công Tôn Diễn vái một vái mà nói: “Công Tôn huynh dừng bước!”
“Ồ?” Công Tôn Diễn cũng dừng bước, ngoảnh đầu nhìn lại, song không đáp lễ. “Là Trần đại nhân đấy ư, chữ ‘huynh’ thực không dám nhận, xin hỏi có việc gì?”
“Tại hạ đã chuẩn bị một bình trà nhạt, muốn mời đại lương tạo nể mặt tới phẩm bình!” Trần Chẩn lại vòng tay nói.
“Phẩm bình thì không dám!” Công Tôn Diễn vòng tay hờ hững. “Tạ ơn đại nhân hậu ái! Chỉ có điều tại hạ bận việc tối mắt, kính mong lượng thứ.” Nói đoạn, lập tức quay người, sải bước đi luôn.
Trần Chẩn biết Công Tôn Diễn vẫn ghi hận chuyện năm xưa, nhìn theo bóng hắn, buồn bã than rằng: “Than ôi, Công Tôn huynh, bụng dạ hẹp hòi là vậy, đến một Trần Chẩn còn không dung nổi, sao có thể là đối thủ của Trương Nghi?” Rồi khẽ lắc đầu, đi thẳng đến phủ Doanh Kiền.
Mấy ngày sau đó, dưới sự phát động của Trương Nghi, Sư Lý Tật, công tử Hoa, triều thần đua nhau dâng tấu, mọi quận huyện lũ lượt tấu báo về các điềm may mắn lạ thường, nhân chứng vật chứng cũng lũ lượt hội tụ về Hàm Dương. Trên bàn đại lương tạo bày la liệt tấu báo về các tượng lạ từ các nơi gửi đến và tấu chương của quần thần thỉnh cầu tế trời.
Đến lúc này, Công Tôn Diễn mới hiểu ra mình đã làm ra chuyện ngu xuẩn, đang ăn năn hối hận, thì ngoài cổng phủ bỗng vọng vào tiếng ồn ào huyên náo. Một đoàn vệ sĩ lao thẳng vào sân, giương thương đứng hầu. Công Tôn Diễn luống cuống chạy ra nghênh đón, vừa ra khỏi cửa sảnh đường đã thấy Huệ Văn Công phăm phăm bước vào, lập tức quỳ xuống dập đầu nghênh giá, được Huệ Văn Công kéo dậy, cầm tay dắt vào trong sảnh đường, phân ngôi quân thần ngồi xuống.
“Công Tôn ái khanh!” Huệ Văn Công khách sáo vài câu, khoé mắt liếc nhìn chồng tấu chương trên bàn, rồi đi ngay vào việc chính. “Tấu chương chỗ ái khanh nhiều thực!”
“Khởi bẩm chúa thượng!” Công Tôn Diễn vòng tay đáp lời. “Vi thần đang định vào cung, tấu báo lên chúa thượng việc này.”
Huệ Văn Công nhìn Công Tôn Diễn bật cười: “Không ngờ quả nhân đã đi trước một bước.” Rồi chỉ tay vào chồng tấu chương. “Những bản tấu kia, ái khanh thấy sao?”
“Chúa thượng!” Công Tôn Diễn lại vòng tay nói. “Trời giáng điềm lành, nơi nơi tượng lạ, nhân chứng vật chứng đều đã đầy đủ ở chỗ vi thần. Vài ngày trước, vi thần sai người ban đêm quan sát thiên văn, thấy Bắc Đẩu chuyển hướng, sao trời di dịch, cán sao Bắc Đẩu chỉ thẳng vào phân dã đất Tần, sao Tử Vi sáng rực lạ thường, là khí tượng đế vương. Ý trời không thể trái, ý dân phải thuận theo, bởi vậy vi thần cho rằng, chúa thượng có thể tế trời, quay mặt về nam xưng vương.”
“Ôi!” Huệ Văn Công thở dài một tiếng. “Công Tôn ái khanh, kỳ thực quả nhân tới đây, không phải để nói chuyện này với ái khanh!”
“Chúa thượng?” Công Tôn Diễn ngẩn người.
“Ở đây không có ai khác, quả nhân cũng nói thực với ái khanh,” Huệ Văn Công chỉ tay vào chồng tấu chương trên bàn, “tất cả những thứ này, chẳng qua đều là đặt chuyện, trong lòng quả nhân hiểu rõ, trong lòng ái khanh cũng hiểu rõ. Quả nhân muốn nói rằng, vật đổi sao dời, sáu nước cùng xưng vương phạt ta, nếu quả nhân vẫn âm thầm thu mình, bên trong không thể khích lệ chí dân, bên ngoài không thể ngang bằng liệt quốc, nên vương vị này, quả nhân không thể không ngồi lên!”
Thấy Huệ Văn Công bộc bạch như vậy, Công Tôn Diễn lấy làm cảm động, hít vào một hơi dài, rồi quỳ xuống đất khấu đầu mà nói: “Chúa thượng, là vi thần mưu tính thiển cận!”
“Ái khanh hãy bình thân!” Huệ Văn Công chìa tay nói, thấy Công Tôn Diễn đã đứng dậy, ngồi vào chỗ cũ mới tiếp lời. “Mưu của ái khanh không phải thiển cận, mà là trước đó quả nhân đã tự chặn đường mình.”
“Chúa thượng...”
“Được rồi!” Huệ Văn Công xua tay. “Chúng ta không nhắc tới chuyện này nữa. Tế trời thế nào, xây dựng chế độ ra sao, quả nhân muốn nghe ý kiến của ái khanh.”
“Hồi bẩm chúa thượng!” Công Tôn Diễn sớm đã chuẩn bị sẵn sàng, bẩm tấu vắn tắt. “Nếu là việc này, vi thần xin có lời tấu.”
“Cứ nói!”
“Pháp trị của Thương Quân tuy rằng có lợi cho trồng trọt chinh chiến, song quá ư hà khắc, đặc biệt là pháp chế liên đới, dân chúng đều khiếp sợ. Dùng uy thế để trị dân, dân sợ mà phục chứ tâm không phục, có thể áp dụng trong chiến tranh, nhưng không thể coi là kế sách lâu dài. Nên vi thần to gan tấu thỉnh chúa thượng mượn uy tế trời, phỏng theo triều chế Trung Nguyên, đặt ra phủ tướng quốc, sửa sang pháp trị của Thương Quân, thi hành nền chính trị mới mẻ, trị dân bằng lòng khoan nhân, dùng đức cai trị thiên hạ, thành tựu vương nghiệp.”
Lời tấu của Công Tôn Diễn, hiển nhiên không phải là suy nghĩ nông nổi nhất thời.
“Công Tôn ái khanh!” Huệ Văn Công khép hờ hai mắt, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, rồi mở mắt đáp. “Dân Tần không có giáo hoá, khó mà nói lý, chỉ có dùng luật để nghiêm trị, không thể khoan dung. Pháp trị của Thương Quân thi hành ở Tần đã lâu, dân Tần đều đã hiểu pháp, cũng đều sợ pháp, luôn coi luật pháp là tối thượng, nếu như phế bỏ, lại là không ổn. Có điều, như ái khanh đã nói, thay đổi thích hợp vẫn có thể được. Còn như chế độ quan lại, không thể rập khuôn theo Trung Nguyên, song có thể cải cách, xây dựng chế độ tướng quốc. Ái khanh hãy dựa vào đây soạn ra một bản điều trần, ba ngày sau lên triều, tấu báo với quả nhân.”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Ba ngày sau, trong buổi đại triều của cung Tần, Công Tôn Diễn dâng tấu, Tần Công ban chỉ tế trời.
Đến tháng tư, Tần Công chọn ngày tốt, tế bái trời đất tại ngoại ô Hàm Dương, chiếu cáo thiên hạ, chính thức xưng vương, tức là Tần Huệ Vương. Cùng ngày, Huệ Vương ban chỉ thiết lập phủ tướng quốc, một lần nữa chiếu mệnh bá quan.
Phủ tướng quốc tuy đã đặt ra, song lại chưa lập tướng quốc. Chính vào lúc quần thần đều đang ngỏng cổ chờ xem vị trí này thuộc về tay ai, Tần Vương lại hạ chỉ cho quần thần từ cấp ngũ đại phu trở lên, bao gồm cả quan thú thừa các quận huyện, đều có thể tiến cử tướng quốc. Tất cả thư tín tiến cử vẫn gửi tới phủ đại lương tạo như cũ, do đại lương tạo thống nhất tấu báo.
Rõ ràng, về việc phong ai làm tướng quốc, Tần Vương vẫn đang cân nhắc.
Tần Huệ Vương quả thực lấy làm khó xử trước việc lựa chọn tướng quốc. Lựa chọn duy nhất của ông chính là Trương Nghi, song vấn đề là Công Tôn Diễn biết phải sắp xếp thế nào đây?
Công Tôn Diễn quả thực là bậc đại tài, sau khi tới Tần, liên tiếp lập đại công, lại giữ chức đại lương tạo thống lĩnh bá quan đã nhiều năm, triều thần và quận huyện các nơi không ai không phục. Nếu bỏ Công Tôn Diễn phong Trương Nghi, Công Tôn Diễn sẽ nghĩ thế nào đây? Dựa vào chí của Công Tôn Diễn, ắt sẽ bỏ Tần mà đi. Tần đã mất Tô Tần, lại mất Công Tôn Diễn, chi dựa vào một Trương Nghi, biết chế ngự liệt quốc ra sao?
Huệ Vương nhất thời chưa nghĩ ra giải pháp, đột nhiên sực nhớ tới tiền thái phó Doanh Kiền, bèn vội vã tới thăm. Lựa chọn tướng quốc là việc vô cùng hệ trọng, thân là lão thần tiền triều, lão thái phó có uy vọng khá cao trong công thất nước Tần, Tần Vương rất muốn nghe lời khuyên của ông ta. Kết quả là, Tần Vương còn chưa mở miệng, Doanh Kiền đã lên tiếng tiến cử Trần Chẩn. Trong mắt ông ta, Trần Chẩn mới là đại tài thực thụ, còn hơn Thương Ưởng không biết bao nhiêu.
Huệ Vương chỉ cười, hỏi thăm sức khoẻ, lại tán hươu tán vượn dăm ba câu rồi cáo từ ra về.
Huệ Vương chân trước vừa đi, Trần Chẩn chân sau đã tới, đến tìm Doanh Kiền đánh cờ.
Bàn cờ còn chưa bày, lão thái phó đã vòng tay chúc mừng: “Trần Chẩn, lão hủ có lời chúc mừng!”
“Chúc mừng?” Trần Chẩn ngẩn người. “Dám hỏi thái phó, vãn bối có chuyện gì đáng mừng?”
“Tướng quốc tương lai!” Lão thái phó nở nụ cười bí hiểm, hạ thấp giọng. “Không giấu gì ngươi, vừa nãy bệ hạ tới thăm lão hủ, lão hủ đoán bệ hạ muốn trưng cầu việc phong tướng quốc, bèn tiến cử ngươi với bệ hạ. Ngươi đoán thử xem bệ hạ phản ứng thế nào? Gật đầu lia lịa, mặt mày hớn hở! Ha ha, tiểu tử ngươi cứ đợi mà ngồi vào ngôi tướng quốc đi!”
Rõ ràng, Doanh Kiền đã già rồi. Người già giống như trẻ nít, suy nghĩ cũng trở nên ngây thơ.
Nhìn mái đầu bạc trắng và nét mặt thực thà trước mắt, Trần Chẩn cười gượng một tiếng, vòng tay mà nói: “Đa tạ lão thái phó yêu mến!” Rồi bày bàn cờ, hai tay đưa lại hộp cờ quân đen. “Thái phó, mời đi trước!”
“Ồ!” Doanh Kiền lấy làm ngạc nhiên. “Tên tiểu tử này, đại hỷ lâm môn, ngươi không tạ ơn lão hủ, lại bắt lão hủ đi trước?” Rồi đẩy hộp cờ sang một bên, lắc đầu quầy quậy. “Làm cụt cả hứng của lão hủ, không được, không được!”
“Không giấu thái phó,” Trần Chẩn lại nở một nụ cười méo xẹo, “việc chọn tướng quốc, đại vương sớm đã định đoạt rồi!”
“Ồ?” Doanh Kiền lại sửng sốt. “Là ai?”
“Hữu thứ trưởng Trương Nghi!”
“Sao kia?” Doanh Kiền đập bàn. “Ngươi nói là cái tên ăn trộm ngọc Hoà thị bích ở nước Sở đấy ư? Hắn là cái thá gì? Không được, không được, lão hủ lập tức vào cung hỏi Tứ Nhi cho ra nhẽ!”
Doanh Kiền đứng dậy định đi, song Trần Chẩn sống chết giữ chặt vạt áo kéo lại. Đang lúc giằng co thì công tử Hoa trở về thăm phụ thân, Doanh Kiền túm ngay lấy hắn, gặng hỏi chuyện này. Công tử Hoa nói thác rằng không biết.
“Thấy chưa thấy chưa?” Doanh Kiền phấn khởi ra mặt, quay sang Trần Chẩn. “Tiểu tử đúng là đoán mò. Hoa Nhi và Tứ Nhi chơi với nhau từ bé, thân thiết như hình với bóng, nếu Tứ Nhi lựa chọn ai thì Hoa Nhi phải biết chứ!”
Trần Chẩn tự khắc cũng hiểu rõ chỗ nguy hại bên trong, bèn vòng tay vái công tử Hoa mà nói: “Vừa rồi tiền bối và tại hạ có nhắc tới chuyện tướng quốc, là tại hạ suy đoán bừa bãi, công tử chớ coi là thật, cũng xin đừng để lộ chuyện này ra ngoài!”
“Trần đại nhân!” Công tử Hoa vái đáp lễ. “Tại hạ trong lòng đã hiểu” Rồi nhìn ông ta chằm chằm. “Nhân tiện hỏi luôn, nếu quả là đúng như lời đại nhân vừa đoán, đại vương phong hữu thứ trưởng làm tướng quốc, đại nhân thấy sao?”
“Ồ!” Trần Chẩn thở dài một tiếng. “Không giấu công tử, tại hạ vì Đại Tần đi sứ sang Sở, phụng ý chỉ đại vương mà kết oán với Trương Nghi. Tại hạ từng tới Quỷ Cốc thám thính, ở đất Sở lại kết giao với Nghi nhiều ngày, đã hiểu rõ con người này. Trong chư tử ở Quỷ Cốc, Trương Nghi khác hẳn với Tô Tần, Tôn Tẫn, nhưng lại có vài phần giống với Bàng Quyên, chỉ có điều còn hơn gấp mấy lần. Trương Nghi được trọng dụng ở Tần, tất không dung tha tại hạ, tại hạ hẳn là nguy mất!”
Mâu thuẫn giữa Trần Chẩn và Trương Nghi, công tử Hoa đương nhiên thừa biết, bèn an ủi: “Trần đại nhân suy nghĩ thái quá rồi! Bề tôi ai vì chủ nấy, đại nhân phụng chỉ mưu sự, Trương Nghi sao lại không hiểu? Hơn nữa, trước khác nay khác, Trương Nghi giờ đã cùng đại nhân phò tá một chủ, cùng mưu vương nghiệp, hẳn sẽ không so đo tính toán chuyện trước đây.”
“Được thế thì còn gì bằng!” Trần Chẩn lại vái mà nói. “Nếu công tử rảnh rỗi, cũng mong nói giúp Chẩn vài lời hay ho trước mặt Trương Tử.”
“Đa tạ đại nhân tin tưởng, tại hạ sẽ tận lực!”
Khi công tử Hoa tới phủ hữu thứ trưởng “nói lời hay ho”, Trương Nghi quả như Trần Chẩn dự đoán, nghiến răng kèn kẹt, thề rằng sẽ bắt Trần Chẩn trả giá.
Nói ra cũng thật trùng hợp, trời vừa lên đèn, Tần Vương không hẹn mà tới, lại còn mang theo rượu thịt, nói là muốn uống rượu cùng Trương Nghi trong đình hóng mát ở hậu hoa viên. Vua tôi không ai nhắc tới chuyện trong triều, chỉ đơn thuần uống rượu.
Rượu qua vài tuần, Trương Nghi mượn rượu nói ý: “Bệ hạ, vi thần nghe nói có người hai chân giẫm hai con thuyền, nhấp nhỉnh muốn chuồn đi bất cứ lúc nào!”
“Ồ?” Tần Vương thoáng sững sờ, cho rằng hắn đang ám chỉ Công Tôn Diễn, bèn cười mà hỏi. “Ái khanh hẳn không phải đang nói tới đại lương tạo đấy chứ?”
“Đại lương tạo là người quang minh lỗi lạc, vi thần không dám xếch mé!”
“Ái khanh ý nói...” Huệ Vương lại cười một tiếng, lập tức hiểu ra, “là Trần ái khanh ư?”
“Đại vương thánh minh!”
“Ái khanh dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Theo thần được biết,” Trương Nghi dõng dạc đáp lời, “Trần Chẩn ở Sở, rất được lệnh doãn Chiêu Dương tin tưởng, giao tình giữa họ không phải tầm thường. Không chỉ lệnh doãn, nghe nói Sở Vương cũng rất ưu ái Chẩn, Chẩn ra vào đài Chương Hoa giống như ra vào nhà mình. Vùng sơn cốc Thương Ư vốn là của Sở, mấy năm trước lại bị Thương Quân cướp mất. Sáu trăm dặm sơn cốc này là yết hầu của Sở, Tần, là nơi binh gia đều muốn tranh giành, nên người Sở đã coi Tần như kẻ địch. Chẩn thân là sứ Tần, song lại được cả vua tôi nước Sở sủng ái, sự lạ lùng trong đó, không nói cũng rõ!”
“Ái khanh đa nghi thái quá rồi!” Tần Vương cười nói. “Trần ái khanh đi sứ sang Sở, là do một tay quả nhân sắp xếp; kết giao với Chiêu Dương, bức ép ái khanh, cũng là tuân theo mệnh lệnh của quả nhân. Theo những gì đã biết, Trần ái khanh ở Sở, không hề làm việc gì quá đáng.”
“Trong thời gian vi thần trị Việt, có xét xử một án kiện, đại vương có muốn nghe chăng?”
“Quả nhân muốn nghe!”
“Có một nữ tử phong lưu thành tính, dan díu với vô số đàn ông, vài lần kết hôn đều bị trả về, song do dung mạo xinh đẹp, giọng nói ngọt ngào, giỏi chiều chuộng nũng nịu, nên luôn có đàn ông muốn lấy. Lại sau một lần nữa bị trả về, cha mẹ cô ta giận vì con gái mất nết, bôi nhọ dòng tộc, nên đã cấm cửa không cho vào nhà. Cô ta khóc lóc thảm thiết, thề thốt là sẽ sửa chữa lỗi lầm. Cha mẹ vốn nhân từ, nên lại cho phép cô ta trở về tự sám hối. Sau vài tháng hối lỗi, cô ta quả nhiên có thay đổi, ngôn hành cử chỉ đều trở nên hiền thục. Cha mẹ mừng rỡ, lại nhờ người mai mối gả chồng. Hàng xóm xung quanh đều biết cô ta, không ai chịu cưới. Có một vị khách từ phương xa tới, do không rõ sự tình, thấy cô ta xinh đẹp dịu dàng, cử chỉ đoan trang, trông lại phong tình quyến rũ, bèn đem sính lễ tới cưới về. Chưa đầy ba tháng, cô ả tật cũ tái phát, thông dâm với nô bộc, bị người chồng phát hiện. Nô bộc trong lúc hoảng loạn, đã đâm chết người chồng, gây thành án kiện.”
Ý tứ đã rõ rành rành, Tần Vương khẽ chau mày: “Ý ái khanh là, Trần Chẩn có hai lòng?”
“Không phải hai lòng, mà là ba lòng, bốn lòng! Thần nghe nói, Trần Chẩn mới đầu ở Vệ, là mưu đồ giúp Tống. Tới Tống, lại mưu đồ giúp Ngụy. Khi ở Ngụy, lại ngấm ngầm cấu kết với Thương Quân, mưu đồ giúp Tần. Nay Chẩn tới Tần, đại vương có dám trông mong con người này một lòng vì Tần?”
Tần Vương hít vào một hơi dài, đôi mày càng nhíu chặt.
“Theo thần đoán,” Trương Nghi nhân đà tiến tới, “trong thất cường liệt quốc, nước có thể bá chủ thiên hạ, không phải Tần thì là Sở, nên Tần Sở vốn không đội trời chung. Tần coi Sở là kẻ thù, Sở coi Tần là đại địch. Là sứ thần của kẻ địch, quân thần nước Sở tại sao chỉ tin mình Trần Chẩn? Đại vương nước Sở, chẳng lẽ lại chỉ vì ả vũ nữ da trắng kia ư? Đường đường là lệnh doãn, chẳng lẽ lại thiếu vài rương châu báu? Bởi vậy, vi thần ngờ rằng người này đã dùng nội tình quốc gia để đổi lấy lòng Sở.”
Tần Vương khép hờ hai mắt, chìm vào suy tư, hồi lâu sau mới ngẩng đầu mà nói: “Lời của ái khanh, không thể không suy xét. Có điều, bắt gian dâm phải bắt cả đôi, bắt trộm cướp phải có tang chứng, không có chứng cứ, bảo quả nhân xử lý thế nào đây?”
“Nếu không nằm ngoài dự đoán của vi thần,” Trương Nghi đáp, “sắp tới, Trần Chẩn có lẽ sẽ tới từ biệt đại vương.”
“Từ biệt?” Tần Vương sửng sốt. “Cớ sao lại từ biệt?”
“Bỏ Tần sang Sở!”
“Chuyện này... không thể!”
“Nếu đại vương không tin, cứ hỏi thử sẽ biết!”
Tần Vương vốn muốn nghe ý kiến của Trương Nghi về việc lựa chọn tướng quốc, nào ngờ lại bị Trương Nghi chuyển hướng sang Trần Chẩn, tâm tư bỗng nhiên nặng trĩu, càng nghĩ càng thấy hoang mang. Cứ thế mấy ngày trời, Tần Vương cuối cùng không chịu nhịn nổi, bèn cho gọi Trần Chẩn vào cung, trò chuyện dăm ba câu thì đi ngay vào chuyện chính: “Trần ái khanh, quả nhân cho gọi khanh tới, là có một việc nan giải.”
“Hẳn là việc chọn tướng quốc?” Trần Chẩn hỏi thẳng.
“Đúng vậy! Theo ý ái khanh, người nào phù hợp với vị trí này?”
“Trương Nghi!”
“Ồ?” Tần Vương thoáng sững sờ, hít sâu vào một hơi, rồi khẽ gật đầu, chuyển sang chuyện khác. “Quả nhân nghe nói, ái khanh tới đây sắp sửa đi xa, có ý này chăng?”
“Đại vương thánh đoán, vi thần quả là có ý này!”
“Ái khanh muốn đi đâu, quả nhân sẽ chuẩn bị xe ngựa cho ái khanh.”
“Tạ ơn ân điển của đại vương!” Trần Chẩn vòng tay nói. “Vi thần muốn tới Sở.”
Tần Vương nghe vậy, phá lên cười lớn: “Chuyến đi này của ái khanh, đúng là đã có người đoán trúng!”
“Đại vương, dung thứ cho vi thần mạo muội đoán bừa, người đoán trúng về vi thần, hẳn là vị tướng quốc tương lai!”
“Là ai không quan trọng!” Tần Vương lại cười vài tiếng, hai mắt nhìn xoáy vào Trần Chẩn. “Chỉ là hắn có kể về một án kiện, nghe cũng rất thú vị.”
“Dám hỏi đại vương, là án kiện gì?”
“Về một người đàn bà không tiết hạnh, do luôn có hai lòng mà gây tai hoạ cho nhà chồng, dẫn đến án mạng.”
“Vi thần bất tài, xin được nghe về vụ án.”
Tần Vương thuật lại một lượt vụ án đúng như Trương Nghi đã kể, sau đó, hai mắt như hai ngọn đuốc nhìn thẳng vào Trần Chẩn.
“Vi thần không có án kiện nào để kể!” Trần Chẩn trầm ngâm một lát, rồi vòng tay đáp lời. “Song cũng có một chuyện thú vị, đại vương có muốn nghe chăng?”
“Quả nhân muốn nghe.”
“Người Sở nọ có một vợ một thiếp, thiếp trẻ tuổi xinh đẹp, đương nhiên không cần phải nói, còn vợ tuy lớn tuổi, song phong tư vẫn đẹp đẽ như xưa. Có khách đến chơi, ở lại nhà người Sở này, chọc ghẹo người vợ, bị cô ta chửi rủa thậm tệ, lại quay sang tán tỉnh người thiếp, thiếp chỉ chống chế lấy lệ, không lâu sau thì rơi vào tay khách. Khách ở đó chưa lâu thì người Sở chết, có người bạn hỏi rằng: ‘Giờ thì anh đã như ý rồi, vậy tôi hỏi anh, anh muốn cưới người nào.’ Khách bèn đáp: ‘Cưới người vợ.’ Người bạn sửng sốt: ‘Ồ, người vợ chửi rủa anh, người thiếp chiều lòng anh, vì sao không cưới thiếp mà lại cưới vợ?’ Khách cười nói: ‘Nay đã khác trước, suy nghĩ cũng đã thay đổi. Khi là khách ở nhờ, tôi chọn người chiều lòng mình. Còn nay cưới vợ ở nhà, tôi chọn người sẽ vì tôi mà chửi rủa những gã đàn ông khác’.”
Trần Chẩn trong nháy mắt đã nghĩ ra câu chuyện này để đáp trả, Tần Vương lấy làm thán phục, dựng ngón tay cái tấm tắc khen ngợi: “Ái khanh thực nhanh trí!”
“Tạ ơn đại vương quá khen!” Trần Chẩn đáp lời. “Không phải vi thần nhanh trí, mà là câu chuyện này lưu truyền rộng rãi ở đất Sở, vi thần chẳng qua có mối xúc cảm mà nhớ đến thôi.”
“Tấm lòng của ái khanh, quả nhân đã rõ. Chỉ là, quả nhân rất muốn biết, có người dự đoán ái khanh sẽ rời Tần tới Sở, quả nhân cũng đoán biết ái khanh sẽ rời Tần tới Sở, ái khanh trong lòng đã hiểu rõ, tại sao vẫn nói thực với quả nhân rằng muốn rời Tần tới Sở?”
“Hồi bẩm đại vương!” Trần Chẩn cười gượng một tiếng. “Ngoài đất Sở ra, vi thần đâu còn có nơi nào khác để đi!”
“Ồ?” Tần Vương sửng sốt. “Ái khanh cớ sao lại nói vậy? Thiên hạ rộng lớn, lẽ nào ái khanh chỉ có đất Sở để đi?”
“Đúng vậy!” Trần Chẩn lại cười buồn. “Đại vương thử nghĩ mà xem, tướng quốc tương lai đã đoán vậy, đại vương đã biết vậy, vi thần nếu tới nơi khác, chẳng phải sẽ trái với mong muốn của đại vương và tướng quốc hay sao? Còn như vi thần có tiết lộ nội tình đất nước cho Sở hay không, câu chuyện vừa rồi đã biện bạch giúp vi thần. Hẳn đại vương cũng biết, Sở Vương không phải là hôn quân, Chiêu Dương cũng không phải tướng tầm thường. Vi thần nếu dâng tặng nội tình của Tần cho Sở, sẽ chẳng khác gì thiếp của người Sở kia, đại vương lẽ nào tin rằng Sở Vương, Chiêu Dương sẽ trọng dụng vi thần?”
“Đối đáp thực khéo léo!” Tần Vương buột miệng khen ngợi. “Trần ái khanh, quả nhân đã tin khanh, cũng mong khanh hãy tin quả nhân. Thế này vậy, ái khanh nếu đã có ý đi sang đất Sở, quả nhân đương nhiên sẽ chấp thuận, lần này xin tặng ái khanh hai mươi cỗ xe, một trăm dật vàng, hai mươi ca kỹ, vẫn đối đãi theo lễ tiết sứ giả Đại Tần, ái khanh thấy sao?”
“Đại vương...” Trần Chẩn cảm kích không sao tả xiết, khấu đầu sát đất, bật khóc mà nói. “Vi thần... vi thần...”
“Ái khanh mau bình thân!” Tần Vương đích thân đỡ ông ta dậy. “Ái khanh ra đi lần này, muốn ở lại đất Sở bao lâu thì cứ ở, lúc nào cảm thấy mệt mỏi, lại trở về đây. Dù ái khanh ở đâu chăng nữa, quả nhân vẫn sẽ nhớ tới khanh. Hãy nhớ rằng, đất Tần mãi mãi là nhà của khanh. Quả nhân mãi mãi là người thân của khanh.”
“Đại vương!” Trần Chẩn nghẹn ngào. “Chẩn... xin ghi lòng tạc dạ!”
Từ trong cung trở về, Trần Chẩn lo sợ đêm dài lắm mộng, liền dặn nô bộc lập tức chuẩn bị, ngay sáng sớm mai lên đường.
Trần Chẩn đang thu dọn tư trang thì những đồ vật ban thưởng và hai mươi ca kỹ đã từ trong cung chuyển tới. Sau khi kiểm nhận xong xuôi, trời đã tối mịt. Trần Chẩn đang định đi nghỉ, đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, bèn sai người hầu bưng theo thức ăn, tự mình xách theo một hũ rượu lâu năm, chậm rãi tiến về phía dãy nhà bên trong phủ.
Nơi đây chính là chỗ ở của công tử Ngang.
Nghe tiếng chân bước, công tử Ngang vội ra cửa đón, vòng tay vái chào: “Nghe tiếng bước chân, biết ngay là Trần huynh tới!”
Trần Chẩn đặt hũ rượu xuống, vòng tay đáp lễ, nói: “Ngang huynh, tại hạ tới đây để từ biệt huynh!”
“Từ biệt?” Công tử Ngang sửng sốt. “Trần huynh, chuyện là thế nào?”
“Uống đã rồi hãy nói.”
Trần Chẩn xách hũ rượu vào phòng, đuổi hết nô bộc đi, bày rượu thịt, rót rượu vào chén, vừa uống rượu cùng công tử Ngang, vừa kể từ đầu chí cuối chuyện gây thù chuốc oán với Trương Nghi ra sao cho công tử Ngang nghe, cuối cùng than thở mà rằng: “Than ôi, Trần Chẩn đây thực là người mệnh khổ, vất vả bao năm ở Ngụy, chưa có được một ngày mở mày mở mặt, đã vô duyên vô cớ đắc tội với Bàng Quyên, bị ép tới Tần. Vừa mới được khởi đầu, đã lại gặp ngay Trương Nghi. Đệ tử Quỷ Cốc đúng là khắc tinh của tại hạ!” Rồi lắc đầu ngao ngán, nâng chén. “Nào nào, Ngang huynh, cạn chén!”
Song công tử Ngang lại đặt chén rượu xuống, hai mắt thẫn thờ.
“Ngang huynh?” Trần Chẩn ngạc nhiên, đưa mắt nhìn.
“Được rồi, được rồi!” Công tử Ngang nhanh chóng lấy lại tinh thần, nâng chén rượu lên, ngoài mặt tuy cười mà giọng nói rầu rĩ. “Đất Sở rộng lớn, Trần huynh đi lần này, khác nào thuồng luồng xuống biển, rất đáng chúc mừng. Nào, Ngụy Ngang xin được chúc mừng!” Nói đoạn, ngửa cổ một hơi uống cạn.
“Ngang huynh!” Trần Chẩn lại không uống, đặt chén rượu xuống, hai mắt nhìn chằm chằm vào công tử Ngang. “Tại hạ thỉnh cầu đại vương, cũng đã được đại vương khẩu dụ, toà trạch viện này từ mai trở đi sẽ là của Ngang huynh. Còn danh phận của Ngang huynh thế nào, đại vương ngày sau sẽ ra chiếu mệnh.” Bên khoé miệng Trần Chẩn lộ ra một nụ cười ít nhiều chua chát. “Sẽ có một ngày, thời thế đổi thay, nếu Chẩn còn có may mắn trở lại đất Tần, trở lại phủ này, sẽ là khách dưới cửa của Ngang huynh.”
“Trần huynh...” Công tử Ngang sững người.
“Đêm nay từ biệt, tại hạ có vài lời muốn hỏi Ngang huynh.”
“Trần huynh cứ nói!”
“Ngang huynh liệu có từng nghĩ đến con đường sắp tới?”
“Có! Nếu có một ngày, Doanh Tứ cho gọi tại hạ tới, đợi khi gặp hắn, tại hạ sẽ thỉnh mệnh hồi quốc!”
Trần Chẩn lắc đầu lia lịa.
“Có gì không thoả đáng ư?”
“Không giấu công tử,” Trần Chẩn đổi cách xưng hô, “theo tại hạ biết, công tử đã không thể về được nữa rồi!”
“Tại sao?” Công tử Ngang sửng sốt hỏi.
“Bởi vì tất cả người Ngụy đều tin chắc công tử đã tử trận sa trường, Bàng Quyên đã thỉnh công cho công tử, Ngụy Vương bệ hạ cũng đã hạ chỉ lập bài vị cho công tử ở chính điện trong Thái miếu, mũ trụ của công tử và mũ trụ của hai mươi dũng sĩ đều được hợp táng tại ải Lâm Tấn. Nếu công tử về, sẽ là người? Hay là ma đây?”
Chén rượu rỗng không tuột khỏi tay công tử Ngang rơi xuống đất đánh “xoảng”, công tử Ngang kinh hãi bàng hoàng.
“Công tử!” Giọng Trần Chẩn không nhanh không chậm. “Đối với người đời, đối với Đại Ngụy, thượng tướng quân công tử Ngang ngày xưa đã tuẫn thân vì nước, không thể sống lại. Có điều, trước mắt công tử vẫn có ba con đường.”
Công tử Ngang ánh mắt thẫn thờ.
“Thứ nhất, sống tạm cho qua ngày. Thứ hai, xin chết. Thứ ba, dốc sức vì Tần.”
Công tử Ngang con ngươi khẽ động, nhìn sang Trần Chẩn.
“Nếu công tử mong được bảo toàn tính mệnh, có thể đi theo con đường thứ nhất, ngày mai tại hạ lập tức đưa công tử theo tới Sở, hai người chúng ta sẽ quên bỏ sự đời giữa vùng sông nước, tiêu dao tự tại, vui cảnh an nhàn. Nếu công tử chấp nhận số mệnh, thoả mãn với công danh hiện tại, có thể đi theo con đường thứ hai, người thực lòng muốn chết, dưới gầm trời không thuốc nào cứu được. Nếu công tử không chấp nhận số phận, không cam chịu thua, vẫn muốn làm một tướng quân thực thụ xông pha sa trường, chứng tỏ bản sắc đại tướng, nhờ vào bản lĩnh để lập công dựng nghiệp, lưu tiếng thơm cho hậu thế, có thể đi theo con đường thứ ba.”
Thời gian như ngưng trệ.
Không biết đã qua bao lâu, công tử Ngang mới cử động trở lại, vòng tay mà nói: “Đa tạ Trần huynh! Tại hạ bất tài, muốn đi theo con đường thứ ba. Tuy nhiên, đường này phải đi thế nào, còn nhờ Trần huynh chỉ bảo.”
“Nếu công tử lựa chọn đường này, có thể chia làm ba bước mà đi. Bước thứ nhất, thay tên đổi họ. Bước thứ hai, kết thân với Trương Nghi. Bước thứ ba, nối lại tình xưa với Tử Vân công chúa.”
Công tử Ngang lại một phen sững sờ.
“Công tử!” Trần Chẩn ngả người về phía trước, giọng nói khẩn thiết. “Ba bước này, công tử bắt buộc phải đi. Thay tên đổi họ, sẽ giúp công tử vứt bỏ gánh nặng quá khứ, thảnh thơi xung trận diệt địch. Kết thân với Trương Nghi, vì Trương Nghi tương lai ắt thành tướng quốc nước Tần. Tướng quân hoà hợp với tướng quốc, có lợi cho kiến công lập nghiệp. Còn về nối lại duyên xưa với công chúa, lợi hại trong đó, tại hạ hẳn không cần phải nói nhiều.”
Công tử Ngang hít vào một hơi dài, nín hơi trong ngực hồi lâu, mới từ từ thở ra.
“Việc thay tên đổi họ, tại hạ cũng đã nghĩ giúp công tử, công tử có thể lấy họ Ngụy tên Chương. Lấy họ Ngụy không phải là đổi họ, cội nguồn mãi còn. Còn chữ Chương này, hàm nghĩa lại khá sâu xa.”
“Sâu xa thế nào?”
“Chữ Chương (2) gồm hai chữ ‘âm’ và ‘thập’ ghép lại với nhau. Âm tức là nhạc, thập là số mười, là chữ số cuối cùng. Như vậy, Chương tức là tận cùng của âm nhạc, cũng chính là khúc kết thúc. Tướng quân nửa đời chinh chiến, khúc nhạc chưa tròn, cái tên này có lẽ sẽ giúp tướng quân hoàn thiện đời này, lập công cái thế, phổ khúc nhạc bất hủ!”
Trần Chẩn thao thao một tràng, công tử Ngang nghe mà phấn chấn, đập bàn reo lên: “Ý nghĩa tuyệt hay!” Rồi vòng tay nói. “Ngụy Chương đa tạ Trần huynh ban tên!”
“Nào!” Trần Chẩn nâng chén rượu, nói. “Vì sự tái sinh của Ngụy huynh, cạn chén!”
“Cạn!”
Tấu chương tiến cử tướng quốc của bá quan tới tấp gửi về phủ đại lương tạo, người được tiến cử tuy đông đảo, song hơn tám phần là tiến cử đại lương tạo đương nhiệm Công Tôn Diễn. Do nước Tần trước đó chưa từng có tướng quốc, đại lương tạo lại là chức vị của Thương Quân xưa kia, đứng đầu bá quan trong triều Tần, từ khi Công Tôn Diễn tới Tần, liên tục đảm đương chức vị này, nay được quần thần tiến cử cũng là lẽ đương nhiên.
Do sự việc liên quan tới mình, nên Công Tôn Diễn không bẩm báo về tình hình tấu chương tiến cử trong buổi đại triều, mà đợi sau khi tan triều mới yết kiến riêng.
Tần Huệ Vương đọc hết một lượt tấu chương tiến cử, thuận miệng hỏi luôn: “Ồ, tại sao không thấy tấu chương nào tiến cử hữu thứ trưởng?”
“Vi thần không biết!” Công Tôn Diễn hít ngược một hơi khí lạnh, vòng tay đáp. “Có lẽ do hữu thứ trưởng là người giản dị, công lao chưa nổi bật, nên bá quan không biết được nhiều.”
“Là người giản dị”, tức không khoe khoang kênh kiệu, là khẳng định phẩm chất của Trương Nghi, song “công lao chưa nổi bật” lại là đánh thẳng vào tử huyệt của Trương Nghi. Do nước Tần xưa nay bổ nhiệm thăng quan, ban đất phong tước đều dựa vào công lao chiến trận, cho dù là Công Tôn Ưởng, nếu không có công lao chủ tướng trong đại chiến Hà Tây, thì chỉ có thể làm đại lương tạo, chứ tuyệt đối không được phong làm Thương Quân.
“Phải!” Tần Vương không biết phải nói gì, khẽ gật đầu. “Vậy ái khanh tiến cử ai?”
“Chuyện này...” Công Tôn Diễn hơi bối rối. “Vi thần vẫn chưa nghĩ đến.”
“Quả nhân chiếu mệnh bá quan tiến cử, ái khanh vì cớ gì vẫn chưa nghĩ đến?” Ánh mắt Huệ Vương chiếu thẳng vào Công Tôn Diễn.
“Vi thần cho rằng...” Công Tôn Diễn lúc này đã tìm ra lý do, “tướng quốc là nhân tài phò vua giúp nước, nếu không phải bậc đại tài trong thiên hạ thì không thể đảm đương. Theo quan sát của vi thần, có một người có thể đảm đương vị trí này. Tuy nhiên... người này hiện không ở Tần, nên vi thần vẫn chưa tiến cử.”
“Ái khanh muốn nói tới Tô Tần ư?” Huệ Vương cười cười, đưa ra câu hỏi thay cho lời đáp.
“Đại vương thánh minh!” Công Tôn Diễn lúc này cũng thở phào một tiếng.
“Than ôi!” Huệ Vương thu lại nụ cười, thở dài thườn thượt. “Ái khanh tiến cử rất phải. Tiếc là, quả nhân đã suy nghĩ sai lầm, để vuột mất đại tài, khiến thiên hạ hợp tung, mới gây ra đại hoạ ngày nay!”
“Đây là ý trời, không phải lỗi của đại vương!”
“Được rồi, không nói tới chuyện này nữa!” Huệ Vương quay lại chuyện chính. “Ngoài Tô Tần, trong số triều thần hiện tại, ái khanh tiến cử được ai?”
“Hồi bẩm đại vương!” Công Tôn Diễn vòng tay nói. “Vi thần không tiến cử ai, chỉ nghe theo quyết định anh minh của đại vương!”
Sau khi Công Tôn Diễn cáo lui, Tần Vương lại cẩn thận xem xét một lượt các tấu chương, rồi nhắm mắt chìm vào suy nghĩ miên man.
Lựa chọn duy nhất trong lòng Tần Vương chính là Trương Nghi. Tuy nhiên, những sự việc xảy ra gần đây, đặc biệt là sự hẹp hòi của Trương Nghi đối với Trần Chẩn đã khiến Tần Vương không khỏi suy nghĩ. Tướng quốc đứng đầu bá quan, nếu không có lòng bao dung kẻ khác, sao có thể cai quản triều thần? Xét về mặt trị quốc, người có tài cai quản bá quan, đứng hàng đầu phải là Công Tôn Diễn. Những năm gần đây, chính trị nước Tần căng chùng thích hợp, trong ngoài yên trị, không thể thiếu được công lao của Công Tôn Diễn.
Công Tôn Diễn từ đầu tới cuối một mực không tiến cử Trương Nghi, rõ ràng không chịu thừa nhận Trương Nghi. Nếu dùng Trương Nghi làm tướng quốc, Công Tôn Diễn hẳn sẽ không phục. Ngược lại, nếu dùng Công Tôn Diễn làm tướng quốc, Trương Nghi ắt cũng không phục. Tô Tần, Trương Nghi cùng là cao đồ của Quỷ Cốc Tử, Tô Tần thân đeo sáu ấn tướng quốc, Trương Nghi trải trăm nghìn cay đắng đến Tần, nếu đến một ấn cũng không có được, bảo hắn sao nhẫn nhịn được đây?
Đã xưng vương, không thể thiếu tướng quốc. Một bên là Công Tôn Diễn, một bên là Trương Nghi, Tần Huệ Vương nghĩ thế này không được, nghĩ thế kia chẳng xong, khổ sở suốt mấy ngày trời, đang nát óc suy nghĩ, đột nhiên sực nhớ tới Hàn Tuyền Tử, lập tức tinh thần phấn chấn, vội vã khởi giá tới núi Chung Nam.
“Dám hỏi chúa thượng,” Hàn Tuyền Tử nghe xong sự tình, cười lớn vài tiếng rồi hỏi, “muốn trị một góc, hay muốn trị thiên hạ?”
Tần Huệ Vương trong lòng giật thột, ôm quyền mà đáp: “Dám hỏi tiền bối, Doanh Tứ bất tài, có trị thiên hạ được chăng?”
“Muốn trị thiên hạ, tất phải chống hợp tung, mà hợp tung là do Tô Tần phát động. Đạo trời cân bằng, người có thể chế ngự Tô Tần, duy chỉ có Trương Nghi.” Giọng Hàn Tuyền Tử khẳng định chắc nịch.
“Đa tạ tiền bối đã giải đáp mối băn khoăn!” Tần Huệ Vương thở phào một tiếng, lại vòng tay nói. “Tuy nhiên, hai ngựa không thể ăn chung một máng, nếu dùng Trương Nghi, biết sắp xếp Công Tôn Diễn thế nào đây?”
“Đã không thể chung một máng, sao không chia máng mà nuôi?”
Chia máng mà nuôi!
Tần Vương thoắt nhiên bừng tỉnh, tấm tắc khen là diệu kế. Vấn đề hóc búa nhường này, chỉ vài lời của Hàn Tuyền Tử đã nhẹ nhàng tháo gỡ, thực khiến Huệ Vương vô cùng thán phục. Một canh giờ sau đó, hai người một vua một dân vừa thưởng trà, vừa chuyện phiếm về những việc rất đỗi bình thường như tu thân dưỡng tính, thiên địa âm dương. Thấy sắc trời dần ngả tối, Huệ Vương bèn cáo từ.
Hàn Tuyền Tử cũng không cố giữ, cung kính tiễn ra khỏi sơn cốc.
Tần Huệ Vương không hỏi chuyện khác mà chỉ hỏi về Trương Nghi, khiến Công Tôn Diễn càng nghĩ càng chột dạ.
Rõ ràng, Công Tôn Diễn chưa phải là vị tướng quốc lý tưởng trong mắt Tần Vương. Công Tôn Diễn không tham luyến gì chức vị tướng quốc, song từ lúc tới Tần, Công Tôn Diễn bất giác đã coi quốc thể Đại Tần là đại nghiệp một đời mà khổ công vun vén. Giống hệt như trồng cây, đã đào hố, đã đắp đất, đã tưới nước, đã bón phân, cuối cùng hôm nay đã kết thành quả ngọt, nhưng người hái quả lại không phải là Công Tôn Diễn, dù là ai đương nhiên cũng thấy đắng trong lòng.
Tần Vương vào núi, tuỳ tùng là Tư Mã Thác. Sư Lý Tật không thể đồng hành vì bận tiếp sứ thần Nghĩa Cừ vào triều.
Buổi sáng hôm nay, Sư Lý Tật tới phủ đại lương tạo, bẩm báo về các việc liên quan tới Nghĩa Cừ. Bàn xong chuyện chính, Sư Lý Tật đứng dậy định cáo từ, thì Công Tôn Diễn đưa tay ngăn lại, cười mà nói: “Sư Lý huynh dừng bước, tại hạ nhân tiện muốn hỏi thăm dăm ba câu.”
Sư Lý Tật lại ngồi xuống, vòng tay mà nói: “Hạ quan xin kính cẩn lắng nghe lời dặn dò của đại lương tạo!”
“Đại vương xuống chiếu cho quan viên từ chức ngũ đại phu trở lên tiến cử tướng quốc, tại hạ xem khắp lượt tấu chương tiến cử mà không thấy có của Sư Lý huynh. Dám hỏi Sư Lý huynh có tiến cử ai chăng?”
“Hạ quan còn chưa nghĩ xong, nên chưa thể tiến cử.” Sư Lý Tật do dự đáp. “Sao vậy, đại vương giục gấp rồi ư?”
“Ha ha ha!” Công Tôn Diễn cười nói. “Không phải! Đại vương chỉ hạ lệnh tiến cử, còn không giới hạn thời gian cụ thể, Sư Lý huynh cứ thong thả mà suy nghĩ.”
“Vậy thì tốt!” Sư Lý Tật thở phào một tiếng. “Hạ quan dám hỏi đại lương tạo tiến cử người nào?”
“Tại hạ cũng chưa tiến cử. Có điều, hôm kia đại vương hỏi đến chuyện này, tại hạ có nhắc tới một người.”
“Ồ?” Sư Lý Tật nhìn thẳng vào Công Tôn Diễn. “Dám hỏi là người nào?”
“Tô Tần!”
Sư Lý Tật dựng ngón tay cái lên, ghé sát lại gần: “Dám hỏi, đại vương trả lời thế nào?”
“Tô Tần là nỗi đau của đại vương, tại hạ tiến cử xong, cũng tự thấy hối hận. Mà thôi, không nói chuyện này nữa. Sư Lý huynh, tại hạ muốn hỏi, nếu Sư Lý huynh buộc phải tiến cử ngay lúc này, dám hỏi sẽ tiến cử ai?”
Sư Lý Tật ngần ngừ một thoáng: “Tại hạ thực sự chưa nghĩ ra, cũng đang muốn thỉnh giáo đại lương tạo, nếu tiến cử Trương Nghi, có thoả đáng chăng?”
Công Tôn Diễn cười mà nói: “Sư Lý huynh tiến cử ai cũng được, nhưng nếu như tiến cử Trương Nghi, chính là một mình một phe rồi!”
“Ồ!”
“Tất cả các tấu chương tiến cử gửi lên, không có một ai tiến cử Trương Nghi, nếu như Sư Lý huynh tiến cử, chẳng phải một mình một phe ư?”
“Dám hỏi, mọi người tiến cử những ai?”
“Không phải ít người, có người tiến cử Sư Lý huynh, có người tiến cử công tử Hoa, có người tiến cử Cam Mậu huynh, có người tiến cử Trần thượng khanh, cũng có không ít người tiến cử tại hạ.”
Sư Lý Tật lúc này cũng đã nghe ra ẩn ý, vòng tay mà nói: “Từ sau Thương Quân, mọi việc trong triều, cai quản bá quan đều do đại lương tạo kiêm nhiệm, nay bá quan đều tiến cử đại lương tạo làm tướng quốc, thực đúng là mong muốn chung của mọi người, hạ quan xin chúc mừng trước.”
Công Tôn Diễn cũng vòng tay lia lịa: “Đa tạ lời nói tốt đẹp của Sư Lý huynh. Có điều, tướng quốc là chức vị trọng yếu, giúp nước phò vua, không phải là đại tài, không thể đảm đương nổi. Tại hạ bất tài, nào dám mơ mộng với cao?”
“Công Tôn huynh bất tất phải khiêm nhường. Đợi đại vương hồi cung, hạ quan cũng sẽ tiến cử lên đại vương.”
Hai hùng nội tranh, tổn thương đất nước. Công Tôn Diễn xưa nay vốn không coi trọng công lợi, giờ đột nhiên lại chú ý tới ngôi vị tướng quốc, hơn nữa còn công khai tranh giành với Trương Nghi, thực khiến Sư Lý Tật không khỏi lo lắng.
Sư Lý Tật nghĩ thế này cũng không được, thế kia cũng không thông, bèn giãi bày nỗi lo lắng với công tử Hoa. Công tử Hoa gần đây đang vắt óc tính kế vì chuyện của Tử Vân công chúa, hơi một tí là lôi Trương Nghi tới uống rượu, nên lại vô tình tiết lộ cho Trương Nghi biết.
Trong chuyến đi lên núi Chung Nam, Tần Công đã lĩnh ngộ ra kế sách “hai máng”, chính là đặt hai tướng quốc tả hữu, một là tả tướng Trương Nghi, chuyên quản ngoại giao, một là hữu tướng Công Tôn Diễn, chuyên lo nội chính.
Tâm tư của Công Tôn Diễn, Tần Vương đã thấu hiểu, nên sau khi hồi cung, quyết định cho triệu Trương Nghi tới trước hỏi han.
Trương Nghi vào cung, còn chưa kịp đặt mông xuống chiếu đã vòng tay chúc mừng: “Vi thần chúc mừng đại vương, chúc mừng đại vương!”
“Ồ!” Tần Vương thoáng ngạc nhiên. “Ái khanh cớ sao lại chúc mừng?”
“Đại vương có được hiền tướng, là đại hỷ của nước Tần, đại hỷ của đại vương, vi thần đương nhiên phải chúc mừng!”
“Hiền tướng?” Tần Vương ngẫm thấy từ lúc trở về cung, vẫn chưa nói chuyện này với ai, thì rất đỗi kinh ngạc. “Này ái khanh, hãy nói thử xem, quả nhân có được ai làm tướng quốc?”
“Đại lương tạo!” Trương Nghi trả lời tắp lự.
“Ha ha!” Tần Vương bật cười lớn. “Ái khanh hẳn là đã mọc được thiên lý nhãn, thuận phong nhĩ?”
“Không phải!”
“Ồ!” Tần Vương ngạc nhiên nhìn hắn. “Đã không phải vậy, vì sao ái khanh biết được quả nhân đã chọn đại lương tạo làm tướng.”
“Do chính miệng đại lương tạo nói ra!”
“Ồ?” Tần Vương giật mình kinh ngạc. “Đại lương tạo nói thế nào?”
“Đại lương tạo nói với thượng đại phu, thượng đại phu nói với công tử Hoa, văn võ bá quan trong triều ai ai cũng biết. Mọi người đều mừng cho đại vương, mừng cho Đại Tần.”
Tần Vương chau tít đôi mày, trầm ngâm hồi lâu, rồi lệnh cho Trương Nghi lui ra, bí mật triệu kiến công tử Hoa tới, tra hỏi thấy đúng như lời Trương Nghi nói, thì trong lòng không vui, quyết định tạm thời lờ đi Công Tôn Diễn mấy ngày, để có thời gian suy nghĩ thêm.
Trong buổi triều sáng hôm sau, Tần Vương ban chỉ thiết lập phủ tả tướng, bái Trương Nghi làm tả thừa tướng, song chưa định rõ chức trách của tả tướng, càng chưa hạ chỉ cho hắn cai quản bá quan. Người tinh ý có thể lập tức nhận ra, đã lập phủ tả tướng, hẳn sẽ có phủ hữu tướng.
Song Công Tôn Diễn lại không nghĩ như vậy.
Ba ngày sau, khi thư từ nhiệm của Công Tôn Diễn đã đặt trên bàn, Tần Vương mới thấy hối hận, nghĩ mình thân là quân vương mà bụng dạ lại quá hẹp hòi, bèn vội vã cho gọi Sư Lý Tật đến, bảo hắn tới khuyên Công Tôn Diễn ở lại.
Khi Sư Lý Tật tới phủ đại lương tạo, thì đã chậm mất một bước. Công Tôn Diễn đã niêm phong ấn, phủ đại lương tạo và toàn bộ của cải được Tần Vương ban thưởng, chỉ mang theo thanh kiếm và hai gói hành lý sơ sài, đánh xe về phía cổng đông.
Sư Lý Tật đuổi tới cổng đông, thì hay tin đại lương tạo đã rời thành một canh giờ trước đó.
Sư Lý Tật cả kinh, lập tức quay đầu ngựa, phóng gấp về cung.
“Đại vương!” Sư Lý Tật bẩm rõ tình hình, rồi khuyên rằng. “Đại lương tạo không phải người nóng vội, hẳn chưa thể đi xa, nếu đánh ngựa nước đại đuổi theo, thì vẫn còn kịp!”
Tần Vương khép mắt một lát, than thở: “Người này thực lòng muốn đi, thì cứ để hắn đi!”
“Dứt khoát không được, đại vương!” Sư Lý Tật cuống quýt đến mặt mũi đỏ rần. “Nội tình của Đại Tần, người này thuộc làu như lòng bàn tay. Dựa vào tài của người này, dù hắn tới nước nào cũng sẽ là kẻ thù lớn của ta, đại vương!”
“Theo ý khanh, nên làm thế nào?”
“Đại lương tạo phong ấn mà đi, không phải vì tranh giành chức quan, mà chỉ là vì thể diện. Nếu đại vương có thể xuống nước thỉnh cầu, nói vài lời dễ nghe, giúp hắn bảo toàn thể diện, ắt là hắn không đến nỗi không niệm đến tình nghĩa quân thần!”
“Này ái khanh,” Tần Vương cười gượng một tiếng, “ái khanh đã coi Công Tôn Diễn là Trần Chẩn mất rồi!”
Gần đình Tam Thập Lý ở ngoại ô Hàm Dương, một cỗ xe một ngựa kéo đang lọc cọc lăn bánh.
Một người đứng lặng trước đình, ngẩng đầu chờ đợi.
Cỗ xe đi tới trước đình, dừng lại.
Nhận ra người đang đứng vòng tay chờ đợi chính là Trương Nghi, Công Tôn Diễn lúc này mới nhảy xuống xe.
“Công Tôn huynh!” Trương Nghi chỉ tay về phía ngôi đình. “Tại hạ đã chuẩn bị chút rượu nhạt, khó tận lòng thành, tạm để tiễn bước Công Tôn huynh.”
Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn về phía ngôi đình, thấy ở đó quả nhiên đã kê sẵn một chiếc bàn, trên bàn bày sẵn mỹ vị, một bình rượu và hai chiếc chén, bên khoé miệng bèn lộ một nụ cười, vòng tay mà nói: “Trương huynh quả là chu đáo! Chỉ là, tại hạ đường phía trước còn xa, không có thời gian rảnh rỗi, kính mong Trương huynh lượng thứ.”
“Công Tôn huynh, có một chuyện thú vị, huynh cũng không muốn nghe ư?” Trương Nghi nở một nụ cười, chìa tay cung kính mời mọc.
Công Tôn Diễn bật cười vang vài tiếng, sải bước lên đình, vén vạt áo, ngồi xuống trước bàn. Trương Nghi cũng cười vài tiếng, ngồi xuống đối diện với Công Tôn Diễn, đưa tới một chén rượu đầy, bản thân cũng nâng chén rượu còn lại lên mà nói: “Công Tôn huynh, mời!”
Công Tôn Diễn tiếp lấy chén rượu, đặt xuống trước mặt, ánh mắt nhìn thẳng vào Trương Nghi: “Tại hạ hiếu kỳ, muốn nghe Trương huynh nói về chuyện thú vị!”
“Được, được, Công Tôn huynh quả là người thẳng thắn!” Trương Nghi cũng đặt chén rượu xuống. “Điều thú vị chính là, sở dĩ Công Tôn huynh phải đánh xe tới đây, là vì một câu nói của tại hạ.”
“Thật ư? Hãy nói nghe thử!”
“Tại hạ nghe nói đại vương muốn bái Công Tôn huynh làm tướng, đã tới trước một bước chúc mừng đại vương!”
“Ồ!”
“Đại vương hỏi tại hạ cớ sao lại biết, tại hạ nói rằng do chính miệng đại lương tạo nói ra. Đại lương tạo nói với thượng đại phu, thượng đại phu nói với công tử Hoa, thế là văn võ bá quan trong triều ai ai cũng biết.”
“Ha ha ha!” Công Tôn Diễn phá lên cười một tràng dài. “Lời nói của Trương huynh, quả là kỳ thú, tại hạ bội phục!” Đoạn nâng chén rượu lên, một hơi uống cạn, sau đó đứng vụt dậy, rảo mấy bước đã xuống dưới đình, nhảy lên xe ngựa thủng thẳng rời đi.
Nhìn theo làn bụi cuốn xa dần, Trương Nghi vòng tay bái biệt, thở dài nói khẽ: “Công Tôn huynh, không phải tại hạ không dung huynh, mà là tại hạ không thể dung huynh, bởi tại hạ và huynh không cùng chí hướng!”
Hồi Thứ 56
Trốn sứ Sở, Trang Tử bỏ quê tìm bạn
Cầu hòa Ngụy, Trương Nghi bỏ đậu lấy dưa
Hội thề Mạnh Tân kết thúc thuận lợi, phó sứ hợp tung nước Sở công tử Như thở phào nhẹ nhõm. Tuy nhiên, đúng lúc công tử Như chuẩn bị lên đường tới đất Tống bái kiến chân nhân, lại bị Uy Vương triệu tới bồi giá.
Sau khi ba vương Ngụy, Tề, Hàn kết minh ước phạt Tần tại Hổ Lao quan, Sở Uy Vương không thể chịu nổi cái giá rét của phương bắc, nên đã khước từ lời mời của tung ước trưởng Ngụy Huệ Vương, đi theo đường núi Lỗ Sơn đến Phương Thành, khởi giá về nam.
Một là do tuổi tác đã cao, hai là do gần đây bị đám cung tần mỹ nữ vắt kiệt tinh tuỷ, khi Sở Uy Vương xa giá lên bắc còn chưa cảm thấy gì, giờ đây khi bắt đầu khởi giá quay về, dần dà chịu không thấu, vừa tới núi Lỗ Sơn đã đột ngột đổ bệnh, trước tiên là hai chân rũ liệt, ban đêm đổ mồ hôi trộm, tiếp đó không thiết ăn uống, miệng lưỡi khô khát, xương cốt nhức mỏi, toàn thân trên dưới đau nhừ. Con cháu đi theo duy chỉ có công tử Như, nên mọi việc lớn nhỏ đương nhiên không thể thoái thác cho ai khác.
Thấy ngự y tuỳ tùng nói rằng bệnh của phụ vương chỉ là khí huyết đều hư, không phải bệnh nguy kịch, công tử Như cũng hơi yên tâm, hạ lệnh đi chậm lại, vừa đi vừa nghỉ. Ngự y sắc thuốc kịp thời, vừa châm vừa cứu, lại thêm công tử Như vận hết công phu tu luyện suốt bao năm qua để trợ giúp về nội công, nên sau hơn hai tháng rong ruổi, Uy Vương không những vẫn chịu đựng được hành trình dằng dặc hơn hai nghìn dặm, mà sau khi về tới đài Chương Hoa, lại ăn uống ngon miệng, khí sắc tốt hẳn lên.
Thấy đại vương đã bình phục, triều thần đều tới chúc mừng, công tử Như cuối cùng đã được thở phào, chính thức thỉnh cầu tới Tống. Uy Vương lúc này mới sực nhớ ra lời hứa trước đây, song sau mấy tháng vừa rồi, Uy Vương không muốn rời xa công tử Như lấy một bước, bèn hạ lệnh cho nội thần đánh xe tới đất Tống, mời bằng được Trang chân nhân tới Sở.
Tại Mông Ấp đất Tống, cách ngoại ô tây nam hơn chục dặm có sông Bộc Thuỷ chảy qua. Lúc này đúng dịp cỏ mượt oanh bay, tiết trời chuyển ấm, Bộc Thuỷ sóng biếc dập dờn, thực là nơi ngắm cảnh xuân rất mực lý tưởng.
Lòng sông rộng lớn, song đang dịp hạn xuân, nước chảy không xiết, mực nước không sâu, bên bờ có thể nhìn rõ những đàn cá nhỏ tung tăng bơi lội. Một thằng nhóc choai choai áo quần rách rưới ngồi trên một mô đất cỏ mọc xanh rì, đờ đẫn nhìn về phía một bãi bồi tít giữa dòng xa. Ven bãi bồi, vài con vịt trời vừa sục mỏ vào trong đám cỏ nước, vừa kêu càng cạc liên hồi.
Cách thằng nhóc chỉ vài bước chân, một nam tử trung niên đầu tóc rối bù, quần áo cũng rách rưới y hệt đang thảnh thơi nằm vắt chân chữ ngũ, gối đầu lên một mô đất nhỏ ngủ ngon lành.
Đột nhiên, cẳng chân đang gác phía trên bỗng trượt xuống, bắt đầu giật lên khe khẽ. Chân kia cũng lây theo, rung lên bần bật. Tiếp đó là hai bàn tay, rồi mười đầu ngón tay duỗi gập liên hồi, trông rất nhịp nhàng.
Thằng nhóc kia rõ ràng đã nhìn thấy, ánh mắt liền rời khỏi mặt sông, dán vào khuôn mặt của nam tử trung niên.
Khuôn mặt ông ta rất thư thái, cái miệng lúc mở lúc khép, một dòng nước dãi nhễ u ra bên khoé miệng, chảy qua quai hàm, rớt thành một đường lòng thòng xuống tận mặt cỏ.
Nam tử trung niên đang chìm trong giấc mơ kia không phải ai khác, chính là “chân nhân” mà công tử Như một lòng ước ao được diện kiến, Trang Chu.
Trang Chu tay chân co giật một hồi, rồi đột ngột choàng tỉnh, ngồi phắt dậy, nâng ống tay áo quệt dòng nước dãi bên khoé miệng, lại đưa mu bàn tay dụi mắt vài cái, mở bừng mắt ra, nhìn trân trân vào dòng sông trước mặt, lẩm bẩm một mình: “Kỳ lạ thay! Kỳ lạ thay! Vừa rồi rõ rành rành còn là một con bướm, sao chớp mắt đã biến thành Trang Chu rồi?” Nửa như vẫn mơ màng, lại nửa như đã tỉnh, khẽ chau mày, băn khoăn nghi hoặc. “Ta đang mơ ư, hay là đang tỉnh? Ta là Chu ư, hay là bướm? Ta là Chu mơ thấy bướm, hay là bướm mơ thấy Chu đây?” Rồi vỗ mạnh vài cái vào đầu. “Phải rồi, tỉnh và mơ, Chu và bướm, dứt khoát là có sự phân cách, nhưng sự phân cách này ở đâu đây? Là khoảnh khắc giữa tỉnh và mơ ư? Tỉnh là Chu, mơ là bướm. Mơ không phải tỉnh, bướm không phải Chu. Ta lúc này đây là Chu đã tỉnh, vậy còn con bướm trong mơ kia là kẻ nào đây?...”
Trang Chu vò đầu bứt tai, khổ sở suy nghĩ.
“Cha!” Thằng nhóc bên cạnh thấy người đàn ông cứ trăn trở mãi không thôi, không nhịn nổi nữa bèn lên tiếng gọi khẽ.
Trang Chu ngẩng đầu trông, lúc này mới nhìn thấy thằng nhóc, thì thoáng ngạc nhiên: “Tiêu Tiêu, con tới từ lúc nào thế?”
“Con đến lâu rồi!” Thằng nhóc tên gọi Trang Tiêu đáp lời. “Đã hơn nửa canh giờ, mà cha vẫn cứ ngủ khì, con...”
“Tới nghịch nước phải không?” Trang Chu đứng bật dậy, chỉ xuống mặt sông mà nói. “Đi nào, cha sẽ dẫn con đi tìm rùa. Trời ấm lên rồi, bọn rùa sẽ lên bờ sưởi nắng!”
“Con không thích xem rùa sông, con... đói bụng!”
“Đói bụng?” Trang Chu dừng bước, phì cười mà nói. “Đói bụng thì đi tìm mẹ chứ, bảo mẹ nấu cho mà ăn!”
“Cha!” Trang Tiêu xị u mặt. “Là mẹ bảo con tới đây, trong nhà chẳng còn gì để ăn nữa.”
“Chẳng còn gì để ăn nữa?” Trang Chu kinh ngạc. “Không thể nào! Mấy hôm trước chẳng phải vừa mới nướng bánh sao?”
“Thì nướng có mỗi một cái bánh, cha đã mang đi quá nửa rồi. Non nửa còn lại, chẳng đủ cho ba người chúng con. Đã qua ba ngày rồi, Dao Dao đói bụng kêu khóc suốt, mẹ hết cách mới bảo con đi tìm cha.”
“Thì bảo mẹ nướng cái bánh khác!”
“Hết bột rồi!”
“Trời ơi!” Trang Chu chau mày, than thở trách móc. “Mẹ con cũng thật là... Không có bột thì đi tìm bột, đến việc cỏn con này cũng làm phiền cha, đúng là...” Rồi nhìn lên vầng mặt trời trên đỉnh đầu, lại nhìn xuống dòng sông. “Sông xuân nước ấm, ánh dương tưng bừng, thế mà bà ấy không chịu cho cha tự tại lấy một chốc.”
Trang Tiêu khẽ mấp máy vành môi vài cái, rồi cúi gằm mặt, không hé thêm lời nào nữa.
“Được rồi, được rồi!” Trang Chu khẽ lắc đầu, thở hắt ra, uể oải vươn vai. “Đi nào, chúng ta về nhà thôi!”
Trang Chu theo sau Trang Tiêu, băng qua bờ đê, men theo đường mòn, đi được một lúc thì leo lên một đồi đất cây cối rậm rạp, tươi tốt xanh um. Nhà Trang Chu ở phía sau ngọn đồi này, là một gian nhà cỏ đơn sơ, cũng được coi là rộng rãi, thoạt nhìn đã biết được dựng khá lâu rồi, xung quanh dùng đá vụn chồng thành một dãy tường cao chưa đến thắt lưng, có thể phòng lợn rừng, song không ngăn được chó. Cổng nhà là một cánh cổng gỗ đơn sơ, ràng bằng dây thừng lên cọc gỗ.
Trang Tiêu tháo dây thừng, mở cánh cổng, còn chưa bước vào sân, một bé gái tầm bốn năm tuổi nghe thấy tiếng động đã rối rít chạy ra, mừng rỡ reo lên: “Cha!” Rồi lao thẳng về phía Trang Chu, ôm chầm lấy hai chân ông ta.
Trang Chu bế bổng cô bé lên, thơm một cái rồi nói: “Dao Dao, con nhìn xem, cha mang về cho con cái này hay lắm!” Rồi đưa tay lên tai, rút từ vành tai xuống một đoá hoa dại, huơ lên trước mặt cô bé.
Trang Dao cầm lấy đoá hoa, đưa lên mũi ngửi, rồi rụt rè hỏi: “Cha ơi, hoa có ngon không? Dao Dao đói bụng!”
Trang Chu phá lên cười: “Con bé ngốc này, hoa là để ngắm, không phải để ăn. Muốn ăn, phải tìm mẹ con chứ. Mẹ con đâu rồi?”
“Mẹ đi rồi!”
Trang Chu lấy lại bông hoa từ tay Trang Dao, vui vẻ gài vào bím tóc sừng trâu của cô bé, rồi thả cô bé xuống đất, chỉ vào vại nước nói: “Dao Dao, đến bên vại nước soi thử xem con có xinh không?”
Trang Dao chạy tới bên vại nước, còn Trang Chu ung dung bước vào trong nhà cỏ.
Gian nhà trống huơ trống hoác, trơ bốn bức tường, đồ đạc chỉ có độc một chiếc bàn cũ nát. Kê sát tường là vài cái chum đựng gạo, Trang Chu tiến lại gần, lật mở từng nắp chum, bên trong quả nhiên đều sạch trơn.
Trang Chu khẽ chau mày, ngồi xuống phía trước chiếc bàn nát, khép hai mắt lại.
Trang Dao soi mình xuống vại nước xong, liền chạy vào nhà, đang định tới nhõng nhẽo với Trang Chu thì bị Trang Tiêu lôi lại. Hai đứa trẻ nhìn nhau, rồi lại cùng nhìn chằm chằm vào người cha của chúng.
Ngoài cổng bỗng vọng lại tiếng bước chân.
Tiếng bước chân chậm chạp, bước này nối tiếp bước kia, rất đỗi nặng nề. Hai đứa trẻ chạy ào ra, mỗi đứa túm lấy một bên vạt áo của một người đàn bà gầy gò tầm ba mươi tuổi. Trên vạt áo có vài mụn vá, nhìn vào những đường kim thưa vụng trên miếng vá, đủ biết chị ta không giỏi nữ công.
“Mẹ ơi, cha về rồi!” Trang Dao nói rồi chỉ lên đầu. “Mẹ xem, hoa cha tặng con này, đẹp không?”
“Đẹp!” Người đàn bà hiển nhiên chẳng còn tâm trí đâu mà ngắm hoa, mắt vẫn nhìn thẳng, lê từng bước vào trong gian nhà chính, dừng lại trước mặt Trang Chu.
Trang Chu mở mắt, ánh nhìn dừng lại trên chiếc bát sành trống rỗng trên tay người đàn bà. Rõ ràng, chị ta vừa đi ra ngoài vay gạo, giờ tay không trở về.
“Cha nó ơi...” Người đàn bà ứa nước mắt, nghẹn ngào không nói tiếp được nữa.
“Mẹ nó này!” Trang Chu gắng gượng nặn ra một nụ cười. “Mẹ nó đã tới những nhà ai rồi?”
“Xung quanh đây, chỗ nào đến được đều đã đến cả rồi!”
“Nhà Cừu Xuân thì sao?” Trang Chu lại hỏi.
“Đến rồi!”
“Hắn không chịu cho vay?”
“Có! Đã cho vay ba lần rồi, lần này thực không thể cho thêm được nữa. Năm ngoái mùa màng thất bát, năm nay vụ xuân lại mất mùa, nhà hắn cũng hết gạo rồi.”
“Có thiếu tới đâu chăng nữa, chẳng nhẽ đến một bát bé tí này cũng không có nổi ư?”
“Đừng nói là một bát, đến nửa bát cũng không có. Cừu Xuân nói, sáng sớm mai hắn sẽ phải đi xa, hẳn là đi xin ăn.”
Trang Chu thở dài một tiếng, dường như lúc này mới biết được sự tình nghiêm trọng.
Bầu không khí trở nên ngưng trệ.
Hai đứa trẻ ngửa mặt nhìn đăm đăm vào người đàn bà, mỗi đứa ôm chặt lấy một bên chân, ánh mắt đầy sợ sệt. Hiển nhiên, chúng đều hiểu rõ đi ăn xin là như thế nào.
“Phải rồi!” Trang Chu mở choàng mắt. “Giám Hà Hầu, nhà hắn có gạo!”
“Cha nó ơi!” Người đàn bà ngần ngừ một lát. “Cũng đã đến rồi. Nhưng ông ta...”
Trang Chu hỏi dồn: “Hắn nói sao?”
“Ông ta nói rằng.” Người đàn bà lúng búng trong miệng. “Thức ăn nhà ông ta, có cho chỉ cho chó ăn, nuôi chó để trông nhà.”
“Ha ha ha!” Trang Chu không những không nổi giận, ngược lại còn phá lên cười lớn. “Quả là thú vị, thú vị quá! Mẹ nó này, mang một cái bao gai lại đây, tôi sẽ đi làm chó!”
“Cha nó ơi!” Người đàn bà trợn tròn mắt nhìn Trang Chu hồi lâu, rồi cất giọng dứt khoát. “Chúng ta không vay nữa là hơn. Hay để tôi sang nói với Cừu Xuân một tiếng, sớm mai cùng đi xin ăn với hắn. Nghe Cừu Xuân nói, Định Đào sung túc, không lo thiếu gạo ăn!”
“Đi mau lên, mau tìm cái bao gai lại đây!” Trang Chu vẫn khăng khăng, đứng phắt ngay dậy.
Lời vừa dứt, Trang Tiêu chẳng hiểu từ xó xỉnh nào thoăn thoắt chui ra, trên tay cầm một bao gai to tướng, hai tay đưa lại: “Cha ơi, bao gai đây!”
Trang Chu cầm lấy, xoa đầu thằng bé, rồi hớn hở sải bước ra khỏi cổng.
“Cha nó ơi!” Người đàn bà đuổi theo vài bước. “Vì chuyện vườn sơn, Giám Hà đại nhân vẫn còn giận cha nó đấy, lần này mình đi, chẳng phải là tự chuốc nhục vào thân ư?”
Trang Chu cười lớn, vắt bao gai lên lưng, nói: “Lần này tôi đến chính là để giúp hắn nguôi giận!”
Nhà Giám Hà Hầu nằm ở lưng chừng một ngọn núi nhỏ, Bộc Thuỷ vòng theo sườn đồi uốn thành một vòng cung gần như hình tròn, Giám Hà Hầu không cần bước chân ra khỏi cửa cũng có thể ngắm trọn dòng Bộc Thuỷ.
Giám Hà Hầu không phải họ Giám, cũng chẳng phải mang tước hầu. Ông nội hắn họ Tiết, là người nước Trịnh, sống bên cạnh Hà Thuỷ, khá am hiểu thuỷ văn, nhiều năm liền tham gia công trình trị thuỷ sông Hà tại nước Trịnh, đảm đương chức quan nhỏ giám sát thuỷ văn. Đến thời Tống Hoàn Công, Bộc Thuỷ gây lũ, Hoàn Công cầu cứu Trịnh Công trợ giúp, nhưng Trịnh Công cũng đang bận rộn trị thuỷ sông Hà, nên đã tiện tay điều ông nội hắn tới đây. Ông nội hắn nhờ trị thuỷ mà lập công lớn, được Hoàn Công phong làm Giám Bộc lệnh, tiện thể trông coi vườn cây sơn của công thất rộng hơn vạn mẫu ở hai bên bờ sông, chức vị liệt vào hàng hạ đại phu cung Tống. Sau đó, chức vị này được truyền cho con trai, rồi tới đời cháu trai Giám Hà Hầu.
Giám Hà Hầu tuổi xấp xỉ Trang Chu, Huệ Thi, năm xưa cùng bái Nam Quách tiên sinh ở Mông Ấp làm thầy, cũng là đồng môn. Tên hiệu Giám Hà Hầu chính là do Trang Chu phong đùa cho ông ta khi còn học chung, về sau vẫn luôn gọi ông ta như vậy. Lâu dần, dân chúng gần xa cũng đều gọi theo.
Vật đổi sao dời. Giống như Huệ Thi, Trang Chu tính tình phóng khoáng, không thích ràng buộc, qua tuổi đội mũ liền chu du khắp thiên hạ, sau tuổi ba mươi mới mệt mỏi về nhà, cưới vợ sinh con, song không giỏi mưu sinh. Thấy Trang Chu cuộc sống chật vật, gia cảnh túng quẫn, giờ lại thêm mấy miệng ăn, những gì bán được đều đã bán sạch, vậy mà vẫn được bữa nay lo bữa mai, Giám Hà Hầu vốn niệm tình hắn là bạn đồng học, mời hắn tới trông coi vườn sơn, coi như tạo công ăn việc làm cho hắn. Nào ngờ Trang Chu lại chẳng để tâm vào việc, trong lòng chỉ nghĩ tới chim muông hoa cỏ, say thú điền viên, sau ba năm cai quản vườn sơn, đã mặc cho đám thợ làm vườn tha hồ trốn việc, ăn trộm sơn bừa bãi, khiến sản lượng thất thu nghiêm trọng, còn bị chặt trộm rất nhiều cây sơn. Có người tố lên quan, vương thất tới kiểm tra, trách cứ Giám Hà Hầu. Giám Hà Hầu đã phải vận hết phương kế, chạy vạy các cửa, tuy vẫn giữ được chức quan thế tập của ông nội, song bị thu hồi quyền cai quản vườn sơn, mất đi một đường tiền của. Giám Hà Hầu bao nhiêu giận dữ trút cả lên đầu Trang Chu, gọi ông ta tới trách mắng, nào ngờ cãi không lại Trang Chu. Thoạt tiên, rõ là Giám Hà Hầu có lý, song cãi vã được một lúc, lại bị Trang Chu phản bác đến cứng họng không nói được gì, giận tới mức mặt mày méo xệch, không còn nể nang gì tình đồng môn nữa, tống cổ cả nhà Trang Chu ra khỏi cửa, thề không bao giờ qua lại.
Vài tháng sau đó, hai người quả nhiên không hề qua lại thực, trước cửa nhà Giám Hà Hầu cũng yên tĩnh hẳn đi.
Tuy nhiên, duyên phận muốn tránh cũng không tránh được.
Buổi chiều hôm nay, Giám Hà Hầu đang đứng trong đình Liêu Vọng trên đỉnh núi sau nhà ngắm cảnh sông nước, thì quản gia hộc tốc chạy lại, từ xa đã réo gọi: “Lão gia, lão gia, có chuyện không hay rồi!”
“Chuyện gì?” Giám Hà Hầu giật mình hỏi.
“Họ Trang kia tới, sủa gâu gâu như chó ngoài cổng!”
“Ồ?”
“Lão gia, hắn tới đây là để xin ăn. Hôm trước vợ hắn có tới, tiểu nhân cũng định cho chị ta tí chút để chị ta biến đi, thì lão gia lại... Giờ thì không xong rồi, họ Trang đích thân tới tận cửa, lần này có cho một hai thăng (1) cũng khó mà đuổi được!”
“Thật ư?” Giám Hà Hầu phì cười, khẽ vuốt râu, mắt nhìn quản gia. “Hắn muốn bao nhiêu?”
“Trên vai hắn khoác một bao gai to!”
“Bao gai to chừng nào?”
“To lắm!” Quản gia vòng tay vạch một vòng thật lớn.
Giám Hà Hầu phá lên cười lớn. “Theo như ngươi nói, chí ít cũng đựng được hai đấu đấy nhỉ?”
“Lão gia ơi!” Quản gia mặt nhăn như bị. “Đừng nói là hai đấu, hai mươi đấu e rằng còn chưa thể đựng đầy!”
“Đến nỗi thế ư?”
Quản gia bước lại gần, hạ thấp giọng mà nói: “Tiểu nhân đã nhìn thấy rõ, bao gai của hắn bị thủng đáy!”
“Ha ha ha!” Giám Hà Hầu lại phá lên cười. “Đi nào, có chuyện hay rồi đây!”
Hai người một chủ một tớ hối hả bước xuống sườn đồi, đi vào qua lối cổng sau, băng qua trạch viện, tiến về phía cổng trước, quả nhiên từ xa đã nghe thấy tiếng sủa “gâu gâu” hỗn loạn và tiếng cười ầm ĩ của đám người xem vọng lại từ ngoài cổng.
Quản gia mở cổng, Giám Hà Hầu đặng hắng một tiếng thật lớn, sắc mặt hằm hằm bước ra ngoài, khoanh tay đứng trên bậc thềm trước phủ.
Trang Chu đứng trên bãi trống, vẫn bắt chước tiếng chó sủa “gâu gâu”, sủa được vài tiếng, lại còn một tay chống đất, một tay đưa ra sau mông, giả làm đuôi chó ve vẩy, khiến người xem đều cười nghiêng ngả.
“Trang huynh!” Giám Hà Hầu sầm mặt, bước xuống bậc thềm, tiến tới trước mặt Trang Chu. “Huynh định tới đây giữ cửa giúp tại hạ chăng?”
“Không phải!” Trang Chu lúc này mới đứng thẳng dậy.
“Ồ?” Giám Hà Hầu hơi ngẩn ra. “Nếu không phải, huynh cứ sủa gâu gâu trước cổng nhà ta là có ý gì?”
“Xin ăn!” Trang Chu vòng tay nói. “Nghe nói gạo thóc trong kho nhà Giám Hà Hầu chỉ có chó mới được ăn, người không được ăn, nhà Trang Chu đứt gạo đã mấy ngày nay, già trẻ lớn bé chờ đợi mỏi mòn, muốn vay chút lương gắng gượng qua cơn thất bát, nên đành hạ mình làm chó vậy!”
Đám người không cười nữa, đồng loạt đổ dồn ánh mắt vào Giám Hà Hầu. Ẩn ý của Trang Chu đã rõ rành rành, đây chính là nhà chó!
“Trang huynh tới cửa, tại hạ đâu thể không cho vay!” Giám Hà Hầu lại không mảy may lúng túng, cười lớn vài tiếng, hơi vòng tay mà nói. “Trang huynh là người độ lượng, bụng dạ hẳn cũng không nhỏ. Xin hãy mở lời vàng ngọc, Trang huynh muốn vay bao nhiêu gạo?”
“Không nhiều, không nhiều!” Trang Chu gỡ bao gai trên vai xuống, giũ vài cái, ném toẹt xuống đất. “Đại nhân cứ đổ đầy cái bao gai này là được!”
Mọi ánh nhìn đều đổ dồn vào cái bao gai.
Đúng như quản gia đã nói, đáy bao gai thủng một lỗ toang hoác bằng đầu người, nếu không vá lại, dù có đổ cả kho thóc cũng không thể đầy. Rõ ràng Trang Chu tới đây để gây chuyện. Đám người lại cười ồ lên.
Giám Hà Hầu nhặt bao gai lên, mở miệng ra xem, lại thọc cả cánh tay qua lỗ hổng dưới đáy bao, cố tình rút ra rút vào mấy cái, cuối cùng mới lắc lắc đầu, thở dài một tiếng, ném cái bao xuống đất.
Trang Chu muốn tới vay gạo thực, chỉ là không để ý bao gai đã bị thủng, lúc này cũng bật cười, đảo mắt một vòng, định tìm sợi dây để buộc túm lỗ thủng lại.
Còn chưa tìm thấy dây, Giám Hà Hầu đã lên tiếng: “Trang huynh, không phải tại hạ không muốn cho vay, chỉ là thóc gạo trong kho của tại hạ khó mà đựng đầy cái bao gai thủng đáy của huynh được!”
“Ờ...” Trang Chu trong khó ló khôn, lập tức cởi phăng dây lưng, cúi xuống định buộc đáy bao lại, nào ngờ Giám Hà Hầu đã nhanh hơn một bước, giơ chân hất cái bao đi.
“Trang huynh!” Giám Hà Hầu hất cái bao đến bên chân quản gia, vòng tay về phía Trang Chu mà nói. “Tước hầu của tại hạ là do Trang huynh phong cho, Trang huynh đã phong tước cho tại hạ, đáng lẽ tại hạ phải được phong ấp mới phải. Đợi tại hạ được phong ấp, nhận được tô thuế, sẽ cho Trang huynh vay ba trăm lượng vàng, được chứ?”
Ba trăm lượng đủ để mua toàn bộ gạo thóc trong kho lẫm của bá quan nước Tống, dẫu rằng chưa chắc đã đựng đầy được cái bao gai không đáy của Trang Chu, song con số đó cũng đã là khó tưởng tượng.
Đám người thấy Giám Hà Hầu khéo léo đá lại quả bóng sang Trang Chu, thì không nhịn được cười, nhất loạt nhìn vào Trang Chu.
“Tạ ơn ý tốt của Giám Hà Hầu!” Trang Chu cũng đã nghe ra ý tứ, lập tức thay đổi sắc mặt, cảm khái mà rằng. “Trang Chu trên đường tới đây có gặp một chuyện lạ lùng, Giám Hà Hầu có muốn nghe chăng?”
“Trang huynh cứ nói!”
“Khi Chu đi qua một cánh đồng rộng mênh mông, chợt nghe có tiếng kêu cứu. Chu nhìn quanh tìm kiếm một hồi, hoá ra là một con cá diếc bị mắc kẹt trong vũng bùn dưới vết bánh xe. Chu bèn hỏi: ‘Này cá diếc, ngươi làm sao thế?’ Cá diếc bèn trả lời: ‘Tại hạ là bề tôi của vua Đông Hải, nay bị mắc kẹt ở đây. Tiên sinh có thể cho xin một gáo nước để cứu mạng không?’ Chu bèn đáp: ‘Việc này không khó, tại hạ sẽ xuống phía nam chu du Ngô, Việt, thuyết phục hai vương Ngô, Việt chặn ngang dòng nước Tây Giang để dẫn nước tới cứu ngươi, được chăng?’ Cá diếc nổi giận, nói rằng: ‘Tại hạ đang gặp nạn ở đây, không còn chỗ náu thân, chỉ cầu tiên sinh một gáo nước để giữ chút hơi tàn, mà tiên sinh lại thoái thác như vậy, chi bằng hãy tới cửa hàng cá khô mà tìm tôi!”’
Trang Chu kể xong, người nghe thảy đều xuýt xoa thán phục.
“Thật là một câu chuyện hay!” Giám Hà Hầu cười lớn vài tiếng, vỗ tay đồm độp, rồi quay sang quản gia. “Trang huynh không chờ được nước Tây Giang, chỉ muốn một gáo nước mà thôi, mau đi xúc một gáo gạo cho Trang huynh!”
Quản gia tuân lệnh đi ngay, một lát sau, quả nhiên đã mang lại một gáo gạo đầy, buộc chặt lỗ thủng dưới đáy bao gai lại, rồi đổ gạo vào trong.
“Trang huynh còn cần gì nữa không?” Giám Hà Hầu nhìn thẳng vào Trang Chu hỏi.
“Không cần, không cần gì nữa!” Trang Chu phá lên cười lớn, rồi xách bao gạo lên, nghênh ngang bỏ đi.
Đám người hiếu kỳ cũng lần lượt tản đi cả.
Nhìn theo bóng Trang Chu xa dần, Giám Hà Hầu thở dài sườn sượt.
“Lão gia!” Quản gia khẽ nói. “Đúng là có hơi ít, hay là để tiểu nhân xúc thêm vài gáo nữa mang cho hắn?”
“Không cần!” Giám Hà Hầu xua tay. “Đây không phải cách lâu dài. Sáng mai ngươi hãy tới nhà Trang huynh, thuê phu nhân hắn ngày ngày đi đo mức nước Bộc Thuỷ lên xuống. Ngươi hãy dạy chị ta cách đo, hàng tháng cấp cho năm đấu gạo là đủ dùng cho cả nhà hắn!”
“Lão gia?”
“Mau đi sắp xếp! Chuyện này không được rêu rao ra ngoài, cũng không được để tên Hỗn thế ma vương đó biết, tránh sinh phiền phức!”
Trang Chu xách gạo về nhà, cả nhà đều hoan hỷ, có được một bữa no nê.
Buổi sáng hôm sau, Trang Chu không biết mò mẫm ở đâu được một chiếc thạp đồng, ném đánh xoảng ra sân, bảo Trang Tiêu lau chùi cho bóng loáng. Vợ Trang Chu rửa bát xong bước ra sân, thấy vậy bèn ngẩn người, vội hỏi: “Cha nó ơi, cọ thứ đó làm gì?”
“Ăn xong bữa này, còn lo bữa sau nữa chứ!” Trang Chu cười lớn mà nói. “Sáng nay có chợ phiên, tôi sẽ mang nó tới Mông Ấp để đổi gạo. Không ngờ cái thứ quái quỷ này cũng nặng gớm, hẳn sẽ đổi được không ít thóc gạo.”
“Dứt khoát không được đâu, cha nó ơi!” Vợ Trang Chu cuống lên, giằng lấy thạp đồng, giữ khư khư trong tay. “Vật quý của tổ tiên để lại chỉ còn sót mỗi thứ này, nếu mình lại mang đi bán, trong nhà ta... đúng là sẽ không còn gì nữa!”
Vợ Trang Chu nhìn chiếc thạp đồng mà nước mắt giàn giụa. Thạp đồng có bốn chân, bốn quai cầm, thân tròn, đế vuông, trên còn có nắp đậy, được làm bằng đồng nguyên chất, nặng cỡ bảy tám cân, trên mặt khắc chim cá muông thú, chế tác vô cùng tinh xảo, nhìn qua cũng biết là báu vật. Tổ tiên của Trang Chu từng là danh môn vọng tộc, sau này đến đời ông nội tuy lưu lạc tới Mông Ấp, nhưng bộ đồ thờ gồm năm đỉnh bốn thạp vẫn không thiếu món gì. Song đến đời cha ông, bộ đồ thờ đã mất đi quá nửa, khi Trang Chu nối nghiệp nhà, lại bán đi hai chiếc, giờ chỉ còn lại mỗi một chiếc này.
“Mẹ nó này!” Trang Chu nhìn thẳng vào chị ta, nói. “Sao mình lại nói là không còn gì nữa?” Rồi lần lượt chỉ vào từng người trong sân. “Mình, tôi, thằng bé kia, con bé kia, chẳng phải còn bốn mạng người ư?”
“Cha nó ơi, con người không phải là báu vật.”
“Sai rồi, sai rồi!” Trang Chu lắc đầu quầy quậy. “Con người sinh ra giữa trời đất, hấp thu tinh khí nhật nguyệt, là linh trưởng trong vạn vật, không phải báu vật, thì là thứ gì?”
“Nhưng... con người cần phải no bụng!”
“Phải lắm, phải lắm, tôi đem thứ này đi đổi gạo, chẳng phải là để no bụng ư?”
“Đây là thứ đáng giá duy nhất trong nhà ta!”
“Thứ đáng giá thực sự là đây này!” Trang Chu vỗ vỗ vào chiếc bụng no căng, đưa tay giật lấy thạp đồng, nhưng chị vợ đã né được, chạy vội vào nhà, giấu kín thạp đồng đi, rồi lôi ra một tá giày cỏ. “Cha nó ơi, tôi mới học được cách bện giày cỏ, tuy không đẹp, song chắc chắn. Cha nó hãy mang ra phố thử xem, nếu đổi được gạo ăn, thì chúng ta đã có kế sinh nhai rồi.”
Trang Chu nói không lại vợ, đành vác mớ giày cỏ lên vai, bước ra khỏi cổng.
Quản gia nhà Giám Hà Hầu cứ như chực sẵn ngoài cổng, Trang Chu chân trước vừa đi, ông ta chân sau đã tới, còn mang theo lỉnh kỉnh các đồ đạc đo lường thuỷ văn. Quản gia nói rõ ý tứ với vợ Trang Chu, khiến chị ta nghe mà mừng rơi nước mắt, đang lắng nghe ông ta dạy cách đo đạc mức nước, bỗng một cỗ xe tứ mã sang trọng lao đến theo con đường đất, đỗ xịch lại trước cửa nhà họ Trang.
Một viên quan nhảy xuống xe, đứng ngoài cổng gọi lớn: “Trang Chu, Trang tiên sinh có nhà không?”
Trang Tiêu chạy ra mở cổng.
Vợ Trang Chu đang lúc ngỡ ngàng, thì quản gia đã nhận ra là lý chính, vội bước ra nghênh đón. Lý chính đang định giới thiệu thì hai nội thần vừa bước từ trên xe xuống cứ ngỡ quản gia là Trang Chu, lập tức vái chào cung kính: “Trang tiên sinh...”
“Không phải, không phải!” Quản gia vội vã thanh minh, đáp lễ mà nói. “Tại hạ không phải Trang tiên sinh, xin hỏi hai vị là...”
Hai nội thần đưa mắt nhìn nhau, rồi một người nói: “Chúng tôi tới từ Sính Đô đất Sở, phụng chỉ dụ của Sở Vương, mời Trang Chu tiên sinh tới cung Sở.”
“Sở Vương?” Quản gia sửng sốt. “Dám hỏi hai vị, muốn mời Trang tiên sinh tới cung Sở có việc gì?”
“Bái Trang tiên sinh làm quốc sư!”
Đường đường là Sở Vương bệ hạ lại bái Trang Chu làm quốc sư! Quản gia kinh ngạc tới hai mắt trợn trừng, miệng há hốc.
“Quốc sư?” Vợ Trang Chu vội hỏi. “Quốc sư là gì?”
“Trang phu nhân!” Lý chính vòng tay chúc mừng. “Quốc sư chính là thầy của quốc vương, cũng chính là thầy của Sở Vương. Chà chà, Trang tiên sinh nhà chị thật tài giỏi, nay đúng là đại hỷ lâm môn!”
Vợ Trang Chu kinh ngạc đến sững sờ, nhất thời không biết đối đáp ra sao.
“Dám hỏi Trang phu nhân,” nội thần vòng tay vái rồi hỏi, “Trang tiên sinh hiện ở đâu?”
Vợ Trang Chu ngại ngùng không muốn nói là đi bán giày cỏ, đang ấp úng thì Trang Tiêu đã lanh chanh đáp dõng dạc: “Cha cháu ra chợ bán giày cỏ, đi chưa lâu đâu, nếu đuổi theo chắc còn kịp đấy!”
Hai nội thần đưa mắt nhìn nhau, rồi không nói thêm lời nào, lập tức nhấc luôn Trang Tiêu lên xe, cùng lý chính đánh ngựa đuổi về phía Mông Ấp. Loáng cái đã tới Mông Ấp, song tìm khắp cả chợ mà vẫn không thấy bóng dáng Trang Chu đâu.
Khi xe ngựa chạy qua một cửa hàng ngũ cốc, Trang Tiêu nhìn thấy thóc kê vàng rực trong quầy, thì nảy ra một ý, liền quay sang lý chính nói: “Cháu biết cha cháu ở đâu rồi!” Sau đó chỉ vào cửa hàng. “Nếu các vị chịu mua cho nhà cháu một túi gạo, cháu sẽ dẫn các vị tới chỗ cha cháu!”
Nghĩ tới tình cảnh túng quẫn của nhà Trang Chu, hai nội thần không chút chần chừ, lập tức xuống xe mua luôn vài bao gạo, còn ghé vào hàng vải mua liền mấy súc, cùng với các đồ nhật dụng khác, lại mua thêm vài món ăn chín như cá thịt, gà vịt, chở đầy xe quay về.
Đi tới ngã tư, Trang Tiêu bảo phu xe rẽ vào một con đường đất. Đường càng đi càng hẹp, phía trước đã không còn thấy vết bánh xe. Nội thần bảo lý chính cùng phu xe ở lại đợi, còn hai người họ theo Trang Tiêu, đi tới bờ đê ven Bộc Thuỷ.
Ba người đi dọc bờ sông, chưa đầy nửa canh giờ, quả nhiên từ xa đã nhìn thấy có một người đứng sừng sững bên sông, đầu đội nón rách, đang giữ cần buông câu.
Người câu chính là Trang Chu.
Hoá ra, Trang Chu mang giày cỏ ra chợ, đi chưa được bao xa, đã quên bẵng luôn nhiệm vụ, quen chân rẽ ra phía bờ sông. Gió xuân phơ phất, muôn vật tốt tươi, phong cảnh tươi đẹp nhất trong trời đất đều phô bày bên bờ Bộc Thuỷ. Trang Chu mê đắm trước cảnh sắc hữu tình, không muốn bỏ lỡ dù chỉ một khắc.
Hai nội thần nhìn thấy Trang Chu, bèn vái dài sát đất, nói rõ mục đích tìm tới.
Trang Chu khép mắt hồi lâu, thong thả nhấc cần câu.
Hai nội thần đưa mắt nhìn, chợt hít vào một hơi thật sâu, bởi lẽ thứ Trang Chu cầm trong tay là một cọng lau bình thường, chẳng hề có lưỡi câu hay mồi nhử, chỉ có hai cọng lá lau nhỏ nước tong tỏng xuống sông.
Quả nhiên là bậc đại tài chân chính, thảo nào bệ hạ muốn bái người này làm thầy! Hai nội thần xuýt xoa thán phục, đưa mắt nhìn nhau, lại vái dài mà nói: “Bệ hạ chúng tôi có thành ý mời tiên sinh tới Sính, để uỷ thác quốc sự, đối đãi theo lễ quốc sư, dám hỏi ý tiên sinh thế nào?”
Trang Chu đẩy nón ra phía sau gáy, đáp lời: “Nghe nói nước Sở có rùa thần, bơi lội tung tăng ba nghìn năm trong đầm Vân Mộng, sau bị người ta bắt lên, nhốt vào lồng trúc, dâng lên Sở Vương. Sở Vương lấy gấm bọc lại, cất ở miếu đường, lấy thịt rùa tế lễ chư thần trên trời, lấy mai rùa bói quẻ xã tắc cát hung, có chuyện này chăng?”
“Quả thực có chuyện này!” Hai nội thần đưa mắt nhìn nhau, rồi một nội thần lên tiếng. “Lời tiên sinh nói là chuyện lạ thời Linh Vương. Rùa này rất mực linh thiêng, được tôn sùng nhất trong tông miếu, những điều khắc trên mai rùa đều là đại sự của xã tắc, cốt yếu của quốc gia.”
“Xin hỏi hai vị,” Trang Chu mỉm cười, nhìn thẳng vào hai nội thần, “nếu hai vị đây là con rùa đó, sẽ mong được chết để lưu lại xương cốt trong tông miếu, hay là mong được sống nguyên vẹn mà thoả thích bơi lội trong đầm?”
Hai nội thần không hẹn mà cùng đáp: “Điều này còn phải hỏi ư? Đương nhiên là mong được sống nguyên vẹn mà thoả thích bơi lội trong đầm.”
“Tạ ơn hai vị yêu mến!” Trang Chu vòng tay, nhấc cọng lau lên, chỉ về một con rùa đang cuống cuồng bơi đi trong dòng Hà Thuỷ mà nói. “Tại hạ không phải linh quy của Đại Sở, chẳng qua chỉ là con rùa tầm thường của đất Tống, nên chỉ muốn thoả thích bơi lội trong bãi bùn.”
Lời vừa dứt, Trang Chu thả luôn cọng lau xuống bên chân, men theo dòng Hà Thuỷ nghênh ngang bỏ đi.
Hai nội thần thoạt tiên sửng sốt, tiếp đến cuống quýt đuổi theo, vừa đuổi vừa vẫy tay gọi: “Tiên sinh dừng bước, tiên sinh dừng bước...”
Trang Chu vờ như không nghe thấy, càng bước càng nhanh, thấy hai người vẫn bám chằng chằng theo sau, thì rẽ luôn xuống dòng nước, lội sông mà đi. Hai người cũng muốn đuổi theo, song thử chạm xuống nước sông, thấy vẫn lạnh buốt, lại nhìn thấy Trang Chu đã lội sâu đến bẹn, đành từ bỏ ý định, tạm thời quay về thôn cùng với Trang Tiêu.
Nhiều năm qua, người Sở vẫn thèm muốn đất Tống, giữa Tống, Sở có thể nói là oán thù truyền kiếp, do vậy, Sở Vương vừa sai người tới đất Tống, đã bị người Tống theo dõi sát sao.
Hay tin hai người phụng chỉ dụ của Sở Uy Vương mời thần dân của mình là Trang Chu làm quốc sư, Tống Vương Y ển vốn dĩ đã bàng hoàng sửng sốt, giờ lại hay tin người đến là sủng thần của Sở Uy Vương, lại càng thêm kinh hãi, bèn gấp rút triệu quần thần tới nghị sự. Quần thần bàn tán ồn ào, tranh nhau kiến nghị, song không một ai biết Trang Chu là ai. Tống Vương hỏi không ra, đành phải cho triệu quan lệnh Mông Thành tới.
Mông Thành lệnh lại cho gọi lý chính, Giám Bộc lệnh, cùng đi đến vương cung. Giám Bộc lệnh tranh thủ cơ hội, lập tức kể tường tận về chuyện năm xưa mình cùng học với Trang Chu, Huệ Thi, sau đó còn nhắc tới vụ án vườn sơn, nhằm rửa oan cho mình. Khi kể tới chuyện nhà Trang Chu tình cảnh túng quẫn, không có gì ăn, phải tới cửa nhà bạn cũ bắt chước tiếng chó sủa để vay gạo, khiến người nghe thảy đều xúc động thở than.
Được biết tài của Huệ Thi còn xa mới bằng Trang Chu, Huệ Thi hễ gặp Trang Chu đều phải nhún nhường ba phần, khiến Tống Vương Y ển không khỏi kinh ngạc. Huệ Thi sớm đã vẻ vang làm tướng quốc Đại Ngụy, Trang Chu tài còn cao hơn Huệ Thi mấy phần vậy mà ngay trong lãnh thổ của mình, vẫn cứ lặng lẽ vô danh, Tống Vương Y ển đương nhiên thấy mất mặt. Nếu như người này lại bị Sở Uy Vương mời đi mất, bảo ông ta phải giấu mặt vào đâu đây?
Chính vào lúc này, quân uý tới bẩm báo, sứ thần nước Sở đã dựng trại bên nhà cỏ của Trang Chu, xem ra không đạt mục đích quyết không bỏ cuộc. Sở là nước lớn, Tống vốn không dám gây sự, lần này tới lại là để mời hiền tài, nên không phải điều cấm kỵ ở liệt quốc.
Sự tình không thể trì hoãn, Tống Vương lập tức đổi ngay chức tướng quốc đương nhiệm sang làm thái sư, để trống ngôi tướng quốc, hạ lệnh cho Trang Chu lập tức nhập cung bái tướng, đồng thời sắp xếp người “khoản đãi” sứ Sở cẩn thận, tránh để họ giành được Trang Chu trước một bước.
Tuy nhiên, đại hiền Trang Chu lại không thấy tăm hơi.
Hai phái đoàn sứ thần Sở và Tống túc trực bên ngoài nhà họ Trang suốt ba ngày trời, vẫn không thấy bóng dáng Trang Chu đâu. Sứ Sở càng thêm lì lợm, cứ ở lì tại đó không chịu đi. Tống Vương Y ển cũng không chịu ngồi yên, hạ lệnh cho phủ tư đồ vẽ chân dung Trang Chu, mang dán khắp nơi giống như truy nã phạm nhân, lại còn điều động quân lính lùng sục suốt dọc hai bờ Bộc Thuỷ, mà vẫn chẳng thu được kết quả gì.
Đang nghĩ mãi không ra cách nào, bỗng có một người từ đất Ngụy trở về, nói rằng nhìn thấy một người tướng mạo giống hệt Trang Chu trong hình vẽ.
Nếu Trang Chu tới Ngụy, hẳn là tìm Huệ Thi. Nếu Huệ Thi tiến cử, dựa vào tài của Trang Chu, dứt khoát sẽ được Ngụy Vương trọng dụng. Tống Vương Y ển hay tin lại càng kinh sợ, lập tức cho gọi Giám Bộc lệnh vào yết kiến, không những bổ nhiệm ông ta làm trung đại phu, còn trả lại quyền quản lý vườn sơn, rồi hạ lệnh cho ông ta gấp rút tới Ngụy, mời bằng được Trang Chu trở về.
Trước sau không quá mười ngày, một kẻ vốn chỉ khiến người ta lắc đầu ngao ngán là Trang Chu lại trở nên lừng lẫy đến nhường này, không chỉ giúp Giám Hà Hầu lấy lại được vườn sơn đã mất, mà còn khiến ông ta một bước nhảy vọt từ hạ đại phu lên trung đại phu hệt như trong mơ, quả thực là ngoài sức tưởng tượng của ông ta. Trước vinh dự đến tổ tiên cũng chỉ dám ước mong vừa thình lình ập đến, Giám Hà Hầu hỉ hả không để đâu cho hết, sau khi hỏi han người báo tin thật kỹ lưỡng, lập tức sắp xếp việc nhà ổn thoả, mang đủ tiền bạc, cấp tốc lên đường thẳng tới Đại Lương.
Quả nhiên Trang Chu đã tới Đại Lương.
Sau khi gặp sứ Sở, Trang Chu lông bông chơi nhởn suốt hai ngày liền, đến tối ngày thứ hai, bụng đói lép kẹp, mới tìm đường về nhà, từ xa nhìn thấy ngoài cổng đèn đuốc sáng trưng, rậm rịch tiếng người kêu ngựa hí, thì chau tít đôi mày, nghĩ thầm: “Xem ra, người Sở hẳn không cam tâm đi uổng chuyến này. Cũng được! Ta đang muốn đi xa, cớ sao lại không nhân dịp này để hoàn thành tâm nguyện?”
Nghĩ là vậy, Trang Chu lập tức quay người đi luôn, ngược dòng Bộc Thuỷ được khoảng nửa canh giờ, chợt vỗ tay lên đầu mà lẩm nhẩm: “Phải rồi, đã lâu không gặp Huệ Thi, phải tới Đại Lương gặp hắn mới được!”
Mông vốn là một ấp ở biên giới Tống, Ngụy, nên đi chưa tới nửa ngày, Trang Chu đã vào đất Ngụy.
Lúc này vừa hay đại quân hợp tung phạt Ngụy thất bại trở về, khắp nước Ngụy đâu đâu cũng thấy cảnh đau thương tang tóc, thôn xóm nào cũng văng vẳng tiếng khóc hờ bi thiết, người trên đường đều mặc áo sô, khắp trời đất như bao trùm trong một bầu tang thương sầu thảm dị thường.
Tuy nhiên, những bi thương sầu thảm này chẳng hề ảnh hưởng tới một Trang Chu vốn đã nhìn thấu sinh tử. Thoát khỏi sự đeo bám của người Sở, Trang Chu tâm tư thư thái, du sơn ngoạn thuỷ, muốn hát thì hát, muốn ngâm thì ngâm, muốn ngủ thì ngủ, muốn đi thì đi, khát thì vốc nước uống, đói thì kiếm đại chút gì bỏ bụng, suốt dọc đường tiêu diêu tự tại, không chút ràng buộc, ngay cả mục đích của chuyến đi cũng đã quên bỏ từ lâu.
Một chuyện tình cờ đã khiến Trang Chu bừng tỉnh.
Một ngày nọ, Trang Chu lang thang tới một khu chợ bên ngoài thành Đại Lương, thấy mọi người xúm đông xúm đỏ vây quanh một tờ cáo thị mới treo, cũng đưa mắt liếc nhìn, bất giác giật mình kinh ngạc, bởi lẽ trên tấm cáo thị viết rành rành cái tên Trang Chu, bức chân dung trên đó cũng chính là ông ta, còn treo giải mười lượng vàng.
Nhìn kỹ dòng lạc khoản, thấy không phải là phủ tư đồ, mà là phủ tướng quốc. Về lý mà nói, phủ tướng quốc không quản chuyện bắt bớ truy nã.
“Ồ!” Trang Chu kéo sụp vành nón xuống, lẩn vội sang bên đường, nghĩ thầm trong bụng: “Tướng quốc nước Ngụy chẳng phải là Huệ Thi ư? Ta muốn tới chỗ hắn, người còn chưa tới nơi, sao hắn đã biết? Ta chưa từng gây rắc rối cho hắn, hắn lại muốn truy nã ta, là cớ làm sao? Vừa mới được tiêu dao tự tại ít hôm, mà đã... Ta phải tìm đến tận cửa nhà hắn, hỏi cho ra nhẽ mới được!”
Trang Chu không chút đắn đo, lập tức sải bước tiến về Đại Lương.
Trang Chu vừa đi vừa hỏi, khi sắp tới phủ tướng quốc, chợt nhìn thấy bên vệ đường có ba người đang quỳ, là một thiếu phụ dẫn theo hai đứa con một trai một gái xin ăn, trước mặt mỗi người bày một cái bát sành sứt mẻ, bên trong đựng lẫn lộn các đồ bố thí. Thiếu phụ nom còn rất trẻ, có lẽ chỉ hơn đôi mươi, dung mạo trông cũng xinh xắn, song mặt mày nhem nhuốc, đầu tóc rối bù, quần áo còn rách rưới hơn cả Trang Chu, chỉ đủ che chắn những chỗ cần che. Hai đứa con trông khá lanh lợi, đứa con trai tầm năm sáu tuổi, đứa con gái nhỏ hơn một chút, hai mắt mở to nhìn dán vào người đi đường, hễ thấy có người nhìn đến, dù có cho hay không đều phục xuống dập đầu.
Trang Chu thấy tò mò, bèn tiến về phía họ. Thằng bé trai giương mắt nhìn hắn chằm chằm, đứa bé gái vẫn theo bài cũ, dập đầu lia lịa. Thiếu phụ săm soi Trang Chu từ đâu tới chân vài lượt, chỉ vào chỗ đất trống bên cạnh thằng bé, nói: “Đại thúc, nếu không chê, hãy quỳ ở đó. Chỗ này nhiều người giàu có, chắc cũng xin được chút tiền.”
Trang Chu ngồi thụp xuống trước mặt cô ta, đưa mắt nhìn chăm chú: “Cô còn trẻ thế, sao lại ở đây xin ăn?”
“Than ôi!” Thiếu phụ nghe hỏi, bất giác buồn rầu nhỏ lệ. “Cha của lũ trẻ tử trận sa trường, cha mẹ chồng đau thương quá độ, mắc bệnh mà chết, trong nhà chẳng còn đàn ông. Có hai đứa trẻ này, muốn tái giá cũng chẳng tìm được nhà thích hợp, đất đai đã bán sạch, chẳng còn kế sinh nhai, nay lại gặp nạn đói, đành phải bỏ nhà đi tha hương, muối mặt xin ăn qua ngày.”
Nghĩ tới vợ và hai đứa con cũng đang đói ăn ở nhà, Trang Chu bỗng thấy trong lòng đau xót, liếc nhìn mấy đồng xu chỏng chơ trong cái bát sứt mẻ, bèn hỏi: “Này cô, có muốn xin được khoản tiền nhiều hơn thế này không?”
“Bao nhiêu?” Thiếu phụ hỏi.
“Mười lượng!”
“Mười lượng?” Thiếu phụ kinh ngạc, nhìn sững vào Trang Chu một hồi, rồi cười buồn, ngoảnh mặt đi chỗ khác.
“Ông ơi!” Thằng bé mở to mắt. “Cháu muốn đi xin!”
“Nhóc con khá lắm!” Trang Chu nhìn thằng bé cười cười, đứng dậy nói. “Muốn có tiền, cứ đi theo ta!”
Thằng bé đứng dậy, cầm lấy cái bát mẻ, đi theo Trang Chu. Thiếu phụ thấy vậy, sợ xảy ra chuyện, cũng vội đứng dậy, kéo đứa con gái bám theo sau.
Trang Chu tìm tới nơi treo cáo thị, gỡ xuống, đưa cho thằng bé, nói: “Cầm lấy cái này, theo ta đi lĩnh vàng!”
Ba mẹ con thiếu phụ bán tín bán nghi, theo Trang Chu thẳng tiến tới trước phủ tướng quốc.
Trang Chu mỗi tay dắt một đứa trẻ, xăm xăm xông vào. Quả như dự đoán, cả đám bị môn nhân ngăn lại. Trang Chu ra hiệu, thằng bé bèn giơ cao tờ cáo thị trong tay. Môn nhân đã nhìn thấy, lại săm soi Trang Chu một lượt từ đầu đến chân, rồi cuống quýt chạy vào trong bẩm báo.
Một lát sau, quản gia tất tả chạy ra, vòng tay mà nói: “Tiên sinh phải chăng là Trang Chu?”
“Chính tại hạ!” Trang Chu đáp lễ. “Huệ Thi người Tống có nhà không?”
“Chúa công vào cung, chắc sắp về rồi!” Quản gia nhìn thấy thiếu phụ và hai đứa trẻ, đoán là người nhà hắn, bèn vòng tay mà nói. “Trang tiên sinh, mời vào trong phủ!”
“Khoan đã!” Trang Chu cầm lấy tờ cáo thị trong tay thằng bé, chỉ vào mà nói. “Tiền thưởng còn chưa lĩnh!”
“Phải, phải!” Quản gia bèn cười, sai người mang mười lượng vàng lại, đưa cho thằng bé.
Nhìn những thỏi vàng sáng choang lấp lánh, thiếu phụ và hai đứa trẻ hết sức ngỡ ngàng, hai mắt trân trối, hồi lâu sau mới quỳ phịch xuống đất, dập đầu gọi “ân công” liên miệng. Quản gia lúc này cũng đã hiểu rõ sự tình, thì khẽ cười vài tiếng, dẫn Trang Chu vào phủ.
Trà còn chưa kịp nguội, Huệ Thi đã bãi triều trở về, nghe nói Trang Chu đã đến, phong thái rề rà cố hữu bỗng bay đâu mất sạch, hối hả chạy tới phòng khách, người chưa tới cửa, giọng đã oang oang: “Trang huynh, Trang huynh!”
Trang Chu sầm mặt xuống, xoay người đi, xoay lưng lại phía Huệ Thi.
“Trang huynh, muốn giết tại hạ ư!” Huệ Thi bước vội lại, thấy Trang Chu làm vậy, bèn níu lấy cánh tay ông ta.
Trang Chu giằng mạnh tay ra, hừ mũi một tiếng.
“Trang huynh...” Huệ Thi thoáng sửng sốt.
“Trang huynh?” Trang Chu cười khẩy một tiếng. “Đến lúc này lại gọi nghe thân thiết nhỉ!” Tiện tay cầm lấy tờ cáo thị, ném đánh “cạch” xuống đất. “Trên tờ cáo thị này, hẳn là bút tích của tướng quốc đại nhân?”
Huệ Thi bật cười vài tiếng, cầm tờ cáo thị lên, chẳng buồn xem, ném luôn sang bên cạnh: “Tại hạ biết ngay là Trang huynh sẽ phản ứng như vậy, tối qua còn đánh cược với người ta vì việc này đấy!”
“Phản ứng như vậy?” Trang Chu lại cười nhạt một tiếng, hai mắt nhìn xoáy vào Huệ Thi. “Họ Huệ kia, ta hỏi ngươi, Trang mỗ đã phạm phải vương pháp gì, hay đã có chuyện gì đắc tội đến ngươi, để đến nỗi ngươi phải giở thủ đoạn hạ đẳng, treo thưởng khắp nơi hòng truy nã ta?”
“Trang huynh, xin nghe tại hạ nói một lời!” Huệ Thi lại bật cười, ngồi xuống đối diện với Trang Chu.
“Nói đi!”
“Trang huynh không phạm vương pháp, cũng chẳng đắc tội gì với tại hạ, sở dĩ tại hạ truy nã Trang huynh, là vì có người tới phủ, mật báo với tại hạ rằng, Trang Tử đã tới nước Ngụy, muốn tranh chức tướng...”
“Ha ha ha!” Lời còn chưa dứt, Trang Chu đã phá lên cười một tràng dài, cười xong bèn châm chọc. “Phương nam có một loài chim, tên là Uyên sồ, tướng quốc đại nhân hẳn đã từng nghe nói đến?”
“Chưa hề!”
“Uyên sồ là loài chim kỳ lạ, một năm hai lần, vào mùa xuân bay từ Nam Hải tới Bắc Hải, vào mùa thu lại bay từ Bắc Hải về Nam Hải. Trên đường bay qua nghìn núi muôn sông, song loài chim này phẩm tính thanh cao, không phải ngô đồng không đậu, không phải hạt trúc không ăn, không phải suối ngọt không uống. Có con diều hâu, vớ được cái xác chuột chết rữa, đang hoan hỷ rỉa róc, chợt thấy Uyên sồ bay lướt qua đỉnh đầu, thì cuống quýt hoảng kinh, giương vuốt lên trời mà kêu lên quang quác. Tướng quốc đương triều lẽ nào cũng muốn doạ dẫm ta chỉ vì một đất Lương cỏn con này?”
“Ha ha ha!” Huệ Thi cũng phá lên cười, vỗ tay bồm bộp, liên miệng tấm tắc. “Tuyệt diệu, tuyệt diệu! Mấy năm không gặp, miệng lưỡi của Trang huynh càng thêm sắc bén.”
“Chuyện này chẳng liên quan gì tới miệng lưỡi!”
“Phải, đúng là chẳng liên quan gì tới miệng lưỡi. Có điều, Trang huynh lẽ nào không muốn hỏi người nào đã tới phủ, và tại sao lại nói ra những lời đó ư?”
Trang Chu thoáng ngẩn người: “Xin hãy nói!”
“Giám Hà Hầu!”
“Giám Hà Hầu?” Trang Chu thoạt tiên kinh ngạc, tiếp đến giận dữ mà nói. “Tên tiểu nhân keo kiệt này, hắn tới đây làm gì?”
Huệ Thi chỉ tay vào Trang Chu, cười mà nói: “Trang huynh, đúng là huynh không biết nhìn người tốt!”
“Nói vậy là sao?”
Huệ Thi kể lại toàn bộ những sự việc có liên quan tới Trang Chu gần đây. Nghe xong, Trang Chu mới biết đã hiểu lầm Giám Hà Hầu, vội hỏi: “Giám Hà huynh đâu rồi?”
“Tại hạ tống cổ hắn về rồi! Cái gì mà quốc sư Đại Sở, tướng quốc Đại Tống? Trong mắt Trang huynh hiện giờ, những thứ đó chẳng qua chỉ là đống thịt chuột thối rữa dưới móng diều hâu mà thôi!”
“Tạ ơn Huệ huynh che chở!” Trang Chu vòng tay cảm tạ, mắt liếc nhìn tờ cáo thị bên cạnh. “Tại hạ còn một chuyện không hiểu, Huệ huynh đã đuổi Giám Hà huynh đi rồi, cớ sao còn muốn truy nã tại hạ?”
Huệ Thi cười nói: “Trang huynh thử nghĩ mà xem, nếu không dùng cách này, tại hạ làm sao mời được Trang huynh tới đây?”
“Mọi việc đã qua rồi, Huệ huynh mời tại hạ làm gì?”
“Giải khuây mà thôi! Không giấu Trang huynh, tại hạ từ khi tới Ngụy, không ngày nào không buồn phiền!”
“Ồ?” Trang Chu cố tình ra vẻ kinh ngạc. “Ở trong một góc này, Huệ huynh đã là dưới một người trên vạn người, đáng lẽ nên đắc ý vui mừng mới phải, vì sao lại buồn phiền?”
“Than ôi!” Huệ Thi thở dài một tiếng. “Một lời khó hết! Niềm vui của Trang huynh là ở tiêu dao tự tại. Niềm vui của tại hạ là ở danh thực chốn nhân gian.” Rồi chỉ ra phía ngoài. “Huynh hãy nhìn mà xem, đầy thành vàng ngọc huy hoàng, đầy phố lụa là gấm vóc, song khó mà gặp được loài vật sống nào có thể khiến tại hạ thổ lộ cho tận hứng trong chốc lát, há chẳng buồn phiền ư?”
“Than ôi!” Trang Chu cũng thở dài. “Tại hạ tìm huynh, là muốn mời huynh du ngoạn khắp nhân gian; huynh tìm tại hạ, lại là muốn phô diễn tài miệng lưỡi, với huynh là vui sướng, còn với tại hạ, há chẳng buồn phiền lắm ư?”
“Đi thôi, đi thôi!” Huệ Thi sốt sắng ra mặt, không chờ thêm được nữa, đứng dậy kéo phăng Trang Chu đi. “Giờ chúng ta hãy ra hậu hoa viên vui chơi, để huynh hiểu được thế nào là hoa cỏ. Không giấu huynh, mấy năm nay, miệng lưỡi tại hạ bỗng nhiên cứng đờ, duy có bản lĩnh làm vườn là tiến bộ trông thấy!”
Hai người bước ra hậu hoa viên, còn chưa kịp ngắm vườn cây, đã thấy quản gia hớt hải đuổi theo, nói là quốc gia lại có chiến sự, điện hạ triệu gấp, vời Huệ Thi lập tức vào cung. Huệ Thi cười gượng một tiếng, nhún vai nhìn Trang Chu với vẻ đầy bất đắc dĩ, bảo Trang Chu cứ tự nhiên dạo chơi trong vườn, còn mình vội vã lên triều.
Chiến sự vẫn là giữa Tần và Ngụy. Nguyên nhân chiến sự, vẫn do Bàng Quyên khơi mào.
Từ An Ấp tiến về phía đông tới Đại Lương, người Ngụy chỉ có hai con đường đi được. Thứ nhất là băng qua núi Trung Điều, qua bến đò tới Thiểm, đi đường Hào Quan, tiến về phía đông tới Lạc Dương, tiếp tục đi theo đường cái quan phía nam Hà Thuỷ tới Đại Lương. Thứ hai là đi qua Chỉ Quan nằm tại nơi giao cắt giữa núi Vương Ốc và núi Thái Hàng, thẳng tới bồn địa Nam Dương, từ Mạnh Tân vượt Hà Thuỷ. Hai con đường này đều nương tựa vào nhau, xét về quân sự, mất đi đường nào, người Ngụy cũng không thể chấp nhận.
Trong đại chiến Hàm Cốc, Thiểm Ấp và Khúc Ốc thất thủ, người Tần kiểm soát được bến đò Thái Dương, uy hiếp bến đò Mao Tân, mà hai bến đò lớn này lại là một trong những con đường huyết mạch nối thông An Ấp với Đại Lương, điều này đã khiến cho một người vốn hiểu ý nghĩa của địa thế là Bàng Quyên như mắc xương trong họng. Bàng Quyên ngấm ngầm điều binh, chia quân hai lộ, chưa tuyên đã chiến, một lộ đánh vào Thiểm Ấp, một lộ đánh vào Khúc Ốc. Do sự việc quá ư thình lình, người Tần ở đất Thiểm không kịp đề phòng, rơi vào tuyệt địa mà thất thủ, còn Khúc Ốc được quân trấn thủ ải Hàm Cốc chi viện kịp thời, vẫn miễn cưỡng giữ được.
Tư Mã Thác nổi giận đùng đùng, một mặt cấp báo về Hàm Dương, mặt khác điều động quân Tần tập kết ở ải Hàm Cốc, thề đoạt lại đất đai bị mất. Bàng Quyên cũng gấp rút bài binh bố trí trận, đồng thời phóng ngựa hoả tốc về Đại Lương, tấu báo lên triều đình, cực lực đề nghị tiếp tục đánh Tần, đoạt lại Khúc Ốc và bến đò Thái Dương, đảm bảo huyết mạch của Đại Ngụy được thông suốt.
Ngụy Vương không lên triều, quốc sự vẫn do thái tử Thân xử lý.
Vết thương cũ còn chưa lành, giờ lại khai chiến, dù là ai cũng cảm thấy sợ hãi trong lòng. Dù Bàng Quyên đã giải thích gãy lưỡi, thậm chí sai người khiêng cả sa bàn quân sự vào cung, tay chỉ sa bàn giảng giải vài lượt về địa thế chiến lược quan trọng của các ấp Thiểm, Khúc Ốc, thề thốt rằng mình sẽ thu hồi được Khúc Ốc, vây chặt người Tần trong ải Hàm Cốc, song thái tử Thân vẫn một mặt lầm lì, Chu Uy quay nhìn đi chỗ khác, Bạch Hổ cũng chẳng hé một lời, còn Huệ Thi hai mắt khép chặt, cứ như ngủ gật.
“Chư vị, chư vị!” Bàng Quyên sốt ruột ra mặt. “Tiền tuyến đã khai chiến, người Tần tập kết rầm rộ, muốn đoạt lại Thiểm Ấp, thậm chí còn tuyên bố cướp lấy Hào Quan của ta, cắt đứt huyết mạch Đại Ngụy, các tướng sĩ đang phải tắm máu sa trường, tại hạ khẩn cấp cần thêm lương thảo quân nhu, còn cần thêm quân hậu bị, khẩn cầu chư vị!” Nói đoạn, vòng tay vái liên hồi.
“Bàng tướng quân!” Chu Uy thở dài một tiếng, chậm rãi đáp lời. “Tại hạ không phải không muốn khai chiến với người Tần, chỉ có điều... tướng quân cũng biết rồi đấy, lương thảo tích trữ suốt mấy năm nay, chỗ nào dùng thì đã dùng rồi, chỗ nào chưa dùng thì đã bị người Tần thiêu rụi cả rồi. Hiện tại lại gặp vụ đói mùa xuân, khắp nơi la liệt dân đói. Còn về quân hậu bị, hiện tại đang bận rộn vụ cày xuân, sức người vốn đã thiếu hụt...” Chu Uy càng nói càng chậm, rồi dừng lại giữa chừng.
“Tư đồ đại nhân?” Bàng Quyên nhìn sang Bạch Hổ, đưa mắt ra hiệu cho hắn.
“Bàng tướng quân!” Bạch Hổ đã không nói giúp cho hắn, ngược lại còn hùa theo Chu Uy. “Tại hạ đồng ý với thượng khanh đại nhân. Hiện tại khai chiến với Tần, thời cơ không thích hợp, mong tướng quân suy nghĩ kỹ.”
Gặp phải tình cảnh này, Bàng Quyên đã thấm thía thế nào là thân cô thế cô, tức giận đến thở phì phì, ngoảnh mặt đi chỗ khác.
“Huệ tướng quốc!” Thái tử Thân nhìn sang Huệ Thi. “Vũ An Quân thỉnh cầu khai chiến với Tần, Chu thượng khanh, Bạch tư đồ cho rằng thời cơ không thích hợp, dám hỏi tướng quốc quyết định thế nào?”
“Hồi bẩm điện hạ!” Huệ Thi hé mắt, vòng tay mà nói. “Đại sự quốc gia, nên để chúa thượng quyết định, vi thần không dám nói bừa.”
Huệ Thi đùn đẩy sang Huệ Vương, khiến Bàng Quyên đương nhiên không biết phải nói gì, lập tức tới chỗ Huệ Vương cầu kiến, song lại bị tỳ nhân chặn lại ngoài cửa. Bàng Quyên đợi suốt hai canh giờ, vẫn không thấy Huệ Vương truyền yết kiến, thì hiểu rằng có đợi nữa cũng vô ích, lại sợ nước Tần xuất binh báo thù, cuối cùng đành thở dài sườn sượt, đánh xe ra khỏi thành, vội vã đi thẳng tới doanh trại Thằng Trì ngay trong đêm, gấp rút bố trí phòng bị.
Thấy Bàng Quyên hiếu chiến đến vậy, quần thần đều thở dài ngao ngán.
“Sự tình trước mắt vô cùng cấp bách!” Thái tử Thân nhìn sang Huệ Thi. “Tiên sinh có kế sách hay nào chăng?”
“Phạt Tần, chinh chiến đều là ngoại vụ,” Huệ Thi đáp lời. “Hiện tại hợp tung chưa tan rã, tung ước vẫn còn hiệu lực. Đã liên quan tới ngoại vụ, cớ sao điện hạ không hỏi thử ngoại tướng Tô Tần?”
“Phải rồi, phải rồi!” Chu Uy lập tức hùa theo. “Khi chuẩn bị phạt Tần, Tô tướng quốc kiên quyết phản đối, có nhắc với tại hạ chuyện này, song một tay khó vỗ, không thể thuyết phục bệ hạ và Bàng tướng quân, mới dẫn tới kết cục hôm nay.”
“Nghe nói Tô Tử bữa trước có tới đây.” Thái tử Thân suy ngẫm một hồi, rồi đưa mắt nhìn quần thần. “Song gần đây lại không thấy tin tức gì của Tô Tử. Chư vị có ai biết Tô tướng quốc đang ở đâu không?”
“Ở Triệu!” Huệ Thi khép mắt đáp lời. “Bàng tướng quân hoài nghi người Triệu âm mưu cấu kết với Tần, bệ hạ cũng nghi ngờ là vậy, Tô Tử muốn tìm hiểu rõ ràng, đã tới nước Triệu điều tra chân tướng.”
“Bạch tư đồ!” Thái tử Thân quay sang Bạch Hổ. “Tư đồ hãy mau chóng tới Hàm Đan một chuyến, thứ nhất thay phụ vương hỏi thăm Triệu Vương, thứ hai hỏi thăm Tô tướng quốc, nhờ hắn chỉ điểm cho cục thế trước mắt. Nếu Tô tướng quốc chịu tới Đại Lương, thực là tốt đẹp nào bằng.”
“Hồi bẩm điện hạ!” Bạch Hổ thoáng do dự. “Còn phía bệ hạ...”
“Phía phụ vương, bản cung sẽ tự tấu báo.”
Bạch Hổ tới nước Triệu, sau khi yết kiến Triệu Vương, liền đi thẳng tới phủ Tô Tần, trình bày tường tận một lượt cục thế nguy nan của nước Ngụy, rồi vòng tay mà nói: “Tô đại nhân, hợp tung phạt Tần thất bại, gần mười vạn tướng sĩ đổ máu sa trường, người bị thương càng nhiều không kể xiết, nước Ngụy lại một lần nữa tổn thương nguyên khí, không dễ phục hồi. Song Vũ An Quân không xem xét quốc tình, một mực thỉnh cầu giao chiến. Bệ hạ lâm bệnh không thể lên triều, triều thần chẳng biết làm thế nào, điện hạ và Huệ tướng quốc đều thỉnh cầu đại nhân mau chóng tới Đại Lương, để chỉ giáo chỗ mê muội.”
“Than ôi!” Tô Tần than thở. “Bạch huynh không biết đấy thôi, cuộc chiến của Vũ An Quân tại đất Thiểm chẳng qua chỉ là một con sóng giữa đại dương, hiện tại nguy nan không phải ở nước Ngụy!”
“Không phải ở nước Ngụy, vậy thì ở đâu?” Bạch Hổ cả kinh hỏi.
“Ở sự hiềm khích và ngờ vực giữa các nước hợp tung.”
“Đúng vậy!” Bạch Hổ hít vào một hơi dài. “Đặc biệt là Vũ An Quân. Vũ An Quân khăng khăng cho rằng người Triệu đã bán rẻ nước Ngụy.”
“Bán rẻ nước Ngụy không phải người Triệu, mà là người Sở và người Tề!”
“Người Sở và người Tề?” Bạch Hổ lại giật mình kinh hãi.
“Đúng vậy!” Tô Tần khẽ gật đầu. “Khi minh ước hợp tung vừa ký kết, tại hạ nghe nói Ngụy Vương và Sở, Tề có ý phạt Tần, thì lấy làm lo lắng, bèn bàn mưu với Triệu Hầu, Triệu Hầu cũng có chung mối lo như tại hạ. Tại hạ hiểu rằng mấu chốt phạt Tần là ở Ngụy Vương bệ hạ, bèn tới khuyên can, nào ngờ bệ hạ quá tin Bàng Quyên, đã kiếm cớ đẩy tại hạ về quê thăm thân nhằm giữ chân tại hạ, cuối cùng mới dẫn tới cuộc chiến này. Còn như Bàng Quyên ngờ vực, chẳng qua là đã trúng kế ly gián của người Tần.”
“Kế ly gián của người Tần?”
“Mười ngày trước, Lý Nghĩa Phu tướng quân vào cung bẩm chuyện, tại hạ đã xác minh sự thực. Nhìn vào con người của Lý tướng quân và diễn biến cuộc chiến, lời nói của người này rất đáng tin cậy. Người Tần vì muốn phá hợp tung, đã kết giao với nước Yên xa xôi, khuấy động nên cuộc chiến giữa Yên và Tề, quân Tề viện vào cớ đó để rút lui khỏi chiến trường. Người Sở kiếm cớ không hợp thuỷ thổ, góp của mà không góp sức. Còn lại quân Tam Tấn đều nghe theo sự điều khiển của Bàng Quyên. Bàng Quyên tranh công đầu, lệnh cho Triệu làm hậu quân, trấn giữ Thiểm, Tiêu, không ngờ tiền quân bị chặn, Hào Quan bị đột kích, Lý Nghĩa Phu anh dũng xung phong, đoạt lại Hào Quan, người Tần lại né tránh không xuất hiện, là cố ý hãm hại người Triệu. Lý tướng quân ngỡ là quân Tần đường xa mệt nhọc, nên đã rút lui, còn cho rằng lần phạt Tần này không phải là ý muốn của Triệu Hầu, bèn tự ý dẫn quân quay về Thượng Đảng. Triệu Hầu đã trách tội hắn, cách hết chức tước, bảo hắn đóng cửa tự kiểm điểm lỗi lầm.”
Bạch Hổ ngẫm nghĩ hồi lâu, mới ngẩng lên nói: “Dám hỏi đại nhân, đã kết hợp tung, sao Tề, Sở lại có hành vi bất tín như vậy?”
“Không giấu Bạch huynh,” Tô Tần than thở, “Tề, Sở tham gia hợp tung, động cơ lại không đơn giản, nói trắng ra là hai nước Tề, Sở đều muốn dựa vào hợp tung để làm suy yếu Ngụy!”
“Làm suy yếu Ngụy?” Bạch Hổ trợn tròn hai mắt.
“Một khi hợp tung thành công, Ngụy tất phạt Tần. Phạt Tần nếu thắng, Sở, Tề đều được lợi; nếu bại, Ngụy, Tần hai bên đều tổn thương; Sở, Tề cũng đều được lợi.”
“Lợi thế nào?”
“Lợi ở làm suy yếu Ngụy. Nói xa thì Ngụy chiếm cứ Trung Nguyên, là điều Tề, Sở đều không mong muốn. Nói gần thì chuyện Hoàng Trì, Hình Sơn, họ vẫn ghi hận trong lòng.”
“Phải rồi!” Bạch Hổ hít ngược một hơi khí lạnh. “Nhưng Vũ An Quân...”
“Không thể trách hắn!” Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, từ từ khép mắt. “Vũ An Quân là một tướng quân hiếu chiến, trong mắt hắn chỉ có chém giết.”
Nói chuyện với Tô Tần một chốc, Bạch Hổ trong lòng đã sáng tỏ, bèn tha thiết mời hắn cùng về Đại Lương, xoá bỏ hiềm khích giữa Ngụy, Triệu. Chỉ cần Ngụy Vương nghĩ thông, Tam Tấn hoà hợp, hợp tung liền có thể tiếp tục thực thi.
Tô Tần vốn cho là phải, đang định cùng Bạch Hổ lên đường tới Đại Lương, bỗng thấy công tử Khoái hấp tấp tìm tới, nói là người Tề dường như không có thành ý trả lại mười thành, Tử Chi tướng quân mấy lần sai người tới bàn chuyện trả thành, họ đều đóng cửa không gặp, còn nói Yên Vương nổi trận lôi đình, đã tăng thêm ba vạn binh lính, ba trăm cỗ chiến xa, chiếu lệnh Tử Chi dùng vũ lực để đòi về.
Thấy sự tình nguy cấp, Tô Tần đành thảo một bức thư, giao cho Bạch Hổ chuyển tới Ngụy Vương, rồi gấp rút tới Kế Thành xử lý.
Bàng Quyên đột kích vùng sơn cốc, đoạt về Thiểm Ấp. Chiến báo truyền tới cung Tần, Tần Vương triệu tập quần thần tới bàn kế sách ứng phó. Quần thần phẫn nộ, nhao nhao đòi khai chiến với Ngụy.
“Chúa thượng!” Tư Mã Thác từng suýt bỏ mạng ở Hào Quan vốn từ lâu đã muốn phục thù, khảng khái tâu bày. “Các ấp Khúc Ốc, Thiểm, Tiêu, lưng dựa vào Hàm Cốc, tiến có thể tấn công, lùi có thể phòng ngự. Đánh lên phía bắc có thể qua bến đò Hà Thuỷ, thẳng tiến về An Ấp. Đánh về phía tây có thể trực tiếp đoạt lấy Hào Quan, thẳng đến Lạc Dương. Đánh về phía nam có thể đoạt lấy con đường phía nam Hào Quan, tới thẳng Nghi Dương, đích xác là vị trí chiến lược xung yếu, nên Bàng Quyên mới tranh cướp với ta!”
“Theo ái khanh, phải làm thế nào?”
“Khai chiến với Ngụy!” Tư Mã Thác vung tay nói lớn. “Trước có sáu nước, ta còn không sợ, huống chỉ giờ có mình Ngụy, thần thề sẽ đoạt lại Thiểm Ấp! Không những đoạt lại Thiểm Ấp, thần còn tấu xin công chiếm Hào Quan, đoạt lấy Thằng Trì, mở thông đường sang phía đông. Đồng thời, xuất binh thu phục ải Lâm Tấn. Đất Hà Tây không thể để người Ngụy chen chân vào!”
Quần thần đồng thanh hùa theo, tán thành khai chiến với Ngụy, khắp triều đường, duy có Trương Nghi ngồi ở vị trí cao nhất là im lặng, không hưởng ứng một câu.
“Trương ái khanh!” Tần Huệ Vương nhìn sang. “Ý khanh thế nào?”
“Hồi bẩm đại vương!” Trương Nghi khẽ vòng tay. “Thần cho rằng, hiện tại ta không nên khai chiến với Ngụy!”
“Ồ?” Tần Huệ Vương ngả người về phía trước.
“Không những không nên khai chiến, thần còn tấu xin hoàn trả lại người Ngụy các ấp Khúc Ốc, gồm cả bến đò Thái Dương, kết tình láng giềng hoà mục với Ngụy.”
Sau khi Công Tôn Diễn bỏ đi, Tần Vương không bái tướng nữa, Trương Nghi danh là tả tướng, song thực chất là tướng quốc duy nhất của nước Tần, nội chính hay ngoại giao đều do một mình hắn xử lý. Thông thường, quan mới bổ nhiệm phải tích cực đi đầu. Trương Nghi vừa nhậm chức tướng quốc đã gặp ngay kình địch khiêu khích, theo lý mà nói, đáng ra phải thừa thế xông lên, làm chùn nhuệ khí của quân hợp tung, một trận mở thông ải Hào mới đúng. Nào ngờ Trương Nghi lại ngang nhiên bàn lùi ngay giữa triều đường, đúng là hạ thấp uy nghi, tiêu tan khí thế.
Quần thần đưa mắt nhìn nhau, tiếng xì xầm nổi lên râm ran. Trong số triều thần, rất nhiều người có quan hệ mật thiết với Công Tôn Diễn, khi Trương Nghi vượt mặt Công Tôn Diễn làm tướng quốc, họ vốn đã không phục, nay lại thấy hắn nhu nhược như vậy, càng lộ vẻ tức giận, đặc biệt là đám võ tướng. Tuy nhiên Trương Nghi hiện đứng đầu bá quan, quần thần đều e dè, hầu như không hẹn mà cùng nhìn cả sang Tư Mã Thác, rõ ràng chỉ có hắn mới dám lên tiếng phản bác.
“Dám hỏi tả tướng,” Tư Mã Thác quả nhiên không phụ sự kỳ vọng của quần thần, sau cơn kinh ngạc, bèn khẽ vòng tay, nghiêm mặt mà hỏi, “là sợ người Ngụy, hay sợ Bàng Quyên?”
Trương Nghi khẽ mỉm cười, khép mắt lại, lờ đi như không nghe thấy.
“Tả tướng đại nhân!” Tư Mã Thác lộ vẻ kích động, giọng nói hùng hổ. “Sáu nước hợp tung, vài chục vạn binh mã uy hiếp biên cương, ta còn chẳng sợ. Nay chỉ có một mình giặc Ngụy, dám hỏi tả tướng đại nhân sợ chỗ nào?”
“Phải, phải đấy!” Quần thần nhao nhao hùa theo, tuy không nói cùng lúc, song lời lẽ đều giống nhau. “Xin hỏi tả tướng đại nhân sợ chỗ nào?”
“Chư vị!” Trương Nghi hướng về quần thần, vòng tay vái một lượt. “Tại hạ chỉ sợ một điều, tham bát bỏ mâm, được đậu mất dưa.”
Bốn chữ “được đậu mất dưa” của Trương Nghi khiến quần thần có mặt lại một phen sửng sốt, chỉ có Tần Huệ Vương nét mặt vẫn bình thản như không, rõ ràng đã hiểu hắn muốn ám chỉ điều gì. Sau một tiếng đặng hắng thật lớn, Huệ Vương tuyên bố bãi triều, chỉ giữ lại bốn người Trương Nghi, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác và công tử Hoa.
“Trương ái khanh!” Huệ Vương nhìn Trương Nghi mỉm cười. “Hãy nói rõ về quả dưa của khanh, quốc uý không thể chờ thêm được nữa!”
Trương Nghi nhìn sang Tư Mã Thác, cười lớn mà nói: “Dưa này vốn do quốc uý trồng, nên để quốc uý nói ra mới phải.”
Lúc này, Tư Mã Thác mới lờ mờ hiểu ra Trương Nghi muốn ám chỉ điều gì, bèn ngập ngừng cất tiếng: “Tả tướng hẳn không phải muốn chỉ Ba, Thục đấy chứ?”
“Chính là Ba, Thục!” Trương Nghi trịnh trọng gật đầu. “Quân hợp tung tan rã, liệt quốc hợp tung không còn rảnh rang để chú ý tới ta, ta ít nhất sẽ nhàn nhã được ba năm, chính là cơ hội tốt để mưu đồ Ba, Thục. Ba, Thục là kho lương hậu bị, đường Thục tuy xa, song nếu gặp năm mất mùa đói kém, có lương thực vẫn tốt hơn là không. Hơn nữa, dân Ba, Thục quả cảm thiện chiến, chính là nguồn binh lính tuyệt vời...” Nói đến đây thì dừng lại, phô ra một nụ cười.
Câu cuối cùng, rõ ràng là dành riêng cho Tư Mã Thác.
“Nhưng...” Tư Mã Thác nghe đã xuôi tai, lại hít vào một hơi dài. “Bàng Quyên kia nếu được đằng chân lân đằng đầu, ta phải làm sao?”
“Quốc uý cứ yên tâm!” Trương Nghi cười đáp. “Nói không phải khoe khoang, trong thiên hạ này, không ai hiểu hắn bằng tại hạ đâu!”
“Ái khanh không phải đang khoác lác đấy chứ?” Huệ Vương vội hỏi. “Lẽ nào Tô Tần cũng không hiểu hắn?”
“Đương nhiên có hiểu!” Trương Nghi đáp. “Có điều, Tô Tần hiểu phần chính của hắn, còn vi thần hiểu phần tà của hắn. Người này tà nhiều hơn chính, bởi vậy Tô Tần đã phải bó tay trước hắn.”
“Phải lắm!” Công tử Hoa gật gù đáp. “Theo tại hạ biết, lần này phạt ta, Tô Tần cực lực phản đối, song đã bị Bàng Quyên bày kế cầm chân, bị lừa gạt đến mặt mày xây xẩm.”
“Thế còn... Tôn Tẫn?” Sư Lý Tật bèn hỏi.
“Tà không thắng chính. Tôn Tẫn không thèm đấu tà với hắn, bởi vậy mới khiến hắn sợ hãi, từ đó bày kế hãm hại Tôn Tẫn!”
“Ồ! Tô Tần cũng một thân chính khí. Nếu như tà đã không thắng nổi chính, cớ sao Bàng Quyên lại sợ Tôn Tẫn mà không sợ Tô Tần?”
Trương Nghi cười lớn mà nói: “Đây gọi là một chìa chỉ mở được một ổ khoá. Bàng Quyên và Tô Tần không ở cùng một bậc, chính của Tô Tần không áp chế nổi tà của Bàng Quyên. Bàng Quyên và Tôn Tẫn ở cùng một bậc, tà của Bàng Quyên không áp chế nổi chính của Tôn Tẫn.”
“Ái khanh thì sao?” Huệ Vương tỏ ra hào hứng.
“Còn về vi thần,” Trương Nghi vòng tay đáp, “tuy rằng không ở cùng một bậc với Bàng Quyên, song vi thần lại có sở thích đùa giỡn với tà. Hắn tà, vi thần còn tà hơn hắn. Ha ha ha, lấy tà đối tà, hắn làm sao bì được với vi thần. Nghe nói tên này bày ra trận thế con rùa nghịch phân gì đó ở Hoàng Trì, chỉ một trận đã bắt sống tướng Tề Điền Kỵ, không biết có thực vậy chăng?”
“Có, có!” Công tử Hoa hào hứng đáp liền. “Thiên hạ truyền tụng như giai thoại!”
“Cái gì mà giai thoại?” Trương Nghi hừ mũi một tiếng. “Kế đó là do tại hạ đích thân truyền dạy cho hắn!”
Nói tới đây, Trương Nghi bèn thuận miệng kể ra trò đùa con rùa ấp trứng quái ác năm xưa khi còn ở trong Quỷ Cốc. Nghe xong, tất thảy mọi người đều ôm bụng cười ngặt nghẽo, phục Trương Nghi sát đất, đặc biệt là Huệ Vương, hỏi đi hỏi lại từng tình tiết, gật gù tấm tắc mãi không thôi.
Sau một hồi cười nói, Huệ Vương đi vào chuyện chính, chiếu mệnh Trương Nghi đi sứ sang Ngụy, hoàn trả các ấp Khúc Ốc nhằm kết giao tình quan hệ láng giềng hoà mục với Ngụy, người Tần rút về ải Hàm Cốc, khôi phục cục diện hệt như trước chiến tranh.
Sau khi Trương Nghi nhận mệnh lui ra, Huệ Vương quay sang Tư Mã Thác, công tử Hoa, Sư Lý Tật, giơ ngón cái lên khen ngợi: “Đã hiểu thế nào là đại tài chưa? Đại tài chính là, vào thời khắc then chốt, luôn nhận ra sự khác biệt giữa dưa và đậu. Khúc Ốc, Hào Quan, Lâm Tấn, tất cả đều chỉ là đậu, chẳng qua chỉ là món điểm tâm của quả nhân, muốn ăn lúc nào, đều có thể với tay bứt lấy; còn Ba, Thục mới là quả dưa hấu lớn! Các khanh đặt quả dưa hấu này bên gối, song chỉ cho quả nhân hít ngửi suông, bảo quả nhân làm sao ngủ nổi?”
“Vi thần suy nghĩ thực hẹp hòi!” Tư Mã Thác xoa xoa tay, nở một nụ cười chất phác.
“Tư Mã ái khanh!” Huệ Vương nhìn hắn, cười mà nói. “Nước Ngụy nguyên khí đã tổn thương, Bàng Quyên vất vả ngược xuôi mà chẳng nên cơm cháo gì. Có tướng quốc đi dỗ dành hắn, sẽ chẳng còn gì đáng ngại nữa. Ái khanh hãy tập trung toàn lực, chỉnh đốn ba quân, lựa chọn năm vạn quân tinh nhuệ, chuẩn bị giao chiến ở vùng núi.”
“Vi thần lĩnh chỉ!” Tư Mã Thác dõng dạc nhận lệnh, vòng tay lui ra.
Trong điện chỉ còn công tử Hoa và Sư Lý Tật.
“Tiểu Hoa!” Huệ Vương quay sang công tử Hoa, hạ giọng mà nói. “Tô Tần có tin tức gì không?”
“Lúc trước ở Hàm Đan, cách đây không lâu đã tới Kế Thành!” Công tử Hoa đáp lời.
“Kế Thành?” Huệ Vương thoáng ngạc nhiên, nhìn sững vào hắn mà hỏi. “Tới đó làm gì?”
Công tử Hoa lắc đầu.
“Phải chăng vì chuyện mười thành giữa Yên, Tề?” Sư Lý Tật tiếp lời.
“Ồ, hẳn là vậy!” Huệ Vương khẽ gật đầu, trầm ngâm hồi lâu, rồi quay sang công tử Hoa. “Hiện tại quân hợp tung tuy tạm thời tan rã, song Tô Tần vẫn là đại hoạ tiềm tàng của quả nhân. Dặn dò Hắc Điêu, tăng cường tay chân, giám sát nhất cử nhất động của người này!”
Công tử Hoa có vẻ lúng túng: “Bên cạnh Tô Tử đã không còn chỉ có Trâu Phi Đao nữa, gần đây hình như còn có thêm cao thủ khác, thần đệ ngờ là đệ tử Mặc gia, họ phòng vệ vô cùng nghiêm ngặt, dù là ai cũng không thể tiếp cận. Trước đó từng có hai Hắc Điêu tới gần nghe lén, vừa qua tường vây đã bị phát giác, may mà nhanh chân chạy thoát, đối phương cũng có vẻ như không muốn kết oán, nên chưa có gì đáng ngại.”
“Đại vương!” Sư Lý Tật vòng tay nói. “Thần xin tiến cử một người, có lẽ sẽ tiếp cận được Tô Tử.”
“Ồ!” Huệ Vương nhổm người về trước, hỏi dồn. “Là ai?”
“Thu Quả!”
Cô bé Thu Quả năm xưa giờ đã trở thành một thiếu nữ yêu kiều.
Khi được nội thần trong cung dẫn qua những lối đi quanh co lắt léo đến cung điện rộng lớn thênh thang, khi quỳ trong cung điện xa hoa tráng lệ của đại vương nước Tần, khuôn mặt xinh đẹp của Thu Quả thoắt đỏ bừng, muôn nỗi căng thẳng, hồi hộp, hưng phấn, sợ hãi dồn dập trong lòng dường như đều được biểu lộ qua đôi má hồng rực của nàng.
“Ngươi là Thu Quả ư?” Tần Vương hai mắt chằm chằm nhìn vào thiếu nữ đang quỳ dưới đất.
“Vâng!” Thu Quả cúi gằm mặt, giọng nói run rẩy.
“Ngẩng đầu lên!”
Thu Quả đã không ngẩng đầu, trái lại còn cúi xuống thấp hơn.
Tần Vương bật cười, đưa mắt liếc Sư Lý Tật một cái, rồi đứng dậy bước lại trước mặt Thu Quả, khẽ đưa tay nâng cằm nàng lên.
Thu Quả toàn thân run bắn, hai mắt vội nhắm nghiền, cơ thể hơi lảo đảo.
“Mở mắt ra!”
Đôi mắt phượng của Thu Quả gắng gượng hé ra thành hai khe hẹp, đôi má nàng lúc này hệt như hai quả hồng chín mọng.
“Ha ha ha!” Tần Vương cười vang vài tiếng. “Thực là một cô nương e thẹn!”
“Hồi bẩm chúa thượng!” Sư Lý Tật bẩm tấu. “Thu Quả cô nương ở nhạc phường học nghệ được sáu năm, giờ đã thông thư đạt lý, các môn cầm kỳ đều có tiến bộ, còn về trồng dâu nuôi tằm, nữ công gia chánh, đều được học từ nhỏ, xứng đáng là thượng phẩm trong đám thiếu nữ tại nhạc phường.”
“Tốt, tốt lắm!” Tần Vương lùi lại vài bước, ngồi xuống chỗ cũ. “Thu Quả, quả nhân muốn hỏi ngươi vài câu, ngươi phải thành thực trả lời!”
Thu Quả chẳng nói chẳng rằng, chỉ gật đầu vài cái.
“Nghe nói ngươi đã từng hai lần cứu một người tên gọi Tô Tần, có chuyện này không?”
Thu Quả sững lại một thoáng, rồi khẽ gật đầu.
“Nghe nói cha ngươi đã hứa gả ngươi cho Tô Tần, có chuyện này không?”
Thu Quả gật đầu.
“Nghe nói Tô Tần từng hứa là sau ba năm sẽ quay về đón ngươi, có chuyện này không?”
Thu Quả do dự một lát, rồi trịnh trọng gật đầu.
“Nếu quả nhân đưa ngươi tới thành thân với Tô Tần, ngươi có đồng ý không?”
Thu Quả không còn gật đầu nữa, mà là dập mạnh đầu xuống đất, cất giọng run rẩy: “Dân nữ... tạ ơn đại vương tác thành!”
“Soạn chỉ!” Tần Vương quay sang nội thần. “Sắc phong cho cha Thu Quả là Tần Sầm tước đại phu, ban cho mười thửa ruộng, một toà phủ trạch, hai trăm năm mươi thạch gạo, miễn thuế và lao dịch ba đời!”
Từ sau khi Thương Ưởng biến pháp, Tần chỉ dựa vào quân công để phong tước, thực thi chế độ hai mươi cấp bậc tước vị, lần lượt là công sĩ, thượng tạo, trâm ni ể u, bất canh, đại phu, quan đại phu, công đại phu, công thặng, ngũ đại phu, tả thứ trưởng, hữu thứ trưởng, tả canh, trung canh, hữu canh, thiếu thượng tạo, đại thượng tạo hay đại lương tạo, tứ xa thứ trưởng, đại thứ trưởng, quan nội hầu và triệt hầu. Trong hai mươi cấp bậc này, dưới bất canh thuộc hàng sĩ, dưới ngũ đại phu thuộc hàng đại phu, dưới đại thứ trưởng thuộc hàng khanh, hai cấp cuối cùng thuộc hàng hầu, tiếp theo là công. Tần Công tuy đã xưng vương, song chế độ tước vị vẫn chưa thay đổi. Chức đại phu mà Tần Sâm được phong là cấp bậc thứ năm, tuy là cấp cuối cùng trong hàng đại phu, song vẫn cao hơn hàng sĩ, trong dân thường cực hiếm thấy người được ban thưởng hậu như vậy.
Thu Quả lại không hiểu những chuyện này, vẫn quỳ ngây ra tại chỗ, đến cả tạ ân cũng không biết.
“Thu Quả, mau tạ ơn đại vương ban thưởng!” Sư Lý Tật khẽ nhắc nhở.
“Dân nữ tạ ơn đại vương ban thưởng!” Thu Quả dập đầu mà nói.
“Có điều...” Tần Vương đổi giọng. “Quả nhân cũng có một việc muốn uỷ thác cho ngươi.”
“Dân nữ đợi chỉ!”
“Sư Lý đại nhân sẽ truyền lại với ngươi lời uỷ thác của quả nhân. Quả nhân chỉ muốn ngươi nhớ kỹ một câu, ngươi, Tần Thu Quả, sinh ra là người nước Tần, chết đi làm ma nước Tần!”
Khi Tần Vương nói câu cuối cùng, gằn mạnh từng tiếng, ngữ điệu uy nghiêm lạnh lẽo, đặc biệt nhấn mạnh vào một chữ “ma” khiến Thu Quả nghe mà sởn tóc gáy, không rét mà run, bất giác rùng mình ớn lạnh.
“Nhớ kỹ chưa?” Tần Vương hỏi lại một câu.
“Dân nữ nhớ... nhớ rồi!”
Hồi Thứ 57
Đấu trí Bàng Quyên, du thuyết cục liên hoành
Đọ tài Huệ Thi, luận đạo cùng Trang Tử
Huệ Thi buồn phiền nín nhịn đã nhiều năm, khó khăn lắm mới gặp được người để thổ lộ, đương nhiên trân trọng từng chút thời gian, ngày nào cũng bám riết lấy Trang Chu đàm đạo đủ điều.
Huệ Thi vốn cũng chẳng phải người cầu kỳ, lại lây nhiễm bản tính trời sinh của Trang Chu, nên chẳng mấy ngày mà đã nhếch nhác chẳng khác gì nhau. Vì bận rộn việc triều đình, Huệ Thi không thể đi xa, nên hễ có thời gian rảnh rỗi, lại kéo Trang Chu tới hậu hoa viên biện luận.
Vì trời dần chuyển ấm, nên hai người tranh luận đến đoạn hưng phấn, tới đêm vẫn không về phủ, mà nằm ngay bên dưới một gốc ngô đồng to đến một vòng ôm ở trong hoa viên. Quản gia sợ có âm tà xâm nhập, đợi khi hai người ngủ say liền sai tỳ nữ nhẹ nhàng đắp chăn cho họ.
Sáng sớm hôm sau thức dậy, hai người lại biện luận từ lúc mặt trời mọc cho đến giữa trưa. Huệ Thi quanh co qua lại, song chủ đề biện luận trước sau vẫn không rời khỏi danh thực. Thực tức là sự vật, danh tức là tên gọi của sự vật, đây gọi là “vật thì có hình, hình thì có tên”. Danh có trước hay thực có trước? Danh thực nhất thiết phải phù hợp hay là có thể không phù hợp? Từ thời Xuân Thu đến nay, không ít học giả vẫn không ngừng tranh luận. Đến Huệ Thi, lại càng đến cực điểm, xoay quanh sự giống và khác giữa danh và thực đã diễn biến ra vô số lý luận. Trang Chu bị ông ta vặn qua vặn lại đến hoa mắt chóng mặt, may là luôn được giải vây, lúc thì người này đến thăm, lúc lại người khác gõ cửa, dường như tất cả đều đã được sắp đặt từ trước, cứ mỗi khi đến thời khắc gay go, quản gia lại đến ghé tai Huệ Thi thì thầm mấy câu, khiến cho Huệ Thi bực bội đến trợn mắt thở phì phì, song cuối cùng vẫn phải thở dài sườn sượt, chau mày đứng dậy, để lại Trang Chu một mình thảnh thơi ngồi dựa vào chạc ngô đồng ngủ khò khò.
Quá trưa chừng một canh giờ, thông thường đây là khoảng thời gian nghỉ trưa của Huệ Thi, triều thần không được làm phiền. Đoán rằng sẽ không còn bị ai quấy nhiễu, Huệ Thi lại hào hứng kéo tuột Trang Chu từ trên cây xuống.
Trang Chu dường như cũng đã ngủ thỏa thích, thoải mái vặn vẹo người mấy cái, rồi trở về dưới gốc cây. Huệ Thi đã nhanh chân chiếm lấy địa thế có lợi là gốc cây ngô đồng, đang dựa lưng vào thân cây, bắt chân chữ ngũ, hai mắt nheo nheo vẻ vô cùng đắc ý. Trang Chu mỉm cười, đành phải nhún nhường một bước, đi tới thảm cỏ chênh chếch trước mặt ngồi xuống.
“Mùa xuân năm kia,” Huệ Thi hé mắt, đưa khoé mắt liếc nhìn Trang Chu, chưa đợi ông ta ngồi vững đã khai đề, “Ngụy Vương tặng tại hạ một giống bầu lớn,” chỉ vào đống đất ở bên cạnh, “đã được tại hạ tiện tay trồng ở chỗ đó. Đến mùa thu, giống này kết được một quả bầu, treo lủng lẳng trên cành cây kia!” Chỉ vào một cành lớn ở trên cây, xuýt xoa mấy tiếng. “Đúng là một quả bầu cực lớn, đựng được năm thạch. Tuy nhiên, đến khi tại hạ hái xuống thì lại gặp chuyện đau đầu. Quả bầu bổ ra có thể làm gáo, khổ nỗi dùng gáo này múc nước thì không đủ cứng, không thể nhấc lên được. Tại hạ nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy vật này thực là vô dụng, nên đành phải đập bỏ nó đi.” Rồi lắc đầu quầy quậy, trông rất khoa trương. “Than ôi, tại hạ bỏ công vất vả, thật là phí hoài.”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu lúc này cũng đã yên vị, thấy Huệ Thi chuyển chủ đề từ danh thực sang thể dụng, bỗng chốc thấy nhẹ cả người, bèn cười dài mấy tiếng rồi đáp. “E rằng tướng quốc chỉ biết dụng nhỏ, song lại vụng về trong dụng lớn!”
“Lời này có nghĩa gì?”
“Tại hạ nghe nói, một người Tống có được phương pháp bí truyền của tổ tiên, chuyên trị chứng tay nứt nẻ vào mùa đông, nên yên tâm đời đời làm nghề giặt giũ. Có người khách biết được, đã dùng trăm lượng vàng để mua lấy bí quyết đó. Người Tống sung sướng đồng ý. Khách có được bí quyết, liền đến nước Ngô, được Ngô Vương trọng dụng làm tướng. Khách chọn ngày giá lạnh nhất trong mùa đông để phạt Việt, đánh bại quân Việt ở trên sông, chiếm đất phong hầu, tất cả đều là nhờ vào bí quyết này. Cùng một phương pháp, có người nhờ nó mà chiếm đất phong hầu, rạng rỡ tổ tông, có người vì nó mà đời đời giặt giũ, được trăm lượng vàng đã hoan hỷ lắm. Tướng quốc có được quả bầu năm thạch, tại sao không buộc nó bên hông, thoả thích phiêu diêu khắp sông hồ?”
“Ồ...” Huệ Thi hai mắt chớp liền mấy cái, lại mở ra chủ đề mới. “Tại hạ có một cây sư lớn, thân to vô kể, nhưng thân cây cong queo, mắt bướu xù xì đầy thân, cành cây vặn vẹo, không theo khuôn phép. Vô số thợ mộc đi qua, chẳng ai thèm ngó ngàng tới nó. Hỡi ôi,” thở dài một tiếng lắc đầu, “tại hạ biết dùng để làm gì đây?”
“Hỡi ôi!” Trang Chu cũng thở dài một tiếng, lắc đầu còn khoa trương hơn cả Huệ Thi.
“Tại hạ than thở là vì cái cây này, Trang huynh cớ sao cũng than thở?”
“Than thở là vì tướng quốc đại nhân!”
“Ồ?”
“Đã từng thấy cáo và chồn chưa? Chúng nép mình ẩn phục để đợi con mồi, thấy có chuột đến liền đuổi ráo riết, không đếm xỉa đến thấp cao. Vậy mà chẳng may rơi vào cạm bẫy, lại chỉ còn nước chờ chết trong hầm trong lưới. Lại nhìn con trâu mộng, dùng để cày ruộng kéo nặng, sức khoẻ vô cùng, nhưng dùng để bắt chuột thì lại thành vô dụng. Vạn vật trong trời đất, đều có đặc tính riêng, đều có cái nó không làm được, cũng đều có cái nó làm được, tướng quốc đại nhân sao lại buồn vì cái cây này vô dụng? Sao không ngả mình dưới gốc cây, nhờ vào bóng mát của nó mà tận hưởng thú tự tại?”
“Đa tạ Trang huynh đã tìm ra chỗ hữu dụng cho cái cây này!” Huệ Thi sảng khoái cười vang, đổi vị trí hai chân bắt chéo cho nhau. “Theo lời của Trang huynh, vạn vật đều có sở trường, cũng đều có sở đoản, dám hỏi nếu coi tâm là vật, vậy sở đoản của nó ở đâu, sở trường của nó lại ở đâu?”
“Này Huệ huynh!” Trang Chu chép miệng mấy cái. “Biện luận thì cứ biện luận, làm sao lại khuấy đảo lộn nhào lên thế?”
“Dám hỏi Trang huynh, tại hạ khuấy đảo lộn nhào ở chỗ nào?”
“Tâm không phải là vật, tâm là dụng của vật.”
“Vậy ư?” Huệ Thi cố tình ra vẻ không hiểu. “Xin Trang huynh chỉ giáo, tâm là dụng của vật nào?”
“Tính! Chữ ‘tính’ này, gồm hai chữ ‘tâm’ và ‘sinh’(1) ghép lại, sinh tâm là tính. Tính là thể của tâm, tâm là dụng của tính, nên gọi là tâm tính.”
“Lĩnh giáo, lĩnh giáo!” Huệ Thi vỗ tay mấy cái. “Tại hạ có thể lấy một ví dụ chăng?”
“Ví dụ đi!”
“Ví dụ như sóng nước.” Huệ Thi chớp mắt vài cái, ánh mắt trở nên ranh mãnh. “Nếu theo lời của Trang Tử, sóng là chữ ‘ba’, do chữ ‘thuỷ’ và chữ ‘bì’ ghép thành (2). ‘Thuỷ’ và ‘bì’ ghép thành chữ ‘ba’ là sóng, sóng là thể của nước, nước là dụng của sóng, nên mới gọi là sóng nước.”
Trang Chu thoạt tiên thoáng sững người, sau đó đưa tay gãi đầu, trầm tư hồi lâu, rồi lắc đầu quầy quậy. “Không đúng, không đúng, huynh lại khuấy đảo lộn nhào lên rồi, thể, dụng đảo lộn hết cả!”
“Đảo lộn chỗ nào?”
“Tâm tính không phải sóng nước. Nói về sóng nước, sóng do nước tạo ra, nước động sóng sinh. Sóng không rời nước, nước không rời sóng, nước là thể của sóng, sóng là dụng của nước.”
“Thì đúng thế, lời tại hạ vừa nói cũng chính là cái lý của Trang huynh. Tâm theo tính mà khởi, tính động tâm sinh, tính không rời tâm, tâm không rời tính. Tâm là thể của tính, tính là dụng của tâm. Ha ha ha, không phải là Trang huynh đảo lộn đấy chứ?”
“Ồ...” Trang Chu nghe Huệ Thi nói mà đầu óc quay cuồng, nhất thời tắc tị, lại trầm tư một hồi lâu mới ngộ ra, chỉ tay vào Huệ Thi nói. “Sai rồi, sai rồi! Sự vật thuộc thể loại khác nhau, ví dụ này không thoả đáng.”
“Vạn vật đều giống nhau, chỗ này tại sao lại khác? Hơn nữa, theo nguyên lý y học, tâm chứa thần, thần thông linh, linh thông tính, tâm là nơi trú của thần, tự nhiên cũng là nơi ở của tính linh. Tâm đã là nơi ở của tính linh, tại sao tại hạ lại không thể ví với sóng nước?”
Huệ Thi vòng qua kéo lại, cuối cùng đã khiến Trang Chu nhận ra sơ hở, lập tức vỗ tay cười mà nói: “Hay, hay lắm! Cuối cùng cũng đã hiểu ra tướng quốc đại nhân biện luận thế nào, thủ thắng bằng cách nào rồi. Huynh đang dùng thuật đổi trắng thay đen!”
“Đổi trắng thay đen?” Đến lượt Huệ Thi ngẩn người.
“Nguyên lý y học, tâm chứa thần, thần thông linh, song linh không thông tính. Ngược lại, linh do tính sinh ra, tính là thể, linh là dụng. Linh thông thần, thần thông linh, còn tính là cái thể sinh ra tâm, ba thứ tâm, thần, linh, đều là dụng của tính. Ha ha ha ha, tướng quốc đại nhân, xem ngài còn nói được gì đây?”
Huệ Thi gãi đầu gãi tai, đang định cãi cùn, bỗng nghe thấy tiếng bước chân gấp gáp, quản gia lại rảo bước đi tới.
Huệ Thi bực bội, mặt chảy xuống, chưa kịp trách mắng thì quản gia đã đến trước mặt, hạ giọng bẩm báo: “Chúa công, điện hạ đến, đang đợi trong phòng khách.”
Nghe thấy điện hạ giá lâm, Huệ Thi không biết nói gì hơn, đành phải quay sang cười nhăn nhó với Trang Chu, rồi đứng dậy vội vã rời đi, phải tới hơn nửa canh giờ sau mới quay trở lại, thấy Trang Chu đã chiếm lĩnh mất cây ngô đồng, đang dựa vào thân cây mà nheo nheo đôi mắt, đành phải ngồi xuống mô đất mà Trang Chu vừa ngồi lúc trước, sắc mặt đầy phiền muộn.
“Tướng quốc đại nhân!” Trang Chu lại như không nhận ra, học theo Huệ Thi, cũng đổi chỗ hai cẳng chân đang vắt chữ ngũ cho nhau, bàn chân không biết đã bao lâu chưa rửa duỗi thẳng ra, bốc mùi nồng nặc, cứ đung đưa qua lại nhịp nhàng ngay trước mắt Huệ Thi. “Nhìn bộ dạng của huynh, tâm không chứa thần, hồn lìa khỏi chỗ, chắc không phải vì không nghĩ được ra lời xảo quyệt ngụy biện mà sinh buồn phiền đấy chứ?”
“Than ôi!” Huệ Thi thở dài một tiếng, rồi vòng tay nói. “Bỏ đi, bỏ đi, tại hạ đến đây là muốn nói với huynh, hôm nay đình chiến!”
“Ồ!” Trang Chu bỗng nổi thói gàn, ngồi bật ngay dậy kêu lên. “Tại hạ đang lúc cao hứng, mà huynh lại đột nhiên treo thẻ ngừng chiến?” Rồi lắc đầu quầy quậy. “Không được, không được!”
“Hãy tha cho tại hạ!” Huệ Thi vòng tay, ra vẻ khẩn cầu.
“Tha thì có thể, chỉ có điều cái gì thì cũng phải có nguyên nhân! Huynh nói xem, là vì chuyện gì?”
“Vì Đại Ngụy bệ hạ!”
“Đại Ngụy bệ hạ làm sao?”
Huệ Thi bèn kể lại chiến sự phạt Tần ở Hàm Cốc và chuyện Ngụy Huệ Vương đổ bệnh liệt giường, nhiều tháng nay không lên triều, sau cùng than thở: “Than ôi, khiến cho tại hạ phải bận rộn lo lắng, đều là những việc vặt vãnh này, đâu có giống như Trang huynh suốt ngày tiêu dao tự tại!”
Trang Chu hỏi tỉ mỉ về bệnh tình của Ngụy Vương, rồi cười dài mấy tiếng: “Cái gì mà cơm nước không thiết? Bệ hạ của huynh chắc chắn là ăn no giả bệnh, cứ giao cho tại hạ, đảm bảo ông ta lập tức xuống giường, nhảy nhót tung tăng!”
“Cái gì?” Huệ Thi hai mắt trợn trừng, nhìn Trang Chu chòng chọc. “Trang huynh nói thật chứ?”
“Thôi đi, thôi đi!” Trang Chu nhắm hai mắt lại, xua tay. “Ta cứ ngủ việc ta, cứ mơ việc ta thôi! Cái gì mà bệ hạ với chả bệ thượng, chẳng có liên quan gì đến Trang Chu ta hết!” Nói đoạn, lại dựa người vào thân cây, chớp mắt đã ngáy o o.
Huệ Thi dường như sực nhớ ra điều gì, lập tức đứng phắt dậy, đến vụn cỏ bám trên mông cũng không kịp phủi, vội vã co cẳng chạy phăm phăm về phía sân trước.
Bệnh của Ngụy Huệ Vương đã nặng hơn trước, tâm thần uể oải, không màng cơm nước, đừng nói là sách, ngay cả đàn ca nhảy múa cũng chẳng còn tâm trạng thưởng thức, người ngoài lại càng không muốn gặp.
Thấy Ngụy Huệ Vương đã nằm liệt giường suốt hai mươi mấy ngày trời, nói năng có hơi mà không có lực, tỳ nhân lo lắng cuống quýt, đã mời đến rất nhiều ngự y nổi tiếng, nhưng đều không thể chẩn ra được bệnh gì, chỉ biết kê bừa vài thang thuốc bổ. Tỳ nhân sợ có điều bất trắc, đành phải bẩm báo với thái tử Thân.
Thái tử Thân lúc này đang phiền não vì chuyện triều chính. Ngụy Huệ Vương độc đoán chuyên quyền thành tính, nên thái tử Thân biết rõ mình chỉ chấp chính trên danh nghĩa, chuyện nhỏ còn có thể quyết đoán, nhưng gặp chuyện lớn thì bắt buộc phải xin ý chỉ của phụ vương.
Điều trùng hợp là mấy ngày nay trong triều việc nhỏ không thấy đâu, nhưng việc lớn lại dồn dập đến. Đầu tiên là Bàng Quyên lại khơi chiến hoả ở Hàm Cốc, tấu xin tăng binh. Tiếp đó, nạn đói mùa xuân càng thêm trầm trọng, nhiều nơi đã xuất hiện người chết đói, Chu Uy tấu xin mở kho phát lương, giải quyết nỗi lo trước mắt. Tiếp đó, Bạch Hổ đi sứ nước Triệu trở về, tấu rõ rằng Triệu, Tần không hề ngấm ngầm cấu kết, lời đồn trong quân là kế ly gián của người Tần. Tiếp theo lại có ngựa hoả tốc về bẩm báo nước Tần cho sứ thần tới, sứ thần chính là tướng quốc đầu tiên của nước Tần Trương Nghi, đã gần đến Đại Lương, mục đích chưa rõ.
Mọi chuyện đều vô cùng hệ trọng, thái tử Thân không thể tự quyết, đang định vào cung xin ý chỉ định đoạt, thì tỳ nhân lại đến cấp báo, quả thực là lòng như lửa đốt, không còn cách nào khác mới đích thân tìm đến tận cửa, đem mọi việc ra thỉnh giáo Huệ Thi, lại càng khiến Huệ Thi lòng dạ rối bời.
Mấy lời bâng quơ của Trang Chu lập tức khiến Huệ Thi vụt nảy ra một ý. Huệ Thi chạy thẳng ra sân trước, lên xe vào thẳng vương cung, kéo theo điện hạ cùng đến ngự thư phòng thăm Huệ Vương.
Huệ Vương lúc này chẳng khác gì cây cà tím gặp sương, từ trong ra ngoài đều héo hon ủ rũ, nhợt nhạt thất thần, nằm thõng trên giường, trước mặt bày đủ các loại sơn hào hải vị, còn có mấy bát thuốc, tất cả đều đã nguội ngắt.
Huệ Vương hai mắt nhắm nghiền, biết điện hạ và Huệ Thi bái kiến, vẫn nằm yên bất động.
“Bệ hạ!” Tỳ nhân ghé sát bên tai Ngụy Huệ Vương, hạ giọng bẩm tấu. “Điện hạ và Huệ tướng quốc yết kiến!”
Ngụy Huệ Vương vẫn không nhúc nhích.
Thái tử Thân đưa mắt nhìn Huệ Thi, sắc mặt đầy lo lắng.
“Bệ hạ!” Huệ Thi nói khẽ. “Huệ Thi đến đây để cáo từ!”
Nghe thấy hai chữ “cáo từ”, Huệ Vương bất giác giật mình ớn lạnh, lập tức quay đầu lại, hai mắt mở choàng, nhìn sững vào Huệ Thi.
Huệ Thi lại bái lạy.
“Khanh...” Huệ Vương chỉ vào Huệ Thi, ngón tay run lẩy bẩy, “cáo từ?”
“Đúng vậy, bệ hạ. Vi thần đến là để cáo từ!”
Huệ Vương sững sờ, gắng gượng muốn ngồi dậy. Tỳ nhân vội chạy tới đỡ, song đỡ liền mấy lần mà ông ta vẫn chưa thể ngồi thẳng lên được. Huệ Vương thở hổn hển, dùng khuỷu tay chống đỡ thân mình, hai mắt vụt sáng, nhìn xoáy vào Huệ Thi mà hỏi: “Nói mau, ái khanh đi đâu?”
“Mùa xuân đến rồi, có một quái nhân hẹn thần ra ngoại thành du ngoạn.”
Thấy Huệ Thi chỉ là ra ngoại thành du ngoạn, trái tim treo ngược của Huệ Vương mới trở về vị trí, thở phào một hơi dài, cơ thể phốp pháp cũng đồng thời hạ xuống, nặng nề rơi phịch xuống giường, hai mắt nhắm lại.
Bầu không khí ngưng trệ trong chốc lát, Huệ Vương dường như lại sực nhớ ra điều gì, mắt lại mở ra, nhìn thẳng vào Huệ Thi: “Quái nhân nào?”
“Một người trong mắt không có ai!”
“Trong mắt không có ai?” Huệ Vương chớp chớp mắt. “Vậy... có phải vật hay không?”
“Không có!”
“Vậy hắn hẳn là người mù?”
“Không phải!” Huệ Thi lắc đầu. “Không những không mù, ngược lại còn có cặp thiên lý nhãn, xa ngoài nghìn dặm, có thể nhìn rõ tơ hào.”
“Cái gì?” Huệ Vương phì cười. “Xa ngoài nghìn dặm, có thể nhìn rõ tơ hào? Điều này không thể, quả nhân nhất quyết không tin!”
“Bệ hạ, thiên hạ rộng lớn, không có gì là không thể!”
“Người này ở đâu?”
“Ở ngay trong phủ của vi thần.”
“Mời hắn đến đây!” Huệ Vương dừng lại một thoáng, rồi tinh thần phấn chấn hẳn lên. “Quả nhân muốn xem thử, đôi mắt của người này khác thường đến mức nào!”
“Thần lĩnh chỉ!”
Huệ Thi cáo lui, vội vàng quay về phủ, lập tức kéo Trang Chu dậy, mặt mũi nhăn nhó: “Trang huynh ơi, tại hạ... đại hoạ đến đầu... rồi!”
“Đại hoạ đến đầu?” Trang Chu ngạc nhiên hỏi lại. “Đại hoạ gì?”
“Tội khi quân!”
“Ồ?”
“Nói đến tội này, có liên quan đến Trang huynh đấy!”
“Ồ?”
“Tại hạ muốn ra ngoài ngao du cùng Trang huynh, lúc nãy yết kiến bệ hạ, đã xin bệ hạ cho nghỉ vài bữa. Bệ hạ hỏi tại sao tại hạ lại có ý nghĩ này, tại hạ đành phải nhắc đến Trang huynh. Bệ hạ lại hỏi về Trang huynh. Cũng là do mấy ngày nay cùng Trang huynh tranh biện đến hồ đồ mất rồi, nên tại hạ buột miệng nói khoác, kể lể Trang huynh giỏi giang thế này thế kia, đặc biệt là có một đôi thiên lý nhãn, xa ngoài ngàn dặm có thể nhìn rõ tơ hào. Bệ hạ phấn chấn, lập tức hạ chỉ cho Trang huynh yết kiến. Bây giờ... bây giờ tại hạ phải làm thế nào đây?”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu phủi áo, chỉ tay vào Huệ Thi cười ngặt nghẽo. “Tướng quốc vòng vo qua lại, chẳng phải là muốn tại hạ đi trị bệnh cho chúa thượng của tướng quốc hay sao? Đi thôi, đừng phí lời nữa!”
Hai người quay về phòng khách. Nhìn bộ dạng rách rưới lôi thôi của Trang Chu, Huệ Thi lắc đầu, bảo quản gia mang tới một bộ quần áo mới, nhưng Trang Chu lại ném toẹt xuống đất, vung tay đi ra khỏi cửa.
“Ôi ôi...” Huệ Thi cuống lên, vội nhặt lấy bộ quần áo chạy đuổi theo. “Trang huynh, thế này thì không thể vào cửa cung được!”
“Không vào được thì không vào nữa!” Trang Chu lại quay ngoắt người đi về phía hậu hoa viên. “Ta cũng chẳng muốn vào đâu.”
“Được rồi, được rồi!” Huệ Thi hết cách, đành phải đưa lại bộ quần áo cho quản gia, kéo Trang Chu lên xe, tiến thẳng tới vương cung.
Thấy Trang Chu cùng đi với Huệ Thi, thị vệ canh cửa không hề ngăn cản. Hai người thuận lợi đi tới ngự thư phòng, tỳ nhân vào bẩm báo, Huệ Vương vẫn nằm nghiêng trên giường, truyền yết kiến. Huệ Thi vào trước, bái lạy xong liền ngồi xuống chiếu bên cạnh, nhưng mãi vẫn không thấy Trang Chu vào.
Huệ Vương sốt ruột, lại truyền chỉ: “Tuyên Trang Chu người Tống!”
Tỳ nhân lớn giọng truyền chỉ: “Bệ hạ có chỉ, tuyên Trang Chu người Tống vào yết kiến!”
Trang Chu vẫn không vào.
Tỳ nhân ngẩn người, vội đi ra ngoài cửa, thấy Trang Chu vẫn đang ung dung ngắm cảnh ngoài đó, liền vòng tay nói: “Tiên sinh, bệ hạ có lời mời!”
Trang Chu lúc này mới thu thần, rồi khệnh khạng bước lại gần, vừa đi vừa liếc ngang ngó dọc. Tỳ nhân trông thấy, đôi mày khẽ chau lại. Bề tôi yết kiến quân chủ, theo nghi lễ, phải bước mau mà vào, tức là phải bước bước nhỏ mà nhanh, mắt không được liếc ngang để tỏ lòng kính trọng, nhưng người này lại tuỳ tiện chẳng khác gì đang ra vào nhà mình.
Tuy nhiên, đây là khách của Huệ Thi, lại được bệ hạ triệu kiến, tỳ nhân không tiện nói gì, chỉ rảo bước đi sát theo sau.
Trang Chu đi vào sân, theo sự chỉ dẫn của tỳ nhân, tiến vào cửa chính. Vừa bước qua ngưỡng cửa, Trang Chu bỗng khựng lại, đứng bất động tại chỗ, hai mắt nhìn thẳng vào Huệ Vương, vừa không tiến lại gần, cũng chẳng quỳ xuống khấu bái.
Huệ Vương cũng nhìn ông ta chằm chằm.
Đợi một lúc, thấy Trang Chu vẫn đứng sững tại chỗ, Huệ Vương bèn ra hiệu, tỳ nhân tiếp tục ra mời. Trang Chu không những không tiến vào, mà ngược lại còn ngồi ngay xuống đó.
Điện đường cao rộng, Trang Chu đứng cách xa mấy trượng, Huệ Vương bệnh tật lâu ngày, nhãn lực suy yếu, chỉ lờ mờ nhìn thấy Trang Chu áo quần rách rưới, đầu tóc bẩn thỉu, bộ râu dường như chưa cắt tỉa bao giờ, còn đôi giày vải thì càng chẳng phải nói, trông còn rách nát thậm tệ hơn của Tuỳ Sào Tử năm xưa. Mấy ngón chân thò hẳn ra ngoài, đen đúa cáu bẩn không biết đã bao lâu rồi không rửa. Tuỳ Sào Tử mặc dù nghèo túng, áo quần mụn vá dọc ngang, nhưng trên dưới sạch sẽ chỉnh tề, còn con người trước mắt kia, thật chẳng khác một gã ăn mày lang thang ngoài phố.
Tuy nhiên, người này lại là khách quý của tướng quốc, còn có con mắt nhìn xa nghìn dặm...
Sự tương phản quá lớn khiến Huệ Vương bất giác hít ngược một hơi dài, hai mắt vụt sáng, chiếu thẳng lại.
Hai người đối mắt nhìn nhau.
Hồi lâu, Huệ Vương thu ánh nhìn lại, khẽ gật đầu: “Quả là cao sĩ. Nghe Huệ ái khanh nói, cao sĩ có nhãn lực không ai bì kịp, xa ngoài nghìn dặm có thể nhìn rõ tơ hào, có chuyện này chăng?”
“Quả có chuyện này, Trang Chu bẩm sinh đã có đôi mắt thần kỳ.”
“Tốt quá!” Huệ Vương lập tức tinh thần phấn chấn, bật ngồi ngay dậy. “Xin cao sĩ hãy giúp quả nhân xem thử, hiện Triệu Ngữ đang làm gì?”
“Triệu Ngữ?” Trang Chu hơi sững lại, rõ ràng là không biết người này.
“Chính là Triệu Hầu. Hắn đang ở Hàm Đan.”
“Hàm Đan cách đây chưa đầy nghìn dặm, Trang Chu không thể nhìn được.”
“Vậy... còn Hùng Thương? Chính là Sở Vương.”
“Sở Vương ở Sính, đã xa quá nghìn dặm, Trang Chu cũng không thể nhìn thấy.”
“Vậy còn Tần Vương Doanh Tứ? Hắn ở Hàm Dương.”
“Đã quá nghìn dặm!”
“Còn Điền Nhân Tề?” Ngụy Huệ Vương vò đầu bứt tai một lúc, rồi đưa tay đập bàn. “Chính là Tề Vương! Theo quả nhân được biết, Lâm Truy cách đây vừa tròn nghìn dặm.”
“Là chín trăm chín mươi chín dặm chín, chưa đủ nghìn dặm.”
“Ngươi...” Ngụy Vương sững người, chỉ tay vào Trang Chu, “chín trăm chín mươi chín dặm chín, còn không phải nghìn dặm hay sao?”
“Hồi bẩm đại vương, chín trăm chín mươi chín dặm chín là chín trăm chín mươi chín dặm chín, không phải là nghìn dặm.”
“Vậy... ngươi có thể nhìn được nơi nào?”
“Nơi Trang Chu nhìn thấy, là nơi phải tròn nghìn dặm, nhiều hơn một phân không được, ít hơn một phân cũng không xong.”
“Nói như vậy... chẳng phải là giảo biện ư?” Huệ Vương thở phì phò mấy hơi, rồi quay sang nhìn Huệ Thi, lộ vẻ không vui, thì thấy Huệ Thi hai mắt nhắm nghiền, dường như đã ngủ.
“Trang Chu không hề giảo biện, đại vương có thể phái người đi đo đúng một nghìn dặm, rồi đặt một cọng lông tơ ở ngay chỗ đó, cứ thử sẽ biết ngay.”
Kiểm nghiệm kiểu này, rõ ràng không thể thực hiện được. Huệ Vương bắt đầu thấy giận, song vẫn không chịu bỏ cuộc, lại nhìn chằm chằm vào Trang Chu một hồi, rồi phá lên cười hai tiếng thật dài.
Huệ Thi mở mắt, vội vàng nhìn sang.
“Trang cao sĩ!” Huệ Vương chỉ tay vào bộ quần áo rách rưới của Trang Chu. “Quả nhân muốn hỏi, cao sĩ đã thần thông đến vậy, cớ sao lại phải thất thểu nhường này?”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu cất một tràng cười còn vang hơn, dài hơn cả Huệ Vương.
“Cớ sao cao sĩ lại cười? Là quả nhân nói không đúng ư?”
“Không phải không đúng, mà là sai lầm, sai bét.” Trang Chu giũ giũ bộ quần áo. “Trang Chu như thế này là bần cùng, chứ không thể nói là thất thểu! Lòng ôm chí lớn mà không thể thi triển, đầy bụng đạo đức mà không thể thực thi, người như vậy mới gọi là thất thểu. Trang Chu vừa không có chí lớn để thi triển, cũng chẳng có đạo đức để thực thi, sao có thể gọi là thất thểu được? Còn về quần áo rách rưới, giày thủng long đế, chỉ bởi bần cùng mà thôi. Trang Chu vì đâu mà bần cùng? Là sinh không gặp thời, tình cảnh bất lợi. Đại vương đã từng thấy khỉ vượn hay chưa? Trên núi cao rừng thẳm, trên vách dốc cheo leo, chúng nhảy nhót giữa rừng cây cao lớn, vùn vụt qua lại, tiêu diêu tự tại, cho dù là Hậu Nghệ thiện xạ, Phùng Mông tái thế cũng chẳng thể làm gì được chúng. Thế nhưng, một khi sa chân vào bụi gai, chúng chỉ có thể cẩn thận dè dặt, run rẩy lách qua. Tại sao lại như vậy? Không phải vì gân cốt của chúng không mềm dẻo, mà là tình thế bất lợi, khó triển lộ tài năng! Sinh ra trong thời hôn quân loạn thần lộng hành, Trang Chu chẳng khác nào khỉ vượn sa vào bụi gai, muốn không bần cùng, làm sao có thể?”
Bốn chữ “hôn quân loạn thần” giống như nhát gậy giáng thẳng xuống đầu, khiến Huệ Vương nhất thời choáng váng, đợi khi định thần trở lại, muốn nổi cơn thịnh nộ, nhưng nghĩ lại thấy không ổn, dù sao cũng là do mình khơi mào, chê bai người ta thất thểu; muốn nhẫn nhịn, nhưng lại không cam tâm, đôi con ngươi đảo mấy vòng, rồi chậm rãi vỗ tay, nói: “Cao sĩ quả nhiên lời lẽ thú vị, lại đây, lại gần hơn nữa, để quả nhân được nhìn cho kỹ!”
“Trang Chu đứng đây, đại vương muốn nhìn thảo dân, có thể đến gần.”
“Gì kia?” Huệ Vương hai mắt trợn trừng, nhìn sững vào Trang Chu.
“Trang tiên sinh!” Tỳ nhân thấy chướng mắt, bèn cất lời khuyên can. “Lễ nghi quân thần, phải là tiên sinh bái kiến mới phải!”
“Không đúng, không đúng!” Trang Chu lắc đầu quầy quậy. “Đại vương là quân chủ nước Ngụy, Trang Chu là người dân nước Tống. Trang Chu đến Ngụy là đến thăm bằng hữu, không phải để yết kiến quân chủ. Huệ tướng quốc là bằng hữu của Trang Chu, kéo Chu đến đây, cũng là đến thăm bằng hữu, vì sao lại nói đến chuyện quân thần?”
Trang Chu giải thích nghe cũng hợp tình hợp lý, coi là bằng hữu thì cũng là chỗ thân cận, sắc mặt Huệ Vương hơi giãn ra, thấy tỳ nhân vẫn muốn tranh cãi, liền khẽ xua tay, đoạn vòng tay nói với Trang Chu: “Được rồi, được rồi, không nói đến quân thần nữa, hãy nói về tuổi tác! Quả nhân năm nay sáu mươi ba, thiết nghĩ hẳn là lớn tuổi hơn cao sĩ ít nhiều, có thể khiến cao sĩ lại gần mấy bước hay không?”
“Dựa theo Chu lễ, tôn ti lễ nhượng phải dựa vào vai vế, không dựa vào tuổi tác. Chúng ta đã là bằng hữu, thì phải coi nhau là cùng vai vế, đại vương sao lại tự kiêu đến vậy?”
“Quả nhân...” Huệ Vương ấp úng một lúc mới tìm được lời biện luận. “Được rồi, được rồi, chúng ta không luận theo tuổi tác, không luận theo thân phận, song cũng phải luận theo chủ khách chứ? Cao sĩ đến thăm quả nhân, quả nhân là chủ, cao sĩ là khách. Thế nên lễ chủ khách...”
“Dám hỏi đại vương, phải chăng trước nay vẫn nằm trên giường tiếp khách?”
“Chuyện này...” Huệ Vương ngắc ngứ một lúc, rồi thở dài một tiếng. “Than ôi, không phải là quả nhân không tuân theo lễ tiết, mà sự thực là quả nhân bệnh tật khó kham, đã mấy chục ngày không thể xuống giường.”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu phá lên cười lớn một tràng dài, rồi chỉ tay vào Huệ Vương mà nói. “Đại vương sai rồi! Trang Chu thấy đại vương cơ thể khoẻ mạnh, cớ sao lại nói là bệnh nặng?”
Huệ Vương cuống lên, chỉ tay vào bát thuốc đặt trên bàn bên cạnh: “Cao sĩ hẳn đã nhìn thấy rồi chứ? Nếu quả nhân khoẻ mạnh, phải dùng tới nhiều thuốc đến vậy làm gì?” Rồi lại lần lượt chỉ vào đầu, ngực, tứ chi. “Không giấu cao sĩ, mấy ngày nay, quả nhân nhức đầu, đau tim, tứ chi rời rã, nằm thì trằn trọc, ăn thì vô vị, bao nhiêu thầy thuốc chữa trị mà vẫn không thuyên giảm... Than ôi!” Rồi lắc đầu buồn bã. “Quả nhân thực sự không thể cử động!”
“Không đúng, không đúng!” Trang Chu vẫn lắc đầu nói. “Cơ thể đại vương không có bệnh, mà là tâm bệnh.”
“Không đúng, không đúng!” Huệ Vương lại biện bạch. “Quả nhân đúng là cơ thể có bệnh, không thể cử động được nữa!” Rồi đưa tay sờ đầu gối, sờ bụng, ấn chỗ nọ, xoa chỗ kia. “Ái chà, ái chà! Cái cơ thể này đã già cả quá rồi, từ trên xuống dưới không chỗ nào không đau đớn, đau chết quả nhân mất thôi!”
“Đại vương đã nói dối bao giờ chưa?” Trang Chu nhìn thẳng vào Huệ Vương hỏi.
“Gì kia?” Huệ Vương chợt quên bẵng những đau đớn vừa nãy. “Cao sĩ bảo quả nhân nói dối? Quân chủ không nói đùa, cao sĩ hãy hỏi văn võ bá quan trong triều, hãy hỏi Huệ ái khanh, quả nhân đã nói dối bao giờ chưa?”
“Không giấu đại vương, con mắt thần của Trang Chu, không những có thể nhìn xa nghìn dặm, mà còn có thể nhìn thấu thần xác. Lúc nãy Trang Chu đã nhìn thấu đại vương, thấy đại vương cơ thể không hề có bệnh, chỉ có tâm bệnh, nhưng đại vương cứ nói cơ thể có bệnh, há chẳng phải là nói dối hay sao?”
Lời Trang Chu vừa thốt ra, không những Huệ Vương, mà ngay cả tỳ nhân cũng chấn động, bất giác xoay nghiêng người về phía Trang Chu, rõ ràng là e sợ vị thần nhân này nhìn thấu chỗ khó nói trong lòng.
Huệ Vương bị dồn đến chân tường, trở nên lúng túng: “Nếu đã nói vậy, dám hỏi cao sĩ, tâm bệnh của quả nhân có thể chữa được hay không?”
“Có bệnh tự nhiên sẽ có chữa!”
“Kính mong cao sĩ hãy chẩn trị giúp quả nhân!” Huệ Vương vòng tay nói.
“Chẩn trị không khó, nhưng đại vương phải đồng ý với Trang Chu một việc.”
“Dám hỏi là việc gì?”
“Khi chẩn trị, đại vương phải nhất nhất nghe theo lời Trang Chu.”
“Chuyện này là đương nhiên. Cao sĩ chẩn trị cho quả nhân, chính là thầy thuốc; quả nhân có bệnh, chính là người bệnh, trên đời này làm gì có chuyện người bệnh không nghe lời thầy thuốc?”
“Vậy Trang Chu sẽ lập tức chẩn trị, đại vương hãy nghe đây!” Trang Chu ngồi nghiêm ngắn, hai mắt nhắm lại, trong miệng lầm bầm gì đó, chẳng khác nào thầy mo đất Sở đang làm phép.
Không khí trong phòng bỗng chốc trở nên rất đỗi trang nghiêm. Huệ Vương, tỳ nhân bắt đầu phấp phỏng lo sợ.
Một lúc sau, Trang Chu thình lình lên tiếng: “Xin mời xuống giường, đứng ở trước giường!”
Huệ Vương giống như bị ma xui quỷ khiến, lập tức bước luôn xuống giường bệnh, đứng ở trước giường.
“Đại vương hãy đi về phía trước, đi lại phía Trang Chu đây, trước tiên bước chân trái, sau đó đến chân phải, trái phải trái... trái phải trái...”
Khẩu lệnh vừa vang lên, Huệ Vương đã tiến lên phía trước. Tiếng “dừng bước” vừa hô ra, đã đứng ngay trước mặt Trang Chu.
Trang Chu chỉ vào nền gạch trước mặt: “Ngồi!”
Huệ Vương chưa bao giờ gặp phải tình cảnh này, cứ như bị yểm bùa, hoàn toàn quên khuấy cái bẩn thỉu, cứng lạnh của nền gạch, chỉ nghe “phịch” một tiếng, đã ngồi vững vàng trên nền gạch, khiến tỳ nhân nhìn mà hai mắt trợn tròn, nhưng lại không dám lên tiếng.
Trang Chu khẽ mở mắt ra, nhìn Huệ Vương cười cười: “Bệnh của đại vương đã khỏi được một nửa rồi. Một nửa còn lại, đại vương còn muốn chữa hay không?”
“Dám hỏi cao sĩ, nửa còn lại phải chữa thế nào?” Đến lúc này Huệ Vương cũng đã định thần, ôm quyền liên tục.
“Phải dựa vào chính đại vương!”
“Dựa vào chính quả nhân?” Huệ Vương ngẩn người. “Quả nhân ngu muội, xin cao sĩ chỉ giáo!”
“Muốn chữa trị tận gốc, có được thân thể trường thọ, đại vương nhất định phải quên đi một chuyện.”
“Có được thân thể trường thọ?” Huệ Vương tim đập thình thình, hai mắt phát sáng, đầy vẻ thèm muốn, chúi người về trước hỏi. “Dám hỏi cao sĩ, quả nhân phải quên đi chuyện gì mới có được thân thể trường thọ?”
“Cần quên đi bản thân mình là một quả nhân!”
“Chuyện này...” Huệ Vương cười gượng một tiếng, vẻ mặt hoang mang. “Quả nhân làm sao mới có thể quên đi bản thân mình là một quả nhân được?”
“Lúc nãy chẳng phải đại vương đã quên rồi hay sao?” Trang Chu hỏi vặn lại.
“Phải rồi!” Sực nhớ mình đã bước xuống khỏi giường bệnh, đi được những mấy trượng, lại ngồi bệt xuống nền gạch cứng lạnh cùng với một kẻ rách rưới hệt ăn mày mà bản thân lại không hề phát giác, Huệ Vương cũng bật cười.
“Năm xưa Trang Chu ngao du đất Sở, khi ở Sính đã gặp được Nam Quách tiên sinh, cảm thấy đó là kỳ nhân số một trên đời.”
“Kỳ nhân số một?”
“Đúng thế! Đại vương có muốn biết người này kỳ lạ ở chỗ nào không?”
“Quả nhân...” Huệ Vương lại vội vàng đổi giọng, vòng tay. “À không, Ngụy Anh xin lắng nghe!”
“Người này tướng mạo khác hẳn người thường, hai tai trễ đến tận vai, trên mặt có ba con mắt giống hệt chuông đồng, mũi khoằm như mỏ ưng, trước trán có sừng, dài chừng mấy tấc, nhìn giống như sừng tê giác, nhưng cứng mà không sắc, nhọn mà không bén...” Trang Chu dừng lời, hai mắt nhắm lại.
“Thực là người trời!” Huệ Vương tấm tắc liên hồi, buột miệng khen ngợi.
“Không phải người trời!” Trang Chu tựa như đang đắm chìm trong hồi tưởng thuở xưa, chậm rãi kể lại. “Trang Chu tiến lại bái kiến, thoạt đầu trông thấy hình dạng kỳ quái của người này mà khiếp sợ, nhưng định thần nhìn kỹ, lại thấy ông ta ngồi tựa bên bàn, ngửa mặt lên trời mà than thở, hình dáng như cây khô, giống như thế này.”
Trang Chu lập tức mô phỏng lại bộ dạng kỳ quái của Nam Quách tiên sinh, vì bắt chước quá giống, khiến Huệ Vương nhìn mà hai mắt tròn xoe, trong lòng càng căng như dây đàn.
“Trang Chu cung kính chờ đợi hồi lâu, nhưng tiên sinh vẫn không đếm xỉa tới, cứ làm như không nhìn thấy. Trang Chu sốt ruột, bèn mở miệng hỏi: ‘Này người ngồi tựa bàn kia, hình như cây khô, lẽ nào tâm cũng đã như tro tàn?’”
“Nam Quách tiên sinh trả lời thế nào?”
“Tiên sinh đột nhiên quay lại, chĩa thẳng cái sừng vào tại hạ, thản nhiên đáp lời: ‘Hỏi hay lắm! Hôm nay ta chôn ta, ngươi có biết chăng?’”
“Ta chôn ta?” Huệ Vương kinh ngạc hỏi. “Lời này có ý gì?”
“Tiên sinh đáp: ‘Trước tiên hãy nói về chữ ta. Ta là ai? Ai lại là ta? Nếu không có ngươi, không có người, thì lấy đâu ra ta? Thiên hạ vạn vật, vừa đối lập vừa nương tựa lẫn nhau, không có cái này thì chẳng có cái kia, không có ngươi cũng chẳng có ta. Tại sao lại như vậy? Là vì cái đạo trong cõi vô hình ư? Đạo lại là vật gì? Hãy nhìn cái ta này xem! Ta là vật gì? Ta là hàng trăm khúc xương, da thịt, chín khiếu, ngũ tạng, lục phủ, lông tóc, thể dịch. Ngoài những thứ đó ra, ta còn có những gì? Lẽ nào là tâm ư? Được rồi, chính là tâm. Trong tâm có ta, ta nghĩ là ta sống. Ta chính là tâm, tâm chính là ta. Tuy nhiên, trong những xương cốt, da thịt, chín khiếu, ngũ tạng, lục phủ, lông tóc và thể dịch này, cái tâm của ta nên gần gũi tất cả, hay là yêu quý riêng một số nào đó? Nếu chỉ yêu quý một số nào đó, thì cái tâm của ta lại nên xa lánh những gì? Nếu như cái tâm của ta vừa có thể yêu quý chúng, lại có thể xa lánh chúng, vậy giữa chúng và ta là tâm có quan hệ như thế nào với nhau? Là vua tôi ư? Nếu là vua tôi, vậy đâu là vua, đâu là tôi? Nếu ta là vua, tại sao chúng không hoàn toàn nghe lời ta? Nếu ta là bề tôi, tại sao chúng lại không hoàn toàn mệnh lệnh ta? Giữa chúng lại có quan hệ như thế nào? Là các bên bình đẳng, tương sinh tương khắc ư, hay là vua tôi của nhau? Nếu là vua tôi, vậy thì giữa chúng, kẻ nào là vua, kẻ nào là tôi? Một khi được tiếp nhận tinh khí, tạo thành hình thể, cho đến khi tinh khí hao tận, có cái ta nào có thể quên được cái ta mà nó đã nhận định đây? Đời người dằng dặc, cái ta này không lúc nào ngừng đấu đá với người, tranh giành với vật, tranh đấu không ngừng, há chẳng đáng buồn ư? Cả đời mệt nhọc, thành tựu ở chỗ nào? Chốn về ở đâu? Cả đời mệt nhọc mà không biết chốn về của mình ở đâu, một ta như vậy há chẳng đáng buồn ư? Một ta như vậy cho dù không chết, thì cũng ích gì? Tâm và ta nương tựa vào nhau, ta sinh ra vì tâm, khi thân xác của ta suy kiệt, cái tâm này của ta cũng sẽ bỏ đi theo. Nếu tâm đi rồi, cái gọi là ta này sẽ ở nơi đâu? Một đời người, lẽ nào đều mông lung như vậy, khó hiểu như vậy? Hoặc giả là chỉ có một mình ta mông lung, một mình ta khó hiểu...’”
Trang Chu bắt chước giọng điệu của Nam Quách tiên sinh, lúc thì tự hỏi tự đáp, lúc lại lấy hỏi làm đáp, từng bước tiến lên, câu hỏi nào cũng khiến người ta kinh động, thế như cầu vồng xuyên suốt ngang trời, giọng như tiếng sấm rền động trên không, Huệ Vương bị bủa vây trong một trường khí không thể thoát ra, miệng há hốc mắt trợn trừng, khác nào đang nghe thần linh giáo huấn.
Đúng vào lúc Huệ Vương đang chăm chú lắng nghe, ngẩng đầu chờ đợi, Trang Chu thình lình đứng vụt dậy, chẳng nói chẳng rằng, lừ lừ đi thẳng ra khỏi cửa.
Sự việc quá ư đường đột, lúc đầu Huệ Vương cho rằng Trang Chu ra ngoài một chốc sẽ quay lại, nhưng mãi vẫn không thấy đâu, bèn phái tỳ nhân đi xem thử, song chẳng thấy tăm tích đâu cả. Tỳ nhân hỏi người trong cung, mới biết Trang Chu đã đi về phía cửa cung rồi.
Huệ Vương kinh ngạc quá đỗi, vội bảo Huệ Thi đi tìm.
“Bệ hạ!” Lúc này Huệ Thi mới mở mắt ra, vòng tay mà nói. “Trang Chu tự do tự tại đã quen, thích đi đâu thì đi đấy, đến đi đều không ràng buộc, lần này đi không quay về, thiết nghĩ hẳn là hắn đã nói hết những gì cần nói!”
Huệ Vương lại sững sờ thêm một lúc, hít vào một hơi dài, tinh khí thần bỗng chốc dồi dào hơn hẳn, bèn đứng vụt dậy, sải bước ra sân, ung dung thư thái đi đi lại lại một hồi, rồi vẫy tay gọi tỳ nhân đến: “Tới ngự thiện phòng tìm chút đồ ăn, quả nhân... à không!” Chỉ tay vào mình, ngữ điệu vô cùng phấn chấn. “Chính ta, cái ta này vẫn chưa chôn ta, nó đói rồi!”
Tỳ nhân vui mừng khôn xiết, vâng một tiếng rồi xong xóc chạy đi.
Trương Nghi đi sứ nước Ngụy, ắt phải qua ải Hào Quan, nên Bàng Quyên trấn thủ ở đại doanh Thằng Trì đã biết tin từ sớm.
Là vị tướng quốc đầu tiên của nước đối địch, Trương Nghi đích thân giương cờ sứ đi sứ nước địch, điều này khiến Bàng Quyên có đôi chút ngỡ ngàng. Có hai điều mà Bàng Quyên không hiểu, một là người này đã dùng thủ đoạn gì để loại trừ Công Tôn Diễn, chiếm lấy chức tướng quốc nước Tần; hai là người này tại sao vừa lên làm tướng quốc đã đi sứ nước Ngụy. Tần, Ngụy quan hệ căng thẳng, huyết chiến chưa ngưng, lần này Trương Nghi đến, ý đồ hẳn chẳng tốt lành, nhưng không tốt lành ở chỗ nào, thực khiến hắn phải suy nghĩ.
Nhớ đến những xích mích giữa mình và Trương Nghi khi còn ở trong Quỷ Cốc, nghĩ tới Trương Nghi là kẻ quỷ kế mưu mô, trước nay vốn chẳng phải người quang minh lỗi lạc, Bàng Quyên càng không thể ngồi yên, một mặt phái người theo dõi dọc đường, thăm dò khắp nơi, một mặt âm thầm bám sát theo sau.
Trương Nghi vừa bước chân tới Đại Lương, trình lên quốc thư, được thái tử Thân sắp xếp nghỉ ngơi trong dịch quán, thì Bàng Quyên cũng đã tiến vào cổng thành, trở về trong phủ.
Bàng Quyên tắm rửa sạch sẽ, vừa khoác tấm áo lên người, chưa kịp thân mật cùng phu nhân thì Bàng Thông đã vào thông báo, nói là sứ giả nước Tần Trương Nghi cầu kiến, đang đợi ngoài cổng phủ.
“Ồ!” Bàng Quyên kinh ngạc. “Thông đệ hãy nói với hắn, ta không có nhà, vẫn ở trong quân chưa về.”
“Tiểu đệ nói rồi, nhưng người này không tin, nói đại ca đang ở trong phủ, nếu không chịu gặp, hắn sẽ không đi!”
“Ồ...” Bàng Quyên bực bội đi qua đi lại một hồi. “Toàn Đại Lương đều biết ta đang ở trong quân xử lý công việc, tại sao hắn lại biết ta đã hồi phủ?”
Bàng Thông ngơ ngác lắc đầu.
“Thôi được!” Bàng Quyên dừng bước, nét mặt sầm xuống. “Thông đệ hãy mời hắn vào, để ta cho hắn phải nhục nhã một phen!”
Bàng Thông đi ra, mời Trương Nghi vào phòng khách, sau đó lấy cớ bỏ đi. Trương Nghi đợi đến nửa canh giờ, Bàng Quyên mới từ cửa bên đi vào, trên người vẫn khoác áo tắm.
Mặc áo tắm để tiếp khách, trên quan trường là vô cùng bất kính, nhưng ở trước mặt đồng môn lại là chuyện khác, bởi vậy Trương Nghi coi như không nhìn thấy, cười lớn mấy tiếng, đứng dậy vòng tay mà nói: “Đúng là rùa đã ngoi lên khỏi nước, Bàng huynh cuối cùng cũng chịu ra mặt rồi!”
Vừa nghe thấy chữ “rùa”, Bàng Quyên lập tức nhớ tới trò đùa quái ác ở trong núi năm xưa, lập tức mặt mũi đỏ rần, khí huyết sôi sục. Thế nhưng, dù sao cũng là đồng môn gặp gỡ, mình lại thân mặc áo tắm, là người bất kính trước, còn ở ngay trong phủ của mình, giờ Trương Nghi lại tươi cười nghênh đón, Bàng Quyên có giận dữ cũng không thể phát tác, đành cố nhẫn nhịn, hờ hững vòng tay: “Hổ thẹn, hổ thẹn! Tại hạ mới từ tiền tuyến trở về, vừa tắm táp tẩy trần xong, nghe nói Trương huynh giá đáo, chưa kịp thay áo đã vội vàng ra đón lập tức!”
“Hân hạnh, hân hạnh!” Trương Nghi lại vòng tay, coi như đáp lễ, thu nụ cười lại, đi thẳng vào chuyện chính. “Sau khi từ biệt trong Quỷ Cốc, huynh đệ chúng ta mỗi người một phương, gặp mặt một lần thực khó hơn cả lên trời!”
“Ha ha ha, chẳng phải bây giờ đã gặp rồi ư?” Bàng Quyên dừng lại một thoáng, chỉ tay vào chiếu, hời hợt nhường chỗ, phân ngôi chủ khách ngồi xuống, rồi hỏi thẳng thừng. “Dám hỏi Trương huynh, trong thành Đại Lương không ai là không biết tại hạ đang ở Thằng Trì, tại sao Trương huynh lại khẳng định tại hạ đang ở trong phủ?”
“Không giấu Bàng huynh,” Trương Nghi chậm rãi đáp, “tại hạ không những khẳng định Bàng huynh đang ở trong phủ, mà còn biết chắc Bàng huynh đã hộ tống tại hạ trên suốt dọc đường đến Đại Lương.”
Bàng Quyên giật thót mình: “Sao huynh lại khẳng định như vậy?”
“Bởi vì...” Trương Nghi cười ranh mãnh, “trên đời này người hiểu được Bàng huynh, e rằng chỉ có một mình tại hạ.” Rồi ghé sát lại, hạ thấp giọng nói. “Biết Trương Nghi đi sứ, nếu không bám sát theo dõi, liệu có còn là Bàng huynh nữa không?”
“Ha ha ha ha!” Bàng Quyên phá lên cười lớn. “Thật sảng khoái!” Rồi quay sang phía bình phong. “Người đâu, dâng trà!”
Bàng Thông nghe tiếng liền đi vào, châm trà ra chén, rồi cúi đầu lui ra.
“Trương huynh, mời dùng trà!” Bàng Quyên bưng chén trà lên, khẽ vòng hai tay, rồi nhấp một ngụm, đặt chén trà xuống, hai mắt nhìn thẳng tới. “Trương huynh đến đây cũng thực hay! Từ sau khi từ biệt, tại hạ có nhiều khúc mắc còn bỏ ngỏ, đang định thỉnh giáo Trương huynh.”
“Không cần khách sáo!” Trương Nghi cũng nhấp một ngụm trà, đặt chén xuống, nhìn vào Bàng Quyên, chìa tay mời. “Bàng huynh xin cứ hỏi.”
“Trương huynh sẽ không giấu giếm chứ?” Bàng Quyên lại hỏi.
“Tại hạ nếu biết sẽ không dám giấu!”
“Hay lắm!” Bàng Quyên nắn nắn bàn tay. “Giờ tại hạ sẽ hỏi câu đầu tiên” Rồi xích gần lại, hạ thấp giọng. “Trương huynh tại sao lại nỡ từ bỏ sư tỷ, đến chốn phàm trần ô uế này để kiếm chác công danh?”
“Hồi bẩm Bàng huynh!” Trương Nghi tuy trong lòng cũng hơi chấn động, nhưng lập tức định thần, khoé miệng nở một nụ cười, cũng hạ thấp giọng. “Công danh rất tốt đẹp. Bàng huynh chẳng phải là người đầu tiên từ bỏ sư tỷ, đắm thân vào nơi ô uế hay sao?”
Dường như Bàng Quyên không thể ngờ Trương Nghi lại đối đáp như vậy, thoạt tiên sững sờ mất một thoáng, rồi dựng ngón tay cái lên: “Trương huynh trả lời hay lắm. Câu hỏi thứ hai là...” dừng lại một lát, cố ý ngưng tụ khí thế. “Nghe nói Trương huynh thất tình xuống núi, buồn bã mà mượn rượu giải sầu, ở đất Sở đã uống đến say khướt, trong lúc mụ mị lú lẫn đã lấy bừa một cô vợ, có chuyện này chăng?”
“Đúng vậy! Nàng ấy tên là Hương Nữ, theo như vai vế trong cốc, Bàng huynh phải gọi nàng ấy là tẩu tẩu mới phải.”
“Ha ha ha ha!” Bàng Quyên cười vang mấy tiếng. “Hương Nữ? Hương Nữ? Tẩu phu nhân có cái tên thật hay!” Cố ý đưa tay véo mũi, hạ thấp giọng hỏi. “Nghe nói tẩu phu nhân là người mổ lợn, chuyện này có thật không?”
“Lời này không sai!” Trương Nghi cười khẽ một tiếng. “Trời đất xoay vần, ngày sau nếu như Bàng huynh đến hàn xá, tại hạ nhất định sẽ bảo nàng ấy làm thịt một con lợn, bày một bữa tiệc toàn lợn cho Bàng huynh, được chăng?”
“Được, được lắm, tại hạ rất thích ăn thịt lợn!” Bàng Quyên cười âm hiểm, hơi ngả người về phía sau. “Câu hỏi thứ ba của tại hạ là, nghe nói Trương huynh ở đất Sở, thích thú một viên ngọc bích của Sở Vương, định mang đi nhìn ngắm cho kỹ, không may bị lệnh doãn của Đại Sở tưởng lầm là kẻ trộm, bắt ngay tại chỗ, nhốt vào đại lao, đánh cho toạc da nát thịt, chuyện này có thật không?”
“Bàng huynh nghe nhầm rồi!” Trương Nghi vẫn thản nhiên như không, rồi đính chính lại. “Không phải tưởng lầm, mà là làm thực! Tại hạ đã bị ngục tốt Đại Sở đánh cho không còn chỗ nào lành lặn, suýt chút nữa đã không còn cơ hội gặp lại Bàng huynh nữa!”
“Chà chà chà!” Bàng Quyên tặc lưỡi xuýt xoa liền mấy tiếng, rồi vòng tay nói. “Đại nạn không chết, tất có phúc về sau, tại hạ xin được chúc mừng Trương huynh!” Rồi lại nhổm người ghé sát lại gần, hạ thấp giọng mà nói. “Tại hạ rất muốn tận mắt nhìn thấy vật Trương huynh trộm được, à không, là viên ngọc bích mà huynh đã lấy, dám hỏi Trương huynh có nể mặt hay chăng?”
“Khiến Bàng huynh phải thất vọng rồi!” Trương Nghi lắc đầu, nhún vai đáp. “Tại hạ không trộm, cũng chẳng lấy.”
“Ồ?” Bàng Quyên giả bộ ngạc nhiên. “Nói như vậy, Chiêu Dương đã... đã đổ oan cho Trương huynh?”
Trương Nghi cười khẽ một tiếng, gạt đi nhẹ tênh. “Oan cũng chẳng oan, chẳng oan cũng oan, đây là một vụ án không tìm ra lời giải.”
“Trương huynh thật độ lượng!” Bàng Quyên lại giơ ngón cái lên. “Đúng là mỗi người có một chí riêng. Nếu như có kẻ vu oan cho tại hạ, tại hạ nhất định sẽ không đội trời chung, một mất một còn với hắn!”
“Bàng huynh còn muốn hỏi gì nữa chăng?”
“Còn, còn, còn!” Bàng Quyên lại quay về chuyện chính. “Tại hạ rất đỗi hiếu kỳ, còn rất nhiều điều muốn hỏi. Câu hỏi thứ tư là, nghe nói Trương huynh không thèm lưu lại đất Sở, đến Triệu dựa dẫm Tô huynh, nhưng lại bị Tô huynh ngỡ là ăn mày, thí cho mười lượng vàng rồi đuổi đi, có chuyện này chăng?”
“Đích thực có chuyện này!”
“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng. “Khi còn ở trong cốc, Tô huynh trông thật thà đôn hậu biết nhường nào, thật không thể ngờ sau khi xuống núi lại trở nên nhỏ mọn như vậy, chỉ thưởng có mười lượng vàng. Nếu như Trương huynh đến phủ tại hạ xin tiền, chắc chắn sẽ thưởng cho huynh trăm lượng!” Rồi nhổ phì một tiếng. “Chính vì điều này mà tại hạ thấy khinh thường hắn!”
“Còn câu hỏi thứ năm?” Trương Nghi mặt không hề có vẻ giận, điềm tĩnh hỏi.
“Ha ha ha, Trương huynh vẫn cứ nóng vội như thế!” Bàng Quyên cười phì một tiếng, nói tiếp. “Nghe nói Trương huynh và người Tần có mối thù giết cha, mối hận nhục mẹ, có chuyện này chăng?”
Bàng Quyên cố ý đổi chữ “bức” thành chữ “nhục”, lẳng lặng quan sát phản ứng của Trương Nghi.
“Có!”
“Hỡi ôi!” Bàng Quyên càng thở dài sườn sượt. “Nho gia Trọng Ni có câu, ‘thù giết cha không đội trời chung’, mà nay lại cộng thêm mối hận mẹ bị làm nhục. Than ôi, hôm nay tại hạ mới biết, Trương huynh quả thực chẳng dễ dàng gì, chỉ vì công danh lợi lộc mà đem thân phụng sự kẻ thù, mối thù giết cha, mối hận nhục mẹ, đều vứt bỏ sạch không!” Lại than ngắn thở dài thêm mấy tiếng, lắc đầu, cất giọng châm chọc. “Than ôi, Trương huynh, có đáng không? Hay không đáng?”
Trương Nghi không tiếp lời, cũng chẳng tức giận, hai mắt cứ nhìn Bàng Quyên không chớp.
“Trương huynh không cảm thấy hổ thẹn ư?”
Trương Nghi mỉm cười, khẽ lắc đầu.
“Trương huynh không cảm thấy nhục nhã ư?”
Trương Nghi lại mỉm cười, vẫn lắc đầu.
“Lớp da mặt của Trương huynh...” Bàng Quyên vụt một cái đổi ngay sắc mặt, giọng nói lạnh lẽo, bưng chén trà lên, làm ra bộ đuổi khách, “dày đến mức đó ư?”
“Bàng huynh bớt giận!” Trương Nghi sờ lên mặt, miệng vẫn nở nụ cười. “Lớp da mặt này nếu không đủ dày, thì làm sao có thể chia bớt cho người khác?”
“Chia bớt cho người khác?”
“Chia cho Bàng huynh đấy!”
“Chia cho ta?” Bàng Quyên giật mình, hai mắt nhìn xoáy lại. “Ta làm sao?”
“Bàng huynh thứ gì cũng tốt cả, chỉ có điều...” Trương Nghi chỉ tay vào mặt Bàng Quyên, “chỗ này không có da!”
“Họ Trương kia!” Bàng Quyên nổi giận, đập bàn, gằn từng chữ. “Lời này phải giải thích thế nào?”
“Đương nhiên là giải thích được!” Đến lượt Trương Nghi tinh thần phấn chấn, lúc lắc cái đầu. “Thân là tướng quân vô địch, cầm đầu đội quân sáu nước, đánh vào cửa ngõ một nước, cửa chưa vỡ mà sáu quân đã quăng giáp bỏ mũ, kinh hoàng tháo chạy, dám hỏi Bàng huynh, thân là chủ soái, trên mặt liệu có da hay không?”
“Ngươi...” Bàng Quyên chỉ tay vào Trương Nghi, sắc mặt trắng bệch, giận dữ tột độ.
“Còn nữa!” Trương Nghi không nhanh không chậm, giọng điệu trầm bổng hùng hồn, song lời lời chấn động tâm can. “Không nghe lời khuyên của tướng quốc sáu nước, cố chấp ý mình phạt Tần, mà không nhận ra hai vương Tề, Sở sớm đã cấu kết với nhau, đều muốn bán đứng Ngụy, cực lực xúi bẩy quân chủ dấn thân vào nguy hiểm, thân là chủ tướng một nước, trên mặt Bàng huynh liệu có da hay không?”
Cánh tay của Bàng Quyên bắt đầu run rẩy, toàn thân cũng rung động kịch liệt, giọng nói vì quá tức giận mà tắc nghẽn trong cổ họng.
“Bàng huynh!” Trương Nghi khẽ cười, vòng tay nói. “Lần này tại hạ đến đây, không phải để vạch mặt người khác, cũng chẳng để ca ngợi ai, chỉ là để tặng Bàng huynh một bộ da mặt, mong Bàng huynh vui vẻ nhận cho.”
“Bộ da mặt gì?” Bàng Quyên cuối cùng cũng bật ra được một câu, hai con mắt như muốn toé lửa.
“Liên hoành!”
“Liên hoành?” Đây rõ ràng là lần đầu tiên Bàng Quyên nghe nói tới từ này, ánh mắt như dò hỏi.
“Chính là hợp tác với tại hạ, giúp tại hạ thuyết phục Ngụy Vương, cùng kết minh hoà mục với Tần!”
“Điều này có liên can gì tới liên hoành?”
“Bàng huynh chẳng phải là bậc cao cờ ư? Thế cờ có dọc có ngang, Tô Tần dụ dỗ liệt quốc hợp tung, tại sao huynh đệ chúng ta không liên thủ, tạo ra một cái gọi là liên hoành?”
“Ha ha ha ha!” Bàng Quyên phá lên cười vang vài tiếng. “Con cáo cuối cùng cũng đã chịu lòi đuôi. Trương huynh vòng vèo qua lại, cuối cùng cũng đã vòng đến chuyện chính!” Rồi sắc mặt sầm xuống, mũi ưng quặp lại, giọng nói như rít qua kẽ răng. “Nể tình huynh là khách từ xa tới, niệm tình đồng môn trong mấy năm trời, tại hạ sẽ không làm huynh phải mất mặt!” Rồi gạt chén trà, đứng dậy, quát lớn. “Người đâu, tiễn khách!” Không đợi Trương Nghi đứng dậy, đã đi thẳng ra khỏi cửa bên.
Trương Nghi nhìn theo bóng Bàng Quyên, bật ra một tiếng cười nhạt, rồi chậm rãi đứng dậy, lắc đầu mấy cái, nghênh ngang bước ra khỏi phòng khách.
Từ khi Trang Chu đến, bệnh tình của Ngụy Huệ Vương đã thuyên giảm rất nhiều, ăn ngon miệng, ngủ ngon giấc, dậy sớm, năng đi lại, như đã biến thành một người khác hẳn. Tuy nhiên, mặc dù bệnh cũ đã qua, nhưng bệnh mới lại đến. Huệ Vương cho dù là mở mắt hay nhắm mắt, vẫn không thể xoá được bộ dạng nhếch nhác rách rưới của Trang Chu.
“Thần nhân, đúng là thần nhân!” Huệ Vương đi đi lại lại trong hậu hoa viên, cứ lẩm nhẩm mãi một câu.
“Bệ hạ!” Huệ Vương khỏi bệnh, tâm trạng của tỳ nhân cũng vui vẻ hơn nhiều, cười hớn hở mà nói. “Theo lão nô thấy, Trang tiên sinh không phải thần nhân, mà là một quái nhân! Tuy nhiên, học vấn của tiên sinh đúng là rộng lớn, chẳng trách Huệ đại nhân lại tỏ ra cung kính đến vậy.”
Tỳ nhân sai cung nữ mang nước sạch đến để rửa tay, rồi dìu Huệ Vương về chính điện nghỉ ngơi, gọi thái sử lệnh đến, bảo ông ta tìm lấy hai mươi mấy tên hoạn quan biết chữ, kiểm tra lần lượt từng dãy sách bày trên các giá, bận bịu đến tận tối mịt mà vẫn không tìm ra một cuốn sách nào của Trang Chu.
Thái sử lệnh cáo từ, Huệ Vương buồn bã không vui.
“Bệ hạ!” Tỳ nhân hạ giọng bẩm báo. “Có lẽ là Trang Chu tiên sinh chưa từng viết sách. Thư phòng của bệ hạ rất đầy đủ, sĩ tử liệt quốc, phàm là người nổi tiếng đều thấy có sách, duy chỉ Trang Chu...”
Huệ Vương lại nhìn vào từng dãy giá sách, thở dài một tiếng, rõ ràng cảm thấy thất vọng vì chưa thể có được sách của Trang Chu.
Mấy tháng nay, Huệ Vương không lên triều, ở chỗ tỳ nhân tấu báo chất chồng thành đống, lúc này cũng muốn nhân đà kéo Huệ Vương trở về hiện thực, liền cười mà nói: “Có lẽ Trang tiên sinh chỉ giỏi nói mà thôi, Huệ đại nhân mời tiên sinh đến đây chẳng qua là để giải khuây cho bệ hạ!”
“Ngươi nói cũng phải!” Huệ Vương gật đầu. “Thánh nhân từ xưa chỉ thuật lại mà không trước tác, Trang Chu cũng là một thánh nhân đương thế.”
“Thánh nhân ai cũng thông hiểu đạo trời đất, thuật trị quốc. Bệ hạ cớ sao không triệu Trang tiên sinh yết kiến, để hỏi về việc nước. Trang tiên sinh có phải là thánh nhân hay không, hỏi là sẽ biết ngay thôi!”
“Phải lắm! Quả nhân cũng đang có một số việc bế tắc. Truyền chỉ Huệ ái khanh, mời Trang tiên sinh!”
Giờ Mão hôm sau, Huệ Thi lại dẫn Trang Chu vào cung, Huệ Vương đã bày sẵn yến tiệc ở ngự hoa viên để khoản đãi.
Rượu qua mấy tuần, Huệ Vương cung kính vòng tay: “Lần trước nghe tiên sinh nói, giống như nghe lời thần nhân, Ngụy Anh trong ngoài chấn động, cơ thể mắc bệnh lâu ngày đột nhiên khỏi hẳn, giống như thoát thai hoán cốt. Tiên sinh quả là nhã sĩ siêu phàm thoát tục, nhưng Ngụy Anh lại là người phàm tục, có một số việc thế tục muốn hỏi tiên sinh, dám mong tiên sinh chớ tiếc lời chỉ giáo.”
“Đại vương muốn hỏi chuyện gì?” Trang Chu cũng không khách sáo, vòng tay đáp lễ, cười mà nhìn ông ta.
“Quả nhân kế thừa cơ nghiệp tổ tông, mấy chục năm không dám lơ là. Tuy nhiên, phía tây có họ Doanh xâm phạm ta, phía đông có họ Điền làm nhục ta, phía bắc có họ Triệu chống lại ta, phía nam có họ Hùng lừa gạt ta, khiến ta trong lòng bực bội. Chuyện này mà nhẫn nhịn được, thì còn chuyện gì không nhẫn nhịn được?”
“Dám hỏi đại vương, họ xâm phạm, làm nhục, chống lại và lừa gạt đại vương như thế nào?”
“Một lời khó hết. Nói ngay đến việc hiện tại, họ Doanh giết hại tám vạn tướng sĩ của ta, chiếm Hà Tây của ta. Để thu phục Hà Tây, Ngụy Anh đã nghe theo kế sách hợp tung phạt Tần của Tô Tần, tập hợp quân sáu nước tại Hàm Cốc, ai ngờ nảy sinh sự biến, Yên, Tề xung đột, chưa đánh đã rút quân, người Sở án binh bất động, người Triệu thông đồng với Tần bán rẻ ta, khiến ta sắp thành lại bại, uất ức đến tận ngày nay.”
Trang Chu nghe vậy, chỉ phá lên cười nghiêng ngả.
Huệ Vương cứ để ông ta cười cho đã, hồi lâu sau mới hỏi: “Dám hỏi cao sĩ, lời Ngụy Anh nực cười lắm ư?”
“Nực cười, nực cười!” Trang Chu lại cười thêm vài tràng, rồi nghiêng người hỏi. “Đại vương đã từng nghe chuyện người ốc sên hay chưa?”
“Người ốc sên?” Huệ Vương lắc đầu.
“Chính là giống người sống trên đầu con ốc sên đó!”
“Ồ?” Huệ Vương hai mắt mở tròn. “Trên đầu con ốc sên, người làm sao có thể ở được?”
“Có thể, có thể!” Trang Chu khẳng định chắc nịch. “Trên đầu con ốc sên có hai cái sừng, sừng bên trái là một nước, tên là Xúc, sừng bên phải là một nước, tên là Man, hai nước vì tranh giành mảnh đất trên trán con ốc sên, đã giao chiến kịch liệt suốt mấy ngày trời, xác chết trăm vạn, máu chảy thành sông!”
“Ai thắng ai bại?” Huệ Vương quên phắt cả thật giả, vội vàng hỏi ngay kết quả.
“Man thắng, Xúc bại, nước Man truy sát bại quân của nước Xúc, đuổi suốt năm ngày mới quay về!”
“Chà chà!” Huệ Vương kinh ngạc kêu lên, cúi đầu ngẫm nghĩ một hồi, rồi phì cười nói. “Tiên sinh, chắc hẳn đây là chuyện bịa?”
“Nếu nói như vậy, đại vương hẳn là muốn nghe lời thực?”
“Muốn nghe lời thực!”
“Xin hỏi đại vương, bốn phương, trên dưới, có điểm tận cùng hay không?”
“Không có!”
“Các vùng trong thiên hạ, có điểm tận cùng hay không?”
“Có!”
“Cái tâm của đại vương, có tự do không?”
“Có!”
“Nếu cái tâm tự do của đại vương lúc lại ngao du trong vũ trụ bao la không có điểm tận cùng, lúc lại gò bó trong thiên hạ có điểm tận cùng, liệu có phải sẽ có một thứ cảm giác như sống như chết, như mất như được hay không?”
Huệ Vương nhắm mắt hồi lâu, rồi khẽ gật đầu: “Ừm, chắc chắn sẽ có cảm giác này.”
“Trong cái thiên hạ có điểm tận cùng này, có một mảnh đất tên là nước Ngụy. Trong nước Ngụy này, có một mảnh đất tên là thành Đại Lương. Trong thành Đại Lương này, có một mảnh đất gọi là vương cung. Trong vương cung này, có một người gọi là đại vương, có phải không?”
“Phải!”
“Từ đó mà suy ra, đại vương có khác gì so với hai vua Xúc, Man hay không?”
“Ơ...” Huệ Vương gãi đầu, “dường như không có gì khác biệt.”
“Vậy thì đúng rồi!” Trang Chu nhắm mắt lại.
Trong điện lặng phắc như tờ.
Tất cả những người đang có mặt đều đã bị Trang Chu lôi kéo vào trong câu chuyện thú vị về cuộc tranh chấp giữa nước Man và nước Xúc.
“Tiên sinh đúng là thần nhân!” Huệ Vương định thần lại đầu tiên, thành kính vòng tay. “Kiến giải của tiên sinh, người thường không thể sánh bằng. Ngụy Anh có một thỉnh cầu, kính mong tiên sinh tác thành!”
“Đại vương xin cứ nói!”
“Ngụy Anh tài mọn, thành tâm cầu bái tiên sinh làm quốc sư, khẩn cầu tiên sinh đừng từ chối!”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu ngửa mặt lên trời cười lớn.
“Tiên sinh?”
“Bệ hạ có điều không biết,” Huệ Thi vẫn ngồi nhắm mắt từ đầu, lúc này bỗng lên tiếng, “không lâu trước đây, Sở Vương tới thỉnh cầu Trang Chu làm quốc sư, Tống Vương thỉnh cầu Trang Chu làm tướng quốc, Trang Chu chạy đến đây, chính là để lẩn tránh hai vị vương này!”
“Ồ?” Huệ Vương kinh ngạc, băn khoăn nhìn Trang Chu. “Tại sao tiên sinh lại phải lẩn tránh?”
“Không có lý do nào khác, chỉ vì bất lợi cho an dưỡng.” Trang Chu điềm đạm đáp.
“An dưỡng?” Huệ Vương nghe mà hào hứng, hít vào một hơi dài, nghiêng người hỏi. “Tiên sinh có thể chỉ dạy cách an dưỡng hay không?”
“Vứt bỏ tri thức!”
“Vứt bỏ tri thức?” Huệ Vương băn khoăn. “Người ta đều cầu tri thức, không có tri thức làm sao có thể an dưỡng?”
“Đời người có hạn, mà tri thức lại vô cùng. Lấy cái có hạn để theo đuổi cái vô cùng, há chẳng phải hoang đường lắm ư?”
“Ồ, chí lý!” Huệ Vương trầm ngâm một lúc, rồi dựng ngón tay cái lên. “Lời tiên sinh thực chí lý. Ngoài vứt bỏ tri thức, còn có cách nào khác không?”
“Bỏ thiện ác!”
Huệ Vương ngơ ngác: “Từ bỏ cái ác còn có thể hiểu được, nhưng tại sao lại từ bỏ cái thiện?”
“Phúc hoạ nương tựa, thiện ác theo nhau, không có thiện sẽ không có ác. Nếu không từ bỏ thiện, sao có thể vứt bỏ ác?”
“Ừm, cũng là có lý!” Huệ Vương đột nhiên bừng tỉnh, nghiêng người về phía trước. “Còn gì nữa không?”
“Thuận theo đạo trời, ứng theo mệnh người, gọi là thiên nhân hợp nhất. Nếu đại vương làm được đến độ thiên nhân hợp nhất, sẽ được trường thọ vĩnh cửu!”
Nghe thấy hai chữ “trường thọ”, Huệ Vương lại hít vào một hơi dài, ánh mắt sáng rực: “Quả nhân, à không, không, Ngụy Anh phải làm thế nào mới có thể thuận theo đạo trời, ứng theo mệnh người?”
“Đại vương đã từng thấy đầu bếp mổ trâu hay chưa?”
“Ngụy Anh không nhẫn tâm thấy cảnh đổ máu, nên luôn tránh xa nhà bếp.”
“Năm đó Trang Chu ngao du tới nước Triệu, tận mắt nhìn thấy đầu bếp mổ trâu. Mà nhìn người đầu bếp ấy, lúc chạm tay, lúc dựa vai, lúc đạp chân, lúc tì gối, hướng dao đưa, trâu bị xẻ, không gì không theo tiết tấu, không hợp âm luật, giống như đang múa theo nhịp điệu tuyệt mỹ của những khúc ‘Tang lâm’, ‘Kinh thủ’.”
“Tài nghệ thần kỳ!” Huệ Vương tán thưởng. “Hắn làm thế nào để đạt đến cảnh giới đó?”
“Trang Chu cũng hỏi hắn như vậy, đầu bếp liền đáp: ‘Không có gì khác, hợp với đạo mà thôi. Khi tại hạ mới mổ trâu, trong mắt chỉ nhìn thấy trâu. Ba năm sau, trong mắt không còn thấy con trâu nguyên lành. Cho đến nay, tại hạ chỉ dùng thần để cảm, không dùng mắt để nhìn. Khi mổ trâu, tại hạ thuận theo lý trời, tránh cứng cắt mềm, cắt trúng chỗ trọng yếu, dựa theo trực giác, cắt đâu đứt đấy. Đầu bếp tốt một năm thay một con dao, vì anh ta cắt. Đầu bếp tầm thường một tháng thay một con dao, vì anh ta chặt. Dao của tại hạ đã dùng mười chín năm rồi, mổ hàng ngàn con trâu, lưỡi dao vẫn như vừa mới mài xong. Tại sao lại như vậy? Giữa xương khớp có khoảng trống, lưỡi dao lại không dày; lấy không dày lách vào khoảng trống, tại hạ sẽ nhẹ nhõm thong dong, đưa dao ngọt xớt. Tuy nhiên, cho dù là như vậy, mỗi khi gặp phải chỗ xương gân chằng chịt, tại hạ vẫn phải toàn thần tập trung, cẩn thận đưa dao, đợi cho khớp tự tách rời, thân trâu rời rã như đất rải trên nền, lúc này tại hạ mới thở phào một hơi, cầm dao đứng dậy, đưa mắt nhìn quanh, thoả lòng đắc chí, lau dao mà cất đi.’”
Trang Chu kể liền một mạch, Huệ Vương nghe xong, tấm tắc khen ngợi: “Sảng khoái, sảng khoái!”
Mọi người bỗng quên bẵng việc triều chính, bắt đầu bàn tán về chuyện an dưỡng, lúc thì đi lại chỗ này, lúc lại đứng ngồi chỗ kia, bất giác trời tối mịt lúc nào không biết.
Thấy không còn sớm nữa, Huệ Thi đứng dậy cáo lui, nhưng Huệ Vương dường như vẫn chưa tận hứng, bèn giữ Trang Chu lại để trò chuyện thâu đêm.
Sau khi Trương Nghi đi rồi, Bàng Quyên không thể ngồi yên được nữa. Lần này Trương Nghi đến, rõ ràng không phải để giảng hoà. Mối huyết thù giữa Tần và Ngụy ngày càng thêm sâu sắc, Hàm Cốc khói lửa chưa tắt, vẫn kiếm tuốt cung giương, nay lại tới rêu rao hoà mục, đúng là chuyện nực cười.
Không phải giảng hoà, vậy mục đích là gì?
Bàng Quyên ngồi trong tĩnh thất, thức trắng một đêm để nghiền ngẫm xâu chuỗi lại các sự việc từ khi Trương Nghi xuống núi, đến Sở thì diệt Việt, sang Tần thì lập tức đánh bại Công Tôn Diễn mà thành tướng quốc, lại tính toán kỹ lưỡng về ý đồ liên hoành của hắn, càng chắc chắn hắn có ý đồ bất thiện, sáng sớm hôm sau thức dậy, lập tức đánh xe thẳng tới vương cung.
Bàng Quyên đi thẳng vào hậu cung, nội thần túc trực bèn vào trong bẩm báo. Một lát sau, tỳ nhân đi ra, vòng tay nói: “Bệ hạ suốt đêm không ngủ, lúc này vừa mới chợp mắt, dám hỏi Vũ An Quân có chuyện gì hệ trọng?”
“Suốt đêm không ngủ?” Bàng Quyên giật mình. “Long thể của bệ hạ...” Hỏi rồi lại ngập ngừng.
“Hồi bẩm Vũ An Quân.” Tỳ nhân mỉm cười. “Long thể của bệ hạ đã tốt hơn nhiều, đêm qua trò chuyện sảng khoái với người ta, nên mới suốt đêm không ngủ.”
“Trò chuyện sảng khoái với người ta?” Bàng Quyên lại giật nảy mình, con ngươi khẽ đảo, rồi nở một nụ cười. “Dám hỏi các lão, bệ hạ trò chuyện cùng người nào, sao lại có hứng như vậy?”
“Là bạn của Huệ tướng quốc, họ Trang tên Chu, rất giỏi ăn nói.”
“Ồ?” Bàng Quyên thầm ớn lạnh trong lòng, mặt cũng biến sắc. “Lẽ nào còn giỏi ăn nói hơn Huệ tướng quốc?”
“Phải! Chỉ cần người này có mặt, sẽ chẳng còn chỗ cho Huệ tướng quốc xen vào nữa!”
“Chà chà!” Bàng Quyên tặc lưỡi, hạ giọng. “Dám hỏi các lão, Trang tiên sinh đã nói với bệ hạ những gì?”
“Đều là những vấn đề về dưỡng sinh kéo dài tuổi thọ, cái gì mà trời đất, âm dương, khiến lão nô nghe mà xây xẩm cả đầu óc.”
Nghe thấy chỉ là nói về những chuyện này, Bàng Quyên mới thở phào một hơi, đổi mặt thành cười: “Tốt quá, tốt quá, chẳng trách bệ hạ lại vui như vậy. Long thể của bệ hạ cần được an dưỡng chu đáo.”
“Đúng vậy! Vũ An Quân không có chuyện gấp gì chứ?”
Nghĩ tới việc cần tấu cũng không quá gấp, vừa nãy là bản thân quá đỗi nóng vội bất an, giờ cũng đã thấy yên dạ, bèn vòng tay cười nói: “Không gấp, không gấp, tại hạ chỉ là vừa mới từ Thằng Trì trở về, muốn bẩm báo với bệ hạ một số việc trong quân, cho bệ hạ an tâm.”
“Nếu như không gấp, vậy xin Vũ An Quân mấy hôm nữa hãy tới. Xem tình hình này, bệ hạ còn muốn trò chuyện với Trang tiên sinh khá lâu nữa.”
“Được, được, được! Bệ hạ vui vẻ là được!”
Bàng Quyên vòng tay từ biệt, sải bước ra khỏi cung, đang định lên xe, bỗng từ bên cạnh có một người đi thẳng đến, hai tay dâng lên một bức thư. Bàng Quyên mở ra, thấy bên trong là tấm da dê, có viết một địa chỉ và vài nét vẽ nguệch ngoạc.
Ánh mắt của Bàng Quyên dừng lại trên bức vẽ, cứ nhìn qua nhìn lại một hồi, mà vẫn không nhận ra ẩn ý gì. Bức hình chằng chịt các nét vạch, tất cả đều chỉ về địa chỉ kia. Các đường nét hoặc quanh co, hoặc gấp khúc, hoặc giao cắt, hoặc chồng chéo lên nhau, cứ như tiện tay vẽ bậy, lại giống như có ẩn ý khéo léo. Bàng Quyên chau mày ngẫm nghĩ một lúc, định hỏi người đưa thư, không ngờ lại là một gã câm.
Bàng Quyên đuổi gã câm đi, tiếp tục suy ngẫm về bức vẽ, càng suy ngẫm lại càng thấy tức giận, liền ném toẹt bức thư xuống đất, bảo phu xe đánh xe về phủ. Đi được một lúc, Bàng Quyên lại quát dừng xe, sai phu xe quay trở lại, tự tay nhặt lấy tấm da dê vẫn còn nằm chỏng chơ trên đất, lại nghiền ngẫm một hồi, rồi dứt khoát bảo phu xe đánh xe đến địa chỉ viết trong thư.
Là một quán trọ bình thường.
Đã có người đứng đợi sẵn ở cửa, thấy Bàng Quyên đến, liền vòng tay mời vào.
Ở gần quán trọ này chính là hình ngục, khách trọ phần lớn đều có liên quan đến hình ngục, người khác rất ít khi tới đây. Nghĩ tới nơi này cảnh giới nghiêm ngặt, hình ngục lại thuộc phạm vi cai quản của Bạch Hổ, Bàng Quyên không hề sợ hãi, sải bước đi thẳng vào bên trong, liên tiếp đi qua hai tầng cửa, tiến vào một khu nhà khang trang.
Người kia dẫn Bàng Quyên vào trong sân, chìa tay mời vào sảnh đường, rồi vòng tay lui ra. Bàng Quyên thoáng do dự, rồi cũng sải bước đi vào trong cửa, thấy bên trong có một người đang ngồi ngay ngắn, chiếu khách vẫn còn để trống, rõ ràng là dành cho Bàng Quyên.
Bàng Quyên nhìn thẳng tới.
Người này y phục một màu trắng tuyền, tóc dài xoã vai, dáng dấp phong lưu nho nhã, trên người không có vũ khí, ngồi quay lưng về phía Bàng Quyên. Bàng Quyên đảo mắt nhìn khắp xung quanh, thấy không có gì bất thường, mới từ từ bước vào, vén áo ngồi xuống vị trí khách, cố tình đặng hắng một tiếng.
Người đó quay lại.
Là Trương Nghi!
“Bàng huynh, tại hạ chờ đã lâu rồi!” Trương Nghi vòng tay, nheo mắt cười.
“Trương huynh...” Bàng Quyên lúc này cũng đã định thần trở lại sau cơn kinh ngạc, đưa tay chỉ vào Trương Nghi, “mời tại hạ đến đây làm gì?”
“Uống rượu!” Trương Nghi nói đoạn, liền vỗ tay.
Lập tức vọng tới những tiếng bước chân rậm rịch, một hàng người hầu nối đuôi nhau tiến vào, mỗi người bưng theo một đĩa thức ăn, thảy đều là sơn hào hải vị, người cuối cùng bưng một hũ rượu lớn.
Tất cả bày đặt xong xuôi, người hầu rót rượu cho hai người, sau đó lui ra.
Trương Nghi nâng chén, nói với Bàng Quyên: “Bàng huynh, mời!”
“Nếu tại hạ không uống thì sao?” Bàng Quyên không nhìn chén rượu, chỉ nhìn chằm chằm vào Trương Nghi.
Trương Nghi một hơi uống cạn, đoạn đặt chén xuống rót rượu, đưa mắt liếc xéo Bàng Quyên, chậm rãi nói: “Như vậy là không nên không phải với rượu!”
Bàng Quyên cười lớn mấy tiếng, bưng chén rượu lên, một hơi uống cạn, rồi cũng tự mình rót rượu, vừa rót vừa hỏi: “Tại sao huynh cho rằng tại hạ nhất định sẽ đến?”
“Lòng hiếu kỳ, ai ai cũng có!” Trương Nghi tiếp tục nâng chén, vòng tay nói.
Bàng Quyên mấp máy môi mấy cái, rồi lấy tấm da dê từ trong tay áo ra, chỉ vào hình vẽ trên đó, nói: “Được thôi, tại hạ đành nhận mình xui xẻo. Huynh hãy nói xem, bức hình này có thâm ý gì không?”
“Có chứ!” Trương Nghi liếc xéo Bàng Quyên một cái, rồi lại hất hàm về phía tấm da dê. “Là một bàn cờ, ngang dọc đều có đường riêng, Bàng huynh cũng là người thích chơi cờ, đáng lẽ phải nhìn ra mới đúng.”
“Bàn cờ?” Bàng Quyên hết sức kinh ngạc, lại chăm chú nhìn vào những đường vạch vẽ cong queo gấp khúc kia, nửa như tự nhủ, nửa như muốn hỏi. “Bàn cờ phải là ngang dọc giao nhau mới phải, nhưng bức hình này...”
“Ha ha ha!” Trương Nghi cười nói. “Chẳng phải chúng cũng là ngang dọc giao nhau hay sao?”
“Nhưng chúng là những đường cong queo gấp khúc.”
“Bởi vì...” Trương Nghi cười âm trầm, “chúng là do tại hạ cố ý vẽ riêng cho Bàng huynh. Giả sử là vẽ cho Tô huynh và Tôn huynh, thì chúng sẽ được vẽ thành đường thẳng.”
“Tại sao lại như vậy?”
“Vì cái tâm của họ ngay thẳng, còn cái tâm của Bàng huynh, lại giống hệt như những nét vẽ kia.”
Bàng Quyên lại phá lên cười lớn, tự mình rót một chén rượu, một hơi uống cạn, rồi dằn chén lên mặt bàn đánh cạch: “Sảng khoái, sảng khoái! Lần này mời tại hạ đến, dù sao cũng phải có một lý do chứ?”
“Đấu cờ!”
“Mang cờ tới đây!”
“Bàn cờ ở kia đấy thôi!” Trương Nghi dẩu mỏ về phía tấm da dê. “Mời Bàng huynh hạ cờ.”
Bàng Quyên nhìn chằm chằm vào bức vẽ nguệch ngoạc trên tấm da dê, băn khoăn không biết phải làm gì, hồi lâu sau mới khẽ chau mày, ngẩng đầu nhìn Trương Nghi: “Hạ cờ thế nào, mong Trương huynh chỉ điểm!”
“Nếu Bàng huynh muốn hạ cờ, thì phải nhìn rõ thế cờ.”
“Ồ...” Bàng Quyên tiếp tục ngắm nghía những ô cờ biến dạng trên bức vẽ, lại chau mày. “Thế cờ nằm ở đâu?”
Trương Nghi cười ha hả, rồi rút từ dưới mông lên một tấm da trâu, là một bàn cờ ngang dọc rõ ràng hơn nhiều.
“Bàng huynh hãy xem!” Trương Nghi cầm lấy một quân cờ, đặt vào vị trí Thiên nguyên. “Đây là Đại Ngụy, nằm ở giữa thiên hạ.” Lại bày thêm hơn chục quân cờ nữa, lần lượt đặt ở bốn bên. “Đây là liệt quốc, nằm ở rìa thiên hạ.”
“Cái này không cần phải nói!” Bàng Quyên xua tay. “Hãy nói thẳng vào đề đi.”
“Chủ đề là,” Trương Nghi chỉ tay vào các quân cờ ở bốn phía, “xung quanh Đại Ngụy, kẻ địch vây kín, xa tạm chưa nói, chỉ tính riêng mấy năm gần đây, Tề có mối nhục Hoàng Trì, Sở có mối nhục Hình Sơn, Triệu có mối hận Triều Ca, Hàn có tranh chấp Nam Dương, Tần thì không cần nói nữa. Ngụy nằm ở giữa mà chẳng có bạn, bốn mặt là thù, còn Bàng huynh lại là thượng tướng quân của nước thù. Đây là đại thế của liệt quốc.”
“Như vậy thì đã sao?” Bàng Quyên liếc nhìn bàn cờ, cười lạnh nhạt.
“Bàng huynh lại nhìn xem!” Trương Nghi bỏ tất cả các quân cờ ra, đặt một quân ở vị trí Thiên nguyên. “Đây là Đại Ngụy bệ hạ!” Lại cầm lên mấy quân cờ, lần lượt bày sang một bên, vừa bày vừa nói. “Đây là thái tử điện hạ, đây là Tô Tần, đây là Huệ tướng quốc, đây là Chu thượng khanh, đây là Bạch tư đồ, đây là những quyền thần khác trong vương thất!” Lại đặt một quân đứng một mình ở một bên. “Đây là Bàng huynh, Vũ An Quân đại nhân!” Rồi nghiêng người ngắm nghía bàn cờ. “Đây là đại thế triều đình Đại Ngụy.”
Trương Nghi một đòn chỉ thẳng vào điểm yếu. Bàng Quyên bàng hoàng, ngơ ngẩn nhìn vào bàn cờ.
“Đại thế đã rõ, là dọc là ngang, mời Bàng huynh hãy hạ cờ!” Trương Nghi từ từ thu quân cờ lại, chỉ vào bàn cờ trống không.
Lúc này, Bàng Quyên cũng thấy chấn động trước trận thế trực quan này, khẽ vòng tay hỏi: “Theo ý của Trương huynh, thế cờ này tại hạ nên đi như thế nào?”
“Đại thế thiên hạ, cờ đi dọc ngang, nếu đường dọc đã không thông, đối với Bàng huynh mà nói, không còn con đường nào khác, chỉ còn đường ngang có thể đi!”
“Tại sao đường dọc lại không thông?”
“Người khác không hiểu Tô huynh, Bàng huynh cũng không hiểu hay sao? Tô huynh là người cố chấp, huynh cũng hiểu rõ. Tô huynh đã vạch ra kế sách hợp tung, coi Tần là một chiêu bài, muốn hợp nhất liệt quốc thiên hạ thành một đường dọc, thực hiện giấc mộng liệt quốc cùng trị. Bàng huynh thông kim bác cổ, từ thời Nghiêu Thuấn đến nay, giấc mộng thiên hạ cùng trị, kỳ thực đã tan vỡ từ lâu. Tại sao lại tan vỡ? Bởi vì cái tâm của con người vốn là ích kỷ, quân chủ liệt quốc đều có mưu riêng, bề tôi liệt quốc ai vì chủ nấy, thiên hạ giống như một đĩa cát rời rạc, đĩa rung cát động, thôn tính lẫn nhau, kẻ yếu mong tồn tại, kẻ mạnh mong bá chủ, mà Tô huynh vẫn khư khư ôm giấc mộng tàn, há chẳng đáng buồn ư? Bàng huynh thử nghĩ xem, nếu thiên hạ có thể hợp tung, lấy sáu để phạt một, thì Bàng huynh cớ sao lại phải chiến bại ở Hàm Cốc?”
Bàng Quyên hít vào một hơi dài, rồi từ từ thở ra, gật đầu nói: “Xin nói về thế cờ ngang, Trương huynh sẽ đi như thế nào?”
“Bàng huynh đã nhìn thấy con cua hay chưa?”
“Con cua như thế nào?”
“Con cua luôn bò ngang, thấy cá giết cá, thấy tôm giết tôm, dùng hai càng tám cẳng lập uy chốn sông hồ, mọi vật ở dưới nước đều phải kính sợ nó, nghe lời nó, phục tùng nó.”
“Thế cờ ngang của Trương huynh là...” Bàng Quyên hai mắt trợn trừng, nín thở.
“Thế cờ ngang của tại hạ, chính là cách đi mà Bàng huynh ưa thích, nói một cách đơn giản, chỉ có một chiêu, chính là đi như con cua, dùng tám cẳng hai càng quét ngang thiên hạ, kẻ theo ta thì sống, kẻ cản ta thì chết!”
“Không sai, không sai!” Bàng Quyên khẽ vỗ tay. “Cách đi này rất hợp với ý của tại hạ!” Rồi nhổm người về phía trước. “Có điều, thế cờ ngang này của Trương huynh, dù sao cũng phải có nguyên tắc chứ?”
“Nguyên tắc không có gì khác, là kẻ mạnh liên thủ. Liệt quốc thiên hạ ngày nay, kẻ mạnh không ngoài Tần, Ngụy. Nếu Tần, Ngụy liên hoành hợp nhất, thử hỏi thiên hạ còn ai địch nổi?”
“Tần, Ngụy đời đời huyết thù, cái nhất này, phải hợp bằng cách nào?”
“Bàng huynh sai rồi!” Trương Nghi lắc đầu. “Liệt quốc thiên hạ, không hề có thù oán mãi mãi, cũng không có yêu thương mãi mãi. Từ xưa đến nay, kẻ trị thiên hạ, không gì ngoài bốn chữ nhân, nghĩa, lợi, lực. Nhân được thi hành ở thời Tam Hoàng, nghĩa được thi hành ở thời Nghiêu Thuấn, bắt đầu từ Hạ Khải, thiên hạ chỉ còn lại hai chữ lợi và lực mà thôi. Nếu nói về huyết thù, giữa Ngụy và liệt quốc xung quanh, có nước nào không có huyết thù? Cho dù là huyết thù Tần, Ngụy, lại là vì đâu? Chẳng phải vì một tấc đất Hà Tây hay sao? Đất trong thiên hạ rộng lớn như vậy, Bàng huynh nơi nào chẳng thể chiếm lấy, sao cứ phải kỳ kèo một tấc đất Hà Tây?”
“Nói hay lắm!” Bàng Quyên cười nói. “Tài miệng lưỡi của Trương huynh, xem ra đã có được chân truyền của tiên sinh!”
“Không phải có được chân truyền, là hợp với tình, thuận với lý mà thôi!”
“Được thôi! Dám hỏi Trương huynh, nếu tại hạ đi nước cờ ngang, có lợi ở chỗ nào?”
“Có xa có gần!
“Xin hãy nói rõ hơn!”
“Lợi xa nằm ở chỗ Tần, Ngụy hợp nhất, phía bắc thôn tính Triệu, phía nam tiêu diệt Hàn, trước tiên phân chia Tam Tấn, sau đó cắt xẻ Đại Sở, tiếp nữa thôn tính đất Tề, Yên, cùng chia đều thiên hạ.”
“Nếu như hai vị quân chủ không chịu chia đều thì sao?”
“Bài binh bố trận, tiếp tục quyết trận thư hùng.”
“Thật sảng khoái!” Bàng Quyên đập bàn đánh chát. “Hãy nói về cái lợi gần!”
“Tần Vương hứa rằng, chỉ cần Tần, Ngụy hoà mục liên hoành, Tần sẽ trả lại Thiểm, Tiêu, Khúc Ốc và bến đò Thái Dương, trở về trạng thái trước khi giao chiến, song Ngụy không cần phải trả lại ải Lâm Tấn.”
“Ồ?” Bàng Quyên vô cùng kinh ngạc. “Tại sao Tần Vương lại rộng lượng đến vậy?”
“Vì Tần Vương thông suốt thế đạo, hiểu lẽ thường tình.”
“Hiểu lẽ thường tình như thế nào?”
“Người Ngụy ở Hà Tây đã thiệt mạng không ít, cũng nên có một vùng đất để truy điệu mới phải.”
Giải thích thế này kể cũng hợp tình hợp lý.
Bàng Quyên khẽ gật đầu, rồi vòng tay nói: “Tần Vương có tấm lòng như vậy, thật khiến tại hạ cảm kích. Có điều...” Dừng lại một chốc, “việc liên hoành không thể vội vàng, hiện giờ chưa tiện nêu ra. Lần này Trương huynh đến, hãy lấy giảng hoà làm đầu.”
“Đa tạ Bàng huynh chỉ giáo!” Trương Nghi cũng vòng tay nói. “Có lời này của Bàng huynh, ngày mai tại hạ lập tức lên triều đường yết kiến đại vương, thỉnh cầu kết tình hoà mục với đại vương.”
“Ngày mai không được!”
“Ồ?”
“Bệ hạ đang lúc hào hứng nồng nhiệt với một người, e rằng mấy hôm nay sẽ chẳng có thời gian rảnh rỗi. Đừng nói là Trương huynh, cho dù là tại hạ, cũng chẳng thể đến gần.”
“Dám hỏi Bàng huynh, người nào mà có phúc như vậy?”
“Trang Chu người Tống!”
“Trang Chu?” Trương Nghi hai mắt trợn tròn, miệng há hốc.
“Thế nào? Trương huynh biết người này ư?”
“Ồ, không!” Trương Nghi định thần lại, cười khẽ. “Khi còn trong Quỷ Cốc, tại hạ đã đọc qua bút tích của người này, cũng được chút lợi ích. Thiên hạ rộng lớn, kẻ cùng họ cùng tên nhiều vô số kể. Nếu như Trang Chu này chính là Trang Chu đó, tại hạ rất muốn gặp mặt một lần. Có điều...” vòng tay với Bàng Quyên, “vẫn phải làm phiền Bàng huynh giới thiệu mới được.”
“Ờ...” Bàng Quyên nhăn nhó, “nghe nói người này là khách của Huệ tướng quốc, tại hạ...”
“Đa tạ Bàng huynh chỉ điểm!” Trương Nghi lại vòng tay, nâng chén mà nói. “Nào, Bàng huynh, vì sự liên thủ giữa hai ta, quét sạch thiên hạ, cạn chén!”
Biết được Trang Chu cũng đang ở Đại Lương, Trương Nghi vui mừng khôn xiết trong lòng. Khi còn trong Quỷ Cốc, tiên sinh nói về người này không chỉ một lần, lời lẽ vô cùng cung kính, nhiều lần còn đặt Trang Chu sánh ngang với Liệt Ngự Khấu. Sau khi xuống núi, Trương Nghi chỉ dùng một thiên diệu văn “Luận kiếm” của Trang Chu, mà đã khéo léo thuyết phục được Việt Vương, chiến thắng ngay trận đầu, danh tiếng lẫy lừng thiên hạ. Trong thời khắc này, Trang Chu sánh với thần nhân kia lại ở ngay trước mặt, bảo Trương Nghi làm sao có thể cầm lòng cho đặng?
Tuy nhiên, phải dùng thân phận nào để đến phủ Huệ tướng quốc cầu kiến, thật cũng khiến Trương Nghi phải khổ tâm suy nghĩ. Nếu như bàn về quốc sự, phải lên triều đình, mọi việc thái tử Thân đều giao cho Chu Uy bàn bạc. Nếu là gặp gỡ bang giao giữa tướng quốc hai nước, chẳng qua cũng chỉ cần nói vài câu khách sáo. Chuyện trò không hợp nửa câu cũng nhiều, với thân phận của Trương Nghi hiện nay, Huệ Thi chắc chắc sẽ không muốn nói nhiều. Trực tiếp cầu kiến Trang Chu lại càng không ổn. Trang Chu chẳng qua chỉ là khách của Huệ Thi, mình lại vì một người khách mà đến thăm phủ tướng quốc Đại Ngụy, thì thể diện của tướng quốc nước Tần biết bỏ vào đâu?
Đang khổ tâm tìm kiếm lý do, thì phó sứ Sư Lý Tật bèn mách nước: “Theo tại hạ được biết, các sĩ tử đi nam về bắc, kẻ không thông danh thực sẽ chẳng có duyên đến cửa phủ Huệ tướng quốc. Sao tướng quốc không dùng danh thực để biện luận với ông ta? Chỉ cần là thỉnh giáo về học vấn, thiết nghĩ Trang Chu kia hẳn sẽ không thể ngồi yên, không mời cũng sẽ tự tìm đến.”
“Diệu kế!” Trương Nghi vốn bản tính hiếu thắng đập bàn reo lên. “Sư Lý huynh hãy nói xem, tại hạ phải biện luận với ông ta như thế nào?”
Sư Lý Tật chẳng nói chẳng rằng, lập tức viết ra “Quan vật thập sự” của Huệ Thi lên một tấm gỗ, chỉ tay vào mà nói: “Trong phủ Huệ Tử, quanh năm có treo tấm bảng này, phàm là sĩ tử tìm đến, nếu giải thích được một điều, tự sẽ được mời vào cửa. Nếu giải thích được ba điều, thưởng trà và điểm tâm. Nếu giải thích được năm điều, khoản đãi cơm rượu thịnh soạn. Nếu giải thích được tám điều, coi như quý khách. Nếu giải thích được cả mười điều, coi là tri kỷ. Nếu không giải thích được điều nào, tống cổ khỏi cửa.”
Trương Nghi liếc nhìn tấm bảng, toàn thần chuyên chú.
“Còn có một điều tướng quốc cần phải biết!” Sự Lý Tật xích lại gần, hạ thấp giọng nói. “Tính cho đến hiện tại, kẻ vào phủ tướng quốc để giải đề, phần lớn đều bị đuổi ra khỏi phủ, kẻ có thể uống trà chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, còn kẻ được thiết đãi cơm rượu thịnh soạn thì...”
“Hiểu rồi!” Trương Nghi xua tay, rồi chỉ ra ngoài cửa. Sư Lý Tật biết ý lui ra. Trương Nghi bèn chốt cửa phòng lại, ngồi đối diện với tấm bảng, vận dụng công phu tĩnh định đã rèn được khi còn ở trong Quỷ Cốc, chìm vào suy tưởng, suốt cả một đêm mà vẫn chưa thể lý giải. Đến khi gà gáy, bỗng một tia sáng loé lên trong trí não, Trương Nghi bèn sử dụng cái đạo bài hạp mở khép mà Quỷ Cốc tiên sinh đã truyền dạy để khai mở huyền cơ, thoắt nhiên có điều lĩnh ngộ, bèn lần lượt dẫn chứng, cuối cùng đã tỏ ngộ hoàn toàn. Đến khi trời sáng bảnh, Trương Nghi đã có sẵn kế sách trong đầu, liền nằm xuống ngủ ngon lành. Đến giữa trưa, Trương Nghi tỉnh giấc, lại nghiền ngẫm tỉ mỉ một lượt những điều lĩnh ngộ ban sáng, rồi khoác lên mình bộ trang phục sĩ tử, hớn hở lên đường xuất chinh.
Nghe nói Trương Nghi tìm đến, Huệ Thi không dám chậm trễ, lập tức đón vào phòng khách, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Huệ Thi vốn cho rằng lần này Trương Nghi đến là để nghị bàn quốc sự, nên tiếp đón có phần không vui vẻ, vừa ngồi xuống chỗ đã nói thẳng thừng, trong lời nói ẩn hiện ý tứ đuổi khách: “Nghe nói đặc sứ thân bận trăm công nghìn việc, nay quang lâm hàn xá, dám hỏi Huệ Thi có thể giúp được gì chăng?”
“Tiên sinh khách sáo rồi!” Trương Nghi không gọi là tướng quốc, mà gọi thẳng là tiên sinh, đồng thời chỉnh sửa nếp áo, ngồi ngay ngắn, bày ra tư thế luận chiến, có đuổi cũng không đi. “Nghe nói tiên sinh thông đạt danh thực, tại hạ bất tài, lần này đến là mong muốn được thỉnh giáo học vấn của tiên sinh, mong tiên sinh chớ tiếc lời chỉ bảo.”
Huệ Thi thoáng kinh ngạc, ánh mắt dừng lại trên bộ y phục sĩ tử của Trương Nghi. Từ lúc Trương Nghi vào cửa, ông ta vẫn không đoán được tại sao người này lần đầu tiên tìm đến đã tự hạ thấp thân phận, thật không thể ngờ hắn đến là để khiêu chiến.
Cho dù đối thủ là cao đồ Quỷ Cốc danh chấn thiên hạ, chỉ uốn ba tấc lưỡi mà tiêu diệt cả nước Việt, nhưng lúc này là luận về danh thực, nên Huệ Thi không chút e dè, khép mắt một lúc, rồi khẽ mỉm cười nói: “Nếu đã đến đây để biện luận, vậy quy tắc của tại hạ, ngài đã hiểu chưa?”
“Đã hiểu!”
Huệ Thi vỗ tay bồm bộp ba cái, thư đồng hầu bên cạnh nghe tiếng bước vào, đi tới phía trước phòng khách, sột soạt vài tiếng đã kéo ra một cần câu, đầu cần câu nối với hai sợi dây lụa, treo một tấm bảng sơn rộng chừng một thước, dài chừng ba tấc. Thư đồng kéo bảng gỗ lên một độ cao nhất định, rồi cố định lên tường.
Được viết rành rọt trên tấm bảng từ trái qua phải chính là “Quan vật thập sự” danh chấn tám phương của Huệ Thi:
1. Cái cực lớn không có gì ở ngoài, cái cực nhỏ không có gì ở trong.
Vật không có bề dày, ngàn dặm.
Trời thấp như đất, núi ngang với đầm.
Mặt trời vừa đứng bóng vừa xế bóng, vật vừa sống vừa chết.
Vạn vật đều giống đều khác.
Phương nam không có tận cùng mà có tận cùng.
Hôm nay đến Việt mà hôm qua đã tới.
Vòng tròn nối liền nhau có thể gỡ.
Trung tâm của mặt đất ở phía bắc nước Yên, phía nam nước Việt.
Trời đất một thể.
Huệ Thi liếc qua tấm bảng, rồi quay sang nhìn Trương Nghi, chìa tay mà nói: “Trương Tử, mời!”
“Tiên sinh!” Trương Nghi nhìn chăm chú vào tấm bảng, một lúc sau thì vòng tay nói. “Tại hạ bạo gan thử giải thích, mong tiên sinh chỉ giáo giúp cho.”
“Trương Tử bất tất phải khách khí!”
“‘Quan vật thập sự’, chìa khoá là ở điều thứ tám, vòng tròn nối liền nhau có thể gỡ!” Trương Nghi nói rành rọt từng tiếng.
Trương Nghi vừa mở miệng đã điểm trúng yếu huyệt, khiến Huệ Thi phải âm thầm giật mình kinh ngạc, nhưng lập tức trấn tĩnh, khẽ cười một tiếng, quay sang thư đồng: “Dâng trà!”
Trước đây phải giải đúng ba điều mới được dâng trà. Người này mới chỉ nói một câu, chủ nhân đã sai dâng trà, rõ ràng đã khiến thư đồng phải bất ngờ, bất giác mở to mắt nhìn Huệ Thi, thấy ông ta cũng nheo mắt nhìn lại, thì không dám chậm trễ, vội vàng dâng trà rồi cúi đầu lui ra.
“Trương Tử, mời!” Huệ Thi bưng chén trà lên, vòng tay nói.
Hai người cùng dùng trà.
“Vòng tròn nối liền nhau có thể gỡ, vẫn mong Trương Tử giải thích rõ hơn!” Huệ Thi đặt chén trà xuống, hai mắt nhìn Trương Nghi chăm chú.
“Mười việc liên hoàn, từ một mà sinh mười, gỡ một có thể giải được mười.”
“Một ở chỗ nào?”
“Một ở việc thứ mười, trời đất một thể.”
Huệ Thi hít vào một hơi dài, hồi lâu sau mới nghiêng người hỏi: “Xin hỏi Trương Tử, trời đất sao lại là một thể?”
“Cái cực lớn không có gì ở ngoài, cái cực nhỏ không có gì ở trong, nên trời đất là một thể. Cái không có bề dày không thể chồng xếp lên nhau, nhưng rộng đến ngàn dặm, nên trời đất là một thể. Trời thấp như đất, núi ngang với đầm, nên trời đất là một thể. Mặt trời vừa đứng bóng vừa xế bóng, vật vừa sống vừa chết, nên trời đất là một thể. Phương nam không có tận cùng mà có tận cùng, nên trời đất là một thể. Hôm nay đến Việt mà hôm qua đã về, nên trời đất là một thể. Trung tâm của mặt đất ở phía bắc nước Yên, phía nam nước Việt, nên trời đất là một thể...”
“Không hổ danh là cao đồ của Quỷ Cốc tiên sinh!” Huệ Thi khen ngợi, rồi quay sang thư đồng. “Báo cho nhà bếp, chuẩn bị cơm rượu thịnh soạn!” Rồi chậm rãi đứng dậy, chìa tay mời. “Lão hủ xin mời Trương Tử đến hậu hoa viên ngắm cảnh xuân, mong được Trương Tử nể mặt.”
“Đa tạ tiên sinh hậu ái!”
Hai người cùng đi đến hậu hoa viên, không ai nhắc đến quốc sự, cũng chẳng nói về đạo lý trị thiên hạ, chỉ bàn luận về danh, thực, nghĩa, lý, cứ thế trò chuyện cho tới tận khi trời tối mịt, Trương Nghi mới cơm no rượu say, tận hứng quay về.
“Chà chà chà!” Sư Lý Tật chờ đợi đã lâu, lúc này luôn miệng tấm tắc. “Tại hạ còn cho rằng tướng quốc đi lần này, giật được chén trà đã là giỏi lắm rồi, thật không ngờ đại nhân còn kiếm được cả cơm ngon rượu ngọt nữa!”
“Không những kiếm được, mà tại hạ còn trở thành bạn tri giao của Huệ tướng quốc!”
“Thật ư?” Sư Lý Tật vội vàng lấy tấm gỗ ra. “Không giấu đại nhân, sau khi đại nhân đi rồi, tại hạ cũng vắt óc nghĩ ngợi, đến giờ đã suy ngẫm quá nửa ngày trời, càng ngẫm càng cảm thấy đau đầu chóng mặt.”
“Đừng nói là hơn nửa ngày, cho dù là ba năm, hẳn huynh cũng chẳng thể ngẫm ra được.”
“Ha ha ha, đúng thế!” Sư Lý Tật cười hì hì mấy tiếng, rồi chỉ tay vào tấm gỗ hỏi. “Đại nhân hãy mau giải thích, thế nào là ‘cái cực lớn không có gì ở ngoài, cái cực nhỏ không có gì ở trong?’”
“Đây là cương lĩnh, nên được đặt ở hàng đầu tiên. Lớn đến nỗi không có cái gì ở ngoài, tức là không thể lớn hơn được nữa, cũng chính là cái rộng lớn của chân trời; nhỏ đến nỗi không có cái gì ở trong, tức là không thể nhỏ hơn được nữa, cũng chính là cái nhỏ bé của chân trời. Cái lớn vô biên và cái nhỏ vô biên tức cái lớn lớn nhất và cái nhỏ nhỏ nhất, đây là hai số không thể xác định được, nhưng ở giữa hai số không thể xác định được này, tất cả những chữ số khác đều có thể xác định được. Đã có thể xác định được, vậy sẽ là tương đối, tất cả những đáp án ở phía sau, đều nương theo cái tương đối này.”
“Ờ...” Sư Lý Tật gãi đầu gãi tai. “Đại nhân không nói, tại hạ còn hiểu một chút, đại nhân càng nói tại hạ lại càng rối tinh rối mù!”
“Vậy thì hãy nói về điều tiếp theo! ‘Vật không có bề dày, ngàn dặm’. Vật không có bề dày tức là vật mỏng nhất, mỏng đến nỗi không thể mỏng hơn được nữa, nhưng vật có mỏng đến đâu, cũng có thể hình thành một mặt phẳng, kéo dài mặt phẳng này ra, có thể dài đến nghìn dặm.”
“Thôi không nói chuyện này nữa, cái đầu của tại hạ thực ngu dân.” Sư Lý Tật gãi đầu gãi tai, vẫn mơ hồ không hiểu, lại chuyển sang mệnh đề tiếp sau. “Thế còn ‘trời thấp như đất, núi ngang với đầm’? Tại hạ nghĩ kiểu gì vẫn không hiểu nổi, trời phải cao hơn đất mới đúng chứ?”
“Trời ở đâu?”
“Ờ... trời ở trên đỉnh đầu!”
“Có nghĩa là, trên đất là trời, đúng không?”
“Đúng!”
“Sư Lý huynh hãy lên trên núi ngắm trời, thấy đất trên đỉnh núi cao hơn, hay trời dưới chân núi cao hơn?”
“Ờ... đúng thực! Trời dưới chân núi, đương nhiên phải thấp hơn so với đất trên đỉnh núi!”
“Vậy thì đúng rồi. Cao và thấp cũng chỉ là tương đối. Cứ suy luận tương tự như vậy, không có mặt trời đứng bóng tuyệt đối, và cũng chẳng có mặt trời xế bóng tuyệt đối. Sống và chết cũng như vậy, sống tức là chết, chết tức là sống.”
“Ồ... ồ... sống là sống, chết là chết, sao có thể giống nhau được?”
“Ví dụ hãy nói về huynh nhé. Ngày mà huynh sinh ra, là số nhỏ nhất, không tuổi, ngày mà huynh chết đi, là số lớn nhất, ví dụ là tám mươi tuổi. Ở giữa không tuổi và tám mươi tuổi, huynh cứ sống thêm một tuổi, sẽ bớt đi một tuổi, hay nói cách khác, sẽ chết đi một tuổi. Huynh năm nay ba mươi lăm tuổi, cách lúc chết còn bốn mươi lăm tuổi nữa, vì vậy huynh có thể nói rằng, ta đã sống được ba mươi lăm tuổi, còn có thể sống tiếp bốn mươi lăm tuổi nữa. Cách khác, huynh cũng có thể nói, ta đã chết mất ba mươi lăm tuổi, còn có thể chết tiếp bốn mươi lăm tuổi nữa.”
“Quả là có cái lý này ư?” Sư Lý Tật gãi đầu, đột nhiên có chút tỏ ngộ. “Vậy... ‘phương nam không có tận cùng mà có tận cùng’, câu này phải giải thích thế nào?”
“Bốn phương không có giới hạn, đúng không?”
“Đúng!”
“Bốn phương đã không có giới hạn, thì nơi nào là phương nam? Ví dụ lấy đây làm chuẩn, vùng đất ở phía nam gọi là phương nam. Nhưng sau khi tới phương nam, huynh vẫn sẽ nhìn thấy phương nam, vì vậy phương nam là vô cùng. Nhưng phương nam cũng là có tận cùng, vì vậy phương nam mãi mãi là tương đối, cho dù là phương nam kiểu gì cũng là tương đối so với phía bắc của nó, nên nó sẽ có tận cùng.”
“Phải, phải lắm!” Sư Lý Tật vỗ trán, luôn miệng khen ngợi. “Đúng là đạo lý lớn! ‘Hôm nay đến Việt mà hôm qua đã tới’, câu này phải giải thích thế nào? Hôm nay đến Việt, tại sao hôm qua đã tới rồi?”
“Câu này huynh giải thích sai rồi. Hôm nay tức là lúc này, bây giờ, vì nay và qua là đối lập. Thế nào là nay? Nay chính là hiện tại. Thế nào là qua? Qua chính là phía trước của hiện tại. Hiện tại luôn luôn chỉ là khoảnh khắc, ngắn đến mức không thể ngắn hơn. Huynh vừa mới nói hiện tại, nhưng lúc này nó đã thành ra quá khứ. Huynh nói bây giờ đến Việt, lời nói còn chưa rơi xuống đất, nó đã lại trở thành quá khứ, thành trước đây rồi.”
“Chà chà!” Sư Lý Tật lại đưa tay vỗ đầu. “Như vậy chẳng phải là vòng vo ngoắt ngo éo lắm ư? Còn ‘vòng tròn nối liền nhau có thể gỡ’? Đây là câu tại hạ khó hiểu nhất.”
“Nếu huynh nói theo cách khác, vòng tròn vừa nối vừa gỡ, có lẽ sẽ hiểu được.”
“Vòng tròn vừa nối vừa gỡ?” Sư Lý Tật chìm vào suy tư, hồi lâu bỗng mở choàng mắt, hào hứng reo lên. “Có nghĩa là, chiếc vòng khi mối nối liền, cũng chính là khi gỡ nó ra?”
Trương Nghi cười lớn, đáp: “Nếu huynh đến Huệ phủ, chỉ dựa vào lời này, hẳn cũng không đến nỗi bị ông ta tống cổ ra khỏi cửa!”
“Nói đến Huệ phủ,” Sư Lý Tật cười một lát rồi đi vào việc chính, “lần này đại nhân tới, có gặp được Trang tiên sinh không?”
“Vẫn chưa! Hiện giờ Trang tiên sinh còn đang ở trong cung giúp vui cho Huệ Vương.”
“Nếu như Huệ Vương vui vẻ, chưa biết chừng sẽ trọng dụng người này? Lúc đó Huệ Thi...”
“Huynh bất tất phải lo xa đến vậy!” Trương Nghi cười vang mấy tiếng, rồi giơ tay ngắt lời Sư Lý Tật. “Trang tiên sinh không phải con chim trong lồng, không chịu nổi gò bó quá ba ngày, chắc chắn sẽ tìm cách bay đi. Tại hạ đã nhắn Huệ tướng quốc, hai ngày sau sẽ lại ghé thăm.”
Trương Nghi quả nhiên đã đoán đúng. Trang Chu bị Huệ Vương giữ chân đến ngày thứ ba, đã chán ngấy khu ngự hoa viên rộng hơn hai trăm mẫu, đến tư thế ngồi trò chuyện cũng dần trở nên uể oải. Nhưng Ngụy Huệ Vương lại khác, từ sau khi được nghe câu chuyện đầu bếp mổ trâu, liền cảm thấy vô cùng hứng thú với đạo dưỡng sinh của Trang Chu, cứ giữ rịt lấy Trang Chu hỏi hết câu này đến câu khác.
Quả là Ngụy Huệ Vương có lý do để làm như vậy, vì thân thể xương cốt của Huệ Vương đã không còn được như trước. Đặc biệt là sau trận chiến Hàm Cốc, giấc mộng bá chủ đã tan như bọt sóng, cơ thể vốn dĩ tráng kiện cũng suy sụp theo hùng tâm tráng chí. Nhưng Huệ Vương không muốn chết. Với Huệ Vương, ý nghĩa của sinh mệnh hiện giờ, không phải ở chỗ chết hay không chết, mà là lúc này, ông ta chưa thể chết. Thái tử Thân vẫn chưa thể tự lập, còn các công tử khác, xét về hiền đều không bằng thái tử Thân, xét về tài đều không bằng công tử Ngang, chẳng có ai khiến ông yên tâm, Huệ Vương thực sự không dám tưởng tượng tới một nước Ngụy không có mình, chí ít là trong lúc này.
Tuy nhiên, dưỡng sinh là một vấn đề cao viễn và huyền diệu. Trang Chu hết biện luận lại ví von, từ nhập môn cho đến chỗ huyền vi, Huệ Vương càng nghe càng thấy cao vời. Trang Chu lo lắng, quyết định không tiếp tục giảng giải đạo lý nữa, mà chỉ dẫn Huệ Vương tu thực, bắt đầu tu từ trai tâm.
“Được, được, được!” Huệ Vương luôn miệng đồng ý. “Xin hỏi tiên sinh, trai tâm phải bắt đầu từ đâu?”
“Trai tâm là thế này!” Trang Chu ngồi nghiêm ngắn, hai tay đặt ở đan điền. “Khí phải trầm, hơi thở phải ổn, ý nghĩ không được tán loạn, phải giữ ở đan điền; thần không được phiêu hốt, phải giữ ở tâm điền.”
“Thế thì không khó!” Huệ Vương nôn nóng hỏi. “Tiên sinh, phải trai bao lâu mới được?”
“Trai tâm càng lâu càng tốt. Có điều, đối với đại vương hiện tại, nếu trai được hai canh giờ, tại hạ đã kính phục lắm rồi!”
“Hai canh giờ?” Huệ Vương ra vẻ xem thường, hít vào một hơi dài, rồi quay sang tỳ nhân. “Giờ là giờ nào?”
“Vừa vào giờ Thân!”
“Được!” Huệ Vương lớn tiếng căn dặn. “Bây giờ quả nhân sẽ cùng Trang tiên sinh so tài trai tâm, lấy một ngày một đêm làm giới hạn, ngươi hãy làm chứng, từ giờ đến giờ Thân ngày mai, ai đứng dậy trước sẽ thua.”
“Bệ hạ!” Tỳ nhân cuống lên.
Nhưng Huệ Vương không để tâm tới tỳ nhân, mà quay sang Trang Chu, vòng tay nói: “Tiên sinh, mời!”
Thấy Huệ Vương hiếu thắng đòi tỷ thí, Trang Chu khẽ cười, rồi đứng dậy, giúp ông ta sửa sang tư thế cho đúng đắn, sau đó chỉnh lại y phục, trịnh trọng ngồi xuống cách Huệ Vương không xa.
Trong mấy canh giờ sau đó, Trang Chu càng tĩnh toạ càng yên ổn, ngồi vững như chuông, không mảy may xê dịch, hình tựa cây khô, song Huệ Vương lại chẳng khác nào đang chịu cực hình.
Huệ Vương vốn cũng có chút công phu tu luyện, chỉ là gần đây tâm trạng bất ổn, nay lại gặp phải Trang Chu, hiển nhiên càng thua kém thấy rõ. Hai canh giờ đầu tiên, Huệ Vương còn có thể gắng gượng, đến canh giờ thứ ba, Huệ Vương mày râu rung động, đốt tay co giật, nghiến răng nghiến lợi, vặn vẹo nhúc nhích mỗi lúc một thường xuyên. Gắng gượng đến quá nửa đêm, Huệ Vương vò đầu bứt tai, hơi thở lúc dài lúc ngắn, trông vô cùng khổ sở.
Tỳ nhân đứng hầu bên cạnh thấy vậy, lòng như lửa đốt, ngẫm nghĩ hồi lâu, cho rằng là do khí lạnh ban đêm ngấm vào người, liền sai cung nữ mang hai tấm chăn đến, một tấm choàng lên vai Huệ Vương, một tấm choàng lên vai Trang Chu. Cứ như phản xạ, vai Trang Chu khẽ giật một cái, tấm chăn rơi ngay xuống đất. Huệ Vương thấy vậy, cũng đành phải khẽ nhún vai mấy cái, tấm chăn không những không rơi xuống, ngược lại còn quàng chắc hơn nữa. Huệ Vương đành phải nhìn sang tỳ nhân, vốn định ra hiệu cho gỡ chăn xuống, không ngờ tỳ nhân lại quỳ luôn xuống, nhặt tấm chăn của Trang Chu lên, nhẹ nhàng phủ lên hai chân Huệ Vương.
Huệ Vương khẽ thở dài một tiếng, nhắm mắt mặc kệ.
Một ngày một đêm chỉ vì trai tâm, song cái tâm của Huệ Vương không thể nằm yên lấy một giờ một khắc, cứ bay nhảy tán loạn như vượn núi, ngựa hoang. Tâm mệt thân cũng mệt, Huệ Vương không thể chịu đựng thêm được nữa. Gắng gượng bám trụ đến giờ Ngọ ngày hôm sau, Huệ Vương hiếu thắng cuối cùng cũng phải từ bỏ trận tranh đua, cơ thể rũ gục, đầu vẹo sang bên, dựa vào thân cây ngủ mê mệt.
Còn Trang Chu dường như đã tính sẵn từ trước, đúng vào giờ Thân thì xuất định. Thấy Huệ Vương đã ngáy pho pho, Trang Chu cười khẽ một tiếng, rồi đứng dậy, ung dung dạo bước quanh hoa viên.
Khi Huệ Vương tỉnh lại, trời đã sắp hoàng hôn.
Tỳ nhân hầu hạ rửa mặt xong xuôi, dùng qua chút cơm, Huệ Vương cũng thấy ái ngại, bèn vòng tay nói với Trang Chu: “Ngụy Anh coi như đã hiểu rồi, việc này thoạt nhìn tưởng dễ, nhưng kỳ thực không hề dễ. Quả nhân thấy tiên sinh lập tức nhập định, còn cái tâm của Ngụy Anh lại như ngựa phi vượn nhảy, suy nghĩ tán loạn triền miên. Dám hỏi tiên sinh là duyên cớ gì?”
“Đại vương tâm tư không định, tâm khiếu không khai, bởi vậy tâm không thể tĩnh.”
“Tiên sinh có đạo định tâm, khai khiếu chăng?”
“Không có gì khác, thuận theo trời ứng theo người!”
“Làm thế nào mới có thể thuận theo trời ứng theo người?”
“Ôm nguyên giữ một!”
“Ồ...” Huệ Vương chau tít đôi mày. “Làm thế nào mới có thể ôm nguyên giữ một?”
“Ngưng thần tại tâm, tụ chí không phân.”
“Ngưng thần tại tâm, tiên sinh có cách nào chăng?”
“Đại vương đã từng nghe câu chuyện người Sở bắt ve sầu chưa?”
“Người Sở bắt ve sầu?” Huệ Vương lắc đầu. “Ngụy Anh chưa từng nghe thấy.”
“Ngày trước Trọng Ni đến Sở, thấy một người bị gù lưng dùng tơ nhện để bắt ve sầu trong rừng, hễ ra tay là bắt được, không trượt lần nào. Trọng Ni lấy làm tò mò, tiến lại gần hỏi: ‘Lão tiên sinh thật tài giỏi. Dám hỏi tiên sinh làm thế nào mà luyện được tài này?’ Người gù bèn đáp: ‘Không có gì khác, tôi nhờ vào cách chồng bi mà luyện thành. Nửa năm đầu, khi tôi xếp chồng hai viên bi trên đầu cây sào bắt ve mà hai viên bi không bị rơi, thu hoạch đã được không ít. Khi chồng ba viên bi mà không bị rơi, rất ít khi bắt trượt. Khi tôi chồng được năm viên bi mà không bị rơi, tự nhiên cũng đạt đến chỗ tay thuận theo tâm. Ông hãy nhìn tôi, khi bắt ve sầu, thân như cây khô, cánh tay cầm gậy như cành cây khô. Trời đất tuy lớn, vạn vật tuy nhiều, nhưng tôi tuyệt đối không để tâm, chỉ một lòng tập trung vào cánh ve, không bao giờ ngó nghiêng trái phải. Bắt ve như vậy, muốn bắt trượt e rằng cũng khó’.”
Huệ Vương hít vào một hơi dài, hồi lâu sau mới khẽ gật đầu: “Đa tạ tiên sinh chỉ điểm, Ngụy Anh đã hiểu được cách ngưng thần tụ chí rồi!”
“Hiểu được là một chuyện, làm được lại là chuyện khác!”
“Phải lắm!” Huệ Vương gật đầu tán thành. “Cách chồng viên bi của người gù, chỉ có thể mong mà không thể cầu, tiên sinh có cách nào dễ thực hiện hơn không?”
“Người gù nếu không thể cầu, có thể cầu Tử Khánh.”
“Tử Khánh?” Huệ Vương vẻ ngạc nhiên. “Tử Khánh là ai?”
“Là người nước Lỗ, giỏi đẽo gỗ làm giá treo chuông, giá treo chuông do ông làm ra tinh xảo tuyệt luân, người nhìn thấy thảy đều kinh ngạc, cho là quỷ thần. Lỗ Công hiếu kỳ, liền triệu ông ta đến hỏi: ‘Sao ngươi có thể làm được như thế?’ Tử Khánh đáp: ‘Không có gì khác, trai tâm mà thôi. Khi sắp đẽo giá chuông, vi thần sẽ không hao tổn tâm thần, mà trai tâm để chờ đợi. Trai đến ngày thứ ba, vi thần không còn nghĩ đến phú quý tước lộc nữa. Trai đến ngày thứ tư, vi thần không còn nghĩ đến khen chê vinh nhục nữa. Trai đến ngày thứ bảy, vi thần ngay cả hình thể của mình cũng quên bẵng hoàn toàn, tự nhiên cũng quên hết triều đình, công thất, trong lòng chỉ còn lại giá treo chuông. Lúc này, thần mang theo dụng cụ sắc bén lên núi, quan sát bẩm tính của cây gỗ, dùng bẩm tính của nó để làm thành giá treo chuông của vi thần.’”
“Hay lắm, hay lắm!” Huệ Vương trong lòng chấn động, vòng tay nói. “Ngụy Anh sẽ bắt đầu từ việc đẽo giá treo chuông. Bắt đầu từ hôm nay, sẽ bái tiên sinh làm thầy, khổ luyện trai tâm, được chăng?”
“Được thì có được!” Trang Chu liếc mắt nhìn cảnh sắc tô vẽ hoa lệ xung quanh, nhìn đám cung tần mỹ nữ đang cười đùa đằng xa, cuối cùng, ánh mắt dừng lại trên người tỳ nhân vẫn cần mẫn đứng hầu bên cạnh. “Chỉ có một điều không ổn.”
“Tiên sinh cứ nói!”
“Tử Khánh đẽo gỗ làm giá treo chuông trong rừng sâu núi thẳm. Đại vương nếu cứ ở trong hoa viên này, trong có công tử vương tôn, phi tần mỹ nữ, ngoài có văn võ bá quan, vương thân quốc thích, đừng nói là bảy ngày, cho dù là bảy tháng, bảy năm, e rằng cũng khó đẽo thành.”
“Theo ý tiên sinh, Ngụy Anh nên đến đâu để đẽo giá chuông?”
“Rời khỏi cung này, đến với trời đất bao la.”
“Vậy...” Huệ Vương khẽ chau mày, “xin hỏi tiên sinh, Ngụy Anh sẽ ngủ ở đâu?”
“Trời đất là nhà, nơi nào không phải là chỗ ngủ?”
“Được!” Huệ Vương trầm tư hồi lâu, rồi nghiến chặt hàm răng, giáng mạnh nắm đấm xuống đùi. “Ngụy Anh sẽ cùng tiên sinh xuất cung!”
“Bệ hạ...” Lời Huệ Vương còn chưa nói dứt, tỳ nhân đã quỳ phịch xuống, khóc toáng lên.
“Ngươi... ngươi... ngươi... ngươi khóc cái nỗi gì?” Huệ Vương đứng dậy, bực bội nhìn tỳ nhân, một lúc sau thì xua tay. “Phải rồi, phải rồi, quả nhân biết ngươi không nỡ xa quả nhân. Được rồi, ngươi hãy đi theo! Đợi khi quả nhân đẽo giá chuông, cũng có người giúp việc, có người thưởng thức!” Nói đoạn, liền cất bước đi luôn.
“Bệ hạ, tuyệt đối không được!” Tỳ nhân lao vọt lên mấy bước, vòng tay ôm chặt lấy chân Huệ Vương.
Trang Chu nhìn vua tôi hai người, nghe thấy cuộc đối thoại giữa họ, liền cười dài mấy tiếng, sải bước đi luôn.
“Tiên sinh, đợi ta với...” Huệ Vương hốt hoảng, giơ tay gọi lớn, rồi vội vã đuổi theo.
Không ngờ, tỳ nhân lúc này giống như phát cuồng, bất chấp cả tính mạng, cố sống cố chết ôm chặt lấy đôi chân to béo của Huệ Vương.
Sáng sớm ngày thứ ba, Trương Nghi lại đến thăm phủ Huệ Thi, vô tình được biết tướng quốc và Trang Chu từ sớm đã ra ngoài du ngoạn. Trương Nghi hỏi rõ nơi họ tới, rồi đánh xe đi tìm, quả nhiên tìm được một cỗ xe tứ mã dưới một sườn đồi phía ngoài thành Đại Lương. Trong xe không thấy có người, ngựa đã được tháo, bốn con ngựa đang ung dung gặm cỏ trên bãi rộng, phu xe ngồi chồm hỗm trên đất, nheo nheo hai mắt ngắm nhìn.
Trương Nghi chẳng cần hỏi nhiều, chỉ cần nhìn mui xe đã biết đó là xe ngựa của phủ tướng quốc, liền nhảy xuống xe, tự báo danh tính. Phu xe dường như đã biết trước Trương Nghi sẽ đến, vái đáp lễ xong, bèn chỉ lên trên sườn dốc, nói là chúa công đang đợi ở đó. Trương Nghi mừng rỡ, vòng tay cảm tạ xong, dặn phu xe của mình cũng thả ngựa ở chỗ này, sau đó hối hả rảo bước đi lên con dốc.
Trên dốc không thấy một ai.
Trương Nghi trèo lên đỉnh dốc, phóng mắt nhìn khắp xung quanh, chỉ thấy mặt nước Phùng Trạch mênh mông bất tận, sóng biếc dập dờn, bên bờ trăm hoa khoe sắc, chim hót bướm lượn, chỉ có điều không có lấy một bóng người.
Trương Nghi vội bước lên mấy bước, đi sang chỗ khác tiếp tục đưa mắt kiếm tìm, mãi cũng nhìn thấy bên mé nước dưới con dốc có vài gốc liễu, dưới cây loáng thoáng như có bóng người, vội vàng tìm đường đi đến, quả nhiên là hai người họ, mỗi người dựa lưng vào một thân cây, quay mặt ra đầm nước, ngồi yên không nói.
Trương Nghi đi thẳng lại gần, cúi đầu vòng tay chào: “Vãn sinh Trương Nghi bái kiến hai vị tiên sinh!”
Hai người dường như không nhìn thấy, vẫn chăm chú nhìn sững vào mặt nước mênh mang trước mặt.
Trương Nghi hít vào một hơi dài, khẽ đảo mắt một vòng, liếc thấy ở giữa hai người có một thân cây, vừa hay cùng với hai cây của Trang Chu, Huệ Thi xếp thành hình tam giác, thì hiểu ngay cây đó là để dành cho mình, liền bước tới, điềm nhiên ngồi dựa vào gốc cây, nhưng không phải là quay nhìn ra mặt nước, mà là đối diện với hai người.
Thế ngồi này, rõ ràng không phải để ngắm cảnh, cũng chẳng phải để tỉnh định, vừa nhìn đã biết là tư thế luận chiến.
Huệ Thi khẽ hé mắt thành hai khe hẹp, liếc nhìn Trương Nghi, hơi vòng tay: “Lão hủ đợi đã lâu rồi!” Rồi chỉ vào Trang Chu. “Vị này chính là Trang Chu, chẳng phải sĩ tử nói rằng đến nằm mơ cũng muốn được diện kiến hay sao?”
“Chính phải!” Trương Nghi bèn đổi từ ngồi sang quỳ, dập đầu xuống đất khấu lạy. “Tiên sinh ở trên, xin nhận của vãn sinh Trương Nghi ba lạy!”
Trang Chu cười lên mấy tiếng, cũng mở mắt ra: “Huệ Thi nói rằng sĩ tử miệng lưỡi lợi hại, những người khác cũng đều nói như vậy cả, Trang Chu vẫn chưa được lĩnh giáo, ngươi vừa gặp đã cúi đầu bái kiến là lý làm sao? Là tiên lễ hậu binh ư?”
“Trước mặt tiên sinh, vãn sinh không dám khua môi múa mép! Sở dĩ vãn sinh khấu bái tiên sinh, là vì một áng diệu văn!”
“Ồ!”
“Khi vãn sinh còn ở Quỷ Cốc, có duyên đọc được tuyệt tác luận kiếm của tiên sinh, vô cùng say mê. Sau khi rời sơn cốc, vãn sinh đã dùng chính áng văn này để khắc chế được Việt Vương Vô Cương trên núi Lang Nha, giúp Sở diệt Việt, lập được công đầu sau khi xuống núi.”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu phá lên cười lớn mấy tiếng, rồi thu nụ cười lại, trầm giọng, bấm ngón tay đếm mà nói. “Những lời luận đạo của Trang Chu lại bị ngươi sử dụng bừa bãi như vậy, là điều đáng buồn thứ nhất. Đất Ngô Việt khoảng mười vạn sinh linh, chỉ trong một sớm đã bị diệt vong trong tay ngươi, là điều đáng buồn thứ hai. Dùng máu tươi của người khác để lập công cho mình mà không biết tự tỉnh ngộ, đó là điều đáng buồn thứ ba. Có ba điều đáng buồn này mà không tự biết, lại khoe công lao trước mặt Trang Chu, là điều đáng buồn thứ tư.”
Trương Nghi vốn định dùng bài văn này làm cái cớ để lấy lòng mà cầu kiến, không ngờ Trang Chu không những không vui lòng, mà còn lập tức bổ xuống mấy rìu, nhát nào cũng toé máu, cho dù Trương Nghi đã có công phu tu luyện cao thâm, nhưng nhất thời cũng chết lặng, còn lại một lạy ba dập đầu vẫn chưa kịp hành xong, cơ thể đã ngây đơ tại chỗ, vừa không lạy được, cũng chẳng khấu nổi. Không khí phút chốc trở nên hết sức sượng sùng.
Huệ Thi liếc nhìn Trương Nghi, khoé miệng khẽ động mấy cái, dường như muốn nói gì đó nhưng lại thôi, hai mắt nheo lại, ánh nhìn di chuyển về phía mặt hồ.
“Đa tạ lời bình phẩm của tiên sinh!” Trương Nghi cuối cùng cũng đã định thần trở lại, nghiến răng hành nốt đại lễ, lễ xong mới đứng dậy, cẩn thận phủi hai tay, vén áo ngồi xuống, vòng tay đáp. “Khi ở Quỷ Cốc, thường nghe ân sư nhắc đến tiên sinh. May mắn được ông trời ưu ái, nay vãn sinh đã hân hạnh được gặp, thành tâm mong tiên sinh chớ tiếc lời chỉ giáo.”
Thấy Trương Nghi “khiêm tốn” như vậy, Trang Chu cũng không tiện trấn áp, giọng điệu có phần hoà hoãn trở lại: “Trang Chu xưa nay đơn độc đi về, không quan hệ gì với người đời, ân sư của ngươi sao vô duyên vô cớ lại nhắc đến Trang Chu?”
“Không phải vô duyên vô cớ!” Trương Nghi đáp. “Ân sư dùng lời luận đạo của tiên sinh để mở lối chỉ đường cho những đệ tử như vãn sinh tu thân ngộ đạo.”
“Ngươi hãy nói thử xem, lão già Quỷ Cốc Tử kia đã dùng lời của tại hạ để mở lối chỉ đường cho các ngươi như thế nào?”
“Hồi bẩm tiên sinh!” Thấy thời cơ đã đến, Trương Nghi bèn nghiêng người đáp. “Nghe ân sư kể lại, có người từng hỏi tiên sinh đạo ở chỗ nào, tiên sinh đáp rằng, đạo ở con kiến, đạo ở đám cỏ dại, đạo ở đống gạch vụn, đạo ở đống phân, mỗi một tỷ dụ đều khiến người ta nghe mà líu lưỡi. Tiên sinh luận đạo, tỷ dụ chính xác, khai tắc thông khiếu, vãn sinh vô cùng thán phục, mỗi khi ngẫm ngợi, lại thấy dư vị vô cùng.”
Thấy Trương Nghi càng muốn lấy lòng, Trang Chu khẽ chau mày: “Nghe Huệ Thi nói, ngươi rất muốn gặp ta. Ngươi đến gặp ta, lẽ nào chỉ để nói những lời nịnh bợ đó ư?”
“Không, không, không!” Trương Nghi cuống quýt. “Lần này vãn sinh đến, là muốn hỏi tiên sinh về đạo, mong tiên sinh chỉ điểm chỗ mê muội.”
“Ha ha ha ha!” Trang Chu cười dài mấy tiếng. “Nếu muốn hỏi về đạo, thì ngươi xuống núi làm gì? Nghe nói Quỷ Cốc Tử đạo hạnh thâm hậu, ngươi lại bỏ gần cầu xa, há chẳng phải hoang đường?” Nói đoạn liền đổi giọng. “Có thể thấy, hỏi về đạo không phải tâm của ngươi.”
“Không đúng!” Trương Nghi trầm giọng đáp. “Ân sư có đạo của ân sư, tiên sinh có đạo của tiên sinh. Đạo của ân sư vãn sinh đã được lĩnh ngộ sơ qua, còn đạo của tiên sinh, vãn sinh lại ít được nghe nói, nay may mắn được gặp tiên sinh, mong tiên sinh đừng tiếc lời chỉ giáo.”
“Chỉ sợ ngươi nghe đạo của ta rồi, lại phải trở về Quỷ Cốc, tu lại đạo của Quỷ Cốc Tử từ đầu.”
“Cũng chưa hẳn!” Trương Nghi khẽ mỉm cười, rũ tay áo mấy lần, làm ra tư thế chuẩn bị tranh luận, đưa hai tay lên xoa mạnh lên tai, đoạn vòng tay nói. “Vãn sinh đã rửa tai, xin tiên sinh chỉ giáo!”
“Tử Tang Hộ, Mạnh Tử Phản, Tử Cầm Trương là bạn tri giao của nhau, Tử Tang Hộ chết, Khổng Tử sai Tử Cống đến viếng, thấy Mạnh Tử Phản, Tử Cầm Trương gõ trống gảy đàn đi quanh xác chết mà hát, Tử Cống ngạc nhiên, trách hai người thất lễ, ngược lại bị hai người cười chê, bèn trở về bẩm lại với Khổng Tử, Khổng Tử khảng khái than rằng: ‘Người ta là kẻ tiêu dao ngoài thế tục, Khâu là kẻ gò bó trong thế tục, trong ngoài không tương hợp, Khâu lại sai trò đến viếng, thật là thiển cận.’ Ngươi và ta, cũng là người bên trong lễ tục và bên ngoài lễ tục, trong ngoài đã không hợp nhau, ngươi nay cầu xa bỏ gần, cầu đạo của Trang Chu, há chẳng phải hoang đường ư?”
Trang Chu kể ra câu chuyện này, rõ ràng là muốn nói với Trương Nghi, không cùng đường khó cùng mưu sự, ý là chuyện trò không hợp nửa câu cũng nhiều.
“Đa tạ tiên sinh giáo huấn!” Trương Nghi đã hiểu rõ ẩn ý, bèn khẽ mỉm cười. “Vãn sinh ngu muội, dám hỏi về sự khác biệt giữa bên trong và bên ngoài lễ tục?”
“Người ở bên ngoài, giống như ba người bạn tri giao kia, cùng sinh với trời, cùng thể với đất, coi sinh là mụn nhọt, coi tử là vỡ nhọt, bên ngoài gửi gắm cho vạn vật, bên trong quên bẵng hình hài, quanh quẩn bên ngoài bụi trần, tiêu dao trong cảnh vô vi. Người ở bên trong, giống như Khổng Khâu kia, cái tâm lo âu, cái hình lao nhọc, bên ngoài trái ngược với trời, bên trong trái ngược với tính, làm cái mình không thể làm, hành cái mình không thể hành, bận rộn bôn tẩu khắp liệt quốc, đơn độc đề xướng nhân nghĩa, thất thểu như chó nhà có tang, hoang mang như bèo trôi mặt nước.”
“Ha ha ha ha!” Trương Nghi cười lớn mấy tiếng. “Tiên sinh có điều không biết, Nghi vừa không phải là Khổng Khâu, cũng chẳng phải ba người kia, Nghi vừa có thể tiêu dao ngoài thế tục, cũng có thể quẩn quanh trong thế tục, là một chân giẫm ba sông.”
“Ngươi ư,” Trang Chu liếc mắt nhìn Trương Nghi, lắc đầu dứt khoát, “chẳng qua là một lòng muốn ba sông mà thôi, chứ không phải giẫm. Thiên đạo âm dương, không âm thì là dương, không dương thì là âm. Phương của đạo người, không trong thế tục thì là ngoài thế tục, không ngoài thế tục thì là trong thế tục. Ngươi chỉ có hai cái chân, làm sao có thể giẫm lên ba sông được?”
“Ồ...” Trương Nghi không biết đối đáp ra sao, ấp úng mất một chốc. “Vậy cứ cho là vãn sinh vẫn ở trong vòng lễ tục. Nếu theo ý của tiên sinh, muôn việc đều vô vi mà trị. Trong loạn thế hiện nay, nếu như cũng cứ ứng theo vô vi, để thuận theo tự nhiên, há chẳng phải sẽ chiến loạn triền miên, mãi mãi chẳng có được ngày yên bình hay sao?”
Trang Chu phá lên cười lớn, quay sang Huệ Thi: “Lão Huệ Tử, nghe thấy rồi chứ, đây chính là tướng quốc Đại Tần đến từ Quỷ Cốc!” Rồi nheo mắt lại. “Theo Chu được biết, Quỷ Cốc Tử cũng được coi là người có đạo thời nay, vậy mà lại dạy ra hạng đệ tử thế này, thật khiến người ta không thể hiểu nổi!” Nói xong, lắc đầu quầy quậy, trông rất khoa trương.
Bị sỉ nhục đến sư môn, Trương Nghi mặt mũi đỏ bừng, hai mắt trừng trừng nhìn lại, giọng nói nặng trịch, không còn vẻ thành tâm cung kính nữa: “Dám hỏi Trang tiên sinh, Trương Nghi sai ở chỗ nào?”
“Ngươi chẳng có gì sai cả, chẳng qua là không biết đạo mà thôi!” Trang Chu quay đầu lại, hai mắt rừng rực như đuốc, khoé miệng lộ một nét cười khó đoán.
Theo tiên sinh tu đạo trong Quỷ Cốc năm năm, kinh qua không biết bao nhiêu khổ sở, nhưng lại bị người ta quy chụp là không biết đạo, Trương Nghi vốn bản tính hiếu thắng sao có thể giữ nổi bình tĩnh, lập tức đôi mày nhíu chặt, miệng nhếch lên một nụ cười nhạt, cất giọng lạnh lẽo: “Vãn sinh có chỗ nào không biết đạo, kính mong tiên sinh nói rõ!”
“Người biết đạo, sẽ biết thuận thiên ứng mệnh!” Trước sự thay đổi thái độ của Trương Nghi, Trang Chu làm như không nhìn thấy, không nghe thấy, vẫn cứ rành rọt tiếp lời. “Tính trời tự nhiên, mệnh lý vô vi. Nhưng đệ tử Quỷ Cốc các ngươi, bôn tẩu khắp liệt quốc, hô hào giữa triều đường, chia rẽ triều nội, gây chuyện thị phi, đảo lộn trắng đen, kích động chinh phạt, bên trong thì không màng tính mạng, khoe khoang tài khéo miệng lưỡi, bên ngoài thì coi thường sinh linh, phô trương binh khí hung tàn, khiến cho thế gian vốn đã bệnh đến xương tuỷ giờ lại như tuyết phủ thêm sương, khiến cho mặt đất vốn đã ám muội nay lại càng thêm u tối. Hành sự như vậy, có thể gọi là biết đạo hay chăng?”
Nếu những lời trách cứ này là do Quỷ Cốc Tử nói ra, Trương Nghi còn vì cái lễ thầy trò mà không dám cãi. Nhưng đối với Trang Chu, Trương Nghi vốn chỉ có cung kính, không hề khiếp sợ, nay lại bị dồn tới đường cùng, nên đành phải trở giáo phản công.
“Theo ý của tiên sinh,” Trương Nghi im lặng một chốc, lấy lùi để tiến, “việc gì cũng có thể vô vi mà trị ư?”
“Đạo trời vô vi!”
“Thế còn đạo người?”
“Trời người là một, đạo người tự nhiên cũng sẽ vô vi.”
“Vãn sinh không dám tán đồng!” Trương Nghi đã chụp được cơ hội, bèn khẽ vòng tay, cất giọng dõng dạc. “Đạo người nếu là vô vi, thì ai sẽ nếm trăm loại cỏ? Ai sẽ trồng ngũ cốc? Ai sẽ thu phục trăm thú? Không có người nếm trăm loại cỏ, làm sao có thể trừ bệnh? Không có người trồng ngũ cốc, lấy gì để nuôi dưỡng sinh mệnh? Không có người thu phục trăm thú, làm sao có thể sống yên? Bởi vậy, vãn sinh cho rằng, đạo người phải là hữu vi. Vô vi sẽ chỉ dung túng thói lười biếng, sùng chuộng ngồi không hưởng lợi, cứ thế lâu dài, dân không được sống, nước không được trị, thiên hạ không được yên ổn.”
“Phi lý, quá ư phi lý!” Trang Chu lắc đầu quầy quậy. “Không có người nếm trăm loài cỏ, trăm loài cỏ sẽ được toàn vẹn. Không có người trồng ngũ cốc, ngũ cốc sẽ được sống lâu. Không có người thu phục trăm thú, trăm thú sẽ được yên ổn.”
“Trăm loài cỏ được toàn vẹn, nếu như người bị bệnh thì sao? Ngũ cốc được sống lâu, nếu như người bị đói thì sao? Trăm thú được yên ổn, nếu như người yếu đuối thì sao?”
“Trời sinh vạn vật, con người chỉ là một trong số đó. Ngươi câu nào cũng không rời khỏi con người, tự tiện tôn mình lên cao cực điểm. Cho dù là vậy, nếu theo như lời ngươi nói, trước khi nếm trăm loài cỏ, chẳng phải con người đã ốm chết hết rồi hay sao? Trước khi trồng ngũ cốc, chẳng phải con người đã đói chết hết rồi hay sao? Trước khi thu phục trăm loài thú, chẳng phải con người đã bị thú ăn thịt hết rồi hay sao? Sự thực lại không phải vậy, con người tu thân ngộ đạo, đối xử tốt đẹp với vạn vật, sẽ được di dưỡng tuổi trời, đó là chuyện trước khi nếm trăm loài cỏ, trồng ngũ cốc, thuần hoá trăm thú. Với sự tu dưỡng của Quỷ Cốc Tử, không thể không biết.”
Trương Nghi chớp mắt một cái, cứng đầu cãi lại: “Chuyện thời thượng cổ, đều là suy diễn, khó thành định luận, hãy phân tích chuyện hiện nay thôi. Thời nay phong khí suy đồi, lòng người không còn chất phác, lễ băng nhạc hoại, tư dục lan tràn, chư hùng tranh bá, quần long múa vuốt nhe nanh, sinh linh đồ thán, dân chúng đau thương, những điều như vậy, đều là sự hỗn loạn của thời nay. Đã là hỗn loạn, ắt có người trị. Tính trời thì công bằng, tính người thì tư lợi. Nếu như mọi người trong thiên hạ đều như tiên sinh, cứ để vô vi mà trị, thì sự hỗn loạn này ngày nào mới kết thúc đây?”
“Than ôi!” Trang Chu thở dài một tiếng. “Xem ra ngươi vừa không biết thế nào là vô vi, cũng chẳng biết thế nào là hữu vi. Không biết mà làm bừa, thiên hạ há chẳng đáng buồn ư? Khi trời đất mới hình thành, vua Nam Hải là Thúc, đế Bắc Hải là Hốt, đế trung ương là Hỗn Độn. Thúc và Hốt thường xuyên gặp gỡ ở nơi của Hỗn Độn, Hỗn Độn cũng luôn tiếp đãi trọng hậu hai vị đế. Thúc và Hốt cảm kích ơn đức của đế Hỗn Độn, có ý báo đáp, cùng bàn nhau rằng: ‘Người có bảy khiếu, nên mới có thể nhìn, nghe, ăn, thở, song Hỗn Độn lại không có. Tại sao chúng ta không giúp ông ta một tay, đục cho ông ta bảy cái lỗ?’ Hai đế nói là làm, mỗi ngày đục một lỗ, đến khi bảy lỗ đục xong, Hỗn Độn bèn lăn ra chết.”
Sự tích Hỗn Độn là do Trang Chu tiện miệng đặt ra, Trương Nghi chưa bao giờ nghe nói tới, đương nhiên cũng không thể tra cứu ở đâu. Lời trách móc “không biết mà làm bừa”, càng khiến Trương Nghi rùng mình ớn lạnh, trong lòng nhói buốt. Nhớ lại những lời giáo huấn sâu xa và niềm hy vọng tha thiết của Quỷ Cốc Tử đối với Trương Nghi và Tô Tần trong ngày xuống núi, Trương Nghi rất không phục, trong lòng muôn mối cảm xúc lẫn lộn, giống như đợt đợt sóng dồn dập cuộn trào, hồi lâu mới vòng tay nói: “Đa tạ tiên sinh giáo huấn! Mặc dù vậy, vãn sinh vẫn không cho rằng đó là lời giải thích!”
“Vậy ngươi giải thích thế nào?”
“Lão Tử nói, ra sống vào chết. Nói ngược lại, ra chết mà vào sống. Trước khi bị đục lỗ, Hỗn Độn không sống không chết, gọi là sống mãi. Sau khi bị đục lỗ, Hỗn Độn từ chỗ sống mãi đến chỗ chết. Song cái lý của đạo, vừa sống vừa chết, vừa chết vừa sống, sau khi Hỗn Độn chết đi ắt lại được sống, sau khi sống ắt lại phải chết, sống chết liên tục, cũng là sống mãi. Cùng là sống mãi, vậy Hỗn Độn sao lại chết?”
Trương Nghi dẫn một câu nói của Lão Tử để mở đầu, biện luận ra cái lý này, lại khiến Trang Chu không thể xem thường, mắt nhìn Trương Nghi chăm chú hồi lâu, rồi hít vào một hơi dài, khẽ vòng tay mà nói: “Hậu sinh khả uý!” Rồi quay sang Huệ Thi, hồ hởi. “Ha ha ha, thú vị, thật thú vị! Lời này nghe ra không giống như tướng quốc nước Tần, mà đã có được chút khí độ của Quỷ Cốc!”
“Đa tạ tiên sinh khen ngợi!” Trương Nghi đã kịp thở lấy một hơi, không đợi Huệ Thi kịp đáp lời, đã lập tức vòng tay đa tạ, rồi thuận thế phản bác. “Đạo trời vô vi, không tạo tác song cũng không gì không tạo tác, không gì không tạo tác tức là có tạo tác, là hữu vi. Theo như lời của tiên sinh, đạo không chỗ nào không có. Con người là tinh hoa hoá sinh từ vạn vật, đạo người cũng là đạo trời, nên trong ngoài lễ tục đáng ra không nên phân chia mới đúng, trong thế tục cũng chính là ngoài thế tục. Đã không phân chia trong ngoài thế tục, thì vô vi cũng chính là hữu vi, hữu vi cũng chính là vô vi. Những điều chúng vãn bối làm, tự nhiên cũng sẽ là thuận theo đạo, bên ngoài không nghịch với trời, bên trong không nghịch với tính. Còn về thế đạo đen tối, sinh linh lầm than, tiên sinh lại quy tội là tại đám đệ tử Quỷ Cốc vãn sinh làm xằng làm bậy, lại càng là thiếu công bằng. Trước khi vãn bối xuống núi, thế đạo có được thái bình hay không? Sinh linh có được yên ổn hay không? Sau khi chúng vãn bối xuống núi, đã phụng mệnh ân sư, dốc tận sức mình, dẫn dắt đại thế của thiên hạ, dẹp loạn để quay về chính, khiến cho loạn tượng lại trở về với trật tự, đưa thiên hạ bước theo đường chính, nên phải là thuận thiên ứng mệnh mới đúng, không ngờ lại bị tiên sinh khinh thị, thực khiến vãn sinh cảm thấy đau lòng.”
Trang Chu phá lên cười dài mấy tiếng: “Đã là đạo trời, thì không thể dẹp bỏ. Đã là đại thế, thì không thể dẫn dắt. Tề Trang Công đi săn, có con côn trùng chặn đường, giơ càng định đẩy bánh xe. Trang Công hết sức kinh ngạc, hỏi phu xe rằng: ‘Đây là giống côn trùng gì thế?’ Phu xe đáp: ‘Giống côn trùng này tên là bọ ngựa, chỉ biết tiến mà không biết lui.’ Bọ ngựa giương càng để chặn bánh xe, mà không biết rằng nó không đủ sức chống đỡ. Các ngươi muốn dốc tận sức mình để dẫn dắt đại thế của thiên hạ, nào có khác gì con bọ ngựa kia?”
Trương Nghi cũng cười vang: “Tiên sinh sai rồi! Trời dốc hết tác dụng, người dốc hết tài năng. Con muỗi tuy nhỏ, có thể chế ngự trâu mộng. Coi voi tuy lớn, nhưng chẳng làm gì được chuột đồng. Trị loạn nếu đúng cách, hẳn có cách xoay chuyển đất trời. Trị loạn nếu không đúng cách, tâm có thừa mà sức chẳng đủ. Đám đệ tử Quỷ Cốc như vãn sinh đây, thuận thiên ứng thời, dùng thuật tung hoành để chỉnh hợp thiên hạ, dẫn dắt loạn thế đi vào chính đạo, khiến thiên hạ quy về chính thống, giúp vạn dân được yên ổn, khiến hậu thế được thái bình, thân dù chết mà lòng không hối hận. Đời người nếu được như vậy, chẳng phải hào hùng lắm thay!”
Trương Nghi nói đến chỗ kích động, người khẽ run lên.
“Chà chà chà!” Trang Chu khẽ lắc đầu. “Không tiếc thân mình mà yêu thiên hạ, ngoài Mặc gia ra, từ xưa đến nay chưa từng có. Lẽ nào đệ tử của Quỷ Cốc cũng quy phục theo đám Mặc gia rồi ư? Các nhà lập tông, chư tử lập thuyết, tranh luận cãi vã, ầm ĩ ồn ào, chẳng qua cũng như thầy bói xem voi mà thôi, đệ tử của Quỷ Cốc dựa vào đâu mà tự tôn đến vậy, coi cách của mình là chính đạo, coi cách của người khác là lầm đường? Thiên hạ vừa không có đúng, cũng chẳng có sai, vừa không có chính, cũng chẳng có tà, đệ tử của Quỷ Cốc sao lại có thể luận định đúng sai, chính tà bừa bãi như vậy được?”
“Ý tiên sinh là, thiên hạ không có đúng sai ư? Thiên hạ không có chính tà ư? Đúng là đúng, sai là sai, chính là chính, tà là tà. Đúng sai, chính tà, không phải không có liên quan gì đến nhau, cớ sao tiên sinh lại xoá sạch sự khác biệt giữa chúng?”
Trang Chu lại lắc đầu: “Thật là những lời khảng khái! Trang Chu hỏi ngươi, thế nào là đúng, thế nào là sai?”
“Thuận trời thì đúng, nghịch trời thì sai; thuận thế thì đúng, nghịch thế thì sai.”
“Hay cho câu thuận trời nghịch trời, thuận thế nghịch thế!” Trang Chu cười nhạt một tiếng, giọng điệu trở nên bén nhọn. “Được thôi, giờ Trang Chu sẽ cùng ngươi luận bàn về đúng sai. Hãy nói về cuộc tranh luận này giữa chúng ta, giả sử ngươi biện luận thắng ta, thì ngươi nhất định là đúng, ta nhất định là sai ư? Giả sử ta biện luận thắng ngươi, thì ta nhất định là đúng, ngươi nhất định là sai ư? Giữa chúng ta, lẽ nào chỉ có một người đúng, chỉ có một người sai ư? Tại sao không phải là ta với ngươi cùng đúng, ngươi với ta cùng sai? Phàm là người đều cố chấp kiến giải của mình, bất kể là một người đúng, một người sai, hay là hai người đều đúng, hai người đều sai, ngươi và ta đều là người trong cuộc, nên đều không thể xác định. Ai đúng ai sai, nếu ngươi và ta không thể xác định, theo lý cần phải có bên thứ ba. Vậy thì, xin hỏi người nào là bên thứ ba? Trước tiên hãy mời đến một người có ý kiến giống ngươi. Nhưng mà, đã là người có ý kiến giống ngươi, hắn làm sao có thể phán quyết được? Vậy thì, tiếp theo lại mời một người có ý kiến giống ta. Nhưng mà, đã là người có ý kiến giống ta, hắn lại làm sao có thể phán quyết được? Được thôi, hai người đều không được, vậy thì hãy đi mời một người có ý kiến vừa không giống ngươi vừa không giống ta. Thế nhưng, đã là người có ý kiến khác ngươi và ta, hắn lại làm sao có thể phán quyết đúng sai giữa ngươi và ta được? Vậy thì, đổi một người có ý kiến cùng giống cả ta và ngươi, là được chứ gì? Ồ, đã là người có ý kiến giống ngươi và ta, hắn lại làm sao có thể phán quyết đúng sai giữa ngươi và ta đây? Từ đó mà thấy, ngươi, ta và bất kỳ một người thứ ba nào, đều không thể phán quyết về sự đúng sai giữa ta và ngươi. Nếu như ngươi và ta đều không thể xác định, thì ngươi làm sao có thể xác định ai đúng ai sai?”
Dường như bị choáng ngợp trước một tràng giang đại hải những câu hỏi ngược hỏi xuôi và những lập luận kín kẽ không thể phản bác của Trang Chu, Trương Nghi há miệng cứng lưỡi mất một hồi lâu mới lắp bắp được một câu: “Vậy... theo ý của tiên sinh, chúng ta phải nhìn nhận thế nào về đúng sai?”
“Vạn vật đều có hai mặt!” Trang Chu lại rành rọt luận giải. “Nhìn từ bên kia, không gì không phải là bên kia; nhìn từ bên này, không gì không phải là bên này. Bên kia có đúng sai, bên này cũng có đúng sai. Quả thực có bên này bên kia ư? Quả thực không có bên này bên kia ư? Quả thực có đúng sai ư? Quả thực không có đúng sai ư? Khi nhìn từ bên kia không rõ ràng, nhìn từ bên này, có lẽ sẽ rõ. Khi nhìn từ bên này không rõ ràng, nhìn từ bên kia, có lẽ sẽ rõ. Bởi vậy, bên kia hình thành từ bên này, bên này hình thành từ bên kia, nhờ có bên này mà tồn tại bên kia, nhờ có bên kia mà tồn tại bên này, đôi bên đối lập mà nương tựa, tương khắc mà tương sinh. Nhờ đúng mà có sai, nhờ sai mà có đúng, không có đúng cũng không có không đúng, không có sai cũng không có không sai. Bên này cũng là bên kia, mà bên kia cũng là bên này. Đúng cũng là sai, mà sai cũng là đúng. Bởi vậy, thánh nhân không câu nệ ở tranh luận đúng sai, mà soi sáng bởi đạo trời. Soi sáng bởi đạo trời, đôi bên đều trống không, đúng sai đều hư ảo, bên này và bên kia, đúng và sai, cùng tồn tại song song, đạo ngụ ở trong, nên là mấu chốt của đạo. Giữ lấy mấu chốt của đạo mà đứng trong vũ trụ, có thể thuận ứng vô cùng. Đúng cũng là vô cùng, sai cũng là vô cùng. Đúng không có cái đúng nhất định, sai không có cái sai nhất định. Nếu soi sáng bằng ánh sáng của tự nhiên, sẽ có thể không khư khư giữ ý lấy ý mình, trừ bỏ những luận định đúng sai!” Ánh mắt liếc xéo sang Huệ Thi, hất hàm về phía ông ta. “Tất cả quả thực như lời người kia đã nói, trời đất một ngón tay, vạn vật một con ngựa. Hợp với ta thì cho là được, không hợp với ta thì cho là không được. Đúng với ta thì cho là đúng, không đúng với ta thì cho là không đúng. Vốn dĩ không có đường, có người đi mà thành đường. Vật vốn không có tên, được gọi mà thành tên. Vật vốn dĩ có nguyên nhân khiến nó là được, vật vốn dĩ có nguyên nhân khiến nó là đúng, vật vốn dĩ có nguyên nhân khiến nó là không đúng. Không vật nào là không như vậy, không việc nào là không như vậy. Bởi thế, to nhỏ, xấu đẹp, ngay lệch, cong thẳng, đúng sai, thành bại, hợp chia... đều giống hệt nhau, chẳng có khác biệt, không gì không thông với đạo, không phải người khoáng đạt sẽ không thể biết được. Nếu như mọi vật mọi việc không gì không thông đạt với đạo, hợp lại làm một, mà ngươi và ta lại ở nơi đây biện luận đúng sai cong thẳng, há chẳng phải nực cười lắm ư?”
Lời vừa dứt, Trang Chu đã bật ra một tràng cười lớn.
Lập luận của Trang Chu, văn vẻ tuôn trào như suối, khí thế tựa cầu vồng, lồng lộng tựa trời mây, khác nào Thái Sơn ập xuống đỉnh đầu, Trương Nghi nghe mà ngây dại, không còn phản bác thêm được câu nào, bèn cúi đầu nói: “Diệu luận của tiên sinh, vãn sinh phục rồi!”
Trang Chu rõ ràng đã thấy hài lòng với Trương Nghi, bèn lắc lư cái đầu mà nói: “Ngươi trong lòng không phục, chỉ là nhất thời bế tắc mà thôi. Trang Chu chẳng qua chỉ là một thảo dân, ngươi lại là quan cao hiển quý, nên cái cúi đầu này ta không dám nhận. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương thông, quan sát bẩm tính của ngươi, cũng có thể đồng hành với Chu. Đi nào đi nào, nếu cứ ở đây hao tâm tổn trí, biện luận mấy chuyện không đâu, chẳng thà hãy cùng Trang Chu đi đùa giỡn với bọn rùa bên mép nước.
Nghe nói đến đùa giỡn với rùa, Huệ Thi, Trương Nghi đều nổi hứng vui chơi, liền đứng cả dậy.
Trang Chu một tay kéo Trương Nghi, một tay kéo Huệ Thi, đi thẳng tới bên mép nước. Ở chốn đồng không vắng bặt bóng người, ba người cùng cởi mở hết tính trời, giống như ba đứa trẻ nít, đối mặt với khói sóng mênh mang, mặc tình hát múa, thoả sức điên cuồng, chơi đùa đến tận chập tối mới chịu quay về.
Sau khi Trang Chu đi rồi, bệnh của Huệ Vương đã khỏi hẳn, chỉ có điều lúc nào cũng nhớ tới Trang Chu, liên tục hai ngày liền mất ngủ, trong đó có một ngày, ông ta cứ ngồi ủ ê suốt từ sáng đến tối dưới gốc cây long não nơi đã từng cùng trai tâm với Trang Chu.
Tuy nhiên, tỳ nhân biết rõ, chúa thượng của ông ta tuyệt đối không thể rời khỏi cung, vì nếu như Huệ Vương rời đi, đối với quốc gia hay quân chủ, đều sẽ là đại hoạ.
Cứ thế giày vò đến sáng sớm ngày thứ ba, Huệ Vương quả thực không thể chịu đựng thêm được nữa, liền bảo tỳ nhân đi mời Trang Chu. Tỳ nhân hết sức miễn cưỡng tìm đến phủ tướng quốc, Huệ Thi ngước mắt nhìn trời, nói e rằng Trang Chu vẫn đang say ngủ. Tỳ nhân bèn kéo Huệ Thi tới trước giường của Trang Chu, nhưng không thấy người đâu, đồ đạc tuỳ thân của Trang Chu cũng đã không cánh mà bay. Huệ Thi thoáng sững sờ, nhưng rồi lập tức hiểu ra Trang Chu đã tù túng quá lâu, giờ lại lên đường tiêu dao tự tại, liền ngước nhìn trời mà tiễn biệt.
Tỳ nhân thở phào nhẹ nhõm, hớn hở về cung phục chỉ.
Nghe nói Trang Chu đã không từ mà biệt, Huệ Vương buồn bã than thở hồi lâu, rồi truyền chỉ lên triều. Bàng Quyên tấu xin làm hoà với Tần, Huệ Vương truyền gặp Trương Nghi. Thấy Trương Nghi tuyên bố trả lại vùng sơn cốc Khúc Ốc để thể hiện thành ý cầu hoà, quân thần nước Ngụy vô cùng hoan hỷ. Ngụy Vương không đánh mà có được Khúc Ốc nên cũng rất vui lòng, lập tức đồng ý ngay trên triều, truyền chỉ cho Chu Uy trao đổi quốc thư với người Tần, tiến hành nghi thức tiếp nhận.
Đến đây, màn kịch sáu nước phạt Tần rùm beng được khơi mào từ việc Tô Tần hợp tung, do Bàng Quyên nuôi chí phát động đã được kết thúc bởi việc Trương Nghi liên hoành, Tần, Ngụy giao hảo. Không thể không nói rằng đây chính là sự trêu cợt của thần vận mệnh đối với các đệ tử Quỷ Cốc.
Hồi Thứ 58
Trương Nghi bớt trâu, bức thái tử rối trí
Trần Chẩn dùng mẹo, khích Thục Vương xuất chinh
Mục tiêu giao hảo với Ngụy đã đạt được, Trương Nghi liền thu quân quay trở về Tần, suốt dọc đường ra roi thúc ngựa, đi suốt ngày đêm không nghỉ.
Sở dĩ Trương Nghi vội vàng đến vậy, là vì Tư Mã Thác đã gửi tin cấp báo, nói rằng đường sang Thục đã hoàn toàn khai thông, thái tử Thông Quốc của nước Thư đã dẫn người đến nhận trâu đá vãi phân vàng, Tần vương yêu cầu Trương Nghi hoả tốc hồi cung, cùng bàn cách ứng phó.
Kỳ thực, người còn sốt ruột hơn cả Trương Nghi chính là thái tử Thông Quốc. Trước khi Trương Nghi đi sứ, đã đoán trước thái tử Thông Quốc sẽ đến, bèn căn dặn lễ tư đại phu cắt giảm bớt một con trâu đá mà không cho bất cứ lý do gì. Năm đó Tần Công đồng ý cho năm con, đồng thời một con trong đó bắt buộc phải là trâu đực, không được cắt giảm, muốn giảm chỉ được giảm trâu cái, mà trâu cái mới thực sự vãi được phân vàng. Đám Thông Quốc vừa sốt ruột vừa tức giận mà chẳng làm gì được, Thông Quốc mấy lần vào cung yết kiến Tần vương để hỏi cho ra nhẽ, nhưng lại bị viện đủ lý do để cự tuyệt ngay ngoài cổng, đành phải đến phủ quốc uý Tư Mã Thác để truy hỏi nguyên nhân. Tư Mã Thác là người thẳng thắn, thấy cắt bớt của nhà người ta một con trâu mà lại không giải thích rõ ràng, cũng tự cảm thấy áy náy, nên đành phải làm kẻ mặt dày nhận lỗi với Thông Quốc, đồng thời nói rằng tất cả những điều này đều do tướng quốc Trương Nghi căn dặn, đợi khi Trương Nghi trở về, tất cả sẽ được sáng tỏ. Thông Quốc vội giục giã Tư Mã Thác viết thư hối thúc Trương Nghi, bản thân cũng như ngồi trên đống lửa, khổ sở chờ đợi Trương Nghi trở về.
Đến chập tối Trương Nghi mới về đến Hàm Dương. Mặc dù được phong làm tả tướng, nhưng phủ trạch của Trương Nghi không thay đổi, vẫn ở tại phủ hữu thứ trưởng trước đây. Sau khi Công Tôn Diễn bỏ đi, Tần Huệ Vương liền ban lại phủ đại lương tạo cho Trương Nghi, nhưng Trương Nghi đã khéo léo từ chối, nói là ở phủ của mình quen rồi. Đặc biệt là Hương Nữ, nhất quyết không chịu chuyển nhà.
Hương Nữ không chịu chuyển, vì lòng nàng không quan tâm đến vật, chỉ quan tâm đến người. Người này chính là Trương Nghi. Trên thế gian này, nàng đã chẳng còn người thân nào khác, giờ chỉ còn sống vì Trương Nghi. Một ngày không gặp, trái tim nàng như thắt lại một ngày, huống hồ lần này đi sứ nước Ngụy, trước sau đã hai tháng trời không gặp mặt.
Lúc này, thấy Trương Nghi bình an trở về nhà, Hương Nữ vui mừng ứa lệ, cứ ngã vào lòng Trương Nghi không chịu buông tay.
Trương Nghi hít hà hương thơm trên người Hương Nữ rồi cười hỏi: “Nước nóng đã chuẩn bị xong chưa?”
“Đã xong rồi!”
“Người ta đang hôi rình như cú, sắp làm ô uế mất hương thơm của nàng rồi! Đi thôi, chúng ta cùng tắm!” Lời vừa dứt, Trương Nghi đã kéo luôn Hương Nữ cùng vào phòng tắm, đang lúc tháo đai cởi áo, bỗng ngoài cửa vang lên tiếng bước chân, rồi giọng nói của Tiểu Thuận vọng vào: “Chúa công, cái tay thái tử lỗ mãng nước Thư kia đến rồi, đang đợi gặp chúa công ở ngoài cổng phủ.”
“Phu quân!” Hương Nữ hạ giọng nói. “Thái tử Thông Quốc đã đến nhiều lần rồi, chắc là có việc gấp.”
“Ta biết là việc gì rồi!” Trương Nghi cười hích hích, hô lớn với Tiểu Thuận. “Tiểu Thuận, đi đi, hãy nói với hắn, ta đang cùng phu nhân chơi trò uyên ương nghịch nước. Hừm, chính vì hắn nên mới phải đi đường gấp gáp, hại ta ba ngày liền không được ngủ tròn giấc, mệt đến hoa mắt chóng mặt, giờ vừa về đến nhà, còn chưa kịp chợp mắt, hắn đã mò đến tận nơi, còn để người ta sống nữa không?”
“Những điều cần nói tiểu nhân đã nói cả rồi, nhưng thái tử Thông Quốc không chịu đi, sống chết đòi gặp chúa công cho bằng được!”
“Tiểu Thuận!” Hương Nữ lúc này cũng đã khép xong vạt áo, bèn đi ra ngoài, mở cửa cười nói. “Đừng nghe chủ nhân ngươi nói lăng nhăng. Đi đi, mời thái tử Thông Quốc vào đây, bảo thái tử đến phòng khách đợi một lát.”
Tiểu Thuận vâng một tiếng, rồi vội vàng đi ngay.
Hương Nữ bèn đóng cửa lại, hai tay thoăn thoắt giúp Trương Nghi cởi bỏ y phục, rồi ấn vào thùng nước: “Phu quân mau tắm đi, Hương Nữ tắm xong từ lâu rồi!”
Vì có việc của Thông Quốc, Trương Nghi lúc này cũng chẳng còn tâm trạng mà đùa giỡn, vội tắm qua loa, mặc quan phục vào, rồi rảo bước tới phòng khách. Thông Quốc đứng dậy nghênh đón, sắc mặt vô cùng nôn nóng.
Sau một vài lời khách sáo, Thông Quốc bèn vỗ tay, đám tuỳ tùng liền khiêng hai hòm lễ vật lớn tiến vào. Thông Quốc rút ra một tờ danh sách lễ vật từ trong tay áo, hai tay dâng lên Trương Nghi, vòng tay nói: “Đất Thư nghèo nàn, Thông Quốc chỉ có thể mang chút đặc sản núi rừng kính tặng tướng quốc, mong tướng quốc không chê!”
Trương Nghi nhận lấy tờ danh sách, thấy ghi trên đó đều là những món trân quý vùng rừng núi, trong đó còn có muối tinh, thì trong lòng chấn động, bèn hỏi: “Đất Thư các vị cũng có muối tinh ư?”
“Không, không phải!” Thái tử Thông Quốc đáp. “Chúng tôi chỉ có ngũ cốc và hàng rừng, muối tinh là do Ba Vương cống tặng.”
“Ba Vương?” Trương Nghi càng chấn động. “Nghe nói muối nước Ba là loại muối thượng phẩm trong các loại muối, tại hạ vẫn chưa được thấy bao giờ.”
Thái tử Thông Quốc vội vàng bước tới, mở nắp hòm, lấy ra hai cái túi tinh xảo được đan từ cỏ dại, mở ra mà nói: “Đây chính là muối nước Ba, mời tướng quốc kiểm tra!”
Trương Nghi quan sát kỹ lưỡng, quả nhiên thấy hạt muối mịn màng, sắc trắng tinh như tuyết, không lẫn mảy may tạp chất, bèn bẻ lấy một góc nhỏ, thè lưỡi nếm thử, vị mặn thơm tho thấm tận phế phủ, thì tấm tắc khen liền mấy tiếng: “Muối ngon, đúng là muối ngon!” Rồi quay sang Tiểu Thuận đang đứng hầu bên cạnh. “Đã là thịnh tình của thái tử Thông Quốc và Ba Vương, ngươi hãy mau chiếu theo danh sách mà nhận lấy, khoản đãi thịnh soạn.”
Tiểu Thuận gật đầu vâng lệnh, sai người khiêng hòm đi, rồi dẫn đám tuỳ tùng của Thông Quốc sang phòng bên, khoản đãi trà nước.
Thấy Trương Nghi tỏ ra yêu thích muối nước Ba, thái tử Thông Quốc liền vòng hai tay, đi thẳng vào chuyện chính: “Tướng quốc đại nhân đi sứ vừa về, Thông Quốc đã mạo muội tới làm phiền, thực cũng vì bất đắc dĩ, mong tướng quốc lượng thứ!”
“Điện hạ bất tất phải khách khí!” Trương Nghi đáp lễ. “Lần này điện hạ đến, phải chăng là vì mấy con trâu thần vãi phân vàng?”
“Đúng thế!”
“Đường đi đã thông chưa?”
“Đã thông suốt, đường hẹp nhất là đường sạn đạo, rộng chừng năm thước, cũng có thể đi xe ngựa. Thông Quốc đã thử rồi, vận chuyển trâu thần hẳn không có gì trở ngại.”
“Nếu đã như vậy, ngày mai tại hạ sẽ bẩm tấu với đại vương, trao tặng trâu thần, thái tử thấy sao?”
“Ờ...” Thông Quốc nín thở ngưng thần. “Dám hỏi tướng quốc trao tặng mấy con trâu thần?”
“Ồ?” Trương Nghi giả bộ kinh ngạc. “Họ không cho điện hạ biết ư? Đại vương đồng ý tặng năm con trâu thần, điện hạ đồng ý ba năm làm xong đường đến Thục. Năm con trâu thần đại vương đã chuẩn bị sẵn sàng từ lâu, nhưng còn đường đến Thục, điện hạ cứ chậm trễ mãi không thông, bởi vậy tại hạ...” Cố ý ngừng lời.
“Tướng quốc đại nhân!” Thông Quốc vội vã ngắt lời Trương Nghi. “Không phải Thông Quốc không cố gắng, mà thực sự là...” vừa nói vừa nước mắt ròng ròng, giọng nói nghẹn ngào, “thực sự là Thông Quốc không thể ngờ được làm đường Thục lại gian nan đến vậy!”
“Điện hạ hãy thử nói xem, làm đường Thục gian nan thế nào?”
“Tướng quốc đại nhân có điều không biết,” Thông Quốc đưa tay áo lau nước mắt, “đường đến Thục vốn đã có từ trước, nhưng đường đó đi bộ đã chẳng dễ dàng, nói gì đến đi xe. Để vận chuyển trâu thần, phụ quân đã phải tập hợp tráng đinh cả nước, do Thông Quốc dẫn đầu, dốc toàn lực để phá núi mở đường, nhưng không ngờ lại khó khăn quá mức. Ông trời chẳng chịu chiều người, mưa tuyết gió rét không nói, hàng năm cứ đến lúc vào đông, lại có mấy tháng đất trời băng giá, tuyết phủ kín non, căn bản không thể làm đường được!”
“Vậy ư?” Trương Nghi chăm chú nhìn Thông Quốc, rồi khẽ gật đầu. “Nhìn tướng mạo của điện hạ, đúng là đã gầy guộc hơn nhiều so với ba năm về trước, xem ra quả thực đã phải chịu không ít cực khổ!”
“Đa tạ tướng quốc đại nhân thấu hiểu!” Thông Quốc lại nghẹn ngào. “Chịu khổ chỉ là thứ yếu, chủ yếu là do tráng đinh không đủ. Thông Quốc cực khổ lao lực suốt hai năm, xoay sở đủ mọi phương cách, nhưng đường vẫn chưa làm được một nửa. Để giữ đúng lời hẹn ba năm, Thông Quốc đã cầu xin phụ quân nhờ vả Ba Vương hỗ trợ. Ba Vương liền điều một vạn nhân đinh, dốc toàn lực cho kịp kỳ hạn, song kết quả vẫn chậm trễ.” Nói đoạn quỳ sụp xuống đất, nước mắt đầm đìa.
“Điện hạ, tuyệt đối không được làm thế!” Trương Nghi vội đứng lên, tiến tới đỡ hắn dậy. “Đại lễ nhường này sẽ khiến Trương Nghi yểu thọ!”
“Tướng quốc đại nhân!” Thông Quốc dập đầu sát đất, không chịu đứng lên. “Thông Quốc khẩn cầu đại nhân hãy tặng cho năm con trâu thần như đã hứa, nếu đại nhân không đồng ý, Thông Quốc sẽ... sẽ không đứng dậy!”
“Than ôi, điện hạ!” Trương Nghi khẽ thở dài một tiếng. “Theo lý mà nói, trâu thần có được bốn con đã là không phải ít, chí ít đã có ba con vãi được ra vàng, làm người không nên quá tham lam!” Rồi hạ thấp giọng. “Không giấu điện hạ, con trâu này cũng không phải tại hạ cố ý cắt giảm đi, mà kỳ thực là đại vương của tại hạ... không muốn cho!”
Thông Quốc lập tức dừng khóc, đứng bật dậy, kinh ngạc nhìn sững vào Trương Nghi: “Đại vương... cớ sao lại không muốn cho?”
“Còn có thể vì lý do nào khác nữa? Tiếc chứ còn gì! Điện hạ nghĩ thử xem, một con trâu cái mỗi ngày vãi ra được một đống vàng, vàng vốn nặng, một đống chí ít cũng được vài dật, có thể mua từ liệt quốc hơn nghìn gánh lương, hoặc đổi được một con thiên lý mã, thái tử bảo đại vương sao lại không tiếc cho được!”
“Ôi!” Thông Quốc càng thêm hốt hoảng. “Lúc đầu chính miệng đại vương đã đồng ý, vua một nước lớn, nhất ngôn cửu đỉnh, lại còn lập quốc thư, viết giao ước, làm sao có thể muốn lật lọng là lật lọng, nói bớt là bớt được?”
“Điện hạ!” Trương Nghi khẽ vòng tay. “Nếu nói về giao ước, thì bên nào bội ước trước, hẳn điện hạ cũng đã rõ. Trước khi đi sứ Ngụy, tại hạ đã vào cung gặp đại vương, đại vương đột nhiên hỏi tại hạ: ‘Người nước Thư làm đường đến đâu rồi?’ Tại hạ bèn đáp: ‘Nghe nói đã làm xong rồi.’ Đại vương nói: ‘Quả nhân nhớ là hình như trước đây thái tử Thông Quốc hẹn với ta ba năm sẽ làm xong, thời hạn ba năm đã đến chưa?’ Nội tể không nói không rằng, lập tức lấy bản giao ước năm xưa ra, nói là đã quá hạn nửa năm rồi. Đại vương liền nói: ‘Ngay từ đầu quả nhân đã biết lời nói của người Thư không đáng tin, các khanh lại không tin, giờ chẳng phải đã hai năm rõ mười rồi ư?’ Nội tể bèn hỏi: ‘Người Thư đã không làm đúng giao ước, vậy mấy con trâu thần này, chúng ta còn tặng họ nữa không?’ Đại vương nói: ‘Đương nhiên là không, ai bảo họ bội ước?’ Tại hạ vừa nghe, trong lòng hốt hoảng, vội vã cầu xin cho điện hạ: ‘Đại vương, không được! Người Thư vì mấy con trâu thần mà đã phải dốc kiệt sức lực của cả nước để làm đường, đường nay đã sắp làm xong, nếu đại vương không cho trâu thần, bảo điện hạ Thông Quốc phải làm thế nào đây? Phải đối mặt với hương thân phụ lão nước Thư thế nào đây?’ Đại vương nghe tại hạ nói có lý, nên cũng không tiện không cho, nhưng truyền chỉ cho tại hạ cắt bớt một con, để phạt chuyện bội ước. Việc này cũng là phải lẽ, điện hạ thông hiểu tình lý, chắc hẳn sẽ không...”
“Tướng quốc đại nhân có điều không biết!” Thông Quốc lại nước mắt nước mũi đầm đìa, cất giọng cầu khẩn. “Đừng nói là bớt đi một con, cho dù là không bớt, năm con trâu thần cũng chẳng đủ để phân chia!”
“Ồ?”
“Không giấu đại nhân,” Thông Quốc đành phải thổ lộ điều khó nói. “Để làm cho kịp kỳ hạn, phụ vương đã khẩn cầu Ba Vương trợ giúp. Ba Vương đương nhiên không chịu vô duyên vô cớ mà giúp đỡ, phụ quân đành phải hứa với Ba Vương, đợi sau khi mở xong đường, sẽ tặng cho Ba Vương một con trâu. Vừa mới dàn xếp ổn thoả được phía Ba Vương, phía Thục Vương đã lại nghe tin, liền hạ lệnh phải cống hai con. Thục Vương là huynh trưởng của phụ quân, nước Thục lại là thượng quốc của nước Thư, phụ quân không dám không đồng ý. Trong năm con trâu chỉ có bốn con có thể vãi phân vàng, Ba Vương một con, Thục Vương hai con, phụ quân chỉ còn lại một con, nếu một con này lại bị đại vương cắt giảm, bảo Thông Quốc phải về ăn nói với phụ quân thế nào đây? Bảo phụ quân phải ăn nói với phụ lão huynh đệ trên đất Thư thế nào đây? Để mở đường này, hàng ngàn người đã phải bỏ cả mạng sống, nếu như ngay cả một con trâu thần cũng không có được, bảo Thông Quốc phải đối diện với linh hồn của họ thế nào đây?”
Thông Quốc càng nói càng đau lòng xót ruột, lại nước mắt đầm đìa.
Trương Nghi nghe mà chấn động, bèn hít vào một hơi dài, nhắm mắt suy nghĩ hồi lâu, rồi thở dài thườn thượt, ngẩng đầu lên nói: “Nỗi khổ tâm của điện hạ, hôm nay tại hạ mới được biết. Thôi được, ngày mai tại hạ sẽ vào cung gặp đại vương, điện hạ có thể đi cùng. Đại vương tấm lòng nhân từ, sẽ không nỡ nhìn người khác chịu khổ, điện hạ hãy thổ lộ những nỗi khổ này cho đại vương biết, tại hạ cũng nói giúp vài câu, hoặc giả đại vương sẽ đổi ý, không cắt bớt nữa. Dù sao đại vương cũng còn nhiều trâu thần, thêm bớt một con cũng chẳng ảnh hưởng gì.”
“Đa tạ đại nhân!” Thông Quốc lại bái lạy rồi đứng dậy, thấp thỏm cáo từ.
Sáng sớm hôm sau, Thông Quốc theo Trương Nghi vào cung, theo lời dặn của Trương Nghi, vừa khóc lóc vừa kể lể những nỗi khó khăn cực nhọc khi mở đường. Tần vương quả nhiên đã “cảm động”, cộng thêm Trương Nghi, Tư Mã Thác liên tiếp “cầu xin”, năm con trâu thần đã được ban tặng cho nước Thư không thiếu một con, chỉ là con số hai mươi mỹ nữ như lời hứa ban đầu giảm xuống còn mười mỹ nữ, coi như trừng phạt việc thất hẹn.
Thông Quốc cuối cùng cũng đã có được năm con trâu thần như ý nguyện, tạ ơn không biết bao nhiêu lượt, rồi mới bái lạy cáo từ.
Nhìn thái tử Thông Quốc hoan hỷ bước xuống bậc thềm trước điện, Huệ Vương, Trương Nghi đưa mắt nhìn nhau, cùng mỉm cười đầy ẩn ý.
“Đại vương!” Tư Mã Thác ngạc nhiên hỏi. “Hai người đang cười gì vậy?”
“Cười Trương ái khanh!” Huệ Vương chỉ vào Trương Nghi nói. “May mà Trương ái khanh nghĩ ra cách này, đòi cắt bớt một con trâu, nếu không, chưa biết chừng sẽ gặp phải phiền hà.”
“Phiền hà gì kia?” Tư Mã Thác gãi đầu. “Vi thần nghĩ mãi vẫn không hiểu, vốn dĩ đã giao hẹn từ trước, tự nhiên lại cắt bớt của người ta một con, thật không hiểu nổi!”
“Này ái khanh, lòng dạ của khanh đến khi nào mới lắt léo được một chút nhỉ?” Huệ Vương cười lớn mà nói. “Lần này Thông Quốc đến, mang theo rất đông tuỳ tùng, chờ đợi vận chuyển trâu thần. Thế nhưng về việc chinh phạt, chúng ta lại chưa chuẩn bị xong, tạm thời chưa thể xử lý chuyện này. Nhàn cư vi bất thiện, trong đám sứ thần của Thông Quốc biết đâu có kẻ đi lại lung tung, chẳng may có người tiết lộ phong thanh, kế trâu vàng há chẳng phải sẽ tan thành bọt nước? Trương ái khanh ra tay trước, tự dưng cắt giảm mất một con, khiến sứ đoàn của Thông Quốc từ trên xuống dưới đều phải lo lắng sợ hãi, không còn lòng dạ nào để quan tâm đến những chuyện khác nữa!”
Lúc này Tư Mã Thác mới hiểu ra ý đồ của Trương Nghi, thực lòng khâm phục, liền quay sang Trương Nghi khen ngợi không ngớt lời.
“Hai vị ái khanh, người ta đã làm đường xong cho chúng ta rồi, màn kịch tiếp theo, tới lượt các khanh biểu diễn!” Huệ Vương nói đoạn, dẫn hai người đi thẳng tới ngự thư phòng, bảo nội tể lấy hai tấm da dê từ trên giá sách xuống, trải lên mặt bàn.
Đó là hai tấm bản đồ, một tấm là đường Thục, bao gồm ba con đường núi ở vùng núi Chung Nam.
Nhìn thấy tấm bản đồ ký hiệu tỉ mỉ, tỉ lệ chuẩn xác, cả Trương Nghi và Tư Mã Thác đều hết sức kinh ngạc, không ai không thấy chấn động trong lòng. Chỉ nhìn vào nét bút, đã biết là do Tần vương tự tay phê. Xem ra, tâm tư mà Tần vương đổ vào vào hai vùng đất Ba, Thục chẳng hề thua kém hai người họ.
“Hai vị ái khanh!” Huệ Vương nhìn tấm bản đồ. “Ba, Thục nằm ở đây! Lễ chuộng có qua có lại, người ta đã chủ động dâng đại lễ đến, chúng ta cũng phải thể hiện lòng thành. Còn thể hiện như thế nào, quả nhân muốn cùng bàn với hai vị ái khanh.”
“Theo ý của vi thần,” Tư Mã Thác đi thẳng vào đề, “có thể cho binh sĩ trà trộn vào đội vận chuyển trâu, đại quân lặng lẽ theo sau, nhân lúc người Thư sung sướng ăn mừng mà tập kích, thần đảm bảo xuất kỳ chế thắng.”
Huệ Vương mỉm cười, quay sang Trương Nghi: “Ý ái khanh thế nào?”
“Được thì có được, chỉ là thắng không vẻ vang!” Trương Nghi cũng cười một tiếng, coi như trả lời.
“Đối phó với giống man di này, đâu cần phải quan tâm tới vẻ vang!” Tư Mã Thác sốt sắng biện bạch. “Hơn nữa, như vậy có thể giảm bớt được thương vong. Để dũng sĩ Đại Tần ta chết trong tay những kẻ thấy vàng sáng mắt kia, tại hạ thấy thực đáng tiếc!”
“Nếu nói như vậy,” Trương Nghi tiếp lời, “đại tướng quân sẽ chỉ làm cho thương vong lớn hơn mà thôi!”
“Ồ?” Tư Mã Thác ngẩn người.
“Tại hạ hỏi tướng quân,” Trương Nghi hai mắt nhìn thẳng vào Tư Mã Thác, “đại tướng quân điều động ba quân, cực nhọc vượt núi băng đèo, chỉ là vì một mảnh đất Thư nhỏ bé kia ư?”
“Đương nhiên không phải!” Tư Mã Thác lập tức đáp lời. “Đợi sau khi tại hạ chiếm được đất Thư, sẽ mượn thế tiến lên, đánh cho Thục, Ba không còn manh giáp.”
“Người Ba, Thục không phải là lợn, nay ta bội tín bội nghĩa, đao kiếm lăm lăm, vừa đến đã tiêu diệt nước Thư, hai vua Ba, Thục còn không liều mạng? Người ta thuộc đường thuộc lối, vừa được địa lợi, lại có lòng dân, còn tướng quân lại lạ người lạ đất, hươu chết vào tay ai, vẫn rất khó đoán. Hơn nữa, cho dù cuối cùng tướng quân giành được phần thắng, Ba Vương, Thục Vương tan tác rút vào rừng núi thâm u, liệu người dân Ba, Thục có chịu phục tùng tướng quân hay không, hay là sẽ chạy theo Ba Vương, Thục Vương? Tướng quân chỉ còn cách bỏ ra nhiều công sức hơn nữa để truy đuổi Ba Vương, Thục Vương, mà người dân Ba, Thục sẽ càng thêm tổn thương nặng nề, chia năm xẻ bảy, khống chế đã khó, muốn nuôi dưỡng hồi phục lại càng phải bỏ ra nhiều thời gian công sức hơn. Một Ba, Thục như vậy, không những chẳng có lợi gì cho Đại Tần, ngược lại còn trở thành gánh nặng cho Đại Tần, thà chẳng có còn hơn!”
Nghe những phân tích thấu đáo, nhìn xa trông rộng của Trương Nghi, đừng nói là Tư Mã Thác, mà ngay đến Huệ Vương cũng kinh ngạc, liên tiếp vỗ tay: “Lời ái khanh thực tuyệt diệu!”
“Ờ...” Tư Mã Thác gãi đầu gãi tai. “Nếu như thế không được, vậy phải chinh phạt thế nào, tướng quốc có diệu kế gì chăng?”
“Tạm thời chưa có!” Trương Nghi mặt mũi nhăn nhó, rồi lại cười. “Thế nhưng, chỉ cần để tâm vào đó, tin chắc sẽ nghĩ ra được. Việc tốt không đến trong vội vàng, dù sao đường cũng đã làm xong, có vội cũng không phải vội một lúc này.”
Huệ Vương bật cười mấy tiếng: “Hai khanh không vội, nhưng quả nhân thì lại vội đấy!”
“Vi thần hiểu rồi!” Tư Mã Thác nghe ra ẩn ý, liền ghé sát lại. “Chúa thượng hẳn đã có cẩm nang diệu kế?”
“Không có diệu kế, song cẩm nang thì có một cái đây!” Lời vừa dứt, quả nhiên Huệ Vương rút từ trong tay áo ra một túi gấm, đặt lên mặt bàn phía trước. “Túi gấm này là do một người từ Sính Đô gửi ngựa hoả tốc mang về, nói là người Sở nghe chuyện Ba, Thục có trâu thần vãi phân vàng, cũng muốn đi cướp giật một con. Nếu không nằm ngoài dự liệu của quả nhân, giờ này đại quân nước Sở đã trên đường phạt Ba rồi!”
Lời này khác nào sét đánh giữa trời quang, Trương Nghi, Tư Mã Thác đều bàng hoàng chấn động, đưa mắt nhìn nhau. Chỉ riêng việc chinh phạt Ba, Thục đã chẳng phải chuyện dễ dàng, nếu người Sở lại nhúng tay vào, há chẳng phải...
Đặc biệt là Trương Nghi, cơn chấn động trong lòng thực không phải bình thường. Trương Nghi biết rõ, qua lại nhiều nhất với Ba, Thục không ai hơn người Sở. Trong gần trăm năm lại đây, người Sở ngược theo Giang Thủy mà lên, đã công chiếm Bồi Lăng, hoàn toàn khống chế đường sông từ Sở vào Thục, chiếm lấy Ba, Thục chỉ là chuyện sớm chiều. Người Sở đã chiếm Ngô, Việt, nếu tiếp tục chiếm được Ba, Thục, sẽ trở thành một con thú khổng lồ, nước Tần nếu muốn đối kháng với họ, khó khăn nhường nào không nói cũng biết. Sở không thể bình định, sao có thể bình định thiên hạ? Mà đời người chỉ mấy chục năm. Sống lưng Trương Nghi bỗng chốc lạnh toát, không dám nghĩ thêm nữa.
“Ồ, hai khanh sao lại đờ mặt ra thế?” Huệ Vương không những không lo lắng, ngược lại còn tỏ ra hớn hở. “Chuyện Ba Thục sôi động như vậy, khiến quả nhân khá là hào hứng!”
“Chúa thượng!” Tư Mã Thác giáng mạnh nắm đấm xuống mặt bàn. “Chúng ta hãy lập tức phát binh! Chỉ đánh Ba, Thục, mạt tướng thấy không tận hứng. Đại chiến một trận với người Sở mới thực sự sảng khoái!”
“Còn để ái khanh phải nói ư, quả nhân cũng thấy vậy!”
“Chúa thượng!” Trương Nghi đã định thần trở lại, khoé mắt liếc nhìn túi gấm. “Người gửi túi này là...” Rồi ngập ngừng, ánh mắt như dò hỏi.
Huệ Vương bật cười vui vẻ: “Chính là bạn cũ của khanh, Trần Chẩn!”
Trương Nghi hít ngược vào một hơi dài.
Túi gấm này đích xác là do Trần Chẩn gửi về nước Tần.
Tung thân phạt Tần thất bại, người có công với Tần là Trần Chẩn lại bị Trương Nghi đẩy ra khỏi Tần, tiếp tục đi sứ nước Sở với tâm trạng đầy u uất, lại phải tìm đến nhờ vả Chiêu Dương. Ở nước Sở, e rằng cũng chỉ có một mình Chiêu Dương hiểu ông ta, tin ông ta, chịu thu nạp ông ta.
Hai người gặp nhau, vài lời khách sáo còn chưa nói xong, Chiêu Dương đã than phiền với Trần Chẩn về chuyện chinh phạt Ba.
“Chinh phạt Ba?” Trần Chẩn hết sức kinh ngạc. “Ai chinh phạt Ba?”
“Họ Khuất!” Chiêu Dương hừ mũi một tiếng, rồi hậm hực nói. “Dòng họ Khuất đúng là đã chẳng còn ai nữa, nên hy vọng một tên nhãi ranh miệng còn hơi sữa đi đào núi lấp biển, há chẳng phải vọng tưởng hay sao?”
“Tên nhãi ranh miệng còn hơi sữa nào kia?”
“Khuất Bình!” Chiêu Dương nhếch mép khinh bỉ. “Con trai của Khuất Bá Dung, cháu đích tôn của Khuất Nghi Cữu.”
“Nhãi ranh? Hắn bao nhiêu tuổi rồi?”
“Không biết, nghe nói là mười lăm mười sáu gì đó.”
“Ha ha ha!” Trần Chẩn bật cười mấy tiếng. “Đúng thực là một thằng nhãi ranh miệng còn hơi sữa! Dám hỏi đại nhân, sao lại phải tức giận với một thằng nhãi ranh?”
“Thượng khanh có điều không biết,” Chiêu Dương khẽ chau mày. “Đừng coi thường hắn nhỏ tuổi, hắn xảo quyệt vô cùng, nghe nói cũng có tài hoa, rất được điện hạ xem trọng. Lần trước được điện hạ tiến cử, làm phó sứ hợp tung của nước Sở, đi theo công tử Như.”
“Chẳng qua là điện hạ muốn tôi luyện hắn mà thôi.”
“Là tôi luyện!” Chiêu Dương dừng lại một chút, rồi nói tiếp. “Tuy nhiên, nghe công tử Như nói rằng, lời thề kết minh lần đó là do kẻ này thảo ra, ngay cả Tô Tần cũng phải nhìn hắn bằng con mắt khác!”
Trần Chẩn hít ngược một hơi dài, rồi từ từ thở ra, một lúc sau thì khẽ gật đầu, vòng tay chúc mừng: “Nước Sở có đại tài nhường đó, xin chúc mừng, chúc mừng!”
“Đại tài cái nỗi gì?” Chiêu Dương cười nhạt một tiếng, đập bàn nói. “Hãy xem ta...” Không biết nghĩ thế nào, lại gắng gượng nén mấy chữ “xử lý hắn thế nào” xuống cổ, nhưng trong bụng vẫn ấm ức sôi sục, hơi thở bất giác trở nên phì phò.
“Dám hỏi đại nhân,” Trần Chẩn vẫn truy hỏi đến cùng, “người này có liên quan gì đến việc chinh phạt Ba?”
“Nói đến chuyện này, tại hạ lại muốn hỏi thượng khanh!”
“Đại nhân cứ hỏi!”
“Nghe nói người Tần các vị muốn tặng cho Thư Hầu năm con trâu thần biết vãi phân vàng, có chuyện này chăng?”
Trần Chẩn phá lên cười ngặt nghẽo: “Trâu thần cái gì? Hoang đường hết sức! Toàn bộ là do tay Trương Nghi kia bịa đặt ra.”
“Trương Nghi?” Chiêu Dương chột dạ. “Nghe nói người này đã làm quan bái tướng tại Tần, có thật chăng?”
Trần Chẩn gật đầu.
“Than ôi!” Chiêu Dương sắc mặt u uất, thở dài một tiếng, nửa như tự nhủ, lại nửa như trách cứ Trần Chẩn. “Nhớ ban xưa, thật không nên...” Tuy không nói toẹt ra, nhưng rõ ràng là hối hận đã nghe theo lời Trần Chẩn, thả Trương Nghi đi.
“Đúng vậy!” Trần Chẩn cũng gật đầu. “Kẻ này không trừ, tất sẽ thành hậu họa lớn của ta!”
“Được rồi.” Chiêu Dương đổi sang chuyện khác. “Chúng ta hãy nói về người Thư! Người Thư vì chuyện này mà phá núi mở đường, lẽ nào đã trúng kế của người Tần?”
Trần Chẩn không trả lời mà hỏi ngược lại: “Trâu thần vãi phân vàng, đại nhân có tin không?”
Chiêu Dương trầm tư một hồi, rồi lắc đầu.
“Đừng nói là đại nhân, ngay cả đứa trẻ ba tuổi cũng chẳng tin. Nếu nước Tần thực sự có trâu thần vãi phân vàng, liệu Tần vương có nỡ mang cho người khác không? Đổi lại là nước Sở, cho dù Sở Vương bệ hạ đồng ý tặng cho người khác, đại nhân có chịu đồng ý không?”
“Nếu nói như vậy,” Chiêu Dương nhìn thẳng vào Trần Chẩn, “lời của thằng nhãi kia, thật sự không thể coi thường!”
“Dám hỏi đại nhân, hắn nói như thế nào?”
“Lời của tên nhãi ranh đó không khác gì lời của thượng khanh. Trâu vàng chẳng qua là mồi nhử, người Tần muốn mượn sức của người Thư để phá núi mở đường, sau đó sẽ mượn con đường này để chinh phạt Ba, Thục.”
Trần Chẩn khẽ gật đầu: “Ý đại nhân thế nào?”
“Than ôi!” Chiêu Dương thở dài một tiếng. “Nghe tên nhãi ranh đó nói vậy, tại hạ đã phủ định thẳng thừng. Nào ngờ điện hạ không chịu, liền tới đài Chương Hoa làm ầm lên, bệ hạ đã nghe theo lời điện hạ, thật khiến tại hạ...” Dừng lại nửa chừng, thần sắc ủ ê, một lúc sau, bỗng ngẩng phắt đầu, nhìn thẳng vào Trần Chẩn. “Thượng khanh đến thật đúng lúc, hãy mau nghĩ cách giúp tại hạ!”
“Đại nhân không muốn chinh phạt Ba, lẽ nào không có hứng thú với Ba, Thục?”
“Thượng khanh có điều không biết, người Thục vốn là người Kinh, Thục và Kinh hơi thở tương thông, tập tục gần giống, hai nước hoà thuận đã lâu. Đất Thục cách Sở xa xôi, do người Thục chiếm cứ, cũng chẳng khác gì do người Kinh chiếm cứ. Còn về đất Ba, toàn là chốn sơn cùng thủy tận, chiếm cũng có ích lợi gì?”
“Suối muối của người Ba, há chẳng phải là đại lợi?”
“Suối muối của người Ba phần lớn đã nằm trong tay ta, chỉ còn lại hai suối, đường đi hiểm trở, đều cách Giang Thủy rất xa xôi, tranh đoạt rất tốn công. Hơn nữa, người Ba đời đời ở trong núi Ba, đã chẳng thể đuổi cùng giết tận, vậy tại sao không để lại cho người ta một con đường sống?”
“Dám hỏi đại nhân, nếu đã không có hứng thú với đất Ba, vậy thì cứ để cho người Tần là được rồi!”
Chiêu Dương vội liếc nhìn ông ta.
“Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ,” Trần Chẩn liếc xéo Chiêu Dương một cái, lắc lư cái đầu. “Đường đã làm xong, người Tần chắc chắn sẽ kiếm cớ xuất binh, đồng thời người thành tựu được đại công này, chắc chắn là tướng quốc nước Tần Trương Nghi!”
Chiêu Dương kinh ngạc.
“Nếu không nằm ngoài dự đoán của tại hạ,” giọng Trần Chẩn càng thêm trầm trọng, “dã tâm của Trương Nghi không ở đất Thư, không ở đất Ba, cũng không ở đất Thục!”
“Dã tâm của người này ở đâu?”
“Kinh Sở!”
“Đây cũng chính là lời của thằng nhãi ranh đó!” Chiêu Dương buột miệng thốt lên.
“Vậy ư?” Trần Chẩn gật gù. “Nên tại hạ xin chúc mừng, Đại Sở có được một thiếu niên sáng suốt đến vậy, thật đáng mừng! Lần này Trương Nghi dụ dỗ người Thư mở đường, chí của họ không ở đất Thư, mà là Ba, Thục. Nếu Trương Nghi có được Ba, Thục, tất sẽ mưu đồ Hán Trung ở phía bắc, mưu đồ Kiềm Trung ở phía nam. Đại nhân thử nghĩ xem, người Tần đã có được Thương Ư, nếu lại có được Hán Trung, Ba, Thục và Kiềm Trung, đứng ở trên cao nhìn xuống, các đường đều hướng đến Sở, vậy Sính Đô có còn an toàn được không?”
Chiêu Dương hít vào một hơi dài, nghi hoặc nhìn Trần Chẩn: “Trương Nghi có dã tâm lớn đến vậy ư?”
Trần Chẩn cười gượng mấy tiếng, khẽ lắc đầu: “Đại nhân có còn nhớ, người này sau khi xuống núi đã tiêu diệt nước Việt, giúp Đại Sở mở rộng hơn ba nghìn dặm đất, dã tâm của hắn còn nhỏ được ư?”
Chiêu Dương lại hít vào một hơi dài.
“Đại nhân, vùng đất Ba, Thục không dưới mấy nghìn dặm, dồi dào ngũ cốc và muối, không hề thua kém Đại Sở, còn về kỳ trân rừng núi...”
Chiêu Dương vung tay ngắt lời Trần Chẩn, cất giọng oang oang: “Nếu là xuất binh chống Tần, thượng khanh có kế sách gì chăng?”
“Người có thể chế ngự được Tần, ngoài Khuất tướng quân ra, không còn ai khác!” Trần Chẩn ý chỉ Khuất Vũ.
Chiêu Dương đời nào có thể chấp nhận nhà họ Khuất, nên lời Trần Chẩn còn chưa nói dứt, sắc mặt Chiêu Dương đã tối sầm lại.
“Xin hỏi đại nhân,” Trần Chẩn lại như nhất quyết tiến cử Khuất Vũ, “trong số các trụ quốc của nước Sở, người am hiểu chiến thuật chiến lược của người Tần nhất là người nào? Người thông thạo sông nước Thục, Ba nhất là ai?”
Lời Trần Chẩn đã đánh trúng yếu huyệt. Nhiều năm nay, thân là hai đại tướng quân trụ quốc của nước Sở, dòng họ Chiêu chủ yếu là đông chinh bắc chiến, đối kháng với Ngô, Việt và liệt quốc Trung Nguyên, còn dòng họ Khuất lại đảm đương chinh phạt phía tây, chủ yếu là đối kháng với Ba, Thục và Tần. Nếu như tây chinh, Khuất Vũ quả thực là lựa chọn đầu tiên.
Chiêu Dương đăm chiêu suy nghĩ hồi lâu, Trần Chẩn cũng khép mắt lại.
“Trần huynh!” Chiêu Dương bỗng ngẩng phắt đầu lên, thình lình buông một câu hỏi. “Theo lý mà nói, huynh là sứ thần nước Tần, phải nói giúp cho Tần mới đúng, cớ sao lại quay sang giúp nước Sở?”
“Tại hạ thân là khách khanh,” Trần Chẩn vòng tay nói, “ở đâu cũng là khách, ở Tần là khách của Tần, nên mưu cho Tần, ở Sở là khách của Sở, nên mưu cho Sở. Nay đến phủ của đại nhân, nên mưu cho đại nhân!”
Chiêu Dương phá lên cười một tràng dài: “Rốt cuộc thượng khanh mưu cho ai, trong lòng tại hạ hiểu rõ rành rành. Nói đi, tại sao lần này lại đi sứ tới Sở, thực lòng hiến mưu cho Sở?”
“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài buồn bã. “Đại nhân cứ cố chấp ý này, tại hạ cũng không thể giải thích được nữa. Kỳ thực, đại nhân cũng không ngờ oan cho tại hạ, lần này khuyên đại nhân tiến về tây mưu đồ Ba, Thục, cũng là có chút oán thù riêng.”
“Có oán thù gì riêng?”
“Chính là Trương Nghi kia! Tần Công xưng vương, tin theo lời hắn, dùng hắn làm tướng quốc. Không hiểu sao hắn lại biết được tất cả những khổ nhục đã phải hứng chịu ở nước Sở đều là do kế của tại hạ, nên rất bất mãn với tại hạ. Tại hạ không thể giải thích cho rõ ràng, ở Tần lại thế nhỏ lực yếu, nên đành phải tránh mặt hắn. Còn về việc giương cờ hiệu chữ ‘sứ’, chẳng qua chỉ là để qua biên ải được thuận lợi mà thôi. Lần này Trần Chẩn đến đây, là mong muốn được nương nhờ đại nhân, mong đại nhân đừng chối bỏ!”
“Ồ...” Chiêu Dương kinh ngạc. “Doanh Tứ cũng không giữ huynh ư?”
“Một con trâu già, giữ lại có ích gì?” Trần Chẩn lại thở dài sườn sượt, cúi rũ đầu, bộ dạng rất đỗi đau thương.
“Trần huynh chính vì điều này mà không muốn Trương Nghi được toại nguyện chuyện Ba, Thục, có đúng chăng?”
“Cứ coi là vậy!” Trần Chẩn đáp, rồi ngẩng đầu nhìn Chiêu Dương, ánh mắt khẩn thiết. “Lệnh doãn đại nhân, Chiêu huynh, lần này tại hạ đến, là thực lòng muốn nương nhờ đại nhân, nương nhờ nước Sở, coi như để hiến mưu lược cho đại nhân, mưu lược cho Đại Sở. Đại Sở không thể không có Ba, Thục, nay Ba, Thục nội tranh, là thời điểm suy yếu nhất, chẳng thà ta chiếm trước, còn hơn để người Tần chiếm lấy!”
“Tại hạ hiểu rồi!” Chiêu Dương ôm quyền vái sâu một vái, trịnh trọng gật đầu.
Tuy nhiên, Chiêu Dương lại không hề nghe theo lời tiến cử của Trần Chẩn.
Cân nhắc đi cân nhắc lại, Chiêu Dương đã tiến cử lên Uy Vương, phong quận thú Kiềm Trung Trang Kiều làm chủ tướng, con của Khuất Vũ là Khuất Cái làm phó tướng, đưa ra kế sách chế Tần bằng hai lộ giáp kích, một lộ do đích thân Trang Kiều dẫn quân, xuôi theo dòng Ô Giang mà xuống, trực tiếp chiếm lấy Bồi Lăng; lộ còn lại do Khuất Cái đích thân thống lĩnh, xuất quân từ Ngư Phục tiến về phía tây, dọc theo Giang Thủy và đường núi hai bờ Giang Thủy, chia thành hai quân thủy, lục đồng thời tiến công, mục tiêu cũng là Bồi Lăng.
Tiến cử này của Chiêu Dương cũng là thượng sách. Trang Kiều vốn là mãnh tướng, cai quản quận Kiềm Trung đã gần hai mươi năm, thường xuyên đối đầu với người Ba. Từ Kiềm Trung đi xuôi theo Ô Giang về phía bắc, có thể trực tiếp đến được Bồi Lăng, thuận lợi hơn rất nhiều so với từ Ngư Phục đi ngược dòng về phía tây. Để tranh giành suối muối ở núi Phục Ngưu bên bờ nam Giang Thủy, Trang Kiều từng nhiều lần phái quân xuôi dòng Ô Giang mà xuống, mấy đợt tiến quân sát sạt Bồi Lăng. Không những thế, để chiếm được thế thượng phong trong giao chiến với người Ba, Trang Kiều còn chú trọng quan hệ giao hảo với Thục, kết mối tư giao thân thiết với Thục Vương, con trai trưởng của ông ta là Trang Thắng lấy con gái thứ của Thục Vương làm vợ, còn con gái trưởng của ông ta là Trang Sắc cũng được gả cho con trai trưởng của tướng quốc nước Thục, kết tình thông gia với cả cặp đôi quân thần quyền lực nhất nước Thục.
Muốn chế ngự được người Tần, trước tiên cần phải chế ngự được Ba. Mà vùng đất yết hầu của người Ba, lại chính là Bồi Lăng.
Đất Ba rộng lớn, nhưng kỳ thực chỉ có bốn vùng đất trọng yếu, Bồi Lăng nằm ở chỗ giao nhau giữa Ô Giang và Giang Thủy, là vùng đất đứng mũi chịu sào. Thứ hai là Giang Châu, khống chế Giang Thủy và Tiềm Thủy. Tiếp theo là Điếm Giang, khống chế Tiềm Thủy, Bồi Thủy và Ba Thủy. Địa điểm an toàn nhất chính là Lang Trung, nằm bên bờ Tiềm Thủy, đông có Ba Thủy, tây có Bồi Thủy, bắc có nước Thư, nam có Điếm Giang, đây là vùng đất gan ruột của nước Ba, nên Ba Vương mới cho xây dựng cung điện tại đây.
Là nơi an táng tiên quân của người Ba, Bồi Lăng tuyệt đối không được mất, vì vậy người Ba đã đặt trọng binh phòng thủ tại đây. Nếu như Bồi Lăng thất thủ, không những huyết mạch của người Ba sẽ bị cắt đứt, mà toàn bộ những người dân Ba sống dựa vào thuyền bè ở lưu vực Ô Giang cũng sẽ mất đi chỗ dựa, phải phụ thuộc vào người Sở.
Chính vì điều này, Ba Vương đã cho người con thiện chiến kiêu dũng nhất của mình là trưởng nam Vận Yểm cầm hai vạn bộ binh trấn thủ ở đây, ngoài ra còn bố trí ba trăm thuyền bè yểm hộ. Trọng trấn Giang Châu cách đấy không xa do con trai thứ của Ba Vương là Thố Cừu trấn giữ, nắm trong tay một vạn năm nghìn hùng binh, dựa vào ưu thế thượng nguồn, có thể đến viện trợ bất cứ lúc nào.
Người Ba anh dũng thiện chiến, lại có được ưu thế thượng nguồn, nếu nóng vội sẽ khó lòng chinh phục. Trong khi tình hình ở Xuyên Trung đã cấp bách như nước lửa, không thể kéo dài thêm một ngày. Chiêu Dương đích thân đến quận Kiềm Trung cùng bàn mưu với Trang Kiều, quyết định sẽ hợp tác với người Thục. Chỉ cần Sở, Thục liên thủ, mau chóng khuất phục người Ba, Thư trước khi người Tần đến, màn kịch tiếp theo sẽ thuận lợi hơn nhiều.
Màn kịch lớn này cần một điều kiện tiền đề, đó là người Sở buộc phải đánh thắng được người Ba trước khi người Tần đến, người Thục cũng cần phải đánh bại người Thư trước khi người Tần đến, khống chế “con đường trâu thần” mới được mở thông.
Chỉ cần người Tần không vào được đất Xuyên, thế cục Ba, Thục sẽ hoàn toàn bị người Sở khống chế.
Binh quý ở thần tốc.
Trang Kiều nhận được mệnh lệnh, lập tức dốc toàn lực tiến quân. Hai lộ năm vạn đại quân giống như một gọng kìm, mở toang miệng máu kẹp về phía Bồi Lăng.
Đồng thời, vợ chồng trưởng nam của Trang Kiều là Trang Thắng cũng cải trang thành thương nhân bán muối, lên một con thuyền chở muối lớn, dọc theo Ô Giang vùn vụt tiến về phía bắc, từ Bồi Lăng đi ngược dòng về phía tây đến Giang Châu, sau đó bỏ sông lên bờ, tập hợp thành một đoàn xe chở muối khí thế rầm rộ, tiến thẳng đến Thành Đô của nước Thục.
Ngồi trong cỗ xe kiệu đi giữa đoàn người là một vị thương nhân mang dáng dấp người Ba đang ngồi nghiêm khép mắt, thần thái an nhàn.
Tuy nhiên, người tinh mắt vừa nhìn là phát hiện ra ngay, người Ba này vẫn chưa quen với phục sức trên người, đặc biệt là bộ dạng béo trắng, văn nhã của ông ta, còn cả cái bụng to chảy xệ do lâu ngày ăn trắng mặc trơn, biếng lười vận động, khác hẳn với dáng dấp gầy đen săn chắc, linh hoạt nhanh nhẹn của người Ba sống trên núi rừng.
“Người Ba” này chính là vị tiên sinh trông nom sổ sách mà “nhà buôn muối lớn” Trang Thắng mới mời về - Trần Chẩn.
Một vùng Thành Đô yên bình an thái.
Thành Đô là đô thành cuối cùng của vương triều Khai Minh nước Thục, mà nước Thục lại luôn được nhắc đến cùng với nước Ba, nếu truy nguyên đến ngọn nguồn, có thể tính đến đời Phục Hy thị. Thời Hoàng Đế, con trai của Hoàng Đế là Xương Ý lấy con gái nước Thục (con gái của Thục Sơn thị), sinh ra Cao Dương, cũng chính là Đế Cốc. Đế Cốc phong cho con thứ của mình đất Thục, ban tước hầu bá, trải qua ba triều Hạ, Thương, Chu. Khi Vũ Vương phạt Trụ, nước Thục và nước Ba cùng tham gia, đều được phong làm tử quốc. Đất Thục đông giáp với Ba, nam giáp với Việt, bắc giáp với Tần, tây đến Nga Bà, gọi là thiên phủ.
Thục Vương bắt đầu từ Tàm Tùng, sau đó là Bách Quán, sau nữa là Ngư Phù. Tương truyền Ngư Phù đắc đạo thành tiên, kế thừa ngôi vị của ông là Đỗ Vũ. Đỗ Vũ thấy nước Ba xưng vương, không chịu đứng ngang hàng, liền xưng đế, hiệu là Vọng Đế. Thời đó thủy tai liên miên, dân chúng khốn đốn, Vọng Đế liền phong Biết Linh người Kinh làm tướng quốc, khơi núi Ngọc Luỹ để dẫn nước, khiến nước từ có hại thành có lợi, được người dân Thục hết sức kính phục. Vọng Đế học theo cái nghĩa của Nghiêu Thuấn, đã nhường lại đế vị cho Biết Linh.
Biết Linh kế ngôi, xây dựng Tân Đô, đổi quốc hiệu là Khai Minh, tự xưng là Tùng Đế. Trong thời gian Tùng Đế và con trai của ông ta là Lư Đế trị vì, chú trọng thủy lợi, phát triển nông nghiệp, chính trị trong sáng, khai hoá chữ viết, học theo Trung Nguyên thiết lập chế độ đinh dịch, cứ năm hộ là một đội, mỗi hộ xuất một tráng đinh, các tráng đinh lại được phân chia theo chủng loại công việc, chia thành thổ đinh, thủy đinh, mộc đinh, thạch đinh và kim đinh, gọi chung là ngũ đinh, chia ra thì ai theo nghề nấy, hợp lại thì dời núi vỡ non, mở mang bờ cõi. Nhờ cách cai trị như vậy, vương triều Khai Minh quốc lực hùng mạnh, biên cương được mở rộng, đông vượt quá Tiềm Thủy, bắc bá chiếm Bao Hán (đất Hán Trung), tây chinh phạt Thanh Y (nước Khương), nam khuất phục các nước Di vùng tây nam.
Sau thời Lư Đế, triều Khai Minh lại trải qua chín đời Bao Tử Đế, Thanh Đế, Xích Đế, Hoàng Đế, Bạch Đế, Hắc Đế, Thánh Đế. Trong thời gian đó, Tân Đô lại gặp thủy tai, nên dời đến Quảng Đô. Đến triều Khai Minh thứ mười, Khứ Đế xưng vương, đô thành lại được chuyển từ Quảng Đô đến Thành Đô. Từ sau đó cho đến nay, vương triều Khai Minh lại trải qua ba đời, Thành Đô dần dần trở thành đô thị của đất Thục với hơn ba vạn hộ dân, hơn mười vạn nhân khẩu. Phóng mắt nhìn ra, đúng là một vùng quần cư trù phú, mặc dù không thể sánh được với sự phồn hoa của Sính Đô, nhưng đã được coi là giàu có.
Đoàn xe chở muối từ xa rầm rộ tiến về, cuốn bụi đường tung bay mù mịt, tiến thẳng vào một khu vực phồn hoa. Hai bên đường, quán rượu, quán trọ mọc lên dày đặc, bên đường người đi chen vai thích cánh, mỗi người một nghề, ai làm việc nấy. Rõ ràng, nơi này đã trở thành chốn đô thành náo nhiệt.
Trần Chẩn rất đỗi ngỡ ngàng, hai mắt mở to, dường như đang tìm kiếm thứ gì đó.
“Đại nhân!” Gã thanh niên người Ba đã đi theo ông ta suốt dọc đường thấy ông ta chăm chú đến vậy, liền khẽ giọng hỏi. “Đại nhân đang nhìn gì vậy?”
“Đã đến đâu rồi?” Trần Chẩn tò mò hỏi.
“Thành Đô!” Gã người Ba chỉ về phía trước. “Trước mặt chính là vương cung.”
“Ồ!” Trần Chẩn càng thêm kinh ngạc. “Tại sao không qua cổng thành, cũng không thấy tường thành?”
“Đại nhân có điều không biết, Thành Đô không có tường thành, cũng không có cổng thành!”
“Ồ...” Trần Chẩn kinh ngạc hỏi. “Nếu kẻ địch đánh tới thì sao?”
“Lấy đâu ra kẻ địch đánh tới?” Người Ba cười nói. “Đất này bốn bề đều là núi non, cả trăm nghìn năm nay, người Thục hầu như không có đối thủ.”
“Không phải còn có người Ba các vị hay sao?”
“Người Ba và người Thục không phải là đối thủ. Người Ba quanh năm sinh sống trên vùng núi Xuyên Đông, không quen đường bằng phẳng, không thích trồng trọt, không có hứng thú với Thành Đô. Người Thục cũng chẳng có hứng thú với vùng núi non của chúng tôi, vì vậy Ba, Thục nước sông không phạm nước giếng, ai làm việc nấy, ngoài việc buôn bán giao thương, còn ít khi qua lại. Hơn nữa, người Thục cũng đã bố trí phòng thủ ở biên cương, dọc tuyến Bồi Thủy đều có ngũ đinh, người Ba hơi có động tĩnh, nước Thục lập tức biết ngay, cho dù muốn đánh cũng chẳng phải dễ.”
“Nhưng sao ta lại nghe nói, mới mấy năm trước, Ba, Thục từng có chiến sự?”
“Đúng thế!” Gã người Ba đáp. “Đó là vì Thư Hầu. Thư Hầu bất mãn với việc Thục Vương lạm dụng ngũ đinh, liền mượn binh của người Ba để hỏi tội, thật không ngờ chưa đến Thành Đô đã bị tướng quốc dẫn binh đánh bại!”
“Hỏi tội?” Trần Chẩn kinh ngạc hỏi. “Thư Hầu là vương đệ, hưng binh phạt Thục, đó là tội mưu phản mới đúng, sao có thể nói là hỏi tội?”
“Nói đến chuyện này thì dài lắm.” Người Ba đang định kể lể, bỗng vội ngẩng đầu, cười nói. “Đại nhân hãy nhìn xem, đã đến cung thành rồi!”
Trần Chẩn đưa mắt nhìn, quả nhiên, một toà cung thành nguy nga hoa lệ đã hiện ra ngay trước mặt.
Trần Chẩn đang định xuống xe, thì Trang Thắng cùng phu nhân xuống xe từ trước đã tiến lại gần, đích tay đặt ghế kê chân cho ông ta, đỡ xuống xe, vòng tay nói: “Trần đại nhân, đã đến cung thành. Thuyết phục đại vương như thế nào, đều phải dựa vào đại nhân đây!”
“Không đúng, không đúng!” Trần Chẩn đáp lễ, rồi quay sang phu nhân của Trang Thắng, tức thứ công chúa của nước Thục, lại vòng tay, khẽ mỉm cười nói. “Có thể thuyết phục được đại vương hay không, còn phải trông vào thể diện của tôn phu nhân đây!”
“Phụ vương...” Trang Thắng phu nhân mắt đỏ hoe, ngập ngừng một lúc, rồi đưa tay áo lau nước mắt, sắc mặt buồn bã, “có thể thuyết phục được hay không, đại nhân cứ vào cung sẽ biết!” Nói đoạn, không thèm đáp lễ Trần Chẩn, lập tức quay phắt người, đi thẳng một mạch vào cửa cung.
Thấy công chúa nói năng như thế, lại buồn rầu đến vậy, Trần Chẩn không khỏi sững sờ, bất giác quay sang nhìn Trang Thắng.
Trang Thắng cười gượng một tiếng, chìa tay nói: “Đại nhân, mời!”
Trần Chẩn, Trang Thắng rảo bước theo sau công chúa tiến vào cung thành.
Vừa vào cửa cung, một bầu không khí ngột ngạt lập tức ập thẳng tới trước mặt.
Không chỉ là ngột ngạt.
Hoàn toàn khác với cảnh tượng ồn ào náo nhiệt bên ngoài, bên trong cung thành nặng nề tử khí. Đoàn người của Trần Chẩn đi theo cung nhân túc trực vào trong, suốt dọc đường đi, đừng nói là người sống, ngay cả vật sống cũng không hề trông thấy.
Cung nhân túc trực đưa họ vào thiên điện, sắp xếp chỗ ngồi, pha trà mời, sau đó lặng lẽ đứng hầu bên cạnh.
Trần Chẩn cảm thấy quái lạ, liếc nhìn công chúa một cái, rồi quay sang Trang Thắng hỏi nhỏ: “Này, Trang tướng quân, tại sao lại không dẫn đến yết kiến đại vương?”
Trang Thắng nhìn về phía cung nhân.
“Xin khách nhân hãy kiên nhẫn đợi cho một lát!” Cung nhân khom lưng đáp. “Đại vương và toàn bộ triều thần đều đã lên triều.”
“Lên triều càng tiện bẩm chuyện!” Trần Chẩn cười nói.
“Cảm phiền chuyển tấu với đại vương, nói rằng có đặc sứ của Sở Vương là Trần Chẩn cầu kiến.”
Cung nhân còn chưa kịp đáp lời, thình lình có tiếng nhạc bi ai mơ hồ tựa như từ trên trời vẳng xuống, âm thanh rất khẽ, nhưng trong bầu tĩnh mịch nặng nề nhường này, lại như xuyên thẳng vào trong màng nhĩ.
Trần Chẩn bất giác ớn lạnh sống lưng, nghiêng tai lắng nghe.
Tiếng nhạc bỗng lớn hơn, đã xen lẫn dư âm chuông khánh. Trần Chẩn từ nhỏ đã thông thạo âm luật, sau lại được hầu hạ Ngụy Vương, kết giao với công tử Ngang, lại càng am hiểu hơn nữa, vậy mà nghe thấy khúc nhạc này, sắc mặt lại lộ vẻ ngơ ngác, ngẩng nhìn công chúa và Trang Thắng, thấy cả hai người đều cúi gục đầu, trông rất mực đau thương, bèn quay sang hỏi cung nhân: “Là nhạc gì vậy?”
“Hồi bẩm đại nhân, là tiếng nhạc thượng triều của đại vương!”
“Ồ...” Trần Chẩn kinh ngạc. “Thượng triều sao lại tấu nhạc bi ai nhường vậy?”
“Trần đại nhân!” Công chúa lên tiếng. “Chẳng phải đại nhân muốn xem đại vương nước Thục thượng triều như thế nào ư?”
Trần Chẩn gật đầu.
“Trần đại nhân, vậy thì xin mời!” Công chúa đứng dậy, cũng chẳng buồn nhìn mọi người, lập tức cất bước đi luôn.
Vương thành Khai Minh rộng lớn mênh mông, mặc dù bề ngoài cũng mô phỏng theo vương cung Trung Nguyên, nhưng phòng ốc lại rất thưa thớt, không có cái vẻ quý đất như vàng, tầng tầng san sát như vương cung ở Trung Nguyên. Đoàn người đi hết nửa tuần hương mới băng qua được khu cung điện, bước vào khu vườn ở góc tây bắc, nơi đây cây cối rậm rạp, hoa nở rực rỡ, nếu ở Trung Nguyên, khu vườn này xứng đáng được gọi là vườn ngự lâm.
Trần Chẩn đang lúc hồ nghi, thì tại góc phía bắc của khu vườn, nơi có thể nhìn thấy bức tường cung điện, thình lình hiện ra một đám cung nhân, có nam có nữ, có già có trẻ, thoạt nhìn không dưới nghìn người, tất cả đều vận y phục trắng toát, cùng quỳ dưới đất, ánh mắt chằm chằm nhìn lên một đài đất.
“Thì ra là vậy!” Trần Chẩn lẩm bẩm. “Chẳng trách trong cung không thấy bóng người!”
Công chúa đi đầu tiên đã dừng lại dưới một gốc cây lớn phía xa, ánh mắt đau thương nhìn về phía đài đất. Đám Trang Thắng, Trần Chẩn... đứng ở bên cạnh. Một cung nhân dẫn đường đi tới, tiến lại quỳ xuống trước mặt mọi người.
Đài đất rộng chừng ba mẫu, cao chừng bảy thước, có hình lục giác. Trên đỉnh đài có một bãi trống rộng chừng một mẫu, trông hơi giống như sân khấu hý kịch trong dân gian Trung Nguyên, hai bên đài mỗi bên có sáu mươi tư vị nhạc sư đang quỳ, tay cầm chuông, khánh, vu, tiêu, sênh, sáo, ai nấy thần tình chuyên chú, đang hợp tấu một khúc nhạc tang tóc bi thảm.
Đột nhiên, tiếng nhạc trở nên gấp gáp, sáu mươi tư vu nam vu nữ mặc y phục đồng cốt đủ màu rực rỡ chia thành hai đường tiến lên đài, nhảy múa cuồng loạn. Tiếp sau đó, đại vu chúc đăng đài, dẫn đầu nhảy múa.
Điệu múa kết thúc, tiếng nhạc ngừng bặt, đám vu nam vu nữ lui sang hai bên, biến thành hai bức tường người. Đại vu chúc quay mình, nghênh đón một hán tử thân hình vạm vỡ mặc y phục trắng.
Chẳng cần hỏi nhiều, hán tử áo trắng kia hẳn là Khai Minh Vương Lư Tử.
Xung quanh lặng phắc, không khí ngưng trệ.
Khai Minh Vương đứng sững trên đài, bái lạy trời đất tứ phương mỗi phương một lạy, sau đó ngồi lên vương vị đã được bày sẵn ở chính giữa.
Đại vu chúc đi tới trước đài, quay mặt xuống dưới cất giọng sang sảng: “Khai Minh Vương giá lâm, quần thần thượng triều!”
Dưới đài rậm rịch tiếng bước chân, quần thần chia thành hai hàng, thảy đều mang tang phục trắng, nối nhau đi ra, chia thành hai hàng, quỳ xuống đối diện với Khai Minh Vương, đồng thanh hô vang: “Chúng thần bái kiến Khai Minh Vương, bái kiến Khổng Tước vương phi!”
Khai Minh Vương giơ hai tay lên cao, sau đó phẩy xuống: “Chúng khanh bình thân!”
“Tạ ơn đại vương, tạ ơn vương phi!” Quần thần lại bái tạ, rồi đổi quỳ thành ngồi.
“Khổng Tước vương phi?” Trần Chẩn lẩm bẩm nhắc lại, rồi hạ giọng hỏi Trang Thắng. “Sao không thấy đâu?”
“Đại nhân sẽ thấy ngay thôi!” Trang Thắng hất hàm về phía đài.
Lời vừa dứt, đại vu chúc đã bước đến giữa đài, hai tay giơ lên, cất giọng hùng hồn: “Nổi nhạc, ‘Về lũng’...” Chữ “lũng” phía sau kéo dài lê thê. Khi tiếng hô kết thúc, hai tay chợt vung thật mạnh.
Tiếng nhạc lại nổi lên trầm hùng.
Đám vu nam vu nữ lại nhảy nhót theo tiếng nhạc. Đại vu chúc đi sang bên cạnh, vén một bức rèm cao rộng ra, để lộ một khối đá cao lớn lừng lững, đường kính chừng năm thước, cao chừng ba trượng.
Trên tấm bia khắc rành rọt một hàng đại tự: “Nơi an nghỉ của ái phi Khổng Tước của Khai Minh Vương Lư Tử”.
Nhịp âm nhạc trở nên chậm rãi, dìu dặt.
Trong tiếng nhạc, Khai Minh Vương chậm chạp đứng dậy, quay người lại, đưa ánh mắt chan chứa thâm tình nhìn sững vào tấm bia lớn.
Đại vu chúc nhảy múa một điệu vũ quái dị trước tấm bia, vừa nhảy vừa di chuyển về phía sau tấm bia. Đến khi đại vu chúc xuất hiện từ phía bên kia của tấm bia, đi theo sau có thêm bốn người nữa, một ông già, một người đàn bà, một thanh niên, và cuối cùng là một nam thiếu niên xinh đẹp.
Bốn người cùng bước ra, vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại phía sau. Đặc biệt là thiếu niên xinh đẹp, cứ ba bước lại ngoái nhìn một lần, vừa nhảy múa, vừa khóc, từ từ tiến ra giữa đài.
Cùng lúc đó, đại vu chúc cao giọng ngâm nga:
“Phượng non rời lũng chừ, Vũ Đô đất Xuyên.
Tóc mây mày liễu chừ, má hồng thiền quyên,
Cha anh mưu lớn chừ, mùa xuân về nam.
Mình ngọc áo dày chừ, bụi phủ hồng nhan.”
Sáu mươi tư vu nam vu nữ đồng thanh hợp xướng: “Hồng nhan, hồng nhan...”
Đại vu chúc tránh sang một bên, bốn người kia đi tới giữa sân khấu, thiếu niên xinh đẹp khóc sụt sùi, hát rằng:
“Ngoái nhìn bịn rịn chừ, lưu luyến vườn xưa.
Lũng Sơn không thấy chừ, quê nhà xa ngái.
Tháng năm đến Thục chừ, tháng bảy gặp vua.
Ngồi xe nhập cung chừ, giường ngọc ân ái.”
Thiếu niên vừa hát, vừa từ từ đi về phía Khai Minh Vương, cầm lấy tay nhà vua, hai người nhìn nhau, ý tình tha thiết, rồi cùng nhảy múa trong tiếng nhạc, sắc mặt tràn đầy đau thương u uất.
Thiếu niên hát xong, bèn cùng Khai Minh Vương đi ra phía sau tấm bia, đám nam vu nữ vu lại cùng hợp giọng hát lên: “Ân ái, ân ái...”
Tiếng nhạc tiếp tục, giai điệu càng thêm thảm sầu. Chốc sau, một mỹ nữ tuyệt thế, cũng chính là Khổng Tước vương phi, cùng với Khai Minh Vương đi ra từ phía sau tấm bia. Khổng Tước vương phi dựa cột nhìn về phía bắc, rất đỗi đau buồn.
Khai Minh Vương nhìn mỹ phi đắm đuối, đau đớn tột cùng, cũng mở miệng ngâm:
“Đông đi xuân đến chừ, nhạn bay về bắc.
Dựa cột ngóng quê chừ, ái phi buồn thương.
Giọng oanh nức nở chừ, lòng vua quặn thắt.
Dựng đài Đông Bình chừ, an ủi lòng nàng.”
Trong tiếng hợp xướng của đám vu chúc, Khổng Tước vương phi bất tỉnh trong lòng Khai Minh Vương. Khai Minh Vương bế bổng vương phi lên, từ từ bước về sau tấm bia. Các quan ở dưới đài ai nấy đều đầm đìa nước mắt, khóc lóc đau thương.
Tiếng nhạc càng bi thiết đứt ruột, năm tráng đinh trong bộ dạng lực sĩ gánh đất, lưng uốn cong, nhích từng bước một, ra vẻ khó nhọc đi qua đi lại trên đài, luôn miệng bật ra những tiếng kêu: “Hầy dô... Hầy dô...”
Tiếng hò dô nhỏ dần, đại vu chúc lại hát:
“Lòng nàng chẳng khuây chừ, hồn phách ly tán.
Ý vua không đôi chừ, ngũ đinh gánh nặng.
Gánh đất trong lũng chừ, xây mộ cho nàng.
Ba năm mộ thành chừ, thân phượng về lũng.”
Năm tráng đinh đặt quang gánh xuống, rớt nước mắt hát theo: “Về lũng, về lũng...”
Năm tráng đinh từ từ vòng ra sau tấm bia trong tiếng hát.
Điệu nhạc càng thêm lê thê sâu oán, Khai Minh Vương chậm chạp bước ra từ sau tấm bia, trông như một kẻ mất hồn, cơ thể dật dờ trên đài đất, hệt kẻ mộng du.
Dưới đài rộ lên tiếng khóc thảm thương.
Đại vu chúc hoa chân múa tay, giọng điệu rền rĩ, tiếng ngâm kéo dài run rẩy:
“Thân phượng về thung chừ, đại vương thương tiếc.
Sênh khánh ngâm rền chừ, tình ý tha thiết.
Âm dương hai ngả chừ, tái ngộ mong gì?
Mộng hồn quanh quẩn chừ, chỉ vì ái phi.”
“Trời xanh ơi...” Khai Minh Vương quỳ sụp xuống đất, ngửa mặt lên trời, hai tay giơ cao, cất giọng khàn đặc mà thống thiết. “Ái phi ơi...”
Tiếng gọi bi thương vừa dứt, tất cả mọi người trên đài, bao gồm cả đại vu chúc, cùng cất giọng hợp xướng: “Ái phi, ái phi...”
Lời hợp xướng đứt gan đứt ruột từ từ lắng xuống, nhưng dư âm vẫn như văng vẳng. Tiêu sáo đồng thanh nổi lên, thê lương rền rĩ.
“Trời xanh ơi...” Mấy nghìn người ở dưới đài dường như cũng bị bao trùm trong bầu không khí bi thảm lớn lao kia, cùng đồng thanh ngâm nga, dập đầu sát đất, cảnh tượng vô cùng choáng ngợp.
Sau đó, nghi thức “lên triều” bước sang đoạn truy điệu còn bi thiết thảm sầu hơn nữa. Khai Minh Vương đứng đối diện với tấm bia, đích thân ngâm khúc “Du nha ca” trong tiếng nhạc bi ai:
“Than ôi, than ôi,
Chim công bay rồi!
Than ôi, than ôi,
Bỏ ta đi rồi!
Than ôi, than ôi!
Xa tít tận trời!
Than ôi, than ôi!”
Nghi thức truy điệu kéo dài tới hai canh giờ, cho đến khi những người có mặt đều phải tan nát cõi lòng trong tiếng nhạc ai điếu. Khi nghi thức kết thúc, Khai Minh Vương đã như một người ngây dại, gần như bất tỉnh nhân sự, được đám cung nhân khiêng về tẩm cung.
Mặc dù Trần Chẩn đi nam về bắc, hiểu nhiều biết rộng, nhưng cũng phải mắt tròn mắt dẹt trước cảnh tượng này, bèn quay sang Trang Thắng muốn hỏi rõ đầu đuôi. Song Trang Thắng liếc nhìn công chúa, không muốn nói nhiều.
Rõ ràng, tình trạng hiện tại của Khai Minh Vương không hề thích hợp để bàn quốc sự.
Sau khi nghi thức kết thúc, công chúa vào cung vấn an mẫu thân, Trang Thắng đi cùng Trần Chẩn đến dịch quán nghỉ ngơi.
Tất cả đã được sắp đặt ổn thoả, Trang Thắng thấy Trần Chẩn có vẻ mệt, liền cáo từ: “Đại nhân đi đường vất vả, hãy nghỉ ngơi cho sớm. Sáng mai thức dậy, tại hạ sẽ đến thăm đại nhân, cùng bàn đại sự.”
“Cũng được, cũng được!” Trần Chẩn mỉm cười, ra vẻ bình thản. “Mời tướng quân ngồi một lát, tại hạ có điều muốn thỉnh giáo.”
“Thỉnh giáo thì không dám!” Trang Thắng vòng tay. “Đại nhân cứ nói!”
“Không giấu tướng quân, về chuyện nam nữ, tại hạ trước nay không mấy để tâm. Thế nhưng hôm nay, tại hạ đã vô cùng cảm động. Mối tình cách trở âm dương giữa đại vương và Khổng Tước vương phi, thật khiến đất trời đau xót, quỷ thần nhỏ lệ, nếu không được tận mắt chứng kiến, tại hạ hẳn ngỡ là chuyện đùa.”
Trang Thắng thở dài một tiếng, coi như trả lời.
“Tấm si tình của đại vương, tuy đã thổ lộ qua màn múa hát, nhưng vẫn chỉ là sơ lược. Tại hạ là người hiếu kỳ, rất muốn biết rõ sự tình chi tiết bên trong, mong tướng quân chớ tiếc lời chỉ giáo!”
“Ờ...” Trang Thắng do dự một lát rồi đáp. “Đại vương là cha vợ của tại hạ, việc của trưởng bối, vãn bối không tiện nói nhiều. Nếu đại nhân muốn hiểu tường tận, có thể gặp một người.”
“Người nào?”
“Trước tiên đại nhân hãy nghỉ ngơi một đêm, đợi sáng mai thức dậy, tại hạ sẽ dẫn đại nhân đi gặp!”
“Tại hạ không hề mệt mỏi!” Lòng hiếu kỳ của Trần Chẩn đã bị Trang Thắng khơi dậy, liền đứng vội dậy mà nói. “Phiền tướng quân hãy dẫn đi gặp ngay bây giờ!”
Thấy Trần Chẩn khăng khăng cố chấp, Trang Thắng không tiện từ chối. Hai người thay đổi y phục, đi thẳng ra khỏi dịch quán, tiến về phía đông. Hai người vừa đi vừa trò chuyện, chưa được mấy câu đã đến nơi.
Trước mặt họ là một phủ trạch trang nghiêm, có hai vệ sĩ cầm kích đứng canh ngoài cổng.
Hai người đứng đợi một lúc, thì một cặp vợ chồng trẻ tuổi đi ra nghênh đón. Thiếu phụ gọi một tiếng “Anh ơi”, rồi chạy như bay tới, níu lấy cánh tay Trang Thắng. Còn người nam thì khom lưng vòng tay vái chào: “Nghe nói đại ca, đại tẩu đã đến, tại hạ đang định cùng Sắc Nhi tới thăm hai người!”
“Đa tạ em rể!” Trang Thắng đáp lễ, rồi chỉ vào Trần Chẩn nói. “Vị này là Trần đại nhân, đặc sứ của Sở Vương.”
“Bách Thanh xin chào đặc sứ đại nhân!” Người này khom lưng vòng tay vái chào, rồi chìa tay mời. “Đặc sứ đại nhân, mời!”
Mọi người bước vào trong phủ, ngồi được một lúc thì một ông già tuổi chừng sáu chục nhưng tinh khí thần sung mãn được Trang Sắc dìu đỡ, chậm rãi tiến vào cửa phòng.
Chào hỏi xong xuôi, mọi người chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Biết được người trước mặt là đặc sứ của Sở Vương, đôi mắt chim ưng của ông già bỗng rọi ra hai luồng nhãn quang sáng rực, chiếu thẳng vào mặt Trần Chẩn. Trần Chẩn cũng chẳng hề sợ hãi, nheo đôi mắt hí, nhìn lại ông già.
Ông già thu ánh mắt lại, khẽ gật đầu, cất giọng ôn tồn: “Lão hủ Bách Quán xin chào đặc sứ đại nhân!”
Thì ra ông già ngồi trước mặt họ chính là lão tướng quốc Bách Quán, nhân vật quyền thế khuynh đảo triều nội trong triều Khai Minh! Trần Chẩn thầm giật nảy, vội vàng đứng dậy, vòng tay mà nói: “Vãn sinh Trần Chẩn bái kiến tướng quốc!”
“Đặc sứ bất tất phải khách khí.” Bách Quán xua tay, chỉ xuống chiếu. “Mời ngồi!”
Đợi Trần Chẩn yên vị, Bách Quán không còn khách sáo nữa, đi thẳng vào đề: “Đặc sứ không ngại vất vả, trèo núi băng sông, đến tận nơi hoang vu hẻo lánh này, không biết có điều gì chỉ bảo?”
“Chỉ bảo thì không dám!” Trần Chẩn vòng tay đáp. “Lần này vãn sinh đến, là phụng chỉ ý của Sở Vương, chuyển thư cấp báo đến đại vương và tướng quốc.”
“Ồ?” Bách Quán thoáng giật mình. “Thư cấp báo ở đâu?”
Trần Chẩn rút từ trong tay áo ra một bức thư do đích thân Chiêu Dương viết, có đóng tỷ ấn, hai tay giao cho Bách Quán.
Bách Quán mở thư xem xong, hít sâu một hơi dài, chìm vào suy tư, hồi lâu mới quay sang Bách Thanh: “Đi, mời thái tử điện hạ!”
Một lát sau, thái tử Tu Ngư giá lâm, vội vã đọc qua bức thư, sững lại một thoáng: “Người Tần muốn mưu đồ ta? Không thể nào!”
“Không phải mưu, mà là diệt nước!” Trần Chẩn trầm giọng nói.
Có lẽ bị chấn động trước hai chữ “diệt nước”, Tu Ngư chết lặng mất một lúc mới bừng tỉnh, rồi thình lình phá lên cười một tràng dài: “Ha ha ha ha! Diệt Đại Thục của ta ư?” Lại cười lớn mấy tiếng, quay sang Bách Thanh. “Bách tướng quân, tướng quân có nghe rõ không? Người Tần muốn mưu đồ ta! Người Tần muốn tiêu diệt triều Khai Minh của ta! Ha ha ha ha! Dựa vào sức của người Tần ư?” Rồi liên tiếp lắc đầu. “Không phải người Sở đã bị người Tần dọa cho sợ vỡ mật rồi đấy chứ?”
“Điện hạ!” Bách Thanh hạ giọng bẩm báo. “Theo thần được biết, Thư, Ba đã làm xong con đường núi rộng năm thước, thẳng đến Bao Hán. Từ Bao Hán đến Thổ Phí, nếu đi nhanh thì chỉ hai mươi ngày là đến!”
“Đến thì đã sao?” Tu Ngư cười nhạt một tiếng. “Thời tiên đế đã đánh vài trận với người Tần, người Tần không lần nào không nghe danh mà tan tác, suýt nữa còn đánh mất cái tổ cũ Dung Đô! Đến thời phụ vương, người Tần khinh khi phụ vương nhỏ tuổi mới lên ngôi, tranh cướp Bao Hán của ta, lại giao chiến, kết quả thế nào? Người Tần lại toàn quân tan vỡ, ha ha ha ha! Lần đó chính lão tướng quốc đây tự tay cầm quân!” Rồi quay sang nhìn Bách Quán, vẻ vô cùng đắc ý. “Có phải vậy không, tướng quốc?”
“Phải, điện hạ!” Bách Quán dõng dạc đáp, trên mặt lộ nét cười nhạt. Trận chiến Bao Hán là chiến công lừng lẫy nhất trong cuộc đời ông ta, giờ vẫn thường được người ta nhắc đến, chính là niềm tự hào của Bách Quán.
Tu Ngư lại phá lên cười chế nhạo: “Người Tần bị lão tướng quốc đánh cho tan tác, Tần Công bất đắc dĩ phải cùng phụ vương mở hội thề tại Bao Hán, không những tự nguyện xưng thần, còn cống nạp trăm dật vàng và vô số bảo bối. Đặc sứ đại nhân hãy thử đoán xem, phụ vương đã dùng vật gì để đáp lễ Tần Công?”
Trần Chẩn nheo nheo hai con mắt ti hí, khẽ lắc đầu.
“Ha ha ha ha!” Tu Ngư phá lên cười sặc sụa. Cười xong, ném toẹt bức thư lên mặt bàn, khinh khỉnh mà nói. “Ta biết đại nhân không thể đoán ra đâu! Phụ vương nhận được đồ cống nạp của Tần, tiện tay bốc lấy một nắm đất, cho vào trong hộp rỗng, tiện tay tặng lại! Ha ha ha ha, một nắm đất, một nắm đất bùn! Mối nhục nhường này, nếu Tu Ngư là Tần Công, chắc chắn sẽ đập đầu chết ngay tại núi Chung Nam cho rồi!” Quay sang Bách Quán. “Tướng quốc, lời của Tu Ngư, có chỗ nào không đúng chăng?”
“Điện hạ nói rất đúng!” Bách Quán nói thêm. “Chỉ có một chi tiết hơi khác một chút so với sự thực khi đó. Lúc đó, đại vương nhận được hậu lễ của Tần, nhất thời không có bảo bối gì thích hợp để đáp lễ. Lão thần đang lúc băn khoăn, đại vương liền nhanh trí, dặn nội thân lấy một đống đất bùn, trộn đều với nước, vôi, sau đó đích thân nặn thành nhiều món báu vật, tô thêm màu sắc, đúng là dùng giả thay thật. Ha ha ha, lão thần thật không thể ngờ đại vương lại khéo tay đến vậy.”
“Vẫn là tướng quốc kể chuyện hay!” Tu Ngư nhìn sang Trần Chẩn, ánh mắt đầy khiêu khích. “Đặc sứ của Sở Vương, ông đã nghe rõ cả rồi chứ?”
Trần Chẩn nghe đã rõ ràng, liền phá lên cười còn vang hơn cả Tu Ngư, cơ thể phốp pháp cũng rung lên bần bật theo tiếng cười.
“Ồ, ông cười gì thế?” Tu Ngư ngẩn người hỏi.
“Cười Đại Thục các vị!” Trần Chẩn lại cười thêm mấy tiếng nữa mới dừng lại, nhìn vào Tu Ngư. “Đất Thục của các vị có nhiều chuyện nực cười đến vậy, tại hạ sao có thể không cười?”
“Có chuyện gì nực cười, ông hãy nói xem!” Tu Ngư mặt hơi biến sắc, trầm giọng hỏi.
“Chỉ với những gì hôm nay được biết, đã có ba điều đáng cười. Thứ nhất, vua dại. Thứ hai, chúa cuồng. Thứ ba, tôi ngu dốt!” Trần Chẩn không chút nể mặt, một đòn phủ đầu.
Vua thì không cần nói, chúa là chỉ thái tử Tu Ngư, còn bề tôi...
Tu Ngư, Bách Quán, Bách Thanh ba người đưa mắt nhìn nhau, ai nấy đều lộ vẻ tức giận.
Trang Thắng hốt hoảng, đang định tìm lời chữa cháy thì Trần Chẩn đã đưa tay ngăn lại, dõng dạc nói: “Nước lớn bang giao, vốn dĩ phải vô cùng thận trọng, nhưng vua lại nặn đất làm vật cống, coi như trò hề, há chẳng phải dại? Vua lấy đất của nước mình tặng cho người khác, là điềm báo chẳng lành, bề tôi không khuyên ngăn, ngược lại còn hả hê trong dạ, vênh vang đến tận ngày nay, há chẳng phải ngu? Điện hạ ngông cuồng tự đắc, kiêu căng khinh người, há chẳng phải cuồng? Vua tôi ngồi đáy giếng nhìn trời, chân không ra khỏi đất Thục, không biết đến thay đổi bên ngoài, cứ khư khư ôm chuyện cũ, ngày mất nước đã sờ sờ ngay trước mắt mà không tự biết, há chẳng phải dốt?”
Trần Chẩn một mạch chỉ ra từng sai lầm của vua tôi đất Thục, khiến những người có mặt, đặc biệt là lão tướng quốc Bách Quán xưa nay vẫn luôn nói đâu chắc đấy, bị mất mặt trước điện hạ và con cái, thể diện bị bóc sạch trơn, giận dữ đến hai mắt trợn trừng, nhưng lại không thể phản bác, vì lời Trần Chẩn thoạt nghe câu nào cũng đều có lý.
Không khí nhất thời căng thẳng.
“Điện hạ, tướng quốc đại nhân, và Bách tướng quân!” Trần Chẩn khẽ thở dài một tiếng, vòng tay nói. “Không phải tại hạ dùng lời bức bách, nói quá để dọa dẫm, mà thực sự là tình thế thúc ép, thời cơ không đợi ta!”
“Dám hỏi đặc sứ,” lão tướng quốc là người đầu tiên định thần, sắt mặt lại mà hỏi, “xin hãy nói xem, ngoài núi đã thay đổi thế nào?”
“Thay đổi ở ngoài núi, không đâu lớn hơn nước Tần!” Trần Chẩn đáp. “Hai mươi năm trước, Tần Công dùng biến pháp của Thương Ưởng, khiến quốc lực hùng mạnh, trong trận chiến Hà Tây đã đánh bại võ binh Đại Ngụy, chém đầu tám vạn binh sĩ. Sau đó lại cùng người Sở giao chiến ở Thương Ư, chém đầu ba vạn quân Sở, chiếm được Thương Ư. Liệt quốc Trung Nguyên đều chống lại Tần, kết minh hợp tung, vào năm ngoái, bốn mươi vạn đại quân sáu nước chia thành nhiều lộ, chiếm ải đánh Tần, quân Tần và liên quân sáu nước kịch chiến suốt mấy tháng trời, đại phá quân hợp tung, chém đầu vô số. Sáu nước không dám tiếp tục tiến về phía tây, người Tần liền rảnh tay tập kết đại quân, mài đao tuốt kiếm, vào một ngày gần đây sẽ công chiếm Ba, Thục. Tại hạ... than ôi...” Nói đoạn, thở dài sườn sượt, khẽ lắc đầu.
“Người Tần ghê gớm đến vậy ư?” Bách Thanh hai mắt mở trừng, rõ ràng không chịu tin.
“Người Tần có ghê gớm hay không, đến khi giao chiến sẽ rõ ngay thôi!”
“Đa tạ đặc sứ!” Lão tướng quốc tâm phục khẩu phục, liền đổi sắc mặt, vòng tay vái mà nói. “Lão hủ được thụ giáo rồi! Lão hủ muốn hỏi thêm một câu, tại sao đặc sứ lại biết người Tần sắp mưu hại ta?”
“Hồi bẩm tướng quốc!” Trần Chẩn vòng tay đáp lễ. “Vì tại hạ vừa mới đến Tần. Đáng buồn cho người Thư, còn làm sẵn đường núi cho người Tần xuất chinh, hiện đã hoàn tất cả rồi!”
“Người Thư làm đường là để đón trâu thần!” Tu Ngư thật thà giải thích.
“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài một tiếng, quay sang thái tử. “Điện hạ, lẽ nào điện hạ thực sự tin rằng người Tần có trâu thần ư?”
“Ồ!” Tu Ngư kinh ngạc. “Thông Quốc đã tận mắt nhìn thấy, tận tay sờ thử, còn có thể là giả được ư?”
“Điện hạ đã hỏi về chuyện này, vậy tại sẽ kể cho mọi người rõ về chuyện trâu thần.”
Lúc này, Trần Chẩn mới đem chuyện mấy năm về trước Trương Nghi mưu tính phạt Ba, Thục, thêu dệt nên chuyện trâu thần để lừa thái tử nước Thư Thông Quốc như thế nào, để Thông Quốc kiểm tra trâu thần ra sao, xúi bẩy Thông Quốc phá núi làm đường thế nào, thái tử Thông Quốc tin tưởng như ra sao, cứ thế kể lại tỉ mỉ một lượt, khiến cho mấy người nghe mà há miệng trợn mắt.
“Ông trời ơi!” Tu Ngư tặc lưỡi nói. “Không lâu trước đây bản cung đã đòi Thông Quốc phải tặng mấy con trâu thần, Thông Quốc tuy đau xót, nhưng lại không dám không cho, cứ kỳ kèo thêm bớt mãi với bản cung, thực không ngờ...”
“Nếu đúng như lời của đặc sứ...” lão tướng quốc lúc này cũng đã nhận ra sự tình nghiêm trọng, không còn để tâm đến lễ tiết quân thần, lên tiếng ngắt lời Tu Ngư, nhìn thẳng vào Trần Chẩn, “Ba, Thục tình thế đã rất nguy cấp. Dám hỏi đặc sứ, lần này đến chỉ là để đưa thư cấp báo thôi ư?”
“Không phải!” Trần Chẩn đáp. “Lần này tại hạ đến, một là để đưa thư cấp báo của lệnh doãn đại nhân, hai là thay mặt Sở Vương bệ hạ thực hiện một cuộc trao đổi với Khai Minh Vương bệ hạ.”
“Trao đổi thế nào?”
“Trước lúc lên đường, Sở Vương nắm chặt tay tại hạ, dặn đi dặn lại rằng, Kinh, Thục thân như một nhà, người Kinh sẽ không giương mắt nhìn người Tần nhập Xuyên, hủy diệt tông miếu người Thục. Chỉ cần Khai Minh Vương có lòng thành, người Sở nguyện giúp một tay.”
Bách Quán nheo nheo đôi mắt già nua: “Thân tình là chuyện thân tình, vậy còn điều kiện trao đổi?”
“Sở giúp Thục chống Tần, Thục giúp Sở diệt Ba. Sau khi thành công, Thục, Sở chia đều đất Ba, lấy ranh giới là Tiềm Thủy, Giang Châu. Phía đông Tiềm Thủy thuộc Sở, phía tây Tiềm Thủy thuộc Thục!”
Kinh đô nước Ba là Lang Trung nằm ở đoạn trung du của Tiềm Thủy, mấy năm nay thế lực của người Ba dịch chuyển về phía tây, đã mở rộng đến Bồi Thủy. Những vùng núi non khác ở phía đông bắc nước Thục lại do người Thư chiếm cứ. Là một trong những người ủng hộ Khai Minh Vương Lư Tử, Bách Quán hiểu rõ hơn ai hết về cuộc tranh giành giữa Thư Hầu Hà Manh và đại vương của mình. Hà Manh có nằm mơ cũng muốn trở lại Thành Đô, ngồi lên vương vị, lần trước mượn binh của người Ba mưu phản, nay lại cấu kết với người Tần, tiếp tục dẫn quân Tần tác loạn, thật là mối hiểm họa khôn lường của triều Khai Minh. Từ lâu Bách Quán đã muốn trừ mối họa này, tuy nhiên, một là đại vương Lư Tử niệm đến tình thân huynh đệ, nên không đành lòng; hai là Thư Hầu và Ba Vương gả con cái để kết tình thân, lập giao ước công thủ đồng minh, nước Thục giờ lại vì xây dựng lăng mộ cho Khổng Tước vương phi mà quốc lực kiệt quệ, trong lúc gấp gáp, có muốn mưu đoạt cũng không được. Điều kiện trao đổi mà Trần Chẩn vừa đưa ra, chưa tính đến chuyện có được đất của người Ba, chỉ riêng việc người Sở giúp Thục diệt trừ Thư Hầu, đối với Bách Quán cũng đã là mong còn chẳng được.
Tuy nhiên, Bách Quán dù sao cũng vẫn là Bách Quán, đôi mắt già nua đảo nhanh một vòng, rồi chậm rãi nói: “Sở Vương đã nói chia đều đất Ba, đất Ba rộng lớn, nếu chiếu theo ranh giới đặc sứ vừa nói, hẳn không phải là chia đều!”
“Theo lời của tướng quốc, nên chia như thế nào?”
“Lấy Ba Thủy làm ranh giới. Vùng núi non ở phía đông Ba Thủy quy về Sở, vùng đất Lăng ở phía tây quy về Thục.”
“Vậy hãy làm theo lời tướng quốc, nhưng Giang Châu phải quy về Sở!”
Bách Quán nhìn sang Tu Ngư, khẽ gật đầu với hắn.
“Sẽ phân chia như vậy!” Tu Ngư quyết định dứt khoát.
“Không giấu chư vị,” Trần Chẩn vòng tay, nói thẳng ra mục đích, “sở dĩ tại hạ gấp gáp đến đây, là vì thời gian không cho phép chần chừ. Quân Tần chỉ ít ngày nữa sẽ đến, Sở Vương đã lệnh cho Trang Kiều làm chủ tướng chinh phạt nước Ba, dẫn theo năm vạn quân, chia thành hai lộ cùng đánh Bồi Lăng, tấn công nước Ba. Nhưng nước Sở xuất binh chỉ là hô ứng, theo tình thế trước mắt, đối thủ lớn nhất của chúng ta không phải người Ba, không phải người Thư, mà là người Tần. Chiến lược không phải ở Bồi Lăng, mà ở mấy trăm dặm đường Thục dẫn đến Bao Hán, nhưng đường Thục lại nằm trong tay người Thư. Binh quý ở thần tốc, Trang tướng quân hy vọng quý quốc hãy nhanh chóng khởi binh, sớm ngày đoạt lấy đường Thục. Chỉ cần chúng ta khống chế được con đường này, người Tần cho dù hung hãn đến mấy, cũng khó lòng xâm nhập. Không có người Tần, người Ba khác nào ba ba trong hũ!”
Nghe thấy muốn nước Thục lập tức xuất binh, Bách Quán, Tu Ngư, Bách Thanh đều đưa mắt nhìn nhau.
“Than ôi!” Bách Quán thở dài một tiếng. “Không giấu gì đặc sứ, người Thư là mối họa đã lâu, lão hủ sớm đã muốn diệt trừ. Chỉ là, điều binh khiển tướng, chinh phạt thảo nghịch, không có ý chỉ của đại vương thì tuyệt đối không thể, mà đại vương lại...” Thở dài buồn bã. “Bao nhiêu năm rồi, lòng dạ vẫn mãi đắm đuối với người đàn bà kia, không màng tới bất cứ chuyện gì khác!”
“Người đó phải chăng là Khổng Tước vương phi?” Trần Chẩn hỏi.
“Đúng vậy!”
“Vãn sinh mạo muội muốn hỏi kỹ hơn.”
“Nói ra thì dài lắm!” Lão tướng quốc khép hờ đôi mắt, chậm rãi kể lại đầu đuôi. “Lư Tử đại vương nằm mơ thấy một thiếu niên xinh đẹp, sau đó thiếu niên biến thành thiếu nữ tuyệt sắc, cùng đại vương quấn quýt ân ái. Đại vương si mê nàng ấy, song nàng ấy lại biến thành chim công bay đi mất. Đại vương nhờ vu chúc giải mộng, rồi nghe theo lời giải của vu chúc, mặc thường phục đi vi hành, gặp được thiếu niên trong mơ trong phiên chợ. Thiếu niên làm theo cách thức trong mơ, đã biến thân thành mỹ nữ, đại vương liền nạp nàng làm Khổng Tước vương phi, bỏ bẵng cả vương hậu và tam cung lục viện, chỉ sủng ái một mình phi tử này. Khổng Tước vương phi yếu ớt nhiều bệnh, lại nhớ nhung quê nhà, đại vương bèn cho xây dựng đài Đông Bình trong cung mô phỏng theo nhà cửa ở quê hương của nàng, làm ra khúc ‘Đông Bình ca’ nhằm ca múa giúp nàng khuây khoả. Song Khổng Tước vương phi bệnh không thuyên giảm, cuối cùng đã quy tiên, lúc lâm chung trăng trối rằng muốn an táng ở Lũng Sơn. Đại vương rất đỗi đau buồn thương tiếc, bất chấp sự phản đối của triều thần, chiếu lệnh cho ngũ đinh trong cả nước đến Lũng Sơn vận chuyển đất đá từ quê cũ của Khổng Tước vương phi về xây mộ cho nàng...”
Cả câu chuyện kể xong, cũng mất đến hơn một canh giờ, khiến cho Tu Ngư, Bách Thanh, Trang Thắng ba người nghe mà cũng thấy đau thương, Trần Chẩn lại càng xuýt xoa luôn miệng, thở vắn than dài.
“Than ôi!” Lão tướng quốc thở dài buồn bã. “Gần mười năm rồi, chỉ vì một giấc mộng, chỉ vì một người đàn bà mà đại vương đã cứ mãi giày vò như vậy, đừng nói là triều thần, ngay cả ngũ đinh bách tính cũng mệt mỏi vô cùng, chỉ có điều giấc mơ của đại vương đến nay vẫn chưa tỉnh!”
“Ồ...” Trần Chẩn băn khoăn. “Với uy vọng của tướng quốc, với sự tôn quý của điện hạ, lẽ nào cũng không khuyên được hay sao?”
Lão tướng quốc lắc đầu.
“Ngũ đinh lặn lội suốt nghìn dặm đường đến tận Lũng Sơn, chỉ là để gánh về từng gánh đất đá, lẽ nào lại... lại không hề oán hận hay sao?” Trần Chẩn lại hỏi.
“Sao lại không?” Lão tướng quốc cười nhăn nhó. “Người Thư thì không chịu nghe theo. Là thuộc quốc của Khai Minh, đại vương muốn Thư Hầu cũng phải điều động ngũ đinh, Thư Hầu không những không nghe, ngược lại còn cấu kết với người Ba, lấy cớ là đại vương lao dịch dân chúng quá nặng, hoang đường vô lý, mà hưng binh hỏi tội. May sao đại vương nổi giận, người Thục dũng mãnh, nên đã đánh tan được quân Thư, Ba.”
“Theo lý mà nói,” Trần Chẩn cảm thấy khó hiểu, “lời của Thư Hầu cũng chính là điều mà người Thục nghĩ, người Thục đáng ra phải hưởng ứng mới đúng chứ!”
“Đặc sứ có điều không biết, người Thục bản tính nặng tình trọng nghĩa. Theo lời của đại vu chúc, đại vương là do dương thần ở núi Nga Mi hoá sinh, Khổng Tước phi là do âm tinh ở núi Lũng Sơn hoá sinh, hai núi nhìn nhau, âm dương cách trở, không biết đã bao năm mới được tương hợp vào lúc này, giữa vương phi và đại vương có một mối tình không tiền khoáng hậu cũng là phải lẽ. Thấy đại vương đau thương đến vậy, tất cả người Thục đều động lòng, ngũ đinh hăng hái, vận chuyển đất đá ba năm mới xây xong mộ. Khi vận chuyển đất đá, đại vương đích thân gánh đòn chuyển đất, lại xây dựng đài Vọng Phụ trên đỉnh Ma Thiên Lĩnh, để lên cao phóng mắt nhìn xa. Mộ xây xong, lại viết bài ‘Về lũng’, do đại vu chúc phổ nhạc, cứ ba ngày lại hành lễ gặp mặt, lâu dần thành ra thông lệ, đại vương cũng coi đó là lễ lên triều.”
“Vậy... còn quốc sự? Triều thần bẩm tấu như thế nào?”
“Ngoài việc chinh phạt, triều Khai Minh không còn bất cứ quốc sự nào khác. Còn về những việc bình thường, lãnh chúa, hữu ti, thổ ti ở các nơi đều biết tự xử lý, tới chỗ điện hạ đây coi như là đã lên đến tối cao rồi. Trước mắt phạt Thư cũng vậy, ngự Tần cũng vậy, đều là phát động cả nước chinh chiến. Cả nước chinh chiến, thì phải dùng đến ngũ đinh, mà theo luật pháp của triều Khai Minh, nhất thiết phải bẩm báo với đại vương, do đại vương đích thân hạ ngự chỉ, nếu không sẽ là mưu phản! Đừng nói là lão hủ, cho dù là điện hạ cũng không dám tuỳ tiện!”
Rõ ràng, vấn đề trước mắt đã gặp phải bế tắc: nước Thục hưng binh, nhất thiết phải do đại vương hạ chỉ, mà trong lòng đại vương hiện chỉ có một chữ tình!
Mọi người đều im lặng.
Trần Chẩn nhắm mắt hồi lâu, trong đầu đột nhiên nảy ra một ý, liền ngẩng lên nhìn Bách Quán: “Tướng quốc đại nhân, vãn sinh có một chuyện muốn hỏi!”
“Đặc sứ cứ nói!”
“Khổng Tước vương phi có bức chân dung nào không?”
“Có! Ở trong cung của đại vương, đại vương coi như báu vật, ngày đêm giữ rịt bên mình.”
“Là người nào vẽ?”
“Họa sư trong cung.”
“Là nam hay nữ?”
“Vẽ hình cho vương phi, đương nhiên là nữ.”
“Tại hạ có thể gặp vị họa sư đó không?”
Tướng quốc nhìn sang Tu Ngư, Tu Ngư không chút đắn đo, bèn quay sang nói với Bách Thanh: “Đi, mời họa sư đến!”
Một lát sau, họa sư đã đến, Trần Chẩn lập tức đi thẳng vào chuyện: “Xin hỏi họa sư, trên mình Khổng Tước vương phi có mụn, bớt gì không?”
“Có một vết chàm, có điều...” Họa sư khựng lại, ngượng ngập liếc nhìn mấy người đàn ông.
“Không được giấu giếm!” Tu Ngư đanh giọng. “Bất kể là gì, đều phải nói hết cho vị tiên sinh này!”
Họa sư do dự một lát, rồi đi tới bên cạnh Trần Chẩn, ghé sát tai nói nhỏ mấy câu.
“Tốt lắm!” Trần Chẩn trầm ngâm một lát, rồi gật đầu hỏi. “Có thể dựa vào trí nhớ vẽ thêm một bức không?”
“Chuyện này...” Họa sư tỏ ra lúng túng.
“Bức họa này có liên quan đến đại vương, liên quan đến điện hạ, liên quan đến tướng quốc, liên quan đến tám mươi vạn dân Thục, cũng liên quan đến tính mạng của cả nhà ngươi đó!”
Họa sư quay sang nhìn Tu Ngư và Bách Quán, thấy hai người đều gật đầu thì mới yên tâm, lại quay sang Trần Chẩn hỏi: “Đại nhân muốn vẽ một bức giống y hệt ư?”
“Để ta suy nghĩ xem!” Trần Chẩn đảo mắt một hồi, rồi căn dặn họa sư. “Vẽ một bức mô cả cảnh mỹ nữ tắm trong khe suối, gọi là vương phi tắm, phải có sơn có thủy, thêm chút sương mù, tốt nhất là trông phải mờ mờ ảo ảo, ẩn hiện thấp thoáng, nhưng vết chàm kia thì tuyệt đối không được thiếu!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Còn nữa, vương phi phải thần tình u uất, hai mắt ứa lệ, cổ chân bị xích bởi một dây xích lớn, dây xích gắn chặt vào một tảng đá lớn. Còn về hoa cỏ chim muông, ngươi có thể vẽ vời tuỳ ý, chỉ cần vẽ sao cho toát lên vẻ sầu bi là được!”
Tất cả mọi người đều ngạc nhiên.
Thấy họa sư vẫn đứng trơ trơ tại chỗ, Trần Chẩn bèn hỏi: “Có vẽ được không?”
Họa sư gật đầu: “Vẽ cho giống không khó, chỉ có điều...”
“Vậy thì đi đi, cứ vẽ theo lời ta nói, không được thiếu sót chỗ nào!”
Lão tướng quốc hất hàm, Bách Thanh bèn gọi phu nhân đi giúp họa sư chuẩn bị đồ vẽ.
Sau khi đám họa sư đi rồi, Bách Quán, Tu Ngư và Trang Thắng đều nhìn Trần Chẩn, băn khoăn không hiểu ông ta có ý gì.
“Điện hạ, tướng quốc!” Trần Chẩn vòng tay nói với Bách Quán, Tu Ngư. “Sáng sớm mai, phiền hai vị hãy dẫn tại hạ đến yết kiến đại vương, nói rằng có tiên nhân núi Nữ Kỷ là Không Động Tử cầu kiến.”
Sáng sớm hôm sau, Trần Chẩn mình mặc tiên bào, phục sức kỳ quặc đi theo tướng quốc Bách Quán, thái tử Tu Ngư tiến vào cung Thục, yết kiến Khai Minh Vương Lư Tử.
Đại vu chúc ngồi hầu bên cạnh nhà vua.
Khai Minh Vương Lư Tử mở trừng hai con mắt, nhìn Trần Chẩn khắp một lượt từ trên xuống dưới hồi lâu, rồi lại quay sang nhìn đại vu chúc. Hai con mắt sắc bén của đại vu chúc cứ nhìn chằm chằm vào cái bụng mỡ của Trần Chẩn.
Trần Chẩn hai mắt khép hờ, chỉ hé ra hai khe hở rất hẹp, không nhìn đại vu chúc, chỉ liếc xéo Lư Tử.
“Nghe nói tiên nhân là Không Động Tử ở núi Nữ Kỷ?” Lư Tử cất tiếng hỏi.
“Đúng vậy!”
“Dám hỏi tiên nhân đã thọ bao nhiêu?”
“Thọ thì không dám. Tiểu tiên chẳng qua mới trải ba trăm hai mươi lăm cái xuân thu!”
“Ồ!” Lư Tử trợn tròn hai mắt. “Ý tiên nhân là, đã ba trăm hai mươi lăm tuổi?”
“Chính phải!”
Lư Tử hít vào một hơi dài, quay sang đại vu chúc. Đại vu chúc lúc này mới rời mắt khỏi cái bụng của Trần Chẩn, nhìn thẳng vào mắt Trần Chẩn, rồi đột nhiên lên tiếng, giọng nói sắc lẹm: “Thượng tiên phải chăng sống ở núi Nữ Kỷ?”
“Đúng vậy!”
“Thượng tiên đã sống ở núi Nữ Kỷ, vậy cớ sao lại gọi là Không Động Tử?”
“Chuyện này nói ra dài lắm!” Trần Chẩn bèn phỏng theo câu chuyện của Thương Ngô Tử ở Sính Đô, thêm thắt phóng đại vào mà thao thao kể. “Tiểu tiên vốn là người ở Kinh Sơn, vào năm sinh ra, đúng là năm Sở Trang Vương mới lên ngôi. Năm năm sau, phụ mẫu đều mất, tiểu tiên đau khổ tột cùng, khóc suốt mười ngày, tiếng khóc vang vọng đồng hoang, làm kinh động tới một dị nhân, đó chính là tiên sư, chân nhân núi Nữ Kỷ. Chân nhân dẫn theo tiểu tiên đi về phía tây, đến nơi sâu thẳm trong núi Nữ Kỷ, luyện đạo tu tiên, học được diệu thuật dưỡng sinh. Trải qua hai vòng hoa giáp là một trăm hai mươi cái xuân thu, chân nhân cưỡi gió bay đi, tiểu tiên công lực chưa đủ, không thể bay cùng, sau đó cứ lần theo địa mạch đi theo khí của tiên sư, đến tận núi Không Động, đến chỗ chân khí của tiên sư biến mất liền kết cỏ thành lều mà sống, lại trải qua một trăm mùa xuân thu nữa.”
“Quả là chân nhân!” Lư Tử thở dài một tiếng, lại hít vào một hơi dài, hai mắt nhìn Trần Chẩn không chớp, vẻ đầy thán phục.
“Nhưng trong mắt của bản vu,” đại vu chúc không động thanh sắc, quyết không buông tha, “thượng tiên tại sao trông lại không hề giống tiên nhân?”
“Dám hỏi vu chúc, sao lại nói vậy?”
Đại vu chúc bật ra một tiếng cười nhạt: “Người tu tiên ai nấy đều tiên phong đạo cốt, đói thì ăn tinh khí của vũ trụ, khát thì uống sương ngọt của đất trời. Ngược lại nhìn thượng tiên, toàn thân tục khí, khắp người mỡ màng, căn bản không phải tiên nhân!” Giọng nói đột nhiên trở nên đanh thép, đưa tay đập bàn. “Điêu dân to gan, dám mạo nhận là thượng tiên, lừa dối đại vương, là khinh Đại Thục ta không có người ư?”
Trần Chẩn nghe vậy, phá lên cười lớn, đưa tay vỗ vào cái bụng phệ, rồi quay sang tướng quốc và thái tử, nhún vai mà nói. “Xem ra Đại Thục đúng là chẳng còn người nữa rồi!”
“Nói vậy là có ý gì?” Đại vu chúc đanh giọng quát lớn.
“Trời đất rộng lớn, vũ trụ bao la, tất cả đều nằm trong một chữ Dịch. Dịch, tức là biến; biến, tức là hoá; hoá, chính là đạo của trời đất. Đạo vốn là một, một chia thành hai thể âm dương, hai thể hoá thành tứ tượng, tứ tượng xuất hiện mà sinh ra bát quái, bát quái xuất hiện mà diễn ra sáu mươi tư quẻ, mỗi quẻ đều là nhân là quả của nhau, biến hoá lẫn nhau, nên mới tạo ra trời đất rộng lớn, vũ trụ bao la. Còn về đạo người tu tiên, tự nhiên cũng tương hợp với trời đất. Trời đất đã có thiên biến vạn hoá, đạo người tại sao lại không? Đạo người đã có thiên biến vạn hoá, đạo tiên tại sao lại không?”
Trần Chẩn trong nháy mắt đã tìm ra được cái lý này, đừng nói là đám Lư Tử, cho dù là đại vu chúc cũng cảm thấy chấn động, sững sờ mất một lúc, rồi ôm quyền, giọng điệu cũng đã hoà hoãn ít nhiều: “Cái đạo tu tiên, tổng cộng có bao nhiêu?”
“Đạo, là đường đi. Theo tiểu tiên được biết, tiên có ba loại là thiên tiên, địa tiên và nhân tiên, mỗi loại lại có ba vạn sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đạo nhập môn.” Trần Chẩn giọng điệu khẳng định chắc nịch, tuyệt không cho phép nghi ngờ.
“Ờ...” Lúc này lại biến thành đại vu chúc kiến thức hẹp hòi, nghe mà ngây thộn, miệng lắp bắp. “Dám hỏi thượng tiên tu tiên nào, theo đạo nào?”
“Tiểu tiên mới đầu tu địa tiên, nhập môn từ khí đạo, sau đó tu nhân tiên, nhập môn từ cốc đạo.”
Trần Chẩn tuy nói bừa đáp đại, song lại kín kẽ không chút sơ hở. Đại vu chúc chau mày một lúc, lại ngẩng đầu hỏi: “Thế nào là cốc đạo?”
“Chính là cái này!” Trần Chẩn vỗ vào cái bụng của mình. “Ăn ngũ cốc, uống rượu ủ.”
Ăn gạo uống rượu, đối với tiên đạo là điều hoàn toàn không thể, nhưng lúc này nói ra từ miệng của Trần Chẩn, ý nghĩa lại khác hẳn. Đại vu chúc mắt mũi mồm miệng chẳng chỗ nào chịu tin, song không thể cãi nổi Trần Chẩn, tức giận đến nỗi trợn trừng hai mắt, nhưng lại không nghĩ ra lời gì thích hợp để vặc lại.
“Thượng tiên lần này đến tệ bang,” Khai Minh Vương rõ ràng đã hoàn toàn tin tưởng, chân thành vòng tay mà nói, “quả thực là điều may mắn của tệ bang. Lư Tử thô lỗ, dám hỏi thượng tiên, có điều gì chỉ bảo chăng?”
“Tiểu tiên không dám!” Trần Chẩn vòng tay đáp lễ. “Chỉ là tiểu tiên gần đây đi ngao du, từ xa nhìn thấy một đỉnh núi được mây lành bao phủ, chim chóc lượn quanh, rất lấy làm lạ, bèn đến gần xem, quả nhiên đã gặp được một nữ tử kỳ lạ bên khe suối...”
“Ồ?” Khai Minh Vương ngả người về trước hỏi. “Thượng tiên hãy nói xem, nàng ấy đang làm gì?”
“Nàng ấy đang tắm dưới suối.”
“Thượng tiên đã nhìn thấy?”
“Không những nhìn thấy, mà còn vẽ lại được hình hài của nàng ấy.”
Khai Minh Vương hít vào một hơi dài: “Khi thượng tiên vẽ, nàng ấy không biết hay sao?”
“Biết chứ, biết chứ, là nàng ấy chủ động xin tiểu tiên vẽ.”
“Ồ!” Khai Minh Vương ngạc nhiên. “Nàng ấy không xấu hổ ư?”
“Ở cõi người có xấu hổ, còn ở cõi tiên của chúng tôi, không có xấu hổ.”
“Sau đó thì sao?” Khai Minh Vương rõ ràng là đã bị câu chuyện này lôi cuốn.
“Đợi tiểu tiên vẽ xong, nàng ấy cầu xin tiểu tiên mang bức họa này đến Thành Đô, tiểu tiên chính vì chuyện này nên mới đến yết kiến đại vương.”
“Vậy...” Khai Minh Vương hơi thở trở nên dồn dập, “bức họa đâu?”
Trần Chẩn liếc mắt nhìn mọi người xung quanh, Lư Tử biết ý, bèn bảo tướng quốc, thái tử và cung nhân bên cạnh lui hết ra ngoài, chỉ còn đại vu chúc vẫn ngồi bất động.
“Nơi này không có người ngoài, mời thượng tiên hãy cho xem bức hoạ!”
Ánh mắt của Trần Chẩn liếc về phía đại vu chúc.
Khai Minh Vương thoáng do dự, rồi vòng tay nói với đại vu chúc: “Cũng xin mời thần vu hãy tạm lánh mặt!”
Đại vu chúc trừng mắt nhìn Trần Chẩn, sau đó cất bước rời đi.
Thấy trong điện không còn ai khác, Trần Chẩn liền rút lấy bức họa từ trong tay áo, đứng dậy, mở ra, lấy thân làm giá, mở bức họa ra ngay trước mặt Khai Minh Vương.
“Trời ơi!” Khai Minh Vương đã nhìn rõ rành rành, hai mắt trợn trừng, hồi lâu sau mới định thần lại được, quỳ sụp xuống đất, đưa tay ve vuốt bức tranh, nước mắt ròng ròng, nói không thành tiếng. “Là... là... ái phi Khổng Tước của ta, trời ơi!”
Khai Minh Vương khóc nức nở một thôi một hồi, rồi thình lình giật lấy bức tranh, lau sạch nước mắt, nhìn kỹ một lượt, thất kinh kêu lên: “Thượng tiên, ái phi nàng... nàng đang khóc! Nhìn chân của nàng... tại sao lại có sợi dây xích ở đây?”
“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài một tiếng trầm bổng du dương, vuốt bộ râu giả trắng như tuyết, giọng nói trầm xuống. “Nói ra thì dài lắm. Nàng ấy vừa nhìn thấy tiểu tiên đã nước mắt đầm đìa, khóc lóc kể lại thân thế với tiểu tiên, nói rằng nàng vốn là con gái của sơn thần ở núi Lũng Sơn, hoá thân thành chim công. Khi đại vương còn trẻ, có lần đi qua núi Lũng Sơn, nàng ấy vừa hay bay lướt qua đầu đại vương. Có lẽ thấy đại vương uy nghi bất phàm, nên chim công đã lượn vòng quanh đầu đại vương, suốt dọc đường bám theo đại vương, càng nhìn càng ái mộ, trong lòng sinh tình quyến luyến. Sau đó, đại vương rời khỏi Lũng Sơn, chim công bèn cầu xin sơn thần phụ vương tác thành cho tâm nguyện của nàng, song sơn thần nhất quyết không chịu. Không còn cách nào khác, chim công bèn khóc lóc cầu xin mẫu thân. Mẹ nàng chỉ có một cô con gái độc nhất, nên đành nuốt nước mắt nói rõ sự tình, không phải là phụ vương không chịu tác thành, mà là nàng không thể gả cho Thục Vương. Nàng hỏi lý do, người mẹ bèn nói, nàng là tinh tuý của núi Lũng Sơn, nếu không được thủy thổ Lũng Sơn nuôi dưỡng, sẽ không thể sống được. Chim công nghe vậy, trong lòng đau khổ, từ đó mắc bệnh tương tư. Sơn thần đã vận đủ mọi phép, nhưng bệnh tình của nàng vẫn ngày càng trầm trọng. Thấy chim công chỉ còn thoi thóp hơi tàn, sơn thần đành phải đồng ý, thi triển phép thuật khiến nàng biến thành một thiếu nữ dân gian, phái một số thần linh hộ tống nàng đến Thành Đô, bắt nàng phải thề, trong vòng một năm buộc phải trở về Lũng Sơn, nếu như không về, nàng sẽ bị phát bệnh, chết ở nơi đất khách, không bao giờ được trở về Lũng Sơn nữa. Chim công đã đồng ý. Còn những chuyện sau này, đại vương đều đã rõ cả rồi.”
So với lời của đại vu chúc, câu chuyện tiền thân của Khổng Tước vương phi được kể qua miệng Trần Chẩn nghe ra sống động chân thực, hợp tình hợp lý hơn nhiều, Khai Minh Vương càng nghe càng tin phục, càng sầu thảm: “Khổng Tước nàng ơi, ái phi của ta ơi!” Cứ thế kêu gọi liên hồi, khóc than vật vã.
“Đại vương!” Trần Chẩn để mặc cho ông ta than khóc đau thương một hồi, rồi mới đi vào chuyện chính. “Đại vương có muốn biết hiện giờ Khổng Tước vương phi đang ở nơi nào, vì sao lại khóc, chân vì sao lại bị xiềng xích không?”
Một lời như đã thức tỉnh Khai Minh Vương, Lư Tử lập tức thôi khóc, nuốt lệ giục giã: “Tiên nhân mau nói!”
“Sau khi Khổng Tước vương phi qua đời, linh hồn liền rời khỏi xác thịt, dật dờ bay lên không trung, thẳng về Lũng Sơn. Bay đến sông Bạch Long, vương phi khát nước, muốn xuống uống nước sông, không ngờ gặp phải Bạch Long thủy quái. Con yêu quái đó mê mẩn dung nhan mỹ miều của nàng, đã cướp đoạt lấy nàng, rồi giam ở...” Trần Chẩn lại dừng lời, khe khẽ lắc đầu.
“Giam ở nơi nào?” Khai Minh Vương cuống lên hỏi.
“Giam ở nơi mà tiểu tiên vẽ tranh này. Gần đó có một đầm sâu, dưới đầm có một cung điện, Bạch Long thủy quái nhốt nàng ở đó, ngày ngày bức ép nàng thành thân, nhưng vương phi chỉ một lòng quyến luyến đại vương, thà chết không chịu. Bạch Long thủy quái bực bội, nên đã dùng dây xích xích nàng bên đầm, phái quân tôm tướng cua ngày đêm canh giữ, không cho nàng đi đâu một bước.”
“Ôi, ái phi... ái phi của ta...” Khai Minh Vương giậm chân đấm ngực, khóc lớn.
“Đại vương!” Trần Chẩn lại đổ thêm dầu vào lửa. “Khổng Tước vương phi phải chịu khổ nạn trong đầm nước, ngày dài dằng dặc như năm, không lúc nào là không tưởng nhớ đến đại vương!”
Khai Minh Vương đưa tay lau nước mắt, chụp cứng lấy cánh tay Trần Chẩn: “Xin hỏi thượng tiên, có nhớ nơi đó ở đâu không?”
“Nhớ chứ, nhớ chứ, tiểu tiên đã ghi nhớ kỹ càng trong tâm khảm.”
“Vậy hãy dẫn bản vương đi, bản vương... sẽ phá tan cung điện, bắt sống quái vật, lột da rút gân nó!”
“Được thì có được, thế nhưng...”
“Còn nhưng cái gì?”
“Muốn đến nơi đó, nhất thiết phải đi qua nước Thư, thế nhưng Thư Hầu...”
Khai Minh Vương hai mắt trợn trừng, siết nắm đấm giáng thẳng xuống mặt bàn: “Thư Hầu cái gì? Hắn là do bản vương phong, bản vương muốn đi đâu, xem hắn có dám nói nửa câu không?”
“Than ôi, đại vương có điều không biết!” Trần Chẩn lắc đầu than thở. “Nếu là trước đây, đại vương mượn đường, Thư Hầu còn không dám không nghe, nhưng bây giờ thì không được nữa rồi. Nghe lão tướng quốc nói, Thư Hầu vì chuyện vương vị mà oán hận đại vương đã lâu, mấy năm trước đại vương sai người đến Lũng Sơn gánh đất, Thư Hầu không những không nghe lệnh, ngược lại còn cấu kết với người Ba, phản công đại vương.” Hạ thấp giọng. “Điều này tạm chưa nói đến, theo tiểu tiên được biết, Thư Hầu còn cấu kết với Bạch Long thủy quái. Bạch Long thủy quái biết rõ mối thâm tình giữa đại vương và vương phi, lo sợ đại vương sẽ dẫn quân đến cứu, nên đã báo mộng cho Thư Hầu, bảo ông ta tuyệt đối không được để đại vương đi qua, nếu không sẽ dẫn binh tôm tướng cua đến tiêu diệt đất nước của ông ta. Thư Hầu một là sợ hãi, hai là bất mãn với đại vương, nên đã cùng lập minh ước với thủy quái rồi.”
“Hà Manh!” Khai Minh Vương giọng rít qua kẽ răng. “Ngươi là phường vong ân phụ nghĩa, bản vương nể mặt phụ vương, mẫu hậu, nhún nhường ngươi hết lần này đến lần khác, nhưng ngươi lại được đằng chân lân đằng đầu, ăn cây táo rào cây sung!” Lại đập mạnh tay xuống bàn, quay ra ngoài quát lớn. “Người đâu!”
Thái tử Tu Ngư, tướng quốc Bách Quán nghe tiếng liền bước vào.
“Nghe chiếu!” Khai Minh Vương nói rành rọt từng chữ. “Thư Hầu Hà Manh coi thường bản vương, ngầm cấu kết với thủy quái ức hiếp ái phi của ta, bản vương không thể nhẫn nhịn, từ hôm nay phế bỏ phong hiệu Thư Hầu của Hà Manh, khởi mười vạn ngũ đinh, san phẳng đất Thư, ứng cứu ái phi!”
Tu Ngư, Bách Quán cùng hít vào một hơi dài, nhìn Trần Chẩn vẻ vô cùng thán phục, rồi khấu đầu hô lớn: “Vi thần tuân chỉ!”
Hồi Thứ 59
Dứt duyên cũ, Ngụy Chương quyết chí đầu quân
Mở liên hoành, Trương Nghi tiến binh đường Thục
Đúng vào lúc Khai Minh Vương ban chiếu phế bỏ phong hiệu Thư Hầu, khởi binh toàn quốc, sát khí đằng đằng tiến về đất Thư, ứng cứu vương phi, thì Tần đô Hàm Dương vẫn giống như ngày thường, không thấy bất cứ điều gì khác lạ.
Trong những người đang ở thành Hàm Dương, người chán chường nhất chính là công tử Ngang. Từ sau khi Trần Chẩn ra đi, công tử Ngang nghe theo lời ông ta, đổi tên thành Ngụy Chương, mấy lần mang thư cầu kiến Tử Vân công chúa, nhưng đều bị chặn ngay ngoài cổng. Không còn cách nào khác, công tử Ngang đành phải đến phủ thái phó cầu kiến Doanh Kiền.
Từ sau khi Trần Chẩn ra đi, chứng nghễnh ngãng của Doanh Kiền càng thêm trầm trọng, người cũng lú lẫn hơn nhiều. Trước đây Trần Chẩn từng dẫn công tử Ngang đến phủ thái phó, theo lý mà nói đã là người quen, nhưng lão thái phó lúc này lại nghe không rõ công tử Ngang nói những gì, cũng chẳng nhớ hắn là ai. Công tử Ngang uổng công giải thích một thôi một hồi, cuối cùng chỉ biết cười gượng một tiếng, từ biệt quản gia, sượng sùng ra về.
Trở về đến phủ, công tử Ngang nghĩ trước nghĩ sau, càng nghĩ càng thấy thê lương chán nản. Nhìn khắp nước Tần, không có lấy một ai để trò chuyện. Là hàng tướng nước Ngụy, đám đại phu nước Tần dường như chẳng ai coi hắn ra gì, chỉ có Sư Lý Tật thi thoảng đến ngó hắn một cái, song gặp mặt cũng chẳng có gì để chuyện trò. Tần vương dường như đã quên bẵng hắn, cho đến nay vẫn chưa cho hắn một danh phận. Mọi người ai cũng bận rộn với việc của mình, chỉ có hắn cả ngày từ sáng đến tối ngồi không, chẳng có việc gì làm. Mặc dù nói Trần Chẩn đã để lại nền móng dầy dặn, tạm thời không phải lo chuyện ăn mặc, nhưng với một kẻ bản tính hiếu động như hắn mà giờ đây, thậm chí không cả được lên triều, khiến hắn buồn bực khôn tả. Có khi khổ sở đến cực độ, công tử Ngang thậm chí đã nghĩ đến chuyện vung kiếm tự vẫn. Song lại vì thời đã qua thế đã đổi, huyết khí giờ đã tiêu tan, lúc này, cho dù hắn vẫn có thể kề kiếm lên cổ, nhưng lại không khởi lên được cái dũng khí để nhắm mắt vung tay.
Cứ thế trầm uất liền mấy ngày trời, hôm nay trên phố, công tử Ngang ngẫu nhiên gặp Trương Nghi đang trên xe về phủ, bỗng sực nhớ đến lời Trần Chẩn, lập tức tinh thần phấn chấn, bám theo phía sau.
“Chúa công, Ngụy Chương cầu kiến!” Tiểu Thuận bước vào bẩm báo.
“Ngụy Chương?” Trương Nghi ngạc nhiên. “Người này là ai?”
“Chính là cái tên tướng quân bị thịt đó, công tử Ngang, bị người của chúng ta bắt sống bên bờ Lạc Thủy, sau đó đầu hàng, hiện ở trong phủ của Trần Chẩn, vì sợ mất mặt nên đã đổi tên, gọi là Ngụy Chương.”
Đôi mày của Trương Nghi chau tít lại.
“Chúa công, nhớ năm xưa, chính là kẻ này đã đánh mất Hà Tây. Hắn chính là nguồn gốc gây ra tai họa cho nhà chúng ta. Giờ hắn tìm đến cửa, chúng ta không thể bỏ qua được, phải cho hắn nhục mặt một phen.”
“Ngươi muốn làm nhục hắn thế nào?”
“Chỉ cần chúa công gật đầu là được, còn làm nhục như thế nào, Tiểu Thuận tự có cách!”
“Đừng úp mở nữa, nói đi!”
“Chúa công!” Tiểu Thuận xích lại gần, hạ thấp giọng. “Nghe nói kẻ này năm xưa đã cưới Tử Vân công chúa, sau khi Hà Tây thất thủ, hắn không màng đến công chúa, một mình lo chạy tháo thân. Giờ này hắn thất bại đầu hàng, mới lại nhớ tới công chúa, mấy lần đến cửa, muốn hàn gắn duyên xưa, nhưng công chúa còn không cho phép hắn bước qua cánh cổng. Tiểu Thuận đã nghĩ kỹ rồi, hãy lấy việc này ra để làm nhục hắn, xem hắn biết giấu mặt vào đâu!”
Nghe thấy bốn chữ “Tử Vân công chúa”, Trương Nghi mừng thầm trong bụng, rồi lừ mắt nhìn Tiểu Thuận một cái, cốc vào đầu gã mà mắng: “Tiểu tử thối, chỉ giỏi nghĩ ra mấy trò quái đản, chắc ngươi không cần cái đầu này nữa ư?”
“Chúa công!” Tiểu Thuận cuống quýt.
“Chúa cái đầu nhà ngươi! Đi mau, vương thân quốc thích giá lâm, phải tiếp đãi trọng hậu. Trước tiên hãy mời đến phòng khách, giờ chúa công ngươi sẽ đi thay y phục để tiếp khách!”
Thấy Trương Nghi nói muốn thay y phục để tiếp đón, Tiểu Thuận không còn dám nhiều lời, chỉ tặc lưỡi vài cái rồi vội vàng chạy đi.
Trương Nghi vào nhà sau, thay triều phục ra, mặc vào trang phục thường ngày, nhanh chóng đi đến phòng khách. Công tử Ngang khom lưng chào đón, rồi vòng tay nói: “Tại hạ Ngụy Chương xin chào tướng quốc đại nhân.”
“Trương Nghi xin chào An Quốc Quân!” Trương Nghi cũng vái đáp lễ.
Công tử Ngang mặt đỏ bừng: “An Quốc Quân đã chết trận từ lâu rồi, giờ tại hạ là kẻ thất chí Ngụy Chương.”
“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng, rồi khẽ gật đầu, chỉ tay vào chiếu dành cho khách. “Ngụy Chương huynh, mời!”
“Tạ ơn đại nhân đã ban ngồi!” Công tử Ngang ngồi xuống, Trương Nghi cũng ngồi vào chiếu chủ. Tiểu Thuận rót trà xong, thấy Trương Nghi ra hiệu, liền lặng lẽ lui ra.
“Ngụy huynh, mời dùng trà!” Trương Nghi nâng chén trà lên, cung kính mời.
Công tử Ngang nhìn chén trà, rồi bật ra một tiếng thở dài.
“Nhìn khí sắc của Ngụy huynh, dường như có tâm sự. Dám hỏi Ngụy huynh, tại hạ có thể giúp được gì chăng?”
“Đa tạ đại nhân hậu ái!” Công tử Ngang vòng tay đáp. “Không giấu đại nhân, lần này tại hạ đến đây, thực sự là vì đã đến bước đường cùng!”
“Ồ?” Trương Nghi ngả người về trước, ánh mắt ân cần.
Công tử Ngang cũng không khách sáo, kể lại cặn kẽ về tình cảnh khốn quẫn gần đây, rồi đưa ánh mắt khẩn cầu nhìn chằm chằm vào Trương Nghi.
Trương Nghi bật cười mấy tiếng: “Ngụy huynh đã lo nghĩ thái quá rồi. Chỉ mới hôm qua, Sư Lý huynh vẫn còn nói chuyện với tại hạ về Ngụy huynh đấy!”
“Than ôi!” công tử Ngang lại thở dài sườn sượt. “Kẻ vô dụng này không đáng để nhắc tới.”
“Ngụy huynh sai rồi!” Trương Nghi lắc đầu. “Nghe Sư Lý huynh nói, lần này sáu nước phạt Tần, mấy lộ kỳ binh của Bàng Quyên đều quăng giáp bỏ mũ mà tháo chạy, riêng chỉ có Ngụy huynh là quét ngang Hà Tây, đánh cho Ngô Thanh không còn hơi sức chống đỡ. Nhìn khắp trận chiến Hà Tây, cho dù về chiến lược hay chiến thuật, Ngụy huynh cũng đều không có chỗ nào sơ hở, nếu không phải là Bàng Quyên bại ở phía bắc, Ngụy huynh chắc chắn sẽ thu phục được Hà Tây, lưu danh sử sách!”
Đây là lời nói ấm lòng duy nhất mà công tử Ngang được nghe trong những ngày này, hơn nữa lại được nói ra từ miệng sĩ tử Quỷ Cốc nức tiếng thiên hạ Trương Nghi, khiến công tử Ngang vô cùng cảm động, vòng tay bật khóc mà nói: “Tướng bại trận, không còn lời nào để nói, đa tạ đại nhân đã an ủi!”
“Không phải tại hạ an ủi!” Trương Nghi cất giọng chân thành. “Ngụy huynh có biết, từ Ninh Tần đến Lạc Thủy, Ngụy huynh thân đi trước sĩ tốt, xung phong trận tiền, nhưng tại sao lại không tổn thương đến một sợi tóc? Trên cầu băng ở Lạc Thủy, cả hai mươi tráng sĩ đều trúng tên tử nạn, tại sao chỉ có một mình Ngụy huynh hiên ngang đứng vững? Ngụy huynh dùng sức một người, cầm thương xông thẳng vào trận quân Tần, tả xung hữu đột, khiến người Tần kẻ chết người bị thương la liệt, tại sao không một ai chạm đến người Ngụy huynh? Ngụy huynh rút kiếm tự vẫn, xả thân vì nghĩa, tại sao lại...”
“Là bởi tại hạ nghe thấy lời của Sư Lý đại nhân, nhất thời phân tâm, nên bị người Tần tập kích...”
“Không đúng, không đúng!” Trương Nghi lại lắc đầu. “Theo lời kể của Sư Lý huynh, không phải tại Ngụy huynh nhất thời phân tâm, mà là vì Tần vương có chỉ, kẻ nào làm tổn thương đến Ngụy huynh, kẻ nào ngăn chặn Ngụy huynh sẽ bị chém đầu!”
Công tử Ngang hít vào một hơi dài.
“Ngụy huynh có biết tại sao Tần vương lại không muốn Ngụy huynh tuẫn thân vì nước không?”
“Ông ta muốn làm nhục tại hạ!”
“Không đúng, không đúng!” Trương Nghi liên tiếp xua tay. “Tần vương hạ chỉ ý này, có hai nguyên nhân. Thứ nhất, do Ngụy huynh là tướng tài, điều này huynh có thể không tin. Thứ hai, Ngụy huynh vốn là quốc thích của nước Tần, đại vương thực không nhẫn tâm thấy em gái mình còn trẻ tuổi mà đã phải sống đời goá bụa!”
Câu phía sau đã đánh trúng chỗ đau, công tử Ngang cúi gằm mặt, hồi lâu vẫn không lên tiếng.
“Ngụy huynh?”
“Không giấu đại nhân,” Công tử Ngang ngẩng đầu lên, nước mắt đầm đìa, “tại hạ đã khẩn cầu công chúa, nhưng nàng ấy... từ chối không gặp.”
“Than ôi!” Trương Nghi cố tình thở dài một tiếng. “Chuyện này cũng không thể trách công chúa. Lúc đầu, công chúa bị coi là món hàng mà gả cho Ngụy huynh, chứ không phải do công chúa tình nguyện. Hơn nữa, Ngụy huynh bại trận ở Hà Tây, công chúa lạc giữa loạn quân, suýt chút nữa thì uổng mạng, trong thời khắc quan trọng ấy, Ngụy huynh lại chẳng ta tay ứng cứu, công chúa đương nhiên cũng thấy oán hận trong lòng.”
“Đúng vậy!” Công tử Ngang gật đầu. “Tại hạ có lỗi với nàng ấy, thế nhưng hiện giờ...”
“Ngụy huynh đừng buồn. Thường có câu, xuất giá tòng phu, công chúa và Ngụy huynh đã nên nghĩa phu thê, công chúa không thể không thừa nhận. Liệt quốc thiên hạ đều biết công chúa là phu nhân của Ngụy huynh, Ngụy huynh lại ở bên cạnh công chúa, công chúa càng không thể không thừa nhận. Nhìn thái độ của công chúa hiện giờ, lại cho thấy công chúa vẫn nhớ đến Ngụy huynh, chỉ là vẫn còn sĩ diện mà thôi. Chỉ cần Ngụy huynh thành tâm với công chúa, thiết nghĩ công chúa sẽ...”
“Không giấu Trương huynh,” công tử Ngang trầm tư hồi lâu, rồi chuyển sang chuyện khác, “chuyện giữa tại hạ và Tử Vân, người khác dù sao cũng chỉ là suy đoán. Từ khi nàng ấy được gả cho tại hạ, chưa từng có một ngày vui vẻ. Tại hạ phong hoa tuyết nguyệt quen thói, bên cạnh chẳng thiếu đàn bà, lấy nàng ấy chẳng qua cũng chỉ là lấy vì danh phận. Tử Vân có thái độ đó, tại hạ không hề trách nàng. Tử Vân không yêu tại hạ, tại hạ cũng chẳng bận tâm.”
“Vậy...” Trương Nghi trong lòng giật thột. “Ngụy huynh đã không bận tâm đến điều này, vậy thì bận tâm đến điều gì?”
“Than ôi!” Công tử Ngang thở dài một tiếng. “Điều tại hạ bận tâm là đời này sống uổng sống hoài, chưa từng thoả nguyện, sống thật tủi nhục!”
“Ồ?” Trương Nghi kinh ngạc. “Dám hỏi Ngụy huynh, cớ sao lại nói là sống tủi nhục?”
“Tại hạ từ nhỏ đã đọc binh thư, sớm rèn võ nghệ, đời này sảng khoái nhất chính là chém giết nơi sa trường. Tuy nhiên, tại hạ xuất thân từ cung thất, được phụ vương nuông chiều, vậy nên kiêu căng tự phụ, đã vô dụng lại hám hư danh. Giao chiến với Tần, đánh mất Hà Tây; giao chiến với Tề, ba trận đều bại, tướng sĩ quay lưng, may mà gặp được Bàng tướng quân xoay làn sóng dữ, khiến tại hạ có chút tỉnh ngộ. Sau lại theo Tô Tần hợp tung, học được thêm nhiều kiến thức, quay đầu nhìn lại những ngày trước đây, tựa như đã cách một đời. Đáng tiếc, trời không thương người, khó khăn lắm mới có được cơ duyên sửa chữa sai lầm, vậy mà...” Công tử Ngang nói đến đây, lại nghẹn ngào rơi lệ.
Trương Nghi không thể ngờ được công tử Ngang lại có tâm sự này, nhìn sững vào hắn một lúc, rồi vòng tay nói: “Lần này Ngụy huynh đến, là muốn tại hạ làm việc gì?”
“Tại hạ chí tại chém giết chốn sa trường, mong đại nhân tác thành!”
Trương Nghi do dự một lát: “Mong cầu của Ngụy huynh, tại hạ e rằng có lòng mà không giúp được.”
“Trương huynh?” Công tử Ngang hốt hoảng.
“Tuy nhiên, tại hạ có một kế, may ra có thể giúp được Ngụy huynh!”
“Trương huynh mau nói!”
“Ngày mai tại hạ sẽ dẫn Ngụy huynh đến yết kiến đại vương, Ngụy huynh hãy bày tỏ nỗi nhớ thương của mình đối với công chúa trước mặt đại vương, khẩn cầu đại vương tác thành. Tại hạ sẽ lựa tình hình mà nói giúp. Nếu đại vương ra mặt, Ngụy huynh chắc chắn sẽ được như ý. Chỉ cần Ngụy huynh có được một danh phận trong triều, với sức của nước Tần, Ngụy huynh ắt sẽ có chỗ để thi triển tài lược, tung hoành liệt quốc, lưu danh sử xanh!”
“Đa tạ đại nhân tác thành!”
Ngày hôm sau, Trương Nghi y theo lời hẹn, dẫn công tử Ngang vào cung yết kiến.
Nghe nói công tử Ngang yết kiến, Tần vương ra tận ngoài điện nghênh đón, ngắm nghía hồi lâu, rồi khẽ gật đầu nói: “Nhìn gần, tướng quân quả nhiên là anh tuấn uy vũ. Nghe Trương ái khanh nói, tướng quân đã đổi tên thành Ngụy Chương, thật là việc tốt.”
“Ngụy Chương đa tạ đại vương định tên!” Công tử Ngang vòng tay nói.
Tần vương chỉ vào Trương Nghi: “Trương ái khanh có thể gọi là đại vương,” lại chỉ tay vào công tử Ngang, “nhưng khanh thì không được!”
“Ồ...” Công tử Ngang thoáng ngẩn người. “Ngụy Chương phải xưng hô thế nào cho đúng?”
“Hãy gọi là vương huynh!”
Vừa gặp mặt đã được thừa nhận, công tử Ngang cảm động vạn phần, hai mắt đỏ hoe, nghẹn ngào mấy tiếng, rồi hạ giọng gọi: “Vương huynh...”
“Em rể!” Tần vương xích lại gần thêm một bước, hai tay nắm chặt lấy tay công tử Ngang. “Doanh Tứ gần đây trăm việc rối bời, đã không chu đáo với em rể, hôm nay xin được tạ tội!” Rồi nắm tay công tử Ngang, đi vào chính điện.
Trương Nghi thở phào nhẹ nhõm, đi sát theo sau.
Vua tôi ba người vừa kịp ngồi xuống, công tử Hoa đã tiến vào, bẩm báo: “Vương huynh, lão thái hậu có chỉ, truyền tướng quốc Trương Nghi đến hậu cung bái kiến!”
Thình lình nghe thấy lão thái hậu có chỉ, Trương Nghi, Huệ Vương đều giật nảy mình.
Lão thái hậu tuổi đã quá bát tuần, đừng nói là việc ngoài cung, ngay cả việc trong cung, cũng đã sớm buông tay. Giờ đột nhiên lại truyền ý chỉ này, lại còn bỏ qua Tần vương, trực tiếp truyền tướng quốc Trương Nghi, thực sự là điều không thể ngờ tới.
“Tiểu Hoa!” Huệ Vương kinh ngạc mất một thoáng, rồi hỏi công tử Hoa. “Tướng quốc vừa đến, sao lão thái hậu đã biết?”
“Chuyện này...” Công tử Hoa liếc nhìn công tử Ngang, ấp úng, “thần đệ không biết. Lúc nãy thần đệ thay mặt gia phụ đến vấn an lão thái hậu, lão thái hậu tiện miệng truyền ý chỉ này, nên thần đệ...”
“Đại vương?” Dường như Trương Nghi đã đoán ra được nguyên do, bèn quay sang nhìn Huệ Vương, ánh mắt khẩn thiết.
“Đã là ý chỉ của lão thái hậu, ái khanh hãy cứ đi đi!” Huệ Vương trầm tư một lát, rồi quay sang nội tể. “Dẫn Trương ái khanh tới yết kiến lão thái hậu!”
Nội tể lĩnh chỉ, cùng Trương Nghi đi đến hậu cung.
Công tử Ngang thấy công tử Hoa có ý đề phòng mình, nên cũng đứng dậy cáo từ.
“Lão thái hậu triệu kiến Trương Nghi có việc gì?” Công tử Ngang vừa đi, Huệ Vương đã sốt ruột hỏi.
Công tử Hoa tiến lại gần, ghé sát tai Huệ Vương thì thầm mấy câu.
Huệ Vương há hốc miệng, trợn trừng hai mắt.
Trương Nghi đi theo nội tể đến gặp lão thái hậu, song nằm ngoài dự liệu của Trương Nghi, lão thái hậu không hề đả động đến hôn sự, thậm chí cũng chẳng nói gì nhiều, chỉ hỏi han dăm câu vô thưởng vô phạt, bàn về mấy chuyện hoa lá cỏ cây, sau đó liền xua tay bảo hắn đi.
Tiễn Trương Nghi đi rồi, lão thái hậu lập tức triệu kiến Tần vương, đồng thời gọi cả thái hậu, tức là phu nhân của Hiếu Công, mẹ đẻ của Huệ Vương đến, nói thẳng vào chuyện: “Tứ Nhi, mụ già này đã nhắm được một người, đang muốn kết đôi cho Tử Vân, hãy tác thành đi!”
“Tổ hậu ưng ý người nào vậy?” Huệ Vương khấu đầu dưới đất, giả bộ không biết.
“Chính là vị tướng quốc kia, tên gọi Trương Nghi!” Lão thái hậu cất giọng rành rọt.
Lão thái hậu mặc dù tuổi đã quá bát tuần, nhưng tai không điếc, mắt không hoa, răng miệng vẫn tốt, chỉ thiếu hai chiếc răng nanh, không ảnh hưởng nhiều đến lời nói.
Huệ Vương hít vào một hơi dài, đắn đo một lúc rồi khấu đầu nói: “Tổ hậu, tôn nhi có tấu.”
“Nói đi!”
“Việc tiểu muội gả chồng, liệt quốc đều biết, tiểu muội xét về danh phận vẫn là phu nhân của An Quốc Quân nước Ngụy, không những thế, An Quốc Quân hiện giờ đang ở...”
Hai chữ “Hàm Dương” còn chưa kịp nói ra, đã nghe “bịch bịch” hai tiếng, cây gậy của lão thái hậu đã đập thẳng xuống mông Huệ Vương. Lão thái hậu tay yếu, đánh đương nhiên không đau, song uy thế đó đã đủ khiến Huệ Vương không dám ho he thêm tiếng nào.
“An Quốc phu nhân cái gì?” Lão thái hậu lại giáng thêm mấy gậy nữa vào mông Huệ Vương. “Hãy nghe cho rõ, Tử Vân đã bị nghịch tặc Công Tôn Ưởng hãm hại! Hành quân đánh trận là việc của đàn ông, đàn ông không xung trận, mà lại khiến Tử Vân chịu nhục, đây gọi là thứ mưu lược gì? Tử Vân như một đoá hoa tươi, vậy mà lại bị quốc tặc cắm vào bãi phân trâu không thương tiếc, thật khiến mụ già này tức chết! Giờ mụ già này nói cho ngươi biết, Doanh Cừ Lương lú lẫn, nhưng ngươi không được phép lú lẫn! Nước Tần có lỗi với Tử Vân, tên bất tài đó không xứng với em gái ngươi...”
Lão thái hậu cứ thế mắng sa sả một hồi, rồi đẩy mạnh đầu gậy vào người Tần Huệ Vương: “Đi đi! Mụ già này không muốn nói nhiều. Mụ già này chỉ có một tâm nguyện, làm sớm thì được yên sớm. Nếu lại có gì sơ sảy, mụ già này chết không nhắm mắt!”
Thấy lão thái hậu lôi cả cái chết ra đe doạ, Huệ Vương đành phải liên miệng vâng dạ, lui ra cửa đi hỏi mẫu hậu, song mẫu hậu cũng lại tán thưởng Trương Nghi không ngớt lời. Rõ ràng, chuyện của Tử Vân đã được thái hậu, lão thái hậu định đoạt từ lâu.
Trở về tiền điện, lại suy nghĩ thêm một hồi, Huệ Vương phì cười một tiếng, cảm thấy chủ ý của lão thái hậu cũng không tồi, vậy mà mình lại không nghĩ ra. Việc này nếu thành, một là thoả nguyện cho em gái, hai là có thể khiến mẫu hậu và lão thái hậu vui lòng, ba là có thể thu phục lòng Trương Nghi, đúng là nhất cử tam tứ tiện. Để có được Trương Nghi, Huệ Vương đã phải đánh đổi bằng sự ra đi của hai bề tôi đắc lực là Công Tôn Diễn và Trần Chẩn. Nhưng cái nghĩa quân thần còn lâu mới vững chãi bằng tình máu mủ. Nếu Trương Nghi có thể trở thành em rể của mình, hẳn sẽ không sinh lòng khác, Trương Nghi có thể tận tình phò tá, còn Huệ Vương cũng có thể yên tâm sử dụng.
Hơn nữa, về phía Trương Nghi, hẳn cũng không có gì thiệt thòi, dù sao thì Tử Vân công chúa cũng tài mạo song toàn, nổi danh liệt quốc, xứng danh là kỳ nữ đương thời. Trương Nghi là một tài tử phong lưu, chắc hẳn sẽ không từ chối.
Trước mắt chỉ có hai vấn đề, một là làm thế nào để giải thích với người trong thiên hạ, hai là làm sao để an ủi công tử Ngang.
Vắt óc suy nghĩ suốt ba ngày trời, đến buổi tối ngày thứ tư, Huệ Vương bèn xa giá đến phủ Trần Chẩn, cũng chính là nơi ở của công tử Ngang.
“Thần đệ... không biết vương huynh giá đáo, đã đón tiếp chậm trễ!” Công tử Ngang được sủng ái đâm ra hoảng sợ, khấu đầu giữa sân mà nói.
“Ngụy Chương tướng quân xin hãy bình thân!” Huệ Vương đưa tay đỡ công tử Ngang dậy, dắt tay vào phòng khách, phân ngôi quân thần ngồi xuống.
“Vương huynh có chuyện gì, cứ hạ chỉ cho Ngụy Chương vào cung là được, cớ sao lại phải nhọc đến đại giá, bảo Ngụy Chương sao có thể kham nổi!” Công tử Ngang lại vòng tay tạ ân.
“Ngụy Chương tướng quân!” Huệ Vương hai mắt nhìn thẳng vào công tử Ngang. “Hai chữ ‘vương huynh’, e rằng về sau không thể gọi được nữa!”
Công tử Ngang nghe mà sững sờ.
“Lần này Doanh Tứ đến đây, chính là để hiểu dụ cho tướng quân về việc này.” Huệ Vương chậm rãi nói. “Không phải Doanh Tứ không muốn thừa nhận Ngụy huynh, mà là...” ngập ngừng một thoáng, “mà là trong lòng tiểu muội đã tổn thương sâu sắc. Tướng quân cũng biết, Tần, Ngụy kết oán quá lâu, tiểu muội từ nhỏ đã quen với chuyện báo thù rửa hận, không ngờ tuổi mới cập kê, đã bị ép gả cho nước thù, thực sự khó lòng chấp nhận. Cho dù tướng quân mọi bề xuất sắc, nhưng lại là công tử của nước Ngụy, tiểu muội thà chết cũng không chịu theo, chỉ là không thể cãi lại tiên công và Công Tôn Ưởng, nên đành phải chịu nhịn vì đất nước. Những chuyện về sau... tướng quân đã biết cả rồi. Sau trận chiến Hà Tây, tiểu muội may mắn thoát được, nhưng vẫn lẻ bóng một mình, bởi về danh phận, tiểu muội vẫn là phu nhân của tướng quân. Lần này tướng quân về Tần, Doanh Tứ rất đỗi vui mừng, vì quả thực Doanh Tứ không muốn nhìn em gái mình phải sống cô quả trong cung Tần, có ý muốn hàn gắn cho tướng quân và tiểu muội, không ngờ việc không như ý, tiểu muội thà chết không nghe. Không những thế, tiểu muội còn thuyết phục mẫu hậu và lão thái hậu, lão thái hậu đã hạ chỉ chấm dứt hôn ước với tướng quân, nên Doanh Tứ... Than ôi, lão thái hậu tuổi đã xấp xỉ cửu tuần, Doanh Tứ không dám không nghe.”
Công tử Ngang lúc này cũng đã định thần trở lại, sắc mặt ủ rũ, hồi lâu sau bèn đổi cách xưng hô, vòng tay mà nói: “Ngụy Chương đa tạ đại vương hậu ái. Xin đại vương hãy đợi cho một lát!” Rồi đi sang bên cạnh, tìm bút mực, viết liến thoắng một hồi lên thẻ tre, sau đó hai tay dâng lên. “Đại vương, đây là hưu thư của công tử Ngang trước đây. Công tử Ngang sớm đã chết trận bên bờ Lạc Thủy, Tử Vân công chúa từ lâu đã là người tự do, đại vương có thể chiếu cáo cho thiên hạ biết!”
Huệ Vương nhận lấy hưu thư, vòng tay cảm tạ: “Doanh Tứ thay mặt Tử Vân đa tạ ân đức của tướng quân! Tướng quân có nguyện vọng gì, Doanh Tứ xin dốc tận tâm lực!”
“Đa tạ đại vương hậu ái!” Công tử Ngang cười gượng một tiếng. “Ngụy Chương đã chết một lần, từ lâu đã chẳng còn mong cầu gì nữa, chỉ muốn đi khỏi Hàm Dương, nguyện làm lính bộ chạy trước đầu ngựa, tử chiến sa trường!”
“Tài năng của tướng quân, Doanh Tứ đã nhìn thấy rõ. Tướng quân muốn chinh phạt nơi đâu, có thể nói cho Doanh Tứ biết chăng?”
“Chỉ cần không phải nước Ngụy, Ngụy Chương sẵn sàng nghe theo chỉ lệnh của đại vương!”
“Được!” Huệ Vương trịnh trọng gật đầu. “Doanh Tứ nhận lời tướng quân. Nhìn vào tình thế hiện nay, không lâu nữa nước Tần sẽ có một trường ác chiến. Tướng quân chỉ cần ở yên trong phủ chờ đợi là được!” Rồi gật đầu với nội tể.
Nội tể đi ra ngoài cửa, một lát sau, dẫn vào năm thiếu nữ xinh đẹp, xếp thành một hàng khấu đầu trong sảnh.
“Ngụy tướng quân!” Huệ Vương chỉ vào năm mỹ nữ. “Năm mỹ nữ này đều giỏi ca khéo múa, tinh thông lục nghệ, do Doanh Tứ đích thân đến nhạc phường lựa chọn. Nàng đứng đầu là hoa khôi của nhạc phường, một khúc hát làm khuynh đảo cả thành Hàm Dương, đến Doanh Tứ cũng phải si mê. Giờ Doanh Tứ xin tặng toàn bộ cho tướng quân, mong tướng quân không chê!”
Công tử Ngang mặt mũi đỏ bừng: “Đại vương, thế này...”
Huệ Vương xua tay ra hiệu cho mỹ nữ lui ra, rồi quay sang cười lớn với công tử Ngang. “Anh hùng sánh với mỹ nhân, xưa nay đều vậy. Đại trượng phu có thể chết nơi sa trường, song không thể không có mỹ nhân bên cạnh, huống hồ tướng quân cũng chẳng phải con mèo ăn chay!” Lại cười mấy tiếng, hạ thấp giọng, chỉ vào mình. “Không giấu tướng quân, về mặt này, Doanh Tứ cũng không hề chịu lép tướng quân. Ba ngày không gặp mỹ nhân, trong lòng liền bứt rứt khó chịu như bị mèo cào, đêm nằm trằn trọc không yên, ăn uống cũng không thấy ngon miệng!”
Chỉ một câu này, khoảng cách giữa quân thần như đã được xích lại gần.
“Ngụy Chương...” Công tử Ngang nghẹn ngào, quỳ xuống khấu đầu, “đa tạ đại vương ban ân!”
“Còn nữa!” Tần Huệ Vương vẫn chưa tận hứng. “Có mỹ nhân, sẽ phải chi tiêu nhiều hơn. Quả nhân ban tặng cho ái khanh một trăm lượng vàng, năm mươi súc lụa, năm người tạp dịch, mong tướng quân hãy tiêu khiển thoải mái!”
Công tử Ngang lại khấu đầu: “Đa tạ đại vương ban ân!”
Sau khi lấy được hưu thư của công tử Ngang, Huệ Vương lập tức bắt tay vào bước thứ hai, nhờ Sư Lý Tật làm mối, tác thành cho hỷ sự của em gái. Tuy nhiên, trời có mưa nắng thất thường, Sư Lý Tật chưa kịp mở miệng, đất Ba, Thục đã khói lửa tứ bề, sứ thần gấp gáp phi ngựa theo con đường Thục vừa mới khai thông đến thành Hàm Dương, trong ngoài triều đường không ai còn ngồi yên được nữa.
Người nhấp nhổm bất an nhất là Trương Nghi, ba ngày liền không ở trong phủ. Đến sáng sớm ngày thứ tư, Trương Nghi từ bên ngoài “vội vàng hồi phủ”, thấy Thông Quốc và một gã trẻ tuổi thấp lùn, da đen bóng đang ngồi đợi trong sảnh. Trương Nghi đã hiểu rõ sự tình, cố tình không ngó ngàng đến kẻ kia, chỉ vòng tay nói với Thông Quốc: “Ái chà, đây chẳng phải Thông Quốc điện hạ hay sao? Điện hạ giá lâm, tại hạ không thể ra xa nghênh đón, lại còn... lại còn khiến điện hạ phải đợi lâu, hổ thẹn, hổ thẹn!”
“Tướng quốc đại nhân!” Thông Quốc vòng tay đáp lễ, nói. “Tại hạ và Ba tử đã đợi trong phủ suốt ba ngày rồi!”
“Ba tử?” Lúc này Trương Nghi mới nhìn sang người kia, ánh mắt dò xét.
Người kia vòng tay nói: “Tại hạ Tử Sưu xin chào tướng quốc đại nhân!”
“Tử Sưu?” Dường như Trương Nghi đã nhớ ra hắn là ai, bèn vòng tay cười lớn mà nói. “Đúng rồi, đúng rồi! Ngưỡng mộ đã lâu, ngưỡng mộ đã lâu! Từ lâu tại hạ đã được nghe Thông Quốc điện hạ kể về một Ba tử tên gọi Tử Sưu, khen rằng văn võ toàn tài, ở đất Ba không ai sánh kịp, xứng đáng là Ba tử trong Ba tử. Hôm nay được gặp, quả nhiên phong lưu khoáng đạt, thực vinh hạnh, vinh hạnh!”
Ba tử tức con của Ba Vương. Ba Vương có vô số vợ, Ba tử rất nhiều, nhưng cũng giống như liệt quốc Trung Nguyên, vợ của Ba Vương cũng phân thành chính thất trắc thất. Con do chính thất sinh ra, tức là Ba tử chính tông, có địa vị độc tôn trong các Ba tử. Chính thất của Ba Vương sinh được cả thảy ba nam ba nữ, con trưởng trấn thủ Bồi Lăng, con thứ trấn thủ Giang Châu, Tử Sưu là con thứ ba, cùng với em gái ruột là Bồi Di bảo vệ Ba Vương, trấn thủ đô thành Lang Trung. Kẻ địch lớn nhất của người Ba là người Sở, Bồi Lăng là tuyến đầu tiên, Giang Châu là tuyến thứ hai, Lang Trung chính là hậu phương lớn của nước Ba. Ba Vương sắp xếp như vậy, đủ thấy được mức độ sủng ái dành cho Tử Sưu, bởi vậy Trương Nghi không phải khen bừa.
Tử Sưu cười thẹn, vòng tay nói: “Đa tạ lời vàng của đại nhân!”
“Hai vị, mời!” Trương Nghi chỉ xuống chiếu, chìa tay mời xong liền ngồi vào vị trí chủ.
Hai người cũng ngồi xuống.
Trương Nghi cười mấy tiếng, chỉ vào những vết lem nhem trên y phục. “Mặc dù nói hai vị đã đợi lâu, nhưng đợi cũng xứng đáng. Không giấu hai vị, bản tướng mấy hôm nay bận bịu luôn tay chính là vì hai vị.”
Hai người đều ngạc nhiên, Thông Quốc hỏi: “Bận vì chúng tôi?”
“Đúng thế!” Trương Nghi lắc đầu, mặt nhăn nhó. “Lũ trâu thần có chuyện rồi! Nói ra thật nực cười, một con trong số đó, chính là con trâu đực đã chọn lúc đầu, sống chết cũng không chịu nghe lời, mấy ngày trước đã bỏ đi mất tích. Mục đồng tìm kiếm khắp nơi không thấy, vô cùng sợ hãi, liền qua nhiều cấp trình báo lên trên, cuối cùng mới báo đến chỗ tại hạ đây. Tại hạ vừa nghe, thật là tức chết! Không có trâu đực, trâu cái sao có thể vãi ra vàng? Nghe nói Ba tử lần này đến đây, cũng là để nhận trâu, bản tướng trong lòng cuống quýt, bèn hộc tốc lên núi, tất bật đến tận vừa rồi, mệt đến bã người.”
Thông Quốc, Tử Sưu đều bàng hoàng kinh hãi.
“Đại nhân!” Thông Quốc định thần lại, vội vàng hỏi. “Đã tìm được trâu thần chưa?”
“Ha ha ha!” Trương Nghi cười lớn mấy tiếng. “Không tìm được trâu thần, bản tướng đâu dám hồi phủ!”
“Tìm thấy ở đâu?” Thông Quốc hiếu kỳ hỏi.
“Hừm, con trâu này nổi máu hoang dã, chạy một mạch đến một khe núi không rõ tên ở tận sâu trong núi lớn, chui tọt vào hốc cây. May mà hốc cây không đủ lớn, mông của nó đã chui vào được, nhưng đuôi lại thò ra ngoài, vừa may một binh sĩ nhìn thấy. Nếu không, đến giờ chắc vẫn chưa tìm được nó.”
“Ồ!” Tử Sưu há hốc miệng. “Trâu đá cũng biết đi ư?”
“Ồ!” Trương Nghi liếc xéo Tử Sưu. “Không biết đi, sao có thể gọi là trâu thần được?”
“Nếu đúng là vậy,” Thông Quốc mừng rỡ, “chúng tôi không cần phải phí sức vận chuyển nữa, chỉ cần lùa về nhà là được!”
“Được thì có được,” Trương Nghi cố nặn ra một nụ cười, “chỉ có một điều không ổn, lũ trâu thần đều do tinh khí của nhật nguyệt ở núi Chung Nam nuôi dưỡng, do các lộ sơn thần ở núi Chung Nam cai quản, để bọn chúng nô đùa ở núi này, đương nhiên sẽ thấy vui vẻ. Nhưng đại vương lại hạ lệnh cho chúng đến Ba, Thục, chúng liền không vui nữa. Không vui nhưng lại không thể kháng chỉ, chúng liền hậm hực kháng cự, bởi vậy các vị phải dùng dây thừng trói buộc, dùng sức để kéo đi, ngày đêm còn phải canh chừng cẩn thận, không nghe lời thì dùng roi quất. Nếu không, bọn chúng một bước cũng không chịu nhúc nhích!”
“Vậy...” Thông Quốc hỏi, “tại sao trâu cái không chạy, chỉ có trâu đực chạy?”
“Than ôi!” Trương Nghi khẽ thở dài. “Nhắc đến chuyện này, quả là có điều khó nói!” Đoạn hạ thấp giọng. “Không giấu hai vị, trong núi này của chúng tôi, thông thường một con trâu đực được phối với hai con trâu cái, nhiều nhất là phối với ba con, nhưng các vị lại muốn bốn con trâu cái, khiến nó có phần kiệt sức.”
“Ồ?” Tử Sưu thoáng ngạc nhiên. “Theo lý mà nói, trâu cái nhiều, trâu đực phải vui mới đúng chứ? Ở nước Ba chúng tôi, Ba tử nào cũng vậy, càng nhiều đàn bà thì càng thích, mỗi người chí ít cũng phải đến mấy chục!”
“Điện hạ thật phi thường!” Trương Nghi tấm tắc khen ngợi. “Có điều, Ba tử là Ba tử, trâu thần là trâu thần. Tinh của trâu cái được tích tụ từ hoa của mặt trăng, tinh của trâu đực được tích tụ từ hoa của mặt trời, tinh hoa nhật nguyệt tương hợp mới có thể sinh ra vàng được. Mặt trăng có tròn khuyết, mặt trời có nắng râm. Núi Chung Nam thủy khí vượng, nếu gặp phải mưa dầm nhiều ngày, nhật hoa tất sẽ không theo kịp, trâu đực sẽ phải hao tổn nguyên tinh. Nguyên tinh tổn hao quá nhiều, trâu đực sẽ bị thận hư. Thận là cội nguồn của năng lượng, nếu thận quá hư, sức trâu đực sẽ không kham nổi. Hơn nữa, trong núi Chung Nam của chúng tôi đây, trâu đực không nhiều, rất quý hiếm, ngay cả sơn thần cũng sủng ái chúng, không nỡ trách phạt chúng, vì vậy con trâu đực này mới dám ngông cuồng. Trâu cái số lượng nhiều, không được quý trọng, không nghe lời liền bị ăn roi, không có gan bỏ trốn!”
Trương Nghi bịa tạc tràng giang đại hải, nhưng hai vị điện hạ nghe lại cảm thấy hợp tình hợp lý, tin tưởng không chút nghi ngờ.
“Hai vị điện hạ!” Trương Nghi nở một cười, dáng vẻ ung dung, vòng tay nói. “Con trâu đực mà đại vương tặng cho hai vị đã tìm được về rồi, bản tướng đã tấu lên sơn thần ở núi Chung Nam, cầu thần linh nghiêm khắc quản thúc, thiết nghĩ chắc hẳn sẽ không dám làm loạn nữa. Chỉ có điều đêm dài lắm mộng, bản tướng mong hai vị sớm ngày vận chuyển về.”
Lúc này Tử Sưu cũng đã trấn tĩnh lại, bèn khẽ chau mày, vòng tay đáp lễ: “Đại nhân có điều không biết, lần này Tử Sưu đến, không phải là để vận chuyển trâu.”
“Ồ?” Trương Nghi giả bộ kinh ngạc. “Không phải để vận chuyển trâu, vậy là vì việc gì?”
Tử Sưu nhìn Thông Quốc, Thông Quốc bèn kể lại một lượt tình thế Ba, Thục, rồi khóc mà nói: “Tướng quốc đại nhân, Khai Minh Vương phát động ngũ đinh cả nước, chinh phạt đất Thư của tại hạ, đã đánh chiếm một số quan ải, áp sát đến kinh đô đất Thư là Thổ Phí rồi. Người Sở chia quân làm hai lộ, giáp công Bồi Lăng là vùng trọng yếu tại Giang Thủy của nước Ba, Bồi Lăng đã sắp thất thủ. Nếu Bồi Lăng thất thủ, Giang Châu tất không giữ được. Giang Châu không giữ được, Lang Trung sẽ nguy mất... Đại nhân, hiện giờ quân tình nguy cấp, việc trâu thần xin hãy tạm thời gác lại, quân phụ khẩn cầu quý quốc hãy phát đại binh cứu viện, cầu mong đại nhân giúp đỡ!”
“Ồ?” Trương Nghi giả bộ kinh ngạc, trầm tư hồi lâu, rồi khẽ chau mày, lắc đầu nói. “Không phải bản tướng quở trách, mà điện hạ cũng thực quá đáng. Mấy năm trước, điện hạ vừa thấy trâu thần liền mở miệng muốn xin. Đại vương đồng ý cho trâu thần, nhưng các vị lại gác lại, đổi thành mượn binh. Không lâu trước đây, sáu nước hợp binh đánh đến cửa nhà chúng tôi, chúng tôi vừa mới dốc kiệt sức lực đánh đuổi được sáu nước, ba quân còn chưa kịp chỉnh đốn, giờ điện hạ lại... Nói đoạn, liên tục lắc đầu.”
Việc sáu nước hợp binh đánh Tần, rồi bị Tần đánh lui, thiên hạ đều biết, Thư Hầu, Ba Vương tự cũng đã hiểu. Trương Nghi nhắc tới chuyện này, chẳng khác nào tự khoe khoang. Song Thông Quốc lại không hiểu ý, chỉ cho rằng Trương Nghi thoái thác, liền quỳ phịch luôn xuống đất.
Tử Sưu thấy Thông Quốc quỳ xuống, cũng vội vàng quỳ theo, hai vị điện hạ cùng khấu đầu bình bịch.
“Không được, không được, điện hạ không được đâu!” Trương Nghi chậm rãi đứng dậy, đỡ hai người đứng lên, thở dài sườn sượt. “Than ôi, hai vị điện hạ tha thiết như vậy, thực là làm khó bản tướng. Không giấu hai vị, bản tướng chỉ là tướng quốc, việc xuất binh chinh chiến không thể chủ trương!” Rồi mỗi tay đỡ lấy một người. “Đi thôi, việc bản tướng có thể làm, chỉ là đưa hai vị điện hạ đến yết kiến đại vương, cầu xin đại vương ân chuẩn, không biết chừng lại có thể mượn được dăm trăm một nghìn cường binh tinh nhuệ cũng nên!”
“Dăm trăm một nghìn?” Thông Quốc hốt hoảng, vội dừng bước. “Tướng quốc đại nhân, một chút quân này sao có thể đánh trận? Quân Sở chưa cần nói đến, chỉ tính riêng quân Thục đã có hơn mười vạn, chuyện này, chuyện này...”
“Ồ?” Trương Nghi nhìn thẳng vào Thông Quốc, hỏi. “Điện hạ muốn mượn bao nhiêu? Lẽ nào là trên một vạn?”
“Trên một vạn cũng không đủ!”
“Nếu là trên một vạn,” Trương Nghi im lặng một lát, rồi quay về chiếu, ngồi phịch luôn xuống, “bản tướng phải tính toán lại mới được!” Rồi bấm ngón tay nhẩm tính, vừa tính vừa lẩm bẩm. “Cho mượn binh mã là để đánh trận, đánh trận thì phải có người chết, binh sĩ Tần chỉ chết để bảo vệ nước Tần, bắt họ đi đánh trận, đi bán mạng cho người ngoài không quen không biết, chuyện này... chuyện này phải định liệu thế nào đây?”
“Tướng quốc đại nhân không cần tính nữa!” Thông Quốc sốt ruột không thể ngồi yên. “Quân phụ đã hứa, chỉ cần quý quốc trợ giúp chúng tôi đẩy lui được Khai Minh Vương, quân phụ sẽ tặng cho toàn bộ Hán Trung!”
“Ồ?” Trương Nghi giả bộ vui mừng. “Câu này nghe cũng hay đấy!” Rồi nhìn thẳng vào Thông Quốc. “Tuy nhiên, binh sĩ của chúng tôi một khi đã ra sa trường thì khó nói lắm. Nghe nói Khai Minh Vương là huynh trưởng ruột thịt của quân phụ điện hạ, chẳng may làm tổn thương đến ông ta, biết phải thế nào đây?”
“Làm tổn thương đến ông ta?” Thông Quốc căm hận nghiến răng kèn kẹt. “Tên hôn vương đoạt vị này, tốt nhất các vị hãy giết chết hắn đi! Nhớ năm xưa, tiên vương, mẫu hậu vốn muốn truyền ngôi vị cho quân phụ Hà Manh, không ngờ bị hắn đoạt mất ngôi báu, đẩy quân phụ đến Thổ Phí, phong làm Thư Hầu. Quân phụ và tại hạ có nằm mơ cũng muốn trở lại Thành Đô, đó mới là quê hương của chúng tôi!”
Trương Nghi thở hắt ra một hơi, cười nói. “Nghe được lời này của điện hạ, bản tướng đã có tính toán trong lòng. Nếu bản tướng giúp cha con các vị đoạt lại quê hương, điện hạ có thể tặng thứ gì đây?”
“Đại nhân muốn thứ gì?”
“Đất Thư!”
Thông Quốc nghiến răng một chốc rồi siết chặt tay quyền: “Chỉ cần chiếm lại được đất Thục, tại hạ nhất định sẽ thuyết phục quân phụ, mang tặng đất Thư.”
“Chuyện này coi như xong!” Trương Nghi cười lớn, rồi quay sang nhìn Tử Sưu. “Còn Ba tử? Lần này đến có gì mong cầu?”
“Khẩn cầu quý quốc giúp chúng tôi đẩy lui người Sở!” Tử Sưu cất giọng rành rọt.
“Người Sở không thiện chiến, đánh bại họ không có gì khó. Có điều, phụ vương của các vị cũng không thể để chúng tôi giúp không công đấy chứ?”
“Đại nhân muốn điều gì?”
“Nghe nói nước Ba có muối tuyệt hảo, người thành Hàm Dương ai ai cũng thích.”
Đất Ba quý nhất chính là suối muối, nên lời này của Trương Nghi, Tử Sưu đã đoán được từ trước, bèn vòng tay nói: “Phụ vương có hứa, nếu quý quốc trợ giúp đẩy lui được người Sở, nước Ba nguyện tặng cho một suối muối.”
“Suối muối?” Trương Nghi giả bộ không biết, lắc đầu quầy quậy. “Ta chỉ muốn có muối, cần suối để làm gì?”
“Vậy...” Tử Sưu khựng lại, “đại nhân muốn thứ gì?”
“Chính là muối!”
“Bao nhiêu?” Tử Sưu trong lòng hồi hộp.
“Đủ ăn là được!”
Đủ ăn không phải là con số xác định, nghe qua thì không nhiều, nhưng kỳ thực lại là cái hang không đáy. Tử Sưu hiểu rõ ý này, đôi mày chau tít hồi lâu, rồi ngẩng lên nói: “Nhiều cũng được, ít cũng được, dù sao đại nhân cũng phải có con số cụ thể!”
Trương Nghi gọi Tiểu Thuận vào, hỏi: “Thuận Nhi, thử tính xem, thành Hàm Dương mỗi năm ăn hết bao nhiêu muối?”
Tiểu Thuận bấm đầu ngón tay tính toán một hồi: “Khởi bẩm chúa công, ít cũng phải dăm ba chục gánh.”
“Chỉ thế thôi ư?” Trương Nghi chau mày, rõ ràng chê Tiểu Thuận tính ít.
“Chúa công có điều không biết,” Tiểu Thuận xích lại gần một bước, “muối của nước Ba không phải thóc gạo, chỉ một chút xíu đã đủ cho một nhà ăn cả ngày. Thành Hàm Dương tổng cộng chỉ có mười mấy vạn người, bốn năm vạn hộ, không dùng hết là bao.”
“Biết rồi!” Trương Nghi xua tay đuổi Tiểu Thuận lui xuống, rồi quay sang Tử Sưu. “Mỗi năm năm mươi gánh, được chăng?”
“Được, được, được!” Tử Sưu thấy Trương Nghi trầy trật mãi mới tính ra được một chút xíu này, thấy mình đã hời lớn, bèn vội đáp liên miệng, vỗ ngực đảm bảo. “Năm mươi gánh, xin cứ giao hết cho Tử Sưu đây!”
“Đa tạ Ba tử!” Trương Nghi mỉm cười với hắn, biểu thị đã đồng ý, rồi đứng dậy chỉnh trang y phục, vòng tay với hai người. “Hai vị điện hạ hãy ở đây đợi một lát, giờ bản tướng sẽ vào cung, thỉnh cầu đại vương xuất binh.”
Theo lời của sứ thần nước Thư, quân Thục đã công phá được một số quan ải, tiến sát đến kinh đô đất Thư là Thổ Phí. Nếu như không ngoài dự liệu, lúc này Thổ Phí đã bị quân Thục vây đánh ráo riết. Nếu chẳng may Thổ Phí thất thủ, đường Thục bị quân Thục khống chế, thì tâm huyết mấy năm coi như đã đi tong.
Quân tình khẩn cấp, không thể trì hoãn thêm được nữa. Tần vương ngay trong buổi triều đã lập tức ban chiếu, phong Trương Nghi làm chủ tướng, Tư Mã Thác làm phó tướng, Ngụy Chương làm tiên phong, Cam Mậu trấn thủ Hán Trung tiếp tế lương thảo, khởi năm vạn binh tinh nhuệ, tiến thẳng tới đất Thư.
Vì là chinh phạt vùng đất man di, nên đây sẽ là cuộc chiến sinh tử, Hương Nữ không thể yên tâm, nhất quyết đòi tòng quân. Theo luật Tần, xuất binh chinh phạt, nếu không có đặc chỉ của quân chủ, tướng sĩ trong quân không được tuỳ tiện mang theo gia quyến. Trương Nghi mang quân luật ra để ngăn cản Hương Nữ, nhưng nàng không nói một lời, lập tức rửa sạch son phấn, cởi bỏ nữ trang, dính một nhúm râu lên cằm, buộc tóc mặc giáp, loáng cái đã anh tuấn ngời ngời đứng trước mặt Trương Nghi. Một là không thể ngăn cản được nàng, hai là nghĩ tới lần này chinh phạt đất man di, Hương Nữ không chừng có thể trợ giúp, nên Trương Nghi đành lắc đầu cười gượng một tiếng, thuận theo ý nàng, sắp xếp cho làm thị vệ bên cạnh. Người trong ba quân biết được việc này, chỉ có một mình Tư Mã Thác.
Tần dùng tướng quốc làm chủ tướng, dùng quốc uý làm phó tướng, phát động binh tốt tinh nhuệ ứng cứu, thái tử Thông Quốc, Ba tử Tử Sưu đều vô cùng cảm kích, phấn chấn dẫn theo thuộc hạ đi trước dò đường.
Mặc dù đã có mưu lược từ trước, nhưng dù sao đây cũng là lần dẫn quân đầu tiên kể từ sau khi xuống núi, Trương Nghi không dám tuỳ tiện, một mặt bám sát phía sau, một mặt tính toán kỹ lưỡng các kế sách tấn công Ba, Thục.
Tư Mã Thác đã sớm tuyển lựa xong đội quân tinh nhuệ phạt Thục, dời doanh trại đến vùng núi gần Hán Trung. Đám Trương Nghi đến Hán Trung, huy động ba quân tiến vào đường Thục. Đường Thục mặc dù mới được làm xong, nhưng vẫn còn rất nhiều chỗ khó đi. Binh tốt tinh nhuệ của nước Tần đông đến năm vạn không thể thi triển được ưu thế trên đường Thục, trước sau kéo dài gần trăm dặm, từ xa nhìn vào chẳng khác nào một con rắn lớn uốn lượn trên con đường sạn đạo lưng chừng núi. Lương thảo, thầy thuốc và đội ngũ vận chuyển phía sau không dưới ba vạn, cộng thêm quân nhu lừa ngựa, gần như đã lấp đầy con đường Thục dẫn tới Hán Trung.
Vừa bước lên đường Thục, con rắn dài này đã chẳng còn đường lui, chỉ còn cách một mạch tiến lên phía trước, thẳng tới đất Xuyên.
Đầu rắn là ba nghìn quân tinh nhuệ dưới cờ của mãnh tướng đô uý Mặc, được biên vào tả quân, do tướng quân tiên phong Ngụy Chương thống lĩnh. Theo sát phía sau tám nghìn quân tinh nhuệ là ba vạn trung quân, Trương Nghi, Tư Mã Thác đều đi phía trước đội ngũ trung quân. Tướng quân Trần Trang dẫn một vạn hai nghìn hữu quân yểm trợ phía sau.
May mắn là mấy hôm nay trời đẹp, đại quân ngày đi đêm nghỉ, suốt dọc đường hành quân suôn sẻ.
Quân tiên phong thuận lợi đi qua Thiên Môn, coi như đã tiến vào được trong lòng đất Thư.
Đám Trương Nghi trèo lên trên đỉnh Thiên Môn, phóng mắt nhìn dòng Tiềm Thủy mênh mông chảy xiết, lượn vòng như dải đai ngọc quanh co giữa các đỉnh núi chạy xuống phía nam, cuối cùng cũng đã được thở phào nhẹ nhõm.
Từ Thiên Môn đi tiếp, đường Thục uốn lượn dọc theo bờ đông Tiềm Thủy hướng về phía nam, đến tận kinh đô đất Thư là Thổ Phí. Đoạn đường Thục này, một bên là sông, một bên là núi, sông và núi lúc tách lúc hợp, đi một bước cảnh trí đã đổi khác, vẻ hùng vĩ tráng lệ của núi sông trải ra ngút ngàn trước mắt, khiến người Tần ai nấy đều nhìn mà choáng ngợp.
Dọc Tiềm Thủy xuống phía nam, tiếp tục đi hơn trăm dặm nữa là đến thành Thổ Phí.
Ngụy Chương tinh thần phấn chấn, dẫn theo thuộc hạ nhanh chóng tiến lên phía trước, đột nhiên thấy một đoàn người Thư chạy xộc đến trước mặt. Đám người Thư phần lớn mình đầy thương tích, trong đó có một người đã không thể bước đi, được hai thanh niên dìu hai bên.
Người được dìu không phải ai khác, mà chính là Thông Quốc, hai chân đều bị tên bắn trúng, một chân trúng thương trên bắp, chân kia trúng thương ở mắt cá, trong đó mũi tên cắm trên bắp chân đã xuyên thấu tận xương, mặc dù tên đã được rút ra, nhưng thương thế vẫn vô cùng nghiêm trọng.
Nhìn thấy quân Tần, Thông Quốc nước mắt đầm đìa, báo với Ngụy Chương về quân tình hoả tốc ở tiền phương: Khai Minh Vương Lư Tử dẫn theo ngũ đinh mười vạn, trải qua nhiều ngày huyết chiến, đã công phá được cung thành Thổ Phí của nước Thư, hoàn toàn khống chế hai nguồn nước. Thư Hầu Hà Manh chỉ dẫn theo hơn một nghìn người rút lui ra ngoài thành Thổ Phí, dựa vào nơi hiểm yếu tử thủ hai ngày, Thư Hầu đã bị thương, tính mạng nguy ngập, không còn cách nào khác, mấy ngày trước đã đi bè dọc Tiềm Thủy xuống phía nam, chạy đến kinh đô nước Ba là Lang Trung. Một đám đông người Thục đã vượt qua Tiềm Thủy, đang tiến về đất này, vừa hay đụng đầu với họ. Đám Thông Quốc ít không địch được nhiều, chạy trước một bước để quay về bẩm báo quân tình, những người Thư khác được Tử Sưu thống lĩnh, bố trí mai phục dọc đường, chặn từng bước một.
Ngụy Chương nghe mà giật mình. Thổ Phí đã mất, nếu quân Thục hoàn toàn khống chế được bờ đông Tiềm Thủy, xây dựng thành luỹ ở nơi khe hẹp, bày sẵn đá lăn, tiến có thể công, lui có thể thủ, người Tần sẽ bị kẹt cứng ở khe núi hẹp tại thượng lưu Tiềm Thủy, chẳng khác nào trâu rơi xuống giếng, có sức mà không thể dùng.
Quân tình khẩn cấp, Ngụy Chương không kịp nghĩ nhiều, bèn để tham tướng ở lại với thái tử Thông Quốc chờ đợi Trương Nghi, rồi cùng đô uý Mặc dẫn tám nghìn quân tinh nhuệ di chuyển như vũ bão về phía người Thục.
Chẳng mấy chốc, phía trước đã văng vẳng vọng lại tiếng chém giết. Ngụy Chương rút bảo kiếm ra, quay về phía quân sĩ vung kiếm hét lớn: “Các tướng sĩ, kiến công lập nghiệp, làm rạng danh đất nước, xông lên!” Rồi dẫn đầu lao thẳng lên phía trước.
Người Tần ai nấy hùng dũng phấn chấn, bám sát theo sau, xông thẳng về phía đang rộ lên tiếng sát phạt.
Chắn ngay trước mặt người Tần là con trai của lão tướng quốc Bách Quán, chiến tướng số một của nước Thục, Bách Thanh.
Sau khi khống chế được hai nguồn nước, Bách Thanh phụng lệnh lão tướng quốc, dẫn năm nghìn quân sĩ vượt qua Tiềm Thủy, dọc đường truy sát người Thư tháo chạy, men theo con đường núi ở bờ đông tiến thẳng lên phía bắc, muốn đoạt luôn Thiên Môn, xây dựng thành luỹ ở Thiên Môn, chặn cứng người Tần trên con đường sạn đạo dài dằng dặc thông đến Bao Hán. Không ngờ chưa đi được bao xa, họ đã đụng đầu thái tử Thông Quốc và Ba tử Tử Sưu vừa mới từ Tần trở về tại một đoạn đường hẹp. Hai bên giao chiến kịch liệt, Thông Quốc bị thương. Tử Sưu để Thông Quốc quay lại cấp báo quân tình, còn mình dẫn theo thuộc hạ, dựa vào thế núi hiểm trở, từng bước chặn địch.
Vào lúc Tử Sưu đã không thể trụ thêm được nữa, thì Ngụy Chương dẫn quân đánh thốc tới.
Quân sĩ hai bên bày thế trận trên một vùng đất rộng rãi hơn chút ít. Nơi này nam rộng bắc hẹp, nhìn từ xa trông giống như một cái đai, một bên là vách núi cao, một bên là Tiềm Thủy cuồn cuộn, chỗ rộng nhất ở phía nam khoảng chừng ba mươi trượng đổ lại, chỗ hẹp nhất ở phía bắc chừng hơn hai trượng.
Người Thục đã nhanh chân chiếm được chỗ rộng nhất, gần nghìn người dàn trận dày đặc, người cầm đao kiếm, kẻ vung giáo mác, kẻ giương cung tên, ai nấy đều trần vai lộ ngực, sát khí đằng đằng, nhưng trận hình tán loạn, chẳng theo quy củ gì. Tướng quân Bách Thanh đứng ở chính giữa trận hình.
Đô uý Mặc nhìn một lúc, lớn tiếng ra lệnh: “Bày trận thước vuông!”
Quân Tần lập tức xếp thành một trận hình chữ nhật. Do địa hình chật hẹp, mỗi hàng gắng lắm cũng chỉ đứng được sáu người, trước sau tổng cộng mười mấy hàng, giãn sang hai bên, cũng khiến phần đất bên phía họ dày đặc những người.
Nhìn thấy trận hình chữ nhật của quân Tần, Bách Thanh căng thẳng phán đoán tình thế. Rõ ràng, nếu nói về số lượng, người Thục chiếm ưu thế hơn hẳn. Quân Thục đã triển khai được thế trận, còn quân Tần lại bị gò bó tại mảnh đất bên sông chật hẹp, số có thể tham gia chiến đấu, chỉ có mấy hàng phía trước, nên tương quan lực lượng trong đánh giáp lá cà, gần như là mười đánh một. Nếu như phá được trận này, họ hoàn toàn có thể đánh lui quân Tần, thậm chí đẩy hết quân Tần xuống sông.
Bách Thanh đang suy nghĩ cách phá trận, thì tiếng trống chiến của người Tần đã vang lên dồn dập.
Cùng với tiếng trống, trận thước vuông của quân Tần từng bước từng bước tiến về phía trận quân Thục. Bước đi nhịp nhàng theo tiếng trống, không nhanh không chậm, đều đặn như một, uy lực vô song.
Cánh quân Thục chưa bao giờ được giao chiến với quân Tần, lúc này thấy quân Tần ai nấy đều giáp trụ hộ thân, vũ khí sắc bén, đặc biệt là ba hàng đầu tiên, tay trái cầm khiên, tay phải trường thương chĩa thẳng, tiến từng bước chắc nịch, thì vừa lạ lẫm, vừa kinh sợ.
Bách Thanh vừa nãy vẫn còn chút tự tin, song lúc này, đối diện với trận thước vuông vững chãi như núi của người Tần, cũng dần thấy bủn rủn trong lòng, bên tai bỗng văng vẳng tiếng nói của Trần Chẩn: “Quân Tần có ghê gớm hay không, đến khi giao chiến sẽ rõ ngay thôi”.
Quả nhiên không sai. Còn chưa giao chiến, khí thế bá đạo của quân Tần đã khiến họ phải hồn phách chấn động.
Tiếng trống trận phía quân Tần thúc dồn như sấm, thế trận thước vuông của quân Tần theo tiếng trống từng bước từng bước áp sát lại gần. Thấy quân Tần đã bước vào trong tầm tên bắn, Bách Thanh không còn do dự, lập tức phát lệnh bắn tên như thông lệ.
Quân Thục bắn tên như mưa, nhưng tên của quân Thục phần lớn là mũi đồng thân tre, chất nhẹ, mặc dù có thể bắn đi xa, nhưng thiếu lực. Toàn bộ thế trận chữ nhật của quân Tần đồng loạt giơ khiên phía trước, mũi tên đập lên mặt khiên khác nào như mưa đá rơi trên nón, leng keng chát chúa, nghe thì đáng sợ nhưng không nguy hiểm, cho dù có bắn trúng, cũng chẳng thể xuyên thủng được giáp trụ kiên cố. Quân Tần giữ vững đội hình, giương khiên lầm lì tiến lên trong trận mưa tên, tiếng chân rầm rập vẫn đều tăm tắp theo nhịp trống dồn nghe rung động tận màng nhĩ.
Quân Thục thấy tên không cản chân được kẻ địch, thảy đều bàng hoàng kinh sợ. Thấy quân Tần càng lúc càng áp sát, chỉ còn cách nửa tầm tên bắn, Bách Thanh bèn vung kiếm, truyền lệnh: “Nổi trống, tù và!”
Phía quân Thục lập tức tù và rúc lên rền rĩ, trống trận thùng thùng.
Quân Thục sớm đã thủ thế sẵn sàng, lúc này đồng thanh hô vang, cùng vung binh khí, dựa vào ưu thế số đông, ào ào lao về phía trận quân Tần như vũ bão.
Quân Thục nổi trống, quân Tần dừng trống, trận thước vuông dừng bước. Ba hàng quân Tần cầm thương đứng ở đầu tiên đột nhiên ngồi thụp xuống, giơ khiên hộ thân, đặt trường thương xuống đất, hàng quân thứ tư giương nỏ lắp tên, bắn đi vùn vụt. Bắn xong, lập tức thụp xuống, đến hàng thứ năm bắn tên, sau đó là hàng thứ sáu, hàng thứ bảy. Đến khi hàng thứ tám bắn xong, hàng thứ tư lại tiếp tục đứng lên bắn. Năm hàng cung thủ của quân Tần cứ lần lượt lên xuống như từng đợt sóng, tên bắn không ngừng. Quân Thục một là không có giáp sắt hộ thân, hai là đang ở thế xông lên, ba là khoảng cách quá gần, bốn là tên của quân Tần đều mũi đồng thân sắt, khiên của quân Thục gần như vô tác dụng. Sau mấy đợt tên bắn đi, phần lớn quân Thục đi đầu đã nằm la liệt trên mặt đất. Khó khăn lắm mới xông được đến gần, chưa kịp vung kiếm thì quân lính ở ba hàng đầu đã thình lình nhảy bật dậy, hàng thứ nhất mỗi người cầm một cây trường thương dài hơn một trượng đâm thẳng về phía trước. Thương đâm trúng người quân địch, chưa kịp rút ra, hàng quân thứ hai đã nhảy vượt qua hàng thứ nhất, sau đó là hàng thứ ba vượt qua hàng thứ hai, ai đâm việc nấy, đan xen trật tự, hoàn toàn không cho quân Thục có bất cứ cơ hội nào để phản kháng. Phần lớn quân Thục dùng binh khí ngắn, cũng có đôi người mang binh khí dài, nhưng về độ dài cũng không thể nào sánh bằng trường thương của quân Tần, thường là chưa kịp áp sát đã bị đâm trúng, tiếng kêu rú thảm thiết bất tuyệt bên tai. Chưa đầy một khắc, xác quân Thục đã chất chồng thành đống trước trận quân Tần, còn bên phía quân Tần, chỉ một số ít bị thương, không hề ảnh hưởng đến sức chiến đấu.
Đây là một trận chiến mà xét về các mặt kỹ năng, trang bị, huấn luyện và tố chất đều không cân sức, quân Tần cứ như thể thoải mái tàn sát. Quân Thục bị nếm quả đắng đầu tiên, ai nấy đều khiếp đảm, ồ ạt tháo lui. Bách Thanh không ngăn cản được, đành khua chiêng thu quân.
Tuy nhiên, trên con đường núi chỗ rộng chỗ hẹp này, một khi rút lui, hậu quả sẽ vô cùng thảm khốc, huống hồ quân Thục lúc này tâm lý đã khủng hoảng, ở chỗ rộng đã tranh giành chen chúc, đến chỗ hẹp lại tự bịt tắc đường, giẫm đạp lên nhau. Quân Tần cũng đã triển khai đội hình, tự do chém giết. Đáng thương cho năm nghìn quân Thục, ngoài một phần nhỏ chạy được vào trong rừng núi, phần lớn hoặc nhảy xuống nước, hoặc đầu hàng, hoặc thành ma dưới mũi thương của quân Tần.
Trận đối đầu này, từ lúc quân Tần nổi trống đến khi kết thúc trận chiến, trước sau không quá ba canh giờ, quân Tần toàn thắng, cơ bản đã khống chế được vùng sơn cốc hẹp ở phía đông Tiềm Thủy.
Bách Thanh bị thương nhiều chỗ, được hơn trăm tử sĩ yểm hộ, nhờ quen thuộc địa hình, bỏ chạy một mạch đến bến đò, thấy vẫn còn mấy chiếc thuyền, bèn nhanh chóng cắm sào đẩy thuyền, vội vã chèo ra giữa lòng sông.
Đúng vào lúc Bách Thanh và người Tần đang đối trận ở bờ đông Tiềm Thủy, lão tướng quốc Bách Quán, thái tử Tu Ngư, Trần Chẩn, Trang Thắng bốn người vừa hay đứng trên vách núi chỗ giao nhau giữa Tiềm Thủy và Bạch Long Thủy để quan sát địa thế.
Phóng mắt nhìn đi, Thổ Phí quả nhiên là vùng đất chiến lược tuyệt vời. Sông Bạch Long chảy từ phía tây về phía đông bắc, tại đó hợp dòng với Tiềm Thủy, hai sông giao nhau, từ đông chảy xuống phía nam, đến phía nam tiếp tục vòng sang phía tây, được mười mấy dặm lại vòng sang hướng chính nam, bao bọc thành một hình trụ lớn chừng vài chục dặm. Thành Thổ Phí nằm tại phần chóp của hình trụ này, ba mặt có sông bao quanh, phía sau là núi, trên núi có thành luỹ cửa quan, thật xứng danh là tường đồng vách sắt. Lần này người Thục đánh tới, đã phải trải qua rất nhiều gian khổ, cho dù đã huy động binh lực lớn gấp năm lần quân địch, cuối cùng cũng hạ được Thổ Phí, nhưng Thư Hầu vẫn có thể lợi dụng địa thế có lợi, dẫn tàn quân lui về quan ải ở phía sau, dựa vào nơi hiểm yếu tử thủ hai ngày.
Đối diện với địa thế trời cho kiểu này, cho dù là người không hiểu quân sự như Trần Chẩn cũng hỉ hả mừng rơn, luôn miệng xuýt xoa khen ngợi.
Lão tướng quốc vuốt chòm râu dài, cười vang mà nói: “Không giấu đặc sứ, so với Thiên Môn, sự hiểm yếu của nơi này vẫn chưa thấm vào đâu. Thiên Môn vừa hay chặn giữa con đường nối thông Thư - Hán mà người Thư mới mở, dựa vào thế núi, một người trấn thủ, vạn người khó qua. Ta đã căn dặn Bách Thanh dẫn năm nghìn tráng đinh đến đó dựng luỹ. Chỉ cần Bách Thanh chặn kín Thiên Môn, người Tần cho dù mọc cánh, cũng khó lòng bay qua!”
“Tốt lắm! Tốt lắm!” Trần Chẩn tấm tắc luôn miệng. “Nhưng lão tướng quốc cũng đừng nên coi thường sức mạnh của người Tần, chúng ta vẫn cần phải bố trí phòng bị nghiêm ngặt ở chỗ này, vạn nhất Thiên Môn thất thủ, cũng có thể ứng phó.”
“Đặc sứ yên tâm, lão hủ tự có sắp xếp!”
Lão tướng quốc vừa dứt lời, trong thành Thổ Phí bỗng rúc lên tiếng tù và rền rĩ. Một lát sau, một cung nhân thở hổn hển chạy lên, bẩm báo: “Tướng quốc đại nhân, điện hạ, mau, đại vương muốn xuất chiến, mời thượng tiên mau trở về!”
“Xuất chiến?” Mấy người bất giác đưa mắt nhìn nhau, thảy đều giật mình kinh ngạc, vội vàng đi theo cung nhân, trở về Thư Thành.
Quả không sai, trên quảng trường Thư Thành, vô số quân đinh đang tập hợp, Khai Minh Vương toàn thân giáp trụ, tay cầm trường kích, đang đi đi lại lại trước đội ngũ, duyệt đội quân của ông ta.
“Đại vương, thế này là thế nào...” Lão tướng quốc chỉ tay vào đội quân, nói không thành tiếng.
“Mau, mau lên!” Khai Minh Vương không để ý đến ông ta, tâm trạng vô cùng kích động, nói lớn với Trần Chẩn. “Thượng tiên, lúc nãy quả nhân đã nhìn thấy ái phi!”
“Nhìn thấy vương phi?” Mấy người ngơ ngác nhìn nhau.
“Nàng đang cầu cứu quả nhân, muốn quả nhân nhanh chóng cứu nàng, nói là giống quái vật kia...” Khai Minh Vương nghẹn lời, đâm mạnh mũi kích xuống đất.
Bách Quán đưa mắt nhìn Trần Chẩn.
“Giống quái vật kia làm sao?” Trần Chẩn mặt không biến sắc, chậm rãi hỏi.
“Giống quái vật kia không đợi thêm được nữa, tối nay muốn thành thân với ái phi, ái phi muốn quả nhân nhanh chóng đi cứu nàng! Thượng tiên hãy nói mau, cung điện của giống quái vật kia nằm ở đâu? Giờ đã sang chiều, nếu tiếp tục lần lữa sẽ chậm mất!”
“Đúng thế!” Trần Chẩn ngẩng đầu nhìn trời. “Dám hỏi đại vương, phải chăng đã gặp được vương phi trong mơ?”
“Không, không phải!” Khai Minh Vương vội đáp. “Quả nhân tận mắt nhìn thấy! Quả nhân lấy bức họa ra, ngắm nhìn ái phi giống như thường nhật. Ngắm được một lúc, đột nhiên cảm thấy bức họa có vẻ lạ thường, đang lúc kinh ngạc, bỗng thấy miệng ái phi khẽ mấp máy, rồi nàng... nàng cầu cứu quả nhân!” Nói đoạn, sốt sắng nhìn ra ngoài cung. “Trước mặt chính là sông Bạch Long, thượng tiên hãy mau dẫn quả nhân đi!”
Rõ ràng, Khai Minh Vương lúc này đã bị ngọn lửa tình mê muội thiêu đốt con tim.
“Đại vương chớ nên lo lắng!” Trần Chẩn khép mắt một lúc, rồi khuyên nhủ Khai Minh Vương. “Giống quái vật kia chẳng qua chỉ đe dọa Khổng Tước vương phi mà thôi, vì hiện giờ ngay cả tính mạng của nó cũng khó bảo toàn, đâu còn tâm trạng nào mà thành thân nữa?”
“Tính mạng khó bảo toàn?”
“Đại vương hãy nhìn xem!” Trần Chẩn chỉ vào đoàn quân trước mặt. “Mười vạn đại quân của đại vương áp sát biên giới, liên minh của nó là Thư Hầu đã thảm bại, thủy quái đã mất đi đại thế, liệu chừng không thể địch lại đại vương, nên giờ này đang phải cầu cứu viện binh ở khắp nơi!”
“Cầu cứu viện binh?” Khai Minh Vương vội hỏi. “Nó đã cầu được chưa?”
“Cầu được rồi!”
“Viện binh ở đâu?”
“Ở ngay bên kia!” Trần Chẩn chỉ tay về hướng đông bắc. “Người Tần!”
Lời vừa dứt, từ phía bờ đông Tiềm Thủy loáng thoáng vọng lại tiếng reo hò và tiếng kêu gào thảm thiết.
Mọi người đều giật nảy mình.
Khai Minh Vương không nói một lời, nắm lấy trường kích, lao như bay ra khỏi cung điện, xông thẳng về hướng đang dậy tiếng reo hò. Mọi người vội vã chạy sát theo sau, đuổi đến bờ sông, từ xa nhìn thấy trên bờ bên kia, quân Thục đang tháo chạy tan tác, quân Tần truy sát chém giết, cảnh tượng vô cùng thê thảm.
Mấy con thuyền từ bến đò phía bờ kia rẽ sóng tiến lại, áp sát vào bờ.
Bá Thanh toàn thân đẫm máu, bước đi loạng choạng, chạy lại gần, quỳ sụp xuống đất, chỉ gọi được một tiếng “đại vương” rồi ngất lịm.
Người Tần trận đầu toàn thắng.
Ở bờ đông Tiềm Thủy, nơi giao nhau giữa hai sông Bạch Long và Tiềm Thủy, có một khoảnh đất thoáng đãng rộng chừng mấy dặm, vốn là đồng ruộng của người Thư, lúc này đã bị người Tần phá hủy để làm doanh trại. Từ nơi đây phóng mắt nhìn đi, hai con sông giao nhau, cuồn cuộn chảy về nam, một dòng mênh mang xanh biếc lượn vòng bao quanh một bán đảo có hình đầu rùa ở phía bờ đối diện, kinh đô nước Thư, Thổ Phí, được đặt tại nơi hình thế hiểm trở nhất trên bán đảo.
Doanh trại trung quân của quân Tần được đặt ở trung tâm khoảnh đất rộng rãi này.
Đêm đến, trại trung quân đèn đuốc sáng trưng như ban ngày, không khí tưng bừng hoan hỷ. Một tấm bản đồ địa thế núi sông được trải lên mặt bàn rộng lớn, chủ tướng Trương Nghi ngồi ở sau bàn, hai mắt khép hờ, hai tai dỏng lên, nửa như đang quan sát bản đồ, nửa như đang tập trung suy nghĩ, lại như đang nghe ngóng điều gì. Sơ đồ không được chính xác và quy chuẩn, là do thái tử nước Thư Thông Quốc sau khi bị thương đã gắng nhịn đau phác thảo ra.
Ngồi đối diện trước bàn là Tư Mã Thác và Ngụy Chương, hai người cũng đều đang ngẫm nghĩ.
Bên ngoài đại trại, mấy tướng lĩnh tụm lại một chỗ, đang bàn tán xôn xao về trận chiến hôm nay. Đô uý Mặc kể đến đoạn cao trào, giọng nói sôi nổi, biểu cảm sinh động, quá trình tỉ mỉ, từ cảnh người Thục không biết đánh trận mà bỏ mạng, cầu xin tha chết, rồi cảnh họ xua đuổi người Thục giống như bầy sói dữ đuổi cừu non, chém đầu quân Thục giống như bổ dưa hấu, cảnh hăm hở cắt tai quân Thục... Cứ thế thao thao bất tuyệt, khơi dậy từng trận cười sảng khoái và những lời xuýt xoa khen ngợi, không khí vô cùng sôi nổi.
Trương Nghi hơi chau mày, khẽ đặng hắng một tiếng, đưa mắt liếc ra ngoài đại trại, hất hàm với Tư Mã Thác, rồi gật đầu ra hiệu.
Tư Mã Thác biết ý, đứng dậy đi ra ngoài trại, giơ tay lên nói: “Chư vị tướng quân, chủ tướng có lời mời!”
Mọi người kéo nhau vào trại, lần lượt ngồi xuống chiếu. Tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Trương Nghi.
“Chư vị tướng quân!” Trương Nghi đưa mắt nhìn chư tướng một lượt, hạ giọng nói. “Hôm nay đánh trận đầu tiên, không thể thiếu công lao của Ngụy Chương tướng quân, đô uý Mặc và các tướng sĩ tiên phong, xứng đáng được ghi công đầu. Tuy nhiên, trong lúc mừng công, tại hạ vẫn muốn mọi người suy nghĩ về một việc: lần này chúng ta đến đây, là để giết người, hay là để chinh phạt Thục?”
Chinh phạt và giết người, hai chuyện này gắn liền với nhau, không phải có thể lựa chọn. Trương Nghi nói ra lời này, chư tướng ai nấy đều kinh ngạc, ngay cả Tư Mã Thác cũng ngẩn ra không hiểu.
“Chư vị tướng quân, xin hãy trả lời!” Trương Nghi lại giục.
“Chinh phạt Thục!” Chư tướng chần chừ một lát, sau đó đồng thanh đáp lời.
“Đúng vậy!” Trương Nghi gật đầu. “Chúng ta đến đây là để chinh phạt Thục, không phải đến để giết người. Đương nhiên, chinh phạt tất yếu phải giết người. Nhưng chư vị thử nghĩ xem, nếu chúng ta giết sạch người Thục, còn cần Thục để làm gì nữa?”
Cái “nếu như” này khó mà biến thành sự thực, các tướng ai nấy đều ngơ ngác.
“Chư vị tướng quân!” Trương Nghi khéo léo dẫn dắt. “Thời thế phân tranh, không có ranh giới đất nước. Đã không có ranh giới đất nước, lấy đâu ra phân chia Tần, Thục? Kẻ đối trận với chúng ta, hôm nay là người Thục, nhưng ngày mai sẽ trở thành người Tần!” Đoạn đưa mắt liếc nhìn đô uý Mặc. “Mặc tướng quân, người Tần đi giết người Tần, điều này có đáng để khoe khoang chăng?”
Đô uý Mặc sắc mặt đỏ bừng, lắp bắp: “Nhưng... họ không phải là người Tần, họ là người Thục, là người Thục tay cầm binh khí, Chúng ta không giết họ, họ sẽ giết chúng ta!”
“Đúng vậy!” Trương Nghi ngắt lời. “Chúng ta không giết họ, họ sẽ giết chúng ta. Tuy nhiên...” lập tức đổi giọng, ngữ điệu nghiêm khắc, “khi bản tướng đi tuần sát chiến trường, lại nhìn thấy không ít người Thục chết trong tư thế quỳ! Chư vị tướng quân, người Thục đã quỳ xuống rồi, binh khí của người Thục đã hạ rồi, nhưng họ vẫn bị giết!”
Đô uý Mặc há miệng ra, rồi lập tức ngậm ngay lại.
“Chư vị tướng quân!” Giọng Trương Nghi càng thêm trầm trọng. “Bản tướng đã biết tại sao họ lại bị giết. Tại sao? Vì tướng sĩ của chúng ta chỉ muốn cắt lấy một tai của họ!”
Xung quanh lặng phắc như tờ.
“Chư vị tướng quân!” Giọng Trương Nghi càng thêm nghiêm khắc. “Không phải bản tướng không cho các vị lập công, không cho các vị giết người, mà là bản tướng không muốn các vi giết người bừa bãi. Chư vị có điều không biết, chế độ Thục không giống với chế độ Tần, những người Thục này không phải là binh lính, họ chỉ là ngũ đinh. Ngũ đinh là gì? Ngũ đinh chính là kim đinh, mộc đinh, thổ đinh, thủy đinh và công đinh, nói trắng ra, chính là dân thường, là bách tính các ngành. Thường ngày, họ làm các nghề khác nhau, chỉ khi có chiến tranh mới tập hợp thành đội ngũ, thành binh đinh, theo Thục Vương chinh phạt. Rất nhiều người không hề biết chém giết là gì, đây chính là nguyên nhân khiến họ trang phục mỗi người một khác, và sức chiến đấu yếu kém nhường vậy.”
Nghe Trương Nghi phân tích, cái đầu đang ngẩng cao của đô uý Mặc liền cúi gằm xuống, chư tướng cũng lũ lượt cúi đầu, không ai còn dám ho he một tiếng.
“Chư vị tướng quân!” Trương Nghi lại tiếp, ngữ khí bỗng trở nên kích động. “Mọi người đã từng nghĩ đến chưa, Thục có mười vạn đại binh, núi sông hiểm trở, ta có đường Thục gian nan, tiếp tế bất tiện. Thế nhưng, tại hạ chỉ dẫn theo năm vạn binh tốt dưới cờ của các vị, đi đường núi, vào tuyệt địa, xâm phạm nước lớn, chinh phạt nước xa, quân đơn độc không có viện binh, sau lưng không có đường lui, thì dựa vào cái gì? Dựa vào sự thiện chiến của chư vị ư? Dựa vào sự dũng mãnh giết chóc của chư vị ư? Không, thứ mà tại hạ dựa vào, căn bản không phải là chư vị, mà là người Thục! Là lòng dân đất Thục. Vì tại hạ biết rõ, Thục Vương si tình khiến dân chúng lao nhọc, quan Thục xa hoa ngạo mạn, dân Thục ai ai cũng oán thán, nhưng lại không dám nói ra!”
Trương Nghi nói ra những lời này, khiến các tướng sĩ nghe mà mặt mũi nóng ran, nhưng không ai không phục.
“Chư vị tướng quân!” Trương Nghi giọng đã hoà hoãn bớt. “Chúng ta phạt Thục, đầu tiên phải phục Thục; phục Thục, trước tiên phải phục được dân; phục dân, trước tiên phải phục được tâm; phục tâm, trước tiên phải hạn chế giết chóc, biết thương lấy dân Thục. Bởi vậy, bản tướng sẽ tuyên bố ba điều quân lệnh!”
Chư tướng hoàn toàn khâm phục, ngẩng đầu đợi lệnh.
“Thứ nhất, hai quân đối trận, dùng thế bức bách, ép buộc đầu hàng. Thứ hai, những người đã xin hàng, không được sát hại, sắp xếp thoả đáng cho họ. Thứ ba, kẻ nào chống đối, giết, ngoại trừ phụ nữ, trẻ con và người già.”
“Xin tuân lệnh!” Chư tướng đồng thanh đáp.
“Còn nữa!” Trương Nghi lại cất giọng sang sảng. “Cách thức khen thưởng lập công cũng phải được thay đổi cho thích hợp. Có ba điều thay đổi: thứ nhất, cắt được hai tai, ghi công một tai. Thứ hai, bắt sống được một, ghi công hai tai. Thứ ba, bắt giết lãnh chúa, gấp đôi; vương tử công tôn, gấp năm; tướng Thục, gấp mười; thái tử hoặc Thục Vương, gấp hai mươi. Các mục thưởng phạt khác không thay đổi! Chú ý, thay đổi này chỉ áp dụng cho Thục, không dùng cho Sở. Giao chiến với Sở, vẫn theo lệ cũ.”
“Tuân lệnh!” Các tướng thảy đều hoan hỷ, giọng hô cũng vang vọng hơn nhiều.
“Chư vị tướng quân!” Truyền xong quân lệnh, Trương Nghi cũng đã yên tâm, trên mặt lại nở nụ cười. “Bản tướng triệu chư vị tới đây, tuyên bố mấy điều quân lệnh chỉ là thứ yếu, mưu tính kế hoạch tiếp theo mới là việc chính. Chư vị đều biết, bản tướng không hiểu hành quân, không rành việc quân, lần này chinh phạt, chịu ơn của đại vương mà nhận lệnh, nhưng trong lòng vô cùng lo lắng, quả thực chỉ biết nhờ vào chư vị.” Rồi chỉ vào bản đồ. “Tình thế đều hiển hiện ở đây, xin chư vị hãy cùng đưa ra kỳ mưu, chiến thắng kẻ địch!”
Chư tướng quay mặt nhìn nhau.
“Địa hình hiểm yếu của đất Thư, lúc ban ngày chư vị cũng đã nhìn thấy cả rồi!” Trương Nghi chỉ tay vào một đường kẻ màu xanh trên tấm địa đồ. “Từ đây cho đến tận chỗ này, chúng ta đã bị con sông Tiềm Thủy ngăn cách. Tiềm Thủy lòng sâu nước xiết, không thể lội qua. Ngoài ra, theo lời của người Thư, lần này Thục Vương phạt Thư, tuyên bố phát động mười vạn ngũ đinh, nhưng kỳ thực chưa đầy tám vạn, trong đó năm nghìn đã bị tan rã, còn có sáu vạn tập kết tại đây, chủ yếu phân bố ở đây!” Vạch một vòng tròn lớn men theo dòng sông ở quanh thành Thổ Phí. “Ngoài ra còn có một vạn người, phân tán tại tuyến này!” Chỉ vào một tuyến đường ngoằn nghèo từ Thư đô Thổ Phí đến Kiếm Các. “Đây là con đường núi duy nhất để đi từ Thục sang đất Thư, gọi là đường bộ.” Rồi chỉ vào hai dải màu xanh giao cắt nhau. “Đây là sông Bạch Long, đấy là sông Thanh Thủy, theo sông Bạch Long đi qua Thanh Thủy có thể đến thẳng nơi này, là lối vào của hình trụ này, gọi là đường thủy, người Thục đã từ đây vòng qua tuyến phòng thủ đường bộ của người Thư, tập kích người Thư thành công.” Rồi đưa mắt nhìn mọi người. “Chư vị hãy bàn bạc, chúng ta nên đánh thế nào mới là thượng sách?”
“Mạt tướng cho rằng,” Tư Mã Thác lên tiếng trước, “nhằm vào chỗ quân Thục không giỏi chiến đấu, chúng ta có thể đóng bè gỗ, từ đây thuận dòng nước vượt qua Tiềm Thủy, khống chế vùng bãi bồi nơi này, tiếp tục dùng đó làm bàn đạp, tấn công trực diện địch, chiếm lấy bờ đối diện, một trận đánh bại quân Thục.”
Các tướng đều cho là thượng sách, chỉ có Ngụy Chương không phản ứng, vẫn trầm ngâm suy nghĩ.
“Ngụy tướng quân?” Trương Nghi nhìn hắn.
“Khởi bẩm chủ tướng!” Ngụy Chương vòng tay nói. “Nếu như giao chiến trực diện với quân địch, mặc dù có thể giành được phần thắng, nhưng cũng có hai điểm không thoả đáng. Một là gây sát thương lớn, không hợp với bản ý của tướng quân; hai là thắng lợi không trọn vẹn, người Thục có thể ung dung rút đi, dọc đường tổ chức chống cự, ngược lại sẽ khiến cho ta sa vào thế bị động.”
Chư tướng đều giật nảy mình, vì Ngụy Chương kia dám phản đối cả phương án của quốc uý.
“Tướng quân có cao mưu gì chăng?” Trương Nghi ngả người về phía trước, hiển nhiên đã tán đồng.
“Mạt tướng cho rằng,” Ngụy Chương đứng dậy đi tới trước tấm bản đồ, lấy bút vạch theo hạ lưu Tiềm Thủy, từ nơi cách thành Thổ Phí chừng mấy chục dặm vẽ một đường về phía tây, dừng lại ở phần cuối của hình trụ. “Ta có thể vượt qua Tiềm Thủy từ chỗ này, dọc theo đường này tiến vào điểm này, cắt đứt hai đường thủy bộ của người Thục. Sau đó, chủ tướng có thể hiểu dụ về đại thế với người Thục, sau đó mới phát động tấn công trực diện. Trước có đại binh áp sát, sau lại bị cắt đứt đường lui, người Thục sẽ tự rối loạn. Ta lại dùng lời lẽ đe dọa người Thục, hoặc giả có thể không chiến mà hàng.”
Kế sách của Ngụy Chương thực quá bạo gan, chư tướng đều đổ dồn mắt nhìn hắn. Trong mắt phần lớn tướng Tần, Ngụy Chương vẫn là một tướng quân bị thịt, lần này được Tần Vương phá cách phong làm tiên phong, không ít tướng lĩnh đều tỏ ra không phục, đặc biệt là đô uý Mặc, vốn luôn coi thường Ngụy Chương. Điều này cũng khó trách, binh sĩ tinh nhuệ của tả quân tiên phong đều do một tay đô uý Mặc huấn luyện, song đến khi xuất chinh, Tần vương lại thình lình đẩy cho ông ta một viên tướng cấp trên, còn ông ta chỉ được làm phó tướng, càng khiến đô uý Mặc tích thêm một phần oán hận với Ngụy Chương.
“Ngụy tướng quân!” Đô uý Mặc có phần giễu cợt. “Con đường này không hề có lấy một chỗ cong queo, là tướng quân tiện tay vẽ ra, hay đó là con đường núi do vị thần tiên nào dùng phép thần thông khai phá ra thế?”
Các tướng đều cười toáng lên.
“Chư vị tướng quân!” Ngụy Chương liếc nhìn đô uý Mặc một cái, lần lượt vòng tay với từng người. “Là tướng tiên phong, tại hạ có vài lời, nhân cơ hội này xin được thổ lộ. Thường có câu, người có mặt, cây có vỏ, tại hạ đổi tên thành Ngụy Chương, là muốn nói cho người đời biết rằng, tên công tử nước Ngụy ngày xưa, tên tướng vô dụng công tử Ngang nước Ngụy thành công chẳng mấy, phá hoại có thừa trước đây, đã chết hẳn rồi!”
Thấy Ngụy Chương có vẻ nghiêm túc, chư tướng đều thôi cười, quay mặt nhìn nhau.
“Tại hạ trước nay cứ ngỡ mình trí dũng bất phàm, lấy giết chóc làm thú vui,” Ngụy Chương dõng dạc nói tiếp, “tuy nhiên, mấy năm gần đây gặp được một số người, đều đã khiến tại hạ tự thấy hổ thẹn. Những người này, một là Bàng Quyên, một là Tô Tần, tiếp theo chính là Trương tướng quân.” Quay sang vòng tay với Trương Nghi. “Những lời Trương tướng quân vừa nói khi nãy, khiến tại hạ trong lòng chấn động, thực xứng danh là vị tướng quân chân chính trong thiên hạ. Không giấu chư vị, lần này xuất chinh, tại hạ xin được tham gia, chỉ muốn làm một binh tốt bình thường xung phong trước trận, không ngờ đại vương lại ban ân, phong cho tại hạ làm tướng quân tiên phong. Tại hạ xin thề với chư vị, tại hạ không có ý cầu công danh, chỉ muốn được chết nơi sa trường, một là để báo đáp ơn vua, hai là để sửa lại tiếng xấu ngày trước, mong chư vị tướng quân làm chứng. Còn về con đường lúc nãy, tuyệt đối không phải do tại hạ tiện tay vẽ ra. Tại hạ nguyện lập quân lệnh trạng, dẫn theo một nghìn quân cảm tử, theo tuyến đường này cắt đứt đường lui của quân Thục!”
Rõ ràng, Ngụy Chương đã tin tưởng chắc nịch vào tuyến đường này, lại nguyện mang quân theo đó, còn dám lập cả quân lệnh trạng, chắc chắn là trong đầu đã có tính toán. Từ lúc đặt chân đến đất này, nhiều nhất cũng chưa đến nửa ngày, nhưng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, Ngụy Chương lại có thể tìm ra được một con đường chế thắng thần kỳ nhường đấy, cho thấy hắn chuyên chú đến mức nào. Chư tướng Tần nghe vậy, thảy đều kinh ngạc, trong lòng cảm kích, tất cả đều gật đầu bày tỏ sự kính trọng với Ngụy Chương. Ngay cả đô uý Mặc cũng vòng tay cười với Ngụy Chương, tỏ ý tạ lỗi.
Đây chính là điều Trương Nghi mong được nhìn thấy. Kỳ thực, những lời vừa nãy, đều là do Trương Nghi đã kín đáo chỉ dạy cho Ngụy Chương từ trước. Thân là hàng tướng người Ngụy, Ngụy Chương nay thống lĩnh quân Tần, tướng Tần không phục là điều đương nhiên. Còn con đường bí mật kia, là do thái tử Thông Quốc ngấm ngầm tiết lộ cho Trương Nghi biết, tuy quanh co lắt léo, nhưng người có thể đi được, thợ săn và người hái thuốc địa phương đều biết. Về kế kỳ binh này, Trương Nghi sớm đã có tính toán, chẳng qua là muốn tặng lại công lao này cho Ngụy Chương, để giúp hắn lập uy với quân, lập công cho Tần.
Thấy chư tướng đều đã tin phục Ngụy Chương, Trương Nghi bèn thuận thế phát ra mấy đạo lệnh bài. Một là lệnh cho Ngụy Chương, đô uý Mặc dẫn năm nghìn quân, bí mật di chuyển đến phía hạ lưu sông Tiềm Thủy, mang theo các dụng cụ có thể khuếch trương thanh thế như cờ hiệu, chiêng trống, do người Thư dẫn đường, trong vòng bảy ngày phải đến được địa điểm chỉ định, cắt đứt đường lui thủy bộ của quân Thục, bày nghi binh lừa địch. Hai là lệnh cho tướng quân Trương Nhược dẫn ba nghìn quân sĩ, thu gom thuyền bè, hộ tống Ba tử Tử Sưu xuôi theo Tiềm Thủy xuống hạ lưu, tới Ba đô Lang Trung, giúp Ba Vương phòng thủ. Ba là lệnh cho Tư Mã Thác dẫn theo hai vạn quân, chặt cây bắc cầu vượt qua Tiềm Thủy, chiếm lấy bến sông phía bờ bắc sông Bạch Long, chiếm lấy hai hòn đảo giữa dòng, đoạt được ưu thế thượng nguồn và tiên cơ chế địch, từ đó khiến quân Thục khiếp sợ. Các bộ còn lại vẫn đóng ở bờ đông Tiềm Thủy, quan sát diễn biến để tiếp ứng khi cần thiết.
Năm nghìn quân Thục ở bờ đông Tiềm Thủy vừa đánh đã tan, bị người Tần truy sát suốt dọc đường, toàn bộ cảnh tượng thê thảm này, người Thục ở bên kia sông đã chứng kiến tận mắt, cơn khủng hoảng nhanh chóng lan truyền trong người Thục hệt như bệnh dịch.
Đến khi trời tối, Bách Thanh mới mơ màng tỉnh dậy, thuật lại đầu đuôi trận chiến khủng khiếp vừa qua, khiến thái tử Tu Ngư nghe mà lạnh toát sống lưng, quay sang nhìn tướng quốc, giọng run rẩy: “Lão ái khanh, người Tần hung hãn đến vậy, giờ ta phải làm thế nào?”
“Than ôi!” Lão tướng quốc trầm ngâm hồi lâu, rồi than thở. “Là sai lầm của lão hủ, lão hủ không nên bỏ công giành giật thành Thổ Phí với người Thư, để lỡ mất hai ngày thời gian. Nếu như vừa đến đây, đã lập tức chiếm lấy Thiên Môn, xây dựng thành luỹ ở đó, lập một tuyến phòng thủ vững chãi, thì cục thế sẽ không đến nỗi thế này!”
“A...” Thấy lão tướng quốc nói vậy, Tu Ngư mặt mày biến sắc. “Hay là, chúng ta hãy giảng hoà với người Tần?”
“Điện hạ suy nghĩ quá ngây thơ rồi!” Trần Chẩn có phần châm biếm. “Người Tần hưng binh rầm rộ, xuất hàng vạn đại quân, vượt hàng ngàn dặm đường, tuyệt đối không phải đến để giảng hoà đâu!”
“Vậy...” Tu Ngư kinh hãi, “họ muốn gì?”
“Muốn thôn tính đất đai của điện hạ!”
“Cho họ đi!” Tu Ngư suy nghĩ một thoáng, rồi nghiêm túc nói. “Tặng đất Thư cho họ!”
“Đất Thư đã là của họ rồi!”
“Cho họ một nửa đất Thục, thế nào?”
Trần Chẩn cười nhăn nhó một tiếng, lắc đầu.
“Ta... ta... ta...” Tu Ngư quýnh quáng. “Chúng ta chỉ giữ lại Thành Đô, còn lại cho họ hết, thế nào?”
“Than ôi!” Thấy thái tử như vậy, Trần Chẩn lắc đầu, lại cười gượng một tiếng. “Điện hạ ơi, đây là chuyện sinh tử tồn vong, không phải là kỳ kèo mặc cả trong chợ búa! Còn nhớ lúc trước tại hạ đã nói, nước Thục đất đai màu mỡ, người Tần thèm muốn đã lâu. Người Tần đổ bao tâm lực để dụ người Thư mở thông đường núi, mục đích chỉ có một, chính là thôn tính Ba, Thục. Đất Ba tạm không nhắc đến, chỉ riêng đất Thục, thuộc về đại vương, thuộc về điện hạ. Mấy trăm năm nay, người Thục chỉ biết tận trung với đại vương, tận trung với điện hạ, nên điện hạ ơi, cho dù các vị có hai tay dâng toàn bộ đất Thục, thì người Tần cũng có chịu để đại vương và điện hạ sống trên cõi đời này không?”
Lời của Trần Chẩn câu nào cũng hữu lý, rõ ràng không phải là hù doạ. Tu Ngư mặt trắng bệch, toàn thân run lẩy bẩy, bất đồ quỳ sụp xuống đất, khấu đầu lia lịa trước lão Bách Quán, nước mắt ròng ròng: “Lão ái khanh, khanh... khanh khanh khanh... khanh hãy mau đi cầu xin phụ vương, Tu Ngư không làm thái tử nữa, Tu Ngư... Tu Ngư không muốn chết, lão ái khanh...”
Đại địch ở ngay trước mặt, nhưng thái tử lại hèn kém đến thế này, thật là mất hết thể diện của người Thục. Lão tướng quốc tức giận đến toàn thân run rẩy, tay run bần bật chỉ vào Tu Ngư: “Người... người...”
Lão tướng quốc giận đến tắc thở, mặt mũi tím tái, may sao Trang Thắng kịp chạy đến, xoa vỗ một hồi mới từ từ hồi phục lại được.
Trần Chẩn đưa tới một chén nước, lão tướng quốc uống một hớp, lại thở hổn hển mấy hơi, rồi quay ra ngoài, trầm giọng gọi: “Người đâu!”
Hai tráng đinh bước vào.
Lão tướng quốc nhìn Tu Ngư vẫn quỳ dưới đất, nói: “Điện hạ trong người khó ở, mau đưa về tẩm cung nghỉ ngơi!”
Hai tráng đinh không nói một lời, mỗi người một bên, xốc Tu Ngư dậy đi thẳng ra ngoài cửa. Tu Ngư không hề giằng co, nhưng tiếng gào thét vọng lại vẫn vô cùng thảm thiết: “Lão ái khanh, Tu Ngư cầu xin người, Tu Ngư không muốn làm thái tử, Tu Ngư không muốn chết!”
Tiếng la hét của Tu Ngư xa dần. Lão tướng quốc quay sang Trần Chẩn cười gượng một tiếng, nước mắt giàn giụa.
“Tướng quốc đại nhân!” Trần Chẩn vòng tay tạ tội. “Là vãn sinh đã nói sai, khiến điện hạ sợ hãi. Vãn sinh...”
Trong sảnh lặng ngắt như tờ.
Không biết đã trôi qua bao lâu, lão tướng quốc đưa tay lau nước mắt, rồi chợt ngẩng phắt đầu, nói với Trần Chẩn: “Đặc sứ đại nhân, không cần nói thêm gì nữa!” Dừng lại một lúc, siết chặt nắm đấm, sắc mặt cương nghị, từng tiếng sang sảng như chuông. “Mảnh đất này là do tiên vương Khai Minh để lại, tuyệt đối không được dâng cho người khác từ tay lão hủ!”
“Lão tướng quốc ơi!” Nghe thấy lời này, Trần Chẩn vừa cảm động, vừa lo lắng. “Đại vương đã thành ra như vậy, điện hạ lại như thế, Bách tướng quân nay lại thân mang trọng thương, lão tướng quốc...”
“Đây là số mệnh!” Lão tướng quốc thở dài một tiếng, tiếp lời. “Trần tiên sinh cũng đã nhìn thấy cả rồi, là trời muốn diệt Thục, trời muốn diệt Thục!” Rồi khó nhọc đứng dậy, lắc đầu mấy cái, hai chân nặng nề cất bước, lảo đảo rời đi.
Nhìn theo lão tướng quốc từ từ xa dần, Trang Thắng xích lại bên Trần Chẩn, hỏi nhỏ: “Trần đại nhân, việc đã đến nước này, giờ chúng ta phải làm thế nào?”
“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài một tiếng, cũng đứng dậy. “Còn có thể làm thế nào được nữa? Mau đi chuẩn bị thuyền bè, chuẩn bị thêm mấy bộ trang phục người Thư để dùng khi cần thiết! Còn nữa, tốt nhất tướng quân hãy lập tức phái người về Thành Đô, đón tôn phu nhân và lệnh muội nhanh chóng rời khỏi đất Thục, nếu như tướng quân không muốn họ phải mua vui cho người Tần.”
“Đa tạ tiên sinh quan tâm!” Trang Thắng khom người vái một vái, rồi vội vàng đi ngay.
Giờ Ngọ hôm sau, một đợt tù và rúc lên hùng hồn, như muốn rạch toang cả trời xanh. Người Thục lăm lăm khí giới, tập hợp trên bãi bồi bên bờ sông Bạch Long, hàng ngũ tăm tắp, từ xa nhìn lại, thấy đen kịt như một bầy kiến khổng lồ.
Hàng nghìn hàng vạn con kiến từ từ xúm xít tiến về một đài cao.
Đài này mới được xây dựng theo mệnh lệnh của lão tướng quốc. Hai bên đài cao, mấy chục nhạc công tay cầm nhạc cụ, vài chục vu sư đang nhảy múa theo tiếng nhạc.
Trên đài treo ngang một bức màn. Dưới đài, mấy chục tướng quân, cũng chính là lãnh chúa quý tộc từ cấp thiên phu trưởng trở lên của các vùng, dẫn đầu ngũ đinh, ai nấy binh khí trong tay, ngẩng đầu ưỡn ngực, hệt như những cọc gỗ đóng thẳng trên mặt đất.
Điệu nhảy kết thúc, tiếng nhạc ngừng bặt, đám vu sư cũng trật tự lui ra. Không khí nặng nề ngưng đọng, vô số ánh mắt đều đổ dồn vào bức màn trên đài cao.
Cánh màn từ từ mở ra. Khai Minh Vương Lư Tử toàn thân giáp trụ, tay cầm trường kích, hiên ngang kiêu hãnh đứng ở giữa đài. Lão tướng quốc đứng bên trái Khai Minh Vương, cũng một thân nhung phục, tay giữ trường thương; đứng bên phải là tướng quân Bách Thanh.
Khai Minh Vương tinh thần hưng phấn, toàn thân sát khí. Lão tướng quốc râu trắng phất phơ, mắt như ánh chớp, hào khí ngút trời. Bách Thanh đầu mặt, cơ thể nhiều chỗ bị thương vẫn rỉ máu tươi, nhưng sắc mặt cương nghị, khí thế trầm tĩnh.
Nhìn thấy Khai Minh Vương, tất cả người Thục có mặt đều phấn chấn, giậm chân hô vang: “Khai Minh Vương! Khai Minh Vương! Khai Minh Vương...”
Lão tướng quốc xua tay, tiếng hô dừng lại.
“Chư vị dũng sĩ!” Khai Minh Vương bước lên trước một bước, gõ mạnh trường kích xuống đài, gằn từng chữ. “Quái vật sông Bạch Long ngầm cấu kết với Hà Manh, Hà Manh ngầm cấu kết với người Tần, hai kẻ ác tặc hợp mưu ức hiếp ái phi Khổng Tước của bản vương. Vào tối hôm qua, ái phi lại một lần nữa khóc than cầu cứu, bản vương quyết định, từ ngày hôm nay, quyết tử chiến với quái vật sông Bạch Long! Chư vị dũng sĩ, ai không sợ chết, giờ hãy theo quả nhân, xung phong đánh trận, quét sạch người Tần, bắt sống thủy quái!”
Khai Minh Vương vừa dứt lời, Bách Thanh đã giậm cán thương xuống đất, vung tay hô lớn: “Chư vị dũng sĩ, mau theo đại vương, xông vào trận địch, quét sạch người Tần, bắt sống thủy quái!”
Các dũng sĩ đều gõ binh khí xuống đất rậm rịch, hoa tay múa chân: “Đi theo đại vương, xông vào trận địch, quét sạch người Tần, bắt sống thủy quái!”
Từng đợt sóng âm vang rền dội lên muốn xé toang màng nhĩ. Khai Minh Vương hào khí ngút trời, hai tay cầm kích, khí thế hừng hực bước xuống đài, tiến thẳng về phía chiến trường của ông ta.
Lão tướng quốc ra hiệu, Bách Thanh bèn vung tay, mấy chục binh sĩ bèn hộ tống phía sau Khai Minh Vương, cùng đi xuống đài. Dưới đài, mấy chục binh lính cầm kích đã đợi sẵn, nhất tề đi theo Khai Minh Vương, ai nấy tư thế lẫm liệt, miệng hô vang dậy, thực là khí thế dậy trời, uy phong ngất ngưởng, theo con đường lớn mà đi xa dần.
Rõ ràng, đây là màn kịch mở đầu mà lão tướng quốc đã dày công sắp đặt. Trần Chẩn đứng ở dưới đài khẽ gật đầu, ánh mắt nhìn lên đài không chớp, chờ xem màn độc diễn của lão tướng quốc sẽ tiếp tục ra sao.
Bách Thanh lại quay trở về trên đài, đứng bên cạnh cha. Những vết thương của Bách Thanh đều không nguy hiểm, nghỉ ngơi một đêm, giờ đã có thể đứng vững.
“Chư vị dũng sĩ!” Lão tướng quốc trao cây thương trong tay cho Bách Thanh, nói lớn. “Quái vật sông Bạch Long ngầm cấu kết với Hà Manh, Hà Manh ngầm cấu kết với người Tần, ức hiếp Khổng Tước vương phi, chuyện này mà nhẫn nhục được, thì còn có chuyện gì không nhẫn nhục được đây? Lúc nãy, đại vương đã hạ chỉ, quyết chiến với người Tần, ứng cứu vương phi!”
Mọi người không ai lên tiếng. Không gian lặng phắc như tờ.
“Chư vị dũng sĩ!” Lão tướng quốc giọng nói chậm rãi, gần như gằn từng tiếng. “Thứ mà thủy quái sông Bạch Long muốn có, chỉ là một mình vương phi; thứ mà người Tần muốn có, lại là non sông Khai Minh ta. Theo lão hủ được biết, người Tần bịa ra chuyện trâu thần vãi phân vàng, dụ dỗ người Thư mở đường núi, mục đích chỉ có một, chính là lợi dụng con đường này, tiêu diệt người Thục ta, chiếm ruộng đất của ta, ức hiếp vợ con ta, đời đời đè đầu cưỡi cổ người Thục ta. Chư vị dũng sĩ, lão hủ già rồi, các vị vẫn còn trẻ tuổi. Lão hủ không chịu! Lão hủ thề chết cũng không đồng ý! Nay lão hủ đến đây để hỏi các vị, đồng ý, hay không đồng ý!”
“Không đồng ý!” Dưới đài khí thế sôi sục, mọi người đồng thanh hô vang.
“Chư vị dũng sĩ!” Lão tướng quốc lại vung tay. “Trận chiến hôm qua, bên ta bị động, năm nghìn dũng sĩ vì nước tuẫn thân. Theo lời của Bách tướng quân và những người tận mắt chứng kiến, người Tần không có chút tính người, hung tàn cực độ, các dũng sĩ của ta thấy thế không địch nổi, không ít người đã hạ vũ khí, nhưng vẫn bị họ tàn sát. Không những thế, hỡi các dũng sĩ, người Tần tàn bạo còn cắt tai các dũng sĩ của ta, treo trên cán thương!”
Dưới đài lặng im phăng phắc, tất cả mọi khuôn mặt đều méo xệch, một niềm bi phẫn uất ức lớn lao như ngưng đọng trong không khí.
“Chư vị dũng sĩ!” Lão tướng quốc siết chặt nắm tay, cất cao giọng. “Người Tần hung bạo, là ma quỷ, là giống ma quỷ còn đáng căm hận hơn cả thủy quái! Nhưng chúng ta không sợ chúng, vì chúng cũng như chúng ta, cũng là cơ thể máu thịt, chúng cũng sẽ phải chết. Trận chiến hôm qua, người Tần thắng vì được trang bị. Chúng có giáp trụ, thương của chúng dài hơn của ta, tên của chúng nặng hơn của ta, người của chúng nhiều hơn của ta. Tuy nhiên, người Tần không phải là không có điểm yếu. Người Tần có ba điểm yếu. Thứ nhất, không có địa lợi. Thứ hai, quân đơn độc từ xa đến. Thứ ba, lạ người lạ đất. Không có được địa lợi, ta có thể dựa vào nơi hiểm yếu để chống cự, lăn cây lăn đá đè chết họ. Quân đơn độc từ xa đến, lương thảo sẽ khó cung ứng, chúng ta chỉ cần kiên trì kháng cự, tin chắc trong vòng ba tháng, quân Tần sẽ tự tan rã. Lạ người lạ đất, người Tần là quân đơn độc tác chiến, đồng minh của người Tần là người Thư đã bại trận, còn Khai Minh Vương của ta lại được người Sở cứu viện. Mười vạn đại quân Sở đang tiến đánh người Ba, tin chắc trong vòng một tháng sẽ đến đất này, cùng quyết chiến với Tần!”
Dưới đài mọi người phấn chấn náo nức, tiếng hô vang rền như sấm động.
Nỗi sợ hãi sầu thảm sau trận chiến bại hôm qua, chỉ trong khoảnh khắc gần như đã tan biến hoàn toàn, ý chí vệ quốc của người Thục đã được những lời khảng khái của lão tướng quốc đẩy lên đến cao trào.
Trong một canh giờ sau đó, lão tướng quốc liên tiếp phát lệnh bài, bố trí ba tuyến phòng thủ. Tuyến thứ nhất, do ông ta và Khai Minh Vương đích thân dẫn bốn vạn binh sĩ, lợi dụng địa thế hiểm trở của các sông Tiềm Thủy, Bạch Long, chặn đánh người Tần ở Thư đô Thổ Phí. Tuyến thứ hai, do Cừ Thủ tướng quân dẫn một vạn quân, phân tán phòng thủ dọc theo sông Bạch Long, dựng luỹ ở nơi hiểm yếu, qua lại tiếp ứng. Tuyến thứ ba, do điện hạ Tu Ngư, tướng quân Bách Thanh dẫn hai vạn quân, bố trí phòng ngự dọc theo Thanh Thủy, dựng luỹ ở Kiếm Môn, đảm bảo cho vận chuyển được thông suốt.
Các dũng sĩ khí thế hừng hực, lần lượt nhận lệnh lên đường. Trong tình thế bất lợi đến nhường này, mà lão tướng quốc chỉ trong hai canh giờ ngắn ngủi đã xoay chuyển được sĩ khí, phân công hợp lý quân ngũ đinh hỗn tạp của nước Thục, điều động trật tự chuẩn xác, đủ để thấy được tài năng của ông. Trang Thắng là người am hiểu việc quân lại càng nhìn mà hoa mắt, khâm phục bội phần.
“Trang tướng quân!” Trần Chẩn lại hỏi. “Thuyền đã chuẩn bị xong chưa?”
“Chuẩn bị xong rồi, đang đậu ở bến sông Tiềm Thủy phía dưới cung thành đất Thư.”
“Phía phu nhân của tướng quân, đã sắp đặt xong chưa?”
“Đã xong cả!”
“Nếu tất cả đều đã ổn thoả, vậy chúng ta hãy lên thuyền thôi!” Trần Chẩn ngửa đầu nhìn trời, rồi dẫn đầu đi về phía bến đò.
“Trần đại nhân!” Trang Thắng đuổi theo mấy bước. “Hay là quan sát tình hình đã rồi hãy tính tiếp, đi chậm mấy ngày hẳn cũng không sao. Vãn sinh thấy lão tướng quốc sắp đặt rất chu toàn, thiết nghĩ người Tần hẳn là...”
“Đi chậm mấy ngày?” Trần Chẩn dừng bước, nhìn về phía người Tần đóng quân, cười nhạt một tiếng, vỗ vai Trang Thắng. “Trang tướng quân hẳn không muốn bị người ta trói nghiến lại mang đi tra khảo đấy chứ? Cho dù Trang tướng quân có muốn, tại hạ cũng không muốn nhìn thấy người Tần ở đất này, đặc biệt là tay Trương Nghi kia!”
“Không đến nỗi thế chứ?” Trang Thắng vô cùng nghi hoặc, nửa như tự nhủ, nửa như muốn hỏi. “Vãn sinh thấy người Thục sĩ khí ngút trời, đại quân đông gần tám vạn, lại có sông núi hiểm trở, vậy thì người Tần...” Giọng nói ngập ngừng, hai mắt nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn.
“Tại hạ nói cho tướng quân hay!” Trần Chẩn gằn mạnh từng tiếng. “Tướng quân chỉ nhìn thấy trên đài, nhưng không nhìn thấy dưới đài. Tướng quân chỉ nhìn thấy những vị lãnh chúa ăn trắng mặc trơn, có quyền có thế ở trước đài, mà không nhìn thấy những thảo dân áo nâu dép cỏ, thì thào bàn tán ở đằng xa. Họ hô hào là để cho lãnh chúa nghe; họ nhảy nhót là để cho lãnh chúa nhìn.”
“Sao đại nhân lại biết được?”
“Vì trong mấy ngày hôm nay,” Trần Chẩn chỉ tay về những toán ngũ đinh đang rải rác theo sau các lãnh chúa, “ta đã nói chuyện với những người kia, cũng đã hỏi han họ. Họ đều có cha mẹ vợ con, đều phải nuôi sống gia đình. Thế nhưng, trên đến Khai Minh Vương, dưới đến các lãnh chúa, không một ai đoái hoài đến họ. Một quốc vương trong mắt chỉ có phi tử đã chết, mà không có người dân đang sống, có thể hy vọng thần dân của ông ta sẽ bán mạng vì ông ta hay chăng?”
Trang Thắng sững sờ.
Tất cả không nằm ngoài dự liệu của Trần Chẩn.
Đúng ba ngày sau khi đám Trần Chẩn, Trang Thắng cải trang thành người Thư lên thuyền theo dòng Tiềm Thủy bỏ trốn, người Tần cũng đi bè từ thượng lưu Tiềm Thủy xuôi xuống, chỉ một trận đã chiếm được bờ bắc sông Bạch Long, đoạt lấy hai bãi bồi. Người Thục trên bãi bồi khi bị người Tần đánh tới và hứa hẹn không giết, lập tức không ai kháng cự, lần lượt hạ binh khí, quỳ gối xin hàng.
Lại qua hai ngày, không biết bao nhiêu người Tần bỗng thình lình xuất hiện hệt như ma quỷ sau lưng người Thục tại quan ải tuyến Kiếm Môn, tại phần đáy của hình trụ lớn chốc lát đã khói lửa ngút trời, trống trận thùng thùng, tù và rền rĩ, đâu đâu cũng thấy cờ hiệu quân Tần, cũng nghe tiếng hò reo xung phong của người Tần. Điện hạ Tu Ngư được lão tướng quốc sắp xếp ở tuyến sau cùng sợ đến vãi cả ra quần, bất chấp tất cả bỏ chạy trối chết. Người Thục thấy điện hạ bỏ chạy, cũng tự tan rã.
Bách Thanh lúc này đang ở bên bờ Thanh Thủy quan sát địa thế, sắp xếp tuỳ tùng chọn đất dựng luỹ, đến khi nghe thấy âm thanh, cấp tốc quay lại cứu viện thì đã quá muộn, tường luỹ mà họ dựng nên đều đã bị người Tần chiếm mất, đường lui cũng bị cắt đứt, không thể đánh ra. Bách Thanh bất lực, đành phải dẫn mọi người men theo Thanh Thủy lui đến sông Bạch Long, cầu cứu lão tướng quốc.
Tuyến đường Kiếm Môn là đường lui gần nhất và cũng gần như là duy nhất để quay về Thục. Biết được đường về đã bị cắt đứt, người Thục ở tiền tuyến đều kinh hãi, không chiến mà tự loạn. Người Tần thúc trống reo hò vang dậy, chia binh làm mấy lộ đánh tới, người Thư cũng thừa cơ dùng tiếng Thục khuyên hàng. Chạy không chạy được, đánh không đánh được, người Thục, thậm chí bao gồm rất nhiều lãnh chúa, chẳng còn tâm trí nào nhớ đến lời của lão tướng quốc nữa, lũ lượt hạ binh khí xin tha mạng.
Thấy đại thế đã mất, lão tướng quốc vội vàng cùng Bách Thanh bảo vệ Khai Minh Vương men theo sông Bạch Long bỏ chạy.
“Bách tướng quân, mau nhìn xem, người Tần ở đằng kia!” Khai Minh Vương lại không chịu đi, nhìn thấy người Tần từ xa kéo đến nghìn nghịt, thì phấn khích múa may trường kích, quay đầu chạy ngược trở lại.
Bách Thanh không chặn nổi ông ta, đang lúc cấp thiết thì lão tướng quốc chạy đến, chỉ về phía thượng lưu sông Bạch Long nói với Khai Minh Vương: “Đại vương không nên mất thời gian với đám quân binh tướng cua kia! Vương phi đang gặp nạn ở phía trước, chúng ta phải gấp rút đi tìm thủy quái, ứng cứu vương phi mới phải!”
Nghe thấy hai chữ “vương phi”, Khai Minh Vương hai mắt đỏ sọc, lập tức quay người lao thẳng về phía trước.
Nhưng chỉ chùng chình một chốc này, người Thư đã nhìn thấy mũ áo của Khai Minh Vương, cùng nhau hô hoán vang trời, dẫn người Tần đuổi gấp theo sau.
Lão tướng quốc, Bách Thanh men theo bờ nam sông Bạch Long bỏ chạy thục mạng về phía tây. Chạy được hơn ba mươi dặm, việc ngoài ý muốn lại tiếp tục xảy ra. Khai Minh Vương nhìn thấy phía trước có một thác nước, dưới thác nước có một cái đầm, cảnh tượng rất giống trong bức vẽ, trước mắt liền xuất hiện ảo giác, quát lớn một tiếng: “Thủy quái chớ chạy, trả ái phi lại cho ta!” Rồi bất chấp tất cả, nhảy ùm xuống bờ sông, múa tít trường kích, xông thẳng xuống đầm nước.
Mọi việc xảy ra quá nhanh, đến khi Bách Thanh đuổi kịp, Khai Minh Vương đã lao ra giữa đầm. Mọi người chỉ còn biết hai mắt trân trân nhìn đại vương của họ chìm nghỉm xuống đầm, nhào lộn theo dòng nước xiết. Đầm nước phải sâu đến mấy trượng, nước đầm trong suốt thấu đáy, khiến họ nhìn rõ mồn một đại vương của mình vẫn vung kích loạn xạ dưới đáy nước, cho đến khi không còn động đậy nữa. Đợi đến khi những binh lính giỏi bơi lội lặn xuống đáy đầm vớt được người lên, Khai Minh Vương đã tắt thở.
Ông vua si tình Lư Tử đã chết trong mối tình si với Khổng Tước vương phi như vậy đấy!
Lão tướng quốc ngồi phịch xuống tảng đá, mắt nhìn Khai Minh Vương trân trân, lệ đục lăn dài. Đoạn chậm chạp quỳ xuống trước thi thể Khai Minh Vương.
Tất cả người Thục đều quỳ xuống.
“Thanh Nhi!” Nghe thấy tiếng truy sát càng lúc càng gần, lão tướng quốc đột nhiên choàng tỉnh, vội vàng gọi Bách Thanh.
Bách Thanh khóc mà đáp: “Phụ thân!”
“Cha đã già rồi, không thể đi tiếp được nữa, sẽ ở lại nơi này bảo vệ đại vương. Quân Tần sắp đuổi đến rồi, con hãy mau chóng dẫn các dũng sĩ chạy đi, nhất định phải trở về Thành Đô trước người Tần, tìm điện hạ, dẫn điện hạ chạy vào Tây Sơn. Chỉ cần điện hạ còn sống, lòng người chắc chắn sẽ không theo Tần. Lòng người không theo Tần, đất Thục mãi mãi vẫn là của người Thục!”
“Phụ thân...” Bách Thanh phủ phục trước mặt lão tướng quốc, bật khóc thất thanh.
“Mau... đi đi...” Lão tướng quốc đưa tay đẩy bật Bách Thanh ra, quát lớn.
Bách Thanh lại lạy lão tướng quốc và Khai Minh Vương thêm mấy lạy, rồi nuốt nước mắt dẫn mọi người chạy đi. Thấy họ đã chạy xa, người Tần cũng đuổi đến nơi, lão tướng quốc thở dài một tiếng, từ từ rút bảo kiếm ra, mắt nhắm nghiền, vung kiếm tự sát.
Đám Bách Thanh lại men theo sông Bạch Long chạy thêm mấy chục dặm, rồi men theo một lũng sông khác ngoặt sang phía nam, vòng một vòng lớn, đến nửa tháng sau mới ra khỏi được vùng núi, chạy gấp về phía Thành Đô. Chạy đến Bành Châu, Bách Thanh từ xa nhìn thấy trước mặt có một đám người Tần đang bao vây chém giết người Thục, liền xông vào giải cứu. Người Tần thấy đối phương đông hơn, liền quay đầu bỏ chạy. Bách Thanh tiến lại gần, thấy kẻ được đám người Thục liều mạng vây quanh bảo vệ chính là thái tử Tu Ngư, lúc này đã toàn thân mềm nhũn.
Bách Thanh cả mừng, sai người cõng thái tử lên, chạy về phía tây bắc, đến vùng rừng núi gần nhất.
Tuy nhiên, đám Bách Thanh đã bôn ba suốt mười mấy ngày trời, phần lớn đều mệt mỏi kiệt sức, lại thêm Bách Thanh thân mang thương tích, càng khó lòng chịu đựng. Đoàn người dìu đỡ lẫn nhau, loạng choạng bỏ trốn được hơn hai mươi dặm, khi đến núi Bạch Lộc thì quân Tần đông đảo đã đuổi kịp tới nơi. Bách Thanh thấy không còn đường trốn, đành phải dẫn mọi người lên núi, dựa vào địa thế tử thủ bốn bề.
Người Tần đuổi đến, tầng tầng lớp lớp vây chặt lấy quả núi đơn độc.
Núi Bạch Lộc mặc dù được gọi là núi, nhưng thực ra chỉ là một quả đồi trọc không lớn lắm, trên núi vừa không trữ lương thực, cũng chẳng có nhà dân. Người Tần khuyên hàng, Bách Thanh thà chết không chịu, tử thủ hai ngày, đến đêm thứ ba thì chia quân làm ba lộ phá vây. Bách Thanh bảo vệ Tu Ngư chạy chưa được bao xa, lại bị người Tần vây bủa. Bách Thanh cõng trên lưng Tu Ngư sớm đã mềm nhũn như cọng bún, quyết không đầu hàng, cuối cùng bị người Tần bắn chết.
Vương triều Khai Minh của Đại Thục kéo dài hơn ba trăm năm, bắt đầu từ thời Vọng Đế Biết Linh, trải qua chín đời hoàng đế, đến đời Khai Minh bị giáng xuống làm vương, lại trải qua ba đời, đến đời thứ mười hai Lư Tử kế vị, không biết tiến thủ, vì tình hại nước, đã đi gặp gỡ vương phi Khổng Tước của ông ta trong đầm sông Bạch Long. Hy vọng cuối cùng của lão tướng quốc Bách Quán đối với vương triều Khai Minh cũng đã tan thành mây khói cùng với cái chết của con trai Bách Thanh và thái tử Tu Ngư trong trận mưa tên của người Tần.
Mấy tháng sau đó, người Thục như rắn mất đầu, hoàn toàn khuất phục dưới đao thương của người Tần.
Tuy nhiên, thời gian dần dà trôi qua, người Thục cũng kinh ngạc phát hiện ra rằng, người Tần không phải là loài lang sói. Không những không phải lang sói, mà ngược lại, người Tần còn “quan tâm” đến họ hơn cả Khai Minh Vương, vừa không quấy nhiễu vợ con của họ, cũng không cướp bóc tài sản của họ. Không những thế, người Tần còn dán cáo thị khắp nơi, giải tán vĩnh viễn ngũ đinh, miễn cho người Thục mười năm thuế má, chỉ bắt phi tần, công chúa, cung nữ trong vương cung và vọng tộc tại Thành Đô, cùng với thê thiếp, tỳ nữ của những hộ quý tộc đã bỏ trốn hoặc tử chiến các nơi, thống nhất phân phát cho các doanh trại, coi như chiến lợi phẩm để ban thưởng.
Đến tháng thứ tư, người Tần đã chuyển thi thể của vương đệ Thư Hầu Hà Manh chết ở Ba đô Lang Trung, cùng với di cốt của Khai Minh Vương Lư Tử và thái tử Tu Ngư trở về, an táng họ tại lăng Khai Minh Vương theo nghi lễ quân vương. Thi thể những vương công quý tộc của Thục như lão tướng quốc, Bách Thanh... cũng được chôn cất tử tế. Đồng thời với đó, thái tử của Thư Hầu là Thông Quốc lên làm Thục Vương mới, đăng cơ tại vương cung.
Từ Thông Quốc trở xuống, người Thục dần dần đều cảm kích người Tần. Đám quý tộc nước Thục đang lẩn tránh trong rừng núi cũng lũ lượt trở về nhà.
Ngoài ba nghìn quân Tần hỗ trợ phòng ngự ở Ba đô Lang Trung, trong vòng năm tháng từ lúc tiến vào Thành Đô đến khi Thục Vương đăng cơ, Trương Nghi liên tục bận rộn trên đất Thục, hoàn toàn quên bẵng mất người Ba. Quân Tần cũng vậy, cho dù dàn binh ở ranh giới giữa Thục và Ba, nhưng cũng chỉ giương mắt đứng nhìn người Sở tàn sát người Ba mà không hề ra tay ứng cứu.
Có vẻ như người Tần lần này xuất binh, thứ muốn có được chẳng qua chỉ là đất Thư và đất Thục, còn về đất Ba, lại hoàn toàn bỏ mặc cho người Sở.
Người Sở đương nhiên vui mừng quá đỗi, Trang Kiều càng tận dụng tối đa cơ hội tốt đẹp này, sau khi liên tiếp chiếm được Bồi Lăng, Giang Châu, liền nhanh chóng dẫn quân lên phía bắc, trải qua ba tháng kịch chiến, tiếp tục chiếm được Điếm Giang, mở toang được cánh cổng phía nam của kinh đô nước Ba, dồn người Ba vào vùng khe núi hẹp chưa đến trăm dặm ở gần đô thành Lang Trung. Trong ba vị Ba tử đích tông, con trưởng Vận Yểm đã chết trận ở Bồi Lăng, con thứ Thố Cừu cũng đã bị thương ở Giang Châu, chỉ còn con thứ ba là Tử Sưu vẫn lành lặn dũng mãnh, không chút sứt mẻ.
Thấy nước Ba sắp không thể giữ được nữa, Ba Vương hốt hoảng, ba lần sai Tử Sưu đến đại doanh của quân Tần ở Thành Đô để cầu cứu. Trương Nghi lần nào cũng tiếp đãi tử tế, hứa hẹn sẽ phát binh, nhưng đến khi Tử Sưu hớn hở trở về Lang Trung ngồi đợi, thì lại mãi chẳng thấy bóng dáng viện binh đâu.
Ba Vương tức đến thổ huyết, giậm chân chửi mắng người Tần không giữ chữ tín, nhưng Tử Sưu lại đột nhiên sực tỉnh, hạ giọng hỏi: “Phụ vương, nhi thần nghĩ kỹ rồi, người Tần cứ chần chừ không phát binh, phải chăng là có nguyên nhân khác?”
Ba Vương sững người, hỏi: “Nói mau, là nguyên nhân gì?”
“Nhớ khi còn ở Hàm Dương, Thông Quốc cầu cứu, Trương Nghi đòi trao đổi, lúc đầu Thông Quốc tặng vùng đất Bao Hán, sau đó lại dâng cho toàn bộ đất Thư. Trương Nghi vô cùng hoan hỷ, thỉnh cầu Tần vương, quả nhiên đã lập tức phát binh. Thông Quốc đã dâng tặng đất Thư cho Tần, Tần cũng đã giữ lời hứa, đưa Thông Quốc lên làm Thục Vương!”
“Ồ, chẳng phải chúng ta cũng tặng họ muối tinh hay sao?” Ba Vương ngơ ngác hỏi.
“Chỉ có năm mươi gánh, đối với chúng ta khác nào nhổ một cọng lông.”
“Là mỗi năm năm mươi gánh, đây là gánh nặng rất lớn!”
“Đúng thế, có nhiều hơn nữa, chẳng qua cũng chỉ là muối, không phải là suối muối!”
“Chẳng phải con đã tặng họ cả suối muối rồi ư?”
“Lúc đó Trương Nghi không hiểu, nhưng giờ thì hẳn đã hối hận rồi.”
Ba Vương trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu sau mới ngẩng lên: “Suối muối thì không được. Hiện giờ chúng ta chỉ còn lại hai suối muối, tất cả những suối khác đều đã rơi vào tay người Sở. Không có suối muối, con cháu đời sau của chúng ta sẽ ăn gì, dùng gì, con đã nghĩ đến chưa?”
“Nhi thần không nói là sẽ tặng suối muối cho Trương Nghi!” Tử Sưu lắp bắp.
“Vậy... con hãy nói đi, chúng ta còn có thứ gì để tặng?”
“Dẫu sao... nếu người Sở đánh đến đây, ta sẽ chẳng còn gì nữa. Thôi thì... cứ tặng đất đai của ta cho Trương Nghi, dù sao cũng đều là núi đồi hoang dã. Nếu như người Tần giúp ta đuổi được người Sở, chúng ta sẽ cùng với họ chia sông mà trị.”
“Chia theo sông nào?”
“Chính là lấy Tiềm Thủy, Lang Trung làm ranh giới. Phía tây Tiềm Thủy, quy về Tần; phía đông Tiềm Thủy, phía nam Lang Trung, quy về chúng ta.”
Ba Vương khổ sở suy nghĩ.
Hồi lâu sau, Ba Vương mới ngẩng đầu lên hỏi: “Không có Lang Trung, phụ vương biết an thân ở đâu?”
“Về Giang Châu!” Tử Sưu đáp ngay tắp lự. “Điều kiện của chúng ta là người Tần buộc phải đánh đuổi người Sở.”
“Đuổi đến đâu?”
“Đuổi ra khỏi Bồi Lăng!”
“Nếu có thể đánh đuổi người Sở ra khỏi Bồi Lăng,” Ba Vương trầm ngâm hồi lâu, rồi tay quyền siết chặt, “ta sẽ làm theo lời con. Con hãy mang theo địa đồ, nói lại những điều này với Trương Nghi, xem hắn nói thế nào.”
Ba tử Tử Sưu nhận lệnh của Ba Vương, lại tràn đầy hy vọng tìm đến Thành Đô, vội vã cầu kiến Trương Nghi, mở tấm bản đồ lãnh thổ nước Ba ra, vạch một đường đông tây dọc theo phía nam Lang Trung, lại vạch một đường nam bắc dọc theo Tiềm Thủy, chia vùng đất ở hai phía bắc và tây đường kẻ cho Tần và Thục.
Không ngờ Trương Nghi lại không hề tỏ ý xuất binh như Tử Sưu đã dự liệu, chỉ thu tấm bản đồ lại, nói rằng cảm tạ Ba Vương đã khảng khái tặng đất, nhưng đất đai của nước Tần không thuộc về Trương Nghi, mà thuộc về Tần vương, Trương Nghi chỉ có thể làm theo trình tự, trước tiên dâng tấu lên Tần vương, chỉ cần Tần vương đồng ý, hắn sẽ lập tức xuất binh.
Nếu như tấu lên Tần vương, chí ít cũng phải mất đến cả tháng, mà trong vòng một tháng, biết bao nhiêu chuyện có thể xảy ra. Tử Sưu hốt hoảng, nhưng cũng chẳng còn cách nào khác, bỗng nảy ra một ý, bèn chạy đến cung Thục yết kiến Thục Vương Thông Quốc. Thông Quốc thoạt tiên chỉ ậm à ậm ừ, nhưng sau bị Tử Sưu bức bách dữ quá, đành phải tiết lộ nội tình, nói là mấy ngày trước Sở Vương đã phái đặc sứ đến, hiện giờ đang ở trong dịch quán.
Tử Sưu kinh hoàng thất sắc: “Vậy Trương đại nhân đã gặp đặc sứ chưa?”
“Chắc là chưa!” Thông Quốc trả lời. “Hôm qua ta đã phái người đi nghe ngóng, nghe nói từ khi vị đặc sứ đó đến Thành Đô, đến nay vẫn chưa ra khỏi cửa dịch quán, cũng không nghe nói Trương đại nhân có đến dịch quán.”
Tử Sưu không nói một lời, lập tức co cẳng chạy ra khỏi cung Thục, vội vã lộn trở về đại doanh quân Tần, tiếp tục cầu kiến Trương Nghi, nhưng bị quân sĩ chặn lại ngoài trại, nói là Trương tướng quân không có bên trong, đã ra ngoài thị sát. Tử Sưu biết Trương Nghi không muốn gặp mình, thì ruột gan như lửa đốt, lại quay trở về cung Thục, khẩn cầu Thông Quốc: “Đại vương và Trương đại nhân là chỗ quen biết, thể diện lớn hơn, hẳn là sẽ được nể tình. Ta nhất định phải gặp được Trương đại nhân càng nhanh càng tốt!”
Thấy trời đã tối, Thông Quốc bèn sắp xếp cho Tử Sưu nghỉ ngơi trong cung, hứa rằng ngày hôm sau sẽ dẫn hắn đi cầu kiến Trương Nghi.
Tử Sưu thở phào nhẹ nhõm, vào trong cung nghỉ ngơi.
Đặc sứ của Sở Vương đang đóng cửa im ỉm trong dịch quán chẳng phải ai khác, chính là Trần Chẩn.
Thật đúng là oan gia ngõ hẹp. Đối với Trần Chẩn, chuyến đi sứ lần này là công việc khổ sai nhất trong đời mà ông ta phải cáng đáng. Tuy nhiên, lệnh doãn đã tiến cử, Sở Vương lại đích thân hạ chỉ, nếu ông ta còn muốn tiếp tục ở lại nước Sở, thì không thể nào từ chối.
Đi cùng ông ta đến đây vẫn là Trang Thắng. Trải qua sứ mệnh lần này, Trang Thắng đã phục Trần Chẩn sát đất.
Sau mấy ngày trời đóng cửa liên tục, sáng sớm hôm sau, Trần Chẩn bèn đánh xe đến đại doanh quân Tần, cầu kiến Trương Nghi.
Khi Trần Chẩn đến, Thục Vương Thông Quốc và Ba tử Tử Sưu đã tới trước một bước, đang chờ ở ngoài trại. Nhìn vẻ mặt nôn nóng của họ, dường như việc cầu kiến không được thuận lợi.
Trần Chẩn sải từng bước lớn tiến lại, khi đến trước mặt hai người họ, mắt cũng chẳng thèm liếc nhìn, vẫn đi thẳng về phía trước, đến ngoài trại, trình danh thiếp, lấy danh nghĩa là đặc sứ của Sở Vương, thỉnh cầu được gặp chủ tướng nước Tần.
Chốc lát sau, có một người đi ra ngoài trại.
Trần Chẩn bất ngờ có được một niềm vui quá đỗi, vì người bước ra chẳng phải ai khác, chính là Ngụy Chương.
Ngụy Chương đi tới trước mặt Trần Chẩn, vòng tay nói: “Đặc sứ nước Sở, chủ tướng nước Tần có lời mời!”
Trần Chẩn dùng thân phận sứ thần ngoại giao để đáp lễ, đi theo Ngụy Chương trước ánh nhìn kinh hãi của Ba tử Tử Sưu, ngẩng đầu ưỡn ngực đường hoàng sải bước vào đại trại trung quân của người Tần.
Trương Nghi ngồi ngay ngắn ở vị trí chủ, thấy ông ta bước vào, cũng chẳng thèm nhúc nhích, song sắc mặt lại lộ vẻ kinh ngạc, quay sang nói với Tư Mã Thác bên cạnh: “Ồ, đây chẳng phải là Trần thượng khanh hay sao? Đều là người một nhà, cớ sao lại nói là đặc sứ của Sở Vương?”
“Trương tướng quân, Tư Mã tướng quân!” Trần Chẩn tiến lại gần, vòng tay nói. “Đặc sứ của Sở Vương Trần Chẩn xin có lời chào!”
“Khoan đã!” Trương Nghi cố tình gãi đầu gãi tai. “Cái đầu này của tại hạ lú lẫn mất rồi! Thượng khanh không phải là chưa tỉnh ngủ đấy chứ? Nếu tại hạ nhớ không nhầm, thượng khanh phải là đặc sứ của Tần vương mới đúng!”
“Trương tướng quân không hề nhớ nhầm!” Trần Chẩn hạ giọng nói. “Một năm trước, Trần Chẩn là đặc sứ của nước Tần, phụng mệnh Tần vương đi sứ nước Sở. Một tháng trước, Trần Chẩn là đặc sứ nước Sở, phụng mệnh Sở Vương đi sứ nước Tần.”
“Được lắm, được lắm!” Trương Nghi uể oải vỗ tay mấy cái. “Đặc sứ đúng là người bận rộn. Tuy nhiên, nếu như luận về danh phận...” ngả người về phía trước, cố tình tỏ ra bí hiểm, “theo tại hạ được biết, e rằng Trần đặc sứ còn bỏ sót một người!”
“Xin hãy nói rõ!”
“Mấy tháng trước, ở núi Nữ Kỷ có một thượng tiên tên Không Động Tử, nghe nói có hơi giống đặc sứ đại nhân!”
Thấy Trương Nghi vừa mở miệng đã nói ra bí mật này, Trần Chẩn giật thột một cú không hề nhẹ, cơ thể hơi chao đảo, phải gắng gượng để trụ vững. Lần trước Trần Chẩn đi sứ nước Thục, về cơ bản không để lộ với người ngoài, chỉ có vài người biết được, trong đó Khai Minh Vương, Bách Quán, Bách Thanh đều đã chết, tiếp nữa chỉ có vợ chồng Trang Thắng, nhưng họ...
“Ha ha ha!” Không để Trần Chẩn kịp suy nghĩ kỹ, Trương Nghi đã phá lên cười, rồi đẩy sự việc đến ngõ cụt. “Tại hạ cũng chỉ là nghe đồn mà thôi, nếu chỉ dựa vào đó, chưa biết chừng lại đổ oan cho Trần đặc sứ cũng nên. Đặc sứ là nhân vật tầm cỡ thế nào, những việc giả thần giả quỷ kiểu này sao có thể làm ra được?”
“Quả thực là có việc này!” Trần Chẩn không còn đường lui, bèn thẳng thắn thừa nhận.
“Ồ?” Trương Nghi mở to hai mắt, nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn một hồi, rồi mới thu ánh mắt lại, liên tiếp vỗ đầu, tỏ ra chế giễu. “Chà chà chà, đúng là tại hạ đã hoa mắt rồi, thì ra Trần thượng khanh thực không phải tầm thường!” Rồi đứng dậy, động tác khoa trương. “Người phàm Trương Nghi không biết thượng tiên giá lâm, thất kính, thất kính!” Lại chìa tay mời. “Thượng tiên mời ngồi!”
Trần Chẩn thở dài một tiếng, ngồi xuống chiếu, sửa ngay y phục, nhắm mắt lại.
“Thượng tiên, mời dùng nước trời!” Trương Nghi tự tay nâng một chén nước trắng, đặt lên bàn của Trần Chẩn, rồi quay về ngồi xuống, ngả người về trước mà hỏi. “Nghe nói thượng tiên không những tìm được ái phi cho Khai Minh Vương Lư Tử, còn khích Khai Minh Vương dẫn mười vạn đại quân chinh phạt em ruột của ông ta là Thư Hầu Hà Manh, đại chiến với quái vật sông Bạch Long, thật là khiến người ta hởi lòng hởi dạ! Tại hạ dù là người phàm, nhưng bản tính hiếu kỳ, mong được nghe thượng tiên kể lại chi tiết đầu đuôi.”
“Tất cả đều là chuyện đã qua!” Trần Chẩn vòng tay nói. “Trần Chẩn tính hay quên, không thể nhớ nổi, mong Trương tướng quân bỏ quá cho.”
Trương Nghi vòng tay đáp lễ: “Được, được, được, nếu thượng tiên đã quên, tại hạ sẽ đợi đến khi thượng tiên nhớ lại rồi nghe cũng chưa muộn. Lần này thượng tiên đến, không biết có việc gì quan trọng?”
“Trương tướng quân!” Trần Chẩn lại vòng tay. “Trần Chẩn lần này đến, là phụng chỉ lệnh của Sở Vương, cùng bàn việc nước Ba với tướng quân.”
“Ồ?” Trương Nghi ngả người về phía trước, cố tình tỏ ra ngơ ngác. “Là việc gì của nước Ba?”
“Ba, Sở vì chuyện biên giới và suối muối, tranh chấp đã nhiều đời.” Trần Chẩn lập tức đổi giọng bang giao. “Không lâu trước đây, người Ba nhân lúc Thục, Thư tranh chấp, lại nổi lên cướp bóc, không những kiếm chuyện gây hấn ở dọc Giang Thủy, mà còn rêu rao đánh Sính. Sở Vương nổi giận, bèn hạ lệnh cho tướng quân Trang Kiều xuất binh giáo huấn người Ba. Nay tranh chấp Thục, Thư đã kết thúc, Sở Vương phái tại hạ và tướng quân thương lượng một phương án khả thi, nhằm giúp cho Xuyên Trung sớm ngày được yên bình, quay về quy củ.”
“Dám hỏi đặc sứ,” Trương Nghi không cợt nhả nữa, cũng nghiêm mặt lại, “Sở Vương đã muốn thương lượng, hẳn là đã có sẵn phương án, tại hạ xin được lắng nghe.”
“Quê gốc của người Ba là núi Ba,” Trần Chẩn lấy từ trong tay áo ra một tấm bản đồ, bày lên mặt bàn, khoanh một vòng tròn lớn trên bản đồ, “chính là vùng núi non này. Còn về đất Ba ở Xuyên Trung, vốn thuộc về người Kinh, mới bị người Ba cướp đoạt chỉ gần trăm năm nay. Ý của Sở Vương là, tất cả người Ba phải trở về quê cũ, người Ba ở vùng đất phía tây núi Ba, phía đông Giang Thủy, do Tần, Sở phân chia mà cai trị!”
“Dám hỏi phân chia như thế nào?”
“Tướng quân hãy xem!” Trần Chẩn lấy bút son ra, vẽ mấy đường màu đỏ vòng vèo trên tấm bản đồ. “Phía bắc Giang Thủy, lấy Ba Thủy làm ranh giới, phía tây Ba Thủy thuộc về Tần. Phía nam Giang Thủy, lấy Giang Châu làm ranh giới, phía đông Giang Châu, bao gồm cả Giang Châu và ba mươi dặm vuông dọc theo Giang Thủy, thuộc về Sở!”
“Tại hạ thay mặt Tần vương đa tạ ý tốt của Sở Vương!” Trương Nghi chau mày suy nghĩ một hồi, rồi vòng tay nói. “Có điều, việc bờ cõi lãnh thổ vốn là của vương hầu, thân là bề tôi không thể quyết định. Phương án này đã là do Sở Vương đề ra, đại vương nên đồng ý mới phải. Mong đặc sứ ráng chờ ít lâu, giờ tại hạ sẽ cho ngựa hoả tốc chuyển ý tốt của Sở Vương và cả tấm bản đồ này về triều, tấu lên đại vương. Khi có ý chỉ, tại hạ sẽ lập tức báo cho đặc sứ, đặc sứ thấy sao?”
“Đa tạ tướng quân!” Trần Chẩn hai tay dâng lên tấm bản đồ, rồi đứng dậy vòng tay nói. “Tướng quân bận trăm công nghìn việc, tại hạ không làm phiền nữa!”
“Cung tiễn đặc sứ!” Trương Nghi đứng dậy đáp lễ, rồi ra hiệu cho Ngụy Chương.
Ngụy Chương tiễn Trần Chẩn ra ngoài trại.
Nghe thấy Trần Chẩn đã đi xa, Trương Nghi bèn quay sang cười nói với Tư Mã Thác: “Tại hạ đã diễn kịch xong rồi, màn tiếp theo đến lượt tướng quân đấy!” Tiện tay đưa tấm bản đồ sang. “Có tấm bản đồ này, vừa hay có thể cho tên người Ba nóng vội kia xem!” Rồi quay sang tham tướng. “Mời Thục Vương, mời Ba tử!”
Tham tướng ra ngoài mời người, Trương Nghi đứng dậy, thấy trong trại không còn ai khác, chỉ có Hương Nữ cải trang thành vệ sĩ đứng bên cạnh hầu hạ trà nước, liền gọi nàng đến, rồi thình lình giơ tay ra ôm chặt lấy eo lưng thon thả của nàng, cười hì hì mà nói: “Trò này chơi xong rồi, giờ thì thị vệ đại nhân, hãy hầu bản tướng chơi đùa trên giường nhé!”
Hương Nữ vội giằng ra, liếc sang Tư Mã Thác đang nhìn họ cười, mặt đỏ bừng hổ thẹn, trách mắng Trương Nghi: “Nhìn chàng kìa, chẳng biết thế nào là hợp nơi hợp lúc, chẳng biết thế nào là đứng đắn, có chỗ nào giống chủ tướng ba quân không?”
“Ha ha ha, vậy thì không làm chủ tướng ba quân nữa, tại hạ chỉ làm chủ tướng một quân là nàng thôi!” Lời vừa dứt, Trương Nghi lại ôm chầm lấy Hương Nữ, kéo về phía cánh cửa kín đáo bên cạnh.
Một tháng sau đó, trong lúc Trần Chẩn y theo lời hẹn của Trương Nghi, lưu lại Thành Đô chờ đợi ý chỉ của Tần vương, một vạn quân Tần dưới sự thống lĩnh của Ngụy Chương đã lặng lẽ xuất binh từ Hà Manh, đi thuyền dọc theo Tiềm Thủy đến Lang Trung, hội hợp với ba nghìn quân Tần viện trợ Ba của Trương Nhược và ba nghìn dũng sĩ nước Ba do Tử Sưu lựa chọn kỹ càng, chuyển sang đi đường bộ, ngày nghỉ đêm đi, tiến thẳng về phía đông, băng ngang Ba Thủy, vượt qua ba dãy núi chạy theo hướng nam bắc, đi theo một khe núi hướng nam bắc nhỏ hẹp vắng người thẳng đến Bồi Lăng. Vào một đêm không trăng gió lộng, đã bất ngờ tấn công dữ dội vào doanh trại quân Sở.
Quân Sở ban đầu, cộng thêm viện quân liên tục kéo đến tiếp viện sau đó, hiện tổng số quân Sở ở Ba đã có tới hơn sáu vạn, nhưng phần lớn đồn thủ ở những vùng đất Ba mới mở mang như Giang Châu, Điếm Giang, còn Bồi Lăng lúc này đã trở thành hậu phương lớn của người Sở, chỉ có khoảng hơn một vạn quân trấn thủ, vì còn có nhiệm vụ bảo vệ lương thảo quân nhu, nên sức chiến đấu giảm sút đáng kể. Trận chiến đấu bắt đầu từ lúc hừng đông, đến khi mặt trời lên chừng một con sào đã cơ bản kết thúc, người Tần chém đầu hơn hai nghìn, bắt sống gần một vạn, một lượng lớn quân nhu mà người Sở tích trữ ở nơi này, chỉ trong vòng một ngày cũng đã trở thành vật trong túi của người Tần.
Bồi Lăng phía đông tây khống chế Giang Thủy, phía nam khống chế Ô Giang, đúng là vùng đất yết hầu và kho đụn hậu phương của người Sở. Bồi Lăng thất thủ, quân Sở lập tức hoảng loạn. Chủ tướng Trang Kiều đang trong đại trại trung quân ở Giang Châu chỉ huy tấn công người Ba, vừa nghe tin báo đã bàng hoàng kinh hãi, đang định lên kế sách phản công, lại có chiến báo truyền về, báo rằng các lộ quân Tần vốn dĩ đóng tại biên giới Ba, Thục trước đây, chỉ trong vòng một đêm đã vượt qua ranh giới đất Thục, đồng loạt áp sát doanh trại quân Sở, bày trận quyết chiến.
Phía thực sự nguy hiểm, chính là người Ba.
Ba tử Tử Sưu đã dâng tặng toàn bộ vùng đất phía tây Ba Thủy, Giang Châu cho người Tần để làm điều kiện, đổi lại người Tần sẽ xuất binh, giúp họ đánh đuổi người Sở, chiếm lại suối muối. Sau khi kết thành giao ước, cuối cùng người Tần cũng đã chịu xuất binh, người Ba vô cùng phấn chấn, Ba Vương nhanh chóng tập hợp hai vạn tướng sĩ, đích thân dẫn quân dọc theo Tiềm Thủy thuận dòng đi xuống, tấn công dữ dội vào thủy quân của quân Sở.
Người Sở bị tấn công nhiều mặt, đường lui lại bị cắt đứt, Trang Kiều bất lực, đành phải hạ lệnh lui quân.
Quân Tần theo đường bộ truy sát, người Ba theo đường thủy quấy nhiễu, người Sở đã không còn lòng dạ chiến đấu, chỉ cốt giữ lấy tính mạng, trước tiên bỏ Điếm Thủy, sau lại bỏ Giang Châu, trước sau chưa đầy một tháng, sáu vạn đại quân tiến vào đất Ba đã bị tổn thất quá năm phần, quân nhu mất trắng toàn bộ.
Người Ba ở phía trước, dọc đường đuổi giết tàn quân Sở. Người Tần ở phía sau, bốn phía chiếm lấy thành ấp đồn luỹ.
Người Ba nhờ vào thế của người Tần, vì muốn chiếm lại đất đai đã mất, trở nên dũng mãnh khác thường, suốt dọc đường đuổi cùng giết tận. Sau khi đuổi đến Bồi Lăng lại chia thành hai lộ, một lộ men theo Giang Thủy tiến về phía đông, đuổi người Sở đến tận Ngư Phục; một lộ dọc theo Ô Giang tiến về phía nam, đuổi người Sở đến tận Kiềm Trung, khí thế hừng hực, một mạch chiếm lại được ba suối muối.
Một là người Sở dần dần ổn định được trận hình, hai là có lẽ Ba Vương đã thấy đủ, nên hạ lệnh thu quân.
Dũng sĩ nước Ba khải hoàn, Trương Nghi mở tiệc tại đại doanh quân Tần ở Giang Châu, mời Ba Vương và các Ba tử, lại gồm cả tù trưởng, lãnh chúa các vùng tổng cộng hơn ba trăm người chúc mừng thắng lợi. Trong buổi tiệc mừng, người Ba sung sướng nhảy múa ca hát, Trương Nghi liên tiếp nâng chén với Ba Vương và các Ba tử, uống thật sảng khoái. Tất cả người Ba cùng uống đến say mèm. Đến sáng sớm hôm sau tỉnh lại, toàn bộ đều chết lặng, vì tất cả đều đã bị nhốt vào trong nhà lao, tay chân bị cùm chặt, còn có đông đảo quân Tần canh giữ.
Đồng thời với đó, các dũng sĩ khải hoàn đóng đồn tại quân doanh các nơi, sau khi thức giấc, dưới sự uy hiếp từ cung cứng nỏ mạnh của “viện binh Đại Tần”, kẻ thuận thì sống, kẻ chống thì chết.
Khúc hợp tấu hào hùng “năm nước tranh Xuyên” khiến liệt quốc thiên hạ nhìn mà lác mắt, từ khi Trần Chẩn vào Thục, cho đến ngày Trương Nghi hạ thuốc mê vào rượu rồi tống Ba Vương, Ba tử và các lãnh chúa vào nhà lao do trọng binh Tần canh giữ, chỉ trải qua khoảng mười tháng, đã kịch hết người tan, quân Tần chỉ đánh đổi một cái giá rẻ mạt là chưa đầy một vạn quân thương vong, đã trở thành chủ nhân mới của Ba, Thục.
Tại vương cung Thục ở Thành Đô, ngoài cửa cung, hai hàng quân Tần cầm kích đứng hiên ngang sừng sững.
Trong cung đang chiêu mộ cung nữ. Đám người cũ trong cung Thục, ngoài thái giám, hầu như toàn bộ cung nữ và phi tần đều bị phân chia đến các doanh trại quân Tần để uý lạo binh tướng, vương cung mới đang cần tuyển gấp cung nữ.
Hai thiếu nữ Thục mặc áo vải thô dắt nhau xin vào. Biết được họ đến xin làm cung nữ tạp dịch, quân uý Tần bèn hỏi qua loa tên tuổi chỗ ở, thấy hai người đối đáp trôi chảy, khuôn mặt tuy đầy ban bớt, nhưng chân tay nhanh nhẹn, vừa nhìn đã biết là người được việc, bèn cho gọi thái giám phường tạp dịch đến, bảo ông ta dẫn vào trong.
Thái giám dẫn hai thiếu nữ vào phường tạp dịch, đang định sắp xếp công việc thì thiếu nữ đi trước đưa cho ông ta một vật, ghé tai thì thầm mấy câu. Thái giám kinh hãi, vội cầm vật đó đi vào bẩm báo Thục Vương. Một lát sau, nội tể đích thân ra đón, đưa hai thiếu nữ vào hậu cung.
“A ca!” Thiếu nữ đi đầu vừa thấy Thông Quốc đã chạy ào lại, gục vào vai hắn bật khóc nức nở.
“Ngươi là...” Thông Quốc giật nảy mình, vội đẩy bật thiếu nữ ra, trợn mắt nhìn mà hỏi.
“Tiểu muội là Bồi Loan đây!” Cô gái vừa khóc vừa nói.
“Bồi Loan?” Thông Quốc lại săm soi cô ta một lượt, vẻ hồ nghi. “Phục sức này? Diện mạo này?”
Thiếu nữ tên gọi Bồi Loan gọi cung nhân mang vào một chậu nước sạch, hai nàng cũng rửa qua mặt mũi, chớp mắt đã biến thành hai tuyệt sắc giai nhân. Đôi mắt to tròn đẫm lệ của Bồi Loan cứ nhìn sững vào Thông Quốc.
“Bồi Loan, đúng là nàng rồi!” Lúc này Thông Quốc mới nhận ra nàng, mừng vui khôn xiết, ôm chầm lấy Bồi Loan, rồi lấy ra một vật trang sức hình chim loan bằng vàng mà thái giám vừa chuyển cho. “Vừa nhìn thấy vật này, ta đã cảm thấy rất đỗi băn khoăn. Mau nói cho ta biết, đã xảy ra chuyện gì. Bồi Loan! Phụ vương và những người khác đâu?”
Bồi Loan là con gái dòng đích tông của Ba Vương, em ruột của Ba tử Tử Sưu. Ba Vương và Thư Hầu nhiều năm về trước đã định mối lương duyên cho Bồi Loan và Thông Quốc từ khi họ còn là hai đứa trẻ, con chim loan vàng kia chính là Thông Quốc tặng cho Bồi Loan làm vật đính ước khi nàng mới mười tuổi, lúc nào nàng cũng đeo trước ngực. Thiếu nữ còn lại là sủng phi của Ba tử Tử Sưu, tên gọi Trúc Diệp, võ công cực cao thâm, có thể dùng lá trúc giết người.
Vừa nghe thấy hai chữ “phụ vương”, Bồi Loan càng khóc lóc thảm thiết, nghẹn ngào kể lại toàn bộ sự việc xảy ra ở Giang Châu trong mấy ngày nay. Thì ra, đàn ông nước Ba giao chiến với người Sở, nữ nhi cũng không kém đấng mày râu, hai nàng đều đi theo Ba Vương, Ba tử chinh chiến. Sau khi tiến vào Ô Giang, họ liền phụng mệnh của Ba Vương, đến núi Phục Ngưu liên lạc với người Ba, tiếp nhận suối muối. Trên đường trở về thì nghe được hung tin người Tần lật lọng, vô cùng kinh hoàng đau đớn, sau lúc bi thương, đã cải trang thành hai cô gái xấu xí, ngay trong đêm bỏ trốn sang đất Thục, nghe nói Thục cung đang chiêu mộ cung nữ, lập tức đến ứng tuyển.
Thông Quốc nghe tin, toàn thân cứng đờ, mặt cắt không còn giọt máu.
“Đại... đại vương?” Nội tể cũng kinh hãi chết lặng.
“Trời xanh ơi!” Thông Quốc định thần lại, ngã ngồi xuống đất, cẳng chân trái bị thương vẫn chưa lành hẳn run lên bần bật, thấy ánh mắt của Bồi Loan cứ nhìn thẳng vào mình, đột nhiên lạnh toát sống lưng. “Bồi Loan, nàng... nàng và tẩu phu nhân phải làm thế nào đây? Nếu... nếu họ...” chỉ ra ngoài cửa, “nếu họ biết được...”
“A ca!” Bồi Loan hiểu Thông Quốc đang sợ hãi điều gì, liền vung tay ngắt lời hắn, điềm tĩnh nói. “Bồi Loan đến đây không phải là để gây phiền phức cho a ca. Bồi Loan đến đây, là để trả lại loan vàng. Nước Ba mất rồi, Bồi Loan đã không còn là công chúa nước Ba. Từ nay trở đi, hai người chúng ta chỉ còn tình huynh muội, không còn ràng buộc hôn ước nữa!”
“Chuyện này...”
“Thông Quốc a ca!” Bồi Loan lại nói. “Bồi Loan và a tẩu trước mắt không còn chốn nào nương thân, muốn tạm thời lưu lại trong cung của a ca mấy ngày, xin miếng cơm ăn. Đợi khi có chỗ đi, nhất định sẽ không làm phiền thêm nữa. Khẩn cầu a ca nể tình huynh muội nhiều năm, ban cho ân huệ.”
“Ta...”
“Chúng tôi sẽ làm cung nữ bình thường, quét tước dọn dẹp, giặt giũ vá may, múa hát mua vui, Bồi Loan và a tẩu việc gì cũng sẵn lòng làm, cho dù không biết, chúng tôi cũng sẽ chăm chỉ học, mong a ca yên tâm.”
Thấy Thông Quốc vẫn chần chừ không quyết, nội tể không đành lòng, bèn lau nước mắt mà nói: “Đại vương, xin hãy giữ họ lại đi! Hiện giờ biết việc này chỉ có mấy người chúng ta, không nói với người ngoài là được!”
“Được rồi!” Thông Quốc nghiến răng, gật đầu nặng nề. “Ngươi hãy đi sắp xếp!”
Nội tể bèn dẫn hai người đi tắm gội, cho phục sức theo lối cung nữ bình thường, sắp xếp họ hầu trà ở tiền điện.
Đợi khi nội tể đi rồi, bên cạnh không còn ai nữa, Trúc Diệp mới hạ giọng hỏi khẽ: “A muội, em nói xem, chúng ta... có làm được không?”
“A tẩu!” Bồi Loan rút từ bên thắt lưng ra một thanh đoản kiếm tinh xảo, tuốt kiếm khỏi vỏ, cầm trên tay mà nói. “Sự sống chết của phụ vương và các anh trai, hoàn toàn nằm trong tay của hai người chúng ta!”
“Lỡ như...” Trúc Diệp khẽ hỏi, “tên súc sinh đó không đến đây thì sao?”
“Hắn nhất định sẽ đến!” Giọng Bồi Loan như rít qua kẽ răng. “Nước Ba đã mất, tiếp theo sẽ là nước Thục! Tên súc sinh phụ nghĩa thất tín này chắc chắn sẽ không để cho Thông Quốc được yên ổn làm Thục Vương!”
“Vậy chẳng phải chúng ta... sẽ làm hại Thông Quốc ư?”
“Hại chết hắn cũng đáng đời!” Bồi Loan căm hận. “Không có hắn, chúng ta đâu có phải sa chân vào thảm cảnh hôm nay.”
Hồi Thứ 60
Hương Nữ quên mình, cứu phu quân
Trương Nghi trả ấn, theo nương tử
Bồi Loan và Trúc Diệp ẩn náu trong cung Thục được mươi ngày, Trương Nghi bất ngờ xuất hiện.
Tất cả đều không nằm ngoài dự đoán của công chúa Bồi Loan, Trương Nghi tới để ngả bài với Thục Vương. Tần Vương là vua, Thục đã là nước phụ thuộc của Tần mà Thục Vương cũng là vua, hiển nhiên không hợp với ý Tần Vương. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, từ lúc người Tần tới Thục, Thông Quốc nhất nhất nghe lời, vương vị của Thông Quốc cũng là do Trương Nghi phụng chỉ lập ra, nay đất Thục vừa định, đã vội phế bỏ vương vị, về tình hay về lý, e là Trương Nghi đều khó mà ăn nói.
Tuy nhiên, chính sự không được phép ngần ngừ, đặc biệt là trị Thục. Trương Nghi quyết định phải tạo thế trước, sau đó “khẽ điểm là dừng”, để Thông Quốc ngộ ra, mà tự động hạ mình.
Để tạo thế được tốt, Trương Nghi gần như không cho Thông Quốc thời gian chuẩn bị, chỉ khi sắp tới vương cung, mới sai tướng quân tiên phong đô úy Mặc vào cung “bẩm báo”. Cùng lúc này, vài chục giáp sĩ tuỳ tùng của đô úy Mặc tăm tắp tiến vào cổng chính của vương cung, sục sạo khắp lượt trong ngoài chính điện cung Thục, sau đó rút lui ra ngoài cửa điện, cứ năm bước một người, xếp thành một hàng dài dằng dặc thương kích sáng loà, một trường sát khí ập tới thình lình khiến đám cung nhân không dám nhúc nhích, không dám thở mạnh, nơm nớp run rẩy chen nhau trong gian thiên điện bên cạnh.
Sau khi biết chuyện của Ba Quốc từ miệng Bồi Loan, Thông Quốc ăn không ngon, ngủ không yên, bên cạnh lại không có cao nhân giúp vạch mưu tính kế, bản thân cũng chẳng có chủ kiến gì, lúc này Trương Nghi lại thình lình tìm tới, bày ra trận thế kinh động nhường này, trong lúc cấp bách, lại càng thêm hoảng loạn, tóc chẳng kịp chải, ngọc chẳng kịp đeo, cuống quýt ra ngoài cửa nghênh đón, vội đến nỗi vương miện rơi xuống cũng chẳng kịp nhìn, may nhờ Bàn nội tể nhanh tay nhanh mắt, nhặt lấy vương miện, trang sức cầm trong tay, hổn hển đuổi tới tận cửa cung, rồi xoè ngón tay giúp đại vương chải tóc, đeo ngọc đội mũ ngay dưới rừng kiếm kích của người Tần.
Vua tôi hai người vừa chỉnh đốn xong xuôi, từ phía xa đã vọng lại những tiếng huyên náo còn lớn hơn nữa.
Không cần hỏi cũng biết, là Trương Nghi giá lâm.
Thông Quốc ổn định hơi thở, vươn thẳng thân người, được Bàn nội tể đỡ ra khỏi cửa cung, bước xuống bậc thềm, khom lưng vái dài về phía cỗ xe ngựa của Trương Nghi đang lừ lừ tiến lại.
Trước có đoàn nghi trượng mở đường, sau có đội hộ vệ yểm trợ, cỗ xe tứ mã đặc chế của vợ chồng Trương Nghi cứ thế thẳng tiến vào cửa cung.
Khi còn cách chừng ba chục bước chân, Trương Nghi hô dừng xe, tung người nhảy xuống, tự tay kê ghế, đỡ Hương Nữ lúc này đã thay xiêm y đỏ rực xuống xe, phu thê hai người rảo bước tới trước mặt Thục Vương, phủ phục dưới đất khấu đầu hô: “Bề tôi nhà Tần Trương Nghi và phu nhân bái kiến Thục Vương!”
Thông Quốc lúc này cũng đã định thần, vội tiến lại gần, đỡ Trương Nghi dậy mà nói: “Tướng quốc mau bình thân! Đại lễ của tướng quốc, bảo Thông Quốc sao dám nhận!” Thấy Hương Nữ cũng đồng thời đứng dậy, bèn quay sang vái một vái dài. “Thông Quốc xin chào tướng quốc phu nhân!”
Hương Nữ vòng tay đáp lễ, nở một nụ cười.
“Đại vương, nơi này gió lạnh, kính mời vào cung bàn chuyện!” Trương Nghi đổi khách thành chủ.
“Tướng quốc, mời!” Thông Quốc né sang một bên, rất mực cung kính đưa tay mời.
Trương Nghi cười ha hả, bước lại nắm lấy tay Thông Quốc, cùng hắn sánh bước tiến lên bậc thềm, bước vào cửa cung, Hương Nữ lại mỉm cười với Bàn nội tể, cùng ông ta đi theo phía sau. Đô úy Mặc sắc diện nghiêm trang, tay nắm đốc kiếm, đi sau cùng.
Lúc chạy ra, vì vội vàng quýnh quáng, không kịp cả sợ hãi, giờ quay trở vào, đi ngay bên cạnh là tướng quốc Đại Tần nụ cười giấu dao, phía sau là đô úy Mặc giết người không chớp mắt, hai bên tua tủa thương đao kiếm kích hàn khí rợn người, Thông Quốc bất giác trán vã mồ hôi, hai chân lập bập, bước đi cũng trở nên cứng nhắc, cứ như phải lê từng bước một.
Trương Nghi thấy vậy, cảm thấy tạo thế cũng đã đủ, khi sắp bước lên bậc tam cấp của chính điện thì dừng bước, buông tay Thông Quốc ra, quay lại phía đô úy Mặc, cất giọng đầy ẩn ý: “Mặc tướng quân, Thục Vương đã do Tần Vương sách phong, đất Thục cũng chính là đất Tần, cung Thục cũng chính là cung Tần, Thục Vương và ta là người một nhà, hẳn cũng không nên huy động binh lính rầm rộ đến thế!”
“Mạt tướng tuân lệnh!” Đô úy Mặc đáp lời, phẩy tay về phía đám giáp sĩ. Nháy mắt, toàn bộ lính Tần đã răm rắp lui cả ra ngoài cửa cung.
Nhìn toà cung điện rộng lớn mênh mông thoáng chốc đã trống trơn, Trương Nghi quay sang Thông Quốc bật cười lên vài tiếng, vòng tay nói: “Xuất chinh tại ngoại, tại hạ là chủ tướng ba quân, Mặc tướng quân cũng là làm theo quân luật của Tần, đại vương xin chớ để bụng!”
“Thông Quốc nào dám!” Thông Quốc cũng vội vàng đáp một lễ, lại chìa tay ra. “Tướng quốc đại nhân, mời!”
Hai người bước vào chính điện, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Bàn nội tể đứng sau lưng Thông Quốc, Hương Nữ ngồi phía dưới Trương Nghi.
Nhìn vào sắc mặt chưa hết kinh hãi của Thông Quốc, Trương Nghi chỉ vào mặt bàn phía trước, nửa như nói đùa, nửa muốn làm dịu bầu không khí căng thẳng: “Mặt bàn trống trơn thế này, đại vương hẳn là không tiếp đãi khách như thế chứ?”
“Dâng... dâng trà!” Thông Quốc bèn ấp úng.
Sự việc xảy ra quá đường đột, lại thêm lính Tần vừa xua hết người đi, nên trong điện lúc này không còn lấy một cung nhân. Bàn nội tể muốn chạy đi gọi người, lại sợ không ổn, muốn đích thân pha trà, song đồ trà để ở đâu cũng không rõ, chỉ biết dáo dác nhìn quanh.
Trương Nghi thấy ông ta lúng túng, thì cười cười, hất hàm ra phía ngoài. Bàn nội tể hiểu ý, hớt hải đi ra, đang ngó quanh tìm người, chợt thấy trong hành lang, Bồi Loan và Trúc Diệp lách người ra, một người bưng bộ đồ trà, trên khay còn đựng sẵn các loại điểm tâm, một người xách chậu than và ấm nước, rõ ràng đang chờ sẵn, than đã cháy đỏ rực.
Bàn nội tể nhận ra ý tứ, liền hạ thấp giọng, cuống quýt: “Công chúa...” Lại nhìn quanh, không thấy có người Tần, mới thở hắt ra một hơi, kéo hai người ra chỗ khuất.
Bồi Loan không giằng được tay ra, bèn cúi gập người hành lễ, nói: “Lão công công, nghe nói có khách quý tới thăm, hãy để hai chúng ta hầu trà nước!”
“Công chúa!” Bàn nội tể xua tay rối rít. “Tuyệt đối không thể được, hai người hãy mau tránh đi, để lão nô sai người khác!”
“Công công!” Bồi Loan giọng nói nhu hoà mà trong mắt toé lửa. “Đám cung nhân kia chẳng có mấy kẻ lịch duyệt, đều bị người Tần dọa cho vỡ mật cả rồi, còn hầu hạ khách quý thế nào được? Hơn nữa, ta và chị dâu vốn là người hiểu trà, cũng thông thạo lễ nghi cung đình, chúng ta đường đường là Đại Thục, không thể vì một chén trà mà để khách quý coi thường, phải không?”
“Công chúa...” Ánh mắt Bàn nội tể dừng lại trên thắt lưng Bồi Loan.
“Công công!” Bồi Loan đoán rằng ông ta đã phát giác ra, thì nước mắt ròng ròng, quỳ phịch xuống đất. “Bồi Loan... thay mặt phụ vương, đại ca, và vô số người Ba, người Thục, cầu xin công công...”
“Than ôi!” Bàn nội tể thở dài một tiếng, nhắm nghiền mắt lại, khoé mắt ứa lệ. “Không được đâu, công chúa, sự việc đã đến nước này, dù hai người có giết chết Trương tướng quốc, thì cũng...” Nói rồi lắc đầu quầy quậy.
“Công công, chúng ta không muốn giết hắn!” Trúc Diệp vội vàng giải thích.
“Ồ?” Bàn nội tể kinh ngạc, nhìn trân trân vào hai người, ánh mắt đầy vẻ nghi hoặc. “Hai người không muốn giết hắn, vậy muốn làm gì?”
Giọng Bồi Loan chắc nịch: “Bắt lấy tên súc sinh không giữ chữ tín kia, đánh đổi lấy phụ vương, đại ca và các Ba tử đang bị hắn giam giữ.”
Bàn nội tể chau mày suy nghĩ, hồi lâu sau, mới gạt lệ, quay ngoắt tấm thân mập mạp, bước thẳng về phía trước, Bồi Loan cũng vội lau nước mắt, ra hiệu cho Trúc Diệp bám sát theo sau.
Hai người theo Bàn nội tể thong thả tiến vào, đặt bộ đồ trà lên mặt bàn trống không bên cạnh, quỳ xuống thi lễ, rồi bắt đầu bận bịu phục vụ trà nước.
Thấy là Bồi Loan, Trúc Diệp, Thông Quốc giật mình kinh hãi, sắc mặt trắng bệch, quay sang Bàn nội tể nói không thành tiếng: “Ngươi... Sao lại là hai người họ? Mau bảo họ ra ngay!”
“Đại vương!” Bàn nội tể điềm tĩnh giải thích. “Vừa nãy thấy lính Tần đông quá, các cung nữ sợ hãi bỏ chạy cả rồi, chỉ còn lại hai người họ, nên lão nô mới...”
Bồi Loan đang rót trà lập tức ra vẻ hờn tủi, nước mắt tràn mi, bèn nâng vạt áo lên lau.
“Ha ha ha!” Trương Nghi không rõ nội tình, bật cười sảng khoái pha trò. “Đất Thục xuất mỹ nhân, hai vị cung nữ đây quả là mỹ nữ, không phải là Thục Vương thương tiếc mà không đành lòng đấy chứ?”
“Thông Quốc không dám!” Thấy không tiện nói gì thêm, Thông Quốc chỉ đành câm bặt, quay sang Bồi Loan giục. “Đừng khóc nữa, mau dâng trà cho khách quý!” Dừng lại một lúc, giọng đầy ẩn ý. “Hai người hết sức cẩn thận cho, làm bỏng khách quý, sẽ không gánh nổi tội đâu!”
“Ha ha, hai vị mỹ nhân, đừng sợ, đã có trà ngon, cứ rót ra đây!” Trương Nghi cười cười vén ống tay áo lên, làm ra vẻ sẵn sàng chịu bỏng.
Bồi Loan thôi khóc, liếc nhìn Trương Nghi nở một nụ cười tươi, thấy Trúc Diệp đã nhấc ấm nước lại, bèn cao giọng hô: “A tỷ, pha trà!”
Rồi chị dâu em chồng chậm rãi đứng dậy, vừa rót trà, vừa đi vòng quanh bàn, ngâm nga hát đối, tay múa chân giậm, lúc cúi lúc ngửa, lúc chậm lúc nhanh, tráng rửa đun pha, khiến toàn bộ lò bát chén bình khua lên rổn rảng, trình tự pha trà ngỡ là rất đỗi bình thường bỗng chốc biến thành một màn biểu diễn trà nghệ thi vị tuyệt vời. Bồi Loan, Trúc Diệp vốn là đại mỹ nữ đất Ba, lại thêm đã nhiều ngày trời rèn luyện, thi triển đủ nghề quyến rũ, nhảy múa điệu vũ dâng trà đất Ba Sơn, đừng nói là Trương Nghi, Hương Nữ, dù là Thông Quốc đã quá quen với hai người, cũng phải ngẩn ngơ.
Trong lúc mọi người đang xem đến say mê, mắt nhìn không chán, thì trà đã qua hai tuần, tuần thứ ba thơm ngon nhất cũng đã pha xong, vừa châm ra chén. Vẫn trong điệu múa lời ca tuyệt mỹ, Bồi Loan, Trúc Diệp mỗi người bưng một chén ngọc, lần lượt dâng tới trước bàn Trương Nghi, Hương Nữ, đặt khẽ lên mặt bàn, nở một nụ cười yêu kiều, rồi lại uốn lượn thân mình, tiếp tục nhảy múa.
Trương Nghi mê đắm trước vẻ phong tình xứ lạ, hai tay đưa về phía chén trà, hai mắt vẫn dán chặt vào hai mỹ nữ.
Nhìn thấy Trương Nghi đã bưng lấy chén trà, đưa lên trước miệng, Hương Nữ đột ngột kêu lên: “Khoan!”
Giọng Hương Nữ gấp gáp quyết liệt, như thể quát lên. Hai mỹ nữ giật nảy mình kinh hãi trước tiếng quát này, đưa mắt nhìn nhau, bỗng chốc khựng cả lại.
Trương Nghi sửng sốt, buông chén trà xuống, hồ nghi nhìn sang Hương Nữ.
Hương Nữ liếc nhìn chén trà trước mặt, lại liếc sang hai mỹ nữ, đưa tay bưng lấy chén trà, khẽ hít một hơi, rồi đưa mắt nhìn Bàn nội tể: “Mời uống chén này!”
Bàn nội tể thoáng do dự, rồi khẽ mỉm cười, đưa tay đỡ lấy, không cả chớp mắt, uống một hơi cạn sạch.
Đúng vào lúc này, Bồi Loan đưa mắt ra hiệu cho Trúc Diệp. Trúc Diệp phất tay áo dài, xoay vụt người lại, hét lên một tiếng: “Trúng!”
Một món ám khí bắn vọt ra, nhằm vào Hương Nữ. Cùng lúc đó, Bồi Loan nhảy bật qua bàn, lao về phía Trương Nghi.
Sự biến chỉ trong chớp mắt. Hương Nữ do có đề phòng từ trước nên nhìn thấy rõ ràng, lập tức lách người né ám khí, mượn đà bật mình nhảy vọt lên, thuận tay rút kiếm Tây Thi, người còn lơ lửng trên không đã chém vào Trúc Diệp. Trúc Diệp hoàn toàn không ngờ Hương Nữ lại có được thân thủ nhường này, không kịp né tránh, chỉ kịp giơ tay lên đỡ theo phản xạ, cổ tay lập tức đứt lìa. Tay còn lại tiếp tục thi triển ám khí, nhưng còn chưa kịp phóng ra, đã bị Hương Nữ một kiếm đâm xuyên ngực trái, kết liễu tính mạng.
Đợi Hương Nữ rảnh tay để cứu Trương Nghi thì đã muộn rồi, Trương Nghi còn chưa kịp phản ứng đã bị Bồi Loan từ phía sau chụp lấy búi tóc, giật ngửa đầu ra phía sau, lưỡi đao sắc lẹm kề ngay trước cần cổ đang phơi ra hết cỡ.
Hương Nữ dừng bước, hai mắt nhìn xoáy vào Bồi Loan.
“Bỏ kiếm xuống, trên đao có độc, dính máu chết liền!” Giọng Bồi Loan rất đỗi bình thản.
Hương Nữ hít ngược vào một hơi, nhìn kỹ lưỡi đao, lát sau, vứt bỏ thanh kiếm Tây Thi, đứng nguyên tại chỗ.
Cần cổ Trương Nghi bị Bồi Loan chặn cứng, đến thở còn khó khăn, nói gì tới lên tiếng, chỉ biết ngửa cổ ngồi yên, phó mặc cho người sắp đặt.
Bồi Loan quét mắt một vòng, thấy Trúc Diệp chỉ còn là cái xác sõng soài, lão nội tể đã trúng thuốc ngã gục vào người Thông Quốc, còn Thông Quốc thì ngây thộn vì kinh hãi, toàn thân cứng đờ, mắt cũng ngây dại, để mặc cho cơ thể to béo của Bàn nội tể đè lên chân mình. Chỉ thấy Hương Nữ mắt hạnh trợn trừng, nhìn chằm chằm vào Bồi Loan không chớp, thân thủ sẵn sàng ứng chiến.
“Lùi lại một bước!” Bồi Loan đanh giọng ra lệnh.
Hương Nữ vẫn đứng im bất động. Dưới chân nàng là kiếm Tây Thi, lùi lại coi như tay không tấc sắt.
“Ta đếm đến ba...” Bồi Loan ấn mạnh lên cần cổ Trương Nghi, bắt đầu đếm. “Một, hai...”
Trương Nghi bị ép tới nghẹt thở, mặt đỏ phừng phừng.
Khi Bồi Loan sắp đếm đến ba, Hương Nữ bèn lùi lại phía sau một bước.
“Lùi thêm ba bước nữa!”
Hương Nữ lại lùi ba bước, phía sau đã là bậc tam cấp của đại điện.
Bồi Loan lúc này mới buông lỏng cần cổ Trương Nghi, song mũi đao vẫn không rời khỏi yết hầu.
Trương Nghi hít liền vài hơi thật sâu, gắng sức trấn tĩnh, khẽ giọng hỏi: “Dám hỏi nữ hiệp, tại hạ có thể nói được chăng?”
“Chẳng phải ngươi đã nói rồi ư?” Bồi Loan lạnh lùng đáp lời.
“Muốn nói thêm một câu nữa!”
“Nói đi!”
“Tại hạ vẫn còn sống, cho thấy nữ hiệp không muốn lấy mạng tại hạ. Nữ hiệp đã không có ý giết tại hạ, mà cứ khư khư thít cổ tại hạ đến thế, chẳng phải mệt sức lắm ư? Tại hạ có chiếc đai lưng, nút cởi ở phía sau, nữ hiệp sao không tháo nó ra mà trói quặt tay tại hạ lại?”
Bồi Loan thoáng ngạc nhiên, nhưng thấy Trương Nghi nói cũng có lý, bèn đưa tay cởi đai lưng của hắn. Trương Nghi chủ động đưa tay ra đằng sau, bắt chéo lại, mặc cho nàng trói nghiến lại.
“Đại vương, phu nhân!” Thấy nàng ta đã trói rất chắc, Trương Nghi mới quay sang Thông Quốc và Hương Nữ, nói. “Oan có đầu, nợ có chủ, nữ hiệp chỉ nhằm vào tại hạ, không liên quan gì tới hai người, mau ra ngoài đi.”
Thông Quốc cũng đã định thần lại, vội vã đẩy nội tể ra, nhấp nhổm đến mấy lần mới đứng dậy nổi, mặt mũi méo xệch méo xẹo, nhìn bộ dạng ấy thì biết, chân cẳng hắn đã bị thân hình phì nộn của Bàn nội tể đè đến tê dại.
“A ca, không được đi!” Bồi Loan như ra lệnh.
Vừa nghe thấy hai tiếng “a ca”, sắc mặt Thông Quốc lập tức tái nhợt, song lại không dám không nghe, đành ngồi xuống chỗ cũ.
Hương Nữ lại lùi thêm một bước, chân trái đã giẫm lên bậu cửa.
Bồi Loan nhận thấy Hương Nữ đang muốn giậm vào bậu cửa để mượn đà tung người nhảy lên, thì cười nhạt một tiếng: “Trương phu nhân, phu nhân cũng muốn ở lại chỗ này sao?”
Hương Nữ nhìn sang Trương Nghi.
Nghe thấy Bồi Loan gọi Thông Quốc là “a ca”, Trương Nghi lập tức hiểu ra, khép mắt một lát, rồi nói với Hương Nữ: “Phu nhân, hãy nghe lời nữ hiệp, ra ngoài đi, ở đây không có việc của nàng.”
Hương Nữ lùi ra khỏi bậu cửa, song chưa vội đi ngay, cứ đứng trơ trơ bên ngoài bậu cửa, hai mắt khép hờ, ánh nhìn không rời khỏi Bồi Loan dù chốc lát.
Bồi Loan liếc nhìn nàng, thấy đã ở ngoài phạm vi nguy hiểm, thì không để ý tới nữa, tiến lên vài bước, cúi xuống nhặt lấy thanh bảo kiếm của Hương Nữ, vuốt thử mũi kiếm, buột miệng khen ngợi: “Kiếm tốt!”
“Nữ hiệp quả là tinh tường.” Trương Nghi buông lời khen ngợi. “Đây là kiếm Tây Thi, vốn do Ngô Vương Phù Sai tặng cho mỹ hậu Tây Thi, sau này Việt Vương Vô Cương có được, đã ban tặng cho phu nhân tại hạ!”
Bồi Loan chẳng buồn đáp lời, cầm kiếm bước tới bên Trúc Diệp, từ từ quỳ xuống, vuốt khẽ hai mắt vẫn đang mở trừng trừng của nàng, miệng thì thầm: “A tẩu, chị cả đời mê võ, chết dưới lưỡi kiếm này cũng đáng!”
“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng.
“Ngươi than thở cái gì?” Bồi Loan đặt thanh kiếm Tây Thi vào trong lòng Trúc Diệp, chầm chậm đứng dậy, quay trở lại bên Trương Nghi, bình thản hỏi.
“Than thở cho vị a tẩu kia.”
“A tẩu của ta đâu cần ngươi phải than thở!” Giọng Bồi Loan vẫn rất đỗi lạnh lùng.
“Tại hạ Trương Nghi dám hỏi tôn tính đại danh của nữ hiệp?”
“Kẻ thù của ngươi, đích nữ của Ba Vương, Bồi Loan!” Bồi Loan vòng ra trước mặt Trương Nghi, tay đao lăm lăm.
“Kẻ thù?” Trương Nghi làm bộ kinh ngạc, quay sang nhìn nàng với ánh mắt khó hiểu. “Tại hạ ngu dốt, dám hỏi công chúa, thù này từ đâu mà có?”
“Thù từ đâu mà có, bản thân ngươi biết rõ!” Bồi Loan giọng nói lạnh lẽo, gần như gằn từng tiếng một.
Trương Nghi nhìn thẳng vào mắt nàng, càng ra vẻ ngơ ngác: “Tại hạ ngu dốt, kính xin công chúa giải thích rõ hơn!”
Bồi Loan nhếch nụ cười nhạt bên khoé miệng, chĩa mũi đao nhọn hoắt về phía Trương Nghi: “Chết đến nơi rồi, vẫn còn múa mép!”
“Được rồi!” Trương Nghi lại khép mắt lại. “Tại hạ không múa mép, tại hạ chỉ cầu xin công chúa một điều, liệu có thể cho tại hạ chết một cách minh bạch?”
“Vậy ta hỏi ngươi, phụ vương của ta đâu? Cả mấy vị a ca của ta nữa?”
Trương Nghi từ lúc nãy đã đọc ra được vài điều từ trong ánh mắt nàng, sớm đã có sẵn chủ ý, do vậy rất đỗi bình thản, cố tình “ồ” lên một tiếng lớn, rồi nói: “Những ngày qua, họ vẫn luôn ở bên cạnh tại hạ!”
“Ngươi... dối trá!” Mũi đao của Bồi Loan một lần nữa lại gí sát cổ Trương Nghi.
“Than ôi!” Trương Nghi thở dài một tiếng. “Công chúa muốn tại hạ giải thích thế nào mới chịu tin đây? Hai mươi hôm trước, tại hạ cùng Ba Vương và các Ba tử gặp gỡ tại Giang Châu, sau đó đi tới Lãng Trung, mấy hôm trước lại cùng tại hạ gấp rút lên đường tới Thục.”
Đây quả là một tin mới mẻ, Bồi Loan hai mắt trợn tròn, ngẩn ra một thoáng, rõ ràng là không tin, mũi đao gí trên cổ Trương Nghi lại gần thêm chút nữa, gằn giọng quát: “Ta không tin! Họ đã bị ngươi chuốc thuốc mê, lúc này đang bị ngươi giam giữ trong đại lao Giang Châu.”
“Họ bị tại hạ giam trong đại lao, công chúa có tận mắt nhìn thấy?”
“Ờ...” Bồi Loan cứng họng.
“Than ôi!” Trương Nghi lại thở dài thườn thượt. “Công chúa, lẽ nào công chúa nhất quyết tin vào lời đồn nhảm mà giết oan Trương Nghi tại hạ? Phụ vương của nàng lúc này đang ở đất Thục, lẽ nào công chúa...” Bỏ lửng nửa vời, cố tình lắc đầu quầy quậy.
Bồi Loan trợn tròn hai mắt: “Chuyện này là thật?”
“Tại hạ thân là tướng quốc Đại Tần, đường đường là nam nhi bảy thước, lại đi lừa gạt một nữ nhi yếu đuối như công chúa đây ư? Phụ vương của nàng mấy hôm trước còn ngồi chung xe với tại hạ tới Thục, muốn bàn với Thục Vương chuyện phân chia ranh giới Ba, Thục, mới tối qua tại hạ còn uống rượu hầu chuyện với phụ vương nàng.”
“Vậy... hiện phụ vương đang ở đâu?”
“Ồ, cũng thật trùng hợp, sáng sớm nay, Thục Vương và tại hạ định cùng lên xe nhập cung, đột nhiên nghe thấy một chuyện lạ kỳ, phụ vương công chúa khăng khăng muốn đi xem, tại hạ giữ không được, đành phải để quốc úy Tư Mã Thác đưa người đi.”
“Chuyện lạ kỳ gì?”
“Nghe nói ở gần đây có người nuôi con lợn nái, hôm trước sinh ra một quái thai, mũi dài, mắt nhỏ, năm chân to bằng cánh tay, nhưng chỉ hai ngày, đã to hơn cả lợn mẹ, có người nói đó là voi!”
Bồi Loan đảo con ngươi vài vòng: “Có chuyện kỳ lạ như thế, sao ngươi lại không đi xem?”
“Ồ, tại hạ kiểu gì cũng không tin! Lợn sinh voi, chẳng phải là hoang đường lắm ư? Hơn nữa, voi cũng chỉ có bốn chân, dưới gầm trời này đào đâu ra voi năm chân? Người Thục sở trường thêu dệt, tại hạ đã mắc lừa đến mấy lần rồi!”
Nhớ lại phụ vương bản tính hiếu kỳ, Bồi Loan bất giác tin ngay, chớp mắt vài cái, lại hỏi: “Thế Tử Trừu a ca đâu?”
“Vốn nói sẽ cùng đi, nhưng trước lúc khởi hành, phụ vương nàng lại lệnh cho ở lại Lãng Trung, nói là để chuẩn bị cho việc dời đô tới Giang Châu.”
“Nếu quả là vậy, ngươi hãy lập tức mời phụ vương ta tới đây! Không thấy phụ vương, ta nhất quyết không tin!”
“Phu nhân!” Trương Nghi nói với Hương Nữ vẫn đang đứng ngoài bậu cửa. “Lúc này Ba Vương hẳn đã xem xong chuyện lạ rồi, nàng hãy mau ra ngoài thành, mời Ba Vương tới đây, đừng nhắc gì tới tại hạ và công chúa, chỉ nói Thục Vương có lời mời!”
Hương Nữ vâng lời, đang định quay đi, Trương Nghi lại nhắc nhở: “Đóng cửa điện lại, tránh để người khác tới quấy rầy! Còn nữa, truyền lệnh Mặc tướng quân, trước khi Ba Vương giá lâm, bất cứ ai cũng không được bước chân vào cửa cung một bước, kẻ nào trái lệnh, chém đầu!”
Hương Nữ đã nghe ra ý tứ, bèn đường hoàng bước vào trong điện, kéo hai cánh cửa, khép hờ lại, rồi thong thả bước xuống bậc thềm, ung dung rời đi.
Nghe thấy tiếng bước chân của nàng xa dần, Trương Nghi thở phào một tiếng, quay sang Bồi Loan: “Tại hạ thực tình không hiểu, vì cớ gì mà công chúa lại đổ cho tại hạ giết hại Ba Vương, Ba tử?”
“Người Ba đều nói như vậy cả!” Bồi Loan đáp, nhưng ngữ khí đã không còn chắc nịch như lúc trước nữa. “Họ còn nói, người Tần các ngươi đã bắn chết toàn bộ các dũng sĩ người Ba.”
“Cha chả, cha chả...” Trương Nghi cười nhăn nhó, nhìn sang Thông Quốc. “Những lời đồn thổi kiểu này, đại vương có tin được không? Tại hạ xuất binh là theo lời thỉnh cầu của đại vương và Ba Vương. Trèo đèo lội suối, nếm đủ mùi cực nhọc giải vây cho người, đúng là thiệt thòi đủ đường, Tần Vương thoạt tiên khăng khăng không chịu, nhưng thấy đại vương khẩn thiết cầu xin, tại hạ không đành lòng, mới thuyết phục Tần Vương, từ ngàn dặm xa xôi vượt đường tới chi viện cứu nguy, thật không ngờ...”
“A muội!” Thông Quốc cũng cảm thấy không phải với Trương Nghi, bèn quay sang Bồi Loan. “Hẳn là tin đồn nhảm mà thôi, theo a ca biết, tướng quốc không phải người như vậy.”
Bồi Loan cúi đầu xuống.
“Công chúa, tại hạ hơi khát, có thể ban cho chút nước được chăng?” Trương Nghi chép miệng vài cái, rõ ràng là khát thật.
Bồi Loan rót nước từ bình vào trong chén, đưa tới trước miệng Trương Nghi.
“Không có độc đấy chứ?” Trương Nghi nhìn chằm chằm vào Bồi Loan, cố tình ra vẻ ngờ vực.
Bồi Loan lừ mắt nhìn Trương Nghi, uống lấy một ngụm, rồi đưa lại cho hắn.
Trương Nghi mới làm ra vẻ yên tâm, uống ừng ực một hơi hết sạch, rồi bắt đầu thao thao bất tuyệt, nào là kể chuyện quen biết hai người Thông Quốc, Tử Trừu ở Hàm Dương, nào là kể chuyện kết giao tình thân khác nào huynh đệ, nào là ca ngợi Tử Trừu tính khí hào sảng, trượng nghĩa, nào là hai người cùng uống rượu đến dở điên dở khùng, tán đủ chuyện trên trời dưới biển, hai bên tuyệt đối không chút hiềm nghi vân vân. Bồi Loan càng nghe lại càng cảm động, dần dần cảm thấy có lẽ mình đã hiểu lầm Trương Nghi.
“Công chúa!” Trương Nghi như thể sực nhớ ra điều gì, nhìn vào Bồi Loan. “Nghe đồn, công chúa và đại vương sớm đã có hôn ước, có chuyện này chăng?”
Nghe thấy hai chữ hôn ước, Bồi Loan mặt đỏ bừng hổ thẹn, lại cúi đầu xuống.
Trương Nghi quay sang Thông Quốc: “Đại vương, có chuyện này chăng?”
“Ờ ờ...” Thông Quốc ậm ừ hai tiếng, giọng lí nhí như muỗi kêu. “Lúc đó hai chúng ta còn nhỏ.”
Trương Nghi phá lên cười sảng khoái. “Ở đất Trung Nguyên tại hạ, đây gọi là đính ước từ nhỏ, trong tất cả các kiểu hôn nhân, đính ước từ nhỏ là đáng quý nhất, hôn sự của hai người, đúng là mối duyên trời ban. Đại vương xem thế này có được không, đợi Ba Vương tới, tại hạ sẽ đứng ra làm chủ, để mối nhân duyên tốt đẹp này trở nên viên mãn!”
Thấy Trương Nghi cứ thế thao thao bàn chuyện thành thân, Bồi Loan ngượng ngùng hổ thẹn, sợi dây cảnh giác luôn kéo căng trong lòng nàng thình lình đứt phựt.
“Công chúa, xin ban thêm chén nước nữa!” Trương Nghi lại khẩn thiết thỉnh cầu.
Bồi Loan khẽ cười, đặt thanh đao xuống bàn, rót nước, rồi bưng cho hắn uống. Sau đó lại rót đầy một chén, đẩy tới trước mặt Thông Quốc.
“Công chúa, tại hạ ngồi lâu, chân cẳng tê dại, có thể đứng dậy đi lại một lát không?” Trương Nghi duỗi chân, làm bộ nhăn nhó.
Bồi Loan gật đầu.
Trương Nghi chật vật đứng dậy, duỗi chân vài cái, vừa đi lại, vừa trò chuyện luôn miệng. Đi được vài vòng, thì kín đáo vòng lại bên bàn, rồi thình lình vận lực, tung chân đá văng thanh đao tẩm độc đi, rồi lao người về phía sau, đâm sầm vào Bồi Loan, rồi như biết chắc bên ngoài có người, lớn tiếng gọi ngay: “Phu nhân mau vào đây!”
Ba động tác của Trương Nghi liền mạch chớp nhoáng, Bồi Loan bất ngờ không kịp đề phòng, bị Trương Nghi đâm cho thẳng cánh, ngã văng đi hai bước.
Gần như cùng lúc đó, Hương Nữ không biết đã quay lại và âm thầm nấp sẵn ngoài cửa tự bao giờ, lập tức đẩy tung cửa điện, phi thân lao vào, chỉ một bước nhảy đã tới bên Trúc Diệp, đưa tay nhặt lấy kiếm Tây Thi.
Hai bên chính điện mỗi bên đều có hai cột trụ to một vòng ôm. Vì đao có độc, nên khi đá thanh đao đi, Trương Nghi nhắm vào chuôi đao, vung chân quét ngang, thanh đao bay nghiêng đi, do chuôi nặng lưỡi nhẹ, nên chuôi đao xoay về phía trước, đâm trúng cột trụ gỗ nam to lớn ở phía trong hàng bên trái, “keng” một tiếng rồi chuyển hướng, bật thẳng về phía Bồi Loan cách đó hai trượng, vừa hay xuyên trúng bắp chân nàng. Lưỡi đao tẩm chất kịch độc, thấy máu là chết, song Bồi Loan sớm đã coi thường sinh tử, chẳng hề kinh sợ, rút phắt lưỡi đao ra, bật người thẳng dậy như cá chép quẫy mình, quát lớn một tiếng: “Gian tặc xem đây!” Rồi vụt một tiếng phóng thẳng lưỡi đao về phía Trương Nghi.
Trương Nghi sau khi xô bật Bồi Loan đi, theo quán tính ngã ngửa xuống đất, lại thêm hai tay đã bị Bồi Loan trói quặt, vả lại sự việc chỉ xảy ra trong nháy mắt, nên chỉ còn biết hai mắt trân trân nhìn lưỡi đao lao về phía mình, không thể và cũng không kịp né tránh.
Mắt thấy tình thế hiểm nghèo, Hương Nữ vội vã quăng ngay kiếm Tây Thi tới. Thanh kiếm va trúng lưỡi đao sắc lẹm ngay sát trước ngực Trương Nghi. Lưỡi thép va nhau, lưỡi đao độc bị đánh bật đi, văng về phía cột trụ bên phải, rơi loảng xoảng xuống đất. Còn mũi kiếm Tây Thi cắm phập vào cột trụ, rung lên bần bật.
Một đòn không trúng, Bồi Loan thuận tay rút phắt cây trâm vàng trên đầu, hú lên một tiếng rùng rợn, tung người nhảy vọt lên cao, rồi lao thẳng vào Trương Nghi.
Hương Nữ lúc này đã chạy được tới bên Trương Nghi trước một bước, vừa che chắn cho Trương Nghi, vừa đưa tay rút kiếm Tây Thi ra khỏi cột trụ, rồi không kịp cả quay mình, ngoặt tay đâm ngược mũi kiếm lên khoảng không sau lưng.
Chiêu thức quá ư chớp nhoáng, Bồi Loan không có thời gian né tránh, cũng chẳng hề có ý định né tránh, cứ thế lao người vào mũi kiếm.
Kiếm Tây Thi xuyên suốt lồng ngực Bồi Loan, cây trâm vàng của Bồi Loan cũng đâm xuyên bả vai Hương Nữ.
Đúng lúc này, đô úy Mặc dẫn lính Tần ồ ạt xông vào, kéo Bồi Loan đang đè sấp trên người Hương Nữ ra, vực Hương Nữ dậy, cởi trói cho Trương Nghi.
Nhìn hình hài mỹ miều vừa mới đây thôi còn nhảy múa yêu kiều, chớp mắt đã nằm co giật dưới đất; một bầu thanh xuân phơi phới đang vội vã tan biến ngay trước mặt, Trương Nghi xót xa khép mắt, thở dài một tiếng: “Thật là một trang liệt nữ!”
Sau màn báo thù kinh tâm động phách của Bồi Loan và Trúc Diệp, Trương Nghi cũng không cần thiết phải “khẽ điểm” nữa. Đối mặt với đông đảo lính Tần kiếm kích sáng loà, Thông Quốc vừa không còn cách thanh minh, cũng không thể thanh minh, chỉ biết quỳ phịch xuống đất, dập đầu thỉnh tội. Lúc này, Bàn nội tể bị trúng thuốc mê vừa hay tỉnh dậy, nhìn thấy chủ nhân đang quỳ sụp dưới đất, lập tức nghiến răng nhận hết toàn bộ tội lỗi về mình. Trương Nghi niệm tình ông ta là người trung nghĩa, bèn lệnh cho lính Tần đưa cho một dải lụa trắng, đợi ông ta tự vẫn xong, liền hạ táng trọng thể cùng Bồi Loan, Trúc Diệp.
Còn đối với Thông Quốc, Trương Nghi cho hắn hai đường lựa chọn, một là đi theo Ba Vương, ngược lên bắc tới Tần, nhận sắc phong của Tần Vương; hai là tạm thời ở lại Thục, Trương Nghi sẽ thay mặt tấu thỉnh. Thông Quốc không dám nhiều lời, tỏ ý thần phục Tần, lại nói do mình đi lại bất tiện, tình nguyện lấy danh phận thuộc hầu của Tần, khẩn thiết thỉnh cầu tướng quốc tấu giúp.
Trương Nghi đồng ý, lập tức thảo tấu chương, tấu thỉnh Tần Vương phân chia đất Ba, Thục thành bốn mươi mốt huyện, chọn nơi địa thế hiểm yếu xây dựng thành lũy, cửa ải, phái quân tinh nhuệ trấn giữ; đặt kinh thành ở Giang Châu, xây Ba đô, tấu thỉnh cho đô úy Mặc làm quận thú, phía bắc kiểm soát đường ra vào, phía đông đối kháng người Sở, đổi tên đất Thư thành huyện Hà Manh, trực thuộc quận Hán Trung. Tấu thỉnh cho Ngụy Chương làm quận thú quận Hán Trung; giáng chức Thục Vương Thông Quốc thành Thục Hầu, tấu thỉnh cho Trương Nhược làm tướng quốc. Ngoài ra, còn tấu rằng Tần pháp tạm thời chưa nên thực thi ở Ba, Thục, khích lệ dân Tần không có đất di cư tới Thục, quân lính giữ Thục thực thi chế độ vừa trồng trọt vừa chiến đấu, có thể kết hôn tại đây, lấy con gái Ba, Thục làm vợ.
Tần Vương nhất nhất chuẩn tấu.
Không đầy một năm, Ba, Thục được yên trị. Đầu năm sau, Trương Nghi phụng chiếu hồi triều, để Tư Mã Thác và ba vạn quân ở lại trấn giữ Hà Manh, còn mình dẫn theo hơn bốn mươi quý tộc Ba Thục đang bị cầm tù, trong đó gồm cả Ba Vương, Ba tử lên đường về bắc.
Từ miệng quân lính áp giải, Ba Vương biết được Bồi Loan đã chết, lại nghĩ đến bản thân tới Tần trong cảnh xiềng xích thế này, đừng nói là viễn cảnh khó lường, mà chỉ riêng mối nhục này, ông ta cũng không muốn chịu đựng, nhân lúc đêm khuya, lính canh không để ý, đã dùng dây mây thắt cổ ngay trên con đường Thục mà chính bản thân mình đốc thúc xây dựng. Ba tử Tử Trừu hổ thẹn không thiết sống, cùng với bốn người anh em khác mẹ bị trói chung một sợi dây thừng nhảy xuống vực sâu thăm thẳm. Vương thất nước Ba do tiên tổ Lẫm Quân một tay gây dựng đã diệt vong từ đây.
Trương Nghi khải hoàn trở về, Tần Vương ra tận ngoài thành ba mươi dặm nghênh đón, lập đàn khao thưởng ba quân, phong Trương Nghi làm Ư Thành Quân, ban cho thực ấp nghìn hộ.
Sáu nước phạt Tần, Bàng Quyên chắc thắng đến mười phần song lại nếm mùi thất bại, đau đớn phản tỉnh, quyết chí một lòng chỉnh đốn ba quân. Vì việc này, Bàng Quyên đã thực hiện ba việc lớn:
Thứ nhất, mở rộng ba quân hổ bôn. Nếu nói võ binh là do Ngô Khởi sáng lập, thì quân hổ bôn là do một tay Bàng Quyên gây dựng, hơn nữa trong cuộc chiến Hàm Cốc, đã phô bày được sức mạnh phi phàm. Sau cuộc chiến Hàm Cốc không lâu, Bàng Quyên chiêu mộ rầm rộ nhân tài có năng lực dị thường và lực sĩ sức mạnh siêu quần trong cả nước, còn dán thông cáo chiêu mộ treo thưởng đến cả liệt quốc, chưa đầy hai năm, quân hổ bôn từ ba nghìn đã lên đến một vạn, thiết lập nên ba quân tả trung hữu, Bàng Quyên đích thân đảm nhiệm chức chủ tướng, cầm đầu trung quân; Thanh Ngưu cầm đầu tả quân, Long Hổ cầm đầu hữu quân. Long Hổ là cháu nội của tướng quân Long Giả, nay đã lớn khôn, dũng mãnh hàng đầu ba quân, dưới sự dẫn dắt của Bàng Quyên, đã trở thành một viên mãnh tướng trí dũng song toàn.
Thứ hai, chỉnh đốn lại ba quân võ binh. Ngoài ba quân hổ bôn, Bàng Quyên còn dốc hết quốc lực, tuyển chọn được ba vạn lính tinh nhuệ, tráng kiện từ trong đám binh lính và quân đầu xanh ở các thành ấp, tổ chức thành võ binh trung kiên, chia làm ba quân tả trung hữu, bản thân đảm nhiệm chức chủ tướng, cầm đầu trung quân. Tướng lĩnh của ba quân hổ bôn và ba quân trung kiên, tuy cầm số quân khác xa nhau, song cấp bậc tương đương, đãi ngộ như nhau, có thể điều động song song. Bốn vạn lính tinh nhuệ này đều chịu sự thống lĩnh của Ngụy Vương, do Bàng Quyên chỉ huy, quanh năm bốn mùa không làm việc gì khác, suốt ngày chỉ rèn luyện võ nghệ và bày trận. Tạm chưa nói tới một vạn quân hổ bôn, chỉ riêng ba vạn võ binh cũng đã đủ xuất thần, đều là tráng sĩ hạng nhất, người nào cũng vác nổi trăm cân, đi xa trăm dặm vẫn có thể chiến đấu như thường.
Thứ ba, cải tạo trang bị cho ba quân. Bất luận là quân hổ bôn hay võ binh, đều được trang bị áo giáp mũ trụ bằng sắt, về trang bị, mọi mặt đều phỏng theo quy chế do Ngô Khởi định ra. Bốn vạn lính tinh nhuệ phối hợp với hai nghìn cỗ xe chiến, trong đó hổ bôn, võ binh mỗi bên một nghìn cỗ.
Còn về chế độ đãi ngộ tướng sĩ, lại càng khỏi phải bàn, quân lính được ăn uống đầy đủ theo đúng sức ăn, ngựa chiến ngoài cỏ còn được bổ sung ngũ cốc. Phàm là võ binh trong quân chế, cả nhà sẽ được miễn thuế, miễn lao dịch năm năm. Trong chiến trận, nếu tàn tật sẽ được ban thưởng năm mươi mẫu ruộng, miễn thuế và miễn lao dịch mười năm; nếu tuẫn thân sẽ được ban thưởng một trăm mẫu ruộng, miễn thuế, miễn lao dịch hai mươi năm. Lập quân công, theo công ban thưởng. Ưu đãi dành cho võ binh Đại Ngụy bỗng chốc tăng vọt, khiến con gái tranh nhau đòi gả, đàn ông coi chuyện gia nhập võ binh là niềm tự hào, trẻ nhỏ đua nhau luyện thương múa gậy, phong khí thượng võ thịnh hành trên khắp đất Ngụy.
Cùng với đó, Bàng Quyên còn thường mời Ngụy Vương tới doanh trại duyệt binh, tận mắt chứng kiến uy lực của quân đội. Huệ Vương vui sướng tới độ cười không khép nổi miệng, với các tấu sớ của Bàng Quyên, nhất loạt phê chuẩn.
Và thế là, vua tôi hai người gần như đã dốc toàn lực vào quân đội, khiến nước Ngụy chưa kịp phục hồi nguyên khí sau trận chiến Hàm Cốc đã mau chóng tài lực cạn kiệt. Thượng khanh Chu Uy, tư đồ Bạch Hổ hoang mang lo lắng, năm lần bảy lượt dâng tấu cấp báo. Ngụy Vương chẳng biết giải quyết ra sao, vội cho gọi Bàng Quyên tới nghị sự.
Bàng Quyên lại mời Huệ Vương tới doanh trại, mở sa bàn lớn, chỉ vào một số lá cờ nhỏ màu vàng ở xung quanh nước Ngụy, nói: “Phụ vương hãy xem, những lá cờ nhỏ màu vàng này, đều là kho lương của liệt quốc; những lá cờ nhỏ màu lục, đều là đồng cỏ của liệt quốc. Những chỗ này thuộc nước Vệ, những chỗ này thuộc nước Tống, những chỗ này thuộc nước Tề, những chỗ này thuộc nước Sở, những chỗ này thuộc nước Hàn, những chỗ này thuộc nước Tần.” Rồi nhấn mạnh vào Hàm Đan. “Còn chỗ này, ba lá cờ vàng liền nhau, đều thuộc nước Triệu! Phụ vương thích cờ nơi nào, nhi thần sẽ nhổ ngay chúng lên.”
Ngụy Huệ Vương thở dài một tiếng, sắc mặt đờ đẫn.
“Phụ vương!” Bàng Quyên hai mắt sáng rực, nhìn chằm chằm vào Huệ Vương. “Kẻ có được nô bộc, không lo cơm áo; kẻ có được sĩ tử, sẽ có kế hay; kẻ có được kỹ xảo, vui tai sướng mắt; kẻ có được mỹ nữ, hậu cung đông đảo.” Rồi siết chặt tay quyền. “Phụ vương nay có được dũng sĩ thiên hạ, chắc chắn sẽ có được tất thảy!”
Ngụy Huệ Vương lại hít vào một hơi, hồi lâu, cũng siết chặt nắm tay mà nói: “Hiền tế nói rất phải!” Rồi nhìn vào những lá cờ nhỏ của liệt quốc. “Theo ý hiền tế, cờ nào có thể nhổ?”
“Chính là chỗ này!” Ngón tay Bàng Quyên từ từ dịch về phía kinh đô Hàm Đan nước Triệu.
Ngụy Huệ Vương khép mắt hồi lâu, rồi mở choàng ra, lại tiếp tục nhìn đăm đăm vào những lá cờ nhỏ một hồi, sau đó dứt khoát lắc đầu.
“Phụ vương chớ nên lo lắng!” Bàng Quyên sững sờ mất một chốc, rồi lại chỉ vào sa bàn, hạ giọng nói. “Hai năm qua, nhi thần đã sai người bí mật dò la nước Triệu, kinh đô Hàm Đan, địa thế sông núi, cửa ải doanh trại, tất cả nhi thần đều đã nằm lòng, cuộc chiến này đảm bảo toàn thắng.”
“Than ôi, hiền tế!” Huệ Vương khẽ thở dài một tiếng. “Không phải chuyện thắng hay thua, mà là quả nhân không muốn phạt Triệu!”
“Xin hỏi tại sao?” Bàng Quyên cuống lên, hậm hực nói. “Nước Triệu khởi xướng hợp tung, song khi quân hợp tung phạt Tần, lại bí mật cấu kết với người Tần, hãm hại quân ta, nước phản phúc vô nghĩa như thế, đáng bị trời tru đất diệt!”
“Quả nhân đã nghĩ kỹ rồi,” Huệ Vương giải thích, “thảo phạt nước người phải có chính nghĩa. Tuy Triệu thất nghĩa, song tội chưa đến mức bị thảo phạt. Sáu nước phạt Tần, người Triệu dù sao cũng đã xuất binh, hơn nữa quân của Tam Tấn đều ở tiền tuyến Hàm Cốc, co cụm không tiến là ba quân Tề, Sở, Yên, quân Triệu rút lui là phụng mệnh của ái khanh, còn người Triệu không bị chặn đánh, kho lương của Triệu không bị huỷ hoại, không chừng là kế ly gián của người Tần...”
“Phụ vương, đó là lời giảo biện của người Triệu!”
“Đừng nhắc tới việc này nữa!” Huệ Vương xua tay ngăn hắn lại. “Giảo biện cũng thế, mà sự thực cũng vậy, chúng ta đều không có chứng cứ. Không có chứng cứ mà vẫn thảo phạt, thế gọi là mạo phạm. Quân hợp tung phạt Tần tuy không thành công, song minh ước còn chưa xoá bỏ, hợp tung còn chưa tan rã, quả nhân nếu lại đi thảo phạt nước kết minh, chính là bất nghĩa!”
Thấy Huệ Vương kiên quyết đến thế, Bàng Quyên không tiện tranh luận, ngập ngừng một lát, bèn hỏi: “Vậy phụ vương muốn phạt nơi nào?”
“Chính là chỗ này!” Ngón tay già nua mà rắn rỏi của Huệ Vương chỉ thẳng vào Hà Tây. “Bảy trăm dặm Hà Tây, núi sông như vẽ, tiên tổ phải đổ máu mới giành được, vậy mà chỉ trong một đêm đã bị mất trắng trong tay quả nhân. Hà Tây một ngày chưa đòi lại được, quả nhân một ngày không cam lòng!” Rồi thở dài một tiếng. “Không giấu hiền tế, lần trước sáu nước phạt Tần, phụ vương đây chỉ có một mong muốn, đó là thu phục Hà Tây, nào ngờ...”
Gần hai năm qua, tâm tư Bàng Quyên lúc nào cũng chỉ chăm chăm vào Hàm Đan, lúc này hiển nhiên không khỏi ngỡ ngàng.
“Ái khanh!” Huệ Vương ngẩng nhìn Bàng Quyên, thần sắc trịnh trọng. “Quả nhân già rồi, không sống được bao lâu nữa. Vinh hoa phú quý, quả nhân coi như cũng đã hưởng đủ, không còn luyến tiếc điều gì. Đời này chẳng còn ước muốn gì khác, chỉ canh cánh có một Hà Tây. Các nước hợp tung đã không thể trông chờ, phụ vương đây chỉ cậy vào một mình hiền tế. Nếu hiền tế quả thực có thể giúp quả nhân thu phục Hà Tây, thì quả nhân... có chết cũng cam lòng!”
“Phụ... vương...” Bàng Quyên vẫn chưa hết ngơ ngác.
“Than ôi!” Huệ Vương khẽ thở dài một tiếng. “Ái khanh nếu không chắc chắn, thì bỏ đi vậy. Quả nhân già rồi, cũng không muốn khai chiến nữa.”
“Phụ vương!” Bàng Quyên cũng là kẻ biết lẽ cứng mềm, hiểu rằng đã không còn lựa chọn nào khác, bèn từ từ siết chặt nắm đấm, sắc mặt cũng đã lấy lại vẻ cương nghị. “Nhi thần đã hiểu, lập tức chuẩn bị phạt Tần, đoạt lại Hà Tây!”
Hương Nữ bị trâm vàng của Bồi Loan đâm trúng bả vai, may thay trong trâm không có độc, hơn nữa do trúng xương bả vai, chưa xuyên sâu vào trong, lại được chữa trị kịp thời, nên chưa đầy nửa tháng, ngoại thương đã khỏi.
Song đáng ngại lại là nội thương. Do mũi trâm sắc nhọn làm tổn thương tới tận xương, lại thêm trên đường hành quân phải chịu thấp hàn, Hương Nữ từ đó mắc bệnh viêm bả vai, thời tiết chỉ hơi thay đổi, bả vai lại đau nhức vô cùng, có lúc buốt thấu tim gan.
Thấy Hương Nữ vì mình mà bất chấp tính mạng, Trương Nghi lại càng vừa xót vừa yêu. Những khi Hương Nữ đau đớn, Trương Nghi chỉ hận không thể chịu đau thay nàng. Để ghi nhớ sự việc kinh tâm động phách xảy ra trong cung Thục, Trương Nghi đã cố tình bày thanh đao tẩm thuốc độc của Bồi Loan ở bên thư án, những khi nhàn rỗi, lại sai đám lính bắt về vài con thú nhỏ như chuột, rắn để thử đao độc, tận mắt nhìn chúng trúng kịch độc quằn quại mà chết, rồi nhắm mắt hồi tưởng lại cảnh thanh đao chỉ cách ngực mình gang tấc, nếu không nhờ Hương Nữ phi kiếm đánh bạt, thì giờ đây hắn đã...
Cứ nghĩ tới đó, Trương Nghi lại bất giác rùng mình ớn lạnh, càng thêm yêu thương Hương Nữ hơn nữa, hình bóng của sư tỷ Ngọc Thiền cũng nhanh chóng phai dấu trong tâm trí. Cây trâm vàng khiến Hương Nữ đau đớn, Trương Nghi cũng luôn mang theo bên mình, sớm tối mỗi khi nhớ tới Hương Nữ, lại mang ra ngắm nghía. Tất cả những điều này, Hương Nữ nhìn thấy trong mắt, ngọt ngào trong tim.
Tuy nhiên, chút ngọt ngào này, ngay sau khi về tới Hàm Đan, đã nhanh chóng biến thành cay đắng.
Ngày thứ ba sau khi về tới nhà, cũng thật trùng hợp, Hương Nữ nhớ tới hai đứa trẻ nhà Tiểu Thuận, liền tới khu nhà bên chơi với chúng. Không ngờ người còn chưa tới nơi, từ xa đã nghe thấy tiếng đánh mắng và tiếng khóc lóc từ bên trong vẳng ra, rõ ràng là bọn trẻ đang bị phạt.
Hương Nữ thấy thương xót cho lũ trẻ, vội rảo bước tiến lại, chẳng nói chẳng rằng đi thẳng vào trong cổng.
Quả nhiên, hai đứa trẻ đang nằm sấp trên chiếc bàn trong sân, Tiểu Thuận tay cầm một cành roi, đang quật hai đứa túi bụi. Cành roi tuy đã được quấn vải mềm, song đánh xuống mông trần vẫn rất đau, đứa lớn cắn răng chịu đựng, đứa nhỏ chịu không nổi khóc toáng lên. Mẹ chúng là Tiểu Thúy đứng ngay bên cạnh, chẳng hề cầu xin cho bọn trẻ.
“Dừng tay!” Hương Nữ quát to một tiếng, vội vã chạy lại gần, thấy hai cái mông bé nhỏ đã lằn ngang lằn dọc, nhất là trên mông đứa lớn, vết roi chằng chịt, hiển nhiên Tiểu Thuận đánh rất mạnh tay.
Hai vợ chồng Tiểu Thuận không ngờ Hương Nữ lại tới, kinh ngạc đứng ngây ra, đưa mắt nhìn nhau, bối rối không biết phải làm gì.
“Có chuyện gì?” Hương Nữ kéo vạt áo của lũ trẻ xuống, rồi nghiêm giọng hỏi Tiểu Thuận. “Sao lại đánh bọn trẻ ra nông nỗi này? Sao lại không biết chừng mực như thế?”
“Phu... phu nhân...” Tiểu Thuận lắp bắp.
“Các con!” Hương Nữ thấy hắn ấp úng không nên câu, thì mỗi tay đỡ một đứa nhỏ dậy. “Nào, hãy nói cho ta nghe, vì sao cha lại đánh các con? Nếu đánh vô lý, ta sẽ giúp các con đòi lại công bằng!”
“Cha...” Đứa lớn vừa thốt ra một chữ, nghe thấy Tiểu Thuận ho mạnh một tiếng, vội vàng câm bặt.
Hương Nữ lừ mắt nhìn Tiểu Thuận, rồi mỗi tay dắt một đứa, kéo chúng ra khỏi sân.
“Phu nhân, phu nhân...” Tiểu Thuận hốt hoảng đuổi theo. “Phu nhân đừng dẫn chúng đi!”
“Về mau!” Hương Nữ quay đầu lại quát. “Còn đuổi theo một bước, ta sẽ đánh ngươi tuốt xác!”
Tiểu Thuận đành phải dừng bước.
Hương Nữ thong thả dắt hai đứa trẻ ra bên ngoài trăm bước, dừng lại dưới chỗ bóng râm, thấy thằng anh vẫn im thin thít không chịu nói, bèn quay sang hỏi con em: “Con gái, anh con không ngoan, con mới ngoan. Nào, nói cho đại nương biết, chuyện là thế nào?”
“Đại nương!” Đứa bé gái do dự một lát, rồi nói lí nhí. “Là hai anh em con có lỗi, hai anh em con không nên kể chuyện mà cha đã nói với mẹ cho người ngoài biết!”
“Chuyện gì nghiêm trọng mà khiến cha con phải nổi trận lôi đình làm vậy?”
“Tối qua con nghe cha kể với mẹ, kể về cô công chúa gì ấy, còn nói hỷ sự lần này của chúa công, khắp thành bàn tán xôn xao, ngộ nhỡ đến tai người trong phủ, biết làm thế nào? Con chưa ngủ, nghe được lõm bõm mấy câu, sáng sớm nay mới kể cho anh nghe, anh cũng không hiểu, bèn đi hỏi người khác. Thế là đến tai cha, cha liền lôi chúng con ra đánh cho một trận.”
“Công chúa? Hỷ sự của chúa công?” Hương Nữ trong lòng giật nảy, lẩm bẩm một mình, chau mày một lát, rồi lại nở nụ cười, nói. “Con gái ngoan, nói đi, công chúa nào? Hỷ sự gì?”
“Con không biết, cha mẹ nói chuyện rất khẽ, lúc rõ lúc không, tại con không hiểu nên mới đi hỏi anh!”
“Con gái ngoan lắm!” Hương Nữ khen ngợi con em một câu, rồi xoa đầu thằng anh nói. “Chỉ vì một chuyện vặt vãnh thế mà đánh hai con đến nông nỗi này! Giờ thì dắt em ra ngoài chơi, đại nương phải đi gặp cha con, đòi lại lẽ phải cho hai con!”
Không để Hương Nữ nói hết câu, thằng anh đã kéo con em chạy mất.
Hương Nữ quay trở lại trong sân, hai vợ chồng Tiểu Thuận đã quỳ sẵn dưới đất chờ đợi, vẻ mặt đầy hốt hoảng.
“Nói đi, chúa công của ngươi có hỷ sự gì?” Hương Nữ nhìn Tiểu Thuận, vừa lên tiếng đã hỏi thẳng thừng.
Tiểu Thuận biết rằng không thể giấu giếm, bèn kể lại đầu đuôi chuyện của Trương Nghi và Tử Vân công chúa, rồi nói: “Hôn sự lần này là đích thân lão thái hậu khâm định, đại vương đã ân chuẩn, vương thân quý tộc trong thành Hàm Dương ai ai cũng biết, thảy đều tỏ ra cung kính rất mực với Trương phủ chúng ta. Chỉ có điều chúa công lần này trở về, đã chẳng đả động gì tới chuyện này, cũng không căn dặn gì cụ thể. Do là chuyện riêng của chúa công, vả lại phu nhân có vẻ vẫn chưa biết chuyện, nên tiểu nhân không dám nói bừa. Đêm qua đang bàn với Tiểu Thúy xem bao giờ bẩm với phu nhân thì thích hợp, chẳng may đã để trẻ con nghe lén, rồi ầm ĩ lên khiến cho tất cả đám người hầu đều biết cả rồi...”
Tiểu Thuận còn chưa nói xong, Hương Nữ đã thở hổn hển, chẳng nói một lời, quay ngắt người đi ngay, bước chân loạng choạng như kẻ say. Thấy Hương Nữ như vậy, Tiểu Thuận hoảng hồn, bảo Tiểu Thúy đi theo hầu hạ, còn mình vội vàng chạy đi bẩm với Trương Nghi.
Sẩm tối hôm ấy, Trương Nghi bưng một bát canh nóng vào trong phòng ngủ, thấy Hương Nữ đã nằm nghiêng trên giường, mặt quay vào tường, một tấm chăn gập thành súc dài ngăn dọc giữa giường.
“Phu nhân!” Trương Nghi đặt bát canh lên bàn, dịch tấm chăn ra, cúi xuống sát bên người Hương Nữ, nhẹ nhàng vuốt ve bả vai bị thương của nàng. “Sự việc hôm nay, ta biết cả rồi, Tiểu Thuận đã kể hết cho ta nghe.”
Hương Nữ lặng thinh, đưa tay lên mặt, âm thầm lau dòng nước mắt.
“Phu nhân!” Trương Nghi vỗ về nàng, cười hề hề mà nói. “Nàng chớ nên hiểu lầm mà suy nghĩ vẩn vơ, sự thể không phải như vậy, ta sẽ kể thực tình cho phu nhân nghe.”
Trương Nghi đem tất cả những chuyện liên quan tới vương cung và Tử Vân công chúa xảy ra trước khi phạt Thục kể một lượt từ đầu đến cuối cho Hương Nữ nghe, từ chuyện công tử Hoa mời hắn thưởng rượu thế nào, Tử Vân công chúa cải trang chuốc rượu ra sao, hắn đã quá chén thế nào, rồi chuyện múa cùng Tử Vân công chúa trong cơn túy lúy, rồi chuyện công tử Hoa trêu cợt, và thậm chí cả chuyện lão thái hậu triệu kiến mình, không bỏ sót lấy một tiểu tiết.
Thấy hắn kể chi tiết ngọn ngành, giọng nói lại rất đỗi thành khẩn, Hương Nữ hiểu rằng không phải là bịa tạc, bèn ngồi dậy, trầm ngâm một lát, rồi như cười mà lại không cười, nói: “Phu quân, chàng nói hay lắm, cho dù Hương Nữ thiếp đã hiểu lầm, đã suy nghĩ vẩn vơ, song liệu phu quân có thể trả lời thiếp, tại sao công chúa lại ở trong phủ công tử Hoa? Tại sao công tử Hoa lại để công chúa chuốc rượu? Tại sao công chúa sau khi chuốc say phu quân lại ở bên hầu hạ chàng?”
Trương Nghi thoáng bối rối, con ngươi đảo tít vài vòng, rồi vỗ tay lên trán kêu lên: “Phải rồi, công chúa là em gái của đại vương, tự tung tự tác đã quen, trong cung không ai trói buộc nổi nàng, nàng thích đi đâu thì đi, nàng thích làm gì thì làm, hơn nữa, nàng và công tử Hoa là anh em họ, từ nhỏ lớn lên cùng nhau, nên hai người vốn dĩ vô cùng thân thiết, không chút khách sáo, công chúa tới phủ của công tử Hoa là chuyện thường ngày. Còn việc công chúa cải trang chuốc rượu, hoàn toàn chỉ vì đùa cợt, chứ nếu là chuyện nghiêm túc, thì công tử Hoa đã không trêu chọc ta như thế.”
“Chàng đấy!” Hương Nữ lườm Trương Nghi một cái, cười buồn, lắc đầu. “Chỉ giỏi bày mưu tính kế trong trướng, còn đối phó với đàn bà thì quá tệ. Thiếp nói cho chàng hay, gió cứ thổi thì liệu cây có muốn lặng được chăng? Chuyện này ngay từ đầu đã là một cái bẫy, thủ đoạn tép riu này, Hương Nữ từ lâu đã chơi đến phát chán rồi!”
Nhớ lại những màn kịch mà Hương Nữ năm xưa đã bày ra để có được mình, Trương Nghi phá lên cười: “Phu nhân ơi, lần này có lẽ nàng đã nhìn nhầm thật rồi!” Lại hạ thấp giọng. “Không giấu gì phu nhân, công chúa đã có phu quân rồi, nàng đoán thử xem phu quân của công chúa là ai? Chính là nhị công tử nước Ngụy danh tiếng lẫy lừng, thượng tướng quân công tử Ngang!”
“Công tử Ngang?” Hương Nữ thoạt tiên sững sờ, sau đó mới bừng tỉnh. “Chẳng phải hắn đã tử chiến ở Hà Tây rồi sao?
“Làm gì có!” Trương Nghi lại cười. “Hắn không những vẫn sống sờ sờ ra đấy, mà chinh phạt Thục lần này, hắn còn luôn ở bên cạnh ta và nàng, còn lập được cả đại công!”
“Ở bên chúng ta?” Hương Nữ kinh ngạc, sắc mặt đầy vẻ nghi ngờ. “Cớ sao thiếp lại không nghe thấy cái tên này?”
“Đổi tên rồi, chính là Ngụy Chương tướng quân! Nghe Ngụy Chương tướng quân nói, cái tên này chính là do thằng cha Trần Chẩn nghĩ giúp đấy.”
Hương Nữ hít vào một hơi, lại từ từ thở hắt ra, thân thể chợt mềm nhũn, ngả vào lòng Trương Nghi.
Trương Nghi ôm lấy nàng, phu thê đang lúc quấn quýt, chợt nghe có tiếng bước chân hối hả lại gần, Tiểu Thuận đứng ngoài cửa khẽ giọng bẩm báo: “Trong cung có người tới, nói là mời chúa công vào yết kiến.”
Tối rồi mà Tần Vương còn cho triệu kiến, hơn nữa người được phái tới lại chính là nội tể túc trực trong cung, hẳn là có việc cấp bách. Trương Nghi vội vã thay đổi y phục, từ biệt Hương Nữ, gấp rút vào cung.
Trương Nghi vào đến vương cung, đã tới giờ Nhân định.
Trong cung đèn đuốc sáng trưng, thoạt nhìn, đám cung nhân trông ai cũng rất căng thẳng. Trương Nghi không hiểu đã xảy ra chuyện gì, suốt dọc đường đi, nội tể không nói lấy nửa lời, nên hắn cũng không tiện hỏi, chỉ âm thầm theo sau, lật đật tiến thẳng tới hậu cung. Do đang đêm tối, hậu cung lại là vùng cấm địa, Trương Nghi vốn đã chẳng rõ nam bắc đông tây thế nào, sau vài lần rẽ ngoặt, thì chẳng biết phương hướng ra sao nữa.
Lại đi thêm một lúc nữa, thì hai người dừng lại bên ngoài một cửa điện. Nơi này đèn đuốc còn sáng hơn, người qua lại càng bận rộn, đám cung nhân quỳ lạy rợp dưới đất, sắc mặt cung kính, không ai dám lên tiếng, trông như đang cầu khấn. Dưới ánh đèn, Trương Nghi nhìn vào bức hoành phi trước điện, lờ mờ nhận ra ba con chữ “Cung Mộc Từ”, bất giác giật mình kinh hãi.
Cung Mộc Từ không phải nơi nào khác, chính là nơi ở của lão thái hậu, mẹ đẻ của Hiếu Công, bà nội của Tần Vương đương triều, hắn đã từng tới đây một lần.
Nhìn vào cảnh tượng này, e là lão thái hậu...
Vừa nghĩ tới lão thái hậu, Trương Nghi bất giác cảm thấy một luồng khí lạnh chạy xộc lên đỉnh đầu. Hiển nhiên, nếu lão thái hậu có chuyện gì bất trắc, hắn thân là ngoại thần mà được mời tới, thì chỉ có một lý do duy nhất, chính là bởi Tử Vân công chúa.
Quả nhiên.
Nội tể vừa bước vào, đã lật đật trở ra, dẫn Trương Nghi vào trong.
Trong sân điện, quỳ đông nghịt vô số tần phi, công tử, vương tôn các cung, không dưới vài trăm người, không nói cũng biết, tất cả nữ quyến, hậu bối liên quan tới huyết thống Tần thất đều có mặt đông đủ.
Trương Nghi bước vào tẩm cung, thấy trước giường lão thái hậu quỳ tăm tắp một đoàn cả nam lẫn nữ, dẫn đầu là Tần Vương, bên trái Tần Vương là thái hậu, cũng chính là vợ của Hiếu Công, bên phải là vương hậu Ngụy Cơ, phía sau là Doanh Kiền, đám Tử Vân, công tử Hoa quỳ ở hàng thứ ba, giữa Tử Vân và công tử Hoa còn chừa một chỗ trống, nội tể dẫn Trương Nghi lại chỗ đó. Trương Nghi không còn cách nào khác, đành phải quỳ xuống.
Lão thái hậu nằm trên giường, đã trong cơn hấp hối, chỉ thấy thở hắt ra là nhiều chứ hít vào rất ít. Một lão ngự y tóc hoa râm quỳ trước giường, một tay bắt mạch, một tay day kim bạc.
Kim bạc đang châm vào huyệt nhân trung. Tuy Trương Nghi không am hiểu y lý, song cũng có biết về huyệt nhân trung, chỉ khi hai mạch nhâm, đốc không thông, mới dùng đến huyệt này, gọi là huyệt vị cứu mạng, chưa phải lúc nguy kịch, tuyệt đối không dùng.
Ngự y rút kim bạc ra, day huyệt vài cái, thấy máu ứa ra. Lão thái hậu từ từ tỉnh lại.
Ngự y thở hắt ra một hơi dài, lại day thêm mấy cái nữa, rồi quay sang Tần Vương khẽ tấu: “Khởi bẩm đại vương, lão thái hậu đã tỉnh, thần xin cáo lui.”
Tần Vương phẩy tay, ngự y bèn lui ra ngoài.
Tần Vương lê gối lên trước một bước, nắm tay lão thái hậu, nói khẽ: “Tổ hậu, Tứ Nhi thỉnh an người!”
“Trương... Trương...” Lão thái hậu cất giọng ngắt quãng, đưa mắt tìm kiếm.
Tần Vương buông tay ra, nhìn về phía sau.
Trương Nghi lại thầm giật thót trong lòng, đang hồi căng thẳng, chợt thấy có người huých vào khuỷu tay mình, không cần nhìn cũng biết, là công tử Hoa.
Trương Nghi vẫn ngẩn ra.
Tần Vương nhìn sang, trầm giọng: “Trương ái khanh, tổ thái hậu triệu kiến!”
Trương Nghi không còn đường lui, bèn lí nhí ậm ờ tận trong cổ họng: “Thần tạ ân!” Rồi lê gối lên trước vài bước, khấu lạy trước giường, giọng vẫn lí nhí. “Thần Trương Nghi khấu kiến tổ thái hậu, cung thỉnh tổ thái hậu vạn an!”
Lão thái hậu không đáp, song miệng lại gọi: “Tử... Tử...”
Nghe thấy tiếng gọi, Tử Vân hấp tấp lê gối lên vài bước, gục đầu bên giường lão thái hậu, bật khóc nức nở: “Tổ hậu, Tử Vân đây, Tử Vân cung thỉnh vạn an!”
“Được... được...” Lão thái hậu chìa ra hai bàn tay già nua, vừa nói, vừa run rẩy lần tìm.
Tử Vân hiểu ý, bèn đặt tay mình vào trong tay bà.
“Trương... Trương...” Lão thái hậu lại thều thào.
Trương Nghi nghe mà ngây thộn.
“Trương ái khanh, tổ thái hậu đang gọi khanh.” Tần Vương khẽ nhắc nhở.
Trương Nghi vẫn đực ra tại chỗ.
“Trương... Trương...” Giọng lão thái hậu mỗi lúc một thêm yếu ớt.
Tử Vân công chúa cuống lên, trợn mắt lườm Trương Nghi một cái, rồi với bàn tay còn lại ra, nắm luôn lấy tay hắn, đặt vào trong tay lão thái hậu.
“Lão... lão thân... chúc... chúc phúc... cho... cho hai... hai con...” Lão thái hậu dốc hết sức tàn, áp bàn tay Trương Nghi và Tử Vân vào nhau, nở một nụ cười, rồi từ từ khép mắt, tay thõng xuống, trút hơi thở cuối cùng.
“Tổ hậu!” Tử Vân rú lên thê thiết.
“Tổ hậu!” Tần Vương lao lên, phủ phục bên người lão thái hậu.
“Mẫu hậu!” Thái hậu quỳ sụp dưới đất, gục đầu khóc thảm thiết.
Tiếp đến là Doanh Kiền, công tử Hoa, rồi đến toàn bộ đám người trên dưới đầy cung, đầy sân và khắp hậu cung, đều gào khóc bi thương.
Tất thảy mọi người đều khóc lóc thảm thiết, chỉ mình Trương Nghi vẫn đờ đẫn chết lặng như kẻ ngây.
Trương Nghi suốt đêm không về.
Lại qua một ngày nữa, Trương Nghi vẫn không về.
Hương Nữ không cần dò la, bởi lẽ tin lão thái hậu băng hà đã chấn động toàn thành, Hương Nữ hiểu rằng Trương Nghi đang phải lo tang sự. Nước có đại tang, Trương Nghi thân là tướng quốc, gánh vác trọng trách này, cũng là hợp tình hợp lý.
Tuy nhiên, trong lòng Hương Nữ vẫn dâng lên một cảm giác lạ lùng. Cảm giác này mỗi lúc một thêm mãnh liệt, cho tới ngày thứ ba, đã dần dần biến thành sợ hãi. Người xác thực nỗi sợ hãi này, chính là Sư Lý Tật.
Vào lúc sẩm tối, Hương Nữ đang đứng trên bậc thềm ngoài cổng phủ dõi mắt ngóng trông, thì một cỗ xe ngựa bỗng đỗ xịch trước mặt, Sư Lý Tật mình mặc hiếu phục từ trên xe nhảy xuống, nhìn thấy Hương Nữ bèn vòng tay vái chào.
Hương Nữ đáp lễ, dẫn hắn vào trong phòng khách ngồi, đích thân pha trà.
“Tẩu phu nhân!” Sư Lý Tật không dùng trà, mà nhìn thẳng vào Hương Nữ. “Tẩu phu nhân vừa nãy đứng trước cổng, hẳn là đang chờ tướng quốc đại nhân?”
“Cũng đang định hỏi thăm đại nhân đây.” Hương Nữ miễn cưỡng nở một nụ cười. “Phu quân nhà tôi bao giờ mới về?”
“Nhất thời chưa thể về ngay được!” Sư Lý Tật cười đáp, sắc mặt có phần ngại ngần. “Không giấu tẩu phu nhân, tại hạ tới đây, là để chuyển lời tới tẩu phu nhân!”
“Lời gì?”
“Là... là một lời mà có lẽ tẩu phu nhân không thực muốn nghe.”
Hương Nữ thấy tim mình thót lại, môi nàng mím chặt.
Sư Lý Tật bưng chén trà lên, nhấp một ngụm, đặt xuống, rồi lại nhìn thẳng vào Hương Nữ: “Tẩu phu nhân, hay là, ngày mai tại hạ sẽ nói sau vậy!”
“Là Trương Nghi nhờ đại nhân?” Hương Nữ bật ra một câu, vẫn cúi đầu, giọng rất khẽ.
“Là đại vương!”
“Đã là vương chỉ, xin đại nhân cứ tuyên chỉ.” Hương Nữ hiển nhiên đã đoán ra chuyện gì, cõi lòng nặng trĩu, lạnh lùng đáp một câu, rồi đổi ngồi thành quỳ. “Dân nữ đợi chỉ!”
“Tẩu phu nhân!” Sư Lý Tật cười gượng một tiếng. “Không phải là vương chỉ, mà là chúa thượng nhờ tại hạ tới thỉnh cầu phu nhân. Tổ thái hậu băng hà, trước lúc lâm chung đã đặc ban ý chỉ, tác thành hôn sự cho Tử Vân công chúa và tướng quốc đại nhân. Di chỉ của tổ thái hậu, quân vương không dám trái ý, đã phong Tử Vân công chúa là...” Nói đến đây bỗng hít vào một hơi, dừng lại.
Không gian im lìm như hoá đá.
“Tẩu phu nhân!” Sư Lý Tật khẽ thở dài một tiếng, chậm rãi nói tiếp. “Tướng quốc đại nhân...”
Sư Lý Tật vốn định nói rằng “cũng là bất đắc dĩ”, thì Hương Nữ lên tiếng, giọng nói càng thêm lạnh lẽo: “Đại nhân còn chưa nói đại vương đã phong công chúa là gì?”
“Phong là... Ư... Ư Thành Quân... phu nhân.” Sư Lý Tật khó nhọc rặn ra từng chữ.
Ư Thành Quân là phong hiệu mà Trương Nghi vừa được ban.
Hương Nữ đôi môi run rẩy, mặt cúi gằm, vùi kín vào trong ống tay áo. Sư Lý Tật có thể cảm thấy trái tim nàng đang rỏ máu.
“Than ôi, tẩu phu nhân!” Sư Lý Tật thở dài một tiếng, nửa như an ủi, nửa như giải thích. “Toàn bộ sự việc, tại hạ đều tận mắt chứng kiến, cũng hiểu rõ sự tình. Theo những gì tại hạ mắt thấy tai nghe, Trương huynh tuyệt đối không phải là hạng người tham rồng với phượng, Trương huynh lúc nào cũng chỉ một lòng với duy nhất tẩu phu nhân. Chỉ vì lão thái hậu, trong số vãn bối trong hậu cung, lão thái hậu yêu thương nhất là Tử Vân công chúa, năm xưa tiên quân vạn bất đắc dĩ, phải gả công chúa cho Ngụy thất, lão thái hậu từ đó vẫn luôn canh cánh trong lòng, may mà công chúa lại trở về, lão thái hậu mới được an tâm. Mấy năm qua, lão thái hậu luôn để tâm tìm kiếm cho công chúa một đấng lang quân như ý, chọn đi chọn lại, cuối cùng lại nhắm trúng Trương huynh. Lão thái hậu huệ nhãn nhận anh tài, nào ngờ... lại mang tai họa đổ xuống đầu tẩu phu nhân.”
Sư Lý Tật ngừng lời, liếc mắt nhìn Hương Nữ, thấy nàng cứ như thể không nghe, toàn thân cứng đờ như khúc gỗ, lặng phắc bất động.
“Tẩu phu nhân!” Sư Lý Tật liền đổi giọng, ngữ điệu cũng nhẹ nhàng hơn. “Ván đã đóng thuyền, tẩu phu nhân cũng nên suy nghĩ cho khoan hoà là hơn. Tại hạ rất hiểu Trương huynh, trong lòng Trương huynh chỉ có hai báu vật, thứ nhất là tẩu phu nhân, thứ hai là đại nghiệp đời người. Đại nghiệp đời người của Trương huynh là thống nhất sáu nước, mà muốn thực hiện đại nghiệp này, Trương huynh trước tiên phải đặt chân cho vững, phu nhân thấy có phải không? Nơi Trương huynh đặt chân, không còn lựa chọn nào khác, chỉ có nước Tần. Nước Tần ở phía tây, bốn bề hiểm ải, tiến có thể đánh, lùi có thể giữ, lại có được Ba, Thục, khác nào đã xây được kho lương. Quan trọng hơn là quân vương, theo tại hạ biết, trong liệt quốc thiên hạ, Tần Vương xứng danh là đấng minh quân tuyệt thế, quân vương liệt quốc hầu như không ai địch nổi, Trương huynh gặp được quân vương, quân vương gặp được Trương huynh, hai bên trở thành quân thần, là giai ngộ nghìn năm, cơ duyên trời sắp. Tuy là như vậy, tẩu phu nhân cũng nên giả thiết, cho dù quân chủ có sáng suốt đến đâu, bề tôi có hiền tài đến mấy, giữa vua và tôi, vẫn khó tránh khỏi có lúc mâu thuẫn, một khi mâu thuẫn, chỉ một danh phận quân thần, hiển nhiên quá đỗi mong manh. Giả dụ như Thương Quân và tiên quân, thâm tình mật thiết, thế mà vừa mới băng hà, đất trời thay đổi, thiên hạ rộng lớn là thế, song Thương Quân vẫn không có lấy tấc đất dung thân. Vì sao lại tới nước này? Bởi lẽ Thương Quân là khách từ ngoài tới, được tiên quân dung nạp, song không được vương thất dung nạp, không được người Tần dung nạp.”
Sư Lý Tật chậm rãi giảng giải, lời lời thực tình, song Hương Nữ cứ như không hề nghe lọt trong tai, cúi đầu lặng phắc như một pho tượng.
“Theo như hiện tại,” Sư Lý Tật dằn lòng, dứt khoát nói trắng ra, “hôn sự này tuy có hơi bất lợi cho tẩu phu nhân, song lại là đại lợi đối với Trương huynh. Một khi công chúa nhập phủ, Trương huynh chính là vương thân, là em rể của quân vương, quân vương có thể yên tâm dùng, còn Trương huynh cũng không phải lo lắng chuyện về sau, tương lai ngộ nhỡ xảy ra biến cố, chỉ riêng chuyện là vương thân, Trương huynh cũng tránh được mối họa của Thương Quân!”
“Công chúa... chẳng phải đã gả cho công tử Ngang rồi ư? Vả lại Ngụy tướng quân...” Hương Nữ cuối cùng cũng có phản ứng, nàng ngẩng đầu lên, hai mắt nhìn xoáy vào Sư Lý Tật, nửa câu tiếp sau không nói cũng rõ.
“Than ôi!” Thấy tâm tư Hương Nữ khúc mắc ở một điểm này, Sư Lý Tật gượng cười một tiếng. “Tẩu phu nhân hẳn là không biết, công tử Ngang nước Ngụy sớm đã tử chiến ở vùng biên cương, Ngụy Chương tướng quân ngày nay đã không liên quan gì tới Tử Vân công chúa nữa.”
“Nhưng... hai người đó vẫn là một kia mà!” Hương Nữ rõ ràng cảm thấy khó hiểu.
“Đúng vậy!” Sư Lý Tật gật đầu. “Họ đúng là cùng một người, nhưng Ngụy Chương tướng quân ngày nay, xét về danh nghĩa, đã không còn là công tử Ngang ngày trước nữa. Công tử Ngang nước Ngụy đã anh dũng tuẫn quốc trên chiến trường Hà Tây, Ngụy Vương đã bày bài vị của hắn trong từ đường, xây viên lăng ở Hà Tây, vì thế mà người này đã vào tuyệt địa mà được hồi sinh, đổi tên Ngụy Chương, trở thành tướng quân nước Tần. Trước khi chinh phạt Ba, Thục, Ngụy Chương tướng quân lấy danh nghĩa công tử Ngang đích thân viết thư từ hôn, đã chính thức huỷ hôn với công chúa. Cuộc hôn nhân đó, bất luận là trên thực tế hay trên danh nghĩa, đều đã không còn tồn tại.”
“Lẽ nào Trương Nghi...” Nghĩ tới vài ngày trước, Trương Nghi còn giải thích về chuyện này, còn lấy Ngụy Chương ra làm lá chắn, Hương Nữ mím chặt đôi môi, không đành lòng nói tiếp.
Sư Lý Tật đương nhiên đoán ra, bèn nói thẳng: “Là chuyện riêng tư trong vương thất, người ngoài không ai biết được, đương nhiên Trương huynh cũng không ngoại lệ, như tại hạ đây cũng chỉ vừa mới hay tin. Không giấu tẩu phu nhân, khi quân vương uỷ thác tại hạ tới cầu tẩu phu nhân lượng thứ, tại hạ cũng có mối ngờ vực giống như tẩu phu nhân, quân vương chẳng biết làm sao, đành đưa hưu thư của công tử Ngang ra, tại hạ đã tận mắt đọc rồi, đúng là không có nửa lời dối trá. Trong phủ Ngụy Chương tướng quân hiện cũng đã có năm tỳ thiếp, đều do quân vương ban tặng. Nếu hôn nhân còn tồn tại, quân vương sao có thể bất chấp cảm nhận của em gái mình mà ban mỹ nữ tỳ thiếp cho em rể?”
Hương Nữ bỗng chốc bừng tỏ, mặt tái nhợt không còn sắc máu.
“Tẩu phu nhân...” Sư Lý Tật định an ủi thêm, nhưng Hương Nữ không muốn nghe nữa, chậm chạp đứng dậy, lê từng bước ra khỏi cửa, đi về phía nhà sau, nhìn từ sau lưng, chẳng khác gì một xác chết biết đi.
Sư Lý Tật cũng đứng dậy, đưa mắt nhìn theo, thở dài một tiếng, rồi đi ra phía cổng.
Đêm dài dằng dặc, trăng chìm trong mây.
Trời đêm thăm thẳm, gió từng cơn lay động rèm châu, phát ra tiếng lanh canh khe khẽ. Hương Nữ một mình ngồi trước song cửa, suốt đêm không ngủ, nghĩ tới mình cô đơn trơ trọi, chỉ có Trương Nghi, vậy mà giờ lại bị người ta cướp mất; chốc lại nghĩ tới Trương Nghi từ sau khi kết hôn chưa từng làm chuyện gì không phải với mình, ngoài đại nghiệp nhất thống ra, quả thực tâm tư Trương Nghi lúc nào cũng chỉ gắn bó với mình; chốc lại nghĩ Trương Nghi yêu thương mình như vậy, mà tới tận nay mình vẫn chưa có lấy một mụn con, chưa thể sinh được cho họ Trương một đinh nào; chốc lại nghĩ đây là đất Tần, cô dâu lại là công chúa nước Tần, còn chưa bước chân vào cửa mà đã lấn lướt đến vậy, ngày sau không biết sẽ chung sống thế nào đây; chốc lại nghĩ tới lời khuyên nhủ thực lòng của Sư Lý Tật; muôn mối tâm tư, khác nào ngó sen, mới khẽ bẻ đã tơ vương chằng chịt, sầu khổ não nề, đau đớn tâm can, nước mắt cứ tuôn ra dầm dầm.
Gà gáy lần thứ nhất, Hương Nữ chủ ý đã quyết, tác thành cho phu quân, nhường chỗ cho dâu mới.
Gà gáy lần thứ hai, Hương Nữ lau khô nước mắt, thu dọn đồ tế nhuyễn, gói ghém một tay nải nhỏ.
Gà gáy lần thứ ba, Hương Nữ cởi bỏ xiêm y rực rỡ, thay trang phục đơn sơ, khoác tay nải, đeo kiếm Tây Tử, lặng lẽ mở cổng hậu hoa viên, ung dung bước đi, đầu không ngoảnh lại.
Tổ thái hậu quy tiên, cung Tần có đại tang, là cháu rể đích thân, Trương Nghi đương nhiên cũng phải mặc hiếu phục chịu tang, phủ phục bên linh cữu cùng Doanh Tứ và toàn bộ họ hàng thân thích, nên khóc thì khóc, nên gào thì gào, chẳng thể thoát thân lấy một ngày.
Cứ thế tới tận sáng ngày thứ năm, vừa sáng sớm, nội tể dẫn Sư Lý Tật vào, đưa Trương Nghi xuất cung, thấy Tiểu Thuận mặt mày nhớn nhác đứng đợi sẵn ngoài cổng.
“Tiểu Thuận?” Trương Nghi vừa thấy hắn, trong lòng đã giật thột.
“Phu nhân biến mất rồi!” Tiểu Thuận lao lên một bước, quỳ sụp xuống khóc toáng lên.
“Gì kia?” Trương Nghi mặt mày thất sắc. “Nói mau, phu nhân đi đâu?”
“Thuận... Thuận Nhi không biết!” Tiểu Thuận nước mắt ròng ròng. “Hôm qua đã không thấy đâu nữa, đến tận trưa vẫn không thấy phu nhân ra dùng bữa, Tiểu Thúy đi gọi, không thấy người trả lời, khi vào trong phòng, đã không thấy người đâu. Tiểu Thúy bảo Thuận Nhi, Thuận Nhi cứ tưởng phu nhân ra ngoài có việc gì, cũng không để ý. Đợi tới tận tối, vẫn không thấy phu nhân trở về, Tiểu Thúy mới cuống lên, chạy vào phòng phu nhân xem thử, thấy mọi thứ vẫn như bình thường, hộp đựng trang sức vẫn còn nguyên, chỉ có điều y phục tuỳ thân thiếu mất một ít. Tiểu Thúy kéo Thuận Nhi lại xem, nhưng là phòng của phu nhân, Thuận Nhi nào dám tự tiện bước vào, chỉ bảo Tiểu Thúy kiểm tra cho kỹ, còn Thuận Nhi sai người đi hỏi thăm tứ phía, lùng sục suốt hai canh giờ, vẫn không có chút tăm hơi. Thuận Nhi vốn định vào cung bẩm báo chúa công, nhưng lại đang lúc nửa đêm... Chúa công, Thuận Nhi, Tiểu Thúy, cùng đám người hầu kẻ hạ trên dưới toàn phủ cả đêm qua không ngủ, đợi tới tận sáng, tìm tới tận sáng!”
Trương Nghi chẳng kịp nói một lời, lập tức co cẳng chạy thẳng về phủ, nhưng chân còn chưa bước xuống bậc thềm, đã nghe thấy tiếng Sư Lý Tật từ phía sau vọng lại: “Tướng quốc đại nhân, xin đợi một lát!”
Trương Nghi khựng lại.
Sư Lý Tật dặn dò nội tể vài câu, bảo ông ta tức tốc bẩm báo lên Tần Vương, sau đó rảo bước tới trước mặt Trương Nghi, hạ giọng thì thầm: “Tẩu phu nhân hẳn đã bỏ đi rồi!”
“Nàng...” Trương Nghi vừa thốt ra một từ, bất chợt bừng tỏ, hai mắt nhìn trân trối vào Sư Lý Tật. “Sao đại nhân biết?”
“Buổi chiều hôm kia, tại hạ đã tới phủ Trương huynh, hiểu dụ với tẩu phu nhân về sự việc trong cung!”
“Sao đại nhân lại...” Trương Nghi giậm chân kêu lên.
“Là ý chỉ của đại vương!” Sư Lý Tật khẽ thở dài một tiếng, rồi thuật lại chuyện Tần Vương gọi mình đến dặn dò như thế nào, muốn hiểu dụ với Hương Nữ ra sao, bản thân đã khuyên Hương Nữ những gì, Hương Nữ phản ứng thế nào, nhất loạt kể lại cho Trương Nghi nghe không thiếu chuyện gì.
Trương Nghi chau tít đôi mày, bỗng chốc sực nhớ tới trại Ngô Vương ở núi Tra Nha, thì vội vã chạy thẳng ra ngoài, nhảy lên xe ngựa, quát lên với Tiểu Thuận: “Mau, ải Hàm Cốc!”
Phu xe không nói một lời, lập tức ra roi thúc ngựa, cỗ xe lao thẳng ra ngoài thành, hướng về Hàm Cốc quan.
Thấy Trương Nghi nói muốn tới ải Hàm Cốc, Sư Lý Tật không dám chậm trễ, vội vã vào cung lập tức. Tần Vương cũng mới nghe nội tể bẩm báo xong, bèn hỏi Sư Lý Tật: “Trương tướng quốc đâu?”
“Đã tới ải Hàm Cốc rồi!”
“Ải Hàm Cốc?” Huệ Vương hít vào một hơi dài. “Hắn tới đó làm gì?”
“Hẳn là đuổi theo phu nhân!” Sư Lý Tật đáp lời. “Hay là thần cũng đi theo?”
“Không cần!” Huệ Vương xua tay nói. “Cứ để hắn đi!” Rồi ngồi xuống trước bàn, ngẫm nghĩ một lát, khẽ thở dài một tiếng. “Than ôi, Sư Lý ái khanh, là quả nhân sai rồi, quả nhân không nên quá ư nóng vội. Phu thê họ đã ân ái nhiều năm, nên để họ tự quyết định mới phải.”
Trương Nghi và Tiểu Thuận ra roi thúc ngựa, vừa đi vừa hỏi đường, đi liền hai ngày đêm, đến sẩm tối ngày hôm sau, đã ruổi tới trước cửa ải. Khi sáu nước hợp công Tần, quan giữ ải từng theo Trương Nghi vài ngày, cũng đã quen mặt, nay thấy tướng quốc đích thân tới nơi, không dám chậm trễ, lập tức lôi ngay sổ sách thông quan ra tra tìm, song không thấy có người phụ nữ nào một mình qua ải phù hợp với lời miêu tả.
“Chúa công!” Tiểu Thuận nghẹn ngào nói. “Phu nhân một thân một mình lên đường, lại không cưỡi ngựa, tiểu nhân đã kiểm tra rồi, tiền bạc cũng không mang theo, chắc hẳn chỉ có thể đi bộ. Nếu là đi bộ, tiểu nhân đoán, lúc này cùng lắm mới chỉ tới được Ninh Tần. Chi bằng chúng ta hãy chờ ở đây, đợi phu nhân tới!”
Nghe Tiểu Thuận nói vậy, trước mặt Trương Nghi lập tức hiện ra cảnh tượng Hương Nữ không một xu dính túi, đơn độc một thân bôn ba dặm trường mà nước mắt ứa ra.
Tiểu Thuận đã theo Trương Nghi nhiều năm, chỉ trừ lúc lão phu nhân qua đời, còn chưa bao giờ thấy Trương Nghi rơi lệ. Vào lúc này, tận mắt chứng kiến một trang hán tử đổ máu không đổ lệ phải rớt nước mắt, bảo Tiểu Thuận cầm lòng sao nổi, nước mắt kìm nén suốt hai ngày hối hả vượt đường phút chốc đã vỡ òa, rơi xuống lã chã như mưa, vừa nâng tay áo lên quệt nước mắt, vừa thở than thống thiết: “Chúa công, sao phu nhân lại nóng nảy đến vậy, nói đi là đi ngay, đến một câu chào cũng không buồn nói, dù gì cũng phải nhắn lại một lời chứ, vài chữ thôi cũng được. Phu nhân của tôi ơi, người đi thì cũng đi rồi, sao lại chẳng mang theo lấy một xu một cắc? Khát thì còn đỡ, sông lạch chỗ nào cũng có nước, nhưng đói thì người biết làm thế nào đây? Rồi buổi tối ngủ ở đâu đây? Phu nhân của tôi ơi, người là cành vàng lá ngọc, sao có thể ngủ nơi đồng hoang bãi lạnh cho được? Hu hu hu, phu nhân nhẫn tâm của tôi ơi, dù cho người có một nghìn, một vạn điều nghĩ quẩn, thì cũng không nên chà đạp thân xác mình như vậy! Phu nhân ơi, sao người lại không nghĩ cho chúa công của tôi? Chúa công tôi chỉ một lòng một dạ với người, người lại không phải là sắt đá, sao lại không cảm nhận thấy...”
Tiểu Thuận cứ thế thao thao bất tuyệt hàng tràng những lời thương cảm, rồi lại khóc lên tu tu, khiến Trương Nghi nghe mà càng tan nát cõi lòng, đang định khóc lớn theo Tiểu Thuận, chợt nghe thấy dưới bậc thềm có tiếng chân vọng lại. Chủ tớ hai người vội vàng lau nước mắt, gắng gượng định thần, vừa mới bình tĩnh lại, đã thấy quan giữ ải xách tới một vò rượu, theo sau là đầu bếp bưng khay thức ăn, đang tiến vào cửa.
Trương Nghi chẳng còn tâm trí đâu mà uống rượu, tiếp lấy lệ vài chén, rồi nói bụng dạ khó chịu, muốn nghỉ sớm.
Sáng sớm hôm sau, Trương Nghi nghe theo lời khuyên của Tiểu Thuận, đích thân vẽ chân dung Hương Nữ, lệnh cho quan giữ ải sai người tìm kiếm khắp nơi, còn mình và Tiểu Thuận thay phiên nhau ngồi túc trực nơi cửa ải, hễ thấy phụ nữ xuất quan, cho dù là bà già cũng phải kiểm tra tận mắt.
Hai người chực ở cửa ải suốt ba ngày trời, vẫn không thấy Hương Nữ đâu, phía quan giữ ải cũng không có tin tức gì. Trương Nghi đang lúc buồn khổ thì gia bộc tới nơi, nói là Tiểu Thúy dặn hai người lập tức hồi phủ.
Hai chủ tớ gấp rút trở về, vội vã vào phòng khách, đã thấy có một người đang ngồi ngay ngắn, tiến lại gần nhìn, hoá ra là Giả Xá Nhân.
Nghe nói Hương Nữ đã tới núi Chung Nam, Trương Nghi mừng đến phát cuồng, không nói thêm lời nào, lập tức sai Tiểu Thuận gói ghém chăn đệm, mang toàn bộ những vật dụng mà Hương Nữ ngày thường vẫn dùng lên xe, đích thân đánh ngựa, cùng Giả Xá Nhân lên đường, gấp rút tới núi Chung Nam.
Trương Nghi tới suối Hàn Tuyền, theo Giả Xá Nhân bước vào một khu rừng rậm.
Hương Nữ trông đã đổi khác hoàn toàn, ăn mặc theo lối đạo cô, đang ở trong rừng theo tiên cô luyện tập thổ nạp. Rừng sâu vắng lặng, chim muông bặt tích, chỉ mơ hồ có tiếng nước xối trên đá từ phía không xa vẳng lại, hẳn là có thác nước.
Trương Nghi đứng xa xa, hai mắt chỉ nhìn hút vào Hương Nữ, trong lòng đột nhiên trào dâng một cảm giác lạ kỳ. Cảm giác này chập chờn bất định, bồng bềnh trôi nổi, như đắm như say, như ngây như ngất, một thứ cảm giác vô cùng lạ lẫm đối với Trương Nghi, thậm chí cả khi hắn còn si mê Ngọc Thiền trong Quỷ Cốc, cũng chưa từng xuất hiện.
Hương Nữ và tiên cô đang ngồi nghiêm ngắn dưới bóng cây, hai tay đặt trên đầu gối, lòng bàn tay để ngửa, hai mắt khép hờ, im lìm bất động, chỉ có đôi môi thi thoảng mấp máy, toàn bộ thân tâm đều đắm chìm trong cõi thư thái tuyệt vời.
Vài tia nắng nhẹ xuyên qua kẽ lá, hắt nghiêng lên cơ thể Hương Nữ, bóng nắng trập trùng, lốm đốm lung linh.
Bóng nắng chầm chậm dịch chuyển, Hương Nữ lặng phắc như bàn thạch.
Không biết đã qua bao lâu, Trương Nghi mới đột nhiên bừng tỉnh, bước thẳng lại gần, từ từ ngồi xuống bên cạnh Hương Nữ, sử ra công phu từng tu luyện cùng đại sư huynh trong Quỷ Cốc, cùng Hương Nữ luyện tập thổ nạp.
Hương Nữ sớm đã cảm thấy Trương Nghi tìm đến, lại thấy hắn ngồi xuống bên mình, cơ thể khẽ run lên một cái, song lại lập tức lặng phắc, chỉ có hai hàng lệ không kìm nén nổi, cứ thế trào ra, lăn dài xuống má, song vì đang luyện công, nên nàng không thể, cũng không có sức mà lau.
Bóng nắng lại di chuyển, trong rừng tối dần, chim chóc bắt đầu tụ tập, hót ríu ran.
Tiên cô chầm chậm đứng dậy, liếc nhìn hai người một cái, lặng lẽ rời đi.
Hương Nữ, Trương Nghi vẫn ngồi tại chỗ.
Khe núi tối sập, chim chóc đã ngủ.
“Chàng...” Hương Nữ cuối cùng cũng lên tiếng, giọng khẽ run lên, “tới rồi?”
“Phải!” Trương Nghi nhẹ nhàng đáp lời.
“Chàng... sao tìm tới đây được?”
“Giả huynh đã báo tin.”
“Không ở trong cung túc trực linh cữu nữa ư?”
“Không!”
“Vì sao lại không?”
“Không muốn!”
“Vì sao không muốn?”
“Vì phu nhân!”
“Phu nhân của chàng ở trong vương cung kia mà!”
“Người ở trong vương cung, không phải phu nhân của Trương Nghi.”
“Ồ?” Hương Nữ ngỡ ngàng, nhìn thẳng lại. “Nàng ấy... không phải là phu nhân của Trương Nghi, vậy là của ai?”
“Là phu nhân của Ư Thành Quân.”
“Chẳng phải chàng là Ư Thành Quân đấy sao?”
“Đã không phải nữa!”
Hương Nữ nghe mà sửng sốt, vội hỏi: “Đã xảy ra chuyện gì ư?”
“Chỉ có một chuyện, Trương Nghi không còn ngửi thấy hương thơm nữa.”
“Chàng...” Hương Nữ thở phào một tiếng, vừa bực vừa buồn cười, lại vừa như giận dỗi.
“Phu nhân!” Giọng Trương Nghi vô cùng điềm đạm ôn hoà, giống như lời tâm sự thường ngày. “Bên cạnh Trương Nghi không thể thiếu hương. Không giấu phu nhân, ngay trưa nay, sau khi vào khe núi phu quân của nàng đã viết tấu thư, sai Tiểu Thuận mang tới cho Sư Lý đại nhân, nhờ Sư Lý đại nhân trình lên Tần Vương. Trong tấu thư viết rằng, kể từ hôm nay, phu quân của nàng không còn là Ư Thành Quân nữa, không làm tướng quốc Đại Tần nữa, chỉ ở trong khe núi này, bầu bạn cùng phu nhân tới hết cuộc đời.”
Vẻ kinh ngạc trên gương mặt Hương Nữ thoáng chốc đã biến thành xúc động. Nàng nước mắt giàn giụa, nhìn Trương Nghi với đôi mắt đẫm lệ, lặng đi một hồi, rồi không thể nào kìm nén nổi những sóng lòng cuồn cuộn, run rẩy khẽ gọi một tiếng: “Phu quân...” Rồi vùi đầu vào trong lòng Trương Nghi.
Sắc trời mờ mịt. Đêm lặng phắc.
Tổ thái hậu thọ hơn tám mươi, đã qua cái tuổi thất thập cổ lai hy, là một trong số ít người sống thọ trong cung Tần, nên đây cũng được coi là hỷ tang, Tần Huệ Vương xuống lệnh, cử hành nghi lễ long trọng tiễn đưa linh hồn tổ mẫu về trời, trong cung Tần, ngoài nghi thức thông thường, cũng không đau thương thái quá. Qua tuần thất đầu tiên, thái hậu, tức Hiếu Công phu nhân, dặn dò các cung tổ chức một số trò vui mà tổ thái hậu ưa thích khi còn sống, như đoán câu đố, thi đuổi vịt, múa hát, ngâm thơ. Các tần phi, công chúa, cung nữ bày linh đài trong hậu hoa viên, rồi cùng thi thố tài năng, nô đùa rôm rả, tiếng cười tiếng nói không ngớt bên tai.
Tần Huệ Vương lúc này cũng đã dứt được ra mà lo việc nước.
Việc nước trọng đại nhất là Tam Tấn. Hắc Điêu của công tử Hoa gửi tin tình báo về, nói rằng gần đây nước Triệu và Trung Sơn nhiêu lần xung đột tại biên cương, Bàng Quyên nước Ngụy chiêu hiền nạp sĩ, dốc sức chỉnh đốn quân đội, ban thưởng hậu hĩnh, nên sĩ tử liệt quốc đua nhau tới Ngụy, Đại Lương đã có một đội võ binh mới lực lượng hùng hậu, sức mạnh đã vượt qua cả thời Ngô Khởi.
“Bàng Quyên?” Tần Huệ Vương khẽ lẩm bẩm, sải bước tới trước bản đồ hình thế liệt quốc, ánh mắt dừng lại ở vùng An Ấp, Hà Đông.
“Đây, và đây!” Công tử Hoa lần lượt chỉ vào Đại Lương, An Ấp. “Võ binh Ngụy chia quân đồn trú hai nơi, trong đó hai phần ba đóng ở Hà Đông. Quan trọng hơn hết, Bàng Quyên sau khi có được Khúc Ốc và bến đò Thái Dương của ta, đã cho xây dựng rầm rộ, dọc theo bờ đê tới tận Khúc Ốc, dựng thành đắp lũy, mở rộng và củng cố cây cầu ở ải Lâm Tấn, bờ đông Hà Thuỷ cứ ba dặm lại dựng thành, tích trữ lương thảo. Xem ra, người Ngụy vẫn luôn canh cánh trong lòng đất Hà Tây của ta.”
“Đúng vậy!” Tần Huệ Vương khẽ gật đầu. “Triệu kiến tướng quốc!”
Công tử Hoa cười gượng gạo: “Tướng quốc đại nhân đã đi tìm phu nhân, e là vẫn chưa trở về!”
“Ồ, không phải hắn đã về rồi ư?” Tần Huệ Vương chau tít đôi mày. “Triệu kiến Sư Lý Tật!”
Lời vừa dứt, nội tể đã dẫn Sư Lý Tật rảo bước vào.
“Quả nhân đang định tìm khanh, mau ngồi đi!” Không để Sư Lý Tật kịp hành lễ, Tần Huệ Vương đã bước lên một bước, nắm lấy tay áo Sư Lý Tật kéo vào chỗ ngồi. “Trương ái khanh có tin tức gì không?”
Sư Lý Tật gật đầu, lần trong ống tay áo lấy ra một vuông lụa, hai tay trình lên Huệ Vương.
Huệ Vương vội vã đọc, rồi hít ngược một hơi khí lạnh, hồi lâu sau, mới nhìn sang Sư Lý Tật, cười gượng một tiếng: “Chuyện này... sao lại thành ra nông nỗi thế?”
Công tử Hoa không biết trong vuông lụa viết gì, nôn nóng nhìn sang Sư Lý Tật, hy vọng được tiết lộ đôi chút.
Nhưng Sư Lý Tật lại quay mặt đi, nhìn ra ngoài cửa sổ.
“Than ôi!” Tần Huệ Vương ném vuông lụa cho công tử Hoa, thở dài một tiếng, lắc đầu nói. “Quả nhân vốn có ý tốt, thứ nhất là tác thành cho Tử Vân, thứ hai cũng là muốn kết thân với hắn, nào ngờ sự việc lại không như mong đợi, cuối cùng lại thành ra bức hắn phải lên núi, than ôi.” Rồi lại lắc đầu liên hồi.
“Vương huynh!” Công tử Hoa lúc này cũng đã đọc xong vuông lụa, vội nói. “Tướng quốc vốn là người nóng nảy, chẳng qua nhất thời mê muội vì tình, thần đệ sẽ lập tức vào núi, lôi hắn về đã rồi tính!”
“Công tử!” Sư Lý Tật bèn quay sang, châm chọc. “Tại hạ xin nói một câu khó nghe, tướng quốc không phải là Ngụy tướng quân!”
“Vậy... ông nói xem nên làm thế nào đây?” Công tử Hoa không phục. “Hôn sự của công chúa là do tổ thái hậu khâm định, đừng nói là trong cung, mà khắp trên dưới nước Tần đều đã hay tin, hắn trốn vào trong núi, việc nước tạm chưa bàn tới, song còn phía tổ thái hậu, biết ăn nói thế nào đây? Tổ thái hậu vẫn còn chưa nhập thổ kia mà!”
Thấy công tử Hoa viện tới tổ thái hậu, Sư Lý Tật đương nhiên không biết nói gì, chỉ mấp máy môi vài cái, rồi nhìn sang Huệ Vương.
“Được rồi, được rồi!” Huệ Vương buồn bực, phẩy tay. “Các khanh lui ra đi!”
Hai người đi rồi, Huệ Vương ngồi một lát, rồi sai nội tể cho gọi Tử Vân tới, kể lại thực tình toàn bộ những chuyện diễn ra trong mấy ngày qua cho công chúa nghe, cuối cùng đưa cho nàng vuông lụa Trương Nghi gửi tới.
Tử Vân cắn chặt răng, không nói một lời.
“A muội!” Huệ Vương khẽ thở dài một tiếng, khuyên nhủ. “Dưa chín ép không thể ngọt, Trương Tử tuy tốt, chúng ta cũng không thể bức bách một phía. Hương Nữ theo hắn tới Việt, qua Sở, sang Triệu, rồi bôn ba đến Tần, trải qua biết bao hiểm nạn, nếm trải muôn nỗi đắng cay, chuyện này tạm chưa tính đến, mà tại đất Thục còn có ơn xả thân cứu mạng Trương Tử. Hai người họ, thật xứng danh là một cặp phu thê hoạn nạn có nhau!”
Tử Vân lại càng nghiến chặt hàm răng, hai tay bất giác xé toang vuông lụa.
“A muội!” Huệ Vương lại dỗ dành. “Hãy nghe lời ta, việc này nên dừng tại đây. Phía tổ hậu, mẫu hậu, cứ để ta giải thích. Còn hôn sự của a muội, hãy cứ để cho ta lo liệu. Kỳ thực, Ngụy tướng quân...”
“Vương huynh!” Tử Vân lắc đầu thật mạnh, hét lên thảm thiết. “Đừng nhắc tới họ Ngụy ấy nữa, a muội dù phải gả cho gà cho chó, cũng không muốn trông thấy kẻ này!”
“Được rồi, được rồi!” Huệ Vương xua tay. “Ta sẽ không nhắc tới nữa!”
“Vương huynh!” Tử Vân nghiến răng nghiến lợi xé tan tành vuông lụa của Trương Nghi thành từng mảnh vụn, ném xuống sàn nhà, hai mắt nhìn chằm chằm vào Huệ Vương. “A muội xin nói thực lòng, a muội ưng dạ nhất chính là tình nghĩa của tướng công. Trừ phi vương huynh muốn muội chết, nếu không, bất luận lên trời hay xuống biển, bất luận làm trâu hay làm ngựa, a muội cũng phải lấy Trương Nghi bằng được. Đời này kiếp này, muội chỉ muốn ở bên Trương Nghi.”
Huệ Vương buồn bực khép hai mắt lại.
“Vương huynh!” Tử Vân công chúa cũng đã nhận ra, ngữ khí có phần dịu bớt. “Vừa rồi vương huynh nói, Hương Nữ theo tướng công, nếm trải muôn ngàn khổ sở, điều này muội thừa nhận. Muội cũng hiểu rằng, lùi một bước biển rộng trời cao, xin vương huynh cũng phong Hương Nữ làm Ư Thành Quân phu nhân, muội nguyện xưng em gọi chị với Hương Nữ, không phân danh phận, cùng trợ giúp tướng công, để tướng công phò tá vương huynh thành tựu đế nghiệp!”
“Vậy thì tốt quá!” Huệ Vương lập tức phấn chấn trở lại, mở choàng mắt, gật đầu lia lịa. “Sẽ theo lời a muội!”
Trong gian nhà cỏ trong núi Chung Nam, Hàn Tuyền Tử ngồi ngay ngắn trên chiếu, hai người Trương Nghi, Hương Nữ cùng hành lễ đệ tử, sánh vai quỳ phía dưới.
“Không giấu tiên sinh,” Trương Nghi dập đầu sát đất, cất giọng thành khẩn, “khi ở trong Quỷ Cốc, Nghi tuổi nhỏ ngu độn, trong mắt chỉ có danh tiếng sử xanh, không còn thấy gì khác, bất chấp Quỷ Cốc tiên sinh nhiều lần níu giữ, vẫn đường đột hạ sơn. Xuất sơn loáng cái đã bao năm, Nghi lao tâm khổ tứ, mỏi nhọc bên ngoài, bạt mạng đường xa, thân hình tàn tạ, chưa từng được dừng chân chốc lát, thực sự đã phụ tâm nguyện của tiên sinh. Mất bò làm chuồng, vẫn chưa phải muộn, tâm Nghi đã quyết, song chẳng còn mặt mũi nào mà quay trở về Quỷ Cốc, thỉnh cầu tiên sinh nể mặt Quỷ Cốc tiên sinh, thu nhận Nghi và Hương Nữ ở lại đây tu đạo dưỡng tính, sống thảnh thơi nốt quãng đời còn lại, Nghi sẽ phụng sự tiên sinh thành tâm hệt như đã từng phụng sự Quỷ Cốc tiên sinh, chỉ mong tiên sinh đừng chê bỏ!”
Hàn Tuyền Tử vỗ tay, Giả Xá Nhân và Sư Lý Tật từ cửa phụ bước vào.
Thấy là Sư Lý Tật, Trương Nghi thoáng sửng sốt, rồi khép mắt lại.
“Bẩm tướng quốc đại nhân!” Sư Lý Tật hành lễ với Hàn Tuyền Tử xong, bèn quay sang Trương Nghi vòng tay nói. “Liệt quốc xảy ra chuyện lớn rồi!”
Tai Trương Nghi khẽ giật lên một cái tựa hồ như bản năng, tuy rất khẽ, song không lọt qua được pháp nhãn của Hàn Tuyền Tử.
“Theo tin báo về, Trung Sơn và Triệu tranh chấp tại biên cương, Trung Sơn điều binh khiển tướng, muốn cướp lại Hạo Ấp. Nước Ngụy chiêu hiền nạp sĩ, mở rộng võ binh, Bàng Quyên đao kiếm rậm rịch, có ý đồ phạt ta.”
Tai Trương Nghi không còn nhúc nhích nữa.
“Chúa thượng vì chuyện này mà đêm ngủ không ngon giấc, đặc chỉ phái tại hạ cấp tốc vào núi, mời đại nhân hồi cung nghị bàn chính sự!”
Trương Nghi vẫn lặng im phăng phắc, tựa hồ như chuyện ngoài núi đã không còn liên quan tới hắn.
“Trương Nghi!” Hàn Tuyền Tử nói thẳng vào đề, chỉ ra đường sáng. “Không phải lão hủ không chịu thu nạp, mà lão hủ đã thấu lòng con. Tâm con chưa định, tâm con vẫn vấn vương chuyện ngoài núi. Con và Tô Tần đều là người trong cõi hồng trần, được cao nhân giáo hoá, xứng là anh kiệt của tạo hoá đất trời, đã không phải là dạng cá trong ao, chim trong núi nữa, nhi nữ tình trường lại càng không hợp đạo, thực lòng khó sống đến hết đời trong chốn lâm tuyền. Ý trời không thể trái, trọng trách không thể từ, chí lớn không thể bỏ, hãy mau chóng hạ sơn, tiếp tục sự nghiệp hợp tung bài hạp!”
“Tiên sinh!” Trương Nghi dập mạnh đầu xuống đất, cất tiếng gọi bi thiết.
“Công Tôn Yến nghe chỉ!” Sư Lý Tật liếc hắn một cái, lập tức đổi giọng, cất tiếng sang sảng.
Đột nhiên nghe thấy gọi mình lĩnh chỉ, Hương Nữ giật thót, ngẩn ra hồi lâu, mới kịp định thần, dập đầu đáp: “Dân nữ Công Tôn Yến đợi chỉ!”
“Truyền khẩu dụ của Tần Vương!” Sư Lý Tật dõng dạc tuyên chỉ. “Ngô nữ Công Tôn Yến cùng tướng quốc Trương Nghi kết tình phu thê đã nhiều năm, cùng chung vinh nhục, vất vả có công, tại đất man di lại xả thân bảo vệ phu quân, xứng đáng là hiền nội, quả nhân cảm kích sâu xa, đặc biệt tứ phong Công Tôn Yến là Ư Thành Quân phu nhân, từ ngày hôm nay, làm chị em với Tử Vân công chúa, không phân danh phận, cùng trợ giúp Trương Nghi thành tựu công danh vạn thế!”
Hương Nữ khe khẽ run lên một cái, song lại lập tức ngồi yên.
Còn Trương Nghi thì hết sức kinh ngạc, ngẩng đầu nhìn sang Hương Nữ.
“Cung thỉnh đại nhân hồi bẩm đại vương,” Hương Nữ bình thản nói, “dân nữ Công Tôn Yến cảm tạ hậu ân của Tần Vương, cũng xin đại nhân chuyển lời tới Tần Vương, dân nữ Công Tôn Yến từ ngày vào núi, đã giao phó thân này cho sơn dã lâm tuyền, tấm lòng theo thầy tu đạo của Công Tôn Yến đã thề nguyền cùng thiên địa nhật nguyệt, thần linh bốn phương. Xin thứ tội cho dân nữ không thể phục mệnh, mong đại vương ban ân, thu hồi thánh chỉ!”
“Ồ...” Sư Lý Tật hiển nhiên không ngờ Hương Nữ lại trả lời như vậy, nhất thời chết sững, đưa mắt nhìn sang Hàn Tuyền Tử.
Hàn Tuyền Tử bật cười vài tiếng. “Công Tôn Yến tâm địa thành thực, là đạo khí trời sinh, ta sẽ thu nạp con.”
Phu thê cùng bái sư, Hàn Tuyền Tử lại đuổi một, giữ một, lấy bỏ đã rõ ràng. Mọi người không ai nói gì thêm, Hàn Tuyền Tử dặn dò Giả Xá Nhân đưa Sư Lý Tật lại Hàn Tuyền dùng trà, còn mình khoan thai bước về dãy núi phía sau.
Trong gian nhà cỏ, chỉ còn lại hai người Trương Nghi, Hương Nữ.
“Phu quân!” Hương Nữ dịch lại bên Trương Nghi, đăm đăm nhìn hắn, tình ý thiết tha. “Đây là lần cuối cùng Hương Nữ gọi chàng như vậy!”
Trương Nghi bất chấp tất cả, ôm ghì lấy nàng.
“Phu quân!” Hương Nữ giằng ra, vẫn nhìn Trương Nghi chăm chăm, giọng nói càng thêm bình thản. “Bao năm nay, đều là Hương Nữ nghe lời phu quân, giờ phải phân ly, cũng xin phu quân hãy lắng nghe Hương Nữ nói vài câu. Không phải là Hương Nữ không tuân thánh chỉ, không phải là Hương Nữ không nghĩ cho phu quân, mà là Hương Nữ hiểu rằng, mặt trời trên cao, vĩnh viễn chỉ có duy nhất một mặt trăng. Hai vị phu nhân, không phân trên dưới, trong nhà sẽ không thể êm ấm. Phu quân dốc lòng vì thiên hạ, gia thất không được sinh khói lửa. Tử Vân công chúa đã mến mộ phu quân đến vậy, chiều lòng phu quân đến vậy, hẳn là cũng rất mực yêu quý phu quân. Có công chúa kề bên, Hương Nữ cũng thấy an lòng. Đó mới chỉ là một lẽ. Lẽ thứ hai, buổi tối hôm đó, Sư Lý đại nhân đến gặp Hương Nữ, đã nói nhiều điều, thực khiến Hương Nữ suốt đêm không tài nào chợp mắt. Sư Lý đại nhân giảng giải, xét đến ngày sau, thì Tử Vân công chúa sẽ càng thích hợp với phu quân hơn. Phu quân muốn tung hoành thiên hạ, nhất định phải có khoảnh đất đặt chân. Một khi công chúa vào nhà, phu quân sẽ thành vương thân, thành em rể dòng đích của đương kim Tần Vương, quân vương có thể yên tâm sử dụng, phu quân cũng không còn mối lo lắng về sau. Tương lai vạn nhất có biến, chỉ một danh nghĩa vương thân, phu quân đã có thể tránh khỏi mối họa Thương Quân!”
Trương Nghi ứa nước mắt. Đạo lý kia, với cơ trí của Trương Nghi, từ lâu đã nhìn thấy rõ, nhưng thời khắc này, được nói ra từ miệng Hương Nữ, Trương Nghi nghe mà tâm can đau đớn khác nào cào xé.
“Phu quân ơi!” Giọng Hương Nữ lại càng điềm tĩnh. “Những điều vừa nói đều là vì phu quân, còn tiếp sau đây, có lẽ là vì Hương Nữ. Không giấu phu quân, Hương Nữ từ khi hiểu chuyện, đã chẳng khác gì các bậc hào kiệt như tiên phụ, Kinh thúc, từ lâu đã không màng sinh tử. Tiên phụ, Kinh thúc, hai người theo nhau bỏ thân xác mà đi, tiêu dao tự tại trong cõi đất trời, chỉ còn mình Hương Nữ có điều lưu luyến. Hương Nữ lưu luyến phu quân, không vì gì khác, chỉ vì yêu mến phu quân. Những ngày qua, được phu quân hết mực yêu thương, Hương Nữ thấy đã quá đủ rồi. Phu quân được gặp Quỷ Cốc tiên sinh, mới có ngày hôm nay; Hương Nữ được gặp Hàn Tuyền tiên sinh, hoặc giả sẽ có tương lai.”
Thấy Hương Nữ lúc này cứ như một người khác hẳn, lời lẽ sâu sắc đến độ này, Trương Nghi nghe mà kinh ngạc, trước mắt bất giác hiện ra bóng dáng của Ngọc Thiền.
Trời ơi, người trước mắt kia, lẽ nào lại là một Ngọc Thiền nữa?
Quả nhiên.
“Phu quân!” Ánh mắt Hương Nữ nhìn Trương Nghi càng thêm da diết. “Xin hãy tác thành cho Hương Nữ. Còn nhớ lúc mới gặp Hương Nữ, phu quân trong mơ thường lẩm bẩm gọi Thiền Nhi, Hương Nữ cuối cùng cũng đã hiểu, nàng không phải là ve sầu trên cây, nàng là Ngọc Thiền. Xin hãy tác thành cho Hương Nữ, hãy để cho Hương Nữ trở thành một Thiền Nhi!”
Trương Nghi ngỡ ngàng, nhìn nàng trân trối, trong màn lệ nhạt nhoà, bóng người trước mặt, rành rành là Ngọc Thiền không sai.
“Phu quân?” Hương Nữ khẽ gọi.
Nghe thấy tiếng Hương Nữ, Trương Nghi mới định thần trở lại, kinh ngạc nhìn nàng: “Làm sao phu nhân lại biết về nàng?
“Nghe Giả sư huynh nói. Giả sư huynh nói rằng, sư huynh nghe Tô sư huynh kể lại. Theo lời Tô sư huynh, trong lòng phu quân chỉ có một người con gái, chính là Ngọc Thiền!”
“Đúng vậy!” Trương Nghi gật đầu thừa nhận. “Có điều, đó là Trương Nghi trước đây. Còn Trương Nghi hiện tại, trong lòng vẫn chỉ có một người, chính là...”
Trương Nghi còn chưa kịp nói dứt câu, ngón tay nuột nà của Hương Nữ đã chặn trước miệng hắn.
“Phu quân!” Hương Nữ sắc mặt ửng hồng, giơ tay rút phắt thanh kiếm Tây Tử ra. “Chàng tặng Hương Nữ kiếm Tây Tử, Hương Nữ không có vật gì tặng lại.” Rồi thuận tay vuốt lấy một món tóc mây, lia kiếm cắt đứt, nâng lên trước mặt Trương Nghi. “Tóc này là ngưng kết của tinh cha huyết mẹ, Hương Nữ tối ngày chải chuốt nâng niu, nay xin tặng chàng một món, lúc nào rảnh rỗi, vạn nhất phu quân có nhớ tới Hương Nữ, có thể ngắm nhìn!”
“Hương Nữ!” Trương Nghi hai tay đỡ lấy món tóc, ngón tay run rẩy.
Đêm đại hôn lễ, trong phủ tướng quốc đèn hoa rực rỡ.
Trương Nghi hiển nhiên đã uống rất nhiều, bước chân loạng choạng lần tới tân phòng, luôn miệng gọi tên Hương Nữ, rồi ngã sấp xuống đất.
Tân nương nhìn thấy rõ ràng, vội đưa tay giật phắt khăn trùm đầu, chạy lại gần, đỡ Trương Nghi dậy, sai tỳ nữ bưng nước nóng tới, rồi ôm hắn vào lòng, tự tay lau rửa cho hắn.
“Hương Nữ, Hương Nữ, Hương Nữ...” Trương Nghi hai mắt mờ mịt, tay giữ chặt lấy Tử Vân.
“Phu quân!” Tử Vân nước mắt giàn giụa, ôm chặt lấy Trương Nghi, giọng nói run rẩy. “Hương Nữ của chàng đây, Hương Nữ của chàng đây!”
Đêm ấy, sao sáng đầy trời, gió lạnh hiu hắt.
Hương Nữ một mình ngồi bên suối Hàn Tuyền, vuốt ve kiếm Tây Tử, thẫn thờ nhìn mãi về phía Hàm Dương.
Hàn Tuyền Tử lại gần, ngồi xuống bên nàng.
“Tiên sinh...” Hương Nữ phủ phục trước mặt Hàn Tuyền Tử, nước mắt lã chã.