Chương 6: Chương Hồi Thứ 39

Hương Nữ cứu chồng rời đất Sở

Tô Tần dùng kế khích Trương Nghi

Trong chính điện Đông cung nước Sở, thái tử Hoè lo lắng đi đi lại lại. Ngận Thượng đứng ở một bên, khom lưng cúi đầu, hai con mắt xinh đẹp cứ nhìn chằm chằm vào gót chân thái tử Hoè, liếc qua liếc lại theo bước chân của thái tử.

Thái tử Hoè bước chậm dần, sau đó dừng hẳn, quay sang Ngận Thượng: “Bệ hạ đang giận dữ, ngươi bảo bản cung phải nói với bệ hạ thế nào đây?”

“Khởi bẩm điện hạ,” Ngận Thượng vẫn cúi thấp đầu, môi khẽ mấp máy, “bất kể nói thế nào, điện hạ cũng vẫn phải nói. Hiện giờ, có lẽ cũng chỉ mình điện hạ mới có thể nói được!”

“Tại sao bản cung nhất định phải nói?”

“Vì Chiêu Dương hãm hại Trương Tử, chỉ có thể có hai cách giải thích, hoặc là vô tri, hoặc là có ý đồ khác!”

Chiêu Dương rõ ràng không phải kẻ vô tri, thái tử Hoè không cần suy nghĩ thêm, nhìn thẳng vào Ngận Thượng: “Nói đi, ông ta có ý đồ gì khác?”

“Ngoài sáng là vì chức lệnh doãn, trong tối là thách thức điện hạ!” Ngận Thượng nhằm thẳng vào tử huyệt.

“Thách thức bản cung?” Thái tử Hoè bước lên một bước, nhìn xoáy vào Ngận Thượng.

“Đúng vậy!” Ngận Thượng hơi ngẩng đầu, nói chắc nịch. “Trương Tử là do điện hạ mời đến, Chiêu Dương trong lòng biết rõ, nhưng tính kế hãm hại, thần cho rằng đây chính là không coi điện hạ ra gì, công khai thách thức!”

“Tại sao hắn muốn thách thức bản cung?”

“Là vì gia tộc họ Chiêu. Tài của Trương Tử cao gấp mười mấy lần Chiêu Dương, điều này không cần vi thần phải nói. Điện hạ trước nay lại qua lại thân thiết với người họ Khuất, họ Cảnh, duy chỉ có hiềm khích với họ Chiêu. Chiêu Dương hiểu rõ điều này, nên đã xúi giục bệ hạ, đẩy Trương Tử đến nước Việt xa xôi. Cảnh Xá qua đời, chức lệnh doãn bỏ ngỏ, Chiêu Dương đang lúc đắc ý, đột nhiên lại nghe tin Trương Tử phụng chỉ của điện hạ trở về, ông ta sẽ nghĩ thế nào?”

Thái tử Hoè hít vào một hơi thật sâu.

“Điện hạ!” Ngận Thượng lại thao thao một hồi. “Chiêu Dương đã chắc mẩm giành được chức vị của Cảnh Xá, nhưng Trương Tử đột ngột chen ngang, lại là do điện hạ tiến cử, bảo Chiêu Dương làm sao có thể không khiếp sợ? Chiêu Dương biết rõ, lúc này nếu không ra tay trừ Trương Tử, đợi sau khi điện hạ kế ngôi, gia tộc họ Chiêu sẽ chẳng còn cơ hội ngẩng đầu, nên mới quyết một trận sống mái, liều mạng tranh đoạt!”

“Ái khanh nói rất có lý, có điều...” Thái tử Hoè lại bước thêm mấy bước, đôi mày nhíu chặt, “bản cung đã xem qua bản tố cáo, dường như không thể tìm ra sơ hở!”

“Đúng vậy! Nhìn trước nhìn sau, cạm bẫy này được bố trí hết sức chu toàn. Với tài của Chiêu Dương, tuyệt đối không thể nghĩ ra được!”

“Phải lắm! Phải lắm!” Thái tử Hoè liên tiếp gật đầu. “Cơ mưu thấu đáo như vậy, với tài của Chiêu Dương, không thể nghĩ ra. Ái khanh có biết là mưu của ai không?”

“Thượng khanh nước Tần Trần Chẩn!”

Thái tử Hoè vô cùng kinh ngạc, bất giác “ồ” lên một tiếng, hai mắt nhìn sững vào Ngận Thượng.

“Vi thần được biết,” Ngận Thượng chậm rãi nói, “kẻ này năm ngoái từ Tần sang Sính, sống rất gần phủ của Chiêu Dương. Vi thần còn biết, nàng vũ nữ da trắng mà Chiêu Dương dâng tặng cho bệ hạ chính là do Trần Chẩn đưa từ Tần đến. Trần Chẩn đã giấu ả trong phủ hai năm, lúc này lại đột nhiên dâng tặng, ý đồ quả thực đáng nghi!”

Thái tử Hoè tiếp tục đi đi lại lại một hồi, rồi chợt dừng bước hỏi: “Trần Chẩn và Trương Tử không quen biết nhau, không thù không oán, cớ sao lại muốn hãm hại Trương Tử?”

Ngận Thượng thoáng ngẩn người, rồi cúi đầu đáp: “Vi thần không biết! Tuy nhiên, theo vi thần đoán, Trương Tử là bậc đại tài, nếu được trọng dụng ở Sở, sẽ gây bất lợi cho Tần. Trần Chẩn có quan hệ thân thiết với Chiêu Dương, theo lý thì phải bày mưu cho Chiêu Dương. Đáng tiếc một bực đại tài nhường ấy, không quản đường xa ngàn dặm đến Sở, giúp Sở lập được kỳ công cái thế, mà lại bị người ta ám toán, chết không minh bạch, đúng là nỗi đau của nước Sở. Hơn nữa, sớm muộn cũng đến ngày bệ hạ băng hà, điện hạ lên nắm đại quyền, nếu bên cạnh không có Trương Tử bày mưu, há chẳng phải là điều đáng tiếc?”

Ngận Thượng lời lời như tên sắc, câu nào cũng đâm trúng tim gan thái tử Hoè.

Thái tử Hoè không do dự thêm nữa, chau tít đôi mày, ngẩng đầu hỏi: “Theo ý ái khanh, bản cung nên hành sự thế nào?”

“Thứ mà bệ hạ bị mất, chẳng qua chỉ là một viên ngọc bích. Trương Tử dùng sức một người mà chiếm được nước Việt xa xôi ngàn dặm, công lao này đã có thể đền bù. Điện hạ hãy khẩn cầu bệ hạ, cầu xin bệ hạ hãy niệm đến đại công của Trương Tử mà miễn cho Trương Tử tội chết. Chỉ cần Trương Tử giữ được mạng sống, nhất định sẽ còn có ngày mai. Nếu Trương Tử bỏ mạng oan uổng, tất cả sẽ chấm hết!”

Thái tử Hoè bước thêm vài bước, rồi khẽ nhướng mày: “Biết rồi! Khởi giá đến đài Chương Hoa!”

“Thần tuân chỉ!”

Ngận Thượng chuẩn bị xong xe kiệu, ra roi thúc ngựa, chở thái tử Hoè đến đài Chương Hoa, cầu kiến Uy Vương.

Uy Vương vẫn chưa hết thịnh nộ, song cơn giận đã nguôi vài phần, thái độ ôn hoà hơn hẳn hôm qua.

Thái tử Hoè vội bước lên trước bái lạy: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”

“Có phải con đến để cầu xin cho Trương Nghi?” Uy Vương lập tức chặn họng, lạnh nhạt hỏi luôn.

“Nhi thần không dám!” Thái tử Hoè lại bái lạy, đáp. “Nhi thần cho rằng, ngọc Hoà thị bích là bảo vật trấn cung của ta, Trương Nghi lại cả gan dám lấy trộm ngay trước mặt mọi người, tội này không thể dung thứ! Đây là vụ án trọng đại, liên quan đến trụ quốc Chiêu Dương và mấy chục vị khách quý, vi thần rất muốn đích thân điều tra, cầu xin phụ vương ân chuẩn!”

Uy Vương ngẫm nghĩ một lúc, rồi gật đầu nói: “Được! Con hãy thay quả nhân hỏi thử Trương Nghi, quả nhân đối xử với hắn không bạc, còn định uỷ thác trọng trách cho hắn, cớ sao hắn lại lấy oán trả ơn, làm ra việc tày đình như vậy?”

“Nhi thần tuân chỉ!”

Thái tử Hoè lĩnh ngự chỉ xong, liền vội vàng đi đến phủ tư bại, được biết Hạng Lôi đang ở trong nhà lao thẩm vấn Trương Nghi.

Hạng Lôi là cháu ruột đằng nhà mẹ đẻ của Giang Quân phu nhân, cũng chính là em họ của Chiêu Dương. Biết rõ đây là vụ án động trời, lại có liên quan đến Chiêu Dương, nên Hạng Lôi không dám lơ là, dùng khốc hình tra tấn, một lòng muốn ép Trương Nghi nhận tội, nói ra tung tích của ngọc Hoà thị bích. Hạng Lôi đã dùng đủ loại cực hình ghê gớm, song Trương Nghi bản tính quật cường, thà chết cũng nhất quyết không chịu nhận.

Trương Nghi nhiều lần đau đớn chết giấc, lại bị té nước lạnh cho tỉnh lại, tiếp tục dùng hình cụ khác tra tấn. Khi thái tử Hoè đến nơi, Trương Nghi lại vừa ngất lịm trên đài hành hình. Hạng Lôi ra lệnh ngừng hình, ngục tốt hắt liền mấy lần nước lạnh, nhưng Trương Nghi vẫn không tỉnh lại. Hạng Lôi kinh hãi, vội đưa ngón tay lên trước mũi Trương Nghi, thấy vẫn còn hơi thở, liền lệnh cho người khiêng xuống khỏi đài hành hình.

Đúng lúc này, thái tử Hoè dưới sự hộ tống của Ngận Thượng và vài người khác sải bước đi đến.

Hạng Lôi thấy thái tử đến, vội vàng quỳ xuống bái lạy: “Vi thần Hạng Lôi khấu kiến điện hạ! Vi thần không biết điện hạ giá lâm, không nghênh đón từ xa, xin điện hạ thứ tội!”

Thái tử Hoè liếc thấy Trương Nghi đang nằm thõng thượt trên nền đất tựa như xác chết, trong lòng thắt lại, sầm mặt hỏi: “Ngươi đánh chết hắn rồi ư?”

Hạng Lôi đáp: “Bẩm điện hạ, phạm nhân chỉ tạm thời hôn mê bất tỉnh!”

Thái tử Hoè thở phào: “Không chết thì tốt! Đã nhận tội chưa?”

Hạng Lôi lắc đầu: “Kẻ này cứng đầu, thà chết cũng không chịu nhận!”

Thái tử Hoè đưa mắt nhìn Trương Nghi: “Đã không chịu nhận, vậy hãy khiêng xuống. Chăm sóc cho tử tế, không được để hắn chết!”

“Vi thần tuân chỉ!” Hạng Lôi vâng lệnh, vội lệnh cho ngục tốt khiêng Trương Nghi xuống, truyền ngục y cấp cứu.

Thái tử Hoè bước tới trước đài thẩm vấn, ngồi xuống chiếu: “Mang khẩu cung tới!”

Hạng Lôi trình lên bản khẩu cung.

Thái tử Hoè xem qua một lượt, lại cầm lấy bản án, đọc kỹ một hồi, rồi quay sang Hạng Lôi: “Có bản phụ không?”

“Có!”

“Mang bản phụ ra!”

Hạng Lôi lấy bản phụ ra, Ngận Thượng bèn thu lấy.

Thái tử Hoè chậm rãi đứng dậy: “Hạng ái khanh, Trương Nghi tính tình cứng rắn, không thể mạnh tay bức ép. Chẳng may đánh chết hắn, không thu được lời khai, không tìm được ngọc quý, bệ hạ trách tội, thì khanh khó lòng gánh vác!”

Hạng Lôi khấu đầu đáp: “Vi thần tuân chỉ!”

Thái tử Hoè sắp xếp xong xuôi, không kịp hồi cung, lập tức cùng Ngận Thượng đi thẳng tới đài Chương Hoa cầu kiến Uy Vương, bẩm báo: “Phụ vương, nhi thần thẩm tra án này, cảm thấy có rất nhiều nghi vấn!”

“Ồ?” Uy Vương vội hỏi. “Có điểm nào đáng nghi?”

Thái tử Hoè đặt một tập bản án phụ và bản khẩu cung của Trương Nghi lên mặt bàn, rồi chậm rãi nói: “Phàm là kẻ trộm cắp, chắc chắn phải có tính toán từ trước. Đến kẻ trộm vặt cũng còn phải dò đường, huống chi là kẻ trộm lớn đến phủ trụ quốc lấy trộm thiên hạ chí bảo? Hãy nhìn Trương Nghi, hôm trước về phủ, hôm sau đã được mời đến phủ Chiêu Dương dự tiệc, trước đó không hề biết đến chuyện thưởng ngọc, căn bản không thể trù tính trước, đó là điều thứ nhất!” Rồi chỉ tay vào bản án. “Theo ghi chép trong bản án, Trương Nghi một thân một mình đi dự tiệc, không hề có trợ thủ. Lại theo lời kể của nô bộc trong phủ Trương Nghi, sau khi Trương Nghi trở về Sính Đô, luôn ở trong phủ, không hề ra ngoài, cũng có nghĩa là Trương Nghi không có cơ hội tìm trợ thủ, đó là điều thứ hai. Theo nhi thần được biết, Trương Nghi không phải là kẻ hám của. Hơn nữa, Trương Nghi được bệ hạ sủng ái, thân đã làm tới chức Cối Kê lệnh, tiền đồ ở Sở rộng mở thênh thang, sao lại phải vì một viên ngọc mà đánh mất tương lai gấm vóc, đây là điều thứ ba. Trương Nghi chịu đủ cực hình tàn khốc, người bình thường khó lòng chịu đựng, dù đã nhiều lần chết giấc, song thà chết vẫn không nhận tội, nếu không phải bị oan ức, mà là trộm cắp thông thường, tuyệt đối không thể nhẫn nhịn như vậy, đây là điều thứ tư. Trương Nghi một mực khẳng định đã giao ngọc cho một nữ tử áo tía, nhi thần cho rằng, đây chưa hẳn đã là lời vô căn cứ. Vừa tới lượt Trương Nghi thưởng ngọc, trong phủ đột nhiên xảy ra hoả hoạn, quan khách đều nhốn nháo chạy đi cứu hoả, lúc này có người đến đòi ngọc, trong tình hình đó, Trương Nghi đương nhiên khó lòng phân biệt thật giả, cứ ngỡ là vu nữ đến lấy ngọc. Theo nhi thần điều tra, tất cả tân khách có mặt tại hiện trường đều nói, sắc mặt của Trương Nghi lúc đó không giống là giả, đó là điều thứ năm. Có năm điều này, nhi thần cho rằng...”

Uy Vương chau mày, xua tay ngắt lời, trầm giọng hỏi: “Nói như vậy, là Chiêu Dương đã hãm hại Trương Nghi?”

Thái tử Hoè lắc đầu: “Nhi thần cho rằng, Chiêu Dương không cố tình hãm hại Trương Nghi!”

“Tại sao không cố tình?”

“Cũng có mấy nguyên nhân!” Thái tử Hoè tiếp tục phân tích. “Một là việc này liên quan đến tông miếu, thân là hậu duệ của họ Chiêu, Chiêu Dương tuyệt đối sẽ không dối trời hại người trong tông miếu, bôi tro trát trấu vào gia tộc họ Chiêu. Hai là Chiêu Dương là người chí hiếu, ngọc này lại là vật cầu phúc đuổi tà cho mẫu thân, Chiêu Dương cũng tuyệt đối không dám giở trò, huống chi hoả hoạn lại xảy ra ngay trong phòng của Giang Quân phu nhân, Chiêu Dương cho dù có rắp tâm, cũng không thể bất chấp an nguy của mẫu thân. Ba là trong số những tân khách có mặt tại hiện trường, không phải tất cả đều là người của họ Chiêu, còn có người của họ Hoàng, họ Hạng, họ Khuất, họ Cảnh. Nhi thần đã đọc những lời làm chứng của họ, hoàn toàn khớp với lời khai của Chiêu Dương, Trương Nghi...”

“Quả nhân hỏi con,” Uy Vương lại ngắt lời, “Trương Nghi đã không trộm ngọc, Chiêu Dương cũng không hãm hại, vậy ngọc này đã đi đâu? Lẽ nào đã mọc cánh mà bay?”

Thái tử Hoè trầm tư một lúc, rồi nói nhỏ: “Lúc nãy trở về, trên đường đi nhi thần cũng đã suy nghĩ về chuyện này. Nhi thần nghĩ, ngọc này đã không phải vật bình thường, liệu có khi nào...”

Uy Vương chột dạ, nhổm người về phía trước, hỏi dồn: “Ý con là...”

“Nhi thần đang nghĩ, nhà họ Chiêu tế ngọc, khắp phủ nghiêm cấm màu tía, tại sao lại xuất hiện một người áo tía? Lại thêm vụ hoả hoạn xảy ra cũng thật trùng hợp, tỳ nữ cả ngày phục dịch đốt nến, mà nến chưa từng bị đổ, song lại đổ vào đúng hôm đó. Nhi thần dựa theo những ghi chép trong bản án, xâu chuỗi toàn bộ quá trình trước sau, xin phụ vương hãy xem thử. Giang Quân phu nhân có bệnh, Chiêu Dương mượn ngọc, phụ vương ân chuẩn, thầy cúng tế ngọc, ba mươi sáu nam tử dương cương, Trương Nghi trở về Sính Đô, Chiêu Vương mời dự tiệc, đến gia miếu thưởng ngọc, hoả hoạn trong phòng Giang Quân phu nhân, Trương Nghi cầm ngọc, nữ tử áo tía từ trên trời rơi xuống... Tất cả những điều này, giống hệt như ông trời cố ý sắp đặt, tình tiết liền mạch, ăn khớp đến không một kẽ hở.”

Uy Vương ngả người ra sau, hít vào một hơi dài, nhắm mắt suy nghĩ một hồi, sau đó mở mắt ra hỏi: “Hoè Nhi, nghe con nói vậy, lẽ nào là ông trời đã lấy mất ngọc này?”

Thái tử Hoè gật đầu liên hồi: “Nhi thần cho rằng, ngọc này từ sau khi vào đài Chương Hoa, hơn trăm năm nay chưa từng ra khỏi cửa cung nửa bước. Lần này mất tích, có lẽ là ý trời.”

Uy Vương suy nghĩ một lúc, chậm rãi gật đầu: “Ừm, con nói vậy cũng có lý, quả nhân không nên để ngọc xuất cung. Hôm đó cứ như bị trúng tà, Chiêu Dương vừa hỏi mượn, quả nhân lập tức đồng ý!” Dừng lại một lát, hỏi tiếp. “Theo ý con, quả nhân phải xử lý Trương Nghi thế nào?”

“Nhi thần cho rằng, chứng cứ của phía tư bại hoàn toàn xác thực, phía Trương Nghi lại giải thích không rõ ràng, sự việc đã gây chấn động, không thể không xử lý. Tuy nhiên, phụ vương trước nay thưởng phạt rõ ràng, đừng nói là Trương Nghi có thể bị hàm oan, cho dù hắn thực sự đánh cắp ngọc báu, cũng không thể bỏ qua đại công cái thế mà hắn đã lập cho nước Sở. Ngọc này cho dù giá trị liên thành, cũng không thể sánh được với vài ngàn dặm đất Việt. Trương Nghi thân là khách khanh, lại bôn ba hơn vạn dặm, trợ giúp ta một đòn diệt Việt, hoá giải khối ung nhọt lớn trong lòng, tại sao phụ vương không lấy công bù tội, miễn cho tội chết, đồng thời bố cáo thiên hạ, cho thấy sự thưởng phạt công tâm của phụ vương!”

Uy Vương lại trầm ngâm suy nghĩ một hồi, rồi gật đầu nói: “Con nói rất đúng, hãy làm theo như vậy! Con hãy nói với Trương Nghi, hắn muốn đi đâu thì đi, quả nhân và hắn một qua một lại, không ai nợ ai!”

Thái tử Hoè trong lòng kinh hãi, miệng mấp máy mấy cái, vốn định biện giải, nhưng sau cùng chỉ nói: “Nhi thần lĩnh chỉ!”

Một chiếc xe kiệu đỗ xịch trước cửa hình ngục.

Ngận Thượng liếc nhìn Hương Nữ, nói khẽ: “Tẩu phu nhân, chính là chỗ này!”

Hương Nữ bước xuống xe, đang định đi vào trong cổng, liền bị mấy giáp sĩ câm kích chặn lại. Ngận Thượng chạy tới, chìa cho họ xem kim bài đặc xá và chỉ dụ của Sở Vương. Môn uý nhận lấy, bảo họ đứng chờ ngoài cửa một lát, còn mình chạy vội vào trong.

Chừng nửa canh giờ sau, mấy tên ngục tốt xốc nách Trương Nghi kéo ra, rồi đặt xuống đất.

Thấy Trương Nghi khắp mình tơi tả máu me, mặt xám ngo ét như người đã chết, Hương Nữ rú lên một tiếng “phu quân”, rồi lao vụt tới, ôm chặt vào lòng.

Trương Nghi khó nhọc mở mắt, khẽ mỉm cười với Hương Nữ, rồi lại nhắm mắt lại.

Ngoài cổng hình ngục có mấy cỗ xe ngựa đang đỗ, là người dân sống quanh đó đang chờ mối làm ăn. Ngận Thượng vẫy tay gọi một cỗ xe đến, ra lệnh cho ngục tốt nhấc Trương Nghi lên xe, rồi quay sang Hương Nữ, vòng tay vái mà nói: “Tẩu phu nhân, việc tại hạ nhận lời, giờ đã làm xong!” Rồi lấy từ trong tay áo ra một túi tiền, hai tay đưa lại. “Trong túi có mười đĩnh vàng, tạm tỏ tâm ý của tại hạ, xin tẩu phu nhân không chê!”

Mười đĩnh vàng là món quà khá hậu. Hương Nữ vốn tính khí cương liệt, lại thêm chuyện xảy ra mấy ngày trước, đương nhiên không chịu nhận bố thí của Ngận Thượng, lập tức vòng tay vái trả mà nói: “Hậu ý của đại nhân, tiểu nữ xin ghi nhận trong lòng. Còn tiền của đại nhân, xin hãy thu lại cho!”

Ngận Thượng mỉm cười, vẫn cứ đưa tới: “Tâm ý của tại hạ, tẩu phu nhân có thể không nhận, song chút tiền mọn này, tẩu phu nhân nhất định phải cầm. Hiện giờ, tẩu phu nhân không một xu dính túi, chưa nói đến chuyện khác, chỉ riêng tình trạng của Trương Tử thế này, cũng phải mời thầy thuốc chữa trị, tìm chỗ náu thân mới phải!”

Thấy Ngận Thượng đã nói như vậy, Hương Nữ cũng không tiện chối từ, bèn cầm lấy túi tiền, lại vái tạ: “Nếu đã nói như vậy, coi như tiểu nữ tạm mượn của đại nhân!”

Ngận Thượng không trả lời, nhảy lên xe kiệu, ôm quyền mà nói: “Tại hạ đi trước một bước, tẩu phu nhân hãy bảo trọng!”

Hương Nữ đáp lễ, sau đó bước lên xe, ngồi xuống, thận trọng ôm Trương Nghi vào lòng, để tránh xe đi đường xóc khiến hắn phải đau đớn.

Phu xe thấy Hương Nữ đã ngồi vững, liền ngoái đầu hỏi: “Phu nhân, đi đâu?”

Hương Nữ đang định trả lời, Ngận Thượng lại đột nhiên nhảy xuống xe, tiến lại gần nói: “Suýt chút nữa quên mất một việc lớn, xin tẩu phu nhân hãy nói lại với Trương Tử, bệ hạ có khẩu dụ rằng, nói với Trương Nghi, hắn muốn đi đâu thì đi, quả nhân và hắn một qua một lại, không ai nợ ai!”

Nghe thấy những lời tuyệt tình như vậy, Hương Nữ nước mắt ròng ròng, khẽ gật đầu, rồi quay sang nói với phu xe: “Bờ Lệ Thuỷ, lầu Thê Phượng!”

Phu xe đáp lớn: “Tới liền!” Rồi vung roi quất ngựa, lập tức lao đi.

Xe ngựa lộc cộc đi đến lầu Thê Phượng. Chủ quán ra đón, giật bắn mình khi nhìn thấy bộ dạng thảm hại của Trương Nghi, vội lớn tiếng gọi mấy người hầu lại, khiêng Trương Nghi lên căn phòng họ đã từng trọ trên lầu.

Hương Nữ quay xuống lầu, định trả tiền xe, nhưng phu xe nói: “Đại nhân gọi xe đã trả tiền rồi!”

Hương Nữ cảm động, cảm tạ phu xe xong, vội quay trở lên lầu.

Trương Nghi vừa đi khỏi, Hạng Lôi liền phái người cấp báo cho Chiêu Dương.

Chiêu Dương biết tin thái tử đích thân ra mặt ứng cứu Trương Nghi, vừa kinh ngạc, vừa thầm mừng vì mình đã tin lời Trần Chẩn, chừa lại một đường, không giết chết Trương Nghi. Nghĩ lại toàn bộ quá trình trước sau, Chiêu Dương càng thêm khâm phục Trần Chẩn, liền phái Hình Tài mời ông ta đến, bàn xem bước tiếp theo nên làm thế nào.

Trần Chẩn rảo bước đến phòng khách, chưa kịp tới cửa, đã thấy Chiêu Dương ra đón, liền vòng tay chúc mừng từ xa: “Đại nhân đại hỷ rồi!”

Chiêu Dương ngẩn người: “Ồ, đại hỷ từ đâu đến?”

“Đại nhân sắp có được chức lệnh doãn, lẽ nào còn không phải là đại hỷ?” Trần Chẩn cười ha hả mà nói.

Chiêu Dương càng thêm kinh ngạc: “Xin thượng khanh hãy nói rõ!”

Trần Chẩn chỉ tay vào ngưỡng cửa, cười vang mà nói: “Lệnh doãn đại nhân, cho dù muốn nói rõ, cũng không thể đứng ngoài cửa mà nói được!”

Chiêu Dương cũng bật cười, vòng tay vái, rồi chìa tay mời: “Thượng khanh đại nhân, mời!”

Hai người bước vào phòng khách, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Chiêu Dương vòng tay, cất giọng thăm dò: “Quả đúng như lời thượng khanh, điện hạ đã đích thân ra mặt cứu Trương Nghi. Tại hạ nghĩ ngợi mãi chuyện này, càng nghĩ càng thấy lo lắng, nên mới mời thượng khanh tới đây, để nghĩ giúp một kế sách, mà thượng khanh lại...” Hơi nhổm người về phía trước, hạ thấp giọng. “Dám hỏi chức vị lệnh doãn này, từ đâu mà đến?”

“Xin hỏi đại nhân, nếu nước Sở một năm không lập lệnh doãn, liệu có được chăng?”

“Đương nhiên không được! Lệnh doãn là trụ cột của Sở, nếu không có lệnh doãn, chính lệnh không thông, sáu phủ hỗn loạn, ba quân bất trị, lâu tất sinh biến.”

“Thế còn ba tháng?”

“Cũng không thoả đáng. Theo thường lệ, nếu như lệnh doãn từ chức, trong vòng một tháng phải có lệnh doãn mới lên thay!”

“Vậy thì đúng rồi!” Trần Chẩn cười nói. “Lại hỏi đại nhân, trong trời đất nước Sở, ngoài Trương Nghi ra, còn ai có thể tranh đoạt chức lệnh doãn với đại nhân đây?”

Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lúc, rồi lắc đầu.

“Trương Nghi đã thành phế nhân, chức vị của Cảnh Xá bỏ không đã gần một tháng, hiện giờ đại nhân đã sắp được ngồi lên bảo vị, nên tại hạ chúc mừng!”

“Thượng khanh nói sớm quá rồi!” Chiêu Dương vội nói. “Điều khiến tại hạ lo lắng cũng chính là chuyện này. Điện hạ đã cứu Trương Nghi ra, chắc chắn sẽ lại cực lực tiến cử trước mặt bệ hạ. Bệ hạ đã già, thiên hạ Đại Sở không lâu nữa sẽ là của điện hạ, bệ hạ trong lòng hiểu rõ chuyện này, nếu như điện hạ kiên trì, chưa biết chừng...” Dường như không dám nói tiếp, khẽ thở dài một tiếng, rồi lại chuyển sang chuyện khác. “Hơn nữa, sự việc ngọc Hoà thị bích cũng chưa được điều tra. Với tài của điện hạ, có lẽ đã nảy sinh nghi ngờ. Bệ hạ cũng chẳng phải người cố chấp, nếu như tỉnh ngộ, đốc thúc điều tra ráo riết...”

Trần Chẩn mỉm cười: “Đại nhân yên tâm, cho dù là điện hạ hay bệ hạ, đều sẽ không tiếp tục điều tra vụ án này nữa. Cho dù có điều tra, cũng chẳng còn ai đối chứng. Những người cần ngậm miệng đều đã ngậm cả, chỉ cần đại nhân không nói ra, có ai biết được? Còn về Trương Nghi, không biết đại nhân đã nghe thấy gì chưa? Tại hạ nghe nói, trước cửa hình ngục, Ngận Thượng đã nói với vợ Trương Nghi rằng, bệ hạ có khẩu dụ, ‘nói với Trương Nghi, hắn muốn đi đâu thì đi, quả nhân và hắn, một qua một lại, không ai nợ ai!’ Trụ quốc đại nhân, lời này của bệ hạ, chắc chắn là có ẩn ý sâu xa!”

“Ngay cả câu này ngài cũng nghe thấy?” Chiêu Dương cả kinh, đưa ánh mắt bàng hoàng nhìn sững vào Trần Chẩn.

“Ha ha ha!” Trần Chẩn cười lớn mấy tiếng. “Vì đại nhân, tại hạ đâu dám không chuyên tâm?”

“Đúng là bệ hạ có khẩu dụ này, có điều...” Chiêu Dương gật đầu nói, “khẩu dụ này phải giải thích thế nào, tại hạ xin thượng khanh chỉ giáo.”

“Khẩu dụ này ý nói, nước Sở không giống với Trung Nguyên, thực sự được tín nhiệm trong triều, chỉ có ba nhà Cảnh, Khuất, Chiêu. Tất cả những người nơi khác mà triều trước sử dụng, chẳng ai có kết cục tốt lành. Xa chưa nói tới, hãy nhìn Ngô Khởi bốn mươi năm trước, chính là một ví dụ. Trương Nghi diệt Việt lập được đại công, song cách hắn trị Việt lại khiến bệ hạ không thể yên tâm, trong lòng nơm nớp đề phòng!”

Chiêu Dương ngượng nghịu, cười gượng một tiếng: “Thực ra, đó chỉ là lời một phía của tại hạ!”

“Trọng điểm chính là ở đây!” Trần Chẩn thôi cười, khẳng định chắc chắn. “Bệ hạ chỉ thích nghe những lời một phía của đại nhân!”

Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lát, rồi gật đầu lia lịa thán phục, vòng tay nói: “Nói chuyện với thượng khanh thực là sảng khoái. Đã nhắc tới chức lệnh doãn, vậy xin hỏi thượng khanh, tại hạ...” Dừng lại nửa chừng, đưa mắt nhìn Trần Chẩn.

Trần Chẩn cất giọng rành rọt, giống như tướng quân đang phát lệnh cho thuộc hạ: “Cần làm hai việc. Thứ nhất, động viên nguyên lão tiến cử đại nhân; thứ hai, truy bức Trương Nghi, đuổi ra khỏi nước!”

Lần này, tình cảnh của Trương Nghi quả thực vô cùng thê thảm.

Sau khi phu xe đi rồi, Hương Nữ trở về phòng, nhìn thấy khắp người Trương Nghi không còn chỗ nào lành lặn, lòng đau như xé, nước mắt giàn giụa, ôm lấy hắn khóc mà gọi: “Phu quân...”

Trương Nghi hai mắt nhắm nghiền, sắc mặt tái nhợt, trông chẳng khác nào xác chết. Nhớ tới lúc ở trước cửa hình ngục, Trương Nghi vẫn còn có thể mỉm cười, nhưng lúc này lại chẳng có phản ứng gì, Hương Nữ vô cùng kinh hãi, chẳng còn dám khóc lóc, lập tức đưa tay bắt mạch, thấy mạch vẫn còn, thì vội vàng gạt nước mắt chạy ra cửa, xuống lầu vòng tay vái chủ quán mà hỏi: “Xin hỏi chủ quán, gần đây có thầy lang nào không?”

Chủ quán vái đáp lễ: “Phu nhân chớ lo lắng, gần đây có một vị thầy lang chuyên chữa trị vết thương do đánh đập. Tại hạ thấy tình hình Trương đại nhân như vậy, đã phái tiểu nhị đi mời rồi. Phu nhân hãy đợi thêm một lát, chắc cũng sắp về đến.”

Lời vừa dứt, phía ngoài đã có tiếng bước chân vọng lại, quả nhiên là tiểu nhị đã về, một người đàn ông trung niên tay xách hòm vội vã rảo bước theo sau.

Chủ quán hành lễ với ông ta, rồi chỉ vào Hương Nữ nói: “Phu quân của vị phu nhân này bị người ta đánh trọng thương, phiền tiên sinh trị giúp!”

“Đa tạ chủ quán!” Hương Nữ vòng tay vái một vái thật sâu, rồi quay sang vòng tay với thầy lang. “Tiểu nữ làm phiền tiên sinh!” Rồi quay phía về cầu thang. “Xin mời tiên sinh!”

Thầy lang đáp lễ, cùng Hương Nữ lên lầu, vào phòng, xem xét thương thế của Trương Nghi. Quan sát một lúc, thầy lang cẩn thận tách rời tứ chi của Trương Nghi ra, nắn bóp một hồi, sau đó bắt mạch, bỗng giật nảy mình, quay sang Hương Nữ giục cuống lên: “Mau, mang nước nóng lại đây!”

Hương Nữ vội xuống lầu, rót nước nóng mang lên trên phòng, thấy thầy lang đang cẩn thận cầm dao rạch quần áo Trương Nghi. Rất nhiều chỗ, quần áo bết chặt với máu thịt thành một khối, không thể gỡ ra, thầy lang đành phải lấy khăn nhúng vào nước nóng, ngâm cho máu khô mềm ra, mới từ từ lột được.

Cuối cùng thầy lang cũng đã lột bỏ được hết lớp quần áo bết máu trên người Trương Nghi, rồi cẩn thận rửa sạch từng vết thương. Hương Nữ nhìn mà đau đớn tim gan, nước mắt ròng ròng. Trên người Trương Nghi da thịt tơi tả, thương thế rùng rợn, đừng nói là Hương Nữ, ngay cả thầy lang cũng phải kinh hãi run tay. Thầy lang vừa rửa vết thương, vừa lắc đầu than thở: “Than ôi, đúng là phường man rợ, muốn hành hạ đến chết người ta ư?”

Hương Nữ lau nước mắt, lòng như lửa đốt, nghẹn ngào hỏi: “Tiên sinh, phu quân... không có nguy hiểm gì chứ?”

Thầy lang gật đầu: “Không có gì nguy hiểm!” Im lặng một lát, lại lắc đầu. “Than ôi, bị thương đến mức này, nếu là người bình thường, có mấy cái thân cũng đã chết từ lâu. Sĩ tử có thể cầm cự được, đúng là kỳ tích!”

Nghe thấy vậy, Hương Nữ cũng thở phào, rồi khẽ giọng cảm tạ: “Tiểu nữ đa tạ tiên sinh!”

Thầy lang bận rộn luôn tay hơn nửa canh giờ mới rửa sạch được tất cả vết thương, sau đó lần lượt đắp thuốc lên. Hương Nữ bảo tiểu nhị mua một tấm lụa trắng về, xé thành dải dài, băng bó cẩn thận. Từ xa nhìn lại, trông Trương Nghi hệt như vừa quấn lên người một bộ đồ trắng toát.

Xong xuôi mọi việc, thầy lang bèn viết đơn thuốc, đưa cho Hương Nữ: “Phu nhân, thương thế của sĩ tử là ở bên trong chứ không phải bên ngoài. Ngoại thương không đáng lo, trong vòng một tháng có thể chữa khỏi, song nội thương mới là nghiêm trọng, không được xem thường. Phương thuốc này dùng để điều trị nội thương, trước tiên hãy uống ba ngày!”

Hương Nữ nhận đơn thuốc, cầm lấy túi tiền mà Ngận Thượng đã tặng, lấy ra ba đĩnh vàng, nâng hai tay đưa cho thầy lang: “Đa tạ tiên sinh! Chút phí chữa bệnh này, xin tiên sinh hãy nhận lấy!”

Thầy lang thấy là ba đĩnh vàng, vội đưa tay đẩy lại: “Phu nhân lễ trọng rồi! Ba đồng tiền đồng là đủ!”

“Tiên sinh bất tất phải khách khí!” Hương Nữ kiên quyết dúi ba đĩnh vàng vào tay thầy lang, “Ơn cứu mạng, đừng nói là ba đĩnh vàng, cho dù là ba mươi đĩnh cũng chưa đủ báo đáp!”

Hương Nữ tiễn thầy lang đi, rồi lấy một đĩnh vàng ra, bảo tiểu nhị đến hiệu thuốc bốc thuốc. Đến chập tối, tiểu nhị mới mang thuốc trở về, Hương Nữ đích thân sắc thuốc, bưng tới trước giường. Trương Nghi vẫn hôn mê bất tỉnh.

Thuốc nguội lại hâm nóng, hâm nóng rồi lại nguội, Trương Nghi vẫn bất tỉnh nhân sự. Hương Nữ hai mắt ứa lệ, nắm chặt tay Trương Nghi, quỳ trước giường suốt một đêm. Đến khi trời sáng, Hương Nữ mệt mỏi quá độ, không thể gắng gượng được thêm, bèn gục người xuống giường, mơ màng thiếp đi. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Hương Nữ cảm thấy trên má nhột nhạt, thì giật mình mở choàng mắt ra nhìn, thì ra là Trương Nghi.

Trương Nghi đã tỉnh từ lâu, chăm chú nhìn Hương Nữ, thấy nàng khoé mắt ứa lệ, liền đưa cánh tay không bị băng kín, khẽ khàng lau nước mắt cho nàng.

Hương Nữ mừng rỡ reo lên: “Phu quân, chàng tỉnh rồi ư?”

Trương Nghi chớp mắt, rồi nở nụ cười: “Hương Nữ, nàng gặp ác mộng ư, còn khóc nữa!” Lời nói vô cùng chậm chạp, dường như phải rặn từng tiếng một.

Nhìn bộ dạng gắng gượng của Trương Nghi, nước mắt Hương Nữ lại trào ra giàn giụa, gật đầu: “Vâng! Vâng!”

“Nàng khóc trông thực xấu xí!”

“Vâng! Vâng!” Hương Nữ lại gật đầu liên hồi, nước mắt càng rơi lã chã.

“Cười lên xem nào!”

Hương Nữ lau nước mắt, gắng gượng nặn ra một nụ cười.

“Cười xấu quá! Phải thế này này!” Trương Nghi nói đoạn, bèn nhành miệng ra cười toe toét.

Thấy vậy, Hương Nữ cũng phải bật cười.

Có lẽ do quá mệt, Trương Nghi lại từ từ nhắm mắt lại.

Hương Nữ vội vàng châm đèn, mang thuốc đi hâm nóng, nếm thử một ngụm, sau đó bưng tới trước giường, múc ra một thìa, nói khẽ: “Phu quân, hãy uống thuốc đi, uống xong chàng sẽ đỡ hơn!”

Trương Nghi “ừ” một tiếng, mở mắt ra định ngồi dậy, nhưng vừa hơi cựa mình, toàn thân lập tức đau đớn kịch liệt, buột miệng kêu lên một tiếng.

Hương Nữ đặt bát thuốc xuống, vội hỏi: “Phu quân, đau ư?”

Trương Nghi cười gượng một tiếng, gật đầu.

Nước mắt của Hương Nữ lại rơi lã chã lên lớp băng trên người Trương Nghi, giọng nghẹn ngào: “Phu quân, toàn thân chàng không còn chỗ nào toàn vẹn. Chiêu Dương thực là tàn ác!” Rồi nức nở sụt sùi, đưa tay áo lên lau nước mắt.

Trương Nghi khẽ mỉm cười: “Nàng thử nhìn xem, cái này còn không?” Rồi há to miệng cho Hương Nữ xem.

Hương Nữ không hiểu ý, mở to mắt nhìn vào miệng Trương Nghi, hỏi: “Phu quân muốn hỏi cái gì còn không?”

Trương Nghi không trả lời, chỉ động đậy đầu lưỡi lên xuống qua lại.

“Ý phu quân là... lưỡi?”

Trương Nghi gật đầu, rồi làm mặt hề, đảo lưỡi liên tục.

Hương Nữ thấy vậy, không nhịn được, lại phì cười một tiếng: “Nếu nó không còn, phu quân còn nói năng được ư?”

Trương Nghi ngậm miệng lại, cười mấy tiếng, nói lớn: “Lưỡi vẫn còn, vậy là đủ rồi!” Rồi im lặng, thu lại nụ cười, ánh mắt loé ra vẻ lạnh lùng khinh miệt, hừ mũi một tiếng. “Hừm! Thằng cha Chiêu Dương quả nhiên ngu xuẩn, nếu thực sự muốn hại ta, đâu cần phải dùng cực hình, chỉ cần cắt béng nó đi là được!”

“Phu quân!” Hương Nữ lại ứa nước mắt, bưng bát thuốc lên, giọng trách móc. “Đã ra nông nỗi này, còn nói linh tinh gì thế! Mau uống thuốc đi!”

Ba ngày tiếp theo, Trương Nghi lúc mê lúc tỉnh, nhưng nhìn chung, cũng đỡ hơn ít nhiều. Đến ngày thứ ba, thuốc đã uống hết, trên lớp băng quanh vết thương, một số chỗ đã thấy máu thấm ra, cần phải thay băng mới. Đến tận khi trời tối, Hương Nữ vẫn không thấy thầy lang đến, lo lắng đứng ngồi không yên, liền xuống lầu hỏi tiểu nhị. Tiểu nhị cũng đang sốt ruột, lập tức co cẳng chạy đến nhà thầy lang, một lúc sau quay về, nói nhà thầy lang cửa khoá chặt, không biết đã đi đâu.

Hương Nữ ngẫm nghĩ một chốc, cảm thấy ông thầy lang đó là người thực thà, chắc chắn sẽ giữ lời hứa, hôm nay không đến, có lẽ đã gặp phải việc gì cấp bách.

Đợi tới sáng sớm hôm sau, thầy lang vẫn không thấy trở lại. Hương Nữ lại bảo tiểu nhị đi tìm, nhưng vẫn thấy cửa nhà khoá im ỉm.

Hương Nữ không còn cách nào khác, đành phải nhờ chủ quán tìm cho một thầy lang khác, rồi bảo tiểu nhị đi mời. Kết quả thực đáng giật mình, vừa nghe thấy ba chữ “lầu Thê Phượng”, tất cả mọi thầy lang gần xa đều lắc đầu từ chối. Tiểu nhị gặng hỏi lý do, người thì nói không có nhà, người thì nói không có thời gian, người lại nói y thuật kém, tóm lại không có ai chịu đến chữa trị. Thầy lang mở hiệu, chẳng qua là ngồi đợi người ta đến tìm đi chữa bệnh, nay có người đến tìm, nhưng không ai chịu làm, điều này khiến tiểu nhị rất đỗi băn khoăn.

Tiểu nhị đi suốt từ sáng đến chiều, chân đã mỏi rã rời nhưng vẫn không mời được một ai. Đang đi, tiểu nhị bỗng thấy trời đất tối sầm, ngẩng mặt nhìn lên, thấy mây đen kéo đến mù mịt, vội vàng vắt chân lên cổ chạy về quán trọ. Từ xa nhìn thấy chủ quán đang đứng bên bờ sông Lệ Thuỷ, cách cửa quán chừng mấy chục bước, đang trò chuyện với hai vị khách xa lạ, thái độ vô cùng cung kính.

Tiểu nhị vốn định trở về bẩm báo với chủ quán, thấy cảnh đó liền đi luôn vào quán trọ, leo lên lầu hai.

Hương Nữ nghe thấy tiếng chân, vội chạy ra đón: “Tiểu nhị, có mời được thầy lang không?”

Tiểu nhị khẽ lắc đầu, rồi kể lại toàn bộ sự việc gặp phải.

Hương Nữ cắn chặt môi, đứng lặng người một lúc, rồi đột nhiên cất tiếng hỏi: “Chủ quán có ở dưới không?”

Tiểu nhị chỉ tay ra ngoài: “Đang nói chuyện với khách bên bờ sông.”

Hương Nữ chậm rãi xuống lầu.

Chủ quán quay về, vừa lúc tới cửa, thấy Hương Nữ đi xuống, liền dừng bước, nhìn nàng với ánh mắt lạ lùng. Hương Nữ tiến lại mấy bước, vòng tay vái mà nói: “Ông chủ, tiểu nữ lại làm phiền ông rồi!”

Chủ quán không đáp lời, vẫn chỉ nhìn nàng với ánh mắt khác lạ.

Hương Nữ ngạc nhiên, khẽ hỏi: “Chủ quán, ông... làm sao vậy?”

Lúc này chủ quán mới định thần, liền thu ánh mắt lại, vòng tay đáp lễ: “Ồ, không có gì. Phu nhân... vừa rồi phu nhân nói gì?”

“Tiểu nữ lại muốn làm phiền ông chủ lần nữa!”

“Nói đi!”

“Tiểu nữ muốn đi ra ngoài một lúc, tạm thời giao lại phu quân cho ông chủ, nhờ ông chăm sóc giúp!”

“Phu nhân muốn đi đâu?”

“Phủ Cảnh tướng quân!”

Chủ quán ngẫm nghĩ một lúc, rồi thở dài: “Than ôi, tại hạ... cũng xin báo với phu nhân, tốt nhất... đừng nên đi!”

“Tại sao?” Hương Nữ kinh ngạc.

“Còn nữa, quán trọ nhỏ bé của tại hạ, e rằng... phu nhân không thể ở thêm được nữa!”

“Tại sao kia? Tiểu nữ tuyệt đối không nợ tiền!”

“Phu nhân!” Chủ quán thở dài sườn sượt, khẽ lắc đầu. “Không liên quan đến tiền bạc. Lúc nãy có người nói với tại hạ, nếu quán trọ này muốn tiếp tục mở cửa, nếu tại hạ muốn giữ được cái mạng, thì phu nhân và Trương đại nhân buộc phải rời khỏi đây ngay!”

Hương Nữ mặt tái nhợt, kinh hãi đứng lặng người. Hồi lâu, nàng mới định thần lại được, bèn cắn chặt môi, khẽ hỏi: “Giờ đã quá giờ Thân, trời lại đang dông gió, tiểu nữ có thể ở thêm một đêm, sáng mai sẽ đi sớm, được không?”

Chủ quán lắc đầu, cúi gằm mặt, rồi nói lí nhí: “Phu nhân, tại hạ cầu xin phu nhân, hãy đi ngay bây giờ, đi càng xa càng tốt!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Còn nữa, tại hạ muốn nói thêm một câu, ở trong Sính Đô này, ngoài vương cung, chẳng còn nơi nào dám chứa chấp phu nhân đâu!”

Hương Nữ không đáp lời nào, chỉ lặng lẽ quay lên lầu. Một lát sau, mang theo túi tiền xuống: “Ông chủ, xin hãy tính tiền.”

Chủ quán vòng tay vái dài một vái, từ chối: “Phu nhân, tại hạ không lấy tiền phòng đâu!”

Hương Nữ lấy ra ba đĩnh vàng, đưa cho chủ quán: “Ông chủ, chuyện nào ra chuyện đấy, tiểu nữ thuê trọ thì phải trả tiền phòng. Nếu ông không chịu tính tiền, tiểu nữ đành để lại ba đĩnh vàng này vậy!”

Chủ quán lại vái mà từ chối: “Phu nhân, không phải tại hạ không nhận, mà là tại hạ không dám nhận!”

“Tại sao lại như vậy?”

“Quán cũng có quy tắc của quán. Tại hạ mở quán, đã hứa cho phu nhân thuê phòng. Nếu phu nhân trả phòng thì mới tính tiền. Phu nhân chưa trả phòng, là tại hạ đuổi phu nhân đi, là người phá quy tắc, đúng ra còn phải bồi thường cho phu nhân, làm sao có thể nhận tiền? Phu nhân cứ nhất quyết trả tiền, là cưỡng ép tại hạ.”

Thấy chủ quán nói lời trượng nghĩa, Hương Nữ bèn vái dài đáp lễ: “Nếu đã nói như vậy, tiểu nữ xin được đa tạ. Tiểu nữ muốn cầu xin một việc nữa, xin ông chủ giúp đỡ.”

“Tại hạ nguyện giúp sức cho phu nhân!”

“Phu quân thương tích trầm trọng, tiểu nữ chân yếu tay mềm, không thể cõng nổi, xin chủ quán thuê giúp một cỗ xe ngựa, tốt nhất là có mái che. Nhìn sắc trời thế này, có lẽ sắp đổ mưa lớn. Đang lúc tối trời, chẳng may mưa xuống, lại không có mái che, e rằng phu quân... khó lòng chịu nổi!” Hương Nữ nói đến đây, trong lòng đau đớn, giọng cũng nghẹn ngào.

Chủ quán, tiểu nhị nghe mà cũng đau lòng, cùng ủ ê đưa tay áo quẹt nước mắt. Một lúc sau, chủ quán ngẩng đầu lên, quay sang tiểu nhị: “Tiểu nhị, đi, mau đóng xe ngựa, lắp mái che mới vào, rồi tiễn Trương đại nhân, Trương phu nhân ra khỏi thành!”

“Tiểu nhân tiễn đến đâu?”

“Tiễn ra khỏi Sính Đô, đến khi nào phu nhân tìm được một chỗ ở vừa ý hãy quay về!”

Hương Nữ vái tạ xong, quay trở lên lầu, thấy Trương Nghi vẫn đang nằm mê mệt.

Hương Nữ không muốn kinh động đến Trương Nghi, liền đứng dậy, định thu dọn đồ đạc. Song nhìn khắp căn phòng, ngoài thanh kiếm và túi tiền Ngận Thượng tặng, chẳng còn vật gì là của họ. Hương Nữ càng nghĩ càng buồn thảm, bèn gục đầu xuống người Trương Nghi, khóc nấc lên ai oán.

Ngoài cửa sổ, sắc trời mỗi lúc càng thêm u ám, trong phòng u ám, không còn nhìn rõ vật gì. Đột nhiên, một chớp sáng chói loà xẹt qua bầu trời đen thẳm, tiếp sau là tiếng sấm xuân rền rĩ, giống như đang ùng ục lăn tới từ chân trời xa tít.

Mưa đổ rào rào, mỗi lúc một lớn.

Mưa xuân quý như dầu. Đây là trận mưa lớn đầu tiên trong mùa xuân nước Sở, hàng bầy trẻ nhỏ sung sướng nô giỡn trong mưa, trên phố ngoài đồng thảy đều hoan hỷ.

Trong cung Chương Hoa, Sở Uy Vương hai mắt khép hờ, sắc mặt vui vẻ, nghiêng tai chăm chú lắng nghe tiếng mưa đập trên tàu lá chuối ngoài cửa sổ. Lắng nghe một lát, Uy Vương hé mắt, nhìn sang thái tử Hoè ngồi bên cạnh, hồ hởi nói: “Hoè Nhi, nghe tiếng mưa thực mạnh mẽ!”

Thái tử Hoè lặng lẽ ngồi trên chiếu, hai mắt nhắm hờ, thần tình u uất, dường như đây chẳng phải là trận mưa lành đã trông ngóng từ lâu.

Uy Vương thoáng ngẩn người, rồi không nói thêm gì nữa, thu ánh mắt lại, nhìn vào mặt bàn phía trước. Bên phải mặt bàn bày một chồng tấu chương, là do thái tử Hoè vừa mới trình lên. Sở Uy Vương lật giở một bản, đọc qua một lượt. Đọc xong, đặt sang bên trái, tiếp tục lật bản khác, liếc mắt một lượt, rồi lại chồng lên bản tấu vừa nãy. Uy Vương cứ lần lượt đọc hết bản này đến bản khác, các tấu chương bên phải từ từ được dời qua bên trái, lại chồng thành một đống ở đó.

Uy Vương đọc xong, ngẩng đầu nhìn thái tử Hoè: “Chỉ có chừng này thôi ư?”

Thái tử Hoè cũng mở mắt, khẽ gật đầu: “Khởi bẩm phụ vương, chỉ có chừng này!”

Uy Vương im lặng một lát, lại hỏi: “Ngoài Chiêu Dương ra, còn tiến cử người nào khác không?”

Thái tử Hoè lắc đầu.

Sau một hồi im lặng, Uy Vương dường như sực nhớ ra điều gì, chậm rãi ngẩng đầu lên: “Trương Nghi đi đâu rồi?”

“Nhi thần không biết!” Nói xong, thái tử Hoè dường như cảm thấy không thoả đáng, ngập ngừng một thoáng, lại thêm một câu. “Nhưng nhi thần nghe nói, hắn đã rời khỏi Sính Đô, lúc này có lẽ đang trên đường!”

“Đã rời khỏi Sính Đô?” Uy Vương có vẻ bàng hoàng, ngẫm nghĩ một lát, lại hỏi. “Đi đâu?”

“Nhi thần không biết!”

Uy Vương không nói thêm lời nào nữa, một lúc sau, lại đưa mắt nhìn vào chồng tấu chương trước mắt: “Số tấu chương này, ý con thế nào?”

“Nhi thần xin nghe theo chỉ ý của phụ vương!” Thái tử Hoè đờ đẫn đáp.

“Quả nhân đang hỏi con!” Sở Uy Vương cao giọng, có vẻ trách móc.

Thái Tử Hoè giật mình, vội lấy lại tinh thần: “Khởi bẩm phụ vương, nhi thần cho rằng, Trương Nghi đi rồi, e rằng khắp trong triều ngoài nội nước Sở, chỉ còn Chiêu Dương là thích hợp.”

Uy Vương khép mắt lại, tiếp tục trầm ngâm suy nghĩ.

Lại im lặng kéo dài.

“Ừm, con nói đúng!” Cuối cùng Uy Vương cũng mở mắt, gật đầu. “Việc này không thể lần lữa thêm được nữa! Tấn phong tả tư mã Chiêu Dương làm lệnh doãn, cai quản lục phủ! Tấn phong hữu tư mã Khuất Vũ làm tả tư mã, thượng trụ quốc Cảnh Thuý làm hữu tư mã!” Im lặng một lát, thì nhắm mắt lại. “Mau đi ban chỉ!”

Thái tử Hoè đứng dậy, khấu bái: “Nhi thần lĩnh chỉ!”

Vào lúc hoàng hôn, trên con đường dịch đạo dẫn từ Sính Đô đến thành cổ Tương Dương, một cỗ xe ngựa đang di chuyển chật vật. Cơn mưa lúc to lúc nhỏ, tấp lên mái che mới lắp, rào rào từng đợt.

Xe đi mỗi lúc một chậm, rồi đột nhiên xóc mạnh một cái, khựng lại không đi được nữa. Tiểu nhị vội nhảy xuống xe, thấy bánh bên trái đã sa xuống một hố bùn sâu. Tiểu nhị luống cuống, vừa đánh ngựa vừa đẩy xe, bánh xe lắc qua lắc lại, song càng lún sâu hơn.

Hương Nữ thò đầu ra ngoài hỏi: “Tiểu nhị, lại bị sa lầy ư?”

Tiểu nhị gật đầu: “Đúng thế, phu nhân, lại bị lún xuống hố bùn rồi!”

Hương Nữ nhảy xuống xe, săm soi một lúc, rồi cùng tiểu nhị ráng sức đẩy liền mấy cái, bánh xe cứ nhích lên lại rơi xuống, càng lún sâu hơn, cuối cùng không nhúc nhích được nữa. Hương Nữ trong lòng lo sợ, ngước mắt nhìn trời, thấy đã sắp sập tối. Phóng mắt nhìn quanh, thấy bốn bề đồng không mông quạnh, không một bóng nhà, chỉ thấy sợi mưa mịt mờ từ trời đổ xuống, dệt thành một màn mưa xuân dày đặc. Ngoài đồng, những chỗ trũng đều đã ngập úng, từ xa nhìn lại, chỉ thấy mênh mông vũng nọ tiếp vũng kia, dưới ánh sáng ngày tàn ảm đạm, trở nên mông lung mờ ảo.

Hương Nữ hỏi: “Xin hỏi tiểu nhị, đây là nơi nào?”

Tiểu nhị chỉ về một đồi đất ở phía trước: “Hồi bẩm phu nhân, đi qua đồi đất kia, chính là Kỷ Thành. Nếu như thời tiết tốt, chúng ta đã đến từ trưa rồi!”

“Bây giờ phải làm thế nào đây?” Hương Nữ chau tít đôi mày, lo lắng nhìn xuống hố bùn.

Tiểu nhị vỗ vỗ vào mông ngựa, khẽ lắc đầu: “Phu nhân, hết cách rồi. Đi suốt một ngày một đêm, ngựa cũng chẳng còn sức nữa. Xem ra chúng ta đành phải ngủ lại một đêm bên vũng bùn này, đợi ngày mai trời sáng sẽ nghĩ cách khác!”

Hương Nữ lo lắng đến phát khóc: “Phu quân thương thế trầm trọng, lại thêm đi đường xóc nảy, nếu không kịp thời chữa trị, e rằng không thể cầm cự nổi!”

Tiểu nhị ngồi thụp xuống, ôm đầu suy nghĩ, một lúc, lại lắc đầu: “Phu nhân, tiểu nhân đã từng đi qua con đường này, quanh đây trước không làng mạc, sau không quán xá, cách Kỷ Thành còn khoảng hai mươi dặm nữa. Hơn nữa, con ngựa này quả thực không còn...” Đang nói, đột nhiên khựng lại, đứng phắt dậy, rồi vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ reo lên. “Phu nhân, nghe xem, có người đang đến!”

Hương Nữ nghiêng tai lắng nghe, quả nhiên có tiếng xe ngựa từ phía sau vọng lại.

Thoáng chốc, một cỗ xe ngựa đã chạy đến bên cạnh. Người đánh xe nhảy xuống, đi thẳng tới chỗ họ. Hương Nữ ngẩng đầu nhìn, thấy người này đầu đội nón lá, thân mặc áo nâu, liền bước lên trước một bước, vòng tay hành lễ: “Tiểu nữ xin chào tiên sinh!”

Người này cũng vái đáp lễ: “Tại hạ xin chào cô nương!” Rồi chỉ tay vào xe ngựa. “Cô nương, có chuyện gì thế?”

Hương Nữ đáp: “Xe bị sa xuống hố lầy, tiểu nữ bất lực, xin tiên sinh giúp đỡ!”

Người đội nón không nói thêm nửa lời, bước sang vệ đường, nhặt lấy hơn chục hòn đá, đưa cho Hương Nữ, còn mình đứng cạnh bánh xe bên trái, nói: “Cô nương, hễ bánh xe nhúc nhích, lập tức nhét đá xuống dưới bánh xe. Nhúc nhích một cái, nhét một viên đá, đến khi lấp đầy hố, bánh xe sẽ được đẩy lên!” Rồi quay sang tiểu nhị. “Đánh xe đi!”

Tiểu nhị quát ngựa, còn người đội nón gắng sức đẩy xe. Bánh xe vừa lay động, Hương Nữ lập tức nhét đá xuống dưới bánh, một lát sau, quả như lời người đội nón, bánh xe bên trái đã thoát khỏi hố bùn.

Người đội nón đi sang bên cạnh, tới rửa tay ở rãnh nước bên đường, rồi ngẩng đầu nhìn Hương Nữ: “Cô nương là...”

Hương Nữ bèn cảm tạ: “Công Tôn Yến đa tạ tiên sinh. Xin hỏi đại danh của tiên sinh!”

Người này bỏ nón xuống, vòng tay cười nói: “Chỉ là việc nhỏ, bất tất phải khách khí. Tại hạ Giả Xá Nhân, hân hạnh được gặp cô nương!” Rồi ngước nhìn lên chiếc xe. “Trời mưa lớn như vậy, cô nương định đi đâu?”

Hương Nữ cúi đầu, một lát sau mới ngẩng lên đáp: “Tiểu nữ muốn đến Kỷ Thành!”

“Phía trước là Kỷ Thành rồi!” Người đội nón đi tới bên con ngựa, nhìn một chốc rồi nói với Hương Nữ. “Xem ra con ngựa này không thể đi nổi nữa. Nếu cô nương đồng ý, hãy sang ngồi cùng xe với tại hạ!”

Hương Nữ quan sát kỹ người này, thấy không giống phường gian trá, lại ngoảnh đầu nhìn, thấy đó là một cỗ xe tứ mã cao lớn, bèn gật đầu nói: “Tiểu nữ đa tạ tiên sinh. Nhưng... tiểu nữ còn có một thỉnh cầu, phu quân tiểu nữ thân mang trọng thương đang nằm trên xe, cũng xin tiên sinh không vứt bỏ.”

“Đương nhiên rồi!” Giả Xá Nhân nói xong, bèn bước lên xe, vừa nhìn thấy Trương Nghi, đã kinh hãi kêu lên. “Vị sĩ tử này bị thương không nhẹ! Mau, khiêng lên xe!”

Ba người hợp sức chuyển Trương Nghi sang xe của Giá Xá Nhân.

Tiểu nhị quay sang Hương Nữ, vòng tay nói: “Phu nhân có xe rồi, tiểu nhân có thể quay về được chưa? Ông chủ đang chờ tiểu nhân!”

Hương Nữ gật đầu, rồi lấy ra hai đĩnh vàng: “Đa tạ tiểu ca. Xin hãy nhận lấy!”

Tiểu nhị hết lời từ chối, song Hương Nữ nhất quyết không chịu, nên đành phải nhận, sau đó đánh chiếc xe không sang một bên nhường đường cho Giả Xá Nhân, rồi quay đầu xe, vái chào đến mấy lần, mới đánh xe trở về.

Giả Xá Nhân ra roi thúc ngựa, tiến về phía Kỷ Thành.

Khi đến Kỷ Thành, đã quá canh ba. Giả Xá Nhân tìm được một quán trọ, bảo chủ quán mang nước nóng tới, đến cơm cũng không kịp ăn, lập tức rửa sạch các vết thương trên người Trương Nghi, nặn bỏ mủ. Điều khiến Hương Nữ vô cùng kinh ngạc là Giả Xá Nhân dường như đã biết rõ bệnh tình của Trương Nghi, thuốc thang sẵn sàng, hệt như một thầy lang lão luyện, động tác thành thục, chẳng mấy chốc đã giúp Trương Nghi đắp xong thuốc mới, rồi đưa mấy gói thuốc cho Hương Nữ, giục nàng mau mau đi sắc.

Chăm sóc cho Trương Nghi xong xuôi, cũng vừa lúc chủ quán mang cơm nước lên. Hương Nữ bón cho Trương Nghi ăn nửa bát cháo loãng, thấy Trương Nghi lại ngủ thiếp đi, mới qua dùng cơm cùng Giả Xá Nhân.

Ăn được mấy miếng, Hương Nữ từ từ đặt đũa xuống, ngước nhìn Giả Xá Nhân, hỏi: “Giả tiên sinh, rốt cuộc tiên sinh là ai?”

Giả Xá Nhân cười nói: “Tại hạ quên không giới thiệu, tại hạ là người buôn bán, từ Hàm Đan đến. Vốn định đến Sính Đô nhập hàng phương nam, không ngờ tình hình thay đổi, thành ra công cốc.”

“Ồ!” Hương Nữ khẽ gật đầu, song ánh mắt vẫn bán tín bán nghi. “Tiểu nữ cứ ngỡ tiên sinh là thầy thuốc.”

Giả Xá Nhân lại cười: “Người làm ăn buôn bán quanh năm đi nam về bắc, khó tránh những lúc đau đầu chóng mặt, nên tại hạ mới học thêm chút y thuật. Hòm thuốc kia, tại hạ thường xuyên mang theo bên cạnh, một là để dùng cho mình, hai là nếu chẳng may gặp phải việc gấp, cũng dễ bề ứng phó. Hôm nay, chẳng phải đã có tác dụng rồi ư?” Nói đoạn, cười lớn vài tiếng, nghiêng đầu nhìn Hương Nữ. “Tại sao phu nhân lại hỏi như vậy?”

“Không có gì!” Hương Nữ thở phào. “Tiểu nữ chỉ hiếu kỳ mà thôi!”

Giả Xá Nhân cười nói: “Nếu là vậy, tại hạ cũng xin hiếu kỳ mà hỏi một câu, tại sao sĩ tử lại bị thương trầm trọng đến vậy?”

Hương Nữ cảm thấy đối phương không giống như người của Chiêu Dương phái đến, nên đã kể lại toàn bộ sự việc Trương Nghi bị hãm hại cho ông ta nghe.

Giả Xá Nhân ra vẻ kinh ngạc: “Đại danh của Trương đại nhân, tại hạ ở Hàm Đan cũng nghe nói tới. Lần này đến Sính Đô, cả kinh thành đều đồn đại chuyện Trương đại nhân trộm ngọc Hoà thị bích, lúc đầu tại hạ không tin, sau đó... sau đó cũng phải tin, không ngờ câu chuyện lại có nhiều uẩn khúc đến vậy!” Rồi thở dài một tiếng. “Than ôi, thế đạo này...”

Hương Nữ ứa nước mắt, cúi gằm mặt không nói gì.

Một lúc sau, Giả Xá Nhân hỏi: “Xin hỏi phu nhân, hai người dự định đi đâu?”

Hương Nữ khẽ lắc đầu, nước mắt lăn dài: “Đã tới bước này rồi, tiểu nữ cũng chẳng còn nhà để quay về nữa. Sau này đi đến đâu, phải đợi phu quân chữa lành thương tích, rồi để phu quân quyết định. Xin hỏi tiên sinh, phu quân... không có gì đáng ngại chứ?”

“Phu nhân yên tâm!” Giả Xá Nhân cười nói. “Bệnh của Trương đại nhân, cứ giao cho Xá Nhân!”

Hương Nữ lại vòng tay hành lễ, nói: “Tiểu nữ đa tạ tiên sinh tương trợ!”

Ngày hôm sau, Giả Xá Nhân bảo chủ quán chuyển họ sang một khu nhà yên tĩnh, đi mua thuốc về, đóng chặt cửa, hạn chế ra vào, để Trương Nghi tĩnh tâm dưỡng thương.

Nhờ có Giả Xá Nhân chữa trị và Hương Nữ hết lòng chăm sóc, thương thế của Trương Nghi nhanh chóng hồi phục, chưa đầy nửa tháng đã có thể xuống giường đi lại. Trương Nghi và Giả Xá Nhân cũng trở thành bạn tốt, ngày ngày đàm thiên thuyết địa, nói chuyện kim cổ.

Lại thêm vài ngày nữa, cung Sở ban chiếu lệnh, Chiêu Dương thăng chức lệnh doãn. Giả Xá Nhân đọc được cáo thị, liền quay về kể lại cho Hương Nữ.

Hương Nữ hỏi: “Giả tiên sinh, phu quân có thể lên đường được chưa?”

Xá Nhân gật đầu nói: “Nếu như đi chậm thì không có gì đáng ngại!”

Hương Nữ vội nói: “Giả tiên sinh, nơi này không ở được nữa. Đến khi Chiêu Dương lên nắm quyền, chắc chắn hắn sẽ không tha cho phu quân!”

Giả Xá Nhân gật đầu, cùng Hương Nữ đi vào trong phòng bàn với Trương Nghi.

Trương Nghi cười vang mà nói: “Đây là tin tốt lành, hai người có gì lo lắng?”

“Tin tốt lành?” Giả Xá Nhân, Hương Nữ đều ngẩn người.

“Tại hạ vốn chẳng có thù oán gì với Chiêu Dương, ông ta hãm hại tại hạ, chẳng qua chỉ vì chức vị lệnh doãn. Nay ông ta đã được như ý nguyện, tại hạ đã không còn nguy hiểm nữa. Vả lại, nếu người này thực lòng muốn hại chết tại hạ, cũng chẳng phải đợi đến lúc này. Khi ở trong ngục, cho dù tại hạ có mười cái mạng, cũng chết lâu rồi!”

Nghe Trương Nghi nói vậy, Giả Xá Nhân, Hương Nữ đều gật gù, cũng cảm thấy yên tâm.

“Tuy nhiên,” Trương Nghi quay sang Giả Xá Nhân, “quả thực nơi này không thể ở lâu, đã đến lúc chúng ta phải đi rồi. Hơn nữa, Giả huynh là người làm ăn buôn bán, cũng không thể vì tại hạ mà để lỡ công việc!”

Giả Xá Nhân đáp: “Buôn bán là việc nhỏ. Trương Tử muốn đi đâu, có thể nói cho tại hạ biết chăng?”

Trương Nghi suy nghĩ hồi lâu, thở dài sườn sượt: “Than ôi, nói tới chuyện này, tại hạ cũng không biết phải thế nào. Mấy ngày nay tại hạ đã nghĩ đi nghĩ lại, nhưng nghĩ mãi mà vẫn chưa biết nên đi đâu.”

“Phu quân!” Hương Nữ nói chen vào. “Nếu chúng ta không sợ Chiêu Dương, vậy hãy đến núi Tra Nha. Đó là địa bàn của thiếp, đến đó, chúng ta sẽ không còn lo lắng!”

Trương Nghi cười gượng một tiếng: “Nếu chỉ để không phải lo lắng, ta đi đâu chẳng được, sao phải đến sơn trại nhà nàng?”

Hương Nữ biết Trương Nghi có chí lớn, sắc mặt hơi đỏ lên, mím chặt môi không nói gì nữa.

“Theo ý của tại hạ,” Giả Xá Nhân khẽ đặng hắng một tiếng, rồi vòng tay nói, “Trương Tử có thể tới nước Hàn. Năm ngoái, tại hạ từng đến Trịnh Thành, cũng hiểu qua về tình hình nước Hàn. Sau khi Thân Bất Hại qua đời, Hàn Hầu một lòng tìm kiếm người thay thế, song đến nay vẫn chưa gặp được ai. Với tài của Trương Tử, chắc chắn sẽ được trọng dụng!”

“Phò tá nước nhỏ, sao thoả được chí lớn?” Vừa dứt lời, Trương Nghi liền cảm thấy thất thố, vội vàng ôm quyền nói thêm một câu. “Xin đa tạ Giả huynh!”

Nhưng Giả Xá Nhân làm như không nghe thấy, bật cười mà nói: “Nước Ngụy thế nào? Ngụy Vương trong có Huệ Tử, ngoài có Bàng Quyên, thế nước lại trở nên cường thịnh, hoặc giả có thể thoả được chí lớn của Trương Tử. Hơn nữa, Trương Tử lại là người nước Ngụy, cũng có thể nghĩ đến việc lập nghiệp ở quê hương!”

“Nước Ngụy bảy năm về trước, miệng hùm gan sứa; nước Ngụy ngày hôm nay, trong ngoài khô kiệt, chẳng qua là miếng thịt ngon đặt bên miệng người khác mà thôi!” Trương Nghi lại lắc đầu, cất giọng hờ hững. “Hơn nữa, tại hạ và Bàng Quyên cũng từng có hiềm khích, không muốn ở cùng một triều!”

Giả Xá Nhân suy nghĩ một lúc: “Còn nước Tề thế nào?”

Trương Nghi lắc đầu than thở: “Than ôi, Giả huynh có điều không biết, mặc dù Tề là nước mạnh, nhưng cũng khó thoả chí của tại hạ.”

“Sao Trương Tử lại nói vậy?” Giả Xá Nhân kinh ngạc. “Đất Tề rộng hàng nghìn dặm, dân chúng đông đúc, vua tôi hiền minh, phong tục khai hoá, từ thời Xuân Thu đã xưng bá thiên hạ, hiện giờ cũng được coi là nước lớn...”

“Giả huynh mới chỉ biết một mà thôi!” Trương Nghi chậm rãi nói. “Kẻ thành được đại sự, tất phải có được thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Tề phía đông giáp biển lớn, phía tây giáp Tam Tấn, ba mặt nam, bắc, tây đều không có nơi hiểm yếu để phòng thủ, lợi công không lợi thủ, chẳng may có chuyện bất trắc, chỉ còn cách dựa lưng vào biển mà đánh. Trong ba cái trên, tạm thời không nói tới thiên thời, mặc dù Tề có được nhân hoà, nhưng không có được địa lợi.”

“Nếu nói như vậy, Trương Tử nên đến nước Tần!”

Nghe thấy hai chữ nước Tần, Trương Nghi thần sắc đại biến, ánh mắt toé lửa, lạnh nhạt nói: “Xin Giả huynh đừng nói đến nước Tần!”

“Ồ?” Lúc này Giả Xá Nhân cũng nhớ tới lời dặn của Tô Tần trước lúc từ biệt, đột nhiên cảm thấy tò mò, vờ ngạc nhiên hỏi. “Nước Tần bốn phía hiểm ải, dân giàu nước mạnh, Tần Công tuổi trẻ tài cao, hiền minh tột bực, cả ba thứ thiên thời, địa lợi, nhân hoà đều có cả, đáng là nơi dụng võ của Trương Tử, cớ sao Trương Tử...”

Trương Nghi siết chặt nắm đấm đến kêu lên răng rắc, lời nói rít qua kẽ răng: “Người Tần giết chết tiên phụ, bức tử tiên mẫu, bá chiếm toàn bộ gia sản tổ tiên, tại hạ đời này chưa diệt được Tần, thề không cam chịu!”

“Ồ!” Giả Xá Nhân đã hiểu ra, vội ôm quyền vái mà nói. “Tại hạ không biết Trương Tử có thù nhà, đã nói lời xúc phạm, xin Trương Tử đừng để bụng!”

Trương Nghi dường như cũng nhận ra mình hơi quá lời, bèn vái đáp lễ, giọng điệu hơi hoà hoãn trở lại: “Là tại hạ nóng giận thái quá, tâm địa hẹp hòi, khiến Giả huynh cười chê rồi. ‘Lễ’(1) có câu, “thù giết cha không đội trời chung”, cả nhà tại hạ bị hại trong tay người Tần, lần này đến Sở một là để thoả chí lớn, hai là muốn mượn tay người Sở giúp tại hạ báo thù. Nước Sở rộng lớn trù phú, tại hạ vốn cho rằng đó là một con mãnh hổ, nhưng thật không ngờ lại là hổ giấy, chỉ biết doạ người!”

Giả Xá Nhân gật gù, cúi đầu suy nghĩ một hồi, rồi ngẩng lên hỏi: “Trương Tử có thực sự muốn báo thù?”

“Điều này có thể là giả được ư?”

“Nếu nói như vậy, tại hạ có một câu, không biết Trương Tử có muốn nghe chăng?”

“Tại hạ xin lắng nghe!”

“Tại hạ vừa từ Hàm Đan đến, trước lúc lên đường có nghe Tô Tử đang được trọng dụng ở Triệu, được Triệu Hầu bái làm tướng quốc, nghe nói muốn hợp tung Tam Tấn. Một nước Nguỵ đã đủ mạnh rồi, nếu như Tam Tấn hợp lại, thiên hạ còn ai địch nổi? Nếu Tô Tử hoàn thành được chí này, chắc chắn sẽ trở thành kẻ địch của người Tần. Trương Tử đã không có nơi nào để đi, tại hạ thiết nghĩ...” Giả Xá Nhân đưa mắt nhìn Trương Nghi, dừng lại nửa chừng.

Trương Nghi lại sầm mặt, cúi gằm đầu xuống, hai tay siết cứng vào nhau, dường như muốn xé xác đối phương thành trăm mảnh.

“Tại hạ thiết nghĩ...” Giả Xá Nhân vờ như không nhìn thấy, vẫn nói tiếp, “hay là Trương Tử hãy đến Hàm Đan. Trương Tử và Tô Tử là đồng môn, Tô Tử chắc chắn sẽ tiến cử ngài. Thường có câu, thiên thời địa lợi không bằng nhân hoà, Trương Tử là đại tài, Tô Tử cũng là đại tài, nếu hai người liên thủ hợp sức, lo gì không thành đại nghiệp? Tam Tấn hợp tung, lại có cơ mưu của hai vị, phía đông có thể chế ngự Tề, phía nam có thể chế ngự Sở, còn về phía tây, nước Tần dù có là tảng đá ngoan cố, rồi cũng sẽ bị sức mạnh này nghiền thành cám vụn!”

Sau một hồi trầm tư dài dằng dặc, cuối cùng Trương Nghi cũng ngẩng đầu lên, cười gượng một tiếng, lắc đầu thở dài: “Than ôi! Số phận quả thực trêu ngươi! Khi ra khỏi Quỷ Cốc, tại hạ tự cho rằng mình thông minh hơn người, có thể thành công trước một bước, vì vậy đã nói lời ngông cuồng. Không ngờ... đã hai năm rồi, tại hạ vẫn chỉ là ếch ngồi đáy giếng, chẳng có gì trong tay. Nhìn sang Tô Tần, chẳng nói lời nào, nhưng đã thành tựu đại nghiệp, danh tiếng lẫy lừng thiên hạ.”

“Trương Tử chớ nên nói vậy!” Giả Xá Nhân bật cười mà nói. “Trương Tử dùng ba tấc lưỡi đánh bại Việt Vương Vô Cương, giúp Sở đoạt được đất Việt, thiên hạ không ai không biết. Người ta sống ở trên đời, lập được đại công nhường này, cũng coi như sống không uổng phí. Trương Tử, theo ý của tại hạ, đừng nên do dự nữa, hãy lập tức lên đường đến Hàm Đan!”

Lại một hồi im lặng nữa trôi qua, rồi Trương Nghi ngẩng đầu, nhìn ra ngoài cửa, thở dài một tiếng: “Than ôi, thiết nghĩ Trương Nghi ta, đường đường là một đại trượng phu, thế mà đến hôm nay, lại trở thành rồng bơi bãi cạn, đã chẳng còn chốn nào dụng võ!” Lại im lặng một lúc, cười nhạt một tiếng. “Việc trên thế gian, thật đáng nực cười. Quanh quẩn một vòng, cuối cùng lại phải đến nhờ cậy hắn!” Rồi khẽ lắc đầu. “Quả thực tại hạ không thể đến Hàm Đan được!”

“Trương Tử càng nói càng xa rồi!” Giả Xá Nhân lại cười. “Thành bại trong đời, không thể luận theo trước mắt. Nghe nói Tô Tử du thuyết Tần không thành, thất chí về quê, bộ dạng rách rưới thảm hại, còn tệ hơn cả Trương Tử bây giờ không biết bao nhiêu lần. Hơn nữa, lần này Trương Tử đến đó là để hợp tác với Tô Tử, chứ không phải đến để nhờ cậy. Trong làm ăn buôn bán, chỉ mưu lớn chứ không mưu nhỏ, nếu Trương Tử muốn thành đại nghiệp, sao lại không gạt bỏ chút sĩ diện cỏn con này?” Nói đoạn, đưa mắt nhìn sang Hương Nữ.

“Phu quân!” Hương Nữ tiếp lời. “Giả tiên sinh nói rất phải, phu quân đã kết nghĩa cùng Tô huynh, chắc hẳn Tô huynh sẽ không chê bai!”

“Chê bai?” Trương Nghi lừ mắt lườm Hương Nữ. “Ta đến với hắn, đã là nể mặt hắn lắm rồi! Nếu như hắn dám chê bai, thì ta...”

Nghe thấy lời này, Giả Xá Nhân biết Trương Nghi đã xuôi, bèn cười ha hả, đứng dậy nói: “Việc không nên chậm trễ, tại hạ sẽ đi chuẩn bị xe!”

Trương Nghi tỏ ra ngần ngại: “Như vậy chẳng phải làm lỡ việc làm ăn của Giả huynh ư?”

Giả Xá Nhân cười vang mà nói: “Có thể kết bạn với Trương Tử, đó mới là mối làm ăn lớn nhất của tại hạ. Hơn nữa, tại hạ từ Hàm Đan đến, giờ cũng phải quay về. Đường dài dằng dặc, có Trương Tử, phu nhân đồng hành, còn gì vui bằng?”

Trương Nghi vòng tay nói: “Nếu đã nói vậy, tại hạ xin đa tạ Giả huynh!”

Công tử Hoa từ Đại Lương trở về cung Tần, đang bẩm báo lại tình hình nước Ngụy, thì nội thần bước vào, trình lên mật báo của Trần Chẩn gửi về từ Sính Đô.

Huệ Văn Công mở ra xem, vừa liếc nhìn, đột nhiên đứng phắt dậy, sắc mặt hồ hởi, ánh mắt dán chặt vào bản mật báo, phá lên cười sảng khoái.

“Chúa thượng, có tin tốt lành ư?” Hai con mắt của công tử Hoa cũng dán chặt vào Huệ Văn Công, khẽ giọng hỏi.

“Tin tốt, tin tốt, rất tốt!” Huệ Văn Công lại cười vang, đáp liên miệng.

“Dám hỏi chúa thượng, là tin tốt gì vậy?” Thấy Huệ Văn Công vui mừng lộ ra nét mặt, công tử Hoa đoán rằng không phải chuyện tuyệt mật, liền tiện miệng hỏi tiếp.

Huệ Văn Công cất bức thư vào trong tay áo, lại cười lớn một chặp, mới ngồi xuống chỗ, phấn khởi nói: “Đúng là việc tốt song hành! Khanh vừa báo tin Tôn Tẫn đã rời khỏi phủ Bàng Quyên, tạm thời thoát khỏi miệng hùm, Trần ái khanh cũng lập tức có tin vui báo về. Khanh thử đoán xem, đó là tin vui gì?”

Công tử Hoa khẽ đảo con ngươi: “Nước Sở gặp hoạ rồi ư?

Huệ Văn Công lắc đầu: “Tai hoạ là tin buồn, không phải tin vui.”

“Sở Vương lâm bệnh? Hoặc đã... băng hà rồi?”

“Khanh thật là...” Huệ Văn Công chỉ tay vào công tử Hoa cười nói, “chỉ nghĩ tới những chuyện xui xẻo. Băng hà là việc tang tóc, sao có thể là tin vui được?”

“Vậy thì...” Công tử Hoa lắc đầu, “thần đệ không đoán ra!”

“Ta biết khanh sẽ không thể đoán ra!” Huệ Văn Công lấy bức mật báo từ trong ống tay áo ra, lại đọc một lượt, cười đến không khép nổi miệng. “Thượng trụ quốc Chiêu Dương và Trương Nghi tranh giành chức lệnh doãn, Chiêu Dương thấy không tranh nổi nên đã cầu cứu Trần ái khanh. Trần ái khanh giúp Chiêu Dương nghĩ ra diệu kế, bày cạm bẫy, vu cho Trương Nghi lấy cắp ngọc Hoà thị bích, bảo vật trấn cung của Sở Vương, rồi bắt Trương Nghi nhốt vào ngục, đánh đập tra tấn đến thập tử nhất sinh. Sau đó, nhờ thái tử Hoè ra mặt ứng cứu nên Trương Nghi mới giữ được mạng sống. Ha ha ha, anh tài một thuở, lần này lại trở thành đạo tặc trong thiên hạ, ha ha ha!”

“Quả nhiên là việc tốt!” công tử Hoa cũng bật cười. “Thần đệ sẽ lập tức lên đường, đi đón tên trộm đó về đây!”

“Không! Không! Không!” Huệ Văn Công lập tức lắc đầu. “Không phải vội, kịch hay phải diễn từ từ! Nghe nói kẻ này tâm cao khí ngạo, để hắn nếm chút mùi khổ sở đã!”

“Chúa thượng!” Công tử Hoa vội nói. “Trương Tử là bậc đại tài, chẳng may bị người khác cướp mất...”

“Ngoài quả nhân ra, còn có vị quân chủ nào muốn dùng một tên trộm cắp?” Huệ Văn Công càng nói càng phấn chấn. “Hơn nữa, nghe Trần ái khanh nói, người này tâm chí không thua kém Tô Tần, hắn không đến Tần mới là lạ!”

Công tử Hoa ngẫm nghĩ một lúc, rồi vòng tay nói: “Chúa thượng thánh minh!”

“Này Tiểu Hoa!” Huệ Văn Công ngẩng đầu nhìn. “Tranh chấp lớn hiện nay không phải chỉ ở một thành một trì, mà là anh tài trong thiên hạ. Tôn Tử là bậc đại tài, phải đưa bằng được về Tần, nhưng cũng không được quá hấp tấp, nếu không Bàng Quyên sẽ sinh nghi. Lần này khanh trở về, hãy nghỉ ngơi mấy hôm, tạm thời không đi Đại Lương vội!”

“Chúa thượng muốn thần đệ làm việc gì?”

“Đi Hàm Đan một chuyến!”

“Đi Hàm Đan?”

“Đúng, đi đón Trương Tử!”

“Trương Nghi?” công tử Hoa tròn mắt, kinh ngạc nhìn Huệ Văn Công.

“Phải!” Huệ Văn Công gật đầu, thu nụ cười lại. “Mấy ngày trước thượng đại phu báo tin, nói là muốn đến Hàm Đan chờ Trương Nghi, sẽ về chậm mấy hôm. Lúc đó quả nhân còn không hiểu, nhưng giờ thì đã hiểu rồi. Lúc nãy khanh nói cũng đúng, ta phải đề phòng vạn nhất. Khanh hãy đến Hàm Đan một chuyến, phối hợp với thượng đại phu, nhất định phải đưa được Trương Nghi lành lặn trở về!”

“Thần đệ lĩnh chỉ!”

Giả Xá Nhân chở vợ chồng Trương Nghi đi hơn bốn mươi ngày đêm, cứ ngày đi đêm nghỉ, tới buổi trưa hôm nay đã đến được Hàm Đan.

Vừa vào cổng thành nam, lập tức có người chặn xe, giao cho Giả Xá Nhân một bức thư. Giả Xá Nhân đọc xong, nhét vào trong tay áo, căn dặn người đó: “Hãy về nói lại vói chủ nhân của ngươi, ta tiễn khách xong sẽ lập tức tới ngay.”

Người đó đi rồi, Giả Xá Nhân quay sang Trương Nghi, khẽ thở dài một tiếng: “Ôi, việc buôn bán thực là phiền phức, chưa về đến nhà thì đã có người đợi sẵn ở đây, cứ như là đoán được trước vậy!”

Trương Nghi bật cười một tiếng, tỏ vẻ thông cảm.

Giả Xá Nhân ra roi thúc ngựa, chốc lát đã tới quán trọ Phong Vân. Chủ quán thấy là Giả Xá Nhân, vội chạy ra đón. Giả Xá Nhân chỉ vào hai vợ chồng Trương Nghi giới thiệu: “Đây là Trương Tử, bạn thân của Tô tướng quốc, còn đây là phu nhân của Trương Tử, từ nước Sở đến, tạm thời ở lại đây, làm phiền tới quý quán!”

Chủ quán mặt mũi tươi cười, vòng tay nói: “Giả tiên sinh yên tâm, Trương Tử là khách quý, tại hạ sẽ hầu hạ chu đáo!” Rồi quay sang Trương Nghi, Hương Nữ, khom lưng vái dài. “Quán trọ sơ sài, Trương Tử, phu nhân nếu không chê, xin mời vào trong chọn phòng!”

Chủ quán dẫn họ băng qua đại sảnh, đi đến sân sau, dừng lại trước một căn phòng, mở cửa ra rồi vái mà nói: “Trương Tử, phu nhân, xin hãy xem thử khu nhà này, không biết có vừa ý chăng?”

Trương Nghi vừa đưa mắt nhìn đã ngỡ ngàng, thật là khí thế phi phàm, rộng rãi sáng sủa, hai dãy nhà, sáu gian phòng, trang trí xa hoa, đồ đạc không thiếu thứ gì. Hương Nữ vội nói: “Ông chủ, khu nhà này rộng quá, có thể đổi cho khu nhỏ hơn không?”

Chủ quán do dự một lát, đưa mắt nhìn Giả Xá Nhân. Giả Xá Nhân chưa kịp lên tiếng, Trương Nghi đã xua tay, cười ha hả mà nói: “Không lớn, không lớn, sẽ ở đây!”

Chủ quán quay sang tiểu nhị, gọi lớn: “Tiểu nhị, khách ở khu Giáp, mang hành lý tới!”

Trên đường đi, Hương Nữ đã phải mua thêm không ít đồ dùng, gói thành hai bọc lớn. Tiểu nhị từ xa dạ một tiếng, lập tức mỗi tay xách một bọc đi thẳng tới nơi.

Sắp xếp xong xuôi, Giả Xá Nhân quay sang Trương Nghi, Hương Nữ, vòng tay nói: “Trương Tử, tẩu phu nhân, việc tiếp theo đã có Tô tướng quốc, tại hạ cũng thấy yên tâm rồi. Tại hạ có chút việc làm ăn phải xử lý gấp, không thể bồi tiếp được nữa!”

Trương Nghi, Hương Nữ cùng vòng tay đáp lễ: “Đa tạ Giả huynh!”

Trương Nghi, Hương Nữ tiễn Giả Xá Nhân ra khỏi quán trọ, lưu luyến từ biệt, rồi quay vào trong phòng.

Vừa vào trong phòng, Hương Nữ đã sập cửa đánh “rầm”, rồi nói với Trương Nghi: “Phu quân, đã hết tiền rồi, sao có thể ở khu nhà này được?”

“Chẳng phải trong túi vẫn còn ư?”

Hương Nữ lấy túi tiền mở ra xem, bên trong chỉ còn mấy xu tiền đồng, chẳng còn đĩnh vàng nào hết. Hương Nữ bấm ngón tay tính toán rồi nói: “Ngận đại nhân biếu tặng tổng cộng mười đĩnh vàng, trả cho thầy thuốc hết ba đĩnh, đưa cho tiểu nhị một đĩnh để mua thuốc, khi tiểu nhị quay về lại tặng cho hai đĩnh. Còn lại mấy đĩnh, trên đường đã tiêu pha gần hết rồi!”

Trương Nghi khẽ chau mày: “Nàng thử tìm lại xem, có sót chỗ nào không?”

Hương Nữ cười buồn, giọng nói có phần trách móc: “Trên đường đi, Giả tiên sinh nhiều tiền như vậy mà còn biết tiết kiệm, chúng ta trên người chẳng có tiền, nhưng lại tiêu xài phung phí, còn dư chừng này cũng đã nhiều lắm rồi!”

Trương Nghi trầm ngâm một hồi, rồi bật cười: “Phu nhân yên tâm, hiện giờ chủ quán vẫn chưa biết chúng ta nhẵn túi, cứ tạm thời ở đây mấy hôm. Đợi sau khi gặp được Tô Tần, đừng nói là chút tiền mọn này, cho dù là trăm lượng vàng cũng chẳng phải chuyện lớn.”

“Vâng!” Nghĩ đến Tô Tần, Hương Nữ yên tâm gật đầu, dịu dàng ngả vào người Trương Nghi.

Sáng hôm sau, Hương Nữ thức dậy từ sớm, rửa mặt chải đầu xong liền lấy bộ áo mũ mới mà Giả Xá Nhân tặng cho Trương Nghi khi ở Trịnh Đô nước Hàn, giúp Trương Nghi mặc vào. Trương Nghi đứng trước gương ngắm nghía một lúc, rồi quay sang Hương Nữ, cười hỏi: “Có vừa không?”

“Vâng!” Hương Nữ đưa tay chỉnh lại vai áo, gật đầu hài lòng.

“Ta là phượng hoàng thất thế, mặc dù đã ngã một cú thảm hại, song phong thái không thể đánh mất được!” Trương Nghi bật cười mấy tiếng, khẽ nhún vai, cất tờ danh thiếp vừa viết tối qua vào trong tay áo, đưa tay vẫy Hương Nữ. “Ta đi đây!”

Hương Nữ đứng tựa cửa, đưa ánh mắt chan chứa tình ý nhìn Trương Nghi bước qua đại sảnh. Hương Nữ đang định quay người trở vào, bỗng thấy Trương Nghi lộn trở lại, liền chạy ra đón: “Phu quân, chàng quên gì ư?”

“Không quên gì!” Trương Nghi gãi đầu, vẻ hơi lúng túng. “Chỉ là bỗng dưng sực nhớ ra một chuyện. Nghi và Tô Tần là bạn đồng môn nhiều năm, trước đây thường trêu chọc lẫn nhau. Chốc nữa gặp hắn, ắt hắn sẽ mời Nghi uống rượu, chắc chắn cũng sẽ theo Nghi về quán trọ, có lẽ sẽ ngủ cùng giường với Nghi. Nếu như gặp nàng, biết nàng là... thê tử của Nghi, chắc chắn sẽ hết lời trêu chọc, khiến Nghi phải phát ngượng!”

Hương Nữ ngẩn người: “Ý phu quân là...”

“Ý Nghi là...” Trương Nghi đắn đo một lát, “lát nữa Tô huynh đến, nàng hãy xưng là Hương công chúa của nước Ngô, lần này đến Triệu, vừa hay đồng hành với Nghi...”

Chưa đợi Trương Nghi nói xong, Hương Nữ đã bật cười thành tiếng: “Phu quân, không phải nói như thế! Vòng vo phức tạp, nghe thực phiền hà. Khi Tô huynh đến, phu quân hãy nói rằng Hương Nữ là nô tỳ kiêm hộ vệ, đi theo hầu hạ phu quân, như vậy là được rồi!”

“Như vậy... làm sao có thể được?”

“Có gì mà không được?” Hương Nữ cười khúc khích. “Thực tế cũng đúng là như vậy mà!”

Trương Nghi cười vang, rồi yên tâm bước ra khỏi quán.

Trương Nghi đã dò la từ trước, biết rằng hôm nay không phải ngày lên triều, vì vậy cũng không cần gấp gáp, cứ thong thả đi tới phủ tướng quốc, cũng chính là phủ Phụng Dương Quân trước đây.

Có lẽ do Trương Nghi tới quá sớm, nên cánh cổng sơn son trước phủ Tô Tần vẫn đóng im im. Trương Nghi đi tới bên con sư tử đá ngoài cổng, tỳ một chân lên mông con vật, khệnh khạng đứng chờ, đồng thời nhẩm tính xem lát nữa gặp Tô Tần sẽ phải nói năng thế nào. Tóm lại, tuyệt đối không được để Tô Tần coi thường.

Một lát sau, cánh cổng chợt kêu len cọt kẹt rồi từ từ mở toang, một người cầm chổi đi ra, đang định quét tước, đột nhiên thấy Trương Nghi đang đạp chân lên con sư tử đá, liền quát lớn: “Ngươi là ai, sao dám đạp lên sư tử của phủ tướng quốc?”

Sắp được gặp Tô Tần, Trương Nghi vốn đang khí sắc hí hửng, đột nhiên lại bị ăn quát, khiến hắn nổi khùng, trừng mắt nhìn người kia một cái, đạp thêm mấy phát nữa lên mông sư tử đá, rồi cười hềnh hệch mà nói: “Ta cứ đạp đấy, ngươi làm gì được nào?”

Người này không nói năng gì, lập tức chạy ngược trở vào.

Một lúc sau, một đám gia đinh chạy ùa ra, nhâu nhâu xông lại vây lấy Trương Nghi.

Trương Nghi khẽ đảo con ngươi, thầm nghĩ nếu giờ ẩu đả với bọn này, lát nữa gặp Tô Tần cũng khó ăn khó nói, bèn hạ chân xuống, khẽ ôm quyền, cười hì hì mà nói: “Mấy người các vị ra đón khách đó ư? Đi đi! Đón khách cũng không tới lượt các ngươi, mau đi gọi chủ nhân của các ngươi ra đây!”

Nghe Trương Nghi nói năng ngang ngược, đám gia đình đều khựng cả lại, một môn nhân lớn tuổi hơn cả trong đám bèn ôm quyền hỏi: “Tiên sinh là ai?”

“Họ Trương tên Nghi. Mau đi tìm chủ nhân của các ngươi, gọi ra đây đón khách!”

Môn nhân ngẩn người kinh ngạc, đưa mắt nhìn đám gia đinh, lại quay sang nhìn Trương Nghi thăm dò, rồi vòng tay hỏi: “Tiên sinh có biết chủ nhân nhà chúng tôi là ai không?”

Trương Nghi cười vang vài tiếng, nói lớn: “Chẳng phải là họ Tô tên Tần hay sao?”

“Tiên sinh có danh thiếp không?”

“Có! Có! Có!” Trương Nghi lấy danh thiếp từ trong tay áo ra đưa cho môn nhân.

Môn nhân xem xong, bèn ôm quyền nói: “Xin tiên sinh đợi cho một lát, tiểu nhân lập tức vào bẩm báo chúa công, rồi sẽ ra nghênh đón.”

Môn nhân đi vào, một lát sau lại chạy ra, vái Trương Nghi một vái, rồi đưa trả lại danh thiếp: “Tiên sinh, vô cùng tạ lỗi, chúa công tối qua vào cung, cả đêm không về, mời tiên sinh hôm sau lại đến!”

“Ồ! Hắn vào cung rồi ư?” Trương Nghi ngẩn ngơ hồi lâu mới thốt ra được một câu, nhận lấy danh thiếp, sau đó chậm chạp quay bước ra về.

Ngày hôm sau, Trương Nghi lại đến, đưa danh thiếp cho môn nhân. Môn nhân đi vào, sau đó lại trở ra, trả lại danh thiếp, vái mà nói: “Hôm qua tướng quốc vẫn chưa trở về, xin tiên sinh mấy hôm nữa lại đến!”

“Hắn đi đâu?” Trương Nghi hỏi.

“Không giấu tiên sinh,” môn nhân tiến lên một bước, ghé tai thầm thì, “nghe nói là theo hầu chúa thượng đi săn ở Lộc Uyển!”

“Khi nào mới trở về?” Trương Nghi sốt ruột hỏi.

Môn nhân lắc đầu: “Không biết được! Hầu chúa thượng đi săn, chí ít cũng phải dăm ba ngày!”

Tô Tần không có trong phủ, có sốt ruột cũng chẳng ích gì. Trương Nghi đứng đực ra hồi lâu, thở ngắn than dài một chặp, rồi lại lầm lũi ra về.

Lại qua bảy ngày nữa, Trương Nghi không còn một xu dính túi, chẳng khác nào ngồi trên đống lửa, ngày nào cũng đến hỏi thăm, cuối cùng đến hôm nay, được chủ quán trọ cho biết tướng quốc đại nhân đã hồi phủ, bèn lập tức đến cầu kiến.

Môn nhân vòng tay vái mà nói: “Đúng là tướng quốc đã trở về, tiên sinh đợi cho một lát, tiểu nhân sẽ vào bẩm báo!” Rồi nhận lấy danh thiếp của Trương Nghi, quay người trở vào.

Trương Nghi đứng ở ngoài cổng, chờ đợi suốt một canh giờ, môn nhân mới hùng hục chạy ra, vừa thở hổn hển vừa vái mà nói: “Để... để tiên sinh... đợi lâu, thực... thực có lỗi!”

Trương Nghi vội hỏi: “Chúa công của ngươi đâu?”

“Chúa... chúa công đang... đang tiếp khách, nghe nói là... sứ thần nước Hàn, đang bàn... đại sự. Tại hạ đã... đã bẩm báo rồi, chúa công cũng... đã nhận danh thiếp, hẹn tiên sinh... giờ Thìn sáng mai... hãy đến!”

Trương Nghi nộ khí bốc lên ngùn ngụt, quát lớn: “Đại sự cái gì? Ngươi mau vào báo với Tô Tần, nói là có Trương Nghi đến thăm, bảo hắn mau ra cổng nghênh tiếp!”

Môn nhân vội vòng tay nói: “Tiểu nhân... không dám. Tiểu nhân khẩn cầu tiên sinh hãy trở về cho, ngày mai... lại đến!” Hơi thở đã điều hoà trở lại, hai tay đưa ra một tấm thẻ, nói. “Đây là thẻ báo, giờ Thìn ngày mai, tiên sinh mang thẻ này đến, sẽ không cần bẩm báo nữa!”

Trương Nghi giậm chân mấy cái, nhưng cũng chẳng làm gì được, đành phải nhận lấy thẻ báo, hậm hực quay về.

Thực ra, trong mấy ngày nay, Tô Tần không tiếp sứ thần nước Hàn, cũng chẳng phải theo Triệu Hầu đi săn, mà ngày nào cũng ngồi trong phủ, nghe Giả Xá Nhân kể về tình hình nước Sở và tình cảnh của Trương Nghi. Lúc này đang kể đến đoạn Chiêu Dương bày kế hãm hại Trương Nghi, khiến Tô Tần nghe mà hai mắt thẫn thờ.

Giả Xá Nhân kể xong một đoạn, bưng chén trà lên nhấp một ngụm.

Tô Tần hồi tưởng kỹ càng một lượt sự việc ngọc Hoà thị bích, nhắm mắt suy nghĩ một lúc, rồi chau mày hỏi: “Nhìn vào cạm bẫy này, từ đầu đến cuối, tuy về đại thể vẫn còn sơ sót, nhưng về mặt chi tiết lại kín kẽ liền mạch, không một sơ hở. Nghe nói Chiêu Dương là người thô lỗ, làm sao có thể chu toàn như vậy được?”

“Là do Trần Chẩn bày mưu!” Giả Xá Nhân chép miệng mấy tiếng, chậm rãi nói. “Trần Chẩn nhận uỷ thác của Tần Công, đã ở nước Sở hơn hai năm nay. Loại trừ Trương Nghi cũng chỉ là một trong số rất nhiều công lao ông ta đã lập được.”

Tô Tần thở dài một tiếng: “Than ôi, quân chủ liệt quốc, chỉ có Tần Công là bậc đại tài. Vừa có mưu rộng chí cao, lại biết cách dùng người, mưu sự luôn vẹn toàn chu đáo. Nếu người này vào Quỷ Cốc, được tiên sinh chỉ dẫn, thì thiên hạ thái bình chỉ còn là thời gian.”

Xá Nhân vòng tay nói: “Tô Tử lúc nào cũng nghĩ tới thiên hạ thái bình, thực khiến người ta khâm phục.”

“Giả huynh nói vậy là không hiểu tại hạ rồi!” Tô Tần cười buồn mà nói. “Trên đường chạy trốn khỏi Hàm Dương, tại hạ vẫn chưa nghĩ được như vậy. Khi cầm dùi nhọn đâm vào đùi trong căn lều cỏ rách nát đầu thôn Hiên Lý, tại hạ vẫn chưa nghĩ được như vậy!”

“Ồ, lúc đó Tô Tử nghĩ thế nào?”

“Lúc đó tại hạ chỉ nghĩ đến mình. Chỉ nghĩ đến chuyện tại sao tại hạ du thuyết Tần không thành, làm cách nào mới có thể xoay chuyển số phận, để kiếp này có được thành tựu huy hoàng.”

Giả Xá Nhân gật đầu, hỏi: “Từ khi nào Tô Tử bắt đầu nghĩ cho thiên hạ?”

Tô Tần nhớ tới cầm sư, nhớ tới tuyệt khúc đêm ấy, bất giác đau buồn thương cảm, cúi đầu rầu rĩ một hồi, tiếng nói như bật ra từ sâu trong cổ họng: “Là do nghe được tiếng đàn của một người!” Im lặng hồi lâu, lại thốt ra một câu. “Tiếng đàn của người này vô cùng tuyệt diệu, xứng danh là thiên hạ đệ nhất cầm!”

Giả Xá Nhân đang lắng tai muốn nghe tiếp, nhưng Tô Tần lại cười buồn một tiếng, đổi sang chuyện khác, vòng tay nói: “Không nhắc đến chuyện này nữa. Nghe nói đi cùng Trương Nghi còn có một nữ tử nữa, cô ta là ai?”

“Là phu nhân của hắn!” Giả Xá Nhân đáp. “Nữ tử này là hậu duệ của Công Tôn Hùng, đại phu nước Ngô xưa kia. Cha cô ta là Công Tôn Điệt, vì muốn báo thù cho tiên tổ nên đã quyết chiến với Việt Vương Vô Cương, rồi cùng chết với kẻ thù.”

“Ồ?” Tô Tần rất đỗi hiếu kỳ. “Cô ta tên gì?”

“Công Tôn Yến! Bẩm sinh trên người đã có hương thơm lạ, nên còn gọi là Hương Nữ. Hương Nữ thông minh lanh lợi, võ nghệ cao cường, nhưng tâm địa hiền lương, không những là một phu nhân tốt, mà còn là một kỳ nữ!”

“Tốt quá! Tốt quá!” Tô Tần khen ngợi luôn miệng. “Hiền đệ có phúc như vậy, thật đáng mừng, tại hạ cũng thấy yên tâm!”

Giả Xá Nhân thoáng kinh ngạc: “Ồ, tại sao Tô Tử lại vui vì chuyện này?”

“Vì tại hạ nợ người này một nữ tử!”

Giả Xá Nhân đang định vặn hỏi đến cùng, thì quản gia Viên Báo đã bước vào bẩm báo: “Chúa công, tại hạ đã nhận danh thiếp của Trương Tử, hẹn Trương Tử giờ Thìn ngày mai quay lại. Trương Tử nổi giận đùng đùng, đã quay về rồi!”

Giả Xá Nhân cười nói: “Tô Tử đối xử với Trương Tử như vậy, đừng nói là Trương Tử, dù là tại hạ cũng sẽ phải uất giận.”

Tô Tần bật cười một tiếng: “Giả huynh, kịch hay thực thụ vẫn chưa bắt đầu đâu!” Rồi quay sang Viên Báo. “Mọi việc ngày mai đã chuẩn bị xong cả chưa?”

“Khởi bẩm chúa công,” Viên Báo đáp, “tất cả đã chuẩn bị xong xuôi. Từ giờ Thìn đến giờ Ngọ, tại hạ đã sắp xếp kín kẽ cả rồi!”

“Vũ công đã đến chưa?”

“Bẩm, đến rồi! Trâu huynh đã dẫn họ đi bày sân khấu, chắc lúc này cũng đang bận túi bụi!”

“Tốt lắm!” Tô Tần suy nghĩ một lúc, lại ngẩng đầu hỏi. “Còn phía người Tần thế nào?”

“Tất cả vẫn như cũ. Tuy nhiên hôm qua lại có thêm một quý tộc tìm đến, Sư Lý tiên sinh tỏ ra rất cung kính với người này!”

Tô Tần quay sang Giả Xá Nhân, cười nói: “Hẳn công tử Hoa đã đến rồi! Nghe nói người này ở lì tại Đại Lương, hai mắt không lúc nào rời khỏi Tôn Tẫn, nhưng lần này Tần Công lại phái hắn tới đây, xem ra cũng đã hay tin Trương Tử đã đến. Xem ra lần này, người Tần nhất quyết phải có được Trương Tử bằng được!”

Giả Xá Nhân kinh ngạc: “Tô Tử, dường như điều gì Tô Tử cũng biết?”

Tô Tần cười vang. “Đây là bản tính! Làm nghề nào thì tinh thông nghề đấy mà!” Quay sang Viên Báo. “Hãy hẹn Sư Lý tiên sinh giờ Ngọ sáng mai đến phủ, nói rằng bản tướng mời ông ta đến xem một vở kịch hay!”

Trương Nghi đi một mạch thẳng về quán trọ, ngồi phịch xuống giữa phòng, mặt mũi tái xanh tái xám, thở hồng hộc.

Hương Nữ đoán rằng Trương Nghi lại bị từ chối, cũng định khuyên nhủ mấy câu, nhưng lại không biết mở miệng thế nào. Muốn không khuyên, song thấy bộ dạng của Trương Nghi như vậy, cũng thấy đau lòng, nên đành phải đến ngồi cạnh hắn, im lặng một lúc, rồi hỏi khẽ: “Tô huynh vẫn chưa về ư?”

Trương Nghi thình lình đứng bật dậy, hung hãn giật phắt lấy tấm gương đồng bên cạnh ném thẳng ra cửa. Tấm gương đồng va trúng cột trụ hành lang, rớt xuống đất đánh “choang” một tiếng. Trương Nghi giẫm mạnh chân xuống nền nhà, đùng đùng nổi giận: “Từ nay về sau, nàng không được gọi hắn là Tô huynh nữa! Loại người bạc tình bạc nghĩa này không xứng!”

Nghe thấy tiếng gương đồng va đập, chủ quán trọ vội vàng chạy đến. Chỉ nghe tiếng bước chân rậm rịch, chủ quán trọ đã xuất hiện trước cửa, nhặt tấm gương đồng lên, rồi rón rén bước lại gần, khẽ gọi: “Trương Tử...”

Trương Nghi mặt trắng bệch, chỉ đứng một chỗ thở phì phò.

Chủ quán đặt tấm gương đồng trở về chỗ cũ, đứng khom lưng đợi một lát, sau đó hỏi thăm dò: “Xin hỏi Trương Tử, tướng quốc đại nhân... vẫn chưa về ư?”

“Cái gì mà chưa về?” Trương Nghi vừa mở miệng, lập tức bắn như nỏ liên châu. “Hắn không muốn gặp ta! Ông chủ, ông thử nói xem, trước khi vào Quỷ Cốc, chúng ta ăn cùng mâm ngủ cùng giường, tám bái kết nghĩa. Sau khi vào Quỷ Cốc, lại là đồng môn suốt năm năm trời, dù có là cục đá, thì cũng phải ấm lên mới phải. Thế mà... thế mà kẻ này...” Càng nói càng giận dữ, không thốt nên lời.

“Trương Tử hãy bớt giận, cứ từ từ nói!” Chủ quán khuyên nhủ. “Lẽ nào tướng quốc đại nhân không chịu nhận người quen?”

Trương Nghi lại thở phì phì một lát, rồi kể lại toàn bộ sự việc vừa xảy ra cho chủ quán nghe.

Chủ quán nghe xong, không những không trách mà còn bật cười thành tiếng: “Đây là chuyện tốt, cớ sao Trương Tử lại phải nổi giận?”

“Đối xử lạt lẽo đến vậy, còn tốt nỗi gì?” Trương Nghi vẫn lửa giận ngùn ngụt.

Chủ quán vẫn cười hì hì: “Trương Tử có điều không biết, tướng quốc đại nhân là người bận rộn nhất trong thành Hàm Đan này, có thể nói là trăm việc bù đầu, cả ngày không lúc ngơi tay. Tại hạ nghe nói, tướng quốc đại nhân ngay cả ăn cơm cũng không được yên, một bữa ăn đứng dậy đến ba lần! Trương Tử đến nhiều lần vẫn không gặp được, cũng chẳng phải chuyện khó hiểu. Hơn nữa, tướng quốc đại nhân đã nhận danh thiếp của Trương Tử, hẹn Trương Tử giờ Thìn sáng mai đến, như vậy đã là phá lệ rồi, người khác muốn còn chẳng được, mà Trương Tử lại giận dữ đến vậy là cớ làm sao?”

Trương Nghi bình tâm suy nghĩ lại, thấy lời chủ quán cũng không phải là không có lý, liền thở dài, lắc đầu nói: “Than ôi, ông chủ có điều không biết, nếu như đổi lại là người này đến nhờ vả tại hạ, đừng nói là sứ thần nước Hàn, cho dù là chúa thượng triệu kiến, tại hạ cũng sẽ dời lại nửa ngày!” Lại thở dài một tiếng. “Than ôi, thôi bỏ đi, không nói nữa. Đợi ngày mai gặp mặt, xem hắn nói thế nào?”

Giờ Thìn hôm sau, Trương Nghi thức dậy từ sớm, rửa mặt chải đầu xong xuôi, lại ngồi ủ dột trong phòng một lúc, bỗng nảy ra một ý, liền đi tìm chủ quán, bảo ông ta kiếm cho một bộ quần áo rách rưới.

Chủ quán ngỡ ngàng, rồi ôm quyền hỏi: “Xin hỏi Trương Tử, rách đến mức độ nào mới được?”

Trương Nghi ngẫm nghĩ một thoáng: “Giống như đám ăn mày trên phố là được.”

Chủ quán không biết Trương Nghi định làm trò gì, nhưng cũng bảo tiểu nhị đi tìm. Tiểu nhị ra khỏi cửa, vừa may gặp được một gã ăn mày, chẳng nói chẳng rằng, lập tức kéo phăng về quán, lột lấy mớ quần áo trên người, ném cho gã bộ quần áo mới. Không ngờ gã ăn mày nhất quyết không chịu, cứ thế trần trùng trục vừa khóc lóc la lối, nằng nặc đòi lại bộ quần áo rách.

Trương Nghi bước tới, cầm lấy bộ quần áo rách ngắm nghía, thấy vừa ý, liền cười nói với gã ăn mày: “Này tên ăn mày kia, đừng có kêu gào nữa! Bộ quần áo hành nghề này, tại hạ chỉ mượn tạm, trước khi trời tối sẽ mang trả. Còn ba bữa cơm hôm nay, ta sẽ cho ngươi no bụng!” Rồi bảo tiểu nhị mang lại mấy cái màn thầu, vứt cho gã.

Gã ăn mày nghe nói chỉ mượn tạm nên cũng yên tâm, liền mặc bộ quần áo mới vào, rồi ngồi thu lu ở góc tường ăn bánh.

Trương Nghi cầm bộ quần áo rách về phòng, cởi quần áo mới ra, mặc áo rách vào, đứng ngắm nghía trước gương một lúc. Đang hớn hở hài lòng thì Hương Nữ từ phòng trong bước ra, thấy Trương Nghi lôi thôi nhếch nhác thì giật mình kinh hãi: “Phu quân... chàng... chàng làm cái gì thế này?”

“Nàng đến thật đúng lúc!” Trương Nghi cười hí hửng mà hỏi. “Nàng xem, có vừa vặn không?”

Hương Nữ vội nói: “Phu quân, chàng đừng đùa nữa! Hôm nay đi gặp Tô tướng quốc, sao có thể ăn mặc như ăn mày thế kia?”

Trương Nghi hừ mũi một tiếng: “Lần này ta đi, chính là muốn cho hắn phải xấu mặt!” Lại đứng trước gương ngắm nghía một hồi, thấy còn thiếu một cái mũ, suy nghĩ một thoáng, liền lấy chiếc mũ mới từ trên giá xuống, vần vò thật lực, sau đó đi ra bãi bùn ở bên ngoài, quăng quật một hồi, rồi lại nhặt lên vò cho kỳ nhàu nhĩ, sau đó mới đội lên đầu, đứng ngắm trước gương, hỉ hả mà nói. “Thế này mới đủ bộ!”

Hương Nữ cố khuyên không được, đành phải đưa thẻ báo cho Trương Nghi. Ra đến cổng, chủ quán nhìn thấy, cũng thất kinh, chạy lại khổ sở khuyên can một hồi, nhưng Trương Nghi nhất quyết không nghe, vẫn ăn mặc như vậy nghênh ngang đến phủ tướng quốc.

Do phải mất công chuẩn bị, khi Trương Nghi đến phủ tướng quốc, đã quá giờ Thìn, trước phủ ngựa xe nườm nượp, vô cùng tấp nập. Quan lớn quý tộc của nước Triệu xếp thành hàng dài trước cổng, đều đang chờ gặp mặt.

Trương Nghi xốc lại tinh thần, ngẩng cao đầu bước thẳng tới trước cổng. Môn nhân thấy có gã ăn mày đi đến, lập tức quát dừng. Trương Nghi bèn rút thẻ báo từ trong tay áo ra, thẳng tay ném vèo xuống đất. Môn nhân nhặt lên, đọc kỹ, lúc này mới nhận ra đây chính là người hôm qua hẹn gặp. Vì có thẻ báo nên môn nhân cũng không dám đuổi, rì rầm bàn bạc một lúc, sau đó mở ra một cánh cửa nhỏ bên cạnh, vòng tay vái mà nói: “Tiên sinh, mời!”

Trương Nghi trừng mắt nhìn họ, vốn định mắng mỏ mấy câu, nhưng lại nhìn thấy trước cổng, người đến đã dồn thành một đám đông, thảy đều áo cừu quần gấm, vàng giắt ngọc đeo, không ai không mở to mắt nhìn mình chòng chọc, tò mò như nhìn thằng hề, Trương Nghi đành phải cố gắng nhẫn nhịn, hừ mũi một tiếng, chẳng thèm nhìn họ lấy một cái, đi thẳng sang cổng chính, ngẩng đầu ưỡn ngực, sải bước mà vào.

Mọi người thảy đều kinh hãi. Đám môn nhân cũng nhất thời chết sững, đến khi định thần lại được, thì Trương Nghi đã vào đến trong sân. Đám môn nhân hốt hoảng, đưa mắt nhìn nhau, sau đó có hai người chạy như bay vào, chặn Trương Nghi lại, đồng thời cấp tốc báo cho quản gia.

Viên Báo vội vã đi ra, thấy là Trương Nghi, khẽ vái mà nói: “Tại hạ Viên Báo xin chào tiên sinh!”

Trương Nghi nhìn cách ăn mặc của đối phương, biết hắn là quản gia, cũng vòng tay đáp lễ: “Tại hạ Trương Nghi xin chào quản gia!” Dừng lại một lát, hỏi tiếp. “Chúa công của ngươi có trong phủ không?”

Viên Báo liếc xéo Trương Nghi, lạnh nhạt nói: “Chúa công đang bận quốc sự, tiên sinh có việc gì quan trọng?”

“Việc gì?” Trương Nghi cười nhạt một tiếng. “Tại hạ là bạn cũ của hắn, nay đến tìm hắn, ngươi mau đi bẩm báo, bảo hắn ra đây nghênh tiếp!”

Viên Báo khinh khỉnh nhìn Trương Nghi, rồi quay sang chất vấn môn nhân: “Vị tiên sinh này có thẻ báo không?”

“Có! Có! Có!” Môn nhân vội vàng đưa tấm thẻ báo mà Trương Nghi vừa ném xuống đất cho quản gia xem.

Viên Báo xem qua, quay sang Trương Nghi, vòng tay vái mà nói: “Tiên sinh, nhìn vào thẻ này, đúng là chúa công có hẹn, nhưng chúa công hẹn vào giờ Thìn, bây giờ đã là giờ Tỵ rồi, sao tiên sinh lại đến muộn như vậy?”

“Ờ...” Trương Nghi không biết phải nói gì.

“Tiên sinh!” Viên Báo lại vái mà nói. “Chúa công vừa từ Lộc Uyển về, còn rất nhiều quốc sự đợi chúa công xử lý. Nếu Trương Tử không ngại, xin hãy theo tại hạ tạm thời sang phòng bên chờ một lát, đợi chúa công xong việc sẽ tới gặp tiên sinh!”

Trương Nghi há miệng mấy lần, nhưng cũng không còn cách nào khác, đành phải ôm quyền mà nói: “Xin nghe lời quản gia!”

Viên Báo dẫn Trương Nghi đi dọc theo hành lang dài hun hút, thẳng tới một khu nhà. Cách ăn mặc của Trương Nghi khiến cho hắn đi đến đâu thu hút ánh nhìn đến đấy, ai thấy cũng chụm đầu bàn tán, thậm chí đám nô bộc đang quét dọn trong sân cũng chỉ chỉ trỏ trỏ, xì xầm nhỏ to, cười cợt ầm ĩ. Mãi tới lúc này Trương Nghi mới cảm thấy hối hận, cứ cúi gằm mặt xuống mà đi.

Hai người đi vào trong sân, Viên Báo dẫn Trương Nghi tới phòng bên ngồi đợi. Ở đây có hai hàng chiếu dài, trước chiếu đặt mấy chiếc bàn thấp, bày sẵn nước trà. Có mấy vị khách đang ngồi ngay ngắn trên chiếu, rõ ràng cũng đang đợi tướng quốc triệu kiến.

Viên Báo dừng bước, vái mà nói: “Tiên sinh hãy đợi ở đây. Hôm nay đông khách, tại hạ không bồi tiếp được nữa!”

Trương Nghi đáp lễ, tìm một chỗ trống ngồi xuống. Mấy vị khách kia đều không biết Trương Nghi, cứ nghĩ hắn là ăn mày, vốn chẳng ai muốn ngồi cùng chiếu. Nhưng thấy Trương Nghi do quản gia đích thân dẫn đến, không hiểu đầu cua tai nheo thế nào, nên không ai dám lên tiếng, đành phải đưa tay áo bịt mũi, ngồi dạt sang một bên. Trương Nghi cũng chẳng thèm đếm xỉa đến bọn họ, lầm lì nhắm mắt ngồi yên.

Chỗ này cách phòng chính không xa, Tô Tần đang ở trong phòng tiếp khách. Mặc dù không nhìn thấy Tô Tần, nhưng Trương Nghi lại rất thính tai, đặc biệt khi ở trong Quỳ Cốc đã từng học qua công phu tĩnh toạ, nên tất cả những đối thoại trong phòng, Trương Nghi đều nghe rõ không sót một chữ. Tô Tần quả thực đang xử lý quốc sự, việc này nối tiếp việc kia, thành thục quyết đoán. Một người cáo từ đi ra, Viên Báo liền đứng ngoài cửa, gọi người khác vào. Người đang ngồi đợi bên cạnh Trương Nghi nghe thấy tiếng gọi, liền đáp lời, đứng dậy đi sang. Bên này có người vừa đi, phía sau lại có người mới đến, cứ như vậy vào vào ra ra, liên tục không ngừng nghỉ.

Trương Nghi đợi đúng hai canh giờ, đã đến giờ Ngọ, mở mắt nhìn quanh, thấy trong phòng đã không còn một bóng người, phía ngoài cũng không thấy có người mới đến. Nghiêng tai lắng nghe, Tô Tần vẫn đang nói chuyện với ai đó, có lẽ đã là người cuối cùng.

Một lúc sau, người đó đứng dậy cáo lui. Trương Nghi thở hắt ra một hơi dài, trong miệng lẩm bẩm: “Than ôi, xem ra ta đã hiểu lầm Tô huynh rồi! Vật đổi sao dời, không thể suy nghĩ giống như khi còn trong Quỷ Cốc. Quan sát nửa ngày hôm nay, thấy Tô huynh cũng chẳng dễ chịu gì!”

Nghĩ là vậy, Trương Nghi cũng cảm thấy bình tâm hơn một chút. Lại qua một lúc nữa, vẫn chưa thấy Tô Tần triệu kiến, Trương Nghi trong lòng sốt ruột, nhưng lại thầm nghĩ bụng, có lẽ do Tô Tần quá mệt, hẳn đang tranh thủ chợp mắt một lát, nên lại tiếp tục nhắm mắt chờ đợi.

Vừa đợi được một lát, phía ngoài lại có người vào báo thượng đại phu nước Tần đến thăm. Tô Tần liền truyền vào gặp, Viên Báo dẫn Sư Lý Tật vội vàng đi vào. Vì trong phòng chính không còn khách, Sư Lý Tật không đi vào phòng bên mà đi thẳng vào phòng chính. Trương Nghi có thể nghe ngóng thấy cảnh Tô Tần đứng dậy nghênh đón, hành lễ, rồi hai bên cùng ngồi xuống trò chuyện.

Trương Nghi tĩnh tâm lắng nghe, thấy hai người không hề nói về quốc sự, mà tán chuyện đông tây, đàm thiên thuyết địa. Trương Nghi loáng thoáng nghe thấy Sư Lý Tật nhắc đến chuyện xem kịch, Tô Tần bèn bật cười, nói là đã đến giờ Ngọ, hãy cùng nhau ra vườn sau, vừa xem kịch vừa dùng bữa. Sư Lý Tật vui vẻ đồng ý, rồi hai người dắt tay nhau đi ra khỏi cửa.

Trương Nghi liếc thấy Tô Tần đã ra khỏi cửa, lập tức chỉnh trang áo xống, ngồi ngay ngắn lại, hai mắt khép hờ, khẽ đặng hắng một tiếng. Song Tô Tần chẳng hề liếc sang lấy một cái, cũng làm như không hề nghe thấy tiếng động, vừa đi vừa cười nói với Sư Lý Tật, băng qua lối đi chính chỉ cách Trương Nghi chừng mười mấy bước, đi thẳng ra khỏi khu nhà. Viên Báo và những người khác cũng lặng lẽ đi theo sau, chẳng ai để tâm đến Trương Nghi đang ngồi ở phòng bên, dường như Trương Nghi không hề tồn tại.

Điều này khiến Trương Nghi nộ khí xung thiên. Nhìn thấy đám người đã đi xa, đến tiếng bước chân cũng không nghe thấy nữa, Trương Nghi giận đến mặt mũi tái xanh, mắt long sòng sọc, bàn tay siết chặt. Đưa mắt nhìn quanh, thấy trong nhà không còn một bóng người, liền đứng vụt dậy, nhấc bổng chiếc bàn trước mặt lên, đập thẳng cánh xuống một chiếc bàn khác, rồi quay ra ngoài cửa quát lớn: “Người đâu!”

Tiếng đập phá chát chúa và tiếng quát hung hãn như sấm động của Trương Nghi quả nhiên đã gọi được mấy tên gia đinh đến. Họ xông cả vào, thấy Trương Nghi giận dữ đến vậy, thảy đều ngẩn ra không biết làm gì.

Trương Nghi quát lớn: “Gọi chủ nhân của các ngươi đến đây!”

Một người vội vàng chạy đi bẩm báo. Viên Báo nhanh chóng chạy đến, thấy bộ dạng của Trương Nghi như vậy, vội vàng vòng tay vái, rồi cười nói: “Thật tạ lỗi, lúc nãy bận quá, đã không tiếp đãi tiên sinh chu đáo!”

Trương Nghi không thèm đáp lễ, nổi giận đùng đùng: “Gọi Tô Tần đến đây!”

“Ờ...” Viên Báo thoáng ngần ngừ, rồi lại vái mà nói. “Xin tiên sinh đợi cho một lát, tại hạ lập tức đi bẩm báo!” Một lát sau, Viên Báo quay trở lại, vòng tay vái mà nói: “Tiên sinh, chúa công có lời mời!”

Nghe thấy ba chữ “có lời mời”, Trương Nghi cũng thấy nguôi giận một phần, nhưng vẫn không đáp lễ, chỉ “ừm” một tiếng, mặt hầm hầm đi theo Viên Báo ra vườn sau.

Đi vòng vèo một lúc, hai người đi đến một khu nhà khác, từ xa đã nghe thấy bên trong rộ lên từng tràng tiếng cười nói, hoan hô, tiếng trống “thùng thùng” liên hồi kỳ trận, tựa như đang tấu nhạc.

Trương Nghi cố ghìm lửa giận, ngạo mạn đi đến bậc tam cấp, rồi dừng bước trước dãy bậc.

Viên Báo chìa tay nói: “Tiên sinh, mời vào!”

Trương Nghi dừng lại, vốn dĩ là muốn đợi Tô Tần xuống đón, nhưng thấy Viên Báo nói vậy, đành cố nén giận bước lên bậc thềm.

Vừa bước vào trong cửa, Trương Nghi lại càng lửa giận sôi trào, vì ở giữa sân dựng một sân khấu lớn bằng gỗ, trên đó có hai nam hai nữ đang nhảy múa, những tiếng “thùng thùng” vừa nãy chính là chân họ giậm lên sân khấu phát ra. Phía sau sân khấu, đối diện với cửa chính, dưới hành lang đại sảnh, Tô Tần ngồi ngay ngắn ở vị trí chính giữa, Sư Lý Tật, công tử Hoa ngồi hai bên, vừa ăn uống vừa xem nhảy múa, thỉnh thoảng lại bật lên từng tràng cười sảng khoái. Trước mặt mỗi người đều bày một chiếc bàn bày la liệt rượu ngon, sơn hào hải vị.

Vừa nhìn thấy rượu thịt, Trương Nghi bỗng thấy bụng đói cồn cào. Tối qua giận dữ, hầu như không nuốt được gì. Sáng sớm lại bận việc quần áo, cũng chẳng có bụng dạ nào mà ăn uống. Lúc nãy ngồi đợi suốt nửa ngày trời, trong lòng ấm ức, đến nước trà bày trên bàn cũng không thèm nhấp lấy một ngụm. Đến lúc này, mặc dù Trương Nghi không có lòng dạ nào nghĩ đến ăn uống, nhưng cái bụng lại chẳng chịu yên, cứ sôi lên ùng ục, giờ nhìn thấy rượu thịt, lại càng réo vang hơn nữa.

Trương Nghi cố gắng chịu đựng, liếc nhìn Tô Tần, thấy hai mắt hắn chỉ dán lên sân khấu, không hề để mắt đến mình. Trương Nghi đang định lên tiếng, Viên Báo đã rẽ sang bên phải, chìa tay ra mời. Trương Nghi bèn miễn cưỡng đi theo, sang phía hành lang bên phải, ở đây cũng bày một cái bàn, sau bàn trải một chiếc chiếu.

Viên Báo chỉ vào chiếu, rồi vòng tay nói: “Tiên sinh, mời ngồi!”

Trương Nghi há miệng đến mấy lần, trừng mắt giận dữ nhìn Tô Tần một cái, rồi hậm hực ngồi xuống. Tô Tần vẫn chưa nhìn thấy Trương Nghi, tiếp tục cùng với Sư Lý Tật mải mê xem múa hát.

Trên sân khấu, đám nam nữ nhảy nhót càng hăng, khiến hai người xem đến quên cả ăn uống, cứ mê mải dán mắt lên sân khấu.

Viên Báo vòng tay nói: “Cũng vừa hay đến thời gian dùng bữa, nếu tiên sinh không chê, hãy dùng một bữa cơm đạm bạc tại đây!”

Trương Nghi vốn chẳng muốn ăn, song bụng đói cồn cào khó chịu. Nghĩ lại, thấy mình trước nay chỉ xử tệ với người khác chứ chưa bao giờ xử tệ với bản thân, cho dù tức giận, cũng phải no bụng trước đã. Nghĩ đến đây, Trương Nghi khẽ “ừm” một tiếng, coi như đồng ý.

Viên Báo bèn vỗ tay, một người hầu liền bưng mâm tiến lại, lần lượt bày từng món lên bàn. Trương Nghi vừa liếc thấy, nộ hoả lại bùng lên rừng rực, vì chỉ thấy vỏn vẹn hai đĩa thức ăn nhỏ, một rau một mặn, một chén trà thô, một bát cơm tẻ. Viên Báo thấy cơm rau đã bày xong, liền vòng tay vái mà nói: “Tiên sinh dùng bữa, tại hạ cáo lui!” Rồi không đợi Trương Nghi đáp lời, đã quay ngoắt đi luôn.

Trương Nghi nghiến răng trèo trẹo, mấy lần kích động, chỉ muốn hất tung chiếc bàn, lao tới trước mặt Tô Tần, chỉ thẳng vào mặt hắn chửi rủa một trận cho hả giận, làm ầm ĩ lên cho sự việc tanh bành, nhưng lại cố gắng nín nhịn. Dù gì đi nữa, hiện giờ cũng đang ở trong nhà người ta, mình lại áo quần rách rưới, quả thực trông chẳng khác gì kẻ ăn mày, được ban cho một bữa cơm, coi như đã không tệ. Hơn nữa, cho tới giờ, nhìn vào bề ngoài, Tô Tần vẫn chưa hề nhìn thấy Trương Nghi, đám hạ nhân đối xử với hắn như vậy cũng là thường tình, đúng là mắt chó không biết nhìn người. Cũng được, đây đều là bằng chứng, đợi lát nữa gặp mặt, xem Tô Tần có thấy hổ thẹn, có chết nghẹn hay không?

Nghĩ như vậy, Trương Nghi lại gắng gượng nén nộ hoả xuống, bưng bát đũa lên, nuốt hận mà uống trà ăn cơm.

Màn múa trên sân khấu đã sang đoạn cao trào, hai nam hai nữ lắc đầu lắc mông điên đảo, tám mũi chân không ngừng đá hất, giẫm đạp vùn vụt trên sân khấu, lúc nặng lúc nhẹ, song rất đỗi nhịp nhàng trầm bổng, âm điệu vui tai. Thú vị hơn nữa là trong đám có một người giỏi khẩu kỹ, vừa nhảy, trong miệng vừa phát ra đủ loại âm thanh, nghe hệt như âm nhạc, lại hoà quyện khéo léo với tiếng giậm chân, hợp thành bản nhạc rất vui nhộn. Sân khấu cũng thật đặc biệt, có hình tròn, sơn màu đỏ, trong rỗng, hệt như một chiếc trống lớn. Mấy người chân đi guốc gỗ, dùng mũi guốc tiếp đất, gõ lên sân khấu, chẳng khác nào dùi gõ trống, phát ra những tiếng “thùng thùng” giòn giã.

Đám người Tô Tần xem say sưa đến quên hết mọi thứ xung quanh, cả ba đều nhịp mũi chân xuống đất, hai tay gõ bàn, bất giác tạo ra đủ loại âm thanh, phối hợp với tiết tấu trên sân khấu. Tuy nhiên, với Trương Nghi, mỗi một tiếng gõ chẳng khác nào dao cứa vào tim. Đang bực bội khó chịu không để đâu cho hết, thì màn múa thình lình kết thúc. Tô Tần xua tay, đám vũ công nam nữ đều lui cả xuống.

Công tử Hoa vòng tay hỏi: “Xin hỏi tướng quốc, đây là vũ đạo gì mà thú vị đến vậy? Hôm nay tại hạ đúng là đã được đại khai nhãn giới!”

Tô Tần đáp: “Công tử thích là may mắn lắm rồi! Đây là điệu múa giậm guốc nhọn, là vũ đạo đặc biệt của Hàm Đan, nơi khác không có!”

“Giậm guốc nhọn?” Công tử Hoa vội hỏi. “Tên gọi này có nghĩa là gì?”

“Công tử đã nghe chuyện học đi ở Hàm Đan chưa?”

“Đã nghe! Kể rằng có người Thọ Lăng đến Hàm Đan học đi, kết quả là cách đi của Hàm Đan đã không học được, đến cả cách đi vốn có của mình cũng quên mất. Tại hạ cảm thấy rất quái lạ, cho dù có dốt nát đến đâu chăng nữa, cũng không thể dốt nát tới nỗi đến đi cũng không học nổi chứ?”

Tô Tần cười vang vài tiếng, rồi chỉ lên sân khấu, nói: “Thứ mà người Thọ Lăng đó học chính là điệu múa này. Nếu công tử không phục, ở kia có một đôi guốc nhọn, có thể lên sân khấu đi thử xem sao.”

Công tử Hoa quả nhiên bước lên sân khấu thực, cầm lấy đôi guốc nhọn, từ từ xỏ vào, bắt chước theo bộ dạng của mấy vũ công vừa rồi, kiễng gót nhón mũi lên, không ngờ vừa đi được một bước, đã “oái” một tiếng, ngã chổng vó xuống sàn, khiến cho mọi người được trận cười nghiêng ngả. Có vẻ như cú ngã đã khiến công tử Hoa trật cổ chân bên phải, khập khiễng bước xuống sân khấu, vừa đi vừa nhăn nhó mặt mũi, khiến mọi người lại cười rộ lên.

Mỗi một tiếng cười của họ chẳng khác nào lưỡi đao chém tới. Lúc này, Trương Nghi thực sự không thể nhẫn nhịn thêm được nữa, thình lình quát lên thật lớn: “Đủ rồi!” Lời vừa dứt, chiếc bàn trước mặt đã bị hất tung lên, trà thô cơm nhạt văng tung toé đầy đất.

Mấy người giật nảy mình, đều quay cả lại nhìn.

Tô Tần mặt hơi biến sắc, ngoái lại hỏi: “Kẻ nào dám làm ồn ở đó?”

Viên Báo vội chạy đến, quỳ xuống khấu đầu đáp: “Xin chúa công bớt giận, là một vị khách!”

“Khách nào?” Tô Tần liếc mắt nhìn Trương Nghi, giận dữ quát lớn. “Một kẻ ăn mày mà cũng dám làm loạn, đuổi hắn đi!”

Viên Báo vội nói: “Chúa công bớt giận, người này nói rằng tên là Trương Nghi, bạn cũ của chúa công!”

Nghe thấy hai chữ “Trương Nghi”, Sư Lý Tật, công tử Hoa đều giật nảy mình, đưa mắt nhìn nhau, sau đó cùng quay sang nhìn Trương Nghi, rồi lại nhìn Tô Tần, không biết hắn đang diễn trò gì?

“Ồ?” Tô Tần cũng sững lại một thoáng. “Là Trương Nghi, Trương hiền đệ ư?” Ngẫm nghĩ một lát, rồi lại làm bộ săm soi Trương Nghi một lượt từ đầu đến chân, lắc đầu mà nói. “Không thể nào! Trương hiền đệ là bậc phong lưu nức tiếng, làm sao lại có bộ dạng này được? Gọi hắn lại đây!”

Viên Báo vâng lệnh, liền đứng dậy đi tới trước mặt Trương Nghi, vòng tay nói: “Trương tiên sinh, chúa công gọi tiên sinh đến!”

Trương Nghi vội đứng dậy, bước nhanh về phía Tô Tần, dừng lại cách Tô Tần mấy bước chân, ngửa cổ lên, chỉ tay vào Tô Tần quát: “Thằng ranh Tô Tần kia, ngươi mở to mắt ra mà nhìn, xem có quen biết người đứng trước mặt ngươi không?”

Tô Tần săm soi một lượt từ đầu tới chân, rồi phá lên cười mấy tiếng, đã không ôm quyền, cũng chẳng đứng dậy, chỉ kéo dài giọng mà chậm rãi nói: “Ồ, đúng thực là Trương Nghi Trương hiền đệ!” Rồi chỉ tay vào một chiếu ở bên cạnh. “Ngồi! Ngồi! Ngồi đi!”

Trương Nghi làm gì chịu ngồi, vẫn chỉ tay thẳng mặt Tô Tần lớn giọng quát mắng: “Thằng ranh Tô Tần! Nghi lúc nào cũng coi ngươi là trượng phu, không ngờ chỉ là kẻ tiểu nhân bỉ ổi, vừa mới đắc chí đã quên hết nghĩa tình!”

“Trương hiền đệ!” Tô Tần lạnh nhạt đáp lời. “Sao có thể nói như vậy được? Nếu nói đắc chí, phải là hiền đệ đắc chí mới đúng. Hiền đệ ở Sở đã làm nên đại sự kinh thiên động địa, chấn động liệt quốc, nghe nói gần đây còn thình lình phát đại tài. Hiền đệ đắc chí đến vậy, mà lại đến Hàm Đan giả nghèo giả khổ, cải trang thành bộ dạng thế này, phải chăng là muốn giễu cợt tại hạ?”

Nghe Tô Tần cạnh khoé về việc ngọc Hoà thị bích, coi Trương Nghi chính là kẻ trộm, Trương Nghi mới đột nhiên bừng tỉnh, bàn tay run bắn, giận sôi máu mà quát lên như sấm: “Ngươi... tên tiểu nhân kia! Ta... ta...” thở phì phì vài tiếng mới bật được vài chữ, “ta và ngươi đoạn tình...” Nộ khí tắc nghẽn trong cổ họng, khiến hắn không thể thốt ra nốt hai chữ “tuyệt nghĩa”.

Tô Tần cười vang mấy tiếng: “Trương hiền đệ, chớ nên vội nói nặng lời! Hiền đệ đến phủ của tại hạ, cố ý giễu cợt tại hạ, tại hạ đã niệm tình nghĩa trước đây nên mới không truy cứu lỗi lầm. Người hiểu hiền đệ trong thiên hạ, ngoài tiên sinh ra, chỉ còn tại hạ. Hiền đệ tâm cao khí ngạo, lại được đắc chí ở Kinh Sở, nếu không phải có chuyện lớn, tuyệt đối sẽ không đến lánh nạn ở nước nhỏ. Nói đi, có việc gì cần kíp, tại hạ tuy sức mọn lực mỏng, nhưng giả sử giúp được, tại hạ cũng sẽ hết lòng!”

Trương Nghi đâu có thể nhẫn nhịn thêm được nữa, giậm chân mà nói: “Ngươi... ngươi... Tiểu nhân! Ngươi... ngươi giỏi lắm!” Rồi quay ngoắt người, rảo bước định đi.

Tô Tần lập tức gọi giật lại: “Khoan đã!”

Trương Nghi dừng bước, quay đầu đưa ánh mắt phẫn hận nhìn Tô Tần.

Tô Tần quay sang Viên Báo đứng hầu bên cạnh: “Người này mặc quần áo ăn mày mà đến, không tống tiễn sẽ không may mắn. Mau, thưởng cho hắn mười lượng vàng!”

Viên Báo dường như cũng đã chuẩn bị sẵn, liền bước lên, móc từ trong tay áo ra mười lượng vàng đưa cho Trương Nghi: “Đây là mười lượng vàng, xin tiên sinh hãy nhận lấy!”

Lúc này, Trương Nghi cũng đã trấn tĩnh trở lại, cầm lấy mười lượng vàng, rồi thẳng tay ném luôn xuống đất, giơ chân giẫm đạp vài cái, quay sang Tô Tần nhổ toẹt một bãi nước miếng, ngửa mặt lên trời cười một tràng dài, sau đó ngẩng cao đầu, nghênh ngang bước đi.

Nhìn theo bóng Trương Nghi xa dần, cho đến khi khuất hẳn, Tô Tần dường như cũng biến thành một con người khác, chạy đuổi theo đến tận cổng, thấy Trương Nghi đã mất tăm, thì đau đớn quỳ sụp xuống đất, khóc lớn mà kêu lên: “Hiền đệ... hiền đệ ơi!” Vừa khóc, vừa dập đầu lia lịa xuống đất, do động tác quá mạnh, nên bật lên những tiếng bình bịch.

Viên Báo cũng chạy đến nơi, quỳ xuống bên cạnh Tô Tần, ứa lệ cố đỡ Tô Tần dậy: “Chúa công...”

Nhìn Tô Tần lúc thế này lúc thế kia, hai bộ mặt, hai thái độ, khiến cho Sư Lý Tật, công tử Hoa nhìn mà sững sờ ngơ ngác.

Ngẩn ra một lát, Sư Lý Tật bèn chậm rãi bước tới, dìu Tô Tần đứng dậy, trở về chỗ ngồi. Thấy Tô Tần vẫn nước mắt ròng ròng, nghẹn ngào không thôi, cảm thấy khó hiểu liền hỏi: “Tô Tử... Tô Tử đang diễn màn kịch gì vậy?”

Tô Tần định thần lại, đưa tay áo lau nước mắt, thở dài một tiếng: “Than ôi, tại hạ làm như vậy, chẳng phải là vì các vị thì vì ai đây?”

“Vì chúng tôi?” Công tử Hoa kinh ngạc, quay sang Sư Lý Tật, thấy ông ta cũng mặt mày ngơ ngác.

Tô Tần gật đầu, rồi nói rành rọt từng tiếng: “Hai vị đã có thể trở về! Hãy nói với Tần Công rằng, người mà Tô Tần tiến cử sắp đến rồi!”

Mãi tới lúc này, Sư Lý Tật mới đột nhiên bừng tỉnh, vội vàng vòng tay vái Tô Tần: “Đa tạ Tô Tử! Đa tạ Tô Tử!”

“Còn nữa!” Tô Tần không đáp lễ, tiếp tục nói. “Trương Nghi nhiều đời sống ở Hà Tây, gia nghiệp, phần mộ tổ tiên và gia miếu đều ở Trương Ấp, Thiếu Lương!” Ngừng lại một lát, quay sang Viên Báo. “Ta mệt rồi, tiễn khách!” Rồi chậm chạp đứng dậy, chẳng buồn nhìn đến Sư Lý Tật, công tử Hoa, lảo đảo bước ra khỏi cửa giống như người say rượu.

Viên Báo không yên tâm, liền vòng tay tạ lỗi hai vị khách, sau đó bám theo Tô Tần, vội vàng đi về phía Thính Vũ các.

Nhìn theo bóng hai người, Sư Lý Tật dường như cũng có điều nghĩ ngợi, bèn quay sang công tử Hoa: “Tử Hoa, hãy mau quay về bẩm báo với chúa thượng, truy thu trả lại toàn bộ gia sản của Trương Tử, tu sửa gia miếu, phần mộ tổ tiên. Tại hạ ở đây đợi Trương Tử, tuyệt đối không được để xảy ra sơ xuất!”

“Hạ quan tuân lệnh!”

Trước cửa quán trọ Phong Vân, chủ quán, Hương Nữ đang đứng bên ngoài trông ngóng, từ xa đã nhìn thấy Trương Nghi xoạc cẳng xồng xộc đi về, sắc mặt giận dữ, bèn đưa mắt nhìn nhau, chẳng ai dám nói câu nào.

Trương Nghi bước tới cửa, cũng chẳng buồn nhìn họ, chỉ cúi đầu lầm lì đi thẳng vào trong, đưa chân đạp tung cánh cửa, sau đó quay người đóng sập lại. Hương Nữ do dự, rồi cũng thận trọng bước theo phía sau, mở cửa phòng ra, thấy Trương Nghi không ở đấy, biết là hắn đã vào phòng trong. Hương Nữ vốn định vào khuyên giải mấy câu, nhưng do dự một lát rồi lại dừng bước.

Đúng vào lúc này, phía ngoài có người gõ cửa. Hương Nữ ra mở, hoá ra đó là gã ăn mày lúc sáng.

Gã ăn mày vẫn ở lì trong quán, thấy Trương Nghi quay về, lập tức đến gõ cửa. Hương Nữ chau mày, sợ Trương Nghi nghe thấy nên chỉ nói nhỏ: “Ngươi hãy đợi thêm một lát, ta sẽ trả quần áo cho ngươi!”

Gã ăn mày nói lớn: “Không được, không được! Tôi đã đợi suốt cả ngày ở cái nơi quỷ tha ma bắt này rồi, buồn chân buồn tay muốn chết! Mau gọi vị đại nhân kia ra, trả lại áo cho tôi!”

Hương Nữ tức giận, trách mắng gã: “Ngươi thật là! Dẫu rằng ta lấy quần áo của ngươi, nhưng chẳng phải cũng đã trả cho ngươi một bộ rồi ư? Lấy quần áo mới đổi quần áo rách, thế mà ngươi lại không biết điều!”

Nghe nói vậy, gã ăn mày lập tức cởi tuột bộ quần áo trên người ra, ném thẳng xuống đất: “Ai cần quần áo đẹp của nhà chị? Mặc thứ này ra ngoài, đến bát cháo loãng cũng chẳng xin được mà ăn!”

Hương Nữ thấy gã gần như đã trần trùng trục thì xấu hổ đỏ bừng mặt, vội quay người đi, gọi: “Tiểu nhị, mau đuổi hắn đi!”

Tiểu nhị nghe tiếng liền chạy đến, lôi kéo gã ăn mày. Đang lúc giằng co gay gắt, bỗng thấy Trương Nghi trở ra, sải vài bước đã tới trước mặt gã ăn mày, vung tay chụp lấy gã, xô một cú thật lực. Gã ăn mày ngã phệt mông xuống đất, đau đến suýt trào nước mắt.

Trương Nghi vụt một cái đã cởi phăng mớ quần áo rách rưới trên người ra, ném thẳng xuống đất, quát lớn: “Cút! Cút cút cút! Cút đi!”

Gã ăn mày chưa từng gặp phải cơn thịnh nộ nào khủng khiếp đến vậy, sợ hãi đến run rẩy, suýt vãi cả ra quần, vội vàng vơ lấy bộ quần áo rách, vừa bò vừa lết ra khỏi cửa.

Trương Nghi phủi tay, trở vào trong phòng, đứng thở hồng hộc một lúc rồi ngồi phịch xuống chiếu, nhắm hai mắt lại, mặc cho hai giọt lệ to tướng ứa ra khoé mắt, lăn dài trên má, rơi lộp độp xuống nên nhà.

Sáng sớm hôm sau, trong Thính Vũ các, Giả Xá Nhân đang cùng Tô Tần trò chuyện, Viên Báo đi vào bẩm báo: “Chúa công, đã sắp đến giờ Thìn, tất cả mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi!”

Tô Tần gật đầu, vòng tay nói với Giả Xá Nhân: “Tại hạ xin nhờ cậy vào Giả huynh!”

Giả Xá Nhân vòng tay đáp lễ: “Tô Tử yên tâm, tại hạ nhất định sẽ đưa Trương Tử tới Hàm Dương an toàn, tiến cử lên Tần Công!”

“Chỉ cần đưa đến Hàm Dương là được!” Tô Tần điềm đạm nói. “Giả huynh không cần tiến cử!”

“Tại sao lại như vậy?” Giả Xá Nhân ngẩn người nhìn Tô Tần.

“Nếu Tần Công không biết dùng Trương Nghi, thì còn gọi gì là thánh quân?”

“Phải!” Giả Xá Nhân gật đầu nói. “Thế nhưng, tại hạ vẫn có một điều lo lắng, cũng muốn nhắc nhở Tô Tử!”

“Giả huynh cứ nói!”

“Trên đường đi, tại hạ và Trương Tử trò chuyện rất nhiều, biết được Trương Tử là bậc kỳ tài. Tô Tử không những không mời Trương Tử liên thủ lập nghiệp, ngược lại còn dốc hết tâm sức, ép hắn đến Tần. Trương Tử đến Tần, chắc chắn sẽ trở thành kình địch của Tô Tử. Lẽ nào Tô Tử không sợ đại nghiệp hợp tung sẽ bị huỷ hoại trong tay Trương Tử ư?”

Tô Tần trầm tư hồi lâu, khẽ thở dài một tiếng: “Nếu quả thực như vậy, cũng là ý trời!”

“Nói vậy là có ý gì?”

“Giả huynh có điều không biết, khi còn ở Quỷ Cốc, tiên sinh đã dự đoán, cái đạo thái bình trong thiên hạ chỉ có hai con đường, một là liệt quốc nhất thống, hai là chư hầu hoà thuận. Chí của hiền đệ là ở nhất thống, sẽ không tán đồng thuyết hợp tung của tại hạ. Không cùng đường, khó mưu sự. Tại hạ chí tại hợp tung, hiền đệ chí tại nhất thống, hiền đệ và tại hạ không thể sánh vai liên thủ. Muốn thành đại nghiệp, ắt phải đồng lòng. Hai người khác lòng, không những khó thành đại nghiệp, ngược lại còn sinh trở ngại. Hơn nữa, hiền đệ và tại hạ mặc dù đi hai con đường khác nhau, nhưng lại quy về cùng một đích. Cho dù hiền đệ thành công hay tại hạ thành công, mục tiêu chung vẫn là thiên hạ đại đồng. Điều này tại hạ cũng rất hiểu hiền đệ.”

“Nỗi khổ tâm của Tô Tử, liệu có thể nói cho Trương Tử biết chăng?”

Tô Tần trầm tư hồi lâu, rồi khẽ lắc đầu: “Không cần!” Lại suy nghĩ một lúc nữa, rồi từ từ đứng dậy. “Nếu hiền đệ nhất quyết phá hoại kế sách hợp tung của tại hạ, có bao nhiêu công lực, hãy cứ để hiền đệ thi triển ra hết! Sắp đến giờ Thìn rồi, tại hạ xin cung tiễn Giả huynh!”

Trong quán trọ Phong Vân, Trương Nghi cả đêm không ngủ, cứ thế ngồi lặng trong phòng, nhắm mắt suy tính. Hương Nữ ngồi cùng Trương Nghi cả đêm, nhưng đến khi trời sáng, lại mệt quá ngủ thiếp đi, tới khi tỉnh lại thì mặt trời đã lên cao, đã đến giờ Thìn. Hương Nữ vội vã chải đầu rửa mặt, đang định kiếm chút đồ ăn thì bên ngoài có tiếng gõ cửa. Hương Nữ ra xem, thì ra là chủ quán trọ. Chủ quán vòng tay nói: “Xin chào phu nhân!”

Hương Nữ thấy trong tay chủ quán cầm sổ sách, đã hiểu rõ nguyên do, liền vòng tay nói: “Xin chào ông chủ!”

“Trương Tử có ở đây không?”

“Ông chủ muốn tính tiền trọ ư?”

Chủ quán có phần ái ngại, cười gượng một tiếng: “Phu nhân và Trương Tử ở trọ đã lâu, quán của tại hạ vốn nhỏ lãi ít, vì vậy tại hạ muốn... muốn phu nhân trả trước một khoản tiền để tiện xoay vòng.”

Hương Nữ mỉm cười, vòng tay nói: “Đây là điều đương nhiên. Phu quân đang nghỉ ngơi, hãy để tiểu nữ tính tiền với ông chủ, được chăng?”

Chủ quán vội nói: “Được! Được! Được!”

“Chỗ này không tiện nói chuyện, ông chủ hãy đến phòng sổ sách trước, tiểu nữ sẽ đến ngay!” Hương Nữ nói xong, liền quay trở vào phòng, cầm lấy bảo kiếm Tây Thi rồi đóng cửa đi ra, thấy chủ quán vẫn đứng đợi ngoài cửa, liền rảo bước đi theo ông ta tới phòng sổ sách.

Chủ quán bày sổ lên bàn, nói với Hương Nữ: “Khu nhà đó vốn là phòng xa hoa nhất trong bản quán, thường chỉ dành cho khách quý, một ngày tám mươi đồng tiền bố. Những thứ mà Trương Tử và phu nhân sử dụng thường ngày cũng đều là đồ thượng phẩm, đây là bản kê chi tiết, xin phu nhân hãy kiểm tra!”

“Không cần kiểm tra, ông chủ cứ tính là được rồi!”

Chủ quán lấy bàn tính ra, gẩy tanh tách một hồi, rồi chỉ tay vào bàn tính mà nói: “Tổng cộng là tám lượng vàng ba mươi hai xu đồng. Hai vị là bạn của Giả tiên sinh, lại có quan hệ thân thiết với tướng quốc đại nhân, tại hạ sẽ giảm cho ba mươi hai xu đồng, phu nhân chỉ cần trả tám lượng vàng là được.”

“Không dám giấu ông chủ,” Hương Nữ điềm đạm nói, “phu thê chúng tôi lánh nạn đến đây, tiền bạc mang theo đã cạn, vốn định đến nhờ vả Tô tướng quốc, ai ngờ lại xảy ra sự việc bất ngờ, phu quân vì thế mà sinh giận dữ, cả đêm không ngủ. Hiện giờ tình cảnh ngặt nghèo, đừng nói là tám lượng vàng, cho dù là nửa lượng cũng chẳng có. Nếu ông chủ nhất định muốn đòi...” vừa nói vừa đặt thanh bảo kiếm lên bàn, “tiểu nữ chỉ có vật này thế chấp.” Nói đoạn tuốt kiếm khỏi vỏ, giọng điệu càng thêm bình thản. “Dám hỏi ông chủ, kiếm này có thể đổi tạm tám lượng vàng chăng?”

Chủ quán xem kỹ bảo kiếm, bất giác hít ngược một hơi khí lạnh. Chưa nói tới cái khác, chỉ riêng bao kiếm cũng đáng giá cả trăm lượng vàng. Suy nghĩ một lúc, chủ quán khẽ đẩy trả bảo kiếm, mỉm cười hỏi: “Ngoài vật này ra, phu nhân còn vật nào khác không?”

Hương Nữ lắc đầu.

Chủ quán hỏi tiếp: “Hai vị có người quen ở Hàm Đan không?”

Hương Nữ lại lắc đầu.

Chủ quán lại ngẫm nghĩ một lúc, rồi gật đầu nói: “Đã như vậy, tạm thời tại hạ sẽ giữ lại kiếm này, đợi sau khi phu nhân trả đủ tiền, tại hạ sẽ hoàn trả nguyên vẹn!”

“Đa tạ ông chủ!” Hương Nữ đáp khẽ một câu, rồi cầm kiếm lên, chậm rãi tra vào trong vỏ, nhìn lướt qua một lần cuối cùng, rồi đứng dậy, quay người trở về phòng.

Hương Nữ rảo bước một mạch về đến phòng, đóng cửa lại, tựa lưng vào cánh cửa, không nén nổi đau xót, nước mắt cứ thế tuôn chảy. Buồn bã một hồi, Hương Nữ bèn lau nước mắt, gượng trấn tĩnh lại, nhẹ nhàng đi vào trong sảnh, đắn đo một thoáng, rồi quỳ xuống trước mặt Trương Nghi.

Chẳng cần hỏi nhiều, Trương Nghi cũng biết đã xảy ra chuyện gì, bèn trầm giọng hỏi: “Phu nhân đã mang bảo kiếm đi thế chấp rồi ư?”

“Phu quân!” Hương Nữ gượng cười, điềm đạm nói. “Thiếp và chủ quán đã thương lượng xong, chỉ là tạm thời thế chấp, sau này sẽ chuộc lại!”

Trương Nghi từ từ mở mắt ra, nhìn thẳng vào Hương Nữ, cười buồn một tiếng, rồi khẽ lắc đầu: “Cần thế chấp thì cứ thế chấp, chẳng phải chỉ là một thanh kiếm thôi ư?”

“Đúng thế!” Hương Nữ sắc mặt buồn bã, giọng thoáng nghẹn ngào. “Thiếp cũng biết, nó chẳng qua chỉ là một thanh kiếm!”

“Phu nhân!” Trương Nghi trong lòng chua xót, nhìn Hương Nữ đăm đăm, lại cười buồn một tiếng. “Lần này Nghi bị làm nhục, còn liên luỵ đến phu nhân... phải chịu thiệt thòi...”

“Phu quân!” Hương Nữ nhích lại gần mấy bước, ngả vào lòng Trương Nghi. “Chỉ cần có phu quân, thiếp chẳng tiếc điều gì!”

Đúng vào lúc này, ngoài cửa lại có tiếng gõ vọng vào. Trương Nghi cho là chủ quán lại đến, tức giận nói: “Gõ cái gì! Thanh kiếm đó đáng giá cả ngàn lượng vàng, lẽ nào còn chưa đủ hay sao?”

“Đủ rồi, đủ rồi!” Lời vừa dứt, người đến đã mở cửa bước vào.

Trương Nghi, Hương Nữ đều giật mình, ngẩng đầu lên nhìn, thì ra là Giả Xá Nhân.

“Giả tiên sinh!” Hương Nữ mừng rỡ kêu lên.

Giả Xá Nhân tay cầm bảo kiếm bước thẳng vào trong, ngồi xuống đối diện với Hương Nữ, đặt thanh kiếm lên trên bàn, ôm quyền vái mà nói: “Than ôi, Trương Tử, tại hạ... đã đến chậm một bước rồi!”

Trương Nghi vội đẩy Hương Nữ ra, vòng tay đáp lễ, cười buồn mà nói: “Đã khiến Giả huynh cười chê!”

Giả Xá Nhân thở dài nói: “Mấy ngày nay, việc làm ăn buôn bán có chút rắc rối, tại hạ phải vội vã rời Hàm Đan để đến Thượng Đảng, vì nhớ đến hai vị nên cấp tốc trở về, nhưng đã chậm chân, hại tẩu phu nhân suýt nữa thì đánh mất bảo bối.”

“Than ôi!” Trương Nghi cũng thở dài buồn bã. “Thời thế trêu ngươi, khiến Giả huynh đã phải bận lòng!”

“Ông chủ quán này không phải người xấu, mà là người làm ăn đàng hoàng, có điều ông ta làm ăn vốn nhỏ, chưa từng làm việc lớn bao giờ, đã vì một chút tiền mà làm tẩu phu nhân phải khó xử!” Giả Xá Nhân ôm quyền nói với Hương Nữ, rồi đưa trả bảo kiếm. “Tẩu phu nhân, tiền trọ tại hạ đã trả hết, xin hãy giữ lại bảo kiếm của phu nhân!”

Hương Nữ nhận lấy bảo kiếm, vòng tay nói: “Tiểu nữ đa tạ tiên sinh!”

“Than ôi!” Giả Xá Nhân thở dài, tự trách mình. “Có gì đáng đa tạ đâu? Đều là trách tại hạ. Nếu không phải tại hạ ra sức khuyên Trương Tử tới Hàm Đan, thì đã không xảy ra những việc không vui này!” Quay sang Trương Nghi. “Xin hỏi Trương Tử, bước tiếp theo dự tính thế nào?”

Trương Nghi rít ra hai chữ qua kẽ răng: “Đến Tần!”

“Đến Tần?” Giả Xá Nhân ra vẻ ngạc nhiên. “Vậy... vậy còn thù nhà của Trương Tử...”

“Trước khác, giờ khác!” Trương Nghi cười gượng một tiếng, rồi giải thích. “Việc trước mắt, không thể tính đến thù nhà được nữa!”

“Cũng tốt!” Giả Xá Nhân gật gù. “Trương Tử đặt nước trước nhà, tại hạ kính phục! Xin hỏi Trương Tử, định bao giờ lên đường?”

“Tại hạ muốn đi ngay lập tức, có điều... hiện giờ trong túi chẳng có lấy một xu, khó lòng đi được!”

“Việc này không khó! Tại hạ cũng đang định tới Hàm Dương một chuyến, vừa hay có thể đi cùng hai vị.”

Trương Nghi vô cùng kinh ngạc, ngẩng đầu hỏi: “Giả huynh đến Hàm Dương làm gì?”

“Ồ, là thế này!” Xá Nhân cười cười giải thích. “Nghe nói trên núi Chung Nam có một loại linh chi vô cùng quý giá, nếu mang về Lâm Truy, có thể kiếm được một món hời. Tại hạ từ lâu đã muốn đến đó xem rõ thực hư, có điều cứ bận rộn việc vặt, chưa thể lên đường. Nay có Trương Tử đồng hành, đúng là hai đường đều vẹn!”

Trương Nghi trầm ngâm một lát rồi vòng tay nói: “Đa tạ Giả huynh đã thành toàn!”

Hồi Thứ 40

Ngại hợp tung, Ngụy Vương rời Đại Luơng

Đổi sách lược, Tô Tần hợp Tam Tấn

Công tử Hoa hỏa tốc trở về Hàm Dương, yết kiến Huệ Văn Công ngay trong đêm, bẩm báo lại toàn bộ câu chuyện Tô Tần dùng kế làm nhục Trương Nghi, bức ép Trương Nghi đến Tần. Huệ Văn Công nghe xong, đôi mày nhíu chặt, nhắm mắt suy nghĩ, hồi lâu vẫn không lên tiếng.

Hồi lâu sau, công tử Hoa thấy Huệ Văn Công sắc mặt giãn ra, hai mắt từ từ hé mở, biết rằng Huệ Văn Công đã suy nghĩ xong, bèn khẽ hỏi: “Chúa thượng, thần đệ có một điều không hiểu, suốt dọc đường nghĩ mãi vẫn chưa thông!”

Huệ Văn Công đưa mắt nhìn công tử Hoa: “Khanh không hiểu tại sao Tô Tần lại hao tâm tổn trí bức bách Trương Nghi đến Tần, đúng không?”

“Chúa thượng anh minh!” Công tử Hoa kinh ngạc. “Điều thần đệ không hiểu chính là việc này!”

Huệ Văn Công mỉm cười: “Quả nhân không hề anh minh, vì điều quả nhân vừa nghĩ ngợi, cũng chính là việc này!” Dừng lại một lát, khẽ thở dài. “Than ôi, Tô Tần quả nhiên là kẻ tinh minh, quả nhân để mất hắn trong gang tấc, thật là đáng tiếc!”

Công tử Hoa vội nói: “Chúa thượng, người... vẫn chưa chỉ giáo thần đệ!”

Huệ Văn Công thoáng ngẫm nghĩ một lát, rồi gật đầu nói: “Được, vậy sẽ nói với khanh thế này, không có trắng, sẽ không có đen; không có trên, sẽ không có dưới; không có thuận, sẽ không có ngược...”

Công tử Hoa càng nghe càng ngơ ngác, gãi đầu gãi tai một hồi, rồi lại ngước nhìn Huệ Văn Công. “Thần đệ ngu muội, xin quân huynh hãy nói rõ hơn!”

“Khanh thật là...” Huệ Văn Công cười vang, “hãy tự suy nghĩ đi!” Rồi quay sang nội thần. “Đã canh mấy rồi?”

Nội thần bẩm báo: “Khởi bẩm chúa thượng, đã sang canh đầu, đến giờ Nhân định!”

“Tiểu Hoa” Huệ Văn Công vô cùng hưng phấn, chậm rãi đứng dậy. “Giờ vẫn còn sớm, chúng ta hãy đi dạo một lát!” Rồi cười nói với nội thần. “Chuẩn bị kiệu đến phủ đại lương tạo!”

Công Tôn Diễn đang ở trong thư phòng, chuyên chú đọc tấu báo, đột nhiên nghe vọng lại tiếng bước chân gấp gáp, đang ngạc nhiên thì tiếng chân đã đến trước cửa.

Công Tôn Diễn vừa ngước mắt lên nhìn, đã giật mình kinh hãi, vì người đứng trước cửa chính là Huệ Văn Công, nội thần và công tử Hoa. Phủ úy gác phủ đang sợ hãi run rẩy đứng phía sau, nhìn bộ dạng của hắn, rõ ràng là Huệ Văn Công cố ý không cho vào bẩm báo trước.

Công Tôn Diễn cuống quýt bái lạy: “Vi thần khấu kiến chúa thượng! Vi thần không biết chúa thượng giá lâm, đã thất lễ, xin chúa thượng thứ tội!”

Huệ Văn Công bước lại gần, đỡ Công Tôn Diễn dậy: “Ái khanh mau bình thân!”

Mọi người đi vào trong phòng, cùng ngồi xuống.

Huệ Văn Công cười nói với Công Tôn Diễn: “Quả nhân nghe nói ái khanh là con cú mèo, nên mới cố tình đến vào lúc này, muốn xem con cú mèo đang bận việc gì.”

Nhìn thấy công tử Hoa, Công Tôn Diễn đã hiểu được tám chín phần, bèn khẽ mỉm cười, cầm lấy bản tấu trên bàn, hai tay đưa lên: “Vi thần đang đọc bản tấu ở Hà Tây!”

Huệ Văn Công nhận lấy bản tấu, đọc lướt qua một lượt, sắc mặt lộ vẻ vui mừng, rồi hoan hỷ gật đầu liên tiếp: “Tốt lắm! Tốt lắm! Năm nay sau khi thu hoạch xong, bách tính ở Hà Tây chủ động nộp lương, tranh nhau đi dịch, thật đáng mừng!” Rồi đặt lại bản tấu xuống bàn, ngẩng nhìn Công Tôn Diễn, vòng tay nói. “Hà Tây được bình trị như vậy, Công Tôn ái khanh phải được ghi công đầu!”

Công Tôn Diễn vòng tay đáp lễ: “Là chúa thượng thánh minh, vi thần sao dám nhận công?”

Huệ Văn Công cười vang mà nói: “Công Tôn ái khanh bất tất phải khiêm nhường. Không có kế sách của ái khanh, quả nhân tuy có muốn, cũng không thể làm được!” Lại đưa mắt nhìn bản tấu báo, dường như sực nhớ ra một việc. “Nói đến Hà Tây, cái tên Ngô Thanh kia dạo này thế nào rồi?”

“Khởi bẩm chúa thượng,” Công Tôn Diễn chỉ vào bản tấu, “tấu báo chính là do người này viết, quận Hà Tây chuyển tấu hộ. Năm kia chúa thượng phong hắn làm phủ lệnh Thiếu Lương, hai năm lại đây làm việc rất tận tụy. Theo vi thần điều tra, hiện giờ dân chúng ở Hà Tây, đặc biệt là Thiếu Lương, đều răm rắp tuân thủ Tần pháp, không thể thiếu được công lao của người này.”

“Có công sẽ có thưởng!” Huệ Văn Công ngẫm nghĩ một lát, rồi nói. “Khanh hãy truyền chỉ, phong Ngô Thanh làm đô uý quận Hà Tây, tấn tước một cấp!”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Còn nữa!” Huệ Văn Công dừng lại một thoáng, rồi nói tiếp. “Nghe nói ở phía đông thành Thiếu Lương có Trương Ấp, là quê của họ Trương người Ngụy. Khanh hãy truyền chỉ cho Ngô Thanh tra xét, tất cả tài sản của nhà họ Trương đều phải trả lại cho nhà họ Trương, một ngọn cỏ cũng không được thiếu!”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Công Tôn ái khanh!” Huệ Văn Công sắc mặt nghiêm trang. “Tất cả những việc này vẫn chỉ là phụ, quả nhân đến đấy, là có việc lớn muốn bàn với ái khanh!”

Công Tôn Diễn cúi người đáp: “Vi thần xin kính cẩn lắng nghe chúa thượng căn dặn!”

“Tô Tần muốn hợp tung Tam Tấn, thanh thế vô cùng chấn động. Tam Tấn nếu hợp, sẽ không còn coi Tần ra gì! Quả nhân ăn ngủ không yên, lần này đến là muốn lắng nghe ý kiến của ái khanh!”

Công Tôn Diễn biết Huệ Văn Công đã có cách ứng phó, lần này đến đây chẳng qua chỉ là muốn thăm dò, liền vòng tay đáp: “Khởi bẩm chúa thượng, vi thần cho rằng, hành động này của Tô Tần sẽ không thể thành công!”

“Tại sao lại như vậy?”

“Nếu Tam Tấn hợp tung, sẽ không còn là Tam Tấn nữa. Từ khi ba nhà phân Tấn, gần trăm năm nay, Tam Tấn lúc nào cũng tranh chấp mâu thuẫn, đánh qua đánh lại, oán thù tích luỹ đã sâu, căn bản không thể hợp được. Nay Tô Tần cứ khăng khăng làm vậy, chỉ là vọng tưởng, vi thần thấy tiếc thay cho người này!”

“Ái khanh đã đánh giá thấp người này rồi!” Huệ Văn Công chậm rãi nói. “Mặc dù quả nhân mới gặp hắn một lần, nhưng đã phát giác ra trên người hắn mang một làn khí hạo nhiên rất thịnh, thực sự không phải hạng tầm thường, mà là kẻ làm nên đại sự. Nếu người này đã từ bỏ ý đồ nhất thống, toàn lực hợp tung, chúng ta tuyệt đối không được khinh suất!”

Công Tôn Diễn ngẫm nghĩ một lát, rồi ôm quyền nói: “Vi thần có một thỉnh cầu, xin chúa thượng ân chuẩn!”

“Ái khanh cứ nói!”

“Vi thần xin được đi sứ nước Ngụy!”

“Quả nhân cũng đang có ý này!” Huệ Văn Công gật đầu nói. “Hiện giờ Triệu Hầu khởi xướng, Hàn Hầu đã đồng ý hợp tung, phái công tử Chương đến Triệu cùng bàn bạc kế hợp tung với Tô Tần. Nếu không nằm ngoài dự liệu, không lâu nữa Tô Tần sẽ đến Hàn. Trong Tam Tấn, Tô Tần đã hợp được hai, chỉ còn lại Ngụy. Quả nhân nghĩ đi nghĩ lại, người thông hiểu tình hình trong triều ngoài nội nước Ngụy chẳng ai hơn được ái khanh. Ái khanh hãy đến gặp Ngụy Vương một chuyến, cố gắng ngăn cản nước Ngụy hợp tung. Chỉ cần nước Ngụy không hợp, Tam Tấn sẽ không còn gì đáng ngại!”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

“Ái khanh!” Huệ Văn Công cất giọng tha thiết. “Ngày trước Ngụy Hầu đại hội chư hầu ở Mạnh Tân, mưu đồ chinh phạt ta. Lúc đó tình thế nguy cấp, Thương Quân phải đơn độc một thân đến Ngụy, dùng sức của một người để vãn hồi bại cục, cuối cùng đã rửa được mối nhục Hà Tây. Lần này, Tô Tần lại hợp lực của Tam Tấn, cũng có ý đồ chinh phạt ta. Ái khanh ra đi, lại cũng là đơn độc một thân đến Ngụy, gắng sức xoay làn sóng dữ, tái diễn tráng cử của Thương Quân năm xưa, một mình thu phục Ngụy!”

“Chúa thượng đã quá khen!” Công Tôn Diễn khẽ ôm quyền nói. “Vi thần không dám so bì với Thương Quân. Ngày trước khác, bây giờ khác. Lần này vi thần ra đi, chỉ dám dốc tận tâm lực, còn việc có thành hay không, vi thần không dám nói trước!”

“Được! Được! Được!” Huệ Văn Công cũng cảm thấy mình hơi quá lời, cười vang mà nói. “Ái khanh nói ra được lời này, coi như đã cách ngày lập công không còn xa nữa!” Rồi quay sang công tử Hoa. “Tiểu Hoa, khanh hãy đi cùng đại lương tạo một chuyến. Đường sá ở Đại Lương, khanh cũng đã thông thạo!”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

“Có biết đi để làm gì không?” Huệ Văn Công nhìn chằm chằm vào công tử Hoa.

Nghe Tần Công hỏi thình lình, công tử Hoa ngẩn người ngơ ngác.

Huệ Văn Công cười nói: “Nghe nói Tôn tướng quân kỳ nghệ cao siêu, khanh hãy chuyển lời tới tướng quân, nói quả nhân đã bày sẵn bàn cờ ở Hàm Dương, xin được thỉnh giáo tướng quân về kỳ nghệ.”

Công tử Hoa đột nhiên bừng tỉnh, lớn giọng đáp: “Vi thần lĩnh chỉ!”

Tất cả diễn ra đúng như lời Tần Công dự đoán, nước Hàn quả nhiên cực lực ủng hộ hợp tung. Sau khi Lâu Hoãn đến Hàn với tư cách là đặc sứ nước Triệu kiêm phó sứ hợp tung, Hàn Chiêu Hầu lập tức đồng ý không chút đắn đo, hơn nữa, còn nhanh chóng phong công tử Chương làm đặc sứ, đi sứ sang Triệu.

Sau khi tống tiễn Trương Nghi, Tô Tần lập tức hẹn gặp công tử nước Hàn. Công tử Chương chuyển lời đến Tô Tần, nói rằng Hàn Hầu rất mực kính trọng Tô Tần, bỏ trống ngôi tướng quốc để chờ sẵn. Tô Tần hay tin, lập tức bẩm tấu lên Triệu Hầu, lên đường đi sứ nước Hàn với tư cách sứ thần hai nước Yên, Triệu.

Hàn Hầu đã chấp thuận hợp tung, cũng có nghĩa là chưa xuất binh đã thu phục được nước Hàn, nên mục đích chuyến đi sứ Hàn của Tô Tần cũng theo thời mà biến, đổi thành đi đường vòng để thuyết khách Ngụy.

Kinh đô nước Hàn là Trịnh Thành cách Đại Lương nước Ngụy chưa đầy ba trăm dặm, phi ngựa nhanh một ngày là đến. Sứ đoàn hợp tung muốn đến được Trịnh Thành, buộc phải đi qua nước Ngụy. Tô Tần biết đây là một cơ hội, nên khi qua Ngụy đã cố tình đi thật chậm, đồng thời truyền lệnh cho làm rất nhiều cờ đủ màu, viết các yếu chỉ hợp tung như “ngũ thông”, “tam đồng” lên trên, lại đem mục đích và phương thức hợp tung soạn thành những bài vè thông tục dễ hiểu, sao chép thành nhiều bản, rải khắp dọc đường, để cho đám ăn mày, nghệ nhân lang thang... hát hò diễn xướng, lưu truyền khắp nơi. Sứ đoàn hợp tung của hai nước Yên, Triệu có đến gần năm nghìn người, Tô Tần lại cố tình kéo dài đội hình, từ xa nhìn vào, đầu đuôi cách nhau tới hơn mười dặm, suốt dọc đường cờ quạt phấp phới, chiêng trống vang trời, hết sức phô trương.

Thanh thế này đã vượt xa quy mô của những chuyến viếng thăm bình thường trong liệt quốc, nước Ngụy trong triều ngoài nội một phen chấn động, từ trên xuống dưới đều bàn luận ồn ào về Tô Tần và hợp tung. Ngụy Huệ Vương đọc qua tập sách hợp tung mà Tô Tần đã rải trên đường, nhắm mắt suy ngẫm hồi lâu, rồi lệnh cho tỳ nhân triệu Vũ An Quân Bàng Quyên vào cung, giơ cuốn sách hợp tung trên tay, hỏi khẽ: “Quyên Nhi, cái này con đã đọc chưa?”

Nghe thấy hai chữ “Quyên Nhi”, Bàng Quyên vô cùng đắc ý. Bàng Quyên biết rõ, từ sau khi mất đi Tôn Tẫn, địa vị của mình trong mắt Ngụy Vương lại càng lên cao vùn vụt, thậm chí còn vượt qua cả tướng quốc Huệ Thi. Ngụy Huệ Vương ngày càng ỷ lại vào hắn, mỗi khi gặp việc hệ trọng, nhất định phải triệu hắn đến bàn bạc trước tiên. Hiện giờ Tôn Tẫn đã trở thành phế nhân, Bàng Quyên nhìn khắp liệt quốc, thấy không còn ai là đối thủ, hùng tâm trong lòng đương nhiên lại càng bành trướng, cảm thấy ngày thoả tráng chí đã không còn xa nữa.

Lúc này, thấy Huệ Vương nhìn mình với ánh mắt rất mực thân thiết và tin cậy, Bàng Quyên càng thêm vững tâm, đồng thời cũng rất đỗi cảm động, đưa mắt liếc qua bản sách lược hợp tung, khẽ giọng đáp: “Hồi bẩm phụ vương, nhi thần đã đọc rồi!”

“Nghe nói Tô Tần và hiền tế là đồng môn, vậy hắn là người thế nào?”

“Xin hỏi phụ vương, muốn biết chuyện gì về Tô Tần?”

“Tài của người này thế nào?”

“Ồ!” Bàng Quyên khựng lại một thoáng, rồi phì cười nói. “Bảo nhi thần phải nói thế nào đây? Tô Tần và Trương Nghi cùng học thuật du thuyết, cái khác thực không dám khen, nhưng tài khua môi múa mép thì vô cùng ghê gớm.”

“Ồ?” Huệ Vương cũng cảm thấy thú vị, cười mà nói. “Nghe nói Việt Vương đã bị cái lưỡi của Trương Nghi khuấy đảo đến mờ mắt mà mất nước, quả nhân trước nay vẫn cảm thấy quá nực cười. Nay nghe con nói vậy, té ra lại là sự thực! Quyên Nhi, nếu so với Trương Nghi, tài ăn nói của Tô Tần thế nào?”

Trong hai người này, đương nhiên Bàng Quyên thấy ưa Tô Tần hơn, nên lập tức cười nói: “Sau khi rời khỏi Quỷ Cốc, nhi thần cũng không được biết gì thêm. Nhưng nếu chỉ nhìn vào mấy năm sống chung trong Quỷ Cốc, giả sử cho hai người họ mỗi người nói mười câu, nhi thần sẵn sàng tin Tô Tần ba câu, còn chỉ tin Trương Nghi nửa câu mà thôi!”

Nghe nói Trương Nghi chỉ có nửa câu nói thật, Huệ Vương phá lên cười lớn, rồi nói: “Chẳng trách Việt Vương bị mắc lừa, thì ra là vì vậy! Xem ra, ngày sau nếu gặp Trương Nghi, quả nhân nhất định phải cẩn thận mới được!”

Bàng Quyên cười nói: “Việt Vương làm sao có thể so sánh với phụ vương? Chỉ sợ khi gặp phụ vương, cái lưỡi của Trương Nghi lại cứng đơ như gỗ!”

Cả hai đều bật cười ha hả.

Cười xong, Huệ Vương bèn nghiêm nét mặt, đi vào chuyện chính: “Quyên Nhi, theo ý con, với kế sách hợp tung của Tô Tần, chúng ta nên đối phó thế nào?”

Bàng Quyên cũng nghiêm mặt lại, ôm quyền mà nói: “Nhi thần khẩn cầu phụ vương hãy triệu kiến một người!”

“Là người nào?”

Bàng Quyên quay ra ngoài vỗ tay, một người trung niên bước vội theo sau tỳ nhân đi vào, khấu đầu nói: “Thái tử nước Vệ Cơ Hiến khấu kiến bệ hạ, chúc bệ hạ long thể an khang, vạn thọ vô cương!”

Huệ Vương kinh ngạc, nhìn kỹ người đó một lượt từ đầu đến chân: “Đây chính là thái tử Cơ Hiến của nước Vệ?”

Cơ Hiến chảy nước mắt mà nói: “Tiên quân băng hà, thái sư làm loạn triều chính, dám làm trái di mệnh của tiên quân, phế bỏ Cơ Hiến, khiến cho triều đình rối loạn, người người giận dữ. Cơ Hiến khẩn cầu bệ hạ hãy xuất binh dẹp loạn, trả lại công đạo cho thiên hạ!”

Huệ Vương xua tay, rồi gật đầu nói: “Công tử, việc của nước Vệ, quả nhân đã biết rồi!”

Cơ Hiến biết ý, liền bái lạy rồi lui ra.

Thấy hắn đã lui, Huệ Vương liền quay sang Bàng Quyên: “Ý của ái khanh là...”

“Bệ hạ!” Bàng Quyên thấy Huệ Vương gọi mình là ái khanh nên cũng đổi cách xưng hô. “Nước Vệ dù không lớn, nhưng lại là mảnh đất màu mỡ. Nay Vệ thất lục đục, Cơ Hiến cầu cứu, vi thần thiết nghĩ, cớ sao chúng ta không nhân cơ hội này...” Dừng lời lại, đưa bàn tay lên cứa ngang cổ.

“Ừm!” Huệ Vương ngẫm nghĩ một lát, rồi lẩm bẩm. “Nước Vệ xem ra cũng đến lúc tuyệt tự rồi!”

“Bệ hạ,” lúc này Bàng Quyên mới để lộ ý đồ thực sự, “Vệ Hầu mới lập qua lại thân thiết với Hàn, còn lão thái sư lại hữu hảo với Triệu. Nếu ta đồng ý hợp tung, việc diệt nước Vệ, e rằng...”

Huệ Vương khẽ đảo con mắt: “Ừm, quả nhân đã có tính toán!”

Có lẽ do ngồi quá lâu, Huệ Vương bỗng ngáp dài. Bàng Quyên nhìn thấy, liền đứng dậy cáo lui. Huệ Vương đi về phía chiếc giường gỗ kê trong một góc thư phòng, vốn định chợp mắt một lúc, nhưng trong đầu cứ canh cánh chuyện nước Vệ, trằn trọc qua lại, không thể nào ngủ được!

Huệ Vương lại trở người mấy lần, bỗng ngồi bật dậy, gọi tỳ nhân chuẩn bị xe đến phủ tướng quốc.

Huệ Thi có thói quen ngủ trưa, khi Huệ Vương đến là đang giờ Mùi, Huệ Thi chưa ngủ dậy. Quản gia thấy Huệ Vương giá lâm, định chạy vào bẩm báo nhưng bị Huệ Vương ngăn lại.

Huệ Vương bảo quản gia dẫn đường, cùng với tỳ nhân đi tới hậu hoa viên, từ xa đã nhìn thấy Huệ Thi nằm trên chiếc giường mềm trong đình hóng mát, đang ngủ ngon lành. Huệ Vương đi tới bên cạnh, thấy Huệ Thi ngáy pho pho, tiếng sau to hơn tiếng trước, cảm thấy vô cùng ngưỡng mộ, quay sang cười nói với tỳ nhân: “Nhìn tướng ngủ này, Huệ ái khanh quả là người có phúc!”

Nhưng tỳ nhân lại chỉ tay vào nước dãi ròng ròng bên mép Huệ Thi, cười nói: “Nhìn nước dãi của tướng quốc chảy thành dòng, giống như con sâu trên cây nhả tơ xuống, sắp chạm đến đất rồi!”

Huệ Vương đưa mắt nhìn, thấy quả đúng như vậy, liền phá lên cười lớn.

Huệ Thi bị tiếng cười đánh thức, mở mắt ra, nhìn thấy Huệ Vương, cứ ngỡ mình đang nằm mơ, bèn đưa tay dụi mắt, thấy đúng thật không sai, mới vội vàng xuống giường khấu lạy: “Bệ hạ...”

Huệ Vương chìa ra một chiếc khăn tay, cười nói: “Huệ ái khanh, mau lau nước dãi đi rồi hãy nói!”

Huệ Thi nhận lấy khăn tay, nhưng lại đưa tay áo quệt miệng, rồi cười ngượng nghịu: “Đã khiến bệ hạ cười chê!”

Huệ Vương chỉ vào chiếc khăn: “Huệ ái khanh, thế còn khăn tay?”

Huệ Thi mỉm cười, nhét tọt chiếc khăn vào trong tay áo, khấu đầu nói: “Vi thần đa tạ bệ hạ ban khăn!”

Huệ Vương ngẩn người, rồi lại cười nói: “Ái khanh thật giỏi cướp đoạt. Nào, hãy đứng dậy nói chuyện!”

Huệ Thi đa tạ xong, đứng dậy ngồi xuống dưới đình. Hai người chuyện phiếm một hồi, rồi Huệ Vương chuyển sang chuyện chính, nhắc đến hợp tung, chau mày nói: “Theo lý thì Tam Tấn hợp nhất không phải chuyện xấu, nhưng đây là chuyện lớn, Tô Tần không đi tìm quả nhân mà lại đi tìm Triệu Ngữ trước, cho hắn khởi xướng, là đã đặt quả nhân ở vị trí nào vậy? Triệu Ngữ là kẻ kém cỏi vô dụng, sau khi kế ngôi, luôn bị người khác khống chế, chỉ biết vâng vâng dạ dạ, khiến nước Triệu nhiều phen chao đảo, làm sao có thể làm thủ lĩnh Tam Tấn? Điều này tạm chưa nói đến, quả nhân quay mặt về nam xưng vương, đã đi trước một bước dài, nếu lại cùng Triệu, Hàn hợp tung, ngồi ngang hàng với Hàn Cừ, Triệu Ngữ, há chẳng phải...” Dừng lại, đưa ánh mắt giận dữ nhìn Huệ Thi.

“Nếu bệ hạ không muốn, thì không hợp là được!” Huệ Thi chậm rãi rói.

“Ồ...” Huệ Vương lại chau mày. “Tô Tần kia đã rêu rao khắp nơi, tuyên truyền rộng khắp về ích lợi của hợp tung. Tam Tấn vốn là cùng một cội, Triệu Ngữ khởi xướng, Hàn Cừ hưởng ứng, lại được người Yên giúp sức, nếu quả nhân không theo, há chẳng phải công khai đối địch với Tam Tấn? Tạm chưa nói tới Triệu, Hàn, Yên, ngay cả thần dân của quả nhân, chắc hẳn cũng sinh hai lòng. Hơn nữa, Tô Tần trước tiên đến nước Tần, nay lại hợp tung ba nước Yên, Triệu, Hàn, khiến cho thiên hạ bàn tán sôi nổi, đã tạo được danh tiếng lẫy lừng. Người này sau khi đến Hàn, chắc chắn sẽ quay sang phía đông, thuyết phục quả nhân hợp tung. Nếu người này đến, quả nhân không gặp thì không ổn, gặp cũng không ổn. Nghĩ đi nghĩ lại, quả thực quả nhân chẳng biết phải làm sao, nên lần này đến là để hỏi ái khanh xem có kế sách vẹn toàn chăng?”

Huệ Thi ngẩng đầu cười nói: “Nếu bệ hạ thấy khó xử vì chuyện này, thì vi thần có một kế!”

“Ái khanh cứ nói!”

“Đợi khi Tô Tần đến, bệ hạ hãy lấy cớ đi săn mùa thu, trao lại việc nước cho điện hạ, để Vũ An Quân phụ chính. Tô Tần và Vũ An Quân là đồng môn, cả hai đều hiểu rõ nhau. Có Vũ An Quân đối phó, chẳng phải bệ hạ muốn tiến thì tiến, muốn lui thì...”

Chưa đợi Huệ Thi nói hết câu, Huệ Vương đã vỗ tay khen: “Diệu kế!” Lại nghĩ một lúc, càng thấy hưng phấn, cứ tấm tắc “diệu kế” luôn miệng, hớn hở quay trở về cung!

Tháng chín năm đó, đúng vào lúc Hàn Chiêu Hầu bái Tô Tần làm tướng, thì ở nước Ngụy, Ngụy Huệ Vương mở đại triều, ngay trong hôm đó ban chiếu, trao lại việc triều chính cho thái tử Thân, để Vũ An Quân Bàng Quyên phụ chính. Ngày hôm sau, Huệ Vương cùng Huệ Thi, tỳ nhân và mấy vị phi tần trong hậu cung, dưới sự hộ tống của công tử Ngang, mang theo mấy nghìn quân lính, rầm rộ tới Lương Hựu săn bắn.

Sau khi Huệ Vương rời khỏi kinh thành mấy ngày, sứ giả nước Tần là Công Tôn Diễn đã đến Đại Lương trước Tô Tần một bước. Biết được Huệ Vương, công tử Ngang đều không có trong thành, triều chính giao lại cho thái tử Thân, Công Tôn Diễn vui mừng khôn xiết. Lần này đi sứ Ngụy, sứ mệnh của Công Tôn Diễn chính là ngăn chặn Tô Tần hợp tung. Huệ Vương lại rời cung vào đúng lúc này, ý đồ không nói cũng đã rõ ràng, chí ít cũng cho thấy Ngụy Vương không tán thành hợp tung Tam Tấn, mà điều này không nằm ngoài dự đoán của Công Tôn Diễn khi còn ở Hàm Dương. Công Tôn Diễn đoán chắc, chỉ cần Ngụy Vương không có trong cung, cho dù Tô Tần có uốn ba tấc lưỡi ba hoa thiên địa, kế sách hợp tung cũng khó mà thành. Trong bụng đã chắc chắn, Công Tôn Diễn càng thêm bình tĩnh, nghỉ lại tại dịch quán, ngày hôm sau lấy tư cách sứ giả nước Tần để lên triều, bẩm báo rõ lý do đi sứ, trình lên quốc thư và lễ vật để cầu Tần, Ngụy kết tình hoà mục.

Thái tử Thân lâm chính, ngày đầu lên triều đã tiếp đãi sứ giả nước Tần. Vì sứ thần vốn là người Ngụy, hiện giờ lại là đại lương tạo địa vị hiển hách tại Tần, nên tỏ ra vô cùng thận trọng, vấn an Tần Công theo đúng nghi lễ, tiếp nhận quốc thư và lễ vật, rồi truyền Công Tôn Diễn về dịch quán chờ chỉ.

Công Tôn Diễn khấu lạy rồi cáo lui, trở về dịch quán, vào trong phòng ngồi xuống, mở hai cuốn thẻ tre ra, đọc chăm chú.

Đến cuối giờ Thân, ngoài cửa bỗng có tiếng xe ngựa ồn ào, quân úy vào bẩm báo có Chu Uy, Bạch Hổ đến thăm. Đây cũng chính là hai người mà Công Tôn Diễn đang chờ đợi, vì vậy vội vàng đi ra, khom lưng vái chào: “Chu huynh, Bạch thiếu gia, Công Tôn Diễn đợi đã lâu rồi!”

Chu Uy, Bạch Hổ đều sững người ngạc nhiên, rồi vòng tay đáp lễ, gần như đồng thanh hỏi: “Đợi chúng ta ư?”

“Chính phải!” Công Tôn Diễn cười nói. “Tại hạ đã chuẩn bị sẵn sàng, nếu giờ Thân vẫn chưa gặp được hai vị, tại hạ sẽ mang theo gậy đánh chó đến hỏi tội hai vị!”

Cả hai người đều bật cười.

Ba người dắt tay nhau vào trong phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Công Tôn Diễn chăm chú nhìn Bạch Hổ, gật đầu khen ngợi: “Bạch thiếu gia, mấy năm không gặp, quả nhiên đã ra dáng lắm rồi!”

Bạch Hổ nhớ lại chuyện cũ, bất giác thở dài: “Than ôi, giờ nghĩ lại chuyện năm xưa mà cứ ngỡ như giấc mộng!”

Ba người lần lượt kể chuyện của mình. Chu Uy bảo Công Tôn Diễn đuổi thuộc hạ ra ngoài, sau đó nói thẳng vào việc chính: “Công Tôn huynh! Lần này chúng ta đến, một là để thăm huynh, hai là có việc muốn khẩn cầu.”

“Chu đại nhân có gì xin cứ nói thẳng!”

“Bệ hạ coi như đã tỉnh lại sau giấc ngủ dài, thân cận hiền thần, xa lánh tiểu nhân, văn dùng Huệ tướng quốc, võ dùng Vũ An Quân, mấy năm nay lại cải cách triều chính, đất nước được đại trị. Oan tình năm đó của Công Tôn huynh, tại hạ cũng đã điều tra rõ ràng và bẩm báo lên bệ hạ. Biết được sự thật, bệ hạ vô cùng hối hận, nhiều lần nhắc đến chuyện này trong triều, nói rằng có lỗi với Công Tôn huynh. Bệ hạ còn nói, cánh cổng nước Ngụy lúc nào cũng mở sẵn chờ đón Công Tôn huynh, bất kể lúc nào Công Tôn huynh muốn quay lại, bệ hạ cũng sẽ ra khỏi thành ba mươi dặm nghênh đón. Còn về việc sau khi Công Tôn huynh đến Tần, mấy lần hại Ngụy, cũng là do ai vì chủ nấy, bệ hạ dứt khoát không tính toán chuyện đã qua!”

“Than ôi!” Công Tôn Diễn thở dài mà nói. “Chuyện đã qua, cũng giống như Bạch huynh đệ vừa nói, chẳng khác nào một cơn ác mộng! Bệ hạ đã tỉnh mộng, Bạch huynh đệ cũng đã tỉnh mộng, song giấc mộng của tại hạ đến giờ vẫn chưa tỉnh. Hơn nữa, tại hạ không phải kẻ bội nghĩa phản chủ, nay đã theo Tần, làm sao có thể hai lòng?”

Chu Uy vội nói: “Người Tần và ta, thế không cùng tồn tại, thù không đội trời chung. Sao Công Tôn huynh có thể nhanh chóng một đao đoạn tuyệt quá khứ như vậy?”

“Không giấu Chu huynh,” Công Tôn Diễn chậm rãi nói, “lúc mới đến Hàm Dương, tại hạ cũng nghĩ mãi mà không hiểu. Đối địch với người Tần suốt bao năm, lại trải qua cuộc huyết chiến với người Tần tại Hà Tây, nhưng đột nhiên lại chạy sang phía người Tần, chẳng khác nào bại tướng xin hàng. Suốt một thời gian dài, tại hạ gần như ngày nào cũng say khướt, không muốn đối mặt với hiện thực. Nhưng sau đó, tại hạ đã nghĩ thông. Tại hạ là tại hạ, chúa thượng là chúa thượng, thiên hạ là thiên hạ. Ngụy thất cũng được, Tần thất cũng được, thiên hạ cũng được, vừa có liên quan, nhưng lại cũng chẳng có liên quan gì với tại hạ. Như ‘Xuân Thu’ đã viết, ‘từ khi Chu thất dời đô về đông, thiên hạ đã chẳng còn chiến tranh chính nghĩa’. Thiên hạ đã chẳng còn chiến tranh chính nghĩa, Công Tôn Diễn cho dù có phò tá ai, cũng chẳng có chuyện có nghĩa hay bất nghĩa. Bệ hạ không biết ta, không dùng ta, song Tần Công lại biết ta, dùng ta, mọi chuyện vô cùng đơn giản!”

“Than ôi!” Chu Uy thở dài. “Nếu Bạch tướng quốc biết được Công Tôn huynh hôm nay nghĩ như vậy, chắc chắn sẽ rất đau buồn!”

Nghe nhắc tới Bạch Khuê, Công Tôn Diễn cúi gục đầu, cười buồn một tiếng, rồi lập tức chuyển sang chuyện khác: “Chu thượng khanh, hôm nay chúng ta chỉ nói về việc hiện tại, đừng nói tới quá khứ nữa, được chăng?”

Chu Uy cũng cười gượng một tiếng, đưa mắt nhìn Bạch Hổ, gật đầu nói: “Cũng được, mọi việc đều có trước sau mau chậm, việc này cũng không nôn nóng được. Nói về hiện tại, tại hạ cũng có một việc muốn thỉnh giáo.”

“Chu huynh cứ nói!”

“Tô Tần đề xướng hợp tung Tam Tấn, Triệu, Hàn đều đứng lên hưởng ứng. Tại hạ đã xem qua chủ trương của hắn, cảm thấy rất hoang mang, đã nhiều lần bàn luận cùng Bạch huynh đệ, nhưng vẫn chưa thông suốt. Lần này đến đây, là muốn nghe ý kiến của Công Tôn huynh.”

“Xin hỏi Chu huynh, cớ sao lại hoang mang?”

“Nói đơn giản, chính là vấn đề lợi hại. Nếu ta hợp tung, là lợi lớn hơn hại, hay là hại lớn hơn lợi?”

“Nói theo thiên hạ, lợi lớn hơn hại; nói theo nước Ngụy, hại lớn hơn lợi.”

“Điều này phải giải thích thế nào?”

“Khi Tô Tần ở Hàm Dương, tại hạ và hắn có qua lại, biết rõ hùng tâm tráng chí của Tô Tần, quả nhiên là bậc kỳ tài. Khi đó, mưu của Tô Tần là phò tá Tần Công, nhất thống thiên hạ, gây dựng đế nghiệp cái thế. Không ngờ Tần Công lại không có chí này, đã phủ nhận ngay trước mặt mọi người. Tô Tần thấy không được Tần Công trọng dụng, nên đã quay đầu bỏ về đông, tiếp tục tìm đường khác, cuối cùng đã nghĩ ra ván cờ lớn hợp tung Tam Tấn. Tại hạ chẳng khác gì Chu huynh và Bạch thiếu gia, cũng đang đau đầu vì chuyện này, thoạt tiên vỗ bàn khen hay, nhưng sau đó càng nghĩ càng không thông. Than ôi, mặc dù người này là đại tài, nhưng lại đi vào đường rẽ, thực đáng tiếc!”

“Vì đâu Công Tôn huynh lại vỗ bàn khen hay?” Bạch Hổ hỏi xen vào.

“Vì ván cờ này quá rộng lớn!” Công Tôn Diễn quay sang Bạch Hổ, nói. “Sĩ tử bình thường như chúng ta đây, gồm cả Thương Quân, cũng đều chỉ mưu cho một nước, thế cờ đánh ra chẳng qua chỉ là một góc. Nhưng Tô Tần thì khác, cho dù là kế xưng đế hay chiêu hợp tung, cũng đều bao quát thiên hạ, đánh ván cờ lớn của cả thiên hạ, cao tay hơn rất nhiều so với chúng ta. Tại hạ nói nó có lợi cho thiên hạ, cũng chính bởi điểm này. Hai vị hãy thử nghĩ xem, nếu Tam Tấn hợp nhất, bên trong không có phân tranh, còn về bên ngoài, đông có thể chế Tề, tây có thể chế Tần, nam có thể chế Sở, còn ai dám đến gây hấn? Liệt quốc đã không dám, tự nhiên sẽ không còn chiến tranh, đây chẳng phải là có lợi cho thiên hạ hay sao?”

“Phải lắm!” Bạch Hổ liên tiếp gật đầu. “Nếu nói như vậy, mưu của Tô Tử quả thực cao minh!”

“Cớ sao lại nói Tô Tần lại đi vào đường rẽ?” Chu Uy hỏi tiếp.

Công Tôn Diễn hỏi vặn lại: “Xin hỏi hai vị, Tam Tấn có thể hợp hay không?”

“Đã có lợi lớn như vậy, Tam Tấn nên hợp mới phải!” Chu Uy gật đầu nói.

“Than ôi!” Công Tôn Diễn khẽ lắc đầu, thở dài mà nói. “Nếu như Tam Tấn có thể hợp, đã chẳng còn là Tam Tấn. Chỉ vì bảy trăm dặm Hà Tây mà Tần Ngụy đã trở thành thù địch, tích hận cho tới tận ngày nay. Trong khi thứ mà Tam Tấn tranh giành, đâu phải chỉ có bảy trăm dặm đất? Cái khác chưa nói, chỉ riêng ân oán trong vòng trăm năm nay, liệu có thể xoá bỏ trong một chốc!” Hắng giọng mấy cái, nói tiếp. “Tô Tần đề xướng ‘tam đồng’, muốn Tam Tấn đồng thù, đồng lực, đồng tâm. Trước tiên là đồng tâm, hai vị nói xem, liệu có thể thực hiện được chăng? Tam Tấn không đồng tâm, liệu có thể đồng lực được chăng? Không đồng lực, liệu có thể đồng thù được chăng? Nói đến đây, tại hạ lại nhớ đến một câu chuyện, kể về một người nước Tề muốn khiến rùa, thỏ, hạc cùng kéo xe, kết quả thỏ kéo về phía cánh đồng, rùa kéo xuống hồ nước, hạc lại kéo lên trời. Ba con vật cùng kéo hết sức, nhưng lại không đồng tâm, cỗ xe không những không thể di chuyển, ngược lại còn bị lôi kéo cho tan tành. Tô Tần vốn muốn Tam Tấn hợp thân, chẳng phải cũng giống như người nước Tề, đi vào đường rẽ hay sao?”

Chu Uy, Bạch Hổ đều gật gù.

Thấy hai người đã hoàn toàn đồng tình, Công Tôn Diễn lại chêm thêm một câu: “Còn nữa, giả sử Tam Tấn thực sự giống như ý nguyện của Tô Tần, đồng tâm hiệp lực, thân thiết như một khối sắt, song kết quả không những không có lợi gì, ngược lại còn tệ hại hơn!”

“Tại sao lại như vậy?” Bạch Hổ ngạc nhiên.

“Hai vị thử nghĩ xem, Tam Tấn hợp thân sẽ gây bất lợi cho ai? Bất lợi cho Tề, Sở, Tần. Tam Tấn coi ba nước Tề, Sở, Tần là kẻ địch. Nếu ba nước này riêng lẻ mà đánh, chắc chắn sẽ không phải đối thủ của Tam Tấn. Tuy nhiên, Tam Tấn có thể hợp, cớ sao ba nước kia không thể hợp? Nếu như ba nước vì sợ Tam Tấn mà kết minh với nhau, Tề từ phía đông đến, Tần từ phía tây lại, Sở từ phía nam lên, cho dù Tam Tấn có vững như khối sắt cũng sẽ bị đánh tan thành trăm mảnh. Hơn nữa, nếu thực sự Tam Tấn hợp tung thành công, Tề, Sở, Tần cũng chẳng còn con đường nào khác, chỉ còn lại duy nhất con đường này. Lúc nãy tại hạ có nói, hợp tung đối với nước Ngụy là hại lớn hơn lợi, chính là vì điều này.”

Phân tích của Công Tôn Diễn rất hợp tình hợp lý, Chu Uy, Bạch Hổ đều bất giác hít ngược một hơi khí lạnh, nhìn nhau hồi lâu, im lặng không nói gì.

Hàn Chiêu Hầu không chịu lép vế, cũng chọn ra hai nghìn người, nhập vào sứ đoàn, cộng thêm tuỳ tùng, nên sứ đoàn hợp tung cả thảy đã lên gần tám nghìn người. Kinh đô Trịnh Thành của nước Hàn cách Đại Lương chưa đầy ba trăm dặm, Tô Tần truyền lệnh cho thuộc hạ ngày đi năm mươi dặm như lúc trước, suốt dọc đường phô trương thanh thế, thong thả mà tiến.

Khi chỉ còn cách Đại Lương chưa đến mười dặm, thám mã về báo Ngụy Huệ Vương đã trao lại triều chính cho thái tử Thân, cùng với tướng quốc Huệ Thi, An Quốc Quân công tử Ngang đến Lương Hựu săn bắn. Hành động của Ngụy Vương rõ ràng là muốn tránh né hợp tung, ba vị phó sứ của Yên, Triệu, Hàn biết tin, thảy đều hoảng hốt, vội bẩm báo cho Tô Tần. Lâu Hoãn cho rằng nên đi thẳng tới Lương Hựu, như vậy vừa có thể giảm bớt được mấy ngày đường, lại có thể trực tiếp cầu kiến Ngụy Vương. Cơ Khoái, công tử Chương đều tỏ ý tán đồng, quay sang nhìn Tô Tần.

Tô Tần trầm ngâm một hồi, rồi truyền lệnh đi tiếp, thẳng tiến tới Đại Lương. Đi được nửa ngày, thám mã lại về báo, nói là sứ giả nước Tần Công Tôn Diễn đã đến Đại Lương trước một bước. Mấy vị phó sứ ngơ ngác nhìn nhau, rồi lại cùng quay sang nhìn Tô Tần.

Tô Tần cười nói: “Người Tần nhanh chân thật, có chuyện thú vị rồi đây!”

Sứ đoàn vẫn đi đứng dềnh dàng như cũ, đến tận buổi trưa ngày thứ ba mới đến được bên ngoài Đại Lương, dừng lại dưới chân thành, chờ đợi ý chỉ từ cung Ngụy. Chốc lát sau, một cỗ xe kiệu chạy đến, nội sử của cung Ngụy bước xuống xe, tuyên đọc khẩu dụ của thái tử cho Tô Tần nghe, cho sứ đoàn hợp tung hạ trại tại chỗ, đặc sứ, phó sứ và các sứ thần có liên quan của liệt quốc vào dịch quán trong thành nghỉ ngơi.

Một sứ đoàn quy mô long trọng như vậy, song phía Ngụy chỉ cho một trung đại phu tầm thường ra tuyên chỉ, lại là khẩu dụ của thái tử, khiến mấy vị phó sứ vô cùng bất bình, mặt lộ sắc giận. Nhưng Tô Tần lại mỉm cười, vòng tay cảm tạ, sắp xếp xong cho tướng sĩ của ba nước, rồi dẫn Cơ Khoái, Lâu Hoãn, công tử Chương và các tuỳ tùng thân cận, chia nhau lên hai mươi cỗ xe, giương cờ hiệu, đi theo cỗ xe của nội sử tiến vào trong thành.

Sau khi đoàn xe vào thành, Tô Tần, Cơ Khoái, Lâu Hoãn, công tử Chương và những người khác đều đứng ở trên xe, sắc mặt tươi cười, vòng tay hành lễ với người đến xem đứng chật hai bên đường. Khi tới đầu phố Nam Nhai, Tô Tần đột nhiên nhìn thấy bên đường có một người đang ngồi khoanh chân dưới đất, đầu tóc rối bù, mặt mày lem luốc, ánh mắt đờ đẫn nhìn vào cảnh tượng nô nức trước mặt. Đứng bên cạnh là mấy đứa trẻ, đứa nào cũng lôi thôi nhem nhuốc, rõ ràng là trẻ ăn xin. Có lẽ là do họ hôi hám quá, nên người đến xem đều cố tránh dạt ra, vì vậy họ lại càng thêm dễ thấy.

Tô Tần vừa nhìn đã nhận ra ngay Tôn Tẫn, tim bỗng thót lại, vội hô dừng xe.

Đoàn xe liền dừng lại.

Tô Tần nhảy phắt xuống xe, bước từng bước tiến lại gần Tôn Tẫn. Tôn Tẫn cũng hai mắt không chớp nhìn chằm chằm vào Tô Tần, ngửa cổ cười ngây dại. Đến bên cạnh Tôn Tẫn, Tô Tần bỗng trong lòng đau thắt, hai chân mềm nhũn, quỳ sụp luôn xuống đất, lạy Tôn Tẫn ba lạy, nước mắt ròng ròng, nghẹn ngào cất tiếng gọi: “Tôn huynh...”

Tôn Tẫn vẫn đờ đẫn nhìn Tô Tần, cười ngây ngô. Nhưng lúc này, đã cười thành tiếng, chỉ tay vào Tô Tần mà cười ré lên, nghe như tiếng cục tác của gà mái đẻ.

Cảnh tượng thình lình khiến tất cả mọi người đều kinh ngạc sững sờ. Tô Tần thân là tướng quốc của hai nước Triệu, Hàn, lại là đặc sứ của ba nước Triệu, Hàn, Yên, nhưng lại quỳ xuống trước mặt một gã điên trên phố ngay trước vô số ánh nhìn, quả thực là chuyện chưa từng có. Người dân đến xem lập tức xúm đông xúm đỏ lại, cứ như đang xem diễn trò. Hộ vệ Trâu Phi Đao thoăn thoắt chạy tới, đứng cách Tô Tần vài bước, cảnh giác quan sát xung quanh. Nội sử nước Ngụy đang đi phía trước cũng vội vàng dừng xe, đứng từ xa sững sờ nhìn lại. Cơ Khoái, công tử Chương, Lâu Hoãn đều đứng trơ ra trên xe, sượng sùng kinh ngạc không biết phải làm gì.

Mấy đứa ăn xin sợ đến hết hồn, không dám đi cũng chẳng dám nhúc nhích, mặt tái mét, cứ đứng chết trân mà trợn mắt nhìn, ngỡ mình nằm mơ.

Tô Tần lạy xong liền ngẩng đầu lên, hai mắt nhìn thẳng vào Tôn Tẫn.

Tôn Tẫn không cười nữa, cũng nhìn thẳng vào Tô Tần.

Đúng vào khoảnh khắc này, Tô Tần phát giác thấy có hai luồng sáng rực chiếu ra từ trong mắt Tôn Tẫn, rọi thẳng vào tâm can Tô Tần.

Tô Tần đột ngột hiểu ra, đang lúc mừng rỡ khôn xiết, thì Tôn Tẫn đã thu ngay ánh nhìn lại, ánh mắt lại trở nên đờ đẫn như cũ, hai tay múa tít, bắt đầu gõ trống miệng: “Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng...”

Tô Tần nhận ra đó là tiếng trống tiến quân, biết Tôn Tẫn đang giục mình đi mau, liền đưa tay áo lau nước mắt, quay sang Trâu Phi Đao: “Lấy năm lượng vàng lại đây!”

Trâu Phi Đao lấy ra năm lượng vàng đưa cho Tô Tần.

Tô Tần cung kính đặt vàng xuống trước mặt Tôn Tẫn, lại lạy thêm ba lạy, rồi mới quay trở về xe. Trâu Phi Đao đã đặt sẵn ghế kê chân, Tô Tần bước lên trên xe. Đoàn xe lại tiếp tục chuyển bánh.

Đoàn xe vừa đi, mấy đứa ăn mày bên cạnh Tôn Tẫn lập tức nhảy vọt đến, xâu xé tranh cướp vàng. Tôn Tẫn tựa như không nhìn thấy, hai mắt vẫn nhìn hút theo Tô Tần đang xa dần, miệng vẫn lầm bầm thúc trống trận.

“Cái gì?” Bàng Quyên trợn trừng hai mắt, thất kinh nhìn Bàng Thông. “Tô Tần đã quỳ xuống trước mặt Tôn Tẫn ngay trên phố?”

Bàng Thông gật đầu.

Bàng Quyên trầm ngâm hồi lâu, rồi bỗng ngẩng phắt đầu lên hỏi: “Tôn Tẫn thế nào?”

“Tôn Tẫn vẫn thế, lúc đầu cười ngây ngô, sau lại đánh trống miệng, không hề nhận ra Tô Tần!”

Bàng Quyên thở phào một hơi dài, im lặng một lúc, rồi gật đầu ra chiều thấu hiểu: “Than ôi, năm xưa bốn người chúng ta cùng sống trong Quỷ Cốc, tình như huynh đệ. Hiện giờ chúng ta đều địa vị hiển hách, chỉ có Tôn huynh ra nông nỗi này. Đừng nói là Tô huynh, cho dù đại ca nhìn thấy, chắc chắn cũng đau lòng xót ruột!” Dừng lại một chút, lại nói. “Còn nữa, Tôn huynh cả ngày lê la trên phố, cũng không phải cách hay. Cái khác chưa nói, lỡ khi mưa rơi gió thổi, Tôn huynh biết về đâu?”

Bàng Thông lưỡng lự một thoáng, rồi chậm rãi bẩm báo: “Tôn huynh ở trong nhà ta, rất không vui vẻ. Từ lúc ra ngoài, trời đất bao la, trông cũng vui vẻ hơn nhiều. Sau đó, lại quen biết mấy đứa nhóc ăn mày, Tôn huynh thích lắm, lúc nào cũng cười ngây ngô. Còn về nơi trú chân, tiểu đệ cũng đã sắp xếp ổn thoả cả rồi. Ngôi miếu nhỏ ở đầu phố Nam Nhai vốn thuộc phủ Trần Chẩn, giờ thành vô chủ, trên đương nhiên cũng quy về phủ chúng ta. Tiểu đệ đã kiểm tra, bên trong kín mưa kín gió, yên tĩnh khô ráo, nên đã để Tôn huynh và mấy đứa ăn mày ở trong đó. Khi trời đẹp, có bọn ăn mày ra phố xin ăn, Tôn huynh sẽ không bị đói. Khi trời mưa gió, tiểu đệ sẽ bảo đầu bếp mang chút cơm tới, đảm bảo Tôn huynh luôn được ấm bụng.”

Bàng Quyên liên tiếp gật đầu: “Ừ, sắp xếp như vậy tốt lắm, có điều... để Tôn huynh ở cùng đám ăn mày, cũng thực tội nghiệp cho Tôn huynh!”

“Đại ca!” Giọng Bàng Thông có chút nghẹn ngào. “Tấm chân tình của đại ca đối với Tôn huynh thực khiến tiểu đệ cảm động. Đại ca yên tâm, Tôn huynh đã là nghĩa huynh của đại ca, cũng chính là nghĩa huynh của tiểu đệ! Đại ca cứ việc lo đại sự, chút việc cỏn con này đã có tiểu đệ lo. Hơn một năm nay, tiểu đệ nhận ra Tôn huynh không màng tới ăn mặc, không đếm xỉa đến nhà cửa, chỉ thích tự do tự tại. Trên phố lớn, Tôn huynh được tự do, được vui vẻ, tốt hơn nhiều so với bị nhốt trong nhà. Hơn nữa...” ngập ngừng một chốc rồi hạ thấp giọng nói, “giữ Tôn huynh trong nhà, vừa ồn ào, đôi lúc còn làm phiền đến phu nhân, khiến cho hậu hoa viên cứ như có ma quỷ, chẳng ai dám bén mảng đến!”

Bàng Quyên lại gật đầu: “Thông đệ nói cũng phải! Việc của Tôn huynh, có ai bàn tán gì hay không?”

“Theo tiểu đệ được biết, từ lâu việc đại ca cứu giúp, không chê bỏ Tôn huynh đã được truyền tụng khắp liệt quốc, còn ở Đại Lương thì ai ai cũng biết, không ai không ca ngợi đại ca trọng nghĩa trọng tình, khen là người tốt!”

“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài rầu rĩ. “Bọn họ làm sao hiểu nổi, tình nghĩa giữa Tôn huynh và đại ca không chỉ nằm ở những thứ bề ngoài đó. Nhớ năm xưa, vì cứu gia phụ mà Tôn huynh đã cùng đại ca ra vào hang hổ, sa chân chốn lao tù, nếu không phải được Bạch tư đồ cứu giúp, suýt chút nữa đã cùng chết trong tay gian tặc Trần Chẩn!” Nói đoạn, lại than thở. “Than ôi, Thông đệ, đại ca nợ Tôn huynh quá nhiều, chỉ e kiếp này không bù đắp được!” Nói xong, xúc động dâng trào, nước mắt lã chã.

“Đại ca...” Bàng Thông cũng nghẹn ngào.

Đúng vào lúc này, môn nhân chạy vào bẩm báo, nói là đặc sứ ba nước Tô đại nhân cầu kiến.

Bàng Quyên đứng bật dậy, đi đi lại lại trong phòng mấy vòng, rồi ngẩng đầu hỏi: “Cả thảy có mấy người?”

“Khởi bẩm chúa công, chỉ có một mình Tô đại nhân!”

“Ồ?” Bàng Quyên khẽ đảo con ngươi, đoạn nói với Bàng Thông. “Mau, chuẩn bị mấy cành gai, một cái bàn xát, đặt ở trong phòng!”

Lời còn chưa dứt, Bàng Quyên đã cất bước, vội vàng đi thẳng ra cổng, quả nhiên thấy Tô Tần đang đứng đợi.

Bàng Quyên sải bước nhanh hơn, vừa đi vừa gọi: “Tô huynh!”

Tô Tần bước lại, vòng tay vái chào: “Bàng huynh!”

Bàng Quyên đã bước tới nơi, đưa tay nắm lấy tay Tô Tần, siết mạnh: “Tại hạ không biết Tô huynh đến, nghênh đón chậm trễ, nghênh đón chậm trễ!”

Tô Tần cười nói: “Tại hạ không mời mà đến, mạo muội quấy rầy, mong Bàng huynh đừng để bụng!”

Bàng Quyên vỗ vai Tô Tần, trách móc: “Tô huynh đang hỏi tội tại hạ đấy ư? Không giấu gì Tô huynh, gần đây bệ hạ đi săn, điện hạ chấp chính, tất cả mọi việc trong triều đều đến tay tại hạ, khiến tại hạ bận tối tăm mặt mũi. Tại hạ vừa mới từ trong triều về, hay tin Tô huynh đến nên vội vàng ra đón, đến triều phục cũng chưa kịp thay!” Vừa nói vừa giũ giũ bộ triều phục đang mặc trên người.

Tô Tần cười vang mấy tiếng, vòng tay đáp lễ: “Bàng huynh nói đi đâu vậy? Trong thành này ai chẳng biết Bàng huynh bận trăm công nghìn việc, tại hạ đâu dám trách cứ? Chỉ có điều... lần này tại hạ đến đây, lạ nước lạ cái, nghĩ đi nghĩ lại cũng chỉ có Bàng huynh là bạn cũ, nên vừa đến dịch quán, còn chưa kịp nóng chỗ đã vội vàng lên xe đến thăm, đã làm phiền Bàng huynh rồi!”

Hai người cùng qua lại mấy lời khách sáo, sau đó dắt tay nhau vào trong phủ, đến phòng khách, chia ngôi chủ khách ngồi xuống.

Bàng Thông rót trà xong, vòng tay lui ra.

Tô Tần nhấp một ngụm trà, rồi lập tức nhắc tới việc của Tôn Tẫn, sắc mặt rầu rĩ, thở dài não nề: “Than ôi, không giấu Bàng huynh, lúc nãy tại hạ đã nhìn thấy Tôn huynh!”

Bàng Quyên vờ như không biết, kinh ngạc thốt lên: “Ồ!”

Tô Tần lại thở dài: “Than ôi, từ lâu tại hạ đã nghe thấy chuyện của Tôn huynh. Khi đến Hàm Đan, nghe người ta đồn thổi Tôn huynh phạm phải tội chết, may nhờ Bàng huynh cứu giúp nên mới giữ được mạng sống, không ngờ hoạ vô đơn chí, giờ lại trở thành kẻ điên khùng. Trước kia, tại hạ chỉ nghe đồn nên không tin, nhưng hôm nay được thấy tận mắt, tại hạ...”

Tô Tần chưa kịp nói hết câu, Bàng Quyên đã nghẹn ngào, bật khóc thất thanh: “Tô huynh...”

Tô Tần liếc mắt nhìn Bàng Quyên, cũng đưa tay áo lau nước mắt.

“Tô huynh!” Bàng Quyên gắng trấn tĩnh trở lại, chậm rãi nói. “Việc của Tôn huynh, tất cả đều trách tại hạ, là tại hạ có lỗi với Tôn huynh!” Rồi đứng dậy, đặt bàn xát xuống đất, nắm lấy một nắm gai, đưa cho Tô Tần. “Tô huynh, tại hạ đã phụ sự uỷ thác của tiên sinh, đã phụ tình huynh đệ kết nghĩa với Tôn huynh, đã phụ tình đồng môn trong Quỷ Cốc, tội đáng vạn roi! Hôm nay tiên sinh không có ở đây, đại sư huynh cũng không có, đành phải nhờ Tô huynh thay mặt tiên sinh, thay mặt đại sư huynh trừng phạt tại hạ, lấy lại công bằng cho Tôn huynh!” Nói đoạn, hai gối khuỵu xuống, quỳ lên bàn xát, cởi triều phục ra, để lộ lưng trần, khẽ nhắm mắt lại. “Tô huynh, hãy trừng phạt đi! Nếu Bàng Quyên kêu một tiếng, sẽ phạt thêm mười lần!”

Tô Tần liếc nhìn Bàng Quyên, rồi ném luôn cành gai xuống đất, từ từ đứng lên, hai tay đỡ Bàng Quyên dậy, lại thở dài mà nói: “Than ôi, Bàng huynh, việc này... than ôi, huynh bảo tại hạ phải xuống tay thế nào đây?”

Bàng Quyên đẩy Tô Tần ra, tiếp tục quỳ xuống khẩn cầu: “Tô huynh, nếu huynh không đánh, chính là đã hại tại hạ! Không giấu Tô huynh, Tôn huynh gặp phải kiếp nạn này, tất cả đều là do tại hạ. Nếu tại hạ không mời Tôn huynh xuống núi, không mời Tôn huynh đến Đại Lương, Tôn huynh sẽ không... Than ôi, không nói nữa! Đánh đi! Huynh đánh đi, nỗi ăn năn trong lòng tại hạ không thể nguôi ngoai, ăn không ngon ngủ không yên! Huynh đánh đi, huynh đánh một cái, tại hạ sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn một phần, đánh mười cái, sẽ nhẹ nhõm hơn mười phần, đánh một vạn cái, tại hạ... tại hạ...” Rồi lại bật khóc nức nở.

Thấy Bàng Quyên chân thành thống thiết như vậy, Tô Tần cho dù trong lòng hiểu rõ mười mươi, nhưng vẫn thấy xúc động, khẽ thở dài một tiếng, lại đỡ Bàng Quyên dậy: “Bàng huynh chớ nên tự trách mình! Huynh đối xử với Tôn huynh thế nào, tại hạ từ lâu đã biết!” Cố ý dừng lại một lát, đưa mắt liếc Bàng Quyên. “Tại hạ đi chuyến này, đến đâu cũng nghe người ta truyền tụng về Bàng huynh, ca tụng Bàng huynh trung nghĩa phân minh, trọng tình trượng nghĩa, có thể sánh với cổ nhân. Tại hạ nghe vậy, vừa thấy xót xa cho Tôn huynh, lại càng thấy tự hào về Bàng huynh. Có điều, Tôn huynh là người thực thà, cớ sao lại phạm vào tử tội, tại hạ nghĩ mãi không ra, xin Bàng huynh kể rõ!”

Bàng Quyên đưa tay áo lau nước mắt, ngồi lại vào chỗ, chậm rãi kể lại đầu đuôi câu chuyện Tôn Tẫn phạm tội ra sao, Ngụy Vương thịnh nộ thế nào, rồi Tôn Tẫn chịu hình, Tôn Tẫn phát điên ra sao, cũng không quên kể chuyện mình khổ sở cầu xin tha mạng, cứu chữa thuốc thang, chăm sóc nâng giấc thế nào, rồi tại sao lại phải để cho Tôn Tẫn lang thang đầu phố...

Tô Tần nghe xong, tỏ ra kính phục, vòng tay vái liên hồi mà nói: “Những điều nghe thấy lúc trước chỉ là sơ lược, đến nay tại hạ mới biết việc của Tôn huynh lại có nhiều uẩn khúc đến vậy. Bàng huynh đã lo liệu được đến mức này, coi như cũng đã tận tâm tận lực, về tình về nghĩa, đều khiến tại hạ kính phục!” Rồi lắc đầu, lại thở dài buồn bã. “Than ôi, lúc trước, khi tiên sinh đổi tên cho Tôn huynh, tại hạ cũng cảm thấy băn khoăn. Hôm nay nhìn lại, thì ra tất cả đều là số mệnh an bài!”

Bàng Quyên vẫn tự dằn vặt: “Tất cả đều trách tại hạ, nếu năm xưa không gửi thư cho Tôn huynh, Tôn huynh sẽ không xuống núi, sẽ không đến nước Ngụy, cũng sẽ không... Than ôi, là tại hạ đã hại Tôn huynh!”

“Bàng huynh!” Tô Tần sắc mặt trầm trọng, nhìn Bàng Quyên nói. “Nhắc đến chuyện này, huynh đệ chúng ta phải hợp lực cùng nhau mới được. Theo như lời Bàng huynh vừa kể, Tôn huynh chắc chắn đã bị hàm oan. Theo ý của Bàng huynh, là kẻ nào đã hãm hại Tôn huynh?”

Bàng Quyên đập bàn: “Nếu tại hạ điều tra ra được kẻ đó, dứt khoát sẽ băm vằm hắn thành trăm mảnh!”

“Lúc nãy Bàng huynh có kể,” Tô Tần từ tốn nói, “khi Tôn huynh bị oan, sứ thần nước Tần đang ở Đại Lương, liệu có phải...” ngập ngừng một lát mới tiếp lời, “ý tại hạ là, việc này liệu có liên quan đến người Tần chăng?”

Bàng Quyên hai mắt vụt sáng, lập tức vỗ ngực bình bịch: “Phải lắm! Phải lắm! Tô huynh nói phải lắm! Lúc đó sứ thần nước Tần là Sư Lý Tật đang ở Đại Lương, sau đó tại hạ ngấm ngầm điều tra, có nghe trong cung đồn đại, Tôn huynh và kẻ này có gặp nhau một lần, nói là đến đánh cờ. Huynh cũng biết đấy, bệ hạ hận nhất là người Tần, Tôn huynh không biết nông sâu, đã đánh cờ với kẻ đó, mà phạm vào đại kỵ!”

“Nếu chỉ đánh cờ, sẽ không phạm vào tội chết!” Tô Tần như đang gợi ý cho Bàng Quyên. “Tại hạ ở Tần một năm, hiểu rõ người Tần. Người Tần chiếm đoạt Hà Tây và Hàm Cốc, rất sợ người Ngụy báo thù, thấy Bàng huynh, Tôn huynh đều phò tá Ngụy, có lẽ người Tần sợ hãi nên mới nghĩ ra thủ đoạn này để hãm hại Tôn huynh. Nếu không ngoài dự đoán, Lưu Thanh kia, và cả bức thư, đều là do người Tần sắp đặt!”

Bàng Quyên trầm ngâm một lúc, sắc mặt dần trở nên hung hãn: “Tô huynh nói phải lắm!” Dừng lại một lát, càng thêm khẳng định, nghiến răng trèo trẹo mà rít lên. “Đúng là chó má! Ngay từ đầu tại hạ đã nghĩ, chuyện này chắc chắn có điều uẩn khúc, thì ra là vậy!” Rồi liên tiếp vòng tay với Tô Tần. “Tô huynh, tại hạ xin đa tạ! Từ khi Tôn huynh bị hại, tại hạ vẫn không ngừng điều tra chuyện này, đã suy tính đến tất cả mọi khả năng, chỉ là chưa nghĩ đến người Tần mà thôi. Lũ chó Tần, chiếm Hà Tây, đoạt Hàm Cốc có thể coi là hận cũ, hãm hại Tôn huynh chính là thù mới. Hận cũ thù mới, tại hạ không rửa hận này, thề không làm người!” Nói đoạn, thẳng tay đập xuống mặt bàn đánh chát.

“Bàng huynh!” Tô Tần thấy thời cơ đã đến, cố tình bồi thêm một câu. “Người Tần hãm hại Tôn huynh, thù đó hận này, không phải chỉ của một mình Bàng huynh, mà tất cả đệ tử Quỷ Cốc đều phải báo thù. Có điều...” lập tức đổi giọng, “Bàng huynh đã nghĩ đến việc phải báo thù thế nào chưa?”

Bàng Quyên ngẩn người, thấy Tô Tần nhìn chằm chằm vào mình, thì khẽ đảo mắt, do dự một thoáng rồi nói: “Tại hạ lập tức bẩm báo với bệ hạ, dẫn đại quân chinh phạt bạo Tần, chiếm lại Hà Tây!”

Tô Tần lắc đầu.

“Ồ?” Bàng Quyên ngạc nhiên. “Không phạt Tần, làm sao có thể báo thù?”

“Không phải không phạt, mà hiện giờ không thể phạt!”

“Tại sao không thể phạt?” Bàng Quyên vội hỏi.

Tô Tần cất giọng rành rọt: “Vì Tần quá mạnh. Chỉ với sức của nước Ngụy, rõ ràng là lấy trứng chọi đá!”

Bàng Quyên mặt đỏ rần, vừa thẹn vừa giận: “Tô huynh nói gì vậy? Tại hạ tuy bất tài, nhưng coi người Tần khác nào cá nằm trên thớt, dê ở trong chuồng, chưa từng biết sợ!”

Tô Tần lại lắc đầu, mỉm cười nói: “Bàng huynh nói như vậy, chứng tỏ chưa hề hiểu Tần. Tại hạ ở Tần mấy tháng, đã được tận mắt chứng kiến những điều tốt xấu của Tần, không biết Bàng huynh có muốn nghe hay không?”

“Tại hạ xin nghe!”

Tô Tần lập tức thao thao một tràng: “Tần thực thi nền pháp trị hà khắc, một người phạm pháp, mười xóm liên luỵ, vì vậy người Tần không sợ chết mà sợ pháp. Toàn dân đều sợ pháp, vì vậy trên dưới đồng lòng, cả nước như một, tất cả đều không sợ chết. Tần Công tuổi trẻ tài cao, mưu lược sâu xa, tâm địa thâm hiểm, hành vi tàn độc, ngay cả Thương Quân cũng dám diệt trừ, không chuyện gì là không dám làm. Trong triều đình nước Tần, không ai không sợ Tần Công, vì vậy đều răm rắp phục tùng. Người này hoài bão lớn lao, có phần còn hơn cả cha mình. Còn nữa, Tần Công trong có các hiền tài Công Tôn Diễn, Tư Mã Thác, Sư Lý Tật, Cam Mậu, ngoài có các nơi hiểm trở Hàm Cốc, Hà Thuỷ, nước Tần gần như bốn mặt khoá kín. Sự hiểm trở của Hà Thuỷ, không cần phải nói nhiều, chỉ riêng một cửa ải Hàm Cốc, tại hạ đã từng qua lại, đúng là một người trấn thủ, vạn người khó qua. Cứ coi như Bàng huynh phá được cửa ải này, nhưng đường từ Hàm Cốc đến Âm Tấn dài hơn hai trăm dặm, mỗi bước đi đều hiểm trở gập ghềnh, chỉ cần người Tần liều chết phòng thủ suốt dọc đường, thì chẳng khác nào tường đồng vách sắt, có chắp thêm cánh cũng khó lòng vượt qua!”

Lời của Tô Tần chính là sự thực, Bàng Quyên từ từ cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ.

Tô Tần lại dấn thêm một bước: “Còn nữa, thiên hạ ngày nay, tất cả mọi việc, quan trọng nhất là có được dân. Tần chiếm được Hà Tây, lại đoạt được Thương Ư, không những mở mang được hơn nghìn dặm đất, mà còn có thêm hơn trăm vạn dân. Nếu cứ theo cách mười đinh trưng một, cũng đã nhiều hơn được mười vạn quân so với trước kia. Bàng huynh là người cầm quân, hẳn cũng hiểu con số mười vạn có ý nghĩa gì?”

Bàng Quyên chau tít đôi mày, chìm trong suy nghĩ, hồi lâu sau mới ngẩng đầu lên: “Tại hạ hỏi một câu, Tô huynh khởi xướng hợp tung, phải chăng là để chế Tần?”

Tô Tần gật đầu nói: “Người hiểu tại hạ, không ai hơn được Bàng huynh!”

“Xin hỏi thêm một câu, nếu gác chuyện của Tôn huynh sang một bên, cớ sao Tô huynh lại có thù với người Tần?”

“Than ôi!” Tô Tần thu lại nét cười, thở dài sườn sượt. “Chuyện này muốn nói, thực khó hé răng. Song Bàng huynh đã hỏi, tại hạ cũng đành nói thật. Sau khi tại hạ xuống núi, đã tới nước Tần, vốn dĩ muốn gây dựng đại nghiệp ở đó, nhưng thực không ngờ Tần Công không những không dùng, lại khiến tại hạ mất mặt, làm nhục tại hạ trước đông đảo sĩ tử trong thiên hạ!” Cười gượng một tiếng, lắc đầu thở dài. “Than ôi, tình cảnh đó, sỉ nhục đó... nếu như tại hạ có kiếm trong tay, hẳn là đã cứa cổ tự sát tại chỗ rồi!”

“Tô huynh đừng nói nữa!” Bàng Quyên xua tay ngăn lại. “Người Tần là khối mủ, sớm muộn cũng phải nặn đi. Tại hạ đã suy nghĩ nhiều lần về kế sách hợp tung của Tô huynh. Không giấu Tô huynh, triều thần đều có ý bài xích hợp tung, bao gồm cả bệ hạ. Ý của Tô huynh, hôm nay tại hạ cũng mới tỏ tường. Việc này không thể vội vàng, tuy nhiên, tại hạ nhất định sẽ dốc tận sức mình để thuyết phục triều thần, nói rõ lợi hại với bệ hạ, toàn lực giúp Tô huynh!”

Tô Tần khẽ ôm quyền: “Đa tạ Bàng huynh trợ giúp!”

Bàng Quyên quay ra ngoài gọi: “Người đâu, mang cơm rượu lên đây!” Rồi khẽ ôm quyền với Tô Tần. “Tô huynh, đã lâu không gặp, tạm chưa nói đến chuyện khác, hôm nay không say không về!”

“Được, không say không về!”

Mưa thu rả rích. Mặc dù không còn cái thế ồ ạt như hai tháng trước, nhưng dầm dề dai dẳng suốt hơn hai ngày trời. Tôn Tẫn phải khoanh chân lết đi trên đất, nên hễ trời mưa là không thể ra ngoài, đành phải ở lì trong ngôi miếu đổ nát đầu phố Nam Nhai.

Mấy đứa ăn mày đang đùa nghịch với mấy đĩnh vàng mà Tô Tần tặng cho Tôn Tẫn, hết thổi lại búng, không lúc nào rời tay. Tôn Tẫn ngồi trên giường, lặng lẽ nhìn đám ăn mày. Gọi là giường, nhưng chẳng qua chỉ là một cái bệ do Phạm Trù xếp bằng những viên gạch đất, rất rộng rãi, dọc ngang có thể nằm được năm sáu người, bên trên rải cỏ khô, trên nữa là vài manh chiếu rách, mấy tấm chăn cũ nát chất đống ở mé trong giường. Giường đất dù sơ sài, nhưng với đám ăn xin, đã tuyệt vời lắm lắm.

Trời mưa không dễ xin ăn, đứa nhỏ nhất trong đám hình như đã thấy đói bụng, bèn đi ra cửa, ngong ngóng nhìn ra màn mưa.

Quả nhiên nó đã ngóng được! Cách đó không xa có tiếng bước chân vọng lại, lát sau, Phạm Trù khoác áo tơi, xách theo chiếc làn lớn che kín vải dầu, bì bõm đi thẳng đến nơi. Tới cửa miếu, Phạm Trù hắt hơi một cú thật vang, rồi lại đi tiếp. Đứa bé liền hét toáng lên: “Phạm bá bá đến rồi!” Rồi sung sướng lao ra xách làn giúp Phạm Trù.

Phạm Trù đưa làn cho nó xách, vui vẻ đi vào trong miếu.

Thấy đám ăn mày đều xúm cả lại, Phạm Trù lúc này mới mở làn ra, chia bánh bao cho từng đứa tuỳ theo sức ăn, rồi căn dặn: “Mấy đứa sang bên thiên điện mà ăn, để Phạm bá bá thay quần áo cho Tôn bá bá!”

Mấy đứa trẻ cầm lấy bánh, chạy ùa sang thiên điện. Phạm Trù xách làn lên, đi tới trước mặt Tôn Tẫn, lấy ra mấy chiếc bánh bao và hai đĩa thức ăn đặt lên giường đất, sau đó giúp Tôn Tẫn cởi quần áo lót mình, thay bằng tấm áo đã giặt sạch, rồi lại lấy ra hai bộ quần áo mới mặc cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn ngồi yên, lặng lẽ nhìn Phạm Trù, mặc cho hắn muốn làm gì thì làm.

Phạm Trù làm xong mọi việc, bèn rút từ trong tay áo ra một bức thư đưa cho Tôn Tẫn, nói khẽ: “Lúc nãy trên đường đưa cơm, tiểu nhân có gặp Tần gia, Tần gia nhờ tiểu nhân gửi cho tiên sinh thư này, xin tiên sinh hãy đọc!”

Tôn Tẫn mở thư ra đọc, rồi đưa lại cho Phạm Trù: “Đốt đi!”

Phạm Trù gật đầu vâng dạ, rồi lấy đá lửa, dây lửa ra, đánh lửa, bắt đầu đốt thư. Tôn Tẫn nhìn hắn, thấy thư đã cháy gần hết, thì điềm tĩnh hỏi: “Phạm huynh, phía Bàng tướng quân có tin gì không?”

“Khởi bẩm tiên sinh,” Phạm Trù gật đầu đáp, “chiều hôm qua, đặc sứ hợp tung Tô đại nhân đến thăm, buổi tối ở lại uống rượu, là cơm rượu do tiểu nhân làm. Bàng tướng quân và Tô đại nhân vừa uống vừa trò chuyện trên trời dưới bể, đến tận nửa đêm Tô đại nhân mới cáo từ ra về. Hôm qua tiểu nhân nghe nói, Bàng tướng quân còn bảo quản gia chuẩn bị sẵn cành gai, bàn xát, sau đó tướng quân đã quỳ lên bàn xát, khăng khăng bắt Tô đại nhân phải cầm roi gai đánh mình, để trừng phạt tướng quân chưa chăm sóc tiên sinh chu đáo. Sáng sớm hôm nay, Bàng tướng quân thấy trời vẫn mưa, nên đích thân xuống bếp căn dặn tiểu nhân phải mang đến nhiều cơm hơn, còn bảo tiểu nhân mang quần áo mới đến cho tiên sinh, nói rằng trời lạnh rồi, không được để tiên sinh chịu rét. Nghe giọng điệu, biết rằng Bàng tướng quân rất quan tâm tới tiên sinh!” Dừng lại một lát, gãi gãi đầu băn khoăn. “Tiên sinh, rốt cuộc giữa tiên sinh và Bàng tướng quân có khúc mắc gì, tiểu nhân thực sự không thể hiểu nổi!”

Tôn Tẫn không trả lời, hai mắt ướt đẫm, một lúc sau mới ngẩng đầu nhìn Phạm Trù: “Việc tại hạ giả điên, Bàng tướng quân có biết không?”

Phạm Trù lắc đầu: “Tiên sinh yên tâm, trong thành Đại Lương, việc này chỉ có Tần gia và tiểu nhân biết được. Hoàng tiên sinh là người trị bệnh cho tiên sinh vốn dĩ cũng biết, nhưng Tần gia đã bỏ ra một khoản tiền lớn để Hoàng tiên sinh chuyển nhà. Tiểu nhân có hỏi Tần gia là chuyển đi đâu, Tần gia nói, hiện Hoàng tiên sinh đã có nhà mới ở Hàm Dương, việc này coi như kết thúc. Hơn nữa, từ đó về sau, Bàng tướng quân cũng không nhắc lại chuyện này nữa, dường như đã tin tiên sinh bị điên thực!”

Tôn Tẫn khẽ gật đầu.

Phạm Trù tiến lại gần, càng hạ thấp giọng: “Tiên sinh, Tần gia còn nói muốn gặp tiên sinh một lần, bảo tiểu nhân hỏi ý kiến tiên sinh xem thế nào?”

Tôn Tẫn đắn đo một lát, rồi lắc đầu nói: “Hiện giờ không được. Huynh hãy chuyển lời với Tần gia, nói rằng, dưa chín tự rụng cuống, nước đến tự thành hào!”

Phạm Trù đáp: “Tiểu nhân nhớ rồi! Tiên sinh dùng cơm, tiểu nhân cáo lui!”

Tôn Tẫn khẽ ôm quyền: “Đa tạ Phạm huynh!”

Tô Tần ở trong dịch quán đợi suốt ba ngày trời, cuối cùng cũng được điện hạ triệu kiến.

Tô Tần và ba vị phó sứ lên triều, trình danh sách lễ vật, đưa ra lời thỉnh cầu Tam Tấn hợp thân, bốn nước hợp tung, đồng thời trình lên bản sao về hiệp ước hợp thân của ba nước Yên, Triệu, Hàn. Thái tử Thân nhận lấy, sau dăm câu khách sáo, liền nói thẳng rằng mình chỉ thay quyền phụ vương chấp chính, còn có gia nhập hợp tung hay không, khó lòng tự quyết, cần bàn thêm rồi bẩm báo phụ vương quyết định.

Thấy thái tử Thân không muốn bàn tiếp, đám Tô Tần bèn cáo lui.

Trở về dịch quán, mấy vị phó sứ, đặc biệt là hai vị công tử nước Hàn, Yên đều tỏ vẻ sốt ruột. Công tôn Khoái là người đầu tiên lên tiếng: “Xem ra, là Ngụy Thân đang muốn lần lữa!”

“Phải đấy!” Công tử Chương gật đầu phụ hoạ. “Người Ngụy đang gây khó dễ cho chúng ta!”

“Hai vị nói rất phải!” Tô Tần đưa mắt nhìn họ, mỉm cười nói. “Việc tốt thường nhiều trắc trở! Hơn nữa, Ngụy Vương và tướng quốc đều không có mặt, Vũ An Quân phụ chính cũng chẳng lên triều, việc lớn như vậy, bảo một thái tử làm sao có thể quyết định?”

Công tử Chương vội nói: “Chúng ta không thể cứ ngỏng cổ một chỗ chờ đợi chết dí ở đây được!”

Tô Tần cười lớn mà nói: “Nếu không muốn chờ đợi chết dí, hai vị có thể đi dạo vài vòng trong ngoài thành Đại Lương. Người Ngụy quả nhiên đáng nể, sau khi dời đô từ An Ấp đến đây, mới có mấy năm mà thành Đại Lương đã biến thành một đô thành nức tiếng thiên hạ, sánh ngang với Lâm Truy.”

Hai người quay mặt nhìn nhau, cho rằng Tô Tần đang nói đùa.

“Còn nữa!” Tô Tần nói tiếp. “Hai vị cũng có thể đến xem kênh đào Hồng Câu, đích thực là một công trình lớn, lợi nước lợi dân, lưu truyền cho con cháu. Mấy năm về trước, tại hạ đã tới đó, đứng bên bờ đê, đúng là cảm khái muôn phần! Than ôi, người ta sống ở trên đời, chẳng qua cũng chỉ muốn lập nên đại nghiệp. Chưa nói đến cái khác, chỉ riêng một việc này thôi, Bạch tướng quốc đã đủ để lưu danh bất hủ!”

Thấy Tô Tần ung dung nhàn nhã, hai người cũng cảm thấy Tô Tần đã nắm chắc phần thắng, liền thở phào nhẹ nhõm, quay sang Lâu Hoãn nói: “Đi nào! Thượng đại phu cũng đi thôi, đông người càng vui!”

Lâu Hoãn ôm quyền cảm tạ: “Tất cả đều đi xem phong cảnh hết, để Tô Tử một mình buồn bã, chẳng phải sẽ lỡ mất việc lớn ư? Hai vị cứ đi đi, tại hạ sẽ ở lại trò chuyện cùng Tô Tử!”

Mọi người đều cười vang. Hai vị công tử chuẩn bị một lát, sau đó cười cười nói nói đi ra khỏi cửa.

Tô Tần ngồi xuống, chỉ tay vào vị trí trước mặt, nói với Lâu Hoãn: “Ngồi đi, quả thực tại hạ cũng thấy hơi buồn!”

Lâu Hoãn liền ngồi xuống.

Tô Tần như sực nhớ ra, bèn hỏi: “À, chẳng phải hôm qua Lâu huynh tới thăm Chu Uy ư? Ông ta nói thế nào?”

Lâu Hoãn khẽ thở dài mà đáp: “Than ôi, Chu thượng khanh toàn nói chuyện trên trời dưới bể, mà không chịu nói vào chuyện chính. Tại hạ mấy lần mở miệng nhưng đều bị ông ta gạt phắt đi.”

“Chẳng trách hôm nay không thấy ông ta lên triều!” Tô Tần cười gượng. “Xem ra, lần này chúng ta đến, họ đã chuẩn bị sẵn sàng cả rồi!”

“Tô Tử!” Lâu Hoãn tỏ ra lo lắng. “Đặc sứ ba nước lên triều trình quốc thư, đây là việc lớn nhường nào, thế mà nhìn người Ngụy mà xem! Trên triều đường chỉ có thái tử, dưới triều đường chỉ có hai trung đại phu vô dụng. Huệ Thi thì không nói làm gì, mấy đại thần như Bàng Quyên, Chu Uy, Bạch Hổ cũng chẳng lên triều...” Dừng lại, đưa mắt nhìn Tô Tần. “Tô Tử, theo lý mà nói, hợp tung chẳng có gì bất lợi với nước Ngụy, tại sao bọn họ lại như vậy?”

Tô Tần hít vào một hơi dài, trầm tư hồi lâu mới từ từ thở ra: “Đúng vậy!” Rồi khép hờ hai mắt. “Tại hạ cũng đang buồn phiền vì chuyện này. Bàng Quyên vốn đã hứa với tại hạ, nhưng hôm nay cũng không thấy lên triều, rõ ràng là cố tình lảng tránh!”

“Đường đường là Vũ An Quân, tại sao có thể nói lời rồi lại nuốt lời?”

Tô Tần trầm ngâm suy nghĩ, rồi quay ra ngoài gọi: “Trâu huynh!”

Chốc lát, Trâu Phi Đao đã có mặt: “Chúa công?”

“Hai ngày nay có ai đến phủ Vũ An Quân không?”

“Buổi chiều hôm qua, có sứ thần nước Tần Công Tôn Diễn đến thăm!”

“Còn ai nữa?”

Trâu Phi Đao lắc đầu.

Tô Tần lại hít vào một hơi dài, tiếp tục nhắm mắt suy nghĩ, một lúc sau mới ngẩng lên hỏi: “Có tin gì về Tôn huynh không?”

“Tôn tiên sinh ở chung với mấy thằng bé ăn mày trong ngôi miếu nát đầu phố Nam Nhai.”

Tô Tần rút từ trong tay áo ra một tấm lụa, đưa cho Trâu Phi Đao: “Huynh hãy tìm cách dụ đám ăn mày đi, rồi đưa bức thư này cho Tôn huynh. Đợi Tôn huynh đọc xong, huynh hãy hẹn huynh ấy canh ba đêm nay ra cửa miếu!” Rồi quay sang Lâu Hoãn. “Lâu huynh hãy tìm lấy một ngôi nhà yên tĩnh, không có người ở gần đầu phố Nam Nhai, đợi Tôn huynh ra, Trâu huynh lập tức cõng Tôn huynh tới, tại hạ sẽ ở đó đợi.”

“Tôn huynh?” Lâu Hoãn kinh ngạc. “Chẳng phải người này đã bị điên rồi ư?”

“Có đôi lúc không điên!” Tô Tần thản nhiên nói. “Đi đi, chuyện này phải tuyệt đối bí mật!”

Hai người lập tức đi ngay.

Lúc chập tối, công tử Hoa vẫn trong bộ dạng thương nhân, nhìn quanh thấy không có người qua lại, vụt một cái lẩn ngay vào dịch quán nước Tần, đi thẳng vào khu nhà của Công Tôn Diễn. Công Tôn Diễn nghe tiếng bước chân, biết ngay ai đến, vội vàng ra đón, cười vang mà nói: “Thật trùng hợp, tại hạ đang nghĩ đến công tử, công tử đã đến rồi!” Rồi cầm lấy tay, nhìn công tử Hoa một lượt từ đầu đến chân. “Ồ, trông thật giống thương nhân. Lần này chắc buôn bán phát đạt lắm đây?”

“Tại hạ đến chính là vì việc này!” Công tử Hoa cũng cười, đi theo Công Tôn Diễn vào trong phòng, ngồi xuống vị trí khách.

“Chắc là sắp phát tài rồi phải không?” Công Tôn Diễn cũng ngồi xuống, rót một chén trà đưa cho công tử Hoa. “Nào, uống chén trà trước đã!”

Công tử Hoa nhận lấy chén trà, nhấp một hớp nhỏ: “Tại hạ đã nhờ Phạm Trù chuyển cho Tôn Tử một bức thư, đại ý nói rằng Bàng Quyên đã lơ là, thời cơ Tôn Tử thoát khỏi miệng hùm đã đến, tại hạ đã sắp xếp xong việc cứu Tôn Tử đến Tần, cuối cùng còn nhắc đến việc chúa thượng đang khắc khoải chờ mong.”

“Ồ, Tôn Tử phản ứng thế nào?”

“Tôn Tử nhắn lại rằng, dưa chín tự rụng cuống, nước đến tự thành hào! Nghe giọng điệu này, rõ ràng Tôn Tử cho rằng thời cơ chưa đến!” Công tử Hoa lại nhấp một ngụm trà, mặt lộ vẻ băn khoăn. “Trong thư đã nói rõ, chúng ta khẳng định có thể cứu được Tôn Tử, nhưng Tôn Tử lại nói vậy, khiến tại hạ không sao hiểu được, nên mới đến nghe Công Tôn huynh giải thích!”

Công Tôn Diễn cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, mới ngẩng đầu nói: “Chỉ có một cách giải thích, Tôn Tử không muốn đến Tần!”

“Tại sao?”

“Điều này phải đi hỏi Tôn Tử!” Công Tôn Diễn chậm rãi nói. “Theo lẽ thường tình, với tình cảnh hiện giờ của Tôn Tử, chỉ cần có thể thoát khỏi miệng hùm, đừng nói là nước Tần là nơi Tôn Tử có thể thực thi hoài bão, mà ngay cả hang hùm, Tôn Tử cũng không nên do dự mới phải!”

“Phải đấy!” Công tử Hoa gật gù. “Hiện giờ Tôn Tử đã trở thành phế nhân, sống không bằng chó lợn, vừa phải giả điên giả dại, lại phải nơm nớp đề phòng Bàng Quyên. Chẳng may để Bàng Quyên biết được chân tướng, chắc chắn sẽ không giữ nổi tính mạng.”

“Mấy ngày nay có ai đến tìm Tôn Tử không?” Công Tôn Diễn chợt hỏi.

Công tử Hoa lắc đầu.

“Nếu không ngoài dự liệu, lần này Tô Tần đến, chắc chắn sẽ cứu Tôn Tử đi. Có lẽ Tôn Tử từ chối, cũng bởi điều này.”

“Phải rồi!” Công tử Hoa vỗ đùi đánh đét. “Ngay ngày đầu tiên Tô Tử đến nơi đã quỳ lạy Tôn Tử ngay trên phố. Hiện giờ Tô Tử thanh danh hiển hách, lại là bạn cũ của Tôn Tử, đương nhiên Tôn Tử sẽ tin tưởng, cũng trông mong Tô Tử đến ứng cứu.”

“Công tử hãy đi mau, ngày đêm canh chừng Tôn Tử, không được khinh suất manh động!”

Đêm đến, mưa dầm đã dứt, song mây đen vẫn âm u kín trời, bầu không tối đen như mực, chẳng khác nào chiếc nồi úp ngược.

Vào lúc canh ba, cửa miếu từ từ hé ra một khe hở. Một lát sau, Tôn Tẫn hai tay chống đất, lách người qua khe cửa lết ra. Trâu Phi Đao nấp sẵn ở chỗ khuất bên ngoài, lập tức lao vụt đến, cõng ngay Tôn Tẫn lên lưng, sải bước chạy đi.

Đi được một lúc, Trâu Phi Đao đến một khu nhà. Bốn bề xung quanh không có nhà cửa nào khác, là một trạch viện đơn độc. Vừa mở cổng, Lâu Hoãn đã chạy ra đón, nhìn khắp xung quanh thấy không có người, liền đón họ vào, nhanh chóng đóng chặt cổng lại.

Tô Tần nghe tiếng, vội chạy ra sảnh đường, cùng Lâu Hoãn đỡ Tôn Tẫn xuống, dìu vào trong phòng. Còn Trâu Phi Đao quay trở ra, đứng canh trước cổng. Lâu Hoãn cũng đi ra ngoài, tiện tay đóng cửa phòng lại.

Trong phòng sáng rực ánh nến, nhưng tất cả mọi khung cửa đều đã bị bịt kín, không để lọt một tia sáng ra ngoài.

Thấy Tôn Tẫn đã ngồi vững trên chiếu, Tô Tần cũng ngồi xuống. Hai người nhìn nhau, chẳng ai nói được lời nào. Hồi lâu, Tô Tần mới phá vỡ bầu im lặng, run giọng gọi: “Tôn huynh... thực khổ cho huynh quá!”

Tôn Tẫn khẽ cười, rồi gật nhẹ đầu.

Tô Tần lắc đầu, thở dài: “Trên đường đến Hàm Đan, tại mới được nghe chuyện của Tôn huynh, tại hạ... thực không thể ngờ, sự việc lại tới nước này!” Dừng lại một lát, bèn hỏi. “Tôn huynh, huynh... có hận Bàng Quyên không?”

“Đương nhiên là hận!” Tôn Tẫn cười nói. “Mấy hôm đầu, hận đến nghiến răng nghiến lợi! Sau đó, dần dần không còn hận nữa!”

“Tại sao lại không hận nữa?”

“Đã nghĩ thông suốt!” Tôn Tẫn nói rất chậm. “Suy cho cùng, cũng thực khó cho Bàng sư đệ. Chỉ có điều, Bàng sư đệ đã lo xa thái quá rồi!” Lặng im một lát, nói thêm một câu. “Vì bản thân Bàng sư đệ!”

Tô Tần trong lòng kính phục, vòng tay nói: “Tôn huynh tu được tới cảnh giới này, tại hạ thán phục!”

Tôn Tẫn cười gượng một tiếng, vòng tay đáp lễ: “Như thế đâu gọi là tu? Chỉ là phó mặc cho số phận mà thôi!”

Tô Tần lại vòng tay, thở dài sườn sượt: “Than ôi, người ta sống ở trên đời, có thể đến mức gặp sao yên vậy, mới là tu hành thực sự!”

“Tuỳ huynh nói sao cũng được!” Tôn Tẫn bật cười, rồi lập tức đổi giọng, vòng tay nói. “Đám trẻ nít kia đều có tật đi đại tiện ban đêm, tại hạ không thể ở đây quá lâu, tránh nảy sinh phiền phức!”

Tô Tần gật đầu, kể qua một lượt về phương sách hợp tung và tình hình trong mấy ngày đến Ngụy, rồi nói: “Tôn huynh, theo lý mà nói, hợp tung đối với Ngụy chỉ có lợi mà không có hại, thế nhưng... Ngụy Vương, Bàng Quyên tạm không nói đến, ngay cả Huệ Thi, Chu Uy cũng đều tỏ ra lạnh nhạt, quả thực khiến tại hạ thấy khó hiểu!”

Tôn Tẫn trầm tư một lúc, rồi chậm rãi nói: “Nhìn từ chỗ lớn, liệt quốc hợp tung là cái đạo yêu thương. Đã là đại ái, thì có thể thực hiện được, cũng là kế sách tuyệt diệu để giải quyết phân tranh trong thiên hạ. Còn về việc nước Ngụy lạnh nhạt, tại hạ cho rằng cũng không khó hiểu!”

“Xin Tôn huynh chỉ giáo!” Tô Tần mắt vụt sáng, nghiêng người về phía trước hỏi.

“Theo những gì Tô huynh vừa nói, mục đích của hợp tung là mưu cầu Tam Tấn hợp nhất, kết minh với Yên, từ đó lấy yếu chống mạnh, giúp cho thế lực cân bằng, cưỡng chế hoà giải.”

“Đúng vậy!” Tô Tần liên tiếp gật đầu.

“Tam Tấn kết thân, mục đích là chống lại ba nước lớn Tề, Sở, Tần. Triều thần nước Ngụy đều không nồng nhiệt, hẳn là có điều ngần ngại. Có lẽ họ sẽ thắc mắc, Tam Tấn đã có thể hợp tung, vậy cớ sao Tề, Sở, Tần lại không thể liên hoành?”

“Tại hạ cũng đã nghĩ đến điều này!” Tô Tần giải thích. “Trình tự của tại hạ là, trước tiên hợp tung Tam Tấn và nước Yên, sau đó sang Sở mời tham dự, như vậy từ Bắc Minh đến Giang Nam sẽ đều trở thành tung thân, khiến hai nước Tần, Tề bị chia cách sang hai phía đông tây, khiến họ không còn dám manh động.”

“Ồ!” Tôn Tẫn cười nói. “Như vậy thì tốt hơn nhiều. Nhưng tại hạ nghĩ rằng, cho dù năm nước hợp tung, bài xích Tần, Tề ra ngoài, thì vẫn chưa ổn. Nam bắc là tung, đông tây là hoành. Nam bắc hợp tung, sẽ tạo thành hình con rắn kéo dài, giả sử đông tây liên hoành, thì khác nào cây gậy đập ngang lưng rắn, đây là điều đại kỵ trong dùng binh. Một khi khai chiến, con rắn chắc chắn sẽ phải cảnh giác trước sau, chỉ cắn có chút bất cẩn, sẽ khiến được trái mất phải, đầu đuôi khó toàn.”

Tô Tần lại nhổm người về phía trước: “Ý Tôn huynh là...”

“Người giỏi cầm quân, tuyệt đối sẽ không để mình rơi vào tình cảnh trước mặt sau lưng đều có địch!” Tôn Tẫn nói tiếp. “Tô huynh đã hợp tung năm nước, tại sao không thêm một nước nữa, hợp cả nước Tề vào tung thân, sáu nước hợp nhất, đều coi Tần là kẻ thù chung. Sáu nước tung thân, bên trong sẽ không còn tranh chấp. Nước Tần có bốn ải hiểm yếu, có pháp luật hà khắc uy nghiêm, liệt quốc cho dù có hùng binh, cũng không thể làm gì được. Từ đó thế lực thiên hạ sẽ được cân bằng, há chẳng phải tốt hơn ư?”

Tô Tần nhắm mắt suy nghĩ, một lát sau, bèn vòng tay nói: “Lời của Tôn huynh, chẳng khác nào xua tan mây mù!”

Tôn Tẫn vòng tay đáp lễ: “Tô huynh quá khen!”

“Đâu có quá khen?” Tô Tần khâm phục nói. “Chỉ một lời của Tôn huynh, đã cao hơn tại hạ không biết mấy lần!” Rồi đưa ánh mắt quan hoài nhìn Tôn Tẫn. “Tôn huynh, lần này tại hạ đến, còn có một chuyện hệ trọng nữa, chính là nghĩ cách cứu Tôn huynh. Nếu Tôn huynh thoát khỏi đất này, sẽ định đi đâu?”

“Nước Tề!” Tôn Tẫn không chút đắn đo.

“Nước Tề rất tốt!” Tô Tần chậm rãi gật đầu. “Nếu Tôn huynh có ý này, đợi sau khi Tam Tấn hợp tung thành công, tại hạ sẽ đến nước Tề, một là để thuyết phục nước Tề hợp tung, hai là để trải đường cho Tôn huynh!”

“Đa tạ Tô huynh!”

“Có điều,” Tô Tần tỏ ra lo lắng, “nếu vậy thì phải đợi thêm một thời gian nữa, thực khổ sở cho Tôn huynh!”

“Tôn huynh quá lo lắng rồi!” Tôn Tẫn cười vang mà nói. “Hiện giờ, thứ duy nhất mà tại hạ không phải lo lắng chính là thời gian, có gì mà khổ sở?”

“Được!” Tô Tần vòng tay nói. “Không còn sớm nữa, tại hạ cũng không dám giữ Tôn huynh, đợi ngày Tôn huynh thoát khỏi miệng hùm, sẽ tiếp tục trò chuyện thoả thích!”

Tôn Tẫn gật đầu.

Tô Tần vỗ tay, Trâu Phi Đao nghe tiếng liền đi vào, quỳ xuống cõng Tôn Tẫn lên. Tô Tần ôm quyền, quyến luyến từ biệt Tôn Tẫn.

Đúng vào lúc bước ra đến cửa, Tôn Tẫn quay lại dặn dò: “Tô huynh, tại hạ quên không nhắc một câu: ‘Đánh rắn phải đánh giập đầu, bắt giặc phải bắt vua giặc!’”

“Bắt giặc phải bắt vua giặc?” Tô Tần nhẩm đi nhẩm lại, bất chợt hiểu ra, bèn vòng tay vái tạ: “Đa tạ Tôn huynh chỉ giáo!”

Trâu Phi Đao cõng Tôn Tẫn nhanh chóng quay trở lại ngôi miếu nát, đặt Tôn Tẫn xuống ngoài cửa. Tôn Tẫn từ biệt xong, liền quay vào trong, tiện tay đóng cửa lại. Trâu Phi Đao lao mình vào trong bóng tối, nghiêng tai nghe ngóng một hồi, chắc chắn phía trong không có tiếng động lạ thường, mới quay người bỏ đi.

Đúng vào lúc Tô Tần, Lâu Hoãn, Trâu Phi Đao đi ra khỏi khu nhà hoang, chìm vào bóng tối, có hai bóng đen cũng lách mình lao ra, bám theo họ từ phía xa, đến tận khi họ khuất trong dịch quán.

Sau khi trở về dịch quán, Tô Tần ngồi trong phòng, ngẫm nghĩ về lời nói của Tôn Tẫn, càng nghĩ càng thấy có lý. Đúng thế, nếu chỉ là bốn nước hợp tung, không những quy mô nhỏ, để lại nhiều bất cập về sau, mà còn gây bất lợi cho việc thực thi mục đích thực sự của hợp tung. Nhìn từ bề ngoài, hợp tung là nhằm cân bằng sức mạnh, chế ước lẫn nhau để giảm bớt hoặc ngăn chặn giao tranh, nhưng với Tô Tần, khiến thiên hạ cùng trị, chư hầu hoà bình mới là chí lớn thực sự. Còn hợp tung như trước mắt, đông tây đều có địch, hai mặt bị khắc chế, liệt quốc muốn tiếp ứng cho nhau còn chẳng dễ, còn sức đâu để đi bước tiếp theo?

Đến khi trời sáng, Tô Tần càng thêm vững tin vào gợi ý của Tôn Tẫn: Sáu nước hợp tung, cùng nhau chống Tần.

Tô Tần nằm xuống giường, chợp mắt một lúc, khi tỉnh dậy là đã giờ Thìn. Theo lẽ thường thì cung Ngụy cũng đã bãi triều. Tô Tần rửa mặt chải đầu xong, liền đánh xe đến thẳng phủ thượng khanh.

Sau khi đến nơi, Tô Tần nói rõ mục đích đến tìm, giải thích về kế sách sáu nước hợp tung, cùng nhau chống Tần.

Chu Uy quả nhiên hào hứng thấy rõ, cùng bàn về việc sáu nước hợp tung chống Tần suốt hai canh giờ, hỏi han rất cặn kẽ, cuối cùng gật gù mà nói: “Phải! Sáu nước hợp tung, cùng nhau chống Tần, hay lắm! Có điều...” Dừng lại nửa chừng, mắt nhìn Tô Tần.

“Thượng khanh có điều gì, xin cứ nói thẳng.”

“Chữ ‘chống’ không được hay lắm, theo tại hạ thấy, nên đổi thành chữ ‘chế’.”

Tô Tần liên tiếp vòng tay: “Hay! Hay! Hay! Thượng khanh xứng đáng được tôn là thầy một chữ!”

“Đặc sứ quá khen!” Chu Uy vòng tay đáp lễ, rồi thở dài một tiếng. “Than ôi, không giấu Tô Tử, gần đây tại hạ đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện này. Tô Tử đề xướng hợp tung Tam Tấn, quả thực là hoài bão lớn lao, sách lược lớn lao, tại hạ càng nghĩ càng thán phục. Tam Tấn tranh chấp đã lâu, mâu thuẫn kịch liệt, kết quả lại đã ứng nghiệm với câu ‘cò nghêu tranh hùng, ngư ông đắc lợi’, để ba nước Tần, Sở, Tề nhiều lần thừa cơ tranh lợi. Tô Tử hợp tung, đó là đại nghiệp có lợi cho Tam Tấn, vậy mà tại hạ lại...” cười gượng một tiếng, liên tiếp lắc đầu như tự trách mình, “lại tính toán tủn mủn, thực là không nên, hỡi ôi, thực là không nên!”

“Là tại hạ tính toán tủn mủn mới phải!” Tô Tần cười vang mà đáp. “Tại hạ đi khắp nơi khuếch trương hợp tung Tam Tấn, chống lại ba nước Tần, Tề, Sở, quả thực đã phạm vào đại kỵ, không biết nhìn xa trông rộng, ngược lại còn gây bất lợi cho Tam Tấn!”

“Tô Tử nói đúng lắm!” Chu Uy cũng cười, “không giấu Tô Tử, quả thực tại hạ cũng nghĩ như vậy. Thực ra không chỉ có tại hạ, phần lớn triều thần cũng đều nghĩ như vậy!”

Tô Tần cười lớn, nhân đà đi thẳng vào việc chính: “Đúng thế, đúng thế! Đừng nói tới triều thần, ngay cả bệ hạ còn tránh mặt tại hạ, coi tại hạ như ôn thần vậy!”

Chu Uy hiểu ý, liền ngả người về phía trước hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, tại hạ có giúp được gì chăng?”

Tô Tần vòng tay nói: “Tại hạ rất muốn yết kiến bệ hạ, hoàn thành đại nghiệp hợp tung sáu nước, xin thượng khanh giúp cho!”

Chu Uy tỏ ra ngần ngại: “Trước lúc đi, bệ hạ đã ban chỉ, lần này đến Lương Hựu là muốn nghỉ ngơi mấy ngày, tất cả mọi việc lớn nhỏ trong triều đều do thái tử tự quyết định, bất kỳ ai cũng không được đến làm phiền.”

Tô Tần suy nghĩ một lúc rồi vòng tay nói: “Vậy nhờ thượng khanh dẫn tại hạ tới gặp thái tử!”

“Tại hạ nguyện dốc sức mọn!”

Lương Hựu nằm ở phía tây bắc thành Đại Lương, cách Đại Lương chừng ba trăm dặm, liên kề Dương Vũ. Ở đây núi nhỏ dốc thoải, cây cối rậm rạp, thú hoang đông đúc, là chốn đi săn lý tưởng. Khi còn lập đô ở An Ấp, Ngụy thất đã khoanh sáu mươi dặm vuông ở nơi đây làm nơi đi săn. Sau khi dời đô đến Đại Lương, nơi này càng được coi trọng. Bên cạnh Lương Hựu có một đầm nước, phía bắc đầm có một vạt rừng rậm rạp tên gọi Giáp Lâm, cảnh sắc tuyệt đẹp, rất đỗi thanh u, mọc đủ loại kỳ hoa dị thảo. Huệ Vương rất yêu thích chốn này, đã cho xây dựng biệt cung ven hồ, gần như năm nào cũng đến đó ở lại một thời gian, coi nơi này chẳng khác gì biệt cung Long Sơn bên bờ Phùng Trạch.

Khi Huệ Vương còn trẻ rất thích săn bắn, đặc biệt là săn những loài động vật lớn như hươu, lợn rừng, ngựa hoang... Có lẽ do tuổi tác đã cao, Huệ Vương giờ thích tĩnh mà không thích động, sở thích săn bắn cũng dần dần chuyển sang câu cá. Cũng vì vậy mà phần lớn những biệt cung xây dựng gần đây đều được Huệ Vương cho đặt ven hồ, bên cạnh xây đài câu cá.

Câu cá cũng là một sở thích của Huệ Thi. Từ sau khi rời khỏi Đại Lương, quân thần hai người hầu như ngày nào cũng ngồi lì bên hồ buông cần, câu cá dưỡng thần. Hai người thường ngồi lặng suốt ngày, chẳng ai nói câu nào, ngay cả khi cá cắn câu cũng như không nhìn thấy. Công tử Ngang dẫn người ra ngoài đi săn, xuất phát lúc mặt trời mọc, đến khi mặt trời lặn mới trở về. Đám phi tần cũng được tự do, tha hồ hái hoa đùa nghịch quanh đó, tiếng cười nói giòn tan chốc chốc lại vọng lại bên hồ.

Vào giờ Ngọ hôm đó, hai người đang thả câu, thì tỳ nhân rón rén đi vào, khẽ giọng bẩm báo: “Bệ hạ, điện hạ đến rồi, đang ở ngoài cung cầu kiến!”

Huệ Vương mở mắt ra, trầm ngâm một lúc, quay sang Huệ Thi, thấy ông ta vẫn đang nhắm mắt dưỡng thần, liền nhìn xuống mặt nước, thấy cá không biết đã cắn câu từ lúc nào, chiếc phao đang bị kéo chạy vòng vòng nhào lộn, vội nói: “Huệ ái khanh, mau giật lên, là cá lớn!”

Huệ Thi mở mắt ra, liếc xéo xuống mặt nước, rồi bật cười mà nói: “Bệ hạ, cá lớn cắn vào lưỡi câu của bệ hạ đấy!” Huệ Vương nhìn lại, quả nhiên là lưỡi câu của mình. Thì ra Huệ Vương ngồi ở đâu gió, gió nhẹ đã thổi chiếc phao của ông ta đến trước mặt Huệ Thi từ bao giờ, còn phao của Huệ Thi bị thổi vào rìa bờ, lẫn vào trong một đám cỏ nước.

Huệ Vương vội vàng giật cần, quả nhiên là một con cá nặng đến mấy cân. Có lẽ do con cá đã vật lộn dưới nước quá lâu, nên khi bị nhấc lên khỏi mặt nước đã không còn giãy giụa quá mạnh. Nhờ có tỳ nhân trợ giúp, Huệ Vương chẳng mất mấy công sức đã đưa được con cá lên bờ, quăng vào thùng nước.

Huệ Vương cười hớn hở, nói với tỳ nhân: “Thân Nhi thật có khẩu phúc, đến đúng lúc quá! Ngươi hãy đem con cá này đến nhà bếp để dùng vào bữa trưa nay!”

“Bệ hạ!” Tỳ nhân bước lại một bước, khẽ giọng bẩm báo. “Đến cùng điện hạ còn có một người nữa, là... đặc sứ ba nước Tô Tần!”

“Ồ!” Huệ Vương sững người, một lát sau mới hỏi. “Triều thần có bàn luận gì về chuyện hợp tung không?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Tỳ nhân bẩm báo. “Vũ An Quân né tránh, thượng khanh, tư đồ và một số người khác lúc đầu phản đối, nhưng sau lại tán đồng. Lần này, chính là do thượng khanh tiến cử Tô Tần với điện hạ!”

Huệ Vương khép mắt trầm tư hồi lâu, rồi chậm rãi nói: “Được, người này đã đến, hãy cho hắn ăn cùng một miếng!”

“Vi thần lĩnh chỉ!” Tỳ nhân vâng lệnh, xách thùng cá đi ra.

“Huệ ái khanh!” Huệ Vương từ từ quay sang Huệ Thi. “Xem ra không thể câu tiếp được nữa rồi!”

Huệ Thi khẽ mỉm cười, giọng đầy ẩn ý: “Bệ hạ vốn dĩ đến đây để câu cá. Cá đã câu được, sắp cho vào nồi, bệ hạ cũng nên thu cần về thôi!”

“Ồ?” Huệ Vương liếc nhìn Huệ Thi, tiện miệng hỏi. “Nghe khanh nói vậy, lần này Tô Tần đến, ái khanh đã có cách đối phó rồi ư?”

“Bệ hạ!” Huệ Thi thu nụ cười lại, vòng tay nói. “Mấy ngày hôm nay vi thần đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện này, nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy phương pháp hợp tung của Tô Tần quả là tuyệt diệu, ít nhất đối với Đại Ngụy ta, có trăm lợi mà không một hại!”

“Trăm lợi?” Huệ Vương kinh ngạc. “Ái khanh có nói quá chăng?”

Huệ Thi khẽ mỉm cười: “Bệ hạ, chưa nói tới chuyện khác, chỉ tính riêng vùng biên giới Triệu, Hàn, ta đã có thể bớt được rất nhiều phiền phức. Biên giới Tam Tấn đã được quy ước rõ ràng, nếu lại tiếp tục giao tranh, nào có ích lợi gì đâu?”

Huệ Vương trầm ngâm hồi lâu, rồi ngẩng đầu nói: “Tam Tấn không tranh chấp đương nhiên là việc tốt, thế nhưng... lúc trước, Bàng ái khanh có tấu báo, nội cung nước Vệ đang lục đục, công tử nước Vệ soán ngôi, thái tử Hiến chạy sang cầu cứu quả nhân, nếu quả nhân không hành động, sẽ không hợp nghĩa; còn nếu quả nhân giúp họ, Triệu, Hàn chắc chắn sẽ không để yên, gây tổn hại đến hiệp ước hợp tung!”

“Bệ hạ,” Huệ Thi nói tiếp, “thánh nhân mưu sự, mưu lớn chứ không mưu nhỏ. Nước Vệ chỉ là mảnh đất nhỏ bé, hiện giờ đối với ta, chẳng khác gì vật nằm trong túi, lấy hay không đều do bệ hạ quyết định. Bệ hạ mới vừa ra một chiếu thư, Vệ Công đã lập tức tự giáng mình xuống làm Vệ Hầu, ngoan ngoãn cắt đất, liệt quốc cũng không dám dị nghị, cũng là vì vậy. Hiện giờ Vệ thất tranh giành, bệ hạ căn bản không cần động binh, chỉ cần ra thêm một chiếu thư, vỗ yên quân chủ, bảo toàn tông miếu, họ sẽ không dám không nghe. Còn về việc thái tử chấp chính hay công tử chấp chính, đó là chuyện của nhà họ, bệ hạ bất tất phải bận tâm!”

“Phải lắm!” Huệ Vương liên tiếp gật đầu. “Ái khanh nói rất phải. Nước Vệ chỉ là mưu nhỏ, vậy đâu mới là mưu lớn?”

“Vi thần cho rằng,” Huệ Thi đáp lời, “kẻ địch lớn nhất của bệ hạ không phải Triệu cũng chẳng phải Hàn, không phải Tề cũng chẳng phải Sở, mà là nước Tần. Tần đã có được Hà Thuỷ, Hàm Cốc hiểm yếu bao bọc, dễ thủ khó công, chỉ với sức của một mình nước ta thì khó lòng công phá. Nếu bệ hạ gia nhập tung thân, Tam Tấn hợp sức, may ra có thể chế Tần và đoạt lại Hà Tây, phục hưng thời oanh liệt của Văn Công!”

Huệ Vương nhắm mắt một hồi, rồi ngẩng đầu nói: “Lời của ái khanh, không phải quả nhân chưa từng nghĩ đến. Thế nhưng, dường như kẻ địch của Tô Tần không chỉ có một nước Tần, mà còn có cả Tề và Sở. Dù quả nhân có đồng ý hợp tung, e rằng việc phạt Tần cũng khó thành.”

“Bệ hạ!” Huệ Thi chậm rãi nói. “Sáng sớm hôm nay vi thần nhận được thư gấp của thượng khanh, nói là Tô Tần đã thay đổi, muốn hợp tung sáu nước, cùng chế bạo Tần. Hiện giờ Tô Tần đã đến, cớ sao bệ hạ không hỏi rõ kẻ địch thực sự của hắn là ai?”

“Ồ?” Huệ Vương ngẩn người, trầm tư một lúc, rồi đưa tay chống đất đứng dậy, nói. “Nếu đã như vậy thì đi thôi! Tô Tử từ xa đến, để người ta đợi lâu, cũng không hợp đạo tiếp khách!”

Huệ Thi cười vang, ung dung đứng dậy. Quân thần người trước kẻ sau, thong dong trở về cung.

Ba ngày sau, Huệ Vương kết thúc cuộc đi săn, rời Lương Hựu quay về Đại Lương. Khiến tất cả dân chúng Đại Lương chấn động, đó là đặc sứ ba nước Tô Tần và Huệ Vương cùng ngồi một xe trở về, uy phong qua phố. Toàn bộ triều thần đều ra ngoài thành nghênh đón, khác hẳn với lần đầu Tô Tần đến Đại Lương, chỉ có một viên quan nhỏ dẫn đường.

Sáng sớm hôm sau, Ngụy cung mở đại triều. Trên triều đường hoàn toàn thấy vẻ hồi hộp bồn chồn, Huệ Vương chẳng cần thông qua bàn bạc, trực tiếp ban chiếu, tấn phong Tô Tần làm khách khanh kiêm đặc sứ hợp tung; phong công tử Ngang làm phó sứ hợp tung, phát động sáu nước kết tung thân. Lại thưởng cho Tô Tần một toà phủ khách khanh, một trăm dật vàng, năm mươi tấm lụa, ba mươi nô bộc. Quần thần còn chưa kịp định thần, Huệ Vương đã tuyên bố bãi triều, toàn bộ quá trình trước sau chỉ vẻn vẹn nửa canh giờ.

Huệ Vương rời khỏi triều đường rồi, bá quan mới kịp hoàn hồn, đua nhau quay sang chúc mừng Tô Tần. Bàng Quyên thấy vậy, trong lòng đủ thứ cảm xúc lẫn lộn, bàng hoàng mất một lúc, nhưng cuối cùng cũng tiến tại chỗ Tô Tần, vòng tay nói: “Tô đặc sứ, tại hạ xin chúc mừng!”

Tô Tần đáp lễ: “Đa tạ Vũ An Quân trợ giúp!”

Bàng Quyên mỉm cười, đưa tay vỗ mạnh vào vai Tô Tần: “Giúp, giúp, việc của Tô huynh, tại hạ đương nhiên phải giúp chứ!” Rồi quay sang công tử Ngang. “Phó sứ đại nhân, tại hạ cũng xin được chúc mừng!”

Bàng Quyên nhấn mạnh vào hai tiếng “phó sứ”, nghe đầy ẩn ý. Công tử Ngang không tán đồng hợp tung, cũng không thể ngờ phụ vương lại bổ nhiệm mình làm phó sứ ngay trên triều, để một An Quốc Quân hiển hách như mình phải đứng ngang hàng với hai công tử và một đại phu vô danh, cùng chịu sự sai khiến của một sĩ tử phố chợ từ trên trời rơi xuống, đã cảm thấy vô cùng mất mặt, lúc này lại bị Bàng Quyên nói khích, nhất thời mặt đỏ phừng phừng, lừ mắt nhìn Tô Tần, hừ mũi một tiếng, rồi sải bước rời khỏi triều đường.

Tô Tần rất đỗi sượng sùng, nhưng cũng nhanh chóng trấn tĩnh trở lại, vòng tay nói với triều thần: “Chư vị đại nhân! Từ thời Xuân Thu đến nay, thiên hạ đã thất đạo, liệt quốc chinh phạt lẫn nhau, sinh linh lầm than, dân chúng khốn khổ. Tại hạ đề ra kế hợp tung, một là để chế Tần, hai là muốn tìm ra một con đường hoà giải cho thiên hạ, ngõ hầu nhanh chóng kết thúc chiến loạn, quay lại thời thái bình thịnh thế. Theo tại hạ thấy, sáu nước hợp tung mới chỉ là bước đầu tiên, thiên hạ hợp tung mới là mục đích sau cùng!” Khẽ hắng giọng một tiếng, thấy quần thần đều đang chăm chú lắng nghe, lại chậm rãi nói tiếp. “Chư vị đại nhân, tại hạ cho rằng, chỉ có hợp tung, chỉ có tìm được điểm chung, gác lại bất đồng, khắc chế tư dục, thì thiên hạ mới có thể kết thúc chiến loạn, tìm lại thái bình. Thiên hạ hợp tung, bách tính an cư lạc nghiệp, đó vừa là ý nguyện của Tô Tần, cũng là ý nguyện của chư vị đại nhân, ý nguyện của cả thiên hạ. Hôm nay bệ hạ ban thánh ân, giáng chỉ hợp tung, thực là cái phúc của vạn dân trong thiên hạ. Tại hạ bất tài, khẩn cầu chư vị đại nhân cùng ra tay góp sức cho đại nghiệp hợp tung, tại hạ xin khấu đầu đa tạ trước!”

Nói xong, Tô Tần lại vòng tay, khom lưng vái một vái thật sâu.

Có lẽ đây là lần đầu tiên quần thần được nghe Tô Tần thổ lộ tâm ý, nói rõ về đại nghĩa của hợp tung, lúc đầu còn chưa kịp phản ứng, chỉ đưa mắt nhìn nhau, nhưng sau đó thảy đều xúc động, lần lượt vòng tay nói: “Hôm nay bệ hạ xuống chiếu, lại có nghĩa cử của Tô Tử, chúng tôi nhất định sẽ tận tâm tận lực vì đại nghiệp hợp tung!”

Tô Tần trên triều đường phong thái lấn lướt, Bàng Quyên đương nhiên trong lòng vô cùng khó chịu, thấy chẳng ai để ý đến mình, thì cũng giống như công tử Ngang, khẽ hừ mũi một tiếng, rồi ngoắt người đi khỏi điện, bước xuống bậc đá. Ra khỏi cửa cung, thấy phu xe đánh xe đến đón, liền nhảy phắt lên xe, giơ chân đạp thẳng gã phu xuống đường, vung roi quất mạnh, lao đi vùn vụt.

Bàng Quyên cứ ra roi phóng bạt mạng một hồi, vô tình thế nào lại đến đầu phố Nam Nhai, từ xa đã nhìn thấy ngôi miếu nát.

Bàng Quyên khẽ đảo mắt, liền thu dây cương lại, dừng xe trước miếu, đẩy cửa miếu ra, đi thẳng vào trong.

Mấy đứa ăn mày đã ra ngoài xin ăn cả, trong miếu không còn ai, chỉ có Tôn Tẫn ngồi trên lớp cỏ khô, hai mắt lờ đờ, đang biếng nhác ngồi phơi nắng. Nghe thấy có người vào, Tôn Tẫn khẽ hé mắt nhìn, thấy Bàng Quyên đứng ngoài cửa, thì cười ngây ngô. Bàng Quyên nhìn Tôn Tẫn một lúc, rồi bước từng bước lại gần, ngồi xuống cách Tôn Tẫn chừng hai bước.

Tôn Tẫn hai mắt đờ đẫn nhìn Bàng Quyên, một lúc sau, dường như phát hiện ra điều gì, liên chỉ tay vào Bàng Quyên, cười khanh khách một tràng. Bàng Quyên sững người, vô thức nhìn lại mình, thấy chẳng có gì bất thường, lại nhìn Tôn Tẫn, vẫn thấy Tôn Tẫn cười ngặt nghẽo mãi không thôi.

Bàng Quyên lúc này mới sực nhớ ra Tôn Tẫn là kẻ điên, một kẻ điên đang cười ngớ ngẩn, mới yên tâm trở lại, từ từ thở hắt ra một hơi dài. Có lẽ đã quá lâu không tắm rửa, người Tôn Tẫn bốc mùi hôi hám nồng nặc, Bàng Quyên vô thức đưa tay bịt mũi, nhưng rồi lại bỏ xuống.

Tôn Tẫn cứ thế ngây dại nhìn Bàng Quyên, cười hềnh hệch, cứ như trước mặt mình là một quái vật.

Bàng Quyên cũng nhìn Tôn Tẫn, trong lòng dấy lên một cảm giác vô cùng khó tả.

Hai người nhìn nhau một lúc, Tôn Tẫn bỗng nhăn mặt, thò tay vào trong áo gãi sồn sột, móc máy một hồi, rồi gãi được một con chấy. Tôn Tẫn như vớ được bảo bối, bỏ con chấy vào lòng bàn tay, gảy qua gảy lại, ngắm nghía say sưa, miệng cười hề hề.

Bàng Quyên chau tít đôi mày, đang lúc ghê sợ, bỗng thấy Tôn Tẫn bỏ tọt con chấy vào trong miệng, hai hàm răng đưa qua đưa lại nhai nghiến hệt như con khỉ. Nhai một lúc, Tôn Tẫn nuốt xuống đánh ực, lại cười ngây ngô với Bàng Quyên.

Bàng Quyên trong lòng muôn mối tơ vò, cơn chua xót bất chợt dâng trào, liền quỳ sụp xuống, nước mắt ứa ra giàn giụa, cất giọng run rẩy: “Tôn huynh!”

Tôn Tẫn như không nghe thấy, không nhìn thấy, vẫn cười ngây dại.

Cười thêm một lúc, Tôn Tẫn lại thò tay vào trong áo, móc ra một con chấy nữa. Con chấy này còn to hơn lúc nãy, Tôn Tẫn mở to mắt hí hửng nhìn con chấy. Bàng Quyên không nhẫn tâm nhìn tiếp, nghẹn ngào một hồi rồi đưa tay áo lau nước mắt, lạy Tôn Tẫn liền ba lạy, hạ giọng nói khẽ: “Tôn huynh, tại hạ... có lỗi với huynh! Tại hạ không muốn như vậy, nhưng... Tôn huynh ơi, tại hạ không thể không làm như vậy! Tại hạ... đã thực lòng cứu chữa, nhưng Tôn huynh...” Nghẹn ngào một lúc, lại lạy thêm ba lạy. “Tôn huynh, việc đã qua không thể vãn hồi, nếu có kiếp sau, tại hạ nguyện làm trâu làm ngựa để tạ lỗi với huynh...”

Bàng Quyên cứ tự lảm nhảm một hồi, song Tôn Tẫn vẫn như không nghe thấy, chỉ chăm chú đùa nghịch với con chấy trong tay, dường trước mắt không hề có Bàng Quyên. Thấy vậy, Bàng Quyên thở dài não nề, từ từ đứng dậy, vòng tay vái Tôn Tẫn một vái dài, rồi quay người đi ra khỏi miếu.

Thấy cửa miếu đã đóng lại như cũ, Tôn Tẫn lúc này mới ném con chấy đi, nước mắt ròng ròng, nghẹn ngào gọi khẽ: “Bàng đệ...”

Bàng Quyên vụt ngựa phóng như điên một hồi, rồi ghìm ngựa lại, quay đầu nhìn về ngôi miếu, sắc mặt lại điềm tĩnh như cũ, khẽ lẩm bẩm: “Tôn huynh, không phải tại hạ độc ác, mà là tình thế bắt buộc. Giống như hôm nay, ngay trên triều đường, Tô Tần kia làm mưa làm gió, chiếm hết phong quang, bảo tại hạ làm sao không bực bội cho được? Hơn nữa, ngay từ đầu tại hạ đã đồng ý trợ giúp hợp tung, chỉ là chưa kịp dẫn tới yết kiến bệ hạ mà thôi. Nhưng Tô Tần lại không chịu đợi, tự mình đến gặp Chu Uy, tự gặp điện hạ, tự đến Lương Hựu yết kiến bệ hạ, đã coi tại hạ là thứ gì đây?” Càng nói càng giận, nghiến răng kèn kẹt. “Hợp tung, hợp tung, hợp tung cái con tư ờ u!”

Hồi Thứ 41

Công Tôn Diễn mưu thuyết Tô Tần

Huệ Văn Công trí phục Trương Nghi

Tô Tần trở về dịch quán, bất ngờ trông thấy một người ăn mặc theo lối sĩ tử đang đứng đợi trước cổng.

Tô Tần định thần nhìn kỹ, thì ra chính là đặc sứ nước Tần Công Tôn Diễn, vội nhảy xuống xe, vòng tay vái chào: “Tại hạ xin chào đại lương tạo!”

Công Tôn Diễn vòng tay đáp lễ, cười vang mà nói: “Khách không mời Công Tôn Diễn xin chào Tô Tử!”

“Khách không mời thì không phải là khách ư?” Tô Tần cười lớn, chìa tay về phía cổng. “Nơi này không phải chỗ tiếp khách, đại lương tạo, mời!”

Công Tôn Diễn vòng tay nhường trước: “Tô Tử, mời!”

Hai người dắt tay nhau đi vào trong nhà, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Công Tôn Diễn nhìn Tô Tần, vô cùng cảm khái: “Tô Tử, từ biệt tại Hàm Dương, đến nay đã gần một năm rồi!”

“Đúng vậy!” Tô Tần cũng thấy bồi hồi. “Khi ở Hàm Dương đã được đại lương tạo yêu mến, tại hạ mỗi lần nghĩ lại, đều vô cùng cảm kích!”

“Hổ thẹn, hổ thẹn!” Công Tôn Diễn liên tiếp lắc đầu. “Đều là do tại hạ bất tài, đã xử tệ với Tô Tử.”

Tô Tần cười lớn mà nói: “Nói đến chuyện này, tại hạ có cảm tạ vạn lần vẫn còn chưa đủ!”

“Ồ?” Công Tôn Diễn kinh ngạc. “Khiến Tô Tử phải nếm đủ mùi khổ sở, mà còn đa tạ nữa ư?”

“Tại hạ đa tạ chính là vì điều này!” Tô Tần nói tiếp. “Không giấu đại lương tạo, nếu như được đắc chí tại Tần, tại hạ sẽ không suy nghĩ lại, cũng chẳng thể ngộ ra được đạo hợp tung!”

“Nói đến hợp tung, hại hạ còn có một điều băn khoăn, không biết Tô Tử có muốn nghe chăng?”

“Đại lương tạo xin cứ nói!”

“Tô Tử khởi xướng hợp tung, lao tâm lao lực, khiến tại hạ thán phục vô cùng. Tô Tử nhìn từ chỗ cao, bắt tay từ chỗ thấp, nơi nơi bộc lộ bản lĩnh hơn người, khiến tại hạ hết lòng cảm phục. Có điều, Tô Tử đã quên mất một chuyện, đó chính là lòng người bất nhất. Tại hạ đã suy nghĩ rất nhiều về sách lược hợp tung của Tô Tử, mục đích chẳng qua là cân bằng thế lực. Tô Tử phản đối Tần, vì Tần dùng pháp trị dân, lấy sức phục người. Nhưng phương pháp của Tô Tử chẳng phải cũng là lấy thế ép người hay sao?”

Tô Tần bật cười mà nói: “Đại lương tạo hiểu lầm tại hạ rồi. Tại hạ khởi xướng hợp tung, không hề trọng ở lấy sức phục người, mà trọng ở lấy lý phục người. Điều tại hạ muốn là cân bằng thế lực chứ không phải áp đảo thế lực, vì vậy không thể nói là lấy thế ép người được!”

Công Tôn Diễn cũng mỉm cười, phản bác: “Tô Tử khởi xướng Tam Tấn hợp nhất là được rồi, nay lại còn mở rộng thành sáu nước tung thân, cùng chung kẻ địch là Tần, lẽ nào không phải là lấy đông hiếp yếu, lấy thế ép người ư?”

“Sách lược của tại hạ, với Tần chỉ có lợi mà không hề có hại, làm sao lại nói là lấy đông hiếp yếu, lấy thế ép người?”

Công Tôn Diễn cười gượng một tiếng: “Than ôi, Tô Tử hợp nhất cả thiên hạ để chế ngự một mình nước Tần, vậy mà còn nói rằng với Tần chỉ có lợi mà không có hại, thật là thú vị!”

“Đại lương tạo đã giả bộ hồ đồ rồi!” Tô Tần cười lớn. “Sáu nước hợp thân, là sáu lòng; nước Tần trên dưới đồng nhất, là một lòng; sáu lòng đối với một lòng, nếu như giao chiến, xin hỏi đại lương tạo, bên nào sẽ có nhiều cơ hội thủ thắng hơn?”

“Nếu như sáu lòng hợp nhất, đương nhiên sẽ thủ thắng!”

“Đại lương tạo, hai quân đối trận, có thể nói đến chữ ‘nếu như’ được ư?” Tô Tần hỏi vặn, sau đó tiếp lời. “Sáu nước tuy hợp, nhưng chẳng khác nào đĩa cát rời; Tần tuy có một, nhưng lại giống như một quả cân. Một đĩa cát rời và một quả cân, ai hơn ai kém, hẳn không cần tại hạ phải nói nhiều. Hơn nữa, Tần là nước bốn ải khoá chặt, núi sông hiểm trở, còn hơn cả trăm vạn hùng binh. Đừng nói là sáu nước sáu lòng, cho dù là sáu nước hợp lực đánh Tần, thắng bại cũng chưa dám chắc, đó là điều thứ nhất. Tần có sáu kẻ địch, chắc chắn sẽ khiến trên dưới đồng lòng, thao luyện binh mã, dốc lòng trị nước, trừ tệ hưng lợi, để duy trì sức mạnh, đối phó với đại địch, đó là điều thứ hai. Hợp tung đối với Tần có nhiều lợi ích đến vậy, lại không có lấy một điều hại, lẽ nào không phải việc tốt?”

Công Tôn Diễn nghe vậy, cứng họng không biết nói gì.

“Còn nữa!” Tô Tần dường như vẫn chưa tận hứng, dõng dạc nói tiếp. “Hợp tung chỉ là để chế Tần, chứ không phải diệt Tần. Lần trước tại hạ thỉnh cầu đế sách, là muốn dùng sức của nước Tần để thôn tính thiên hạ, may mà chưa được thực thi, nếu không, có lẽ hiện giờ thiên hạ đã máu chảy thành sông, trái ngược với tâm nguyện ban đầu của tại hạ. Nay tại hạ cầu hợp tung, mục đích là muốn lập nên một cách cục mới, khiến chư hầu hoà thuận, liệt quốc hoà giải, thiên hạ cùng trị, chứ không phải muốn thêm hoạ binh đao cho thiên hạ. Sáu nước hợp tung mới chỉ là nước cờ đầu tiên của tại hạ, bước tiếp theo chính là thương lượng với Tần, cùng tìm ra cái đạo hoà giải cho thiên hạ. Tuy nhiên, đây là mưu kế lâu dài, hiện giờ bước đầu tiên vẫn chưa đi hết, bước thứ hai đương nhiên cũng chưa cần nói đến vội. Tại hạ đã dốc bầu tâm sự với đại lương tạo, mong đại lương tạo hãy hiểu cho!”

“Than ôi!” Công Tôn Diễn thở dài một tiếng, vòng tay nói. “Tô Tử mưu vì đại nghĩa, tại hạ đã đánh giá thấp rồi. Tại hạ bất tài, không biết có thể giúp gì cho Tô Tử?”

“Phò tá Tần Công, giúp Tần thêm cường thịnh!”

Công Tôn Diễn sững sờ mất một chốc mới hiểu ý, bèn chỉ tay vào Tô Tần, cười vang mà nói: “Được lắm! Tô Tử quả là cao tay!” Lại cười thêm một lúc nữa, sau đó đứng dậy cáo từ.

Tô Tần tiễn ra đến cổng, vòng tay cười hỏi: “Tại hạ nhớ ra một chuyện, rất muốn được thỉnh giáo đại lương tạo!”

Công Tôn Diễn lập tức dừng bước: “Tô Tử xin cứ nói!”

“Đây là việc riêng!” Tô Tần tiến lại gần một bước, cố làm ra vẻ bí hiểm, thì thầm hỏi nhỏ. “Dám hỏi Công Tôn huynh, hôm đó huynh đến phủ Vũ An Quân, đã nói với Bàng Quyên những gì?”

Công Tôn Diễn cũng tiến lại gần một bước, ghé sát tai Tô Tần, cũng tỏ ra bí hiểm, thì thầm đáp: “Tại hạ chẳng nói gì cả, chỉ kể về uy danh của Tô Tử trong liệt quốc, và cảnh tượng phô trương hào hùng của hợp tung mà thôi!”

Công Tôn Diễn nói xong, hai người đều chỉ tay vào đối phương, cùng phá lên cười lớn.

Dịch quán của sứ thần nước Tần nằm ở bên cạnh dịch quán của Tô Tần, cách nhau chưa đầy trăm bước. Công Tôn Diễn trở về dịch quán, ngồi xuống suy nghĩ một hồi, rồi sai người mời công tử Hoa đến, hỏi: “Phía Tôn Tử có động tĩnh gì không?”

“Từ sau đêm hôm đó không có ai đến tìm Tôn Tẫn. Nhưng lúc nãy tại hạ nhận được tin báo, ngày hôm qua sau khi bãi triều, Bàng Quyên đã đến đầu phố Nam Nhai, dừng xe trước miếu, đi vào trong miếu gặp Tôn Tử.”

“Bàng Quyên?” Công Tôn Diễn kinh ngạc hỏi. “Hắn đã làm những gì?”

“Tại hạ không biết!” Công tử Hoa đáp. “Để đề phòng sự cố, Hắc Điêu không dám đến gần, nên không thể biết được chi tiết sự tình!”

Công Tôn Diễn trầm tư một lúc, căn dặn công tử Hoa: “Hiện giờ Tam Tấn đã hợp tung thành công, Tô Tử đang chuẩn bị đi thuyết khách Tề, Sở nhập tung. Một khi sáu nước đã hợp tung, nước Tần tất sẽ nguy hiểm! Địa thế hiểm trở chỉ có thể cứu được nước Tần trong chốc lát, tuyệt đối không phải kế sách lâu dài. Dùng binh là ở tướng tài, hiện giờ điều quan trọng nhất là phải có được Tôn Tử. Tại hạ đi trước một bước, về bẩm báo với chúa thượng để tìm cách ứng phó. Công tử hãy tiếp tục ở lại đây, không lúc nào được rời mắt khỏi Tôn Tử, vừa phải đề phòng Bàng Quyên gia hại, lại không được để Tô Tần cướp đi. Sáu nước có Bàng Quyên, đã là mối nguy to lớn, nếu lại có thêm Tôn Tử, sẽ là đại hoạ vô cùng!”

Công tử Hoa gật đầu, quay người bước đi.

Vì phía tây Hàm Đan là hai dãy núi Đại Hình và Vương Ốc kéo dài bất tuyệt, đường núi hiểm trở, nên Giả Xá Nhân và Trương Nghi quyết định sẽ đi xuống phía nam, qua đất Ngụy, Hàn, qua Triều Ca, đến cửa Túc Tư, sau đó men theo Hà Thuỷ đến Lạc Dương, tiếp tục qua Hào Quan, Hàm Cốc để vào Tần.

Giả Xá Nhân đánh xe tứ mã, mua một lượng lớn đặc sản nước Triệu, Yên, phần lớn là những loại thuốc quý, như xạ hương, sâm nhung, đựng đầy hai hòm đặt dưới gầm xe, chở theo Trương Nghi, Hương Nữ, thong thả rời khỏi Hàm Đan, tiến tới Triều Ca.

Đúng hai ngày sau khi Giả Xá Nhân khởi hành, sứ đoàn sang Triệu của Sư Lý Tật cũng rầm rập hồi triều, cũng đi theo con đường phía nam. Đi được mấy ngày, đã đuổi kịp họ. Giả Xá Nhân thấy là Sư Lý Tật, liền giả bộ không biết, cho xe ngựa dạt vào bên lề nhường đường. Từ sau lúc đó, hai bên lúc thì bên này đi trước, lúc lại bên kia đi trước, mặc dù suốt dọc đường không nói lời nào, nhưng cũng là đồng hành, có khi còn ở chung quán trọ.

Hơn ba mươi ngày sau, hai đoàn người ngựa một trước một sau lại về đến Hàm Dương vào cùng một ngày.

Sư Lý Tật tiến thẳng vào cung Tần, yết kiến Huệ Văn Công, kể lại tỉ mỉ toàn bộ câu chuyện Tô Tần đã bày kế làm nhục Trương Nghi thế nào, cũng như sau khi Trương Nghi đi rồi đã đau khổ ra sao cho Huệ Văn Công nghe.

Huệ Văn Công nghe xong, thở dài mà nói: “Than ôi, quả nhân chỉ vì một ý nghĩ sai lầm, đã để mất Tô Tần. Mặc dù có được Trương Nghi, nhưng cũng không thể vui vẻ!”

“Chúa thượng,” Sư Lý Tật vội nói, “theo như lời tiến cử của Tô Tử, tài của Trương Nghi không hề thua kém tài của Tô Tử!”

Huệ Văn Công cười buồn một tiếng: “Lời nói khiêm nhường của Tô Tử mà khanh cũng tin ư?”

Sư Lý Tật vội biện minh: “Chúa thượng, vi thần cho rằng, tài của Trương Nghi quả thực đúng như lời Tô Tử. Chuyện khác không nói, chỉ riêng việc giúp Sở chiếm Việt, đã có thể thấy được phần nào. Nước Việt suốt trăm năm không hề khởi sắc, chỉ đến thời Vô Cương trị vì mới trở nên cường thịnh, chiêu mộ được lắm hiền tài, mưu đồ chiếm đánh Trung Nguyên. Trương Nghi đến Sở chưa đầy hai năm, chỉ một trận đã giúp Sở Vương diệt Việt, sự nghiệp lẫy lừng nhường này, quả là xưa nay chưa từng thấy!”

“Ái khanh không cần nói nữa!” Huệ Văn Công phẩy tay, sỗ sàng ngắt lời. “Nếu người này có đại tài, sẽ không bị hãm hại ở Sở, làm nhục ở Triệu. Từ đó mà thấy, hắn ở Sở không bằng Trần Chẩn; ở Triệu không bằng Tô Tần!”

Sư Lý Tật bị mấy lời của Huệ Văn Công chặn họng, cứng lưỡi không biết nói gì, ngẩn ra một lúc mới định thần lại, bèn quỳ xuống khấu lạy: “Chúa thượng, chuyện đã qua không thể vãn hồi. Ta đã không có được Tô Tử, không thể lại để mất Trương Tử!”

“Được rồi được rồi, quả nhân biết rồi!” Huệ Văn Công liếc xéo Sư Lý Tật, giọng nói có phần bực bội. “Khanh cũng đứng dậy đi! Lần này đi sứ nước Triệu mấy tháng, ái khanh cũng đã vất vả nhiều, mau trở về nghỉ ngơi tĩnh dưỡng mấy hôm rồi hãy lên triều!”

Sư Lý Tật hết cách, đành phải cáo lui.

Thấy Sư Lý Tật đã đi khỏi, Huệ Văn Công khẽ đặng hắng một tiếng, nội thần lập tức xuất hiện, khom lưng đứng hầu một bên. Huệ Văn Công cũng chẳng thèm ngẩng đầu, nhắm mắt căn dặn: “Nếu Giả tiên sinh đến, phải lập tức bẩm báo cho ta!”

Nội thần vâng lệnh, lập tức lui ra.

Giả Xá Nhân chở vợ chồng Trương Nghi đến phố Sĩ Tử, dừng lại trước quán trọ mà Tô Tần đã từng ở năm xưa.

Từ sau khi Tô Tần bỏ đi, Sư Lý Tật phụng chỉ chỉnh đốn lại phố Sĩ Tử, tịch thu toàn bộ tài sản của ông chủ khách sạn Vận Lai, đày đi Thương Quận. Trúc Viễn cũng trở về núi Chung Nam, Luận Chính đàn tại Anh Hùng cư không còn mở lại nữa, việc kinh doanh ở phố Sĩ Tử ảm đạm trông thấy. Khách sạn Vận Lai đã mấy lần đổi chủ, chủ mới từng là lính Tần, trong trận chiến Hà Tây bị chặt đứt một cánh tay, sau đó đã dùng toàn bộ số tiền phủ tuất để mua lại quán trọ này.

Hầu như không có một chút đắn đo, Trương Nghi vừa nhìn đã lập tức chọn đúng khu phòng mà Tô Tần từng ở. Giả Xá Nhân âm thầm cảm thán, rồi cũng chọn cho mình một phòng, đặt cọc cả tiền phòng cho Trương Nghi. Trương Nghi bảo tiểu nhị chuẩn bị nước nóng, đóng chặt cửa, để Hương Nữ ở lại trong phòng tắm rửa, còn mình và Giả Xá Nhân cùng đến tiền sảnh, gọi tiểu nhị dọn cơm rượu, đang định uống một trận thoả thích, bỗng thấy một cỗ xe kiệu dừng lại trước cửa, vào tìm Xá Nhân.

Xá Nhân đi ra, một lát sau thì vội vã quay vào, cười nhăn nhó với Trương Nghi, vòng tay than thở: “Than ôi, công việc làm ăn thật là phiền phức. Tại hạ phải ra ngoài một lát, thực lòng tạ lỗi với Trương Tử!”

Trương Nghi cười cười, vòng tay nói: “Giả huynh cứ đi làm việc, tạm thời hãy để cơm rượu lại đây, đợi Giả huynh quay về, hai ta cùng uống cũng không muộn!”

Giả Xá Nhân từ biệt xong, liền lên xe của người vừa đến, lộc cộc rời đi. Trương Nghi ngồi ngẩn ngơ một hồi, bảo tiểu nhị dọn dẹp đồ ăn, sau đó trở về phòng.

Hương Nữ đã tắm xong, đang đứng chải đầu trước gương, thấy Trương Nghi quay về liền cười hỏi: “Giả tiên sinh đâu rồi?”

“Đi rồi!” Trương Nghi trả lời cộc lốc, rồi ngồi xuống, khẽ nhắm mắt lại.

Hương Nữ thoáng ngẫm nghĩ một lát, rồi hỏi nhỏ: “Hẳn không phải Giả tiên sinh lại bỏ rơi chúng ta đấy chứ?”

Trương Nghi ngồi im lặng không đáp.

Hương Nữ liếc xéo một cái, đang định hỏi tiếp, bỗng có tiếng ngựa hí vang ở phía sân sau. Hương Nữ nhận ra là ngựa của Giả Xá Nhân, liền phì cười: “Thiếp đã nghĩ đi đâu thế này? Xe ngựa của tiên sinh vẫn còn ở sân sau kia mà!”

Giả Xá Nhân cả đêm không về, mãi tới sáng sớm hôm sau mới quay lại, trên người còn sặc mùi rượu, vừa gặp mặt đã ôm quyền than thở: “Than ôi, Trương Tử, tại hạ thật có lỗi! Tối qua đi gặp một thương gia lớn ở Quan Trung, ông ta nhất quyết giữ tại hạ lại uống rượu, tại hạ đã quá chén nên không thể quay về!”

Trương Nghi khẽ cười, ôm quyền đáp lễ: “Giả huynh được tận hứng, tại hạ cũng thấy vui lây.”

Giả Xá Nhân cười vang mà nói: “Không giấu Trương Tử, lần uống rượu này kể cũng không uổng phí. Vị thương gia đó thông thuộc vùng núi Chung Nam, nếu tại hạ muốn kiếm hàng đặc biệt, không có ông ấy thì không được! Thật trùng hợp, hôm nay ông ta lên núi, tại hạ muốn đi cùng ông ta một chuyến!” Nói đoạn, lấy từ trong tay áo ra một chiếc túi, quay sang Hương Nữ. “Đây là ba mươi lượng vàng, phu nhân hãy tạm cầm lấy. Lần này tại hạ lên núi, không biết khi nào mới quay về, phu nhân không thể không có tiền trong tay được!”

Hương Nữ thoáng ngần ngừ, đưa mắt nhìn Trương Nghi, rồi ôm quyền đa tạ: “Lần này đến Tần, dọc đường đi đều do tiên sinh lo liệu hết chi phí, nhiều tiền thế này, chúng tôi làm sao dám nhận?”

Giả Xá Nhân không nói gì thêm, cứ thế ấn túi tiền vào tay Hương Nữ, cười nói: “Phu nhân không cầm tiền, lẽ nào lại muốn bán kiếm?”

Hương Nữ đỏ mặt, nhận lấy túi tiền, lại vòng tay đa tạ.

Giả Xá Nhân chỉ vào cỗ xe ở sân sau, nói với Trương Nghi: “Trên núi không có đường lớn, cỗ xe ngựa này tạm thời để lại cho Trương Tử. Nếu hai vị buồn, có thể đi chơi đây đó cho khuây khoả.”

Trương Nghi đa tạ, Giả Xá Nhân quyến luyến từ biệt hai người, sau đó sải bước ra đi.

Mấy hôm sau, Trương Nghi ngày nào cũng ngồi một mình trong phòng, hai mắt thẫn thờ nhìn sững vào cây hoè già trong sân. Đương nhiên, Trương Nghi không biết cây hoè già này đã từng là nơi Ngô Tần treo cổ, càng không thể biết năm xưa Tô Tần cũng từng ở đây, cũng từng ngồi lặng nhìn cây hoè như hắn hiện giờ.

Hương Nữ bắt đầu lo lắng. Lúc trước, cho dù là ở Việt hay ở Sở, Trương Nghi người chưa đến nơi, toàn bộ kế sách đã tính toán vẹn toàn, vừa đặt chân tới, đã lập tức bắt tay vào hành động, không tìm người này thì tìm người khác, bận rộn luôn tay luôn chân. Lần này đến Tần, Hương Nữ lại cảm thấy Trương Nghi giống như biến thành một người khác hẳn, không những lầm lì bất động, tâm trạng cũng vô cùng u uất, cho dù cười cũng chỉ là miễn cưỡng, chứ không hề xuất phát từ tận đáy lòng.

Hương Nữ biết Trương Nghi thực lòng không muốn đến Tần, nhưng lại không hiểu rõ lý do, vì Trương Nghi chưa bao giờ hé lộ về chuyện gia đình. Lúc này, thấy Trương Nghi buồn bực âu sầu, Hương Nữ muốn khuyên mấy câu, nhưng lại không biết nên khuyên thế nào. Bỗng nảy ra một ý, liền bật cười mà nói: “Phu quân, lúc sáng Hương Nữ nằm mơ, mơ thấy một cuộc kỳ ngộ. Hương Nữ nghĩ đi nghĩ lại, chúng ta từ sáng đến tối chỉ ở trong căn phòng này, thì lấy đâu ra kỳ ngộ đây?”

Trương Nghi ngẩng đầu lên liếc nhìn Hương Nữ một cái, rồi đứng dậy đi ra khỏi phòng tìm tiểu nhị, bảo gã chuẩn bị xe, lại bảo chủ quán tính tiền thuê phòng, rồi gọi Hương Nữ ra trả tiền.

Hương Nữ kinh ngạc hỏi: “Phu quân, tối nay không trở về ư?”

Trương Nghi đáp: “Chẳng phải nàng mơ thấy một cuộc kỳ ngộ hay sao? Giờ ta sẽ đưa nàng đi tìm.”

Hương Nữ không thể đoán được Trương Nghi đang có tính toán gì, nhưng nàng biết, một khi Trương Nghi quyết định, ắt đã suy nghĩ kỹ càng, vì vậy không nói một lời, lẳng lặng trả tiền phòng. Thấy tiểu nhị đã đóng xe ngựa xong xuôi, liền bước lên xe.

Trương Nghi tự tay đánh xe, đi thẳng ra cổng thành đông. Sau khi ra khỏi thành, Trương Nghi quất ngựa phi nhanh, phóng thẳng về phía Lạc Thuỷ.

Sư Lý Tật hay tin vợ chồng Trương Nghi đã xuất thành, cho rằng họ ra ngoài thành để giải khuây nên cũng chẳng để tâm. Đến khi được biết hai người đã trả hết tiền phòng, Sư Lý Tật mới cuống lên, một mặt phái người đuổi theo, nếu cần thiết phải thông báo cho biên ải, tìm cớ ngăn họ lại; một mặt cấp tốc vào cung bẩm báo Tần Công.

Huệ Văn Công nghe Sư Lý Tật bẩm báo xong, chỉ cười nhạt, rồi quay sang nói với nội thần: “Ngươi hãy thông báo cho biên ải, không được ngăn cản hắn. Người này muốn đi đâu thì cứ để hắn đi!”

Nội thần vâng lệnh, quay người đi ngay.

“Chúa thượng?” Sư Lý Tật trợn mắt kinh ngạc.

“Khanh lo lắng đến thế ư?” Huệ Văn Công nhìn bộ dạng hốt hoảng của Sư Lý Tật, phì cười. “Ái khanh yên tâm, quả nhân đảm bảo, bảo bối này của khanh sẽ không rời khỏi Tần nửa bước!”

Thấy Tần Công khẳng định chắc chắn, Sư Lý Tật lại càng khó hiểu: “Tại sao?”

“Vì hắn đã chẳng còn nơi nào để đi nữa!” Huệ Văn Công nói xong, liền lấy bàn cờ ra, chậm rãi bày lên bàn. “Nào, quân thần chúng ta đã lâu không đánh cờ rồi!”

Sư Lý Tật chẳng còn lòng dạ nào mà đánh cờ, nhưng cũng không dám kháng chỉ, đành phải miễn cưỡng ứng chiến, kết quả là trong một canh giờ đã thua liền hai ván. Dường như Huệ Văn Công hứng thú đang lên, nhất quyết không chịu dừng, Sư Lý Tật đành phải tiếp tục bày ván mới.

Đang đánh giữa chừng, có nội thần vào bẩm báo: “Thám mã trở về, quả nhiên không nằm ngoài dự đoán của chúa thượng, vợ chồng Trương Nghi không đến ải Hàm Cốc, mà đi về hướng Lạc Thuỷ, có lẽ muốn đến Thiếu Lương!”

Nghe thấy hai chữ “Thiếu Lương”, Sư Lý Tật đột nhiên bừng tỉnh, buột miệng kêu lên: “Hắn đến Trương Ấp, để... tế tổ!”

“Người dù đã đến, nhưng lòng chưa phục!” Huệ Văn Công cười vang mà nói. “Không để hắn trở về thăm nhà, sao có thể được? Này, Sư Lý ái khanh, ván này hãy tập trung vào. Nếu lại thua nữa, xem quả nhân sẽ phạt khanh ra sao?”

Sư Lý Tật gật đầu thán phục, hai mắt chăm chú nhìn vào bàn cờ, một lúc sau, thì tự tin nói: “Chúa thượng, lần này vi thần thắng chắc rồi!” Đoạn lấy một quân cờ, đặt xuống bàn đánh “cạch”.

“Là quả nhân thắng chắc mới đúng!” Huệ Văn Công cũng lấy ra một quân, vê vê trong tay, nhìn Sư Lý Tật cười lớn. “Tuy nhiên, nếu quả nhân muốn thắng trọn vẹn, còn cần phải nhờ ái khanh trợ giúp, diễn một màn kịch nhỏ!”

“Kịch nhỏ?” Sư Lý Tật ngạc nhiên. “Kịch gì?”

Huệ Văn Công đặt mạnh quân cờ xuống bàn, cười lớn: “Đừng sốt ruột, đi đến nước đó, khanh sẽ tự biết!”

Vợ chồng Trương Nghi ngày đi đêm nghỉ, ngựa phóng như bay, sang ngày thứ ba đã đến địa giới Thiếu Lương. Suốt dọc đường đi, Trương Nghi hầu như chẳng nói câu nào.

Càng tới gần Trương Ấp, tâm trạng của Trương Nghi càng thêm u uất nặng nề, xe đi cũng dần chậm lại. Hương Nữ không hỏi nhiều, chỉ lẳng lặng ngồi trên xe, nhìn Trương Nghi với ánh mắt tha thiết quan hoài.

Cuối cùng, cũng đã đến Trương Ấp.

Nghĩ đến mình từ lâu đã chẳng còn chỗ đặt chân trong ấp, Trương Nghi dừng ngựa thở dài, rồi đánh xe ra phía đồng hoang, tiến thẳng tới chỗ đặt phần mộ tổ tiên.

Trương Nghi dừng xe dưới chân một con dốc cao, mắt nhìn Hương Nữ chăm chăm, trịnh trọng nói: “Phu nhân, chúng ta đến rồi!”

Từ khi thành hôn đến nay, đây là lần đầu tiên Trương Nghi gọi nàng là phu nhân một cách trịnh trọng đến vậy.

Hương Nữ thoạt tiên sững người, sau đó nước mắt ứa ra, trong lòng cảm động, bước lại gần, nhìn theo ánh mắt của Trương Nghi, gật đầu gọi: “Phu quân...”

Trương Nghi chỉ về con dốc cao phía trước: “Phu nhân, có biết đó là chỗ nào không?”

Dường như Hương Nữ cũng đã hiểu ra, gật đầu nói: “Là nhà của chúng ta!”

Nghe thấy lời này, Trương Nghi nước mắt ứa ra ròng ròng, nghẹn ngào nói: “Phu nhân nói đúng lắm, là nhà của chúng ta!” Rồi nắm lấy tay nàng. “Đi thôi, chúng ta về nhà!”

Hai người dắt tay nhau, từng bước leo lên dốc.

Trên con dốc cỏ mọc xanh rì.

Đi đến trước khu mộ. Trương Nghi thình lình buông tay Hương Nữ ra, ánh mắt hoang mang nhìn khắp xung quanh, vì toàn bộ khu mộ đã được tu sửa tinh tươm, xung quanh còn đắp một dãy tường bao bằng đất, bên trong trồng rất nhiều tùng bách, còn có vài trăm chậu hoa cúc sắp xếp thẳng hàng, hoa nở rực rỡ trong gió lạnh, thoạt nhìn cứ ngỡ là một vườn cúc lớn.

Càng khiến Trương Nghi kinh ngạc hơn nữa là trước mỗi ngôi mộ đều có một tấm bia đá cao hơn đầu người, trước mỗi tấm bia đều có bàn cúng được tạc từ đá tảng, trên mỗi bàn cúng bày đủ loại đồ cúng và hoa tươi.

Sững sờ hồi lâu, Trương Nghi đột nhiên sực nghĩ, lẽ nào phần mộ tổ tiên của mình cũng bị người Tần chiếm mất, thì bàng hoàng chết điếng, lập tức cắm đầu chạy thục mạng về phía phần mộ hợp táng cha mẹ, mở to mắt đọc bia đá, thấy trên bia vẫn khắc tên cha mẹ mình. Trương Nghi lại chạy sang đọc những tấm bia khác, tấm bia nào cũng khắc chính xác họ tên, ngay cả bia của Trương bá cũng khắc không sai một chữ.

Trương Nghi rất đỗi bàng hoàng, đứng sững hồi lâu, không những quên cả việc cúng tế, mà còn quên bẵng cả Hương Nữ.

Vẫn là Hương Nữ hiểu ra trước, từ từ bước tới bên cạnh Trương Nghi, quỳ xuống trước phần mộ cha mẹ hắn, mắt lệ rưng rưng, hành đại lễ khấu bái. Trương Nghi thấy vậy, mới định thần trở lại, quỳ xuống bên cạnh Hương Nữ, cùng nhau bái lạy.

Bái xong, Trương Nghi nghẹn ngào nói: “Cha, mẹ, Nghi Nhi bất hiếu, phiêu bạt bao năm, nay lại tay trắng trở về, không thể làm rạng danh tổ tông, khiến cha mẹ mở mày mở mặt. Nghi Nhi chỉ có một thành công duy nhất, đó là mang về cho họ Trương một cô con dâu. Mặc dù Nghi Nhi bất tài, nhưng phu nhân lại là người hiền thục. Nay đến bái lạy song thân, xin phụ mẫu trên trời linh thiêng, hãy phù hộ cho nàng được bình an!”

Lúc này Hương Nữ mới hiểu ra, ngôi mộ trước mặt chính là cha mẹ chồng của mình, thì bật khóc mà nói: “Con dâu bất hiếu Công Tôn Yến bái kiến cha, mẹ!” Lại lạy liền mấy lạy, rồi gục đầu xuống đất, khóc lên nức nở.

Trương Nghi cũng khóc theo Hương Nữ một hồi, rồi dẫn nàng đi bái lạy từng phần mộ. Cứ đến trước mỗi mộ, lại kể cho Hương Nữ nghe về người nằm dưới đất. Ngôi mộ cuối cùng là của Trương bá. Trương Nghi kể lại ông đã tận lực vì nhà họ Trương như thế nào, nuôi mình khôn lớn ra sao, rồi khi nhà họ Trương gặp tai hoạ bất ngờ, vẫn không rời bỏ họ, sau lại tự tận theo mẹ mình. Hương Nữ nghe mà nước mắt đầm đìa, lại quỳ xuống trước mộ ông lạy thêm mấy lạy nữa, nghẹn ngào nói: “Phu quân, cuộc đời Trương bá thực giống hệt Kinh thúc!”

“Đúng vậy!” Trương Nghi gật đầu nói. “Trương bá hay Kinh huynh đều là người tốt. Trên đời này luôn có kẻ xấu, nhưng người tốt vẫn nhiều hơn!”

Trương Nghi đang lúc cảm động, bỗng nghe thấy tiếng bước chân thậm thịch vọng lại từ dưới chân dốc, dường như có nhiều người đang cùng chạy đến.

Trương Nghi quay đầu lại nhìn, lập tức kinh ngạc đến ngây người, vì người vừa đến chính là Tiểu Thuận và Tiểu Thuý. Phía sau họ là hai đứa trẻ, đứa lớn chừng năm sáu tuổi, đứa nhỏ chừng hai ba tuổi.

Hai bên đều sững sờ mất một lúc lâu, rồi Tiểu Thuận, Tiểu Thuý mới chợt bừng tỉnh, lảo đảo lao lên phía trước, quỳ sụp xuống đất khấu đầu, mừng rỡ đến bật khóc, gọi lớn: “Thiếu gia!”

Hai đứa trẻ cũng chạy đến theo, đứa lớn quỳ xuống, đứa nhỏ không hiểu xảy ra chuyện gì, có lẽ là bởi sợ hãi, nên ngồi phệt xuống đất khóc toáng lên.

Trương Nghi cũng đã định thần trở lại, đưa tay đỡ Tiểu Thuận và Tiểu Thuý dậy: “Thật không ngờ còn gặp lại hai ngươi! Mau mau đứng lên, thiếu gia có chuyện muốn hỏi!”

Hai người liền đứng dậy, Tiểu Thuý bế đứa bé đang khóc lên, vừa dỗ dành, vừa đưa mắt liếc nhìn Hương Nữ.

Trương Nghi vội hỏi Tiểu Thuận: “Hai ngươi... thế này là thế nào? Trở về bao giờ thế?”

“Khởi bẩm thiếu gia,” Tiểu Thuận đáp, “ngày hôm đó... ngày hôm đó sau khi từ biệt, Trương bá đã nhận Tiểu Thuý làm con gái, tác thành cho hôn sự của tiểu nhân và Tiểu Thuý. Tiểu nhân và Tiểu Thuý chẳng còn nơi nào để đi, nên đã đến Hà Đông, ở nhờ nhà cũ của Trương bá. Không lâu trước đây, Ngô thiếu gia đã tìm đến tìm tận nhà, đón chúng tôi trở về.”

“Ngô thiếu gia?” Trương Nghi kinh ngạc. “Ngô thiếu gia nào?”

“Chính là... chính là vị thiếu gia ở Thiếu Lương năm xưa đã đến nhà ta tỷ võ với thiếu gia đấy. Hiện giờ Ngô thiếu gia hiển hách lắm, đã là quan lệnh Thiếu Lương rồi!”

Trương Nghi chỉ tay vào phần mộ: “Đây cũng là do Ngô thiếu gia chăm chút phải không?”

“Đúng vậy!” Tiểu Thuận gật đầu nói. “Ngô thiếu gia không những tu sửa lại toàn bộ phần mộ của nhà chúng ta, mà còn trả lại tất cả nhà cửa, đất đai. Cái tên chiếm đoạt tài sản nhà chúng ta năm đó cũng đã bị Ngô thiếu gia trị tội rồi. Hiện giờ cả nhà tiểu nhân đang ở trong trạch viện trước đây, gìn giữ gia nghiệp cho thiếu gia. Lúc nãy tiểu nhân nghe nói có một cỗ xe ngựa chạy đến đây, có hai người xuống xe, đi đến viếng mộ. Tiểu nhân hỏi qua diện mạo, ngờ ngợ là thiếu gia, nên vội dẫn Tiểu Thuý và hai đứa trẻ đến xem thế nào!”

Cuối cùng Trương Nghi cũng đã hiểu ra, thở phào một tiếng, cười vui mà nói: “Tiểu Thuận, Tiểu Thuý, cả hai đứa bé kia nữa, mau lại đây khấu kiến phu nhân của các ngươi!”

Tiểu Thuận, Tiểu Thuý vội kéo hai đứa trẻ cùng quỳ xuống đất khấu kiến Hương Nữ. Hương Nữ mặt ửng hồng, vội vàng đỡ họ dậy. Cả nhà cười cười nói nói cùng đi xuống dốc, trở về nhà.

Tiểu Thuận sai người hầu mổ lợn thịt dê, cả nhà vui vẻ tưng bừng như ăn tết. Đến khi trời tối, Tiểu Thuý đã chuẩn bị phòng ngủ tươm tất cho họ, Trương Nghi giống như tân hôn, dắt tay Hương Nữ đi vào trong phòng mới.

Lưu lạc bao năm, đây là lần đầu tiên Trương Nghi được trở về ngủ tại nhà mình, nằm trên chiếc giường mình vẫn nằm từ bé đến lớn. Đêm đó, Trương Nghi thấy thư thái chưa từng có, ngủ say như chết, ngáy pho pho tiếng này nối tiếng kia như sấm động bên trời, khiến Hương Nữ trằn trọc không yên, cuối cùng đành phải ngồi ra mép giường, nhìn Trương Nghi thoải mái dang tay dang chân mà ngủ, gần như chiếm hết cả mặt giường lớn.

Đúng thế, đây là nhà của hắn, là nơi hắn đã sinh ra và lớn lên. Chăm chút cho hắn bây giờ chính là Tiểu Thuận, người đã cùng hắn chơi đùa từ nhỏ, cùng hắn khôn lớn, với hắn một mực trung thành, phục tùng tuyệt đối.

Sáng sớm hôm sau, sau khi thức dậy, Trương Nghi dùng cơm xong, dặn Tiểu Thuận: “Chuẩn bị xe, cùng thiếu gia đến Thiếu Lương một chuyến!”

Tiểu Thuận chỉ tay ra cổng: “Tiểu nhân đã chuẩn bị xe xong rồi, mời thiếu gia!”

Trương Nghi bước ra cổng, quả nhiên thấy cỗ xe tứ mã đã đỗ sẵn ở đó. Càng khiến Trương Nghi hài lòng hơn nữa, đó là Tiểu Thuận đã tìm lại được trục đá lăn lúa mà năm xưa Ngô thiếu gia đã dùng để tỷ thí với Trương Nghi, đặt nó sừng sững giữa sân.

Trương Nghi nhìn trục đá, rất đỗi vui mừng, bước lại gần, xắn tay áo lên, hai tay nắm chặt lấy hai đầu trục đá, hét lên như sấm: “Lên!” Trục lăn lúa lập tức bị Trương Nghi nhấc bổng lên vai. Trong tiếng vỗ tay reo hò của mọi người, Trương Nghi vác theo trục lăn lúa đi quanh xe một vòng, rồi nhẹ nhàng đặt lên xe, phủi hai tay, cười nói với Tiểu Thuận: “Này tiểu tử, vẫn là ngươi suy nghĩ chu đáo!”

Tiểu Thuận cười hì hì nói: “Tâm tư của thiếu gia, tiểu nhân đã biết tỏng từ lâu!”

“Được rồi được rồi! Đi tìm mấy người đến đây!”

“Vâng!” Tiểu Thuận nói xong, liền quay vào trong sân vỗ tay, mười mấy thanh niên trai tráng nhanh nhẹn chạy ra từ nhà chái, đứng xếp thành hàng ngay ngắn trước mặt Trương Nghi, khom lưng đợi lệnh.

Trương Nghi nhìn họ một lượt, gật đầu ra chiều hài lòng, nói lớn: “Đi, đi tìm tên tiểu tử đó tỷ thí!”

Những hành động kỳ quặc của Trương Nghi và Tiểu Thuận khiến Hương Nữ ngơ ngác chẳng hiểu gì, liền kéo Tiểu Thuý ra hỏi: “Thuý Nhi, họ muốn làm gì vậy?”

Tiểu Thuý nhìn họ cười nói: “Phu nhân yên tâm, họ đang đùa đấy thôi.”

“Đùa?” Hương Nữ càng thêm khó hiểu, mở to mắt nhìn Tiểu Thuý.

“Đều là những chuyện lâu lắm rồi!” Tiểu Thuý mỉm cười, quay sang Hương Nữ. “Nếu như thiếu phu nhân muốn nghe, nô tỳ sẽ kể cho!”

Đương nhiên Hương Nữ rất muốn nghe chuyện ngày trước của Trương Nghi, vội giục: “Mau kể đi!”

Tiểu Thuý liền kéo Hương Nữ ra hậu hoa viên, kể cho nàng nghe những chuyện cũ của Trương Nghi. Ngoài cổng, Tiểu Thuận đã đặt xong ghế kê chân, Trương Nghi bèn bước lên xe, Tiểu Thuận ra roi quất ngựa, mười mấy trai tráng rầm rập chạy bộ theo sau, cả đoàn thanh thế tưng bừng, tiến thẳng tới Thiếu Lương.

Sớm đã có người báo cho phủ Thiếu Lương, Ngô Thanh đích thân dẫn người trong phủ ra ngoài cổng thành mấy dặm, vừa thấy khí thế hừng hực của Trương Nghi, lại nhìn thấy trục lăn lúa đặt ở sau xe, liền phá lên cười sảng khoái: “Này Trương sĩ tử, chuyện từ đời nảo đời nào rồi mà vẫn còn nhớ thế ư?”

Trương Nghi vòng tay nói: “Chuyện năm xưa, là do tại hạ thất hẹn! Hôm nay tại hạ đến, một là để tạ lỗi với Ngô đại nhân, khẩn cầu Ngô đại nhân trách phạt; hai là muốn thực hiện lời giao ước, mong Ngô đại nhân chỉ giáo!”

Ngô Thanh vòng tay đáp lễ, cười nói: “Được! Được lắm! Trương Tử đã đến tận cửa khiêu chiến, tại hạ nhất định sẽ ứng chiến! Có điều...” vờ đưa mắt nhìn quanh, hạ thấp giọng thì thào, “chỗ này không phải đất dụng võ, mời Trương Tử hãy cùng tại hạ vào trong phủ, ăn uống no say rồi, tại hạ sẽ tìm một nơi phong thuỷ tốt đẹp, cùng phân thắng bại với Trương Tử!”

Trương Nghi cũng cười, vòng tay mà nói: “Làm khách thì phải theo chủ, tại hạ nhất nhất nghe theo sự sắp đặt của đại nhân!”

Hai người dắt tay nhau lên cùng một xe, trở về phủ Thiếu Lương, cùng kể lại những việc đã gặp phải sau khi từ biệt.

Ngô Thanh lần lượt thuật lại đầu đuôi mọi chuyện, từ trận chiến Hà Tây thảm khốc ra sao, dân Ngụy ở Hà Tây khốn đốn thế nào, rồi chuyện mình phất cờ phản kháng, chuyện Tần Công quyết đoán, trị lý Hà Tây tốt đẹp, cuối cùng thở dài mà nói: “Than ôi, tại hạ đi đến bước đó, vốn dĩ đã là tự cắt đứt đường sống, chỉ nghĩ rằng có chết cũng chết cho thống khoái. Nào ngờ chúa thượng lại đặc xá cho tại hạ, không những không truy cứu chuyện cũ, lại còn trả lại toàn bộ tài sản ruộng vườn, phong tại hạ làm quân uý Thiếu Lương, về sau lại nhiều lần thăng tiến. Hàng ngàn thuộc hạ cũng đều được xá tội, đối đãi giống hệt dân Tần!” Lại thở dài một tiếng. “Than ôi, nói thực, lúc đầu tại hạ cũng khăng khăng sĩ diện, không chịu làm quan, vì thấy có lỗi với Ngụy. Nhưng sau đã nghĩ thông suốt, chúng ta là thần dân, cho dù là ai làm chủ, thì thần dân mãi mãi vẫn là thần dân. Ai để cho chúng ta sống, chúng ta sẽ bán mạng cho người đó. Còn về việc thiên hạ là của ai, điều này chẳng liên quan gì đến chúng ta. Hơn nữa, ngay một bậc đại tài như Công Tôn tướng quân cũng đã sang Tần, chúng ta có lý gì mà cứ khư khư ôm sĩ diện?”

“Ngô huynh nói rất phải!” Trương Nghi gật đầu đáp. “Tại hạ luôn nghĩ Tần tàn bạo, coi như kẻ thù, lần này đến Tần, được nghe tận tai thấy tận mắt mới biết được sự thật. Hôm nay tại hạ đến đây, còn có chuyện khác muốn nhờ cậy Ngô huynh!”

“Trương huynh có chuyện gì xin cứ nói.”

“Gia sản của nhà tại hạ được trả lại từ bao giờ vậy?”

Ngô Thanh nhắm mắt ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp: “Trương huynh đã hỏi, vậy tại hạ cũng sẽ nói thực. Năm đó Tần Công ban chiếu đại xá dân Ngụy, trả lại một nửa tài sản cho dân Ngụy. Song tên quan đại phu chiếm đoạt tài sản của nhà huynh lại lấy cớ nhà Trương huynh không còn người mà từ chối không trả lại. Hai tháng trước, không hiểu tại sao Tần Công lại cho người khẩn cấp chuyển chiếu thư đến tại hạ, lệnh cho tại hạ nhanh chóng trả nốt nửa phần gia sản còn lại cho nhà Trương huynh, tu sửa mộ phần, gia miếu. Tại hạ điều tra mới biết sự việc tên quan đại phu kia ngang ngược chiếm đoạt, nên đã tấu lên chúa thượng. Chúa thượng vô cùng giận dữ, lập tức hạ lệnh cách hết chức tước, y theo Tần pháp xử chém ngang, toàn bộ gia tộc đều bị sung làm nô lệ. Không giấu Trương huynh, những việc tại hạ làm, chẳng qua chỉ là phụng chiếu mà thôi!”

Trương Nghi đột nhiên bừng tỉnh: “Thì ra là như vậy!”

“Như vậy là thế nào?” Ngô Thanh ngẩn người hỏi lại.

“Không giấu Ngô huynh,” Trương Nghi khẽ mỉm cười, vòng tay nói, “lần này tại hạ trở về, một là để thăm nhà, hai là muốn yết kiến Tần Công. Có điều... tại chẳng quen biết ai trong cung Tần, không có người tiến cử, không biết Ngô huynh có chịu giúp hay không?”

Ngô Thanh lập tức khảng khái đáp lời: “Đương nhiên là được!” Rồi hạ thấp giọng. “Xem tình hình này, chúa thượng có vẻ rất coi trọng Trương huynh. Với tài của Trương huynh, nếu gặp Tần Công, chắc chắn sẽ được trọng dụng...”

Trương Nghi lại vòng tay: “Tại hạ xin đa tạ!”

Trương Nghi ở lại Trương Ấp ba ngày, sau đó cùng Ngô Thanh quay về Hàm Dương, vào cung yết kiến.

Huệ Văn Công hay tin Trương Nghi đến, liền triệu vào ngự thư phòng gặp mặt. Nghe thấy tiếng bước chân, Huệ Văn Công bèn ra tận ngoài cửa, bước xuống bậc thềm nghênh đón. Trương Nghi, Ngô Thanh lập tức quỳ xuống khấu đầu, Huệ Văn Công cũng không nói lời nào, mỗi tay đỡ một người dậy, cười lớn rồi dắt tay hai người bước lên bậc thềm, tiến vào phòng khách.

Huệ Văn Công ngồi xuống chỗ, quay đầu nhìn thấy Trương Nghi, Ngô Thanh lại chuẩn bị bái lạy, liền cười mà chỉ vào chỗ ngồi ở hai bên: “Ngồi, ngồi đi! Chẳng phải ở ngoài cửa đã khấu lạy rồi sao?”

Trương Nghi, Ngô Thanh đưa mắt nhìn nhau, thấy Huệ Văn Công thân mật đến vậy, cũng cười rồi ngồi vào chỗ.

Huệ Văn Công thấy họ đã an toạ, bèn đưa mắt hết nhìn người này, lại nhìn người kia, lát sau liền cười lớn mà nói: “Quả nhân đã nghe chuyện hai vị đây tỷ thí. Thế nào, đã phân định thắng thua hay chưa?”

Hai người đều bật cười. Ngô Thanh vòng tay nói: “Khởi bẩm chúa thượng, đó là chuyện của tám năm về trước, thắng thua đã được phân định từ lâu!”

“Ồ?” Huệ Văn Công tỏ ra hào hứng. “Vậy hai vị ai thua ai thắng?”

Ngô Thanh cười: “Vốn là Trương Tử thắng, có điều vi thần đã giở mánh lới, miễn cưỡng thủ hoà, nhưng sự thực thì đã thua!”

“Nhưng quả nhân nghe nói,” Huệ Văn Công mỉm cười nhìn hai người, “là Trương Tử thắng ván đầu tiên, ván thứ hai hoà, ván thứ ba thì ái khanh thắng, cớ sao ái khanh lại tự nhận thua?”

Ngô Thanh lại cười: “Ba lần tỷ thí đều là do vi thần ra đề, chưa nói tới việc đã chiếm được tiên cơ, đến màn tỷ thí thứ ba là nâng trục đá, lại là ngón mà vi thần đã luyện suốt tám năm, bởi vậy thắng mà không thuyết phục, nên mới nhận thua.”

“Ồ?” Huệ Văn Công vẫn hỏi gặng đến cùng. “Nếu đã là vậy, tại sao ái khanh không nhận thua ngay lúc đó?”

Ngô Thanh cười ngượng nghịu. “Năm đó vi thần tuổi trẻ khí thịnh, lại ưa sĩ diện, nên mới không chịu nhận thua!”

Huệ Văn Công cười vang, chỉ tay vào Ngô Thanh nói: “Hỡi ôi Ngô Thanh, cuối cùng thì cũng đã chịu nói ra lời thực lòng!” Đoạn thu lại nét cười, liếc nhìn Trương Nghi một cái, rồi lại gật đầu nói với Ngô Thanh, “ừm, ái khanh cũng chẳng có gì sai, trên đấu trường tuyệt đối không được nhận sai! Còn về giở mánh lới xảo quyệt, đôi khi cũng là cần thiết. Năm xưa quả nhân thích chọi dế, đánh trận nào thắng trận đấy, ngoài thực lực ra, bên trong vẫn còn rất nhiều tiểu xảo!”

Nói đến đây, dường như Huệ Văn Công lại nhớ đến chuyện năm xưa, không nhịn được mà cười ngặt nghẽo một hồi. Cười xong, bèn tiện miệng kể về chuyện ngày trước mình đã giở các chiêu gian kế xảo thế nào để thủ thắng trong trò chọi dế. Người kể thì mặt mày hớn hở, lời lẽ sinh động, kẻ nghe thì hai mắt trợn trừng, không dám tin những chuyện này lại do quân chủ của một nước làm ra.

Hơn nửa canh giờ trôi qua, Huệ Văn Công vẫn thao thao bất tuyệt với Ngô Thanh về những trò vui tuổi trẻ, dường như đã quên bẵng mất là đang triệu kiến Trương Nghi, thậm chí hoàn toàn không chú ý đến sự tồn tại của Trương Nghi đã sốt ruột một hồi lâu, Huệ Văn Công không hề nhìn sang hắn, chỉ thao thao bất tuyệt với Ngô Thanh.

Trương Nghi mỗi lúc càng thêm hoang mang khó hiểu. Lần này yết kiến, Trương Nghi đã chuẩn bị sẵn một số kế sách, như phân tích về đại thế thiên hạ, ứng phó với sách lược hợp tung của Tô Tần, tăng cường quốc lực cho Tần... Tuy nhiên, lúc này, Huệ Văn Công lại cứ hào hứng kể lể mãi về những trò chơi trẻ nít, khiến Trương Nghi rất đỗi nghi ngại. May mà khi còn trong Quỷ Cốc, Trương Nghi đã luyện được định lực hơn người, cho dù trống ngực thùm thùm, nhưng mặt không hề đổi sắc, vẫn hai mắt khép hờ, ngồi ngay ngắn trên chiếu làm như không hề có chuyện gì xảy ra, tập trung lắng nghe những lời cười nói của hai người.

Huệ Văn Công đang lúc nói hăng, nội thần liền vào bẩm báo có thượng đại phu Sư Lý Tật cầu kiến.

Huệ Văn Công mừng rỡ: “Ồ, là Sư Lý ái khanh, mau tuyên vào yết kiến!”

Sư Lý Tật tiến vào, hành xong đại lễ tam bái, Huệ Văn Công liền chỉ vào Trương Nghi giới thiệu: “Sư Lý ái khanh, khanh đến thật đúng lúc, quả nhân giới thiệu, vị này là Trương Tử, bạn cũ của Ngô ái khanh. Quả nhân đang cùng hai người trò chuyện về những trò chơi thời trẻ, thật là sảng khoái!”

Sư Lý Tật vờ như không biết, quan sát Trương Nghi từ đầu đến chân, ngẫm nghĩ một lúc, rồi gãi đầu gãi tai hỏi: “Xin hỏi Trương Tử, phải chăng mới từ nước Triệu đến Hàm Đan?”

Trương Nghi vòng tay vái mà đáp: “Đúng thế!”

Sư Lý Tật lại săm soi Trương Nghi một lượt, lại hỏi tiếp: “Xin hỏi Trương Tử, phải chăng đã từng đến phủ tướng quốc?”

Trương Nghi biết Sư Lý Tật đang nhắc lại nỗi hổ thẹn ngày hôm đó, mặt hơi đỏ lên, gật đầu nói: “Từng đến!”

Sư Lý Tật chẳng chút đắn đo, lập tức hỏi tiếp: “Khi tại hạ trở về Hàm Đan, người đi cùng suốt dọc đường phải chăng chính là Trương Tử?”

Trương Nghi lại gật đầu: “Đúng vậy!”

Sư Lý Tật tỏ ra mừng rỡ, liên tiếp vòng tay. “Chúng ta thực là hữu duyên!”

“Ồ?” Huệ Văn Công vờ như không hiểu, đưa mắt nhìn Trương Nghi, rồi lại quay sang nhìn Sư Lý Tật. “Hai khanh... quen biết nhau ư?”

“Khởi bẩm chúa thượng,” Sư Lý Tật quay sang Huệ Văn Công, “lần này vi thần đi sứ nước Triệu, đã gặp Trương Tử tại phủ tướng quốc nước Triệu, khi trở về lại đi cùng Trương Tử suốt dọc đường, có điều...” ngập ngừng một lát mới nói tiếp, “Trương Tử đã thay đổi y phục, như biến thành một người khác hẳn, vi thần nhìn thấy quen quen, nhưng lại không chắc chắn, nên không dám mạo muội nhận bừa!”

Huệ Văn Công ra vẻ kinh ngạc, mở to mắt nhìn Trương Nghi: “Ồ, nói như vậy, Trương Tử có biết Tô Tử ư?”

Rõ ràng vở kịch mà Huệ Văn Công và Sư Lý Tật đang diễn là dành riêng cho Trương Nghi xem. Lúc này, Huệ Văn Công cố tình hỏi đến Tô Tần, Trương Nghi lại không muốn nhắc đến, đang cúi đầu nghĩ lời lấp liếm, thì Sư Lý Tật đã giải nguy giúp Trương Nghi: “Khởi bẩm chúa thượng, Trương Tử và Tô Tử không những quen biết nhau, mà còn là huynh đệ đồng môn!”

Huệ Văn Công càng tỏ ra kinh ngạc: “Ồ? Trương Tử và Tô Tử là đồng môn?”

Trương Nghi không còn cách nào né tránh, đành phải miễn cưỡng gật đầu, “vâng” một tiếng.

Huệ Văn Công cười lớn mà nói: “Nói ra cũng thật thú vị. Quả nhân và Tô Tử coi như cũng là chỗ quen biết. Năm trước, Tô Tử đến Hàm Dương, rao giảng đế sách ngay giữa phố, muốn quả nhân nhất thống thiên hạ, quả nhân thấy hắn ngông cuồng nên đã không dùng. Nào ngờ người này ghi hận trong lòng, đã đến các nước Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, đề ra kế sách hợp tung gì đó để đối phó với quả nhân!” Thở dài một tiếng, rồi lại lắc đầu cười gượng. “Than ôi, đệ tử Quỷ Cốc, thật không thể đắc tội!”

Trương Nghi nghe ra ẩn ý trong lời nói, tim bỗng nảy lên một nhịp, đang im lặng nghĩ cách đối đáp, thì Sư Lý Tật lại vòng tay nói tiếp: “Chúa thượng, theo vi thần được biết, Trương Tử khác hẳn Tô Tử!”

“Ồ?” Huệ Văn Công nhìn sang Sư Lý Tật, tò mò hỏi. “Ái khanh mau nói xem, khác như thế nào?”

Sư Lý Tật dõng dạc đáp lời: “Lần này đến Triệu, vi thần đã nhiều lần nghe Tô Tần biện luận, cảm thấy dù người này miệng lưỡi khéo léo, nhưng khó tránh khuếch trương hoang đường, thường dùng lời lẽ văn hoa để lấp liếm chỗ bất cập, phần lớn chỉ là nói suông. Trương Tử dù không phô trương ngôn từ, nhưng lại có thể một lời trúng đích, chú trọng thực tế. Vi thần nghe nói rằng, nước Sở diệt Việt, phần lớn là mưu kế của Trương Tử!”

Cho dù lời Sư Lý Tật không đúng sự thực, nhưng Trương Nghi biết Sư Lý Tật đang tìm cách giải vây giúp mình, mặc dù ngoài mặt không có biểu hiện gì, nhưng trong lòng vô cùng cảm kích.

“Phải, những gì ái khanh vừa nói, quả nhân cũng đã nghe qua!” Huệ Văn Công gật gù, quay sang Trương Nghi, vòng tay nói. “Trương Tử giá lâm nơi hẻo lánh này, quả nhân không thể ra ngoài thành nghênh đón, thật là thất lễ, mong Trương Tử khoan dung!”

Trương Nghi vòng tay nói: “Nghi gặp nạn mà đến, chúa thượng không chê, đó đã là đại ân đối với Nghi. Phần mộ, gia miếu của nhà Nghi, chúa thượng không những không phá bỏ, ngược lại còn hạ chỉ sửa sang, đúng là ân đức trời biển, Nghi có chết vạn lần cũng chẳng đủ báo đáp!”

“Trương Tử quá lời rồi!” Huệ Văn Công cười vang mà nói. “Việc này đâu có gì đáng nói. Nhà Trương Tử ở Hà Tây, chính là con dân của quả nhân. Tổ nghiệp, gia miếu của Trương Tử, quả nhân đương nhiên phải giữ gìn. Lần này Trương Tử trở về, cũng coi như quay về nhà cũ. Trương Tử là bậc đại tài, quả nhân vừa gặp đã nổi lòng tham, có ý mời Trương Tử ở lại phò tá bên tả hữu, sớm tối chỉ giáo quả nhân, mong Trương Tử đừng từ chối!”

Trương Nghi vòng tay nói: “Nghi đã là dân Tần, cũng là con dân của chúa thượng. Chúa thượng có gì sai bảo, Nghi dù phải nhảy vào dầu sôi lửa bỏng, cũng quyết chẳng từ nan!”

Huệ Văn Công nói lớn: “Tốt lắm!” Rồi quay sang nội thần đang đứng hầu bên cạnh. “Soạn chỉ, phong Trương Nghi người Thiếu Lương quận Hà Tây làm hữu thứ trưởng, phò tá quả nhân. Ngoài ra, tặng cho một phủ trong thành Hàm Dương, ba mươi nô bộc, ba trăm lượng vàng, năm mươi súc gấm vóc!”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

Trương Nghi không thể ngờ rằng Huệ Văn Công lại lập tức phong quan cho mình chóng vánh đến vậy, sững sờ mất một hồi lâu mới dập đầu bái tạ: “Vi thần đa tạ long ân của chúa thượng!”

“Ái khanh bình thân!” Huệ Văn Công cười lớn mà nói. “Ái khanh mới đến, đi đường vất vả, giờ hãy về phủ nghỉ ngơi mấy hôm, sau đó quả nhân sẽ lại đến thỉnh giáo!” Rồi quay sang Sư Lý Tật. “Đạo chỉ này sẽ ban cho khanh, nếu như Trương ái khanh không được nghỉ ngơi đàng hoàng, quả nhân sẽ tìm khanh hỏi tội!”

Sư Lý Tật khấu lạy: “Vi thần lĩnh chỉ!”

Hồi Thứ 42

Trấn áp hợp tung, bố cáo đánh Hàn

Mượn sức trâu vàng, mở đường sang Thục

Trương Nghi lại quay về phòng trọ cũ ở khách sạn Vận Lai, phòng trọ của Giả Xá Nhân tạm thời cho Ngô Thanh ở. Sáng hôm sau, Sư Lý Tật dậy từ sớm, dẫn Trương Nghi, Hương Nữ và Ngô Thanh đến kiểm nhận toà phủ trạch mà Huệ Văn Công ban cho.

Mấy cỗ xe ngựa chạy quanh co một hồi, cuối cùng dừng lại trước cổng một toà trạch viện lớn. Mọi người xuống xe, nội thần phụ trách chuyển giao phủ trạch đã đứng đợi sẵn ngoài cổng phủ, vái chào nghênh đón.

Mọi người theo nội thần tiến vào trong phủ, chỉ thấy toà ngang dãy dọc, vườn cảnh non bộ, hoa đẹp cỏ thơm, chẳng thiếu thứ gì. Mức độ xa hoa thậm chí còn vượt qua phủ Chiêu Dương nước Sở, khiến Ngô Thanh nhìn mà hai mắt trợn trừng, ngay cả Hương Nữ cũng bàng hoàng kinh ngạc, miệng xinh há hốc, hít ngược một hơi.

Trương Nghi sững sờ mất một lúc, mới quay sang nhìn Sư Lý Tật: “Sư Lý đại nhân, không đến nhầm chỗ đấy chứ?”

“Phủ này do chúa thượng đích thân lựa chọn, không thể nhầm được!” Sư Lý Tật cười vang mà nói.

“Phủ do chúa thượng đích thân lựa chọn?” Trương Nghi càng thêm kinh ngạc. “Chúa thượng ban thưởng, lẽ nào ngay cả nhà cửa cũng phải khâm định?”

“Đúng vậy! Đúng vậy!” Sư Lý Tật lại cười lớn mà đáp. “Chúa thượng giống như một đại quản gia, hễ quan tâm đến việc gì, bất kể lớn nhỏ thế nào cũng phải tự tay thực hiện. Nhân tiện xin nói một câu, Trương Tử thử đoán xem, toà phủ này có lai lịch thế nào?”

“Điều này thì phải thỉnh giáo Sư Lý đại nhân!”

“Toà trạch viện này xưa kia chính là Đỗ phủ uy danh hiển hách trong thành Hàm Dương. Nhà họ Đỗ ba đời làm quan, mấy đời buôn bán, tích luỹ gia sản kếch xù, sau khi từ Lịch Dương di cư đến đây, đã hưng công rầm rộ, khiến Đỗ phủ trở thành một trong những phủ đệ lớn nhất trong thành Hàm Dương, mức độ xa hoa còn vượt xa phủ của thái phó đại nhân và đại lương tạo. Về sau, Đỗ Chí và một số thành viên cựu đảng vì vụ án Thương Quân mà cả nhà bị chém, phủ này cũng bị tịch thu. Mấy năm gần đây, biết bao người ao ước có được phủ này, trong đó không thiếu quốc thích, công tử, nhưng chúa thượng vẫn chưa đồng ý. Trương Tử đúng là đi sau nhưng lại vượt trước!” Nói đến đây, Sư Lý Tật lại cười vang sảng khoái.

“Nói như vậy, đúng là tại hạ được sủng ái quá thành ra nơm nớp!” Trương Nghi cũng cười.

Mọi người đi ngắm nghía một vòng quanh phủ, Sư Lý Tật bảo nội thần trao lại khế nhà cho Hương Nữ, lại lần lượt bàn giao những đồ vật mà quân chủ ban tặng, sau đó cùng Ngô Thanh cáo từ ra về. Nội thần gọi đám nô bộc đến chào Trương Nghi, Hương Nữ, rồi phân công đi làm việc.

Đến giờ Thân, trong cung phái người mang đến một tấm biển, trên đề dòng chữ: “Phủ hữu thứ trưởng”.

Hương Nữ ngắm nghía tấm biển một hồi, khẽ nhẩm đọc: “Phủ hữu thứ trưởng?” Rồi hơi chau mày, ngẩng đầu nhìn Trương Nghi. “Cái tên này thực kỳ lạ, là chức quan gì vậy?”

Trương Nghi cười nói: “Đây là tên quan của nước Tần. Sau khi nước Tần biến pháp, quan tước chia thành hai mươi cấp, bắt đầu từ cấp thứ mười là tả thứ trưởng, đến cấp thứ mười tám là đại thứ trưởng, tương đương với khanh. Các cấp ở giữa lần lượt là, cấp mười một hữu thứ trưởng, cấp mười hai tả canh, cấp mười ba trung canh, cấp mười bốn hữu canh, cấp mười lăm thiếu lương tạo, cấp mười sáu đại lương tạo, cấp mười bảy tứ xa thứ trưởng, đều là chức khanh. Dưới khanh là sĩ, đại phu, tổng cộng có mười cấp. Trên khanh là quân là hầu, tổng cộng có hai cấp. Trên hầu mới là công.”

Hương Nữ có phần băn khoăn, hỏi: “Nếu nói như vậy, chức quan của phu quân cũng không lớn lắm, sao có thể được ở trong toà phủ hoa lệ nhường này?”

“Phu nhân có điều không biết,” Trương Nghi lại cười mà giải thích, “chiếu theo Tần pháp, chức quan của Nghi không hề nhỏ! Nước Tần hợp nhất quan và tước, Tần pháp quy định, chỉ thăng cấp theo quân công, chưa lập được quân công, trừ phi chúa thượng đặc biệt ban tặng, còn ngoài ra sẽ không được thăng chức. Vì vậy tính cho đến nay, rất nhiều quan tước bên trên tước khanh vẫn còn để trống. Khi mới thực thi biến pháp, Công Tôn Ưởng chỉ là tả thứ trưởng, còn ở dưới hữu thứ trưởng một bậc. Sau do biến pháp lập công, nên chúa thượng mới phá lệ phong cho làm đại lương tạo, vị trí ở cấp thứ mười sáu. Nếu không phải lập được công lớn trong hai trận chiến Hà Tây và Thương Ư, thì Công Tôn Ưởng sẽ không thể trở thành Thương Quân. Nghi mới chân ướt chân ráo đến đây, chưa lập được chút công lao nào, nhưng Tần Công lại lập tức phong làm hữu thứ trưởng, đã là trọng dụng lắm rồi. Còn về toà phủ này, có lẽ vẫn còn ẩn ý gì khác...”

Hương Nữ đang định hỏi xem là ẩn ý gì thì môn nhân đã vào bẩm báo có khách cầu kiến. Trương Nghi mới vừa đặt chân đến Tần, chẳng có người quen nào ở đây, nên trong lòng băn khoăn, đi ra xem thử, thì ra là Giả Xá Nhân đang đứng đợi ngoài cổng.

Trương Nghi vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, vội bước tới vòng tay vái chào: “Giả huynh!”

Giả Xá Nhân cũng vòng tay chúc mừng: “Chà chà, mấy ngày không gặp, Trương Tử đã phát đạt rồi!”

“Phát đạt gì đâu?” Trương Nghi cười nói. “Vật dễ có thì mất cũng nhanh!” Rồi bước tới cầm tay Giả Xá Nhân. “Giả huynh, mời vào trong phủ!”

Hai người cùng bước vào cổng, dừng lại trong sân ngắm cảnh một lát, Giả Xá Nhân lại chúc mừng: “Trương Tử có được bước tiến thân này, đã có thể thi triển tài năng rồi!”

Nhìn nhà cửa toà ngang dãy dọc và cảnh trí lớp lang hoa lệ, Trương Nghi bất giác thở dài: “Than ôi, nếu như nói ra, lần này được đắc ý, cũng đều là do Giả huynh ban cho cả!”

“Trương Tử cười chê rồi!” Giả Xá Nhân cười vang mà nói. “Tất cả những thứ này đều do Tần Công ban thưởng, tại hạ có công gì đâu?”

“Tại hạ nói thực lòng, Giả huynh bất tất phải khiêm nhường!” Trương Nghi chân thành cảm tạ. “Nếu không có Giả huynh, tại hạ sẽ không đến Hàm Đan, sẽ không phải chịu nỗi nhục kia, sẽ không chạy sang Tần, như vậy đương nhiên sẽ không có được cơ hội ngày nay!” Nhắc đến Hàm Đan, bất giác lại nhớ đến Tô Tần, Trương Nghi nghiến răng kèn kẹt rít lên. “Tên tiểu nhân Tô Tần, tại hạ coi hắn là huynh đệ, nhưng hắn tiểu nhân đắc chí, tuyệt không ngờ hắn lại trở mặt, thực khiến tại hạ...” Lại nghẹn lời, vung nắm tay đấm mạnh vào thân cây liễu bên cạnh. “Giả huynh, huynh hãy đợi xem! Chẳng phải người này mộng tưởng hợp tung hay sao? Tại hạ nhất định sẽ cho hắn biết thế nào là mộng tưởng!”

Nghe thấy lời này, Giả Xá Nhân từ từ thu nét cười lại, mắt nhìn Trương Nghi, thở dài sườn sượt: “Than ôi!”

Trương Nghi ngạc nhiên, đưa mắt nhìn Giả Xá Nhân hỏi: “Giả huynh cớ sao lại than thở?”

Giả Xá Nhân chậm rãi nói: “Vì Tô Tử!”

“Vì hắn?” Trương Nghi kinh ngạc. “Lời này có nghĩa gì?”

“Trương Tử có được ngày hôm nay, nếu muốn đa tạ một người, thì đó chính là Tô Tử!”

“Đa tạ hắn?” Trương Nghi cười nhạt một tiếng, giọng đầy cay độc. “Tuy nhiên, tại hạ sẽ không đa tạ một lúc hết luôn, mà tại hạ sẽ từ từ đa tạ, đa tạ từng chút một. Trước tiên, phải phá hoại hợp tung của hắn, sau đó ép hắn đến bước đường cùng, sống chẳng bằng chết; sau cùng sẽ tìm một cơ hội để gặp mặt đa tạ!”

Nghe Trương Nghi nói ra những lời thâm, Giả Xá Nhân lại thở dài sườn sượt, liên tiếp lắc đầu.

Trương Nghi kinh ngạc: “Chẳng lẽ ý của Giả huynh là tại hạ không nên đối xử với hắn như vậy ư?”

“Trương Tử đối xử với Tô Tử thế nào, đó là việc của Trương Tử, không liên quan gì đến tại hạ. Thế nhưng, nếu như Trương Tử muốn nghe, tại hạ có thể kể cho Trương Tử một câu chuyện cũ.”

“Giả huynh cứ nói!”

Giả Xá Nhân ngồi xuống bãi cỏ, bắt đầu kể lại toàn bộ những chuyện trước đây, đặc biệt là việc Tô Tần đã khổ tâm nghĩ kế để bức ép Trương Nghi đến Tần cho Trương Nghi nghe. Trương Nghi ngồi ngây như khúc gỗ, sững sờ một hồi lâu mới như người vừa tỉnh mộng, hít ngược vào một hơi dài, rồi từ từ thở ra: “Thì ra là như vậy!”

Giả Xá Nhân khẽ than thở: “Than ôi, cho nên Tô Tử đâu có muốn làm nhục Trương Tử? Tô Tử đoán rằng Trương Tử hẳn gặp chuyện bất trắc ở Sở, nên mới vội vàng phái tại hạ đi mời Trương Tử đến Triệu. Tô Tử lại biết chí lớn đời này của Trương Tử là nhất thống thiên hạ, nên chắc chắn sẽ không ủng hộ hợp tung, mà thiên hạ ngày nay, duy chỉ có Tần mới đủ sức nhất thống thiên hạ, Trương Tử có thù với Tần, chắc chắn sẽ không chịu đến Tần. Tô Tử khổ tâm suy nghĩ mà chẳng tìm ra được kế gì khả dĩ, nên mới đành phải làm nhục Trương Tử trước mặt mọi người, bức Trương Tử phải sang Tần. Vào hôm Tô Tử làm nhục Trương Tử, tại hạ cũng ở trong phủ tướng quốc. Sau khi Trương Tử bỏ đi, Tô Tử lòng đau như cắt, khóc than thống thiết, khiến tại hạ trông mà cũng đau xót trong lòng. Đêm hôm đó, Tô Tử cả đêm không ngủ, cùng tại hạ ngồi trong Thính Vũ các, kể cho tại hạ nghe những chuyện cũ của hai người, tất cả đều khắc ghi mồn một trong tâm trí Tô Tử. Tại hạ có thể nhận thấy, trên đời này, nếu Tô Tử chỉ có một tri kỷ, thì người đó nhất định là Trương Tử!”

Trương Nghi chuyển từ ngồi sang quỳ, dập đầu sát đất, nước mắt ròng ròng, bật khóc mà gọi: “Tô huynh...”

Giả Xá Nhân nhìn Trương Nghi, nói tiếp: “Trước lúc lên đường, Tô Tử dặn đi dặn lại tại hạ, không được nói cho Trương Tử biết. Nay thấy Trương Tử ghi hận Tô Tử đến vậy, tại hạ thực lòng không nhẫn tâm nên mới nói ra sự thật. Nay Trương Tử đã được đắc ý, việc trần của tại hạ cũng đã hoàn thành, đã đến lúc phải quay về núi. Lần này đến đây, chính là để cáo từ Trương Tử!”

“Quay về núi?” Trương Nghi thoạt tiên không hiểu, sau đó sững sờ, sau nữa là kinh ngạc, rồi đột nhiên đứng phắt dậy, mở to hai mắt nhìn Giả Xá Nhân. “Giả huynh muốn quay về núi nào?”

“Núi Chung Nam!”

“Chẳng phải huynh vừa từ núi Chung Nam trở về ư?”

“Đó là nói dối Trương Tử mà thôi!” Giả Xá Nhân vòng tay tạ lỗi. “Thực có lỗi với Trương Tử!”

Sau một hồi bàng hoàng kinh hãi, Trương Nghi mới trấn tĩnh lại, khép mắt suy nghĩ một chốc, rồi mở mắt ra than rằng: “Than ôi! Trương Nghi ơi là Trương Nghi, ngay từ lúc lọt lòng đã chỉ biết giăng bẫy lừa người, lừa Tô Tần, lừa Tôn Tẫn, lừa Bàng Quyên, lừa Việt Vương, lừa Sở Vương... Tại hạ cứ tự cho mình là thông minh, nhưng thực không ngờ, trong vòng một năm đã bị người ta lừa gạt hết lần này đến lần khác!”

“Ai lừa ai không quan trọng!” Giả Xá Nhân cười điềm đạm. “Trương Tử xuất thân từ Quỷ Cốc, chắc cũng hiểu điều này!”

Nghe thấy lời này, đột nhiên lại nhớ đến câu “việc trần đã hoàn thành” vừa nãy, Trương Nghi trong lòng chấn động, nhìn chằm chằm vào Xá Nhân: “Xin hỏi Giả huynh, rốt cuộc huynh là ai?”

Giả Xá Nhân từ tốn đáp lời: “Trương Tử đã hỏi, tại hạ cũng không dám giấu. Tại hạ là đệ tử của Hàn Tuyền Tử ở núi Chung Nam, mấy năm trước phụng mệnh gia sư xuống núi tìm hiền tài phò tá Tần Công. Nay đã có được Trương Tử, cũng đến lúc tại hạ phải về núi phục mệnh rồi!”

“Hàn Tuyền Tử ở núi Chung Nam?” Trương Nghi lẩm bẩm nhắc lại, dường như đang cố vắt óc nhớ ra cái tên này.

“Đúng vậy!” Giả Xá Nhân trịnh trọng nói. “Gia sư và Quỷ Cốc tiên sinh là sư huynh sư đệ đồng môn, cùng chung sư phụ là tổ sư Quan Doãn Tử. Tôn sư của Trương Tử cũng là sư bá của tại hạ, vì vậy chúng ta là đồng môn!”

Quen biết Giả Xá Nhân mấy tháng trời, bây giờ Trương Nghi mới biết hai người là đồng môn, nhất thời khó tránh khỏi kinh hãi, chết lặng hồi lâu mới vòng tay nói: “Đệ tử của Quỷ Cốc tiên sinh núi Vân Mộng là Trương Nghi xin chào Giả sư đệ!”

Giả Xá Nhân cũng vòng tay đáp lễ: “Đệ tử của Hàn Tuyền Tử tiên sinh núi Chung Nam là Giả Xá Nhân xin chào Trương sư huynh!”

Tất cả mây mù chốc lát đã xua tan, hai người nhìn nhau một thoáng, rồi lại cùng vỗ tay cười vang.

Giả Xá Nhân vừa đi, Thiếu Lương lệnh Ngô Thanh lại đến cáo từ. Trương Nghi nhờ Ngô Thanh nhắn với Tiểu Thuận, bảo hắn hãy sắp đặt mọi việc ở Trương Ấp rồi nhanh chóng đến Hàm Dương.

Mấy ngày sau, đại lương tạo nước Tần là Công Tôn Diễn đi sứ nước Ngụy trở về, nhưng không hồi phủ ngay mà lập tức vào cung bẩm báo lại chuyện Tô Tần hợp tung thành công Tam Tấn cho Tần Công biết.

Dường như Huệ Văn Công cũng đã dự liệu được kết cục này, cười nhạt mà hỏi: “Bước tiếp theo, Tô Tử dự tính thế nào?”

“Đến nước Tề!” Công Tôn Diễn đáp.

“Nước Tề?” Huệ Văn Công chau tít đôi mày, hai mắt nhìn chằm chằm vào Công Tôn Diễn. “Đáng lẽ người này phải đến nước Sở mới đúng!”

“Sau khi Tề nhập tung, Tô Tần mới sang nước Sở!”

Huệ Văn Công tròn mắt kinh ngạc: “Ý khanh là Tô Tần muốn hợp tung sáu nước để chống lại một mình quả nhân ư?”

Công Tôn Diễn khẽ gật đầu, đôi mày nhíu lại.

“Chẳng phải hắn rêu rao hợp tung Tam Tấn hay sao? Lại đổi thành hợp tung sáu nước từ khi nào vậy?”

“Sau khi đến Ngụy mới thay đổi. Ngụy chính là mạng sườn của hợp tung, vi thần dựa vào đó để công kích, khiến quân thần nước Ngụy đều không đồng ý nhập tung. Chắc hẳn Tô Tần đã phát giác ra điều này, nên lập tức thay đổi chủ trương, đề xuất sáu nước hợp tung, cùng chế cường Tần.”

“Cái gì mà cùng chế? Ý hắn là diệt Tần, diệt quả nhân!” Huệ Văn Công đùng đùng nổi giận, đập bàn quát lớn.

“Chúa thượng!” Công Tôn Diễn suy nghĩ một thoáng, rồi hạ giọng bẩm tấu. “Theo vi thần được biết, Tô Tử không hề có ý này!”

“Không phải ý này?” Huệ Văn Công cơn giận chưa tan, lại đập bàn liền mấy cái. “Vậy hắn có ý gì?”

“Trước lúc lên đường, vi thần có đến gặp Tô Tử, cùng đàm luận với hắn. Tô Tử giãi bày rằng, mục đích của hợp tung là nhằm xây dựng thái bình thịnh thế, khiến chư hầu hoà thuận, liệt quốc cộng sinh, thiên hạ cùng trị. Theo lời Tô Tử nói, sáu nước có Tần nên có thể hợp tung, sáu nước hợp tung sẽ không còn tranh chấp; sáu nước không tranh chấp, Trung Nguyên sẽ bình yên; Trung Nguyên bình yên, Tần sẽ không dám vọng động, thiên hạ sẽ không còn tranh chấp nữa. Thiên hạ đều không tranh chấp, chư hầu sẽ bình tâm lại, để tìm ra điểm chung, gác lại bất đồng, tìm ra cái đạo chung sống hài hòa yên ổn, khôi phục thời thịnh trị của Chu Công, Thiệu Công đầu đời Chu.”

Huệ Văn Công luôn miệng nói “hoang đường”, rồi bật người đứng vụt dậy, đi đi lại lại mấy vòng trong sảnh, thình lình khựng lại, cao giọng gọi lớn: “Người đâu!”

Nội thần vội chạy vào: “Có thần!”

“Mau triệu Sư Lý Tật, Tư Mã Thác, Cam Mậu vào cung nghị sự!”

Nội thần vâng lệnh, đang định lui ra thì Huệ Văn Công nói thêm một câu: “Còn nữa, gọi cả công thúc và hữu thứ trưởng đến!”

Nội thần lui ra, Công Tôn Diễn thoáng ngạc nhiên, hỏi khẽ: “Xin hỏi chúa thượng, ai là hữu thứ trưởng?”

“Trương Nghi! Ái khanh biết người này không?”

“Trương Nghi?” Công Tôn Diễn sững người. “Chẳng phải hắn đang ở nước Sở ư?”

“Giờ đã đến Tần rồi!” Huệ Văn Công đáp một câu, rồi ngồi xuống, hai mắt khép hờ, bắt đầu suy nghĩ. Công Tôn Diễn không dám hỏi tiếp, cũng chẳng dám cáo lui, đành phải ngồi nghiêm trang, từ từ nhắm mắt lại.

Chưa đến nửa canh giờ sau, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác, Cam Mậu, Trương Nghi vội vàng đến nơi, chỉ còn tiền thái phó Doanh Kiền vẫn đang trên đường. Nội thần đưa mọi người vào sảnh bên ngồi đợi, còn mình đích thân ra cửa cung đón Doanh Kiền, cùng ông ta đi vào, sau đó mới bẩm báo: “Chúa thượng, lão thái phó và các vị đại nhân đã đến, đang ở ngoài chờ yết kiến!”

Huệ Văn Công nộ khí sớm đã điều hoà, sắc mặt lại điềm tĩnh như cũ, nói: “Truyền vào!”

Lão thái phó dẫn đầu, mọi người xếp hàng đi theo sau, lần lượt tiến vào thi lễ.

Huệ Văn Công mỉm cười, đứng lên đỡ Doanh Kiền dậy, dìu đến ngồi xuống bên cạnh mình, chỉ vào những chỗ còn lại nói với những người khác: “Ngồi đi! Ngồi đi!” Rồi quay sang nội thần. “Dâng trà!”

Nội thần vỗ tay, từ hai bên có mấy cung nữ bước ra, dâng trà cho từng người, rồi khom lưng lui ra.

“Công thúc, chư vị ái khanh!” Huệ Văn Công chậm rãi nói. “Lúc nãy Công Tôn ái khanh đi sứ nước Ngụy trở về, nói rằng nước Ngụy đã nhập tung, Tô Tần đã hợp nhất Tam Tấn và nước Yên làm một. Công Tôn ái khanh còn nói, Tô Tần vẫn chưa chịu thôi, còn định du thuyết Tề, Sở, muốn hợp thân sáu nước Sơn Đông, cùng chế ngự nước Tần ta!” Dừng lời, nâng tách trà lên chiêu một ngụm.

Rõ ràng đây là một biến cố lớn, ngoài Công Tôn Diễn, những người còn lại thảy đều chấn động, đưa mắt nhìn nhau.

Huệ Văn Công nhìn khắp lượt quần thần, thần sắc trở nên nghiêm nghị: “Tam Tấn hợp tung đã là đại họa với Tần, huống chi là sáu nước? Chư vị ái khanh, hiện giờ nước Tần đang trong lúc sinh tử tồn vong, quả nhân cấp tốc triệu chư vị đến là để cùng bàn bạc, tìm ra kế sách đối phó.”

Hồi lâu sau, vẫn chẳng ai lên tiếng, không gian lặng phắc như tờ.

Huệ Văn Công quay sang Doanh Kiền: “Công thúc hiểu nhiều biết rộng, có đối sách nào chăng?”

Từ sau khi Doanh Kiền cáo quan về hưu, Tần Công rất ít khi hỏi Doanh Kiền về chuyện triều chính, Doanh Kiền cũng chẳng mấy quan tâm tới quốc sự. Lúc này lại được triệu kiến, còn được hỏi đầu tiên, Doanh Kiền hơi lúng túng, hai tay xoắn chặt vào nhau một hồi, mới rặn ra được một chữ: “Đánh!”

Mọi người đều bật cười.

Nhưng Huệ Văn Công lại không cười, nghiêm túc nhìn Doanh Kiền: “Xin hỏi công thúc, đánh ai? Đánh ở đâu?”

“Đánh người Triệu! Đánh vào Hàm Dương!”

Huệ Văn Công cúi đầu ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi ngước mắt lên nhìn quần thần: “Mấy tháng trước quả nhân truyền hịch phạt Triệu, coi như đánh dứ một đòn. Nay công thúc kiến nghị đánh thực, ý chư vị thế nào?”

Tư Mã Thác lập tức tiếp lời: “Vi thần tán đồng phạt Triệu! Triệu là nước khởi xướng hợp tung, đương nhiên sẽ phải trả giá! Vi thần nguyện dẫn quân chinh phạt, không chiếm được Tấn Dương, thề không trở về!”

Huệ Văn Công thuận đà đưa mắt nhìn sang Trương Nghi, thấy hắn nhắm mắt ngồi ngay ngắn, miệng như cười lại không phải cười, trông chẳng khác gì pho tượng, trong lòng đã rõ mười mươi, nhưng lại không hỏi đến, mà đưa mắt nhìn sang Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật và Cam Mậu: “Công thúc, Tư Mã ái khanh đều muốn phạt Triệu, các khanh có ý kiến gì chăng?”

Cam Mậu đắn đo một thoáng, rồi chậm rãi nói: “Vi thần cho rằng, nếu như đánh Tấn Dương nước Triệu, chi bằng hãy đánh Nghi Dương nước Hàn!”

Huệ Văn Công thoáng ngạc nhiên, nhổm người dậy hỏi: “Ồ, sao lại như vậy?”

“Tấn Dương của nước Triệu nằm ở bình nguyên, không có địa thế hiểm yếu để phòng thủ, vì vậy người Triệu đã đắp tường cao đào hào sâu, tích thảo đồn lương, tăng cường quân đội, phòng bị vô cùng nghiêm ngặt, chúng ta không thể tìm ra sơ hở để thừa cơ, công phá nhiều lần vẫn không hạ được. Ngược lại, hãy nhìn Nghi Dương, xung quanh đều là núi cao sông hiểm, vì vậy mà người Hàn phòng bị lỏng lẻo, chúng ta có cơ hội tấn công, chắc chắn có thể thủ thắng. Còn nữa...” Cam Mậu dừng lại nửa chừng, đưa mắt nhìn Huệ Văn Công.

“Nói tiếp đi!” Huệ Văn Công hai mắt nhìn chăm chú vào Cam Mậu.

“Tấn Dương nghèo nàn cằn cỗi, ta có chiếm cũng chẳng ích gì. Mấy năm nay, sắt quý hơn đồng, Nghi Dương vốn được gọi là kinh đô sắt thép, nếu ta chiếm được Nghi Dương, không biết sẽ tiết kiệm được bao nhiêu tiền bạc!”

“Vi thần tán đồng ý kiến của tả canh!” Công Tôn Diễn nói xen vào. “Từ Đại Lương trở về, suốt dọc đường đi, vi thần đều suy nghĩ đến chuyện này. Mặc dù hợp tung bắt đầu từ nước Triệu, nhưng Triệu lại là khúc xương quá rắn, không dễ nuốt. Ngụy có các hiền tài như Bàng Quyên, Huệ Thi, Chu Uy, hiện giờ không nên thôn tính. Trong Tam Tấn, chỉ có duy nhất nước Hàn là ta dễ dàng xâm chiếm. Thân Bất Hại đã chết từ lâu, Hàn Hầu tuổi tác đã cao, lực bất tòng tâm. Mấy vị công tử của Hàn thất đều là hạng tầm thường. Tô Tần hợp tung, Hàn Hầu tích cực hưởng ứng cũng chính là muốn tự bảo vệ mình. Ngụy Hàn trước nay bất hoà, nếu ta đánh Nghi Dương, Ngụy chắc chắn sẽ không ứng cứu. Người Triệu lại ở xa Nghi Dương, muốn cứu cũng chẳng kịp. Nếu ta có được Nghi Dương, sẽ có thể khống chế Hàn Hầu, ép Hàn Hầu ly khai hợp tung. Chỉ cần nước Hàn ly khai, kế hợp tung của Tô Tần sẽ không cần đánh mà tự phá.”

“Phải! Ái khanh thật biết nhìn xa trông rộng!” Huệ Văn Công gật đầu khen ngợi. “Chiếm được chút sắt vụn chỉ là chuyện nhỏ, phá hợp tung mới là quan trọng! Tuy nhiên, như lời của Cam ái khanh, mặc dù ta có thể đánh Nghi Dương, nhưng quanh Nghi Dương toàn là núi cao sông hiểm, ải Hào Quan lại bị người Ngụy chiếm giữ, ta không thể mượn được đường nào, làm sao có thể đánh đây?”

“Chúa thượng yên tâm!” Công Tôn Diễn dường như đã có sẵn kế sách. “Vi thần đã suy tính đến chuyện này. Khi còn ở Ngụy, vi thần đã đi thăm dò vùng sơn cốc Hàm Hào, hỏi những người đi săn trong vùng, được biết rằng cách ải Hàm Cốc mười dặm về phía đông, đi ngược theo sông Tiêu Thuỷ, vượt qua núi Mã Thủ là có thể tiến vào vùng sơn cốc Lạc Thuỷ. Lần này trở về, vi thần đã đích thân đi thăm dò, đường ấy quả thực có thể đi qua. Ngoài ra, từ mé đông Hoa Sơn tiến xuống phía nam, vượt qua núi Khoa Phụ, núi Dương Hoa, ta cũng có thể đi theo vùng sơn cốc Lạc Thuỷ, đánh vào Nghi Dương!”

“Đại lương tạo nói không sai!” Tư Mã Thác tiếp lời. “Năm xưa vi thần mượn đường qua Nghi Dương để tới Lạc Dương cầu thân, cũng đi qua núi Khoa Phụ, mặc dù đường xa, song có thể đi ngựa. Tuy nhiên, đây là đường hiểm, người Hàn từ lâu đã phát hiện ra, nên đã đặt cửa ải trấn giữ. Năm đó mượn đường đến Lạc Dương là được người Hàn đồng ý. Còn nếu như tiến quân theo đường này, giả sử người Hàn có phòng bị trước, thì ta sẽ lâm vào tuyệt địa!”

Huệ Văn Công kinh ngạc, quay sang Công Tôn Diễn: “Công Tôn ái khanh có nghĩ đến điều này không?”

“Đã nghĩ đến!” Công Tôn Diễn gật đầu. “Dùng binh là ở kỳ, ở trá, ở bất ngờ. Nếu người Hàn đã có phòng bị, thì chỉ có một cách giải thích, là chúng ta hành sự chưa chu đáo, dùng binh chưa đủ kỳ.”

Huệ Văn Công nhắm mắt lại, suy nghĩ một hồi, rồi ngẩng đầu, đưa mắt nhìn sang Trương Nghi, thấy hắn vẫn khép mắt ngồi yên, khác chăng ở chỗ trên miệng không còn thấy nụ cười nửa có nửa không như ban nãy, mà lồ lộ một nụ cười giễu cợt.

Huệ Văn Công khẽ vòng tay, ngả người về phía trước hỏi: “Ý hữu thứ trưởng thế nào?”

Chúng thần đều quay sang nhìn Trương Nghi.

Mấy ngày nay, việc Trương Nghi đến Tần, được phong làm hữu thứ trưởng đã được đồn đại khắp thành Hàm Dương. Nhưng vì Trương Nghi chưa hề lên triều, vì vậy, ngay cả Tư Mã Thác, Công Tôn Diễn, Doanh Kiền, cũng là lần đầu tiên được gặp mặt Trương Nghi, nên ánh mắt ai cũng tràn đầy hiếu kỳ.

Trương Nghi mở mắt ra, vòng tay nói với Huệ Văn Công: “Chúa thượng muốn hỏi chuyện xuất chinh, hay là chuyện hợp tung?”

Huệ Văn Công kinh ngạc: “Hai cái này có khác nhau ư?”

“Đương nhiên là có!” Trương Nghi đáp. “Nếu hỏi chuyện xuất chinh, vi thần mới chân ướt chân ráo đến Tần, chưa hiểu rõ tình thế, nên không dám nói bừa!”

“Nói như vậy, ái khanh đã có diệu kế đối phó với hợp tung rồi ư?” Huệ Văn Công mừng ra mặt, nhổm người về trước hỏi vội.

Trương Nghi lắc đầu nói: “Không có diệu kế!”

“Vậy... ái khanh có cách nào đối phó chăng?”

“Vi thần vẫn đang suy nghĩ!”

Trương Nghi vòng qua vòng lại, cuối cùng lại buông ra một câu tưng tửng. Quần thần vừa cụt hứng vừa tức cười, đều bật cười thành tiếng.

Vào thời khắc này, đương nhiên không thích hợp để nói đùa. Huệ Văn Công đặng hắng một tiếng, ngồi thẳng người dậy, liếc nhìn quần thần một lượt rồi chậm rãi nói: “Chư vị ái khanh, hôm nay tạm thời bàn đến đây. Còn về việc phạt Hàn hay phạt Triệu, đợi quả nhân suy nghĩ xong sẽ lại bàn cùng chư vị!”

Quần thần đều đứng dậy cáo lui.

Trương Nghi vốn nổi tiếng vì tài miệng lưỡi, nhưng hôm nay, trong một cuộc luận bàn quan trọng nhường này, mà lại ngậm miệng ngồi im, quả thực nằm ngoài dự liệu của mọi người. Sau khi ra khỏi cửa cung, dường như chẳng có ai để mắt đến Trương Nghi, Trương Nghi cũng chẳng để tâm đến họ, lập tức lên xe trở về phủ.

Vào lúc hoàng hôn, đột nhiên có một đội thị vệ trong cung rầm rập tiến đến trước phủ Trương Nghi.

Trương Nghi hay tin, chưa kịp ra đón thì Tần Công đã sải bước tiến vào, đội vệ sĩ oai nghiêm đứng chật cả sân.

Trương Nghi vội vàng dập đầu khấu lạy. Huệ Văn Công đỡ Trương Nghi đứng dậy, rồi cùng vào nhà trong, phân ngôi quân thần ngồi xuống. Huệ Văn Công cười lớn mà nói: “Ái khanh chuyển đến phủ mới đã mấy hôm, đúng ra quả nhân phải đến cúng bếp chúc mừng mới phải, nhưng lại chẳng lúc nào rảnh rỗi. Giờ có chút thời gian, quả nhân nhớ tới chuyện này, hỏi nội thần mới biết nay là ngày cát lợi để cúng bếp, nên vội đến đây!”

Cúng bếp hay còn gọi là cúng thần bếp, là phong tục của người Tần. Mỗi khi dọn đến nhà mới, bạn bè thân thích sẽ đến chúc mừng, mang theo các loại thịt sấy, cá khô, cọ nồi thử bếp, bày cỗ linh đình. Hà Tây vốn là đất Tần, Trương Nghi lại sinh trưởng tại Hà Tây, nên đương nhiên cũng biết tập tục này, liền vòng tay đa tạ: “Được chúa thượng giá lâm cúng bếp, thần bếp hẳn cũng lấy làm vinh dự!”

Huệ Văn Công cười vang mà nói: “Chúng ta tuyệt đối không nên đắc tội với thần bếp!” Rồi quay sang nội thần. “Mau, tặng thịt sấy!”

Nội thần vẫy tay, lập tức có mấy người khệ nệ khiêng vào đến vài sọt thức ăn, bên trong đầy ắp thịt sấy, rượu ngon.

Nội thần để Trương Nghi kiểm tra qua rồi sai nô bộc khiêng đi, sau đó cùng với Hương Nữ và đầu bếp trong cung vào bếp, cúng thần bếp, chuẩn bị cơm rượu. Chưa tới một khắc, đầu bếp trong cung đã hâm nóng xong các món ăn và rượu ngon, nội thần sắp xếp mang lên, bày đầy trong sảnh đường.

Huệ Văn Công chỉ vào bụng mình, nói: “Quả nhân đến đây để cúng bếp, nên vẫn chưa ăn gì. Nghe nói ái khanh tửu lượng xuất chúng, hôm nay quân thần chúng ta không say không về!”

Nội thần xua tay bảo nô bộc lui ra, đích thân rót rượu.

Rượu qua mấy tuần, dường như Huệ Văn Công bắt đầu nổi hứng, bảo đổi chén nhỏ thành bát lớn, uống liền mấy bát, rồi đẩy bát mà nói: “Ái khanh quả nhiên tửu lượng hơn người, uống nhiều như vậy rồi mà vẫn như không. Còn quả nhân đã thấy hơi say rồi!”

Trương Nghi cũng đặt bát xuống: “Chúa thượng say mà không say, vi thần không say mà lại say!”

Huệ Văn Công buột miệng khen: “Nói hay lắm!” Suy nghĩ một lát, càng thêm tấm tắc, liên tiếp gật gù. “Nghe người ta nói, rượu ngon có thể khiến đầu óc tỉnh táo, uống tới vừa đủ, trong tâm sẽ sáng như gương. Ái khanh nói được câu này, xem ra đã uống đến chỗ tuyệt diệu nhất rồi!”

Trương Nghi thuận miệng đáp liền: “Chúa thượng thánh đoán, quả là vi thần đã uống tới chỗ tuyệt diệu nhất!”

“Ồ!” Huệ Văn Công cười lớn mà nói. “Ái khanh đã uống đến chỗ tuyệt diệu nhất, vậy việc lúc ban ngày còn suy nghĩ, giờ hẳn đã nghĩ xong rồi?”

Trương Nghi gật đầu nói: “Hồi bẩm chúa thượng, vi thần đã nghĩ xong rồi!”

“Tốt! Tốt lắm! Quả nhân cũng vừa hay uống đến chỗ tuyệt diệu nhất, có thể lắng nghe được rồi!”

“Vi thần nghĩ tới một khẩu quyết, hoặc giả đối phó được với hợp tung!”

“Là khẩu quyết gì?”

Trương Nghi khép hờ hai mắt, như đang đọc sách: “Liên hoành cường Tần, chính danh mở đất, dương đông kích tây, thân xa đánh gần.” Nói xong, hai mắt nhắm hẳn lại.

Huệ Văn Công trầm ngâm một lúc, rồi ngẩng đầu lên hỏi: “Khẩu quyết này thực khó hiểu, quả nhân tối dạ, nhất thời không thể hiểu ra, xin ái khanh hãy giải thích rõ!”

Trương Nghi mở mắt ra: “Dám hỏi chúa thượng, không rõ chỗ nào?”

“Lời của ái khanh, câu đầu tiên là đại cương, ba câu tiếp theo là chi tiết. Tô Tần hợp tung, ái khanh ứng phó bằng liên hoành, quả là diệu kế. Tần cường thịnh là cái gốc, cũng chính là ý chí của quả nhân. Ba câu tiếp theo, xét về lý thì quả nhân cũng đã hiểu, có điều thực thi cụ thể thế nào, quả nhân vẫn chưa nghĩ thông, xin ái khanh chỉ giáo!”

“Chúa thượng khiêm nhường rồi!” Trương Nghi khẽ vòng tay, dõng dạc nói. “Vi thần cho rằng, cái gọi là chính danh, chính là quay mặt về nam xưng vương. Sau hội triều Mạnh Tân, cục thế đại biến, thiên hạ bước vào thời đại nhiều vương. Hiện giờ, trong liệt quốc ở Sơn Đông, Tống, Trung Sơn chỉ đua đòi không tính, chỉ nói đến sáu nước lớn, ba nước Ngụy, Sở, Tề đã xưng vương, nếu Tô Tần hợp tung thành công, chắc chắn sẽ khiến sáu nước cùng xưng vương. Sáu nước ở Sơn Đông cùng xưng vương, Tần vẫn là công quốc, về mặt danh phận sẽ thua kém một bậc, dù có đạo nghĩa, nhưng lại thiếu vương khí!”

“Thế còn mở đất? Nếu như sáu nước phân tranh, quả nhân còn có thể làm ngư ông đắc lợi, xâm lấn được chút ít. Một khi sáu nước hợp tung thành công, khẽ rút dây là động cả rừng, bảo quả nhân phải mở đất thế nào đây?”

“Không xâm lấn được thì nuốt chửng!”

“Nuốt chửng?” Huệ Văn Công trợn tròn mắt, nhìn chằm chằm vào Trương Nghi, hơi chúi người về phía trước. “Nuốt chửng nơi nào?”

“Ba, Thục!”

Huệ Văn Công hít vào một hơi dài, rồi khép mắt lại.

“Chúa thượng!” Trương Nghi chậm rãi nói. “Thiên hạ ngày nay, có khả năng đối đầu với chúa thượng, không phải Tam Tấn, không phải nước Yên, mà là Tề, Sở. Nước Tề cách trở Tam Tấn, roi dài khó với, nên không phải là chuyện cấp bách trước mắt. Nhưng Sở thì khác, Sở đã có được Ngô Việt, bước tiếp theo hẳn sẽ mưu tính Ba, Thục. Hai nước Ba, Thục diện tích không dưới hai nghìn dặm vuông, sản vật phong phú, dân chúng đông đến hàng chục vạn, phong tục thuần phác, không hề thua kém Ngô Việt. Ba Thục nằm ngay phía trên nước Sở, có được Thục sẽ có được Sở, có được Sở sẽ có được thiên hạ. Hơn nữa, miếng thịt béo này nếu chúa thượng không lấy, người Sở ắt sẽ lấy. Nước Sở vốn đã rộng lớn mênh mông, nay lại có thêm Ngô Việt, nếu tiếp tục có được Ba Thục, chúa thượng đừng nói là xuất quan tranh hùng, e rằng muốn yên ổn tại Quan Trung cũng khó!”

“Ừm!” Huệ Văn Công gật đầu. “Đây chính là ‘kích tây’ trong khẩu quyết của ái khanh! Vậy còn ‘dương đông’?”

“Đánh Hàn!”

“Đánh Hàn?” Huệ Văn Công sững người, sau đó lại gật gù. “Ừm, diệu kế! Còn câu cuối cùng, ‘thân xa đánh gần’, ái khanh giải thích thế nào?”

“Xa kết giao với nước Yên để chế Tề, gần tấn công Tam Tấn để chiếm lợi. Tuy nhiên, vi thần cho rằng đây là chuyện về sau. Nhiệm vụ cấp bách hiện giờ là dương đông kích tây, chiếm lấy Ba Thục!”

Huệ Văn Công thoáng chau mày, mắt nhìn Trương Nghi, chậm rãi nói: “Bốn câu khẩu quyết mà Trương Tử vừa nói, như thế nước trút từ trên cao xuống, sát thực khả thi, rất hợp với ý quả nhân. Về chuyện chính danh, Tô Tử cũng từng nhắc tới, nhưng đã bị quả nhân bác bỏ. Nay Trương Tử lại nhắc đến, có thể thấy anh hùng mưu lược tương đồng. Tuy nhiên, đây là việc lớn, hãy để quả nhân suy nghĩ thêm. Xa kết giao với nước Yên, quả nhân vốn cũng từng suy nghĩ về việc này. Trưởng nữ của quả nhân cũng sắp trưởng thành, quả nhân có ý đợi cho đến tuổi cập kê sẽ gả cho thái tử Yên quốc, kết tình thông gia. Song gần đây nghe nói thái tử nước Yên lòng dạ bất chính, quả nhân có chút đắn đo, nay nghe Trương Tử nói như vậy, việc này đã có thể quyết định được rồi. Còn về việc thôn tính Ba, Thục, quả nhân đã muốn từ lâu. Hiện giờ thời cơ đã đến, có thể xem xét. Tư Mã Thác là người hiểu rõ nội tình Ba, Thục nhất, chúng ta hãy nghe xem ông ta nói thế nào!” Quay sang nội thần. “Triệu Tư Mã Thác cấp tốc đến phủ hữu thứ trưởng, nói rằng quả nhân mời đến uống rượu!”

Nội thần vâng lệnh, quay người đi ngay.

Huệ Văn Công lập tức đưa ra quyết định, lại quyết đoán mạch lạc đến vậy, chứng tỏ đã có mưu tính từ trước, hơn nữa, mưu tính của Huệ Văn Công hoàn toàn trùng hợp với suy nghĩ của Trương Nghi. Trương Nghi thực lòng thán phục, đứng dậy khấu đầu: “Chúa thượng quả là hiền quân, Trương Nghi đã đến Tần quá chậm!”

Huệ Văn Công cười vang mấy tiếng, đứng lên đỡ Trương Nghi dậy: “Có được hiền thần, mới là hiền quân. ‘Thi’ có câu, ‘Áo chàng xanh xanh, lòng ta bồi hồi’(1), từ lâu quả nhân đã ngưỡng mộ tài của Trương Tử, nay ông trời giúp quả nhân toại nguyện, thực là sảng khoái! Nào, nhân lúc Tư Mã ái khanh còn chưa đến, chúng ta hãy uống tiếp vài bát!”

Hai người lại uống thêm một lúc, thì Tư Mã Thác phi ngựa nước đại đến nơi.

Vừa nghe nói đến chinh phạt Ba, Thục, Tư Mã Thác mặt mày hớn hở, xoa hai tay vào nhau cười hỉ hả mà nói: “Vi thần đã mong ngày này lâu lắm rồi! Chúa thượng, có được Ba, Thục sẽ có được Sở, có được Sở sẽ có được cả thiên hạ!”

Huệ Văn Công cười nói: “Tư Mã ái khanh, hai câu này của ái khanh, câu trước nói cũng bằng không, còn câu sau, lúc nãy Trương ái khanh đã nói rồi, khanh đúng là hâm cơm nguội!”

“Ồ?” Tư Mã Thác kinh ngạc, quay sang nhìn Trương Nghi. “Nói như vậy, đúng là anh hùng mưu lược tương đồng!”

“Câu này, lúc nãy chúa thượng cũng đã nói rồi!” Trương Nghi tiếp lời.

Tư Mã Thác lại ngẩn người: “Được rồi được rồi, tại hạ không nói gì nữa!” Tiện tay bưng bát rượu lên, uống ừng ực một hơi, khiến cho những người có mặt đều phá lên cười.

Tư Mã Thác uống xong, vớ lấy vò rượu định rót tiếp, thì Huệ Văn Công cười nói: “Tư Mã ái khanh, nếu khanh ngậm miệng không nói, chúng ta sẽ không thể nghe được chuyện hay!”

“Chuyện gì kia?”

“Ba, Thục! Nghe nói nơi đó phong quang vô hạn, tươi đẹp khác thường, chúng ta đều muốn nghe!”

Tư Mã Thác cười hì hì: “Nói tới Ba, Thục, vi thần không còn là hâm cơm nguội nữa!”

Mọi người lại cười, sau đó vừa uống rượu, vừa nghe Tư Mã Thác kể về tình hình Ba, Thục, đặc biệt là những lợi hại, mâu thuẫn và xung đột giữa Ba, Thục, Thư, Sở!

Ba người nói chuyện đến tận khi trời sáng. Nghe tiếng gà gáy, Tần Công dường như đã mệt, ngáp một cái rồi chậm rãi nói: “Hai vị ái khanh, hiện giờ Ba, Thục đang nội tranh, cả hai cùng cầu cứu quả nhân, đúng là thời cơ trời ban. Chuyện chinh phạt Ba, Thục coi như đã quyết định. Còn về việc chinh phạt thế nào, hai vị ái khanh hãy cùng bàn tính, vạch ra một sách lược vẹn toàn, rồi bẩm báo lên quả nhân. Việc này cần tuyệt đối bí mật, không được để lộ bất cứ thông tin gì. Lát nữa lên triều, chúng ta chỉ được bàn chuyện Nghi Dương!”

Hai người cùng khấu đầu: “Vi thần tuân chỉ!”

Trong buổi thiết triều hôm đó, quả nhiên Huệ Văn Công chỉ bàn với chúng thần về chuyện phạt Hàn, lập tức quyết đoán ngay trong buổi triều, phong Công Tôn Diễn làm chủ tướng, Cam Mậu làm phó tướng, hưng binh mười vạn chinh phạt Nghi Dương. Do Nghi Dương là vùng núi non, nên Huệ Văn Công hạ lệnh cho ba quân lập tức diễn tập đánh trận trên địa hình đồi núi, đồng thời lệnh cho Công Tôn Diễn viết hịch phạt Hàn, truyền khắp liệt quốc.

Quyết đoán của Huệ Văn Công khiến Công Tôn Diễn không tài nào hiểu nổi. Phạt Nghi Dương nước Hàn, quan trọng ở đánh úp bất ngờ, tốt nhất là phải tấn công thình lình không báo trước. Huệ Văn Công lại yêu cầu truyền hịch khắp liệt quốc, cũng có nghĩa công khai tuyên bố không chinh phạt. Hơn nữa, dùng Cam Mậu làm phó tướng cũng là điều khiến Công Tôn Diễn hết sức băn khoăn. Mặc dù Cam Mậu nhờ việc buôn bán sắt mà rất thông thạo Nghi Dương, nhưng đó tuyệt đối chưa phải là lý do thuyết phục cho việc được phong làm phó tướng. Cam Mậu trước nay luôn cai quản lục phủ, không am hiểu ba quân, làm sao có thể làm phó tướng? Chinh phạt Nghi Dương, không thể không có Tư Mã Thác.

Tuy nhiên, mệnh của quân chủ không dám không theo. Công Tôn Diễn lặng lẽ về phủ, đóng cửa suy nghĩ suốt một ngày, nhưng vẫn không hiểu được ý đồ của Tần Công.

Sáng sớm hôm sau, Cam Mậu cầu kiến. Cam Mậu đã mấy năm trời chỉ quẩn quanh với kho tàng, quân nhu, đang lúc buồn bực chân tay, đột nhiên lại được phong làm phó tướng, có thể nói đắc ý mãn nguyện, mừng vui khôn xiết. Sau khi nhận lệnh, cả đêm trằn trọc không ngủ, vắt óc suy nghĩ để tìm ra kế sách phạt Hàn. Sáng sớm thức dậy, lập tức đến phủ Công Tôn Diễn bàn luận.

Công Tôn Diễn trong lòng hoài nghi, nhưng lại không dám nói bừa, đặc biệt là không thể nói bừa với Cam Mậu. Nếu Cam Mậu biết quân chủ không hề có ý phạt Hàn, ắt sẽ thất vọng chán nản, khiến lòng quân dao động, từ đó làm hỏng kế hoạch của quân chủ. Suy nghĩ một lúc, Công Tôn Diễn đã có chủ ý, điềm tĩnh đọc kỹ một lượt kế sách của Cam Mậu, chỉnh sửa vài chỗ, rồi cùng với bản hịch mình mới thảo đêm qua đem trình lên Huệ Văn Công. Huệ Văn Công đọc xong, quả nhiên không hỏi gì thêm, lập tức ra lệnh truyền hịch khắp liệt quốc, chuẩn bị quân nhu, cấp tốc luyện binh.

Công Tôn Diễn trong lòng đã tỏ như gương, sau khi về phủ, không chút đắn đo, lập tức giao phó cho Cam Mậu đi thực hiện.

Trương Nghi và Tư Mã Thác bí mật bàn kế phạt Thục.

Tư Mã Thác cho rằng, chướng ngại lớn nhất trước mắt không phải người Thục, mà là đường tới Thục. Tư Mã Thác lấy ra một tấm bản đồ sông núi do những thương nhân buôn bán ở Ba Thục vẽ ra, chỉ vào bản đồ mà nói: “Trương huynh hãy nhìn xem, chỗ này là dòng Tần Xuyên dài tám trăm dặm, chỗ này là sông Bao Hán, cũng chính là vùng sơn cốc Hán Trung. Từ Tần Xuyên đến sơn cốc Hán Trung là vùng núi Chung Nam rộng khoảng sáu trăm dặm. Đừng nói là đường tới Thục, chỉ riêng chuyện vượt qua núi Chung Nam cũng đã rất đỗi khó khăn. Núi Chung Nam đỉnh cao vực sâu, vách núi hiểm trở, tuy thương nhân và người đi rừng qua lại đã mở được mấy con đường mòn, nhưng nếu dùng để hành quân đánh trận, vận chuyển quân nhu, e rằng không thể được!”

Trương Nghi chỉ vào mấy con đường nhỏ ngoằn nghèo trên bản đồ, cười nói: “Tư Mã huynh, mấy con đường nhỏ này cũng thông đến Hán Trung đúng không?”

“Đúng thế!” Tư Mã Thác chỉ vào từng con đường, giải thích. “Từ tây sang đông, con đường sát phía tây nhất chính là đường Trần Thương, kế bên nó là đường Bao Tà, tiếp theo là đường Thảng Lạc, đường sát phía đông nhất là đường Tý Ngọ. Trong bốn con đường này, đường Trần Thương là đường dễ đi nhất, nhưng khoảng cách lại xa nhất, dài đến hơn nghìn dặm. Đường gần nhất là đường Bao Tà, khoảng hơn bảy trăm dặm, nhưng lại phải vượt qua đỉnh Thái Bạch, chủ mạch của núi Chung Nam, người có thể đi, nhưng ngựa thì rất khó. Còn hai con đường ở phía đông, đường dài lại nhiều chỗ hiểm trở, khúc khuỷu ngoằn ngoèo, ngoài người dân bản địa, phần lớn thương nhân đều không dám đi!”

“Nếu là vậy, chúng ta sẽ đi theo đường Trần Thương!”

“Hiện giờ, đường Trần Thương đang nằm trong tay người Thục!”

“Ồ, chẳng phải nghe nói vùng Hán Trung đã thuộc về Tần rồi ư?” Trương Nghi kinh ngạc.

“Than ôi, nói đến chuyện này, một lời khó hết!” Tư Mã Thác thở hắt ra, sau đó thuật lại quá trình tranh đoạt vùng Hán Trung mấy trăm năm nay giữa Tần, Thục, Ba.

Theo lời kể của Tư Mã Thác, do con đường từ Tần đến Hán Trung chưa thông suốt, thực lực lại không đủ, nên cho đến nay, vùng đất Hán Trung vẫn là của Ba, Thục. Lúc người Ba mạnh thì người Ba chiếm, lúc người Thục mạnh thì người Thục chiếm. Thời Hiến Công, sau khi người Tần bị bại dưới tay người Ngụy, Tần Công từng điều quân tinh nhuệ đi theo con đường Thái Thương chinh phạt Hán Trung, chiếm được mấy nơi trọng yếu, nhưng không lâu sau lại bị người Thục đoạt mất. Người Thục rút ra bài học, nên đặt liền mấy cửa ải trấn thủ dọc đường Trần Thương, từ đó việc tiến binh theo đường này đã khó khăn hơn rất nhiều. Hơn nữa, cho dù có đoạt được Hán Trung, nhưng phía nam lại càng là hiểm trở trùng trùng. Phía nam Hán Trung là núi non Ba Thục trập trùng bất tuyệt, nước chảy không thông, đỉnh núi dựng đứng, gần như không có đường thông. Người Ba, Thục mỗi lần đi sứ sang Tần, cả đi lẫn về cũng phải mất đến vài tháng. Ngoài ra, còn rất nhiều cửa ải trấn thủ nghiêm ngặt, xem ra xuất binh là điều không thể.

Hai người bàn bạc liền mấy canh giờ, nhưng vẫn chưa tìm được phương án chinh phạt. Tư Mã Thác có phần thất vọng, nhưng Trương Nghi vẫn không cam chịu, bảo Tư Mã Thác tìm mấy thương nhân am hiểu tình hình Ba, Thục đến, đóng cửa phủ không tiếp khách, ngày ngày nghe họ kể về những điều tai nghe mắt thấy ở Ba Thục. Mấy hôm sau, Trương Nghi đã hiểu thêm khá nhiều về núi sông, sản vật của Ba Thục. Người Ba chiếm cứ vùng núi Xuyên Đông, chuyên khai thác muối sắt, dũng cảm thiện chiến, sức mạnh hơn người, giỏi vác nặng, giỏi đi đường núi, không có chữ viết, mê tín với vu thuật, hài lòng với số mệnh. Kẻ địch lớn nhất của người Ba là người Sở, gần trăm năm nay, người Sở vì muốn chiếm được ưu thế nguồn nước, đã men theo sông Giang Thuỷ đánh tới, người Ba không đủ sức chống trả, nên đành phải từ bỏ hạ lưu Giang Thuỷ, tử thủ tại Bồi Lăng, dựa vào địa thế để đối kháng với người Sở. Còn người Thục cư trú ở vùng châu thổ Xuyên Tây, chuyên trồng lúa gạo, giỏi tưới tiêu, sống bằng nghề trồng trọt, đối thủ lớn nhất chính là người Ba. Mặc dù người Thục không có hứng thú với núi non của người Ba, nhưng lại thèm nhỏ dãi đất Xuyên và Hán Trung ở phía bắc đất Ba, rất muốn biến nó thành vùng lúa gạo trù phú giống như phúc địa Xuyên Tây để đáp ứng cho lượng nhân khẩu đang ngày càng gia tăng. Để đạt được mục đích, người Thục đã nhiều lần khai chiến với người Ba, dần dần chiếm được thượng nguồn Tiềm Thuỷ, không những bành trướng thế lực sang vùng Hán Trung, mà còn đánh bại cả người Tần, chiếm được ưu thế tuyệt đối ở Hán Trung. Người Ba phía đông bị Sở kìm hãm, phía tây bị Thục chèn ép, trước sự bức bách của hai kẻ mạnh, đã lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan, nên đành phải rút lui, tử thủ mấy suối muối lớn, liều mạng bảo vệ chỗ dựa sinh tồn cuối cùng.

Nếu xuất binh chinh phạt, người Ba không hề đáng sợ, nên chỉ còn một đối thủ duy nhất, chính là người Thục. Ánh mắt Trương Nghi dán chặt vào đất Thục trên bản đồ, dùng bút khoanh một vòng tròn lớn.

Người Ba thích ở núi không thích ở đồng bằng, lại càng không giỏi trồng trọt, nhờ có nguồn muối ăn trong tay, người Thục không dám không cấp lương, vì vậy không hề hứng thú với nông nghiệp của người Thục, từ trước đến nay chưa bao giờ coi người Thục là kẻ địch. Đất Thục bốn bề khoá kín, lại thêm dân đông thế mạnh, nên cũng không sợ người Ba, vì vậy họ hầu như không xây thành phòng thủ. Đất Thục hiện theo chế độ nô lệ của Tần, người Thục chỉ phân thành hai loại, một loại sinh ra đã là quý tộc, một loại sinh ra đã là nô lệ. Giới quý tộc lại phải phục tùng Thục Vương. Thục Vương nhận lệnh của trời, từ thời Hạ Khải đến nay, tổng cộng đã trải qua năm triều đại là Bách Quán, Tàm Tùng, Ngư Phù, Đỗ Vũ, Biết Linh, kéo dài gần hai nghìn năm. Hai triều cuối cùng của nước Thục là Đỗ Vũ và Biết Linh. Đỗ Vũ còn gọi là Vọng Đế, Biết Linh là hiền thần của Vọng Đế, vì có công trị thuỷ nên Vọng Đế đã nhường đất nước cho để về quy ẩn nơi rừng núi. Biết Linh tự xưng là Tùng Đế, đổi quốc hiệu là Khai Minh, đến đời thứ mười thì chuyển từ đế thành vương, xưng là Khai Minh Thượng Vương. Con của Thượng Vương kế vị, xưng là Hậu Vương, con của Hậu Vương chính là Thục Vương ngày nay, tên là Lô Tử, tức cháu mười hai đời của Biết Linh Đế. Hậu Vương sớm băng hà, năm Lô Tử kế vị, tuổi còn quá nhỏ, nên mẫu hậu chấp chính. Mẫu hậu lại sủng ái con thứ, bắt Lô Tử phong em trai của mình là Vi Tử làm Thư Hầu, cai quản đất Thư. Thư Hầu chiếm cứ vùng thượng nguồn Tiềm Thuỷ và thềm sông Hán Trung, thế lực ngày càng bành trướng, nên ngấm ngầm dòm ngó, có ý tranh giành đất tổ. Lô Tử cũng chẳng phải hạng tầm thường, liền dẫn quân phạt Thư trước. Vi Tử không chống đỡ nổi, đành phải cầu cứu người Ba. Người Ba đang khổ sở vì mối hoạ từ người Sở, cũng muốn mở rộng bờ cõi về phía tây, nên đã hợp binh cùng Thư Hầu chống lại Thục. Giao chiến mấy năm, người Thục dần chiếm được lợi thế, người Thư phải lui quân, nhưng vẫn dựa vào địa thế và người Ba để bám trụ, liều chết chống trả. Thư Hầu thấy tình thế nguy cấp nên đã đề nghị giảng hoà. Người Thục thấy hiện tại không thể thôn tính ngay được, nên cũng đồng ý, dẫn binh trở về.

Trương Nghi biết được những điều này, đầu óc cũng dần dần sáng tỏ. Thư, Thục, Ba, Sở tranh chấp, đây chính là thời cơ tốt trời ban. Hiện giờ, cửa ải khó khăn duy nhất chính là đường đi tới Thục. Muốn chinh phạt Ba Thục, bắt buộc phải mở đường đến Thục, thế nhưng phải mở đường thế nào? Tự mở đường thì không thể, một là hao tốn sức người sức của, hai là Ba Thục sẽ không chịu ngồi yên mà nhìn. Khả năng duy nhất là tính kế thuyết phục người Thục và người Thư, để họ tự mở ra một con đường.

Thoạt nghe, đây là việc không thể, nhưng Trương Nghi đã quyết định lựa chọn cách này. Trương Nghi vắt óc suy nghĩ khổ sở suốt mấy ngày trời, tự đưa ra rất nhiều kế sách, nhưng rồi lại lần lượt sổ toẹt tất cả. Đang lúc đau đầu thì Tiểu Thuận, Tiểu Thuý dắt theo hai đứa trẻ từ Trương Ấp đến nơi. Chủ tớ gặp nhau, đương nhiên mừng vui khôn xiết. Trương Nghi hỏi qua về việc nhà ở Trương Ấp, thấy Tiểu Thuận đã sắp xếp ổn thoả đâu vào đấy, nên rất vui lòng, lập tức triệu tập tất cả gia nô lại, tuyên bố rằng Tiểu Thuận sẽ làm quản gia trong phủ. Tiểu Thuận nhận lệnh xong, lập tức bận rộn với công việc mới.

Hương Nữ thành thân với Trương Nghi đã mấy năm, không hiểu tại sao mà đến nay vẫn chưa mang thai. Hương Nữ lại rất yêu trẻ nhỏ. Khi còn ở Trương Ấp, hai đứa trẻ kia đã rất thân thiết với nàng, đặc biệt là đứa lớn, vừa mới đến đã quấn quýt lấy Hương Nữ, đòi nàng kể chuyện cho nghe.

Hương Nữ thấy Trương Nghi đang tiến lại, thì chỉ vào Trương Nghi, cười mà nói: “Các cháu muốn nghe kể chuyện, hãy tìm lão gia. Chuyện trong bụng lão gia, có kể liền ba năm cũng không hết!”

Hai đứa trẻ đứng nhìn Trương Nghi, nhưng không dám lại gần, vẫn bám lấy Hương Nữ.

Hương Nữ chẳng biết làm thế nào, đành phải học theo bộ dạng của mấy ông già thuyết thư, cất giọng lên bổng xuống trầm mà kể: “Ngày xửa ngày xưa, ở một nơi rất xa, có hai vợ chồng cụ ông và cụ bà, sống nhờ vào mấy mẫu ruộng nước. Hai người tuổi đã cao mà chẳng có con cái. Một sớm nọ, chợt nghe thấy tiếng trẻ con khóc, họ chạy ra cửa nhìn, thì thấy một đứa trẻ mới lọt lòng nằm ngay trước cổng. Hai cụ già mừng rỡ, cảm tạ trời đất một hồi, rồi bế đứa trẻ về nuôi nấng. Đứa trẻ dần dần lớn lên, trở thành một thiếu niên anh tuấn. Một hôm, chàng thiếu niên ra ngoài đi săn, nhìn thấy một cô gái vô cùng xinh đẹp. Chàng vừa gặp đã đem lòng yêu, sau khi trở về, chẳng thiết ăn uống. Ông cụ ba lần bảy lượt gặng hỏi mới biết sự tình. Ông cụ dò hỏi khắp nơi, biết được cô gái kia là con gái một nhà giàu có. Thấy con trai khổ sở vì tương tư, ông cụ đành phải miễn cưỡng đến nhà cô gái cầu hôn. Cha của cô gái là người tham lam, biết cụ già nghèo khổ, liền nhặt một cục đá lên, rồi khinh khỉnh nói: ‘Cóc ghẻ mà muốn ăn thịt thiên nga! Được thôi, muốn cưới con gái ta cũng được, nhưng phải mang một cục vàng to bằng này đến đây làm sính lễ.’ Nói xong, liền ném cục đá về phía ông cụ. Ông cụ nhà nghèo, lấy đâu ra cục vàng to đến vậy, càng nghĩ càng đau lòng, liền nhặt lấy cục đá, vừa đi vừa khóc mà trở về nhà.”

“Sau đó thì sao?” Hai đứa trẻ sốt sắng hỏi.

Trương Nghi cũng thấy tò mò, bèn dừng lại bên cạnh lắng nghe.

“Sau đó...” Hương Nữ kể tiếp, “bệnh tương tư của chàng thiếu niên càng ngày càng trầm trọng, sắp chết đến nơi. Bỗng nhiên, con trâu già của nhà ông cụ rống lên một tiếng, rồi ị ra một cục vàng, vừa hay to đúng bằng cục đá mang về. Ông cụ thấy vậy, biết là trời đã giúp nhà mình, lập tức mang cục vàng và cục đá đến nhà cô gái, cưới được nàng về nhà. Bệnh của chàng thiếu niên cũng tự nhiên mà khỏi!”

Trương Nghi trong lòng chấn động, vội bước lại hỏi: “Phu nhân! Nàng nghe được câu chuyện này từ đâu vậy?”

Hương Nữ cười nói: “Khi còn nhỏ, chú Kinh đã kể cho Hương Nữ nghe. Nghe nói là truyền thuyết nước Việt.”

Trương Nghi lập tức quay người đi thẳng về thư phòng, ngồi xuống tĩnh tâm, suy nghĩ lại một lượt câu chuyện mà Hương Nữ vừa kể và tất cả những điều được biết về Ba Thục trong mấy ngày qua, đột nhiên vỗ mạnh vào trán, kêu lên: “Có rồi!”

Trương Nghi lập tức triệu Tiểu Thuận đến, căn dặn một hồi. Đến khi trời tối, Tiểu Thuận dẫn theo một người thợ đá già, vội vã đi vào, hạ giọng bẩm báo: “Chúa công, tiểu nhân đã dò hỏi khắp lượt rồi, người này là thợ đá giỏi nhất trong thành Hàm Dương. Tiểu nhân đã nhìn thấy những con thú đá mà ông ta chạm khắc, trông chẳng khác nào thú thật!”

Trương Nghi khẽ gật đầu, quan sát lão thợ đá một lượt từ đầu đến chân, rồi hỏi: “Có biết đẽo trâu không?”

Lão thợ đá cười nói: “Ngay cả kỳ lân tiểu nhân còn đẽo được, huống gì là trâu?”

“Con trâu mà bản phủ cần, phải biết vãi phân, ngươi đẽo được không?”

“Con trâu biết vãi phân?” Lão thợ đá hơi sững lại. “Là vãi phân thật hay giả?”

“Đá thì làm sao mà vãi phân thật được!” Trương Nghi bật cười.

“Nếu như là vãi phân giả thì không khó. Tiểu nhân chỉ cần làm một cái hộp có lẫy ở đít trâu, nhét sẵn phân vào bên trong, sau đó cứ vỗ mông một cái là phân sẽ phọt ra.”

“Tốt lắm!” Trương Nghi vỗ tay nói. “Bản phủ đang cần chính là thứ này! Nói đi, đẽo một con như thế bao nhiêu tiền?”

“Ba lượng vàng là đủ!”

Trương Nghi bảo Tiểu Thuận lấy ra ba lượng vàng ra đưa cho lão thợ đá: “Vàng đây! Nếu như đẽo tốt, bản phủ sẽ thưởng thêm ba lượng nữa!”

Lão thợ đá đa tạ, chìa tay ra nhận lấy vàng, nhân tiện hỏi: “Quan nhân muốn dùng loại đá gì?”

Trương Nghi hỏi: “Có những loại đá gì?”

Lão thợ đá bấm ngón tay liệt kê: “Có đá xanh, đá nâu, đá đen, đá ngũ sắc, đá lục, đá đỏ, đá trắng...”

“Khoan đã!” Trương Nghi cắt ngang. “Đá ngũ sắc là gì?”

“Có đỏ có trắng có đen có xanh có tím, giống như ráng mây lúc mặt trời mới mọc, còn gọi là đá ráng!”

“Đá này nguồn gốc ở đâu?”

“Vùng núi Chung Nam!”

“Nơi khác có không?”

Lão thợ đá lắc đầu.

“Tốt! Tốt lắm!” Trương Nghi hoan hỷ, vỗ tay mà nói. “Hãy dùng loại đá này! Ông hãy lập tức trở về đẽo trâu, càng nhanh càng tốt! Nhớ kỹ, không được nói với bất cứ ai, nếu để lộ, bản phủ sẽ nghiêm trị ông theo Tần pháp!”

Lão thợ đá vâng lệnh, sau khi trở về, lập tức từ biệt người nhà, kéo theo mấy đệ tử lên núi, đục đẽo suốt ngày đêm, chưa tới mười ngày, quả nhiên đã đẽo được một con trâu ngũ sắc giống y như thật. Trương Nghi đích thân tới kiểm tra, khẽ vỗ vào mông trâu, chỉ nghe “phẹt” một tiếng, một đống phân trâu đã vãi ra từ đít con trâu đá.

Trương Nghi khoái chí cười ha hả, bảo Tiểu Thuận thưởng thêm cho họ ba lượng vàng, rồi dặn lão thợ đá tiếp tục đẽo năm con y hệt như vậy.

Sau khi đi xem trâu đá xong, Trương Nghi đi thẳng tới phủ quốc uý, cười nói với Tư Mã Thác: “Tin vui lớn đây! Có đường sang Thục rồi!”

Tư Mã Thác kinh ngạc hỏi: “Đường sang Thục ở đâu?”

“Sẽ phái người mở ngay lập tức!”

Tư Mã Thác tiu nghỉu, cười nhăn nhó, lắc đầu quầy quậy mà nói: “Trương Tử đừng nói đùa nữa! Về việc mở đường, tại hạ đã suy nghĩ rất nhiều, chắc chắn không thể làm được đâu!”

“Chúng ta không làm được, nhưng người khác lại làm được!”

“Ai kia?”

“Người Thục!”

Tư Mã Thác thoạt tiên ngẩn người, sau đó thì phì cười: “Người Thục phá núi mở đường cho Trương huynh theo đường đó đến đánh họ, há chẳng phải bảo hổ lột da ư? Không phải Trương huynh suy nghĩ chuyện mở đường nhiều quá mà thành lú lẫn rồi đấy chứ?”

Trương Nghi phì cười một tiếng: “Nếu như Tư Mã huynh không tin, tại hạ sẽ đánh cược một trăm lượng vàng, thế nào?”

Tư Mã Thác cười ha hả mà nói: “Nếu như vậy, tại hạ xin đặt cược một nghìn lượng vàng!”

“Một trăm lượng là đủ!” Trương Nghi cười nói. “Nhiều quá huynh sẽ không đào đâu ra. Tuy nhiên, việc này muốn thành công, còn phải nhờ Tư Mã huynh trợ giúp!”

“Muốn tại hạ trợ giúp thế nào?”

“Từng nghe Tư Mã huynh nói có qua lại thân thiết với thái tử Thông Quốc của Thư Hầu, có thể tìm cách mời người này đến Hàm Dương một chuyến chăng?”

“Không cần nghĩ cách, người này đã đến rồi!”

“Ồ?” Trương Nghi tròn mắt. “Đến khi nào?”

“Hôm qua!” Tư Mã Thác nói. “Thư Hầu phái thái tử Thông Quốc đến vấn an chúa thượng, mang theo rất nhiều cống phẩm!”

“Đúng là trời đã giúp ta!” Trương Nghi cả mừng. “Hiện thái tử đang ở đâu?”

“Đang ở dịch quán. Tại hạ định để hắn nghỉ ngơi mấy hôm, sau đó sẽ dẫn tới yết kiến chúa thượng. Thế nào, Trương Tử tìm hắn có việc gì?”

Trương Nghi vô cùng hoan hỷ, cười lớn mà nói: “Tư Mã huynh, trăm lượng vàng này của huynh, tại hạ thắng chắc rồi!” Tiến lại gần một bước, ghé sát tai Tư Mã Thác, thì thầm mấy câu, dặn Tư Mã Thác làm thế này thế nọ.

Tư Mã Thác nghe xong, đầu óc lùng bùng, tuy bán tín bán nghi, nhưng vẫn gật đầu đồng ý.

Trở ra từ phủ Tư Mã Thác, Trương Nghi lập tức vào cung, bẩm báo tỉ mỉ chuyện trâu đá cho Huệ Văn Công nghe.

Huệ Văn Công nghe xong, phá lên cười lớn mà nói: “Nếu ái khanh thành công, thì đây đúng là giai thoại lạ thiên cổ!” Rồi quay sang dặn nội thần phái người chuyên phụng mệnh Trương Nghi, toàn lực đối phó với thái tử nước Thư.

Trương Nghi gọi nhạc phường lệnh và khố phòng lệnh đến, căn dặn họ những việc cần làm. Hai người nhận lệnh xong, lập tức quay về chuẩn bị.

Ba ngày sau, Tư Mã Thác dẫn Thông Quốc lên triều yết kiến. Thông Quốc dâng cống phẩm, Huệ Văn Công tặng lại nghìn dật vàng, hai mỹ nữ, lệnh cho hữu thứ trưởng Trương Nghi toàn quyền phụ trách các việc của thái tử ở Tần.

Trương Nghi dẫn Thông Quốc đến nhạc phường. Nhạc phường chia thành nội phường và ngoại phường. Ca nữ, nhạc công của nội phường để trong cung dùng, do nội thần quản lý, còn tất cả người ở ngoại phường dùng để tặng cho liệt quốc, do Hắc Điêu đài phụ trách huấn luyện, công tử Hoa quản lý.

Thông Quốc theo Trương Nghi đến ngoại phường. Ngoại phường nằm tiếp giáp với cung thành, bốn bề kín mít. Tại đây có tới hàng trăm trinh nữ được tuyển chọn từ khắp mọi nơi, toàn là những thiếu nữ xinh đẹp, độ tuổi từ mười hai đến mười sáu, bao gồm cả Thu Quả cô nương, tất cả đều ở đây học nghệ, người học múa, người học đàn nhạc, người học đánh cờ, người học vẽ tranh, người học cưỡi ngựa bắn cung, người học ca hát, có động có tĩnh, không thiếu món gì. Ăn mặc cũng đủ màu đủ kiểu, xanh đỏ tím vàng, nhìn mà hoa mắt.

Đám Trương Nghi vừa đến, nhạc phường lệnh đã vội vàng ra nghênh đón. Trương Nghi bảo thái tử Thông Quốc tự mình lựa chọn. Đất Thục không thiếu mỹ nữ, nhưng mỹ nữ đất Thục lại chưa được giáo hoá, không giống như mỹ nữ ở đây, người nào người nấy đọc sách hiểu lễ, đa tài đa nghệ. Thái tử nhìn mà hoa cả mắt, nhưng Tần Công lại chỉ cho phép chọn hai người, nên đành phải đi quanh một vòng, chọn ra hai nàng bắt mắt nhất. Nhạc phường lệnh bèn sai người dẫn họ đi tắm rửa thay y phục.

Trương Nghi thấy ánh mắt của Thông Quốc vẫn nhìn hau háu vào những thiếu nữ khác, liền cười mà nói: “Thái tử, xin mời sang kho vàng!”

Nghe thấy kho vàng, Thông Quốc đành phải quay người, đi cùng Trương Nghi đến đó.

Kho vàng nằm ở bên ngoài cung thành, chỉ là mấy dãy nhà gạch đơn sơ, chẳng hề thấy cảnh canh phòng nghiêm ngặt, trông còn hơi cũ nát xập xệ. Chỉ thấy hai gã trung niên ngồi trong một căn phòng nhỏ, có vẻ như là người giữ chìa khoá.

Thông Quốc thấy vậy, kinh ngạc hỏi: “Kho vàng của các vị, sao lại sơ sài đến vậy, lại chẳng thấy có lính canh giữ?”

Trương Nghi chỉ mỉm cười, không trả lời, bảo hai người kia mở cửa. Một người lững thững bước lại, mở cánh cửa ra, Trương Nghi liền dẫn Thông Quốc đi thẳng vào trong.

Vừa bước vào kho vàng, Thông Quốc đã đứng chết sững, hai mắt trợn trừng. Cả một gian phòng rộng lớn ngồn ngộn sáng choé những vàng. Bên cạnh còn có một đống vàng nữa, hình thù vô cùng quái dị, giống như những đống phân trâu vừa mới vãi ra.

Thông Quốc kinh ngạc thốt lên: “Trời ơi, sao mà nhiều vàng đến vậy?”

Trương Nghi cười nói: “Thái tử nói đùa rồi! Chỗ này có đáng là bao, những nhà kho thế này, ở nước Tần chúng tôi có tới vài chục gian!”

Thông Quốc ngẩn ra: “Lẽ nào các vị không quý vàng ư?”

Trương Nghi lại cười: “Cái gì là đáng quý? Lương thực mới đáng quý! Ở chỗ chúng tôi, không ai thích vàng cả, vì vàng cũng chỉ là phân mà thôi. Sỡ dĩ chúa thượng thu thập nhiều phân thế này, là vì người khác thích chúng, chúng tôi có thể đổi chúng lấy lương thực!”

“Ồ?” Thông Quốc kinh ngạc. “Ở nước Thục chúng tôi, lương thực lại chẳng khác gì phân, vàng mới là quý!” Chợt liếc thấy một đống vàng trông giống như bãi phân trâu ở bên cạnh, liên tưởng đến chữ “phân” mà Trương Nghi vừa nói, cảm thấy băn khoăn, liền hỏi. “Xin hỏi hữu thứ trưởng, tại sao vàng của các vị lại có hình thù kỳ dị như vậy?”

Trương Nghi đáp: “Nếu thái tử có hứng thú, tại hạ sẽ dẫn thái tử đi xem một món bảo bối. Nhìn thấy nó, thái tử sẽ hiểu ngay thôi!” Rồi chỉ tay vào đống vàng trong kho. “Một nghìn dật vàng mà chúa thượng ban thưởng, thái tử có cần lĩnh ngay không?”

Thông Quốc vội nói: “Không vội không vội, hãy đi xem bảo bối trước đã!”

Thái tử Thông Quốc gọi thêm trợ thủ, Trương Nghi cũng gọi thêm Tư Mã Thác, mọi người chia nhau lên hai cỗ xe tứ mã, ra khỏi thành Hàm Dương, tiến thẳng đến vùng núi Chung Nam. Đi đến một nơi vắng vẻ nhỏ hẹp, mọi người bỏ xe đi bộ lên núi. Đi một hồi lâu, mới đến một lũng núi. Lũng núi cây cối um tùm, có một con trâu ngũ sắc đang đứng trong bụi cỏ rậm, bên cạnh con trâu có một đứa trẻ đang ngồi chồm hỗm, hiển nhiên là mục đồng.

Thái tử hiếu kỳ, tiến lại gần xem, mới phát hiện ra đó là một con trâu đá năm màu rực rỡ, hệt như ráng chiều. Nếu không nhìn kỹ, cứ ngỡ là một con trâu sống đang gặm cỏ.

Trương Nghi cười nói: “Đây chính là bảo bối, là vật mà chúa thượng chúng tôi cầu trời cao ban cho!”

“Quả là trâu thần!” Thái tử chưa bao giờ nhìn thấy thứ đá nào rực rỡ đẹp đẽ đến vậy, tấm tắc khen ngợi, rồi đưa tay sờ mó khắp trên dưới trái phải, ngẩng đầu hỏi. “Trâu này có liên quan đến vàng ư?”

“Đúng thế!” Trương Nghi gật đầu, chỉ tay vào mông trâu. “Con trâu này ban đêm hấp thụ linh khí của trời đất, ban ngày sẽ đại tiện ra vàng. Đống vàng mà thái tử nhìn thấy trong kho, chính là do chúng vãi ra đấy!”

Thái tử không tin, lại hỏi Trương Nghi: “Có thể đại tiện ra vàng được ư?”

Trương Nghi ngoảnh đầu hỏi mục đồng ngồi bên cạnh: “Hôm nay đã vãi ra vàng chưa?”

Mục đồng đáp: “Khởi bẩm đại nhân, vẫn chưa ạ!”

“Khi nào mới đại tiện?” Trương Nghi hỏi.

Mục đồng ngẩng đầu nhìn trời, rồi gật gù nói: “Chắc nó cũng sắp ị rồi đấy ạ!”

Trương Nghi cười nói với Thông Quốc: “Thái tử thật có phúc, vừa hay đến đúng lúc con trâu vãi ra vàng!” Rồi quay sang mục đồng. “Bảo nó ị nhanh lên!”

Mục đồng vâng lời, đi tới bên đầu trâu, ghé sát bên tai lầm rầm mấy câu với trâu thần, giống như đang vỗ về, cũng giống như đang niệm thần chú, sau đó vòng ra sau đít trâu, vỗ khẽ vào mông trâu. Vỗ liền mấy cái, càng vỗ càng mạnh. Tiếng vỗ cuối cùng vừa vang lên, bỗng nghe “phẹt” một tiếng, một khối vàng rơi thẳng từ đít trâu xuống cỏ.

Thái tử và đám người Thục đi theo há hốc miệng kinh ngạc, vội nhặt khối vàng lên nhìn kỹ, thấy nó ướt sũng, tay sờ vào thấy vẫn còn hơi ấm.

Người Thục đều lấy làm quái lạ. Thái tử cũng bắt chước mục đồng, bước lại gần con trâu, ghé tai lầm rầm một hồi, sau đó đi về phía mông trâu, vỗ nhẹ mấy cái, nhưng không thấy vãi ra vàng nữa.

Thái tử ngạc nhiên: “Tại sao nó không ị nữa?”

Mục đồng cười nói: “Đại nhân không biết đấy thôi, trâu thần một ngày chỉ ị một lần, nếu như trời mưa thì phải hai ba ngày mới ị một lần. Hôm nay đã ị rồi, nên sẽ không thể ị thêm được nữa!”

Thái tử tỏ ra thất vọng.

Trương Nghi cười nói: “Nếu thái tử muốn đích thân kiểm tra, giờ này ngày mai ta lại đến!”

Thông Quốc gật đầu đồng ý.

Hôm sau là một ngày đẹp trời, cũng cùng giờ hôm trước, Trương Nghi lại đưa thái tử tới lũng núi. Thông Quốc đích thân vỗ vào mông trâu, quả nhiên, trâu thần lại vãi ra một đống vàng. Thái tử cho thuộc hạ kiểm tra, đúng là vàng thật.

Thái tử đã phục, quay sang than thở với Trương Nghi: “Than ôi, ở vùng Ba Thục chúng tôi, để luyện vàng phải bỏ ra không biết bao nhiêu công sức, cực nhọc vô cùng, vì vậy mà vàng rất quý. Quý quốc có con trâu thần này, chẳng mất công sức gì mà một ngày có thể vãi ra cả đống vàng, đúng là bảo bối! Dám hỏi hữu thứ trưởng, quý quốc chỉ có một con trâu như thế này ư?”

Trương Nghi chỉ cười không nói.

Thái tử quay sang Tư Mã Thác. Tư Mã Thác không biết làm thế nào, đành phải bước lại gần ghé sát tai thái tử nói nhỏ: “Đây là bí mật, thái tử không nên hỏi nhiều!”

Nhớ tới trong kho chồng chất những vàng, thái tử chắc mẩm rằng người Tần không chỉ có một con trâu thần. Trong lòng đã có tính toán, nên thái tử cũng không hỏi thêm nữa, sau khi trở về dịch quán, lập tức chuẩn bị lễ vật hậu hĩnh, tới phủ Tư Mã Thác ngay trong đêm. Tư Mã Thác bèn tiết lộ với hắn rằng, nước Tần tổng cộng có một trăm con trâu thần, tất cả đều được nuôi trong núi Chung Nam, do hữu thứ trưởng quản lý. Thái tử bèn khẩn thiết cầu xin trâu đá, Tư Mã Thác không tiện từ chối, bèn bảo hắn hãy đến gặp hữu thứ trưởng.

Thái tử lại chuẩn bị hậu lễ, mời Tư Mã Thác cùng đi, đến cầu xin Trương Nghi.

Trương Nghi lắc đầu quầy quậy, dang rộng hai tay mà nói: “Thái tử điện hạ, không phải tại hạ không giúp, mà đây là việc lớn, tại hạ không thể giúp được!” Dừng lại một lát, mới hạ thấp giọng thì thào. “Không giấu điện hạ, trâu thần là do chúa thượng cầu thần ban cho, chuyên dùng để đổi lương thực cho nước Tần, chúa thượng nghiêm cấm không được tiết lộ ra ngoài. Vì điện hạ là bằng hữu của Tư Mã huynh, tại hạ và Tư Mã huynh tình như huynh đệ, nên mới dẫn điện hạ đi xem để mở rộng tầm mắt. Thái tử có thể tận mắt chứng kiến, đã là may mắn lắm rồi, xin thái tử hãy quay về, chớ nên tiết lộ chuyện này! Không may để kẻ trộm biết được, họ sẽ đến tranh cướp trâu thần, nước Tần sẽ mất đi nguồn lương thực, khiến người Tần bị đói!”

Thông Quốc thở dài sườn sượt, ánh mắt đầy thất vọng.

Tư Mã Thác thấy vậy, liền vòng tay xin giúp: “Thứ trưởng đại nhân, lần này thái tử đến đây, có thành ý hoà hữu, quả là đáng quý. Nay đã mở miệng, cũng không thể không có gì thu về, mong thứ trưởng đại nhân thành toàn cho. Hơn nữa, thái tử chỉ xin có một con trâu, chúng ta có nhiều trâu như vậy, tại hạ cho rằng cho dù có bớt đi một hai con, cũng chẳng có gì tổn hại!”

“Đúng thế đúng thế!” Thông Quốc vội nói. “Tại hạ chỉ xin một con thôi!”

Trương Nghi cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ, rất lâu sau mới ngẩng lên nói: “Chỉ một con trâu sẽ không thể cho vàng. Trâu thần lại phân thành đực cái, chỉ có trâu cái mới vãi ra vàng, nhưng nếu không có trâu đực, có trâu cái cũng vô ích. Nếu tặng trâu, ít nhất phải tặng hai con, một cái một đực mới được!”

“Tốt quá! Tốt quá!” Thái tử mừng rơn, vòng tay vội nói. “Có được cả hai con thì còn gì bằng!”

Trương Nghi cười méo mó, cất giọng bất đắc dĩ: “Một con đã khó, nếu thái tử muốn xin hai con, tại hạ lại càng không thể quyết định. Tuy nhiên, như lời Tư Mã huynh vừa nói, thái tử đã mở miệng, cũng không thể không có gì thu về. Tại hạ có một ý này, ngày mai lên triều, thái tử hãy yết kiến chúa thượng, đích thân khẩn cầu chúa thượng. Chỉ cần chúa thượng đồng ý, đừng nói là hai con trâu, cho dù là tám con mười con, cũng không thành vấn đề!”

Thông Quốc rất đỗi hoan hỷ.

Sáng sớm hôm sau, Trương Nghi, Tư Mã Thác dẫn Thông Quốc lên triều, khẩn cầu trâu đá. Trương Nghi, Tư Mã Thác cũng đều xúm vào nói giúp cho Thông Quốc. Huệ Văn Công giả bộ trầm ngâm, đắn đo hồi lâu, mới ướm hỏi: “Thái tử muốn mấy con?”

Vì đã được Trương Nghi tiết lộ từ trước, nên Thông Quốc nói luôn: “Xin thưởng cho mười con, một con trâu đực, chín con trâu cái!”

Thấy hắn tham lam đến vậy, mọi người đều cố nhịn cười.

Huệ Văn Công chau tít đôi mày, quyết đoán: “Mười con không được! Nhiều nhất là năm con, một con trâu đực, bốn con trâu cái!”

Thông Quốc vòng tay tạ ơn.

Huệ Văn Công lại cúi đầu suy nghĩ, rồi gãi đầu nói: “Khoan!”

Thông Quốc cho rằng Huệ Văn Công hối hận, vội nói: “Chúa thượng!”

Huệ Văn Công nhìn Thông Quốc với ánh mắt nghi ngại: “Cho dù quả nhân có bằng lòng tặng trâu, nhưng những trâu thần đều nặng cả nghìn cân, còn chỗ các vị lại toàn là núi sông hiểm trở, làm sao có thể mang về được?”

Dường như tất cả mọi người đều chưa từng nghĩ tới điều này, thảy đều quay sang nhìn Thông Quốc. Thông Quốc gãi đầu gãi tai, vẻ lo lắng cuống quýt. Đúng lúc đó, Trương Nghi bèn ôm quyền nói: “Chúa thượng, vi thần có một kế. Hãy đến núi Chung Nam phá núi mở đường, những nơi hiểm yếu thì bắc cầu đi qua, chuyển trâu thần đến Nam Trịnh, sau đó giao lại trâu thần cho thái tử ở Nam Trịnh là được!”

“Cũng là cách hay!” Huệ Văn Công khẽ gật đầu. “Thế nhưng núi Chung Nam thuộc địa phận nước Tần, chúng ta có thể làm đường. Còn từ Nam Trịnh trở đi là đất của người Thục, chúng ta không thể làm đường được!”

Mọi người lại quay sang nhìn thái tử. Tư Mã Thác ngấm ngầm đưa mắt ra hiệu cho Thông Quốc.

Thông Quốc hiểu ý, dường như cũng đã suy tính sẵn sàng, vội vòng tay nói: “Chúa thượng yên tâm! Thông Quốc trở về sẽ bẩm báo chuyện này với phụ hầu, sau đó men theo sông Tiềm Thuỷ mở đường, bắc cầu để đón trâu thần.”

Huệ Văn Công gật gù, nhưng vẫn lộ vẻ do dự: “Ồ, nếu làm như vậy cũng là khả dĩ. Có điều... theo quả nhân được biết, núi Ba núi Thục nơi nơi hiểm trở, dằng dặc trăm dặm không một bóng người, nếu như muốn khai thông đường này, không biết sẽ phải đến năm tháng nào mới xong?”

Thông Quốc cười nói: “Chúa thượng yên tâm, người Thục chúng tôi quen đi đường núi, lại có sức khoẻ, nếu như tập hợp tráng đinh, chia đoạn mà làm, có lẽ chưa đầy ba năm, đường sẽ khai thông!”

“Chưa đầy ba năm?” Huệ Văn Công kinh ngạc sững sờ, rồi cười vang, quay sang Trương Nghi, Tư Mã Thác nói. “Hai khanh đều nghe thấy rồi đấy, thái tử nói chưa đầy ba năm sẽ mở được đường sang Thục. Xem ra người Thục cũng thật biết nói đùa!”

Thông Quốc đỏ mặt, chỉ tay lên trời thề: “Trời xanh chứng giám, nếu trong vòng ba năm không thông được đường đến Thục, Thông Quốc thề không làm người!”

Huệ Văn Công nói lớn: “Tốt lắm! Thái tử trở về phải mất đến vài tháng, năm nay coi như không tính!” Rồi quay sang nội thần. “Ghi rõ, bắt đầu từ tháng giêng sang năm, tính tròn ba năm. Đúng ba năm sau, quả nhân sẽ đích thân đi thử đường tới Thục, dâng tặng trâu vàng!”

“Thần tuân chỉ!”

Huệ Văn Công quay sang Thông Quốc: “Thái tử hãy về bẩm rõ với Thư Hầu, nói rằng nếu nước Thục trong vòng ba năm có thể mở được đường sang Tần, ngoài năm con trâu thần, quả nhân sẽ tặng thêm hai mươi mỹ nữ Tần Xuyên, hai nước muôn đời chung sống hoà thuận!”

Thông Quốc vòng tay đa tạ: “Thông Quốc nhất định sẽ bẩm lại!”

Thông Quốc bái biệt Tần Công, ngay cả nghìn dật vàng mà Tần Công ban tặng cũng chẳng cần nữa, ngay sáng sớm hôm sau đã mang theo hai bãi phân vàng do trâu thần vãi ra và hai mỹ nữ, vội vàng trở về nước Thư.

Mấy tháng sau, Thư Hầu lại phái sứ thần đến Tần, báo rằng đã trưng tập được ba vạn tráng đinh đi mở đường Thục, nghênh đón trâu thần. Tần Công cả mừng, dùng mỹ nữ, rượu ngon nhiệt tình khoản đãi, Trương Nghi, Tư Mã Thác đích thân dẫn sứ thần đi xem kho vàng và trâu thần. Thấy năm con trâu thần sống động như thật, bốn con trâu cái đều biết vãi phân vàng, sứ thần nước Thư không chút ngờ vực, hoan hỷ quay về.

Sứ thần nước Thư vừa đi, Tần Công lập tức điều một vạn tráng đinh đến núi Chung Nam, toàn lực phá núi mở đường Bao Tà.

Hồi Thứ 43

Tô Tần khẩu chiến quần sĩ Tắc Hạ

Tề Vương tâm niệm mối nhục Hoàng Trì

Nước Tần phô trương thanh thế chinh phạt Nghi Dương, toàn bộ nước Hàn kinh hoàng náo loạn, Chiêu Hầu gấp rút phái người đến cầu cứu Tô Tần.

Tô Tần hỏi rõ tình hình, đoán là người Tần vẫn diễn lại tích cũ, hư trương thanh thế như lần rêu rao phạt Triệu trước đây, nên lập tức gửi cho Hàn Hầu một bức mật hàm, to gan tuyên bố, Tam Tấn hợp tung đã thành, chỉ cần người Tần dẫn binh xâm phạm Nghi Dương, Ngụy, Triệu sẽ phát binh cùng lúc, tấn công người Tần từ cả ba hướng Hàm Cốc, Hà Tây, Tấn Dương. Hàn Hầu đã an tâm, nên tự tin điều binh khiển tướng phòng ngự tại Nghi Dương, toàn lực nghênh chiến người Tần.

Đồng thời, Tô Tần cũng cáo từ Ngụy Vương, tiếp tục phái Lâu Hoãn đi trước thăm dò, còn mình theo sát phía sau, dẫn đầu sứ đoàn hợp tung của bốn nước, khí thế rầm rộ tiến về đô thành Lâm Truy nước Tề.

Đúng vào lúc này, đô thành Lâm Truy nước Tề lại xảy ra một chuyện lớn: quan tế tửu của học cung Tắc Hạ là Bành Mông mắc bệnh qua đời.

Học cung Tắc Hạ là do một tay tiên quân nước Tề là Tề Hoàn Công Điền Ngọ (khác với Hoàn Công Khương Tiểu Bạch) dựng nên. Lúc đó, họ Điền mới thay thế họ Khương, quyền vị còn chưa vững, Điền Ngọ học theo cách tôn sĩ của Khương Tiểu Bạch, đặt biệt cung ở Tắc Hạ, chiêu mộ hiền tài, nuôi sĩ tử. Khi Điền Nhân Tề mới kế vị, những người như Thuần Vu Khôn, Trâu Kỵ, Bành Mông đều ở trong Tắc Hạ, được tôn xưng là Tắc Hạ tiên sinh. Lúc đó Uy Công đam mê tửu sắc, không ngó ngàng đến triều chính, Trâu Kỵ đã nhờ vào tài gảy đàn để yết kiến, còn Thuần Vu Khôn dùng lời bóng gió để khuyên can. Uy Công bừng tỉnh khỏi cơn mê, trọng dụng Trâu Kỵ làm tướng quốc, chỉnh đốn quan chế, phát triển nông thương, nhờ đó mà nước Tề được đại trị. Sau khi Trâu Kỵ tòng chính, Thuần Vu Khôn đã giúp Tề đi sứ nước Triệu, rời khỏi Tắc Hạ. Nghe theo đề xuất của Trâu Kỵ, Uy Công đã mở rộng Tắc Hạ, dùng vàng bạc để chiêu mộ sĩ tử, nhờ vậy mà hiền tài trong thiên hạ nườm nượp kéo về. Uy Công phong Tắc Hạ tiên sinh Bành Mông làm tế tửu của học cung, đối đãi theo lễ quan khanh, bổng lộc hậu hĩnh, chủ trì các sự vụ thường ngày ở Tắc Hạ; phong thượng đại phu Điền Anh làm Tắc cung lệnh, là cầu nối giữa Tắc Hạ và Tề cung. Đến khi Uy Công xưng vương, quy mô của Tắc cung càng phát triển chưa từng có, sĩ tử đông đến hàng ngàn. Tắc Hạ tiên sinh cũng có hơn chục, mỗi người đều có đông đảo đệ tử, phong khí sôi nổi nhộn nhịp vô cùng.

Bành Mông mắc bệnh qua đời, Uy Vương rất đỗi đau thương. Khi Lâu Hoãn lên triều, Uy Vương đang ở trong cung cùng với mấy vị trọng thần bàn chuyện an táng. Lâu Hoãn khấu kiến xong, nói rõ mục đích tìm đến, báo rằng sứ thần bốn nước Tô Tần ba ngày nữa sẽ tới Lâm Truy yết kiến Tề Vương, đồng thời trình lên ước thư của bốn nước và hịch văn hợp tung.

Uy Vương nhận lấy ước thư, hịch văn, liếc mắt nhìn Lâu Hoãn, rồi chậm rãi nói: “Lâu Tử từ xa vất vả tới nơi, hãy tạm trở về dịch quán nghỉ ngơi mấy bữa, quả nhân sẽ chọn ngày lành thỉnh giáo!”

Lâu Hoãn lại bái lạy rồi lui ra.

Thấy Lâu Hoãn đã đi xa, Uy Vương bèn quay sang nhìn Điền Anh: “Ái khanh, hãy nói tiếp chuyện ban nãy. Tắc cung do tiên quân lập ra, là cội nguồn của mưu lược; sĩ tử là bảo bối của đất nước, là cái gốc để hưng Tề. Việc của Tắc cung cũng là việc của đất nước. Tắc cung hưng, nước sẽ hưng; Tắc cung suy, nước sẽ bại. Bành tế tửu đã quy tiên, không những là tổn thất lớn đối với Tắc cung, mà còn là tổn thất đối với đất nước. Tang sự của Bành tế tửu phải thật long trọng, có thể hậu táng theo lễ thượng khanh. Quả nhân muốn cho cả thiên hạ đều biết, ở Tắc Hạ của ta, sống được hậu dưỡng, chết được hậu táng!”

Uy Vương tấm lòng khảng khái, khiến tất cả triều thần đều cảm phục. Ngay cả thượng tướng quân Điền Kỵ vốn luôn có thành kiến với Tắc Hạ dường như cũng có điều cảm ngộ, liên tục gật đầu.

“Vi thần tuân chỉ!” Điền Anh vòng tay nói.

“Tắc Hạ không thể không có tế tửu. Về việc này, ái khanh có cao kiến gì chăng?”

“Vi thần cho rằng,” Điền Anh bẩm tấu, “Tắc Hạ ngọa hổ tàng long, quần tụ anh tài trong thiên hạ, chức vị tế tửu, không phải người đức cao trọng vọng, không thể đảm đương. Hiện giờ trong học cung Tắc Hạ có mười một vị Tắc Hạ tiên sinh, như Thận Đáo, Doãn Văn Tử, Trâu Diễn, Hứa Hành, Điền Biền, Tiếp Tử, Hoàn Uyên, Công Tôn Long, đều có tài năng, chỉ có điều danh vọng vẫn chưa đủ để phục chúng. Vi thần nghĩ tới một người, hoặc giả sẽ khiến mọi người khâm phục!”

“Ai?”

“Thuần Vu Khôn!”

“Phải, chính là người này!” Uy Vương lập tức quyết định, rồi quay sang Trâu Kỵ, bất giác thở dài. “Than ôi, năm xưa quả nhân mê rượu như mệnh, may được Thuần Vu Tử khéo léo can gián, nên mới bỏ được thói say sưa bê trễ.”

“Ồ!” Trâu Kỵ liền nói. “Chuyện này thật mới lạ, vi thần chưa từng nghe bệ hạ nhắc đến bao giờ!”

“Đều là những chuyện trước đây,” Uy Vương cười gượng một tiếng, cảm thán mà rằng, “nhưng cứ mỗi khi nghĩ lại, vẫn ngỡ như chuyện mới hôm qua!”

Tích Cương rất đỗi hiếu kỳ, bèn nói xen vào: “Phụ vương, có thể kể lại chuyện cũ này được chăng?”

Uy Vương khẽ gật đầu, rồi chậm rãi kể: “Năm xưa, khi quả nhân mới kế vị, không có chí tiến thủ, đắm chìm trong tửu sắc. Từ sau khi Trâu ái khanh dùng tiếng đàn để can gián, mặc dù quả nhân đã chú tâm hơn đến quốc sự, nhưng vẫn chưa thể bỏ dứt tửu sắc. Một hôm, quả nhân triệu Thuần Vu Tử đến để uống rượu thâu đêm, rồi cười hỏi ông ta: ‘Tiên sinh uống bao nhiêu thì say?’ Thuần Vu Tử đáp: ‘Thần uống một đấu cũng say, mà uống một thạch cũng say.’ Quả nhân ngạc nhiên hỏi: ‘Tiên sinh uống một đấu cũng say, cớ sao lại có thể uống được một thạch, có thể nói rõ nguyên nhân chăng?’ Thuần Vu Tử đáp: ‘Nếu là chúa thượng ban rượu, bên cạnh có chấp pháp, phía sau có ngự sử, Khôn sợ hãi phủ phục mà uống, một đấu chắc chắn sẽ say. Nếu là khách quý đến thăm, cha mẹ ở bên, Khôn là vãn bối, xắn tay khom lưng hầu rượu, uống không quá hai đấu. Nếu là bằng hữu trùng phùng, cùng dốc bầu tâm sự, có thể uống được năm sáu đấu. Nếu là làng xóm tụ hội, nam nữ ngồi lẫn lộn với nhau, thoải mái mà uống, hô bè gọi bạn, nắm tay cười nói, chơi hết trò nọ đến trò kia, liếc mắt đưa tình, ghé tai chạm mặt, người uống ai cũng vui vẻ, Khôn uống đến tám đấu cũng không say. Nếu là đêm tối không trăng, mỹ nữ thịnh tình mời mọc, chạm gối mà ngồi, cốc chén bừa bộn, trong nhà nến tắt, chủ nhân tiễn khách mà chỉ giữ lại Khôn, nhẹ trút xiêm y, cơ thể toả hương sực nức, là lúc Khôn lòng dạ mềm yếu nhất, có thể uống tới một thạch.’ Quả nhân ngẫm nghĩ, biết Thuần Vu Tử đang ngấm ngầm can gián, bất giác thở dài mà nói: ‘Ý tiên sinh phải chăng là rượu quá đà ắt loạn, vui quá hoá buồn?’ Thuần Vu Tử cười đáp: ‘Chúa thượng, Khôn cho rằng, vạn sự đều như vậy, đến cùng cực tất sẽ suy.’ Quả nhân cảm khái vạn phần, từ đó quyết sửa sai lầm lúc trước, tuyệt không bao giờ uống rượu thâu đêm nữa!” Dừng lại một thoáng, càng tấm tắc khen ngợi. “Cái khác tạm chưa nói đến, chỉ một lời khuyên này, Thuần Vu Tử cũng đã xứng đáng làm tế tửu!”

Quần thần đều thán phục: “Bệ hạ thánh minh!”

Tề Uy Vương ngẩng đầu, quay sang Điền Anh, chau mày hỏi: “Ái khanh, Thuần Vu Tử tiêu diêu khắp chốn, không biết hiện đang đi đâu, làm thế nào để mời tiên sinh về làm tế tửu?”

“Bệ hạ yên tâm!” Điền Anh đáp. “Hiện giờ Thuần Vu Tử đang ở Hàm Đan. Khi Bành tế tửu bệnh nặng, vi thần đã phái người đến mời, Thuần Vu Tử biết tin Bành tế tửu quý thể bất an, chắc chắn sẽ đánh xe tìm đến. Nếu không ngoài dự đoán, giờ Ngọ trưa ngày kia, Thuần Vu Tử sẽ về tới nơi.”

“Vậy thì tốt quá!” Uy Vương gác lại chuyện này, cầm lấy ước thư từ trên bàn lên, ra hiệu cho nội thần đưa cho quần thần xem. “Chư vị ái khanh, việc Tô Tử hợp tung đang khiến cả thiên hạ ồn ào sôi sục. Nay đã có ước thư đưa đến, các khanh hãy cùng xem thử!”

Điện hạ Điền Tích Cương nhận lấy, chăm chú đọc một lượt rồi đưa cho Trâu Kỵ, Trâu Kỵ chuyển cho Điền Anh, Điền Anh chuyển cho Điền Kỵ. Chư thần đều đã xem hết lượt, nội thần lấy lại ước thư, đặt trả lên bàn của Uy Vương.

Uy Vương liếc nhìn khắp lượt quần thần: “Các khanh đều đã đọc xong, có nhận xét gì chăng?”

Điền Kỵ bước lên trước một bước: “Bệ hạ, việc hợp tung tuyệt đối không thể được!”

“Cớ sao không được?”

“Vi thần cho rằng, sáu nước hợp tung là để chế Tần. Tần dù bạo ngược, nhưng lại ở xa ta. Cho dù có thành hoạ, cũng chẳng liên quan gì tới ta. Kẻ địch của Tần là Tam Tấn, chứ không phải nước Tề ta!”

Tích Cương bước lên một bước, tiếp lời: “Nhi thần tán đồng với ý kiến của tướng quân!”

“Tại sao con lại tán đồng?” Uy Vương nhìn thẳng vào Tích Cương.

“Nhi thần cho rằng, kẻ địch lớn nhất của Tần là Tam Tấn, kẻ địch lớn nhất của chúng ta cũng là Tam Tấn, đây là điều thứ nhất. Ta phía đông giáp biển, phía tây là Tam Tấn, ta đều không thể lấn sang, chỗ duy nhất có thể mưu chiếm là Yên và các nước lưu vực sông Tứ. Nếu ta tham gia tung thân, phía bắc không thể chiếm Yên, phía nam không thể lấn xuống lưu vực sông Tứ, phía tây không thể thôn tính Tam Tấn, phía đông lại là biển lớn, hợp tung đối với ta chỉ có hại mà không hề có lợi!”

“Trâu ái khanh!” Uy Vương quay sang Trâu Kỵ. “Ý khanh thế nào?”

Trâu Kỵ vòng tay nói: “Suy nghĩ của điện hạ, vi thần cho rằng rất đúng. Tô Tần chống Tần là giả, chế ngự Tề, Sở mới là ý thực. Khi mới đề xướng hợp tung, Tô Tần chỉ đề cập đến Tam Tấn và nước Yên, không hề có Tề, Sở. Bây giờ lại mời ta nhập tung, sáu nước tung thân cùng chống một Tần, ý đồ vô cùng giả dối. Hơn nữa, hợp sáu nước để chống một Tần, việc này căn bản không hề thuyết phục. Với sức của người Tần hiện này, đừng nói là sáu nước hợp nhất, mà chỉ riêng một nước Ngụy, cũng đã đủ khiến người Tần ăn không ngon ngủ không yên!”

Thấy Điền Anh không lên tiếng, Uy Vương liền hỏi: “Ái khanh, sao khanh không nói gì?”

Điền Anh vòng tay nói: “Bệ hạ đã có chủ ý, vi thần hà tất phải nói nhiều?”

Uy Vương ngẩn người, nhìn Điền Anh chằm chằm, một lúc sau liền xua tay với quần thần: “Bãi triều!”

Thấy quần thần đã thoái lui, Uy Vương lại gọi: “Thượng đại phu, dừng bước!”

Điền Anh lập tức dừng lại.

Uy Vương cười nói: “Đi, đi cùng quả nhân!”

Quân thần hai người đi ra khỏi cửa bên của chính điện, bước theo con đường nhỏ đến hậu hoa viên. Đi được một lúc, Uy Vương dừng bước, nghiêng đầu hỏi: “Khanh hãy nói xem, quả nhân có chủ ý gì?”

Điền Anh liền nói: “Hợp tung!”

“Ồ?” Uy Vương kinh ngạc. “Quả nhân rất muốn biết, khanh không phải là quả nhân, cớ sao lại biết quả nhân có chủ ý này?”

“Hợp tung đối với ta lợi lớn hơn hại, với sự anh minh của bệ hạ, chắc chắn sẽ hiểu rõ điều này.”

“Hợp tung đối với ta có lợi hại thế nào, khanh hãy nói xem!”

“Trước tiên vi thần xin nói tới cái hại. Theo lời điện hạ, tướng quốc, Điền Kỵ tướng quân vừa nói khi nãy, hợp tung có bốn cái hại, một là kết oán với Tần, hai là không thể mưu tính nước Yên, ba là không thể mưu tính Tam Tấn, bốn là không thể mưu tính lưu vực sông Tứ. Vi thần đưa thêm một điều hại nữa, đó là hợp tung sẽ không thể tranh giành đất Sở!”

“Tranh Sở?” Uy Vương mở to mắt, nhìn thẳng vào Điền Anh.

“Bệ hạ!” Điền Anh chậm rãi nói. “So với Tần, Sở mới là kẻ địch đích thực của ta. Ta phía đông là biển lớn, không thể tiến được. Đất Yên xa xôi lại nghèo nàn, có chiếm cũng vô ích. Tam Tấn hung hãn cường thịnh, không dễ tranh đoạt. Tần bị Tam Tấn khoá chặt tại Quan Trung, là thân hay thù, cũng không đáng ngại. Ta chỉ có thể tiến xuống phía nam. Các nước lưu vực sông Tứ là nơi trù phú, trước nay luôn hữu hảo với ta. Vùng đất Lang Nha, thời Xuân Thu vốn là của ta, sau bị Câu Tiễn chiếm đoạt, nay lại bị người Sở chiếm mất. Điều này tạm chưa nói đến, hiện giờ Sở đã chiếm được Việt, Chiêu Dương lên làm lệnh doãn, người này am hiểu vùng sông Tứ, từ lâu đã thèm thuồng Tống, Lỗ, nuôi chí đã lâu, ắt sẽ tranh giành với ta. Nếu ta hợp tung, ta sẽ phải làm hoà với Sở, nên không thể tranh giành lưu vực sông Tứ và đất Việt!”

“Ái khanh nói phải lắm!” Uy Vương gật gù, tiếp tục bước đi, vừa đi vừa hỏi. “Đây là năm cái hại, vậy còn lợi?”

Điền Anh vẫn đứng yên tại chỗ, hơi cao giọng mà nói: “Vi thần cho rằng, hợp tung đối với ta có năm cái hại, nhưng lại chỉ có một cái lợi!”

“Ồ!” Uy Vương lại dừng bước, ngoảnh đầu hỏi. “Là cái lợi gì?”

“Đánh Ngụy, rửa mối nhục Hoàng Trì!” Điền Anh dằn mạnh từng chữ.

Uy Vương trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, rồi chậm rãi nói: “Đúng vậy! So với cái lợi này, tất cả những cái hại còn lại chẳng đáng là gì. Mối nhục Hoàng Trì, dù Điền Kỵ có sai sót, nhưng sai lầm lớn nhất vẫn là ở quả nhân. Sau trận chiến Hà Tây, quả nhân cho rằng có thể đánh Ngụy, không ngờ lại xuất hiện một Bàng Quyên, khiến giấc mộng Hoàng Trì của quả nhân tan thành mây khói. Hiện giờ Ngụy Anh có hiền thần đầy triều, quốc lực mạnh mẽ, việc báo thù của quả nhân chỉ có thể giấu kín trong lòng. Nếu sáu nước hợp tung, Ngụy Anh ắt sẽ không còn coi ta là kẻ địch, từ đó sẽ dốc hết sức lực để mưu đồ về tây, chiếm lại Hà Tây. Tần, Ngụy lại tranh giành, khác nào hổ sói đánh gấu dữ, bất kể ai thắng ai thua, cũng đều có lợi cho ta. Thế nhưng... quả nhân vẫn còn một điều lo lắng!”

“Bệ hạ lo lắng điều gì?”

“Bên cạnh quả nhân còn thiếu một nhân tài như Bàng Quyên. Sau trận chiến Hà Tây, Ngụy thất đã như con tằm chết cứng, cùng lúc bị bốn nước rình rập tứ bề. Vậy mà Bàng Quyên lại có thể xoay làn sóng dữ, chỉ với ba vạn bại binh, trong vòng năm ngày thắng liền hai trận, thực khiến quả nhân kinh sợ. Nghe nói Bàng Quyên trị binh vô cùng nghiêm khắc, võ binh Đại Ngụy khôi phục uy phong, quả nhân quả thực ăn ngủ không yên!”

“Bệ hạ, đạo trời luôn cân bằng! Xuất hiện Bàng Quyên, ắt sẽ xuất hiện người chế ngự được Bàng Quyên. Chỉ cần bệ hạ thành tâm tìm kiếm, người này chắc chắn sẽ xuất hiện!”

“Đúng vậy! Quả nhân đặt hy vọng vào Tắc cung. Việc lớn này, phải trông cậy vào ái khanh!”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Mặc dù vậy, song việc hợp tung vẫn cần thận trọng!”

“Bệ hạ!” Điền Anh hơi sững lại.

“Quả nhân đã nhiều lần suy nghĩ về đạo hợp tung của Tô Tần, nào là ‘ngũ thông’, ‘tam đồng’, ‘sáu nước chế Tần’, phần lớn đều là ý nghĩ hoang đường. Nghe nói Tô Tần xuất thân hàn vi, rất giỏi biện luận. Nếu là như vậy, trong Tắc cung của ta, những người ăn nói giỏi giang, thao thao hùng biện có tới hàng ngàn. Tuy nhiên, người này lại có thể du thuyết được cả bốn nước Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, ngay cả lão cáo già Ngụy Anh cũng bị hắn thuyết phục, điều này khiến quả nhân hết sức bất ngờ. Có lẽ do hắn suốt dọc đường phô trương thanh thế, lấy thế ép người. Nay người này thừa thắng về đông, tiến đến nước ta, nếu quả nhân không hỏi rõ trắng đen phải trái, đã mê muội nghe theo, chẳng may có gì sơ sảy, há chẳng phải làm trò cười cho đời sau như bốn vị quân chủ của bốn nước kia ư?”

“Bệ hạ lo lắng rất đúng! Vi thần có một kế, có thể phòng được điều này.”

“Ái khanh có kế gì?” Uy Vương vội hỏi.

“Trước tiên, hãy đối xử lạnh nhạt để làm nhụt cái thế của hắn. Tiếp đó, đưa hắn tới Tắc cung, luận chiến với chư vị Tắc Hạ tiên sinh. Nếu người này có thể vượt qua cửa ải Tắc Hạ tiên sinh, chắc chắc là kỳ tài tuyệt thế, bệ hạ có thể hợp tung. Nếu người này chỉ là ngoài miệng khoác lác, trong bụng rỗng không, chắc chắc sẽ bị lật thuyền ở Tắc Hạ. Đường đường là sứ thần của bốn nước, lại bị mất mặt tại Tắc Hạ của ta, sẽ thành giai thoại truyền khắp liệt quốc!”

“Hay! Hay lắm! Kế này hay lắm!” Uy Vương gật đầu lia lịa. “Lúc nãy nghe ái khanh nói, Thuần Vu Tử giờ Ngọ ngày kia sẽ đến, còn phía Tô Tần thì thế nào?”

“Nghe Lâu Hoãn nói, cũng vào ngày kia, còn đến vào giờ nào, vi thần không chắc chắn.”

“Ồ, thật là trùng hợp!” Uy Vương phá lên cười lớn. “Cũng tốt, khanh hãy mau đi sắp xếp. Mấy ngày tiếp theo không lên triều, tất cả triều thần đều làm hai việc: một, nghênh đón Thuần Vu Tử; hai, tiễn đưa Bành tế tửu!”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Tuy nhiên, Tô Tần đã là sứ thần của bốn nước, lại có công tử công tôn của ba nước Yên, Hàn, Ngụy đi cùng, chúng ta cũng không được quá lạnh nhạt, phải có người tiếp đãi mới phải!”

“Vi thần muốn phái khuyển tử đón tiếp sứ thần, không biết ý bệ hạ thế nào?” Điền Anh suy nghĩ một thoáng, rồi khẽ giọng tiến cử.

“Phải chăng là khuyển tử Điền Văn của ái khanh?” Uy Vương hỏi.

“Chính phải!” Điền Anh đáp. “Mấy năm nay khuyển tử đã có chút tiến bộ, cũng hiểu cách ứng đối, lại thích kết giao bằng hữu!”

“Được!” Uy Vương gật đầu, ngắt lời Điền Anh. “Vậy hãy chọn Điền Văn!”

Hai ngày sau, trên con đường từ Hàm Đan đến Lâm Truy, cách Lâm Truy chừng ba mươi dặm, một cỗ xe tứ mã có mui, trang trí xa hoa đang chạy từ hướng tây bắc sang hướng đông nam, bánh xe lộc cộc, rậm rịch mà đi, cuốn tung bụi đường bay mù mịt theo gió nhẹ.

Trước đó mấy dặm là con đường cái quan dẫn tới Lâm Truy, rõ ràng cỗ xe muốn rẽ vào con đường cái quan này.

Phu xe đang chăm chú đánh ngựa, đột nhiên nghe thấy có tiếng huyên náo từ xa vọng lại, vội ngẩng lên nhìn, thì thấy trên con đường cái quan có một đoàn ngựa xe đông đảo, cờ xí rợp trời, bụi bay mù mịt, từ xa nhìn lại, không thấy đầu cũng chẳng thấy đuôi, không biết kéo dài bao nhiêu dặm. Phu xe ước tính khoảng cách, sau đó quay đầu lại gọi lớn: “Chúa công, chúa công...”

Người trên xe chính là Thuần Vu Khôn. Lúc này ông ta đang khép mắt ngồi trong mui, bộ râu trắng xoá phất qua phất lại theo đà lắc lư của cỗ xe.

Nghe thấy tiếng gọi, Thuần Vu Khôn mở hé đôi mắt ngái ngủ, hỏi: “Có chuyện gì?”

“Phía trước có xe ngựa!”

“Có thì đã sao, ngươi la lối cái nỗi gì?”

“Chúa công!” Phu xe cuống quýt. “Chúa công hãy mở mắt ra mà xem, đoàn xe ngựa đó không biết có bao nhiêu mà kể. Nếu để họ vượt lên trước, chúng ta không biết sẽ phải đợi đến bao giờ?”

Thuần Vu Khôn vừa đưa mắt nhìn, đã biết ngay là sứ đoàn hợp tung của Tô Tần, thì lại khép mắt mà nói: “Ngươi còn ngẩn ra đấy? Mau đánh xe vượt lên trước!”

Phu xe vâng lệnh, lập tức ra roi quất ngựa, bốn con tuấn mã hí vang, cỗ xe lao như bay về phía con đường cái quan, vừa may vượt được lên trước đoàn xe ngựa. Phu xe quay đầu nhìn Thuần Vu Khôn, thấy ông ta lại ngủ thiếp đi, thì cười thầm trong bụng, tiếp tục đánh xe. Con đường cái quan rộng rãi bằng phẳng, tuấn mã gặp đường tốt, vô cùng thích chí, ngẩng đầu tung vó, chẳng mấy chốc đã bỏ đoàn người ngựa đông đảo kia lại tít phía xa.

Đi thêm mười mấy dặm, từ xa đã nhìn thấy bóng lầu thành cổng tây của thành Lâm Truy. Phu xe bỗng thấy phía trước có một đoàn xe ngựa phóng thẳng đến trước mặt, bèn dụi mắt nhìn, khi đã thấy rõ, vội quay đầu lại gọi: “Chúa công, chúa công!”

Thuần Vu Khôn chẳng thèm ngẩng đầu: “Lại gọi cái gì?”

“Phía trước lại có xe ngựa!”

“Thì cứ vượt qua đi!”

“Tiểu nhân không vượt qua được, vì đoàn xe đó đang đi về phía chúng ta, đông chật cả đường cái!”

“Ồ?” Thuần Vu Khôn mở mắt nhìn, quả nhiên nhìn thấy đoàn xe rầm rập tiến đến, đang cúi đầu suy nghĩ, thì phu xe lại kinh ngạc kêu toáng lên: “Chúa công, mau nhìn xem! Có vương kỳ, lại có cả vương xa!”

Thuần Vu Khôn vội ngẩng đầu lên, quả nhiên nhìn thấy vương kỳ, xa giá, biết là Uy Vương giá lâm, chau mày một lát, rồi chậm rãi nói: “Vương xa thì có gì đáng nói? Ngươi cứ việc đi đường của ngươi!”

Phu xe vâng lệnh, tiếp tục thúc ngựa tiến lên, vừa đi vừa nói: “Chúa công, chắc chắn là Tề Vương đi đón đoàn xe ngựa kia, lúc nãy tiểu nhân nhìn thấy cờ hiệu, hình như là Tô tướng quốc. Chà chà, Tô tướng quốc thực hiển hách, sứ thần của bốn nước, lần này đến Tề, ngay cả Tề Vương cũng phải ra ngoài thành nghênh đón! Chà chà! Chà chà!”

Thuần Vu Khôn nhắm mắt ngồi yên, chẳng thèm đếm xỉa đến phu xe. Do hai bên đi ngược chiều nhau, nên chẳng mấy chốc đã đụng đầu. Khi chỉ còn cách nhau chừng hơn trăm bước, phu xe dừng lại, quay đầu nhìn Thuần Vu Khôn: “Chúa công, đừng ngủ nữa, sắp gặp nhau rồi!”

Thuần Vu Khôn vẫn chẳng buồn ngẩng đầu: “Đánh xe sang bên đường!”

Phu xe vội vàng đánh xe dạt sang một bên đường, nhảy xuống, quỳ ở bên cạnh cỗ xe.

Khi còn cách chừng năm mươi bước, đội xe ngựa phía trước cũng dừng lại. Tề Uy Vương bước xuống xe, ung dung đi đến. Theo sát phía sau là bá quan triều thần gồm điện hạ, Trâu Kỵ, Điền Anh, Điền Kỵ, sau nữa là mấy vị Tắc Hạ tiên sinh.

Phu xe liếc mắt nhìn thấy, vội vàng đưa tay dụi mắt, gọi cuống lên: “Chúa công, chúa công!”

Thuần Vu Khôn quát tướng lên: “Lại gọi gì nữa?”

Phu xe nói khẽ: “Là Tề Vương bệ hạ, đang đi đến chỗ chúng ta!”

Thuần Vu Khôn mở mắt ra nhìn, thấy Tề Vương đã sắp đi đến trước mặt, thì giật bắn mình, luống cuống nhảy xuống khỏi xe, tiến lên phía trước mấy bước, quỳ xuống giữa đường, khấu đầu sát đất: “Thảo dân Thuần Vu Khôn đường đột đến đây, không biết bệ hạ giá lâm, đã mạo phạm vương giá, xin bệ hạ trị tội!”

Uy Vương bước lại gần, đưa tay đỡ Thuần Vu Khôn dậy: “Tiên sinh, là quả nhân đã đến đón chậm!”

Thuần Vu Khôn lặng người, không dám tin vào tai mình: “Bệ hạ đến là để đón thảo dân ư?”

“Đương nhiên là để đón tiên sinh!” Uy Vương gật đầu nói. “Trên đời này, người xứng đáng được quả nhân ra ngoài thành đón tiếp, không phải tiên sinh, thì còn ai nữa?”

Thuần Vu Khôn vòng tay vái lia lịa: “Thảo dân có tài đức gì mà được bệ hạ hạ cố ra tận đây đón tiếp?”

Uy Vương vòng tay đáp lễ, thở dài: “Than ôi, phu tử từ biệt đằng đẵng mấy năm, chỉ biết vui cho riêng mình, mà quên bẵng cả quả nhân và Tắc Hạ. Lần này nếu không phải Bành tiên sinh quy tiên, e rằng quả nhân cũng chẳng thể gặp được phu tử. Hay tin phu tử đến, quả nhân cả đêm không ngủ được, vốn định ra ngoài thành mười dặm nghênh đón, nhưng không ngờ lại đến chậm!”

Thuần Vu Khôn lại vòng tay vái, giọng nghẹn ngào: “Bệ hạ!”

Nhìn thấy bụi bay mù mịt đằng xa, Tề Uy Vương bước tới, dắt tay Thuần Vu Khôn, cười nói: “Được rồi, chỗ này gió lạnh, mời tiên sinh hãy cùng quả nhân trở về cung trò chuyện.”

Vì tay đã bị cầm, nên Thuần Vu Khôn không thể đáp lễ, đành phải liếc nhìn quần thần và các vị Tắc Hạ tiên sinh, mỉm cười gật đầu coi như chào hỏi, sau đó cùng Uy Vương bước lên vương xa.

Đoàn xa giá quay đầu hồi cung.

Sứ đoàn hợp tung thảy đều sững sờ trước cảnh tượng này, cùng vội vàng dừng xe ghìm ngựa. Tất cả mọi người, gồm cả Tô Tần, đều nghĩ rằng quân thần nước Tề xuất cung là để nghênh đón họ, không ngờ Tề Vương lại vòng ngựa trở về trước bao cặp mắt ngỡ ngàng.

“Người trên cỗ xe phía trước là thần tiên phương nào, có ai nhìn thấy không?” Công tử Ngang lớn tiếng hỏi.

Sau khi trở ra từ lãnh cung, mặc dù công tử Ngang được mang tước An Quốc Quân, nhưng chức vị chỉ là tham tướng. Lần này được lệnh làm phó sứ hợp tung, lúc đầu công tử Ngang nghĩ không thông, vô cùng uất ức, buồn bã suốt mấy ngày trời, rồi vào cung kể lể với mẫu phi. Mẫu phi nói lại với Huệ Vương, sau khi bị Huệ Vương mắng cho một trận, công tử Ngang mới biết được nhận nhiệm vụ này chính là được trọng dụng, từ đó mới hoan hỷ đảm nhiệm chức phó sứ.

Công tử Chương lắc đầu: “Xe có mui che, không nhìn rõ!”

Công tôn Khoái tiếp lời: “Có thể khiến Tề Vương ra tận ngoài thành nghênh đón, chắc chắn không phải hạng tầm thường!”

“Mặc xác hắn là ai, đợi lát nữa gặp, xem ta không bẻ gãy cổ hắn!” Công tử Ngang hậm hực nói.

Mọi người đều bật cười, sau đó cùng quay sang nhìn Tô Tần.

Tô Tần cũng cười mấy tiếng, nói: “Các vị nhìn tại hạ làm gì? Còn không mau lên đường, định qua đêm ở đây hẳn?”

Công tử Chương nhảy lên xe ngựa, đi trước dẫn đường, sứ đoàn hợp tung tiếp tục di chuyển. Đi tới chỗ Tề Vương vừa dừng xe ban nãy, thấy có một cỗ xe đứng đợi ở bên đường, một thanh thiên áo trắng diện mạo anh tuấn đứng khom lưng trước đầu xe.

Sứ đoàn hợp tung liền dừng lại.

Công tử Chương nhận ra đó là Điền Văn, con trai của Điền Anh, liền nhảy xuống xe, bước tới chào hỏi.

Điền Văn vòng tay: “Tại hạ Điền Văn xin chào sứ thần!”

Công tử Chương vòng tay đáp lễ, hỏi: “Hàn Trương xin chào Điền đại nhân!” Dừng lại một chút, bèn hỏi. “Điền đại nhân sao lại đến nơi này?”

Điền Văn vòng tay đáp: “Tại hạ phụng mệnh gia phụ, đến đây để nghênh đón sứ đoàn hợp tung!”

Công tử Chương dẫn Điền Văn tới trước xe Tô Tần. Tô Tần nghe báo, liền bước xuống xe, tiến lại vòng tay vái chào: “Tại hạ Tô Tần xin chào Điền đại nhân!”

Điền Văn vòng tay đáp lễ: “Điền Văn xin chào Tô Tử. Tại hạ phụng mệnh gia phụ, đến đây cung nghênh Tô Tử và các vị công tử, công tôn!”

“Khiến đại nhân vất vả rồi!” Tô Tần khom lưng đa tạ.

“Lệnh tôn ở đâu?” Công tử Ngang cũng bước tới, chưa thèm hành lễ đã hỏi thẳng.

“Hồi bẩm thượng tướng quân,” Điền Văn vòng tay vái công tử Ngang và những người khác, “gia phụ vốn định đích thân đi đón, nhưng trước lúc khởi hành, lại nhận được khẩu dụ của bệ hạ, cùng bệ hạ ra ngoài thành đón Tắc Hạ tiên sinh Thuần Vu Tử. Gia phụ không dám kháng chỉ, lại chẳng có thuật phân thân, nên đành phải để tại hạ đi nghênh đón thay. Nếu chưa được chu toàn, xin Tô Tử và chư vị công tử lượng thứ!”

“Ồ, cứ tưởng là thần tiên phương nào, té ra lại là lão trọc đó!” Công tử Ngang mỉa mai.

Mọi người cười cũng không đành, trách cũng không xong, chỉ biết quay mặt nhìn nhau, chẳng ai nói câu nào. Vẫn là Điền Văn hào sảng, cười vang vài tiếng, lại vòng tay với công tử Ngang: “Nghe đồn thượng tướng quân ăn nói hài hước, hôm nay mới tin là thực!”

Công tử Ngang không tiện nói gì thêm, cũng bật cười, vòng tay nói: “Cười chê rồi!”

Điền Văn quay sang Tô Tần, vòng tay nói: “Gia phụ không thể ra đón, trong lòng áy náy, nên đã căn dặn tại hạ nhất định phải sắp xếp chu đáo cho Tô Tử và chư vị công tử, công tôn. Lâm Truy nhỏ hẹp, không thể chứa được từng này người ngựa, nên đành phải xin mọi người chịu khổ, tạm thời hạ trại ở ngoài thành. Còn chư vị sứ thần và quan viên tuỳ tùng, tại hạ đã sắp xếp dịch quán ổn thoả. Có chỗ nào sơ suất, mong chư vị lượng thứ cho!”

Tô Tần cũng vòng tay nói: “Sắp xếp thật chu đáo, đa tạ đại nhân!”

Điền Văn vòng tay với Tô Tần và những người khác: “Tô Tử, chư vị, mời!” Nói xong, Điền Văn liền quay người, thong thả trở lại xe của mình, bảo phu xe đánh xe đi trước dẫn đường.

Đoàn người ngựa rậm rịch theo sau, thong thả tiến về Lâm Truy.

Đêm hôm đó, sứ thần của bốn nước trú tại dịch quán. Từ Đại Lương đến Lâm Truy, mọi người đã phải đi liền mười mấy ngày trời, ai nấy đều mệt mỏi, đi ngủ từ sớm.

Tô Tần triệu Lâu Hoãn đến, bàn bạc đến nửa đêm. Lâu Hoãn kể lại tỉ mỉ về biến cố ở Tắc cung. Tô Tần than thở: “Nhiều năm trước, khi còn ở Tắc Hạ, tại hạ từng được nghe Bành tiên sinh giáo huấn, học hỏi được thêm không ít. Lần này trở lại, tại hạ vốn định tiếp tục thỉnh giáo tiên sinh, không ngờ tiên sinh đã đi trước một bước! Than ôi, trời đất dằng dặc, mạng người ngắn ngủi, thời chẳng đợi ta!”

Lâu Hoãn cũng than thở buồn rầu. Hai người lại bàn thêm một lúc, Lâu Hoãn thấy Tô Tần đã mệt, liền cáo từ ra về.

Sáng sớm hôm sau, Điền Văn lại đến. Tô Tần hỏi về chuyện vào triều yết kiến quân chủ, Điền Văn liền nói: “Bành tế tửu quy tiên, bệ hạ đau buồn, đã ra chiếu lệnh mấy hôm nay không lên triều. Còn về việc lúc nào lên triều trở lại, vẫn phải đợi ý chỉ của bệ hạ!”

Tô Tần vòng tay nói: “Nếu đã như vậy, tại hạ xin hỏi thăm Điền huynh một chuyện!”

“Tô Tử cứ nói!”

“Trọng Ni đến Tề, nghe nhạc ‘Thiều’ ba tháng, không biết đến mùi thịt. Xin hỏi Điền huynh, có biết nơi ngày trước Trọng Ni nghe nhạc ‘Thiều’ không?”

Điền Văn gật đầu: “Có biết, cách chỗ này không xa, vốn là phủ trạch của thái sư Cao Chiêu Tử. Sau khi họ Cao suy vi, phủ trạch này đã chuyển qua tay ba nhà, hiện giờ được một lão nhạc sư cổ quái mua lại, đã đổi thành nhạc phường rồi.”

“Vậy thì tốt quá!” Tô Tần mừng rỡ. “Phiền Điền huynh dẫn tại hạ tới đó, một là để tưởng nhớ Trọng Ni, hai là nhân dịp thưởng thức nhã nhạc của quý quốc.”

“Tại hạ sẵn sàng giúp chút sức mọn!” Điền Văn vui vẻ nhận lời.

Hai người đứng dậy. Tô Tần thay quan phục, mặc lên người bộ y phục sĩ tử tinh tươm, vừa bước ra khỏi sảnh đường, công tôn Khoái đứng gần đó nhìn thấy, vội bước lại hỏi: “Hai vị định đi đâu ư?”

“Đến chỗ Trọng Ni nghe nhạc ‘Thiều’!” Tô Tần dừng bước đáp lời.

“Ồ!” Công tôn Khoái tỏ ra hào hứng, vội nói. “Tại hạ có thể đi cùng được không?”

“Công tôn nếu đã thích ‘Thiều’, vậy hãy cùng đi!”

“Công tôn Khoái vội trở về phòng, thay một bộ y phục giản dị, ba người cười cười nói nói ra khỏi dịch quán.”

Phủ Cao Chiêu Tử cách dịch quán chỉ vài trăm bước, chốc lát, ba người đã đến nơi. Điền Văn báo cho môn nhân, môn nhân trở vào bẩm báo, rồi một lão nhạc sư râu tóc bạc phơ bước ra. Thấy là Điền Văn, thì sắc mặt hơi sầm xuống, khẽ vòng tay mà nói: “Lão hủ xin chào đại nhân!”

Điền Văn đáp lễ, chỉ vào Tô Tần, công tôn Khoái mà nói: “Lão tiên sinh, vãn sinh dẫn hai vị khách quý tới. Vị này là Tô Tần, sứ thần của bốn nước, còn vị này là công tôn Cơ Khoái của nước Yên. Được biết đây là nơi Trọng Ni từng nghe nhạc ‘Thiều’, nên muốn đến tế bái!”

Lão nhạc sư hơi ngẩng đầu, liếc qua hai người, hờ hững vòng tay: “Hai vị khách quý, mời!” Rồi chưa đợi Tô Tần, công tôn Khoái đáp lễ, lão nhạc sư đã quay ngoắt người đi vào luôn.

Hai người đều ngỡ ngàng, may mà đã được Điền Văn giới thiệu trước, nên cũng nhanh chóng định thần trở lại.

Lão nhạc sư dẫn ba người đi thẳng tới chỗ Khổng Tử từng nghe ‘Thiều’, chỉ tay vào một đài tấu nhạc cũ kỹ trước mặt: “Hai vị khách quý, đây chính là chỗ Trọng Ni nghe ‘Thiều’ ngày trước, hai vị hãy tế bái đi!”

Tô Tần bước lên trước, từ từ quỳ xuống trước đài, hành đại lễ ba lạy chín dập đầu. Công tôn Khoái thấy vậy, cũng bước tới quỳ xuống.

Hai người bái xong, Tô Tần quay sang lão nhạc sư, vòng tay vái một vái thật sâu: “Vãn sinh Tô Tần dám hỏi tiền bối, đây là chỗ Trọng Ni nghe ‘Thiều’, vậy nay còn có nhạc ‘Thiều’ hay không?”

Lão nhạc sư đột nhiên hai mắt sáng rực như ngọn đuốc, nhìn đăm đăm vào Tô Tần chốc lát, rồi thu ánh mắt lại, chậm rãi nói: “Đã là nơi Trọng Ni nghe ‘Thiều’, tất nhiên sẽ có nhạc ‘Thiều’!”

Tô Tần lại vòng tay: “Vãn sinh bất tài, có nghe được chăng?”

Lão nhạc sư đắn đo một lát, rồi ngẩng đầu hỏi: “Lão hủ xin hỏi Tô Tử, cớ sao lại muốn nghe?”

“Vãn sinh nghe nói, Trọng Ni đến Tề, nghe nhạc này mà ba tháng liền không biết tới mùi thịt. Vãn sinh đã đến nước Tề, nếu bỏ qua khúc nhạc tuyệt diệu nhường này, há chẳng phải tiếc nuối cả đời ư?”

Lão nhạc sư vòng tay nói: “Khúc nhạc này cổ lỗ, từ lâu đã không còn thịnh, từ sau thời Trọng Ni đã chẳng mấy ai muốn nghe. Tô Tử nếu đã có nhã hứng, hãy đi theo lão hủ!”

Lão nhạc sư đi trước dẫn đường, ba người đi theo, một lát sau đến một sảnh nhạc rất rộng. Lão nhạc sư chỉ vào vị trí người nghe, ba người vòng tay đáp lễ, rồi ngồi cả xuống.

Sảnh nhạc có hình vòng cung, dưới nền trải thảm đỏ, trên sân khấu bày mười mấy loại nhạc cụ như chuông, trống, đàn cầm, đàn sắt, khánh, tiêu, sáo trúc, sáo đất, đàn tranh, bài trí rất mực trang nhã.

Càng kỳ lạ hơn nữa, lão nhạc sư chỉ khẽ vỗ tay, trong sảnh lập tức có tiếng động vọng lại. Từ bên cạnh đi ra hơn mười nhạc sư, ai vào chỗ nấy. Lão nhạc sư bước vào giữa đám nhạc sư, cầm lấy một cây tiêu, khẽ hé môi thổi, trong sảnh lập tức dư âm vấn vít. Lão nhạc sư lại thổi một tiếng, các nhạc sư nhất tề tấu nhạc, một khúc “Thiều” tráng lệ nổi lên. Trong khoảnh khắc, tám loại nhạc cụ đồng, đá, đất, gỗ, trúc, tơ, bầu, da cùng hoà điệu dìu dặt, dư âm như sóng.

Ba người hoàn toàn chấn động trước thanh thế phi thường lan toả từ khúc nhạc.

Tô Tần nhắm nghiền hai mắt, thân tâm hoàn toàn chìm đắm trong “Thiều”, người khẽ lắc lư theo nhịp nhạc.

“Thiều” là khúc nhạc được sáng tác dưới thời vua Thuấn, còn gọi là “Đại Thiều”, gồm cả thảy chín chương, nên còn gọi là cửu ca hoặc cửu chương, tức Tế thiên, Vu vũ, Xạ liệp, Hội đồng, Kỳ vũ, Tế hoả, Quan thư, Phẫu vận, Trung hoà, mà “Phượng hoàng lai nghi” chính là đoạn cao trào. Mỗi chương đều được khởi đầu bằng tiếng tiêu, lần lượt ca ngợi công lao vĩ đại của các tiên vương thời tiền cổ, đặc biệt là của đế Nghiêu.

Chín khúc tấu xong, tiếng nhạc đã dừng, mà Tô Tần vẫn không hề phát giác.

“Tô Tử! Tô Tử!” Công tôn Khoái thấy lão nhạc sư đã cho đám nhạc sư lui ra, đang thong dong bước về phía họ, liền cất tiếng gọi khẽ.

Tô Tần vẫn không hay biết, hai mắt vẫn khép hờ, cơ thể vẫn khe khẽ lắc lư, dường như điệu nhạc tuyệt diệu kia đã tan chảy trong huyết quản, hoà hợp với linh hồn thành một thể.

Công tôn Khoái lo lắng, đưa tay định đẩy Tô Tần thì lão nhạc sư ngăn lại, ngồi xuống trước mặt Tô Tần.

Tô Tần mơ hồ tỉnh lại, mở mắt ra nhìn, thấy khúc nhạc đã kết thúc từ lâu, lão nhạc sư đang ngồi ngay trước mặt, vội vòng tay nói: “Nhã nhạc của tiền bối, hôm nay vãn bối đã được thụ giáo!”

“Không phải nhã nhạc của lão hủ, Tô Tử quá lời rồi!” Lão nhạc sư chậm rãi nói.

Thấy mình vừa mở miệng đã lỡ lời, Tô Tần cười ngượng nghịu, vòng tay tỏ ý tạ lỗi: “Đa tạ tiền bối chỉ điểm! Là vãn sinh đã nghe đến mê mẩn, nên lời nói cũng không còn sáng suốt!”

Lão nhạc sư sắc mặt hoan hỷ, bật cười thành tiếng: “Có thể thấy, Tô Tử rất hiểu nhạc!”

“Hiểu nhạc thì không dám, vãn sinh chỉ biết lắng nghe mà thôi!”

“Tô Tử đã lắng nghe, vậy xin hỏi, Tô Tử thấy khúc nhạc này thế nào?”

“Trọng Ni từng nói, ‘cái học của quân tử, khởi nhờ Thi, lập nhờ lễ, thành nhờ nhạc’, hôm nay vãn sinh đã được lĩnh ngộ rồi!”

Lão nhạc sư vòng tay nói: “Tô Tử có thể nói ra được lời này, xứng đáng là người hiểu nhạc! Lão hủ có chuẩn bị một ấm trà, muốn mời Tô Tử cùng thưởng thức, không biết Tô Tử có hứng hay không?”

Tô Tần vòng tay nói: “Được uống trà thơm của tiền bối, vãn sinh hân hạnh nào bằng!”

Lão nhạc sư sắc mặt tươi cười, đứng dậy cầm tay Tô Tần, chẳng thèm để ý tới Điền Văn, công tôn Khoái, cứ thế đi thẳng về phía nhà sau.

Điền Văn, công tôn Khoái có phần sượng sùng. Ngẩn ra một lát, Điền Văn nhún vai nói: “Xem ra, chúng ta không có phúc được uống trà thơm rồi, mau trở về thôi!”

Công tôn Khoái thở dài một tiếng, nhìn theo lão nhạc sư và Tô Tần đã đi xa, rồi từ từ đứng dậy, cùng Điền Văn quay về trong tiếc nuối.

Trong ngự thư phòng, thượng đại phu Điền Anh bẩm báo lại toàn bộ động tĩnh của Tô Tần trong mấy ngày nay.

“Ồ!” Tề Uy Vương nghiêng người về phía trước. “Ái khanh nói, Tô Tử ngày ngày đến nhạc phường, đàm đạo về âm nhạc?”

“Đúng vậy!” Điền Anh gật đầu. “Ba ngày liền, ngày nào cũng tới!”

“Là nhạc phường nào?”

“Là nhạc phường tư, trước đây là phủ của Cao Chiêu Tử, nơi ngày trước Trọng Ni nghe ‘Thiều’, vốn dĩ đã đổ nát hoang tàn, ba năm trước bỗng nhiên được một lão nhạc sư mua lại. Lão nhạc sư rất giàu có, đã mời nhiều nhạc sư từ khắp liệt quốc đến đây, cùng diễn tấu ‘Thiều’ trong phủ.”

“Ồ?” Uy Vương kinh ngạc. “Có vị đại sư này ở đây, sao quả nhân lại không biết?”

Điền Anh đáp: “Theo lời của khuyển tử, vị nhạc sư này lai lịch bí ẩn, trước kia ở tại Ung Môn, lang bạt đầu phố, đánh đàn mưu sinh, người ta gọi là Chu Ung Môn. Về sau, không hiểu tại sao Chu Ung Môn lại có được một khoản tiền kếch xù, mua đứt toà phủ kia để mở nhạc phường. Chu Ung Môn là người cổ quái, mặc dù mở nhạc phường, nhưng chưa bao giờ hoà tấu các khúc nhạc khác, chỉ diễn tấu một bản nhạc ‘Thiều’, ba ngày mới diễn một lần, mỗi lần chỉ diễn ba khắc. Khúc nhạc này cổ lỗ, đã hết thời từ lâu, người Tề chẳng còn ai muốn nghe, vì vậy nhạc phường của ông ta lúc nào cũng vắng tanh vắng ngắt. Toàn bộ thành Lâm Truy, ngoài những người hàng xóm, chẳng có ai biết đến ông ta. Nếu không phải lần này Tô Tần đến nghe ‘Thiều’, thì vi thần cũng không biết đến.”

“Than ôi!” Uy Vương thở dài. “Thật khiến quả nhân mất mặt! Người có thể diễn tấu nhạc ‘Thiều’, chắc chắn là bậc đại sư. Quả nhân từ nhỏ đã mê nhạc, chỉ hận mình không được sống cùng thời với Bá Nha, thường nằm mơ được gặp gỡ đại nhạc sư. Sau lại được nghe Trâu Tử gảy đàn cầm, lập tức coi là tri kỷ, trọng dụng làm tướng quốc. Nay có đại sư đến tận nơi này, quả nhân lại không hề hay biết, có khác nào Diệp Công thích rồng ở nước Sở xưa kia!” Rồi liên tục lắc đầu than thở.

Điền Anh vội đứng dậy, quỳ xuống đất khấu lạy: “Đây là tội của vi thần, xin bệ hạ giáng tội!”

“Mau bình thân!” Uy Vương lại thở dài. “Việc này sao có thể trách khanh được? Lâm Truy ngày nay, tiếng nhạc uỷ mị không dứt bên tai, cho dù Bá Nha tái thế cũng sẽ bị mai một mà thôi!” Dừng lại một chốc, lại nói. “Chưa nói tới cái khác, chỉ riêng một điểm này thôi, Tô Tử đã thực khác thường!”

Điền Anh đắn đo một lát rồi ướm lời: “Liệu vi thần có thể đến gặp Tô Tử, bảo hắn tới yết kiến bệ hạ chăng?”

“Không! Không! Không!” Tề Uy Vương vội xua tay, nói. “Hãy để hắn tới Tắc Hạ! Khi nào Tắc cung đưa tang Bành Tử?”

“Ngày kia!”

“Vậy thì ngày kia! Hãy mở một luận đàn tiễn đưa Bành Tử ở Tắc cung, mời cả Tô Tử đến!”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

Chập tối hôm sau, Tô Tần từ chỗ Chu Ung Môn nghe nhạc trở về, bỗng cảm thấy trong dịch quán có điều khác lạ. Trong sảnh đèn lửa sáng rực, mọi người đều ngồi ngay ngắn nghiêm trang trên chiếu, dường như có khách quan trọng đến thăm.

Công tử Chương mắt tinh, nhìn thấy Tô Tần đầu tiên, cười nói: “Nhìn kìa, Tô Tử đã trở về rồi!”

Mọi người đều đứng dậy nghênh đón, người bước ra đầu tiên là Điền Văn và Điền Anh.

Điền Anh vội bước lên mấy bước, khom lưng trước Tô Tần, vòng tay vái chào: “Tại hạ đến chậm, xin Tô Tử thứ tội!”

Tô Tần cũng đáp lễ, cười mà nói: “Thượng đại phu khách khí rồi! Lần này tại hạ đến đây, tất cả mọi việc đều do thượng đại phu sắp xếp, tại hạ đa tạ còn không kịp, sao có thể trách tội? Thượng đại phu, mời!”

Hai người dắt tay nhau cùng đi vào trong sảnh, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Điền Anh thở dài một tiếng: “Than ôi, chắc Tô Tử cũng đã biết rồi đấy! Mấy ngày nay, trong Tắc cung liên tiếp xảy ra chuyện lớn, trước tiên là Bành tế tửu quy tiên, sau đó là Thuần Vu Tử đến, tại hạ thân là Tắc cung lệnh, bận rộn trong ngoài, mệt mỏi đến không đứng thẳng lưng lên được!”

“Thượng đại phu nên lưu tâm tới quý thể!” Tô Tần cười nói. “Nếu thượng đại phu mệt quá mà sinh bệnh, tại hạ nếu lại tới Lâm Truy, hẳn là đến chỗ đặt chân cũng không tìm thấy nữa!”

Điền Anh cười, vòng tay tạ lỗi với mọi người: “Tô Tử và chư vị công tử, công tôn đến nơi, tại hạ tiếp đón chậm trễ, mong Tô Tử và chư vị công tử, công tôn bỏ quá cho!”

Tô Tần cũng vái đáp lễ, cười lớn mà nói: “Thượng đại phu nhất quyết muốn thỉnh tội, xem ra tại hạ muốn nói đùa cũng không được nữa! Được rồi! Chúng ta không nói chuyện này nữa. Xin hỏi thượng đại phu, việc của Tắc cung tiến triển thế nào rồi? Trọng Ni nghe ‘Thiều’ quên cả mùi thịt, tại hạ không bằng Trọng Ni, nghe ‘Thiều’ mấy ngày, ngửi mùi thịt vẫn thấy thơm, chỉ có điều mọi việc bên ngoài đều mù tịt cả!”

Mọi người đều bật cười.

Điền Anh dừng cười, đáp: “Đa tạ Tô Tử đã quan tâm! Ngày mai Bành tế tửu nhập quan, bệ hạ ban chỉ, giờ Thân ngày mai sẽ tổ chức một nghi lễ đặc biệt để tiễn đưa Bành tế tửu. Tại hạ vừa sắp xếp xong, liền vội vàng đến thăm chư vị.”

“Ồ, xin hỏi thượng đại phu, là nghi lễ đặc biệt gì vậy?” Công tử Ngang tò mò hỏi.

“Hồi bẩm công tử!” Điền Anh đáp. “Bành tế tửu cả đời cầu học, khởi xướng học thuật tranh biện, mở ra một trào lưu mới, đã lập được kỳ công cái thế, giúp Tắc Hạ thịnh vượng như hôm nay. Bệ hạ ban chỉ, an táng Bành tiên sinh theo nghi lễ thượng khanh, đồng thời mở một luận đàn học thuật quy mô lớn chưa từng có ở Tắc cung, dùng những kiến giải và học vấn sáng suốt của các học sĩ trong thiên hạ để tiễn đưa Bành tế tửu!”

Điền Anh nói xong, đưa mắt nhìn mọi người, sau đó từ từ quay sang nhìn Tô Tần.

Tô Tần hiểu ý, khảng khái đáp lời: “Dùng cách này để tiễn đưa Bành tiên sinh, quả là chưa từng có tiền lệ. Bệ hạ thương tiếc hiền tài như vậy, đúng là một vị hiền quân! Mặc dù tại hạ học thức nông cạn, nhưng rất cảm kích ơn giáo hoá của Bành tiên sinh, có thành ý muốn đến tiễn đưa tiên sinh, không biết thượng đại phu có ân chuẩn hay chăng?”

“Cung nghênh, cung nghênh!” Điền Anh vòng tay liên tiếp. “Nghe nói Tô Tử học vấn uyên thâm, lời như thác đổ, nếu có thể quang lâm đến Tắc cung, không những là hân hạnh của Tắc cung, khiến chúng học tử có cơ hội mở rộng tầm mắt, mà anh linh của Bành tiên sinh dưới cửu tuyền cũng được an ủi!”

“Thượng đại phu quá khen!” Tô Tần cũng vòng tay đáp.

Điền Anh vòng tay một lượt với tất cả những người có mặt, rồi quay sang Tô Tần nói: “Chư vị, việc này cứ quyết định như vậy, tại hạ xin cáo từ! Giờ Thân ngày mai hẹn gặp tại Tắc cung!”

Tắc cung nằm ở trong thành Lâm Truy, ngay bên ngoài cổng tây của cung thành, chỉ cách cung thành đúng một bức tường, có con đường rộng nối thông với cung thành. Tề Vương chỉ cần ra khỏi cổng tây, đã có thể đến ngay được Tắc cung. Cổng tây còn được gọi là Tắc Môn, Tắc cung lại nằm bên ngoài Tắc Môn, vì vậy còn gọi là Tắc Hạ.

Tắc cung rộng chừng mấy nghìn mẫu, bắt đầu từ cổng tây, kết thúc ở cổng nam, kéo dài hàng mấy dặm, bị các bờ ruộng dọc ngang, vườn hoa bãi cỏ, đầm sen ao cá... chia cắt thành rất nhiều ô vuông, mỗi một ô vuông lại được xây một khu trạch viện. Trong viện đình đài lầu gác cao thấp trập trùng, cây cối cỏ hoa đan xen tươi tốt, từ xa nhìn lại, trông chẳng khác nào một hậu hoa viên cực lớn.

Phàm là những sĩ tử đến Tắc Hạ, chỉ cần có tài, sẽ được ban cho chỗ ở, được nuôi miễn phí. Tắc cung chú trọng học vấn, nếu như học vấn của người nào được các sĩ tử thừa nhận, sẽ được tế tửu tiến cử, thông qua quan học cung lệnh để tấu lên Tề cung, sau đó Tề Vương sẽ hạ chiếu phong cho làm Tắc Hạ tiên sinh. Bất kể là ai, chỉ cần được phong làm Tắc Hạ tiên sinh, sẽ được phép dựng một khu nhà trong Tắc cung, nhận bổng lộc ngang với đại phu trong triều, khai tông lập phái, chọn đồ đệ để truyền nghệ.

Trung tâm Tắc cung là một toà trạch viện lớn, nằm hơi chếch về phía bắc, là nơi ở của tế tửu. Phía trước khu trạch viện là một khoảng sân rộng rãi, toàn bộ lát gạch, xung quanh cổ thụ chót vót, dưới bóng cây là bãi cỏ rộng xanh tươi, có thể chứa đến hàng nghìn người. Những luận đàn lớn đều được mở tại đây.

Vào giờ Thân, khi đoàn người của Tô Tần đến nơi, tang lễ cũng vừa bắt đầu, toàn bộ khoảng sân rộng chìm trong im lặng. Đối diện với cổng trạch viện là cỗ quan tài gỗ nam sơn đen bóng của Bành tế tửu, trước quan tài bày một chữ “điện” cỡ lớn, bên trên chữ “điện” là ba chữ “đại tông sư”, tất cả đều là do Tề Vương đích thân ngự bút. Trước quan tài là luận đàn bằng gỗ mới dựng, cao chừng ba thước, trên phủ một lớp thảm đen. Hai bên luận đàn bày khoảng vài chục vòng hoa lớn, hiển nhiên là do quần thần trong triều và Tắc Hạ tiên sinh phúng tặng.

Trên nền gạch được phủ một lớp chiếu, các sĩ tử ở Tắc Hạ đứng cả trên chiếu, thảy đều mặc áo sô. Chúng sĩ tử chia thành một số nhóm, phía trước mỗi nhóm đều có một người đứng đầu, tất cả đều khí thế hiên ngang, sắc mặt cung kính. Chẳng cần hỏi cũng biết họ là các Tắc Hạ tiên sinh, những người phía sau chính là đệ tử của họ. Đệ tử mới đến chưa kịp bái sư hoặc những người không muốn bái sư thì đứng sang hai bên, tự hợp thành hàng dọc. Giữa sân là một khoảng trống rộng chừng một bước, có thể xếp được hai hàng, rõ ràng là chỗ dành cho đám Tô Tần.

Quả nhiên, họ vừa đến, lập tức đã có người dẫn họ đi vào khoảng trống đó. Tô Tần dẫn đầu, phía sau lần lượt là công tử Ngang, công tử Chương, công tôn Khoái, Lâu Hoãn, sau cùng là những tuỳ tùng như Trâu Phi Đao, tất cả đều đứng trước chiếu của mình.

Thấy mọi người đều đã đến đông đủ, sau một hồi chiêng, người chủ tang là Điền Anh liền bước lên luận đàn, vòng tay hành lễ trước quan tài và chúng sĩ tử, giọng hơi khàn đi: “Chư vị tiên sinh, chư vị khách quý, chư vị sĩ tử! Vào giờ Tý ba khắc ngày Tân Sửu, nhất đại tông sư, Tắc Hạ tế tửu Bành Mông tiên sinh đã quy tiên. Giờ Thân hôm nay, chúng ta tề tựu tại đây, thương tiếc điếu viếng, tưởng niệm tiên sinh!” Dừng lại một chút, khẽ đặng hắng một tiếng, liếc nhìn khắp lượt đám đông. “Chư vị bằng hữu, tang lễ bắt đầu, hãy cùng khấu bái trước anh linh của Bành tiên sinh!” Rồi quay người lại, quỳ xuống ngay trên đàn, hành đại lễ tế bái trước quan tài.

Gần hai nghìn người có mặt đồng loạt quỳ xuống hành đại lễ tế bái. Đội nhạc quỳ ở hai bên quan tài cũng tấu lên một khúc bi ai.

Một lúc sau, tiếng nhạc tang ngừng bặt.

Điền Anh quay người lại, nước mắt ròng ròng, chậm rãi lên tiếng, giọng nói nghẹn ngào: “Chư vị bằng hữu! Bành tiên sinh quy tiên, bệ hạ rất đỗi đau buồn, bãi triều bảy ngày, còn lập linh đường ngay trong cung, ngày đêm canh linh cữu cho tiên sinh. Bành tiên sinh một đời trị học nghiêm cẩn, làm người chính trực, sau khi vào Tắc Hạ, đã cống hiến toàn bộ cuộc đời cho Tắc Hạ, dốc sức vì học thuật, khởi xướng luận đàn Tắc Hạ, khích lệ trăm nhà đua tiếng, khiến học phong Tắc Hạ phồn thịnh, thống lĩnh học vấn trong thiên hạ. Để tưởng nhớ đại công của tiên sinh, kế thừa di nguyện của tiên sinh, bệ hạ đã ban chiếu thư, mở luận đàn trước anh linh của tiên sinh, dùng cuộc tranh biện học thuật để tiễn đưa tiên sinh lên đường.” Nói đoạn, đưa tay áo lau nước mắt, lấy chiếu thư ra, đứng thẳng người, dõng dạc tuyên đọc.

Điền Anh đọc xong, tất cả những người có mặt đều đưa tay áo lau nước mắt, nghẹn ngào xúc động.

Mọi người xúc động được một lúc, Điền Anh giơ tay nói: “Luận đàn bắt đầu, chư vị, mời ngồi!”

Mọi người đang quỳ trên chiếu, lúc này đều rục rịch đổi sang ngồi.

Điền Anh thấy mọi người đều đã yên vị, liền nói tiếp: “Chư vị bằng hữu! Tất cả những luận đàn chính thức của Tắc cung đều do tế tửu chủ trì. Luận đàn hôm nay là để tiễn đưa Bành tế tửu, tại hạ học thức nông cạn, không dám vượt phận, nay phụng chỉ của bệ hạ, đã mời đến người bạn thân của Bành tế tửu lúc sinh thời, một ngọn Thái Sơn lừng lẫy trong học giới, tạm thời đảm nhiệm chức tế tửu, chủ trì buổi luận đàn hôm nay!” Rồi quay người lại, nói lớn. “Xin mời tân tế tửu!”

Lời vừa dứt, phía sau quan tài liền nhô lên một cái đầu trọc. Mọi người vừa đưa mắt nhìn, lập tức nhận ra du sĩ hoạt kê Thuần Vu Khôn, thảy đều kinh ngạc nhìn nhau. Cũng có kẻ ngay từ đầu đã đoán ra là ông ta, lúc này nhìn thấy cái đầu trọc, không khỏi đắc ý, quay sang phải trái liên tiếp gật đầu.

Thuần Vu Khôn không lên đàn, mà đi thẳng tới trước quan tài, không khấu đầu cũng chẳng vái lạy, chỉ đưa hai tay vỗ nhẹ ba cái lên mảng ván quan tài có viết chữ “điện”, nói lớn: “Lão Mông Tử, đừng ngủ nữa! Mau ngồi dậy, dỏng tai lên mà nghe, tại hạ sẽ vì ông mà chủ trì luận đàn, ông hãy nghe cho thật kỹ! Nếu có người nào đàm luận hay ho, ông hãy vỗ tay; nếu có người nào đàm luận quá dở, ông hãy đánh cho phát rắm; nếu có người nào đàm luận không hay cũng chẳng dở, ông hãy cứ nhắm mắt để người đó nói tiếp.”

Trong một khung cảnh trang nghiêm đến vậy, Thuần Vu Khôn lại đột nhiên lắc lư cái đầu bóng lưỡng mà nói ra những lời này, khiến tất cả mọi người đều kinh ngạc, muốn cười nhưng lại thấy không ổn; muốn nhịn cười nhưng lại không nhịn được.

Chốc lát, tình cảnh trở nên trớ trêu khó tả.

Thuần Vu Khôn vừa gõ vừa đập, náo loạn một hồi, rồi lại áp tai lên mặt quan tài, lắng nghe một chặp, chau mày nói: “Lão Mông Tử này, ngủ say y như người chết vậy! Để xem ta lấy búa đập lão!” Rồi mắt đảo láo liên tứ phía, nhìn thấy chiếc búa đóng đinh để bên cạnh quan tài, bèn nhổ phì phì vài cái rất đỗi khoa trương vào lòng bàn tay, vớ lấy chiếc búa, gõ liền mấy cái lên nắp quan tài, lại ghé sát tai lắng nghe, một hồi sau bỗng tỏ ra mừng rỡ, quay người lại, lắc lư cái đầu trọc, cười ha hả mà nói. “Giờ thì lão già không ngủ nổi nữa rồi, cuối cùng cũng phải bò dậy!” Rồi ném chiếc búa sang một bên, phủi áo phành phạch mấy cái, bước lên luận đàn.

Cử chỉ của Thuần Vu Khôn cứ như đang biểu diễn một màn hài kịch, mọi người không thể nào bấm bụng nhịn thêm được nữa, không biết ai là người đầu tiên cười thành tiếng, tiếp đó tất cả cùng cười rộ lên, có người còn cười đến nước mắt giàn giụa, phải đưa tay áo lên lau. Ngay cả Điền Anh cũng không nhịn được, mà đổi khóc thành cười. Không khí trong sân chốc lát đã trở nên náo nhiệt.

Tô Tần đột nhiên hiểu ra dụng ý của Thuần Vu Khôn, liền gật đầu khâm phục. Đúng thế, mở một cuộc biện luận quy mô lớn nhường này, bầu không khí lại u ám buồn bã, thì ai có thể lên tiếng? Mọi người đều không lên tiếng, lấy ai để tranh luận? Tề Uy Vương và Điền Anh sắp xếp chu đáo, nhưng lại thiếu sót mất một điều này, và thiếu sót này đã được Thuần Vu Khôn bù đắp một cách vô cùng khéo léo.

Từ lâu đã nghe Thuần Vu Khôn đa trí, hôm nay được thấy, mới biết tin đồn không giả.

Thuần Vu Khôn cười ha hả, bước lên luận đàn, vòng tay hành lễ một vòng với tất cả mọi người, rồi chỉ vào Điền Anh, lại nói: “Lão hủ đang tiêu diêu tự tại ở Hàm Đan, đột nhiên nhận được cấp báo của thượng đại phu, nói là lão Mông Tử có chuyện, hẹn lão hủ cấp tốc đến nơi. Lão hủ còn tưởng là có chuyện tốt đẹp gì, nên đã tức tốc đánh xe đến, quãng đường vốn phải đi ba tháng, nay chỉ hai mươi ngày đã tới rồi...”

Từ Hàm Đan đến Lâm Truy, xe tứ mã chạy hai mươi ngày đã là chậm như sên bò, nhưng Thuần Vu Khôn lại dự tính phải đi mất ba tháng, sắc mặt lại vô cùng nghiêm túc, khiến mọi người lại cười ồ cả lên.

Thuần Vu Khôn bị ngắt lời nên đành phải dừng lại, thấy tiếng cười đã dứt mới nói tiếp “Lão hủ đã đến nơi rồi, nhưng lão Mông Tử lại đi ngủ mất. Các vị thử nói xem, lão hủ và ông ấy đã mười năm không gặp, lão hủ khó khăn lắm mới tới được đây. Thế mà lão Mông Tử này hay thật đấy, cứ thế xuôi tay ngủ quách đi rồi! Lão hủ buồn bã mất mấy hôm, sau đó cũng đã hiểu ra. Cuộc đời người ta, ngủ sớm ngủ muộn, ngủ dài ngủ ngắn, ngủ ngon ngủ lười, tất cả đều là ngủ. Lão Mông Tử có lẽ chơi đùa đã mệt, nên mới đi ngủ trước, vốn cũng không nên trách móc. Nghĩ như vậy, nên trong lòng ta cũng không buồn nữa. Có điều, ít nhiều vẫn cảm thấy lão Mông Tử làm như vậy là chưa đủ trượng nghĩa. Bạn già đến thăm, cho dù có muốn ngủ thì cũng phải nói trước một tiếng mới đúng chứ!”

Thuần Vu Khôn nói mấy câu này, vừa ý tình tha thiết, lại thông suốt thoát tục, đã thực sự thể hiện được công lực của ông ta. Tất cả những người có mặt không ai không kính phục, ngay cả công tử Ngang cũng hai mắt nhìn Thuần Vu Khôn không chớp, liên tục gật đầu.

Thuần Vu Khôn thấy mọi người đều đã im lặng, tất cả mọi ánh mắt đều đang hướng về mình, thì lại lắc lư cái đầu trọc mấy cái mà nói: “Bệ hạ thương tiếc lão Mông Tử, rất muốn giữ lại, nên chợt nảy ra ý lạ, mở luận đàn này, lại muốn lão hủ đứng ra chủ trì. Lão hủ vốn lắm điều, tính khí lại tuỳ tiện, vốn muốn tìm lời từ chối, nhưng lại nhớ đến lão Mông Tử, đành phải đồng ý. Lão hủ trước nay chưa từng chủ trì bất cứ luận đàn nào, song lão hủ nghĩ rằng, nhìn tên suy ra nghĩa, luận đàn quý ở chữ ‘luận’, chữ ‘luận’ lại quý ở tranh cãi. Lão Mông Tử không nói là tranh cãi, mà nói là đùa tiếng hót. ‘Hót’ vốn là chỉ tiếng chim kêu, chữ này dùng rất khéo léo. Nhiều chim cùng cất tiếng hót, gọi là đua tiếng. Chỉ riêng một chữ ‘hót’ này thôi, ta đã phục lão Mông Tử lắm rồi! Các vị khách quý, các vị bạn chim, trong thời khắc này, mọi người đều tề tựu tại đây, cùng đua tiếng trước mặt lão Mông Tử, lão hủ chẳng có thỉnh cầu gì khác, chỉ mong chư vị hãy vươn thẳng cần cổ, mở to cuống họng, dốc hết tâm can, hót ra bằng hết những gì muốn hót. Hót tốt, hót hay, hót mà khiến người ta khâm phục, thì người đó sẽ là trống. Ngược lại, hót chưa đủ vang, chưa đủ hay, chưa khiến người khác khâm phục, thì người đó chính là mái...

Chữ “mái” vừa nói dứt, tất cả mọi người lại phá lên cười, vỗ tay nhiệt liệt.

Thuần Vu Khôn giơ tay ra hiệu cho mọi người im lặng để nghe ông ta nói tiếp: “Tại hạ lại nghĩ, nếu đã là đua tiếng, thì phải có một chủ đề, nếu không nhà phía đông nói lừa, nhà phía tây nói ngựa, không thể thống nhất được. Cuộc tranh biện ngày hôm nay nhằm đưa tiễn lão Mông Tử. Lão Mông Tử một đời, cả đạo học và đạo làm người đều nghĩ cho thiên hạ. Hôm nay, lão hủ đã được chủ trì, vậy cũng xin độc đoán một lần, định ra một chủ đề cho buổi tranh luận hôm nay, đó là thiên hạ trị, loạn!”

Đám đông rộ lên tiếng vỗ tay vang dội.

“Thiên hạ từ cổ chí kim, không trị ắt loạn. Tuy nhiên...” Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc, rồi lập tức đổi giọng, “sở thích của lão hủ, không nằm ở thiên hạ trị loạn, mà chỉ muốn thoả chí tiêu dao. Hôm nay khiên cưỡng bàn về trị loạn, quả là khó khăn cho lão hủ. May mà ông trời không tuyệt đường người, lão hủ đang lúc rối trí, đột nhiên nhìn thấy một người. Người này cũng luôn lo lắng cho thiên hạ, có ít nhiều giống với lão Mông Tử. Khác là ở chỗ, người này không những hô hào ồn ã, mà còn dốc sức thực hành, điều này đã vượt xa lão Mông Tử. Lão hủ cảm thấy rất hào hứng, nên thành tâm nhường bước người hiền, long trọng tiến cử người này đăng đàn chủ trì buổi luận! Chư vị có bản lĩnh gì, cứ việc dốc hết ra để tranh luận một trường sống mái với người này! Đợi đến khi đã xác định sống mái, lão hủ thân là tế tửu, sẽ phải mời rượu một lượt. Tuy nhiên, lão hủ chỉ mời trống chứ không mời mái. Rượu là thứ rượu trăm năm, hương thơm lan xa mười dặm, do lão hủ đặc biệt mang từ Hàm Đan tới!”

Thuần Vu Khôn cười cợt pha trò, lời lẽ quanh co khúc triết, mọi người vừa cười sảng khoái, vừa đưa mắt liếc khắp xung quanh, không biết người ông ta tiến cử là cao nhân phương nào.

Thuần Vu Khôn đặng hắng một tiếng, bước xuống khỏi luận đàn, đi thẳng vào trong đám đông, dừng lại trước mặt Tô Tần, vòng tay cúi người vái chào một vái thật sâu: “Lão hủ Thuần Vu Khôn xin chào sứ thần bốn nước Tô Tần tiên sinh!”

Tất cả mọi người đều giật mình kinh ngạc, tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tô Tần.

Do hôm nay tất cả cùng mặc áo tang, đám Tô Tần lại toàn người lạ, nên mọi người đều không nhận ra người này là ai, chỉ có thể nhìn vào việc họ đến sau cùng, lại được xếp vào khoảng trống chính giữa sân mà đoán rằng, người đó hẳn có thân phận hiển hách. Nhưng thực không thể ngờ được họ lại là sứ thần hợp tung của bốn nước, và người dẫn đầu chính là Tô Tần danh tiếng lẫy lừng.

Tô Tần đã sớm đoán được Thuần Vu Khôn sẽ ra chiêu này, liền đứng dậy khom lưng đáp lễ: “Vãn sinh xin chào Thuần Vu tiền bối!”

Thuần Vu Khôn vòng tay nói: “Lão hủ đường đột, mời Tô Tử hãy đăng đài chỉ giáo!”

Tô Tần vòng tay đáp lễ: “Được tiền bối hậu ái, vãn sinh cung kính chẳng bằng tuân lệnh!”

Thuần Vu Khôn cười vang, dắt lấy tay Tô Tần: “Tô Tử, mời!”

Tô Tần cũng không từ chối, lập tức cùng Thuần Vu Khôn bước lên đàn.

Đám đông lại vỗ tay như sấm dậy.

Sau khi tiếng vỗ tay đã dứt, Thuần Vu Khôn chỉ lên đài, cười nói: “Đài này chỉ có thể đứng được một người. Tô Tử lên, lão hủ đành phải xuống vậy!”

Không đợi Tô Tần kịp lên tiếng, Thuần Vu Khôn lập tức quay người bước sang bên cạnh, dắt tay Điền Anh đi tới trước đám sĩ tử, ngồi xuống chỗ ngồi đã được bày sẵn.

Tô Tần thấy họ đã yên vị, mới quay người sang, lạy liền ba lạy trước quan tài, lại đứng dậy vái một vái về phía chúng sĩ tử, nói lớn: “Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần xin chào chư vị tiên sinh, chư vị học tử!” Dừng lại một lát, khẽ hắng giọng. “Từ lâu tại hạ đã mong được đến đây để nghe Bành tiên sinh giáo hối. Lần này đến, tại hạ vốn dĩ định tìm tới thụ giáo, song tiên sinh lại đi trước một bước cưỡi hạc về trời, thực khiến tại hạ vô cùng tiếc nuối. Tại hạ lần này tới đây, chỉ một lòng muốn đưa tiễn tiên sinh, nhưng lại được Thuần Vu tiền bối hậu ái, muốn tại hạ đăng đàn chủ luận. Chư vị sĩ tử có mặt tại đây đều là bậc đại gia, Thuần Vu tiền bối, lại càng là Thái Sơn Bắc Đẩu trong học giới. Tại hạ tài sơ học mọn, vốn chẳng dám khoe khoang, nhưng trước anh linh của Bành tiên sinh, tại hạ cũng không dám chối từ. Tại hạ tiến thoái lưỡng nan, nên đành phải miễn cưỡng gánh lấy trách nhiệm nặng nề, múa rìu qua mắt thợ, khoe xấu tại đây!”

Lời của Tô Tần, khiêm nhường đúng mực. Tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tô Tần.

Tô Tần đột ngột đổi giọng: “Chư vị tiên sinh, như lời Thuần Vu tiền bối đã nói, hơn một năm nay tại hạ lao tâm khổ tứ vì đại nghiệp hợp tung, khiến thiên hạ ồn ào chấn động, cũng dấy lên nhiều tranh cãi. Hôm nay đã là luận bàn về thiên hạ trị loạn, tại hạ rất muốn nhân cơ hội hiếm có này để thổ lộ vài câu, một là để tỏ rõ nỗi lòng, thỉnh giáo tất cả chư vị đại gia có mặt tại đây; hai là muốn bày tỏ trước anh linh của Bành tiên sinh, mong tiên sinh phù hộ!”

Khắp sân lặng phắc như tờ.

“Chư vị tiên sinh!” Tô Tần đưa mắt nhìn khắp lượt đám đông, cao giọng tiếp lời. “Hợp tung thiên hạ không phải là hứng thú nhất thời của tại hạ, mà là do đại thế tạo thành. Chư vị hẳn sẽ hỏi, đại thế của thiên hạ sẽ về đâu? Tại hạ chỉ có một đáp án, đó là thiên hạ đại đồng. Vậy thiên hạ làm thế nào mới có thể đại đồng? Tại hạ cho rằng, chỉ có hai con đường, một là thiên hạ quy về một mối, đại đạo nhất thống; hai là liệt quốc cùng yên trị, tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng, chung sống hoà thuận. Nếu muốn thiên hạ quy về một mối, chỉ có kẻ mạnh giao tranh, diệt nước tuyệt nhà, thực thi đế chế. Tại hạ năm trước đến Tần, cũng chủ trương thuyết này, thiết nghĩ hẳn chư vị đều đã nghe thấy. Nếu muốn liệt quốc cùng yên trị, thiên hạ thái bình, thì chỉ có một con đường duy nhất là hợp tung!”

Tiếp đó, Tô Tần giảng giải chi tiết về hợp tung, rồi kể lại quá trình mình ngộ ra kế sách này thế nào, từ chỗ bản thân bị khốn ở Tần, chuyện lấy dùi đâm đùi, rồi tiếng đàn thức tỉnh của cầm sư, lời lẽ lúc sôi nổi lúc thiết tha, tràn đầy cảm xúc. Đám sĩ tử Tắc Hạ thường ngày chẳng phải lo lắng chuyện cơm ăn áo mặc, phần nhiều chỉ biết ngồi không luận đạo, chưa từng nếm trải những cảnh ngộ đắng cay nhường ấy, vì vậy ai nấy đều nghe mà thắt ruột, xuýt xoa không ngớt.

Tô Tần một mình sang sảng suốt một canh giờ, rồi mới thu lời, ôm quyền mà nói: “Tại hạ nói bừa mấy câu, làm trò cười cho chư vị đại gia ở đây! Trong số chư vị, bất kể là ai, nếu không ngại hỏi han kẻ dưới, muốn cùng Tô Tần bàn luận về thiên hạ tung thân, vương bá trị loạn, Tô Tần rất mong được thỉnh giáo!”

Nói đoạn, Tô Tần khẽ mỉm cười, ánh mắt tiếp tục lướt khắp đám đông.

Ở Tắc Hạ, thông thường những buổi tranh luận quy mô long trọng như thế này chính là cơ hội để các tông phái chứng tỏ thực lực, vì vậy, tất cả các tông phái đều đã chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng hiển lộ thân thủ trên luận đàn, nhằm thu hút thêm nhiều đệ tử. Thật không ngờ từ trên trời lại rơi xuống một Thuần Vu Khôn và một Tô Tần, gần như đã chiếm trọn phong quang.

Tuy nhiên, lúc này được hỏi đến, đám đông lại không hề ồn ào sôi nổi như thường lệ. Đó là vì mặc dù có hơn nghìn người có mặt, nhưng phần lớn đều là đệ tử các phái. Tiên sinh không lên tiếng, đệ tử không dám ra mặt. Trong khi mười mấy vị tiên sinh đứng ở hàng đầu cũng không dám khinh suất khiêu chiến, bởi luận đàn lần này quá ư trọng đại, chẳng may bại trận, thì những ngày còn lại ở Tắc Hạ sẽ không dễ sống. Hơn nữa, Tô Tần hoạt ngôn, biện luận hùng hồn, danh tiếng đã lẫy lừng liệt quốc, lúc này lại kiêm nhiệm chức đặc sứ bốn nước, khí thế tựa cầu vồng. Thuần Vu Khôn đi khắp thiên hạ, trí tuệ hơn người, lúc này lại mới được nhiệm chức tế tửu, khua môi múa mép trước mặt một vị tiền bối đại sư như vậy, ngôn từ lại càng phải cân nhắc.

Tô Tần thấy mọi người vẫn im lặng, chưa ai dám lên tiếng, liền vòng tay cười nói: “Chư vị tiên sinh, Tô Tần xin cung kính đợi!”

Lời vừa dứt, quả nhiên có một người đứng dậy, bước lên mấy bước, dừng lại trước đài, vòng tay nói: “Đã luận về thiên hạ, tại hạ Trâu Diễn người Tề xin được hỏi Tô Tử về thiên hạ!”

Tô Tần vòng tay đáp lễ: “Trâu Tử xin mời hỏi!”

“Không biết thiên hạ là gì, sao có thể nói về thiên hạ trị loạn? Tại hạ xin hỏi Tô Tử, thiên hạ là gì?” Trâu Diễn hỏi xong, nhìn thẳng vào Tô Tần với ánh mắt khiêu khích.

Trâu Diễn tuổi chưa đầy ba mươi, tinh thông Dịch học, mấy năm nay dốc sức nghiên cứu tứ cực bát hoang, âm dương ngũ hành, có thành tựu lớn, trong biện luận thường ngôn từ sắc bén, mênh mông như trời biển, ở Tắc Hạ được mệnh danh là “Đàm Thiên Diễn”. Trâu Diễn vừa đến chưa lâu, vì có tài học nên được Bành Mông yêu mến, năm trước đã được phá lệ phong làm Tắc Hạ tiên sinh, có điều chỉ thích đàm luận về những điều kỳ quặc, nên có mỗi ba đệ tử. Thấy gặp thời cơ tốt, Trâu Diễn không muốn để vuột mất, vì vậy đã nhanh chóng lên tiếng đầu tiên.

Tô Tần vòng tay đáp: “Thiên hạ, nhìn tên biết nghĩa, tức ở trên đất, ở dưới trời. Tại hạ cho rằng, tất cả những thứ được bầu trời che phủ, được mặt đất nâng đỡ, được lục hợp bao bọc, được âm dương hoá thành, được mưa móc thấm nhuần, được đạo đức nâng đỡ, đều được gọi là thiên hạ!”

“Tô Tử nói tuy đúng, nhưng quá ư đại khái. Điều mà tại hạ muốn hỏi, là trời đất lục hợp to lớn cỡ nào?”

Tô Tần vòng tay nói: “Từ lâu tại hạ đã nghe nói Trâu Tử có thuyết đại cửu châu, nhưng chưa được tường tận, hôm nay xin được thỉnh giáo!”

“Tô Tử khiêm nhường rồi!” Trâu Diễn ngoài miệng tuy nói vậy, nhưng trong lòng không khỏi đắc ý, vòng tay nói tiếp. Tại hạ cho rằng, trời giống như mái vòm, đất có bốn cực. Chín châu như viết trong thiên ‘Vũ cống’(1) vẫn chưa phải toàn bộ thiên hạ, mà chỉ là một châu trong thiên hạ, có thể gọi là Xích Huyện thần châu. Phía dưới vòm trời, bên trong bốn cực, Xích Huyện thần châu chỉ là một phần chín, ngoài ra còn có tám châu khác không được ghi trong ‘Vũ cống’, vì vậy mà người đời không biết tới.”

Tô Tần mỉm cười, gật đầu hỏi tiếp: “Xin hỏi Trâu Tử, dưới trời phải có đất, trên đất phải có trời, điều này có đúng không?”

“Đương nhiên!”

“Xin hỏi Trâu Tử,” Tô Tần nắm được một điểm, tiếp tục dấn tới, “trời là mái vòm, vậy phải có hình tròn, đất có bốn cực, vậy phải là hình vuông. Nếu nói như Trâu Tử, vậy thì tại bốn góc của đất sẽ không có trời. Trên đất không có trời, vậy có còn được gọi là đất không?”

Mọi người đều bật cười.

“Ờ...” Trâu Tử không biết nói gì, sắc mặt lúng túng, liên tiếp ôm quyền. “Tô Tử cao kiến, tại hạ thụ giáo rồi!” Nói xong liền quay người lùi lại, trở về ngồi vào chỗ, nhắm mắt suy tư.

Đàm Thiên Diễn trước nay tranh biện luôn khiến kẻ khác phải cứng họng, nhưng hôm nay lại bị bại ngay hiệp đầu, khiến mọi học tử Tắc Hạ thảy đều chấn động. Một lúc sau, lại có một sĩ tử trung niên từ trong đám đông đứng dậy, mọi người đều quay sang nhìn, thì ra là Tắc Hạ tiên sinh Thận Đáo. Thận Đáo học đạo Hoàng Lão, là người thuần hậu, học phong nghiêm cẩn, có nhiều trước tác, tiếng tăm có thể sánh ngang với Bành Mông, đệ tử hơn hai trăm người. Trong sân hiện giờ, đội ngũ xếp hàng sau ông ta là dài nhất.

Thận Đáo bước tới trước đài, vòng tay nói: “Thận Đáo người Triệu xin thỉnh giáo Tô Tử!”

Tô Tần vòng tay đáp lễ: “Thận Tử, xin mời nói!”

“Tô Tử muốn cầu cái đạo thiên hạ đại đồng không cần tới binh đao huyết chiến, tại hạ kính phục. Tuy nhiên, tại hạ muốn biết, giả sử Tô Tử hợp tung thành công, thì thiên hạ sẽ cùng trị như thế nào? Liệt quốc sẽ cùng chung sống ra sao?”

“Điều Thận Tử vừa hỏi, cũng chính là thứ mà tại hạ đang mong cầu trong tương lai. Cái đạo cùng trị, cùng chung sống, từ thời tiên vương đã có. Thời Tam Hoàng Ngũ Đế, đại đạo quán thông, đức hoá thiên hạ, vô vi mà trị, chư hầu trong thiên hạ đông đến hàng vạn, cùng chung sống, cùng tồn tại, không hề tranh chấp. Từ Hạ đến Thương, từ Thương đến Chu, đạo đức suy vi, thiên tử dùng lễ nhạc để trị thế, chư hầu đều tuân theo quy củ, cùng chung sống hoà mục. Bắt đầu từ thời Xuân Thu, lễ băng nhạc hoại, thiên hạ bắt đầu bất trị. Phong khí thế gian ngày một sa sút, nếu muốn khiến cho thiên hạ đại đồng, thì phải bắt đầu từ trị phong. Vì vậy, đại nghiệp hợp tung của tại hạ có thể chia làm ba bước. Bước thứ nhất, hợp tung liệt quốc Sơn Đông, biến can qua thành ngọc lụa, cùng chế bạo Tần. Bước thứ hai, hoà giải với Tần, khiến toàn thiên hạ tung thân, chư hầu cùng ngồi một chiếu, tìm ra điểm chung, gác lại bất đồng, giáo hoá dân chúng, khôi phục lễ nhạc. Bước thứ ba, nêu thiện diệt ác, loại trừ tư dục, phục hưng đạo đức, khiến thiên hạ quy về đại đồng.”

Nghe Tô Tần mô tả về viễn cảnh tương lai của hợp tung, mọi người vừa kinh ngạc vừa hoài nghi, thảy đều đưa mắt nhìn nhau, cứ ngỡ mình đang nghe giảng sách trời. Thận Đáo khẽ vòng tay, nói tiếp: “Tráng chí khổ tâm của Tô Tử, cho dù có thành công hay không, tại hạ cũng vô cùng kính phục! Theo lời Tô Tử, nếu như thiên hạ đã đi đến đại đồng, vậy có còn thiên tử không?”

“Có!”

“Thiên tử với dân, bên nào quý hơn?”

“Đều quý, cũng đều không quý. Thiên hạ vì thiên hạ mà lập thiên tử, không phải vì thiên tử mà lập thiên tử. Cho nên dân lập nên thiên tử mà coi thiên tử là quý, không vì làm lợi cho một mình thiên tử, mà là làm lợi cho thiên hạ!”

“Thiên tử làm thế nào để trị được chư hầu? Chư hầu lại làm thế nào để trị được dân?”

“Dùng đạo để trị! Thiên đạo quán thông, thánh nhân vô sự. Thánh nhân đã vô sự thì thiên tử còn có chuyện gì? Thiên tử vô sự, chư hầu cũng vô sự, dân cũng vô sự, cho nên trong thời thánh đạo, vô vi mà trị.”

“Lấy đạo trị thiên hạ, có thể nói rõ hơn chăng?”

“Đạo có các đức, đức lại có các thuật. Trong thời tam vương ngũ đế, thánh quân thi hành tám thuật nhân, nghĩa, lễ, nhạc, danh, pháp, hình, thưởng. Nhân dùng để nuôi dân, nghĩa để dẫn dắt dân, lễ để giáo hoá dân, nhạc đế hài hoà dân, danh để sửa chính dân, pháp để chỉnh tề dân, hình để uy phục dân, thưởng để khuyến khích dân, thiên hạ vì vậy mà trị, đại đạo vì vậy mà thông.”

Thận Đáo khâm phục sát đất, vòng tay nói: “Luận bàn của Tô Tử vô cùng chí lý, tại hạ bội phục!” Rồi quay bước trở về, ngồi vào chỗ cũ.

Người tiếp theo đứng lên là Điền Biền. Điền Biền là môn sinh đắc ý của Bành Mông, cũng là Tắc Hạ tiên sinh, rất giỏi biện luận, nên còn được tôn xưng là “Biền miệng trời”, đệ tử đông đảo, địa vị ở Tắc Hạ có thể sánh ngang với Thận Đáo.

Thận Đáo vừa lui xuống, Điền Biền liền tiến lên, vòng tay hỏi: “Tô Tử đã luận về tám thuật đạo, đức, Điền Biền người Tề xin được hỏi. Tám thuật đạo, đức, mặc dù có lợi, nhưng cũng có hại. Nhân, có thể thi hành bác ái, nhưng cũng có thể sinh lòng thiên lệch. Nghĩa, có thể thận trọng ngôn hành, nhưng cũng có thể sinh ra giả tạo. Lễ, có thể gây dựng cung kính, nhưng cũng có thể sinh ra biếng nhác. Nhạc, có thể hài hoà tình chí, nhưng cũng có thể sinh ra dâm dật. Danh, có thể làm chính tôn ti, nhưng cũng có thể sinh ra kiêu ngạo. Pháp, có thể chỉnh tề sự khác biệt, nhưng cũng có thể sinh ra gian trá. Hình, có thể uy phục kẻ không theo, nhưng cũng có thể sinh ra bạo ngược. Thưởng, có thể khích lệ kẻ trung lương, nhưng cũng có thể sinh tranh chấp ngấm ngầm.”

“Đúng vậy!” Tô Tần đáp lễ, rồi dõng dạc nói. “Hạ Khải, Thương Thang dùng tám thuật mà thiên hạ yên trị; Hạ Kiệt, Thương Trụ dùng tám thuật mà thiên hạ diệt vong, nguyên nhân là ở đâu? Nằm ở đạo thống! Thuật được đạo sử dụng, cũng bị đạo chế ngự. Thiên hạ có đạo, thuật được khéo dùng, có thể khiến thiên hạ trị. Thiên hạ thất đạo, thuật bị lạm dụng, có thể khiến thiên hạ loạn.”

Điền Biền gật đầu: “Tô Tử đã đề xướng đại đạo, lại lấy thiên tử để chế ngự dân, lấy pháp để chỉnh tề dân, xin hỏi Tô Tử, đạo và pháp cái nào nặng hơn?”

“Đạo được thi hành trên đời, thì kẻ bần tiện không oán, kẻ phú quý không kiêu, kẻ yếu ớt không sợ, kẻ trí dũng không ức hiếp, người dân vui vẻ thuần phục. Pháp được thi hành trên đời, thì kẻ bần tiện không dám oán, kẻ phú quý không dám kiêu, kẻ yếu ớt không phải sợ hãi, kẻ trí dũng không dám ức hiếp, người dân vì sợ mà phục. Từ đó tại hạ cho rằng, pháp không bằng đạo!”

Điền Biền lại gật đầu, hỏi tiếp: “Thời Xuân Thu, nhân nghĩa chưa hoàn toàn phế, lễ nhạc chưa hoàn toàn loạn, nhưng Khổng Khâu đã không thể nhẫn nhịn, phải chu du liệt quốc, đề xướng đạo đức, thi hành nhân nghĩa, kết quả là đi đến đâu cũng cùng đường tuyệt lộ, thất thểu như chó nhà tang. Nay Tô Tử lại đề xướng đại đạo, há chẳng phải đi theo vết xe đổ của Khổng Khâu?”

Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, chậm rãi đáp lời: “Khổng Khâu cùng đường, đó không phải là lỗi của đạo đức, nhân nghĩa, mà là phương pháp thực hiện chưa thoả đáng. Đạo đức nhân nghĩa phải được thi hành trong thời thái bình, không thể thi hành trong thời loạn lạc. Thứ thi hành trong thời loạn, duy chỉ có thế và lực. Hôm nay tại hạ khởi xướng hợp tung, mục đích là để cân bằng, dẫn dắt các thế lực trong thiên hạ, khiến thiên hạ chấm dứt tranh chấp, sau đó mới lấy các thuật lễ, nhạc, danh, pháp, hình, thưởng, để khiến thiên hạ cùng trị, sau đó tiếp tục quy về nhân nghĩa, đạo đức để tái lập nền thái bình thánh thế. Việc có thứ tự, sự có chậm gấp, nhiệm vụ cấp bách hiện giờ không phải là khởi xướng đạo đức, mà là cân bằng thế lực của thiên hạ, giảm bớt chiến loạn, khiến thiên hạ không còn dám phân tranh.”

Điền Biền kính phục, ôm quyền vái xong, quay về chỗ.

Người ngồi bên cạnh Điền Biền là Doãn Văn Tử lại đứng dậy, vòng tay nói: “Doãn Văn Tử người Tề xin được thinh giáo Tô Tử! Tô Tử đã dùng đạo để chế ngự thiên hạ, vậy tại hạ xin được luận đạo cùng Tô Tử. Dựa theo thiên đạo, vật tròn thì lăn, nó lăn không phải là vì biết lăn, mà là không thể không lăn. Vật vuông thì dừng, nó dừng không phải là vì biết dừng, mà là không thể không dừng. Thế đạo ngày càng đi xuống, nó đi xuống không phải là vì biết đi xuống, mà là không thể không đi xuống. Người ta giữ lòng tư dục, giữ lòng này không phải là vì biết giữ, mà là không thể không giữ. Từ thời Xuân Thu về sau, lòng người không còn thuần phác, tư dục bành trướng, đạo đức suy vi, tất cả đều là sự vận động của thiên đạo. Tô Tử hợp tung để cầu đại đồng, mà đại đồng lại phải trừ bỏ tư dục. Tô Tử lấy sức mạnh để miễn cưỡng khắc chế tư dục, há chẳng phải đi ngược với sự vận hành của đạo hay sao?”

Tô Tần vòng tay đáp lễ, khẽ mỉm cười mà nói: “Tại hạ từ lâu đã được nghe đại danh của Doãn tiên sinh, hôm nay được gặp, quả là hân hạnh! Tại hạ cho rằng, lời Doãn tiên sinh có phần sai lệch. Theo tại hạ được biết, trời vận hành mạnh mẽ, đạo sinh ra vạn vật nhưng không kể công. Tiên sư Lão Đam có nói: ‘Vạn vật nhờ vào đạo mà sinh, nhưng không khoe khoang, việc thành công rồi mà không chiếm hữu. Nuôi dưỡng vạn vật mà không làm chủ, thường không có dục, cho nên có thể gọi nó là nhỏ; vạn vật quy về mà không làm chủ, cho nên có thể gọi nó là lớn. Vì cho tới cùng vẫn không tự nhận là lớn nên mới thành được việc lớn.’(2) Tại hạ theo đó mà suy, thì thiên đạo không hề có tư dục, mà có tư dục chính là con người. Hơn nữa, người thượng cổ có thể tuân theo thiên đạo, vậy có sao người hiện nay lại không thể?”

Doãn Văn Tử thán phục, vòng tay vái rồi lui.

Sau đó, lần lượt các vị Tắc Hạ tiên sinh như Tiếp Tử, Quý Chân Tử, Hứa Hành và một số du sĩ tạm thời chưa có môn phái đều tiến lên, hỏi về các điều liên quan đến hợp tung và trị loạn. Tô Tần hỏi đâu đáp đấy, đánh đâu đỡ đấy, ứng đối trôi chảy, khiến tất cả các tiên sinh và sĩ tử có mặt không ai không thán phục.

Thấy không còn ai tiến lên nữa, Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc bóng nhẫy như bôi dầu, ung dung bước tới trước luận đàn, vòng tay nói: “Thuần Vu Khôn người Tề xin thỉnh giáo Tô Tử!”

Thấy Thuần Vu Khôn ra mặt, mọi người đều bật cười, không khí bỗng chốc thoải mái hơn hẳn. Đồng thời, tất cả ánh mắt đều đổ dồn lại, vì ai cũng biết đây là màn kịch then chốt nhất.

“Xin mời tiền bối!” Tô Tần vòng tay đáp lễ.

“Tô Tử học vấn cao thâm, khéo giảng đại đạo, lão hủ đây không đủ sức tranh luận. Lão hủ thiển cận, sẽ dùng lời tục vật tục để ra đối, Tô Tử hãy dùng cái đạo trị thế để đáp, có được chăng?”

Nghe thấy lời này, mọi người thảy đều chấn động, vì biết Thuần Vu Khôn sắp nói ẩn ngữ. Ẩn ngữ tức là hỏi cái này đáp cái khác, hơi giống với phép tỷ và hứng trong “Thi”, lại yêu cầu phải hỏi ngay đáp liền. Tướng Tề là Trâu Kỵ rất giỏi ẩn ngữ, năm xưa đã dùng tiếng đàn để ẩn dụ việc triều chính, nhờ vậy mà có được chức tướng quốc. Trò ẩn ngữ là trò đấu trí nhanh, rất khó đối đáp, huống hồ là đối đáp với đại sư ẩn ngữ Thuần Vu Khôn ngay trước mặt đám đông!

Bị dồn đến nước này, Tô Tần cũng đã không còn đường lui, đành phải nghiêm sắc mặt nói: “Vãn sinh xin lắng nghe tiên sinh chỉ giáo!”

Thuần Vu Khôn chậm rãi nói: “Con không rời mẹ!”

Tất cả mọi người đều hít ngược một hơi dài, đổ dồn ánh mắt nhìn sang Tô Tần.

Tô Tần khẽ nhắm mắt, suy nghĩ chốc lát, rồi trầm giọng đáp: “Vua không rời dân!”

“Xà trên không thẳng xà dưới nghiêng.”

“Đạo trời không vững đạo người khó.”

“Áo lông cáo trắng, nào dám vá bằng da dê.”

“Thiên hạ đức hoà, đâu thể lẫn vào dâm dật.”

“Vạn thú đuổi một hươu, hươu không còn đường sống, thú không được miếng ăn.”

“Trăm chúa tranh một trời, trời không được hoà bình, chúa không được yên ổn.”

Câu cuối cùng, dường như Tô Tần chẳng cần suy nghĩ, buột miệng đáp liền, hơn nữa ý tứ, ngôn từ, mức độ đối xứng công chỉnh, đều đạt đến độ tuyệt diệu hoàn hảo, khiến tất thảy học sĩ đều hoan hô vang dậy.

Thuần Vu Khôn mỉm cười, vòng tay vái thật sâu, nói: “Tô Tử quả nhiên là kỳ tài trong thiên hạ, lão hủ bội phục!” Rồi quay sang chúng sĩ tử. “Chư vị tiên sinh, chư vị sĩ tử, ta đã hỏi xong, mọi người còn có ai muốn hỏi không?”

Mọi người quay mặt nhìn nhau, nhưng không còn thấy ai đứng lên nữa.

Thuần Vu Khôn cười vang mà nói: “Xem ra, buổi đua tiếng hôm nay đã xác định được trống mái rồi!” Quay sang Tô Tần, vòng tay nói. “Tô Tần người Lạc Dương, hãy cùng lão hủ tới bồi tiếp lão Mông Tử uống rượu!”

Phía dưới vang lên tiếng vỗ tay như sấm động.

Giờ Thìn hôm sau, đưa tang Bành Mông, mai táng tại núi Tắc Sơn cách đó hơn mười dặm. Hơn ngàn sĩ tử và các quan viên trong cung, cộng thêm vô số dân chúng thành Lâm Truy đều kéo đến tham gia, khiến đội ngũ đưa tang kéo dài dằng dặc, từ Tắc cung đến tận Tắc Sơn, trông còn hoành tráng hơn cả tang lễ trong cung thất.

Mai táng Bành Mông xong xuôi, Điền Anh và Thuần Vu Khôn gác mọi việc sang một bên, nhanh chóng trở về cung, vừa may gặp thái tử cũng đang ở đó.

Điền Anh bẩm tấu lại cặn kẽ về cuộc tranh luận và tang lễ Bành Mông, Tề Uy Vương hai mắt khép hờ, chăm chú lắng nghe, suy nghĩ một lúc, sau đó quay sang hỏi Thuần Vu Khôn: “Lão phu tử, theo huệ nhãn của ông, tài của Tô Tử thế nào?”

Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc, chậm rãi nói: “Về Tài của Tô Tử, thảo dân không dám đoán bừa. Tuy nhiên, thảo dân có một so sánh, không biết bệ hạ có muốn nghe hay không?”

“Ồ, so sánh thế nào?”

“Năm xưa Trâu Tử dùng tiếng đàn để ẩn dụ về triều chính, được bệ hạ trọng dụng, phong làm tướng quốc. Thảo dân sớm đã biết rõ Trâu Tử hay đàn, song chưa yên tâm về tài chính sự của ông ta, vì vậy đã đến tận nơi, dùng ẩn ngữ để hỏi về việc triều chính.”

Uy Vương cảm thấy hào hứng, nhổm người về trước hỏi: “Việc này thật mới mẻ, quả nhân chưa từng nghe lão phu tử nhắc tới bao giờ.”

Thuần Vu Khôn cười nói: “Chút tài vặt vãnh, khoe khoang miệng lưỡi, không đáng để nhắc tới!”

“Nói mau, phu tử hỏi ông ta thế nào?”

“Thảo dân hỏi ông ta: ‘Con không rời mẹ’.”

“Con không rời mẹ?” Uy Vương khẽ nhắc lại, chau mày suy nghĩ, một lúc sau mới ngẩng đầu lên hỏi. “Trâu ái khanh đối đáp ra sao?”

“Dân không rời vua!”

Uy Vương vỗ đùi đánh đét: “Đối hay lắm! Còn hỏi gì nữa?”

“Thảo dân lại hỏi: ‘Xà trên không thẳng xà dưới nghiêng’, Trâu Tử bèn đối: ‘Chúa thượng bất minh thiên hạ tối’. Thảo dân hỏi tiếp, ‘Áo lông cáo trắng, nào dám vá bằng da dê, Trâu Tử bèn đối: ‘Bề tôi trị nước, há lại lẫn phường vô dụng’.”

“Hay! Hay lắm!” Uy Vương tấm tắc luôn miệng. “Chỉ có thế thôi ư?”

“Vế ra cuối cùng của thảo dân là: ‘Vạn thú đuổi một hươu, hươu không còn đường sống, thú không được miếng ăn.

“Trâu Tử đối thế nào?” Uy Vương sốt sắng hỏi.

“Trăm quan trị một góc, dân không được yên thân, quan không được nuôi dưỡng.”

Uy Vương vỗ mạnh tay xuống mặt bàn: “Trâu Tử hay lắm, đối hay lắm!”

“Đúng vậy!” Thuần Vu Khôn gật đầu nói. “Nghe lời đối đáp của Trâu Tử, thảo dân vui vẻ thán phục, biết rằng ông ta không chỉ giỏi đàn, mà còn giỏi chính sự, bệ hạ dùng ông ta là đã dùng đúng người rồi!”

“Đúng vậy!” Uy Vương bất giác than thở. “Không có Trâu Tử, sẽ không có nước Tề bình trị như hôm nay!” Dừng lại một lát, bỗng hỏi. “Vừa nãy phu tử nói có một so sánh, vậy so sánh đâu?”

“Hôm qua khi biện luận, thảo dân cũng dùng những câu tương tự để hỏi Tô Tử, muốn thử tài của người này...”

“Ôi chao phu tử, hay lắm!” Thuần Vu Khôn chưa nói dứt lời, Uy Vương đã hào hứng cắt ngang. “Trước tiên hãy nói xem ‘con không rời mẹ’, Tô Tử đối thế nào?”

“Vua không rời dân!”

Uy Vương hít vào một hơi dài, ngửa đầu suy nghĩ một hồi lâu rồi mới gật đâu: “Ừm, đối hay lắm! Nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền, thánh quân không thể rời xa dân được! Vậy câu tiếp theo ‘xà trên không thẳng xà dưới nghiêng’, Tô Tử đối thế nào?”

“Đạo trời không vững đạo người khó.”

“Thế còn ‘áo lông cáo trắng nào dám vá bằng da dê’?”

“Thiên hạ đức hoà, đâu thể lẫn vào dâm dật.”

“Còn câu cuối cùng, ‘vạn thú đuổi một hươu, hươu không còn đường sống, thú không được miếng ăn’?”

“Trăm chúa tranh một trời, trời không được hoà bình, chúa không được yên ổn.”

“Trăm chúa tranh một trời, trời không được hoà bình, chúa không được yên ổn.” Uy Vương khẽ lẩm bẩm, nhắm mắt suy ngẫm một hồi, rồi ngẩng đầu hỏi Thuần Vu Khôn. “Câu đối của Tô Tử và Trâu Tử hoàn toàn khác nhau, so sánh hai người, phu tử cho rằng ai giỏi hơn?”

“Thảo dân chỉ đưa ra để so sánh, không dám đoán bừa. Tuy nhiên, qua buổi tranh luận hôm qua, Tô Tử đã được tất cả mọi người thán phục.”

“Phải, Tô Tử xứng đáng được thán phục!” Uy Vương gật gù, đưa mắt nhìn Tích Cương, rồi quay sang nói với Điền Anh. “Ái khanh hãy nói với đặc sứ bốn nước, rằng quả nhân đã có thời gian rảnh, ngày mai xin mời vào cung thỉnh giáo chuyện hợp tung chế Tần.”

Điền Anh vòng tay đáp: “Vi thần lĩnh chỉ!”

Thuần Vu Khôn, Điền Anh cùng cáo lui.

Thấy họ đã đi xa, Uy Vương suy tư một lát, rồi quay sang hỏi Tích Cương: “Cương Nhi, con thử nói xem, ẩn ngữ của lão phu tử, Trâu Tử hay Tô Tử đối hay hơn?”

“Chẳng phải lúc nãy lão phu tử và phụ vương đã định đoạt được rồi ư?” Tích Cương đáp.

“Quả nhân đang hỏi con kia mà!”

“Nhi thần cho rằng, Tô Tử đối cao tay hơn!”

“Tại sao Tô Tử lại đối cao tay hơn?”

“Trâu Tử chỉ nghĩ cho nước Tề, mới chỉ là nhân tài của đất nước, còn Tô Tử luôn nghĩ cho thiên hạ, đây mới là nhân tài của thiên hạ. Nhi thần cho rằng tài của Tô Tử còn hơn Trâu Tử.”

“Con nói không sai!” Uy Vương chậm rãi nói. “Trong hai người này, nếu như chỉ được lựa chọn một người, thì người nào hữu dụng hơn?”

“Tô Tử!” Tích Cương không chút đắn đo.

“Không! Không! Không!” Uy Vương lắc đầu quầy quậy. “Là Trâu Tử!”

“Phụ vương, cớ sao lại như vậy?” Tích Cương kinh ngạc, tròn mắt hỏi.

“Nếu như thiên hạ là công, thì còn ai dốc sức vì họ Điền chúng ta nữa? Nếu như thiên hạ không có phân tranh, làm sao có thể phát dương cơ nghiệp tổ tông? Biện luận của Tô Tử quá ư cao viễn, song trong nghị luận ở Tắc cung, lại không thực dụng.”

Tích Cương càng thêm khó hiểu: “Đã không thực dụng, vậy cớ sao phụ vương lại hẹn gặp Tô Tử, gia nhập tung thân?”

“Vì mối nhục Hoàng Trì!” Uy Vương gằn mạnh từng tiếng, như thể rít qua kẽ răng.

Tích Cương đầu óc rối tinh rối mù, đưa ánh mắt ngơ ngác nhìn Uy Vương: “Phụ vương...”

“Cương Nhi!” Uy Vương thay đổi sắc mặt, mỉm cười nói. “Việc này con hãy từ từ lĩnh hội!”

Ba ngày sau, nước Tề mở đại triều. Tề Vương tuyên chiếu, nước Tề gia nhập tung thân, dựa theo thông lệ của bốn nước trước đó, phong Tô Tần làm thượng khanh, kiêm đặc sứ hợp tung của nước Tề, ban tặng một toà phủ trạch trong Tắc Hạ, cộng thêm năm trăm lượng vàng, ba mươi nô bộc. Phong thế tử Điền Văn của thượng đại phu Điền Anh làm phó sứ hợp tung, thăng chức đại phu.

Do sự việc quá đỗi thình lình, nên đông đảo quần thần đều sững sờ kinh ngạc, đặc biệt là những người phản đối hợp tung như tướng quốc Trâu Kỵ, thượng tướng quân Điền Kỵ, nhất thời không thể hoàn hồn, cứ đứng ngơ ngác nhìn nhau trên triều.

Sau một tiếng “bãi triều”, Tề Uy Vương được nội thần dìu đi thẳng ra phía cửa bên. Tô Tần theo quần thần ra khỏi cửa điện, đang định bước xuống thềm đá, đột nhiên nghe có tiếng gọi từ sau lưng vọng lại: “Tô Tử!”

Tô Tần quay người lại nhìn, thấy là Điền Anh, liền vòng tay nói: “Tại hạ xin chào thượng đại phu!”

Điền Anh đáp lễ, cười nói: “Tô Tử đại nghiệp hoàn thành, tại hạ có lời chúc mừng!”

“Nói đến chuyện này,” Tô Tần mỉm cười, lại vòng tay, “chẳng phải toàn bộ đều nhờ thượng đại phu tác thành ư? Lúc nãy tại hạ vừa nghĩ, nhất định phải tìm cơ hội để đến đa tạ thượng đại phu!”

“Ồ, Tô Tử định đa tạ như thế nào?” Điền Anh cười hỏi.

“Những vật tốt đẹp trên đời, thượng đại phu chẳng thiếu thứ gì, tại hạ suy nghĩ mãi nhưng vẫn chưa nghĩ ra nên đa tạ thế nào mới phải, thì đột nhiên nghĩ đến một người, may ra có thể khiến thượng đại phu hứng thú!”

“Một người?” Điền Anh phì cười hỏi. “Hẳn không phải là một tuyệt sắc giai nhân đấy chứ?”

“Nghe nói trong phủ thượng đại phu giai nhân chen vai thích cánh, giờ lại tặng thêm mỹ nữ, chẳng phải sẽ càng thêm loạn hay sao?”

“Ồ, nói như vậy, người này hẳn là đàn ông?”

Tô Tần cười lớn: “Không phải đàn bà, chắc chắn phải là đàn ông rồi!”

“Ồ, người đàn ông có thể khiến tại hạ hứng thú...” Điền Anh chau mày suy nghĩ, rồi nhìn Tô Tần, cười lớn mà nói. “Này Tô Tử, đừng vòng vo nữa, là ai?”

Tô Tần liếc nhìn các triều thần đang từ từ băng qua, rồi hạ giọng: “Nếu thượng đại phu có nhã hứng, hãy cùng tại hạ tới một nơi!”

Sau khi ra khỏi cửa cung, Điền Anh bỏ lại xe kiệu của mình, lên xe của Tô Tần. Phu xe ra roi quất ngựa, tiến thẳng đến Tắc Hạ.

Chưa đầy một khắc, hai người đã đến Tắc cung, dừng lại trước cổng phủ của tế tửu Thuần Vu Khôn.

Điền Anh kinh ngạc, ngơ ngác nhìn Tô Tần: “Tô Tử, người đàn ông mà ngài nói, hẳn không phải là lão phu tử đấy chứ?”

Tô Tần phá lên cười lớn mà nói: “Phải hay không phải, cũng xin mời thượng đại phu vào trong đã!”

Tắc cung không giống những nơi khác, để tiện cho sĩ tử ra vào, trao đổi học nghệ, nên tất cả các khu nhà đều không có cổng.

Điền Anh mặt mày ngơ ngác, đi theo Tô Tần bước thẳng vào trong. Thuần Vu Khôn nghe thấy tiếng liền ra đón, cười vang mà nói: “Tô Tử hôm nay đại nghiệp thành tựu, hẳn là đến mời lão hủ uống rượu đây!”

Tô Tần vòng tay đáp: “Đúng vậy!”

“Rượu đâu?” Thuần Vu Khôn săm soi Tô Tần, hỏi.

“Rượu nào cũng chẳng ngon được bằng rượu của tiên sinh, nên vãn sinh không dám mang đến!”

Thuần Vu Khôn lắc đầu cười nói: “Tô Tử lấy rượu của lão hủ để tạ ơn lão hủ, lại còn dắt thêm một người tới uống cùng, rõ ràng là ăn cướp còn gì!”

Ba người đều bật cười, rồi cùng đi vào trong sảnh, chia ngôi chủ khách ngồi xuống.

Điền Anh đảo mắt một vòng, thấy không còn ai khác, liền thấp thỏm nhìn Tô Tần: “Người đâu?”

Tô Tần cười nói: “Không có ở đây!”

“Vậy ở đâu?”

“Ở tận Đại Lương!”

“Ai?”

“Tôn Tẫn!

Điền Anh ngây ra như khúc gỗ, một hồi lâu sau mới định thần lại được, hít vào một hơi dài, khẽ giọng hỏi: “Người này chẳng phải bị điên rồi ư?”

Tô Tần khẽ cười, nói: “Có lúc không điên!”

Điền Anh bừng hiểu ra, lập tức đứng bật dậy, hỏi: “Tô Tử, nói đi, làm thế nào mới có thể khiến Tôn Tẫn đến Tề?”

“Trộm!”

“Trộm?” Điền Anh lại ngẩn người. “Ai trộm?”

Tô Tần chậm rãi quay đầu, nhìn sang Thuần Vu Khôn.

Ánh mắt của Điền Anh cũng di chuyển theo, rồi nhìn sững vào cái đầu trọc của Thuần Vu Khôn.

Thuần Vu Khôn thoạt tiên không hiểu ý, nhưng lúc này dường như cũng đã phát giác ra, thì kinh hãi kêu lên: “Cái gì? Muốn lão hủ đi làm kẻ trộm? Trộm người?” Rồi cái đầu trọc bóng nhẫy lắc liên hồi như trống bỏi. “Không làm đâu! Không làm đâu! Lão hủ có chết cũng không chịu làm!”

Tô Tần thở dài sườn sượt: “Than ôi!”

Thuần Vu Khôn ngoảnh sang: “Này, Tô Tử than vãn cái nỗi gì?”

Tô Tần lại thở dài một tiếng: “Vãn sinh cảm thấy đáng tiếc thay cho tiền bối!”

“Lão hủ không làm kẻ trộm, Tô Tử đáng tiếc cái gì?”

Tô Tần chậm rãi nói: “Người ta sống ở trên đời, đều phải sống cho thoả chí, sống cho phấn khích, sống cho kinh động thế tục! Giữa thanh thiên bạch nhật, trong thành Đại Lương tường luỹ thâm nghiêm, ngay dưới con mắt của Ngụy Vương bệ hạ, khéo bày mưu kế, trộm đi một kẻ điên hai chân không thể cử động, hơn nữa, kẻ điên này lại là hậu duệ đích truyền của binh thánh Tôn Vũ Tử thời Xuân Thu, là nhất đại binh gia mà liệt quốc hiện nay không ai sánh kịp. Xin hỏi tiền bối, trong thời thế hiện nay, còn có việc gì giàu kịch tính và khoái trá hơn thế nữa chăng? Còn nữa...” Khẽ mỉm cười, “không biết sử gia sẽ viết về giai thoại này như thế nào nhỉ?”

Thuần Vu Khôn chau mày suy ngẫm.

“Nếu tiền bối không đồng ý, vãn sinh đành phải nhờ vả người khác vậy!” Tô Tần nói xong, giả như muốn đi.

“Ấy, ấy, ấy!” Thuần Vu Khôn vội ngăn lại, lắc lư cái đầu trọc. “Không giấu hai vị, lão hủ cũng đã từng đi trộm người, là trộm ban đêm, trộm đàn bà, nhưng lão hủ không gọi là trộm người, mà chỉ nói là trộm hương. Giờ Tô Tử nhờ lão hủ đi trộm đàn ông ngay giữa thanh thiên bạch nhật, quả là mới mẻ, chắc chắn sẽ rất kích thích lắm đây. Hãy để lão hủ suy nghĩ rồi quyết định cũng chưa muộn!” Nói đoạn, gãi đầu gãi tai, ra chiều nghĩ ngợi khổ sở lắm.

Nhìn bộ dạng hài hước của ông ta, Tô Tần, Điền Anh đều phá lên cười.

Hồi Thứ 44

Bày mưu mai mối, Thuần Vu trộm người

Ve sầu thoát xác, Bàng Quyên trúng kế

Nửa tháng sau, Tề Uy Vương xuống chiếu phong Thuần Vu Khôn làm sứ thần, mang theo năm mươi xe muối đi sứ nước Ngụy, chúc mừng Tề, Ngụy tung thân. Trâu Phi Đao trà trộn vào đoàn sứ thần, đi theo bảo vệ Thuần Vu Khôn. Tô Tần vẫn ở lại Tắc cung, lúc thì theo Chu Ung Môn học “Thiều”, lúc lại cùng các Tắc Hạ tiên sinh, triều thần nước Tề bàn luận phương pháp thực hiện cái đạo liên bang cùng trị, thiên đạo quán thông trong kế sách hợp tung.

Lúc này đã qua một cái tết, tiết thời trở ấm, hoa xuân nở rộ, người Đại Lương bắt đầu ra ngoài thả diều. Ngụy Huệ Vương nhìn thấy cảnh này, nổi hứng trẻ thơ, bèn sai tỳ nhân làm một con diều hình chim ó cực lớn, sau đó tự tay thả nó bay lên trong ngự hoa viên. Nhìn con diều từ từ lên cao, tâm trạng của Huệ Vương cũng phơi phới như cánh diều, theo làn gió ấm bay cao mãi.

“Bệ hạ!” Tỳ nhân khum tay che mắt, nhìn con diều chấp chới giữa trời. “Đã bé tí thành một chấm đen rồi, cho dù là chim ó thật cũng chưa chắc đã bay cao được như vậy!”

Ngụy Vương bật cười sảng khoái lại thả thêm hai vòng dây nữa, phấn chấn nói: “Nhìn sức này, nó còn muốn bay cao nữa!”

“Bệ hạ!” Tỳ nhân cười nói. “Đại trị mấy năm, thế lực của Đại Ngụy cũng giống như con chim ó này, đã bay cao đến chín tầng mây!”

“Phải!” Huệ Vương gật đầu. “Nói hay lắm! Chim bay càng cao, sức lao xuống sẽ càng mạnh. Nghe nói Doanh Tứ có nuôi một con hắc điêu, quả nhân rất muốn thử xem, là hắc điêu lợi hại, hay con ó của quả nhân lợi hại!”

“Bệ hạ lại muốn phạt Tần ư?” Tỳ nhân hạ giọng hỏi.

“Còn phải hỏi!” Huệ Vương nói lớn. “Hà Tây bị mất trong tay quả nhân, thì cũng phải do chính tay quả nhân giành lại. Nếu như không thể, trăm năm sau quả nhân còn mặt mũi nào đi gặp liệt tổ liệt tông?”

“Tâm nguyện của bệ hạ sắp được thực hiện rồi!” Tỳ nhân hào hứng tiếp lời. “Hiện giờ nước Tề đã gia nhập tung thân, nếu như Sở cũng gia nhập, liệt quốc Sơn Đông thực sự trở thành một thể, cho dù nước Tần có tường đồng vách sắt, e rằng cũng không thể chống đỡ nổi nửa năm!”

Huệ Vương tiếp lời: “Cho dù liệt quốc không hợp tung, quả nhân cũng vẫn phạt Tần. Quả nhân đã chuyên tâm trị nước mấy năm trời, đến nay kho lương đầy ắp, võ binh phục hưng, hiền thần đầy triều, lại có Bàng tướng quân uy phục liệt quốc, đội quân hổ bôn không ai địch nổi, quả nhân còn sợ ai nữa?” Dừng lại một chốc. “Tuy nhiên, nói gì thì nói, Tô Tử hợp tung, sáu nước tung thân, đúng là đã tốt lại còn tốt hơn, quả là trời đã giúp ta!”

Đúng vào lúc này, nội thần dẫn Chu Uy vội vàng đi tới, khấu đầu trước mặt Huệ Vương: “Khởi tấu bệ hạ, sứ thần nước Yên đến, tặng bệ hạ một con thiên lý mã, cộng thêm năm mươi con ngựa tốt. Sứ thần nước Triệu đến, tặng bệ hạ một ca kỹ, mười vũ nữ, mười nhạc công. Sứ thần nước Tề đến, tặng bệ hạ năm mươi xe muối, cùng là để chúc mừng tung thân!”

“Ồ!” Huệ Vương cả mừng. “Liệt quốc tung thân, việc tốt dồn dập tìm đến!” Dừng lại một chút, lại hỏi. “Điền Nhân Tề phái người nào đến?”

“Thuần Vu Khôn!”

“Là lão phu tử!” Huệ Vương cười ha hả mà nói. “Chẳng phải ông ta đang ở Hàm Đan hay sao? Đến Lâm Truy từ bao giờ vậy?”

“Tắc cung tế tửu Bành Mông quy tiên, Thuần Vu Khôn đến đưa tiễn, Tề Vương liền phái ông ta đi sứ!”

“Tốt! Tốt lắm!” Huệ Vương lại cười hoan hỷ, rồi quay sang tỳ nhân. “Người có đạo sẽ được nhiều ủng hộ. Sứ thần liệt quốc vào triều, quả nhân không thể chậm trễ, ngươi hãy mau sắp xếp, để quả nhân triệu kiến từng người một!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Huệ Vương vốn rất thích Thuần Vu Khôn, dặn dò tỳ nhân sắp xếp gặp ông ta sau cùng để có nhiều thời gian trò chuyện.

Chiều hôm sau, tỳ nhân sắp xếp cho sứ thần nước Yên yết kiến đầu tiên, sau đó là Thuần Vu Khôn. Sứ thần nước Yên thích ngựa, tự ví mình với Bá Nhạc. Huệ Vương biết được thì mừng rỡ, nhân tiện hỏi han sứ Yên về cách nhận biết ngựa hay, hai bên trò chuyện say sưa, đến mức quên bẵng cả thời gian. Tỳ nhân bước vào, bẩm báo rằng sứ thần nước Tề Thuần Vu Khôn đã đến, đang đợi ở ngoài điện. Sứ Yên liền cáo lui, tỳ nhân dẫn Thuần Vu Khôn vào yết kiến.

Thuần Vu Khôn khấu kiến xong, Huệ Vương liền mời ngồi, nhưng đầu óc vẫn quẩn quanh với chuyện ngựa, nên thần thái có phần lơ đãng.

Thuần Vu Khôn nhìn Huệ Vương chăm chú một hồi, rồi đứng dậy, khấu đầu nói: “Bệ hạ, thảo dân cáo lui!”

“Ồ!” Uy Vương sững người, rồi gật đầu nói. “Được! Được! Được! Vậy thì hãy đợi đến chiều mai!”

Chiều hôm sau, Thuần Vu Khôn lại đến như đã hẹn. Khi yết kiến, thấy Huệ Vương vẫn có vẻ xao nhãng, liền lập tức khấu đầu nói: “Bệ hạ, thảo dân cáo lui!” Rồi không đợi Huệ Vương lên tiếng, Thuần Vu Khôn đã đứng dậy lui ra.

Huệ Vương kinh ngạc, sượng sùng nhìn tỳ nhân.

Tỳ nhân vội đuổi theo, vẻ hối lỗi nói với Thuần Vu Khôn: “Tiên sinh, chiều mai lại đến, được chăng?”

Chiều hôm sau, Thuần Vu Khôn lại đến yết kiến như đã hẹn. Huệ Vương đứng dậy, đích thân dắt ông ngồi xuống.

Thuần Vu Khôn ngồi xuống chiếu, lại đưa mắt nhìn Huệ Vương, thấy tinh thân khí sắc khác hẳn so với hai ngày trước, thì vòng tay nói: “Bệ hạ, thảo dân lại đến quấy rầy!”

Huệ Vương xua tay, cười lớn mà nói: “Tiên sinh, chớ nói vậy, quả nhân có một chuyện rất muốn hỏi tiên sinh!”

“Xin bệ hạ cứ hỏi!”

“Tiên sinh hai lần yết kiến quả nhân, cả hai lần đều chẳng nói một lời, đứng dậy đi luôn, là quả nhân không xứng để trò chuyện, hay vì có nguyên do nào khác?”

“Không phải bệ hạ không xứng để trò chuyện, mà do bệ hạ thần trí lơ đãng, không có ý gặp thảo dân!”

“Ồ?” Huệ Vương kinh ngạc. “Tiên sinh hãy nói xem, quả nhân lơ đãng thế nào?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Thuần Vu Khôn vòng tay nói. “Hôm kia Khôn cầu kiến bệ hạ, bệ hạ ý tại rong ruổi; hôm qua Khôn cầu kiến bệ hạ, bệ hạ ý ở âm nhạc, nên thảo dân đều cáo lui!”

Huệ Vương tròn mắt kinh ngạc, bất giác khen ngợi: “Chà chà, tiên sinh đúng là thần nhân! Không giấu tiên sinh, hôm kia tiên sinh đến, cũng vừa lúc sứ thần nước Yên tặng thiên lý mã, quả nhân yêu ngựa, mặc dù gặp tiên sinh, nhưng lòng lại nghĩ về ngựa. Hôm qua tiên sinh đến, lại gặp lúc sứ thần nước Triệu tặng ca kỹ, quả nhân thưởng thức tiếng hát hay, chưa kịp nghe cho thoả thích, nên dù gặp tiên sinh, nhưng trong tâm vẫn còn lưu luyến!” Rồi quay sang tỳ nhân, cười lớn mấy tiếng. “Nhìn thấy chưa, Thuần Vu Tử hệt như con sâu chui vào trong tim quả nhân, ngay cả quả nhân nghĩ gì, tiên sinh cũng biết rõ!”

Tỳ nhân cũng cười, quay sang Thuần Vu Khôn, tiện miệng hỏi: “Tiên sinh đã là con sâu trong tim của bệ hạ, vậy có thể nói xem hiện bệ hạ đang nghĩ về chuyện gì không?”

Thuần Vu Khôn mỉm cười, gật đầu nói: “Để thảo dân thử xem!” Rồi mặt đối mặt với Huệ Vương, hai mắt nhắm nghiền, đề thần vận khí như thật, cứ như muốn đưa nguyên thần của mình chui vào trong tim Huệ Vương.

Huệ Vương chột dạ, nơm nớp như đang đối mặt với kẻ địch lớn, toàn thần tập trung nhìn chằm chằm vào Thuần Vu Khôn. Qua ba hơi thở, Thuần Vu Khôn thở ra một hơi dài, rồi mở mắt ra.

Huệ Vương vừa căng thẳng, vừa hiếu kỳ, hai mắt cứ nhìn chăm chắm vào Thuần Vu Khôn, rồi hỏi thăm dò: “Tiên sinh, quả nhân đang nghĩ gì?”

Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu: “Bệ hạ đang nghĩ, cái lão trọc đầu này, lẽ nào hắn thực sự có thể biến thành một con sâu, chui vào trong tim quả nhân ư?”

“Thần kỳ! Đúng là thần kỳ!” Huệ Vương dường như không dám tin, luôn miệng thốt lên. “Lúc nãy quả nhân thực sự có nghĩ như vậy!”

Thuần Vu Khôn cười lớn.

Tỳ nhân biết Thuấn Vu Khôn đang làm bộ diễn trò, thì cũng giả vờ thán phục khen ngợi vài câu. Huệ Vương nổi hứng, cùng Thuần Vu Khôn nói đủ chuyện trên trời dưới bể, từ thiên hạ đại sự đến đạo dưỡng sinh, từ phương pháp trị dân đến thuật ngự nữ, rôm rả suốt hai canh giờ.

Thuần Vu Khôn thấy trời đã chập tối, liền đứng dậy dập đầu nói: “Bệ hạ, không còn sớm nữa, thảo dân xin cáo lui!”

Ngụy Huệ Vương dường như cũng đã mệt, bèn vòng tay đáp: “Nói chuyện với tiên sinh thật sảng khoái. Mấy năm nay, Điền Nhân Tề luôn đối đầu với quả nhân. Những việc thuận theo tâm ý quả nhân, tính đi tính lại, chỉ có duy nhất một việc này, đó là chọn tiên sinh đi sứ!”

Thuần Vu Khôn khấu đầu: “Đa tạ bệ hạ hậu ái!”

“Có qua mà không có lại là thất lễ!” Huệ Vương quay sang tỳ nhân. “Điền Nhân Tề tặng quả nhân năm mươi xe muối, quả nhân sẽ tặng lại bốn mươi xe nấm khô, mười xe trà xuân, chứ để tiên sinh đánh xe không về, ông ta lại cười nhạo quả nhân. Còn về phía tiên sinh, tặng cho một cỗ xe, mười chuỗi ngọc. Còn vàng thì thôi, dù sao tiên sinh cũng chẳng thích đâu!”

“Bệ hạ cười chê rồi!” Thuần Vu Khôn vội vòng tay. “Đừng nói là vàng, cho dù bệ hạ có tặng một cọng cỏ xanh, thảo dân vẫn cứ coi là châu báu!”

“Tốt lắm!” Huệ Vương cười vang. “Tiên sinh đã nói vậy, thì hãy thưởng cho một cọng cỏ xanh!”

Trong tiếng địa phương nước Ngụy, chữ “xanh” trong phát âm gần giống chữ “kim” là vàng. Ngụy Huệ Vương vốn chỉ định nói cho vui, không ngờ lời còn chưa kịp dứt, Thuần Vu Khôn đã khấu đầu sát đất, dõng dạc hô: “Thảo dân đa tạ bệ hạ thưởng cỏ vàng!”

Trong nháy mắt, cỏ xanh đã biến thành cỏ vàng, Huệ Vương trố mắt một chốc, rồi cười lớn mà nói: “Tiên sinh quả là nhanh trí!” Rồi quay sang căn dặn tỳ nhân. “Truyền chỉ cho thợ vàng, đun chảy năm mươi lượng vàng đúc thành một cọng cỏ vàng, ban thưởng cho tiên sinh!”

“Thần lĩnh chỉ!”

Trong những món quà đáp lễ của Huệ Vương, nấm khô là thứ có sẵn, trữ đầy trong kho, song mười xe trà xuân lại khó tìm, vì hiện giờ vừa qua thanh minh, trà mới bắt đầu hái, quả thực một lúc khó lòng gom được đủ mười xe. Chu Uy đọc xong chiếu thư, đành phải đánh xe đến dịch quán, khẩn cầu Thuần Vu Khôn nán lại mấy hôm. Vì cũng cần có thời gian để nghĩ cách “trộm” Tôn Tẫn, nên đương nhiên Thuần Vu Khôn vui vẻ nhận lời.

Chu Uy vừa đi, Thuần Vu Khôn lập tức gọi Trâu Phi Đao đến hỏi: “Đã gặp gã điên kia chưa?”

Trâu Phi Đao gật đầu nói: “Gặp rồi! Tôn Tử biết tin thì vui lắm, hỏi tiểu nhân khi nào có thể lên đường. Tiểu nhân trả lời, ngày giờ cụ thể phải do tiên sinh quyết định.”

“Khi ngươi gặp Tôn Tẫn, có ai nhìn thấy không?”

“Không!”

Thuần Vu Khôn ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: “Chưa được lệnh của ta, tuyệt đối không được gặp Tôn Tử nữa, cũng không được cho bất cứ ai tới làm phiền hắn. Ngươi hãy cứ đợi trong dịch quán, chưa đến thời khắc quyết định, tuyệt đối không được lộ diện.”

Trâu Phi Đao vâng lệnh, quay người rời đi.

Thuần Vu Khôn ngồi trong sảnh, trầm ngâm suy nghĩ một hồi, rồi gọi phu xe đến, bảo chuẩn bị xe để đến phủ tướng quốc. Thuần Vu Khôn nhiều hơn Huệ Thi mười tuổi, bất luận là về học vấn hay danh tiếng, Huệ Thi cũng không thể sánh bằng. Biết Thuần Vu Khôn đến thăm, Huệ Thi vội vàng ra nghênh đón, vòng tay vái dài sát đất: “Thuần Vu Tử quang lâm, Huệ Thi vô cùng hân hạnh!”

Thuần Vu Khôn vòng tay đáp lễ, cười lớn mà nói: “Nghe nói Huệ Tử học cái học danh thực, rất có thành tựu, lão hủ ngưỡng mộ đã lâu. Ba năm trước, lão hủ làm thuyết khách giúp Triệu Hầu, đến Đại Lương yết kiến bệ hạ, vốn đã định đến cửa thỉnh giáo, nhưng lại nghe nói Huệ Tử bận rộn quốc sự, không có thời gian rỗi để cà kê cùng lão hủ đây, nên đành thôi. Lần này lại đến, lão hủ nghĩ đi nghĩ lại, nếu như lại không tìm đến thỉnh giáo, với độ tuổi này của lão hủ, chưa biết chừng sẽ trở thành niềm nuối tiếc cuối đời!”

Huệ Thi cười nói: “Chút học mọn của Huệ Thi, đâu dám khoe khoang trước mặt Thuần Vu Tử?” Rồi chìa tay. “Thuần Vu Tử, mời!”

Thuần Vu Khôn theo Huệ Thi vào trong phủ, từ xa đã nhìn thấy một người đang ngồi ngay ngắn trong phòng khách. Thấy họ đi đến, người này đứng dậy ra đón. Thuần Vu Khôn đang đoán chừng, thì người đó đã khom lưng vái chào mà nói: “Ngụy Thân xin chào Thuần Vu Tử!”

Thuần Vu Khôn vội vòng tay đáp lễ: “Thảo dân Thuần Vu Khôn bái kiến điện hạ!”

“Điện hạ cũng vừa mới đến,” Huệ Thi cười nói, “ngồi còn chưa kịp ấm chỗ! Hôm nay thật trùng hợp, một người là điện hạ đương triều, một người là Thái Sơn Bắc Đẩu trong học giới, khiến cho cái xó xỉnh tối tăm của tại hạ chốc đã sáng quang!”

“Đương nhiên rồi!” Thuần Vu Khôn vỗ vào cái đầu trọc bóng loáng của mình, cười vang mà nói. “Chỉ cần cái đầu sáng bóng của lão hủ tới nơi, không sáng mới là lạ!”

Ba người cùng bật cười.

Huệ Thi nhường chỗ, thái tử Thân từ chối không được, đành phải ngồi vào giữa, Thuần Vu Khôn, Huệ Thi lần lượt ngồi hai bên. Chuyện phiếm một lúc, Thuần Vu Khôn quan sát Ngụy Thân, thấy Ngụy Thân đầu mày nhíu chặt, khí sắc không vui, bèn ngả người về phía trước hỏi: “Nhìn khí sắc của điện hạ, dường như đang có tâm sự. Thảo dân ở đây, hẳn sẽ gây điều bất tiện!” Nói dứt lời, liền làm ra vẻ muốn đứng dậy.

Thái tử Thân vội đưa tay ngăn lại, cười gượng một tiếng, vòng tay nói: “Nghe nói Thuần Vu Tử giỏi suy đoán, có thể nhìn thấu tâm tư người khác, Ngụy Thân vốn không tin, nhưng hôm nay được lĩnh giáo rồi!”

Huệ Thi cũng cười một tiếng, quay sang Thái tử Thân nói: “Cho dù là chuyện gì, cũng không thể giấu được Thuần Vu Tử. Hay là điện hạ hãy cứ nói ra, Thuần Vu Tử túc trí đa mưu, chưa biết chừng lại có diệu kế!”

“Than ôi!” Thái tử Thân thở dài sườn sượt. “Lần này Ngụy Thân đến đây, là vì chuyện của Mai muội!”

“Mai công chúa? Công chúa làm sao kia?” Huệ Thi điềm đạm hỏi.

“Từ sau khi Tôn tướng quân phát điên,” Thái tử Thân chậm rãi nói, “Mai muội dường như đã trở thành một người khác hẳn, ngày ngày chỉ giấu mình trong thâm cung, ngoài cung nữ thân tín ra, chẳng chịu gặp ai, chẳng buồn ngó ngàng đến ai khác. Thấy Mai muội tuổi ngày một lớn, phụ vương cũng sốt ruột, rất muốn tìm giúp một chỗ xứng đáng. Năm ngoái Hàn thất đến cầu hôn cho công tử Chương, muốn hỏi Mai muội, phụ vương lập tức chấp thuận hôn sự này. Mai muội hay tin, ngay đêm hôm đó đã treo cổ tự vẫn, may mà cung nữ kịp thời cứu sống. Phụ vương vốn rất yêu thương Mai muội, thấy Mai muội cố chấp như vậy, đành phải từ bỏ ý định. Chiều hôm kia, Mai muội đột nhiên đến gặp tại hạ, quỳ xuống cầu xin một chuyện, khiến Ngụy Thân vô cùng khó xử.”

“Mai công chúa cầu xin chuyện gì?” Huệ Thi lại hỏi.

“Mai muội nói không muốn ở trong cung nữa, chỉ muốn chuyển đến phủ của Thân, còn muốn Thân đón Tôn tướng quân về phủ để Mai muội chăm sóc cả đời!”

Huệ Thi cũng giật mình, hít vào một hơi thật dài, từ từ nhắm mắt lại.

“Tiên sinh!” Ngụy Thân nhìn thẳng vào Huệ Thi, lo lắng nói. “Tiên sinh nói thử xem, Ngụy Thân phải làm thế nào đây? Nếu như không đồng ý, Mai muội đau buồn, chưa biết chừng lại nghĩ quẩn. Nếu đồng ý, việc này tất sẽ truyền ra ngoài, thiên hạ sẽ đàm tiếu ra sao? Hơn nữa, phải nói với phụ vương thế nào đây?”

Huệ Thi khép mắt lại, ngồi im bất động, chìm trong suy tư.

Thái tử Thân thấy vậy, thở dài một tiếng, cúi đầu im lặng.

Thuần Vu Khôn đã nghe ra được duyên do, liền ngả người về phía trước hỏi: “Xin hỏi điện hạ, Tôn tướng quân phải chăng là Tôn Tẫn?”

“Đúng thế!”

“Hỡi ôi!” Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu, cũng thở dài buồn bã. Tiếng thở dài của Thuần Vu Khôn, trung khí tràn trề, giọng kéo rất dài, lại lên bổng xuống trầm, y như tấu nhạc, rõ ràng là cố tình.

Huệ Thi mở bừng mắt, ngẩng đầu hỏi: “Cớ sao Thuần Vu Tử lại than thở?”

“Than ôi!” Thuần Vu Khôn lại than một tiếng. “Nói ra thì Tôn Tẫn năm xưa chính là do lão hủ đây tiến cử. Lão hủ thấy hắn có chút tài cán, đến Ngụy không chừng sẽ được thoả chí tung hoành, ai ngờ mới có mấy năm, mà một tài tử đường đường như vậy lại hoá thành một kẻ điên khùng! Huệ Tử nói xem, thế đạo như vậy, lão già này có thể không cảm thán hay sao?” Nói đoạn, lại lắc lắc cái đầu trọc.

Huệ Thi cười buồn một tiếng, cũng lắc đầu.

Thuần Vu Khôn quay sang thái tử Thân: “Lúc nãy nghe giọng điệu của điện hạ, dường như Tôn tướng quân và Mai công chúa có mối liên quan, việc này là thế nào?”

Thái tử Thân thấy cũng không thể giấu giếm được, nên đành phải kể lại một lượt hôn ước giữa Tôn Tẫn và Thuỵ Mai công chúa. Nói đến cảm động, thái tử Thân hai mắt cũng đỏ hoe.

Thuần Vu Khôn nghe xong, ngẫm nghĩ một lúc, lập tức nảy ra một ý, bèn cười vang mà nói: “Điện hạ, việc này kể cho lão hủ đây, coi như đã chọn đúng người!”

“Ồ, Thuần Vu Tử có kế sách gì ư?” Thái tử Thân vội hỏi.

“Xin hỏi điện hạ, điện hạ muốn Mai công chúa được hạnh phúc cả đời, hay là muốn để công chúa hầu hạ một kẻ điên?”

“Đương nhiên là muốn Mai muội được hạnh phúc!”

Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu, chậm rãi nói: “Nếu đã như vậy, lão hủ đây có một tuyệt chiêu!”

“Tiên sinh mau nói!”

“Lão hủ rất thích giúp chuyện mối mai để kiếm chén rượu hỷ. Nếu Mai công chúa vẫn là khuê nữ chưa xuất giá, lão hủ nguyện đứng ra làm mối, tìm cho công chúa một đức lang quân như ý, đảm bảo công chúa được hạnh phúc cả đời.”

Nghe nói vậy, thái tử Thân lập tức cụt hứng, thở dài mà nói: “Chao ôi, cứ tưởng tiên sinh có diệu kế gì, không ngờ lại là việc này. Tiên sinh có điều không biết, trong lòng Mai muội chỉ có một mình Tôn tướng quân mà thôi. Dù có là Tiêu Lang tái thế, Mai muội cũng chẳng chút động lòng.”

“Điều này thì chưa chắc!” Thuần Vu Khôn cười ha hả mà nói. “Nếu điện hạ tin tưởng, việc này cứ giao cho lão hủ. Lão hủ khẳng định Mai công chúa sẽ vui vẻ nghe theo lão hủ, gả cho đức lang quân như ý!”

“Gả cho người nào?” Thái tử vội hỏi.

“Người này...” Thuần Vu Khôn ngập ngừng một thoáng, rồi lập tức ứng biến, “là công tử Hư!”

“Công tử Hư là ai?”

“Là công tử nước Tề!”

“Công tử nước Tề? Công tử Hư?” Thái tử Thân gãi đầu, lẩm bẩm. “Hình như Ngụy Thân chưa từng nghe nói đến người này bao giờ.”

Thuần Vu Khôn cười vang: “Người trên đời có đến hơn nghìn vạn, điện hạ chưa từng nghe nói đến cũng là chuyện bình thường. Hơn nữa, hiện giờ điều lo lắng của điện hạ chỉ là hôn sự của công chúa, hạnh phúc của công chúa, đức lang quân như ý cho công chúa. Còn như việc hư với không hư, chỉ cần công chúa vui lòng, thì điện hạ còn điều gì phải đắn đo?”

Thái tử Thân ngẩn người, rồi gật đầu nói: “Phải, tiên sinh nói đúng lắm! Cho dù người đó là ai, chỉ cần Mai muội bằng lòng, Ngụy Thân tuyệt không phản đối!”

“Vậy thì tốt rồi!” Thuần Vu Khôn cười lớn mà nói.

“Ngày mai lão hủ sẽ đến yết kiến bệ hạ để cầu thân, có điều...” đưa mắt liếc sang Huệ Thi, “bữa rượu hỷ này, ta không thể uống một mình được! Huệ Tử, làm mối cũng có phần của ông. Lão hủ làm mối nhà trai, ông làm mối nhà gái, thế nào?”

Huệ Thi không đoán được ý đồ của Thuần Vu Khôn, rất tò mò muốn biết sự việc sẽ diễn biến thế nào, liền vòng tay cười nói: “Huệ Thi nguyện góp chút sức mọn!”

Ngày hôm sau, Thuần Vu Khôn bỏ ra một lượng tiền lớn để sắm sanh lễ vật, đến giờ Thân, liền đánh xe, gọi thêm Huệ Thi vào cung cầu kiến Huệ Vương. Vừa thấy Thuần Vu Khôn, Huệ Vương lại phá lên cười vui vẻ mà nói: “Lão phu tử, quả nhân đang nghĩ đến ông đây!”

“Bệ hạ nhớ thảo dân là khách sáo, thảo dân nhớ bệ hạ là thật lòng!” Thuần Vu Khôn khấu đầu nói.

“Lão phu tử mau bình thân!” Huệ Vương bảo hai người ngồi xuống. “Lần này lão phu tử đoán sai rồi, quả nhân thực sự đang nhớ đến lão phu tử!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Không tin, hãy cứ hỏi hắn!”

Tỳ nhân tiếp lời: “Lão phu tử, đúng là như vậy, lúc nãy bệ hạ cứ nhắc đến lão phu tử mãi.”

“Dám hỏi bệ hạ, tại sao lại nhớ thảo dân?” Thuần Vu Khôn vừa cười vừa hỏi Huệ Vương.

“Không giấu phu tử,” Huệ Vương thôi cười, cất giọng nghiêm túc, “bên cạnh quả nhân quả thực vẫn còn thiếu một người như phu tử. Sau khi phu tử đi rồi, quả nhân càng nghĩ càng thấy không thể thiếu được phu tử, thực lòng muốn bái phu tử làm quốc sư, ngày ngày ở trong cung, bên cạnh quả nhân, giúp quả nhân chỉ ra những điều lầm lỗi. Quả nhân và tỳ nhân đang nói đến việc này, đang định triệu vời phu tử, không ngờ phu tử đã đến!”

Thuần Vu Khôn cười lớn.

Huệ Vương kinh ngạc, vội hỏi: “Phu tử không bằng lòng ư?”

Thuần Vu Khôn chỉ vào cái đầu trọc của mình, vừa cười vang vừa nói: “Trong cung mỹ nữ như mây, nếu sớm chiều nhìn thấy cái đầu trọc lóc của thảo dân, chẳng phải sẽ khiến mặt hoa thất sắc, chạy trốn tán loạn ư?”

Huệ Vương cũng nhân tiện pha trò: “Nếu là việc này lại không đáng ngại. Quả nhân sẽ tặng phu tử năm mươi mỹ nữ, chỉ mong lão phu tử tinh khí sung túc, chớ làm họ thất vọng là được!”

“Nếu quả là vậy,” Thuần Vu Khôn tiếp lời, “thảo dân lại càng không dám. Mỹ nữ trong cung đều là ngọc thể, thảo dân thân hèn, chẳng phải là đã làm khổ họ ư?”

Huệ Vương biết ông ta không chịu, ngẫm nghĩ một lúc, bèn khẽ thở dài rồi chuyển sang chuyện khác: “Nói đi, lần này lão phu tử đến, có gì chỉ giáo?”

Thuần Vu Khôn vòng tay nói: “Đâu dám chỉ giáo! Thảo dân đến để lĩnh phần thưởng!”

Ngụy Huệ Vương quay sang tỳ nhân: “Cỏ vàng của lão phu tử đã đúc xong chưa?”

Tỳ nhân khẽ gật đầu, đi sang bên cạnh cầm lấy một chiếc hộp, mở ra, quả nhiên bên trong là một cọng cỏ xuân vàng chói lọi, sinh động như thật. Huệ Vương ngắm nghía một lát, rồi bảo tỳ nhân đưa cho Thuần Vu Khôn: “Đây là phần thưởng của lão phu tử, hãy cầm lấy!”

Thuần Vu Khôn nhận lấy cỏ vàng, vòng tay tạ ơn: “Thảo dân đa tạ bệ hạ ban thưởng! Nhưng lần này thảo dân đến đây, không phải để lấy phần thưởng này!”

“Ồ?” Huệ Vương ngẩn người. “Vậy phu tử đến để lấy phần thưởng gì?”

“Rượu mừng!”

“Rượu mừng?” Huệ Vương rất đỗi ngạc nhiên. “Là rượu mừng của ai?”

“Rượu mừng của Mai công chúa!” Thuần Vu Khôn dõng dạc đáp. “Trước lúc lên đường, Tề Vương có dặn thảo dân đến thăm dò xem, hiện bệ hạ có công chúa nào chưa gả chồng hay không, nếu có, Tề Vương nguyện được kết thân cùng bệ hạ. Hôm qua thảo dân đến phủ tướng quốc hỏi thăm, được biết Mai công chúa vẫn chưa đính hôn. Thảo dân mừng rỡ, nên đã kéo cả tướng quốc tới cùng làm mai mối, thay mặt Tề Vương cầu hôn với bệ hạ!” Nói đoạn, rút từ trong tay áo ra một bản danh sách sính lễ, hai tay trình lên. “Đây là danh sách sính lễ, lễ đã chuyển tới thiên điện, mời bệ hạ xem qua!”

Tỳ nhân nhận lấy, đưa cho Huệ Vương.

Huệ Vương đọc lướt qua rồi đặt xuống mặt bàn, ngẩng đầu chậm rãi hỏi: “Điền Nhân Tề cầu hôn? Ông ta cầu hôn cho ai?”

“Công tử Hư!” Thuần Vu Khôn lại rút từ trong tay áo ra một tấm lụa, hai tay dâng lên. “Đây là bát tự sinh thần của công tử!”

“Công tử Hư?” Huệ Vương nhận lấy tờ bát tự, đọc qua một lượt, nhẹ nhàng đặt xuống, gật đầu nói. “Tuổi rất được, không biết người này phẩm chất ra sao?”

“Nếu nói về phẩm chất, thực chẳng chê vào đâu được!” Thuần Vu Khôn cười vang mà nói. “Thảo dân chỉ dùng tám chữ: tài năng hiển hách, phong độ hiên ngang. Tuy nhiên...” lập tức đổi giọng, “thực ra công tử cũng có chỗ khiếm khuyết, thảo dân không dám giấu!”

“Có chỗ nào khiếm khuyết?”

“Theo Khôn được biết, công tử tính cách trầm tĩnh, không màng danh lợi, không tranh với đời, chỉ thích tĩnh lặng một mình, đặc biệt rất thích trồng hoa nuôi cỏ. Hơn nữa trong trăm loài hoa, chỉ đặc biệt yêu thích mai, cúc, thậm chí mấy năm trước còn khăng khăng đòi đến núi tiên ở Đông Hải, trồng mai nuôi cỏ, tu đạo luyện tiên. Không biết bao nhiêu người làm mai mối, nhưng công tử vẫn chưa ưng. Cái tính cách này, thực khác biệt so với người trẻ tuổi hiện nay, Tề Vương rất đỗi đau đầu, nhưng cũng đành phải bó tay. Những khiếm khuyết đó, thảo dân muốn bẩm rõ với bệ hạ, tuyệt không được để công chúa phải thiệt thòi!”

Huệ Vương nghe mà trong lòng mừng rỡ, vội nói: “Ồ, nếu đúng như vậy thì thật hợp với Mai Nhi. Nếu Điền Nhân Tề có thành ý, quả nhân sẽ chấp thuận hôn sự này!” Nói đến đây, mới đột nhiên sực nhớ ra một điều, đôi mày bỗng nhíu chặt. “Có điều, tính khí của Mai Nhi cũng giống y như vị công tử đó, rất cố chấp, không chịu gả chồng. Nếu nó không chịu, thì sẽ sống chết phản đối, cho dù là quả nhân cũng phải bó tay!”

“Bệ hạ yên tâm!” Thuần Vu Khôn tiếp lời. “Thảo dân học được thuật thông tâm, có thể đoán được những điều mà Mai công chúa đang nghĩ. Hãy để thảo dân bái kiến công chúa, thảo dân sẽ lựa thế mà khuyên nhủ, khiến công chúa vui vẻ nhận lời!”

Huệ Vương vội nói: “Tốt! Tốt! Tốt lắm! Nếu tiên sinh có thể tác thành hôn sự này, quả nhân nhất định sẽ trọng thưởng!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Truyền Mai công chúa vào yết kiến!”

Tỳ nhân toan đi, Thuần Vu Khôn liền ngăn lại: “Không! Không! Thảo dân không thể gặp công chúa trong cung được. Nghe nói công chúa và điện hạ qua lại rất thân thiết, thảo dân có thể đến phủ điện hạ để gặp công chúa được chăng?”

Huệ Vương gật đầu đồng ý: “Được thôi, tất cả xin nghe theo phu tử sắp đặt!”

Trong vườn mai tại hậu hoa viên của phủ thái tử Thân, hơn trăm gốc mai đã chen chúc những quả mai xanh to cỡ trái nho. Công chúa Thuỵ Mai xiêm y trắng muốt ngồi trong đình mai, ánh mắt thẫn thờ nhìn sững vào những quả mai xanh, trùng trùng tâm sự. Trong vườn chẳng còn ai khác, chỉ có mấy con chim nhỏ bận rộn xuyên qua những nhành mai, kêu lích chích.

Cổng vườn mở ra, Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc lóc đi vào. Thuỵ Mai do vẫn miên man suy nghĩ, nên không nghe thấy tiếng bước chân lúc một gần. Thuần Vu Khôn đi tới dưới đình, dừng bước, cố ý hắng giọng một tiếng.

Thuỵ Mai quay đầu lại, thình lình nhìn thấy một lão già đầu trọc, thì mặt hoa thảng thốt, kinh sợ hỏi: “Ông là ai?”

Thuần Vu Khôn vái sâu một lễ: “Lão hủ Thuần Vu Khôn xin chào công chúa!”

Thuỵ Mai từ lâu đã nghe đến đại danh của Thuần Vu Khôn, nên cũng thở phào một tiếng, khẽ nhún mình, vòng tay đáp lễ: “Tiểu nữ xin chào tiên sinh!”

Thuần Vu Khôn ngắm nghía nàng một lượt, rồi gật đầu khen ngợi: “Công chúa thực xinh đẹp!”

Thuỵ Mai thường ngày không muốn gặp người khác, lại càng không muốn bị làm phiền ở chốn này, nghe thấy Thuần Vu Khôn ăn nói tuỳ tiện, lập tức sắc mặt sa sầm, lạnh nhạt hỏi: “Tiên sinh đến đây có chuyện gì quan trọng?”

Thuần Vu Khôn cười lớn mà nói: “Không, không có! Chỉ để ngắm mai mà thôi!” Rồi chẳng quan tâm đến Thuỵ Mai, cứ thế đi thẳng lên đình, ngồi xuống phần chiếu đối diện với nàng. “Lão hủ ngồi ở đây, công chúa không phản đối chứ?”

Thuỵ Mai đứng phắt dậy, giận dữ nói: “Tiên sinh muốn ngắm thì ngắm một mình đi!” Rồi phất ống tay áo bước thẳng xuống đình, theo đường nhỏ bỏ đi.

Thuần Vu Khôn chậm rãi nói với theo: “Mai công chúa xin dừng bước!”

Nghe thấy Thuẫn Vu Khôn gọi thẳng tên huý của mình, Thuỵ Mai sững người, bất giác dừng bước, quay đầu lại, giọng vẫn lạnh như băng: “Tiên sinh có chuyện gì?”

“Lúc nãy ta đi qua đầu phố, vừa hay gặp một kẻ điên, công chúa có muốn nghe một chuyện thú vị về hắn không?”

Thuỵ Mai trong lòng chấn động, biết rằng Thuần Vu Khôn đến đây là vì Tôn Tẫn, hơn nữa, có thể bước chân vào khu vườn này, chắc chắn đã được thái tử Thân cho phép. Xem ra, thỉnh cầu của nàng đã có cơ may được đáp ứng, thì vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, lập tức quay trở lên đình, giọng điệu cũng ôn hoà hơn, khẽ hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, người điên đó có chuyện gì thú vị?”

“Công chúa không thể đứng như thế mà nghe được!” Thuần Vu Khôn mỉm cười, chỉ tay vào vạt chiếu trước mặt. “Mời ngồi!”

Thuỵ Mai nhìn chằm chằm vào Thuần Vu Khôn một lúc, sau đó ngồi xuống, hai mắt vẫn nhìn ông ta không chớp.

“Công chúa!” Thuần Vu Khôn chợt thu lại nét cười, cất giọng nghiêm túc, đi thẳng vào đề. “Chuyện giữa công chúa và Tôn Tẫn, điện hạ đã kể hết cho lão hủ nghe. Nghe điện hạ nói, công chúa muốn đón Tôn tướng quân tới Đông cung phủ để chăm sóc cả đời, có chuyện này chăng?”

Thuỵ Mai mặt đỏ bừng, đầu cúi gằm, khẽ cắn môi, im lặng không nói.

“Lão hủ đến đây cũng là vì việc này. Lão hủ có một lời muốn hỏi công chúa.”

Thuỵ Mai vội nói: “Tiên sinh cứ hỏi!”

“Công chúa chỉ là mến tài Tôn tướng quân, hay là đã có lòng yêu Tôn tướng quân?”

Thuỵ Mai càng cúi mặt thấp hơn, hồi lâu sau mới thốt ra được một chữ: “Yêu!”

“Yêu trái tim tướng quân, hay yêu con người tướng quân?

“Tim!”

“Nếu như là yêu trái tim của tướng quân, công chúa có bằng lòng vì tướng quân mà hy sinh tất cả không?”

Thuỵ Mai không còn thẹn thùng nữa, đường hoàng ngẩng đầu lên, trịnh trọng gật đầu. Thuần Vu Khôn nhận ra trong mắt Thuỵ Mai ứa ra những giọt lệ long lanh.

“Nhìn nước mắt của công chúa, hẳn là thực lòng, lão hủ sẵn sàng giúp đỡ!” Thuần Vu Khôn gật gù, rồi chậm rãi nói.

“Đa tạ tiên sinh thành toàn!” Thuỵ Mai vòng tay đa tạ, rồi nâng tay áo lau nước mắt.

“Lão hủ giúp đỡ, lại có hai cách giúp. Một là làm theo ý nguyện của công chúa, thuyết phục bệ hạ, đón Tôn tướng quân vào cung, hoặc là đón đến nơi này, để công chúa tận tình chăm sóc, hầu hạ suốt đời. Hai là trị khỏi bệnh điên cho Tôn tướng quân, ngoài hai cái đầu gối là lão hủ đành bó tay, còn tất cả những chỗ khác, lão hủ đảm bảo Tôn tướng quân sẽ trở lại bình thường. Hai cách giúp này, công chúa hãy chọn lấy một.”

“Thật ư?” Thuỵ Mai mừng đến phát khóc, hai mắt mở to, ngờ vực nhìn vào cái đầu trọc lóc của Thuần Vu Khôn. “Bệnh của Tôn tướng quân, tiên sinh thực sự chữa khỏi được ư?”

“Có thể chữa khỏi hay không, còn phải do công chúa quyết định!”

“Ta ư?” Thuỵ Mai ngẩn người. “Tiểu nữ có thể làm được gì?”

“Có chứ! Có chứ!” Thuần Vu Khôn vội đáp. “Chỉ cần công chúa đồng ý một chuyện, bệnh điên của Tôn tướng quân sẽ được chữa khỏi hoàn toàn!”

“Nói đi! Chỉ cần có thể chữa khỏi bệnh cho Tôn tướng quân, muốn tiểu nữ làm gì cũng được!”

“Gả chồng! Gả cho công tử nước Tề!”

Thuỵ Mai hai mắt sững sờ, kinh ngạc đến chết lặng. Hồi lâu sau, nàng mới định thần lại được, rồi đanh giọng đáp: “Nói qua nói lại, thì ra tiên sinh đang kiếm cớ cầu thân!”

“Đúng vậy!” Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu bóng lưỡng. “Lần này, lão hủ đến đây, chính là để cầu thân cho công tử Hư của nước Tề!”

Thuỵ Mai lạnh nhạt nói: “Tiểu nữ đời này kiếp này, ngoài Tôn tướng quân ra, tuyệt không gả cho ai khác!” Nói đoạn, lại đứng bật dậy.

Thuần Vu Khôn cười vang mà nói: “Xem ra, không phải công chúa yêu trái tim của Tôn tướng quân, mà là yêu con người của tướng quân mới đúng!”

Thuỵ Mai sững lại một lát, rồi chậm chạp ngồi xuống, hỏi: “Tiên sinh lấy gì để bảo đảm sẽ chữa khỏi bệnh cho Tôn tướng quân?”

“Là thế này!” Thuần Vu Khôn dõng dạc nói. “Lão hủ chu du khắp liệt quốc, thích nghe ngóng những điều mới lạ, chuyện ở Trung Nguyên ngoại vực, không gì không biết. Tại Đông Hải nước Tề có núi tiên, trên núi có cỏ tiên, có thể trị khỏi chứng bệnh điên cuồng. Núi tiên bồng bềnh trên biển lớn, sương mù bao phủ, trôi nổi bất định, người bình thường không thể thấy được. Theo lão hủ được biết, người có thể đến được núi này, chỉ có duy nhất công tử Hư nước Tề. Lão hủ được điện hạ cậy nhờ, nên đã cầu xin công tử Hư đến núi đó hái cỏ tiên. Công tử Hư chỉ đưa ra một điều kiện, đó chính là cưới công chúa làm thê tử.”

Thuỵ Mai đương nhiên đã tin là thực, tròn mắt hỏi: “Tại sao công tử Hư nhất định muốn cưới tiểu nữ?”

“Đợi sau khi xuất giá, công chúa hãy trực tiếp hỏi công tử!” Thuần Vu Khôn nhún vai, làm ra vẻ muốn mà không giúp được, sau đó chống tay xuống đất, đẩy người đứng dậy. “Công chúa hãy nghĩ cho kỹ, muốn cả đời bầu bạn với một kẻ điên, hay là muốn có được cỏ tiên, trị dứt bệnh cho Tôn tướng quân? Lúc nào công chúa quyết định xong, hãy báo cho lão hủ. Lão hủ đã hứa, nhất định sẽ làm được!”

Rồi Thuần Vu Khôn quay người, lắc lư cái đầu bước đi theo con đường đã đến. Đi chưa được mấy bước, phía sau đã nghe có tiếng gọi: “Tiên sinh! Hãy nói với công tử nước Tề, rằng tiểu nữ đồng ý xuất giá!”

Thuần Vu Khôn dừng bước.

“Tuy nhiên,” Thuỵ Mai cất giọng lạnh lẽo, “tiểu nữ cũng có một điều kiện, công tử nhất định phải mang cỏ tiên về trước, chữa khỏi bệnh cho Tôn tướng quân đã!”

“Ha ha!” Thuần Vu Khôn phì cười. “Hai vị đúng là một cặp! Nhưng mà hai vị, một vị thì muốn xuất giá trước, một vị lại muốn trị bệnh trước, thực khiến lão hủ khó xử! Thôi được, lão hủ sẽ chọn cách chiết trung vậy, trước tiên công chúa hãy sang nước Tề, cử hành nghi thức trước, đợi Tôn tướng quân được chữa khỏi hoàn toàn, công chúa đích thân xác nhận, sau đó mới nhập động phòng, ý công chúa thế nào?”

Thuỵ Mai trầm ngâm hồi lâu, rồi ứa lệ mà đáp: “Cứ làm theo lời tiên sinh!”

Hay tin Thuỵ Mai đồng ý xuất giá, Ngụy Huệ Vương vui mừng khôn tả, đích thân đến Thái miếu xem quẻ hôn sự cho nàng, rút được quẻ Càn, là quẻ thượng thượng, hào từ là “xiêm vàng đại cát”, ý nói hôn sự này có thể giữ được bản sắc nhu thuận, đại cát đại lợi. Huệ Vương vui sướng đến cười không khép nổi miệng, lập tức định ngày tốt, sai tỳ nhân chuẩn bị của hồi môn.

Từ sau khi Tôn Tẫn hoá điên, phu nhân của Vũ An Quân là Thuỵ Liên công chúa không nhẫn tâm nhìn cảnh Thuỵ Mai đau buồn tuyệt vọng, nên rất ít khi trở về cung. Nghe nói hôn sự này là do Thuỵ Mai tự nguyện chấp thuận, Thuỵ Liên vui mừng khôn xiết, lập tức hồi cung thăm chị, không ngờ Thuỵ Mai vẫn còn ở trong cung của thái tử Thân chưa về. Thuỵ Liên muốn đến Đông cung thăm Thuỵ Mai, nhưng vừa định khởi hành, đột nhiên Bàng Thông lại nhắn nàng về phủ sớm, vì hôm nay Vũ An Quân có thể trở về. Thuỵ Liên ngước mắt nhìn trời, vội giục phu xe đánh xe về phủ.

Quả nhiên, Thuỵ Liên vừa về đến cổng, đã nghe môn nhân thông báo Bàng Quyên đã về đến. Từ sau khi đồng ý nhập tung, Ngụy Huệ Vương lập tức đốc thúc quần thần dốc toàn lực, chuẩn bị giành lại Hà Tây. Bàng Quyên cũng nhanh chóng nhận ra lợi ích của hợp tung, hưng phấn khác thường, dồn hết tâm huyết vào huấn luyện binh mã, hầu như ngày nào cũng ở lì tại đại doanh ở Phùng Trạch, rất ít khi về phủ.

Thuỵ Liên xuống xe, vội vàng rảo bước vào trong, từ xa đã nhìn thấy Bàng Quyên ngồi ngay ngắn trong sảnh, đang nghe Bàng Thông bẩm báo các việc trong phủ. Liếc thấy Thuỵ Liên, Bàng Thông biết ý đứng dậy, cười nói với Bàng Quyên: “Đại ca, trong phủ còn chút chuyện vặt, lát nữa Thông đệ sẽ đến bẩm báo sau!”

Bàng Quyên gật đầu, Bàng Thông liền lui ra, gặp Thuỵ Liên ở cửa, bèn khom lưng chào, xong vội vàng rời đi.

Thuỵ Liên hấp tấp bước lại gần, quỳ xuống trước mặt Bàng Quyên, cất giọng chứa chan tình ý: “Phu quân...”

Bàng Quyên khẽ đưa tay kéo, Thuỵ Liên thuận đà ngã người vào lòng hắn. Hai người đang ôm ấp, bỗng có tiếng bước chân từ ngoài cửa vọng lại. Thuỵ Liên vội vùng ra khỏi tay Bàng Quyên, ngồi trước mặt. Thấy chẳng phải ai khác, chỉ là tỳ nữ hầu trà, hai người đều cười phá lên.

Thuỵ Liên hớn hở ra mặt, không thể đợi thêm được nữa, lập tức khoe ngay: “Phu quân, thiếp có một tin mừng rất rất lớn!”

“Ồ!” Bàng Quyên mỉm cười. “Là tin mừng gì vậy?”

“Mai tỷ sắp xuất giá!”

“Mai công chúa xuất giá?” Bàng Quyên giật mình kinh ngạc. “Gả cho người nào?”

“Một vị công tử nước Tề, nghe người trong cung nói, tính tình giống hệt như Mai tỷ, hai người rất xứng đôi.”

“Người đó tên gì?”

“Nghe nói tên là Điền Hư!”

“Điền Hư?” Bàng Quyên chau mày. “Ta chưa từng nghe nói nước Tề có công tử nào tên gọi Điền Hư. Trong cung còn nói gì nữa?”

“Người trong cung còn nói, phụ vương rất đỗi vui mừng, hai ngày trước đã đến Thái miếu xin quẻ, là quẻ thượng thượng, đã định được ngày tốt rồi, là ngày kia. Mấy hôm nay, trong cung đang bận túi bụi để chuẩn bị của hồi môn cho Mai tỷ.”

“Công chúa bằng lòng ư?”

“Đương nhiên! Nếu Mai tỷ không bằng lòng, ai dám ép chị ấy?”

Bàng Quyên ngẫm nghĩ một hồi, rồi khẽ mỉm cười nói: “Ừ, quả là việc tốt. Mai công chúa gả tới tận nước Tề, chúng ta nên tặng lễ vật lớn mới phải!”

“Phu quân nói rất phải!” Thuỵ Liên hào hứng tiếp lời. “Thiếp cũng đang suy nghĩ về chuyện này, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, vẫn không biết nên tặng món quà gì.”

“Mai công chúa không giống người phàm tục, nên tặng quà gì, hãy để ta suy nghĩ thêm!” Bàng Quyên nói đoạn, quả nhiên nhắm mắt lại, chìm vào suy tưởng, dường như đang nghĩ nên tặng quà gì.

Tuy nhiên, Thuỵ Liên công chúa không biết được rằng, lúc này Bàng Quyên không hề nghĩ đến việc chọn quà mừng, mà đang suy ngẫm một chuyện khác. Bàng Quyên khẳng định, Thuỵ Mai không thể đổi ý nhanh chóng đến vậy. Nàng chịu chấp thuận, bên trong chắc chắn còn có điều uẩn khúc.

Suy nghĩ một lúc, Bàng Quyên đột nhiên rùng mình ớn lạnh, buột miệng kêu lên: “Thuần Vu Khôn!”

Lời của Bàng Quyên bật ra vừa thình lình, lại vừa chẳng ăn nhập gì, khiến Thuỵ Liên giật nảy mình, mặt hoa biến sắc, rùng mình một cái, run giọng hỏi: “Phu quân, Thuần Vu Khôn làm sao?”

Lúc này Bàng Quyên mới nhận ra mình thất thố, bèn cười nói: “Không có gì! Phu nhân có biết, người mai mối tác thành hỷ sự này, phải chăng là Thuần Vu Khôn?”

“Chính là người này!” Thuỵ Liên đáp. “Nghe người trong cung nói, ông ta là mai mối phía nhà trai, còn mai mối của Mai tỷ chính là Huệ tướng quốc!”

Bàng Quyên đang định hỏi tiếp, thì Bàng Thông vội vã đi vào, dừng lại trước cửa bẩm báo: “Đại ca, Thuần Vu Khôn cầu kiến!”

Bàng Quyên sững người, liếc nhìn Thuỵ Liên một cái, rồi gãi gãi đầu nói: “Chà chà, nhắc đến ma, ma lập tức xuất hiện!” Rồi cười cười nói với Thuỵ Liên. “Phu nhân, ông mối đến tâng công rồi, ta phải tạ ơn ông ta tử tế mới được, nàng tạm thời hãy lánh mặt một lát!”

Bàng Quyên đứng dậy, cùng Bàng Thông nhanh chóng bước ra khỏi cửa.

Chưa đến một khắc, Bàng Quyên đã mặt mũi niềm nở dắt tay Thuần Vu Khôn, cười cười nói nói đi vào trong sảnh, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Bàng Thông rót trà xong, bèn quay người lui đi.

Bàng Quyên chỉ vào chén trà, cười nói: “Là chén trà nhạt, mời tiền bối nếm thử!”

Thuần Vu Khôn bưng chén trà lên, nhấp một ngụm, gật gù khen ngợi: “Ồ, trà ngon!”

Bàng Quyên cũng nhấp một ngụm, cười hỏi: “Nghe nói tiền bối hiểu nhiều biết rộng, có biết xuất xứ của trà này chăng?”

Thuần Vu Khôn bưng chén trà lên, tỉ mỉ quan sát màu sắc lá trà, sau đó lại khẽ nhấp một ngụm, ngậm trong miệng một lát mới nuốt xuống, rồi ngẩng đầu cười nói: “Hồi bẩm Vũ An Quân, nếu lão hủ đoán không sai, trà này đến từ núi Vân Mộng, là trà thanh minh!”

Bàng Quyên vô cùng kinh ngạc, vội vòng tay nói: “Lão tiền bối đúng là thần thánh!”

Thuần Vu Khôn bật cười, lắc lư cái đầu trọc, cũng ôm quyền đáp. “Chỉ là uống nhiều mà thôi!”

Hai người trà chuyện một lúc về trà đạo, Bàng Quyên quyết định xuất chiêu trước chiếm thượng phong, ôm quyền cười nói: “Lão tiền bối bận trăm công nghìn việc, hôm nay lại ghé thăm hàn xá, hẳn là có điều muốn chỉ giáo vãn sinh!”

“Chỉ giáo thì không dám!” Thuần Vu Khôn cười vang mà nói. “Nghe nói Vũ An Quân tinh thông binh pháp, lão hủ từ lâu đã muốn đến thỉnh giáo. Nhưng thật không may, mặc dù mấy năm trước tới đây vào đúng ngày đại hỷ của Vũ An Quân, lão hủ có đến tận cổng, song lại khó mở miệng. Lần này tìm tới, song Vũ An Quân lại không có trong phủ. Nghe nói hôm nay đại nhân hồi phủ, nên lão hủ đã phái người canh chừng ngoài cổng đợi tin. Ha ha ha ha, chiêu này thực tuyệt, quả nhiên lão hủ đã bắt được tận tay rồi!”

“Thế thì thực quái lạ!” Bàng Quyên cười lớn mà nói. “Theo vãn sinh được biết, lão tiền bối có sở trường là dùng ẩn ngữ, dựa vào miệng lưỡi sắc bén mà chu du liệt quốc, cớ sao bây giờ lại thình lình có hứng với binh pháp?”

Thuần Vu Khôn lại lắc lư cái đầu trọc, cười lớn mà nói: “Thường có câu, chuyện trò không hợp nửa câu cũng nhiều. Lão hủ cầu kiến đại tướng quân, không nói chuyện binh pháp chiến trận, thì sao gợi được cảm hứng?”

“Hay! Hay lắm!” Bàng Quyên cười vang. “Trò chuyện với lão tiền bối thật sảng khoái! Tự cổ chí kim, binh gia vô số, nhiều không đếm xuể, dám hỏi lão tiền bối, muốn hỏi tới binh pháp của nhà nào?”

Thuần Vu Khôn thủng thẳng nói: “Binh pháp bình thường, chẳng có gì đặc biệt. Thiên hạ đồn đại, đại tướng quân tại cửa Túc Tư từng mơ thấy Ngô Khởi, được Ngô Khởi truyền cho tuyệt học dụng binh, có chuyện này chăng?”

Bàng Quyên sững lại một thoáng, rồi lộ một nụ cười ngượng nghịu, ôm quyền nói: “Quả thực có chuyện này. Thế nhưng những gì vãn sinh học được, mới chỉ là chút lông tóc của Ngô Tử, không đáng nhắc đến!”

“Đại tướng quân bất tất phải khiêm nhường!” Thuần Vu Khôn thu lại nụ cười, sửa sang vạt áo, ôm quyền nói. “Nhắc đến Ngô Tử, lão hủ đã từng được gặp gỡ một lần!”

Nghe thấy nói vậy, Bàng Quyên bỗng chốc tinh thần phấn chấn, vội ôm quyền hỏi gấp: “Việc này có thật chăng?”

Thuần Vu Khôn liếc xéo hắn một cái: “Lão hủ đã từng nói bừa bao giờ chưa?” Rồi nheo nheo mắt, dường như đang chìm trong hồi tưởng. “Năm đó lão hủ mới mười tuổi, cùng mẹ đi xin ăn, khi đến nước Ngụy thì gặp đại tướng quân Ngô Khởi khải hoàn. Chà chà, uy thế lúc đó, thực khiến ta sợ đến nỗi vãi đái cả ra quần!”

Thuần Vu Khôn sắc mặt nghiêm túc, nhưng lại nói ra những lời lẽ kiểu này, khiến Bàng Quyên không thể nhịn được, ôm bụng cười lớn, luôn miệng kêu lên: “Hay! Hay! Hay! Người đời đều nói lão tiền bối hài hước hoạt kê, hôm nay vãn sinh đã tin rồi!”

“Đây là sự thực!” Thuần Vu Khôn chỉ tay lên trời thề. “Nếu đại tướng quân không tin, hãy đến nước Tề hỏi em gái ruột của lão hủ, lúc đó nó cũng có mặt, đến nay vẫn lôi chuyện này ra để trêu chọc lão hủ. Trên đời này, nếu như lão hủ đây biết sợ một người, thì chính là nó!”

Thấy Thuần Vu Khôn thề thốt như thật, Bàng Quyên càng cười ngặt nghẽo, vừa cười vừa chỉ vào Thuần Vu Khôn, nói không thành câu: “Lão tiền bối! Đúng là chỉ có lão, đến bịa chuyện cũng bịa tài tình đến vậy, thực khiến vãn sinh...”

“Không! Không! Không!” Thuấn Vu Khôn ngắt lời Bàng Quyên. “Người bịa chuyện không phải là lão hủ, mà chính là đại tướng quân!”

Nụ cười của Bàng Quyên bỗng chốc trở nên cứng nhắc, sững người một lúc mới lắp bắp hỏi: “Lão... lão tiền bối, nói... nói vậy là có ý gì?”

Thuần Vu Khôn nói rành rọt từng chữ: “Nếu lão hủ đoán không sai, chuyện kia ắt là do đại tướng quân cố tình bịa ra. Theo như lão hủ đoán, nếu đại tướng quân có được binh pháp Ngô Tử, chắc chắn là học từ Quỷ Cốc.”

“Tại sao lão tiền bối lại đoán vậy?”

“Ma quỷ báo mộng, chắc hẳn sẽ không đặt một bộ binh thư vào trong lòng đại tướng quân!”

Bàng Quyên vòng tay, thán phục nói: “Lão tiền bối quả nhiên có huệ nhãn, vãn sinh không dám giấu giếm. Quả thực cuốn sách của Ngô Tử là do tiên sinh đích thân truyền thụ khi còn trong Quỷ Cốc. Còn về chuyện báo mộng, đúng là vãn sinh đã lừa gạt ba quân. Lúc đó ba quân chỉ còn lại ba vạn sĩ tốt mệt mỏi, đã bại liền mấy trận, sĩ khí suy sụp, vãn sinh vì bất đắc dĩ nên mới phải thêu dệt nên chuyện này, đã khiến lão tiền bối cười chê!”

“Cười chê?” Thuần Vu Khôn khẽ ôm quyền, thành thực mà nói. “Chỉ một hành động này của đại tướng quân thôi, đã đủ vượt xa Ngô Khởi! Nhìn vào các trận Hoàng Trì, trận Triều Ca, và cả trận Hình Sơn sau này, đại tướng quân quả là trí dũng tuyệt luân, cho dù là Ngô Khởi tái thế, chẳng qua cũng chỉ đến vậy mà thôi!”

Bàng Quyên liên tiếp ôm quyền: “Tiền bối quá khen, vãn sinh hổ thẹn không dám nhận!”

“Nói về binh pháp Ngô Tử,” Thuần Vu Khôn đổi giọng, “lão hủ sực nhớ đến một chuyện, thực vô cùng hối hận!”

“Lão tiền bối hối hận chuyện gì?”

“Năm đó, nghe tin Quỷ Cốc Tử truyền lại thuật dùng binh của Ngô Tử cho tướng quân, đồng thời đem thuật dụng binh của Tôn Tử truyền lại cho Tôn Tẫn, lão hủ cảm thấy rất đỗi hiếu kỳ. Sau đó, được Ngụy Vương triệu kiến, lão hủ lại nhanh mồm nhanh miệng, nên đã vô tình nhắc đến chuyện này. Ai ngờ người nói vô ý, kẻ nghe có tâm, Huệ Vương đã dùng hậu lễ để mời Tôn Tẫn. Kết quả, Tôn Tẫn đến Ngụy chưa được một năm lại bị xử tẫn hình, ứng ngay với cái tên của hắn! Lão hủ biết được chuyện này, cảm thấy thật có lỗi với Tôn Tẫn, cũng có lỗi với Quỷ Cốc Tử. Nghe nói Bàng tướng quân cũng vì chuyện này mà chịu không ít khổ sở, thậm chí còn xả thân cứu mạng, khiến người ta cảm động! Than ôi, tất cả đều trách cái miệng thối này của lão hủ, chỉ vì một câu nói bâng quơ mà gây nên hoạ!”

Bàng Quyên nghĩ thầm: “Lão trọc vòng vèo qua lại, giờ mới vòng đến điểm chính đây”. Rồi khẽ đảo con ngươi, lập tức kéo vạt áo lên chùi nước mắt, nghẹn ngào mà nói: “Chuyện của Tôn huynh là nỗi đau của vãn sinh, xin tiền bối đừng nhắc đến nữa!”

“Than ôi!” Thuần Vu Khôn khẽ than một tiếng, gật đầu nói. “Được thôi, nếu chuyện này khiến tướng quân đau lòng, lão hủ sẽ không nhắc tới nữa. Tuy nhiên, lão hủ bản tính hiếu kỳ, nhắc đến chuyện này, bất chợt nảy ra một giả định, nhân tiện xin hỏi tướng quân!”

“Vãn sinh xin lắng nghe!”

“Tôn Tử hay Ngô Tử, cả hai đều là những bậc đại tài về dùng binh. Bàng tướng quân học được thuật của Ngô Tử, Tôn tướng quân lại luyện thuật của Tôn Tử, lão hủ đang nghĩ, nếu Tôn tướng quân không phải chịu hình, cũng không phát bệnh, Bàng tướng quân và Tôn tướng quân mỗi người thống lĩnh một đội quân, đối địch nhau trên sa trường, không biết người chiến thắng cuối cùng sẽ là ai?”

Bàng Quyên trầm ngâm một lúc, rồi trịnh trọng nói: “Chuyện đã qua, sẽ không có nếu như!”

“Chuyện đã qua đương nhiên là không có nếu như!” Thuần Vu Khôn cười nói. “Nhưng lão hủ không nói chuyện cũ, chỉ là nếu như mà thôi!”

“Theo tiền bối thì ai sẽ thắng?”

“Lão hủ đang hỏi đại tướng quân kia mà!”

“Hồi bẩm tiền bối!” Bàng Quyên vòng tay nói. “Chuyện trên sa trường, chớp mắt vạn biến, vãn sinh không dám nói bừa!”

“Hay! Hay lắm!” Thuần Vu Khôn cười lớn. “Không hổ danh là đại tướng quân, đây cũng có thể coi là câu trả lời. Đại tướng quân vừa hồi phủ, đi đường vất vả, lão hủ không làm phiền nữa!” Rồi đứng dậy vòng tay vái chào.

Bàng Quyên cũng chẳng cố giữ, khách sáo tiễn ra tận cổng, rồi vòng tay từ biệt.

Nhìn theo cỗ xe ngựa của Thuần Vu Khôn xa dần cho đến khi mất hút, Bàng Quyên mới thở phào nhẹ nhõm, rồi chau tít đôi mày, ngẩng đầu lẩm bẩm một mình: “Lão trọc này hễ tìm đến là chẳng có chuyện gì tốt đẹp. Có điều... người này tự nhiên nói những lời kia, rốt cuộc là có dụng ý gì?”

Lại trầm tư một hồi lâu, Bàng Quyên vẫn không thể hiểu nổi, bèn lầm lì quay trở vào trong phủ.

Thuần Vu Khôn trở về dịch quán, gọi Trâu Phi Đao đến căn dặn: “Ngươi có thể hành động được rồi! Cần làm ba việc. Một là đi tìm gã điên kia, bảo hắn giờ Ngọ trưa mai lết ra ngoài miếu, ngươi hãy hẹn lấy một chỗ, đứng sẵn đấy đợi hắn ra, rồi cõng thẳng hắn đến dịch quán. Hai là vứt toàn bộ quần áo của hắn xuống sông Biện Thuỷ, giả như hắn nhảy sông tự vẫn. Ba là sửa lại cỗ xe đón dâu công chúa, làm một khoang ngầm dưới gầm xe, cho gã điên kia nằm vào trong đó, để nghe vợ hắn khóc lóc nỉ non suốt dọc đường đưa dâu đến Tề!”

Trâu Phi Đao vâng lệnh, gọi mấy tên thuộc hạ cẩn trọng đến, chia nhau đi làm việc.

Buổi trưa hôm sau, Phạm Trù mang cơm đến cho Tôn Tẫn. Vừa từ trong miếu đi ra, bỗng có một người chặn hắn lại, ghé sát tai thì thầm gì đó. Phạm Trù bèn vòng đến tiệm đồ da, có người đã đứng đón sẵn, dẫn hắn vào phòng trong.

Công tử Hoa đang ngồi ngay ngắn trên chiếu. Phạm Trù đi vào, khom lưng hỏi nhỏ: “Tần gia gọi tiểu nhân đến, không biết là có việc gì?”

Công tử Hoa chỉ vào chỗ chiếu đối diện: “Phạm huynh, ngồi đi!”

Phạm Trù ngồi xuống, thấp thỏm nhìn công tử Hoa.

“Người Tề sắp ra tay rồi!” Công tử Hoa chậm rãi nói. “Tối qua vào giờ Nhân định, có người vào miếu lén gặp Tôn Tẫn!”

Phạm Trù giật mình, hạ giọng hỏi: “Xin hỏi Tần gia, chúng ta phải làm thế nào?”

“Phải ra tay!”

“Phải ra tay?” Phạm Trù nhắc lại, rồi căng thẳng nhìn công tử Hoa. “Khi nào?”

“Ngay đêm nay!” Công tử Hoa quyết đoán. “Ngày mai công chúa xuất giá, chắc chắn đêm nay người Tề sẽ cõng Tôn Tẫn giấu vào trong xe, ngày mai sẽ theo công chúa đến Tề. Vì vậy, chúng ta phải ra tay trước người Tề!”

Phạm Trù suy nghĩ một thoáng, rồi nghiến răng nói: “Tần gia nói đi, hành động thế nào?”

Công tử Hoa chậm rãi nói: “Tôn tướng quân không chịu đến Tần, chúng ta đành phải mạnh tay vậy!” Nói đoạn, cầm lấy một ống tre trên mặt bàn, đưa cho Phạm Trù. “Đây là thuốc mê, tối nay khi đưa cơm, huynh hãy trộn lẫn vào thức ăn. Đợi sau khi Tôn Tẫn hôn mê, chúng ta sẽ nhanh chóng ra tay, cõng ngay về phủ. Sáng sớm ngày mai, sau khi cổng thành mở, chúng ta sẽ rời khỏi Đại Lương, trở về nước Tần.”

Phạm Trù nhận lấy ống tre, hai mắt nhìn công tử Hoa, vẻ do dự.

“Còn nữa!” Công tử Hoa đã đoán được tâm sự của Phạm Trù, nói tiếp. “Về phần vợ con của Phạm huynh, ngay hôm nay hãy lập tức lên đường. Giờ ta sẽ đi chuẩn bị xe ngựa, còn Phạm huynh hãy mau quay về sắp xếp. Ngoài bình rượu cổ kia, Phạm huynh đừng mang theo bất cứ thứ gì, nếu có hàng xóm hỏi, hãy nói rằng đi thăm người thân. Đợi sau khi đến Tần, thiếu thứ gì sẽ có ta lo liệu. Nếu Phạm huynh không chê, cũng có thể ở lại trong phủ của ta, ta sẽ mời huynh làm đầu bếp chính!”

Phạm Trù vội vàng đứng dậy, liên tiếp dập đầu: “Tiểu nhân đa tạ Tần gia!” Rồi đặt ống tre vào trong hộp cơm, cáo từ lui đi. Nhưng vừa đi được mấy bước, liền quay lại. “Tần gia, tiểu nhân bỗng nhớ ra một chuyện!”

“Phạm huynh cứ nói!”

“Thức ăn có cho mấy đứa ăn mày ăn luôn không?”

“Phải!” Công tử Hoa gật đầu nói. “Vẫn là Phạm huynh suy nghĩ chu đáo! Trộn hết thuốc vào, cho mấy đứa ăn mày kia ngủ liền hai ngày, tránh để ngày mai tỉnh dậy, làm hỏng mất đại sự của ta!”

Phạm Trù vâng lệnh, rồi trở về nhà. Không lâu sau, quả nhiên có một cỗ xe ngựa đánh đến. Phạm Trù bê hũ rượu lên xe, nói dối vợ rằng nhạc phụ lâm bệnh nặng, muốn được gặp mặt con gái lần cuối. Vợ Phạm Trù là người nước Hàn, từ sau khi gả chồng, vẫn chưa một lần trở về thăm nhà, nhận được tin này liền ngỡ là thật, vội vội vàng vàng dẫn theo hai đứa con nhỏ lên xe, khóc lóc rời thành.

Đến lúc hoàng hôn, Phạm Trù nấu một nồi cháo loãng, hoà thuốc vào trong cháo, sau đó nướng hai chiếc bánh mì hành lớn. Để khiến họ ăn nhiều cháo hơn, Phạm Trù cố tình cho nhiều muối vào trong bánh, mùi vị vừa mặn vừa thơm, vô cùng hấp dẫn.

Trời đã sập tối, Phạm Trù chuẩn bị xong cơm nước cho cả nhà Bàng Quyên, sau đó xách giỏ cơm đi thẳng tới đầu phố Nam Nhai. Gần đây, nhờ có Tôn Tẫn nên đám trẻ ăn mày cũng đâm lười nhác, bất kể là trời mưa hay trời tạnh, cũng không chịu ra ngoài xin ăn, cứ đến giờ cơm là lại ngồi ngóng Phạm Trù mang đồ ăn đến.

Tối nay cũng vậy. Từ xa nhìn thấy cái bóng Phạm Trù lắc lư đi đến trong bóng đêm lờ mờ, mấy đứa ăn mày đã la toáng lên, cùng chạy ùa ra đón, tranh nhau chiếc làn trong tay ông ta. Phạm Trù giữ chặt chiếc làn, nhét vào tay mỗi đứa một miếng bánh nướng, sau đó đi thẳng vào trong miếu, đặt làn xuống trước mặt Tôn Tẫn, lấy ra một miếng bánh thơm nức, hai tay đưa lên, cười nói: “Tôn tướng quân, hãy xem tiểu nhân làm món ngon gì này!”

Tôn Tẫn không nhận bánh, cũng chẳng buồn ngẩng đầu, chỉ thở dài một tiếng buồn bã: “Ôi... Có món ăn ngon, hãy để lũ trẻ ăn hết đi!”

Phạm Trù sững người: “Tôn tướng quân?”

Nghe thấy tiếng gọi, Tôn Tẫn khẽ ngẩng đầu lên nhìn Phạm Trù.

Phạm Trù thấy mắt Tôn Tẫn ứa lệ, vô cùng kinh ngạc: “Tôn tướng quân, tướng quân có chuyện gì vậy?”

Tôn Tẫn lắc đầu nói: “Phạm huynh! Suốt mấy năm nay, tại hạ có thể sống được đến giờ, đều là nhờ ơn của Phạm huynh. Tại hạ... tại hạ...” Giọng bỗng nghẹn ngào, đưa tay áo lên lau nước mắt.

Vì đã được công tử Hoa nói trước, nên Phạm Trù biết Tôn Tẫn sắp đến nước Tề, đang muốn từ biệt mình, thì lập tức quỳ xuống, bật khóc mà nói: “Tướng quân, xin tướng quân đừng nói nữa! Tiểu nhân đời này có thể được hầu hạ tướng quân, đã là phúc phận do tổ tiên tu được!” Rồi đưa tay áo lau nước mắt, múc một bát cháo loãng, hai tay dâng lên. “Tướng quân, đây là chút cháo do đích thân tiểu nhân nấu cho tướng quân, mời tướng quân nếm thử!”

Tôn Tẫn nhận lấy bát cháo, bưng ở trên tay, nhìn đăm đăm, nước mắt rơi lã chã vào trong bát, ngẩn ngơ một hồi, rồi lại lắc đầu, đặt bát xuống, thở dài một tiếng: “Phạm huynh, tại hạ quả thực không thể nuốt trôi. Huynh hãy đứng lên, để tại hạ nhìn huynh thật kỹ!”

Phạm Trù thấy vậy, vô cùng lo lắng, nhưng cũng không dám nài ép, đành phải ngồi xuống, đưa mắt nhìn Tôn Tẫn. Bên cạnh là một ngọn đèn dầu, vì trên bấc có hoa đèn nên không được sáng lắm. Tôn Tẫn sờ thấy một que tăm tre nhỏ, bèn cầm lấy khêu bỏ hoa đèn, nhấc đĩa đèn lên, rồi khẽ nói: “Lại đây, đến gần một chút, để tại hạ được nhìn Phạm huynh rõ hơn nữa!”

Phạm Trù dịch người về phía trước. Tôn Tẫn cũng đưa ngọn đèn đến sát người Phạm Trù, chăm chú ngắm nhìn. Phạm Trù cảm động, hai hàng lệ từ từ ứa ra. Đúng vào lúc này, mấy đứa ăn mày chạy ùa cả vào. Vì vừa ăn bánh mặn, mồm miệng khô khát, nên mỗi đứa đều vớ lấy một cái bát mẻ, tranh nhau múc cháo.

Có lẽ là cháo nấu quá ngon, nên bọn trẻ xì xụp mấy miếng đã hết cả bát, lại múc bát nữa. Phạm Trù phát hoảng, vội đứng bật dậy giữ lấy nồi cháo, rồi lấy ra mấy miếng bánh lớn, giục: “Đi, đi mau, mỗi đứa một miếng bánh, ăn xong lại chia cháo tiếp!”

Bọn trẻ cầm bánh, cắn được vài miếng, lại đòi ăn cháo. Phạm Trù lại cuống quýt ngăn cản, thì Tôn Tẫn nói: “Phạm Trù huynh, chúng muốn ăn, vậy cứ để chúng ăn đi!”

Mấy đứa trẻ nhận được mệnh lệnh, không đợi Phạm Trù lên tiếng, lập tức giành lấy nồi cháo, trút thẳng vào bát. Cả nồi cháo loáng cái đã hết sạch sành sanh, đứa nhỏ nhất không đến lượt, liền khóc toáng lên.

Tôn Tẫn nói: “Này con, lại đây, vẫn còn một bát!”

Đứa bé không chút đắn đo, lập tức chạy xộc đến bưng lấy bát cháo. Phạm Trù vội vã đẩy nó ra, giữ lấy bát cháo mà nói: “Đi, đi mau! Các cháu ăn hết thì Tôn tướng quân ăn gì?” Rồi trừng mắt trách mắng mấy đứa lớn. “Nhìn mấy đứa có ra thể thống gì không, múc cho em nó một ít!”

Mấy đứa lớn đành phải chạy lại, chia cho đứa nhỏ một ít cháo.

Phạm Trù hai tay bưng bát cháo, quỳ xuống nói: “Tôn tướng quân, mau ăn đi, không cháo nguội mất!”

Tôn Tẫn nhận lấy bát cháo, song lại đặt xuống chiếu, lắc đầu nói: “Phạm huynh đừng khuyên nữa, tại hạ không đói, nuốt không trôi.”

Phạm Trù ruột gan như lửa đốt, khấu đầu nói: “Tôn tướng quân, Phạm Trù cầu xin tướng quân hãy ăn đi. Nếu tướng quân không ăn, thì Phạm Trù... Phạm Trù...”

Thấy Phạm Trù có vẻ khác thường, Tôn Tẫn ngạc nhiên: “Phạm huynh... có chuyện gì ư?”

“Tiểu nhân...” Phạm Trù đưa tay áo lau nước mắt, vừa nói vừa khóc. “Tiểu nhân không sao cả, tiểu nhân chỉ cầu xin tướng quân hãy ăn cháo. Đây là cháo do chính tay tiểu nhân nấu riêng cho tướng quân, tướng quân không ăn, tiểu nhân... tiểu nhân thấy rất buồn!”

Tôn Tẫn gật đầu, khẽ thở dài một tiếng: “Được rồi, tại hạ sẽ ăn! Huynh mau đứng lên, đợi lát nữa tại hạ sẽ ăn!” Phạm Trù không chịu, vẫn bưng chát cháo trên tay, khẩn cầu Tôn Tẫn ăn ngay.

Tôn Tẫn không còn cách nào khác, đành phải nhận lấy bát cháo, mặt khác cũng thấy hơi đói, nên bưng bát cháo lên miệng, xì xụp mấy tiếng đã húp hết. Phạm Trù đưa tay áo lau mồ hôi rịn đầy trên trán, thở phào nhẹ nhõm.

Tôn Tẫn ăn xong, liền đặt bát cháo xuống, vòng tay đa tạ Phạm Trù. Đột nhiên thấy một đứa trẻ đánh rơi chiếc bát trên tay, ngã vật xuống đất. Tôn Tẫn vô cùng kinh hãi, chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra, thì một đứa nữa lại gục xuống. Tôn Tẫn thất kinh, vội gọi Phạm Trù: “Phạm huynh, mau, lũ trẻ làm sao thế này?”

Phạm Trù quay đầu nhìn, cũng đực người ra. Cả đám ăn mày đã nằm ngổn ngang dưới đất, đến cháo dính trong bát cũng đã bị chúng liếm sạch trơn. Có lẽ do thuốc quá mạnh, lũ trẻ lại còn ít tuổi, không chịu đựng được, nên mới trúng thuốc nhanh đến vậy.

Tôn Tẫn nghi hoặc nhìn Phạm Trù: “Lẽ nào trong cháo có độc?”

Phạm Trù đâu dám lên tiếng, toàn thân run bần bật, lắp ba lắp bắp: “Tướng... tướng quân, tiểu... tiểu nhân...”

Lúc này cứu người quan trọng, Tôn Tẫn không còn thời gian cật vấn đầu đuôi, vội vàng giục giã: “Mau, đi mời thầy thuốc!”

Phạm Trù cũng đã kịp định thần, vội vàng đứng dậy, lao ra khỏi cửa rồi chạy thẳng đi mất. Tôn Tẫn vội vàng lết đến trước mặt bọn trẻ, bắt mạch cho chúng, kiểm tra hơi thở, thấy tất cả đều bình thường. Xem xét kỹ, cũng không thấy có dấu hiệu trúng độc, nhất thời thở phào nhẹ nhõm. Ngẫm nghĩ kỹ lưỡng một lát, đoán là trong cháo có thuốc mê, thì giật mình kinh sợ. Lại hồi tưởng lại những biểu hiện bất thường của Phạm Trù trong hôm nay, đột nhiên bừng tỉnh, lắc đầu thở dài một tiếng, rồi nhắm mắt nghĩ cách đối phó.

Tôn Tẫn đang suy nghĩ, đột nhiên có một bóng đen từ nóc nhà nhảy vụt xuống sân, nhanh như chớp tiến vào trong cửa.

Tôn Tẫn hốt hoảng, chưa kịp lên tiếng thì bóng đen đã lù lù trước mặt, hạ giọng bẩm báo: “Tôn tướng quân, là tại hạ! Tại hạ đề phòng có chuyện bất trắc nên đã mai phục trên mái nhà từ trước, lúc nãy nghe giọng nói có vẻ bất ổn, thấy không yên tâm nên mới đến xem thế nào!”

Tôn Tẫn thấy là Trâu Phi Đao, liền thở phào, vội giục: “Đến thật đúng lúc! Mau, người Tần sắp đến rồi!”

Trâu Phi Đao liếc mắt nhìn lũ trẻ nằm ngổn ngang, rồi vội khom lưng xuống, cõng Tôn Tẫn lên lưng, vừa định chạy ra ngoài, bỗng nghe ngoài cổng miếu có tiếng bước chân dồn dập. Ngay sau đó, bảy tám người đạp cổng xông vào, lao thẳng tới chính điện.

Trâu Phi Đao muốn tránh mà không kịp, đành phải đặt Tôn Tẫn xuống, lao người nấp vào phía sau bức tượng.

Đám người xông vào cửa điện, người dẫn đầu chính là công tử Hoa.

Tôn Tẫn ngồi ngay ngắn trên đất, thần thái rất đỗi ung dung.

Công tử Hoa vòng tay vái Tôn Tẫn một vái thật sâu: “Tôn tướng quân, tình thế cấp bách, tại hạ chẳng còn cách nào khác, đành phải đắc tội!”

Tôn Tẫn khẽ thở dài, nhắm mắt lại. Đúng vào lúc này, thuốc mê phát tác, Tôn Tẫn hoa mắt chóng mặt, cơ thể chao đảo vài cái, rồi ngã gục xuống đất. Công tử Hoa vẫy tay, một người liền quỳ xuống, một người khấc xốc Tôn Tẫn dậy, đặt lên lưng người kia. Cả đám người bảo vệ phía sau, cùng lao ra khỏi điện.

Phía ngoài đã có một cỗ xe chờ sẵn, Phạm Trù và mấy người nữa đang đợi bên xe. Công tử Hoa bảo bọn họ nhẹ nhàng đặt Tôn Tẫn lên xe, rồi Phạm Trù nhảy lên, ôm lấy Tôn Tẫn. Cỗ xe lao nhanh về phía cửa hàng đồ da.

Chưa đầy một khắc, đám người đã trở về đến cửa hàng. Công tử Hoa lại phái người đi do thám, thấy trong miếu chẳng còn ai khác, đám ăn mày vẫn nằm ngổn ngang ngủ say như chết, tất cả đều không có gì khác thường, nên mới yên tâm, bảo mọi người trở về phòng nghỉ ngơi lấy sức, sáng mai lên đường sớm.

Gà vừa gáy sáng, công tử Hoa và toàn bộ đám thuộc hạ lập tức xuất phát, người đánh xe, kẻ phóng ngựa, ra khỏi cửa hàng, lập tức tiến thẳng ra phía cổng tây. Thành môn uý kiểm tra kỹ lưỡng, thấy là đám lái buôn đồ da, lập tức cho qua.

Sáng sớm hôm nay, toàn thành Đại Lương rộn rã tưng bừng, tiễn Mai công chúa xuất giá. Quả như lời nói của Thuần Vu Khôn, Mai công chúa gạt lệ lên xe, ngồi trong xe hoa mà nức nở sụt sùi, giọt dài giọt ngắn mãi không thôi. Những người đến tiễn như vợ chồng Bàng Quyên, thái tử Thân, Chu Uy, Bạch Hổ thấy vậy, không ai không xúc động.

Trong tiếng trống tiếng nhạc rộn ràng, đoàn xe rước dâu của người Tề rằm rộ xuất thành. Đi đầu là đội nhạc, đội cờ và đoàn xe chở của hồi môn, ở giữa là cỗ xe hoa cỡ lớn mà người Tề dùng để rước Mai công chúa, phía sau là năm mươi cỗ xe lễ vật chở đầy nấm khô, trà xuân, thanh thế tưng bừng, kéo dài dằng dặc đến mấy dặm.

Thời gian bữa sáng đã qua từ lâu, nhưng trong phủ Vũ An Quân vẫn chẳng có ai chủ trì bếp núc. Thuỵ Liên đợi mãi không thấy bữa sáng dâng lên, liền phái thị nữ đi hỏi. Thị nữ không tìm thấy Phạm Trù, liền báo lại với Bàng Thông. Bàng Thông lo cuống lên, lập tức phái người đến nhà Phạm Trù tìm, chỉ thấy cổng cửa khoá chặt, lại đi dò hỏi, mới biết vợ con hắn đã xuất thành về nước Hàn từ hôm qua.

Bàng Thông nhận được tin báo thì cả kinh, lại nhớ ra tối qua Phạm Trù vẫn còn trong phủ, hơn nữa, cả nhà đến nước Hàn là việc lớn nhường nào, mà thậm chí không buồn đến chào lấy một tiếng, nghĩ rằng bên trong nhất định có uẩn khúc. Suy đi nghĩ lại, bỗng Bàng Thông sực nhớ tới Tôn Tẫn, vội vàng chạy đến ngôi miếu hoang đầu phố Nam Nhai, chỉ thấy đám ăn mày nằm ngổn ngang, không thấy Tôn Tẫn đâu nữa.

Bàng Thông gấp rút bẩm báo cho Bàng Quyên. Bàng Quyên hay tin, mặt mày biến sắc, lập tức chạy đến ngôi miếu, kiểm tra thì biết lũ trẻ bị trúng thuốc mê, liền cho gọi thầy lang đến đổ thuốc giải, hỏi ra thì quả nhiên do Phạm Trù làm.

Thoạt tiên, Bàng Quyên đầu óc rối tinh rối mù, đờ đẫn hồi lâu, mới dần dần trấn tĩnh lại được. Suy nghĩ kỹ lưỡng, một manh mối đã dần dần sáng tỏ trong trí não. Tôn Tẫn vốn muốn đến nước Tề - Tô Tần quỳ lạy Tôn Tẫn trên phố - Tô Tần hợp tung Tề thành công - Thuần Vu Khôn tặng muối, cầu thân - Mai công chúa bằng lòng xuất giá - Phạm Trù đánh thuốc mê - công chúa xuất giá - Tôn Tẫn mất tích...

Nghĩ đến đây, Bàng Quyên kinh hãi đến toàn thân vã mồ hôi lạnh, đang suy nghĩ tìm cách đối phó, thì Bàng Thông hớt hải chạy lại, bẩm báo với hắn một manh mối khác. Mấy năm nay, Phạm Trù và ông chủ cửa hàng đồ da họ Tần qua lại vô cùng mật thiết, mà sáng sớm nay, cửa hàng lại đột nhiên đóng cửa, toàn bộ người trong cửa hàng đều không biết đã đi đâu. Bàng Thông tra hỏi người xung quanh, tất cả đều nói ông chủ và toàn bộ người làm đều là người Quan Trung.

Người Quan Trung? Bàng Quyên trong lòng chấn động. Thuần Vu Khôn và Phạm Trù vốn không quen biết, điều này tạm chưa nói đến, hơn nữa, nếu người Tề muốn trộm Tôn Tẫn, chắc chắn sẽ không cần dùng tới thuốc mê. Thế nhưng Tôn Tẫn lại bị người ta cướp đi sau khi đã trúng thuốc mê. Chắc hẳn Tôn Tẫn không muốn đến Tần, người Tần khuyên không được, nên mới mạnh tay cưỡng bức, vừa cướp Tôn Tẫn đi, vừa giá hoạ cho người Tề. Hơn nữa, nhìn vẻ bi thương của Thuỵ Mai khi xuất giá, chắc chắn cũng không biết được sự tình. Thuỵ Mai không biết sự tình mà lại xuất giá, hẳn đã dằn lòng đoạn tuyệt tơ tình với Tôn Tẫn.

Đúng, chính là người Tần! Bàng Quyên nghiến răng ken két, đang định lên tiếng, lại có nô bộc chạy lao về bẩm báo, nói là phát hiện quần áo, giày mũ của Tôn Tẫn bên bờ Biện Thuỷ.

Bàng Quyên tức tốc dẫn nô bộc đến kiểm tra, Bàng Thông đang định phái người vớt lên thì Bàng Quyên ngăn lại: “Không cần!” Rồi nhếch mép cười nhạt, gằn từng chữ. “Truyền lệnh, toàn lực truy bắt họ Tần, Phạm Trù và tất cả đám người làm trong cửa hàng đồ da!”

Bàng Quyên vừa hạ lệnh, vô số người ngựa lập tức phi nước đại, rầm rập đuổi về phía tây.

Đại Lương cách đất Hàn chưa đến hai trăm dặm. Bàng Quyên đích thân dẫn quân truy đuổi, đến chiều thì đuổi đến biên ải, được biết đoàn xe của công tử Hoa mới qua ải chưa đầy nửa canh giờ, đoán là đã vào địa phận nước Hàn.

Bàng Quyên nghiến răng trèo trẹo, tiếp tục dẫn quân đuổi theo. Đuổi được một lúc, quả nhiên nhìn thấy phía trước có một đoàn người ngựa, đã tiến vào địa phận nước Hàn.

Bàng Quyên chẳng thèm quan tâm đến chuyện đã ở nước Hàn, lập tức xua người đuổi gấp. Đoàn người kia có vẻ cuống quýt, vừa ra roi tăng tốc, vừa quăng từng bó da trên xe xuống đường để giảm tải cho xe. Thấy đám người nhất quyết không chịu rời cỗ xe lớn, Bàng Quyên càng thêm khẳng định, thúc ngựa đuổi hết tốc lực.

Có lẽ do quá hoảng hốt nên không kịp nhìn đường, đến khúc đường quanh, cỗ xe lớn trật khỏi đường chính, sau một hồi chao đảo kịch liệt, đã sa xuống rãnh đất ven đường, bánh xe kẹt cứng, ngựa kéo hí vang trời. Đám người xa xa nhìn thấy Bàng Quyên đích thân truy đuổi, lại thấy người Ngụy quá đông, nên không dám chần chừ, phu xe lập tức cắt đứt dây buộc ngựa kéo, tung người nhảy lên lưng ngựa, cả đám cùng phóng đi thục mạng.

Bàng Quyên đuổi kịp cỗ xe lớn, vì đang ở địa phận nước Hàn, nên cũng hô mọi người không đuổi tiếp nữa.

Đám binh lính dỡ toàn bộ số hàng da còn lại trên xe xuống, Bàng Quyên kiểm tra kỹ lưỡng, quả nhiên thấy sàn xe có hai lớp, thì thở phào nhẹ nhõm. Thấy bên cạnh có một cánh cửa ngầm, liền bảo Bàng Thông mở ra.

Bàng Thông mở cánh cửa ngầm, thò đầu vào nhìn, sau đó lôi ra một vật, vừa nhìn mặt đã biến sắc, vì đó không phải Tôn Tẫn, mà chỉ là một bao vải gai đựng đồ da. Bàng Thông lại thò cổ xuống nhìn, thấy bên trong trống rỗng không còn vật gì cả.

Bàng Thông hốt hoảng, quay sang nói với Bàng Quyên: “Đại ca, Tôn tướng quân không ở trong xe!”

Bàng Quyên kiểm tra kỹ bao vải gai, rồi lại thò đầu vào tầng đáy săm soi một hồi, ảo não kêu lên: “Chúng ta trúng kế rồi!”

Bàng Thông vội hỏi: “Đại ca, trúng kế gì?”

“Kế ve sầu thoát xác của người Tần!”

“Ve sầu thoát xác?”

“Người Tần cố ý bày ra cỗ xe này! Tôn huynh chắc chắn đã bị họ mang đi từ trước!”

Bàng Thông gật đầu, rồi an ủi: “Đại ca, Tôn tướng quân bệnh tật đến nỗi này, cho dù người Tần có cướp đi, cũng chỉ là vô dụng! Hơn nữa, Tôn tướng quân và đại ca tình như thủ túc, cho dù khỏi bệnh, cũng chưa chắc đã chịu phò tá người Tần, đối địch với đại ca!”

“Hỡi ôi!” Bàng Quyên cười nhăn nhó, lắc đầu thở dài. “Thông đệ có điều không biết, là đại ca đang lo cho sự an nguy của Tôn huynh. Bệ hạ nhập tung cũng là nhằm phạt Tần. Nay Tôn huynh bị cướp đến Tần, việc gì cũng có thể xảy ra. Thông đệ thử nghĩ mà xem, nếu người Tần không thể chữa khỏi bệnh cho Tôn huynh, chắc chắn sẽ không đối đãi với Tôn huynh giống như đại ca, Tôn huynh hẳn sẽ phải lang thang đầu phố, chết đói chết rét. Nếu người Tần chữa khỏi bệnh cho Tôn huynh, Tôn huynh sẽ phải đối mặt với hai lựa chọn, một là phò tá người Tần, trở thành kẻ địch với đại ca trên sa trường; hai là như lời Thông đệ đã nói, nếu Tôn huynh không chịu phò tá người Tần, người Tần chắc chắn sẽ không tha cho Tôn huynh, Tôn huynh khó lòng bảo toàn mạng sống!”

Bàng Thông chưa từng nghĩ đến điều này, nhất thời chết lặng. Một lúc sau, hắn mới định thần lại được, khẽ hỏi: “Theo ý đại ca, nên làm thế nào?”

“Lập tức điều người tin cẩn đến Hàm Dương, thăm dò tin tức của Tôn huynh. Đợi đến khi xác minh được Tôn huynh đích xác ở Tần, đại ca sẽ có cách!”

Bàng Thông vâng một tiếng, lập tức quay người rời đi.

Đoàn xe rước dâu của Thuần Vu Khôn đi vùn vụt như bay, chưa tới hai ngày đã đến được Mã Lăng, nghênh ngang ra khỏi biên ải nước Ngụy, tiến vào địa phận nước Vệ. Lại đi thêm nửa ngày nữa thì đến biên giới nước Tề, sang chiều thì đến địa giới Chân Thành. Đang đi, Thuần Vu Khôn chợt nhìn thấy có một đội giáp sĩ rắm rập tiến tới trước mặt. Đến khi lại gần, thì ra là chủ tướng nước Tề Điền Kỵ đích thân dẫn năm ngàn quân ra nghênh đón xe hoa.

Càng khiến Thuần Vu Khôn kinh ngạc hơn nữa, đó là đi cùng xe với Điền Kỵ còn có sứ thần hợp tung Tô Tần và thượng đại phu Điền Anh. Ba người cùng chào hỏi Thuần Vu Khôn, rồi Điền Kỵ truyền lệnh tiến về Chân Thành.

Khi đến Chân Thành, trời đã chập tối. Điền Kỵ truyền lệnh toàn thành giới nghiêm, sau đó cùng đám Tô Tần dẫn cỗ xe hoa vào thẳng trong một trạch viện, dừng lại trước cổng. Thuần Vu Khôn đưa mắt nhìn, thấy tòa trạch viện mới được tu sửa tinh tươm, lại thấy trong viện hỷ khí tưng bừng, thì vô cùng kinh ngạc, hạ giọng hỏi nhỏ: “Tô Tử, đây là đâu?”

Tô Tần ghé sát tai Thuần Vu Khôn thì thầm một chặp. Thuần Vu Khôn thoạt tiên kinh ngạc, sau đó cười phá lên một tràng dài, liên miệng nói: “Hay! Hay! Hay lắm! Xem lão hủ đây!”

Lời vừa dứt, Thuần Vu Khôn đã quay người, thung dung bước tới trước xe công chúa, vòng tay vái một vái thật sâu, rồi cười lớn mà nói: “Đã đến nước Tề, mời công chúa xuống xe!”

Thuỵ Mai công chúa vén rèm, được tỳ nữ dìu xuống xe.

Thấy xung quanh đứng lố nhố mấy người xa lạ, lại thấy nơi này là một trạch viện nhà nông tràn trề hỷ khí, Thuỵ Mai công chúa vô cùng kinh ngạc, hỏi Thuần Vu Khôn: “Xin hỏi tiên sinh, đây là đâu?”

Thuần Vu Khôn cười nói: “Đây chính là tân phòng của công chúa!”

Mai công chúa kinh hãi hỏi lại: “Chẳng phải vẫn chưa đến Lâm Truy ư?”

“Đúng thế!” Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc. “Công tử Hư vừa mới đổi ý, quyết định hợp hôn với công chúa ở nơi này trước!”

Mai công chúa mặt hoa thất sắc, hai tay bưng lấy mặt, bật khóc mà nói không thành tiếng: “Ngươi... các ngươi...”

Thuần Vu Khôn cười lớn, an ủi: “Công chúa, hôm nay là ngày đại hỷ, cứ khóc lóc như thế thật không tốt lành, chẳng may để tổn thương đến ngọc thể, sẽ làm mất hứng động phòng hoa chúc!” Rồi quay sang Trâu Phi Đao. “Xin mời tân lang!”

Trâu Phi Đao đi thẳng lên xe hoa của công chúa, mở một cửa ngầm từ bên hông xe, chui vào khoang đáy rộng rãi, sau đó vừa bế vừa lôi ra một người. Tô Tần vội bước tới, hợp sức đỡ Tôn Tẫn xuống.

Mai công chúa đột nhiên nhìn thấy một Tôn Tẫn sạch sẽ thơm tho, ăn mặc tinh tươm, nhất thời chết lặng tại chỗ.

Tôn Tẫn cũng đứng ngây người. Do Phạm Trù bỏ quá nhiều thuốc mê, mãi tới hai canh giờ trước đó Tôn Tẫn mới tỉnh lại. Thấy mình nằm trong khoang hầm xe, phía dưới lót một lớp đệm mềm, lại cảm giác xe ngựa đang di chuyển, thì thất kinh, nằm yên nhớ lại, mới đoán rằng mình đã bị người Tần cướp đi. Nghĩ tới số phận của mình thảm thương đến vậy, Tôn Tẫn bất giác thở dài, chỉ còn biết gượng ngồi dậy, nhắm mắt lại suy nghĩ. Không ngờ đến lúc cánh cửa bật mở, người tiến vào kéo mình ra lại là Trâu Phi Đao. Hơn nữa, cảnh tượng đầu tiên đập vào trước mắt, lại là Tô Tần, Thuần Vu Khôn và Thuỵ Mai công chúa, Tôn Tẫn cứ ngỡ mình nằm mơ.

Mai công chúa là người đầu tiên định thần lại, bàng hoàng kêu lên một tiếng thất thanh: “Tôn tướng quân...”

Tôn Tẫn cũng ứa nước mắt: “Công chúa!”

Nhìn vẻ ngỡ ngàng mừng tủi của hai người, Thuần Vu Khôn cười lớn: “Công chúa, đây chính là phu quân của công chúa, công tử Hư!” Rồi quay sang mọi người, cao giọng ngân nga. “Tấu nhạc, đón tân nương vào động phòng!”

Thì ra, sau khi người Tần cướp Tôn Tẫn mang đi, Trâu Phi Đao luôn bám sát theo sau. Thấy họ đặt Tôn Tẫn vào trong khoang đáy của xe ngựa, lập tức nảy ra một ý, đợi đến canh tư, bèn dẫn người lén đột nhập. Có lẽ vì đã ở trong nhà mình nên công tử Hoa rất yên tâm, không mấy đề phòng, Trâu Phi Đao chẳng tốn bao nhiêu công sức đã cướp được Tôn Tẫn đi.

Tô Tần đã sớm nhận được mật thư của Trâu Phi Đao, nên mới đến đây nghênh đón. Chân Thành là đất tổ của Tôn Tẫn, nhà cũ và từ đường họ Tôn đã trải qua gần hai trăm năm mưa nắng, mặc dù cũng bị hư hại sạt lở, nhưng nền móng vẫn còn nguyên vẹn, đã được Tô Tần cho người tu sửa lại như mới, ngay cả động phòng cũng đã được trang trí đâu vào đấy.

Trước sự bảo vệ nghiêm ngặt của năm nghìn quân lính nước Tề đến tiếp ứng, vợ chồng Tôn Tẫn, Thuỵ Mai công chúa đến tế bái tại từ đường, cử hành hôn lễ, ở lại tân phòng ba ngày. Đến sáng sớm ngày thứ tư, bắt đầu khởi hành đến Lâm Truy.

Sau khi đến Lâm Truy, vì thận trọng, nên Tô Tần, Điền Anh tạm thời bí mật an trí vợ chồng Tôn Tẫn lánh trong phủ tướng quân Điền Kỵ, xây dựng một toà biệt viện trong hậu hoa viên cho họ ở tạm. Thuần Vu Khôn vào cung, bẩm báo tỉ mỉ cho Uy Vương về quá trình đi sứ nước Ngụy và số lễ vật mà Ngụy Huệ Vương tặng lại, đồng thời bẩm rằng, thuận theo lời đề nghị của Ngụy Vương, đã tác thành cho hôn sự của công chúa Ngụy thất.

Thuần Vu Khôn chỉ lướt qua vài lời, không hễ nhắc đến Tôn Tẫn. Tề Uy Vương nghe mà phấn khởi, nên việc này cũng tạm thời lấp liếm được.

Cứu được Tôn Tẫn thành công, Tô Tần đã trút bỏ được một mối tâm sự trong lòng, bắt đầu từ tháng năm, đã dốc toàn tâm lực để sang nước Sở du thuyết hợp tung. Sứ đoàn hợp tung từ chỗ chưa đầy một vạn người trước khi sang Tề, lúc này đã tăng lên đến một vạn ba nghìn người, cả đội ngũ thanh thế ngất trời, cờ xí bay rợp, ồn ào tiếng người hô ngựa hí, tiến thẳng về phía nam, vượt qua Tứ Thuỷ, Hoài Thuỷ, thẳng đến Sính Đô nước Sở.

Từ xa nhìn lại, hào khí này có thể sánh ngang với thiên tử đi tuần thời trước.

Hồi Thứ 45

Tấu khúc “Quất tụng”, Khuất Bình tỏ bày

Vạch mặt tiên nhân, Sở Vương nhập tung

Trên phố lớn ở Sính Đô nước Sở, một gã trung niên ăn bận kỳ quặc ngồi bệt trên đất, đang gân cổ rao ầm ĩ: “Đan dược, đan dược đây! Đan dược kỳ diệu, uống một viên chữa được bệnh nhỏ, uống mười viên trị được bệnh lớn, uống trăm viên, bách bệnh tiêu trừ...”

Gã trung niên lông mày trắng toát, tai dài, mũi diều hâu, tướng mạo vô cùng kỳ dị. Bên cạnh gã trải một tấm lụa, trên đó bày một bình đan dược, bên cạnh bình là một viên thuốc lớn chừng quả táo. Gã trung niên rao hàng luôn miệng, vì trung khí dồi dào, giọng rao sang sảng vui tai, nên chốc sau, đã lôi kéo được một đám người xúm đông xúm đỏ lại xem. Thượng khanh nước Tần Trần Chẩn đang dạo bước trên phố, nghe tiếng ồn ào, cũng rảo bước lại xem.

Gã trung niên thấy người xúm lại đông dần, bắt đầu tự báo danh: “Tại hạ họ Mạc tên Nhĩ, người Kinh Sơn, sinh năm Sở Trang Vương nguyên niên, thuở nhỏ may mắn gặp được dị nhân, theo dị nhân lên núi Nữ Kỷ, học đại pháp luyện tiên, luyện được thuật trường sinh, năm nay đã ba trăm lẻ bảy tuổi. Lần này đến Sính là phụng mệnh gia sư, lựa chọn đệ tử hữu duyên...”

Có một người đau răng chen lên trước đám đông, chỉ vào quai hàm hỏi: “Xin hỏi thượng tiên, có chữa được đau răng không?”

“Đau răng chỉ là bệnh nhỏ, một viên là đủ!”

Người đó vui mừng nói: “Xin hỏi thượng tiên, bao nhiêu tiền một viên?”

“Ba đồng vàng!”

Nghe thấy giá đắt đỏ đến vậy, người này thở hắt ra, quay đầu bước đi luôn. Đám người đang đứng xem đều lắc đầu ngao ngán.

Ở Sính Đô, những dị nhân giống như người này không hề hiếm thấy. Có người cười khúc khích mà nói: “Này thượng tiên, nói dối thì cũng phải nói cho lọt tai chứ! Nhìn ông nhiều nhất cũng chưa quá bốn mươi, mà lại nói mình đã ba trăm lẻ bảy tuổi, thật không biết ngượng mồm!” Mọi người đều bật cười, không ít người quay đầu bỏ đi. Song gã trung niên chẳng hề tỏ ra thất vọng, vẫn ngồi xếp bằng trên đất, lại lớn tiếng rao hàng.

Trần Chẩn quan sát một lúc, thấy người đến xem đã tản đi hết mới tiến lại trước mặt gã, móc ra ba đồng vàng, ném cho gã mà nói: “Mạc thượng tiên, tại hạ mua một viên!”

Gã trung niên liếc nhìn Trấn Chẩn, nhận lấy vàng, rồi đổ từ trong bình ra một viên đan dược đưa cho Trần Chẩn.

Trần Chẩn cười cười, chỉ vào bình đan dược mà hỏi: “Trong bình còn bao nhiêu viên?”

“Tám mươi viên!”

“Xin hỏi thượng tiên, thuốc này có thể đảm bảo chữa được bách bệnh hay không?”

“Ồ...” Gã trung niên hơi sững lại, nhìn Trần Chẩn một lượt từ đầu đến chân, rồi chậm rãi nói. “Phải xem là bệnh gì. Chứng bệnh khác nhau, cách dùng thuốc cũng khác nhau!”

“Ừm!” Trần Chẩn gật đầu nói. “Nói cũng có lý. Tại hạ thân mang bách bệnh, muốn mời thượng tiên tới hàn xá chữa trị, không biết thượng tiên có chịu hạ cố hay không?”

Gã trung niên vòng tay nói: “Xin theo lời quan nhân!”

Trên lầu cổng của cánh cổng to lớn trước phủ họ Chiêu, tấm hoành phi “Chiêu thị” trước đây đã được thay bằng ba chữ “Phủ lệnh doãn”.

Nghe báo Trần Chẩn đến, quản gia Hình Tài đích thân ra đón, sau khi hành lễ xong xuôi, liền hạ giọng dặn dò: “Trần đại nhân! Mấy ngày nay lão phu nhân bệnh càng thêm trầm trọng, e rằng có chuyện bất trắc, chúa công tâm trạng không tốt, tại hạ xin nhắc nhở đại nhân trước, khi gặp chúa công, nói năng phải hết sức thận trọng!”

Trần Chẩn cười nói: “Đa tạ lão quản gia!”

Hình Tài dẫn Trần Chẩn vào trong sảnh ngồi, rồi khom lưng lui ra. Một lát sau, Chiêu Dương bước vào, quả nhiên tâm trạng nặng nề, sắc mặt u uất.

Trần Chẩn đứng dậy, vòng tay nói: “Trần Chẩn xin chào lệnh doãn đại nhân!”

Chiêu Dương xua tay ra hiệu cho ông ta ngồi xuống, còn mình ngồi vào vị trí chủ.

Trần Chẩn vòng tay nói: “Nghe nói lão phu nhân ngọc thể bất an, nên tại hạ đến thăm.”

Chiêu Dương khoé mắt ướt nhoè, giọng nghẹn ngào: “Không giấu thượng khanh, gia mẫu bị kinh động bởi sự việc ngọc Hoà thị bích, bệnh càng thêm nặng, tái đi tái lại nhiều lần, lần này e rằng... khó lòng qua khỏi. Bệ hạ phái ngự y đến chẩn trị, gia mẫu thuốc gì cũng đã uống rồi, nhưng đều vô dụng, ngự y hết cách nên đành phải châm cứu. Gia mẫu người đã gầy như que củi, sớm tối nhìn thấy cơ thể gia mẫu cắm chi chít những kim, tại hạ thật...” Rồi bật khóc thành tiếng, rút khăn lụa từ trong tay áo ra lau nước mắt.

“Lệnh doãn đại nhân!” Trần Chẩn đợi ông ta lau nước mắt xong mới nói. “Lần này tại hạ đến, chính là để chữa bệnh cho lão phu nhân.”

“Ồ?” Chiêu Dương nhổm người về phía trước, mở to mắt nhìn thẳng vào Trần Chẩn.

Trần Chẩn chậm rãi nói: “Lão phu nhân lâm bệnh, tại hạ cũng vô cùng lo lắng. Mấy ngày nay, tại hạ tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng cũng tìm được một vị tiên ông. Tại hạ đã kể lại tường tận bệnh tình của lão phu nhân cho tiên ông nghe, tiên ông chẳng nói năng gì, chỉ đưa cho tại hạ một hoàn thuốc!” Rồi móc từ trong tay áo ra chiếc bình nhỏ, đổ viên đan dược ra. “Chính là thuốc này! Đại nhân hãy mời lão phu nhân dùng thử, để xem có tác dụng hay không?” Chiêu Dương nhận lấy đan dược, quan sát kỹ càng, khép mắt suy nghĩ một lúc, rồi gọi hai tỳ nữ đến, bảo họ mang viên thuốc giã nhỏ, trộn với mật ong, sau đó bón cho lão phu nhân. Uống thuốc được gần nửa canh giờ, tỳ nữ vội chạy lại bẩm báo, nói là lão phu nhân sắc mặt hồng hào, đã lật người ngồi dậy được.

Chiêu Dương mừng rỡ, lập tức theo tỳ nữ vào xem. Lại qua nửa canh giờ nữa, thì cười vang trở vào trong sảnh, hỏi Trần Chẩn xem thượng tiên ở đâu.

Trần Chẩn cười nói: “Đại nhân chớ vội! Nếu như thuốc này thực sự hữu dụng, thì bệnh của lão phu nhân, cứ giao cho Trần Chẩn!”

Chiêu Dương vòng tay đa tạ liên hồi, thực lòng cảm tạ: “Hỡi ôi, cứ mỗi lần tại hạ gặp chuyện khó khăn, lại có Trần huynh ra tay giúp đỡ, đại ân của Trần huynh, thực khiến tại hạ... than ôi, thực không biết phải nói sao!”

Trần Chẩn vòng tay đáp lễ, trịnh trọng nói: “Đại nhân không nói gì, mới là đúng. Tại hạ ở Sở mấy năm, may mắn được đại nhân chiếu cố, nên mới được giống như con người. Đại nhân có đại ân với tại hạ, tại hạ lại chưa từng nói ra nửa câu báo đáp, chỉ khắc sâu từng chút một trong tim. Trên đời này, tại hạ ngay từ nhỏ đã không người thân thích, lão phu nhân là mẫu thân của đại nhân, thì cũng là mẫu thân của tại hạ. Nên tại hạ lần này chẳng qua cũng là tận hiếu với mẫu thân mà thôi!”

Trần Chẩn nói ra lời này, khác nào thốt từ gan ruột, Chiêu Dương trong lòng cảm động, lập tức ra lệnh bày bàn thờ, cùng uống máu ăn thề, kết nghĩa huynh đệ với Trần Chẩn. Chiêu Dương lớn tuổi là huynh, Trần Chẩn là đệ.

Kết nghĩa xong, gia nhân liền bày tiệc rượu, hai người uống một trận sảng khoái.

Chiêu Dương đích thân rót rượu, hai tay đưa mời Trần Chẩn: “Nào, nào, hiền đệ, đại ca kính đệ một chén!”

Trần Chẩn nhận lấy rượu rồi đặt xuống, rót đầy một chén cho Chiêu Dương, hai tay nâng lên.

Hai người cùng nâng chén, Chiêu Dương đang định uống thì Trần Chẩn xua tay ngăn lại: “Đại ca hãy khoan, Chẩn đệ có một lời, không nói ra thì cảm thấy khó chịu!” Chiêu Dương đặt chén xuống, chỉnh trang vạt áo rồi nói: “Hiền đệ cứ nói!”

Trần Chẩn cũng đặt chén xuống, thở dài một tiếng, nước mắt ứa ra: “Đại ca! Đệ sống tạm bơ vất vưởng ở Ngụy hơn chục năm trời, chẳng mong gì khác, chỉ một lòng muốn phò tá Ngụy thất, tạo dựng sự nghiệp nhân sinh huy hoàng. Không ngờ chỉ vì một chuyện nhỏ mà đắc tội với Bàng Quyên, cả nhà lớn bé đều bị hắn tàn sát, đệ suýt chút nữa cũng bị hắn lăng trì. Thù này hận này, đệ mỗi lúc sớm chiều nghĩ lại, trong lòng lại đau đớn như dao cắt...”

Chiêu Dương hai mắt trợn trừng, giơ tay đấm xuống bàn đánh “rầm” một tiếng, khiến hai chén rượu nảy bật lên cao, rượu văng tung toé, giận dữ nói: “Tên súc sinh Bàng Quyên, đắc tội với hiền đệ cũng là đắc tội với đại ca, đó là thù nhà! Đánh chiếm Hình Sơn của ta, chém giết hàng vạn tướng sĩ của ta, đó là nợ nước! Thù nhà nợ nước, nếu Chiêu Dương này không báo, thực uổng kiếp làm người!”

Trần Chẩn nhặt hai cái chén dưới đất lên, lại rót đầy rượu, từ tốn hỏi: “Đại ca đã từng nghĩ sẽ báo thù thế nào chưa?”

“Điều này có gì khó!” Chiêu Dương không chút đắn đo. “Đại ca sẽ đi bẩm tấu với bệ hạ, hưng binh phạt Ngụy!”

“Than ôi!” Trần Chẩn lắc đầu thở dài. “Cho dù đại ca muốn phạt, bệ hạ cũng chẳng chịu đâu!”

“Ồ?” Chiêu Dương ngẩn người. “Cớ sao bệ hạ lại không chịu?”

“Vì năm trước Tam Tấn tung thân, năm tiếp theo Tô Tần lại đến nước Tề du thuyết. Nếu không nằm ngoài dự đoán của đệ, Tề chắc chắn sẽ nhập tung. Liệt quốc ở Trung Nguyên đều đã nhập tung, bệ hạ chinh phạt thế nào đây? Hơn nữa, bệ hạ đã thôn tính được Ngô, Việt, mở rộng đất đai nghìn dặm, sự nghiệp đã vượt xa các đời tiên vương. Hiện giờ bệ hạ chỉ muốn bảo toàn thành tựu, đã không còn chí tiến thủ, cho dù đại ca muốn kiến công lập nghiệp, giúp Đại Sở xưng bá thiên hạ, lưu lại tiếng thơm muôn đời, cũng chẳng phải chuyện dễ!”

Nghe Trần Chẩn nói vậy, Chiêu Dương dường như cũng đã trấn tĩnh trở lại, trầm ngâm một hồi, rồi gật đầu nói: “Phải, hiền đệ nói rất đúng! Theo ý của hiền đệ, ta nên làm thế nào?”

Trần Chẩn hạ giọng, rì rầm một thôi một hồi, Chiêu Dương gật đầu lia lịa, rồi nâng chén nói: “Được, cứ làm theo lời hiền đệ! Nào, vì phạt Ngụy thành công, báo thù rửa hận, cạn chén!”

Sáng sớm hôm sau, Chiêu Dương mời tiên ông vào trong phủ, xem bệnh cho Giang Quân phu nhân, lại chế ra vài hoàn thuốc. Lão phu nhân uống xong, tinh thần càng thêm khởi sắc, đã có thể nói cười, thậm chí còn đi được mấy bước. Chiêu Dương đã hoàn toàn tin tưởng vào tiên thuật của tiên ông, sáng sớm hôm sau nữa, liền theo kế của Trần Chẩn, chở tiên ông đến đài Chương Hoa.

Mặc dù Uy Vương tuổi đã cao, nhưng vẫn chìm đắm trong thanh sắc ở đài Chương Hoa, thậm chí có ngày còn lâm hạnh tới mấy nàng, mặc dù đã có ngự y bồi bổ điều dưỡng, nhưng Uy Vương lực bất tòng tâm, long thể ngày càng suy yếu. Mấy ngày hôm nay, Uy Vương cảm thấy tay chân rã rời, tinh thần phiền muộn, đang lúc buồn rầu thì nội thần bẩm báo có Chiêu Dương cầu kiến. Uy Vương tuyên triệu. Hành lễ xong xuôi, Chiêu Dương theo thường lệ bẩm báo lại mọi chuyện trong triều. Uy Vương thấy toàn là chuyện vặt vãnh, liền há miệng ngáp dài.

Chiêu Dương thấy vậy, liền dừng lại không nói nữa, nhổm người về trước quan sát Uy Vương một lúc, rồi tỏ vẻ quan tâm, hạ giọng hỏi: “Nhìn khí sắc của bệ hạ, dường như không được tươi nhuận bằng lần trước!”

Câu này quả nhiên gãi đúng chỗ ngứa, Uy Vương thở dài một tiếng, lắc đầu nói: “Than ôi, già rồi, già rồi, quả nhân già thật rồi!”

Chiêu Dương vội đổi từ ngồi sang quỳ, khấu đầu nói: “Vi thần lỡ lời, xin bệ hạ trách tội!”

“Than ôi!” Uy Vương lại thở dài một tiếng. “Đứng lên đi! Quả nhân già là chuyện của quả nhân, đâu có liên quan gì đến ái khanh, trách tội gì được?”

Chiêu Dương vẫn quỳ dưới đất, hỏi khẽ: “Vi thần to gan, xin hỏi bệ hạ có chỗ nào khó chịu?”

“Không giấu ái khanh,” giống như tất cả những người già khác, Uy Vương bắt đầu kể lể dông dài về bệnh tình của mình, nào là tức ngực, chân tay rã rời, không muốn ăn uống, hai tai lúc nào cũng ù ù như ve kêu, có lúc lại đau lưng nhức vai... rồi than thở. “Than ôi, ái khanh, quả nhân già thật rồi! Mấy năm trước vẫn thấy như không, vậy mà nay khắp người đau bệnh, từ trên xuống dưới chỗ nào cũng thấy khó chịu. À, nói đến chuyện này, quả nhân suýt nữa quên mất, Giang Quân phu nhân ngọc thể thế nào rồi?”

“Đa tạ bệ hạ quan tâm!” Chiêu Dương khấu đầu nói. “Vi thần cũng đang định bẩm báo chuyện này. Mấy ngày trước, gia mẫu bệnh nặng, cứ ngỡ là không qua khỏi, may sao hai ngày trước gặp được một vị thần nhân, nên đã đỡ nhiều. Sáng sớm hôm nay, trước khi đến đây, vi thần lại đến vấn an gia mẫu, thấy người mặt mũi hồng hào sáng sủa, như trẻ ra đến mấy tuổi. Biết vi thần muốn đến đài Chương Hoa yết kiến bệ hạ, gia mẫu đã nhờ vi thần vấn an bệ hạ!”

“Ồ?” Uy Vương mừng rỡ. “Là vị thần nhân nào mà thần thông đến vậy?”

“Một vị tiên ông đến từ núi Thương Ngô, hiệu là Thương Ngô Tử.”

“Thương Ngô Tử?” Uy Vương trầm ngâm suy nghĩ. “Nghe nói núi Thương Ngô nằm ở phía đông Xích Thuỷ, là nơi Đế Thuấn về trời!”

“Đúng vậy!” Chiêu Dương đáp lời. “Theo vi thần khảo chứng, trong cuốn ‘Hải nội nam kinh’ có ghi chép rõ ràng: ‘Núi Thương Ngô, Đế Thuấn táng tại sườn núi phía nam, Đế Đan Chu (1) táng tại sườn núi phía bắc’.”

“Ồ!” Uy Vương gật gù. “Chẳng trách lại thần thông đến vậy! Người này hiện ở đâu?”

“Đang ở ngoài điện!”

“Ồ?” Uy Vương mừng rơn, quay sang nội thần. “Mau, mời Thương Ngô Tử!”

Nội thần đi ra, lát sau đã dẫn theo một gã đàn ông trung niên rảo bước tiến vào.

Do được Trần Chẩn dày công tô điểm và huấn luyện, gã trung niên giờ đây dường như đã biến thành một người khác hẳn so với khi còn trên phố, mũ áo chỉnh tề quả nhiên trông cũng có chút tiên phong đạo cốt, siêu việt phàm trần. Cái tên Thương Ngô Tử cũng là do Trần Chẩn đặt cho.

Thương Ngô Tử ngẩng cao đầu đứng trong sảnh, nhìn thấy Uy Vương nhưng không hành lễ.

Chiêu Dương vội giục: “Tiên ông, hãy mau khấu kiến bệ hạ!”

Thương Ngô Tử khẽ vòng tay cho có, từ trong miệng bật ra một giọng nói sang sảng, dồi dào tinh lực: “Lão hủ Thương Ngô Tử xin chào bệ hạ!”

“Lão hủ?” Uy Vương ngạc nhiên, săm soi Thương Ngô Tử một lượt từ đầu đến chân. “Xin hỏi thượng tiên thọ đã bao nhiêu?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Thương Ngô Tử đáp, “tính đến ngày hôm qua, lão hủ vừa tròn ba trăm lẻ bảy tuổi không hơn không kém, không dám xưng bừa là thọ!”

“Ba trăm lẻ bảy tuổi?” Uy Vương há hốc miệng, lại đưa mắt quan sát một lượt, hít ngược một hơi dài. “Xin hỏi thượng tiên, phải chăng luôn sống trong Thương Ngô cốc?”

Thương Ngô Tử khẽ lắc đầu, chậm rãi đáp lời: “Khởi bẩm bệ hạ, lão hủ vốn là người Kinh Sơn, ra đời vào năm Trang Vương nguyên niên. Vào lúc năm tuổi, phụ mẫu cùng lúc qua đời, lão hủ đau thương thống thiết, khóc liền ba ngày ba đêm, tiếng khóc vang động cả đồng hoang. Tiếng khóc đã làm kinh động đến một dị nhân, đó chính là tiên sư của lão hủ. Tiên sư dẫn lão đi thẳng về tây, đến núi Nữ Kỷ, ở trong núi đó luyện phép tu tiên. Hai thầy trò lão hủ ở trong núi suốt hai vòng Giáp Tý, tròn một trăm hai mươi cái xuân thu, thì tiên sư bay về trời. Lão hủ công lực chưa đủ nên không thể bay lên, đành phải bám theo tiên khí vương trên mặt đất mà tìm kiếm, cứ thế lần đến núi Thương Ngô, thì đột nhiên không thấy khí của tiên sư đâu nữa, bèn dựng lều cỏ ở lại trong núi. Ở trong núi thêm hai vòng Giáp Tý cộng thêm ba mươi năm lẻ nữa, lão hủ đột nhiên nằm mơ, thấy tiên sư hiện về, lệnh cho lão đến Sính Đô thu nhận mấy đệ tử có duyên để cùng tu tiên đạo!”

“Ồ?” Uy Vương kinh ngạc hỏi. “Thượng tiên đã nhận được đệ tử nào hay chưa?”

Thương Ngô Tử lại lắc đầu: “Lão hủ mới đến Sính Đô, vẫn chưa gặp được đệ tử có duyên!”

Uy Vương vội hỏi: “Quả nhân bất tài, không biết liệu có duyên cùng tu tiên luyện đạo với thượng tiên hay không?”

Thương Ngô Tử nhìn Uy Vương một lượt, một lúc sau, bèn lắc đầu mà nói: “Tu tiên luyện đạo, trước tiên phải luyện được thân bất tử. Quan sát long thể của bệ hạ, tương lai may ra có thể được, còn hiện giờ thì chưa được!”

“Thân bất tử?” Uy Vương sung sướng quá đỗi. “Quả nhân phải làm thế nào mới luyện được thân bất tử?”

“Điều này không khó!” Thương Ngô Tử dõng dạc đáp lời. “Lão hủ sẽ luyện đan dược, chỉ cần bệ hạ uống vào, lập tức bất tử!”

Uy Vương sốt sắng hỏi: “Ồ, tiên đan lúc nào mới có thể luyện thành?”

“Bảy bảy là được!”

“Bảy bảy?”

“Tức là bảy bảy bốn mươi chín ngày!”

Uy Vương vội đứng dậy, bước lên một bước, vái mà nói: “Vãn sinh Hùng Thương khẩn cầu tiên ông giúp vãn sinh luyện tiên đan!”

Thương Ngô Tử cũng vái đáp lễ: “Lão hủ có thể luyện! Tuy nhiên, theo tính toán của lão hủ, bệ hạ trần duyên chưa dứt, nếu uống tiên đan, dù được bất tử, nhưng cũng khó thành tiên đạo!”

“Ồ?” Uy Vương rất đỗi kinh ngạc, vội hỏi. “Xin hỏi tiên ông, Hùng Thương còn trần duyên nào chưa dứt?”

“Nếu suy đoán theo thiên đạo, bệ hạ còn có một đại nghiệp chưa hoàn thành, bởi vậy trần duyên chưa dứt.”

“Đại nghiệp?” Uy Vương ngẩn người. “Quả nhân phạt Việt, lẽ nào còn chưa phải là đại nghiệp?”

“Trời phái bệ hạ xuống trần là để lập hai đại nghiệp. Phạt Việt mới chỉ là một đại nghiệp, còn một đại nghiệp nữa bệ hạ vẫn chưa hoàn thành.”

Uy Vương trầm ngâm một hồi, rồi đích thân dắt Thương Ngô Tử ngồi vào vị trí khách, sau đó quay về chỗ ngồi, vòng tay hỏi: “Xin hỏi tiên ông, nghiệp này có thể thành ở nơi nào?”

Thương Ngô Tử vòng tay đáp: “Theo suy đoán của lão hủ, đại nghiệp này của bệ hạ, cần thành ở phía bắc!”

Uy Vương cúi đầu ngẫm ngợi hồi lâu, rồi quay sang nói với nội thần: “Tiên ông từ xa đến, đi đường vất vả, hãy đưa tiên ông đến hậu cung nghỉ ngơi, đợi quả nhân xứ lý xong việc triều chính, sẽ lại bồi tiếp tiên ông tận hứng!”

Thương Ngô Tử đa tạ, rồi đứng dậy cáo lui, cùng nội thần đi ra khỏi cửa.

Uy Vương thấy hai người đã đi xa, bèn quay sang Chiêu Dương: “Chiêu ái khanh, theo ý của khanh, đại nghiệp này có thể lập ở đâu?”

“Có thể phạt Đại Lương!” Chiêu Dương vòng tay nói. “Mối nhục Hình Sơn, vi thần không rửa, chết không nhắm mắt!”

“Đại Lương?” Uy Vương khép mắt trầm tư một hồi. “Nghe nói Tam Tấn đã hợp tung, nếu ta phạt Ngụy, Hàn và Triệu ắt sẽ đến ứng cứu, như vậy phải tính thế nào?”

“Tam Tấn trước nay luôn bất hoà, cho dù có hợp tung, vẫn là bằng mặt không bằng lòng, chưa chắc đã toàn lực ứng cứu, đó là điều thứ nhất. Ta có được dân chúng Ngô, Việt, binh lính tinh nhuệ, lương thực dồi dào, có thể phát động ba mươi vạn đại quân, cho dù Tam Tấn có hợp tung, thì ta vẫn nắm chắc phần thắng, đó là điều thứ hai. Tam Tấn hợp tung, với Tần là điều bất lợi, năm ngoái vi thần đã nghe tin Tần muốn phạt Nghi Dương của Hàn. Nếu ta phạt Ngụy, có thể kết minh với Tần, để Tần xuất binh phạt Nghi Dương. Hàn tự lo cho mình còn chẳng xong, sao có thể cứu viện? Có quân Tần ở sau lưng, Triệu cũng không dám khinh suất xuất binh. Có Tần ở Hà Tây, Ngụy ắt cũng chẳng dám dốc toàn lực ứng phó với ta, đó là điều thứ ba. Có ba cái lợi này, vi thần cho rằng, có thể phạt Ngụy!”

“Ngụy có Bàng Quyên, ái khanh đã có cách đối phó hay chưa?”

“Bệ hạ yên tâm, vi thần đã điều tra biết rõ, lần trước Ngụy phạt Hình Sơn, đều là mưu của Tôn Tẫn. Nay Tôn Tẫn đã thành phế nhân, Bàng Quyên không còn đáng sợ!”

“Bàng Quyên lấy ít thắng nhiều, chỉ trong năm ngày đã đánh bại cả Tề lẫn Triệu, ái khanh tuyệt đối không được coi thường!”

“Nhìn tổng quan trận chiến Hoàng Trì, Điền Kỵ thua do kiêu ngạo, thua do sơ suất, Bàng Quyên thắng nhờ có đội quân bi thương, thắng do may mắn. Trong trận chiến Triều Ca, Phụng Dương Quân không những bất ngờ không kịp đề phòng, mà bản thân ông ta vốn dĩ cũng chẳng phải đối thủ của Bàng Quyên. Nay đã khác xưa, nếu giao chiến với Ngụy, Ngụy sẽ là quân kiêu ngạo, ta sẽ là quân bi thương. Binh pháp có câu, hai bên ngang sức, quân bi thương sẽ thắng!”

Uy Vương lại cúi đầu ngẫm nghĩ, một lúc sau, ngẩng lên hỏi tiếp: “Nếu như phạt Ngụy, ái khanh đã có tính toán gì hay chưa?”

“Có thể đoạt lấy Tương Dương!” Chiêu Dương dường như đã vạch sẵn kế hoạch trong bụng. “Ngụy coi Hình Sơn là nơi cơ yếu, nên đã cử trọng binh trấn thủ, còn Tương Dương lại để trống. Tương Dương nằm giữa Đại Lương và Tuy Dương, trước có Tuy Thuỷ, sau có Tuế Thuỷ, là vùng thắng địa chiến lược. Ta có thể xuất quân từ Khổ huyện, hành quân đường dài tập kích Tương Dương, một trận đánh hạ Tương Dương, cắt đứt liên lạc giữa Ngụy và Tống. Sau đó sẽ xây dựng thành luỹ phòng ngự dọc theo tuyến Tương Lăng, phía tây đối kháng Ngụy, phía đông thu hồi Tống, thôn tính hàng ngàn dặm đất đai màu mỡ vùng lưu vực sông Tứ.”

Nghe Chiêu Dương tâu bày mưu kế, Uy Vương nhắm mắt suy nghĩ hồi lâu, rồi gật đầu nói: “Được, sẽ làm theo kế của ái khanh! Phát hai mươi vạn đại quân phạt Ngụy, ái khanh làm chủ tướng, Khuất ái khanh, Cảnh ái khanh làm phó tướng, Cảnh ái khanh kiêm nhiệm quận thú Nam Dương, dẫn năm vạn quân xuất phát từ Phương Thành, dương công Hình Sơn, chế ngự Bàng Quyên. Còn cụ thể thế nào, ái khanh hãy về soạn thảo chỉ ý!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Phạt Ngụy không phải chuyện nhỏ. Chiêu Dương nhận chỉ, lập tức triệu tập chư tướng, điều động ba quân, chuẩn bị lương thảo, quân nhu..., tất bật hơn một tháng trời, cuối cùng mọi việc cũng coi như ổn thoả. Trần Chẩn cũng vội viết thư về xin Tần Công chinh phạt Nghi Dương, khống chế Hàn, Triệu. Thương Ngô Tử ban đêm quan sát thiên văn, đã định được ngày lành xuất binh. Sính Đô và cả năm ngàn dặm đất Sở đều sôi sục, chốc lát, đâu đâu cũng thấy tiếng vó ngựa rầm rập, tiếng đao kiếm loảng xoảng.

Thế nhưng, sự việc cũng thật trùng hợp. Chỉ trước hôm Chiêu Dương tế cờ xuất quân đúng một ngày, Giang Quân phu nhân sau khi đã uống một mạch mấy chục viên tiên đan, sắc mặt vẫn luôn hồng hào tươi nhuận, đột nhiên hét lên mấy tiếng, rồi hộc máu mà chết.

Chiêu Dương kinh hoảng, khóc ngất trên đất, phủ lệnh doãn chìm trong tang thương.

Trần Chẩn hay tin vội chạy đến, khóc lóc còn thảm thiết hơn cả Chiêu Dương. Chiêu Dương đau đớn một hồi, rồi dứt khoát quyết định việc nước trước việc nhà sau, cắn rách đầu ngón tay lấy máu, viết huyết thư tấu trình lên Uy Vương, tuyên bố sẽ đeo tang xuất chinh.

Sáng sớm hôm sau, chủ tướng Chiêu Dương thân mặc tang phục, đánh xe tới trước cổng doanh trại trung quân để tế cờ. Ba quân tướng sĩ nhìn thấy cảnh tượng này, ai nấy đều nhỏ lệ, sĩ khí ngùn ngụt. Đến giờ Mão, Chiêu Dương đang định tế cờ xuất chinh thì thái tử Hoè đánh xe lao như bay tới, tuyên chiếu thư của Uy Vương, ra lệnh tạm hoãn phạt Ngụy, phát tang cho Giang Quân phu nhân trước.

Đúng vào lúc này, sứ đoàn hợp tung cũng rầm rộ tiến về, dừng lại đóng trại cách Sính Đô chừng ba mươi dặm.

Ngày hôm sau, thái tử Hoè lâm triều thay mặt xử lý triều chính, phái Ngận Thượng cùng Lâu Hoãn đi tiền trạm xuất thành nghênh đón, Tô Tần dẫn theo năm vị phó sứ gồm mấy vị công tử, công tôn, Điền Văn cùng những tuỳ tùng thân cận đánh xe vào cổng thành đông của Sính Đô, đi theo con đường lớn bên bờ phải Lệ Thuỷ, tiến vào dịch quán của liệt quốc ngay cạnh vương thành.

Đang đi, trước mặt đột nhiên thấy có đám đông rùng rùng chuyển động, sau đó là tiếng trống dội chuông rền, tiếng nhạc bi thiết, những người hiếu sự đến xem đều theo nhau dạt sang hai bên đường. Ngận Thượng dẫn đầu đoàn người tránh sang bên lề, Tô Tần và mọi người cũng lần lượt dạt sang nhường đường.

Một lát sau, một trăm lẻ tám vệ sĩ thân mặc áo sô đi trước mở đường, tiếp đó là sáu mươi tư nhạc công, kẻ thổi người gõ, tấu một khúc nhạc rền rĩ. Phía sau nữa là hai mươi bốn vu nữ ăn bận kỳ quặc, vây quanh một cỗ xe tứ mã lớn, trên xe là một thầy mo mày trắng tóc đỏ. Phía sau thầy mo là ba mươi hai đồng nam đồng nữ tuổi từ sáu đến mười ba, sắp thành mười sáu cặp theo độ tuổi, đều khoanh chân xếp bằng, mỗi cặp ngồi trên một chiếc bệ được làm từ tang phục, từng cặp được khiêng bởi hai thanh niên trai tráng mình mặc áo tang. Đám đồng nam đồng nữ này không mặc tang phục, mà đứa nào đứa nấy áo quần sặc sỡ, mở to đôi mắt hiếu kỳ ngó nghiêng khắp xung quanh, có đứa trong miệng vẫn nhai đồ ăn nhóp nhép, trông rất vui vẻ. Mấy đứa nhỏ tuổi hơn cả còn chỉ chỉ trỏ trỏ, nói cười khúc khích. Phía sau lũ trẻ lại có thêm hai mươi tư vu nữ.

Nhìn bộ dạng hồn nhiên ngây thơ của lũ trẻ, đám đông đến xem đều không nỡ nhìn, ai nấy đều đưa tay áo lau nước mắt. Một bé gái đứng xem nhìn mà ghen tị, liền giơ tay chỉ vào bé gái đang được khiêng đi, rồi kêu toáng lên với thiếu phụ bên cạnh: “Mẹ, mẹ ơi! Con cũng muốn ngồi trên đó!”

Thiếu phụ vội vàng bế bổng đứa nhỏ lên, sắc mặt kinh hãi tột độ, lập tức quay người chạy thẳng, mặc kệ đứa bé sợ quá khóc thét lên, nhanh như cắt lẩn vào một ngõ nhỏ bên cạnh, cứ như nếu đi chậm một bước thì con gái của chị ta sẽ bị khiêng đi mất.

Ngận Thượng lạnh lùng nhìn theo đoàn người, khuôn mặt không chút cảm xúc.

Tô Tần, công tử Ngang, Lâu Hoãn, công tử Chương, Điền Văn đều hiểu đang diễn ra chuyện gì, ai nấy đều lộ vẻ đau buồn, đầu cúi thấp. Trong đám người, duy chỉ có công tôn Khoái là không hiểu, khẽ hỏi Điền Văn đứng cạnh: “Họ khiêng những đứa trẻ này đi đâu vậy?”

Điền Văn quay mặt đi không trả lời.

Công tôn Khoái ngẩn người, càng thấy tò mò, lại tiếp tục hỏi Lâu Hoãn và công tử Chương, nhưng cả hai người cũng quay mặt đi, không lên tiếng. Công tôn Khoái cũng ngại hỏi tiếp, chỉ nhìn chằm chằm vào những đứa trẻ đang bị khiêng đi.

Lát sau, đoàn người mang tang phục đã đi xa, đám đông cũng tản đi. Công tôn Khoái không nhịn thêm được nữa, liền bước tới bên cạnh Tô Tần, khẽ hỏi: “Tô Tử, đám trẻ nhỏ kia là thế nào vậy?”

Tô Tần khẽ thở dài một tiếng, chỉ vào Ngận Thượng: “Đây là việc của nước Sở, nếu công tôn muốn biết, có thể hỏi thượng đại phu!”

Công tôn Khoái quay sang Ngận Thượng, vòng tay hỏi: “Xin hỏi Ngận đại phu, việc này là như thế nào?”

“Khởi bẩm công tôn,” Ngận Thượng vòng tay đáp lễ. “Giang Quân phu nhân quy tiên, bọn trẻ được đưa theo để hầu hạ phu nhân!”

“Cái gì?” Công tôn Khoái kinh hãi đến trợn trừng hai mắt, một lúc lâu sau mới thốt được nên lời. “Ý của đại phu là, chúng sẽ bị tuẫn táng?”

Ngận Thượng thở dài một tiếng, cúi đầu không nói thêm lời nào nữa.

Công tôn Khoái sững sờ hồi lâu mới định thần lại được, giận dữ nói: “Đã là thời đại nào rồi, sao vẫn còn tục tuẫn táng kia chứ?” Rồi quay sang Trâu Phi Đao. “Trâu Tử, hãy nhìn mà xem, lũ trẻ kia... chúng... chúng cứ vô tư chẳng hề hay biết!”

Trâu Phi Đao quay mặt đi, hai mắt nhìn sững vào đoàn người đã ở tít phía xa, một lúc sau thì quay sang Ngận Thượng, vòng tay nói: “Xin hỏi Ngận đại nhân, phải chăng chúng đang bị mang đi tuẫn táng?”

Ngận Thượng lắc đầu, nói: “Dựa theo tập tục của đất Sở, sau khi đưa tang mới tiến hành tuẫn táng, nhanh nhất cũng phải bảy ngày sau. Thầy mo vừa nãy mới lựa chọn xong đồng nam đồng nữ, hôm nay mới chỉ mang rước thị chúng, trong mấy ngày tiếp theo chúng sẽ phải học lễ nghĩa, sau đó mới đem tuẫn táng.”

Trâu Phi Đao thở hắt ra một hơi, vòng tay đa tạ.

Công tôn Khoái dường như cũng đã hiểu ra dụng ý của Trâu Phi Đao, bèn khẽ giật gấu áo hắn.

Đêm đến, mặc dù có trăng, nhưng trên trời lại mây đen dày đặc, nên mặt đất lúc sáng lúc tối.

Vào giờ Nhân định, trong dịch quán của liệt quốc, một cánh cửa khẽ khàng hé mở. Mấy bóng đen nhẹ nhàng lách qua cửa phòng, đang định lao người đi, đột nhiên có tiếng quát nghiêm khắc vang lên từ sau lưng: “Chư vị dừng bước!”

Mấy bóng đen sững sờ, nhận ra là giọng của Tô Tần đành phải dừng khựng lại.

“Chư vị định đi đâu?” Tô Tần bước vội lên vài bước, hạ thấp giọng hỏi.

Công tôn Khoái lắp bắp: “Không... không đi đâu cả, chỉ... chỉ đi dạo mà thôi!”

Tô Tần đi tới trước mặt Trâu Phi Đao, lục ra được mấy chục mũi phi đao trên khắp người hắn, lại quay sang nhìn mọi người, thấy ai nấy đều mang theo đao kiếm, ám khí đầy mình, liền cười nhạt: “Đi dạo thì mang theo những thứ này làm gì?”

Công tôn Khoái biết không thể giấu được, đành nói: “Hồi bẩm Tô Tử, chúng tôi muốn đến phủ lệnh doãn!”

“Để cướp người?”

Công tôn Khoái gật đầu nói: “Là để cứu người! Bọn trẻ kia... không đáng phải chết!”

“Hừm!” Tô Tần hừ mũi một tiếng, rồi mắng. “Chỉ với sức của mấy vị mà muốn tới phủ Chiêu Dương cứu người, rõ ràng là tự đâm đầu vào chỗ chết! Đường đường là quý tộc nước Yên, tay cầm hung khí, nửa đêm đột nhập vào phủ lệnh doãn nước Sở, việc này nếu truyền ra ngoài, biết phải dàn xếp thế nào? Mặt khác, cho dù mọi người không bị phát hiện, nhưng mọi người sẽ cứu những đứa trẻ ngây thơ vô tri kia như thế nào? Chúng không biết bay, cũng chẳng biết chạy, huống hồ hiện giờ lại đang được ăn ngon mặc đẹp, liệu có chịu đi không?”

Mọi người chưa ai nghĩ đến những điều này, đặc biệt là công tôn Khoái, nên đứng lặng người, ngẩn ngơ hồi lâu mới lắp bắp nói: “Nhưng... Tô Tử, chúng ta sao có thể giương mắt đứng nhìn đám trẻ chết oan uổng được?”

“Được thôi!” Tô Tần nói tiếp. “Cho dù mấy người có thể cứu bọn chúng ra, lẽ nào mọi việc sẽ kết thúc được ư? Chiêu Dương vẫn phải mai táng mẫu thân, thầy mo sẽ lại tiếp tục đi tìm những đứa khác. Các người không muốn để chúng chết oan uổng, thì sẽ có ba mươi hai đồng nam đồng nữ khác bị chôn sống. Khi đó, các người đành phải tiếp tục đi cứu, rồi họ lại tiếp tục đi tìm. Công tôn, hủ tục của nước Sở đã lâu đời, khó lòng thay đổi!”

Tất cả những người có mặt đều sững sờ, rồi theo nhau ngồi thụp cả xuống, không ai nói nổi một lời.

Lâu Hoãn nghe thấy tiếng động, cũng bước ra, đứng ở sau lưng Tô Tần.

Tô Tần thở dài một tiếng, quay sang Lâu Hoãn: “Lâu huynh, sáng sớm mai hãy chuẩn bị hậu lễ, gửi thiếp đến phủ lệnh doãn, nói rằng đặc sứ hợp tung năm nước Tô Tần vào giờ Thân buổi chiều sẽ cùng với phó sứ liệt quốc đến phủ điếu viếng Giang Quân phu nhân!”

“Hạ quan tuân lệnh!”

Giờ Thân hôm sau, Tô Tần và năm vị phó sứ tiến vào phủ lệnh doãn phúng viếng Giang Quân phu nhân. Năm nước đều chuẩn bị hậu lễ, một đoàn người dài dằng dặc khiêng theo các hòm lễ vật nối đuôi nhau đi vào, khiến cho Hình Tài bận túi bụi không lúc ngơi tay.

Đặc sứ năm nước còn chưa lên triều mà đã đến phủ phúng viếng, đồng thời trong số năm vị phó sứ, ngoài Lâu Hoãn ra, bốn người còn lại đều là quý tộc công thất, thực khiến cho Chiêu Dương nở mày nở mặt. Chiêu Dương dẫn theo mười mấy nhân vật có máu mặt trong tộc họ Chiêu đang trông coi linh cữu ra tận cổng phủ nghênh tiếp. Đôi bên hành lễ xong xuôi, bèn dẫn đoàn Tô Tần vào thẳng linh đường của lão phu nhân. Tô Tần cùng các phó sứ hành đại lễ tế bái.

Lễ bái xong, Chiêu Dương dẫn Tô Tần và mọi người đến phòng khách, trên đường băng qua một dãy nhà, thấp thoáng nghe vẳng ra tiếng trẻ nhỏ nói cười. Mọi người đều thấy trong tim thắt lại, Tô Tần sắc mặt thản nhiên như không, đi thẳng tới trước cổng, đưa mắt nhìn vào trong sân, rồi quay sang hỏi Chiêu Dương: “Lệnh doãn đại nhân, bọn trẻ đều là người trong phủ ư?”

“Không! Không phải! Là tại hạ đã mua chúng về!” Chiêu Dương đáp.

“Ồ?” Tô Tần vờ ngạc nhiên. “Đại nhân mua nhiều trẻ nhỏ như vậy để làm gì?”

“Tô Tử có điều không biết,” Chiêu Dương hạ giọng giải thích, “lũ trẻ này sẽ dùng để tuẫn táng, đợi mấy ngày nữa sẽ đi theo hầu hạ tiên mẫu!”

Tô Tần gật đầu nói: “Từ lâu đã nghe nói đại nhân là người chí hiếu, nay mới được thấy tận mắt! Tại hạ có thể vào xem lũ trẻ không?”

Chiêu Dương chìa tay nói: “Mời!”

Tô Tần và mọi người đi vào trong sân, thấy hai vu nữ đang dạy bọn trẻ đủ thứ lễ nghi. Bỗng thấy một đoàn người lạ mặt đi vào, bọn trẻ đều sợ sệt, khép nép nhìn bọn họ. Vu nữ tiến lại vái chào hành lễ, rồi gọi lũ trẻ tới bái kiến các vị đại nhân. Lũ trẻ đều quỳ xuống, khấu đầu hành lễ. Tô Tần cảm thấy trong lòng chua xót, liền quay người bước đi.

Tới phòng khách, mọi người phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Mấy tỳ nữ bưng trà lên, rồi khom người lui ra.

Chiêu Dương bưng chén trà lên, nói: “Chư vị, mời dùng trà!”

Mấy người đều đang mải nghĩ tới bọn trẻ, nên chẳng ai đáp lại.

Tô Tần là người đầu tiên nâng chén trà lên, nhấp lấy mấy ngụm, rồi lại đặt chén xuống, khẽ than thở: “Than ôi, tại hạ thuở nhỏ đã được nghe kể về công lao hiển hách của Chiêu Hề Tuất đại nhân, lại nghe nói Giang Quân phu nhân hiền thục nhân từ, tứ đức toàn vẹn. Chiêu đại nhân sớm quy tiên, lần này đến Sính, tại hạ vốn dĩ mong muốn tận mắt thấy được phong thái của Giang Quân phu nhân, lắng nghe phu nhân dạy bảo, không ngờ phu nhân cũng... buông tay mà đi!” Rồi khẽ sụt sùi, đưa tay áo lau nước mắt.

Chiêu Dương thấy Tô Tần cảm xúc chân thành, không giống như giả bộ, nên vô cùng cảm động, vòng tay nói: “Tại hạ xin thay mặt tiên phụ, tiên mẫu đa tạ Tô Tử! Tiên mẫu ra đi quá đường đột, ngay cả tại hạ cũng chẳng thể ngờ. Hỡi ôi, gia mẫu...” Rồi đưa tay áo che mặt, bật khóc nức nở.

Tô Tần khóc cùng ông ta thêm một lúc, rồi vòng tay vái mà nói: “Dám hỏi đại nhân, lão phu nhân đã thọ bao nhiêu?”

“Bảy mươi mốt!”

Tô Tần khẽ gật đầu: “Nói như vậy, lão phu nhân cũng đã qua cái tuổi xưa nay hiếm, cũng coi là hỷ tang rồi!”

Chiêu Dương lại vòng tay: “Đa tạ lời tốt lành của Tô Tử!”

Tô Tần cũng vái đáp lễ, rồi đổi giọng, ít nhiều có ý thở than: “Từ lâu tại hạ đã nghe nói tập tục Kinh Sở và Trung Nguyên có khác, nay chứng kiến cách đại nhân an táng cho lão phu nhân, bỗng thấy cảm khái vô cùng!”

“Ồ?” Chiêu Dương bỗng thấy chột dạ. “Dám hỏi Tô Tử có điều gì cảm khái?”

“Năm xưa Trọng Ni khởi xướng việc thận trọng trong ma chay thờ cúng, sống thì phụng dưỡng, mất thì mai táng, vì vậy liệt quốc Trung Nguyên vừa coi trọng việc phụng dưỡng lúc sinh thời, vừa coi trọng việc an táng khi khuất núi. Còn người Kinh dường như chỉ coi trọng lúc sinh thời, mà không coi trọng hậu sự.”

Nghe Tô Tần nói vậy, Chiêu Dương thoạt tiên kinh ngạc, một lúc sau mới định thần, mặt xệ xuống, cất giọng lạnh nhạt: “Sao Tô Tử lại nói vậy?”

“Dám hỏi đại nhân, lão phu nhân lúc còn sống là do người nào hầu hạ?”

“Có rất nhiều người hầu, gần kề nhất là tỳ nữ thân tín!”

“Lại hỏi đại nhân, những người hầu này là người lớn hay trẻ nhỏ?”

“Đương nhiên là người lớn, trẻ nhỏ làm sao biết hầu hạ?”

“Vậy thì đúng rồi!” Tô Tần chậm rãi nói. “Lão phu nhân lúc còn sống là do người lớn hầu hạ, nhưng sau khi lão phu nhân qua đời, xung quanh lại chỉ có một bầy trẻ nhỏ. Bọn trẻ này tuổi nhỏ chẳng hiểu chuyện gì, vừa không biết ăn nói khiến lão phu nhân vui lòng, cũng chẳng biết pha trà quét dọn, giặt giũ nấu ăn, chưa nói đến chuyện không thể hầu hạ lão phu nhân chu đáo, ngược lại còn khiến lão phu nhân thêm bực mình. Hơn nữa, lão phu nhân bản tính ưa yên tĩnh, trong khi bọn trẻ lại hiếu động ồn ào, một tĩnh một ồn, lão phu nhân làm sao có thể yên nghỉ được? Chỉ riêng một việc này thôi, tại hạ đã cho rằng, người Kinh chỉ coi trọng lúc sinh thời, mà không coi trọng hậu sự!”

Những người khác đã bắt đầu hiểu ra dụng ý của Tô Tần, liên tiếp gật gù khen đúng. Chiêu Dương mặc dù thấy mất mặt, nhưng lại không nói ra được lý lẽ gì để phản bác, ậm ừ một lúc mới lên tiếng: “Lời của Tô Tử không phải là không có lý. Chỉ là người Kinh quy tiên, theo tục lệ phải tuẫn táng đồng nam đồng nữ, đây là quy chế của tổ tiên, Chiêu Dương không dám làm trái.”

“Quy chế của tổ tiên là phép tắc.” Tô Tần nhân đà nói tiếp. “Phép tắc là do thánh nhân lập nên. Thánh nhân lập ra phép tắc là tuân theo thiên đạo, hợp với tình lý, thuận với thời thế, hợp với thói tục. Phong có phong nhỏ của một vùng, cũng có phong lớn của cả thiên hạ; tục cũng có tục nhỏ của một vùng, cũng có tục lớn của cả thiên hạ. Thánh nhân hợp phong tuỳ tục, không phải hoà hợp với phong của một vùng, cũng không tuỳ thuận với tục của một phương, mà là hoà hợp với đại phong của thiên hạ, tuỳ thuận với đại tục của thiên hạ. Thiên đạo có dịch, phong tục có biến, vì vậy phép tắc của đời thánh nhân, tuyệt đối không rập khuôn cứng nhắc. Thánh hiền thời cổ lấy nhạc làm phép tắc, Hoàng Đế làm ra ‘Vân Môn’, Nghiêu làm ra ‘Hàm Trì’, Thuấn làm ra ‘Đại Thiêu’, Hạ Khải làm ra ‘Đại Hạ’, Thương Thang làm ra ‘Đại Hoạch’, thời đại khác nhau, nhạc vũ khác nhau, phép tắc tự nhiên cũng khác nhau. Nay thời thế đã thay đổi, phong tục thiên hạ cũng đã khác, Trung Nguyên không còn tục tuẫn táng người sống nữa, nhưng Kinh Sở lại vẫn tuẫn táng trẻ nhỏ, vậy nên tại hạ cảm khái trong lòng!”

“Điều này...” Chiêu Dương cứng họng, không nói được lời nào.

“Hơn nữa,” Tô Tần nói tiếp, “quy chế của nước Sở cũng không phải là nhất thành bất biến. Theo tại hạ được biết, quý tộc nước Sở theo chế độ thế tập, cha truyền con nối, một đời được phong quần, ngàn đời được hưởng lộc, khiến cho nước Sở chia năm xẻ bảy, quốc lực tổn thương nghiêm trọng. Điệu Vương đã lệnh cho Ngô Khởi biến pháp, bớt chỗ dư để bù cho chỗ khuyết, nay quý tộc chỉ được thế tập ba đời, sau ba đời nếu không lập được công lao, sẽ thu lại chức tước, đưa ra biên giới, từ đó mà nước Sở được đại trị. Dù Ngô Khởi đã chết, nhưng chế độ này vẫn được truyền đến tận ngày nay. Cho dù là đồ tuỳ táng cũng không phải là không thay đổi. Thời thượng cổ thường tuỳ táng bằng đồ đá, thời trung cổ thường tuỳ táng bằng đồ gốm, thời cận cổ lại thường tuỳ táng bằng đồ đồng, gần đây thì tuỳ táng bằng đồ sắt. Đô tuỳ táng khác nhau, chứng tỏ thế tục có thay đổi; thế tục đã thay đổi, tập tục mai táng đương nhiên cũng nên đổi khác!”

Lời của Tô Tần lý lẽ mạch lạc, căn cứ chắc chắn. Chiêu Dương trầm tư hồi lâu, rồi khẽ gật đầu, hiển nhiên nghe đã lọt tai.

Tô Tần ôm quyền nói tiếp: “Tại hạ nghe nói lão phu nhân sinh thời không những tứ đức vẹn toàn, mà còn ưa hành thiện bố thí, từ bi hiền hậu, chưa từng hạ dao giết đến một con gà, thấy kiến liền tránh, không biết có chuyện này chăng?”

Chiêu Dương liên tiếp gật đầu, khóc sụt sùi: “Tiên mẫu đích thực là người như vậy!”

Tô Tần tiện đà bồi thêm: “Tại hạ cho rằng, người thân quy tiên, trọng ở truy viễn. Truy viễn nghĩa là tưởng nhớ người thân, an táng tận hiếu. Đại hiếu trong thiên hạ, không gì lớn bằng nghĩ được điều người thân nghĩ, làm được điều người thân làm. Nay lão phu nhân đã quy tiên, tại hạ cho rằng, nếu đại nhân muốn tỏ lòng đại hiếu, thì phải nghĩ được điều lão phu nhân nghĩ, làm được điều lão phu nhân làm. Lão phu nhân nhân từ là thế, mà đại nhân lại đi tuẫn táng người sống, lão phu nhân ở dưới cửu tuyền biết được, chắc chắn sẽ không thể vui lòng!”

Tô Tần đã nói đến nước này, lời lời hữu lý, Chiêu Dương chẳng có cách nào phản bác, chỉ biết cúi gằm mặt. Hồi lâu sau, dường như đã suy nghĩ kỹ càng, bèn ngẩng đầu hỏi: “Nếu như không tuẫn táng người sống, tại hạ phải làm thế nào để thể hiện lòng thương tiếc với tiên mẫu?”

“Đại nhân đã nghe nói tới Trâu Tử người Tề hay chưa?”

“Trâu Tử?” Chiêu Dương hỏi lại. “Trâu Tử nào kia?”

“Chính là Trâu Diễn, người đề xuất thuyết vạn vật trong trời đất đều là do ngũ hành kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ sinh khắc biến hoá theo quy luật âm dương?”

Chiêu Dương gật đầu nói: “Có nghe nói đến! Nghe nói người này còn đề ra thuyết hải ngoại cửu châu!”

“Đại nhân nói rất đúng!” Tô Tần khen ngợi. “Người này xứng đáng là bậc đắc đạo đời nay, mặt vuông tai lớn, ánh mắt như lửa, người cao trượng hai, bẩm sinh tướng lạ, có phép thần thông, thông hiểu hai giới âm dương, nhiều lần ngao du đến cõi âm tào, còn cùng Diêm Vương kết nghĩa kim lan, giao tình thân thiết. Tô Tần may mắn được gặp mặt người này một lần, nghe kể tường tận về tình hình dưới địa phủ, đúng là chẳng khác gì so với dương gian. Theo lời của Trâu Tử, nhân sinh tại thế, sống có dương thọ, chết có âm thọ. Người tích dương đức thì có thể tăng dương thọ, người tích âm công sẽ có thể tăng âm thọ. Xe ngựa, nô bộc là những thứ dùng ở dương thế, thịt cúng, hình tượng là những thứ dùng ở âm thế. Cúng bằng người sống, trên tổn dương đức, dưới hại âm công, có trăm hại mà chẳng có lấy một lợi. Cũng chính nhờ Trâu Tử mà tất cả các nước Trung Nguyên đã thay đổi tập tục mai táng, người Tần chôn theo xe ngựa tượng gốm; Tam Tấn, Yên, Tề chôn theo bò dê. Nhìn lại lão phu nhân, có được dương thọ đến tuổi cổ lai hy, chứng tỏ lúc sinh tiền, phu nhân dương đức dày dặn. Nếu nay đại nhân lại đem tuẫn táng đồng tử, tại hạ thiết nghĩ, sẽ gây tổn hại đến âm công của lão phu nhân, làm giảm âm thọ của lão phu nhân!”

Chiêu Dương kinh ngạc hỏi: “Lời này phải chăng là sự thực?”

Tô Tần đáp: “Việc ở âm gian, tại hạ chưa từng trải qua nên không thể khẳng định. Tuy nhiên, theo lý mà suy đoán, tại hạ cho rằng lời của Trâu Tử không phải là không có lý. Thánh nhân từ xưa, từ Phục Hy thị, Hoàng Đế đến Nghiêu, Thuấn, Vũ, chưa có ai từng tế người sống. Đó là lý do khiến người thượng cổ thường sống thọ. Tế người xuất hiện từ thời Hạ, đến thời Thương thì thịnh hành, vì vậy người đời sau thường không sống thọ. Nay người dân Trung Nguyên đều đã tin lời Trâu Tử, từ bỏ tập tục tuẫn táng người sống cả rồi!”

Chiêu Dương hít ngược một hơi khí lạnh, cúi đầu không nói gì.

Tô Tần vòng tay khẩn cầu: “Tại sao đại nhân không thuận theo sự biến đổi của thời thế, thành người dẫn đầu thay đổi tục lệ vùng Kinh Sở?”

Chiêu Dương vẫn đắn đo không quyết.

“Làm như vậy, hẳn sẽ là một mũi tên trúng hai đích!”

“Một mũi tên trúng hai đích?” Chiêu Dương tròn mắt.

“Đại nhân thử nghĩ xem, nếu như trừ bỏ tục lệ tuẫn táng người sống, sẽ giúp lão phu nhân vừa được thanh tĩnh, lại tích âm công; cũng giúp đại nhân vừa biểu lộ được cái đức nhân từ hiếu sinh, lại khởi nguồn cho việc thay đổi phong tục, chắc chắn sẽ được ghi danh vào sử sách Kinh Sở, để đức thiên thu!”

“Ừm!” Chiêu Dương nghe nói động lòng, bèn gật gù. “Tô Tử nói rất đúng! Tuy nhiên, việc này hệ trọng, hãy để tại hạ bàn bạc với người trong tộc đã!”

“Ồ, hoá ra là như vậy!” Tô Tần khẽ gật đầu, đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, sau đó ôm quyền hướng về phía Chiêu Dương, tỏ ra thấu hiểu. “Xem ra, người Sở các vị coi tộc lớn hơn nước! Theo lý mà nói, đại nhân ở Sở là dưới một người trên vạn người, thế nhưng việc có tuẫn táng người sống hay không, lại là việc nhà, cho dù là Sở Vương bệ hạ cũng là roi dài khó với, không thể can thiệp. Không ngờ chỗ khó khăn lại nằm ngay trong gia tộc!”

Tô Tần rõ ràng đang dùng kế khích tướng. Đám phó tướng nhanh chóng hiểu ý, đều đưa ánh mắt kinh ngạc lạ lùng nhìn sững vào Chiêu Dương.

Chiêu Dương rõ ràng cảm thấy mất mặt, lập tức quay ra ngoài gọi lớn: “Người đâu!”

Hình Tài vội vàng chạy vào, khom lưng chờ lệnh Chiêu Dương.

Chiêu Dương cất giọng rành rọt, ngữ khí chắc nịch như đinh đóng cột: “Đưa đám đồng nam đồng nữ về nhà từng đứa, mỗi nhà thưởng cho một lượng vàng để an ủi!”

Hình Tài sững người, vội đưa mắt nhìn Chiêu Dương, thấy ông ta sắc mặt kiên nghị, không hề có cơ nhân nhượng, đành phải gật đầu vâng lệnh rồi nhanh chóng lui ra. Một lát sau, Tô Tần nghe loáng thoáng phía xa có tiếng Hình Tài sai bảo và tiếng bước chân đám nô bộc chạy bủa đi, song để cho chắc chắn, vẫn ngồi nán thêm một lúc, đoán rằng bọn trẻ đều đã được đưa đi, mới cùng các vị phó sứ cáo từ ra về.

Trên đường trở về, công tôn Khoái vô cùng thán phục, ôm quyền vái mà nói: “Tô Tử đúng là miệng sắt lưỡi đồng, chỉ dăm ba lời, trong chốc lát đã cứu được lũ trẻ ra khỏi miệng cọp!”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Cứu bọn trẻ thì dễ, nhưng cứu Sở thì khó đấy!”

Mọi người đều ngạc nhiên: “Lời này có nghĩa gì?”

“Tệ lâu khó sửa!”

Sáng sớm hôm sau, trong cung tuyên triệu đặc sứ hợp tung liệt quốc Tô Tần và năm vị phó sứ vào cung yết kiến điện hạ. Do trong phủ lệnh doãn Chiêu Dương đang để tang cho lão phu nhân Giang Quân, nên tộc họ Chiêu không có ai lên triều. Từ sau khi Chiêu Dương nhậm chức lệnh doãn, thuộc hạ các phủ phần lớn dùng người họ Chiêu, vì vậy họ Chiêu không lên triều, khiến triều đường cũng trở nên trống trải.

Tô Tần và mọi người hành lễ khấu bái xong, bèn trình lên quốc thư của năm nước Trung Nguyên và ước thư mời hợp tung. Thái tử Hoè nhận ước thư, đọc xong bèn nói: “Chư vị sứ thần, liệt quốc Trung Nguyên đều đã hợp tung, nước Sở đương nhiên cũng nên nhập tung. Tuy nhiên, bản cung tuổi nhỏ, việc bang giao hệ trọng nhường này, còn phải bàn bạc với quần thần, bẩm báo lên phụ vương, hẹn ba ngày sau, chắc chắn sẽ có hồi đáp. Chư vị từ xa tìm đến, hãy nhân tiện nghỉ ngơi đôi ba ngày, hưởng thụ phong tình đất Kinh Sở!” Rồi quay sang Ngận Thượng. “Ngận ái khanh, Tô Tử và chư vị công tử, công tôn liệt quốc giao cho khanh khoản đãi, không được sơ suất!”

Ngận Thượng khấu đầu đáp: “Vi thần tuân chỉ!”

Tô Tần và chư vị phó sứ tạ ơn xong bèn lui ra, quay trở về dịch quán.

Xử lý xong việc triều chính, thái tử Hoè mang theo ước thư, khởi giá đến đài Chương Hoa, bẩm lại chuyện hợp tung với Uy Vương. Uy Vương nhận lấy ước thư, đọc qua một lượt, chưa đợi thái tử Hoè bẩm báo xong đã bực tức ngắt lời, lớn tiếng trách mắng: “Việc nhỏ nhặt như vậy mà cũng đến bẩm báo!” Rồi ném toẹt ước thư xuống đất, đứng dậy đi thẳng.

Đặc sứ năm nước Trung Nguyên cùng lúc nhập triều, việc này còn bảo là nhỏ, vậy việc gì mới là việc lớn? Thái độ của Uy Vương thực nằm ngoài dự liệu, khiến thái tử Hoè nhất thời chết sững.

Ngẩn ngơ một lúc, thái tử Hoè liếc thấy nội thần vẫn đứng đó, dường như đang đợi để tiễn mình, liền đưa mắt sang nhìn nội thần.

Nội thần liếc nhìn theo bóng Uy Vương, rồi nhặt lấy ước thư từ dưới đất lên, rảo bước tới bên Thái tử Hoè, hạ giọng bẩm báo: “Điện hạ có điều không biết, mấy ngày nữa, đan dược bất tử của Thương Ngô Tử tiên ông sẽ ra lò, hiện giờ bệ hạ chỉ nghĩ tới chuyện này, không quan tâm tới bất cứ việc gì khác. Điện hạ hãy trở về Sính Đô, đợi mấy ngày nữa, tiên đan của bệ hạ luyện xong, hãy tiếp tục đến bẩm báo cũng chưa muộn!” Nói xong, hai tay dâng trả ước thư.

Thái tử Hoè sớm đã nghe chuyện về Thương Ngô Tử, lúc này lại được nội thần tiết lộ, nên cũng không tiện nói gì thêm, chỉ khẽ gật đầu, nhận lấy ước thư, cẩn thận cho vào tay áo, vòng tay từ biệt nội thần rồi vội vã bước đi, rời khỏi đài Chương Hoa.

Trở về cung, thái tử Hoè ngậm miệng không hề nhắc tới chuyện hợp tung. Tô Tần và mọi người ở dịch quán đợi đã quá ba ngày nhưng vẫn không thấy điện hạ triệu kiến, cũng không thấy Ngận Thượng đâu. Mấy vị phó sứ chẳng còn lòng dạ nào mà du ngoạn. Đang lúc sốt ruột, lại thấp thoáng nghe thấy tiếng đàn của Tô Tần, không hẹn mà cùng nhau tìm đến phòng Tô Tần.

Thấy mọi người bước vào, Tô Tần dừng đàn, vòng tay mời: “Ngồi đi! Ngồi đi!”

Công tử Ngang tính cách vẫn nóng như lửa, mở miệng nói liền: “Đặc sứ đại nhân, bây giờ là lúc nào rồi mà đại nhân còn có lòng dạ gảy đàn?”

“Xin hỏi công tử, không cho gảy đàn, vậy công tử bảo tại hạ phải làm gì?” Tô Tần cười hỏi.

“Lên điện tìm họ!” Công tử Ngang tức giận vỗ mạnh xuống đùi. “Chính miệng Hùng Hoè đã hứa, ba ngày sau sẽ có hồi đáp. Nay đã sang ngày thứ tư rồi, không những chẳng có hồi âm, đến thằng cha Ngận Thượng kia cũng mất hút, chẳng phải là cố tình bỡn cợt chúng ta ư?”

Mọi người đều nhìn cả vào Tô Tần.

“Chúng ta đến là để kết thân, không phải đến để kết oán!” Tô Tần nhún vai ra chiều bất lực. “Người ta không triệu kiến, nếu chúng ta mặt dày xông vào trong cung, khiến người Sở tức giận, chẳng may bị họ tống cổ ra ngoài, chẳng phải là mất sạch thể diện ư?”

Mọi người đều bật cười, công tử Ngang cũng phì cười theo, vòng tay nói: “Vậy... Tô Tử còn có đàn mà gảy, còn chúng tôi phải làm gì đây?”

“Nghe đàn!” Tô Tần chỉ tay vào tai.

Mọi người lại cười phá lên.

“Tuy nhiên,” Tô Tần ngẫm nghĩ một chút, rồi chậm rãi đứng dậy, “chư vị đã quen nghe những khúc đàn tao nhã, tại hạ học nghệ không thông, chư vị có lẽ nghe không lọt tai. Thế này vậy, nếu như chư vị rảnh rỗi sinh buồn, tại hạ có thể dẫn chư vị đến một nơi, cùng nhau thưởng thức Sở phong Sở nhạc, chư vị thấy thế nào?”

Mọi người đều tỏ ra hưng phấn, liền gọi xe ngựa tới, cùng Tô Tần đánh xe đến một trạch viện rộng lớn.

Mọi người ngẩng đầu nhìn tấm biển, thì ra là phủ tả tư mã. Tô Tần trình danh thiếp, một lát sau, tả tư mã Khuất Vũ cùng con trai trưởng Khuất Cái đích thân ra nghênh đón. Hành lễ xong xuôi, đôi bên cùng đi vào trong sảnh, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Tỳ nữ dâng trà, mọi người cùng thưởng trà một lúc. Khuất Vũ đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, rồi vòng tay nói: “Chư vị đặc sứ đại nhân quang lâm hàn xá, tại hạ vô cùng vinh hạnh. Tại hạ là kẻ vũ phu, kiến thức nông cạn, xin mời chư vị chỉ giáo!”

“Tư mã đại nhân khách khí rồi!” Tô Tần vòng tay đáp lễ. “Tại hạ và chư vị công tử lần đầu đến Sở, mọi việc đều lạ lẫm. Sau khi đến Sính, tại hạ vốn muốn được tìm hiểu phong thái đất Sở, nhưng lại lạ nước lạ cái, không dám đi lại tuỳ tiện, hàng ngày chỉ biết ru rú trong dịch quán, buồn tẻ vô cùng. Tại hạ thích nhạc, nghe nói vũ nhạc đất Sở khác hẳn Trung Nguyên, lại nghe nói tư mã đại nhân am hiểu nhạc Sở, trong lòng nôn nao khấp khởi, nên hôm nay mới mạo muội tìm tới tận cửa, mong được chỉ giáo. Các vị công tử, công tôn nghe được điều này, đều muốn đi cùng. Chúng tại hạ bất ngờ mà đến, quá ư đường đột, có chỗ thất lễ, mong tư mã đại nhân đừng để bụng!”

“Tô Tử cười chê rồi!” Khuất Vũ cười nói. “Tại hạ là người thô lỗ, chỉ biết khua thương múa gậy, đâu có hiểu gì về nhạc? Tuy nhiên, nếu chư vị đại nhân đã đặc biệt tìm đến để thưởng nhạc, tại hạ cũng khó lòng chối từ. Cũng thật trùng hợp, tại hạ có một đứa cháu họ vừa mới từ quê tới, tuổi tuy còn nhỏ, nhưng rất thông minh, am hiểu vũ nhạc, cũng giỏi từ phú, dưới quê cũng được coi là một nhân tài. Chư vị đại nhân đều là nhã sĩ Trung Nguyên, vừa hay có thể chỉ điểm cho nó!” Rồi quay sang Khuất Cái. “Cái Nhi, đi mời Khuất Bình!”

Khuất Cái vâng lời đi ra, chốc sau đã dẫn theo một thiếu niên rảo bước quay lại.

Thiếu niên bước vào trong cửa, cho dù đã có chuẩn bị từ trước, nhưng đột nhiên nhìn thấy người lạ ngồi đầy trong phòng, vẫn giật mình ngạc nhiên, rồi trước tiên vòng tay với Khuất Vũ: “Tiểu điệt bất tài xin chào bá phụ!” Sau đó quay sang đám Tô Tần, lần lượt khom lưng vái chào từng người, cất giọng rất đỗi lịch thiệp, có phần cứng nhắc. “Vãn sinh Khuất Bình xin chào chư vị đại nhân!”

Mọi người đều đưa mắt nhìn vào chàng thiếu niên Khuất Bình.

Khuất Bình diện mạo thanh tú, nhưng nhìn kỹ, vẫn ít nhiều non nớt, đầu chưa đội mũ, cao ngang công tử Chương, nhìn vóc dáng gầy guộc mảnh mai, dường như vẫn chưa cao hết tầm.

Tô Tần và mọi người quan sát Khuất Bình một lượt, sau đó lại quay sang nhìn nhau. Trong mắt người thường, chưa đến tuổi đội mũ thì vẫn là trẻ nít. Một thiếu niên mặt búng ra sữa như vậy mà Khuất Vũ lại ca ngợi là “am hiểu vũ nhạc, cũng giỏi từ phú”, đồng thời lại còn tiến cử công khai với các cao sĩ Trung Nguyên như Tô Tần, quả thực khiến người ta phải kinh ngạc.

Thấy là trẻ con, Tô Tử không đứng dậy, chỉ khẽ vòng tay, mỉm cười, hỏi với giọng điệu của trưởng bối: “Tiểu tử, năm nay bao nhiêu tuổi rồi?”

“Khởi bẩm đại nhân,” Khuất Bình vòng tay đáp, “đợi đến khi hoa quế lại nở, vãn sinh đã trải đủ mười sáu mùa thu!”

Nghe thấy lối đối đáp văn hoa, mọi người đều cười.

“Nói hay lắm, quả là nhân tài!” Tô Tần khẽ gật gù, không dám khinh suất nữa, liền đứng dậy vái đáp lễ. “Tô Tần người Lạc Dương xin chào Khuất Tử!”

“Vãn sinh tuổi nhỏ, không dám nhận là ‘Tử’! Đa tạ đại nhân đã quá khen!” Khuất Bình lại vái, nói tiếp. “Từ lâu vãn sinh đã được nghe danh tiếng của Tô đại nhân, hôm nay được gặp, thật vô cùng vinh hạnh!”

Khuất Vũ cười vang mấy tiếng, rồi tiếp lời, lần lượt giới thiệu từng vị công tử, công tôn cho Khuất Bình hành lễ với từng người.

Hành lễ xong xuôi, Khuất Vũ đi vào chuyện chính: “Tiểu Bình! Tô đại nhân và chư vị công tử, công tôn đều là cao nhân Trung Nguyên, nay đến đây muốn để thưởng thức tục nhạc của Kinh Sở. Bá phụ không hiểu âm luật, nên mới mời hiền diệt đến diễn tấu một khúc, để chư vị đại nhân chỉ điểm!”

Khuất Bình vâng lời, quay sang vòng tay với đám Tô Tần: “Vãn sinh biết tấu nhạc Sở, cũng biết tấu nhạc Ba, xin hỏi chư vị đại nhân muốn nghe nhạc nào?”

Tô Tần đắn đo một lát, rồi nói: “Xin hãy tấu nhạc Sở!”

Khuất Bình gật đầu, sải bước đi ra.

Chốc sau, có mấy nhạc công bước vào, mang theo rất nhiều nhạc cụ, có chuông, trống, khánh, kèn, đàn cầm, đàn sắt, tiêu... Mọi người đều dịch chuyển sang bên cạnh, chừa ra một khoảng trống. Các nhạc công lần lượt ngồi vào chỗ, ánh mắt đều hướng vào Khuất Bình.

Khuất Bình quay về mọi người, khom lưng thật thấp, rồi nói lớn: “Vãn sinh bất tài, xin khoe vụng trước chư vị đại nhân đây một khúc ‘Quất tụng’ do vãn sinh tự viết!” Rồi cất bước ung dung tiến tới trước một giàn khánh, điều hoà hơi thở, đứng tĩnh lặng, tay cầm lấy chiếc dùi đồng chuyên để gõ khánh.

Nghe nói là khúc nhạc là do Khuất Bình đích thân viết ra, lại thấy Khuất Bình đích thân gõ khánh, đám Tô Tần vô cùng kinh ngạc, mắt nhìn không chớp vào cậu thiếu niên.

Khuất Bình bắt đầu vung tay gõ khánh. Sau vài tiếng khánh, đám nhạc công đồng loạt diễn tấu, điệu nhạc không chỉ réo rắt vui tai, mà còn bổng trầm phấn chấn.

Diễn tấu được một lúc, Khuất Bình bỗng cất giọng, nửa hát nửa ngâm:

“Cây đẹp trong trời đất,

Quất hợp đất này a.

Bản tính không thay đổi,

Sinh tại nước nam a.

Rễ sâu khôn dời chuyển,

Bởi vì một lòng a.

Lá xanh chen hoa trắng,

Mơn mởn đáng yêu a.

Cành rậm gai sắc nhọn,

Kết quả tròn trịa a.

Xanh vàng màu xen kẽ,

Sắc thái rực rỡ a.

Vỏ đẹp lòng trong trắng,

Hệt người có đạo a.

Tươi tốt thêm đẹp đẽ,

Hoàn mỹ vô khuyết a.

Than ôi chí thuở nhỏ,

Đã khác với đời a.

Riêng mình không lay chuyển,

Há chẳng mến yêu a.

Kiên cường không biến đổi,

Rộng lòng chẳng mưu cầu a.

Lánh đời đứng cô độc,

Ngang dòng chẳng theo dòng a.

Yên tĩnh thêm cẩn trọng,

Trước sau chẳng lỗi lầm a.

Giữ đức không tư dục,

Sánh ngang đất trời a.

Lúc muôn loài tàn tạ,

Nguyện cùng kết bạn a.

Tươi đẹp không phóng dãng,

Chính trực hiểu lý trời a.

Tuổi tác tuy còn nhỏ,

Xứng đáng làm thầy a.

Phẩm hạnh sánh Bá Di,

Trồng làm gương mẫu a.”

Khuất Bình ngâm liền ba lượt, những câu đặc biệt còn lặp lại nhiều lần, cuối cùng, sau một tiếng khánh ngân vang, bản nhạc liền kết thúc.

Tô Tần đang ngồi ngay ngắn, nhắm mắt ngưng thần, nghe đến si mê. Thấy bản nhạc đã dứt, mọi người xuýt xoa khen ngợi, Tô Tần mới từ từ định thần trở lại, hết lời thán phục: “Hay cho câu ‘lánh đời đứng cô độc, ngang dòng chẳng theo dòng’; ‘giữ đức không tư dục, sánh ngang đất trời’, quả là một bài từ tuyệt diệu!” Rồi đứng dậy, đi tới gần Khuất Bình, lại quan sát kỹ lưỡng một hồi, vô cùng cảm khái, liên tiếp gật đầu. “Than ôi, nghe được nhạc này, từ này, Khuất Bình hoàn toàn đã có thể gọi là ‘Tử’ được rồi! Xin hỏi Khuất Tử, khúc từ này xuất phát từ đâu?”

“Khởi bẩm Tô đại nhân!” Khuất Bình đứng dậy, vòng tay đáp lễ. “Khúc từ này là do vãn sinh làm ra từ ba năm trước, tại vườn quất gần hàn xá tại quê nhà!”

“Ba năm trước, Khuất Tử mới có mười ba tuổi, đã có thể sáng tác được bài từ tuyệt diệu nhường này, lại ví phẩm hạnh với Bá Di, có thể thấy Khuất Tử tuổi nhỏ chí lớn, tương lai chắc chắn sẽ có thành tựu!”

“Đa tạ đại nhân khen ngợi!”

“Nghe tư mã đại nhân nói, Khuất Tử mới từ dưới quê tới. Dám hỏi Khuất Tử, quê nhà ở đâu?”

“Thôn Nhạc Bình, Khuất Ấp, Đan Dương.”

“Đan Dương?” Tô Tần gật gù. “Đan Dương là đất được phong của tổ tiên nước Sở, bài từ của Khuất Tử, chính là phong thái đất Sở đích thực! Đất Sở mở rộng về phía đông, nên phía tây Đan Dương hẳn là đất Ba rồi!”

Thân phụ của Khuất Bình là Khuất Văn, Khuất Văn và Khuất Vũ có cùng chung tổ phụ là Khuất Nghi Cữu, vì vậy nên hai người là anh em họ cách đời. Khuất Nghi Cữu phản đối Ngô Khởi biến pháp, sau khi Ngô Khởi phục bên xác vua mà bị bắn chết, Khuất Nghi Cữu cũng liên luỵ mà bị giết, nhà họ Khuất cũng suy theo. Con của ông ta là Khuất Ly trở về đất tổ Đan Dương, sinh ra con là Khuất Văn. Khuất Văn sinh ra Khuất Bình, sau lấy tên tự là Nguyên. Khuất Bình tuổi còn nhỏ đã mang tráng chí. Năm mười hai tuổi, Khuất Văn lâm bệnh qua đời. Năm mười ba tuổi, viết bài “Quất tụng” để giãi bày tâm chí. Lần này Khuất Bình vì chuyện của nước Ba mà đến Sính, nhờ cậy Khuất Vũ, song cũng không hoàn toàn chỉ vì Ba, Thục, mà là muốn tìm cơ hội để triển khai chí lớn của mình.

Lúc này gặp được Tô Tần, lại thấy Tô Tần nhắc đến nước Ba, Khuất Bình đương nhiên không chịu bỏ qua cơ duyên trước mắt, vội gật đầu nói: “Đại nhân nói rất đúng, lần này vãn sinh đến, chính là vì chuyện của Ba, Thục!”

“Ồ?” Tô Tần ngạc nhiên. “Ba, Thục có chuyện gì?”

“Ba, Thục xảy ra chuyện lớn rồi!” Khuất Bình chau đôi mày thanh tú, dõng dạc giải thích. “Mấy năm nay, nước Thục nội bộ lục đục, nhiều lần giao chiến, Thư Hầu không địch nổi, nên đành phải quay sang liên minh với nước Ba ở phía đông, cấu kết với nước Tần ở phía bắc, muốn tranh hùng với Thục Vương.”

Tô Tần cười lớn, nhìn thẳng vào Khuất Bình: “Khuất Tử, nước nhỏ mong tồn tại, ắt phải hoà hảo với lân bang. Người Thư kết giao với Tần, đó là hành động sáng suốt, cớ sao lại phải lo lắng đến vậy?”

“Đại nhân không biết đấy thôi,” Khuất Bình cũng nhìn thẳng vào Tô Tần, đáp, “người Thư đang dốc hết quốc lực, cùng người Ba phá núi mở đường, muốn nối thông với biên ải nước Tần. Ngoài ra, theo lời của người Ba, người Tần cũng đang bắc sạn đạo dọc theo đường sông trong núi Chung Nam. Từ Tần Xuyên đến đất Thư chừng một nghìn năm trăm dặm, muốn hoà hảo với láng giềng, có nhất thiết phải bắc sạn đạo dài đến vậy không?”

Nghe thấy lời này, mọi người thảy đều chấn động.

Tô Tần hai mắt nhìn chằm chằm vào Khuất Bình không chớp. Tuổi còn nhỏ như vậy, mà ăn nói mạch lạc, lý lẽ rõ ràng, hơn nữa có thể nhìn bề ngoài mà thấu suốt viễn cảnh dài lâu, tuyệt đối không phải hạng tầm thường.

Tuy nhiên, hiện giờ, điều khiến Tô Tần thấy hào hứng hơn cả, rõ ràng không phải là Khuất Bình, mà là Ba, Thục, bèn chau mày hỏi: “Người Thư đã đánh lui quân Thục, giờ lại phá núi mở đường, chắc hẳn phải có nguyên do!”

“Theo lời của người Ba, Tần Công tặng cho người Thư năm con trâu đá, mỗi con nặng cả ngàn cân. Người Thư mở đường, là nhằm vận chuyển trâu đá về nước.”

“Trâu đá?” Công tử Ngang nổi lòng hiếu kỳ, bèn nhổm người về phía trước hỏi. “Người Thư lấy trâu đá để làm gì?”

“Hồi bẩm công tử,” Khuất Bình quay sang công tử Ngang đáp. “Ba, Thục quý vàng, theo lời của người Thư, những con trâu đá này có thể đại tiện ra vàng, mỗi lần cho ra một đống lớn. Thái tử nước Thư là Thông Quốc đi sứ sang Tần kết tình hoà mục, đã được Tần Công tặng cho trâu đá. Người Thư muốn chuyển về để nó đại tiện ra vàng!”

Nghe thấy câu chuyện hoang đường đến vậy, tất cả mọi người đều ngẩn người, đến khi định thần trở lại, thảy đều cười ngặt nghẽo.

Tô Tần trầm ngâm suy nghĩ, linh tính cho Tô Tần biết, câu chuyện mà cậu thiếu niên kia vừa kể chính là điểm mấu chốt của vấn đề. Trâu đá chắc chắn là kế của người Tần hòng thôn tính Ba, Thục, hơn nữa theo phán đoán của Tô Tần, người nghĩ ra kế này, ắt hẳn là Trương Nghi. Lại suy nghĩ kỹ hơn, Tần muốn chiếm Ba, Thục, là tránh thực đánh hư, vừa có thể né được mũi nhọn hợp tung của liệt quốc Sơn Đông, lại có thể tích luỹ thế lực, dành để ngày sau. Trong tình thế hiện tại, quả nhiên là một đối sách thông minh rất khả thi. Đồng thời, nếu nói khách quan, việc này của Trương Nghi, ngược lại cũng đã thành toàn cho đại nghiệp hợp tung của Tô Tần. Tuy nhiên, dùng trâu đá vãi phân vàng để lừa người Thư, đến kế này mà Trương Nghi cũng nghĩ ra được. Vậy mà người Thư vẫn tin răm rắp, lại còn hao tài tốn của phá núi mở đường để rước hổ về nhà, thực là chuyện khó lòng tưởng tượng!

Nghĩ đến đây, Tô Tần trong lòng đã trấn tĩnh trở lại, đột nhiên nhớ tới Khuất Bình, có ý muốn thử tài, nên khẽ mỉm cười, quay sang hỏi: “Khuất Tử có tin vào chuyện này chăng?”

“Vãn sinh không tin!” Khuất Bình lắc đầu quầy quậy. “Vãn sinh cho rằng, người Tần làm vậy là có dụng tâm!”

“Ồ?” Tô Tần nhìn thẳng vào Khuất Bình. “Xin hỏi Khuất Tử, người Tần có dụng tâm gì?”

“Thôn tính Ba, Thục!” Khuất Bình đáp ngay không chút ngần ngừ, giọng nói rành rọt, nhấn mạnh từng chữ, ánh mắt kiên nghị, hoàn toàn không ăn nhập với lứa tuổi chưa đầy mười sáu.

Khuất Bình tuổi nhỏ mà đã có được nhãn quang thời thế mẫn tiệp đến vậy, khiến Tô Tần không khỏi kinh tâm, nhìn sững vào Khuất Bình hồi lâu rồi mới gật gù, quay trở về chỗ ngồi ngay ngắn, rồi quay sang Khuất Vũ, ôm quyền vái mà nói: “Kiến giải của Khuất Tử, tư mã đại nhân cảm thấy thế nào?”

“Cái nhìn của trẻ nít, đã khiến Tô Tử cười chê rồi!” Khuất Vũ khẽ ôm quyền, cười lớn mà nói.

“Không! Không!” Tô Tần lắc đầu, đưa mắt nhìn Khuất Bình đầy tán thưởng, rồi quay sang Khuất Vũ. “Tư mã đại nhân, tại hạ cho rằng, ý kiến của Khuất Tử tuyệt đối không phải nói đùa. Ba, Thục nằm ở thượng nguồn của nước Sở, nếu người Tần muốn thôn tính Sở, chắc chắn sẽ phải chiếm Ba, Thục trước. Nói cách khác, Tần diệt xong Ba, Thục, chắc chắn sẽ thôn tính Sở. Chuyện khác chưa nói tới, tại hạ chỉ xin tư mã đại nhân hãy nghĩ đến một chuyện: Từ Sở vào Ba, Thục, đi thuyền ngược dòng, khó khăn lắm thay. Từ Ba, Thục vào Sở, chỉ xuôi dòng mà xuống, thuyền đi ngàn dặm băng băng!”

Lời vừa nói ra, mọi người thảy đều kinh hãi.

“Đúng thế, đúng thế!” Được Tô Tần khẳng định, Khuất Bình rất đỗi cảm kích, liên tiếp gật đầu. “Đại nhân nói rất đúng, đây chính là điều mà Khuất Bình đang nghĩ!”

Khuất Vũ bất giác rùng mình ớn lạnh, lại suy nghĩ kỹ càng một lượt, càng nghĩ càng thấy khiếp đảm, liền vòng tay hỏi: “Nếu quả là vậy, chúng tôi nên ứng phó thế nào?”

“Hợp tung chống Tần, khiến Tần không thể không nhìn trước ngó sau!”

Khuất Vũ nhắm mắt suy nghĩ một hồi, rồi ngẩng đầu nói: “Việc bang giao, vốn không thuộc quyền quyết định của phủ Tư mã, nhưng hiện giờ họ Chiêu đang có tang, sự việc cấp bách, tại hạ đành phải vượt quyền làm thay vậy. Sáng sớm mai, tại hạ sẽ dẫn chư vị tới yết kiến điện hạ, Bình Nhi cũng đi, trực tiếp phân tích lợi hại với điện hạ!” Dừng lại một chút, lại tiếp lời. “Xin hỏi Tô Tử, sắp xếp như vậy có thoả đáng chăng?”

Tô Tần vòng tay vái tạ: “Đa tạ tư mã đại nhân!”

Ngày hôm sau, tả tư mã Khuất Vũ đúng như ước hẹn, dẫn theo Tô Tần, các vị công tử, công tôn cùng Khuất Bình đến yết kiến điện hạ. Khuất Vũ để mọi người đợi ở bên ngoài, còn mình đi thẳng vào chính điện, tâu bày một lượt về tình thế Ba, Thục.

Thái tử Hoè quả nhiên kinh hãi, lập tức tuyên gặp Khuất Bình.

Thái tử Hoè đã biết qua tình thế Ba, Thục, bèn liên tục hỏi vặn Khuất Bình, thấy Khuất Bình đối đáp ung dung, xuất khẩu thành chương, thì rất đỗi hài lòng. Khuất Vũ nhân cơ hội nói thêm vào, khoe rằng cháu mình giỏi từ chương âm nhạc, tài nghệ song toàn. Thái tử Hoè vô cùng yêu mến, lập tức hỏi Khuất Bình có muốn lưu lại trong cung kề cận bên mình, làm thị tùng văn học trước điện chăng. Khuất Bình vui mừng quá đỗi, liền quay sang nhìn bá phụ. Hiện giờ nhà họ Chiêu đang đắc sủng, nếu Khuất Bình có thể thường xuyên hầu bên thái tử, đợi khi bệ hạ trăm năm khuất núi, thái tử kế vị ngai vàng, Khuất Bình hẳn sẽ có thể thi thố tài năng, có lợi cho cả gia tộc họ Khuất. Lần này Khuất Vũ giới thiệu Khuất Bình với thái tử, cũng là có ý đó, giờ thấy thời cơ đã đến, lập tức cùng Khuất Bình khấu đầu tạ ơn. Thái tử Hoè cả mừng, gọi Ngận Thượng đến, lệnh cho hắn sắp xếp chu đáo việc của Khuất Bình.

Thấy Ngận Thượng đến, Khuất Bình từ từ lui ra. Thái tử Hoè bèn ngoảnh đầu khen ngợi: “Nhà họ Khuất có được anh tài như vậy, thật đáng mừng!”

Khuất Vũ khấu đầu nói: “Tiểu điệt được điện hạ chiếu cố, thực may mắn cho nó!”

“Khuất ái khanh!” Thái tử Hoè chuyển sang chuyện khác. “Sự việc Ba, Thục vô cùng nghiêm trọng. Năm ngoái khi Trương Nghi còn ở đây, đã nhiều lần nói về chuyện Ba, Thục, bản cung sớm đã có ý muốn chiếm lấy, từng tâu lên phụ vương, song phụ vương lại vẻ như không sốt sắng. Nay người Tần đã lộ rõ ý đồ, Ba, Thục nội bộ tranh chấp, tình thế không thể trì hoãn thêm được nữa. Đối phó thế nào, Khuất ái khanh đã có kế sách hay chưa?”

“Khởi bẩm điện hạ!” Khuất Vũ vòng tay đáp. “Đối phó thế nào, điện hạ có thể hỏi Tô Tần!”

“Ồ!” Thái tử Hoè ngẩng đầu nhìn Khuất Vũ. “Nghe lời ái khanh, hình như đã gặp Tô Tử?”

“Điện hạ thánh minh!” Khuất Vũ đáp. “Vi thần đã gặp Tô Tử, và cũng đã dẫn vào cung, hiện đang ở thiên điện chờ chỉ yết kiến!”

Thái tử Hoè khẽ thở dài một tiếng, gật đầu nói: “Nếu như đã đến, vậy hãy mời vào!”

Nội thần tuyên triệu, Tô Tần lập tức bước vào, khấu đầu hô: “Đặc sứ năm nước Tô Tần khấu kiến điện hạ!”

“Tô Tử hãy bình thân, mời ngồi!” Thái tử Hoè nói.

Tô Tần đa tạ xong, rồi đứng dậy, ngồi vào vị trí khách. Không đợi Tô Tần lên tiếng, thái tử Hoè đã mỉm cười, liên tục vòng tay tỏ ý tạ lỗi: “Về việc hợp tung, bản cung vốn hẹn ba ngày sau sẽ hồi đáp Tô Tử. Thế nhưng... hẳn là Tô Tử cũng đã biết, Chiêu ái khanh đang có đại tang, bản cung vẫn chưa thể bàn bạc việc này trước triều đình, vì vậy chưa thể bẩm tấu với bệ hạ, thật vô cùng tạ lỗi!”

“Điện hạ bất tất phải khách khí!” Tô Tần vái đáp lễ. “Tuy nhiên, theo như Tần thấy, cho dù điện hạ có bàn chuyện này, lệnh doãn đại nhân cũng chưa chắc đã đồng ý!”

“Ồ!” Thái tử Hoè ngẩn người. “Cớ sao Tô Tử lại nói vậy?”

“Lệnh doãn đại nhân đã chuẩn bị xong xuôi mọi việc, một lòng muốn phạt Ngụy, báo mối thù Hình Sơn, đương nhiên sẽ không đồng ý hợp tung!”

“Tô Tử nói rất phải!” Thái tử Hoè gật đầu. “Mấy năm trước, người Ngụy chiếm đoạt Hình Sơn của ta, chém hơn sáu vạn tướng sĩ của ta, trong triều ngoài nội ai cũng sôi sục chí phục thù. Chiêu ái khanh tấu xin phạt Ngụy, bệ hạ cũng đã đồng ý, ba quân chỉ đợi ngày xuất chinh, như mũi tên đã trên dây cung, nếu đột ngột thu cung, nhất thời khó lòng xử trí!”

“Điện hạ, mũi tên này nếu bắn đi, hậu quả sẽ rất khó lường!”

“Ồ?” Thái tử Hoè vội hỏi. “Xin hỏi Tô Tử, có hậu quả gì?”

“Điện hạ còn nhớ trận đại chiến Hà Tây chăng? Ngụy Hầu một lòng cậy mạnh, xưng vương phạt nước yếu, đối địch với liệt quốc Sơn Đông. Kết quả thế nào? Đến một nước Vệ yếu ớt cũng không chiếm nổi nửa tấc đất, ngược lại bảy trăm dặm Hà Tây lại bị người Tần đoạt mất. Đó là còn chưa kể tám vạn võ binh Đại Ngụy thiệt mạng, mấy chục vạn người dân Đại Ngụy bỗng chốc trở thành người Tần. Điện hạ, không quên việc trước, làm gương cho việc sau!”

Đã từng đích thân tham gia triều hội Mạnh Tân, toàn bộ quá trình Công Tôn Ưởng mưu đoạt nước Ngụy, thái tử Hoè là người hiểu rõ nhất, mỗi khi nghĩ lại vẫn còn chưa hết ớn lạnh. Vì vậy Tô Tần vừa nhắc đến chuyện này, thái tử Hoè lập tức đồng cảm, gật đầu nói: “Hỡi ôi, liệt quốc Sơn Đông đều đã nhập tung, nước Sở vốn dĩ chẳng còn lựa chọn nào khác. Có điều, than ôi, không giấu Tô Tử, quả thực là bản cung đã bẩm báo chuyện hợp tung với bệ hạ từ lâu, nhưng mấy ngày nay, bệ hạ chỉ một lòng mê đắm với thuốc bất tử, chẳng để tâm đến triều chính nữa.”

“Thuốc bất tử?” Tô Tần, Khuất Vũ đều ngẩn người kinh ngạc.

Thái tử Hoè bèn kể lại một lượt về chuyện Thương Ngô Tử, rồi liên tục thở than.

Tô Tần ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi ôm quyền cười nói: “Nếu bệ hạ vì chuyện bất tử, Tô Tần lại có một phương thuốc có sẵn. Tô Tần có ý muốn yết kiến bệ hạ, khẩn cầu điện hạ dẫn dắt.”

“Hay lắm!” Thái tử Hoè lập tức đứng dậy. “Đi, chúng ta cùng đi yết kiến!”

Nói đoạn, thái tử Hoè dẫn mọi người đi thẳng tới đài Chương Hoa.

Hôm nay cũng đúng là ngày đan dược bất tử luyện thành, nhưng Thương Ngô Tử lại không cho phép bất kỳ ai được nhìn cảnh đan dược ra lò. Sở Vương lòng như lửa đốt, đang đi đi lại lại trong đình Quan Ba, thì nội thần tiến vào bẩm báo, điện hạ dẫn theo đặc sứ năm nước Tô Tần và các vị phó sứ của liệt quốc lên đài yết kiến.

Uy Vương vốn chẳng có lòng dạ nào mà tiếp khách, nhưng nghĩ tới Tô Tần là đặc sứ của năm nước, nay đã tìm đến tận đây, nếu tiếp tục thoái thác, việc này để truyền ra ngoài sẽ không hay. Hơn nữa tiên đan vẫn chưa biết lúc nào mới ra lò, mình cứ ngồi ở đây khắc khoải đợi chờ, cũng thấy khó chịu, chi bằng hãy tìm người nói chuyện cho khuây khoả. Nghĩ đến đây, Uy Vương bèn cho triệu kiến.

Thái tử Hoè và đám Tô Tần rảo bước đi vào, Uy Vương đứng dậy nghênh đón. Hành lễ xong xuôi, Uy Vương và mọi người cùng trở lại đình, phân ngôi quân thần ngồi xuống.

Uy Vương vòng tay nói: “Quả nhân từ lâu đã được nghe đại danh của Tô Tử, khác nào nghe tiếng thánh hiền. Nay Tô Tử đến thăm, hẳn là có chỗ chỉ giáo quả nhân?”

“Bệ hạ khách khí rồi!” Tô Tần vòng tay đáp lễ. “Tô Tần đến Sở đã được mấy ngày, nay muốn trở về Trung Nguyên, nên đến để cáo từ bệ hạ!”

“Ồ?” Uy Vương thoạt tiên thoáng sững sờ, sau đó cười vang mà nói. “Chư vị đặc sứ đường xa đến đây, trải bao vất vả, cớ sao lại không ở lại Kinh Sở thêm vài ngày nữa?”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng, liên tiếp lắc đầu. “Đa tạ thịnh tình của bệ hạ! Nhưng Tô Tần thực sự không thể ở nổi nữa!”

Uy Vương ngạc nhiên, quay sang nhìn thái tử Hoè, thấy thái tử cũng mặt mày ngơ ngác, lại quay sang Tô Tần hỏi: “Tô Tử cớ sao lại nói vậy?”

Tô Tần cao giọng đáp: “Kinh Sở là thượng quốc quỷ địa, thức ăn giống như châu ngọc, củi gỗ giống như lan quế, đại thần giống như thần long, bệ hạ giống như thiên đế. Bệ hạ thử nghĩ xem, Tô Tần và sứ thần liệt quốc có hơn một vạn người, ngày ngày đều ăn châu ngọc, đốt lan quế, đợi chờ thần long, mong ngóng thiên đế, làm sao có thể ở nổi đây?”

“Ha ha!” Uy Vương cười mấy tiếng gượng gạo, liên tiếp vòng tay tạ lỗi. “Nghe đồn Tô Tử giỏi ăn nói, nay quả nhân đã được lĩnh giáo rồi!” Rồi thở dài một tiếng, liếc nhìn khắp lượt mọi người, nửa như chữa thẹn, nửa như giải thích. “Than ôi, quả nhân già rồi, từ lâu đã trao lại việc nước cho thái tử và quần thần. Lần này chư vị đến là vì quốc sự, quả nhân biết việc nước nặng hơn việc riêng, vì vậy vốn dĩ định đợi chư vị xử lý xong việc nước sẽ đến thỉnh giáo, nên đã không được chu đáo với chư vị!” Rồi quay sang Thái tử Hoè. “Tất cả chi tiêu hàng ngày của chư vị đặc sứ cùng tuỳ tùng, đều do quốc khố cung cấp!”

“Nhi thần tuân chỉ!”

Uy Vương quay sang Tô Tần, vòng tay nói: “Quả nhân khẩn cầu Tô Tử hãy nán lại mấy hôm, một là để thưởng thức phong vật phương nam, hai là để quả nhân có cơ hội được thỉnh giáo!”

“Đa tạ bệ hạ khoản đãi!” Tô Tần vòng tay đáp lễ. “Bệ hạ đã hạ chỉ, Tô Tần chỉ còn cách tuân theo!”

“Tốt! Tốt lắm!” Uy Vương cười vang mấy tiếng, đang định nói tiếp thì nội thần đi vào, ghé sát tai hạ giọng bẩm báo: “Bệ hạ, tiên đan đã ra lò!”

“Ồ!” Uy Vương mừng quýnh, đứng bật ngay dậy, song cảm thấy thất thố, lại ngồi xuống, do dự một lúc, rồi quay sang nội thần giục. “Mau truyền tiên ông, cấp tốc mang tiên đan đến!”

Sau khi nội thần đi khỏi, Uy Vương không kiềm chế nổi niềm hưng phấn trong lòng, quay sang cười vang với đám Tô Tần: “Chư vị đến thật đúng lúc! Đợi lát nữa, quả nhân sẽ mời chư vị cùng xem kỳ bảo trên đời!”

Chưa đến một khắc sau, quả nhiên nội thần đã dẫn Thương Ngô Tử rảo bước đi tới. Thương Ngô Tử ngạo nghễ bước thẳng qua cửa điện, thình lình nhìn thấy trong đình khách khứa đông đảo, thần tình thoáng chút hoảng loạn, nhưng lập tức định thần trở lại, không hề quỳ xuống khấu bái, chỉ vòng tay hờ hững: “Thảo dân Thương Ngô Tử tham kiến bệ hạ!”

Tô Tần nhìn chằm chằm vào Thương Ngô Tử, quan sát kỹ lưỡng từ đầu đến chân, thấy người này ánh mắt láo liên, thần chí bất định, vốn dĩ chẳng giống người đắc đạo. Lại thấy hai dái tai rủ xuống tận vai, hai hàng lông mày trắng vừa dài vừa rậm, rất đỗi lạ lùng, suy nghĩ một lúc, trong lòng đã có sẵn chủ ý.

“Tiên đan đâu?” Uy Vương cũng chẳng đáp lễ, hai mắt nhìn chòng chọc vào Thương Ngô Tử.

Thương Ngô Tử lấy từ trong tay áo ra một bình ngọc: “Khởi bẩm bệ hạ, tiên đan ở trong này!”

Nội thần bước tới, hai tay nhận lấy bình ngọc, trình lên Uy Vương.

Uy Vương đổ tiên đan vào lòng bàn tay ngắm nghía, chặc lưỡi xuýt xoa liền mấy tiếng, rồi quay sang cười vang với đám Tô Tần: “Chư vị hãy nhìn xem, đây chính là kỳ bảo mà quả nhân vừa nhắc tới, tiên đan bất tử!”

“Tiên đan bất tử?” Tô Tần mỉm cười, mắt nhìn Uy Vương. “Trên đời thực sự có vật này, quả là kỳ lạ!”

“Xin bệ hạ hãy phục thuốc!” Thương Ngô Tử sang sảng cất lời.

Nội thần dâng nước trắng lên, Uy Vương đang định uống tiên đan, thì Tô Tần đột nhiên đưa tay cản lại: “Bệ hạ khoan đã!”

Uy Vương ngạc nhiên, nhìn sững vào Tô Tần.

Tô Tần quay đầu lại, ánh mắt sắc sảo nhìn xoáy vào Thương Ngô Tử, một lúc sau, thì chậm rãi đứng dậy, đi tới trước mặt Thương Ngô Tử, rồi thình lình vung tay, nhanh như chớp lột phăng một bên lông mày của ông ta xuống, nghiêm giọng quát lớn: “Tiên ông cái gì? Điêu dân quả nhiên to gan lớn mật, dám vào tận cung đình giở trò dối trá, lừa gạt cả bệ hạ, ngươi coi Đại Sở là chỗ không người ư?”

Thương Ngô Tử không kịp đề phòng, sắc mặt trắng bệch, vội đưa tay ôm lấy đám lông mày bên kia, tay còn lại chỉ vào Tô Tần, lắp bắp không thành tiếng: “Ngươi... ngươi... ngươi là... là ai?”

Tô Tần đâu chịu bỏ qua, tiếp tục vung tay, giật đứt phăng cái dái tai dài thượt bên trái, ném thẳng xuống đất.

Mọi người đều nhìn thấy rõ, đó là chiếc dái tai giả được làm từ một thứ keo.

Thương Ngô Tử quay người định chạy, nhưng công tử Ngang đã phát hiện ra ý đồ, quát lớn một tiếng, phi thân lao tới, túm chặt lấy cánh tay gã, chỉ hơi vận lực, đã ấn gã bẹp gí sát đất. Thương Ngô Tử đau đớn luôn miệng kêu rên, dập đầu sát đất, người run như giẽ.

Biến cố xảy ra quá chóng vánh, cũng quá đột ngột, khiến tất cả những người có mặt đều sững sờ. Uy Vương người ngây như khúc gỗ, hồi lâu mới từ từ định thần lại được, chỉ tay vào Thương Ngô Tử: “Tiên... tiên ông...”

Thương Ngô Tử uy phong mất sạch, khấu đầu như giã tỏi: “Bệ... bệ hạ...”

Uy Vương từ từ quay đầu lại, nhìn vào Tô Tần.

Tô Tần cúi người nhặt lấy tai giả và lông mày giả ở dưới đất, hai tay trình lên. Nội thần nhận lấy rồi trình cho Uy Vương, đặt lên mặt bàn phía trước.

Uy Vương hai mắt chằm chằm nhìn vào dái tai giả và lông mày giả, sắc mặt dần tím tái, toàn thân run lên bần bật, chỉ tay vào Thương Ngô Tử: “Nói! Ngươi là ai? Cớ sao lại lừa quả nhân?”

“Thảo... thảo dân là... là người Tây Lăng, vốn... vốn đi bán thuốc... kiếm... kiếm ăn trên phố, sau đó... sau đó gặp... gặp được một vị đại... đại nhân, dạy... dạy thảo dân cách... cách luyện đan dược... bất tử!”

“Vị đại nhân nào?”

“Thảo... thảo dân không... không... không...”

Uy Vương nhổm người quát lớn: “Có phải là vị đại nhân đã dẫn ngươi đến?”

Thương Ngô Tử gật đầu lia lịa.

Uy Vương thở hắt ra một hơi dài, đập bàn quát lớn: “Nói mau! Hắn là người nào?”

Thương Ngô Tử toàn thần rúm ró, lắp bắp nói: “Là... là Trần... Trần... Trần đại nhân!”

“Có phải là Trần Chẩn?” Thái tử Hoè nghiêm giọng quát hỏi.

“Chính... chính là Trần Chẩn... Trần đại nhân!”

Uy Vương ngây người chết sững, suy nghĩ một lúc, cười nhạt một tiếng, quay ra ngoài quát: “Người đâu!”

Lập tức có hai võ sĩ từ ngoài cửa chạy xộc vào, mỗi người một bên, giữ cứng lấy Thương Ngô Tử.

Uy Vương ném viên thuốc trong tay xuống, gằn mạnh từng tiếng: “Cho hắn uống thuốc này, rồi lôi ra ngoài, chém!”

Võ sĩ nhặt viên thuốc lên, không nói không rằng, lập tức nhét vào miệng Thương Ngô Tử, ép gã nuốt xuống, sau đó lôi xềnh xệch đi.

Thương Ngô Tử kinh hãi đến vỡ mật, ra sức giãy giụa, kêu xin tha mạng.

Uy Vương liếc nhìn gã, cười nhạt một tiếng, nói: “Thương Ngô Tử, ngươi đã là người đắc đạo, lại uống thuốc bất tử, còn sợ chết hay sao? Lôi đi!”

Võ sĩ chém đầu xong, đặt thủ cấp Thương Ngô Tử vào trong mâm, trình lên phục mệnh.

Uy Vương quay mặt đi, xua tay nói: “Mang treo thị chúng. Dán cáo thị, phàm những kẻ khi quân, kết cục đều như kẻ này!”

Võ sĩ bưng lấy mâm, vâng lệnh rời đi.

Uy Vương quay đầu lại, sắc mặt có phần hổ thẹn, liên tiếp ôm quyền mà nói: “Thật hổ thẹn, hổ thẹn! Nếu không phải nhờ Tô Tử, quả nhân đã bị kẻ gian che mắt mất rồi!”

Tô Tần vòng tay đáp: “Kẻ che mắt bệ hạ là người Tần, không phải gã tiên giả kia!”

Uy Vương gật đầu nói: “Phải, Tô Tử nói đúng lắm!” Rồi quay sang thái tử Hoè. “Hoè Nhi, khách khanh nước Tần ở Sính đã được mấy năm, cũng nên để ông ta trở về phục mệnh quân chủ đi thôi!”

“Nhi thần tuân chỉ!”

Uy Vương chậm rãi quay đầu lại, nhìn sang Tô Tần và mấy vị phó sứ: “Chư vị hôm nay đến yết kiến quả nhân, hẳn là vì chuyện hợp tung. Việc này không cần bàn nữa, quả nhân chấp thuận!” Rồi quay sang thái tử Hoè. “Về việc hợp tung, sẽ làm theo thông lệ của liệt quốc tung thân, sự việc cụ thể, giao cho con thực hiện! Chư vị hãy ngồi đi, quả nhân mệt rồi!” Nói đoạn, chậm chạp đứng dậy, dáng vẻ buồn bực, cất bước rời đi.

Nội thần vội chạy tới, thận trọng đỡ lấy tay Uy Vương.

Mọi chuyện diễn ra nhanh đến chóng mặt, lại đơn giản nhường này, thái tử Hoè, Tô Tần và các vị công tử, công tôn đều quay mặt nhìn nhau, ngẩn ngơ mất một lúc mới định thần lại được, khấu đầu tạ ân, đưa mắt nhìn theo Uy Vương và nội thần lảo đảo đi xuống đài Quan Ba.

Ngày hôm sau, thái tử mở đại triều trong cung Sở, tuyên đọc chiếu lệnh của Sở Uy Vương, tấn phong Tô Tần là đặc sứ hợp tung của nước Sở. Công tử Như, em ruột của thái tử Hoè, làm phó sứ hợp tung, cùng nghị sự về chuyện hội thề, cùng năm nước Sơn Đông tung thân đối kháng người Tần.

Đồng thời với lúc này, trong vòng áp giải của một đoàn đông đảo giáp sĩ nước Sở, mười mấy cỗ xe ngựa của Trần Chẩn giương cờ hiệu Tần, lộc cộc chạy ra cổng bắc của Sính Đô, hoảng hốt ruổi thẳng về phía tây bắc.

Hồi Thứ 46

Đặc sứ sáu nước bàn chuyện hội thề

Cung Sở hai tướng hiến kế chinh phạt

Khi mai táng cho Giang Quân phu nhân, Chiêu Dương bất chấp sự phản đối của người trong tộc, đã thả hết đồng nam đồng nữ, rồi dùng xe ngựa tượng gốm để thay thế.

Chiêu Dương là lệnh doãn, Chiêu môn là vọng tộc, hành động này rõ ràng là tuyên bố từ bỏ chế độ tuẫn táng người sống của tổ tiên. Tuẫn táng người sống hại người đã lâu, dân chúng Sính Đô nhanh chóng truyền tai nhau, ai nấy đều hoan hỷ. Nhà của ba mươi hai đứa trẻ kia lại càng cảm tạ ơn đức, tất cả đều để tang cho Giang Quân phu nhân, chẳng khác nào đám tang ông bà mình, còn tự nguyện dựng lều cỏ để canh mộ cho lão phu nhân.

Hành động này của Chiêu Dương không những được lòng dân, mà bất ngờ hơn nữa, lại được Sở Uy Vương hết lời khen ngợi. Sau khi chôn cất mẫu thân được một hôm, thái tử Hoè cùng nội thần của Uy Vương đã đến tận phủ, mang tặng một tấm biển vàng, trên đề bốn chữ “Hậu đức chí thuần”, thoạt nhìn đã biết là tự tay Sở Vương viết tặng.

Hình Tài đang cùng thuộc hạ treo biển, thì môn nhân dẫn theo một người áo đen cấp tập đi vào. Người áo đen đi thẳng tới trước mặt Hình Tài, ghé sát tai thì thầm một hồi, sau đó lại rút từ trong tay áo ra một bức mật thư, hai tay dâng lên.

Hình Tài hết sức hãi hùng.

Chiêu Dương vừa tiễn điện hạ và nội thần đi khỏi, quan tư bại Hạng Lôi liền tìm đến. Chiêu Dương vui vẻ quay ra đón tiếp, dắt tay Hạng Lôi vào phòng khách, người hầu bèn dâng trà lên. Hạng Lôi đến là để canh linh vị cho cô, nên vừa đến đã thay tang phục, toan đến thẳng linh đường.

Chiêu Dương bưng chén trà lên, khẽ nhấp một ngụm, rồi liếc mắt nhìn Hạng Lôi: “Em họ sao không nhấp ngụm trà rồi đi cũng chưa muộn?”

Hạng Lôi nhận ra trong lời nói có ẩn ý, liền quay lại ngồi xuống, nâng chén trà lên nhưng không uống, băn khoăn nhìn Chiêu Dương, rồi hỏi thăm dò: “Nhìn khí sắc của anh họ, dường như là có việc tốt?”

“Ừm, cũng coi như là việc tốt!”

“Dám hỏi anh họ, là việc tốt gì?”

Chiêu Dương đem chuyện điện hạ tặng biển kể lại một lượt, rồi cười nói: “Chao ôi, nói đến chuyện này, thực sự phải cảm tạ Tô Tử. Hôm đó Tô Tử đến viếng, mở miệng ra là khuyên ta nên đổi thay phong tục, thả cho đồng nam đồng nữ được sống. Nói thực, lúc đó ta rất không vui, không hề muốn bằng lòng, nhưng tình thế lúc đó thực vạn bất đắc dĩ, một là nể mặt chư vị công tử, công tôn của liệt quốc, hai là lời lẽ của Tô Tử sắc tựa lưỡi dao, anh họ không thể phản bác được, nên đành phải miễn cưỡng đồng ý. Thật không thể ngờ được, sau sự việc này, không những người dân Kinh mang ơn đội đức, mà ngay cả bệ hạ cũng...” Dừng lại, vẻ dương dương đắc ý tợp một ngụm trà, khoé miệng lộ nét cười hoan hỷ.

“Xin chúc mừng anh họ!” Hạng Lôi vòng tay chúc tụng. “Việc này quả thực rất đáng mừng, ngu đệ sẽ lập tức viết thư cho gia phụ. Mấy ngày hôm nay, gia phụ lúc nào cũng buồn bực khó chịu, suốt ngày than thở, rằng chúng ta không tuẫn táng người sống cho cô là bất hiếu. Nếu như gia phụ biết được bệ hạ tự tay đề biển, lại phái điện hạ đích thân đến tặng để biểu dương lòng chí hiếu, không biết sẽ nghĩ thế nào?”

“Ừm!” Chiêu Dương gật đầu. “Việc này phải giải thích rõ ràng cho cậu hiểu, nhờ cậy cả vào em họ đấy!”

Hạng Lôi đứng dậy, ngồi sang chiếc bàn bên cạnh, viết xong thư nhà, rồi gọi nô bộc tuỳ tùng đến, căn dặn hắn cấp tốc gửi về phủ của mình. Thấy Hạng Lôi đã ngồi về chỗ, Chiêu Dương liền khen ngợi: “Em họ hành sự thật nhanh gọn quyết đoán!”

Hạng Lôi mỉm cười, bưng chén trà lên chiêu một ngụm, rồi nói: “Lúc nãy anh họ có nhắc tới Tô Tần, ngu đệ cũng chợt nhớ ra một chuyện. Lúc nãy khi ngu đệ đến đây, trên đường có gặp tả đồ, nghe ông ta nói hôm qua Tô Tử đã đến đài Chương Hoa.”

“Ồ?” Chiêu Dương cả kinh, song cố làm ra vẻ trấn tĩnh, bưng chén trà lên. “Hắn đến đó bằng cách nào?”

“Là điện hạ dẫn đi, cùng đi còn có tả tư mã Khuất Vũ và đám sứ thần nước Ba. Nghe tả đồ nói, Tô Tử đúng là dị nhân, vừa đến đài Chương Hoa đã phát hiện ra pháp thuật giả mạo của Thương Ngô Tử. Bệ hạ trong cơn giận dữ, đã cho lôi Thương Ngô Tử ra chém...”

Chữ “đầu” còn chưa kịp ra khỏi miệng, chén trà trong tay Chiêu Dương đã “xoảng” một tiếng rơi xuống đất vỡ tan tành.

“Anh họ?” Hạng Lôi bối rối hỏi.

Chiêu Dương vội nói: “Mau, tả đồ còn nói những gì?”

“Nói rằng bệ hạ nghe theo lời Tô Tử, đã quyết định gia nhập tung thân rồi!”

Chiêu Dương chết lặng hồi lâu, hít ngược vào một hơi dài, rồi quay ra ngoài gọi lớn: “Người đâu!”

Đúng vào lúc này, Hình Tài đã đi đến trước cửa, bèn sải chân bước vào trong, đáp: “Có nô tài!”

Hình Tài hấp tấp bước lại gần, đang định hành lễ khấu kiến thì Chiêu Dương xua tay: “Mau, mời Trần thượng khanh!”

Nhưng Hình Tài dường như không nghe thấy, vẫn quỳ dưới đất, dập đầu gọi: “Chúa công...”

“Ngươi điếc rồi ư? Mau đi mời Trần thượng khanh!”

“Chúa công!” Hình Tài thấy có Hạng Lôi ở đó, ngần ngừ một thoáng mới nói. “Trần thượng khanh đi rồi!”

“Đi rồi?” Chiêu Dương đâu có chịu tin. “Ông ta đi đâu?”

“Đã trở về nước Tần!”

Chiêu Dương há hốc miệng trợn trừng mắt: “Về... về nước Tần rồi? Việc lớn nhường vậy, sao không đến cáo từ một tiếng?”

“Chúa công...” Hình Tài đưa mắt liếc nhìn Hạng Lôi, không nói nữa.

Hạng Lôi biết ý, bèn vòng tay nói: “Anh họ, cũng không còn sớm nữa, ngu đệ xin được đi hầu chuyện cô!” Đoạn lui ra khỏi phòng khách, rảo bước về phía linh đường.

Thấy Hạng Lôi đã đi xa, Hình Tài mới tiến lại gần mấy bước, nói khẽ: “Chúa công, bệ hạ đã xuống nghiêm chỉ, cho điện hạ phái người áp giải Trần thượng khanh ra khỏi Sính Đô, Trần đại nhân căn bản không thể chần chừ. Tuy nhiên, trước lúc lên đường, Trần đại nhân đã âm thầm sai thuộc hạ gửi cho chúa công một bức mật thư!” Rồi rút từ trong tay áo ra một bức thư, hai tay dâng lên. “Xin chúa công hãy đọc!”

Chiêu Dương nhận lấy bức mật thư, thấy vẫn niêm phong kín mít, liền mở ra đọc kỹ một lượt, rồi thẳng tay ném toẹt bức thư xuống đất, giọng rít qua kẽ răng: “Quân chó má!”

Hình Tài trong lòng giật thột: “Chúa công, Trần... Trần đại nhân... xảy ra chuyện gì ư?”

“Chó má!” Chiêu Dương nộ hoả đùng đùng, đập bàn quát lớn. “Bắt đầu từ hôm nay, ngươi phải gọi hắn là quân chó má!”

“Dám hỏi chúa công, quân chó má xảy ra chuyện gì ư?”

Chiêu Dương chỉ tay xuống đất: “Ngươi hãy tự xem đi!” Thấy Hình Tài cúi xuống nhặt lấy bức thư mình vừa ném xuống, cơn thịnh nộ lại bùng lên dữ dội. “Từ khi quân chó má đó đến đây đi sứ, bản công luôn coi hắn là tri kỷ, kết quả thì sao? Hắn bày mưu tính kế xúi giục bản công phạt Ngụy, chẳng qua chỉ vì nước Tần của hắn mà thôi! Bản công chuyện gì cũng nghe theo hắn, rốt cuộc đã thành nổi việc gì chưa? Nhiều lần hại ta đã đành, còn dám lừa cả mẫu thân ta uống tiên đan, chẳng trách mẫu thân ta...” Đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, lại quát tướng lên. “Thương Ngô Tử cái thá gì! Quân chó má đó rõ ràng biết kẻ kia chỉ là tiên giả, mà lại dẫn đến cố ý hại ta, ta thực có mắt như mù! Mẫu thân... mẫu thân, đứa con bất hiếu này đã hại mẫu thân rồi, mẫu thân!”

Chiêu Dương đau khổ đến không thiết sống, hết đấm ngực lại giậm chân, khóc rống lên thảm thiết.

Hình Tài vừa nghe ông ta kêu khóc, vừa đọc thư. Đợi đến khi tiếng khóc của Chiêu Dương dịu bớt, thì ông ta cũng đã đọc xong bức thư, khẽ đảo con ngươi vài vòng, thấy Chiêu Dương vẫn hai tay ôm đầu, đau đớn dằn vặt, liền hạ giọng bẩm tấu: “Chúa công, tiểu nhân có một câu, không biết có nên nói hay không?”

“Nói!”

“Đọc kỹ thư này, lời của quân chó má kia nghe cũng có lý. Bệ hệ suýt chút nữa uống nhầm tiên đan, chắc chắn sẽ trách tội chúa công. Quân chó má đó bảo chúa công cứ đổ hết tội lên đầu hắn, coi như cũng còn tử tế. Còn về việc đối phó với hợp tung, tiểu nhân cho rằng, chủ ý của quân chó má kia cũng có chỗ dùng được. Liệt quốc hội thề, ai là thủ lĩnh, ắt sẽ gây tranh chấp. Quân chó má kia kiến nghị chọn địa điểm hội thề tại Mạnh Tân...”

“Hừm, kẻ này dụng tâm thực hiểm ác, cố ý khiến Ngụy Sở tranh hùng, để cho người Tần được làm ngư ông đắc lợi!” Chiêu Dương căm hận mắng chửi. “Đồ chó má, đã đến nước này rồi mà vẫn muốn cắn người!”

“Chúa công, chó cắn người không đáng sợ, quan trọng là xem người bị nó cắn là ai?” Hình Tài cất giọng âm trầm.

“Ồ?” Chiêu Dương nhận ra ẩn ý trong lời nói, liền quay đầu lại.

“Theo ý lão nô, chúa công hãy tương kế tựu kế, muốn bắt phải thả, tiếp tục nghe lời quân chó má kia thêm một lần, thúc giục các nước tung thân hội thề tại Mạnh Tân, cực lực khuyên bệ hạ nhường chức thủ lĩnh cho Ngụy Vương, lợi dụng sức của sáu nước, đặc biệt là nước Ngụy, trước tiên diệt Tần, rồi sau đó...”

Chưa đợi Hình Tài nói xong, Chiêu Dương đã lập tức hiểu ý, nắm tay nện mạnh xuống mặt bàn: “Hay!” Lại ngẫm nghĩ thêm một lát. “Hình Tài khá lắm, kế này tuyệt diệu! Đợi tới khi bản công đánh tới Hàm Dương, bắt sống con chó kia, xem ta sẽ lột da chó của nó, nấu thịt nó lên nhắm rượu. Còn phải moi tim nó ra để tế tiên mẫu!”

Thấy chúa công phát lời thâm độc, hoàn toàn không nghĩ đến công của Trần Chấn đã giúp bày kế đuổi Trương Nghi, giành chức lệnh doãn, Hình Tài biết ông ta vẫn còn giận dữ, liền chuyển sang chuyện khác: “Chúa công, điều quan trọng cần làm bây giờ là...”

Chiêu Dương ngẩng đầu, từ từ quay sang nhìn Hình Tài: “Nói!”

“Nghe con chó đen của quân chó má đó nói, hôm qua bệ hạ đã chiếu mệnh công tử Như làm phó sứ nước Sở, cùng bàn chuyện hội thề tung thân với các nước. Sự việc không thể chậm trễ, chúa công cần nhân cơ hội, lập tức quyết đoán!”

“Chuẩn bị nghiên mực!”

Hình Tài mang nghiên mực và lụa lên, vòng tay đứng đợi một bên.

Chiêu Dương thảo xong một bức thư, gấp lại cẩn thận rồi đưa cho Hình Tài: “Mang tới cho phó sứ đại nhân!”

“Tiểu nhân tuân lệnh!”

Hình Tài quay người định đi, vừa ra đến cửa thì Chiêu Dương gọi giật lại: “Chuẩn bị xe, bản công sẽ đến đài Chương Hoa một chuyến!”

“Vâng!”

Công tử Như là do phi tần của Uy Vương sinh ra, tính tình điềm đạm, không hứng thú với việc triều chính, chỉ chuyên tâm với tiên đạo phương thuật. Uy Vương trước đây một lòng chấn hưng cơ nghiệp, trách công tử Như không có chí, nên đã biếm trích công tử Như đến vùng núi sâu ở bờ tây Tương Thuỷ. Nhưng đi đày thế này lại rất hợp với ý nguyện của công tử Như, nên vui vẻ ở đó suốt mười năm trời mà không một lời oán thán. Sau khi diệt Việt, Uy Vương công thành danh toại nhưng tuổi đã cao, bắt đầu hứng thú với tiên đạo, lúc này mới nhớ tới công tử Như, liền ban chỉ triệu về. Lần này nhập tung, Uy Vương để công tử Như làm phó sứ, một là muốn trọng dụng, hai là để trợ giúp cho Tô Tần.

Ngày thứ hai sau khi công tử Như nhận lệnh, Tô Tần cho người mang đến một tấm thiệp mời, hẹn công tử Như vào giờ Thân ngày hôm sau tới dịch quán liệt quốc để cùng bàn bạc chuyện hợp tung, hội thề với sứ thần của năm nước.

Công tử Như chưa bao giờ tham gia chính sự, lại đã quen sống nhàn tản trong núi, nhất thời không biết phải ứng đối thế nào. Nhìn xung quanh mình cũng chẳng có lấy một sĩ tử giỏi giang có thể bàn chính sự, muốn tới đài Chương Hoa xin chỉ, nhưng lại sợ phụ vương quở trách. Muốn tới Đông cung hỏi han, nhưng lại sợ thái tử chê cười. Công tử Như khổ tâm suy nghĩ suốt một đêm mà vẫn không tìm ra được cách gì, đang lúc rối trí thì Hình Tài mang thư của Chiêu Dương đến, chỉ dẫn cho công tử Như phải làm thế nào.

Công tử Như trước nay không ưa gì Chiêu Dương, nên trước những lời viết trong thư, cảm thấy ngờ vực trùng trùng. Suy nghĩ hồi lâu, nhưng vẫn không tìm ra cách khả dĩ, cứ đi đi lại lại trong sảnh hồi lâu. Đột nhiên hai mắt sáng bừng, lập tức đánh xe tới ngoại ô phía tây Sính Đô.

Tại khúc quanh của sông Lệ Thuỷ ở ngoại ô Sính Đô có một gò cát sỏi, trên gò có có một kỳ nhân sinh sống, tên gọi Lịch Khi. Gò cát hình như mai rùa, nên Lịch Khi tự lấy tên hiệu là Quy Khưu Tử, ở nhà thì mấy năm không xuống khỏi gò mai rùa, ra ngoài thì tuỳ tiện phóng túng, nghênh ngang cuồng ngạo. Người Sính Đô đều coi ông ta là quái nhân, duy chỉ có công tử Như coi ông ta như thầy như bạn, đối đãi rất mực cung kính.

Khi công tử Như đến, Lịch Khi quần áo rách rưới đang ngồi cheo leo trên một chạc cây lớn trên gò, cất cao giọng hát nghêu ngao:

“Phượng này, phượng này,

Sao đức suy vậy thay?

Chuyện sau không thể đợi,

Chuyện cũ khó đổi thay.

Thiên hạ có đạo,

Thánh nhân thành tài.

Thiên hạ vô đạo,

Thánh nhân lắt lay.

Thời thế hiện tại,

Chỉ mong tránh tai.

Phúc nhẹ hơn lông,

Biết nhận sao đây?

Hoạ nặng hơn đất,

Biết tránh sao đây?

Tri người bằng đức,

Hết rồi, hết rồi.

Vạch đất mà bước,

Nguy thay, nguy thay!

Chớ cản đường tiến,

Này gai, này gai!

Đường đi khấp khểnh,

Chớ hại chân này!”

Lịch Khi hứng thú tràn trề, hát xong lại ngâm, ngâm xong lại hát, hết lần này đến lần khác, dường như không hề muốn dừng. Công tử Như men theo con đường nhỏ, vừa đi vừa lắng tai nghe, đến gần thì dừng lại, nghe thêm một lúc nữa, rồi trèo lên cây, vỗ tay mà nói lớn: “Tiên sinh ca vịnh hay lắm!”

Lúc này, Lịch Khi mới nhìn thấy công tử Như, liền nhảy xuống, vòng tay cười nói: “Ngọn gió nào đưa công tử đến đây?”

“Tiếng hát của tiên sinh vang vọng đến tận tầng mây, khiến mây đang bay cũng phải dừng lại, vãn sinh đâu dám không đến!” Công tử Như vòng tay đáp lễ.

Lịch Khi cười sảng khoái, ngồi luôn xuống đất, rồi chỉ vào bãi cỏ đối diện: “Công tử, mời ngồi!”

Công tử Như ngồi luôn xuống, cười hỏi: “Bài ca vừa rồi, phải chăng là do tiên sinh làm ra?”

“Công tử đánh giá quá cao rồi! Tại hạ là kẻ quê mùa lỗ mãng, sao có thể làm ra khúc ca tuyệt diệu nhường đó?”

“Dám hỏi, khúc ca này từ đâu đến?”

“Đây là khúc ngâm của Trang Chu người Tống, tại hạ nghe thấy mà rất yêu thích!”

“Trang Chu?” Công tử Như ngẫm nghĩ một lát, rồi lắc đầu. “Vãn sinh chưa từng nghe nói tới người này!”

“Công tử ơi!” Lịch Khi cười hỏi. “Đã nghe nói tới chân nhân hay chưa?”

“Ý tiên sinh là chân nhân thời thượng cổ?”

Lịch Khi lúc lắc mái tóc rối bù: “Trang Chu có thể gọi là chân nhân đương đại!”

“Trời ơi!” Công tử Như hai mắt tròn xoe, hỏi dồn. “Hiện chân nhân đang ở đâu, vãn sinh có thể gặp mặt chăng?”

Lịch Khi khép mắt, mặc cho công tử Như sốt ruột một hồi, mới mở mắt ra cười ha hả mà nói: “Chân nhân dễ gặp như vậy ư?”

“Nghe giọng của tiên sinh, hẳn là đã được gặp chân nhân rồi?”

“Đương nhiên là gặp rồi!” Lịch Khi lại khép mắt, thần thái thung dung như nhập vào tiên cảnh. “Hai năm trước, chân nhân ngao du xuống phương nam, tới Tiêu Tương, lúc qua Sính đã ghé thăm gò này, tại hạ có cơ duyên gặp gỡ, nên mới học được khúc ca vừa nãy.”

Công tử Như kinh ngạc: “Hai năm trước chân nhân ngao du xuống Tiêu Tương, chẳng phải là đi ngay qua trước cửa nhà vãn sinh ư?”

“Ha ha ha, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng!” Lịch Khi lại phá lên cười khoái trá.

Để vuột mất cơ hội gặp mặt chân nhân ngay trước mũi, công tử Như than thở luôn miệng, rầu rĩ ảo não.

Lịch Khi nhìn công tử Như một lúc, rồi phì cười hỏi: “Lần này công tử đến, chắc không phải là muốn cầu kiến chân nhân đấy chứ?”

Công tử Như lúc này mới sực nhớ ra, liền ôm quyền nói: “Tiên sinh nói phải! Vãn sinh gặp chuyện nan giải, nên đến đây nhờ chỉ giáo!”

“Việc nan giải gì kia?”

“Tô Tử hợp tung sáu nước, hội thề thiên hạ. Hôm qua phụ vương lệnh cho vãn sinh làm phó sứ, trợ giúp Tô Tử tung thân liệt quốc. Vãn sinh trong lòng run sợ, thắc thỏm bất an!”

Lịch Khi phá lên cười lớn một thôi một hồi: “Việc tốt nhường vậy, người khác muốn còn chẳng được, cớ sao công tử lại thắc thỏm bất an?”

Công tử Như chau mày, thở dài một tiếng: “Than ôi, còn nhớ tiên sinh đã từng nhắc nhở vãn sinh: ‘Việc người khó mưu, nếu mưu không thành, ắt có mối hoạ về việc người; nếu mưu thành, ắt có mối hoạ về âm dương. Mưu thành mà lại tránh được tai hoạ, chỉ có người tài đức vẹn toàn mới có thể làm được.’ Vãn sinh tài mỏng đức bạc, đâu thể đạt tới cảnh giới này? Không am hiểu đạo này mà lại đi mưu việc này, bảo vãn sinh làm sao có thể yên tâm cho được? Không giấu tiên sinh, vãn sinh trước nay thanh tâm quả dục, chú trọng ẩm thực, nóng lạnh trong người cũng coi như được cân bằng. Nhưng hôm qua thì khác, vào giờ Thân vãn sinh nhận lệnh, giờ Tý lo lắng bồn chồn, nằm trên giường mà cứ trằn trọc qua lại, không tài nào ngủ được, đêm dài tựa năm!”

Lịch Khi chỉ tay vào công tử Như, lại cười ha hả một tràng: “Đại trượng phu mưu đại sự, muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi, hà tất phải lấy những lời bông đùa vặt vãnh của tại hạ ra làm lá chắn?”

“Tiên sinh xin chớ trách móc!” Công tử Như vẻ mặt đầy bất đắc dĩ. “Vãn sinh lần này tiến cũng lo, mà lui cũng lo, nên mới mạo muội cầu kiến, mong tiên sinh cho vài lời chỉ điểm!”

Lịch Khi thu nụ cười lại: “Nếu công tử đã nói vậy, tại hạ cũng đành phải nói bừa!” Rồi khẽ đặng hắng một tiếng, sắc mặt nghiêm trang nhìn công tử Như. “Việc mà công tử muốn hỏi, có thể cho là việc người. Người giỏi mưu việc người, chẳng ai hơn được Trọng Ni người nước Lỗ. Theo lời Trọng Ni, thiên hạ có hai pháp giới lớn, thứ nhất là mệnh, thứ hai là nghĩa. Công tử thân là con của vua, không thể không phụng sự cha, đó là mệnh. Công tử thân là bề tôi của vua, không thể không phụng sự vua, đó là nghĩa. Khi phụng sự cha, không chọn chốn để cầu yên thân, có thể đạt đến chí hiếu; khi phụng sự vua, không chọn việc để cầu yên thân, có thể đạt đến chí trung. Bất kể là phụng sự cha hay phụng sự vua, nếu lâm vào tình huống bất đắc dĩ mà vẫn có thể xử sự bình thản, có thể đạt đến chí đức, bảo đảm không gặp tai hoạ. Công tử rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, đã biết đó là bất đắc dĩ, chỉ cần có thể xử sự bình thản, là đã có thể đạt được tới chí đức rồi!”

“Vãn sinh chính là không thể xử sự bình thản được, mong tiên sinh chỉ giáo!”

“Nếu muốn xử sự bình thản, công tử phải biết được cái đạo làm sứ!”

“Xin tiên sinh nói rõ hơn!”

“Theo lời Trọng Ni, đạo làm sứ nằm ở lập tín truyền ngôn. Lập tín kỵ làm xằng bậy, truyền ngôn kỵ lời thái quá. Lời thái quá mà truyền đi tất sẽ xằng bậy, xằng bậy sẽ thất tín, thất tín sẽ gây hoạ.”

“Thế nào là lời thái quá?”

“Lời thái quá có hai loại, một là lời hay thái quá, hai là lời dở thái quá. Lời mà sứ thần truyền đi, phần lớn là lời của quân chủ. Quân chủ vui, thì nói nhiều lời hay; quân chủ giận, thì nói nhiều lời dở. Người giỏi làm sứ, vừa không truyền lời hay, cũng chẳng truyền lời dở.”

“Không truyền lời thái quá của quân chủ, vậy phải truyền lời gì?”

“Truyền lời thường!”

“Thế nào là lời thường?”

“Loại bỏ chỗ khiên cưỡng, xoá đi chỗ vẽ vời, tức là lời thường của quân chủ. Đó là điều thứ nhất!”

Công tử Như đưa mắt dò hỏi điều tiếp theo.

“Thứ hai là sứ thần không nói lời thái quá.”

Công tử Như trợn tròn hai mắt: “Ồ?”

Lịch Khi dường như không nghe thấy tiếng kêu kinh ngạc của công tử Như, vẫn khép mắt, thao thao nói tiếp: “Sứ thần khéo nói xu nịnh, đó là nói lời thái quá. Sứ giỏi không đọ khéo, không ép người, chính là nói về điều này. Dùng khéo đấu sức, bắt đầu từ dương, kết thúc ở âm; dùng lễ uống rượu, bắt đầu từ kính, kết thúc ở loạn; dùng lời thái quá để truyền lời, bắt đầu từ khoan dung, kết thúc ở thù địch. Người làm sứ giỏi vừa không truyền lời thái quá, cũng chẳng dùng lời thái quá để truyền lời, nếu không, ắt sẽ thai nghén mầm hoạ, đây gọi là hoạ từ miệng mà ra!”

“Vãn sinh nhớ rồi!” Công tử Như bỗng chốc bừng hiểu, trầm tư một lúc lại hỏi tiếp. “Lời của tiên sinh mặc dù kỳ diệu, nhưng lại quá ư cao viễn, khó giải quyết được việc cấp bách ngay trước mắt. Dám hỏi tiên sinh, việc trước mắt nên xử trí thế nào?”

“Công tử hãy nói xem, việc cấp bách trước mắt là gì?”

“Tô Tử mời vãn sinh đến dịch quán để bàn chuyện hội thề, song vãn sinh lại chẳng hề hay biết gì về hợp tung hay hội thề, phụ vương cũng không ban chỉ rõ ràng, khiến vãn sinh vô cùng hoang mang. Thế nhưng, đúng vào lúc vãn sinh vừa ra khỏi cửa, lệnh doãn đã phái người mang tới một bức mật thư, giúp vãn sinh đưa ra mưu kế. Vãn sinh không hiểu được dụng ý của người này, không dám đoán bừa, nên đến để thỉnh giáo tiên sinh!” Nói đoạn, lấy từ trong tay áo ra bức thư của Chiêu Dương, đưa cho Lịch Khi.

“Mạnh Tân?” Lịch Khi đọc xong bức thư, chau tít đôi mày, suy nghĩ một lúc, rồi lắc đầu cười nói. “Mưu này của Chiêu Dương, không phải là chính thuật!”

“Không phải chính thuật?” Công tử Như tỏ ra ngơ ngác. “Vậy... có thực hiện được hay không?”

“Ha ha ha!” Lịch Khi đưa trả lại bức thư. “Tại hạ xin tặng công tử một kế, khi bàn bạc về chuyện hội thề với sứ thần của liệt quốc, công tử hãy nói ít nghe nhiều. Còn về mưu của Chiêu Dương, công tử trông mèo vẽ hổ, cứ làm theo là được!”

Không phải chính thuật, tức là tà thuật. Lịch Khi không những không phản đối, mà ngược lại còn bảo công tử Như trông mèo vẽ hổ, khiến công tử Như vô cùng khó hiểu, nhìn xoáy vào Lịch Khi dò hỏi. Lịch Khi thần sắc ôn tồn, mỉm cười nhìn lại.

Công tử Như thấy ánh mắt Lịch Khi đầy khẳng định, đành phải gật đầu đồng ý: “Tiên sinh đã nói như vậy, vãn sinh sẽ làm theo!”

“Đi đi!” Lịch Khi trở người đứng dậy, đi tới trước gốc cây lớn, chuẩn bị trèo lên.

Công tử Như ngăn lại: “Tiên sinh khoan đã!”

“Công tử còn có chuyện gì?” Lịch Khi chẳng buồn quay đầu lại, vừa trèo vừa hỏi.

“Dám hỏi tiên sinh, hiện giờ Trang chân nhân đang ở nơi nào?”

Lịch Khi đã ngồi trên chạc cây, nhìn xuống mỉm cười: “Mông Ấp nước Tống!”

Công tử Như vòng tay vái một vái thật sâu: “Đa tạ tiên sinh chỉ dẫn!”

Công tử Như tâm tư thư thái quay trở về Sính Đô.

Vừa vào trong phủ, gia thần báo tin dịch quán tung thân đã phái người đến giục giã mấy lần. Công tử Như xem đồng hồ nước, thấy đã quá giờ Thân từ lâu, nên cũng chẳng kịp rửa mặt chải đầu, chỉ thay quan phục, sau đó đánh xe thẳng tới dịch quán, từ xa đã nhìn thấy phó sứ nước Triệu là Lâu Hoãn đứng đợi trước cổng, nói là Tô Tần và các vị công tử, công tôn chờ đợi đã lâu.

Mọi người nghe thấy tiếng, liền cùng ra đón.

Hành lễ xong xuôi, Tô Tần bước lên trước một bước, dắt tay công tử Như đi qua hai khu nhà, tới một gian phòng thanh u trang nhã. Trong phòng không có lấy một binh một tốt, cũng không có nô bộc nữ tỳ, chỉ có hoa đẹp quả tươi tô điểm, bài trí hài hoà đầm ấm, ở giữa đặt bảy bàn trà, quây thành một vòng tròn, sau mỗi bàn đều trải một tấm thảm nhung.

Tô Tần đi lên phía trước, chỉ tay vào chỗ ngồi, nói: “Chư vị, hôm nay họp mặt tung thân, chư vị ngôi thứ như nhau, cứ ngồi tự nhiên!” Lời vừa dứt, tự mình đã bước lên mấy bước, ngồi xuống vị trí gần nhất.

Mọi người thấy cách xếp bàn hình tròn, thảy đều ngạc nhiên. Liệt quốc họp mặt, đặc biệt coi trọng lễ nghi, vị trí chủ thứ lại càng không thể tuỳ tiện, trật tự chỗ ngồi cũng giống như nghi thức cầm tai bò (1) trong tế lễ, người tham gia không ai là không coi trọng, chỉ cần một chút sơ ý, nhẹ sẽ khiến bang giao bất hoà, nặng sẽ khiến động binh giao chiến. Lần này họp mặt, Tô Tần vừa là người hiệu triệu, lại là chủ sứ của cả sáu nước, đáng lý phải ngồi ở ngôi chủ. Những người khác đều là phó sứ, nên ngồi ở ngôi thứ. Tuy nhiên, cho dù là ngôi thứ, cũng phải phân chia trên dưới gần xa. Tô Tần sắp đặt bàn tròn kiểu này, là tự mình từ bỏ ngôi vị chủ, không những đã sáng tạo ra một cục diện mới mẻ, mà hơn nữa, đây hiển nhiên là một phương pháp hoá giải tranh chấp thứ vị vô cùng tuyệt diệu. Hành vi tuy nhỏ, song cũng đủ để thấy được sự bao dung và cơ trí của Tô Tần. Phó sứ sáu nước đều định thần trở lại, không ai không thán phục, rồi cùng tự tìm lấy một chỗ ngồi xuống.

Người hầu bưng trà lên, Tô Tần nhấp một ngụm, đưa mắt nhìn sang Lâu Hoãn ngồi đối diện, ra hiệu cho hắn chủ trì nghi thức. Phó sứ liệt quốc người thì xuất thân vương thất, người thì xuất thân công môn, chỉ có phó sứ nước Triệu Lâu Hoãn là bậc bề tôi, nên làm người chủ trì là hợp lý nhất. Hơn nữa, Triệu là nước phát động hợp tung, Tô Tần muốn Lâu Hoãn chủ trì, cũng là có ý muốn báo đáp Triệu Hầu.

Lâu Hoãn nói xong vài lời khách sáo, rồi cầm lấy mấy cuộn thẻ tre bên cạnh, chính là cương lĩnh tung thân của sáu nước. Sau khi phát cho mỗi người một cuốn, Lâu Hoãn bèn đọc rõ ràng từng câu một. Nội dung của cương lĩnh không nằm ngoài ngũ thông, tam đồng, hợp lực chế Tần, là điều mà mọi người đã biết rõ từ lâu. Lâu Hoãn đọc lại, chẳng qua cũng là cho đúng trình tự.

Đọc xong, Lâu Hoãn mời Tô Tần lên tiếng.

Tô Tần cũng không từ chối, bắt đầu ung dung giảng về đại thế của thiên hạ, căn nguyên của hợp tung và quá trình của hợp tung. Trong mấy vị phó sứ, duy chỉ có công tử Như là lần đầu tiên được nghe Tô Tần luận về thiên hạ, bàn về quốc kế dân sinh, cho dù không thạo chính sự, không hiểu dân tình, nhưng cũng cảm thấy nhiệt huyết sôi trào, cảm ngộ sâu sắc.

Tiếp đó mới đi vào việc chính, tức bàn bạc về cách thức hội thề. Còn về cương lĩnh, liệt quốc đã thừa nhận từ lâu, không cần tranh luận thêm nữa. Hiện giờ, mọi người chỉ quan tâm đến các công việc cụ thể như quy cách, lời thề, nghi lễ, thời gian, địa điểm... của hội thề. Ba người công tôn Khoái nước Yên, công tử Chương nước Hàn, công tử Như nước Sở bản tính không thích tranh giành; Điền Văn nước Tề dù trẻ tuổi, nhưng tâm tính lại thâm trầm sâu xa; Lâu Hoãn nước Triệu và Tô Tần sớm đã tâm đầu ý hợp, chỉ có công tử Ngang nước Ngụy là bất kể chuyện lớn nhỏ, trong ngoài gì cũng thích chõ mũi vào.

Chẳng phải bàn bạc lâu, mọi người đã nhất trí được về quy cách, lời thề, nghi lễ, thời gian... của cuộc hội thề, chỉ còn tranh chấp về địa điểm. Công tôn Khoái đề xuất nên hội thề tại Lạc Dương, mời Chu thiên tử làm minh chủ, nhưng bị công tử Ngang, Điền Văn chê bai hết lời. Lâu Hoãn có ý mở hội thề tại Thằng Trì, Hào Quan nước Ngụy, đối diện với ải Hàm Cốc, mượn đó để khuếch trương thanh thế tung thân của sáu nước, công tử Ngang lập tức vỗ bàn khen hay, đưa ánh mắt đầy nhiệt thành nhìn vào Điền Văn, hy vọng sẽ nhận được sự ủng hộ từ hắn. Nhưng Điền Văn lại quay sang nhìn công tử Như.

Từ lúc bước vào đây, công tử Như chỉ ngồi nghiêm trang, hai mắt khép hờ, giống như đang nhập định trong rừng sâu, chứ không phải đang cùng sứ thần liệt quốc họp bàn về việc tổ chức hội thề tung thân.

Tô Tần đã từng trải qua cảm giác này khi còn ở trong Quỷ Cốc, liền khẽ mỉm cười, đưa mắt nhìn sang. Ánh mắt của những vị sứ thần khác cũng đều chiếu vào công tử Như.

Công tử Như hiển nhiên đã cảm nhận được, hai mắt hé mở, vì là lần đầu tiên lên tiếng trong tình cảnh thế này, nên giọng hơi run, song nhả chữ rất rõ ràng: “Nước Sở kiến nghị, địa điểm hội thề nên đặt tại Mạnh Tân!” Nói xong, lại khép mắt như cũ.

Công tử Như không dùng “tại hạ” mà dùng “nước Sở”, khiến mọi người bất giác đều cảm nhận được trọng lượng của hai chữ này. Mấy năm về trước, Ngụy Huệ Vương hiệu lệnh thiên hạ triều kiến thiên tử tại Mạnh Tân, hôm nay công tử Như đang ở trên địa bàn của mình, thực chất chính là gia chủ, lại là phó sứ của nước lớn nhất trong số những nước hợp tung, vậy mà lại đưa ra địa điểm Mạnh Tân, rõ ràng là đang ngấm ngầm ám chỉ, rằng nước Sở có ý để Ngụy tiếp tục làm chủ, làm thủ lĩnh hội thề. Tất cả những người có mặt đều biết công tử Như không giỏi chính sự, không thạo nói năng, vì vậy, lời này tuyệt đối không phải do công tử Như tuỳ tiện nói bừa, mà là có người khác chỉ điểm.

Mọi người quay mặt nhìn nhau. Ngay cả công tử Ngang vốn tính ưa chất vấn, lúc này cũng sững sờ, nhất thời không kịp phản ứng.

Căn phòng lặng phắc như tờ, nghe rõ từng tiếng giọt đồng hồ tí tách.

Điền Văn nước Tề dường như đã nhận ra huyền cơ bên trong, nửa đùa nửa thật lên tiếng tán đồng đầu tiên: “Ha ha, Mạnh Tân quả là nơi tuyệt diệu để hội thề, cũng đỡ mất công xây dựng đài hội thề, chỉ cần sửa sang chút ít là được!”

Lúc này công tử Ngang cũng đã kịp định thần, liền đập bàn nói: “Nước Ngụy tán đồng! Ngày trước tám trăm chư hầu hội thề tại Mạnh Tân, cùng thảo phạt Thương Trụ. Nay anh hùng sáu nước lại tụ hội tại Mạnh Tân, cùng thảo phạt bạo Tần, thực khoái trá thay!”

Điền Văn bật cười, có ý châm chọc: “Còn có việc Ngụy Vương bệ hạ triều hội thiên tử tại Mạnh Tân, tướng quân quên mất rồi ư?”

Mọi người đều cười lớn.

Thấy công tử Ngang sắc mặt ngượng ngùng, công tử Chương liền chuyển chủ đề: “Ngụy huynh ví Tần Công với Thương Trụ, há chẳng phải đã đề cao ông ta quá rồi ư?”

Mọi người lại bật cười.

Lâu Hoãn từ từ thu nét cười lại, đưa mắt nhìn sang Tô Tần, ý tứ đã rất rõ ràng. Tô Tần đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, vẫn mỉm cười, song không lên tiếng.

Lâu Hoãn thoáng ngạc nhiên, gọi khẽ: “Tô Tử?”

Tô Tần quay sang nhìn Lâu Hoãn, cao giọng mà nói: “Phó sứ nước Triệu, có gì xin cứ nói!”

Lâu Hoãn vốn dĩ muốn Tô Tần quyết định, không ngờ Tô Tần lại bảo mình lên tiếng, nhất thời lúng túng: “Tại hạ...” Thấy mọi người đều đổ dồn ánh mắt vào mình, đành phải nghiến răng nghiến lợi mà nói. “Tại hạ cho rằng, địa điểm hội thề đặt tại Mạnh Tân là không ổn!”

Công tử Ngang biến ngay sắc mặt: “Xin hỏi sứ thần nước Triệu, có điều gì không ổn?”

“Vũ Vương hội thề tám trăm chư hầu tại Mạnh Tân là để phạt Trụ. Ngụy Hầu hội thề liệt quốc tại Mạnh Tân là để tôn Chu. Nay Tô Tử khởi xướng sáu nước liên minh, mục đích là để kết thúc phân tranh, cùng chế bạo Tần. Lời của Hàn công tử rất đúng, Tần Công vừa không thể so sánh với Thương Trụ, cũng không thể ngang hàng với Chu thiên tử, vì vậy không nên đặt địa điểm hội thề tại Mạnh Tân!”

Công tử Ngang nhổm người về phía trước hỏi: “Xin hỏi sứ thần nước Triệu, vậy thì địa điểm hội thề nên đặt ở đâu là tốt nhất?”

Lâu Hoãn ấp úng: “Việc này...”

“Chắc không phải là Hàm Đan của quý quốc đấy chứ?” Công tử Ngang ngả người ra phía sau, ngửa cổ cười lớn.

Lâu Hoãn mặt đỏ lựng, lại quay sang nhìn Tô Tần.

Tô Tần khẽ đặng hắng, rồi nghiêm nét mặt mà nói: “Chư vị sứ thần, chúng ta ở đây bàn chuyện hội thề thiên hạ, là sứ mệnh, lại càng là chức phận. Mỗi một lời nói hành vi của chúng ta đều liên quan đến đại sự trong thiên hạ, đến an nguy của bách tính, không thể nói năng khinh suất bỡn cợt, làm tổn thương hoà khí!” Rồi đưa mắt liếc sang công tử Ngang, sau đó nhìn khắp lượt các vị sứ thần, thấy mọi người đều đã định thần ngồi ngay ngắn, mới nói tiếp. “Sáu nước hội thề, cần phải tôn trọng lẫn nhau, thấu hiểu lẫn nhau, phàm là việc gì, cũng phải tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng, cùng nhau bàn luận. Còn về địa điểm hội thề, sứ thần nước Yên đề nghị đặt tại Lạc Dương, sứ thần nước Triệu đề nghị đặt tại Thằng Trì, sứ thần nước Sở và Ngụy đề nghị đặt tại Mạnh Tân, chư vị còn có ý kiến gì khác, xin cứ nói hết ra!”

Mọi người đều lắc đầu.

“Nếu đã không còn ý kiến nào khác,” Tô Tần đưa ngón tay gõ khẽ lên mặt bàn, “chúng ta sẽ lựa chọn một trong ba địa điểm trên. Chúng ta có cả thảy bảy người, nơi nào được từ bốn người đồng ý trở lên sẽ được lựa chọn. Trước tiên là Lạc Dương, ai đồng ý thì giơ hai ngón tay lên, như thế này...” Nói đoạn giơ hai ngón tay lên mặt bàn, sau đó hạ xuống, ánh mắt quét qua khắp lượt mọi người.

Chỉ có công tôn Khoái giơ hai ngón tay lên.

Tô Tần đợi một lát, nói tiếp: “Tiếp theo là Thằng Trì, ai đồng ý hãy giơ ngón tay!”

Lâu Hoãn, công tử Chương từ từ giơ ngón tay lên.

Tô Tần lại nói: “Tiếp theo là Mạnh Tân, ai đồng ý hãy giơ ngón tay!”

Công tử Ngang, Điền Văn, công tử Như đều giơ ngón tay lên. Tô Tần do dự một lát, rồi cũng giơ hai ngón tay lên. Công tôn Khoái thấy Tô Tần giơ tay nên cũng đổi ý. Công tử Chương thấy vậy cũng vội giơ tay. Chỉ còn Lâu Hoãn, chần chừ hồi lâu rồi cũng từ từ giơ hai ngón tay lên.

Tô Tần hạ ngón tay xuống, nói: “Nếu tất cả mọi người đã đồng ý, vậy địa điểm hội thề sẽ đặt tại Mạnh Tân, ngày lành là ngày Thu phân, giờ Mão khởi lễ, giờ Ngọ cắt tai bò. Những việc khác có liên quan, đều lấy nghị định hôm nay làm chuẩn. Chư vị sứ thần hãy bẩm tấu với quân chủ của mình, tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng, cùng hoàn thành đại nghiệp hợp tung!”

“Xin tuân lệnh!”

Sau khi mọi người đã ra về cả, Lâu Hoãn bước lại gần Tô Tần hỏi: “Tô Tử... thực sự cho rằng Mạnh Tân thích hợp ư?”

Tô Tần chau tít đôi mày, hồi lâu vẫn không nói gì.

Lâu Hoãn hạ giọng cằn nhằn: “Tô Tử là đặc sứ, có thể tuỳ ý chọn lấy một địa điểm, nào có ai dám nói gì?”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài. “Nếu như tại hạ có thể quyết định được hết mọi việc trong thiên hạ, thì chúng ta hà tất phải bôn ba khắp chốn, hợp tung hội thề thế này? Địa điểm hội thề không quyết định được, thì hội thề thế nào đây? Chúng ta không thể cứ mãi hao phí tinh lực vào một việc này!”

“Địa điểm hội thề nếu lại đặt tại Mạnh Tân, mà không thể mời Chu thiên tử, thử hỏi thiên hạ sẽ nghĩ thế nào? Hơn nữa, Ngụy có Huệ Thi, Bàng Tử, thế lực phục hưng, sáu nước đều đến Mạnh Tân, Ngụy Vương liệu có...” Lâu Hoãn bỏ lửng nửa chừng.

“Lâu Tử nói rất đúng, điều mà tại hạ lo lắng chính là điều đó. Nhưng sự việc đã đến nước này, cho dù địa điểm hội thề không chọn Mạnh Tân, thì việc cần xảy ra cũng vẫn sẽ xảy ra!”

Lâu Hoãn im lặng.

Công tử Như trở về tới phủ, trầm tư hồi lâu, rồi đứng dậy đi tới phủ thái tử, bẩm báo lại toàn bộ những sự việc hợp tung đã nghị định hôm nay.

Tiễn công tử Như về rồi, thái tử Hoè cho Ngận Thượng mời bảy tám vị cận thần đắc lực như tả tư mã Khuất Vũ, hữu tư mã Cảnh Thuý và Khuất Cái, Khuất Bình đến nghị sự. Biết được việc hợp tung đã thành công, ai nấy đều phấn chấn. Khuất Cái tướng quân, con trưởng của Khuất Vũ, trước nay luôn trấn thủ thành Nghi Dương không kìm nén nổi, lên tiếng đầu tiên: “Điện hạ, thực là cơ hội tốt trời ban! Mạt tướng xin được phạt Tần, đòi lại đất Thương Ư!”

“Khuất tướng quân nói rất phải!” Thái tử Hoè cũng nhiệt huyết sôi trào. “Mối nhục Thương Ư một ngày không rửa, bản cung lại thêm một ngày ăn ngủ không yên! Nay thời cơ đã tới, bản cung triệu chư vị đến là để bàn bạc nhằm tìm ra một kế sách vẹn toàn.” Đưa mắt liếc nhìn mọi người một lượt. “Chư vị đều là cánh tay của bản cung, cũng đều hiểu rõ người Tần, có kế sách gì, xin hãy nói ra!”

Mấy người trẻ tuổi lập tức mồm năm miệng mười, nhao nhao đề xướng kế sách phạt Tần, chốc sau đã thống nhất được ý kiến, chính là nhân cơ hội liệt quốc hợp tung, nước Tần không còn đủ sức đề phòng phía nam, sẽ chia quân làm ba lộ, một lộ xuất từ Uyển Thành, qua Niết Dương tiến về phía tây; một lộ xuất từ đất Tương, theo lũng sông Thoan Thuỷ tiến lên phía bắc; một lộ xuất từ Quân Lăng, dọc theo lũng xuân Đan Thuỷ tiến lên phía bắc, hợp thành thế gọng kìm tấn công Tích, Ư. Sau đó ba lộ đại quân sẽ tiến từ đông sang tây, đánh thẳng vào Ư Trung, đoạt lấy Vũ Quan, tiến vào quét sạch toàn bộ vùng sơn cốc.

Mấy người trẻ tuổi nhiệt huyết sục sôi hăng hái hiến kế sách, chỉ có tả tư mã Khuất Vũ là ngồi yên nhắm mắt, từ đầu đến cuối không nói một lời nào.

Thái tử Hoè không đợi thêm được nữa, bèn quay sang Khuất Vũ: “Lão tướng quân, tướng quân đã giao chiến với người Tần nhiều năm, thông hiểu Thương Ư, chắc chắn đã có kế sách phá địch, có thể chỉ giáo cho bản cung chăng?”

“Khởi bẩm điện hạ!” Khuất Vũ đáp. “Vùng sơn cốc Thương Ư địa hình hiểm trở, rất nhiều quan ải, vốn là nơi dễ thủ khó công. Tính từ thời Thương Ưởng đã trải qua bốn đời quận thú, ai nấy đều rất mực cẩn trọng dè chừng, đặc biệt là quận thú đương nhiệm Mạnh Thiệu, trí dũng song toàn, là tướng tài do đích thân Tần Công lựa chọn, bốn người con dưới trướng đều am hiểu binh thư, tinh thông võ nghệ, người nào người nấy dũng cảm thiện chiến, địch nổi vạn người. Mạnh Thiệu nhiệm chức sáu năm, dựa vào địa thế xây dựng thành luỹ quan ải kiên cố, phòng vệ trùng trùng, đồng thời còn thực thi Tần pháp với người dân trong cốc, khuyến khích trồng trọt tằm tang đan dệt, dạy người dân tử chiến, đã trở thành kình địch của ta. Vi thần cho rằng, muốn thu phục Thương Ư, tuyệt đối không được nóng vội!”

Khuất Vũ vừa mở lời đã ca ngợi chí khí của người Tần, khiến mọi người không khỏi bất ngờ.

Thái tử Hoè hít ngược vào một hơi dài, hai mắt nhìn chằm chằm vào Khuất Vũ: “Theo ý của lão ái khanh, chúng ta nên làm thế nào?”

“Binh không xuất kỳ, khó nắm phần thắng!”

“Xuất kỳ như thế nào?”

Khuất Vũ lấy từ trong túi ra một cuộn da dê, trải lên mặt bàn, thì ra là một tấm bản đồ hình thế, bên trên dày đặc các ký hiệu. Thái tử Hoè nhìn một lúc, rồi ngẩng đầu hỏi: “Bản cung ngu muội, xin lão tướng quân chỉ giáo!”

“Vi thần không dám!” Khuất Vũ chỉ tay vào tấm bản đồ, giải thích tường tận. “Điện hạ hãy nhìn xem, từ đây đến đây, tổng chiều dài hơn sáu trăm dặm, tục gọi là vùng sơn cốc Thương Ư. Đường màu đen này gọi là đường Thương Ư, còn gọi là đường Thương Sơn, tây chạy đến Lam Điền, giữa đi qua Thương Châu, đông đến Tích, Ư, hai bên đều là núi lớn, đỉnh cao chót vót, vực sâu thăm thẳm, không có đường thông. Nếu chúng ta dựa vào hình thế để tiến đánh, tranh đoạt từng thành từng luỹ với người Tần, hoạ may có thể thắng, nhưng sẽ phải trả giá nặng nề. Theo ý của vi thần, chúng ta hãy nhân cơ hội sáu nước hợp tung, người Tần không còn đủ sức để quan tâm đến chuyện khác, đưa ba lộ quân vừa bàn lúc nãy làm mồi nhử, sau đó dẫn quân chủ lực âm thầm ra khỏi Hán Trung, men theo Miện Thuỷ tiến lên phía bắc, vượt núi Thiếu Tập tiến vào thượng nguồn Đan Thuỷ, đánh thẳng vào Thương Thành. Nếu đoạt được Thương Thành, Vũ Quan ắt sẽ tự phá, bảy ấp như Ư Trung, Ư Đông, Tích... khác nào ba ba trong hũ, vùng sơn cốc Thương Ư chẳng cần đánh cũng đoạt được!”

Khuất Vũ vừa nói xong, tất cả những người có mặt đều vô cùng hoan hỷ, Khuất Bình càng là hai mắt tròn xoe, nhìn không chớp vào người bác dày dạn kinh nghiệm sa trường, tràn đầy khâm phục. Rõ ràng, về việc đoạt lại Thương Ư, báo thù rửa hận, Khuất Vũ từ lâu đã có sẵn kế sách trong lòng.

“Diệu kế!” Thái tử Hoè suy nghĩ một thoáng, rồi ôm quyền cung kính nói với Khuất Vũ. “Khuất tướng quân thật không hổ danh là trụ cột của Đại Sở ta!”

Khuất Vũ khấu đầu: “Mạt tướng bất tài, được điện hạ khen ngợi, thực thấy hổ thẹn!”

“Khuất tướng quân, mau bình thân!” Thái tử Hoè rời khỏi chỗ, đưa tay đỡ Khuất Vũ đứng dậy, dìu ông ta ngồi xuống, thở dài một tiếng. “Than ôi, năm xưa Công Tôn Ưởng nhân lúc ta giao chiến với Ba, Việt, đã đánh chiếm mất vùng sơn cốc Thương Ư của ta, phụ vương vì chuyện này mà ăn không ngon ngủ không yên, dốc lòng lo toan việc nước, khiến Đại Sở ta muôn việc chấn hưng, như mặt trời mới mọc, măng non phá đất. Năm trước lại chiếm được đất Việt ngàn dặm, nhân khẩu trăm vạn, thế cường thịnh thực chưa từng có. Bản cung có ý nhân cơ hội hợp tung để chiếm lại vùng đất đã mất, rửa mối nhục năm xưa. Khuất tướng quân, nay phải nhờ cậy cả vào tướng quân!”

Khuất Vũ nghẹn ngào nói: “Điện hạ yên tâm! Mạt tướng cho dù có tan xương nát thịt cũng quyết đánh bại người Tần, chiếm lại vùng đất đã mất, không phụ ơn tri ngộ của bệ hạ, điện hạ!”

Thái tử Hoè hạ thấp giọng, ánh mắt sáng rực: “Chư vị ái khanh, những việc bàn bạc hôm nay phải tuyệt đối giữ bí mật, bất kỳ ai cũng không được tiết lộ ra ngoài! Khuất tướng quân!”

Khuất Vũ vòng tay: “Có mạt tướng!”

“Lập kế sách chu toàn, đảm bảo trận chiến này không chút sơ sảy, một trận phá Tần!”

“Mạt tướng tuân chỉ!”

Thái tử Hoè quay sang Cảnh Thuý, Khuất Cái và các tướng quân khác: “Chư vị tướng quân, mọi người hãy tích cực chuẩn bị, trợ giúp lão tướng quân thành tựu đại công! Giờ bản cung sẽ lập tức đến đài Chương Hoa để bẩm báo lên phụ vương!”

Chư tướng phấn chấn: “Mạt tướng tuân lệnh!”

“Còn khanh...” Thái tử Hoè từ từ di chuyển ánh mắt sang Khuất Bình.

Khuất Bình vòng tay: “Khuất Bình đợi chỉ!”

“Bản cung thấy khanh ngôn từ đúng mực, cử chỉ ung dung, văn chương rực rỡ, có ý muốn uỷ thác cho khanh một trọng trách.”

Khuất Bình nói lớn: “Khuất Bình cho dù phải nhảy vào nước sôi lửa bỏng, cũng quyết chẳng từ nan!”

“Công tử Như chí ở tu thân, không giỏi ứng đối. Khanh hãy đi theo bên cạnh, trợ giúp công tử ứng phó với việc của liệt quốc, chấn hưng uy nghi của Đại Sở ta!”

“Bình tuân chỉ!”

Thái tử Hoè quay sang Ngận Thượng: “Chuẩn bị xe!”

Chiêu Dương đánh xe thẳng tới cung Chương Hoa, lên đài Tam Hưu cầu kiến Uy Vương, liền bị thị vệ ngăn lại. Chiêu Dương lòng như lửa đốt, đợi ở thiên điện đến tận chiều hôm sau mới được yết kiến.

Nơi yết kiến vẫn là đài Quan Ba. Sở Uy Vương trong lúc triệu triều thần tấu báo, vẫn thích nghe thấy tiếng sóng vỗ trong đầm cách đó không xa. Chiêu Dương thân mặc tang phục đi theo sau nội thần, vừa đi vừa chạy đến dưới chân đình. Vừa bước lên đình, cả người đã đổ sụp xuống phủ phục dưới đất, dập đầu bình bịch, khóc rống lên: “Bệ hạ...” Nghe thấy Chiêu Dương khóc than thống thiết, Uy Vương ngẩn người, trợn mắt nhìn ông ta.

Chiêu Dương càng khóc thảm hơn: “Bệ hạ...”

Vì khoảng cách hơi xa, nên Uy Vương nhìn không được rõ, chỉ thấy Chiêu Dương mình mặc tang phục, cho rằng ông ta đang khóc mẹ, hai mắt cũng đỏ hoe, khẽ than một tiếng rồi an ủi: “Giang Quân phu nhân đã ở tuổi xưa nay hiếm, hết thọ ở trong nhà, cũng là lên đường thanh thản. Ái khanh cũng nên bớt đau buồn, thuận theo sự biến!”

Chiêu Dương khóc thất thanh: “Bệ hạ, vi... vi thần...”

“Chiêu ái khanh!” Uy Vương tỏ vẻ thông cảm. “Giang Quân phu nhân cả đời tích đức hành thiện, hiền thục thông tuệ, đức Khôn dày dặn, xứng đáng là điển phạm cho đàn bà nước Sở ta. Sau khi quy tiên, lại không tuẫn táng người sống, xa giá giản dị, tuỳ tùng ít ỏi, ngay cả đồ tuỳ táng cũng bớt xa hoa, theo thuần phác, xứng đáng là tấm gương cho thiên hạ noi theo. Quả nhân hay tin, vô cùng nể phục!”

Chiêu Dương dập đầu cồm cộp, vẫn khóc lóc thảm thiết: “Bệ hạ...” Rồi quỳ gối lết lên trước mấy bước, lại dập đầu như giã tỏi. “Bệ hạ, vi thần... lại phạm phải trọng tội, lần này đến chịu phạt, xin bệ hạ trách tội!”

“Ồ?” Uy Vương nhìn kỹ lại, lúc này mới nhận ra Chiêu Dương tự trói quặt hai tay, trên lưng còn cắm ba cành gai, thì giật nảy mình kêu lên: “Chiêu ái khanh, khanh... khanh đang làm gì vậy?”

“Bệ hạ!” Chiêu Dương vừa khóc vừa kể lể. “Thời gian trước, vi thần đã tin theo lời sứ Tần Trần Chẩn, tin nhầm kẻ lang bạt giang hồ Thương Ngô Tử, còn tiến cử hắn với bệ hạ. Nếu không phải nhờ đặc sứ sáu nước Tô Tử huệ nhãn vạch mặt kẻ gian, suýt chút nữa vi thần đã gây nên đại hoạ, tội không thể dung thứ!”

Uy Vương chợt hiểu ra, thở dài mà nói: “Than ôi, nếu vì chuyện này, đúng là quả nhân phải phạt khanh! Tuy nhiên, quả nhân nghe nói Giang Quân phu nhân cũng vì uống tiên đan lâu ngày nên mới quy tiên, từ đó có thể thấy ái khanh không hề có ý hãm hại quả nhân, mà chỉ là bị kẻ gian lừa bịp, có thể dung thứ.”

“Bệ hạ!” Chiêu Dương lại khấu đầu, “vi thần chỉ nghĩ tới trung hiếu, mà không biết phân biệt tốt xấu, không những đã hại tiên mẫu, mà còn... mà còn...” Đột nhiên lết vùn vụt tới trước mặt nội thần, cầu khẩn. “Hãy rút cành gai ra, đánh thật lực vào, đánh chết ta đi!”

Nội thần thoái lui một bước, đưa mắt nhìn Uy Vương.

“Hỡi ôi! Thôi, cũng được!” Uy Vương khẽ thở dài một tiếng. “Chiêu ái khanh nhất định muốn xin được trừng phạt, ngươi hãy đánh ba cái để hoàn thành tâm ý của ái khanh!”

Nội thần vâng lệnh, rút ba cành gai từ sau lưng Chiêu Dương ra, cởi dây trói, vạch áo tang, vung một cành gai quất lấy lệ xuống chỗ lưng trần một cái, rồi ném roi đi, lại nhặt lấy cành khác giơ lên quất. Ba roi đã quất xong, nội thần liền khom người đỡ Chiêu Dương dậy.

Chiêu Dương đi tới trước mặt Uy Vương, quỳ xuống khấu đầu nói: “Đa tạ ơn không giết của bệ hạ!”

Uy Vương chỉ vào chiếu bên trái: “Ngồi đi!”

Chiêu Dương lại lạy tạ, rồi đứng dậy ngồi xuống trước bàn. Đang định lên tiếng, bỗng nghe thấy có tiếng bước chân từ phía xa vọng lại, sau đó nội thần vào bẩm báo có phó sứ hợp tung công tử Như cầu kiến. Uy Vương vội mời vào gặp. Công tử Như hành lễ xong, thấy Chiêu Dương cũng có mặt, nên trong lúc tấu báo chuyện sứ thần sáu nước nghị sự về hội thề hợp tung, đã cố tình nhắc đến việc mình đã làm theo lời dặn dò của lệnh doãn đại nhân, tiến cử Mạnh Tân làm nơi hội thề, sáu nước đều hưởng ứng, địa điểm chính thức đã được xác định.

Uy Vương đưa ánh mắt dò hỏi nhìn sang Chiêu Dương: “Chiêu ái khanh?”

“Bệ hạ!” Chiêu Dương ôm quyền giải thích. “Lần này, vi thần đến đây, một là để thỉnh tội với bệ hạ, hai là cũng chính vì chuyện này. Bệ hạ, khi đại quân của ta chuẩn bị xuất chinh phạt Ngụy, Tô Tử đột nhiên lại đến đề xướng thiên hạ hợp tung, vi thần nhất thời không thể hiểu ra. Mấy ngày nay, vi thần để tang cho tiên mẫu, có thời gian suy nghĩ kỹ càng, cuối cùng cũng mới bừng tỉnh!”

“Ái khanh có cảm ngộ gì?”

“Bệ hạ, vi thần cho rằng, sáu nước bỏ qua hiềm khích cũ, thân như một nhà, từ đó thiên hạ không còn phân tranh, đối với ta mà nói, lợi lớn hơn hại!”

“Ái khanh thử nói xem, lợi lớn hơn hại thế nào?”

“Ta có thể cùng với Ngụy, Tề hoá thù thành bạn, cùng chống lại nước Tần lang sói. Ngụy báo mối thù Hà Tây, ta rửa nỗi nhục Thương Ư, đúng là vẹn cả đôi đường.”

“Vậy... còn người Tề thì sao?”

Chiêu Dương cười thâm hiểm: “Bệ hạ, người Tề chắc chắn đã bị một trận Hoàng Trì của người Ngụy làm cho khiếp đảm, chỉ cần người Ngụy muốn Tề phạt Tần, chắc hẳn Tề không dám không phạt!” Hạ thấp giọng, càng làm ra vẻ thần bí. “Theo lời của Tô Tần, sáu nước hợp tung, mục đích là để chống Tần. Ngụy, Tần vì trận chiến Hà Tây mà kết mối huyết thù suốt mấy chục năm. Mấy năm về trước, người Tần lại giở thủ đoạn gian trá, giết chết tám vạn võ binh Đại Ngụy, không những chiếm được Hà Tây, mà còn thừa thế tấn công cả Âm Tấn và Hàm Cốc, chiếm trọn các nơi sông núi hiểm yếu, ép người Ngụy phải dời đô đến Đại Lương. Mấy năm nay, nước Ngụy văn có Huệ Thi, võ có Bàng Quyên, phía đông đánh bại người Tề ở Hoàng Trì, phía bắc đánh bại quân Triệu ở Triều Ca, phía nam chiếm được Hình Sơn của ta, thế lực đã phục hưng, từ lâu đã muốn quyết chiến phân cao thấp với người Tần. Nay sáu nước hợp tung, ta có thể liên thủ với người Tề, hoàn thành tâm nguyện của Ngụy, giúp Ngụy chiếm lại Hà Tây.”

Sở Uy Vương hơi nhổm người về phía trước: “Hay lắm, nói tiếp đi!”

“Đợi sau khi diệt được bạo Tần, ta có thể tiếp tục liên minh với người Tề, Tề báo mối thù Hoàng Trì, ta rửa nỗi nhục Hình Sơn...”

Nghĩ đến câu “không phải chính thuật” của Lịch Khi, công tử Như bất giác “ồ” lên một tiếng, Chiêu Dương cũng dừng lại chờ đợi, mắt nhìn chằm chằm vào Uy Vương.

Uy Vương hai mắt khép hờ, trầm ngâm suy nghĩ, một hồi lâu sau mới mở mắt ra, quay sang công tử Như: “Như Nhi, mấy ngày nay quả nhân làm theo lời con, thanh tâm tĩnh toạ, nhưng đã ngồi một mạch suốt hai canh giờ mà vẫn tâm tư tán loạn, nghĩ lan man hết chuyện nọ đến chuyện kia, càng về sau lại càng là tạp niệm rối bời, giống như ngồi trên đống gai, toàn thân trên dưới không chỗ nào không khó chịu, như thế là thế nào?”

Chiêu Dương thấy Uy Vương không để ý đến mình, lại nói sang chuyện tu tâm, trong lòng thắc thỏm, nhưng không dám để lộ ra mặt, đành phải nhìn theo ánh mắt của Uy Vương, hai mắt dán vào công tử Như.

“Khởi bẩm phụ vương,” Công tử Như cũng không hiểu được ý tứ của Uy Vương, chậm rãi đáp. “Khi nhi thần mới bắt đầu tu luyện, cũng thấy tâm loạn thần phi, không tài nào ngồi yên được, chưa đến nửa canh giờ đã phải đứng dậy. Phụ vương mới luyện mà đã ngồi được hai canh giờ, là đã vượt xa nhi thần rồi!”

Uy Vương cười hí hửng: “Nghe con nói vậy, quả nhân cũng thấy vững dạ rồi. Như Nhi, về việc tu thân ngộ đạo, con còn có cảm ngộ gì nữa?”

“Khởi bẩm phụ vương,” công tử Như vòng tay bẩm tấu, “nhi thân đã gặp được một kỳ nhân ở phía tây Sính Đô!”

“Hãy nói cho quả nhân nghe thử!”

“Người này ở bên bờ sông Lệ Thuỷ, tên hiệu là Quy Khưu Tử, hình hài phóng túng, xử sự khoáng dật. Vi thần mộ danh mà đến, chưa gặp mặt đã nghe thấy tiếng ca. Nhi thần dừng chân lắng nghe, cảm ngộ vô cùng sâu sắc!”

“Là khúc ca thế nào?”

Công tử Như lấy ra một tấm lụa từ trong tay áo, hai tay dâng lên: “Vi thần sợ nhớ nhầm, nên đã chép lại vào đây, mời phụ vương ngự lãm!”

Nội thần nhận lấy tấm lụa từ tay công tử Như, trình lên Uy Vương. Uy Vương xem xong, phá lên cười lớn, bảo nội thần đưa cho Chiêu Dương: “Chiêu ái khanh, khanh cũng xem đi!”

Chiêu Dương đọc qua một lượt, chau mày: “Bệ hạ?”

“Chiêu ái khanh, có gì cứ nói thẳng!”

“Bệ hạ!” Chiêu Dương không hiểu công tử Như có dụng ý gì, liếc nhìn công tử một cái, rồi lên tiếng thăm dò. “Vi thần cho rằng, ca khúc này dường như... dường như ý tứ không chính đáng, lời ca bất kính, có ý dị nghị, phỉ báng triều chính!”

“Ái khanh nói xem, hắn dị nghị, phỉ báng triều chính như thế nào?” Uy Vương cười hỏi.

“Nay bệ hạ là thánh nhân trị quốc, thiên hạ an thái, nhưng lời ca lại nói ‘sao đức suy vậy thay’, lại nói thánh nhân không xuất hiện, ‘thời thế hiện tại, chỉ mong tránh tai’, lại càng là xằng bậy!”

“Nếu hắn đã phỉ báng triều chính, thì theo ý ái khanh, phải xử trí kẻ này ra sao?”

“Vi thần cho rằng, cần phải trừng trị theo tội phỉ báng triều chính!”

“Ha ha ha ha!” Uy Vương chỉ tay vào Chiêu Dương, cười nghiêng ngả.

Bị Uy Vương cười nhạo, Chiêu Dương hai mắt ngơ ngác, không biết phải làm gì. Ngay cả công tử Như cũng thấy khó hiểu.

Uy Vương cười xong, quay sang công tử Như: “Như Nhi, người ngâm khúc ca này, cũng chính là Quy Khưu Tử mà con vừa nói, phải chăng tên gọi Lịch Khi?”

Công tử Như ngẩn người, nhìn Uy Vương đầy kinh ngạc: “Đúng thế! Sao phụ vương lại biết người này?”

Uy Vương không trả lời, lại cười thêm mấy tiếng, rồi quay sang nhìn Chiêu Dương: “Chiêu ái khanh giỏi võ không giỏi văn, chỉ một lòng nghĩ đến trị binh, mà ít quan tâm đến việc khác. Ca khúc này có ý nghĩa gì, con hãy giải thích cho Chiêu ái khanh nghe!”

Chiêu Dương vội vòng tay với công tử Như, chữa thẹn: “Bệ hạ trách rất đúng, vi thần là người thô lỗ, thiển cận hạn hẹp, xin công tử chỉ giáo!”

Công tử Như không hiểu ý Uy Vương, song cũng không tiện từ chối, đành phải nói: “Ta cũng chỉ là nghe người khác nói lại, nên nói không rõ, lý giải không sâu. Đại khái ý nói rằng, đạo hoặc là thi hành ở tương lai, hoặc là thi hành ở quá khứ, chứ không thi hành ở hiện tại. Trong thời thế vô đạo ngày nay, người có đạo phải biết minh triết bảo thân, thận trọng dè chừng, không nên chấp mê bất ngộ. Hãy tự vẽ cho mình một vòng tròn, rồi cứ quẩn quanh bên trong cái vòng đó.”

“Công tử giải thích hay lắm!” Chiêu Dương quay sang Uy Vương, gượng cười. “Bệ hạ, là vi thần thô thiển, đã suy nghĩ lệch lạc!”

Công tử Như vẫn thấy thắc mắc trong lòng: “Xin hỏi phụ vương, cớ sao lại biết Lịch Khi?”

Uy Vương gõ ngón tay xuống bàn, vẻ vô cùng đắc ý: “Ha ha ha, người này đã là con dân của quả nhân, thì đâu có lý nào quả nhân lại không biết? Còn nữa, người làm ra khúc ca này không phải Lịch Khi, mà là Tiếp Dư, và người có đạo mà lúc nãy con vừa giải thích chính là Trọng Ni người nước Lỗ. Tuy nhiên, theo quả nhân được biết, đây không phải bản gốc của khúc ca này.”

Cả công tử Như, Chiêu Dương đều sững sờ kinh ngạc, đồng thanh thốt lên: “Vậy bản gốc như thế nào kia?”

Uy Vương dường như đã đắm chìm trong suy tưởng: “Tiếp Dư sống vào thời tiên tổ Chiêu Vương. Nghe nói, Trọng Ni người nước Lỗ đi chu du qua địa phận nước ta, Tiếp Dư đi qua trước cửa nhà Trọng Ni, liền hát: ‘Phượng này, phượng này, sao đức suy vậy thay. Việc qua can gián khó đây, việc sau có lẽ hoạ may vãn hồi. Bỏ đi thôi, bỏ đi thôi! Ngày nay tòng chính đến hồi nguy nan.’ Ý muốn khuyên Trọng Ni nên biết thời thế, tu dưỡng thân mình, không nên cứ mãi bôn ba khổ sở trong vòng thị phi. Nếu nói Tiếp Dư là người cuồng thời xưa, thì Lịch Khi chính là kẻ cuồng thời nay. Có điều...” mắt nhìn thẳng vào công tử Như, khẽ chau mày, “khúc ca của Lịch Khi và khúc ca của Tiếp Dư rất khác nhau, đặc biệt là câu ‘chuyện sau không thể đợi, chuyện cũ khó đổi thay’, ý tứ ban đầu đã bị đảo lộn, dễ khiến người ta liên tưởng triền miên, muôn phần cảm khái. Lúc quả nhân mới nghe, cũng thấy giật mình, bèn cho người mời Lịch Khi đến, muốn hỏi rõ nguyên do, nhưng Lịch Khi lại từ chối không tới. Quả nhân vốn muốn đích thân đến tận nơi hoang dã để tìm hắn, song muôn việc bận bịu, vẫn chưa thể đi được. Như Nhi đã gặp mặt Lịch Khi, vậy đã nhìn nghe được gì, hãy nói ra cho ta nghe thử!”

“Khởi bẩm phụ vương,” công tử Như đáp. “Nhi thần gặp mặt, khen ngợi ông ta làm được khúc ca hay, Lịch Khi liền lắc đầu, nói là khúc ca này không phải do ông ta làm ra. Nhi thần hỏi ông ta đó là của ai, ông ta hỏi vặn lại nhi thần là đã từng gặp được chân nhân chưa? Nhi thần bèn trả lời, chân nhân chỉ xuất hiện ở thời thượng cổ, ngày nay biết đi đâu tìm? Lịch Khi cười chê nhi thần kiến văn hạn hẹp, nói rằng người làm ra khúc ca này là chân nhân đương đại. Nhi thần vội hỏi chân nhân là ai, Lịch Khi bèn nói, chân nhân họ Trang tên Chu, là người đắc đạo!”

“Ồ?” Uy Vương nhổm người về phía trước. “Nói như vậy, người này đã thành tiên rồi ư?”

Công tử Như thoáng ngẩn người: “Trang chân nhân đã thành tiên hay chưa, thì nhi thần không biết!” Dừng lại một chút, lại nói tiếp. “Nhi thần nghe nói chân nhân hiện đang sống ở Mông Ấp nước Tống, nên rất muốn đến Tống một chuyến để chứng thực sự tình, mong phụ vương ân chuẩn!”

“Tuyệt đối không được đi!” Uy Vương xua tay từ chối.

“Phụ vương...” Công tử Như tiếp tục cầu xin.

“Như Nhi!” Uy Vương lắc đầu nói. “Đã sắp đến lúc liệt quốc hội thề hợp tung, con lại là phó sứ tung thân của nước Sở, sao có thể tuỳ tiện bỏ đi?” Cúi đầu ngẫm nghĩ một lúc, rồi quay sang nội thần. “Đã có chân nhân, thì không thể không đến thăm. Ngươi hãy phái hai người tin cẩn đến Mông Ấp, tìm mọi cách gặp được Trang chân nhân, nói rằng quả nhân muốn mời chân nhân đến đất Sính du ngoạn một chuyến, thành tâm bái làm quốc sư!”

Nội thần chưa kịp vâng lệnh, thì một viên nội thần tuần trực đứng dưới đình đã lên tiếng bẩm báo: “Khởi bẩm bệ hạ, điện hạ cầu kiến!”

Uy Vương vội nói: “Tuyên vào!”

Thái tử Hoè vội vã lên đình, sau khi hành lễ xong xuôi, liền ngồi xuống.

Uy Vương mỉm cười nhìn thái tử Hoè: “Hoè Nhi, trông con thần sắc phấn chấn, hẳn là có việc tốt đẹp?”

“Khởi bẩm phụ vương!” Thái tử Hoè bẩm tấu. “Sáu nước tung thân đã thành, nhi thần tấu xin phụ vương khai chiến với Tần, rửa mối nhục ngày trước, đoạt lại sáu trăm dặm Thương Ư!”

“Hoè Nhi, con hãy nói xem, khai chiến thế nào?”

Thái tử Hoè liếc nhìn Chiêu Dương, muốn nói lại thôi.

Uy Vương nhận ra vẻ do dự của thái tử Hoè, liền cười: “Nói đi, ở đây không có người ngoài!”

Thái tử Hoè đành phải thuật lại toàn bộ mưu kế của Khuất Vũ: “Vùng sơn cốc Thương Ư từ đông sang tây dài chừng sáu trăm dặm, hình thế hiểm yếu, giống như con rắn dài. Sáu nước tung thân, hội thề tại Mạnh Tân, đã định được ngày lành. Nhi thần cho rằng, ta có thể phô trương thanh thế, tham gia hội thề. Người Tần chắc chắn sẽ phải dốc toàn lực đối phó, ta sẽ nhân lúc họ lơ là, lặng lẽ xuất kỳ binh từ Hán Trung, vượt qua núi Thiếu Tập, tập kích Vũ Quan, Ư Trung, cắt đứt đôi mình rắn, sau đó cố thủ tại các quan ải hiểm yếu, đông tây vây lại, chiếm trọn Thương Ư!”

“Ừm!” Uy Vương vẫn mỉm cười trầm ngâm. “Là ai đã nghĩ ra mưu này?”

“Tả tư mã!”

Thấy là mưu của Khuất Vũ, Chiêu Dương thầm giật thột, đưa ánh mắt lo lắng nhìn Uy Vương.

Uy Vương vuốt râu, trầm ngâm một lúc, rồi quay sang Chiêu Dương: “Khuất tướng quân nghĩ ra mưu này, Chiêu ái khanh thấy thế nào?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Chiêu Dương nói. “Vi thần cho rằng mưu này rất hay, ta có thể một trận đoạt lại vùng sơn cốc Thương Ư, rửa mối nhục ngày trước. Chỉ có điều...” Cố tình dừng lại, liếc nhìn thái tử Hoè.

“Chỉ có điều làm sao?” Uy Vương hỏi.

Chiêu Dương ra bộ băn khoăn: “Mưu này dù hay, nhưng thực thi lại bất lợi. Núi Thiếu Tập từ nam sang bắc rộng hai trăm dặm, chót vót hiểm trở, lại có dòng nước chảy xiết, hổ báo đầy rẫy, từ xưa đến nay là nơi yêu ma quỷ quái ra vào, dân cư hầu như không có, đại binh làm sao có thể vượt qua? Hơn nữa, cho dù có thể vượt qua, thì quân nhu phải vận chuyển bằng cách nào? Người ngựa quân nhu không băng qua được, một chút quân tiên phong ít ỏi không những không giáp công được người Tần, ngược lại còn dễ bị người Tần giáp kích. Làm tốt, có thể một trận thành công; làm không tốt, sẽ bị người Tần cười nhạo.”

“Theo kế của ái khanh, ta nên làm thế nào?”

“Hiện giờ sáu nước hợp tung, thân như một nhà, người Tần cho dù có là một khối sắt tinh, cũng sẽ bị nghiền thành vụn cám. Vi thần cho rằng, trước tiên chúng ta cần tập trung toàn lực vào việc hợp tung, cùng liệt quốc hợp làm một, chung sức đánh Tần, theo đường Hàm Cốc đánh thẳng đến Hàm Dương. Hàm Dương là gốc, Thương Ư là ngọn. Chỉ cần đoạt được Hàm Dương trong tay, thì sáu trăm dặm Thương Ư cỏn con kia còn chạy đi đằng nào?”

“Ừm!” Uy Vương khẽ gật đầu, quay sang thái tử Hoè. “Hoè Nhi, Như Nhi, Chiêu ái khanh, nghe chỉ!”

Ba người đồng loạt rời khỏi chỗ ngồi, quỳ xuống đất.

Uy Vương đưa mắt nhìn công tử Như: “Như Nhi, gửi công hàm tới Tô Tử và sứ thần liệt quốc, nói rằng sáu nước hợp tung, hợp sức chống Tần, lần này quả nhân sẽ đích thân tham dự hội thề!”

“Nhi thần tuân chỉ!”

Uy Vương quay sang Chiêu Dương: “Chiêu ái khanh!”

“Có vi thần!”

“Chuẩn bị tám vạn đại quân, cùng quả nhân tới Mạnh Tân tham gia hội thề, để phô bày uy thế của tung thân!”

Chiêu Dương sang sảng đáp lời: “Vi thần tuân chỉ!”

Uy Vương chuyển ánh mắt sang thái tử Hoè: “Hoè Nhi!”

“Có nhi thần!”

“Trấn giữ Sính Đô, chăm lo quốc sự, không được tuỳ tiện vọng động!”

“Nhi thần... tuân chỉ!”

Hồi Thứ 47

Tính mưu ly gián, Trương Nghi phái sứ hai nước

Hội thề Mạnh Tân, Tô Tần đeo ấn sáu nước

Tin Sở Uy Vương đích thân dẫn tám vạn đại quân tham gia hội thề được truyền ra ngoài, đặc sứ liệt quốc đều vô cùng phấn chấn, đua nhau viết thư, phái ngựa hoả tốc báo tin về cho quân chủ nước mình. Sứ thần nước Ngụy công tử Ngang là người hoan hỷ hơn ai hết, một mặt cấp tốc phái người ngựa về báo tin mừng, mặt khác cũng từ biệt Tô Tần, gấp rút đi suốt ngày đêm trở về Đại Lương.

Công tử Ngang còn chưa kịp đến Đại Lương, thần dân nước Ngụy đều đã nhận được tin mừng. Huệ Vương đích thân ra cổng thành nam nghênh đón, dắt tay công tử Ngang cùng ngồi lên vương xa, trong khi cả ba vị trọng thần cùng đi nghênh đón là Bàng Quyên, Huệ Thi và Chu Uy đều phải đi theo phía sau.

Trở về đến cung, Huệ Vương chăm chú lắng nghe công tử Ngang hào hứng tấu báo sự tình, đặc biệt là khi nghe đến đoạn Tô Tần lật tẩy trò lừa đảo của Thương Ngô Tử ngay giữa cung Sở, lại càng khâm phục Tô Tần gấp bội, vỗ bàn khen nức nở: “Khá khen cho Tô Tử!” Rồi cười vang khoái trá, nhìn sang tả hữu. “Các khanh đều đã nghe rồi đấy, đó chính là Hùng Thương, cứ ngỡ mình là hạng bất phàm, nào ngờ lại bị lừa gạt bởi một kẻ đầu đường xó chợ. Ha ha ha, thuật trường sinh bất lão, vậy mà hắn cũng tin cho được! Ha ha ha, quả nhân cũng đã thấy rõ rồi, té ra Hùng Thương là kẻ sợ chết! Sinh lão bệnh tử là lẽ thường tình của nhân sinh, đến điều này mà còn không hiểu thấu, uổng cho hắn tự cho mình là thông minh!”

Quần thần đều phá lên cười!

“Phụ vương nói chí phải!” Công tử Ngang tiếp lời. “Lúc đó, Sở Vương tay cầm tiên đan, hai mắt bàng hoàng nhìn vào chiếc tai giả và bộ lông mày giả của Thương Ngô Tử, mặt lúc đỏ bừng, lúc trắng bệch, đúng là không có lỗ nẻ nào mà chui xuống!”

“Hay lắm, hay lắm!” Huệ Vương gõ nhẹ lên mặt bàn. “Đợi khi hắn đến tham dự hội thề, quả nhân nhất định phải tìm cơ hội hỏi thăm hắn về thuật trường sinh mới được, xem hắn đối đáp thế nào!”

Quần thần lại cười rộ lên.

Đợi sau khi tiếng cười ngớt đi, Huệ Vương liền thu nét cười lại, uy nghiêm nhìn khắp lượt quần thần: “Chư vị ái khanh! Hùng Thương dẫn theo tám vạn quân, đích thân tới Mạnh Tân, ta phải đối phó thế nào, mời chư vị hãy cùng bàn bạc!”

“Bệ hạ!” Bàng Quyên lên tiếng đầu tiên. “Vi thần cho rằng, lần này Sở Vương đến nơi, hẳn có điều gian trá.”

“Ái khanh nói xem, hắn có gì gian trá?”

“Sở Vương rất ít khi dự hội, lần trước hội triều Mạnh Tân, cũng viện cớ không đi. Nhưng lần này lại khác hẳn lệ thường, là người đầu tiên tuyên bố tham gia, khiến ta không thể không nghi ngờ. Hơn nữa, nếu đến vì chuyện tung thân, lại mang theo tám vạn đại quân là có ý gì?”

Quần thần đều gật gù. Huệ Vương khẽ chau mày lại.

“Còn nữa!” Bàng Quyên tiếp tục suy đoán. “Theo vi thần được biết, trước khi đặc sứ hợp tung đến Sính Đô, Chiêu Dương đã rầm rộ gõ trống khua chiêng, điều binh khiển tướng, tập hợp hơn hai mươi vạn đại quân mưu đồ phạt ta, muốn báo mối thù Hình Sơn; vi thần cũng đã bày trận sẵn sàng, chuẩn bị ứng chiến. Sau do Chiêu Dương có tang mẹ, nên việc này mới tạm thời gác lại. Vì vậy vi thần cho rằng, người Sở đột nhiên đổi ý, không tính toán chuyện cũ, động cơ rất đáng ngờ.”

Huệ Vương quay sang Huệ Thi nãy giờ vẫn khép mắt ngồi yên, hỏi: “Bàng ái khanh cho rằng người Sở gian trá, ý ái khanh thế nào?”

Huệ Thi mở mắt ra, ôm quyền nói: “Khởi bẩm bệ hạ, vi thần cho rằng Bàng tướng quân nói rất phải, chúng ta nên thận trọng đề phòng!”

“Ừm!” Huệ Vương gật gù, căn dặn Chu Uy. “Chu ái khanh, khi người Sở đến, khanh hãy báo với họ, chỉ được dẫn một vạn binh tham gia hội thề, đề phòng bất trắc!”

Chu Uy vâng lệnh: “Vi thần tuân chỉ!”

Tuy nhiên, diễn biến sự việc lại hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của Bàng Quyên. Mấy ngày sau đó, sứ thần nước Tề vào triều, tấu rằng Tề Uy Vương sẽ đến dự hội thề, dẫn theo năm vạn đại quân để phô trương thanh thế hợp tung. Ngay sau đó, sứ thần hai nước Hàn, Triệu cũng lần lượt đến báo tin, nói rằng Hàn Hầu, Triệu Hầu cùng đến tham gia hội thề, mỗi nước dẫn theo ba vạn đại quân. Có lẽ do đường xa, nên sứ thần nước Yên đến muộn nhất, nhưng lời lẽ cũng cảm động nhất, nói rằng Yên Công không quản tuổi già sức yếu, đích thân dẫn theo ba vạn đại quân, cùng tham gia hội thề.

Quân chủ của năm nước cùng đến, ai nấy đều dẫn theo quân đội rầm rộ, khiến Bàng Quyên có chút băn khoăn, liền đóng cửa trong trướng, từ chối khách khứa, suy nghĩ liền ba ngày trời, đến ngày thứ tư mới vào cung yết kiến Huệ Vương, bẩm tấu: “Phụ vương, xem ra nhi thần đã sai rồi!”

Huệ Vương cười nói: “Không phải sai, mà là thận trọng. Liệt quốc tung thân, hàng chục vạn đại quân cùng lúc tập trung trước cửa nhà ta, hiền tế thận trọng cũng là lẽ thường tình, đâu có gì sai?”

“Đa tạ phụ vương!”

“Hiền tế!” Huệ Vương nghiêm mặt nói tiếp. “Quả nhân đã suy nghĩ kỹ lưỡng, lần này Tô Tần khởi xướng tung thân, liệt quốc đều hưởng ứng, chung sức chống bạo Tần, đây là trời đã giúp nước ta, ta không thể bỏ lỡ thời cơ tốt đẹp này. Quả nhân đang định triệu hiền tế vào bàn bạc, thì hiền tế đã đến rồi, xem ra cha con ta suy nghĩ tương đồng!”

“Phụ vương...”

“Hiền tế!” Huệ Vương cất giọng chân thành, cảm thán mà rằng. “Đời này của quả nhân, việc gì cũng từng nếm trải, đã mấy phen thăng trầm hưng bại, động phách kinh tâm! Trong những việc mà quả nhân đã từng trải qua, việc thương tâm nhất chính là đánh mất Hà Tây, việc sảng khoái nhất là chiến thắng Hoàng Trì. Để mất Hà Tây là lỗi của một mình quả nhân; chiến thắng Hoàng Trì là công của một mình hiền tế...”

“Phụ vương...” Bàng Quyên nghẹn ngào.

“Hiền tế! Suốt cuộc đời này, quả nhân có nhiều hối hận, nhưng cũng có nhiều may mắn. Hối hận nhất là để mất Công Tôn Ưởng, may mắn nhất là có được hiền tế!”

“Phụ vương...” Bàng Quyên bật khóc thành tiếng.

“Than ôi, không nói những chuyện trước đây nữa!” Huệ Vương thở dài một tiếng. “Hiện giờ thời cơ đã đến, quả nhân có thể rửa được nỗi nhục này hay không, có đoạt lại được Hà Tây hay không, đều phải dựa vào hiền tế!”

“Phụ vương yên tâm, nhi thần nhất định sẽ dốc kiệt sức mình, bắt sống Tần Công, đoạt lại Hà Tây, báo thù cho tám vạn tướng sĩ đã tử trận!”

“Tốt lắm!” Huệ Vương đập mạnh tay xuống bàn. “Hiền tế có tráng chí này, phụ vương cũng thấy an ủi!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Thế nhưng hiền tế, nay đã khác xưa. Nước Tần có Hà Thuỷ ngăn trở, lại có ải Hàm Cốc hiểm yếu, là đất nước bốn bề phong kín, dễ thủ khó công!”

“Khởi bẩm phụ vương!” Bàng Quyên dõng dạc. “Nhi thần nghe nói, ngày trước Ngô Tử từng cùng tiên quân Vũ Hầu du thuyền trên Tây Hà, đi tới giữa sông, tiên quân cảm khái thốt lên rằng: ‘Tuyệt diệu thay, núi sông vững chãi, là bảo bối của nước Ngụy ta’. Ngô Tử đáp lại: ‘Núi sông vững chãi, tại đức không tại hiểm. Nếu như chúa thượng không tu đức, thì tất cả những người trên thuyền đều sẽ là kẻ địch’. Tiên quân đã phải thốt lên rằng: ‘Lời Ngô Tử thực hay lắm thay’.”

Huệ Vương xúc động, đứng dậy nắm tay Bàng Quyên: “Lời Bàng Tử thực hay lắm thay!”

Bàng Quyên sống mũi cay sè, giọng càng thêm nghẹn ngào: “Bệ hạ, về việc đánh Tần, từ lâu vi thần đã nghĩ xong kế hoạch. Chỉ cần sáu nước hợp nhất, đồng loạt ra tay, đừng nói là nước Tần bốn ải hiểm trở, cho dù nước Tần có kiên cố như sắt đá, vi thần cũng sẽ khiến nó thành cám vụn!”

“Hiền tế có kế sách gì, nói cho phụ vương biết được chăng?”

“Kế của nhi thần là, chia quân làm ba lộ công Tần. Nam lộ là người Sở, tiến quân từ Uyển Thành, đánh vào vùng sơn cốc Thương Ư, theo đường Vũ Quan tiến tới Lam Điền, tiến thẳng tới Hàm Dương. Vùng sơn cốc Thương Ư là nỗi đau của người Sở, Sở tất sẽ dốc toàn lực. Trung lộ là liên quân ba nước Hàn, Ngụy, Tề, xuất binh từ Hào Quan, đánh Hàm Cốc từ phía tây, chiếm lại Hàm Cốc, sau đó sẽ từ Hàm Cốc tiến tới Âm Tấn, đánh thẳng tới Hàm Dương. Người Tần nhiều lần chinh phạt Nghi Dương để đoạt sắt, khiến người Hàn lúc nào cũng nơm nớp, lần này xuất binh, chắc chắn cũng sẽ dốc toàn lực. Tề tuy cách xa Tần, nhưng từ lâu đã thèm thuồng các nước lưu vực sông Tứ. Phụ vương chỉ cần đồng ý sau khi phá Tần sẽ cho người Tề cai quản các nước lưu vực sông Tứ, đặc biệt là nước Tống, Tề nhất định sẽ dốc toàn lực. Bắc lộ là liên quân Yên, Triệu, xuất phát từ Tấn Dương, men theo Phần Thuỷ tiến về phía tây, vượt qua Hà Thuỷ, đánh vào Hà Tây. Tần, Triệu có mối thù Tấn Dương, người Triệu chắc chắn sẽ dốc toàn lực. Người Yên mặc dù ở xa Tần, nhưng là nước phát động hợp tung, nước Yên không thể không dốc sức. Vì vậy, bắc lộ cũng sẽ rất hùng mạnh.”

“Kế này của hiền tế rất hay, có điều...” Huệ Vương ngập ngừng muốn nói lại thôi.

“Phụ vương!” Dường như Bàng Quyên cũng đã đoán ra nỗi lo lắng của Huệ Vương, bèn nói dõng dạc. “Ba lộ tấn công đều là kế nghi binh của nhi thần, chỉ là dương công. Còn trên thực tế, vi thần đã có kế sách ngấm ngầm tập hợp tinh binh, đợi sau khi kẻ địch phải dốc toàn lực để đối phó với ba lộ quân kia, ta sẽ xuất binh từ Phong Lăng, dùng bè da dê, bè hồ lô âm thầm vượt qua Hà Thuỷ, tập kích chớp nhoáng chiếm lấy Âm Tấn, cắt đứt đường lui của quân Tần. Sau đó sẽ tiến theo Hà Thuỷ lên phía bắc, đoạt lấy Lâm Tấn quan, bắc lại cầu phao, nghênh đón đại quân qua sông, đồng loạt tấn công Hà Tây. Đợi sau khi ta chiếm được Hà Tây và con đường Hàm Cốc, liên quân sáu nước thế sẽ như dời non lấp biển, đánh thẳng vào Hàm Dương, san bằng Quan Trung.”

“Hay lắm!” Huệ Vương nghe mà nhiệt huyết sục sôi, vỗ bàn đến mấy lần.

“Bệ hạ!” Bàng Quyên quỳ xuống, tâm trạng vô cùng phấn khích. “Tất cả những kế sách trên, chẳng qua mới chỉ là nước đi đầu tiên của vi thần!”

“Ồ?”

“Sau khi diệt Tần, vi thần sẽ thừa dịp sáu nước chia Tần, để khiêu khích Tề, Sở tranh chấp, sau đó hoặc là liên minh với Tề diệt Sở, hoặc là liên minh với Sở diệt Tề. Chỉ cần Tề, Sở yếu thế, thiên hạ sẽ được định đoạt!”

Huệ Vương hai mắt trợn tròn, tim đập thình thịch, giương đôi mắt vằn đỏ tia máu nhìn trừng trừng vào Bàng Quyên hồi lâu, rồi bàn tay siết chặt, đấm mạnh xuống bàn đánh “rầm”, bật ra một tiếng khàn đặc từ lồng ngực: “Tốt!”

“Phụ vương!” Bàng Quyên hạ giọng. “Việc quân quý ở bí mật, tuyệt đối không được tiết lộ cho người khác biết!”

Huệ Vương trịnh trọng gật đầu, giọng càng hạ thấp hơn nữa, gần như một tiếng thì thào: “Được!”

Trong một sơn cốc chạy dài từ núi Chung Nam đến Nam Trịnh quận Hán Trung, tiếng gõ đập choang choảng cùng với tiếng hò dô vần đá chuyển gỗ ồn ào khắp chốn, hơn một vạn trai tráng người Tần đang ngày đêm gấp rút bắc sạn đạo. Hữu thứ trưởng Trương Nghi, quốc uý Tư Mã Thác được công đại phu Lý Lỗi, người phụ trách công trình này, dẫn đi thị sát dọc theo sơn cốc.

Nhìn đỉnh cao vút chọc trời với vách dốc hun hút trước mặt, Trương Nghi quay sang Tư Mã Thác, chặc lưỡi cảm thán: “Chà chà, ngọn núi này có thể sánh ngang với đỉnh Hầu Vọng!”

“Đỉnh Hầu Vọng?” Tư Mã Thác ánh mắt ngơ ngác. “Đỉnh Hầu Vọng ở đâu?”

Trương Nghi chỉ về phương trời đông bắc, cười nói: “ở đằng kia, khuất sau biển mây!” Rồi ngoảnh đầu quan sát thế núi một lượt, chỉ vào một tráng đinh đang treo mình lơ lửng trên sợi thừng tại vách núi dựng đứng phía xa để đục lỗ bắc sạn đạo, quay sang nói với Lý Lỗi: “Lý đại nhân, sạn đạo này dài bao nhiêu?”

“Hồi bẩm hữu thứ trưởng, sơn cốc này dài ba mươi hai dặm, cần phải bắc mười tám dặm đường sạn đạo, còn lại có thể dựa theo địa thế để mở đường.”

“Còn đến Hán Trung thì sao?”

“Năm trăm lẻ tám dặm, cần bắc hai trăm năm mươi mốt dặm sạn đạo.”

“Tất cả đều là sơn cốc hun hút như thế này ư?”

“Đúng vậy! Chỗ này còn là sơn cốc nhỏ, tại đỉnh Thái Bạch, thế núi còn hung hiểm hơn nhiều!”

Trương Nghi tặc lưỡi liền mấy tiếng: “Trương Nghi phục rồi!” Rồi quay lại ngắm nghía con đường sạn đạo đã được bắc xong, chau mày nhìn hút về phía xa, hồi lâu sau mới lên tiếng. “Xin hỏi Lý đại nhân, con đường này bao giờ mới hoàn thành?”

“Hồi bẩm hữu thứ trưởng, theo dự tính, vào mùa thu sang năm nữa sẽ thông đường!”

“Có khó khăn gì không?”

“Có đấy!” Lý Lỗi thoáng do dự, rồi nói thẳng. “Công trình này khó khăn hơn dự tính rất nhiều. Ví như thời tiết, vốn rất bất định, tốt xấu thất thường, đến mùa đông, lại càng là tuyết lớn bao phú núi rừng, đừng nói là người, ngay cả thú hoang cũng khó lòng di chuyển. Mạt tướng lo lắng, chẳng may để xảy ra sai sót, mạt tướng chịu tội là chuyện nhỏ, để lỡ đại sự quốc gia mới là việc lớn!”

“Lý đại nhân, ta sẽ điều động thêm năm nghìn nhân công, tăng gấp đôi tiền bạc, đại nhân thấy sao?”

“Đa tạ hữu thứ trưởng!”

Từ nơi bắc sạn đạo trở về doanh trại, Trương Nghi, Tư Mã Thác ngồi chưa ấm chỗ đã thấy mấy kỵ binh phóng ngựa như bay tìm đến, trong đó có một người là thị vệ trong cung, báo rằng Tần Công triệu gấp. Trương Nghi, Tư Mã Thác không kịp ăn cơm, lập tức theo thị vệ trở về Hàm Dương.

Đi tới Lam Điền, thấy phía trước tiếng chiêng tiếng trống rầm rộ, phóng mắt nhìn đi, thì thấy một đoàn xe ngựa đang lộc cộc tiến lại, trên cờ hiệu thấy đề mấy chữ “Trần”, “Tần”, “Sứ”, lại thấy huyện thừa Lam Điền dẫn theo phụ lão, quan viên đứng đầy đường nghênh đón. Trương Nghi hỏi quan lại ở dịch quán, mới biết đó là khách khanh Trần Chẩn đi sứ khải hoàn.

Tư Mã Thác thúc hai chân vào bụng ngựa, quay sang Trương Nghi: “Đi, chúng ta đi đón!”

Trương Nghi hừ mũi một tiếng: “Muốn đón, Tư Mã huynh đi mà đón, giục tại hạ làm gì?”

Tư Mã Thác ghìm ngựa, cười nói: “Trương huynh không muốn gặp ông ta ư?”

Trương Nghi khinh khỉnh quay đi: “Tại hạ đã quen ông ta từ lâu rồi!” Nói đoạn, thúc ngựa lao đi, phóng thẳng về phía Hàm Dương, chẳng thèm ngoái đầu lại.

Tư Mã Thác thoáng ngẩn người, rồi cũng quay ngựa, đuổi sát theo sau.

Hai người đi tới Hàm Dương, còn chưa kịp vào tới cổng nam, từ xa đã nhìn thấy người đi đường theo nhau dạt sang hai bên. Một lát sau, một đoàn xe ngựa rầm rập tiến ra khỏi cổng thành, phía sau toán thị vệ là các quan viên từ trung đại phu trở lên, cỗ xe giữa chính là của Tần Công, người đánh xe là công tử Hoa. Đi sát phía sau là cỗ xe tứ mã bằng đồng xanh chở theo lão thái phó Doanh Kiền đầu tóc bạc phơ, đã cáo lão về vườn từ lâu.

Trương Nghi, Tư Mã Thác cùng đám tuỳ tùng cũng lánh sang bên đường. Khi đoàn xe ngựa đến gần, thượng đại phu Sư Lý Tật nhìn thấy hai người, bèn quay ngựa báo với nội thần. Nội thần bẩm báo, Huệ Văn Công liền hô dừng xe, cấp tốc mời hai người yết kiến.

Trương Nghi, Tư Mã Thác nhanh chóng rảo bước tới trước xe, hành lễ xong xuôi, Huệ Văn Công cười lớn mà nói: “Hai vị ái khanh trở về thật đúng lúc!” Rồi chỉ tay về phía trước. “Đi, theo quả nhân đi đón tiếp một đại quý nhân!” Đoạn quay sang công tử Hoa ra lệnh. “Khởi giá!”

Công tử Hoa ra roi quất ngựa, đoàn xe lại lục tục lên đường. Trương Nghi không biết đại quý nhân là ai, cũng không tiện hỏi nhiều, đành phải cùng Tư Mã Thác thúc ngựa đi theo đội ngũ.

Đoàn xe ngựa đi ra ngoài thành mười dặm, dừng lại tại dịch trạm. Tần Công bước xuống xe, đi lên một đài đất mới được đắp tạm, mắt dõi về phía nam. Trăm quan lần lượt xếp hàng ở phía sau theo thứ tự.

Thấy trăm quan dáng vẻ nghiêm trang, ai nấy đều ngỏng cổ ngóng về phía nam theo Huệ Vương, Trương Nghi không thể nhịn thêm được nữa, hạ thấp giọng hỏi Tư Mã Thác: “Này, rốt cuộc đại quý nhân là ai thế, huynh có biết không?”

Tư Mã Thác khẽ chau mày: “Lẽ nào lại là Trần Chẩn?”

“Sao có thể được?” Trương Nghi phì cười một tiếng. “Với đức hạnh của phường tiểu nhân đó, làm sao chúa thượng phải đích thân ra đón?”

Lời vừa dứt, liền có người hô lớn: “Mau nhìn kìa, đến rồi!” Quả nhiên, từ phía xa đã thấy bụi cuốn mù mịt, chốc lát sau, thấp thoáng hiện ra những lá cờ hiệu “Trần”, “Tần”. Trương Nghi nhìn thấy rành rành, nhất thời chết sững. Đợi đoàn xe của Trần Chẩn đến gần, Huệ Văn Công vung tay ra lệnh: “Tấu nhạc!”

Toán nhạc công cưỡi trên lưng ngựa đồng loạt diễn tấu. Thoáng chốc, chuông trống rộn ràng, sênh khánh ngân nga, sáo tiêu réo rắt, cùng tấu lên khúc nhạc “Phá trận”, tương truyền do Khương Tử Nha sáng tác năm xưa.

Còn cách ba trăm bước, Trần Chẩn đã nhảy xuống xe, hớt ha hớt hải chạy lại. Huệ Văn Công thấy ông ta tới gần, cũng sải bước xuống đài, tiến lên nghênh đón.

Trần Chẩn hai gối mềm nhũn, quỳ phịch xuống đất, dập đầu như giã tỏi, bật khóc oang oang: “Chúa thượng...”

Huệ Văn Công rảo bước tới trước mặt ông ta, miệng nói: “Ái khanh, trên đường đã vất vả rồi!”

Trần Chẩn nước mắt nước mũi tèm lem, giọng nói run rẩy: “Chúa thượng...”

Huệ Văn Công đưa tay đỡ lấy tay Trần Chẩn, kéo ông ta đứng dậy: “Ái khanh, quả nhân đang thượng triều, hay tin khanh đã trở về, không kịp cả bãi triều, lập tức cùng bá quan ra đón! Khanh hãy nhìn xem, tất cả vẫn còn mặc nguyên triều phục!”

Trăm quan đồng thanh chúc mừng: “Cung nghênh Trần thượng khanh khải hoàn!”

Trần Chẩn đối diện với trăm quan, khom lưng xuống thật thấp, rồi quay sang Huệ Văn Công vòng tay vái dài sát đất, khóc mà nói: “Vi thần có tài đức gì mà dám nhọc công chúa thượng đại giá cung nghênh?”

Huệ Văn Công vòng tay đáp lễ, cười vang mà nói: “Công của ái khanh, có thể địch được ba quân!” Rồi nhẹ nhàng dìu tay ông ta. “Đi, cùng quả nhân lên xe, quân thần chúng ta về cung trò chuyện.”

Quân thần hai người lên xe trong tiếng chúc mừng rộn ràng của quần thần. Đại đội người ngựa lập tức quay đầu, tiến thẳng về phía Hàm Dương.

Trở về đến cung, Tần Công giải tán trăm quan, hoàn toàn quên bẵng mất Trương Nghi và Tư Mã Thác, lập tức cùng Trần Chẩn đến điện Di Tình bí mật nghị sự.

Trương Nghi buồn bực u uất, bước xuống bậc thêm trước cung, đang định hồi phủ, chợt thấy công tử Hoa đi ra khỏi cửa, thì khẽ đảo mắt một vòng, rồi giơ tay gọi: “Công tử xin dừng bước!”

Công tử Hoa đi tới, vòng tay cười nói: “Ồ, là Trương huynh đấy ư? Mấy ngày không gặp, thấy nhớ huynh quá, hỏi thăm mới biết huynh đã lên núi mất rồi. Trong núi có nhiều kỳ trân dị bảo, phải chăng huynh đã mang về được món gì quý hiếm, muốn cho tại hạ mở rộng tầm mắt?”

“Không có gì cả!” Trương Nghi đáp lễ, cười nói. “Chỉ mang về được hai vò rượu, nghe nói ủ đã khá lâu năm!”

“Ồ!” Công tử Hoa cười vang. “Nói đến uống rượu, e rằng trong thành Hàm Dương này chẳng có ai vượt qua được tại hạ. Huynh thử đoán xem, rượu mà tại hạ được uống đã ủ bao nhiêu năm? Một trăm hai mươi năm! Lại thử đoán xem là ai đã tặng? Là Phạm Trù, người trong phủ sư đệ Bàng Quyên của huynh đấy. Tổ tiên của người này là thợ ủ rượu của cung Ngụy, vò rượu cổ đó là của báu gia truyền trong nhà hắn!”

“Hừm!” Ánh mắt Trương Nghi lộ vẻ coi thường. “Một trăm hai mươi năm mà cũng coi là cổ, xem ra công tử uống rượu ít quá rồi! Không giấu công tử, hai vò rượu mà tại hạ mang về lần này, chí ít cũng đã trăm rưỡi tuổi!”

“Cái gì?” Công tử Hoa hai mắt trợn tròn. “Một trăm năm mươi năm?” Đoạn bật cười ngặt nghẽo. “Huynh thật biết nói khoác. Ở Đại Tần nếu thực sự có rượu ngon đến vậy, làm sao có thể qua mặt được tại hạ?”

“Thoạt tiên tại hạ cũng không tin,” Trương Nghi thu nét cười, tỏ ra nghiêm túc, “nhưng gia chủ kiên quyết khẳng định, đó là rượu do ông nội của ông nội ông ta nấu, huynh thử tính mà xem, theo lời ông ta, kiểu gì cũng phải một trăm năm mươi năm là ít!”

“Đi! Đi! Đi!” Công tử Hoa lập tức kéo tay Trương Nghi. “Tại hạ lập tức đến phủ của huynh, uống một hớp xem sao!”

Hai người đánh xe đi thẳng tới phủ Trương Nghi, Trương Nghi liền dặn Hương Nữ chuẩn bị cơm rượu.

Sau khi rượu thịt được mang lên, Trương Nghi đích thân rót rượu, nâng chén mời: “Công tử, mời nếm thử rượu này!”

Công tử Hoa khẽ nhấp một ngụm, chép miệng mấy cái.

Trương Nghi nhìn công tử Hoa chăm chú: “Thế nào?”

Công tử Hoa đặt chén rượu xuống, hai mắt nhìn thẳng vào Trương Nghi, cười lớn mà nói: “Trương đại nhân, chúng ta hãy tạm gác chuyện rượu sang một bên. Huynh mời tại hạ đến, chắc chắn là có việc gì khác?”

“Không có việc gì!” Trương Nghi cười vang mà nói. “Tại hạ mời huynh đến, chỉ có một việc mà thôi: uống rượu! Tại hạ có được rượu ngon, không dám hưởng một mình!”

Công tử Hoa chỉ vào chén rượu: “Vậy... Trương đại nhân, tại hạ nên nói thực, hay nói dối?”

“Đương nhiên là nói thực!”

“Nếu như nói thực, rượu này chẳng qua cũng chỉ là loại bình thường, nhiều nhất chưa quá ba mươi năm!”

Trương Nghi giả bộ không tin, nâng chén lên nhấp một ngụm, rồi nhăn mặt làm hề, cười méo mó mà nói: “Hỡi ôi, công tử, tại hạ thực lòng mời công tử, cứ ngỡ là mỹ tửu, nào có ngờ đâu... Xem ra lời nói nơi thôn dã không thể tin được!” Rồi lại rót đầy hai chén. “Thôi không sao, uống rượu cốt ở tâm cảnh, mặc dù rượu này chưa thực lâu năm, nhưng cũng được coi là thượng phẩm. Huynh đệ chúng ta hãy cứ tuỳ nghi, uống một trận cho sảng khoái!”

“Trương huynh nói rất phải!” Công tử Hoa cũng bật cười. “Kỳ thực, rượu ba mươi năm cũng đã được coi là rượu ngon. Nếu thực sự có rượu một trăm năm mươi năm, cho dù huynh dám mời thì tại hạ cũng chẳng dám uống, chỉ cần được ngửi thôi cũng đã mãn nguyện lắm rồi!”

“Công tử thật hào sảng! Nào, hãy uống cạn chén này!”

Hai người cùng chén tạc chén thù, chưa đến nửa canh giờ, rượu đã ngà ngà, câu chuyện được rượu dẫn đường, càng lúc càng mở rộng, dần dần dẫn tới chủ đề.

Trương Nghi liếc sang công tử Hoa, dốc bầu tâm sự: “Công tử, tại hạ thực không tài nào hiểu nổi, thiên hạ có ai không biết Trần Chẩn là kẻ tiểu nhân, thế mà chúa thượng... Việc hôm nay, tại hạ thực không muốn nhắc tới!”

Công tử Hoa cười đáp: “Này Trương huynh, văn võ bá quan toàn triều đều có thể hỏi câu này, nhưng Trương huynh thì không thể!”

“Ồ, tại sao lại như vậy?” Trương Nghi mở to mắt.

“Ha ha ha!” Công tử Hoa nhổm người về phía trước, hạ thấp giọng. “Nói thực cho huynh biết, nếu không có Trần đại nhân, e rằng lúc này Trương huynh vẫn còn ở Sở!”

Trương Nghi thoạt tiên giật mình, sau đó cười nói: “Công tử thật biết nói đùa, tại hạ đến Tần thì có liên quan gì đến hạng người kia?”

“Dám hỏi Trương huynh, tại sao huynh lại rời khỏi nước Sở?” Công tử Hoa men rượu đã ngấm, trở nên thực thà hơn hẳn.

“Vì bị kẻ gian hãm hại!”

“Kẻ nào hãm hại?”

“Tên tiểu nhân Chiêu Dương!” Trương Nghi giọng rít qua kẽ răng.

“Tại sao Chiêu Dương lại hại Trương huynh?”

“Hắn muốn làm lệnh doãn nước Sở, coi tại hạ như tảng đá ngáng chân!”

Công tử Hoa chỉ tay vào Trương Nghi, phá lên cười ngặt nghẽo: “Trương huynh thông minh cái thế, cớ sao bây giờ lại hồ đồ đến vậy? Tại hạ hỏi huynh, với tài trí của thằng cha Chiêu Dương, liệu có phải là đối thủ của Trương huynh hay không?”

Trương Nghi lắc đầu.

“Vậy thì đúng rồi!” Công tử Hoa lại uống thêm một chén, miệng phả hơi rượu nồng nặc. “Đã là người một nhà, tại hạ cũng không ngại nói thực với Trương huynh những chuyện trước kia, Trương huynh có muốn nghe chăng?”

Trương Nghi luôn tay rót rượu: “Tại hạ xin rửa tai lắng nghe.”

Công tử Hoa lại uống thêm mấy chén, hào hứng dâng trào, bao nhiêu chuyện Trần Chẩn bày mưu tính kế ở nước Sở dốc ra tuốt tuột, nào là mượn ngọc Hoà thị bích để hãm hại Trương Nghi ra sao, ép Trương Nghi phải bỏ trốn tới Triệu thế nào, rồi Tô Tần lại dùng kế bức Trương Nghi đến Tần ra sao. Công tử Hoa cai quản Hắc Điêu đài, nhất cử nhất động của Trần Chẩn ở nước Sở đương nhiên nằm cả trong tay hắn, lúc này được rượu trợ hứng, lại càng chẳng chút kiêng dè, cứ thế thao thao bất tuyệt, kể lể sinh động đến kinh tâm động phách.

Trương Nghi trước nay luôn chắc mẩm kẻ hãm hại mình là Chiêu Dương, lúc này mới hiểu rõ nội tình, nhất thời ngây sững như khúc gỗ, chết lặng hồi lâu mới bừng tỉnh mà lẩm bẩm: “Hay! Hay lắm! Mưu hay lắm!” Lại ngẩn ngơ một lúc, phá lên cười lớn một tràng dài, đoạn nâng chén khen ngợi. “Quả nhiên là mưu sâu kế hiểm! Chẳng trách chúa thượng lại coi trọng hạng người này như vậy, thì ra hắn chính là đại công thần! Nào, công tử, vì tên đại công thần này, cạn chén!”

Sau khi tiễn công tử Hoa về, đêm đó Trương Nghi trằn trọc mãi không tài nào ngủ được. Nghĩ đến việc mình liều chết để du thuyết nước Việt, cực khổ suốt mấy trăm ngày, mắt thấy chí lớn đã sắp hoàn thành, vậy mà lại bị kẻ này huỷ hoại chỉ trong một sớm, lại nghĩ đến việc vì vậy mà phải chịu đựng không biết bao nhiêu khổ sở nhục nhằn, Trương Nghi càng nghĩ càng ruột gan sôi sục. Tiếp đó, lại nghĩ đến chuyện chỉ trong vòng một năm ngắn ngủi mà liệt quốc Sơn Đông đã được Tô Tần nhào nặn thành một khối, khí thế rầm rộ chống lại người Tần, mà Tần Công lại vội vã triệu kiến mình và Tư Mã Thác, mục đích chắc chắn cũng là nhằm tìm ra đối sách cho việc này, Trương Nghi lại càng không thể nào chợp mắt. Vật vã đến tận nửa đêm, Trương Nghi dứt khoát ngồi bật dậy khỏi giường, nhắm mắt suy nghĩ tìm kế ứng phó.

Ngày hôm sau không thiết triều. Trời vừa rạng sáng, trong cung đã phái người đến mời. Trương Nghi rửa mặt chải đầu thay triều phục xong xuôi, lập tức đánh xe tới cung thành. Đến ngoài cửa cung, Trương Nghi nhảy xuống xe, vừa định bước lên bậc thềm, bỗng nghe thấy có tiếng xe ngựa từ đằng sau vọng lại. Ngoảnh đầu nhìn, thì ra là Trần Chẩn.

Trương Nghi dừng bước, đứng đợi trên thềm, he hé mắt liếc nhìn Trần Chẩn thăm dò. Có lẽ do tối qua bàn chuyện với Tần Công quá lâu, Trần Chẩn hồi phủ muộn, sáng lại dậy quá sớm, nên hai mắt sưng húp, trông mệt mỏi đờ đẫn.

Thấy Trương Nghi đứng chặn đường, Trần Chẩn thầm kinh hãi trong lòng, nhưng vẫn nghiến răng bước lên bậc thềm, dừng lại trước mặt Trương Nghi, vòng tay nói: “Tại hạ xin được diện kiến Trương Tử!”

“Đúng là đã được diện kiến rồi!” Trương Nghi cũng vòng tay, cất giọng mỉa mai. “Trần thượng khanh hôm qua quả thực phong quang!”

“Là chúa thượng yêu lầm!” Trần Chẩn cười gượng gạo.

“Trần thượng khanh đi sứ nước Sở, lập được kỳ công cái thế, cớ sao lại bảo chúa thượng yêu lầm?”

Thấy Trương Nghi nhắc lại chuyện ở nước Sở, nụ cười của Trần Chẩn càng thêm khó coi: “Tại hạ bất tài, khiến Trương Tử cười chê rồi!”

“Trần thượng khanh từ Ngụy sang Tần, từ Tần sang Sở, chạy lên chạy xuống, xoay trái xoay phải, đùa giỡn ba nước lớn nhất thiên hạ trong lòng bàn tay. Bản lĩnh nhường này, nếu không phải bậc đại tài trong thiên hạ thì đâu thể làm được, hôm nay cớ sao lại khiêm tốn nhường vậy?”

Trần Chẩn đang lúc bối rối thì đám trọng thần như đại lương tạo Công Tôn Diễn, thượng đại phu Sư Lý Tật, quốc uý Tư Mã Thác, hữu canh Cam Mậu theo nhau đi đến. Trần Chẩn chớp thời cơ vội quay đi, vòng tay chào hỏi mọi người, rồi cùng bước vào cửa cung.

Tới điện Di Tình, Huệ Văn Công đã đợi sẵn ở đó. Huệ Văn Công cũng tỏ ra mệt mỏi, thần sắc nhợt nhạt, hẳn cũng suốt đêm không ngủ.

Hành lễ xong xuôi, Huệ Văn Công mỉm cười, cất giọng khàn đặc, ngữ điệu bình thản, đi thẳng vào việc chính: “Chư vị ái khanh, hôm nay quả nhân triệu chư vị đến bàn bạc, chỉ có một việc, đó là đối phó Sơn Đông hợp tung!” Nói đoạn đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, dừng lại ở Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh, trước tiên hãy nói qua về tình thế cho mọi người được biết!”

Sư Lý Tật vẫn như thường lệ, trước tiên đặng hắng một tiếng rồi nói: “Khởi bẩm chúa thượng, theo vi thần điều tra được biết, địa điểm hội thề hợp tung đã định là ở Mạnh Tân nước Ngụy, thời gian vào tiết Thu phân năm nay!” Chậm rãi rút ra một cuộn thẻ tre, đặt lên mặt bàn. “Đây chính là bản sao cương lĩnh hợp tung của sáu nước tung thân là Sở, Triệu, Tề, Ngụy, Hàn, Yên, do Tô Tần thảo ra. Còn nữa, theo tin thám báo đáng tin cậy, tính cho tới nay, nước Sở phát tám vạn đại quân, chủ tướng là Chiêu Dương, Sở Vương đích thân dự hội. Nước Tề phát năm vạn đại quân, chủ tướng là Điền Kỵ, Tề Vương đích thân dự hội. Nước Triệu phát ba vạn đại quân, chủ tướng là Phì Nghĩa, Triệu Hầu đích thân dự hội. Nước Hàn phát ba vạn đại quân, chủ tướng là Công Trọng, Hàn Hầu đích thân dự hội. Nước Yên phát ba vạn đại quân, chủ tướng là Tử Chi, Yên Công đích thân dự hội. Nước Ngụy phát mười hai vạn đại quân, chủ tướng là Bàng Quyên, Ngụy Vương đích thân dự hội.”

“Tư Mã ái khanh!” Huệ Văn Công quay sang Tư Mã Thác, giọng vẫn bình thản, tựa như đang xử lý việc nhà. “Quân đội hợp tung tập hợp, tổng cộng khoảng bao nhiêu binh mã?”

“Khởi bẩm chúa thượng, tổng cộng là ba mươi tư vạn!” Tư Mã Thác đáp rành rọt.

“Đông đến vậy ư?” Huệ Văn Công buột miệng kêu lên, khiến bầu không khí càng thêm nặng nề. “Phía ta thì sao? Tổng cộng có bao nhiêu binh lính có thể ứng chiến?”

“Ba mươi tư vạn!” Tư Mã Thác thần thái nghiêm trang, từng lời nhấn mạnh như từng nhát búa. “Trong đó có mười lăm vạn quân trấn thủ các thành ấp, mười vạn đinh dịch, trừ hai đội quân này đi, ta chỉ còn chín vạn quân có thể điều động được!”

Huệ Văn Công thôi cười, khép hai mắt lại.

Quần thần quay mặt nhìn nhau, không khí càng thêm trầm trọng, thời gian như cũng đóng băng. Quần thần đều giống như Huệ Văn Công, nhắm mắt suy nghĩ, chẳng ai lên tiếng. Đúng vậy, ba mươi tư vạn đại quân tập hợp ngay trước cổng, mũi nhọn chĩa thẳng vào Tần, lúc này đây, bất cứ lời nào cũng thành vô nghĩa.

Hồi lâu, Huệ Văn Công hơi hé mắt, nở một nụ cười khô khốc: “Chư vị ái khanh, nói gì đi chứ! Quả nhân mời chư vị đến đây, không phải là để nhìn mọi người ngồi dài mặt ra như vậy, mà là muốn tìm ra một kế sách!”

Đại lương tạo Công Tôn Diễn thân là người đứng đầu bá quan không thể nhẫn nại thêm được nữa, bèn lên tiếng đầu tiên: “Khởi bẩm chúa thượng, binh đến tướng chặn, nước đến đất ngăn. Quân đội hợp tung mặc dù đông đảo, song kỳ thực lại không đáng sợ!”

“Công Tôn ái khanh, khanh hãy nói xem, ba mươi tư vạn đại quân, cớ sao lại nói không đáng sợ?”

“Vi thần cho rằng, chủ yếu có ba nguyên do!” Công Tôn Diễn dõng dạc đáp lời. “Thứ nhất, sáu nước chỉ bằng mặt mà không bằng lòng, nên không thể hình thành hợp lực. Nhớ năm xưa họ Trí ép hai nhà Ngụy, Hàn hợp lực phân chia nước Triệu, kết quả là Triệu chưa kịp chia xong, họ Trí đã bị ba nhà phân chia. Nguyên nhân do đâu? Là do Hàn, Ngụy và Trí không đồng tâm, bằng mặt mà không bằng lòng. Thứ hai, ta có sông núi kiên cố, bốn bề hiểm ải. Hà Thuỷ là sông trời chắn ngang, có thể địch được mười vạn tinh binh. Hàm Cốc là hùng quan hiểm yếu, có thể địch được mười vạn đại quân. Còn về sáu trăm dặm sơn cốc Thương Ư, lại càng dễ thủ khó công. Thứ ba, cường địch trước mặt, tồn vong chỉ trong gang tấc, quân dân ta trên dưới buộc phải cấp bách ứng chiến, không còn đường lui, nên sẽ hình thành đội quân cùng quẫn, chắc chắn trên dưới đồng lòng, đoàn kết chống địch. Có ba điểm nói trên, vi thần cho rằng, hợp tung không đáng sợ, đáng sợ là ngay từ đầu chúng ta đã tự đánh mất ý chí, đánh mất lòng tin!”

“Nói hay lắm!” Huệ Văn Công lại quét mắt khắp lượt quần thần. “Hai quân giao chiến, kẻ dũng sẽ thắng!” Ngẫm nghĩ một lát, lại ngẩng đầu nói. “Điều Công Tôn ái khanh vừa nói chính là phân tích đại thế, còn đối phó cụ thể ra sao, quả nhân còn phải lắng nghe ý kiến của chư vị!” Quay sang Tư Mã Thác. “Tư Mã ái khanh, binh đến tướng chặn, khanh bố trí thế nào, đã có tính toán chưa?”

“Hồi bẩm chúa thượng,” Tư Mã Thác đáp. “Nếu liệt quốc đánh ta, chắc chắn sẽ chia quân ba lộ. Lộ thứ nhất là người Sở, xuất binh từ Uyển, Tương, xâm phạm vùng sơn cốc Thương Ư của ta. Hai là quân hợp tung men theo bờ nam Hà Thuỷ tiến về phía tây, đi qua Hào Quan tới xâm phạm Hàm Cốc của ta. Ba là quân hợp tung tiến lên phía tây vượt qua Hà Thuỷ, xâm phạm Hà Tây của ta. Vì vậy, vi thần cho rằng ta cần tăng cường phòng ngự ba nơi trên, đặt thêm cửa ải, tích thảo đồn lương, chia quân ra kháng cự, quyết chiến với kẻ địch ở ngay cửa ngõ đất nước!”

“Ừm!” Huệ Văn Công gật gù, quay sang Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh, khanh có cao kiến gì chăng?”

Sư Lý Tật vòng tay nói: “Hồi bẩm chúa thượng, vi thần cho rằng, ta có thể kết giao với các nước Nghĩa Cừ, Tây Nhung, sau đó cầu viện họ. Nếu được họ giúp sức, sáu nước sẽ chẳng còn đáng sợ. Ngoài ra, ta có thể tăng cường chiêu mộ binh lính, mộ thêm mười vạn dũng binh, gia cố tường thành, hào rãnh, nếu chẳng may quân địch đột nhập vào trong, còn có thể tính kế lâu dài!”

“Rất tốt!” Huệ Văn Công quay sang Trương Nghi. “Trương ái khanh, khanh cũng nói mấy lời đi!”

“Khởi bẩm chúa thượng!” Trương Nghi chậm rãi lên tiếng. “Mấy ngày trước vi thần và Tư Mã tướng quân đã đi thị sát vùng núi Chung Nam, tận mắt nhìn thấy núi non hiểm trở, việc xây dựng sạn đạo khó khăn hơn dự tính rất nhiều. Để đảm bảo sạn đạo được hoàn thành đúng kỳ hạn, vi thần đã nhận lời Lý đại nhân, xin chỉ cấp thêm năm nghìn đinh dịch, tăng gấp đôi tiền tài cung ứng, tấu xin chúa thượng ân chuẩn!”

Lời vừa nói ra, toàn bộ những người có mặt đều giật mình kinh ngạc. Nước Tần đã đến thời khắc sinh tử tồn vong, các trọng thần đều tập trung bàn bạc đối sách ứng phó quốc nạn, vậy mà Trương Nghi lại tưng tửng tấu xin chút việc cỏn con này, thật khó lòng tưởng tượng.

Huệ Văn Công cũng thấy bất ngờ, chau mày suy nghĩ hồi lâu, vẫn không hiểu được dụng ý của Trương Nghi, nhưng cũng không thể không đưa ra quyết định, đành phải miễn cưỡng đồng ý: “Chuẩn tấu cho ái khanh!” Nói xong, dường như vẫn không chịu buông tha, nhổm người về phía trước hỏi. “Chuyện sạn đạo là mối lo xa. Còn nhiệm vụ cấp bách trước mắt, ái khanh có đối sách nào chăng?”

Trương Nghi mỉm cười, đáp ngay tắp lự: “Thần xin tiến cử hai người, có thể địch lại ngàn quân!”

“Ái khanh mau nói!” Huệ Văn Công hai mắt sáng rực. Trương Nghi liếc sang Trần Chẩn, xong lại liếc nhìn Sư Lý Tật, lắc lư cái đầu, giọng nói nghe hơi quai quái: “Người thứ nhất là Trần thượng khanh, có thể đi sứ nước Sở. Người thứ hai là Sư Lý đại phu, có thể đi sứ nước Yên!”

Ngay từ khi Trương Nghi chuyển đến nhà mới, Huệ Văn Công đến cúng thần bếp, hai người đã bàn luận về cách đối phó hợp tung, giờ đây Trương Nghi tiến cử hai người chẳng qua cũng chỉ là nhắc lại chuyện cũ. Tuy nhiên, đây vốn là chuyện giữa quân thần hai người, người khác không biết. Vì vậy Trương Nghi vừa dứt lời, mọi người đều giật nảy mình, ngay cả Công Tôn Diễn và Tư Mã Thác cũng sững sờ.

Trần Chẩn vừa phải chạy bán mạng từ nước Sở trở về, còn chưa kịp hoàn hồn, lại nhớ đến cuộc gặp gỡ trước cửa cung khi nãy, biết Trương Nghi không có ý tốt lành, cố tình hại mình, thì vô cùng căng thẳng: “Chúa... chúa thượng...”

Lời của Trương Nghi, Huệ Văn Công vừa nghe đã hiểu ý, chưa đợi Trần Chẩn lắp bắp dứt câu, đã vỗ bàn nói lớn: “Hay lắm!” Rồi gần như không chút đắn đo, quay sang Trần Chẩn. “Trần ái khanh, quả nhân lại phải khiến khanh vất vả thêm một chuyến, tiếp tục đi sứ nước Sở. Tuy nhiên, khanh vừa mới trở về hôm qua, hãy nghỉ ngơi thêm vài ngày rồi lên đường cũng chưa muộn!” Lại quay sang Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh, còn khanh thì không thể chậm trễ! Hãy cấp tốc chuẩn bị, ngày mai lập tức lên đường!”

Chỉ trong chớp mắt, Huệ Văn Công đã truyền xong ý chỉ, rõ ràng không phải chỉ là nhất thời bốc đồng. Trần Chẩn không dám hó hé thêm câu nào nữa, đành phải cùng với Sư Lý Tật vòng tay nói: “Vi thần lĩnh chỉ!”

Sau khi quần thần ra về, Huệ Văn Công lưu Trần Chẩn và Sư Lý Tật ở lại để bàn bạc công việc cụ thể, hạ ý chỉ cho Sư Lý Tật làm minh sứ, Trần Chẩn làm ám sứ. Minh sứ Sư Lý Tật làm mối, gả trưởng nữ cho thái tử của Yên Công. Ám sứ Trần Chẩn tiến hành ly gián, tiếp tục trở lại nước Sở, bí mật liên lạc với Chiêu Dương, tuỳ cơ hành sự.

Sau khi Sư Lý Tật, Trần Chẩn lĩnh chỉ lui về, Huệ Văn Công một mình ngồi lại một lúc, sau đó liền tù tì phát liền mấy đạo chỉ. Lệnh cho Công Tôn Diễn động viên toàn quốc, chiêu mộ hai mươi vạn quân; lệnh cho công tử Hoa tung ra toàn bộ Hắc Điêu, bố trí dày đặc khắp một dải Tấn Dương, Hà Đông, Lạc Dương, Mạnh Tân, Nam Dương, Tương Dương, Hào Quan; lệnh cho Tư Mã Thác tăng cường phòng bị ở toàn tuyến Tây Hà, Hàm Cốc và vùng sơn cốc Thương Ư; lại lệnh cho nội thần thân cận đích thân sang các nước Nghĩa Cừ, mang theo lễ vật hậu hĩnh, kết tình giao hảo với các nước Tây Nhung.

Ngày hội thề đã đến gần, bến đò Mạnh Tân chỉ cách vương thành Đại Chu chưa đầy trăm dặm lại một lần nữa trở thành tiêu điểm của thiên hạ.

Cuối tháng sáu, đặc sứ sáu nước Tô Tấn dẫn theo sứ đoàn tung thân đông tới hơn hai vạn đến trước. Mạnh Tân gần Chu thất nhất, nhưng vì hầu hết các nước tung thân tham gia hội thề đều đã xưng vương, vị thế ngang bằng với Chu thất, nên Tô Tần hổ thẹn không dám qua Chu, mà dựng trại ngay tại Chỉ Thành cách bờ bắc Hà Thuỷ chừng trăm dặm. Chỉ Thành vốn là đất của nước Hàn, đến thời Văn Hầu bị Ngô Khởi chiếm lấy, Huệ Vương vì muốn trấn áp người Hàn, nên đã mở một khu vườn tại đây, xây dựng hành cung.

Công tử Ngang muốn Tô Tần ở trong hành cung, Tô Tần cười mà từ chối, cùng Lâu Hoãn và những người khác trú bên bờ sông Y Thuỷ ở phía đông hành cung. Công tử Ngang đoán rằng Tô Tần vẫn ngần ngại về danh phận quân thần, nên cũng không miễn cưỡng, cùng với những phó sứ quý tộc như công tôn Khoái, công tử Chương, công tử Như, Điền Văn... chuyển vào ở trong hành cung.

Tô Tần cho dựng tạm một đài cao rộng ba trượng vuông ở bên bờ Y Thuỷ, hễ lúc nào rảnh rỗi, lại một mình lên đài ngồi, hoặc mở mắt lặng nhìn đăm đăm xuống dòng Y Thuỷ, hoặc nhắm mắt trầm tư mặc tưởng, hoặc xử lý các sự vụ của liệt quốc.

Tính cho tới hiện tại, sự vụ hợp tung vẫn tiến triển thuận lợi. Nhờ có sự khởi xướng của Sở Vương, quân chủ liệt quốc đều tham dự tung thân với lễ tiết chí cao, đội ngũ long trọng, khiến Tô Tần vừa mừng vừa sợ.

Trong sáu nước hợp tung, ngoài nước Yên ra, năm nước còn lại đều đã gửi cấp báo tới nơi, Sở Vương đã khởi giá. Tô Tần không dám chậm trễ, vừa sắp xếp xong xuôi, lập tức phái Lâu Hoãn dẫn theo một toán Nho gia am hiểu lễ nghĩa đến Mạnh Tân, dựng đài hội thể đúng theo lễ chế nhà Chu, bố trí hành dinh liệt quốc.

Sáu nước lớn hàng đầu thiên hạ do thiên tử Đại Chu ban tước năm xưa cùng hội họp kết minh ngay trước mắt thiên tử Đại Chu để cùng chống lại một nước chư hầu lớn khác cũng do thiên tử Đại Chu ban tước, sự kiện này chưa thể nói là ngày sau không còn tái diễn, nhưng từ xưa đến bấy giờ chưa từng xảy ra, nên vốn dĩ không hề có tiền lệ.

Càng khó khăn hơn nữa, đó là trong sáu nước đã có ba nước xưng vương, lễ chế đã mất, Tô Tần thân là con dân Đại Chu song đã không còn lý do để mời thiên tử Đại Chu làm minh chủ. Mà trong sáu nước tung thân, lại có ba vương, một công, một hầu, Tô Tần suy đi tính lại, vẫn chưa thể nào đưa ra được một kế sách vẹn toàn về các mặt lễ nghĩa, quy chế, minh chủ... Một cuộc hội thề quy mô lớn nhường này, nếu để xảy ra bất cứ sơ suất nào về lễ nghi, hậu quả thực khó lòng tưởng tượng.

Buổi chiều hôm nay, Lâu Hoãn từ Mạnh Tân trở về, bẩm báo về kế hoạch xây dựng đài hội thề và những công trình khác. Tô Tần suy đi nghĩ lại, rồi dặn dò Lâu Hoãn về mặt nghi lễ, quy chế, trước hết hãy cứ làm y theo quy cách Tề Hoàn Công chín lần hội thề chư hầu thời Xuân Thu.

Lâu Hoãn bèn đáp: “Sở, Tề, Ngụy đều là vương quốc, nếu tiếp đãi theo lễ chư hầu, e rằng không được thoả đáng!”

“Chu thiên tử vẫn còn đó, tại hạ lại là người Chu, nếu như tuân theo vương chế, chưa nói tới người đời nay, chúng ta chắc chắn sẽ bị người đời sau phỉ nhổ!”

“Tô Tử xem như thế này có được không?” Lâu Hoãn nhanh trí nảy ra một ý. “Chúng ta vừa không tuân theo vương chế, cũng không tuân theo hầu chế. Ý tại hạ là, giảm nửa bậc so với vương chế, tăng nửa bậc so với hội thề bình thường giữa chư hầu!”

Tô Tần ngẫm nghĩ một lúc, rồi gật đầu đồng ý: “Cách này có thể thực thi. Việc này cũng đã có tiền lệ. Sở từ lâu đã xưng vương ngang hàng với Chu thất, nhưng khi đến Chu yết kiến, vẫn phải theo lễ thần tử. Chu thất đối đãi với Sở, cũng theo chế độ này. Tuy nhiên, việc này không nên để lộ ra ngoài, chúng ta chỉ thực hiện mà không được nói ra!”

“Tại hạ đã hiểu!”

“Và còn lời thề! Ngôn từ thế nào, cũng sẽ ảnh hưởng đến đại cục!”

“Tại hạ cho rằng, để Tô Tử chấp bút là thích hợp hơn cả!”

Tô Tần cười nhăn nhó: “Tại hạ khua môi múa mép thì được, nhưng động đến bút mực thì lại không thạo. Tuy nhiên, tại hạ chợt nghĩ tới một người, để người này chấp bút mới là thích hợp!”

“Ai kia?”

“Khuất Bình!”

“Chính là kẻ hậu sinh bên cạnh công tử Như đấy ư?”

“Phải!”

“Người này làm sao có thể?” Lâu Hoãn lắc đầu quầy quậy. “Mới mười mấy tuổi đầu, một quả táo non choẹt. Trọng trách nhường này, e rằng mới chỉ nghe đến, hắn đã sợ chết khiếp rồi!”

Tô Tần cười nói: “Táo xanh cũng có hương vị của táo xanh!” Rồi quay sang nói với Trâu Phi Đao đang đứng gác ngoài cửa. “Trâu huynh, hãy tới dịch quán nước Sở mời Khuất Bình tới đây!”

Khuất Bình nhận lời mời mà đến.

Biết rằng được giao việc viết lời thề, sau một thoáng kinh ngạc, Khuất Bình liền vui vẻ nhận mệnh. Tô Tần cùng Khuất Bình bàn bạc đến tận chập tối, giảng giải cho Khuất Bình hiểu rõ những điều cần chú ý. Hai bên đang nghị sự, thì Trâu Phi Đao tiến vào bẩm báo có phó sứ nước Yên là công tôn Khoái cầu kiến.

Tô Tần đưa mắt nhìn Khuất Bình: “Khuất Tử, những điều cần chú ý, ta đã nói cả rồi. Khuất Tử cứ thế mà viết, không nên quá dài, cũng không cần phải ôm đồm mọi ý, cốt là phải làm rõ được yếu nghĩa của hợp tung. Hãy viết trước một bản thảo, để mọi người cùng bàn. Giờ tại hạ còn có chút việc, không bồi tiếp được nữa!”

Khuất Bình đứng dậy, vòng tay vái mà nói: “Tô Tử yên tâm, Bình dù bất tài, nhưng sẽ tận lực. Tô Tử dừng bước, Bình xin cáo từ!”

Tô Tần kiên quyết tiễn xuống dưới đài, vòng tay vái chào, sau đó mới dắt tay công tôn Khoái lên trên đài, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Công tôn Khoái cười nói: “Tô Tử mời Khuất Tử đến, phải chăng là lại muốn nghe nhạc Sở?”

Tô Tần nở nụ cười buồn, thở dài một tiếng: “Than ôi, cho dù có muốn nghe thì cũng chẳng còn tâm trạng nữa!” Rồi đưa lại một chén nước. “Không có trà, đành mời công tôn dùng nước trắng vậy!”

Công tôn Khoái nhận lấy chén nước, khẽ nhấp.

“Công tôn đến đây, hẳn là có việc quan trọng?” Tô Tần quay sang hỏi, sắc mặt lộ vẻ mệt mỏi.

Công tôn Khoái lấy từ trong tay áo ra một bức thư, hai tay đưa lên.

Tô Tần nhận lấy, liếc qua rồi đặt lên mặt bàn, chậm rãi hỏi: “Phải chăng là cấp báo về chuyện nước Yên xuất binh?”

“Đúng thế!” Công tôn Khoái hớn hở đáp lời. “Là thư do Tử Chi tướng quân gửi đến, nói rằng tổ công của tại hạ không quản tuổi già sức yếu, đích thân đến dự hội, Tử Chi tướng quân dẫn theo ba vạn đại quân hộ giá, đã khởi hành rồi!”

“Ồ!” Tô Tần chỉ hờ hững thốt lên một tiếng, quay đầu nhìn xuống mặt nước đầm hắt ánh hoàng hôn.

“Tô Tử!” Công tôn Khoái hơi nhổm người về phía trước. “Tô Tử thử đoán xem, còn có người nào đi cùng ông nội của tại hạ đến đây?”

Tô Tần vẫn không buồn ngẩng đầu: “Là ai?”

“Là bà trẻ của tại hạ, Cơ phu nhân!”

“Ồ?” Tô Tần tâm tư chấn động, quay phắt lại nhìn sững vào công tôn Khoái, trong mắt vụt sáng. Song tia sáng này chỉ như hoa đàm thoáng hiện, vụt lên rồi tắt.

Công tôn Khoái nhìn kỹ Tô Tần, thấy vẻ mặt hắn đầy u uất, nghĩ lại mấy ngày nay, Tô Tần lúc nào cũng tâm sự trùng trùng, thì không khỏi băn khoăn, hạ giọng hỏi nhỏ: “Tô Tử dường như có điều tâm sự?”

“Đúng vậy!” Tô Tần gật đầu.

“Là tâm sự gì, có thể nói cho tại hạ biết chăng?”

Tô Tần thu ánh mắt từ mặt đầm trở về, quay sang nhìn công tôn Khoái: “Công tôn hãy thử nói xem, tại sao chúng ta lại hợp tung?”

“Xoá bỏ phân tranh, hoà giải thiên hạ!” Công tôn Khoái mở miệng đáp liền. Đây là câu cửa miệng của Tô Tần, công tôn Khoái từ lâu đã thuộc nằm lòng.

“Công tôn hãy nói xem, lần này hội thề, liệu chúng ta có thực sự xoá bỏ được phân tranh, hoà giải được thiên hạ hay chăng?” Tô Tần nhìn thẳng vào công tôn Khoái hỏi.

“Đương nhiên có thể!”

“Cớ sao công tôn lại tin tưởng nhường vậy?”

“Bởi vì... dưới gầm trời này, không có việc gì mà Tô Tử không làm được!”

Dường như Tô Tần cũng không thể ngờ rằng công tôn Khoái lại trả lời như vậy, sững sờ mất một lúc, mới phì cười mà hỏi: “Công tôn thực sự nghĩ như vậy ư?”

Công tôn Khoái trịnh trọng gật đầu.

“Đa tạ công tôn đã tin tưởng!” Tô Tần nhìn công tôn Khoái chăm chú một hồi, sau đó chậm rãi nhấc bốn phong thư hoả tốc từ dưới bàn lên, lần lượt xếp thành một hàng ngang trên mặt bàn, từ trái qua phải lần lượt là thư báo của các nước Sở, Tề, Hàn, Triệu, Yên.

Công tôn Khoái nhìn một lúc, nhưng vẫn không hiểu: “Tô Tử?”

Tô Tần chỉ tay vào các phong thư: “Công tôn nhìn xem, tất cả những bức thư này đều là thông báo quân tình. Sở Vương đích thân đến dự, dẫn theo tám vạn quân; Tề Vương đích thân đến dự, dẫn theo năm vạn quân; Hàn Hầu, Triệu Hầu đích thân đến dự, mỗi bên dẫn theo ba vạn quân; ông nội của công tôn cũng dẫn theo ba vạn quân đến dự. Còn lại Đại Ngụy, tại hạ cũng đã nhận được tin báo, Bàng tướng quân đang điều binh khiển tướng khắp nơi, uy thế hừng hực. Các lộ quân bụi cuốn mịt mù, đang rầm rộ tiến về Mạnh Tân!”

Công tôn Khoái càng nghe càng thấy khó hiểu: “Điều này chứng tỏ liệt quốc trong thiên hạ đều rất coi trong hợp tung! Tông chỉ của hợp tung là chế Tần, nếu không có binh mã, làm sao để chế Tần đây?”

“Đúng thế!” Tô Tần thở dài một tiếng, nhắc đi nhắc lại. “Đúng thế! Đúng thế! Công tôn nói rất rất đúng! Không có binh mã, làm sao có thể chế Tần... Thế nhưng... nhiều binh mã như vậy tập hợp một chỗ, làm gì có chuyện không khởi đao binh? Công tôn hãy nhìn xem, lần này hội thề, nhà nào cũng giương cung tuốt kiếm!”

“Khởi đao binh thì khởi đao binh!” Công tôn Khoái đáp liền không cần suy nghĩ. “Theo tại hạ thấy, ta hãy nhân thời cơ này để diệt luôn bạo Tần. Diệt bạo Tần, một lần vất vả, an nhàn vĩnh viễn, chẳng phải thiên hạ sẽ mãi được hưởng thái bình ư?”

“Công tôn ơi!” Tô Tần lắc đầu quầy quậy, cười nhăn nhó mà nói. “Công tôn mới chỉ nhìn thấy cái vỏ bề ngoài. Nếu thực sự tiêu diệt bạo Tần, thiên hạ sẽ càng khó có được bình yên!”

Công tôn Khoái sững sờ.

Sáng sớm hôm sau, Tô Tần đang dạo bước bên bờ Y Thuỷ thì Khuất Bình đến tìm, nói rằng đã viết xong lời thề.

Tô Tần vô cùng kinh ngạc, nhận lấy tấm thẻ tre Khuất Bình đưa đến, đọc liền mấy lượt, nghiền ngẫm kỹ lưỡng hồi lâu, rồi nhìn Khuất Bình với ánh mắt kinh ngạc khó tin.

“Tô Tử?” Khuất Bình trong lòng thấp thỏm, hạ giọng khẽ gọi.

“Khuất Tử quả là kỳ tài!” Tô Tần lại đọc thêm một lượt, tấm tắc. “Lại càng là cấp tài, chỉ mới một đêm mà đã viết ra được lời thề này, thực sự khiến tại hạ kính phục!”

“Tại hạ...” Khuất Bình cho rằng Tô Tần đang chế giễu mình, mặt đỏ đến tận tai. “Tại hạ là người nóng vội, sau khi trở về đã thức trắng cả đêm mới viết ra được bản này, tự thấy chưa lấy gì làm hay, nhưng lại không tiện đưa cho người khác đọc, nên vừa mới sáng ra đã... đã mang đến đây. Nếu như Tô Tử thấy không ổn, tại hạ sẽ viết lại!”

“Tại sao phải viết lại?” Tô Tần lại đọc thêm lần nữa. “Một áng văn hay tuyệt diệu nhường này, muốn cầu còn chẳng được!”

Khuất Bình nghe mà hai mắt trợn tròn.

“Tuy nhiên, cũng chưa phải là hoàn mỹ vô khuyết!”

“Xin Tô Tử chỉ giáo!”

Tô Tần chỉ tay vào hai câu ở giữa: “Xin hãy xem hai câu này!”

Khuất Bình đưa mắt nhìn, thấy là hai câu “Máu thịt thấm tươi tên sắc, xương khô khôn nhập mồ sâu”.

Tô Tần chậm rãi nói: “Sáu nước tung thân, nên chỉnh tề đều đặn mới phải. Bài văn này toàn bộ đều là thể tứ ngôn, nhưng hai câu này lại là sáu chữ, mặc dù có biến hoá linh hoạt, nhưng lại đánh mất vẻ chỉnh tề. Khác nào hai quân giao chiến, đối phương chưa tiến mà đã tự loạn trận mình, chưa thực ổn. Có thể sửa thành ‘máu thấm tên sắc, xương khôn nhập mồ’ chăng?”

“Hay lắm!” Khuất Bình lập tức đáp lời.

“Còn câu tiếp theo, ‘quỷ giận thần trách, dân chúng oán hận’, có thể sửa thành ‘quỷ thần giận dữ, dân chúng oán hận’ chăng? Dùng ‘giận dữ’ để đối với ‘oán hận’, đọc vừa thuận miệng, mà đối cũng chỉn chu. Lời thề dùng để đọc, vì vậy cần trơn tru thuận miệng.”

“Tô Tử sửa thật chính xác, tại hạ thán phục!”

“Người phải thán phục không phải là Khuất Tử, mà là Tô Tần đây!” Tô Tần thực lòng khen ngợi. “Bài văn này chỉ một đêm đã viết xong, một mạch trôi chảy, chặt chẽ kín kẽ, thành thực không phù phiếm, bên ngoài hợp với đại nghĩa của thiên hạ, bên trong hàm chứa yếu lĩnh của tung thân, từ đầu đến cuối, quả đúng là lời lời châu ngọc!”

“Đa tạ Tô Tử khen tặng!” Khuất Bình cười thẹn.

Người đầu tiên đến An Ấp là Ngụy Huệ Vương. Các trọng thần trong Ngụy thất như Bàng Quyên, Huệ Thi, Chu Uy, toàn bộ đồng hành, chỉ để thái tử Thân, Bạch Hổ và một số lão thần lưu lại Đại Lương trấn thủ.

Ngụy Huệ Vương rất mực cảm kích Tô Tần, sau khi đến đất Chỉ đã không quản đường xa mệt nhọc, lập tức phái người đón Tô Tần đến hành cung. Khi Tô Tần đến nơi, Huệ Vương ra tận ngoài cung, dắt tay Tô Tần, cùng sánh bước vào trong, ngồi chạm gối mà trò chuyện đến tận nửa đêm.

Trong lúc Huệ Vương trò chuyện với Tô Tần, hơn mười vạn đại quân nước Ngụy, gồm cả đội quân hổ bôn của Bàng Quyên, đã chia đường tiến tới Hà Đông, theo chỉ lệnh của Bàng Quyên, hạ trại gần Mạnh Tân, An Ấp, với lý do rất đường đường chính chính là bảo vệ sự an nguy cho quân chủ liệt quốc.

Người đến nơi tiếp theo là Sở Vương, kế đó là Tề Vương. Vì nơi hội thề thuộc địa phận nước Ngụy, nên quân đội của liệt quốc đều phải tuân theo lệnh của nước Ngụy. Dưới sự bố trí của Bàng Quyên, bảy vạn quân Sở đóng trại ở phía bắc Uyển Thành, Sở Uy Vương chỉ được mang theo một vạn binh đến Mạnh Tân, ở trong hành dinh đã dựng sẵn. Tề Uy Vương dẫn theo năm nghìn quân, số quân còn lại hạ trại ở địa phận Tống, Vệ. Tiếp theo là Triệu Túc Hầu và Hàn Chiêu Hầu, mỗi bên dẫn theo ba nghìn quân. Người Yên một là đường đất xa xôi, hai là Yên Công già yếu, một ngày chỉ đi được năm mươi dặm đường, nên đến muộn nhất, ba ngày trước tiết Thu phân mới kịp tới nơi.

Lần này hội thề, Ngụy Huệ Vương như biến thành một người khác hẳn, không còn ngông cuồng tự đắc như lần chư hầu triều kiến thiên tử ở Mạnh Tân lần trước. Trong vai trò gia chủ, Ngụy Huệ Vương tỏ ra khiêm tốn ân cần chưa từng có, bất kể quân chủ nước nào đến nơi, cũng đều dẫn theo các trọng thần của Ngụy thất như Huệ Thi, Chu Uy ra xa mấy dặm nghênh đón, nâng chén tẩy trần.

Thấy quân chủ của sáu nước đều đã đến đông đủ, vào trước tiết Thu phân một ngày, Tô Tần lấy thân phận là đặc sứ sáu nước bày tiệc chiêu đãi trong một rừng cây cách đài hội thề không xa về phía đông.

Khu rừng này nằm ở bờ bắc Hà Thuỷ, dưới chân núi Hạc Minh. Trên đỉnh núi Hạc Minh có một tảng đá lớn nhô ra, trông hệt như đầu chim hạc, nên mới có tên này. Nơi đây tựa núi kề sông, tầm nhìn khoáng đạt, phong cảnh hữu tình, xứng đáng là chốn bảo địa phong thuỷ.

Để đảm bảo công bằng, Tô Tần vẫn theo lệ cũ, sáu bàn xếp thành hình tròn, các bàn đều không có hướng chính, không định phương vị, vì vậy cũng không phân biệt chủ khách trên dưới, chỗ đầu chỗ cuối. Sáu vị quân chủ đến nơi, thoạt tiên kinh ngạc, sau đó đều bật cười, mỗi người đều vui vẻ tự chọn cho mình một chỗ, vây tròn mà ngồi xuống. Tô Tần dù là chủ tiệc, nhưng về thân phận lại là thần tử, vì vậy không sắp xếp chỗ ngồi cho mình, mà cung kính đứng hầu một bên, đợi người hầu mang thức ăn lên, bèn nhận lấy, dựa theo trật tự tuổi tác lớn nhỏ mà chuyển đến bàn của các vị quân chủ.

Bữa tiệc lại càng đặc biệt, không có sơn hào hải vị, không có cá thịt đầy bàn, rượu ngon đầy chén, chỉ có rau xanh, hoa quả, cháo loãng và bánh hấp, tất cả đều là những món của thường dân vùng này. Tuy cơm nước đạm bạc, nhưng đều là những món trong cung chưa từng được nếm, lại thêm Tô Tần đặc biệt mời đầu bếp giỏi, chế biến cầu kỳ, hương vị càng thêm đặc sắc, khiến các vương hầu ai nấy đều đưa đũa tơi tới, ăn uống ngon lành, luôn miệng tấm tắc.

Thấy chư hầu đã ăn uống no đủ, lúc này Tô Tần mới đi tới khoảng đất bên cạnh Hà Thuỷ, đứng quay mặt về phía bắc, chỉnh trang y phục rồi quỳ xuống, tấu rằng: “Chư vị chúa thượng, ngày mai đã là tiết Thu phân. Một năm bốn mùa, mặt trời mọc lặn ba trăm sáu mươi lần, trăng tròn trăng khuyết mười hai lần, chỉ có hai ngày là công bằng nhất, một là ngày Xuân phân, hai là ngày Thu phân. Bởi vậy khi Trọng Ni nước Lỗ soạn sử, đã đặt tên là ‘Xuân Thu’. Nay sáu nước tung thân, thiên hạ hội thề, chư vị chúa thượng niệm đến sự an lạc của bách tính trong thiên hạ mà bỏ đi hiềm khích trước đây, không quản đường xa mệt nhọc, cùng tề tựu tại chốn này, tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng, thề ước tung thân, đủ khiến cho khắp thiên hạ cảm động. Tô Tần xin thay mặt toàn bộ bách tính trong thiên hạ, kính lễ trước chư vị chúa thượng!”

Nói đoạn, Tô Tần đứng dậy, sửa lại vạt áo, rồi hành đại lễ ba lạy chín dập đầu.

Sáu vị quân chủ đưa mắt nhìn nhau, rồi đồng loạt đứng dậy, đi tới trước mặt Tô Tần. Ngụy Huệ Vương, Tề Uy Vương cùng đưa tay ra, mỗi người đỡ lấy một tay Tô Tần, vừa cười ha hả vừa kéo Tô Tần đứng dậy. Mọi người cùng xúm xít kéo Tô Tần vào bên trong vòng tròn, Hàn Chiêu Hầu đích thân ra tay, xê dịch phân bàn giữa mình và Triệu Túc Hầu, chừa ra một khoảng trống, rồi gọi người hầu mang thêm một bàn nữa đến, Ngụy Huệ Vương, Sở Uy Vương ấn Tô Tần ngồi xuống sau bàn, sau đó mới trở về chỗ ngồi.

Tô Tần vòng tay một lượt, tiếp tục lên tiếng: “Tô Tần người Chu đa tạ chư vị chúa thượng hậu ái!” Rồi khẽ mỉm cười, đi thẳng vào đề. “Chư vị chúa thượng, ngày mai đã là hội thề, vi thần có một chuyện muốn bẩm tấu, mong chư vị chúa thượng định đoạt!”

Chư vị quân chủ đều nhìn chăm chú vào Tô Tần.

“Chư vị chúa thượng, các việc hội thề, chủ yếu dựa theo quy tắc hội họp thời trước, trong đó, các chi tiết cụ thể như lễ nghi, trình tự, quy chế, vũ nhạc, nghi trượng, minh thư, vi thần đã giao tấu báo cụ thể cho chư vị phó sứ của liệt quốc, chư vị chúa thượng cũng đều đã hạ chỉ chấp thuận, vì vậy, về cơ bản đã định đoạt xong xuôi. Cho đến hôm nay, hố đã đào xong, bò tế đã có, các đồ dùng cho hội thề cũng đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ còn đợi giờ lành ngày tốt. Còn việc mà vi thần muốn tấu báo là...” Tô Tần dừng lại một lát, đưa mắt nhìn lần lượt từng vị vương hầu, “theo quy chế cũ, chư hầu hội thề, uống máu ăn thề, nhất định phải có người làm chủ cầm tai bò. Ngày mai ăn thề, nên để người nào cầm tai bò, vi thần tấu xin chư vị chúa thượng cùng bàn bạc!”

Thông lệ xưa nay, người nào cầm tai bò, người đó sẽ là minh chủ. Vì vậy, lời Tô Tần vừa cất ra, sáu người có mặt lập tức trở nên nghiêm trang, quay mặt nhìn nhau, rồi ai nấy đều ngồi ngay ngắn, khép mắt suy nghĩ.

Tô Tần lại liếc qua các vị quân chủ một lượt, rồi cũng khép mắt lại.

Không gian tĩnh lặng như tờ, chỉ còn nghe loáng thoáng tiếng sóng Hà Thuỷ vỗ bờ và tiếng chim chóc ríu ran từ trong rừng vẳng lại.

Hồi lâu sau, Ngụy Huệ Vương là người đầu tiên phá tan bầu im lặng, phì cười mà nói: “Kìa chư vị, tự dưng lại ngồi dưỡng thần gì thế? Chỉ là tiến cử một người cầm tai bò thôi mà? Theo Ngụy Anh thấy, có một người thích hợp hơn cả!”

Mọi người theo nhau mở mắt, nhìn Ngụy Huệ Vương.

Ngụy Huệ Vương lắc lư cái đầu béo tốt vài cái, rồi chỉ tay vào Tô Tần, nhấn nhá từng chữ: “Người này, chính là Tô Tần người Chu!”

Lời vừa dứt, Triệu Túc Hầu, Hàn Chiêu Hầu, Yên Văn Công đều nhao nhao phụ hoạ: “Đúng đấy, hãy để Tô tướng quốc làm minh chủ!”

Chưa đợi hai vị Sở Vương và Tề Vương lên tiếng, Tô Tần đã dập đầu sát đất: “Chư vị chúa thượng, việc này tuyệt đối không thể được!”

Ngụy Huệ Vương vô cùng kinh ngạc, hai mắt mở to: “Xin hỏi Tô Tử, có gì không được?”

Tô Tần lại khấu lạy: “Thiên hạ kết thân, uống máu ăn thề, đây là thề với trời đất quỷ thần, không phải là người thân phận cao quý, lời nói trọng vọng thì không thể được. Tô Tần xuất thân dần dã, thân hèn lời nhẹ, làm sao có thể đảm đương trọng trách? Tô Tần cầu xin chư vị chúa thượng hãy thu hồi lời vừa nói, lựa chọn người khác!”

Ngụy Huệ Vương tỏ ra thất vọng, ngả người về phía sau: “Theo ý Tô Tử, người nào có thể làm minh chủ?”

“Việc này liên quan đến đại nghiệp tung thân, vi thần không dám lên tiếng, xin chư vị chúa thượng hãy cùng bàn bạc!”

Không gian lại tiếp tục chìm vào im lặng.

Hàn Chiêu Hầu chợt lên tiếng: “Hay là, tất cả cùng cầm tai bò, thế nào?”

“Như vậy còn ra thể thống gì?” Sở Uy Vương lập tức phản đối. “Tô Tử luôn đề xướng tuân theo chế độ thời trước. Theo chế độ đã có, làm gì có chuyện tất cả cùng cầm tai bò?”

Hàn Chiêu Dương bị dội gáo nước lạnh, cảm thấy ngượng ngùng, sững lại một thoáng, rồi cất giọng có phần châm biếm: “Bản hầu nói sai rồi, phải để Sở Vương bệ hạ làm chủ mới đúng!”

Sở Uy Vương phá lên cười lớn. “Hùng Thương đời đời sống nơi hoang dã, có tài đức gì mà dám làm chủ Trung Nguyên? Tuy nhiên, Hùng Thương muốn tiến cử một người, mời chư vị cùng quyết định!”

Sở Uy Vương công nhiên từ chối, lại tiến cử người khác, điều này hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của mọi người.

Ánh mắt của Sở Uy Vương từ từ nhìn sang Tề Uy Vương, rồi khẽ gật đầu với ông ta. Đúng lúc tất cả mọi người đều cho rằng, người được ông ta tiến cử chính là Tề Uy Vương, thì Sở Uy Vương đột nhiên quay sang Ngụy Huệ Vương, chỉ thẳng vào ông ta, cười vang mà nói: “Chính là người này, Ngụy huynh!”

“Điền Nhân Tề cũng xin tiến cử Ngụy huynh!” Tề Uy Vương cũng chỉ tay qua, nói lớn.

Ngụy Huệ Vương có nằm mơ cũng không thể ngờ được hai lão đối thủ đáng gờm lại cùng lúc tiến cử mình, nhất thời kinh ngạc đến sững sờ. Ba vị quân chủ Hàn, Triệu, Yên vẫn nhớ như in thái độ ngạo mạn của Ngụy Anh trong buổi triều kiến thiên tử năm xưa, vốn có ý tẩy chay, song không ngờ Sở, Tề lại liên thủ tiến cử, nhất thời á khẩu không nói được gì. Tô Tần trong lòng giật thót, bất giác rùng mình ớn lạnh, mắt nhìn sững vào Ngụy Huệ Vương.

Lúc này Ngụy Huệ Vương mới kịp định thần, bật ra một tràng cười, còn vang hơn cả tiếng cười của Sở Uy Vương khi nãy, dứt tràng cười mới nói: “Này Hùng huynh, và cả Điền huynh nữa, trong buổi hội triều Mạnh Tân năm xưa, là Ngụy Anh không biết tự lượng sức mình, nên mới mạo muội làm minh chủ. Cớ sao Ngụy Anh dám làm minh chủ? Vì đại giá của hai vị nhân huynh không đến! Lần này hai vị nhân huynh đều có mặt, Ngụy Anh có tài đức gì, sao dám tiếp tục ngông cuồng?” Rồi quay sang các chư hầu khác. “Theo ý của Ngụy Anh, cái tai bò này cứ giao cho Hùng huynh, chư vị thấy thế nào?”

Chưa đợi mọi người lên tiếng, Sở Uy Vương đã lắc đầu quầy quậy, vòng tay từ chối: “Ngụy huynh bất tất phải khiêm nhường! Trong hội triều Mạnh Tân năm đó, Hùng Thương cơ thể bất an, không thể đến dự, vẫn luôn tiếc nuối trong lòng. Hoè Nhi trở về, Hùng Thương liên tục hỏi han về cảnh tượng tráng lệ của buổi đại hội, vô cùng chấn động trước tài trí, đức độ của Ngụy huynh. Lần này, chúng ta lại đại hội tại Mạnh Tân, người cầm tai bò, ngoài Ngụy huynh ra, còn ai xứng đáng?”

“Chính phải!” Tề Uy Vương phụ hoạ. “Lần trước Điền Nhân Tề cũng chưa đến tham gia, lần này coi như lấy công chuộc lỗi! Ngụy huynh xin đừng từ chối nữa, Điền Nhân Tề thực lòng tiến cử, không có nửa phần giả dối!” Rồi đưa mắt nhìn các vị công hầu, giọng điệu thành khẩn. “Xin chư vị hãy nghe Nhân Tề nói một câu. Sở dĩ Nhân Tề tiến cử Ngụy huynh là có ba nguyên nhân. Thứ nhất, nước Ngụy nằm ở giữa, là trung tâm của thiên hạ, nên làm chủ. Thứ hai, chúng ta hội thề, mục đích nhằm chống Tần, mà Ngụy phía tây lại tiếp giáp với Tần, nên cũng là đứng mũi chịu sào, vì vậy Ngụy huynh nên làm chủ. Thứ ba, năm xưa Văn Hầu trong tích đầy kho lẫm, ngoài tu luyện giáp binh, công đức hài hoà, mấy lần hội hợp chư hầu, xứng đáng là tấm gương của thiên hạ. Đến thời Ngụy huynh, trong giỏi trị nước, ngoài giỏi trị binh, rất xứng đáng để đảm đương trọng trách này!”

Tề Uy Vương thao thao liệt kê một lèo ba lý do, thực hư lẫn lộn, khiến Ngụy Huệ Vương nghe mà mặt mũi nóng ran, xua tay rối rít từ chối: “Không được, không được! Ngụy Anh không có đức vọng đó, không dám nhận cầm tai bò!”

Sở Uy Vương nhìn sang Tô Tần: “Tô Tử, quần long không thể không có đầu! Hợp tung là do Tô Tử khởi xướng, nhưng Tô Tử lại không chịu làm minh chủ. Hùng Thương và Điền huynh thật lòng tiến cử Ngụy Vương, nhưng Ngụy Vương cũng không chịu, Tô Tử hãy nói một câu công bằng, xem ai làm chủ là thích hợp, chúng ta đều sẽ nghe theo!”

Mọi người đều quay sang nhìn Tô Tần.

Nói cho công tâm, trong sáu nước tung thân, thực lực mạnh nhất là Sở, xưng vương sớm nhất cũng là Sở. Sở Uy Vương không những từ chối làm chủ, ngược lại còn tiến cử Ngụy Huệ Vương, quả thực nằm ngoài dự liệu của Tô Tần. Thấy Sở Uy Vương lại đùn đẩy sang mình, Tô Tần đành phải tiếp chiêu, cười mà nói: “Sáu nước hợp thân, tức là một nhà, đương nhiên không phân chủ thứ, không luận lớn nhỏ. Vì vậy, ai làm chủ cũng đều được, chẳng qua chỉ là thay mặt thực thi công đạo mà thôi. Vì vậy, Tô Tần kiến nghị, chức vị minh chủ, hãy để chư vị chúa thượng thay phiên nhau đảm nhiệm, mỗi vị giữ chức một năm!”

Một vấn đề gai góc nhường đấy, mà Tô Tần chỉ một câu đã hoá giải nhẹ tênh. Sáu vị quân chủ vừa nghe, lập tức tỏ ra phấn chấn. Đặc biệt là công hầu ba nước nhỏ Hàn, Triệu, Yên, thấy lời của Tô Tần cũng giống như cách xếp bàn tròn, không hề có ý khinh thường họ nước nhỏ thế yếu, trong lòng vô cùng cảm kích.

“Chư vị chúa thượng!” Tô Tần lại chậm rãi nói tiếp. “Còn về lần hội thề này, Tô Tần vẫn còn có lời muốn nói. Lúc nãy Sở Vương tiến cử Ngụy Vương làm chủ, Tô Tần cho rằng hữu lý, vì hội thề lần này đặt ở Mạnh Tân, thuộc địa giới nước Ngụy. Ngụy là gia chủ, Ngụy Vương làm minh chủ hợp tung đầu tiên cũng là hợp lý, đảm nhiệm một năm, đến ngày Thu phân năm sau sẽ mãn nhiệm. Còn về việc sang năm do ai kế nhiệm, Tô Tần tấu xin chư vị chúa thượng để ngày khác cùng bàn, được chăng?”

Triệu Túc Hầu, Hàn Chiêu Hầu, Yên Văn Công đều gật đầu, Sở Uy Vương, Tề Uy Vương khẽ vỗ tay.

Ngụy Huệ Vương không thể tiếp tục từ chối, bèn vòng tay khắp lượt: “Chư vị nhân huynh, Tô Tử, nếu mọi người đã yêu quý Ngụy Anh như vậy, Ngụy Anh cũng không từ chối nữa, nhiệm vụ cầm tai bò ngày mai, Ngụy Anh nhất định sẽ tận tụy trách nhiệm gia chủ! Để báo đáp, Ngụy Anh xin hứa, tất cả chi tiêu của chư vị trên đất Ngụy, bao gồm cả chi phí ngày mai, đều sẽ do Ngụy Anh cáng đáng!”

Năm vị quân chủ đều ôm quyền: “Đa tạ tung ước trưởng!”

“Bất tất đa tạ!” Ngụy Huệ Vương xua tay, cười ha hả mà nói. “Ngụy Anh như thế này đúng là ném ngói thu ngọc. Cho đến sang năm, bất kể là vị nào tiếp nhiệm làm tung ước trưởng, Ngụy Anh sẽ lại thu về!”

Mọi người đều bật cười, bầu không khí lại trở nên hài hoà vui vẻ.

“Chư vị nhân huynh!” Ngụy Huệ Vương tiếp lời. “Đã là do Ngụy Anh làm chủ, vậy Ngụy Anh xin được nói thêm một câu. Nay thiên hạ hội thề, tất cả đều là nhờ công của Tô Tử. Trong thời gian hợp tung, danh phận của Tô Tử là đặc sứ sáu nước. Nay tung thân đã thành, danh phận đặc sứ đã không còn thích hợp. Hơn nữa, trong thời gian sáu nước tung thân, cũng cần phải có người điều độ. Ngụy Anh đề nghị, sáu nước cùng đặt ra một ti ngoại tướng, do Tô Tử kiêm nhiệm làm ngoại tướng quốc của cả sáu nước, chuyên xử lý ngoại vụ, điều hoà những chỗ bất đồng, không biết ý chư vị thế nào?”

Mọi người đều gật đầu: “Xin nghe theo sự sắp xếp của tung ước trưởng!”

“Vậy thì tốt quá!” Hàn Chiêu Hầu nói. “Từ lâu Tô Tử đã là tướng quốc của Hàn, Triệu, nắm giữ ấn tướng quốc trong tay. Còn lại bốn nước Yên, Ngụy, Tề, Sở, lần này bái tướng, không biết đã chuẩn bị ấn tướng quốc hay chưa?”

Ngụy Huệ Vương đáp: “Này Hàn huynh, ấn tướng quốc của huynh và Triệu huynh bái hơi sớm rồi đấy. Thiên hạ hội thề, sáu nước phải cùng nhau bái tướng, ấn tín càng phải đồng nhất. Nếu như gầy béo khác nhau, Tô Tử sử dụng sẽ không thuận tiện. Nếu Tô Tử thích vàng, thì sẽ thiên vị cái lớn; nếu Tô Tử ngại tốn sức, thì sẽ thiên vị cái nhỏ. Đợi đến khi đóng ấn, Tô Tử chỉ chăm chăm chọn lớn chọn bé, chẳng phải sẽ để lỡ đại sự ư?”

Nghe Ngụy Vương nói vậy, tất cả mọi người đều cười nghiêng ngả, ngay cả Tô Tần cũng không nhịn được cười.

“Như vậy thì không được!” Hàn Chiêu Hầu cười xong, tiếp lời Ngụy Huệ Vương. “Quý tiện có khác biệt, ấn tướng làm sao có thể giống nhau?”

Sáu nước hội thề, ba nước Sở, Ngụy, Tề đều là vương, Yên là công thất, chỉ có Hàn, Triệu vẫn là tước hầu, địa vị thấp nhất trong sáu nước. Lúc này Hàn Chiêu Hầu lại nói ra lời này, rõ ràng là có dụng tâm. Thấy ông ta gợi ý, Triệu Túc Hầu liền thu lại nét cười, sửa áo ngồi ngay ngắn, khẽ đặng hắng một tiếng, coi như hưởng ứng.

Tô Tần vẻ như đã sớm nghĩ tới chuyện này, trầm giọng đáp: “Hàn Hầu nói rất phải!” Rồi ôm quyền nhìn khắp một vòng. “Chư vị chúa thượng, hiện giờ thiên hạ cùng xưng vương, chế độ nhà Chu đã không còn nữa, Chu lễ đương nhiên cũng nên thay đổi. Nay sáu nước hội thề, tự nhiên cùng tôn quý như nhau, vì vậy, theo ý của Tần, chi bằng hãy nhân cơ hội tốt đẹp này, sáu nước hãy cùng nhau xưng vương, tất thảy đều quay mặt về nam xưng tôn!”

“Hay! Hay lắm!” Ngụy Huệ Vương do xưng vương đầu tiên mà phải hứng chịu đủ mùi khổ sở, lập tức lên tiếng hưởng ứng trước nhất. “Ngụy Anh tán đồng! Hàn, Triệu, Ngụy vốn là một nhà, Ngụy Anh một mình ngồi trên, thực sự đến ngủ cũng không yên ổn!”

Mọi người đều cười sảng khoái. Ba nhà Hàn, Triệu, Yên đều không từ chối, hai nhà Tề, Sở cũng không lên tiếng phản đối, việc sáu nước cùng xưng vương coi như đã được chấp nhận.

Đợi mọi người cười xong, Triệu Túc Hầu nói tiếp: “Ấn tướng cũ không dùng được, ấn tướng mới lại chưa kịp đúc, ngày mai bái tướng thế nào đây?”

“Việc này không khó!” Ngụy Huệ Vương rõ ràng đã có chuẩn bị từ trước, cười vang mà nói. “Ngụy Anh tuy bất tài, nhưng cũng mang theo một số thợ đúc vàng, bây giờ sẽ lập tức truyền lệnh, để họ làm việc thông đêm, đúc ấn tướng cho liệt quốc. Đợi khi ăn thề xong, chúng ta sẽ cùng bái tướng, chư vị thấy thế nào?”

Mọi người đều gật đầu.

“Tuy nhiên,” Ngụy Anh thôi cười, nghiêm mặt nói, “còn về vàng đúc ấn, Ngụy Anh không bỏ ra đâu, để tránh ngày sau cãi vã rắc rối!”

Mọi người đều phá lên cười, rồi nói: “Tất nhiên, tất nhiên, chuyện này là tất nhiên rồi! Cần bao nhiêu vàng, tung ước trưởng cứ việc tuyên bố!”

“Ngụy Anh không thạo việc này!” Ngụy Huệ Vương lắc lư cái đầu to béo. “Đợi khi trở về hành dinh, sẽ có tư đồ Chu Uy tính toán, sau đó sẽ đến hành dinh của từng nhà thu vàng. Đến lúc đó, chư vị đừng có thoái thác là được!”

Tiếng cười lại càng vang rộ.

“Tô tướng quốc!” Ngụy Huệ Vương quay sang Tô Tần. “Hôm nay tướng quốc mời khách, nên cũng là gia chủ. Ngoài những việc này ra, còn chuyện gì khác nữa không?”

“Đã hết rồi!” Tô Tần cũng thu nét cười lại, vòng tay đáp.

“Nếu như không còn chuyện gì nữa, Ngụy Anh xin đưa ra một đề nghị. Chư vị đều là người nho nhã, nơi này phong cảnh hữu tình, không có người ngoài, lại chẳng có ngự sử ở bên, chúng ta cớ sao không tự tấu đàn sáo, thổ lộ tình hoài, tự mình mua vui cho thoả thích?”

Mọi người đều tỏ ra hưng phấn, đồng thanh nói: “Xin nghe theo lời tung ước trưởng!”

Ngụy Huệ Vương xoa tay vào nhau, thổi phù phù mấy cái trông rất khoa trương, quay sang gọi tuỳ tùng: “Mang đàn lại đây!”

Các vị quân chủ cũng đều hào hứng, lần lượt gọi mang nhạc cụ của mình đến. Chẳng mấy chốc, bên bờ bắc Hà Thuỷ, dưới chân núi Hạc Minh, đã nghe cầm sắt hài hoà, chuông khánh ngân nga, sáo tiêu réo rắt, hoà quyện với tiếng chim ríu rít trong rừng, tiếng sóng rì rào trên Hà Thuỷ, hợp thành một bản hoà tấu tưng bừng, khiến đất trời cảm động.

Tô Tần ngồi yên lặng, chăm chú lắng nghe, hai hàng lệ từ từ tuôn chảy.

Vào lúc này đây, ngoại trừ Tần Công, tất cả những nhân vật uy quyền nhất trong thiên hạ cuối cùng cũng đã gạt bỏ tranh chấp, ngồi lại bên nhau, cùng tấu nhạc hoà âm. Cho dù kết quả thế nào, chí ít cho tới hiện tại, cũng coi như có được một khởi đầu tốt đẹp.

Ngày hôm sau, khi phương đông vừa hửng, trong vòng ba mươi dặm vuông tại Mạnh Tân, rộn ràng tiếng người reo ngựa hí, cảnh tượng vô cùng náo nhiệt. Đến giờ Mão, nghi thức hội thề tráng lệ không tiền khoáng hậu đã được bắt đầu trên đài hội thề vừa mới hoàn tất sau mấy tháng dày công xây dựng.

Người chủ trì toàn bộ nghi thức hội thề, chính là chức tư minh, đương nhiên do sứ thần sáu nước Tô Tần đảm đương, điều này không cần bàn cãi. Theo quy chế cổ, nghi thức gồm chín phần, lần lượt là: thứ nhất, đào đất làm hố; thứ hai, cắt tai bò; thứ ba, viết chính thư; thứ tư, tuyên đọc chính thư; thứ năm, uống máu; thứ sáu, chiếu cáo trời đất và sáu phương thần minh; thứ bảy, chép bản sao; thứ tám, giết vật tế; thứ chín, chôn chính thư cùng với vật tế.

Đỉnh đài hội thề cao tám trượng tám tấc, có hình lục giác, mỗi cạnh dài sáu trượng, diện tích vừa tròn ba mươi sáu trượng. Trung tâm của đài là một hố đất hình vuông, bốn cạnh đều dài tám thước tám tấc, sâu tám thước tám tấc, đã được đào sẵn từ trước. Trên vách chính bắc của hố đất có khoét một khám thờ, bên trong bày bảo ngọc đủ màu, gồm các loại ngọc bích, ngọc hoàng, ngọc viện, ngọc hoàn, ngọc quyết, ngọc bội mỗi thứ sáu cái, lần lượt khắc họ của sáu nước. Đặt ở giữa hố là con bò tơ lông màu đỏ hung, béo tốt to khoẻ, sinh ra vào ngày Thu phân năm ngoái, lúc này vừa tròn một tuổi, số ngày tuổi vừa đủ một vòng chu thiên. Do bốn chân đều bị trói chặt, không thể nhúc nhích, nên con bò chỉ biết trợn trừng hai mắt, khiếp đảm run sợ nhìn đám người mũ áo rực rỡ mỗi lúc một đông quanh miệng hố, rống lên từng tiếng thê thiết.

Cờ xí phấp phới, tù và rền vang từng chặp.

Tô Tần tuyên bố bắt đầu nghi thức hội thề. Tung ước trưởng Ngụy Huệ Vương liền sải từng bước dài, bước xuống hố đất, cầm lấy tai trái của con bò tơ. Quan tư tế đi theo sau tay cầm đao bén, nháy mắt đã cắt đứt phăng vành tai bò. Đã có người cầm âu ngọc đứng sẵn một bên, hứng phía dưới chiếc tai máu nhỏ ròng ròng. Do tư tế xuất đao thần tốc, nên bò tế thoạt tiên không thấy đau đớn, chỉ đến khi máu từ vành tai đứt sắp chảy kiệt, mới vằng mạnh cái đầu, rống lên một tiếng dài bi thảm.

Đợi đến khi máu đã chảy hết, tư tế nhận lấy cái tai bò từ trong tay Ngụy Huệ Vương, ném xuống hố, sau đó lấy một thanh gỗ đào đã được quấn dây đay một đầu, khuấy mấy cái trong âu ngọc, để loại bỏ tà khí trong máu tươi, sau đó nhận lấy âu ngọc, đi theo Ngụy Huệ Vương, bước lên khỏi hố.

Sau khi lên khỏi hố, tư tế trao lại âu ngọc cho tư minh Tô Tần. Tô Tần đổ một chút máu vào trong nghiên. Lâu Hoãn đứng hầu sẵn bên cạnh bèn dùng bút son chấm máu, viết lời thề đã được Khuất Bình soạn sẵn lên tấm lụa trắng đã được chuẩn bị từ trước.

Chừng một khắc sau, Lâu Hoãn viết xong, trình minh thư lên Tô Tần.

Tô Tần một tay cầm minh thư, một tay cầm âu ngọc, bước lên đài đất trải thảm gấm bên cạnh, tuyên đọc minh thư trước trời đất quỷ thần. Lời thề viết rằng:

“Vận trời chẳng thông,

Đạo suy đức hại,

Chu thất suy vi,

Lễ băng nhạc hoại.

Quân thần bất hoà,

Sinh ra gian tặc.

Lại có bạo Tần,

Chính pháp hà khắc.

Thiên hạ tai ương,

Lê dân khốn khổ.

Máu thấm tên sắc,

Xương khôn nhập mồ.

Quỷ thần giận dữ,

Dân chúng oán hận.

Đề xướng hợp tung,

Người chu Tô Tần.

Nô nức hưởng ứng,

Sáu nước chư quân.

Mạnh Tân hội thề,

Ngày đẹp Thu phân.

Cùng nhau thệ nguyện,

Chiếu cáo thần minh.

Đồng minh của ta,

Đều không hưng bình.

Đồng thù đồng địch,

Hoạn nạn chung lòng.

Bang giao qua lại,

Thực hành ngũ thông.

Đường đi thông suốt,

Nước không cách ngăn.

Cùng phạt hung đảng,

Cùng chống bạo Tần.

Trời cao đất cả,

Sáu họ tổ tiên.

Cùng về chứng kiến,

Chứng giám hội nguyền.

Nếu phản lời thề,

Minh thần xuống lệnh,

Tiêu diệt họ tộc,

Tước bỏ tính mệnh.”

Tô Tần đọc xong, bước xuống dưới đài, đi tới trước mặt Ngụy Huệ Vương, từ từ quỳ xuống, nâng âu ngọc ngang mày, nói lớn: “Mời tung ước trưởng uống máu!”

Ngụy Huệ Vương nhận lấy âu ngọc, nâng lên bên môi, khẽ uống một ngụm, rồi đưa tay quẹt ngang miệng, khiến máu tươi bê bết đầy cằm. Tiếp theo là Sở Uy Vương, Tề Uy Vương, Hàn Chiêu Hầu, Triệu Túc Hầu và Yên Văn Công. Mỗi người đều uống một ngụm, sau đó cùng quẹt xuống cằm. Nhìn thấy Yên Văn Công tuổi tác cao nhất, đức vọng lớn nhất lại đứng ở cuối cùng, Tô Tần bất giác cảm thán tận đáy lòng. Suốt những ngày này, cho dù Tô Tần cực lực đề xướng các nước tung thân không phân lớn nhỏ, tôn ti, thế nhưng bản thân mỗi chư hầu vẫn có tính toán riêng tư trong lòng.

Sau khi uống máu xong, đến phần chiếu cáo trời đất quỷ thần. Tô Tần vung tay, quân chủ sáu nước lần lượt lui sang một bên, đại vu chúc của sáu nước phục sức loè loẹt đăng đài, trổ hết tài nghệ ca hát nhảy múa trong tiếng vu nhạc, để thông báo với trời đất thần linh. Đại vu chúc múa xong, lại cùng lui xuống, tư minh của sáu nước lên đài, mỗi người đều cầm bút chép lại lời thề lên một tấm mai rùa làm bản sao. Chép xong, Lâu Hoãn kiểm tra một lượt, thấy không có sai sót, sáu vị tư minh mới lui xuống, rồi sáu vị quân chủ và Tô Tần cùng đi tới bên hố đất, cùng chứng kiến tư tế giết bò tế.

Tư tế tay cầm đao nhọn, thong dong bước theo bậc cấp xuống hố, một đao cứa ngang cổ con bò đang toàn thân run rẩy, bên tai trái vẫn ròng ròng máu tươi, khiến sáu vị quân chủ nhìn mà kinh hồn bạt vía. Đứt ngang khí quản, con bò trước tiên hai chân trước từ từ khuỵu xuống, sau đó toàn thân đổ quỵ.

Tư tế trở lên miệng hố, Tô Tần ném bản chính của minh thư và âu ngọc xuống hố, vừa hay rơi đúng đầu bò. Ngụy Huệ Vương vung xẻng, hất xẻng đất đầu tiên xuống hố. Tiếp đó, đến lượt các vị quân chủ khác xúc đất hất xuống. Thấy mọi người đều đã hất đất xong, Tô Tần liền vung tay, hai mươi tráng sĩ lập tức tay xẻng nhoay nhoáy, chưa đầy một khắc đã lấp đầy hố đất, đắp đất cao thành một hình trụ vuông.

Thề ước xong xuôi, tiếp đến là nghi lễ bái tướng.

Quân chủ sáu nước lần lượt ngồi quay mặt về nam, trước mặt mỗi người đều bày một ấn vàng. Ấn vàng mới được hơn hai mươi thợ khéo quần quật thông đêm đúc ra, tất cả đều to chừng nắm đấm, được bọc trong lớp gấm vàng sang trọng.

Trước ánh mắt của quân dân sáu nước, Tô Tần cất bước đi tới trước mặt sáu vị quân chủ, từ từ quỳ xuống, hành đại lễ ba lạy chín dập đầu với từng người, lần lượt nhận lấy ấn tướng từ trong tay từng vị quân chủ.

Khi Tô Tần tay nâng sáu chiếc ấn tướng quốc quay người bước xuống đài, tiếng chiêng tiếng trống bỗng chốc vang rên, trên đài dưới đài cờ bay phấp phới, vạn người ngợi khen, tiếng hô dậy đất.

Hai hàng nước mắt lặng lẽ lăn xuống má Tô Tần, rơi lã chã xuống tấm thảm dưới chân.

Hồi Thứ 48

Vừa hợp tung, bốn quân chủ ai vì mưu nấy

Quyết chinh phạt, vua tôi Ngụy “điệu hổ ly sơn”

Bái tướng xong, đến màn vũ nhạc theo thông lệ. Tô Tần đích thân lựa chọn, cả thảy có sáu màn, do sáu nước hội thề cung cấp. Nước Ngụy đầu tiên, sau đó đến Sở, Tề, Triệu, Hàn, Yên.

Khác với đại hội Mạnh Tân lần trước, vũ nhạc lần này mang phong vị riêng của từng vùng đất, không hề có bóng dáng binh đao sát phạt, có chăng chỉ là tiếng chuông khánh ngân nga, tiếng sáo đàn réo rắt, ca ngợi cảnh đất trời hoà thuận, mùa màng bội thu, mẹ cha từ ái, con cái hiếu thuận, trên đài dưới đài tươi cười hớn hở, bầu không khí rất mực hài hoà.

Khi màn vũ nhạc kết thúc, đã sang đến nửa chiều.

Tô Tần cắt đặt xong xuôi mọi chuyện, bèn trở về trại. Trên đường, từ xa đã nhìn thấy trước hành dinh nước Sở tiếng người như sóng, vô cùng náo nhiệt. Phái người đi hỏi, được biết là ba vị quân chủ nước Hàn, Tề, Ngụy được Sở Vương mời đến làm khách. Sở Vương mời khách, chỉ mời ba nước Tề, Ngụy, Hàn, bỏ qua hai nước phát động hợp tung là Triệu, Yên, khiến Tô Tần cảm thấy bất an.

Trở về đến trại, Tô Tần đang trầm ngâm nghĩ ngợi thì có người mang thiệp mời đến, nói là bạn cũ mời dự tiệc.

Tô Tần theo người này đi đến hành dinh nước Triệu, mới biết “bạn cũ” chính là Triệu Túc Hầu và Yên Văn Công. Chiếu tiệc được bày ra, hai vị quân chủ cùng ngồi ở ngôi chủ, Tô Tần ngồi ở chiếu khách, Phì Nghĩa, Tử Chi, Lâu Hoãn, công tôn Khoái bồi tiếp. Rượu thịt được đưa lên, quân thần cùng ăn uống sảng khoái. Yên Công, Triệu Hầu nói cười vui vẻ, liên tục kính rượu, chúc Tô Tần toại nguyện sự nghiệp hợp tung.

Rượu được mấy tuần, cũng đã gần đến canh hai, Tô Tần lo Yên Công tuổi cao sức yếu không kham nổi, song không tiện nói thẳng, nên lấy lý do mình không thể uống thêm được nữa, xin bãi tiệc.

Lão Yên Công còn chưa tận hứng, trong lòng băn khoăn, từ biệt Tô Tần và Túc Hầu xong, liền trở về hành dinh, đi thẳng vào phòng ngủ.

Lúc này đã đầu canh hai, phu nhân Cơ Tuyết vẫn đang ngồi đợi, thấy Yên Công quay về, liền bước tới giúp Yên Công cởi mũ áo, bảo Xuân Mai mang nước lại, rồi hầu Yên Công thay quần áo ngủ, tháo tất rửa chân.

“Chúa thượng!” Cơ Tuyết vừa xoa bóp đôi chân cho Yên Công, vừa hỏi. “Nhìn khí sắc của chúa thượng, dường như không được vui! Lẽ nào Tô Tử không đến?”

“Than ôi!” Văn Công lắc đầu nói. “Quả nhân không sao, chỉ là Tô Tử, dường như có tâm sự gì thì phải!”

“Tô Tử... làm sao kia?” Bàn tay của Cơ Tuyết bất giác khựng lại.

“Hôm nay Tô Tử thân đeo sáu ấn, địa vị hiển hách tột bực trong hàng thần tử, đáng lẽ phải là chuyện đại hỷ trong đời, song quả nhân không hề thấy người này tỏ ra vui mừng, mà ngược lại trông rất đỗi ưu sầu, xem ra trùng trùng tâm sự. Quả nhân bèn hỏi, Tô Tử nói rằng thấy tức ngực, hẳn là đã uống quá nhiều!”

“Tức ngực? Phải chăng là bị bệnh rồi?”

“Nhìn thần sắc thì không giống! Triệu Hầu muốn mời thầy thuốc đến chẩn trị, nhưng Tô Tử từ chối, nói là không nghiêm trọng, ngược lại còn liên tục chúc rượu hai ta.”

“Hay là mệt rồi?”

“Có lẽ vậy! Những ngày này, theo như quả nhân thấy, người lao lực nhất trên đời không ai hơn Tô Tử. Hôm nay lại càng vất vả, sáu nước hợp tung là đại sự của thiên hạ, tuyệt không được phép xảy ra sơ suất, chỉ nghĩ đến đó thôi, đã đủ căng thẳng lắm rồi. May mà Tô Tử tuổi trẻ, mới có thể kham nổi!”

“Vâng!” Cơ Tuyết gật đầu, thoáng chau mày, tiếp tục xoa bóp đôi chân cho Yên Công thêm một lúc, rồi khẽ nói. “Chúa thượng bận bịu cả ngày, hẳn đã mệt rồi, hãy sớm nghỉ ngơi!” Rồi thong thả đứng dậy, đưa mắt cho Xuân Mai.

Xuân Mai bèn quỳ xuống, cầm khăn lau khô chân cho Văn Công, mang giày mềm vào, sau đó cùng Cơ Tuyết dìu Văn Công đến bên giường nằm xuống, đắp chăn cẩn thận. Văn Công quả thực đã thấm mệt, vừa nằm một lúc đã ngáy pho pho.

Cơ Tuyết thở dài một tiếng, cùng Xuân Mai đi ra gian ngoài, mỗi người nằm xuống một chiếc giường.

Sáng sớm hôm sau thức dậy, Cơ Tuyết bảo Xuân Mai gọi Cơ Khoái đến, dò hỏi nguyên nhân khiến Tô Tần suốt ngày ủ rũ. Cơ Khoái kể lại một lượt câu chuyện bên bờ sông hôm đó, cuối cùng nói thêm: “Hợp tung tuy là việc tốt, nhưng sáu nước lại cùng hưng binh động chúng, dẫn theo đại quân rầm rộ mà đến, Tô Tử vì điều này mà thấy lo âu.”

“Than ôi!” Cơ Tuyết đã hiểu rõ nguyên do, khẽ thở dài một tiếng. “Chúa thượng vốn định không dẫn quân theo, sau đó nghe nói liệt quốc đều phát đại binh, một là lo bị người ta coi thường, hai là muốn giữ thể diện cho Tô Tử, nên mới đưa theo, không ngờ lại khiến Tô Tử càng thêm đau đầu!”

“Không phải Tô Tử lo lắng về chúng ta, mà là lo về người Sở và người Ngụy. Sở và Tần có mối hận Thương Ư, Ngụy và Tần có mối nhục Hà Tây. Nghe nói tối qua Sở Vương đã gạt Triệu, Yên sang một bên, chỉ mời ba nước Tề, Ngụy, Hàn đến dự tiệc, e rằng Tô Tử đang vì việc này mà sầu muộn.”

“Tại sao Sở Vương không mời Triệu, Yên?”

“Tôn nhi cũng không biết, bên trong chắc hẳn có điều khuất tất. Nghe Tô Tử nói, điều Tô Tử lo lắng chính là họ nhân cơ hội này cấu kết thành một, cùng nhau diệt Tần.”

“A?” Cơ Tuyết kêu lên kinh ngạc, sững sờ mất một chốc, nhưng vẫn băn khoăn. “Tô Tử hợp tung, chẳng phải nhằm mục đích chống Tần ư?”

“Tôn nhi cũng hỏi Tô Tử như vậy, Tô Tử nói rằng, hợp tung là để chế Tần, không phải diệt Tần. Lúc đầu tôn nhi cũng thấy khó hiểu, suy nghĩ liền mấy hôm, cuối cùng cũng đã hiểu ra. Nếu như nước Tần thực sự bị tiêu diệt, sáu nước sẽ tự loạn, tung thân cũng không thể thành công.”

“Phải rồi!” Cơ Tuyết đột nhiên bừng tỉnh, liên tiếp gật đầu. “Vẫn là Tô Tử nhìn xa trông rộng. Sáu nước quả thực là như vậy, bằng mặt mà không bằng lòng!” Nói đoạn, ngẩng lên mỉm cười. “Khoái Nhi, được rồi, nếu lại có chuyện gì mới mẻ, chớ quên kể cho ta nghe đấy. Nơi đây bốn phía chẳng có ai thân quen, thực khiến ta buồn chán!”

“Tôn nhi tuân chỉ!”

Sau khi Cơ Khoái đi rồi, Cơ Tuyết ở trong trướng đứng ngồi không yên, cứ thế khổ sở đến tận gần trưa mà vẫn chưa nghĩ được ra cách nào để giúp Tô Tần, bất giác đau lòng ứa lệ.

“Công chúa!” Xuân Mai thấy vậy cũng thấy buồn lây, bèn nói. “Nhìn công chúa thế kia, thực khiến người ta xót ruột. Hay là để nô tỳ đi gọi Tô Tử đến, công chúa hãy hỏi thẳng Tô Tử xem có mong muốn gì không?”

Cơ Tuyết lườm Xuân Mai: “Tô Tử có đâu chịu nói?”

“Bất kể thế nào, chúng ta cũng phải gặp mặt Tô Tử một lần. Lần này công chúa đến đây, chẳng phải cũng vì có ý đó hay sao?”

“Giờ Tô Tử đang bận tối tăm mặt mũi, làm sao mà gặp được? Hơn nữa, nếu để chúa thượng biết, cũng thực không hay!”

“Vậy...” Xuân Mai im bặt, ngẫm nghĩ một hồi, lại nói. “Hay là xin với chúa thượng mời Tô Tử đến đây, nói là... nói là công chúa nhớ nhà, muốn nhờ Tô Tử gửi lời nhắn!”

Ý kiến này thật chẳng ra sao. Cơ Tuyết muốn gửi lời nhắn, việc gì phải nhờ tới Tô Tần? Tệ hại hơn là Xuân Mai lại nhắc đến Chu thất, cũng chính là nhắc tới người thân đang ở ngay trước mắt. Nghĩ tới phụ vương cô khổ một mình không ai bầu bạn, Cơ Tuyết càng thêm đau đớn trong lòng, lúc đầu còn sụt sùi, sau đó òa lên nức nở.

Xuân Mai không còn cách nào khác, bèn cất bước định đi ra ngoài, nhưng Cơ Tuyết chợt gọi lại: “Mai Nhi!”

Xuân Mai vội dừng bước.

“Chúa thượng đâu? Xem thử chúa thượng đang ở đâu!”

Xuân Mai vâng một tiếng rồi vội vã bước đi, một lát sau quay lại bẩm báo: “Chúa thượng và Tử Chi tướng quân đang bàn quốc sự trong hành dinh, hình như là có việc gấp!”

Cơ Tuyết nhìn ra ngoài trướng.

“Công chúa, hay là, nô tỳ tiếp tục đi nghe ngóng xem sao?”

Xuân Mai chưa kịp cất bước, phía ngoài đã có tiếng bước chân vọng lại, nghe rất gấp gáp, nhưng vẫn nhận ra được là tiếng bước chân của Văn Công. Cơ Tuyết thoáng giật mình, vội chỉnh đốn xiêm y, cùng Xuân Mai ra ngoài cửa nghênh đón.

Văn Công thở hổn hển, dường như là vừa chạy đến.

Cơ Tuyết đang bước lên định đỡ lấy ông ta, thấy vậy liền dừng bước, khẽ cúi người hành lễ: “Chúa thượng?”

Văn Công không nhìn đến nàng, cứ thế đi đi lại lại liên hồi trong trướng, hơi thở vẫn hổn hển, bước chân nặng mà có lực, hoàn toàn không giống một ông già đã quá lục tuần.

Đi lại một lúc, bước chân của Văn Công chậm dần, hơi thở cũng điều hoà trở lại.

Cơ Tuyết chậm rãi bước tới, đỡ lấy cánh tay Văn Công, dìu ông ngồi xuống chiếu.

Văn Công liếc nhìn Xuân Mai.

Cơ Tuyết xua tay, Xuân Mai bèn lui ra.

Cơ Tuyết nhìn thẳng vào Văn Công, dịu dàng hỏi: “Chúa thượng sao lại tức giận đến vậy?”

Văn Công cũng đưa mắt nhìn Cơ Tuyết, rồi nghiến răng trèo trẹo mà nói: “Phu nhân hãy xem cái này!” Rồi rút từ trong tay áo ra một bức mật thư.

Cơ Tuyết mở ra, đọc một lượt, kinh ngạc kêu lên: “Điện hạ muốn lấy vợ Tần?”

Văn Công nộ khí lại bốc lên bừng bừng: “Nghịch tử hại ta! Sáu nước tung thân, tông chỉ là chế Tần. Trong lúc nước sôi lửa bỏng thế này, mà nghịch tử lại gửi thư đến, nói là muốn lấy gái Tần làm vợ, thực không thể hiểu được nó muốn gì?”

“Chúa thượng bớt giận!” Cơ Tuyết khuyên nhủ. “Điện hạ hành động như vậy, chắc hẳn có điều uẩn khúc!”

“Uẩn khúc gì?” Văn Công đập bàn giận dữ. “Là người Tần dùng kế, muốn khiến chúng ta nội bộ lục đục. Nghịch tử có mắt như mù, không biết phân biệt thị phi, làm sao có thể đảm đương quốc sự?”

“Chúa thượng!” Cơ Tuyết thấy Văn Công nặng lời, liền cất giọng ôn tồn. “Đọc trong thư, thấy là do người Tần chủ động kết thân, điện hạ do dự chưa quyết, nên mới gửi thư hỏi ý chúa thượng. Nếu chúa thượng thấy không ổn thoả, có thể hạ lệnh cho điện hạ tạm thời chớ có kết thân!”

Văn Công cũng từ từ bình tâm trở lại: “Phu nhân nói rất phải. Quả nhân đã hạ chỉ, cho ngựa hỏa tốc đưa về rồi!”

“Chúa thượng thánh minh!”

“Phu nhân,” Văn Công nhìn Cơ Tuyết, “hãy nhanh chóng sắp xếp, chúng ta sẽ lập tức khởi hành!”

“Trở về?”

Văn Công thở dài: “Than ôi, nếu không trở về, quả nhân không thể yên tâm! Đứa con này chẳng có chí xa, tâm thuật bất chính, lại có người Tần ở bên, không biết sẽ gây ra chuyện gì. Hiện giờ tung thân mới thành, tuyệt đối không được để vì nước Yên mà phá hỏng đại sự của thiên hạ!”

“Có cần hiểu dụ cho Tô Tử hay không?”

“Sáu nước mới hợp tung, muôn việc rối bời, đều đang chờ vào Tô Tử. Việc của nước Yên, quả nhân sẽ tự lo, không được để Tô Tử thêm bấn loạn!”

Cơ Tuyết liên tiếp gật đầu.

“Than ôi!” Văn Công lại thở dài buồn bã. “Quả nhân già rồi, đi được một chuyến thực chẳng phải dễ dàng. Lần này đến hội thề, quả nhân vốn định nhân dịp đưa phu nhân tới Lạc Dương yết kiến bệ hạ, ai ngờ lại bị nghịch tử phá ngang!”

Cơ Tuyết bật khóc mà nói: “Chúa thượng có tâm ý này, phụ vương biết được cũng đã thấy mãn nguyện rồi!”

Công tôn Khoái bẩm báo với Tô Tần việc Yên Công về nước, Tô Tần kinh ngạc kêu lên: “Chúa thượng muốn trở về? Lúc nào khởi hành?”

“Lúc gà gáy sáng sớm mai!” Công tôn Khoái đáp.

Tô Tần nhìn thẳng vào Công tôn Khoái: “Công tôn có biết nguyên do chăng?”

Công tôn Khoái lắc đầu.

“Còn Tử Chi tướng quân?”

“Ông nội căn dặn, Tử Chi tướng quân cùng binh lính nước Yên, và cả tại hạ, vẫn sẽ ở đây, nghe theo sự điều động của Tô Tử.”

Tô Tần nhắm mắt suy nghĩ.

Màn đêm vừa buông xuống, Trâu Phi Đao liền đi vào trong trướng, thắp sáng hai ngọn đèn đồng.

Tô Tần mở mắt, gọi khẽ: “Trâu huynh!”

Trâu Phi Đao vội bước lại gần, khom lưng đáp: “Chúa công có điều gì căn dặn?”

“Mời Lâu Tử đến đây!”

Trâu Phi Đao đi ra cửa trướng, sai người hầu đi mời Lâu Hoãn. Đang định quay trở vào, bỗng thấy phía xa có bóng người lướt qua, rồi biến mất sau một gốc cây. Trâu Phi Đao giật thót, rút mũi phi đao ra, âm thầm vòng sang, thấy bóng đen vẫn núp sau gốc cây, thò đầu ngó nghiêng vào trong đại trướng của Tô Tần, liền áp sát lại gần, quát lớn: “Kẻ nào?”

Bóng đen giật bắn mình, sợ hãi quay đầu lại, té ra là một thiếu nữ vận trang phục cung nữ nước Yên.

Trâu Phi Đao lui lại một bước, ngữ khí cũng ôn hoà hơn: “Cô nương ở đây làm gì?”

Thiếu nữ chính là Xuân Mai, lúc này cũng đã định thần trở lại, vội vòng tay vái, rồi khẽ dẩu môi về phía trước, hỏi: “Xin hỏi quân uý, phía trước phải chăng là đại trướng của Tô đại nhân?”

Trâu Phi Đao nhìn Xuân Mai một chốc, gật đầu, lại hỏi: “Cô nương là ai?”

Xuân Mai hỏi vặn lại: “Vậy quân uý là ai?”

Trâu Phi Đao lại quan sát cô ta lát nữa, mới đáp: “Tại hạ họ Trâu!”

“Là Phi Đao đại hiệp ư?” Xuân Mai mở to mắt, nhìn chằm chằm vào Trâu Phi Đao.

“Chính tại hạ! Ồ, tại sao cô nương lại biết?”

Xuân Mai cười nói: “Quân uý họ Trâu, trên người lại không có kiếm, thiết nghĩ hẳn là Phi Đao đại hiệp danh tiếng lẫy lừng!”

“Danh tiếng lẫy lừng?” Trâu Phi Đao nghe mà ngẩn người.

Xuân Mai hạ giọng nói: “Trong cung chúng tôi, có ai không biết tới uy danh của đại hiệp. Mọi người đều đồn rằng, đại hiệp...”

“Đồn... đồn gì về ta?” Trâu Phi Đao kinh ngạc hỏi.

“Tạm chưa nói vội!” Xuân Mai mỉm cười nói. “Tiểu nữ có việc gấp cần cầu kiến Tô Tử, phiền đại hiệp báo giúp!”

Trâu Phi Đao vẫn đứng bất động.

Xuân Mai giục: “Việc rất gấp, nhờ đại hiệp mau cho!”

Trâu Phi Đao ấp úng: “Ta... còn chưa biết cô nương tên họ là gì, là người ở đâu, làm sao báo được?”

Xuân Mai tiến lại gần, nói khẽ: “Tiểu nữ không có họ, chỉ gọi là Xuân Mai, là người hầu của phu nhân nước Yên. Phu nhân sai tiểu nữ truyền tin cho Tô Tử, rằng có việc gấp.”

Trâu Phi Đao cũng khẽ giọng đáp: “Bây giờ thì không được. Chúa công đang bàn đại sự với công tôn nhà cô!”

“Là công tôn Khoái ư?”

Trâu Phi Đao gật đầu.

“Đại hiệp có thực là Trâu Phi Đao?” Xuân Mai nhìn thẳng vào mắt hắn, hỏi.

“Cái này có giả được chăng?” Trâu Phi Đao rút ra một mũi phi đao, chìa ra trước mặt Xuân Mai.

Xuân Mai liền lấy từ trong tay áo ra một túi gấm, đưa cho Trâu Phi Đao: “Tôi tin đại hiệp! Đây là vật phu nhân muốn gửi cho Tô Tử, rất hệ trọng, xin hãy lập tức chuyển cho Tô Tử, tôi sẽ ở đây đợi tin.”

Trâu Phi Đao nhận lấy túi gấm, trở vào trong trướng, đúng lúc công tôn Khoái vòng tay cáo từ Tô Tần.

Thấy công tôn Khoái đã bước ra, Trâu Phi Đao hạ giọng bẩm báo: “Chúa công, có người đến gửi túi gấm này, nói là có chuyện hệ trọng!” Rồi dâng túi gấm lên.

Tô Tần nhận lấy, mở ra, thấy bên trong là một vuông lụa, trên có thêu một bài thơ, cùng hình một thiếu phụ đứng quay lưng vào núi, mắt nhìn ra sông, đang dõi về nơi xa thẳm. Bài thơ viết rằng:

“Cây non Yên xanh xanh chừ,

Người ấy ra ải.

Cây non Yên khô úa chừ,

Sao chẳng thấy về.”

Mặc dù không đề tên, nhưng Tô Tần biết vuông lụa được thêu bởi tay Cơ Tuyết. Tô Tần cố nén nhịp tim thổn thức, nhắm nghiền hai mắt hồi lâu, mới từ từ mở mắt ra, ngắm nghía bức tranh thêu. Thấy đường kim tỉ mỉ, hẳn nàng đã phải bỏ ra rất nhiều thời gian, từng mũi từng mũi thêu thành.

Tô Tần gắng nuốt lệ, lần tìm một hồi trong lớp áo, lấy ra mảnh khăn lụa đã ố vàng bởi mồ hôi, cẩn thận trải bên cạnh vuông lụa, thẫn thờ nhìn ngắm hồi lâu.

“Chúa công!” Trâu Phi Đao khẽ gọi.

Tô Tần dường như không nghe thấy, mắt vẫn nhìn sững vào hai vuông khăn một cũ một mới.

Trâu Phi Đao đợi thêm một lúc, lại bẩm báo: “Người đến vẫn đang đợi ở ngoài!”

Tô Tần bừng tỉnh: “Có phải Xuân Mai không?”

Trâu Phi Đao gật đầu.

Tô Tần lấy bút mực ra, ngẫm nghĩ một lúc, rồi đề một bài thơ lên tấm da dê, là một bài cổ phong nước Vệ do Trọng Ni người nước Lỗ biên soạn:

“Ném cho ta mộc đào,

Ta tặng lại quỳnh dao.

Phải đâu vì báo đáp,

Vì mãi hết tâm giao.”(1)

Viết xong, Tô Tần đọc lại một lượt, rồi cẩn thận gấp lại, cho vào phong thư, cũng không niêm phong mà đưa luôn cho Trâu Phi Đao: “Đưa cho Xuân Mai, nói rằng... rằng tại hạ đa tạ nàng ấy!”

Trâu Phi Đao vừa ra khỏi trướng, Lâu Hoãn đã nối gót đi vào. Tô Tần chẳng kịp nói lời khách sáo, lập tức đi thẳng vào đề: “Lúc nãy công tôn Khoái đến, nói rằng sáng sớm mai Yên Công sẽ lên đường về nước.”

Lâu Hoãn chau mày: “Công tôn Khoái có nói nguyên nhân không?”

Tô Tần lắc đầu.

“Tại hạ nghe nói lần này phu nhân nước Yên đến đây là có ý muốn yết kiến thiên tử, sao lại nói về là về ngay được?”

Tô Tần nhắm mắt trầm tư.

Lâu Hoãn lẩm bẩm một mình: “Thật kỳ lạ! Theo tính cách của Yên Công, tuyệt đối không thể vội vàng như vậy. Hơn nữa, làm thế cũng bất lợi cho sức khoẻ của ông ta. Vừa mới từ nước Yên đến nơi, đi đường vất vả, Yên Công tuổi tác lại cao, còn chưa kịp nghỉ ngơi lại sức kia mà!”

Tô Tần đột nhiên mở choàng mắt: “Lần này họp mặt ăn thề, nước Tần có động tĩnh gì không?”

“Chưa thấy có động tĩnh gì khác thường. Việc phòng bị ở Tây Hà chưa thấy tăng cường, ngay cả ải Hàm Cốc cũng vẫn qua lại thông thương như cũ, dường như họ không hề quan tâm.”

Tô Tần tiếp tục khép mắt lại.

“Tô Tử!” Lâu Hoãn chần chừ một lát. “Nhưng các nước tung thân lại có chút chuyện ồn ào.”

“Ồ?” Tô Tần mở mắt.

“Tại hạ vừa được biết, Sở Vương đột nhiên nổi hứng, phái công tử Như đến mời Hàn Hầu, nói rằng muốn đi thăm Hổ Lao, chiêm ngưỡng nơi nuôi hổ của Mục Vương năm xưa. Hai vương Tề, Ngụy hay tin, cũng hưởng ứng đi cùng, Hàn Hầu đích thân dẫn đường. Nghe nói chư vương cũng sẽ rời trướng vào sáng mai.”

“Còn chúa thượng thì sao?”

Vì đang nói chuyện với Lâu Hoãn, nên vị “chúa thượng” này rõ ràng là chỉ Triệu Túc Hầu. Lâu Hoãn lập tức đáp liền: “Sở Vương chưa thấy mời chúa thượng, chúa thượng cũng chưa hưởng ứng!”

“Ta biết rồi!” Tô Tần chau mày hồi lâu mới thở dài một tiếng. “Phiền Lâu Tử chuyển tấu với chúa thượng, nói rằng Tô Tần khẩn cầu chúa thượng hãy nán lại vài ngày rồi hãy trở về!”

“Xin nghe theo lời Tô Tử!”

Trâu Phi Đao quay lại bên gốc cây, Xuân Mai vẫn đang đợi ở đó.

“Cô nương, đây là thư phúc đáp của chúa công, hãy cất cho kỹ!” Trâu Phi Đao đưa bức thư cho Xuân Mai.

Xuân Mai đưa hai tay nhận lấy, cẩn thận cho vào tay áo, vòng tay vái chào Trâu Phi Đao, vừa quay người định đi thì Trâu Phi Đao gọi lại: “Cô nương, chúa công còn có một lời nhắn cho cô!”

Xuân Mai quay người lại, ngạc nhiên hỏi: “Nhắn cho tôi ư?”

“Chúa công nói, bảo với Xuân Mai, rằng ta đa tạ nàng ấy.”

“Ngài hãy chuyển lời lại cho Tô Tử, nói rằng Xuân Mai cũng đa tạ Tô Tử.”

Trâu Phi Đao mỉm cười: “Cô nương giúp đưa tin, chúa công đa tạ cô là khách khí, là lễ phép. Nhưng cô nương lại đa tạ chúa công, hẳn phải có lý do?”

Xuân Mai ngẩng đầu nhìn Trâu Phi Đao: “Tiểu nữ là người hèn mọn, là kẻ hạ nhân; Tô Tử là đại nhân, là quý nhân. Đại nhân quý nhân lại đa tạ tiện nhân hạ nhân trước, tiểu nữ không nên đa tạ lại hay sao?”

Trâu Phi Đao không biết đối đáp thế nào.

Xuân Mai cười khúc khích, rồi quay người đi luôn.

Đi được mấy bước, Trâu Phi Đao lại gọi: “Cô nương...”

Xuân Mai dừng bước.

Trâu Phi Đao tiến lại gần: “Tại hạ... muốn hỏi thăm một chuyện.”

“Ồ!” Xuân Mai mỉm cười. “Đại hiệp cứ hỏi!”

“Trong cung... đồn tại hạ như thế nào?”

“Đồn nhiều lắm! Nói rằng đại hiệp phi đao xa trăm bước xuyên qua lá dương liễu, là thiên hạ đệ nhất binh khí; nói đại hiệp bay nhảy trên nóc nhà như chạy trên đất bằng; nói đại hiệp miệng phun ra lửa, mắt nhìn nghìn dặm; nói đại hiệp trên Kế Thành một mạch phi trăm mũi đao, đao đao xuyên trúng yết hầu, khiến xác quân phản loạn chồng chất dưới chân thành như gò đống...”

Trâu Phi Đao mặt đỏ bừng: “Đúng là... đồn nhảm!”

Xuân Mai nhìn Trâu Phi Đao chăm chú một hồi, rồi mỉm cười nói: “Hôm nay gặp mặt, thấy quả là đồn nhảm! Đại hiệp chẳng hề giống với tưởng tượng của tiểu nữ!”

Trâu Phi Đao nhìn Xuân Mai hỏi: “Cô nương hẳn thấy thất vọng?”

“Không! Không! Không!” Xuân Mai liên tiếp xua tay. “Ý tiểu nữ là nói diện mạo của đại hiệp...”

“Xấu xí lắm ư?”

Xuân Mai lắc đầu, cười khúc khích mà nói: “Cứ ngỡ đại hiệp ba đầu sáu tay, tướng mạo dị thường tựa thần nhân, không ngờ đại hiệp chẳng hề khác với người thường, lại còn... lại còn...”

“Còn làm sao?”

Xuân Mai đỏ bừng mặt không đáp, cúi đầu liếc trộm Trâu Phi Đao một cái rồi ngoắt người chạy đi mất.

Chẳng hiểu sao, vừa bắt gặp ánh mắt của Xuân Mai, Trâu Phi Đao bỗng tim đập thình thịch, đứng ngẩn ngơ tại chỗ, cho đến khi Xuân Mai hoàn toàn biến mất trong màn đêm mênh mang.

Rời khỏi Mạnh Tân, dọc theo bờ nam Hà Thuỷ đi về phía đông hơn trăm dặm, sẽ thấy Y Thuỷ. Lại đi thêm mấy chục dặm nữa là đến Tỵ Thuỷ. Ở bờ đông Tỵ Thuỷ, phía nam Hà Thuỷ, chính là Hổ Lao quan, nơi chư vương hẹn nhau đến chiêm ngưỡng.

Hổ Lao quan còn được gọi là Tỵ Thuỷ quan, bắc giáp Hà Thuỷ, nam dựa Trung Nhạc Tung Sơn, ở giữa là ba ngọn núi Đại Phi, Phù Hý, Quảng Vũ trập trùng nối liền, khe núi rãnh sâu xen kẽ, địa thế vô cùng hiểm trở. Một con đường cái quan cổ xưa chạy qua quan ải đi về phía tây, có thể dẫn đến Lạc Dương, sang Hàm Cốc, nối thông với Tần; ra khỏi quan ải đi về phía đông, có thể qua Huỳnh Dương, Trung Mâu, Diễn, thẳng tới Đại Lương. Nhờ địa thế đặc biệt nên sau khi diệt Trịnh, Hàn Hầu đã ban chỉ xây dựng cửa ải tại đây, dựa vào địa thế hiểm trở để xây dựng thành lũy. Cửa ải này vẫn được gọi là Hổ Lao, còn thành được đặt tên là Thành Cao.

Nơi mà Uy Vương muốn tới chiêm ngưỡng chính là Quan Hổ đồn nằm ở phía tây nam Hổ Lao quan, cách cửa ải chừng ba dặm. Dưới sự dẫn đường của quan thủ lệnh Thành Cao, bốn vương Sở, Tề, Ngụy, Hàn bỏ lại tuỳ tùng, hăm hở leo lên đỉnh phía đông của Quan Hổ đồn, đứng trước một gò đất nhỏ tròn trịa như chiếc bánh bao lớn.

“Khởi tấu chúa thượng, trước mặt chính là nơi nuôi hổ của Mục thiên tử!” Thành Cao lệnh chỉ vào gò đất, nói lớn.

Hàn Chiêu Hầu khẽ xua tay: “Biết rồi, lui xuống đi!”

“Vi thần tuân chỉ!” Thành Cao lệnh khom người lui xuống, đứng hầu cách đó một tầm tên bắn.

Hiện đang là mùa thu, trời cao mây nhạt.

Mấy vị quân chủ đứng trước gò đất, ngắm nghía hồi lâu. Trên gò không có lấy một gốc cây lớn, chỉ thấy các bụi gai cao ngang thắt lưng và táo dại um tùm ken đầy trên dốc, rất dễ vướng víu áo quần. Trên dốc cỏ dại tạp nham, phần nhiều đã úa vàng, trong gió thu se sắt, càng thêm xơ xác héo hon.

Ngụy Huệ Vương nhìn vào một vùng đất trũng cách đó không xa, chỉ lớn bằng một gian phòng, trông giống như tổ chim. Hiển nhiên, đây là nơi năm xưa nhốt con mãnh hổ đã bị vệ sĩ của Mục Vương là Cao Bôn Tuất bắt sống. Ngắm nhìn một lúc, có lẽ vẫn chưa thích chí, Ngụy Huệ Vương bèn vạch gai góc, đi thẳng tới nơi. Khi ngang qua một bụi táo gai, một góc áo bào bị cành táo gai găm chặt lấy. Ngụy Huệ Vương đưa tay ra gỡ, chẳng may một mũi gai táo nhọn hoắt đâm trúng ngón giữa, đau đến nhăn mặt.

Huệ Vương bản tính hài hước, có lẽ muốn dọa mọi người cho vui, liền quay đầu lại, làm bộ làm tịch hét toáng lên: “Ở đây có cạm bẫy, chư vị nhân huynh mau đến cứu ta!”

“Này Ngụy huynh!” Sở Uy Vương phá lên cười lớn. “Rõ ràng huynh biết phía trước có hổ, mà vẫn cố lao đầu vào!” Tề Uy Vương, Hàn Chiêu Hầu đều cười vang.

Chiêu Hầu bước lại gần, cẩn thận gỡ cành gai ra. Huệ Vương thoát thân, nhìn xuống ngón tay, thấy máu ứa ra, liên cho lên miệng mút đánh chụt, cười ha hả đáp lời Sở Vương: “Hùng huynh không biết đấy thôi, cái này gọi là không vào hang hổ, sao bắt được hổ con?” Lại mút thêm cái nữa, liếc mắt nhìn Tề Vương, Sở Vương. “Nào, hai vị nhân huynh, chúng ta đã đến tận đây rồi, cớ sao lại không đi thêm mấy bước, xem xét cho cặn kẽ?”

Sở Uy Vương liếc nhìn Tề Uy Vương, nửa đùa nửa thật: “Ngụy huynh muốn bắt hổ con, Điền huynh có hứng thú không?”

Tề Uy Vương hỏi vặn lại: “Ý Hùng huynh thế nào?”

Sở Uy Vương khẽ chau mày: “Đương nhiên là muốn bắt hổ con, có điều...” chỉ vào cây táo gai trước mặt, “đây là giống cây gì, sao lại gớm ghê đến vậy?”

Tề Uy Vương liếc sang Hàn Chiêu Hầu: “Hàn huynh, đây là địa bàn của huynh, Hùng huynh muốn hỏi!”

Hàn Chiêu Hầu mỉm cười đáp: “Điền huynh cười chê rồi! Hùng huynh hiểu nhiều biết rộng, sao có thể không biết giống cây này?”

Sở Uy Vương tiến thêm mấy bước, ngắm nghía cây táo một lúc, khẽ lắc đầu: “Cây này kỳ lạ, táo chẳng phải táo, sơn trà chẳng phải sơn trà, Hùng Thương kiến thức hạn hẹp, thực sự không biết là cây gì!”

Hàn Chiêu Hầu cười nói: “Hùng huynh đã nói ra rồi, còn bảo là không biết?”

Sở Uy Vương hỏi: “Ý huynh là, cây này là cây táo?”

Lúc này đang vào mùa táo chín, trên cành táo gai chi chít những quả, to chừng quả anh đào, xanh xanh đỏ đỏ, lớn bé đan xen. Hàn Chiêu Hầu tiện tay hái lấy một quả, đưa cho Sở Uy Vương: “Nếu không tin, Hùng huynh có thể nếm thử!”

Sở Uy Vương nhận lấy, xoay qua xoay lại ngắm nghía, nhưng không đưa lên miệng.

Ngụy Huệ Vương thấy vậy cũng hái lấy một quả, bỏ tọt vào miệng, nhai vài cái, cười nói: “Hùng huynh sợ gì thế? Táo này còn được gọi là táo thọ, các vùng núi Trung Nguyên đều có, vỏ dày hạt lớn ruột ít, mùi vị thơm ngon, thường ăn nó có thể bổ huyết dưỡng gan, kéo dài tuổi thọ.”

Sở Uy Vương tiện tay nhét luôn quả táo vào trong tay áo, lui về bên cạnh Tề Uy Vương.

“Ồ, cớ sao Hùng huynh lại cất đi mà không ăn?” Ngụy Huệ Vương ngạc nhiên hỏi.

“Vật này đã là do Hàn huynh ban tặng, Hùng Thương sao nỡ ăn? Hùng Thương muốn mang vật này về Kinh Sở, trồng ở vườn sau, ngày ngày chăm sóc, thưởng thức từ từ, để lại cho con cháu vạn đời sau, mới không phụ ý tốt của Hàn huynh!” Sở Uy Vương nửa đùa nửa thật.

Hàn Chiêu Hầu sao có thể không nghe ra ẩn ý, lập tức đốp lại: “E rằng đó chỉ là mong muốn đơn phương của một mình Hùng huynh mà thôi!”

“Ồ?” Sở Uy Vương liền liếc mắt lại.

“Hùng huynh có còn nhớ chuyện Án Anh người Tề đi sứ nước Sở hay chăng?”

Thấy ông ta nhắc tới sự việc năm xưa, Sở Uy Vương hơi nóng mặt, liền vặc lại: “Án Anh đi sứ Sở thế nào?”

Hàn Chiêu Hầu nheo mắt lại, giống như đang đọc sách: “Án Anh đi sứ nước Sở, quan quân trói hai người dẫn lại, nói với Sở Vương, đây là người nước Tề, phạm tội trộm cướp. Sở Vương bèn hỏi Án Tử, ‘người Tề giỏi trộm cướp lắm ư?’ Án Tử bèn đáp, ‘quýt mọc ở Hoài Nam thì là quýt, mọc ở Hoài Bắc lại là cam, cành lá giống nhau, nhưng mùi vị lại khác biệt.’ Tại sao lại như vậy? Là do thuỷ thổ khác nhau.” Nói đoạn khẽ hé mắt, khoé miệng nhếch một nụ cười. “Hùng huynh muốn mang táo ở núi này về trồng tại Kinh Sở, há chẳng phải cũng là thuỷ thổ khác nhau ư? Hơn nữa, dù táo này có thể bổ huyết dưỡng gan, nhưng lại nhiều gai ít thịt, nếu như bất cẩn...” liếc sang Ngụy Huệ Vương, “Hùng huynh sẽ giống như Ngụy huynh, phải dùng miệng mút máu đấy!”

“Ha ha ha!” Sở Uy Vương phá lên cười lớn. “Hàn huynh thực khéo ăn nói!” Rồi lấy quả táo ra, ném toẹt xuống đất. “Nếu là như vậy, quả táo nhỏ này của Hàn huynh, Hùng Thương chẳng cần ăn nữa!” Lại liếc nhìn gò đất. “Tuy nhiên, Hùng Thương cũng có một câu, không biết Hàn huynh có muốn nghe chăng?”

“Hùng huynh cứ nói!”

“Theo Hùng Thương được biết,” Sở Uy Vương lại nhìn gò đất, “nơi này vốn là vùng đất của nước Quắc. Sử Bá từng nói, ‘Quắc Thúc ỷ thế, Cối Trọng cậy hiểm’,” Lại ngoảnh đầu phóng mắt nhìn khắp cảnh tượng phía xa xăm, nam nhìn Tung Nhạc, bắc ngắm Hà Thuỷ, “hôm nay được tận mắt chứng kiến, vùng đất này quả nhiên hùng vĩ hiểm trở. Quắc Thúc vì ỷ vào thế, nên đất này bị người Trịnh chiếm đoạt. Người Trịnh lại ỷ vào hiểm trở, nên đất này đã rơi vào tay Hàn huynh. Hôm nay đến đây, nhìn xưa mà ngẫm nay, thực là cảm khái vạn phần!”

Lời này khác nào nói nước Hàn chỉ cậy hiểm yếu chứ không tu đức, nên đất này sẽ không thể giữ được lâu dài.

Hàn Chiêu Hầu hiểu rõ ẩn ý, muốn phản kích, nhưng nhất thời không biết phải nói thế nào, đang lúc tức giận thì Tề Uy Vương cười nói: “Ha ha ha, Hùng huynh nói hay lắm! Lên tới đất này, Nhân Tề cũng nhớ tới một chuyện cũ, gọi là ‘mượn đường phạt Quắc’. Mặc dù Quắc này không phải Quắc đó, nhưng câu chuyện cũng thực thú vị!”

Mượn đường phạt Quắc là một điển cố kể về việc Tần muốn diệt nước Tây Quắc, nên mượn đường đi qua đất Ngu. Ngu Công tham phần thưởng của người Tần nên đã đồng ý cho mượn đường. Sau khi mượn đường diệt được Quắc, Tần lại tiện tay dắt dê, diệt luôn cả Ngu. Sở Vương ví Hàn Hầu với Quắc, Tề Vương lại ví nơi này với Ngu, bất kể là Quắc hay Ngu, Hàn Chiêu Hầu cũng nghe mà mất mặt. Tuy nhiên, trong lúc này, ông ta tuy giận dữ cũng không thể phát tác lộ liễu. Thứ nhất đối phương là khách, Hàn Hầu là chủ nhà; thứ hai là Tề, Sở đều là nước lớn, lúc này lại hùa về một giuộc, trong khi Hàn Hầu lại thế đơn lực mỏng.

Giận dữ mà không thể phát tác, không phát tác thì ấm ức trong lòng, Hàn Chiêu Hầu trong ngoài đều khó chịu.

Huệ Vương phát giác ra, bèn cười lớn giải nguy: “Chư vị nhân huynh, xin nghe Ngụy Anh nói một câu. Quắc hay Ngu cũng đều là chuyện cũ, táo hay quýt cũng đều là quả cây. Chư vị nhân huynh đến đây là để ngắm cảnh, sao lại để những chuyện cổ lỗ kia làm tổn thương hoà khí?”

“Ha ha ha, Ngụy huynh nói đúng lắm!” Sở Uy Vương thấy cơ hội đã đến, vừa nói vừa vỗ tay.

“Đúng thế, đúng thế!” Tề Uy Vương cũng phụ hoạ. Hai vị quân vương mấy năm về trước từng đối đầu kịch liệt vì tranh giành nước Tống, lúc này đây lại cùng đứng về một phe, mục tiêu chẳng đâu xa, mà chính là nước Hàn. Hàn Chiêu Hầu bất giác hít ngược một hơi khí lạnh.

Chỉ có Ngụy Huệ Vương là chưa nghĩ sang chuyện khác. Mấy ngày nay, lòng dạ Ngụy Huệ Vương lúc nào cũng chỉ chăm chăm nghĩ tới ba lộ quân phạt Tần của Bàng Quyên và đại nghiệp thống nhất thiên hạ của bản thân. Gặp thời cơ tốt nhường này, ông ta sao có thể bỏ qua, lập tức cười ha hả, chuyển sang chuyện chính: “Hôm nay trời cao gió mát, chư vị quân chủ đều tề tựu ở núi này, xứng đáng là gió mây hội tụ, thực hiếm có. Vì vậy, Ngụy Anh có ý này, chúng ta hãy cùng ca một khúc tỏ chí, coi như không uổng chuyến đi này. Chư vị thấy sao?”

Sở Uy Vương, Tề Uy Vương cùng phụ hoạ: “Hay lắm!”

Ngụy Huệ Vương quay sang Hàn Chiêu Hầu: “Còn Hàn huynh thì sao?”

“Được!” Hàn Chiêu Hầu dường như cũng đã bình tâm trở lại sau cơn bàng hoàng, đờ đẫn đáp lời.

Ngụy Huệ Vương lấy lùi để tiến: “Chư vị nhân huynh, xin hãy nói thử xem, tình này cảnh này, chúng ta nên hát khúc nào?”

Mọi người đều đồng thanh: “Xin nghe theo ý tung ước trưởng!”

“Nếu đã là vậy,” Ngụy Huệ Vương khẽ đặng hắng một tiếng lấy giọng, “Ngụy Anh xin bạo gan đề xuất, nay sáu nước tung thân, cùng phạt bạo Tần, chúng ta hãy cùng hát khúc ca phạt Tần, chư vị thấy thế nào?”

“Hay lắm!” Tề Uy Vương vỗ tay đen đét. “Dám hỏi Ngụy huynh, sẽ hát khúc nào?”

“Chính là khúc ca Việt Vương Câu Tiễn thống lĩnh tướng sĩ liệt quốc phạt Tần.”

“Ngụy huynh sai rồi!” Tề Uy Vương sửa lại. “Khúc ca đó không gọi là khúc ca phạt Tần, mà gọi là ‘Hà lương ca’!”

“Mặc kệ!” Ngụy Huệ Vương cười lớn mà nói. “Dù sao cũng là bài ca phạt Tần! Nào, mọi người cùng hát, dùng nhạc Quân trận, Ngụy Anh sẽ hát câu đầu!” Khẽ đặng hắng một tiếng, rồi cất giọng: “Tùng cheng, tùng cheng, tùng tùng... cheng! Vượt cầu, vượt cầu sông Hà...”

Có Ngụy Huệ Vương bắt nhịp, trên con dốc Quan Hổ đồn lập tức vang lên những tiếng ca ngâm loạc choạc chẳng hề nhịp nhàng của bốn con người uy quyền nhất liệt quốc Sơn Đông:

“Vượt cầu, vượt cầu sông Hà,

Dấy quân chinh phạt tận nhà Tần Vương.

Tháng mười đông chớm tuyết sương,

Rét căm căm nỗi dặm trường gian lao.

Quân ta chưa kịp qua cầu,

Quân Tần hàng phục, chư hầu hoang mang.

Lẫy lừng đến tận ngoại bang,

Xưng bá cùng Sở Tề Trang Mục Hoàn.

Thiên hạ trường cửu bình an,

Bi thương trở gót muốn sang không cầu.”

Lời ca vừa dứt, Sở Uy Vương thấy mọi người cao hứng, cố ý thở dài một tiếng não nề: “Than ôi, tung ước trưởng, chư vị nhân huynh. Chúng ta ở đây ca hát, tuy cũng tận hứng, nhưng vẫn không sảng khoái bằng Việt Vương năm xưa hành quân ngàn dặm, đánh thẳng tới Hà Tây!”

Tề Uy Vương đưa mắt nhìn sang Ngụy Huệ Vương: “Đúng thế, đúng thế! ‘Vượt cầu, vượt cầu sông Hà, dấy quân chinh phạt tận nhà Tần Vương’, khí thế nhường này, ngùn ngụt tận mây xanh, chấn động đến vũ trụ!”

Ngụy Huệ Vương nhiệt huyết sôi trào, quay người lại, dõi mắt nhìn hút về phía tây: “Hùng huynh, Điền huynh, và cả Hàn huynh, Ngụy Anh bất tài, may được chư vị yêu quý, nên mới tạm giữ ngôi tung ước trưởng. Đã ngồi ở vị trí này, thì phải hoàn thành trách nhiệm này. Lúc nãy Ngụy Anh muốn hát khúc ca kia, tuyệt không phải là ngẫu hứng hát bừa. Nay sáu nhà hợp tung, tề tựu tại Mạnh Tân, thề cùng chế Tần, ngay cả Câu Tiễn ngày trước cũng không thể sánh tày. Cớ sao chúng ta không nhân cơ hội này dấy binh phạt Tần, một trận đạp bằng Tần Xuyên, xoá bỏ hậu hoạn vĩnh viễn?”

“Hay lắm!” Sở Uy Vương siết chặt nắm tay. “Không giấu Ngụy huynh, lần này Hùng Thương đến đây, cũng chỉ là đợi câu nói này của tung ước trưởng! Người Tần chiếm đoạt Thương Ư của Sở, mối thù này không đội trời chung. Cho dù sáu nước không hợp tung, Hùng Thương vẫn sẽ hưng binh phạt Tần, rửa sạch mối nhục ngày trước!”

Ngụy Huệ Vương quay sang Tề Uy Vương: “Hùng huynh muốn phạt Tần, ý Điền huynh thế nào?”

Tề Uy Vương vòng tay: “Sáu nước đã hợp tung, Nhân Tề xin nghe theo lệnh tung ước trưởng!”

Ngụy Huệ Vương chậm rãi quay sang Hàn Chiêu Hầu.

Hàn Chiêu Hầu tim đập thình thịch, từ tốn đáp lời: “Sáu nước đã hợp tung, phạt Tần cũng là việc chung của sáu nước. Chỉ bốn chúng ta quyết định, e rằng không ổn!”

“Ừm, Hàn huynh nói rất đúng!” Ngụy Huệ Vương ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp. “Nghe nói lão Yên Công đã về nước, chỉ còn lại Triệu huynh. Giờ Ngụy Anh sẽ đi phát thiệp, mời Triệu huynh ba ngày nữa đến đây uống rượu, cùng chư vị quân chủ luận bàn đại sự, được chăng?”

“Xin nghe theo sắp đặt của tung ước trưởng!” Mọi người đồng thanh đáp.

Hàn Chiêu Hầu bỗng dưng bị làm nhục trên Hổ Lao quan, mặt mũi hầm hầm trở về Thành Cao, ngồi ủ ê trong chính đường của phủ quận thú, sắc mặt vì quá giận dữ mà thành ra đỏ bầm. Tướng quốc Khuông Nghĩa, thượng tướng quân Công Trọng không hiểu nguyên do, chỉ biết nơm nớp đứng hầu bên cạnh.

Thấy Chiêu Hầu hơi thở nặng nề, Khuông Nghĩa bèn hạ giọng bẩm: “Dám hỏi chúa thượng, vì chuyện gì mà không vui?”

Hàn Chiêu Hầu thình lình đập mạnh tay xuống mặt bàn: “Lão thất phu, khinh ta quá lắm!”

“Phải chăng là Ngụy Vương?”

Hàn Chiêu Hầu rít qua kẽ răng: “Hùng Thương!”

Công Trọng xoa hai tay vào nhau, vặn thành một nắm đấm: “Chúa thượng, mạt tướng đang thấy trong lòng ngứa ngáy, xin chúa thượng cứ hạ lệnh!”

Hàn Chiêu Hầu dường như không nghe thấy, lại bật ra mấy tiếng từ trong cổ họng: “Còn Điền Nhân Tề!”

Thấy là hai nước lớn, Công Trọng, Khuông Nghĩa liếc mắt nhìn nhau, sau đó lại quay sang nhìn Chiêu Hầu.

Bầu không khí như ngưng đọng. Không biết bao lâu sau, hơi thở của Hàn Chiêu Hầu mới từ từ hoà hoãn trở lại, Khuông Nghĩa đang định khởi tấu, thì Chiêu Hầu đột ngột bật lên một tràng cười sằng sặc: “Ha ha ha...”

Công Trọng, Khuông Nghĩa đều sững người.

“Hừm!” Chiêu Hầu cười dứt, cất giọng lạnh lẽo. “Hai lão thất phu, chút bản lĩnh quèn, cũng muốn mưu đoạt ta ư?”

Hai bề tôi càng thêm ngơ ngác, cứ nhìn sững vào Hàn Chiêu Hầu, rồi đồng thanh lên tiếng: “Chúa thượng...”

Chiêu Hầu thay đổi sắc mặt, kể lại toàn bộ sự việc xảy ra ở Hổ Lao quan, cuối cùng nói thêm: “Mối hoạ lớn của Tề là Sở, Ngụy, ham muốn lớn nhất của Tề là Tống, Yên, vốn không hề có liên quan gì đến Tần, nhưng lần này phạt Tần, cớ sao Điền Nhân Tề lại hào hứng đến vậy? Mối nhục Hình Sơn đâu có kém mối nhục Thương Ư, nhưng Hùng Thương cớ sao lại bỏ qua để cầu cái khác? Hai khanh nói xem, rốt cuộc hai lão cáo già kia có âm mưu gì?”

Thấy hai người vẫn ngẩn ngơ như ở trên mây, Chiêu Hầu gõ tay xuống bàn, vẻ đầy đắc ý: “Hai khanh đúng là đầu óc trì độn! Quả nhân sẽ nói trắng ra vậy, hai lão đó hào hứng phạt Tần, mục đích không phải ở Tần, mà là ở Ngụy!”

“Ý chúa thượng là,” Khuông Nghĩa đã lơ mơ hiểu ra, “Tề, Sở đều muốn mượn sức của người Tần để làm suy yếu Ngụy?”

“Hừm!” Hàn Chiêu Hâu hai mắt sáng rực. “Hai lão cáo già cứ cho rằng mình thông minh, nhưng chút khôn vặt này chỉ có thể qua được mắt tên ngốc Ngụy Anh, còn muốn lừa quả nhân, đừng hòng!”

“Chúa thượng,” Công Trọng thoáng do dự, nói nhỏ, “mạt tướng cho rằng, với sức của sáu nước, cộng với tài của Bàng Quyên, lần này phạt Tần, chắc chắn sẽ mã đáo thành công. Giả sử thủ thắng, người Ngụy ắt sẽ thu lợi lớn!”

Hàn Chiêu Hầu cao giọng: “Nếu không nằm ngoài dự đoán của quả nhân, Sở, Tề sẽ chỉ bỏ người chứ không bỏ sức. Cho dù thành công, người Ngụy cũng sẽ phải xung phong trận đầu, tổn thương nguyên khí là điều khó tránh, còn sức đâu mà tranh giành với Sở, Tề được nữa? Lần này phạt Tần, đối với Tề, Sở mà nói, thành công cũng thắng mà không thành công cũng thắng. Hừm, hai lão cáo già tính toán thật sâu xa!”

“Chúa thượng thánh minh!” Khuông Nghĩa thực lòng thán phục. “Hiện giờ, mối hoạ trước mắt của ta không phải là Sở, Tề, mà là người Tần. Tần từ khi chiếm được Hàm Cốc, nhiều lần nhòm ngó Nghi Dương của ta, ta có thể nhân cơ hội tốt này để diệt trừ hậu hoạn, rồi sẽ tiếp tục tính toán với Sở, Tề sau.”

“Ái khanh nói phải lắm!” Hàn Chiêu Hầu gật đầu. “Thượng tướng quân, khanh thấy Bàng Quyên dùng binh như thế nào?”

“Liệt quốc không ai địch nổi!”

“Ý ái khanh là, quả nhân sẽ đánh cược vào người này? Người Tề, người Sở đều không thể tin được, theo về một giuộc để lừa gạt lão ngốc Ngụy Anh. May mà tung thân đã thành, cho dù họ không góp sức, cũng không dám phá hoại sau lưng. Thượng tướng quân nghe lệnh!”

“Có mạt tướng!”

“Quả nhân điều động cho khanh thêm năm vạn tinh binh từ Nghi Dương, hợp với tám vạn đại quân, toàn lực trợ giúp Bàng Quyên lập được kỳ công này, để hai lão cáo già biết mùi lợi hại của người Hàn ta!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Hai vị Sở Vương, Tề Vương đều chủ động bày tỏ ý muốn phạt Tần, Ngụy Huệ Vương vô cùng hoan hỷ. Đùa giỡn với hợp tung như thế này, mới chính là điều Huệ Vương thực lòng mong muốn.

Vào lúc chập tối, Huệ Vương vội vã triệu mấy vị trọng thần gồm Bàng Quyên, Huệ Thi, công tử Ngang, Chu Uy đến, hai mắt sáng rực: “Chư vị ái khanh, buổi chiều hôm nay, quả nhân đã cùng với ba nhà Tề, Sở, Hàn quyết định một việc lớn, giờ mời chư vị ái khanh đến là để bàn xem nên thực hiện ra sao.”

Ai cũng hiểu việc lớn ở đây là gì, tất cả đều hưng phấn sục sôi, chỉ có Huệ Thi vẫn nhắm mắt ngồi yên như cũ, tựa như đang ngủ gật. Chu Uy liếc xéo ông ta, rồi quay sang Huệ Vương.

Huệ Vương hơi ngả người về phía sau, rồi nói thẳng thừng: “Việc lớn này, chính là phạt Tần!” Liếc nhìn mọi người một lượt, hít một hơi đầy lồng ngực, rồi thở ra thật mạnh, nhổm người về phía trước, vung quyền, cất giọng hào hùng. “Chư vị ái khanh, quả nhân đã chờ đợi ngày này suốt bao năm! Quả nhân biết, các khanh cũng đã chờ đợi nhiều năm, tất cả người Ngụy cũng đã chờ đợi nhiều năm! Chúng ta không thể tiếp tục chờ đợi thêm nữa!”

Bàng Quyên, công tử Ngang, Chu Uy, cả ba đều bị lôi cuốn theo hào tình sôi nổi của Huệ Vương.

Công tử Ngang nói lớn: “Xin phụ vương hạ chỉ, tấn công bạo Tần, nhi thần nguyện đánh trận đầu!”

Nhưng ánh mắt Huệ Vương lại quay sang Bàng Quyên: “Bàng ái khanh, phạt Tần ra sao, quả nhân trông cậy cả vào khanh!”

Bàng Quyên trầm giọng, dằn mạnh từng tiếng: “Thần đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ đợi bệ hạ xuống lệnh!”

Ngụy Huệ Vương nhịp ngón tay xuống bàn: “Lần này phạt Tần, sáu nước cùng xuất binh, ái khanh phải điều động nhiều phía, tấn công nhiều đường, đạp bằng Tần Xuyên!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Huệ Vương quay sang Chu Uy: “Chu ái khanh, sáu nước phạt Tần, binh mã tụ hội đông đảo. Có thành công hay không, còn phải xem lương thảo của khanh!”

“Bệ hạ yên tâm!” Chu Uy bẩm tấu. “Lương thảo vi thần đã chuẩn bị đầy đủ, chỉ đợi dịp sử dụng mà thôi!”

“Binh mã chưa động, lương thảo đi trước. Ái khanh hãy lập tức hành động, chuyển lương về An Ấp!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Ngụy Huệ Vương lại quay sang nhìn Huệ Thi, bật cười mà hỏi: “Huệ ái khanh, sao khanh lại ngủ gật trong lúc này? Việc lớn nhường đó, khanh cũng phải nói vài lời mới phải!”

Huệ Thi như không nghe thấy, vẫn nhắm mắt gật gù.

Chu Uy huých khuỷu tay vào ông ta, khẽ giục: “Tướng quốc, bệ hạ đang hỏi đấy!”

Hai mắt Huệ Thi vẫn không nhúc nhích, chỉ khẽ lầm bầm như tự nhủ: “Bệ hạ hỏi lầm người rồi!”

Huệ Vương kinh ngạc, chúi người về phía trước: “Huệ ái khanh, khanh... nói vậy là có ý gì?”

Huệ Thi từ từ mở mắt ra: “Việc trong thì hỏi nội tướng quốc, việc ngoài thì hỏi ngoại tướng quốc. Bệ hạ đã bái ngoại tướng quốc, vậy thì phải đi hỏi ngoại tướng quốc mới đúng!”

“Phải, ái khanh nói rất đúng!” Huệ Vương cười vang mấy tiếng, rồi quay sang Chu Uy. “Nghe nói Tô Tử còn ở Mạnh Tân, ái khanh hãy mau phái người đến triệu, nói rằng quả nhân có lời mời!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Lời của Huệ Thi ẩn ý chưa tận.

Sau khi ra khỏi hành dinh, Chu Uy vội đuổi theo Huệ Thi, hỏi nhỏ: “Tướng quốc, dường như lúc nãy lời ngài còn có ẩn ý gì khác.”

Huệ Thi liếc nhìn Chu Uy, rồi lại tiếp tục bước đi.

Chu Uy lại đuổi thêm mấy bước: “Lẽ nào bạo Tần không nên phạt hay sao?”

Huệ Thi liền dừng bước: “Những gì cần nói, ta đã nói cả rồi. Sáu nước đã tung thân, bạo Tần có nên phạt hay không, ông hãy đi hỏi tướng quốc của sáu nước, cớ sao cứ xoắn lấy ta?” Nói xong, quay người đi thẳng.

Huệ Thi tỏ thái độ như vậy, đương nhiên không phải do đố kỵ. Chu Uy càng nghĩ càng khó hiểu, trở về doanh trại liền chuẩn bị xe ngựa, quyết định tới gặp Tô Tần.

Bên bờ Y Thuỷ, Tô Tần và Túc Hầu đang ngồi lặng lẽ, ánh mắt dán vào chiếc phao đang bập bềnh trên mặt nước. Phao thi thoảng lại máy động, nhưng chẳng ai giật cần, rõ ràng tâm tư của hai người đều không ở câu cá.

Bên cạnh Túc Hầu đặt một tấm thiếp mời, do Ngụy Huệ Vương vừa gửi đến. Ánh mắt Túc Hầu từ từ nhìn sang tấm thiếp, đưa tay nhặt lên, sắc mặt giận dữ, thở dốc liền mấy hơi, rồi cười gượng một tiếng: “Tô Tử, khanh đã thấy rõ rồi phải không?”

Tô Tần sắc mặt trầm trọng, ánh mắt vẫn nhìn chăm chăm vào chiếc phao.

Túc Hầu giũ tấm thiếp mấy cái: “Lúc này mới gửi thiếp đến, mời quả nhân tới dự tiệc! Mấy ngày trước, khi kéo nhau đi Hổ Lao quan, sao ông ta chẳng nói lời nào?”

“Chúa thượng...” Tô Tần từ từ quay sang nhìn Túc Hầu.

“Tô Tử, khanh không cần khuyên nữa, ngày mai quả nhân sẽ lập tức lên đường trở về Hàm Đan! Mấy người họ thích uống rượu thì cứ để họ uống! Mấy người họ thích đi chơi ngắm cảnh thì cứ mặc họ đi! Tung thân cái gì? Trong mắt mấy người họ vốn dĩ chẳng hề có quả nhân!”

“Than ôi!” Tô Tần thở dài sườn sượt.

“Cớ sao khanh lại thở dài?”

“Nếu không nằm ngoài dự liệu của vi thần, Ngụy Vương mời chúa thượng dự tiệc, mục đích không phải là để uống rượu, mà là để phạt Tần!”

“Ồ?” Túc Hầu kinh ngạc.

“Mấy ngày nay, ba nhà Sở, Tề, Ngụy đều đã phát đại binh, cung giương kiếm tuốt, rõ ràng không đơn thuần là đến họp mặt ăn thề. Tông chỉ của hợp tung là chế Tần, hiển nhiên là đổ thêm dầu vào lửa, giúp họ có được lý do phạt Tần.”

“Ý ái khanh là... không nên phạt Tần?”

“Không phải không nên phạt, mà là thời cơ chưa đến!”

“Ái khanh hãy nói rõ!”

“Người Tần bốn mặt có bốn ải hiểm yếu, trên dưới đồng tâm, vững như thành đồng. Sáu nước mặc dù hợp tung, những mỗi nhà lại có ý đồ riêng, vẫn chưa thể hình thành hợp lực. Lấy đội quân ô hợp để đối phó với tường đồng kiên cố, vi thần thấy khó lòng thủ thắng.”

Nghe nói vậy, Túc Hầu không cho là đúng, khẽ hừ mũi một tiếng: “Theo như ái khanh nói, ta sẽ không thể thắng được Tần ư?”

“Chúa thượng!” Tô Tần hạ giọng đáp. “Khi còn ở trong Quỷ Cốc, vi thần thường được nghe Tôn Tẫn bàn luận về binh pháp. Tôn Tẫn nói, ‘Binh pháp Tôn Tử’ có câu: ‘Không đánh mà khuất phục được người, mới là người tài giỏi nhất trong số những người tài giỏi. Nên dùng binh giỏi nhất là dùng mưu, sau đó là dùng bang giao, sau đó mới đến đánh trận, sau nữa là đánh thành.’ Sáu nước vừa mới hợp tung đã muốn dẫn quân đi đánh thành, không dùng thượng sách mà dùng hạ sách, đó là không trí. ‘Binh pháp Tôn Tử’ lại viết, ‘biết người biết ta, trăm trận trăm thắng’. Sáu nước mới hợp, đã chưa biết ta cũng chẳng biết người, đúng là làm xằng. Theo vi thần thấy, nếu như sáu nước phạt Tần, không chiến thì thôi, hễ chiến thì biết ngay thắng bại.”

Túc Hầu hít ngược một hơi khí lạnh, nhổm người về phía trước hỏi: “Theo ý của Tô Tử, nên làm thế nào?”

“Ngăn chặn phạt Tần, đợi thời cơ đến!”

“Ngăn chặn thế nào?”

“Chúa thượng hãy đến dự tiệc, tuỳ cơ mà hành sự, nói rõ lợi hại với chư vị quân chủ. Với uy vọng và tài đức của chúa thượng, may ra có thể ngăn chặn được.”

Túc Hầu trầm ngâm hồi lâu, lắc đầu cười khổ mà nói: “Theo như lời ái khanh, lần này mấy người họ đến Hổ Lao quan, chắc chắn là để bàn chuyện phạt Tần. Ngay từ đầu họ đã gạt quả nhân sang một bên, quả nhân nào có uy đức gì đâu? Người đã không thèm đếm xỉa đến ta, ta lại chen ngang cấm cản, quả nhân có đức có tài gì đây?”

Lời của Túc Hầu, không thể bắt bẻ.

Tô Tần cúi đầu, ánh mắt từ từ quay trở lại với cái phao.

Đúng vào lúc này, Lâu Hoãn đi tới bẩm báo: “Chúa thượng, thượng khanh nước Ngụy Chu Uy cầu kiến!”

“Ồ?” Túc Hầu kinh ngạc. “Ông ta gặp quả nhân có việc gì?”

Lâu Hoãn thoáng ngần ngừ: “Khởi bẩm chúa thượng, Chu thượng khanh nói... có việc hệ trọng cần gặp Tô Tử!”

Túc Hầu sầm mặt, từ từ đứng dậy, nói với Tô Tần: “Người này hẳn là đến để mời khanh. Khanh hãy nói với Ngụy Anh, rằng quả nhân thân tâm không ổn, không thể bồi tiếp, ông ta hãy cứ tự tiện!” Rồi quay sang nói với Lâu Hoãn. “Truyền chỉ cho Phì Nghĩa tướng quân, ngày mai khởi giá, trở về Hàm Đan!”

Trên đường đến Hổ Lao quan, Chu Uy, Tô Tần cùng ngồi một xe. Chu Uy kể sơ lược về việc bốn vị vương Sở, Tề, Ngụy, Hàn cùng hoà giọng ca ngâm tại Hổ Lao quan, sau đó quyết định phạt Tần.

Rõ ràng đây là việc nằm trong dự liệu, vì vậy Tô Tần không hề tỏ ra kinh ngạc, chỉ bình thản hỏi: “Bốn vị quân chủ hát khúc ca gì?”

“Hà lương ca.”

“Hà lương ca?” Tô Tần nhắc lại, khẽ chau mày.

“Có gì không ổn ư?” Chu Uy nhìn thẳng vào Tô Tần.

“Nếu như là bài này, không thể phạt Tần!” Giọng Tô Tần kiên định như sơn.

“Ồ!” Chu Uy kinh ngạc, buột miệng bật ra một tiếng. “Mặc dù khúc ca viết về phạt Tần, nhưng chinh phạt lại chưa thành. Các vị quân chủ chưa xuất quân đã hát khúc ca này, thực không cát lợi!”

“Chinh phạt chưa thành?” Chu Uy gãi đầu gãi tai. “Sao lại chưa thành? Chẳng phải có câu ‘Quân ta chưa kịp qua cầu, quân Tần hàng phục, chư hầu hoang mang’ ư? Quân Tần hàng phục, chứng tỏ phạt Tần đã thành công!”

“Chu huynh có điều không biết,” Tô Tần thoáng ngẫm nghĩ, rồi giải thích, “đây là khúc ca do người Việt làm ra. Năm xưa người Việt phá Ngô, khí thế cực thịnh, Việt Vương bèn bắc phạt Trung Nguyên, đánh bại cả Tề lẫn Tấn, muốn xưng bá thiên hạ, nhưng lại lo liệt quốc không phục, nên đã lấy danh nghĩa tôn Chu, hiệu lệnh bốn nước Tề, Tấn, Sở, Tần cùng phò tá Chu thất. Tần Lệ Công không theo, Việt Vương tức giận, đã hiệu lệnh thiên hạ phạt Tần. Ba nước Tề, Tấn, Sở không dám không hưng binh, nhưng chỉ bàng quan đứng nhìn. Việt Vương hết cách, đành phải khởi đầu dẫn binh tây tiến, xua quân Ngô, Việt vượt qua Hà Thuỷ tiến đánh Tần. Người Tần khiếp sợ, đã viết biểu xin hàng. Quân Việt bèn lui về, làm khúc ca này để ghi nhớ.”

“Đây là không chiến mà thắng!” Chu Uy vẫn cảm thấy khó hiểu.

“Đúng là người Việt không chiến mà thắng!” Tô Tần tiếp tục giải thích. “Tuy nhiên, nhìn lại chiến sự năm xưa, quân Việt phải hành quân đường xa gian khổ, không quen thuỷ thổ, lương thảo gián đoạn, lại thêm gặp đúng mùa đông giá rét, quân sĩ đau ốm chết nhiều vô kể, sĩ khí giảm sút. May sao quân Tần lâm trận không đánh, nên người Việt mới có thể an toàn trở về. Nếu người Tần nghênh chiến, quân Việt chắc chắn sẽ bại!”

“Tại sao người Tần không đánh?”

“Một là khiếp sợ trước uy thế của Câu Tiễn, hai là giao chiến với người Việt sẽ chẳng thu được lợi gì. Đánh người Việt, một là không được đất, hai là không được tiền, ba là không được người, chẳng qua chỉ được hư danh. Cho dù có thắng, người Tần cũng chẳng được mấy lợi lộc. Hơn nữa, người Việt không sợ chết, là cánh quân liều mạng, cho dù người Tần có đánh thắng, hy sinh hẳn cũng rất lớn.”

“Nếu đã như vậy, cớ sao người Tần không xin hàng sớm hơn?”

“Người Tần không tin người Việt sẽ vượt đường dài đến đánh, nên mới cậy mạnh huênh hoang, kết quả đã khiến Câu Tiễn nổi giận. Thấy người Việt đánh tới thật, người Tần thấy đánh thì thiệt thòi, mà không đánh thì ngượng. Cuối cùng người Tần quyết định đầu hàng, tức là lựa chọn thoả hiệp, nhưng cũng không thiếu phần sáng suốt. Sau khi vượt qua Hà Thuỷ, người Việt thuỷ thổ không hợp, không còn sức chiến đấu, thấy người Tần hàng phục, nên cũng lập tức bắt tay làm hoà. Bởi vậy, nhìn một cách tổng quát, bề ngoài là người Tần hàng phục, nhưng thực chất lại là người Việt thất bại!”

“Tại sao người Việt lại bại?”

“Lương thảo phí tổn, người ngựa tiêu hao, lao lực một trận mà chẳng thu được gì, dù không bại cũng là thất bại!”

“Ý Tô Tử là, lần này phạt Tần, có thể sẽ sa vào vết xe đổ năm xưa?”

Tô Tần cười gượng một tiếng: “Câu cuối cùng của khúc ca này là thế nào? ‘Bi thương trở gót muốn sang không cầu!’”

“Ờ...” Chu Uy đắn đo hồi lâu. “Tô Tử dường như đã lo xa thái quá! Nay đã khác xưa, ngày trước Việt Vương vượt đường dài chinh chiến, dùng thế bức bách, liệt quốc có giận mà không dám nói, đương nhiên sẽ chỉ khoanh tay đứng nhìn. Nay sáu nước đã hợp tung, cùng chung kẻ thù, tạm chưa nói đến Tề, Yên, cả ba nhà Hàn, Triệu, Sở đều coi Tần là kẻ thù, thiết nghĩ chắc hẳn họ sẽ không vượt sông rồi mà không đánh!”

“Cũng có lẽ! Tuy nhiên, tại hạ cho rằng, Tần Công ngày nay đã không giống Tần Công năm xưa, và Sở, Tề, Hàn cũng không giống Sở, Tề, Hàn ngày trước. Nếu như không nằm ngoài dự liệu của tại hạ, bệ hạ muốn làm Câu Tiễn, hậu quả thực khó lòng thu xếp. Chu huynh nếu không tin, cứ chờ xem sẽ biết!”

Tô Tần đã từng làm ra những việc kinh thiên động địa, mà nay lại nhìn nhận sáu nước phạt Tần vậy, lại nhớ tới thái độ khó hiểu của Huệ Thi khi nãy, Chu Uy bấy giờ cũng đã ý thức được sự tình nghiêm trọng: “Tô Tử, bây giờ phải làm thế nào?”

“Ngăn chặn phạt Tần, chờ đợi thời cơ!”

“Ngăn chặn thế nào?”

“Chu huynh hãy đi hẹn Huệ tướng quốc, còn tại hạ sẽ cầu kiến Bàng Quyên. Bệ hạ may ra sẽ nghe lời hai người này. Nếu như họ có thể nhìn xa trông rộng, việc này hoặc giả có thể ngăn chặn được!”

“Tại hạ xin nghe theo lời Tô Tử!”

Do Yên Công quay về sớm, Triệu Túc Hầu chưa đến, nên khi Huệ Vương mở tiệc đãi khách, vốn dự tính là yến tiệc năm quân chủ, thì chỉ còn bốn quân chủ Tề, Sở, Ngụy, Hàn. Trước đó một ngày, Hàn Chiêu Hầu vốn không cam chịu dưới người một bậc, còn chưa kịp trở về nước, lập tức tại hành cung Thành Cao bố cáo thiên hạ, quay mặt về nam xưng tôn, chính thức làm vương ngang hàng với Sở, Tề, Ngụy, vì vậy buổi yến tiệc này hẳn nên gọi là thịnh hội bốn nước tương vương.

Bốn vị vương ngồi trong hành dinh nước Ngụy, bàn định kế sách phạt Tần, cùng tiến cử Bàng Quyên là chủ tướng phạt Tần. Ngày hôm sau, Sở Uy Vương, Tề Uy Vương cùng khởi giá hồi đô, Hàn Chiêu Hầu ở lại Thành Cao ba ngày rối cũng lên đường trở về Trịnh Thành.

Khi Tô Tần và Chu Uy đến Hổ Lao quan, yến tiệc kết thúc từ lâu. Huệ Vương đã rời khỏi Hổ Lao quan, đến phía bắc Hà Thuỷ thị sát ba quân Đại Ngụy ở Hình Khưu, Bàng Quyên cũng đi theo. Huệ Thi nói thác rằng mình không am hiểu quân tình, xin trở về Đại Lương trước.

Thị sát ba quân xong, Huệ Vương cùng Bàng Quyên trở về đại trướng. Bàng Quyên chỉ vào một tấm sa bàn tinh xảo, giải thích tỉ mỉ với Huệ Vương về phương sách phạt Tần, Huệ Vương nghe mà hởi lòng hởi dạ.

“Bệ hạ, hiện nhi thần đã chuẩn bị xong xuôi, chỉ còn duy nhất một trở ngại.”

Huệ Vương vội hỏi: “Là trở ngại gì?”

“Tô Tần!”

“Ồ, sáu nước phạt Tần, Tô Tử phải vui mới đúng, cớ sao lại coi là trở ngại?”

“Bệ hạ! Nhi thần hiểu rất rõ Tô Tần. Người này nói miệng thì được, nhưng chinh phạt lại không phải sở trường. Đó là còn chưa kể người này vốn lòng dạ mềm yếu như đàn bà, không nỡ nhìn thấy cảnh giết chóc. Bệ hạ có để ý thấy không, trong buổi hội thề, các màn ca vũ của liệt quốc, chỉ rặt là cảnh trai cày gái dệt, cha hiền con hiếu, đúng là thiên hạ ca múa thái bình, không thấy một chút binh đao. Toàn bộ các màn ca vũ đều do một tay người này lựa chọn, từ đó có thể thấy được lòng dạ của người này. Lại nhìn vào yếu lĩnh của hợp tung, là chế Tần chứ không phải phạt Tần. Từ đó có thể thấy, lần này phạt Tần sẽ đi ngược với ý nguyện của người này, người này nhất định sẽ ra sức ngăn cản!”

“Một thư sinh trói gà không chặt, có thể khuấy động được bao nhiêu bọt sóng?”

“Bệ hạ, người này là tướng quốc sáu nước, danh tiếng lẫy lừng. Triệu, Yên lại là những nước khởi xướng tung thân, nên nhất nhất nghe theo người này. Nếu như người này ngăn cản, Yên, Triệu chắc chắn sẽ không tham gia. Sáu nước nội bộ bất hoà, đại quân tung thân chưa chiến đã tan, e rằng bất lợi!”

“Ừm, nếu là vậy, cũng thật phiền phức. Theo ý hiền tế, ta nên giải quyết thế nào?”

“Nhi thần có một kế, may ra có thể giải quyết được!”

“Hiền tế mau nói!”

Bàng Quyên hạ thấp giọng thì thào một chặp, Ngụy Huệ Vương hớn hở cười vang: “Ha ha ha, nếu việc này là thực, đúng là trời đã giúp ta!”

Khi Tô Tần yết kiến, Huệ Vương mới từ doanh trại trở về, còn chưa kịp cởi áo bào, tâm trạng vô cùng phấn chấn.

“Tô Tử miễn lễ!” Huệ Vương chỉ vào chỗ đối diện. “Ngồi đi! Quả nhân đã đợi khanh suốt hai ngày rồi!”

Tô Tần ngồi xuống, vòng tay nói: “Vi thần đang ở Mạnh Tân xử lý những việc còn lại, nhận được khẩu dụ của bệ hạ nên lập tức lên đường, nhưng vẫn chậm trễ. Nghĩ rằng bệ hạ triệu kiến, hẳn có việc gấp, vi thần chưa kịp tắm rửa thay đổi trang phục đã lập tức đến yết kiến, có gì đường đột, xin bệ hạ lượng thứ!”

“Tô Tử bất tất phải khách khí!” Huệ Vương lập tức đổi giọng, nửa đùa nửa thật. “Còn Triệu Hầu đâu? Quả nhân nhầm rồi, giờ phải gọi ông ta là Triệu Vương mới phải! Triệu Vương đâu rồi, tại sao không thấy đến? Sáu nước hợp tung, thiên hạ nức lòng, quả nhân mở tiệc chiêu đãi, có ý mời ông ta uống vài chén, đã cho ngựa hoả tốc đến mời, thế mà đợi đến dài cổ, đầu bếp đã hâm rượu đến mấy lần, Sở Vương, Tề Vương, Hàn Vương đói đến bụng sôi sùng sục, ngồi đợi suốt hai canh giờ mà vẫn không thấy bóng dáng ông ta đâu!”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Tô Tần nghe ra ẩn ý, liền bào chữa giúp Triệu Túc Hầu, “Triệu Hầu long thể bất an, lần này hợp tung, là đã gắng gượng đến dự. Yên Công vừa mới rời đi, Triệu Hầu cũng lập tức cáo từ. Vi thần lo lắng cho long thể của Triệu Hầu nên đã nghĩ cách giữ lại hai ngày, cùng Triệu Hầu nghỉ ngơi bên bờ Y Thuỷ. Khi nhận được thiếp mời của bệ hạ, Triệu Hầu đã nhổ trại, nên sai người nhờ vi thần chuyển lời cáo lỗi với bệ hạ!”

“Ông ta cáo lỗi gì?” Huệ Vương không cười nữa, đổi giọng châm biếm. “E rằng là quả nhân danh tiếng thấp, đức vọng mỏng, không đủ tư cách mời được người ta. Người ta là nước phát động hợp tung, bây giờ lại đã xưng vương, cao kỳ lắm rồi!”

“Bệ hạ!” Thấy Ngụy Vương vô duyên vô cớ nổi giận, Tô Tần cũng kinh ngạc trong lòng.

“Được rồi, không nói chuyện này nữa!” Huệ Vương xua tay. “Cho dù người đã đi, nhưng hẳn cũng phải nhắn lại lời gì chứ?”

“Nhắn lời?” Tô Tần lại ngẩn người.

Huệ Vương lập tức nói thẳng toẹt nguyên do: “Tô Tử, khanh hãy nói xem, mặc dù hợp tung là do khanh khởi xướng, nhưng lại là do Triệu Ngữ phát động. Nay thiên hạ đã hợp tung thành công, người này lại khua chiêng lui quân, bảo quả nhân phải nhìn ông ta thế nào đây? Cho dù quả nhân không để bụng, thì mọi người trong thiên hạ sẽ nhìn ông ta thế nào đây?”

Tô Tần hít vào một hơi dài, đôi mày chau tít: “Bệ hạ nói vậy có nghĩa là gì? Vi thần ngu muội, xin bệ hạ giải thích rõ hơn!”

“Tô Tử, khanh nhất định muốn ép quả nhân nói trắng ra ư?” Huệ Vương lắc lắc đầu, ngả người về phía sau. “Quả nhân nghe nói, chủ tướng quân Triệu là Phì Nghĩa và ba vạn đại quân hợp tung đã rời đi cả rồi. Nếu người này long thể bất an, có thể trở về, nhưng còn ba vạn binh mã của ông ta lẽ nào cũng bị bệnh cả lượt? Nếu đã hợp tung, quân hợp tung chỉ cần ra khỏi đất nước sẽ được quy vào tung ước. Hiện giờ quả nhân là tung ước trưởng, đại quân của ông ta khi nào rời đi, rời đi như thế nào, cũng nên nói với quả nhân một tiếng mới phải? Hơn nữa, quân hợp tung của liệt quốc đều chưa rời đi, tại sao nước Triệu của ông ta chưa chiến đã tan?”

“Bệ hạ hiểu lầm rồi!” Tô Tần thấy Ngụy Vương thái độ ngang ngược, cưỡng từ đoạt lý, thì cười nhăn nhó. “Bây giờ vi thần sẽ nói rõ nguyên nhân!”

“Nói đi!”

“Trước buổi hội thề, ba quân nước Triệu nhận được chiếu lệnh của bệ hạ, đóng quân ở Thượng Đảng thuộc địa phận nước Triệu, chỉ có ba nghìn quân hộ vệ được đi theo Triệu Hầu tham dự hội thề. Nay hội thề đã kết thúc, một là Triệu Hầu quý thể bất an, hai là vì thái tử còn nhỏ, Triệu Hầu không yên tâm, vội vàng trở về nước cũng là chuyện thường tình. Cùng theo Triệu Hầu trở về cũng chỉ có ba nghìn binh sĩ, đại quân hợp tung vẫn chưa rời đi, hiện còn đóng trại ở Thượng Đảng. Hơn nữa, không chỉ có một mình nước Triệu làm như vậy. Đại quân nước Hàn đóng ở Nghi Dương, đại quân nước Sở đóng ở Phương Thành, đại quân nước Tề đóng ở Vệ, tất cả đều chưa tham gia hội thề. Chỉ có đại quân hợp tung nước Yên là đã vào biên giới Ngụy, đóng ở Thiếu Thuỷ, đây cũng là phụng theo chỉ ý của bệ hạ.”

“Ờ...” Huệ Vương nghe mà á khẩu, chớp mắt liền mấy cái mới nghĩ ra lời đối đáp. “Nếu đã như vậy, thì Triệu Hầu cũng nên nhắn lại một vài lời, chỉ rõ ai là người nhận lệnh mới phải. Hiện giờ đã sắp chinh phạt, nếu quả nhân muốn điều động đại quân của ông ta, thì phải truyền lệnh cho người nào đây?”

“Đã sắp chinh phạt?” Tô Tần vờ như không biết, sắc mặt ngỡ ngàng.

“Là thế này!” Ngụy Huệ Vương nhịp tay xuống bàn, nói thẳng vào chuyện. “Hôm trước quả nhân mở tiệc ở Hổ Lao quan, mời ba vương Sở, Tề, Hàn đến dự. Chúng ta uống rượu sảng khoái, đã cùng ước định nhân cơ hội tốt đẹp này, cùng chinh phạt bạo Tần. Quả nhân cấp tốc triệu khanh đến đây, cũng chính là để bàn bạc việc này. Từ thời Công Tôn Ưởng, người Tần nhiều lần bội ước, liên tục làm điều bất nghĩa. Đầu tiên là lừa mất Hà Tây của quả nhân, tiếp đó là đoạt lấy vùng sơn cốc Thương Ư nước Sở, lại xuất binh đánh Tấn Dương của Triệu, phạt Nghi Dương của Hàn, khiến cho bách tính trong thiên hạ không được yên ổn, chư vị quân chủ ăn ngủ không yên. Nay đã hợp tung, cần phải hợp sức lại để dạy cho tiểu tử kia một bài học, cho hắn biết được chút ít lễ nghĩa Trung Nguyên!”

“Bệ hạ dự định lúc nào phạt Tần?”

“Chẳng bao lâu nữa!” Huệ Vương trầm giọng đáp. “Không giấu Tô Tử, quả nhân đã điều động ba quân, hợp sức với liệt quốc, trù tính phát hơn bốn mươi vạn đại quân, trong vòng ba tháng sẽ đạp bằng Tần Xuyên!”

“Bệ hạ!” Tô Tần vòng tay nói. “Vi thần cho rằng, mặc dù bạo Tần đáng phạt, nhưng hiện giờ chưa phải thời cơ!”

“Ồ?” Huệ Vương nhìn thẳng vào Tô Tần. “Theo ý của khanh, lúc nào mới là thời cơ?”

“Bệ hạ!” Tô Tần cất lời can gián. “Vi thần nghe nói, đi xa trăm dặm, giã gạo thâu đêm; đi xa nghìn dặm, ba tháng dồn lương. Hiện giờ nước Tần bốn mặt quan ải kín kẽ, phía đông có Hà Thuỷ ngăn cách, có Hàm Cốc, Vũ Quan hiểm trở. Nếu vội vã chinh phạt, vi thần cho rằng không thoả đáng!”

Ngụy Huệ Vương cười lớn, chỉ tay vào Tô Tần: “Khanh đây, đúng là chỉ giỏi đánh võ miệng, còn luận về hành quân bố trận, giao chiến chinh phạt, lại chẳng hiểu gì. Bàng ái khanh nói rất đúng, ngày trước Ngô Khởi từng cùng tiên quân ngao du trên Hà Thuỷ, tiên quân cảm thán rằng, ‘tuyệt diệu thay, núi sông vững chãi.’ Ngô Khởi bèn đáp lại rằng, ‘núi sông vững chãi, tại đức không tại hiểm.’ Mấy hôm trước đến thăm Hổ Lao quan, quả nhân và chư vương bỗng nhớ đến lời của Sử Bá, ai nấy đều nhìn cửa quan mà cảm thán. Sử Bá nói: ‘Quắc Thúc ỷ thế, Cối Trọng cậy hiểm’, kết quả thì sao? Quắc, Ngu cũng vậy, Trịnh cũng vậy, một kẻ ỷ thế, một kẻ cậy hiểm, có kẻ nào giành được Hổ Quan? Tần dùng bạo lực trị dân, lừa dối khắp nơi, từ lâu đã xa đức lìa đạo, khiến thần người đều giận dữ, vài nơi hiểm trở đâu có thể giúp được họ?”

“Bệ hạ...”

Huệ Vương xua tay cắt lời: “Việc này bất tất phải nói thêm nữa! Chư vương tung ước đã quyết định rồi, không phải một mình quả nhân có thể định đoạt. Còn về việc điều động liệt quốc ra sao, Tô Tử hãy lấy danh nghĩa tướng quốc sáu nước hợp tung để tập hợp phó sứ các nước, trù hoạch kế sách khả thi, sau đó bẩm tấu lại cho quả nhân biết!”

“Vi thần...”

Huệ Vương lại xua tay: “Những chuyện còn lại, hôm khác sẽ bàn tiếp!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Mau cởi áo giáp cho quả nhân. Than ôi, đúng là già rồi, mới mặc có mấy canh giờ mà đã không chịu nổi!”

Ra khỏi hành dinh của Ngụy Huệ Vương, Tô Tần đờ đẫn như người mất hồn. Rõ ràng Huệ Vương đã bị che mắt bịt tai, tâm tư nôn nóng, không để lọt tai lời can gián, càng không nhìn thấy hậu quả đáng sợ của việc phạt Tần. Huệ Thi đã bỏ đi, hiện giờ chỉ có một người duy nhất có thể giúp Huệ Vương tỉnh táo trở lại, đó là Bàng Quyên. Nhưng chí bình sinh của Bàng Quyên lại ở chiến trường, trận đánh này chắc chắn hắn đã khao khát từ lâu, bảo hắn đi khuyên Huệ Vương, chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa.

Nhưng ngoài cách này ra, Tô Tần thực sự cũng chẳng còn cách nào khác. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng Tô Tần đành phải đánh liều tới cầu kiến Bàng Quyên.

Tới đại doanh quân Ngụy, Bàng Quyên bèn ra đón.

Vừa thấy Tô Tần, Bàng Quyên đã mở to hai mắt: “Ồ, Tô huynh, huynh chưa trở về ư?”

“Trở về?” Tô Tần ngẩn người. “Trở về đâu?”

“Về nhà!”

“Về nhà?” Tô Tần cười buồn. “Lúc này, thời gian đâu mà nghĩ đến nhà nữa!”

“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài, dắt tay Tô Tần, cùng bước vào trong trướng.

Hai người cùng ngồi xuống, Bàng Quyên vẫn nhìn Tô Tần chằm chằm, thái độ rất đỗi khác lạ, một lúc sau, thì chậm rãi lắc đầu. Tô Tần thấy hắn có vẻ kỳ quặc, liền phì cười hỏi: “Bàng huynh làm sao vậy, chưa nhìn thấy tại hạ bao giờ ư?”

Bàng Quyên vẻ như bừng tỉnh, cười gượng một tiếng, lại lắc đầu.

“Bàng huynh?” Tô Tần ngơ ngác không hiểu hắn có ý gì.

“Người ta đều nói Bàng mỗ là hán tử cương cường, nhưng nay gặp Tô huynh, Bàng mỗ so sánh mà cảm thấy hổ thẹn!” Bàng Quyên bắt đầu úp mở.

“Bàng huynh, cớ sao lại nói vậy?”

“Tại hạ tuy mang chí lớn trong lòng, nhưng lại không dứt bỏ được gia quyến. Năm xưa gia phụ bị gian tặc Trần Chẩn hãm hại, tại hạ vì muốn cứu gia phụ, mấy lần không màng sống chết. Về sau, gia phụ chết thảm trong tay gian tặc, tại hạ đã thề không đội trời chung với hắn. Mặc dù tại hạ chưa tận tay giết được Trần Chẩn, nhưng cũng đã khiến hắn sợ mất mật, chạy trốn khắp nơi, không dám đặt nửa bàn chân vào địa phận nước Ngụy. Còn về hai con ưng khuyển đã đích thân sát hại gia phụ, chính là Thích Quang và Đinh Tam, không một tên nào trốn thoát, đều đã phải đổ máu để tế gia phụ!”

Tô Tần vẫn không hiểu ý: “Bàng huynh có gì xin cứ nói thẳng!”

“Tô huynh có phải người thôn Hiên Lý, Đông Chu?” Bàng Quyên hỏi thẳng.

Tô Tần gật đầu.

“Vậy bá phụ, cũng chính là lệnh tôn, phải chăng đã nằm liệt giường mấy năm rồi?”

Tô Tần gật đầu.

“Hiên Lý cách Mạnh Tân chưa đầy trăm dặm, ngựa phi nhanh chỉ nửa ngày là tới. Trong mấy ngày nay, Tô huynh có bớt chút thời gian về thăm bá phụ chưa?”

Tô Tần lắc đầu.

“Tình hình bá phụ gần đây ra sao, Tô huynh biết chăng?”

Tô Tần lắc đầu.

“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng. “Khi còn trong Quỷ Cốc, tại hạ có nghe Trương huynh kể lại chuyện nhà của Tô huynh, cảm thấy vô cùng cảm thán. Hội thề lần này, tại hạ nghĩ rằng ở ngay trước cửa nhà của Tô huynh, vốn định đích thân đến thăm bá phụ, ngặt vì việc quân bận bịu, đành phải sai thuộc hạ đến thăm. Nửa canh giờ trước, thuộc hạ trở về, nói rằng...”

Tô Tần bỗng thấy tim mình thắt lại, sắc mặt tái mét, hít vào một hơi thật dài rồi mới từ từ thở ra, hai mắt nhìn trừng trừng vào Bàng Quyên: “Gia phụ thế nào rồi?”

“Bá phụ... bá phụ...”

Tô Tần con tim treo ngược, hai mắt trợn trừng nhìn Bàng Quyên không chớp.

“Không ăn không uống, đã hôn mê suốt mấy ngày trời. Nghe nói mấy hôm nay, trong nhà đã chuẩn bị lo hậu sự. Tại hạ nhận được tin dữ, đang cuống lên định báo với Tô huynh, thì Tô huynh đã đến đây.”

Tô Tần nhắm nghiền hai mắt, hàm răng nghiến chặt, gắng gượng không để nước mắt trào ra. Hồi lâu sau, mới chậm chạp mở mắt, ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên, vòng tay nói: “Hậu nghĩa thịnh tình của Bàng huynh, Tô Tần... xin ghi nhớ!”

“Tô huynh!” Bàng Quyên vòng tay đáp lễ. “Nói những lời này để làm gì? Việc không thể chậm trễ, giờ tại hạ sẽ cho người đi mời quân y, cùng đi với Tô huynh một chuyến. Một là để thăm bá phụ, hai là Tô huynh coi như đã được áo gấm về quê, nhân cơ hội này hãy lập tông miếu, làm rạng danh tông tổ!”

Tô Tần cười buồn một tiếng, rồi lắc đầu.

“Tô huynh không trở về?” Bàng Quyên vô cùng kinh ngạc. “Giờ tại hạ sẽ bỏ hết mọi việc, lập tức cùng đi với Tô huynh!”

“Bàng huynh, tại hạ hỏi huynh, việc nhà lớn hơn hay việc nước lớn hơn?” Tô Tần nhìn thẳng vào Bàng Quyên.

“Việc nước lớn hơn!”

“Việc nước lớn hơn, hay việc thiên hạ lớn hơn?”

“Việc thiên hạ lớn hơn!”

“Thiên hạ ngày nay, việc gì được coi là lớn?”

“Liệt quốc hợp tung!”

“Hỡi ôi!” Tô Tần thở dài buồn bã. “Liệt quốc vừa mới hợp tung, mà đã thấy có nguy cơ đổ vỡ trong sớm tối, Bàng huynh bảo tại hạ còn đầu óc đâu mà nghĩ tới gia phụ đây?”

“Đổ vỡ trong sớm tối?” Bàng Quyên giật mình. “Tại sao huynh lại nói vậy?”

“Tại hạ phụng chiếu yết kiến bệ hạ, bệ hạ liền hạ chỉ cho tại hạ điều động liệt quốc, cùng chinh phạt bạo Tần!”

“Phạt Tần?” Bàng Quyên vờ kinh ngạc, kêu lên. “Việc lớn nhường này, cớ sao tại hạ lại không được biết?”

Rõ ràng Bàng Quyên đang cố vờ vịt diễn trò.

Tô Tần trong lòng nguội ngắt, do dự một lát mới nói tiếp: “Tại hạ ra sức khuyên ngăn, nhưng bệ hạ không nghe, nói rằng đã cùng với ba vương Sở, Tề, Hàn quyết định, không thể thay đổi. Tại hạ càng nghĩ càng thấy tình thế khẩn cấp, nhưng chẳng còn cách nào khác nên mới đến nhờ Bàng huynh giúp đỡ. Bàng huynh, hiện người có thể khuyên giải bệ hạ, có thể cứu được hợp tung, chỉ có duy nhất Bàng huynh mà thôi!”

“Xin hỏi Tô huynh, cớ sao lại không thể phạt Tần?”

“Không phải không thể phạt Tần, mà là hiện tại chưa phải thời cơ!”

“Xin Tô huynh nói rõ hơn!”

“Khi ở trong Quỷ Cốc, tiên sinh từng nói, muốn thành đại sự, cần phải có đủ ba yếu tố thiên, địa, nhân hài hoà. Tung thân mới thành, khí của sáu nước mới bắt đầu tương thông, còn khí của Tần đã ngưng tụ thành một khối, ta chưa chiếm được thiên thời. Nước Tần bốn mặt kiên cố, là nơi dễ thủ khó công, ta chưa chiếm được địa lợi. Mặc dù sáu nước hợp tung, nhưng nội tranh vẫn chưa trừ bỏ, mỗi bên đều giữ thiên kiến, quân lực không đều, tướng soái nghi kỵ lẫn nhau, khó lòng điều phối, quân mã rối loạn, chẳng khác gì đội quân ô hợp. Dùng đội quân ô hợp để đánh lại kẻ địch dựa vào nơi hiểm trở để tử thủ, nếu cứ nôn nóng hấp tấp, thì phần thắng ở đâu?”

Thực ra, điều mà Tô Tần vừa nói mới chỉ là bề ngoài, còn nguyên nhân nội tại khiến ba vị Sở Vương, Hàn Vương, Tề Vương cực lực kích động Ngụy Vương phạt Tần, Tô Tần mới chỉ lờ mờ dự cảm, nhưng không dám nói ra, đặc biệt là đối với Bàng Quyên. Hợp tung mới thành, nếu như lúc này lại nói thẳng ra những suy đoán ấy, chẳng khác nào lại gây thêm nghi kỵ giữa liệt quốc, rất có thể sẽ khiến các nước hợp tung bất hoà, mà bao nhiêu công lao trước đó vỡ như bong bóng.

Đương nhiên, những lý do này không thể thuyết phục được Bàng Quyên. Nhưng Bàng Quyên cũng không nói toạc ra, mà chỉ nói: “Tô huynh nhìn xa trông rộng, tại hạ khâm phục! Về việc phạt Tần, tại hạ thực sự không hề hay biết. Tuy nhiên, giả sử đó là sự thực, giả sử bệ hạ đã quyết định cùng liệt quốc, thì sự tình quả là rất đỗi nan giải. Tại hạ chỉ là bề tôi của nước Ngụy, cho dù có thuyết phục được bệ hạ, nhưng cũng không thể thuyết phục được liệt quốc!”

“Bàng huynh chỉ cần thuyết phục bệ hạ là được, còn những nước khác, tại hạ sẽ tự nghĩ cách.”

“Được thôi, tại hạ sẽ lập tức cùng Tô huynh đi khuyên bệ hạ!”

Tới hành dinh của Huệ Vương, trời đã chập tối.

Thấy hai người đến, Huệ Vương đã hiểu rõ sự tình, song ngoài mặt vẫn cố tình ra vẻ kinh ngạc: “Ồ, quả nhân đang định triệu kiến hai vị, còn chưa kịp truyền chỉ thì hai vị đã đến rồi!”

Bàng Quyên bật cười, chỉ vào Tô Tần, đáp lời. “Tâm tư của bệ hạ, Tô Tử sớm đã đoán ra. Lúc nãy vi thần đang bẩm báo với Tô Tử một việc gấp, còn chưa kịp nói xong, Tô Tử đột nhiên ngắt lời vi thần, nói rằng bệ hạ có lời mời, giục vi thần mau đến. Vi thần không tin, nói bệ hạ đã mời, cớ sao lúc nãy không nói? Tô Tử nói, lúc nãy bệ hạ không mời, bây giờ mới mời. Vi thần kinh ngạc hỏi, bây giờ bệ hạ mới mời, tại sao Tô huynh lại biết? Tô Tử bèn nói, khi còn ở Quỷ Cốc, đã được tiên sinh truyền cho thuật thông tâm, nên đoán biết được, nếu không tin, cứ đi sẽ rõ. Vi thần bán tín bán nghi, nên mới cùng Tô Tử đến đây, nào ngờ bệ hạ quả thực có mời!”

“Ồ?” Huệ Vương quay sang Tô Tần. “Lần trước Thuần Vu Tử đến thăm quả nhân, ông ta luôn đoán đúng tất cả những điều quả nhân nghĩ trong lòng. Quả nhân vặn hỏi ông ta tại sao lại biết, ông ta chỉ cười mà không nói, cứ trêu ngươi quả nhân. Sau khi Thuần Vu Tử đi khỏi, quả nhân nghĩ mãi mà không tìm ra câu trả lời, quả nhân thực không biết đó là thuật thông tâm!”

Tô Tần vòng tay nói: “Thuật thông tâm chỉ có ở người đắc đạo, vi thần không dám mong cầu. Là Bàng tướng quân cười chê vi thần, bệ hạ chớ coi là thực!”

Huệ Vương thở phào một hơi dài, cười vang vài tiếng: “Không phải thì tốt. Chứ nếu đó là sự thực, quả nhân sẽ chẳng dám nghĩ gì nữa!”

Mọi người đều bật cười.

“Bàng ái khanh!” Ngụy Huệ Vương quay sang Bàng Quyên. “Lúc nãy khanh nói, khanh có việc gấp cần bẩm báo với Tô Tử, là việc gấp gì, có thể nói cho quả nhân nghe được chăng?”

Bàng Quyên bèn nghiêm mặt đáp: “Khởi bẩm bệ hạ, Tô huynh quê nhà ở Lạc Dương, lần này hội thề, vì công việc quá ư bận rộn, nhiều lần đi qua cửa nhà mà không kịp vào thăm. Vi thần nghĩ tới chuyện này, tưởng nhớ người nhà của Tô huynh, nên đã phái thuộc hạ đến thăm, vô tình biết được tôn phụ của Tô huynh, cũng chính là bá phụ của vi thần, hiện đang... hiện đang...”

“Hiện đang sao kia?” Huệ Vương nhổm người về phía trước hỏi.

“Nghe thuộc hạ nói, mấy năm nay, bá phụ mắc bệnh nằm liệt giường, mấy ngày trước bệnh tình đột nhiên trở nặng, xem tình hình này, e rằng lành ít dữ nhiều, nguy... nguy trong sớm tối mất thôi!” Bàng Quyên nói đoạn, đưa tay áo lên quẹt mắt.

“Ồ, thì ra là vậy!” Ngụy Huệ Vương lẩm bẩm, lắc đầu than thở. “Than ôi, tất cả đều trách quả nhân, mấy ngày nay chỉ mải lo tới đại sự thiên hạ, không hề hỏi han đến việc nhà của Tô ái khanh, quả nhân... quả nhân thật hổ thẹn!”

Thấy quân thần hai người hùa vào diễn kịch, Tô Tần trong lòng đắng ngắt, khẽ thở dài một tiếng, rũ đầu không nói gì.

Ngụy Huệ Vương nghe thấy rõ ràng, lập tức quay đầu nhìn Tô Tần: “Tô ái khanh!”

Tô Tần ngẩng đầu: “Có vi thần!”

“Lệnh tôn mắc bệnh liệt giường đã lâu ngày, ái khanh đi qua trước cửa mà không thể tận hiếu, đó là lỗi của quả nhân. Trọng Ni nói: ‘Các loài trong trời đất, duy có người là quý nhất. Việc của con người, lớn nhất không gì bằng hiếu.’ Trước mắt, tất cả mọi việc đều là chuyện nhỏ, quý thể của lệnh tôn mới là quan trọng. Ái khanh hãy mau chóng chuẩn bị, sáng mai khởi hành, về quê thăm lệnh tôn!”

“Bệ hạ...” Tô Tần trong lòng lo sợ, vội vàng quỳ xuống cầu xin, nhưng vừa mới mở miệng, phía ngoài đã có tiếng bước chân rậm rịch vọng lại, rồi công tử Ngang quýnh quáng chạy vào.

Vì đang mặc nhung phục, nên công tử Ngang chỉ quỳ một gối xuống đất theo thân phận võ quan, lớn giọng bẩm báo: “Khởi bẩm phụ vương, nhi thần Ngụy Ngang đến cầu chiến!”

Tất thảy đều kinh ngạc sững sờ, Tô Tần lời đã ra đến miệng đành phải nuốt xuống.

“Cầu chiến?” Ngụy Huệ Vương nhìn thẳng vào công tử Ngang. “Con cầu chiến với ai?”

“Phạt Tần! Nhi thần nguyện làm tiên phong, dẫn đội quân cảm tử đi trước, đánh trận đầu tiên, thề đoạt lại Hà Tây!”

Ngụy Huệ Vương quay sang nhìn Bàng Quyên, rồi lại ngoảnh nhìn Tô Tần, sau đó lại nhìn công tử Ngang, bật ra một tràng cười lớn: “Ha ha ha...”

“Phụ vương?” Công tử Ngang nghe mà ngơ ngác.

“Ngang Nhi!” Ngụy Huệ Vương thu nụ cười lại, lắc lư cái đầu. “Con cũng đến thật đúng lúc! Chẳng phải con muốn đánh trận đầu ư? Quả nhân sẽ tác thành cho con!”

“Đa tạ phụ vương!”

“Ngụy Ngang nghe chỉ!”

“Có nhi thần!”

“Sáng sớm mai, ngoại tướng quốc sáu nước Tô Tần trở về quê thăm nhà, để tận hiếu với cha. Quả nhân dùng danh nghĩa tung ước trưởng, phong cho con làm chuyên sứ, hộ vệ Tô tướng quốc về Lạc Dương thăm nhà, mang theo ngự y của quả nhân để trị bệnh cũ cho lão tiên sinh, không được phép xảy ra sơ suất!”

Ngụy Huệ Vương thình lình hạ chỉ lệnh này, hoàn toàn nằm ngoài sức tưởng tượng của công tử Ngang. Chết lặng mất một hồi lâu, hắn mới định thần trở lại, quýnh quáng đến hai mắt đỏ sọc: “Phụ vương?”

“Còn nữa!” Huệ Vương xua tay ngắt lời. “Tô Tử là con dân của Chu thất, thân làm tướng quốc sáu nước, lần này coi như cũng là áo gấm về quê. Trong đội ngũ sứ đoàn tung thân trước đây, ngoài mấy vị công tử, công tôn đang bận việc ra, tất cả những người khác không được phép vắng mặt một ai, phải giữ thể diện cho Tô Tử và liệt quốc, không được để người Chu coi thường! Con còn phải chuẩn bị đầy đủ ngân lượng, lựa chọn vùng bảo địa phong thuỷ, lập tông miếu cho Tô Tử. Tô Tử khởi xướng hợp tung, tạo phúc cho thiên hạ, nhà họ Tô phải được biểu dương mới là phải lẽ!”

“Phụ vương...” Công tử Ngang quỳ cả hai gối xuống, ra sức khấu đầu bình bịch.

“Con dám không nghe chỉ?” Ngụy Huệ Vương đột nhiên đổi giọng, sắc mặt hung hãn.

Công tử Ngang khóc lóc, khấu đầu đáp: “Nhi thần... lĩnh chỉ!”

Hồi Thứ 49

Triều kiến thiên tử, Lạc Dương triều nội xôn xao

Áo gấm hồi hương, Tô Tần hỷ bi giằng xé

Tô Tần là người đầu tiên ra khỏi hành dinh của Huệ Vương, lê bước nặng nề, tựa như phải kéo theo tảng đá nặng trịch.

Người đi ra tiếp theo là công tử Ngang, thần sắc còn rầu rĩ ủ ê hơn nữa. Tai nghe từng tiếng bước chân rời rạc của Tô Tần xa dần trong bóng tối, trong lòng công tử Ngang đủ mùi cảm xúc, không nói nên lời, ngửa mặt lên trời thở dài thườn thượt, rồi lờ đờ đi về doanh trại. Chưa đi được mấy bước, công tử Ngang càng nghĩ càng không cam tâm, liền quay trở lại, đứng sừng sững trước cửa hành dinh của Ngụy Huệ Vương.

Đợi thêm nửa canh giờ nữa, mới thấy Bàng Quyên sải bước ra khỏi hành dinh.

Vừa thấy công tử Ngang, Bàng Quyên liền dừng bước: “Công tử? Sao lại đứng đây?”

Công tử Ngang vòng tay vái mà nói: “Để đợi thượng tướng quân!”

“Ồ?”

“Thượng tướng quân!” Công tử Ngang cắn môi một lúc mới nói. “Mạt tướng cầu xin thượng tướng quân một việc!”

Bàng Quyên thoáng ngạc nhiên, phì cười mà nói: “Cái gì mà mạt tướng với không mạt tướng? Công tử có chuyện gì, xin cứ căn dặn!”

“Thượng tướng quân, mạt tướng...” giọng công tử Ngang nghẹn lại, “mạt tướng từ nhỏ đã đam mê chiến trận, đọc được mấy bộ binh thư, học qua mấy đường thương kiếm, đã tự cho mình là kẻ bất phàm, chẳng coi ai ra gì, cậy vào quyền uy của phụ vương, ngang ngược phách lối, lại bị tên gian tặc Trần Chẩn xúi giục, đã gây ra không biết bao nhiêu chuyện ngu xuẩn, nhất là việc đánh mất Hà Tây. Thượng tướng quân có điều chưa biết, sau trận đó, mạt tướng... mạt tướng vốn chẳng thiết sống, nhưng gian tặc kia không cho mạt tướng chết, mạt tướng... thật nhục nhã, sống chẳng bằng chết! Sau đó người Tề đến phạt ta, mạt tướng mấy lần muốn lập công, nhưng do tài trí không đủ, càng đánh càng thua, bị người trong nước cười chê là phường giá áo túi cơm, ba quân không phục, sĩ khí sa sút. Song mạt tướng vẫn không biết cao thấp hay dở. Từ khi gặp được thượng tướng quân, mạt tướng mới biết thế nào là dùng binh. Sau này, lại đi theo Tô Tử hợp tung, mạt tướng càng thấy rõ mình tài trí nông cạn. Nay liệt quốc hợp tung phạt Tần, đúng là cơ hội tốt trời ban, mạt tướng... Thượng tướng quân, mạt tướng đã đi tới bước đường này, sự nghiệp đã chẳng dám ước mong. Mạt tướng... mạt tướng chỉ muốn tay vung trường thương, vượt qua Hà Thuỷ, thẳng tới Hà Tây, quyết một trận tử chiến với người Tần, vì Hà Tây xả... xả thân...” Nói đến đây, bật khóc thành tiếng.

“Công tử...” Nghe công tử Ngang trải lòng, Bàng Quyên rất đỗi xúc động, nắm chặt lấy tay công tử Ngang.

“Để có thể ăn nói với mấy vạn anh linh ở đất Hà Tây, Ngang cầu xin thượng tướng quân thành toàn! Ngang một không tranh tiên phong, hai không tranh phó tướng, ba không tranh công danh, chỉ cầu được làm võ binh của Đại Ngụy, là người đầu tiên vượt... vượt...” Công tử Ngang tâm ý thiết tha, lại nghẹn ngào không thốt nên lời.

Bàng Quyên cảm khái vạn phần, càng nắm chặt tay công tử Ngang: “Tấm lòng của công tử, Quyên đệ hôm nay mới biết! Than ôi, không giấu gì công tử, mấy năm trước đây, Quyên đệ mặc dù nói là tôn trọng công tử, nhưng cũng chỉ là bề ngoài. Bắt đầu từ hôm nay, Quyên Đệ sẽ tôn trọng công tử từ tận đáy lòng!”

“Đa tạ thượng tướng quân!” Công tử Ngang rút tay về. “Ngang tuy bề ngoài hoa mỹ, nhưng kỳ thực lại nông cạn, chỉ là kẻ thô lỗ. Nay đến cầu chiến, chỉ mong sao được phụ vương tác thành, không ngờ phụ vương lại...”

“Công tử, xin hãy nghe Bàng đệ nói một câu!”

“Xin thượng tướng quân cứ nói!”

“Công tử chỉ muốn dựa vào hào khí nhất thời, bỏ mình tại Hà Tây giống như vài vạn tướng sĩ kia, hay là muốn đánh bại người Tần, đoạt lại Hà Tây, đạp bằng Tần Xuyên, báo thù cho những tướng sĩ đã tuẫn quốc?”

“Đạp bằng Tần Xuyên, báo thù cho những tướng sĩ đã tuẫn quốc!”

“Nếu như vậy, công tử hãy làm theo chỉ ý của bệ hạ, cùng Tô Tử trở về quê thăm nhà!”

“Tại sao lại như vậy?”

“Sáu nước phạt Tần, chỉ mình Tô Tử không đồng ý. Hiện giờ Tô Tử là tướng quốc của sáu nước, quân chủ Yên, Triệu đều nghe theo lời người này, quân chủ của liệt quốc cũng đều phải nể mặt người này. Người này không chịu chinh phạt, chúng ta làm sao có thể thành công? Vừa may Tô bá phụ sinh bệnh, tính mạng nguy cấp, bệ hạ nhanh trí lệnh cho Tô Tử về quê tận hiếu, trên danh nghĩa là áo gấm hồi hương, nhưng kỳ thực lại là điệu hổ ly sơn, tránh để người này ngáng chân ngáng tay, làm hỏng đại sự. Bệ hạ lệnh cho công tử đi theo Tô Tử, đúng là rất biết dùng người. Một là công tử nho nhã lịch thiệp. Hai là bấy lâu nay, công tử luôn đi theo Tô Tử, hiểu rõ các chiêu số của Tô Tử. Ba là công tử thân phận cao quý, có sắp xếp như thế nào, cho dù Tô Tử trong lòng không vui, cũng không dám phản đối.”

“Điều này...”

“Hiện giờ phạt Tần, các việc đều đã chuẩn bị xong xuôi, bây giờ việc quan trọng nhất là phải giữ chân Tô Tử. Công tử giữ chân Tô Tử được ngày nào hay ngày ấy, giữ được càng lâu càng tốt. Công tử thành công, coi như việc phạt Tần đã thành công một nửa! Không phải Bàng Quyên khoác lác, nếu không phải bận tâm chuyện sau lưng, chỉ cần ba quân của Đại Ngụy ta phạt Tần, cho dù không thể đạp bằng Tần Xuyên, thì lấy lại Hà Tây cũng dễ như trở bàn tay. Huống chi nay sáu nước đã hợp tung, vài chục vạn đại quân đã áp sát biên giới, cho dù người Tần có thần ma bảo vệ, thì lần này cũng kiếp nạn khó tránh!”

Công tử Ngang suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng cũng gật đầu đồng ý: “Nếu đã như vậy, giờ tại hạ sẽ cùng Tô Tử về quê, đảm bảo sẽ khiến hắn được phong quang lừng lẫy, không còn thời gian bận tâm đến việc khác!”

“Công tử cứ đi đi! Còn về việc công tử muốn làm tiên phong, vượt sông Hà Thuỷ báo thù cho những tướng sĩ đã xả thân trong trận chiến Hà Tây, Quyên đệ sẽ tự biết sắp xếp. Giống như lời của Tô Tần, phạt Tần là việc lớn, không thể vội vàng. Đợi Quyên chuẩn bị xong xuôi mọi mặt, đến lúc ba quân xuất chinh, Quyên đệ nhất định sẽ mời công tử trở về, phong công tử làm tiên phong vượt sông, thoả mãn ước nguyện, vì Đại Ngụy rửa mối hận Hà Tây!”

Công tử Ngang hai mắt sáng rực, siết chặt tay Bàng Quyên: “Đa tạ thượng tướng quân đã thành toàn!”

Đêm đã về khuya.

Là một đêm không trăng, thôn Hiên Lý một màu đen thẳm, chỉ còn thấy le lói ánh đèn chiếu ra từ trong trạch viện Tô gia.

Ánh đèn chiếu ra từ chính đường. Trong chính đường, Tô Lệ, Tô Đại đang ngồi trên một chiếu, còn ba chị em dâu ngồi trên một manh chiếu khác. Không ai nói một lời, nét mặt ai cũng rầu rĩ. Đám trẻ nít không có mặt, hiển nhiên đã đi ngủ cả.

Ngồi một lúc, Tô Lệ ngẩng đầu lên, cất giọng khàn đặc: “Cha đã hôn mê suốt mấy ngày trời. Cứ cái đà này, e rằng không gắng gượng được bao lâu nữa!”

Tiểu Hỷ bắt đầu sụt sùi. Hai chị em dâu nghe thấy, cũng thút thít theo, tay bưng miệng tay quệt lệ. Có lẽ e sợ khiến lũ trẻ thức giấc, nên đám đàn bà đều không dám khóc thành tiếng.

“Khóc cái gì?” Tô Đại lườm vợ, mắng. “Cha còn chưa tắt thở kia mà!”

Mấy người đàn bà vội im bặt.

“Em hai không có nhà,” Tô Lệ chậm rãi nói, “trong nhà chỉ có mấy chúng ta. Là huynh trưởng, ta nói trước mấy câu. Năm ngoái mưa gió không thuận, mùa màng thất bát, cuộc sống khó khăn hơn năm kia. Nhưng bất kể thế nào, chúng ta cũng không thể khiến cha phải tủi thân. Cha một đời cực khổ, những thứ khác ta không nói đến, chỉ nói một việc thôi, đó là hậu sự của cha cũng phải làm cho ra hồn. Ta đã tính toán qua, nếu như mua một cỗ quan tài gỗ bách, mời phường nhạc, cộng thêm bộ áo thọ, đồ tuỳ táng... chí ít cũng phải năm lượng vàng. Ta là huynh trưởng, sẽ bỏ ra ba lượng!” Rồi quay sang vợ, nói. “Này mẹ Thuận Nhi, bà thấy được không?”

“Trong nhà đến tiền đồng cũng chẳng còn mấy xu, lấy đâu ra ba lượng vàng?” Vợ Tô Đại hậm hực lườm chồng một cái sắc lẹm, thở hắt ra nặng nề.

Tô Lệ ngượng ngập, cúi gằm mặt xuống.

“Hay là ông cũng muốn học theo chú hai, bán đất lấy tiền thế? Bệnh của cha do đâu mà có, có phải ông muốn để cha chết không nhắm mắt hay không?” Vợ Tô Lệ vẫn không thôi đay nghiến.

Tô Lệ càng cúi đầu thấp hơn nữa.

Không khí hết sức nặng nề.

Hồi lâu sau, thấy Tô Đại vẫn không nói gì, vợ Tô Đại sốt ruột, đưa mắt nhìn chồng: “Này bố nó, sao không nói gì? Việc của cha, chúng ta không thể để bác cả gánh vác phần nặng hơn được!”

Tô Đại đang định lên tiếng, thì Tiểu Hỷ đứng dậy, lẳng lặng đi ra khỏi cửa.

Nhìn theo bóng Tiểu Hỷ, Tô Đại mặt đỏ bừng, giọng lí nhí: “Anh cả nói đúng, anh hai không có nhà, nên không tính phần của anh hai được. Hậu sự của cha, kiểu gì cũng không thể để anh cả gánh vác phần nhiều hơn. Tiêu tốn bao nhiêu, anh em chúng ta cứ chia đôi mỗi người một nửa!”

“Không thể như vậy được, ta...” Tô Lệ liếc nhìn vợ, rồi im bặt không nói tiếp nữa.

Đang lúc khó xử, Tiểu Hỷ đã quay trở lại, xách theo một cái ống nặng trịch, quỳ xuống dưới chiếu, chậm rãi nói: “Anh cả, chị dâu, em ba, em dâu, tôi chẳng có bao nhiêu tiền, chỉ tích cóp được chút ít, đều ở trong ống này. Mọi người hãy đếm xem được bao nhiêu, đều dùng cho cha hết!”

Mọi người đưa mắt nhìn nhau.

Vợ Tô Lệ phăm phăm giơ tay kéo cái ống lại, nhấc thử xem nặng nhẹ, sau đó thò tay vào trong ống, kinh ngạc kêu toáng lên: “Trời ơi, em dâu lấy đâu ra nhiều tiền đồng thế? Để chị dâu đếm thử xem nào!”

Nói đoạn, vợ Tô Lệ dốc ngược ống đổ thẳng xuống đất, không ngờ lại được một đống to tướng, có tiền đồng, còn có cả mấy mụn vàng bằng hạt đậu, mọi người nhìn mà sững sờ.

Vợ Tô Lệ từ từ định thần lại, quay sang Tiểu Hỷ hỏi: “Em dâu, em kiếm được bằng cách nào vậy?”

Tiểu Hỷ điềm tĩnh đáp lời: “Bán vải kiếm được một ít. Năm ngoái khi cha em qua đời cũng để lại cho một ít. Em chỉ góp được có ngần này, còn thiếu bao nhiêu, phải để anh cả, chị dâu, em ba, em dâu bù thêm.”

“Sao có thể như vậy được?” Tô Lệ vội nói. “Em dâu, nếu mang dùng hết, sau này sẽ sống thế nào?”

Tiểu Hỷ cười buồn bã: “Em có một cái miệng, hai bàn tay, dù có thế nào, vẫn cứ sống được!”

Sáng sớm hôm sau, khi mặt trời lên cao, Tô Hổ đột nhiên tỉnh lại, há to miệng, liên tục mấp máy. Tô Diêu thị đang đứng bên giường, nghe thấy tiếng động, vội vàng bưng lại một bát nước, bón cho ông vài hớp.

Tô Hổ khó nhọc lắm mới thều thào được hai chữ: “Tần Nhi...”

Tô Diêu thị cuống quýt chạy ra ngoài, gọi thất thanh: “Lệ Nhi, Đại Nhi, mau đến đây, cha các con đã tỉnh rồi!”

Người lớn trẻ nhỏ nghe thấy tiếng gọi, tất cả chạy ùa cả vào, lũ lượt quỳ xuống trước giường.

Tô Hổ mở mắt, miệng vẫn chỉ lắp bắp hai chữ, lặp đi lặp lại: “Tần Nhi... Tần Nhi...”

Tô Lệ liếc nhìn Tô Đại, không biết phải trả lời thế nào.

Tô Đại khẽ đảo mắt, rồi lê gối đến bên giường: “Cha ơi, anh hai sắp trở về rồi! Anh hai của con đã làm quan lớn bên ngoài, bây giờ đang trên đường trở về Lạc Dương, nói rằng trở về để thăm cha đấy!”

Tô Hổ nhệch miệng cười, con ngươi di chuyển sang phía Tiểu Hỷ.

Tô Đại vội gọi: “Chị hai, mau lại đây!”

Tiểu Hỷ lê gối đến trước giường, khẽ gọi: “Cha ơi...”

Tô Hổ duỗi cánh tay còn có thể cử động, lẩy bẩy lấy ra tờ khế đất giấu ở dưới gối đưa cho Tiểu Hỷ: “Tần Nhi sớm... sớm muộn... trở... trở về, đưa... đưa cái này... cho nó...”

Tiểu Hỷ nhận lấy tờ khế đất, khóc nức nở: “Cha ơi...”

Tô Hổ giọng run rẩy: “Hỷ Nhi, Tô... Tô gia... có lỗi với... con, cha... có... có lỗi... với con!”

Tiểu Hỷ gục đầu xuống giường, khóc lớn: “Cha ơi...”

Bỗng từ bên ngoài có tiếng bước chân vọng lại, rồi tiếng con Mực sủa lên ầm ĩ.

Tiểu Thuận nhanh chân chạy ra ngoài xem, thoắt cái đã quay trở lại, nói với Tô Lệ: “Cha ơi, có người tìm cha!”

Tô Lệ vội chạy ra ngoài, một lúc sau đã hớt hải chạy trở vào trong phòng, quỳ xuống trước mặt Tô Hổ, sắc mặt vô cùng kích động, tay nâng một bản khế đất: “Cha ơi, là việc đại hỷ! Vừa nãy là Hách quản gia của phủ lý chính tìm đến, Hách quản gia trả lại y nguyên mười lăm mẫu ruộng mấy năm trước em hai đã cầm cố cho nhà lý chính. Đây chính là khế đất!”

“Tại... tại sao... Lưu đại nhân... lại trả... trả lại?” Tô Hổ đưa đôi mắt đục ngầu nhìn sững vào tờ khế đất.

“Hách quản gia nói, hôm qua Lưu đại nhân qua đời, trước lúc lâm chung đã lấy bản khế đất này ra, bảo Hách quản gia trả lại cho nhà chúng ta!”

Tô Hổ gắng gượng muốn ngồi dậy, nhưng lập tức bị Tô Diêu thị ấn nằm trở xuống.

Tô Hổ thở hổn hển một lúc mới thều thào: “Đã... đã cầm cố... cho... cho nhà... người ta, thì... là... của nhà... người ta, mau... mau... trả lại... cho người ta!”

“Cha, con đã kiên quyết không nhận, nhưng Hách quản gia không chịu, nói rằng đó là di mệnh của Lưu đại nhân, ông ta không dám trái!”

Tô Hổ nhắm mắt một lát, rồi lại mở mắt ra: “Tại... tại sao?”

“Cha!” Tô Đại giải thích. “Hai năm nay, nhà họ Lưu đã lụn bại rồi! Con trai của Lưu đại nhân kết giao với một người bạn phóng đãng, nghe nói là người ấp Hà Nam, đã lừa cậu ta tới Trịnh Thành nước Hàn, dẫn vào sòng bạc, lột sạch toàn bộ gia sản của nhà họ Lưu, Lưu đại nhân hẳn là do tên phá gia chi tử này làm cho tức chết!”

Tô Hổ thở hào hển một lúc, rồi ánh mắt chuyển qua Tô Lệ: “Lệ... Lệ Nhi, người... ai cũng... cũng có lúc... lâm... lầm đường, cất... cất giữ cẩn thận... khế... khế đất của... của ông ta. Đợi... sau khi... Lưu... Lưu thiếu gia... hồi tỉnh, thì trả... trả lại... cho... cho người ta!”

Tô Lệ gật đầu: “Lệ Nhi tuân lệnh!”

Tô Hổ xua tay: “Đi đi, cha... mệt rồi!”

Tô Lệ bảo mọi người đi ra.

Tô Đại đi ra ngoài sân, vợ Tô Đại cũng ra theo, hỏi nhỏ: “Này, anh hai bao giờ sẽ về thế?”

Tô Đại trừng mắt nhìn: “Mẹ nó đúng là lắm chuyện, anh hai khi nào trở về, ta làm sao mà biết được?”

“Chẳng phải lúc nãy bố nó nói, anh hai làm quan lớn ở liệt quốc, hiện đang trên đường trở về Hiên Lý hay sao?”

“Tôi lừa cha đấy, mẹ nó tin là thật ư?” Tô Đại mắng vợ.

“Phải đấy!” Vợ Tô Lệ vừa hay cũng đi đến, tiếp lời. “Tôi cũng đoán là chú lừa cha. Nếu là thật, cái miệng loa phễu này của chú đời nào lại không để lộ chút tin tức gì?”

“Chị dâu nói đúng lắm!” Tô Đại lè lưỡi với vợ Tô Lệ.

“Bố nó này,” vợ Tô Đại nói, “nhưng tôi lại nghe nói, đúng là anh hai đã làm quan lớn thật rồi!”

“Nghe ai nói?” Tô Đại lừ mắt lườm vợ.

“Khi tôi giặt quần áo bên bờ sông, nghe người đi đường nói vậy. Họ đều nói, liệt quốc tụ hội tại Mạnh Tân, lựa chọn ra một vị tướng quốc chung, người đó đúng là uy danh lừng lẫy, họ Tô tên Tần, lại cũng là người Lạc Dương chúng ta. Tôi nghe mà thấy chột dạ, liệu người đó có phải là anh hai không?”

Vợ Tô Lệ phì cười: “Em dâu cũng thính tai thật đấy, có điều lòng dạ thực thà quá. Hội thề đã qua hơn chục ngày trời, nếu như đúng là chú hai nhà chúng ta, thì đã về đến cửa nhà từ lâu, lẽ nào chú ấy không muốn trở về vênh vang một chuyến? Cho dù chú ấy không nhớ đến hai chị em chúng ta, thì cũng không thể không ngó ngàng đến cha được!”

“Chị dâu nói đúng lắm!” Tô Đại liên tiếp gật đầu, rồi lại lườm nguýt vợ. “Mẹ nó đấy, nghe gió lại bảo là mưa, đúng là óc lợn!”

Vợ Tô Đại ấp úng: “Tôi... tôi... tôi cũng chỉ muốn anh hai sớm ngày trở về thôi mà, chị hai... thực là tội nghiệp!”

Trong khoảng sân cách đó một bức tường, Tiểu Hỷ đang cho con Mực ăn đã nghe rõ mồn một câu chuyện của mấy người. Nhớ lại lời nói của Tô Tần trước lúc lên đường, nghĩ tới Lão Hỷ giờ đã qua đời, chỉ còn một mình mình trơ trọi trên thế gian, Tiểu Hỷ trong lòng đau đớn, hai mắt đờ đẫn trông vào con Mực đang dán mắt vào bát cơm trên tay mình, rồi hai chân mềm nhũn, quỳ sụp xuống đất, bát cơm vung vãi đầy đất, đưa tay ôm lấy con Mực, khóc nấc lên thảm thiết.

Trong lúc đó, Tô Tần vẫn còn ở Mạnh Tân đang lòng như lửa đốt. Tô Tần biết, Bàng Quyên tuyệt đối sẽ không đem chuyện cha mình ra để lừa gạt, mà hắn cũng không cần thiết phải làm như vậy.

Cha bệnh tình nguy cấp, chắc chắn là sự thật!

Nghĩ tới cha, Tô Tần trong lòng đau quặn. Đúng vậy, Tô Tần có lỗi với cha. Cha đã vì Tô Tần mà tan nát cõi lòng, vì Tô Tần mà lâm trọng bệnh, giờ đã gần đất xa trời, trong khi Tô Tần chỉ gần trong gang tấc, vậy mà vẫn chưa thể trở về thăm hỏi.

Lúc này, Tô Tần chỉ hận mình không mọc được đôi cánh để bay thẳng về nhà.

Song Tô Tần không thể. Vì việc của thiên hạ còn khẩn cấp hơn gấp bội. Tô Tần không thể không khâm phục tâm kế của Bàng Quyên. Rõ ràng, Bàng Quyên tận tụy tới tận Hiên Lý để hỏi thăm, không phải thực lòng quan tâm đến Tô Tần, mà là muốn tìm kiếm mọi cơ hội để gạt Tô Tần ra ngoài. Tông chỉ của hợp tung là chấm dứt chiến tranh, vậy mà tung thân vừa thành đã phát động đại chiến, điều này, Tô Tần tuyệt đối không thể chấp nhận.

Tuy nhiên, chính miệng tung ước trưởng đã xuống lệnh cho Tô Tần về quê tận hiếu, Tô Tần vắt óc suy nghĩ đủ đường, nhưng không thể nghĩ ra được lý do thoái thác.

Sáng sớm hôm sau, Tô Tần triệu Lâu Hoãn đến, giải thích cặn kẽ về tình hình trước mắt, giao lại toàn bộ công việc của liệt quốc, muốn Lâu Hoãn theo sát mọi biến động, hễ có sự biến gì, phải lập tức mật báo cho Tô Tần biết.

Sau khi uỷ thác xong mọi việc, cũng đã đến nửa chiều.

Tô Tần đang định khởi hành, thì công tử Ngang đến nơi, vòng tay vái mà nói: “Tô Tử chớ vội! Lúc nãy bệ hạ triệu kiến tại hạ, đã dặn đi dặn lại, nói rằng lần này Tô Tử về quê thăm nhà, không phải việc tầm thường, để đề phòng bất trắc nên đã phái thêm ba nghìn quân hộ vệ, cảnh giới mười dặm. Ngoài ra, tất cả mọi việc liên quan đến thăm nhà, bệ hạ đã lệnh cho tại hạ một tay lo liệu. Nếu Tô Tử có bất cứ tổn thất gì, bệ hạ sẽ hỏi tội tại hạ. Tại hạ lo sợ, nên đã thảo riêng mấy quy tắc, mời Tô Tử xem qua!” Đoạn lấy từ trong tay áo ra một cuộn thẻ tre, đưa cho Tô Tần.

Tô Tần mở cuộn thẻ tre ra, đọc qua một lượt, tất cả mọi quy tắc, nói trắng ra đều là nhằm giám sát Tô Tần, đặc biệt là điều thứ nhất, tất cả mọi hành trình của Tô Tần đều do công tử Ngang sắp xếp.

Thấy mình như đã trở thành tù nhân, Tô Tần cười nhạt một tiếng: “Đa tạ bệ hạ quan tâm! Bệ hạ đã lo xa thái quá rồi, lần này tại hạ chỉ là về quê thăm người thân, chẳng phải dấn thân vào nơi nguy hiểm, lấy đâu ra bất trắc?”

Công tử Ngang đã sớm chuẩn bị cách ứng phó: “Bệ hạ có dặn, hợp tung thành công, tất cả đều là công của Tô Tử. Người Tần chắc chắn sẽ đem lòng thù hận Tô Tử, có thể sẽ tìm cách hãm hại. Sự an nguy của Tô Tử liên quan tới sự nghiệp hợp tung của liệt quốc, tuyệt đối không thể lơ là!”

“Gia phụ bệnh đang nguy cấp, tại hạ muốn nhanh chóng về thăm!”

“Bệ hạ rất quan tâm tới bệnh tình của lệnh tôn, đã phái ngự y đi trước một bước. Có ngự y của bệ hạ ở bên, lệnh tôn trước mắt hẳn không có gì đáng ngại, xin Tô Tử yên tâm!”

Công tử Ngang hễ mở miệng là chặn họng Tô Tần, Tô Tần biết đã không còn đường lui, bèn vòng tay nói: “Tại hạ xin nghe theo sự sắp đặt của công tử!”

“Xin hỏi Tô Tử, lần này về thăm người thân, có yết kiến Chu Vương hay không?”

“Xin nghe theo lời công tử!”

“Nếu đã như vậy, Ngang xin mạo muội sắp xếp thay. Thân là con dân Đại Chu, Tô Tử về quê thăm nhà, không thể không yết kiến Chu Vương. Nay đã khác xưa, thiên hạ đều xưng vương, mặc dù Chu là vương quốc, nhưng cũng chỉ là tiểu bang, Tô Tử thân là tướng quốc sáu nước, đã không còn là khanh sĩ tầm thường. Quân vương của một nước nhỏ đối với tướng quốc sáu nước lớn, lễ nghi yết kiến thế nào, Ngang cũng lấy làm lúng túng. Chu thất coi trọng lễ nghi, nghe nói hiện giờ người chủ sự của Chu thất là Nhan thái sư, giờ Ngang sẽ thảo một bái thiếp, gửi cho thuộc hạ của ông ta, xem ông ta phản ứng ra sao.

“Xin nghe theo lời công tử!”

Một cỗ xe tứ mã lớn lao băng băng trên phố lớn của vương thành.

Cỗ xe đi tới trước cổng chính của cung thành, một người chừng ba mươi tuổi vóc dáng cao gầy nhảy xuống xe, sải bước leo lên bậc thềm trước cửa cung.

Người này chính là thái sư mới của Chu Thất, tên gọi Nhan Suất, chính là con trai trưởng của Nhan thái sư đã qua đời. Lão thái sư tạ thế, Hiển Vương dựa theo quy chế cũ, hạ chiếu cho Nhan Suất kế nhiệm chức thái sư.

Bên trong bức tường bao cao lớn, khung cảnh trống trải quạnh hiu. Chu thất vắng lặng như tờ, nếu không phải ngày đại triều, trong cung gần như không một bóng người, ngay cả hoạn quan cũng chẳng có mấy ai, lại rặt là những người già lụ khụ. Nhan Suất hiểu rõ thói quen của Hiển Vương, chẳng cần hỏi han, lập tức đi thẳng tới ngự thư phòng.

Quả nhiên Chu Hiển Vương đang ngồi ở đó.

Nội thần chạy ra, dẫn Nhan Suất vào yết kiến.

“Thái sư, mời ngồi!” Hành lễ xong, Hiển Vương chỉ sang chiếu bên cạnh, điềm đạm nói.

“Bệ hạ!” Nhan Suất không giấu nổi niềm hưng phấn trong lòng. “Vi thần vội vã đến đây để bẩm báo một tin vui!”

“Ồ!” Bên khoé miệng Chu Hiển Vương lộ ra một nét cười buồn. “Đã bao năm nay quả nhân chưa hề được nghe thấy một tin vui!”

“Lần trước liệt quốc hợp tung, cùng mở hội thề chống Tần tại Mạnh Tân, tiến cử Ngụy Anh làm tung ước trưởng, cùng bái Tô Tần làm tướng quốc. Vi thần nhận được bái thiếp, nói rằng tướng quốc sáu nước Tô Tần mấy ngày tới trở về quê thăm nhà, sẽ tới yết kiến bệ hạ. Tung ước trưởng Ngụy Anh còn phái cả công tử của Ngụy thất là công tử Ngang đi theo hộ vệ. Đây chính là bái thiếp của đặc sứ công tử Ngang trình lên vi thần, xin bệ hạ ngự lãm!” Nhan Suất nói đoạn, rút từ trong tay áo ra một tấm bái thiếp, hai tay trình lên.

“Bái thiếp là gửi cho khanh, có liên quan gì đến quả nhân?” Chu Hiển Vương xua tay không nhận.

Nhan Suất thu bái thiếp về, sắc mặt có phần ngượng nghịu. Quả thực, bái thiếp này không nên đưa cho thiên tử, là do bản thân nhất thời hưng phấn quá đà.

“Tô Tần?” Chu Hiển Vương lẩm bẩm, dường như vừa sực nhớ tới chuyện gì, nửa như tự nhủ, nửa như dò hỏi. “Phải chăng chính là Tô Tần mấy năm trước học nghệ ở núi Vân Mộng?”

“Thưa, phải!” Nhan Suất đáp. “Theo vi thần điều tra, người này quê ở thôn Hiên Lý, Lạc Dương, thân là con dân của bệ hạ, từ nhỏ đã mang tráng chí, lời nói cử chỉ khác với người thường, nên bị người trong thôn cười chê. Về sau đã lên núi Vân Mộng, cùng ba người nữa là Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Trương Nghi bái dã nhân Quỷ Cốc Tử làm thầy, cùng nhau tu học. Sau khi xuống núi, trước tiên đến Tần cầu sĩ, sau đó là hợp tung sáu nước, xây dựng sự nghiệp lẫy lừng.”

“Ồ, đã thành công thực rồi!” Giọng Hiển Vương vẫn điềm tĩnh như cũ. “Theo ý ái khanh, quả nhân nên tiếp đãi người này thế nào?”

“Bệ hạ!” Nhan Suất nghiêng người về phía trước bẩm báo. “Tô Tử tài hoa cái thế, hô một tiếng mà cả thiên hạ theo về, uy phục liệt quốc, thân là tướng quốc sáu nước, không thể so với thần tử bình thường. Nghe người mang thiếp nói rằng, Tô Tử căn dặn, lần này đến yết kiến với tư cách là con dân của bệ hạ...” Rồi hạ thấp giọng. “Tô Tử thân là người Chu, công lao hiển hách, lần này về quê, lại đặc biệt đến yết kiến bệ hạ, hẳn có thâm ý, hoặc giả hữu dụng cho Chu thất chúng ta. Theo ý của vi thần, bệ hạ hãy dùng hậu lễ để tiếp đãi, ra khỏi thành mười dặm nghênh đón, nhằm biểu dương công lao.”

“Hỡi ôi!” Chu Hiển Vương thở dài não nề. “Chu thất đã thành ra thế này, hữu dụng vô dụng, cũng có tác dụng gì đâu? Tuy nhiên, Tô Tần cũng là một nhân vật đặc biệt, quả nhân rất muốn gặp mặt hắn. Còn về việc dùng đại lễ hay tiểu lễ, ra khỏi thành đón hay nghênh đón tại chỗ, khanh hãy tự quyết định!”

“Theo ý của vi thần, tốt nhất bệ hạ hãy ra khỏi thành nghênh đón!” Nhan Suất thoáng do dự. “Tuy nhiên, nếu ra ngoài nghênh đón, cần phải dùng tới nghi trượng. Mặc dù nghi trượng vẫn còn, nhưng lâu ngày không dùng tới, đã tán loạn không còn đủ bộ nữa!”

“Thiếu thứ gì, ái khanh cứ cho làm lại là được!”

“Vi thần tuân chỉ! Nhưng còn tiền...”

“Cần bao nhiêu?”

“Còn thiếu hai trăm lượng vàng!”

Đối với Chu thất, hai trăm lượng vàng là một con số rất lớn. Chu Hiển Vương bất giác “ồ” lên một tiếng, chau tít đôi mày. Một lúc sau, vầng trán từ từ giãn ra. “Hai vị công thúc đã mấy năm nay không cống nạp, đây cũng là một lý do. Khanh hãy cầu kiến họ, nói rằng quả nhân truyền khẩu dụ, Đông Chu, Tây Chu mỗi bên bỏ ra một trăm lượng, nghênh đón Tô Tử về quê!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Được sự sắp xếp chu đáo của công tử Ngang, đoàn người ngựa hộ tống Tô Tần trở về thăm quê kéo dài đến hàng chục dặm, khí thế rầm rộ tiến về vương thành của Đại Chu.

Nhan Suất dẫn người tới Củng Ấp (thực ấp của Đông Chu Công), cùng Đông Chu Công đi tới Lạc Thuỷ ở phía đông thành nghênh đón. Hai bên hành lễ xong xuôi, Nhan Suất truyền chỉ, nói rằng thiên tử giá lâm tới Thập Lý phương đình ở cách thành Lạc Dương mười dặm về phía đông, đích thân nghênh đón Tô Tử. Tô Tần khấu đầu tạ ơn, truyền lệnh cho đoàn người ngựa tăng tốc, không để thiên tử phải đợi lâu.

Để nghênh đón tân khách tứ phương, bên ngoài hai cổng chính đông, tây của vương thành Lạc Dương, cứ cách mười dặm lại xây dựng một ngôi đình. Tổng cộng có ba ngôi đình, đều được xây trên khoảng đất rộng rãi thoáng đãng, có hình vuông, ngôi đình cách vương thành gần nhất được gọi là Thập Lý phương đình, tức đình vuông mười dặm. Thập Lý phương đình dài rộng mỗi bên ba trượng, có thể chứa được trăm người, dù trời có mưa cũng không ảnh hưởng đến việc tiếp khách.

Thiên tử ra ngoài thành nghênh đón là đại lễ của Chu thất, thường đều ra Thập Lý phương đình, khách tới không phải thánh cũng là hiền, chí ít cũng phải là người đã lập được kỳ công khải hoàn. Chu thất thế suy, vừa chẳng có tân khách trọng yếu, cũng rất hiếm thấy có công thần nào trở về, thiên tử đã lâu không ra ngoài thành đón khách. Lần này tướng quốc sáu nước về quê thăm nhà, Chu thiên tử bày nghi trượng thiên tử để nghênh đón, dân chúng các ấp lân cận thảy đều kinh động, lũ lượt kéo đến xem cảnh tượng náo nhiệt hiếm có.

Cảnh tượng cũng thật đáng xem. Đứng trên đỉnh Mang Sơn phóng mắt nhìn ra xa, trên con đường cái quan rộng thênh thang, một bên là đội người ngựa thăm quê uy vũ hào hùng, khí thế lẫm liệt, kéo dài gần hai mươi dặm; một bên là đội nghi trượng màu sắc sặc sỡ của thiên tử và dân đen trăm họ dưới sự cai trị của Chu thiên tử phục sức đủ màu đủ kiểu, suốt từ cổng đông thành Lạc Dương đến Thập Lý phương đình, nam nữ già trẻ chen chúc đứng đầy hai bên đường, như một biển người nhấp nhô.

Đoàn người ngựa hoàn hương chậm rãi tiến gần tới Thập Lý phương đình, từ xa đã thấy lọng hoa trên xe của thiên tử. Đội ngũ bèn đi chậm lại.

Cách chừng một tầm tên bắn, đoàn người ngựa bèn dừng lại, rẽ sang hai bên. Tô Tần, công tử Ngang đánh xe tiến lên. Đội nghi trượng của thiên tử khởi lễ, bắt đầu tấu lên khúc nhã nhạc đón khách. Sau đó là một loạt các nghi thức nghênh đón, yết kiến rườm rà của Đại Chu, bao gồm ban ngự tửu, thưởng thịt cúng..., trước sau kéo dài đến nửa canh giờ. Tiếp đó, Tô Tần bước lên vương xa, cùng thiên tử trở về vương thành. Đoàn người ngựa về thăm quê lúc này chia thành hai đội, một đội gồm hơn trăm cỗ xe, dẫn đầu là công tử Ngang, Nhan thái sư và hai vị Chu Công theo sau, bám theo xe của thiên tử. Đội xe ngựa còn lại do công tử Chương nước Hàn dẫn đầu, hạ trại bên bờ Y Thuỷ.

Trở về tới vương thành, Hiển Vương liền thượng triều, tiến thẳng vào chính điện. Tô Tần, công tử Ngang hành đại lễ yết kiến xong, Tô Tần vỗ tay, hơn hai mươi hòm lễ vật lần lượt được thuộc hạ khiêng vào chính điện.

Tô Tần khấu bái xong, lấy từ trong tay áo ra tờ danh sách lễ vật: “Bệ hạ, sáu nước tung thân, đại hội tại Mạnh Tân, vì bận rộn nhiều việc nên quân chủ sáu nước chưa thể đến yết kiến bệ hạ, thảy đều tiếc nuối, cùng uỷ thác vi thần và đặc sứ Ngụy Ngang thỉnh tội với bệ hạ. Đây là lễ vật do sáu vị quân chủ tiến cống, xin bệ hạ kiểm tra!”

Lúc này sáu nước đều đã xưng vương, Tô Tần lại không nói là sáu vương, mà chỉ nói là sáu vị quân chủ, lại dùng từ “yết kiến”, rõ ràng là có ý giữ thể diện cho Chu thất. Nội thần trong lòng hiểu rõ, bước tới nhận lấy danh sách lễ vật, rồi cũng làm theo thông lệ, đứng sang một bên tuyên đọc: “Sở cống hai mươi viên long châu, mười đôi ngọc bích trắng, năm mươi súc tơ lụa. Tề cống...”

Nội thần câu nào cũng nhắc đến chữ “cống”, lại cố tình kéo dài chữ này, khiến văn võ bá quan ai nấy hoan hỷ ra mặt, hào hứng trong lòng, chỉ có Hiển Vương là khác nào bị vạn tên xuyên tim, đôi mày chau tít, chưa đợi nội thần đọc hết đã xua tay ngắt lời: “Không cần đọc nữa, cũng không cần kiểm tra, khiêng cả đi!” Rồi quay sang Tô Tần và công tử Ngang, gượng cười một tiếng. “Đã khiến chư vị công hầu phải nhọc lòng! Hai vị hãy bình thân!”

Các hòm lễ vật được khiêng ra.

Tô Tần, công tử Ngang đa tạ xong, cùng đứng dậy ngồi vào chỗ.

Hiển Vương đưa mắt nhìn Nhan thái sư, hai vị Chu Công và bá quan: “Chư vị ái khanh, cũng không còn sớm nữa, bãi triều!” Rồi quay sang Tô Tần. “Quả nhân có chuẩn bị ấm trà nhạt ở ngự thư phòng, không biết Tô Tử có nhã hứng chăng?”

“Vi thần vô cùng vinh hạnh!”

Hiền Vương lập tức đứng dậy, chẳng thèm ngó ngàng đến công tử Ngang, đi thẳng ra phía cửa bên. Tô Tần vòng tay với công tử Ngang, sau đó đi theo nội thần. Công tử Ngang đang lúc lúng túng, thì Nhan thái sư vội bước tới, vòng tay vái công tử Ngang và hai vị Chu Công: “Tại hạ có chuẩn bị một bàn rượu nhạt, mời công tử và hai vị đại công đến phủ uống vài chén, mong được công tử và hai vị đại công nể mặt!”

Công tử Ngang vòng tay đáp lễ: “Cung kính chi bằng tuân lệnh!”

Bốn người cùng ra khỏi chính điện, đánh xe thẳng tới phủ của Nhan thái sư.

Trong ngự thư phòng, Hiển Vương và Tô Tần phân ngôi chủ khách ngồi xuống.

Đã có cung nữ dâng trà sẵn sàng, Hiển Vương nâng chén, nói: “Tô Tử, mời!”

Tô Tần không uống trà, mà đứng dậy khỏi chiếu, quỳ xuống đất khấu đấu nói: “Tội dân Tô Tần phạm tội không thể dung thứ, xin bệ hạ trách phạt.”

“Ồ, Tô Tử có tội gì?” Hiển Vương thoáng ngỡ ngàng.

“Bệ hạ!” Tô Tần lại khấu đầu. “Tội dân có ba tội đại bất kính. Thứ nhất, thân là con dân Đại Chu, mà chưa thể dốc sức cho Chu, đó là tội bất trung. Hai là hợp tung liệt quốc, cùng chế một Tần, nhưng lại chưa kịp thời bẩm báo lên bệ hạ, đó là tội tiếm việt. Ba là hẹn sáu vị quân chủ hội thề tại Mạnh Tân, nhưng lại không thể thuyết phục sáu vị quân chủ tới yết kiến bệ hạ, đó là tội phạm thượng. Tội dân mắc ba tội này, tội nào cũng không thể tha, cúi xin bệ hạ giáng tội!”

“Than ôi!” Hiển Vương thở dài một tiếng não nề, đặt chén trà xuống. “Tô Tử hãy mau đứng dậy! Thiên hạ vô trung, còn nói chi tới bất trung? Thiên hạ vô thượng, còn nói chi tới phạm thượng? Từ lâu quân chủ liệt quốc đã chẳng coi quả nhân ra gì, quả nhân sao có thể trách tội mình Tô Tử?”

“Bệ hạ...” Tô Tần chảy nước mắt.

Hiển Vương đứng dậy, dìu Tô Tần về chỗ ngồi, sau đó cũng trở về chiếu, lại nâng chén trà lên: “Quả nhân mời khanh đến, không phải để nói chuyện hợp tung, cũng không phải để nói chuyện thiên hạ, chỉ là mời khanh đến thưởng trà mà thôi. Tô Tử, mời!”

Tô Tần đưa tay áo lau nước mắt, cũng nâng chén lên: “Bệ hạ, mời!”

Hai người cùng nhấp một ngụm, rồi Hiển Vương đặt chén xuống: “Quả nhân có một chuyện muốn hỏi Tô Tử!”

“Tô Tần nếu biết sẽ không dám giấu!”

“Tô Tử hợp tung liệt quốc, từ lâu quả nhân đã được nghe chút phong thanh. Quả nhân rất muốn biết, khi Tô Tử tới nước Yên, đã từng gặp phu nhân nước Yên chăng?”

Tô Tần gật đầu: “Thần có gặp!”

“Tuyết Nhi... vẫn ổn chứ?” Hiển Vương nhổm người về phía trước, thấp thỏm hỏi.

Thiên tử không hỏi đến đại sự thiên hạ, mà chỉ quan tâm tới sự an nguy của con gái, khiến Tô Tần cảm khái muôn phần, hai mắt rơm rớm, giọng run rẩy đáp: “Phu nhân nước Yên mọi sự đều tốt đẹp!”

Hiển Vương nghe vậy, lại càng lo lắng hơn: “Tô Tử, xin hãy nói thật! Khanh đã gặp được Tuyết Nhi hay chưa?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Tô Tần lại đưa tay áo lau nước mắt. “Không có phu nhân nước Yên, cũng sẽ không có Tô Tần ngày hôm nay!”

“Sao khanh lại nói vậy?”

Tô Tần bèn chậm rãi kể lại một lượt những chuyện mình đã gặp phải khi ở nước Yên, rằng mình gặp nạn ở nước Yên ra sao, rồi gặp được phu nhân nước Yên trong hoàn cảnh nào, lại được phu nhân nước Yên dẫn đi yết kiến Yên Công ra sao, giúp mình hợp tung như thế nào... Hiển Vương nghe mà thần hồn bay bổng, xuýt xoa luôn miệng.

“Bệ hạ, hội thề lần này, phu nhân nước Yên cũng theo đến!”

“Ồ?” Hiển Vương mừng rỡ. “Tuyết Nhi có đến ư? Khanh đã gặp nó chưa?”

Tô Tần lắc đầu: “Vi thần chỉ nghe nói là phu nhân có đến. Nghe nói phu nhân nước Yên rất nhớ nhung bệ hạ, lần này đến hội thề, Yên Công phá lệ cho phu nhân đi theo, vốn định sau khi kết thúc hội thề, sẽ cùng phu nhân đến yết kiến bệ hạ, không ngờ...”

“Ồ?” Hiển Vương sắc mặt căng thẳng.

“Yên Công đột nhiên nhận được tin cấp báo của thái tử, nên phải cùng phu nhân cấp tốc quay về nước!”

“Nước Yên có việc lớn gì ư?”

“Theo vi thần được biết, là sứ thần nước Tần đến Yên cầu thân, muốn gả công chúa Tần thất cho thái tử nước Yên.”

“Ồ!” Hiển Vương thở phào một hơi dài, nâng chén trà lên. “Nào, Tô Tử, mời dùng trà!”

“Đa tạ bệ hạ!” Tô Tần nâng chén lên, nhấp một ngụm. Hiển Vương đặt chén trà xuống, chuyển sang chuyện khác: “Quả nhân ở trong thâm cung, không biết tình hình bên ngoài. Nghe nói Tô Tử là người thôn Hiên Lý, ở ngay dưới mắt quả nhân. Có thể kể về người nhà của khanh, để quả nhân được đại khai nhãn giới chăng?”

“Đa tạ bệ hạ quan tâm!” Tô Tần đứng dậy quỳ xuống đất, khấu đầu nói. “Vi thần xuất thân hèn kém, đời đời là nông nô của Đại Chu. Ba đời trước, ông nội của vi thần là Tô Văn chuyên tâm trồng trọt, canh tác hợp thời, lại thêm mưa thuận gió hoà, liên tiếp tám năm bội thu, được lý chính tiến cử mà có được cơ hội yết kiến thiên tử. Thiên tử An Vương long nhan đại hỷ, đã khen thưởng tiên tổ, tặng cho một tấm biển ngạch, thưởng một thửa ruộng tốt, xoá bỏ hộ tịch nông nô. Truyền đến đời gia phụ Tô Hổ, gia phụ tưởng nhớ đến long ân trời biển của thiên tử, cả đời cần cù nghiệp nông tang, chỉ ước mong lại được bệ hạ khen thưởng. Không ngờ trời chẳng chiều người, tuy quanh năm lao lực, mà nguyện vọng khó thành, gia phụ vì vậy mà lao nhọc thành bệnh, nằm liệt giường đã lâu ngày. Gia phụ mong vi thần dốc sức nghề nông, trùng hưng tổ nghiệp, nhưng chí của vi thần lại không ở đó, đã phụ sự kỳ vọng của gia phụ.” Nói đến đây, liên tiếp khấu đầu. “Vi thần là tôi bất trung, là con bất hiếu, vi thần đúng là loại người bất trung bất hiếu!”

Chu Hiển Vương chưa từng được nghe thấy câu chuyện trung nghĩa đến vậy về thần dân của mình, vô cùng xúc động, hồi lâu vẫn không thể thốt được nên câu.

“Bệ hạ...” Tô Tần bật khóc nức nở.

“Tô Tử mau đứng dậy!” Hiển Vương cũng đã định thần, bước lại đỡ Tô Tần dậy, quay sang nội thần. “Soạn chỉ, cả nhà họ Tô thôn Hiên Lý đời đời làm ruộng, tận trung giữ nếp nhà, dưỡng dục con trai Tô Tần thành bậc anh kiệt xuất chúng trong thiên hạ, dùng sức một người mà giúp sáu nước hợp tung, công tày nhật nguyệt. Thưởng cho nhà họ Tô năm thửa ruộng tốt, phong Tô Hổ làm đạo nhân (1), cả nhà tấn phong nam tước, khâm thử!”

“Thần tuân chỉ!”

Vì là tướng quốc sáu nước, thân phận hiển hách, lại có công tử Ngang không rời nửa bước, nên Tô Tần không thể thoát thân.

Đến tận giờ Mão hôm sau, Tô Tần mới có thể cáo từ Chu thiên tử, cùng công tử Ngang rời khỏi vương thành, đến bờ sông Y Thuỷ hội họp với đoàn người ngựa thăm thân, tiếp tục rầm rộ tiến về Hiên Lý. Đoàn người dằng dặc như con rồng dài đầu đuôi uốn lượn, trên đường cái quan vó ngựa rầm rập, bánh xe lóc cóc, bụi bốc mù trời, cờ xí sáu nước bay phấp phới trong gió.

Vương thành chỉ cách Hiên Lý chừng ba mươi dặm đường, nhưng vì theo đường cái quan, nên phải đi vòng thêm hai mươi dặm, lại phải tiêu tốn rất nhiều thời gian ở bến sông Y Thuỷ, nên khi về đến Hiên Lý, trời đã xế chiều.

Thôn ấp gần xa thảy đều chấn động, người hiếu sự từ bốn phương tám hướng đổ về bờ sông Y Thuỷ đông nghìn nghịt chẳng khác nào chợ phiên, khiến thôn Hiên Lý bị bao vây kín mít.

Trong thành Lạc Dương không ai không biết tới sự kiện trọng đại này, nhưng nhà họ Tô vẫn như ngồi trong trống. Hôm qua cả thành Lạc Dương đổ ra nghênh đón Tô Tần, mặc dù đã có người thông báo, thậm chí còn có người thề thốt lên xuống rằng mình đã tận mắt nhìn thấy tướng quốc sáu nước chính là Tô Tần, nhưng người nhà họ Tô vẫn bán tín bán nghi, đặc biệt là chị dâu của Tô Tần, nhất quyết không tin.

Có lẽ là Ngụy Huệ Vương đã quên mất lời hứa, không hề phái ngự y đến thăm bệnh cho Tô Hổ như lời công tử Ngang, nên bệnh tình của Tô Hổ mỗi lúc càng thêm trầm trọng, sáng sớm hôm nay đã bắt đầu mê sảng, cứ luôn miệng gọi “Tần Nhi”, giọng càng lúc càng thêm yếu ót, sau đó chỉ thấy mấp máy miệng mà không nghe thấy lời, lỗ mũi chỉ thấy thở ra nhiều mà hít vào rất ít. Ngay cả khi Tô Diêu thị bón nước, cũng không uống được.

Tô Lệ biết cha đã sắp lìa đời, vì muốn cha được ra đi trong cảnh đoàn viên, nên đến gần giờ Ngọ, Tô Lệ và Tô Đại đã gọi cả nhà đến, căn dặn bất cứ ai cũng không được phép ra khỏi cửa, cùng nhau quỳ cả xuống trước giường.

Trong chính đường đã bày một cỗ quan tài gỗ bách mới tinh sơn dầu trầu sáng bóng.

Sắp xếp cho Tô Hổ xong xuôi, Tô Lệ nhẹ nhàng nâng đầu ông dậy, bảo vợ vén rèm cửa lên, để cho Tô Hổ nhìn thấy cỗ quan tài. Tô Đại bước tới, đưa tay gõ cồng cộc vào quan tài, nói lớn: “Cha ơi, đây là quan tài gỗ bách, do chị hai mua đấy!”

Tô Hổ khoé mắt ứa lệ, từ từ đưa mắt nhìn sang Tiểu Hỷ, miệng khẽ mấp máy.

“Cha ơi!” Tiểu Hỷ lê lên mấy bước, gục đầu bên giường Tô Hổ.

Tô Hổ vẫn mấp máy miệng, nhưng vẫn không nói được nên lời. Ông muốn nâng cánh tay vẫn còn có thể cử động lên, nhưng không nâng nổi. Tô Diêu thị thấy vậy liền đỡ lấy tay ông, đặt lên má Tiểu Hỷ.

Tô Hổ gắng hết sức mới nhúc nhích được ngón tay, dường như muốn lau nước mắt cho Tiểu Hỷ.

Đúng vào lúc này, trong thôn bỗng ồn ào như chợ vỡ, mọi người lũ lượt đổ xô ra đầu thôn. Một lát sau, ngoài cổng nhà họ Tô vọng lại tiếng bước chân rậm rịch, có người chạy thục mạng vào hét tướng lên: “Anh Tô, anh Tô ơi! Mau, có chuyện lớn rồi!”

Nghe giọng biết ngay là Ma Cô.

Tô Đại liếc nhìn Tô Lệ. Tô Lệ khẽ hất hàm, Tô Đại vội vàng chạy ra. Vợ Tô Đại, vợ Tô Lệ đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng chạy theo. Mấy đứa trẻ cũng nhấp nhổm muốn chạy, nhưng vừa đứng dậy đã nghe Tô Lệ “hừm” mạnh một tiếng, nên lại quỳ cả xuống. Con Mực phủ phục bên cạnh Tiểu Hỷ, nằm yên bất động.

“Suỵt!” Tô Đại sợ Ma Cô làm kinh động đến Tô Hổ, vội đưa tay ra hiệu, hạ giọng hỏi. “Ma Cô, có chuyện gì vậy?”

“Trời đất ơi, cái vị tướng quốc sáu nước mà hôm qua Chu thiên tử vừa ra tận ngoài thành nghênh đón chính là cậu hai nhà anh đấy!” Ma Cô hào hứng reo toáng lên. “Mau, mau đi báo với ông anh, cả Tiểu Hỷ nữa!”

“Ma Cô nói thật chứ? Người đó chính là anh hai của cháu ư?” Tô Đại vừa kinh hãi vừa mừng rỡ, nhưng vẫn bán tín bán nghi.

“Ma Cô đã bao giờ nói dối cậu chưa?” Ma Cô trừng mắt. “Xe ngựa đã vượt qua Y Thuỷ rồi, toàn bộ Y Lý đều chấn động, mọi người trong vòng mười dặm đều ra nghênh đón cả rồi, chỉ còn mỗi nhà cậu là vẫn ở lì trong cửa thôi!”

Vợ Tô Lệ đang cài trâm lên tóc, vừa nghe nói vậy, trợn mắt sững sờ, cây trâm trong tay rơi thẳng xuống đất. Vợ Tô Đại vội chạy vào nhà, quỳ xuống đất, mừng rỡ reo lên: “Anh cả, mau... mau nói với cha, anh hai đã trở về! Anh hai đã làm quan lớn rồi, là tướng quốc sáu nước, xe ngựa đã đến bên bờ Y Thuỷ, chỉ lát nữa thôi sẽ về đến nhà. Là Ma Cô nói!”

Tô Lệ nghi hoặc nhìn vợ Tô Đại, đang định lên tiếng thì Ma Cô đã chạy xộc vào, nhưng thấy tình cảnh trong nhà, lời ra đến miệng lại vội vàng nuốt xuống, rồi thoăn thoắt đi tới trước mặt Tô Hổ, cúi xuống ghé sát tai ông thì thào: “Anh Tô ơi, là tôi, là em gái Ma Cô đến thăm anh đây! Tôi báo cho ông anh một tin mừng, một tin đại đại hỷ đây, cậu con thứ của ông anh đã trở về rồi! Thật không thể tưởng tượng nổi, cậu ấy đã hiển hách thật rồi, là tướng quốc của sáu nước kia đấy! Nghe người ta nói, trước ngực cậu ấy đeo sáu cái ấn vàng, sáu vị quân chủ cung cúc bám theo sau chân cậu ấy. Hôm qua cậu ấy đã trở về, Chu thiên tử hay tin cậu ấy về quê, đã khởi giá ra ngoài thành mười dặm nghênh đón, dẫn theo cả đội nghi trượng ngũ sắc, toàn thành Lạc Dương đều đổ xô đến xem. Chu thiên tử đón được cậu hai, đã mời cậu hai cùng lên vương xa trở về vương cung! Ông anh ơi, lần này coi như anh đã được mãn nguyện rồi!”

Tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tô Hổ.

Tô Diêu thị không thốt được một lời, Tiểu Hỷ cho rằng Ma Cô biết Tô Hổ nhớ thương Tô Tần, nên muốn an ủi ông trước lúc lâm chung, thì nghẹn ngào nức nở, càng khóc thảm thiết hơn nữa.

Tô Hổ nhắm mắt lại, trong cổ họng ấm ớ một tiếng, nhưng chẳng ai nghe ra ông đang nói gì. Song nhìn nét mặt, hiển nhiên là không tin.

Ma Cô sốt ruột, đang định nghĩ cách khác để giải thích, bỗng nghe ngoài cổng rộn lên tiếng vó ngựa dồn dập. Vài kỵ sĩ trong cung đã đến trước một bước, do quan tư nông dẫn đường, dừng ngựa trước cổng. Người dẫn đầu là nội thần của Chu thất.

Nội thần bước vào trong sân, rút thánh chỉ ra, lớn giọng tuyên bố: “Thiên tử Đại Chu có chỉ, con dân Đại Chu Tô Hổ nghe chỉ!”

Mãi đến lúc này, mọi người mới dám tin tất cả những điều Ma Cô vừa nói đều là sự thật, nhưng lại không biết phải tiếp chỉ như thế nào, cả nhà đều như ngây thôn, gồm cả Ma Cô, cứ đứng như trời trồng một hồi lâu, sau đó mới theo nhau quỳ phịch xuống sân như thân chuối đổ.

Nội thần liếc mắt một vòng, nhìn thấy giữa chính đường bày một cỗ quan tài, lập tức hiểu rõ sự tình, bèn cao giọng tuyên chỉ: “Con dân Tô Hổ thôn Hiên Lý nghe chỉ! Cả nhà họ Tô đời đời làm ruộng, tận trung giữ nếp nhà, dưỡng dục con trai Tô Tần thành bậc anh kiệt xuất chúng trong thiên hạ, dùng sức một người mà giúp sáu nước hợp tung, công tày nhật nguyệt. Thưởng cho nhà họ Tô năm thửa ruộng tốt, phong Tô Hổ làm đạo nhân, cả nhà tấn phong nam tước, khâm thử!”

Không ai nói được lời nào, chỉ ngơ ngác nhìn nhau.

Tư nông vội giục: “Kìa, các người còn đứng ngẩn ra đấy? Còn không mau tiếp chỉ tạ ân?”

Lúc này mọi người mới hoàn hồn, dập đầu bình bịch. Tư nông lại nói: “Trong số các người, ai là gia chủ?”

Tô Lệ khấu đầu: “Thảo dân Tô... Tô Lệ...!”

Tư nông bước tới, đỡ Tô Lệ đứng dậy, cười lớn mà nói: “Tô đại nhân, bệ hạ đã ban chỉ tấn tước, bắt đầu từ hôm nay, cả nhà họ Tô đã không còn là thảo dân nữa!” Rồi nhận lấy tờ thánh chỉ từ trong tay nội thần, sau đó lại rút ra một tờ khế đất từ trong tay áo mình. “Đây là chiếu thư của thiên tử, mọi người hãy treo ở minh đường, truyền vinh quang cho con cháu. Đây là khế đất của năm thửa ruộng, đại nhân hãy cất cho kỹ! Tướng quốc đại nhân của sáu nước chỉ lát nữa sẽ tới nơi, hãy mau ra đầu thôn nghênh đón!”

Tô Lệ hai tay lẩy bẩy, nhận lấy tờ thánh chỉ và khế đất, ngẩn ngơ mất một lúc rồi mới quay trở vào trong nhà, xúc động nghẹn ngào quỳ xuống trước giường Tô Hổ, giọng run lên ngắt quãng: “Cha ơi, là... là thật đấy, em hai đã thành... thành danh rồi! Bệ hạ giáng chỉ, tấn phong cha làm đạo nhân, thưởng cho năm thửa ruộng tốt! Cha ơi, giờ cha cũng giống như tư nông đại nhân, cùng là đại phu rồi!”

Tô Hổ vẫn nằm bất động, hai mắt nhắm nghiền, nhưng khoé miệng kéo thành một nụ cười, nước mắt ứa thành dòng trên mặt.

“Cha ơi, mau xem này, đây là thánh chỉ, đây là khế đất của năm thửa ruộng!”

Tô Hổ vẫn nằm bất động.

Tô Lệ đang định gọi tiếp, thì Tô Diêu thị đã cất giọng khản đặc ngăn lại: “Đừng gọi nữa, ông ấy không nghe thấy nữa rồi!

Tiểu Hỷ đưa tay đặt trước mũi Tô Hổ, rồi kêu lên thảm thiết: “Cha ơi...”

Tô Lệ kinh hãi, nhìn kỹ lại Tô Hổ, thấy ông đã tắt thở.

“Cha ơi! Cha ơi!” Tô Lệ hai tay bủn rủn, thánh chỉ và khế đất rơi thẳng xuống bên chân Tô Diêu thị.

Tô Diêu thị chậm chạp khom lưng xuống, đưa tay nhặt tờ thánh chỉ và khế đất lên, phủ trên mặt Tô Hổ.

Trong sân không một bóng người.

Tiếng huyên náo bên ngoài mỗi lúc một gần, mọi người đều đã ra cả đầu thôn để cung nghênh tướng quốc sáu nước.

Tô Tần trở về thôn Hiên Lý trong cái nhảy chồm cuống quýt của con chó Mực.

Vừa đặt chân lên bờ Y Thuỷ, xe ngựa của Tô Tần đã bị đám người đến xem vây chặt. So với trận thế long trọng khi Chu thiên tử ra tận ngoài thành nghênh đón hôm qua, hôm nay không khí càng thêm rộn ràng náo nhiệt, càng thêm rối loạn, vì lúc này không có nghi thức, chỉ có tình thân. Hơn nữa, những người đến đón hai bên đường phần lớn đều là hàng xóm xa láng giềng gần đã từng chứng kiến Tô Tần khôn lớn.

Tô Tần nhảy xuống xe, sánh vai với công tử Ngang dẫn đầu đội ngũ thăm thân. Tô Tần vòng hai tay, suốt dọc đường vừa đi vừa vái, trên mặt đeo một nụ cười cứng nhắc.

Những người dân quê Đại Chu từ bốn phương tám hướng lũ lượt đổ về, xếp hàng dài dặc từ thôn Hiên Lý cho đến tận bên bờ Y Thuỷ, chen vai thích cánh hai bên con đường đất rộng chưa đầy năm thước. Tất cả mọi người đều vô cùng phấn khởi, tất cả mọi ánh mắt đều nhìn chằm chằm vào Tô Tần. Những người ở gần chen nhau cố tiến sát lại bên đường để mong tận mắt nhìn thấy phong thái của tướng quốc sáu nước. Những người ở xa thì vừa chờ đợi, vừa mồm năm miệng mười bàn tán rộn ràng:

“Cha chả, ta đã già đến mấy kiếp rồi mà chưa, bao giờ được nhìn thấy cảnh tượng này!”

“Trời ơi, chẳng khác nào thiên tử đi tuần!”

“Thiên tử cũng đâu có được phong thái đó? Nghe nói giờ còn bỏ bê chẳng buồn lên triều! Khí thế như ngày hôm qua, đã nhìn thấy bao giờ chưa?”

“Ai nói là thiên tử ngày nay? Ý ta nói là Mục thiên tử hồi xưa ấy! Tiểu tử, nhà ngươi đã bao giờ nghe nói đến Mục thiên tử hay chưa? Khi Mục thiên tử đi tuần, khí thế đó, uy phong đó, hổ dữ có gặp cũng phải quỳ lạy nữa là!”

“Được rồi được rồi, không cãi với ông nữa! Ông biết không, tôi từ nhỏ đã chơi với Tô đại nhân rất thân, thường cùng nhau chơi trò nặn bùn! Hồi đó, đại nhân không bao giờ chịu nói gì, chẳng khác nào người câm, ông có biết tại sao không? Vì Tô đại nhân có tật nói lắp!”

“Chà chà, thật không ngờ một kẻ nói lắp lại được phong quang nhường này!”

“Với con mắt của ngươi, cho dù thánh nhân có đứng trước mặt cũng chẳng nhận được ra! Không phải nói khoác, ngay từ đầu ta đã biết Tô đại nhân sẽ làm nên nghiệp lớn!”

“Nói khoác!”

“Ai nói khoác kẻ đó không phải là người! Năm đó trên phố lớn ở vương thành, có một ông lão mày trắng xem một quẻ cho Tô đại nhân, nói rằng Tô đại nhân sẽ quý đến hàng khanh tướng, thế mà chẳng ai chịu tin, chỉ có mình ta tin!”

“Ngươi dựa vào cái gì mà tin?”

“Dựa vào cái tật nói lắp!”

“Suỵt, mau câm miệng, Tô đại nhân đến rồi!”

...

Nhìn cảnh tượng tưng bừng náo nhiệt, rừng người nghìn nghịt, tiếng người như sóng, Tô Tần bất giác nhớ lại cảnh ngộ của mình mấy năm về trước, cũng trên chính mảnh đất này, chợt thấy da đầu tê rần rần, không hề cảm thấy niềm xúc động hay hoan hỷ khi được áo gấm về quê. Lại là công tử Ngang đang đi bên cạnh Tô Tần cảm động trước cảnh tượng này, vẫy tay liền hồi, phấn khích cứ như chính hắn mới là kẻ vinh quy.

Đúng lúc Tô Tần đang trong cơn đờ đẫn, bỗng một bóng đen thình lình lao vụt ra khỏi đám đông, phi như tên bắn trên con đường chỉ rộng chừng vài thước lọt thỏm giữa biển người, rồi phóng thẳng vào Tô Tần với một tốc độ chóng mặt.

Tất cả mọi người đều thất kinh, công tử Ngang lại càng nhảy dựng lên kinh hãi, sắc mặt tái nhợt, vì bóng đen lao tới quá ư thần tốc, quá ư bất ngờ, thậm chí ngay cả Trâu Phi Đao theo sát sau lưng Tô Tần cũng không kịp phản ứng.

Là con Mực!

Người đầu tiên kịp định thần chính là Tô Tần.

“Mực!” Tô Tần mừng rỡ, khẽ gọi một tiếng, khom lưng xuống ôm lấy con chó. Con Mực sủa rối rít, hết cọ người lại liếm chân Tô Tần.

Tô Tần ôm chặt con Mực vào lòng, áp mặt vào đầu nó, nước mắt ứa ra, hai tay vuốt ve liên hồi trên bộ lông con vật: “Mực ơi, Mực...”

Đến lượt đám đông sững sờ, kinh ngạc nhìn một người một chó, dường như không tin vào mắt mình.

Sau một hồi mừng rú, con Mực giãy người nhảy ra khỏi lòng Tô Tần, há miệng cắn chặt lấy ống tay áo rộng của hắn, vừa kêu ư ử, vừa ra sức kéo đi. Thấy bộ dạng cuống quýt của nó, Tô Tần trong tim thắt lại, chẳng còn tâm trí đâu để ý đến đội ngũ đón tiếp và lễ nghi xuất hành, lập tức sải dài bước chân, quýnh quáng đi theo con chó.

Tất cả mọi người đều đang ngơ ngác. Không còn ai hò reo nữa, Tô Tần cũng chẳng còn vái chào ai, chỉ gắng sức bước đi thật nhanh, càng đi càng vội, bám sát theo con Mực. Con Mực càng chạy càng nhanh, rồi Tô Tần cũng chạy thục mạng theo sau nó.

Một người một vật chạy điên cuồng một mạch về đến nhà, còn chưa bước qua cánh cổng, đã nghe thấy tiếng khóc thảm thiết của Tiểu Hỷ và anh cả Tô Lệ vọng ra từ chính đường.

Tô Tần lao thẳng vào cửa chính đường, chết sững.

Hai tay Tô Tần bám vào khung cửa, hai chân nặng tựa ngàn cân, hai bàn chân giống như bị đóng đinh xuống đất.

Con Mực phủ phục dưới chân Tô Tần, liếm vào bàn tay hắn đang run lên bần bật.

Không biết bao lâu sau, Tô Tần mới thoát khỏi cơn ngây dại, người đổ về phía trước, hai gối khuỵu xuống, quỳ sụn xuống đất, từ cổ họng bật ra hai tiếng khản đặc, méo mó: “Cha ơi...”

Trong chớp mắt, nhà họ Tô đã từ đại hỷ chuyển sang đại bi. Đám Tô Đại, vợ Tô Lệ, vợ Tô Đại và bọn trẻ con chạy về ngay sau đó cũng đã hiểu ra sự thể, đều quỳ xuống giữa nhà khóc than thảm thiết. Đặc biệt là vợ Tô Lệ, gào khóc lớn tiếng đến nỗi con Mực chết khiếp, cụp đuôi len lét lủi ra một góc sân. Những người vốn đến để chúc mừng, bao gồm cả đại phu Chu thất, đoàn người tung thân đi theo Tô Tần, đều lúng túng trước biến cố này, cứ đứng ngẩn ra tại chỗ.

Trong sân ngoài sân, người đông nghìn nghịt, song không có lấy một tiếng xì xầm.

Người định thần lại đầu tiên chính là công tử Ngang.

Hắn ngoài mặt đau buồn, nhưng trong lòng mừng húm, lớn tiếng căn dặn thuộc hạ: “Mau, truyền nhạc công, tấu nhạc tang!”

Đội nhạc đi theo đoàn vinh quy lập tức chạy đến, nhạc hỷ lập tức chuyển thành nhạc tang, dư âm nỉ non thê thiết vang khắp thôn Hiên Lý, thoáng chốc đã át hết những tiếng khóc gào của già trẻ lớn bé trong nhà họ Tô.

Trong tiếng nhạc tang thảm thiết, công tử Ngang sắp xếp tang lễ đâu ra đấy. Do Tô Hổ đã được phong làm đạo nhân, dù tước vị không cao, nhưng cũng là một đại phu, công tử Ngang ngẫm nghĩ chốc lát, rồi căn dặn chuẩn bị tang phục đồ lễ cho Tô Hổ theo quy cách của quan đại phu.

Mấy ngày sau đó, công tử Ngang tỏ ra nhiệt thành chưa từng có, rất mực tận tụy, hò hét luôn miệng, bận rộn luôn tay luôn chân lo toan hậu sự cho lão gia nhà họ Tô.

Chu thất suy vi đã nhiều năm, đừng nói là bách tính tầm thường, cho dù là nhà sĩ đại phu có đại tang, cũng chẳng còn lễ nghi chu toàn như thuở trước. Vì vậy, quan chức táng chuyên lo tang sự cho sĩ đại phu chẳng còn lại mấy người, hầu hết nhàn tản chẳng có việc gì làm. Công tử Ngang dò hỏi tìm được một vị chức táng giàu kinh nghiệm ở ấp Hà Nam đất Tây Chu, lập tức mời ông ta đến tận nơi, căn dặn phải tổ chức tang lễ theo đúng quy chế nghiêm ngặt của Đại Chu. Quy chế Đại Chu vốn hết sức rườm rà phức tạp, từ bài trí linh đường, tang phục, đồ tuỳ táng, phương vị mộ thất, lễ nghi chủ khách... đều vô cùng tỉ mỉ kỹ càng, thậm chí lúc nào khóc, khóc như thế nào, tiếng khóc lớn nhỏ ra sao cũng có quy tắc. Công tử Ngang cũng thay đổi luôn thói quen không thích đọc sách trước đây, phái người đi tìm cuốn “Nghi lễ” do Khổng Khâu nước Lỗ biên soạn, nghiên cứu thật kỹ càng, cứ như lo sợ viên chức táng không làm tròn trách nhiệm.

Dưới sự đôn đốc của công tử Ngang, cả vùng Y Lý ồn ã tiếng người, trong làng ngoài xóm đâu đâu cũng thấy những bóng người mặc tang phục, tiếng nhạc tang thảm thiết, tiếng khóc than bi thương không dứt bên tai, ngựa xe đến phúng viếng lại càng liên miên bất tuyệt. Mấy anh em nhà họ Tô chẳng khác nào con rối, mặc kệ cho đám lễ quan chức táng đặt đâu ngồi đấy.

Chỉ một đêm mà thành phú quý, cả nhà họ Tô dường như chưa thể thích ứng kịp, đặc biệt là hai chị em dâu là vợ Tô Lệ và vợ Tô Đại.

Tang lễ đã sang ngày thứ bảy. Đến lúc quá trưa, vợ Tô Lệ đã quỳ trong linh đường hơn nửa ngày trời bắt đầu nóng ruột, khẽ huých khuỷu tay vào vợ Tô Đại, hất hàm về phía nhà xí ở bên ngoài.

Vợ Tô Đại gật đầu, rồi cùng chị ta đi ra.

Xong việc, vợ Tô Lệ không vội vã trở vào, mà nhòm ngang ngó dọc một lúc, rồi dẩu mỏ về phía khu nhà nhỏ của Tiểu Hỷ. Suốt mấy ngày nay, toàn bộ lễ vật đáng giá đều cất cả trong đó.

Khu nhà của Tiểu Hỷ không lớn, trong ngoài chỉ có mấy gian, hai bên cổng mỗi bên một tên lính cầm mác đứng canh, thấy hai người bước lại, lập tức xoay ngang cây mác chặn đường. Hai chị em dâu đang định bỏ đi, thì vị quân uý kiểm nhận lễ vật vừa hay bước tới, nhận ra hai người, liền khom lưng vái chào: “Hạ quan xin chào hai vị phu nhân!”

Vợ Tô Lệ lặng người mất một lúc, mới hạ giọng dè dặt hỏi: “Có thể vào xem được không?”

Quân uý chìa tay nói: “Hai vị phu nhân, mời!”

Hai chị em dâu đi theo quân uý vào trong. Vừa bước qua cửa phòng, cả hai đã ngây người chết sững. Gấm lụa, đồ dùng, lễ vật đủ loại la liệt khắp nơi, thứ nào trông cũng vô cùng lạ mắt, chất đầy cả mấy gian phòng, ở sát tường đặt ba chiếc rương lớn đỏ rực, không đậy nắp, bên trong đầy ắp vàng bạc châu báu. Có ba người quỳ ở trước rương, hai người đếm, một người ghi chép.

Hai chị em dâu ngay cả trong mơ cũng chưa bao giờ được thấy nhiều thứ quý báu nhường này, cứ đứng chết trân hồi lâu mới hoàn hồn lại được. Vợ Tô Đại không dám nhìn tiếp nữa, khẽ giật tay áo vợ Tô Lệ.

Hai chị em dâu quay trở ra sân, đứng dưới gốc cây xuân.

“Chị dâu, nhiều châu báu như vậy, chẳng lẽ đều là của nhà chúng ta cả ư?” Vợ Tô Đại khẽ hỏi.

Vợ Tô Lệ không đáp, chỉ đứng thở hổn hển một hồi, rồi đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, vội hỏi: “Này em dâu, sao không thấy tướng gia đâu?”

“Tướng gia?” Vợ Tô Đại ngẩn người. “Tướng gia nào?”

Vợ Tô Lệ liếc xéo cô ta một cái: “Em dâu ngốc quá, chính là chú hai chứ ai, đại quý nhân của nhà chúng ta!”

“Chị nói anh hai ư?” Vợ Tô Đại bật cười. “Hình như lúc nãy công tử mời anh hai đến doanh trại rồi, nói là đi bàn việc!”

“Bàn việc gì?”

“Sao em biết được?”

“Này em dâu, đi, cùng chị xuống bếp!”

“Giờ mới là nửa chiều, xuống bếp làm gì?” Vợ Tô Đại ngơ ngác nhìn cô ta.

“Bảo em đi thì cứ đi, hỏi nhiều làm gì?” Vợ Tô Lệ không nói không rằng, kéo phăng vợ Tô Đại xuống bếp, nấu một nồi canh rượu nóng hổi.

Vợ Tô Lệ múc ra một bát, đặt lên chiếc khay đen tươm tất nhất trong nhà.

“Em dâu, mau bưng lấy, cùng đi với chị!”

“Đi đâu?”

“Đến đại trướng của tướng gia, kính tướng gia uống!”

“Chị dâu, anh hai chẳng thiếu những thứ này đâu! Nghe nói có rất nhiều người chuyên nấu cơm cho anh hai!”

“Họ nấu phần họ. Chuyện nào ra chuyện đấy. Mùa đông năm xưa, tướng gia bụng đói trở về nhà, vốn dĩ muốn uống một bát canh nóng, lúc đó chị thật chẳng có mắt, không chịu nấu cho tướng gia, thật thất lễ. Lần này phải bù đắp lại mới được, nếu không, ngày sau chị còn mặt mũi nào nhìn tướng gia nữa?”

“Em không dám, chị và chị hai đi đi!”

“Không được!” Vợ Tô Đại lắc đầu quầy quậy. “Hai người đó giống như nước với dầu trong chảo, chỉ cần đốt lửa là nổ tung toé. Hơn nữa, việc này là do chị gây ra, chẳng liên quan gì đến em hai hết. Đi nào, chị xin em đấy!”

“Em không dám đi!” Vợ Tô Đại lùi lại mấy bước.

“Ôi!” Vợ Tô Lệ rớt nước mắt. “Em không đi thì thôi vậy! Ai nợ thì người đó phải trả, ai bảo chị có mắt không tròng!”

Vợ Tô Lệ bưng khay lên, đi thẳng về phía bắc thôn.

Mùa thu năm ngoái, một trận mưa lớn đã đánh sập căn lều cỏ mà năm xưa Tô Tần đã cầm dùi đâm vào đùi mà ngộ đạo. Để tưởng nhớ nơi này, Tô Tần đã cho dựng đại trại ở ngay chỗ cũ. Ngoài những lúc canh linh cữu cho cha, Tô Tần đều ở trong trại này.

Vệ sĩ vào bẩm báo, Tô Tần nghe nói là chị dâu đến, liền bảo Trâu Phi Đao ra đưa vào. Vợ Tô Lệ tay bưng khay đi vào trong trại, khuỵu hai gối quỳ xuống, rồi lê đến trước mặt Tô Tần, nâng khay ngang mày.

Tô Tần ngạc nhiên hỏi: “Chị dâu, thế này là thế nào?”

Vợ Tô Lệ khẽ giọng đáp: “Gió bắc đã nổi, trời đang trở lạnh, nô tỳ nấu cho tướng gia một bát canh nóng, mời tướng gia dùng cho ấm bụng!”

Công tử Ngang vô cùng kinh ngạc, mắt nhìn sững vào vợ Tô Lệ, chốc sau lại quay sang nhìn Tô Tần.

“Nô tỳ kính mời tướng gia dùng chút canh nóng!” Vợ Tô Lệ lại lên tiếng.

Tô Tần cười gượng một tiếng, than rằng: “Đại lễ của chị dâu, Tần thực không dám nhận!”

“Cầu xin tướng gia!” Vợ Tô Lệ giọng nghẹn ngào. “Xin tướng gia hãy dùng canh!”

Tô Tần không biết làm sao, đành phải đứng dậy, đưa hai tay nhận lấy chiếc khay, đặt lên mặt bàn.

Vợ Tô Lệ trống được hai tay, liền phủ phục sát đất, khấu đầu nói: “Nô tỳ đa tạ tướng gia đã không trách tội! Bát canh này là tự tay nô tỳ nấu, mời tướng gia hãy dùng!”

Tô Tần liếc qua bát canh đặt trên bàn: “Phải chăng chị dâu vì chuyện năm xưa không chịu nấu cơm?”

Vợ Tô Lệ lại dập đầu sát đất: “Là nô tỳ có mắt không tròng, không nhận ra tướng gia. Nếu giờ tướng gia không nhận, thì... nô tỳ... nô tỳ...” Nói rồi sụt sịt khóc.

“Tần từ lâu đã quên chuyện đó rồi, cũng chưa bao giờ trách cứ chị dâu, chị dâu lại cung kính thế này, là vì sao?”

“Tướng gia quyền cao chức trọng, nô tỳ không dám không cung kính. Nô tỳ kính mời tướng gia dùng canh!” Vợ Tô Lệ vừa nói vừa khấu đầu.

Công tử Ngang không hiểu rõ nguyên nhân, nhìn mà sốt ruột: “Tô Tử, mau uống đi, dù sao cũng không thể để đại tẩu khấu đầu mãi như vậy được!”

Tô Tần bưng bát canh lên, nếm một chút, thấy không còn quá nóng, liền uống một hơi hết sạch, rồi nói: “Đa tạ canh nóng của chị dâu!”

Vợ Tô Lệ đặt chiếc bát không lên khay, lại dập đầu ba cái tạ ân, sau đó hoan hỷ đi ra khỏi đại trại. Nhìn theo chị dâu, Tô Tần chau tít đôi mày, bật ra một tiếng thở dài.

“Tô Tử, hai người đang diễn trò gì vậy, tại hạ càng xem càng thấy mơ hồ!” Công tử Ngang tò mò hỏi.

Tô Tần chậm rãi kể lại chuyện năm xưa đi du thuyết Tần thất bại, thân tàn ma dại về nhà, cuối cùng than thở: “Than ôi, thói đời lúc nóng lúc lạnh, tình người chạy theo thế lợi. ‘Lúc nghèo hèn tình thân lạnh ngắt, phú quý rồi bám chặt như ma!’”

Công tử Ngang cũng than thở một hồi, rồi đáp: “Tô Tử nay đã có được phú quý, người thân cũng nên được thơm lây. Tại hạ thấy mấy hôm nay có chút lễ vật, hay là Tô Tử hãy lấy ra một ít, phân phát cho bà con chòm xóm?”

“Xin nghe theo lời công tử!” Tô Tần vòng tay đáp, rồi quay sang Trâu Phi Đao. “Bà con làng xóm đã nhiều đời phải chịu nỗi khổ không có ruộng cày, huynh hãy chuẩn bị tiền bạc, góp cùng phần thưởng của quân chủ liệt quốc, mang cả đi mua đất. Người trong thôn Hiên Lý, phàm những ai không có ruộng, mỗi hộ tặng cho nửa thửa. Ba thôn Y Lý quanh đây, phàm những ai không có đất, mỗi hộ tặng cho mười mẫu. Số tiền của còn lại, giữ lại một ít phòng xa, còn lại đều mang ra cứu tế, khiến con dân Đại Chu người già được phụng dưỡng, trẻ nhỏ được nuôi nấng, kẻ đói được ăn no, kẻ rét có áo mặc, kẻ lang thang có chốn ở!”

“Xin tuân lệnh!”

“Tốt lắm!” Công tử Ngang lớn giọng tiếp lời. “Tại hạ cũng quyên góp ba mươi lượng vàng, tạm thể hiện chút thành ý!”

“Đa tạ công tử!” Tô Tần ôm quyền vái công tử Ngang.

“Còn nữa!” Công tử Ngang cũng ôm quyền đáp lễ. “Trước lúc lên đường, bệ hạ đã ban cho tại hạ ba trăm lượng vàng, hạ chỉ cho tại hạ giúp Tô Tử lập từ đường gia miếu, tại hạ cũng đang định đem chuyện này bàn với Tô Tử.”

Cho dù đã có dự đoán trước, nhưng Tô Tần vẫn cảm thấy một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng, bất giác rùng mình. Rõ ràng, Ngụy Huệ Vương làm vậy chỉ có một mục đích, đó là để công tử Ngang có cớ giữ chân Tô Tần ở đây, hoàn toàn cách ly Tô Tần khỏi việc phạt Tần.

“Ngoài việc này ra, Tô Tử còn có yêu cầu gì khác?” Công tử Ngang liếc xéo Tô Tần, nghiêng người hỏi.

“Đa tạ đại ân của bệ hạ!” Tô Tần khẽ ôm quyền, cười gượng mà đáp. “Nếu như công tử không phiên lòng, tại hạ có một cầu xin!”

“Tô Tử cứ nói!”

“Phiền công tử lập một ngôi miếu nhỏ cho cầm sư.”

“Cầm sư? Phải chăng là thiên hạ đệ nhất cầm mà khi ở Tắc Hạ, Tô Tử đã từng nhắc đến?”

“Lão tiên sinh hiện an táng ở nơi nào?” Công tử Ngang hào hứng thấy rõ.

“Đợi an táng tiên phụ xong xuôi, tại hạ sẽ dẫn công tử đến đó!”

Mục lục