Chương 5: Chương Hồi Thứ 31
Luận phá thiên cơ, Tô Tần chuốc họa
Hoàn hương tay trắng, chị dâu rẻ khinh
Tô Tần tới Hàm Dương vào đầu đông, chớp mắt đã qua hai tháng. Hiện tại sắp sang năm mới, cung Tần vẫn không thấy hồi âm. Đừng nói là Tô Tần, ngay cả Trúc Viễn cũng đứng ngồi không yên.
Sáng sớm hôm nay, Trúc Viễn dặn thuộc hạ chuẩn bị xe ngựa tốt, ra khỏi cổng đông thành Hàm Dương, đánh xe về phía đông nam đến núi Chung Nam. Gần trưa, Trúc Viễn đến chân núi, tìm một quán trọ gửi lại xe ngựa, chọn lấy một con ngựa khoẻ, thắng yên cương, tung mình nhảy lên, theo đường núi mà đi. Do núi cao giá rét, tuyết phủ đầy đường, nên hành trình rất đỗi gian nan. Đến chập tối ngày thứ ba, Trúc Viễn mới về tới Hàn Tuyền.
Hành lễ với Hàn Tuyền Tử xong xuôi, Trúc Viễn bèn kể sơ qua tình hình Tô Tần tới Tần và tài trí của Tô Tần, giọng điệu không giấu nổi lo lắng: “Bẩm tiên sinh, theo lý mà nói, Tô Tử chính là hiền tài mà Tần Công đang tìm kiếm, nhưng Tần Công tới tận hôm nay vẫn chần chừ chưa chịu triệu kiến, đệ tử nghĩ mãi mà không hiểu!”
Hàn Tuyền Tử ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng đầu lên hỏi: “Tô Tần có bàn luận chính sự?”
Trúc Viễn gật đầu.
“Tô Tần luận thế nào?”
“Tô Tử vừa tới Hàm Dương, Xá Nhân đã nhận ra đây không phải người tầm thường, bèn kể lại cho đệ tử nghe, đệ tử bèn cho Tô Tử ngay hôm sau khai đàn luận chính. Trong luận đàn, Tô Tử quả nhiên kiến giải phi phàm, đứng cao nhìn xa, bao quát thiên hạ, chỉ ra đại thế của thiên hạ là nhất thống, liệt quốc tất yếu sẽ quy về Tần, và còn nói rằng, Tô Tử đã có ba kế sách thượng, trung, hạ để phò tá Tần.”
“Ồ?” Hàn Tuyền Tử khẽ chau mày. “Là ba kế sách gì?”
“Thượng sách, còn gọi là đế sách, có thể khiến nước Tần đứng ở ngôi một mà bình định liệt quốc. Trung sách, còn gọi là bá sách, có thể khiến nước Tần uy phục thiên hạ, thống lãnh chư hầu. Hạ sách, còn gọi là bang sách, có thể khiến nước Tần yên ổn ở Quan Trung, dân chúng an cư lạc nghiệp, quân chủ kê cao gối ngủ.”
“Than ôi!” Hàn Tuyền Tử khẽ thở dài. “Tô Tần kia đúng là thông minh thái quá!”
Trúc Viễn lộ vẻ ngạc nhiên: “Tiên sinh?”
Hàn Tuyền Tử chậm rãi nói: “Chó cắn người thường không sủa, chó sủa thường không cắn người. Liệt quốc thiên hạ đua nhau xưng vương, đa phần chỉ là trên danh nghĩa. Còn người thực sự muốn thống trị thiên hạ, duy có Tần Công!”
“Ý tiên sinh là...” Trúc Viễn bỗng như bừng tỉnh, “Tô Tử không nên nói lộ ra suy nghĩ trong lòng Tần Công?”
Hàn Tuyền Tử lại khẽ thở dài: “Đúng vậy! Đừng nói là Tô Tần, dù là lão hủ, cũng chỉ có thể ám chỉ mà thôi. Trong suy nghĩ của Tần Công, nhất thống thiên hạ là sách lược lâu dài, chỉ có thể làm, không thể nói!”
Trúc Viễn cắn chặt môi, hồi lâu mới nói: “Là đệ tử đã hại Tô Tử rồi! Nếu không để Tô Tử khai đàn luận chính, sẽ không có sự thể này!”
Hàn Tuyền Tử khép mắt ngưng thần, lại chìm trong suy nghĩ, hồi lâu sau mới mở mắt mà nói: “Tất cả đều đã an bài, là Tần không có được Tô Tử!”
Trúc Viễn lộ vẻ sốt ruột: “Đệ tử vất vả suốt mấy năm trời, chỉ là để tìm kiếm đại tài cho Tần Công. Khó khăn lắm mới tìm được Tô Tử, nếu là như vậy...” ngẫm nghĩ một hồi, bèn nói, “đệ tử sẽ lại tiến cử lên Tần Công, để Tần Công giữ Tô Tử lại!”
Hàn Tuyền Tử cười buồn một tiếng, khẽ lắc đầu nói: “Tu Trường, đã là an bài, hà tất phải miễn cưỡng?”
Trúc Viễn kinh ngạc đứng ngây tại chỗ.
“Còn nữa, sau khi quay về, con hãy giục Tô Tần mau chóng rời khỏi Hàm Dương. Nếu không, không chừng còn rước phải họa sát thân!”
Trúc Viễn trợn mắt kinh hãi.
Huệ Văn Công ngồi trong thư phòng, mắt khép lim dim, nội thần cúi đầu đứng hầu bên cạnh.
Hồi lâu, Huệ Văn Công mới bật ra một câu: “Mấy ngày nay, Tô Tần kia làm những chuyện gì?”
“Khởi bẩm chúa thượng,” nội thần trả lời, “lúc thì đọc sách, lúc thì tản bộ trên phố. Có điều, cách đây mười ngày, Tô Tần có ra khỏi thành hai lần.”
“Ồ?” Huệ Văn Công mở to mắt. “Đi đâu?”
“Theo tin báo của Hắc Điêu đài, người này hoặc là ra đồng ruộng, hoặc là vào thôn xóm, cùng người dân trò chuyện trên trời dưới bể, hỏi han những việc như thu hoạch, nộp lương, binh dịch, không có hành vi gì quá đáng. Thần cho rằng đó chỉ là chuyện vụn vặt, nên đã không kinh động tới chúa thượng.”
“Than ôi!” Huệ Văn Công ngẫm nghĩ một lát, gật đầu than thở. “Người này đúng là đại tài, có lẽ quả nhân nên gặp hắn!” Lại im lặng hồi lâu. “Truyền đại lương tạo yết kiến!”
“Thần lĩnh chỉ!”
Chưa đầy nửa canh giờ sau, Công Tôn Diễn đã tới.
Hành lễ xong xuôi, quân thần ngồi đối diện nhau, Huệ Văn Công đi thẳng vào việc chính, cười mà nói: “Lần trước ái khanh và thượng đại phu ra sức tiến cử Tô Tần, quả nhân cũng định gặp mặt hắn xem sao, không ngờ bận rộn tối ngày mà quên bẵng mất. Vừa nãy quả nhân ngủ gật, đột nhiên sực nhớ ra, sợ rằng lại quên như lần trước, mới vội cho mời ái khanh tới!”
Công Tôn Diễn trong lòng hồi hộp, không biết nên nói thế nào cho phải. Mấy năm qua, Công Tôn Diễn đã hiểu rõ Tần Công, cũng rất khâm phục Tần Công. Tuy nhiên, Bàng Quyên, Tôn Tẫn thình lình xuất hiện, tình thế liệt quốc mỗi năm một biến động, ba năm một đại biến, rối ren hỗn loạn, nhìn mà hoa mắt, chẳng khác nào ngắm hoa trong sương. Rất nhiều sự biến, đến tài trí như Công Tôn Diễn cũng không thể nhìn cho thấu đáo. Tần Công đã trọng dụng Công Tôn Diễn làm đại lương tạo, song vẫn giương cờ gióng trống, dốc sức cầu hiền ở liệt quốc, cho thấy đã không còn hài lòng về Công Tôn Diễn nữa. Tuy Công Tôn Diễn không đủ sức nhìn thấu thời thế, song lại biết mình biết người. Thoạt tiên do nghĩ chưa thông, Công Tôn Diễn đương nhiên cũng thấy buồn khổ trong lòng. Tuy nhiên, sau khi gặp được Tô Tần, Công Tôn Diễn thực lòng khâm phục, quyết ý nhường hiền, muốn sánh vai chung sức cùng Tô Tần, phò tá Tần Công hoàn thành đại nghiệp. Nào ngờ tình thế lại không như dự tính, Tần Công không những không gặp Tô Tần, lại phái Sư Lý Tật đi sứ sang Ngụy muốn cầu Tôn Tẫn, thực sự khiến Công Tôn Diễn không tài nào hiểu nổi.
Thấy Công Tôn Diễn không nói năng gì, chỉ ngồi ngẩn ngơ tại chỗ, Huệ Văn Công cười hỏi: “Ái khanh, sao thế?”
Công Tôn Diễn định thần trở lại, vội vòng tay nói: “Vi thần xin lắng nghe lời chỉ bảo của chúa thượng!”
Huệ Văn Công dường như đã đoán được Công Tôn Diễn đang nghĩ gì, lại cười nói: “Mấy năm qua, phố Sĩ Tử người qua kẻ lại tấp nập, sĩ tử liệt quốc đã khiến quả nhân đầu óc quay cuồng. Nếu Tô Tử đã là bậc đại tài, quả nhân muốn thử gặp mặt một lần xem sao. Hiện tại Sư Lý ái khanh vắng mặt, đành phải làm phiền ái khanh sắp xếp giúp cho!”
“Vi thần lĩnh chỉ!” Do dự một lát, Công Tôn Diễn mới nói. “Vi thần sẽ lập tức đi mời Tô Tử vào cung yết kiến chúa thượng.”
“Không, không!” Huệ Văn Công lắc đầu quầy quậy.
“Bậc đại tài như Tô Tử, quả nhân phải đích thân đến thỉnh giáo mới phải, nào dám làm phiền tới quý thể của Tô Tử?”
Công Tôn Diễn nghe ra sự khác lạ trong lời nói của Tần Công, bỗng thấy chột dạ: “Ý chúa thượng là...”
Huệ Văn Công cười vang mà nói: “Nghe nói phố Sĩ Tử mở Luận Chính đàn, vô cùng thú vị, từ lâu quả nhân đã muốn tới đó nghe thử một lần, song chưa có cơ duyên. Nay có Tô Tử ở đó, quả nhân muốn hợp hai làm một, mời Tô Tử khai đàn lần nữa, thứ nhất để biết thế nào là Luận Chính đàn, thứ hai là muốn rửa tai lắng nghe cao luận của Tô Tử, cùng Tô Tử và sĩ tử thiên hạ luận bàn chính trị đương thời, ái khanh thấy sao?”
Công Tôn Diễn suy nghĩ một lát, rồi chậm rãi nói: “Vi thần cho rằng không thoả đáng!”
“Có gì không thoả đáng?”
“Phố Sĩ Tử vàng thau lẫn lộn, chúa thượng công khai xuất đầu lộ diện, chẳng khác gì đưa thân tới chốn hiểm nguy, ngộ nhỡ có điều gì sơ sảy, vi thần...”
Huệ Văn Công bật cười mà nói: “Ái khanh quá lo xa rồi! Năm xưa Văn Vương cầu hiền, đã không ngại hạ mình tới tận bến sông Vị Thuỷ. Quả nhân cầu hiền, chẳng qua chỉ là đi vài bước trước cửa nhà mình, có gì sơ sảy được?”
Công Tôn Diễn chần chừ một lát: “Chúa thượng đã quyết định, vi thần sẽ lập tức sắp xếp. Tuy nhiên, ngày nào thích hợp, vẫn xin chúa thượng định đoạt.”
“Nghe nói Luận Chính đàn mở vào giờ Thân, vậy thì hãy định vào giờ Thân ngày mai!” Huệ Văn Công lập tức quyết đoán. “Khanh hãy căn dặn đàn chủ làm cho rầm rộ. Quả nhân ở trong triều ngột ngạt đã lâu, cũng muốn nghe thử chút âm thanh bên ngoài.”
“Vi thần tuân chỉ!”
Công Tôn Diễn cáo lui, băn khoăn bước ra khỏi cửa cung, ngẫm nghĩ một hồi, rồi rẽ sang phố Sĩ Tử, đứng ngẩn ngơ ở đầu phố một chốc, định bụng tới Anh Hùng cư, báo tin cho Trúc Viễn ngay. Song suy đi tính lại, thấy không thoả đáng, lại quay trở về trước cửa cung, lên xe ngựa hồi phủ, lệnh cho ngự sử trong phủ cầm thiếp đi mời đàn chủ tới bàn chuyện.
Ngự sử dẫn về lại không phải Trúc Viễn, mà là Giả Xá Nhân.
Công Tôn Diễn ra tận cổng phủ đón, từ xa nhìn thấy Giả Xá Nhân, không kịp hành lễ, đã hỏi ngay: “Trúc tiên sinh đâu?”
Giả Xá Nhân thoáng ngẩn người, rồi vòng tay nói: “Khởi bẩm đại lương tạo, Trúc tiên sinh đã quay về núi Chung Nam rồi!”
Công Tôn Diễn sửng sốt, ngẩn ra hồi lâu mới nói: “Vậy thì hỏng rồi!”
Giả Xá Nhân đưa mắt nhìn ngự sử, rồi lại nhìn Công Tôn Diễn: “Có chuyện gì vậy?”
“Giờ Thân ngày mai, chúa thượng muốn tới Luận Chính đàn cùng Tô Tử bàn luận chính sự!”
“Cùng Tô Tử luận chính sự?” Giả Xá Nhân thoáng ngạc nhiên, nhưng ngay sau đó lại chuyển sang mừng rỡ, nói. “Đúng là việc tốt! Tô Tử đã chờ đợi mấy tháng trời, khắp phố Sĩ Tử bàn tán xôn xao, các sĩ tử thấy Tô Tử không được dùng, Luận Chính đàn không mở, cho rằng đường công danh đã đóng. Một số người hết kiên nhẫn đã rời bỏ Hàm Dương, tìm tới nơi khác!”
“Trúc tiên sinh đi vắng, biết làm thế nào đây?”
“Có thể tấu lên chúa thượng, xin đổi ngày khác chăng?”
Công Tôn Diễn lắc đầu: “Chúa thượng một khi đã quyết, khó lòng thay đổi?”
Giả Xá Nhân cúi đầu ngẫm nghĩ, một lát sau, cất giọng quyết đoán: “Khi Trúc tiên sinh đi, có trao lại quyền xử lý mọi việc trong đàn cho thảo dân. Hiện tại sự việc cấp bách, Luận Chính đàn sẽ do thảo dân đứng ra lo liệu, đại lương tạo thấy sao?”
Công Tôn Diễn thấy cũng không còn cách nào hơn, đành gật đầu nói: “Nếu đã như vậy, buổi nghị chính ngày mai, làm phiền Giả tiên sinh đứng ra thay mặt đàn chủ.”
Giả Xá Nhân vòng tay nói: “Đại lương tạo nếu không có việc gì nữa, thảo dân xin cáo từ.”
Công Tôn Diễn cũng vòng tay nói: “Giả tiên sinh ra về cẩn thận.”
Giả Xá Nhân quay người, vừa nhảy lên xe, Công Tôn Diễn đã gọi giật lại: “Khoan đã!”
Giả Xá Nhân lại nhảy xuống xe, nhìn Công Tôn Diễn: “Đại lương tạo còn có việc gì sai bảo?”
Công Tôn Diễn nói đầy ẩn ý: “Chúa thượng có chỉ, buổi luận chính ngày mai, phải làm cho rầm rộ!”
“Đại lương tạo cứ yên tâm,” Giả Xá Nhân gật đầu cười nói, “phố Sĩ Tử lâu rồi không khai đàn luận chính, đám sĩ tử đã trông chờ mỏi mắt từ lâu!”
Rồi Giả Xá Nhân ra roi thúc ngựa, gấp rút trở về phố Sĩ Tử, vội vàng tới khách sạn Vận Lai.
Nhìn thấy Giả Xá Nhân, Tô Tần bèn vái chào: “Ồ, là Giả huynh đấy ư? Mời!”
Giả Xá Nhân còn chưa bước vào cửa, đã mặt mày rạng rỡ, vòng tay nói: “Chúc mừng Tô huynh, tin vui tới rồi!” Tô Tần ngạc nhiên hỏi: “Tin vui gì kia?”
“Giờ Thân ngày mai, chúa thượng sẽ giá lâm phố Sĩ Tử, nghe Tô huynh luận chính!”
“Chúa thượng giá lâm?” Tô Tần sửng sốt, ngẫm nghĩ một lát, lại ngẩng lên hỏi. “Vẫn ở Luận Chính đàn ư?”
Giả Xá Nhân trịnh trọng gật đầu: “Đại lương tạo đích thân giao cho tại hạ việc này. Đại lương tạo còn nói, chúa thượng có chỉ, buổi luận chính ngày mai phải làm cho rầm rộ. Chúa thượng đã quá lo xa, chúa thượng đích thân giá lâm phố Sĩ Tử nghe sĩ tử luận chính, đây là việc chưa từng có ở Luận Chính đàn, có muốn không rầm rộ cũng khó!”
Tô Tần lại ngẫm nghĩ một hồi, rồi thò tay vào trong túi, định lấy vàng ra trả phí khai đàn.
Giả Xá Nhân nhìn thấy, bèn ngăn lại, cười mà rằng: “Lần luận chính này là miễn phí!”
Tô Tần ngạc nhiên: “Luận Chính đàn không thể vì tại hạ mà phá bỏ quy tắc.”
“Tô huynh yên tâm,” Giả Xá Nhân cười vang mà nói. “Nếu chúa thượng đích thân tới nghe, phí khai đàn sẽ do quan phủ chi trả. Hơn nữa, việc trọng đại này, không phải hễ ai muốn nghe cũng được, tại hạ sẽ bán vé vào, không lỗ đâu mà sợ!”
“Nếu được vậy, Tô Tần xin cảm tạ Giả huynh!”
Giả Xá Nhân giọng đầy quan tâm: “Chúa thượng đích thân tới nghe, Tô huynh nên chuẩn bị kỹ lưỡng, tại hạ cũng phải về sắp xếp cẩn thận. Việc trọng đại thế này, Trúc tiên sinh lại không có ở đây, không được phép có sơ sảy!”
“Xin trông cậy cả vào Giả huynh!”
Vào ngày hôm sau, mới tới giờ Mùi, trên phố Sĩ Tử đã có người gõ chiêng hô lớn: “Chư vị sĩ tử, tin vui tin vui, Luận Chính đàn hôm nay lại khai đàn, người khai đàn vẫn là sĩ tử Lạc Dương Tô Tần! Cuộc luận chính lần này là sự kiện hy hữu, chúa thượng ngự giá quang lâm tới nghe, là chuyện chưa từng có ở Luận Chính đàn. Ai tới nghe luận chính, mang theo ba mươi đồng tiền hoàn (1), tới Luận chính đàn ghi danh lấy thẻ, dựa theo số trên thẻ mà vào!”
Tin sốt dẻo mau chóng lan truyền, khiến các sĩ tử bàn tán xôn xao. Có người phấn chấn nói lớn: “Chư vị sĩ tử, mau tới nghe thôi! Tô Tử lại khai đàn, Tần Công ngự giá nghe luận chính, quả là chuyện xưa nay chưa từng có!”
Có người tiếp lời: “Trời ơi, vào nghe mất những ba mươi đồng hoàn, số tiền không hề nhỏ!”
“Ba mươi đồng hoàn có đáng là bao? Có thể tận mắt chứng kiến uy phong của Tần Công, bỏ ra chút tiền cỏn con này cũng đáng!”
“Than ôi!” Một sĩ tử thở dài, lắc đầu ra chiều tiếc nuối. “Đáng tiếc là trong túi tại hạ chẳng còn đủ tiền, không có diễm phúc chứng kiến!”
Một sĩ tử khác móc ba mươi đồng hoàn từ trong ống tay áo ra: “Nhân huynh chớ nên buồn lòng, tại hạ cho nhân huynh vay tạm ba mươi đồng hoàn, hãy mau đi lấy thẻ. Nếu còn lề mề, e rằng có tiền cũng chẳng mua được!”
Sĩ tử này nhận lấy ba mươi đồng hoàn, vái tạ liên hồi: “Đa tạ nhân huynh! Đa tạ nhân huynh!” Rồi quay người vội vã đi về phía Anh Hùng cư.
Sắp tới giờ Thân, phố Sĩ Tử huyên náo lạ thường, trên phố quả nhiên có vài trăm giáp sĩ rầm rập kéo tới, cứ năm bước lại có một người, đứng dọc theo con phố. Trước cổng Anh Hùng cư, mỗi bên đứng chục giáp sĩ.
Đám sĩ tử tay cầm thẻ lần lượt đi vào luận đàn. Giáp sĩ kiểm tra thẻ bài cẩn thận, khám xét toàn thân rồi mới cho từng người vào.
Trong Luận Chính đàn, mọi thứ vẫn như cũ, duy có chỗ ngồi là thay đổi, ở giữa kê một bàn chính, hai bên trái phải bàn chính có hai chỗ trống. Theo như sắp xếp của Công Tôn Diễn, trong đàn không còn đặt chỗ bình phán, phàm là sĩ tử có thẻ, đều có thể ngồi vào bất kỳ chỗ trống nào trước luận đàn.
Đúng vào giờ Thân, tiếng chiêng vang rên, Giả Xá Nhân thay mặt đàn chủ từ phòng bên bước ra, quay mặt về phía đông đảo sĩ tử, lớn tiếng tuyên bố: “Chư vị sĩ tử, giờ Thân đã tới, Luận Chính đàn khai đàn!”
Lời vừa dứt, ngoài cửa bỗng ồn ào khác thường, tiếp đó là tiếng chân bước rậm rịch, nội thần cao giọng hô lớn: “Chúa thượng giá lâm!”
Đám sĩ tử lũ lượt đứng dậy, bước dạt sang hai bên, mở ra một lối đi rộng khoảng hai bước chân ở giữa, quỳ xuống khấu đầu sát đất.
Giả Xá Nhân vội bước lên vài bước, tới trước đám sĩ tử, dập đầu nói: “Thảo dân Giả Xá Nhân và sĩ tử liệt quốc khấu kiến chúa thượng!”
Huệ Văn Công mỉm cười, bước vào qua lối đi vừa mở, tiến thẳng tới chiếu chủ, ngồi xuống rồi phẩy tay nói: “Giả tiên sinh, sĩ tử liệt quốc, bình thân!”
Giả Xá Nhân và đám sĩ tử đồng loạt khấu đầu hô: “Tạ ơn chúa thượng!”
Tiếp đến, tiền thái phó Doanh Kiền, đại lương tạo Công Tôn Diễn bước lên trước, hành lễ xong thì lần lượt ngồi vào hai chỗ trống bên trái phải Huệ Công. Đám sĩ tử lục tục trở về chỗ, ngồi xuống.
Lại một tiếng chiêng vang lên. Giả Xá Nhân dõng dạc: “Mời người khai đàn, sĩ tử Lạc Dương Tô Tần!”
Cánh cửa bên lịch kịch mở ra. Tô Tần xuất hiện, bước tới trước mặt Huệ Văn Công, dập đầu hô lớn: “Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần khấu kiến chúa thượng!”
Huệ Văn Công quan sát kỹ Tô Tần một lượt, mỉm cười mà nói: “Tô Tử bình thân!” Rồi chỉ vào vị trí khách bên phải. “Mời ngồi!”
Tô Tần lại bái lạy: “Tạ ơn chúa thượng!” Rồi đứng dậy, tới vị trí khách đầu tiên bên phải ngồi xuống.
Giả Xá Nhân bước lên vài bước, ngồi xuống sau lưng Tô Tần.
Huệ Văn Công rời mắt khỏi Tô Tần, đưa ánh mắt ôn tồn nhìn khắp lượt đám đông sĩ tử, vòng tay vái liên hồi mà nói: “Hoan nghênh chư vị sĩ tử đã tới chốn hẻo lánh này! Doanh Tứ nghe nói, các vị từ bốn phương tám hướng về đây, còn có vị từ tận Ngô, Việt, Yên tìm tới, đúng là không quản nghìn dặm xa xôi. Doanh Tứ còn nghe nói, chư vị đều học vấn uyên thâm, thân mang tuyệt kỹ. Chư vị coi trọng Doanh Tứ đến vậy, Doanh Tứ lẽ ra nên sớm ngày gặp gỡ, để cảm tạ thịnh tình của chư vị!” Rồi cười buồn một tiếng, lại vòng tay mà nói. “Tuy nhiên, chư vị có điều không biết, đất Tần tuy hẻo lánh, song việc vụn vặt lại không hề ít. Thứ nhất, những việc không tên cứ dai dẳng không buông, thứ hai, loạn trong giặc ngoài không ngớt, Doanh Tứ bận rộn suốt ngày đêm vẫn không xử lý hết, chẳng có nổi chốc lát rảnh rang, thực là muôn phần bất đắc dĩ! Chư vị sĩ tử, nếu có chỗ nào chậm trễ muộn màng, Doanh Tứ thành thực tạ lỗi, mong chư vị lượng thứ!” Nói đoạn đứng dậy vòng tay, cung kính cúi gập người về phía chư sĩ tử.
Hành động của Huệ Văn Công, tuy là khách sáo, song cũng khiến xúc động lòng người, đám sĩ tử có mặt đều đổi ngồi thành quỳ, dập đầu sát đất, có vài người thậm chí còn sụt sùi rơi lệ.
“Chư vị sĩ tử, bình thân!” Huệ Văn Công nói rồi ngồi xuống trước.
Đám sĩ tử cũng lục tục ngồi xuống, ánh mắt thảy đều đổ dồn vào Huệ Văn Công.
Huệ Văn Công quay người, vòng tay hướng về Tô Tần: “Doanh Tứ nghe danh Tô Tử đã lâu, từ lâu đã muốn đến thỉnh giáo, song nguyên nhân chậm trễ, hẳn cũng bất tất phải nói ra. Doanh Tứ lần này tới đây, thứ nhất là muốn gặp gỡ chư vị sĩ tử, thứ hai là muốn lắng nghe cao luận của Tô Tử.”
Tô Tần vòng tay đáp lễ mà nói: “Chúa thượng bận trăm công nghìn việc, còn bớt thời giờ vàng ngọc hạ cố tới đây, thảo dân được nhận ân sủng mà trong lòng kinh sợ, cảm động khôn xiết!”
Huệ Văn Công đưa tay về phía Công Tôn Diễn, mỉm cười mà nói: “Nghe Công Tôn ái khanh nói, trong buổi luận chính lần trước, Tô Tử có nhắc tới thượng sách trị Tần, muốn chỉ giáo cho Doanh Tứ. Nay Doanh Tứ xin rửa tai lắng nghe.”
“Tô Tần ăn nói ba hoa, luận bừa chính sự, không ngờ làm kinh động tới chúa thượng, trong lòng lấy làm kinh sợ!”
“Tô Tử bất tất phải khiêm tốn,” Huệ Văn Công lại cười một tiếng. “Doanh Tứ tới đây chính là muốn nghe cao luận của Tô Tử, hà tất phải nói tới ba chữ ‘làm kinh động’! Doanh Tứ bất tài, xin Tô Tử chỉ giáo!”
Theo kế sách đã nghĩ sẵn từ đêm qua, Tô Tần quyết định không nói vòng vo, mà đi thẳng vào chuyện chính, thổ lộ mọi điều ấp ủ trong lòng, bèn ôm quyền mà rằng: “Chúa thượng tấm lòng bao dung, Tô Tần lấy làm cảm khái. Tô Tần bất tài, có ba kế sách có thể trị Tần, dám hỏi chúa thượng muốn nghe kế sách nào?”
“Là ba kế sách gì?”
“Ba kế sách thượng, trung, hạ. Thượng sách có thể khiến thiên hạ quy về một mối, gọi là đế sách. Trung sách có thể khiến chư hầu thần phục, gọi là bá sách. Hạ sách có thể an cư lạc nghiệp một phương, gọi là bang sách.”
Huệ Văn Công vẫn mỉm cười: “Doanh Tứ muốn nghe thượng sách!”
“Thượng sách thực ra là đạo trị loạn!” Tô Tử dõng dạc nói. “Trị loạn thời cổ đại, không nằm ngoài hai nghiệp vương, bá. Vương nghiệp thời cổ, tức là đạo mà Thương Thang, Chu Vũ đã thực thi, chính là trừng trị kẻ ác, cứu vớt dân lành, thay thế thiên tử vô đạo. Bá nghiệp thời cổ, tức là đạo của Tề Hoàn, Tấn Văn, là kết minh chư hầu, đánh dẹp bên ngoài, vỗ yên bên trong, làm minh chủ thiên hạ.”
Huệ Văn Công cười hỏi: “Vậy còn trị loạn ngày nay?”
“Tần cho rằng, thời thế thay đổi, đạo trị loạn cổ xưa không còn phù hợp với loạn cục ngày nay nữa. Trị loạn ngày nay, duy có một cách: chiến tranh diệt nước, nhất thống thiên hạ.”
Huệ Văn Công vẫn giữ nguyên nét cười: “Doanh Tứ muốn nghe cụ thể hơn!”
“Từ ngày Bình Vương dời đô về đông, Chu thiên tử hữu danh vô thực, chỉ còn trên danh nghĩa, nên việc thay ngôi thiên tử đã không còn phù hợp. Từ khi ba nhà phân Tấn, liệt quốc ngày càng tranh giành kịch liệt, khiến dân chúng lầm than, minh chủ thiên hạ cũng đã thành việc lỗi thời. Tần cho rằng, sở dĩ thiên hạ đại loạn, là vì phân trị. Phân trị tất tán, tán tất loạn, loạn tất tranh, tranh tất bất trị. Do vậy, muốn trị lý thiên hạ hiện nay, cần bắt đầu từ gốc, khiến thiên hạ quy về một mối. Chỉ cần thiên hạ quy về một mối, chỉ cần liệt quốc không còn tồn tại, sẽ thực hiện được xe cùng cỡ trục, dân cùng tập tục, pháp cùng một luật, lệnh cùng thi hành, chính lệnh có thể thông qua quan lại các cấp mà thực thi, khiến dân chúng an cư lạc nghiệp.”
“Điều Tô Tử đang nói đến, hẳn là thế giới đại đồng. Tuy nhiên...” Huệ Văn Công mỉm cười, đổi giọng, “đã tuyệt diệu như vậy, thì đế nghiệp thiên cổ như lời Tô Tử nói, liệu có liên quan gì tới Doanh Tứ?”
Tô Tần ôm quyền mà nói: “Theo như Tần thấy, thành được đại nghiệp này, không ai khác ngoài chúa thượng!”
“Ồ?” Huệ Văn Công ra vẻ ngạc nhiên. “Tô Tử dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Khởi bẩm chúa thượng,” Tô Tần vẫn không hiểu ra ẩn ý của Huệ Văn Công, lại dõng dạc nói tiếp. “Thiên hạ nhất thống, ắt giao tranh lớn; giao tranh ắt diệt nước, diệt nước ắt dựa vào thực lực. Nhìn vào thiên hạ hiện tại, chư hầu tuy đông, nhưng có thực lực, lại chỉ có ba nhà Tần, Sở, Tề. Tề phải dựa lưng vào biển giao chiến, giàu mà không dũng. Sở rộng lớn mà không yên trị, dân chúng chưa được giáo hoá. Duy có Tần, chính thông nhân hoà, dân giàu nước mạnh, pháp luật nghiêm minh, bốn phía có quan ải hiểm trở, chiếm trọn thiên thời, địa lợi, nhân hoà, không có lý gì đại nghiệp không thành.”
Huệ Văn Công vẫn mỉm cười: “Nghe lời Tô Tử, Doanh Tứ vô cùng phấn chấn! Theo ý Tô Tử, Doanh Tứ nên thực hiện đế sách như thế nào?”
Tô Tần trong lòng đã sớm đã có dự tính, lập tức tâu bày: “Đế nghiệp kỳ vĩ, không thể một bước là thành. Tần cho rằng, chúa thượng có thể phân thành ba bước. Bước thứ nhất, xưng vương chính danh; bước thứ hai, xa thân gần đánh; bước thứ ba, thâu tóm thiên hạ.”
Huệ Văn Công trong lòng bàng hoàng chấn động, song mặt vẫn không biến sắc, chỉ mở to hai mắt, nhoài người lên trước, chậm rãi nói: “Xin Tô Tử giải thích rõ hơn!”
Tô Tần dõng dạc: “Danh không chính thì ngôn không thuận. Thiên hạ đã ở trong thời đại nhiều vương, tới nay, xưng vương cùng Chu thiên tử đã có năm nhà. Tống Công, Trung Sơn Quân xưng vương, có thể xem là trò cười, song ba nước Sở, Ngụy, Tề xưng vương, lại là sự thực hiển nhiên. Trong ba nước mạnh, Tề, Sở đều đã xưng vương, duy Tần vẫn là công quốc. Thực chất là vương quốc, mà lại chịu nhún trong cái danh công quốc, về mặt khí thế, đã giảm mất ba phần. Nếu chúa thượng xưng vương, Tần sẽ danh tương ứng với thực. Lúc này, chúa thượng dùng vương mệnh để chinh phạt, thân xa đánh gần, từng bước công chiếm, thôn tính các nước láng giềng xung quanh, đợi thời cơ chín muồi, sẽ có thể thâu tóm thiên hạ, hoàn thành đế nghiệp.”
Nghe tới đây, đám sĩ tử có mặt thảy đều há miệng trợn mắt, tiếng xuýt xoa tán thưởng rộ lên tứ bề.
Doanh Kiền, Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn nhau, cùng gật gù tán thưởng, trên mặt lộ rõ niềm phấn chấn.
Huệ Văn Công thu lại nụ cười, trầm ngâm một lát, rồi ngẩng đầu, nhìn thẳng vào Tô Tần: “Lời của Tô Tử, quả nhân nghe như sách trời, tâm mắt sáng tỏ. Có điều...” dừng lại một lát mới nói tiếp, “những lời Tô Tử vừa nói, đa phần đều là điểm mạnh của Tần. Vậy có biết điểm yếu của Tần chăng?”
Nghe Huệ Văn Công đổi cách xưng hô là quả nhân, Tô Tần trong lòng giật thột, vội vòng tay nói: “Xin chúa thượng chỉ giáo!”
Huệ Văn Công không nhìn Tô Tần nữa, mà đưa ánh mắt nhìn khắp lượt chúng sĩ tử: “Theo Tô Tử nói, thiên hạ nhất thống, ắt có đại chiến; đại chiến ắt diệt nước; diệt nước ắt phải dựa vào thực lực. Thực lực của đất nước, trước hết ở quân lực; quân lực hùng mạnh trước hết ở nhân lực. Theo quả nhân biết, tổng số dân nước Tần không quá bốn trăm vạn, trừ đi người già và trẻ nhỏ, số còn lại không quá hai trăm vạn, số tráng đinh có thể chinh chiến không quá chín mươi vạn. Tần có quy định bốn đinh lấy một, nhưng dù có làm theo thông lệ của liệt quốc là ba đinh lấy một, thì số tráng đinh có thể chinh chiến cũng không tới ba mươi vạn. Dù là ba mươi vạn này, cũng không thể mang dùng toàn bộ, do Tần có ba vùng không thể xuất chinh, một là vùng biên giới tây bắc, phải chống Nhung Địch; hai là đất cũ Hà Tây, để vỗ yên dân chúng; ba là vùng núi Thương Ư, để cứu tế bần cùng. Theo đó mà tính, số tráng đinh có thể xuất chinh thực sự chỉ có hai mươi vạn người. Với hai mươi vạn người này, giữ được đất đã là may mắn, nói gì tới mưu cầu xa xôi?”
Huệ Văn Công lời nói hữu lý xác thực, tự nói ra điểm yếu của Tần, khiến chúng sĩ tử đều tâm phục khẩu phục, gật gù thừa nhận. Song Tô Tần lại trong lòng kinh hãi, bởi lẽ những lời Huệ Văn Công vừa nói vốn không phải là sự thực, khác hoàn toàn với những gì Tô Tần đã tìm hiểu được gần đây.
“Đấy mới chỉ là nhân lực!” Huệ Văn Công tiếp tục. “Lại nhìn vào tài lực, thiên hạ đều nói đất Tần giàu có hùng mạnh, kỳ thực không phải vậy! Theo quả nhân được biết, Tần tuy biến pháp cải chế đã hai mươi năm, tài lực được củng cố, song thực chất, chỉ vừa thoát khỏi cảnh túng quẫn đói nghèo, dân chúng chẳng qua mới chỉ đủ ăn mà thôi. Tính riêng từng nhà, có lẽ đã đến mức no đủ, song quốc khố vẫn cứ trống trơn!”
Chúng sĩ tử đều kinh ngạc, còn Tô Tần lại càng thêm hoang mang nghi hoặc.
Huệ Văn Công thấy vậy, khẽ đặng hắng một tiếng, cười gượng rồi chìa tay nói: “Chư vị có lẽ không tin, cho rằng quả nhân không nói thực, đang cố ý giả nghèo giả khổ. Chư vị sĩ tử, đã là con người, ai cũng có lòng chuộng hư vinh, trong các vị đây, liệu có ai muốn lộ ra điểm yếu của mình? Thiên hạ đều nói nước Tần biến pháp giàu mạnh, song không ai biết, được giàu chỉ là lê dân. Tiên quân vì muốn khích lệ trồng trọt nông tang, đã thực thi biến pháp mà không thay đổi tô thuế, chế độ tô thuế vẫn theo quy chế của tiên tổ, mười phần thu một. Nước Tần theo tân pháp, xoá bỏ nông nô, cho phép nông nô khai khẩn ruộng đất, nông nô do không có tài sản tích luỹ, quan phủ đã không thu thuế, ngược lại còn trợ giúp cho họ, mười năm không thu thuế, năm năm không trưng binh. Sở dĩ người Tần ủng hộ tân pháp, đều là vì đó!” Dừng lại một lát, lại đưa mắt nhìn khắp lượt sĩ tử, sắc mặt rầu rĩ. “Không giấu chư vị, trong kho tàng của quả nhân, không có nổi một vạn đĩnh vàng, chưa đầy trăm vạn thạch thóc.” Rồi quay sang Doanh Kiền. “Công thúc cai quản quốc khố nhiều năm, xin hỏi những lời Doanh Tứ vừa nói, có chỗ nào không đúng chăng?”
Doanh Kiền gật đầu thừa nhận.
“Chư vị sĩ tử!” Huệ Văn Công lại gượng cười một tiếng, giọng chùng xuống. “Quả nhân không sợ chê cười tự vạch áo cho người xem lưng, chỉ là muốn chứng thực với chư vị, quả nhân không hề nói dối!” Rồi quay sang Tô Tần. “Chút của cải mỏn mọn này, dùng để đối phó với mất mùa đói kém còn chưa đủ, nói gì tới mưu cầu xa xôi?”
Chúng sĩ tử đều gật gù khâm phục.
Tô Tần đến tận lúc này mới nhận ra ý tứ của Tần Công, bèn vòng tay nói: “Chúa thượng thấu hiểu thực tình đất nước như lòng bàn tay, lời lời xác thực, Tô Tần lấy làm hổ thẹn. Người đời đều nói người Tần giàu có, Tô Tần nay mới biết uẩn khúc bên trong. Không có dòng nhỏ, lấy đâu ra sông lớn? Dân không giàu có, nước sao lớn mạnh? Biến pháp của Thương Quân, quả là kế sách lớn lao chưa từng có xưa nay.”
Huệ Văn Công khẽ gật đầu: “Tô Tử hiểu được như vậy, quả nhân cũng thấy an ủi phần nào!” Rồi đưa mắt nhìn về phía chúng sĩ tử phía dưới, thở dài một tiếng. “Than ôi, theo lý mà nói, đàn bà khéo đến mấy cũng không thể thổi cơm không gạo. Nước Tần nhân lực không đủ, tài lực túng thiếu, dù Doanh Tứ có lòng nhất thống thiên hạ, cũng không đủ sức!”
Tô Tần cúi đầu, chìm trong suy tư.
Doanh Kiền, Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn nhau, sắc mặt ngơ ngác, không biết quân chủ có ý đồ gì.
Huệ Văn Công từ từ di chuyển ánh mắt về phía Tô Tần: “Những lời Doanh Tứ vừa nói, đều là nguyên nhân bên ngoài. Tô Tử hẳn không biết, vẫn còn một nguyên nhân nữa.”
Tô Tần ngước mắt nhìn Tần Công.
Huệ Văn Công nhấn mạnh từng chữ, ngữ khí đanh thép: “Chu thất tuy đã suy vi, song thiên hạ vẫn là thiên hạ của Đại Chu, liệt quốc vẫn là thần tử của Đại Chu. Sở, Ngụy, Tề, Tống có thể không thừa nhận Đại Chu thiên tử, Hàn, Triệu, Yên, Trung Sơn có thể không thừa nhận Đại Chu thiên tử, song Doanh Tứ không dám không nhận. Bởi Tần thất và Chu thất cùng nguồn cội tổ tiên, vốn là một nhà, dòng máu Chu thất vẫn đang chảy trong người Doanh Tứ. Do vậy, chỉ cần Chu thiên tử vẫn còn, chỉ cần Chu thất chưa tuyệt tự, Doanh Tứ dù có sức mạnh, cũng không thể làm việc bất trung bất hiếu, đẩy tiên tổ vào chỗ bất nghĩa bất trung!”
Những lời này, khác nào mắng thẳng vào mặt Tô Tần.
Tô Tần mặt đỏ bừng, ngượng ngùng lúng túng, cúi gằm mặt không biết phải đối đáp ra sao.
Toàn bộ sảnh đường lặng im phăng phắc, chúng sĩ tử sắc mặt đều lộ vẻ kinh hãi.
Huệ Văn Công quay đầu, lại đưa mắt nhìn chúng sĩ tử, nghiêm nghị nói: “Chư vị sĩ tử đều đã thấy rõ, mấy năm gần đây, liệt quốc Trung Nguyên đua nhau xưng vương, duy có Doanh Tứ không dám vượt Lôi Trì nửa bước, cũng là vì nguyên do này!” Lại đưa ánh mắt nhìn vào Tô Tần. “Do vậy, đế sách Tô Tử vừa nói tuy hay, song không phải là phương thuốc trị Tần hữu hiệu. Thứ nhất, Doanh Tứ thấy mình chưa đủ lông đủ cánh, thành tựu chưa có gì, không đủ lực thực thi. Thứ hai, Doanh Tứ vốn là người thường, khó quên gốc rễ, không có tâm thực hiện.”
Tô Tần vẫn im lặng không nói.
“Được rồi!” Thấy khí thế đã vừa đủ, Huệ Văn Công ngữ điệu cũng chậm rãi bớt, khoé miệng lộ một nét cười. “Hôm nay Doanh Tứ may mắn được nghe cao luận của Tô Tử, được lợi không nhỏ. Lúc này cũng đã muộn rồi, Doanh Tứ còn có việc phải làm, không thể trò chuyện thoả thích cùng Tô Tử và chư vị sĩ tử. Đợi Doanh Tứ giải quyết xong công việc bộn bề trước mắt, sẽ lại chọn ngày tới đây, cùng chư vị và Tô Tử đàm luận thiên hạ.”
Tô Tần đứng dậy, quỳ xuống bái lạy: “Thảo dân khấu tạ long ân của chúa thượng!”
Huệ Văn Công chậm rãi đứng dậy, nội thần bèn hô lớn: “Chúa thượng khởi giá hồi cung!”
Đám sĩ tử lũ lượt đứng lên, lại rẽ ra một lối đi, đồng loạt quỳ xuống hai bên, dập đầu đồng thanh nói: “Cung tiễn chúa thượng!”
Huệ Văn Công lại đưa mắt nhìn chúng sĩ tử một lượt, rồi sải bước ra ngoài.
Doanh Kiền, Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn nhau, lại nhìn Tô Tần vẫn phủ phục dưới đất, khẽ thở dài một tiếng, rồi vội vã đứng dậy, rảo bước theo Tần Công. Các sĩ tử có mặt thấy quân chủ và quần thần đã ra về hết, cũng lẳng lặng rời khỏi Anh Hùng cư, từ đầu tới cuối không ai nói một lời.
Gió bắc gầm gào, đất trời băng giá.
Trên Luận Chính đàn, Tô Tần vẫn quỳ ở đó, sắc mặt thẫn thờ. Đứng cách Tô Tần không xa là Giả Xá Nhân, đang lặng lẽ nhìn Tô Tần, có vẻ muốn bước lại khuyên nhủ vài câu, hoặc kéo Tô Tần dậy, song chẳng hiểu sao lại lần chần chưa nhúc nhích.
Không biết thời gian đã trôi qua bao lâu, từ ngoài bỗng vọng lại tiếng xe ngựa lóc cóc. Giả Xá Nhân giật mình, rảo bước ra ngoài cửa, nhìn thấy sư huynh Trúc Viễn đã trở về, bèn vội bước ra đón, kể vắn tắt lại toàn bộ sự việc Tần Công tới nghe luận chính cho Trúc Viễn nghe.
Trúc Viễn nghe xong, thở dài sườn sượt, không nói lời nào, chậm rãi bước tới trước mặt Tô Tần, khẽ gọi: “Tô Tử!”
Tô Tần ngẩng đầu lên, đờ đẫn nhìn Trúc Viễn.
Trúc Viễn lời đầy ẩn ý: “Trời có gió mưa khó đoán, Tô Tử hãy nhìn trời mà xem, nói lạnh là lập tức lạnh ngay. Tô Tử không nên cứ ở đây mãi!” Dừng lại một lát, lại nói rõ ràng hơn nữa. “Đi thôi! Tô Tử tốt nhất nên rời khỏi chốn này, càng nhanh càng tốt!” Rồi đặt tay lên vai Tô Tần, ấn mạnh một cái, thở dài một tiếng, rồi bước vào phòng trong.
Tô Tần bất giác rùng mình ớn lạnh, đưa mắt nhìn ra ngoài, thấy sắc trời đã đổi, mây đen vần vũ, gió bắc ào ào, quả nhiên đã thình lình trở lạnh.
Nghe tiếng đóng cửa nặng nề của Trúc Viễn vọng lại cách đó không xa, Tô Tần từ từ đứng dậy, khó nhọc kéo lê bước chân, chậm rãi trở về quán trọ.
Hoàng hôn hôm đó, tuyết rụng bời bời, mặt đất một màu trắng xoá.
Trong khách sạn Vận Lai, Tô Tần ngồi thẫn thờ trong phòng, mắt nhìn trân trân vào cây hoè già ngoài cửa sổ. Tuyết rơi gần một canh giờ đã phủ kín thân cây một lớp áo choàng trắng muốt, trên chạc cây to đâm ngang mà Ngô Tần từng treo cổ, cũng phủ kín một lớp tuyết dày.
Tô Tần đang ngẩn ngơ nhìn cây hoè già, chợt nghe thấy tiếng gõ cửa.
Tô Tần giật mình, mở cửa ra xem, hoá ra là chủ quán.
Chủ quán vái sâu một vái, cười hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, chỗ này ở có được chăng?”
Tô Tần vái đáp lễ, cười gượng mà nói: “Tốt lắm, cảm tạ ông chủ đã quan tâm!”
Chủ quán lại cười: “Tô Tử ở tệ quán đã hơn hai tháng, chỗ tiền đặt cọc cũng hết từ lâu, tiền ăn, tiền sinh hoạt đều đang nợ tệ quán. Tệ quán vốn ít lãi thấp, Tô Tử xem thử...”
Tô Tần trong lòng tê tái, biết rằng chủ quán đã nhận ra mình tiền đồ vô vọng, hẳn là tới đây đuổi khách, bèn thu lại nụ cười, điềm đạm nói: “Ông chủ chớ khách khí, đã thuê phòng trọ ắt phải trả tiền. Làm phiền ông chủ tính giúp, tại hạ còn thiếu bao nhiêu?”
Chủ quán đã chuẩn bị từ trước, bèn lấy từ trong ống tay áo ra một tấm thẻ tre, đưa cho Tô Tần: “Tại hạ đã tính xong cả rồi, mời Tô Tử hãy xem!”
Tô Tần cầm lấy tấm thẻ tre, đọc qua một lượt, kinh ngạc kêu lên: “Tại hạ chỉ ở có hai tháng, đã trả năm đĩnh vàng rồi, sao vẫn còn nợ nhiều như vậy?”
Chủ quán mỉm cười nói: “Hồi bẩm Tô Tử, từng khoản đều được ghi rõ ràng, bản quán dứt khoát không thu thừa một đồng hoàn. Tô Tử bắt đầu tới trọ ở bản quán vào buổi chiều ngày hối (2) tháng mười, tới nay đã qua hai ngày hối và hai ngày nữa. Theo quy định của bản quán, phải tính tròn là ba tháng, tiền thuê trọ là mười hai lượng. Tô Tử một ngày ăn ba bữa, tổng tiền ăn là năm lượng. Ngoài ra còn tiền quét dọn nhà ở, tiền giặt quần áo, tiền trà nước, tiền nước nóng, tiền nuôi ngựa, tiền thức ăn cho ngựa, tiền chuồng lán cho ngựa, tiền trông coi xe ngựa và vài khoản lặt vặt khác nữa, tổng cộng là ba lượng. Như vậy toàn bộ chi phí là hai mươi lượng. Tô Tử đã trả trước năm lượng, còn nợ mười lăm lượng.”
Tô Tần hoả bốc tận đỉnh đầu, sắc mặt tím tái: “Tính toán như vậy, khác nào hắc điếm cắt cổ?”
Ông chủ vẫn cười nói: “Bản quán uy tín đã lâu, chưa từng bắt chẹt khách trọ, cớ sao Tô Tử lại nói như vậy?”
“Được, vậy tại hạ xin hỏi ông chủ, tiền nhà trọ mỗi tháng bốn lượng, ông chủ đã đồng ý giảm cho một lượng, tại sao vẫn là bốn lượng?”
Chủ quán ngẫm nghĩ một lát, rồi vỗ đầu, cười nói: “Ồ, phải, phải, tại hạ nhớ ra rồi, đúng là có chuyện này! Thế này nhé, bản quán giảm cho một lượng, Tô Tử trả nốt mười bốn lượng là đủ.”
“Ông chủ...” Tô Tần tức uất, “mỗi tháng ba lượng, tại hạ chỉ ở hai tháng hai ngày, nếu tính tròn là ba tháng, cùng lắm cũng chỉ chín lượng mà thôi!”
“Tô Tử hẳn đã hiểu nhầm rồi!” Chủ quán cười cười mà nói. “Tại hạ đúng là đã nói sẽ bớt cho Tô Tử một lượng, song chỉ bớt tháng đầu tiên, các tháng sau không bớt.”
Tô Tần cười nhạt một tiếng: “Giờ thì tại hạ đã hiểu, tại sao vị nhân huynh kia lại treo cổ tự vẫn trong quán trọ của ông!”
Chủ quán nghe vậy, cảm thấy mất mặt, nụ cười mỉm liền biến thành cười gượng: “Chuyện nào ra chuyện đấy, Tô Tử đừng có lôi người khác vào!”
“Được!” Tô Tần lạnh lùng lên tiếng đuổi khách. “Ông về đi! Còn thiếu bao nhiêu, ngày mai tại hạ sẽ trả hết cho ông!”
Chủ quán cúi gập người cười nói: “Tô Tử hẳn không phải là người quỵt nợ, ngày mai trả cũng được. Tô Tử hãy nghỉ ngơi, tại hạ cáo lui!”
Chủ quán vừa đi khỏi, Tô Tần đóng sập cửa lại, sắc mặt tái mét, đi tới đi lui trong phòng, mở tay nải, lôi túi đựng tiền ra, lục đi lục lại, cũng chỉ còn ba lượng. Lại lần tìm trên người, cũng chỉ được bốn, năm đồng xu, nhất thời đứng bần thần, ngẫm nghĩ một lát, rồi bấm tay nhẩm tính: “Bán ruộng tổng cộng ba mươi lượng, đưa anh cả một lượng, trả tiền may quần áo tám lượng, mua ngựa và sửa sang xe ngựa tám lượng, khai đàn ba lượng, đặt cọc năm lượng, ở Hàm Cốc đổi tiền Tần một lượng...”
Tô Tần tính đi tính lại, quả nhiên chỉ còn sót lại chừng này. Tô Tần lại cúi đầu đi tới đi lui trong phòng, tay cầm tấm thẻ tre ghi các khoản tiền còn thiếu mà chủ quán để lại, lẩm bẩm một mình: “Tính như vậy, đúng là ép người quá đáng. Tiền trọ đương nhiên phải bao gồm tiền quét dọn, tiền nước nóng. Lại còn tính cả tiền nuôi ngựa, đúng là lần đầu tiên nghe thấy. Xe ngựa giữ hộ cũng thu tiền, thật không thể tưởng tượng nổi. Có trách thì trách lúc ta mới tới thuê không hỏi cho rõ ràng, hiện tại ông ta nói gì chẳng phải nghe theo. Thôi kệ, cỗ xe ngựa của cầm sư hẳn cũng có chút giá trị, đợi ngày mai ta bán đi lấy tiền, trả cho ông ta là được.”
Sáng sớm hôm sau, Tô Tần ngủ dậy, thấy tuyết đã ngừng rơi, vội ra sân sau đóng ngựa vào xe, đánh ra ngoài chợ. Chủ quán sợ Tô Tần bỏ trốn, sai người bám theo sau. Tô Tần nhìn thấy, tức uất đến nghẹn họng, chỉ muốn mau chóng tìm được người mua xe, trả hết khoản tiền cắt cổ cho ông ta, rồi rời xa mảnh đất đau thương này.
Hôm nay là ngày hai mươi tám tháng chạp, do là tháng thiếu, chỉ qua một ngày nữa là hết năm, bởi vậy trong chợ người qua kẻ lại tấp nập, chỗ nào cũng thấy người Tần rộn ràng mua sắm hàng tết. Tô Tần tìm một nơi náo nhiệt dừng xe lại, cắm tấm thẻ đã chuẩn bị sẵn lên trên xe, bên trên đề hai chữ “Bán xe”. Chỉ mấy phút sau, quả nhiên có vài người tới xem, ngắm nghía cỗ xe một thôi một hồi. Một người trong số đó còn bò rạp xuống đất, xem xét trục xe.
Tô Tần ăn mặc sang trọng mà lại đứng ở đây bán xe, cũng cảm thấy có chút mất mặt, do vậy không thèm để ý tới anh ta, chỉ khép hờ hai mắt, đứng ở bên cạnh. Xem xét một lúc, người này bèn đứng dậy, phủi tuyết dính trên người, hỏi Tô Tần: “Cỗ xe này, quan nhân định bán bao nhiêu?”
Tô Tần đã quyết từ trước, trả lời ngay: “Mười hai lượng.”
Người kia lại chui xuống gầm xe, xem xét kỹ lưỡng lần nữa, rồi lắc đầu nói: “Xe cũ rồi, quan nhân mới sửa lại cách đây không lâu!”
Tô Tần gật đầu.
Người kia lại phủi tuyết dính trên người, khẽ thở dài: “Quan nhân ơi, nói thật với quan nhân, cỗ xe này vừa cũ vừa nát, trang trí cũng bình thường, ít nhất cũng đã dùng cả trăm năm rồi. Trên trục xe còn có vết nứt, chẳng dùng được mấy nữa. Quan nhân cũng biết đấy, mua xe chủ yếu là mua trục xe, nếu trục xe không tốt, cả cỗ xe cũng coi như bỏ đi.”
Nghe người kia nói rõ ràng đến vậy, Tô Tần hiểu rằng đã gặp người hiểu xe, bèn vội hỏi: “Theo ý tiên sinh thì đáng giá bao nhiêu?”
Người kia chìa ra bốn ngón tay.
Tô Tần kinh ngạc nói: “Bốn lượng? Chưa tính cỗ xe này, chỉ riêng tiền sửa sang, tại hạ đã bỏ ra hai lượng rồi.”
Người kia cười nói: “Không giấu quan nhân, cỗ xe này vốn có giá sáu lượng, do qua sửa chữa nên trừ đi hai lượng, trục xe có vết nứt, trừ tiếp một lượng. Tại hạ thấy trên xe có một số vật trang trí, nên thêm cho một lượng, mới thành bốn lượng.”
Xe ngựa là vật dụng của gia đình giàu sang, nên Tô Tần vốn không am hiểu, người kia lại ăn nói gẫy gọn, lý lẽ đâu ra đấy, khiến Tô Tần nghe mà hoang mang, nhăn nhó suy nghĩ một lát, hồi lâu mới kêu ca: “Tại hạ đang cần gấp mười hai lượng, nếu không đã chẳng bán làm gì!”
“Ha ha, đúng vậy!” Người kia cười nói. “Tất cả những người bán xe ngựa đều là vì cần tiền gấp. Nếu không, có xe có ngựa chẳng tốt hơn ư? Có ai muốn đi bộ đâu?”
“Tám lượng được chứ?” Tô Tần mặc cả.
Người kia nhún vai, đi thẳng.
Mấy người đứng xung quanh lần lượt tản đi. Tô Tần cuống lên, lớn tiếng gọi: “Tiên sinh, dừng bước!”
Người kia quay lại, những người khác thấy vậy cũng lại quây tới.
Tô Tần cười nói: “Tại hạ xin tặng luôn ngựa, chỉ cần mười hai lượng.”
Người kia bước tới phía trước con ngựa, xem xét răng miệng, khen ngợi: “Ồ, ngựa cũng được đấy, nhưng chỉ đáng giá năm lượng.”
Tô Tần vội nói: “Tiên sinh, tại hạ chỉ bớt một lượng. Mười một lượng, được chăng?”
Người kia lại lắc đầu: “Xe ngựa của quan nhân như thế này, tại hạ trả chín lượng đã là nhiều lắm rồi. Không giấu tiên sinh, tại hạ cũng đã có xe ngựa. Giờ là cuối năm, mọi người đều bận rộn lo sắm tết, đón năm mới, làm gì có ai muốn mua xe? Tại hạ trông sắc mặt quan nhân, biết là đang rất cần tiền, mới mua giúp quan nhân. Nếu quan nhân không bán, đường ai nấy đi là xong!”
Tô Tần thấy chẳng còn cách nào khác, đành nghiến răng: “Thôi được, chín lượng thì chín lượng!”
Người kia lôi túi tiền từ trong ống tay áo ra, đếm đủ chín lượng, đặt vào tay Tô Tần.
Tô Tần nhận lấy, nhìn cỗ xe ngựa lần cuối, rồi quay người bước vội đi.
Tô Tần vừa bước đi, đám người phía sau đã reo cười ầm ĩ. Chẳng bao lâu sau, kẻ vừa mua xe kia đã đứng ngay tại chỗ cũ rao oang oang: “Mau lại mà xem, xe kiệu của Đại Chu thiên tử, hoàn toàn bằng đồng nguyên chất, đồ cổ trăm năm, giá khởi điểm ba mươi lượng, mau mau tới xem!”
Tô Tần nghe mà mặt đỏ tía tai, lòng đau xót như dao cứa. Rõ ràng, kẻ kia đã lừa phỉnh Tô Tần, thấy Tô Tần không hiểu gì về hàng hoá mà ép giá. Nghĩ cũng đúng, chỉ tính riêng lượng đồng để làm cỗ xe, nếu đun nóng chảy, không biết sẽ đúc được bao nhiêu tiền hoàn? Tô Tần nghĩ mà đau đớn, song cũng chẳng có lý do gì để quay lại đòi, đành rảo bước đi mau, vừa hổ thẹn vừa buồn bã rời khỏi khu chợ.
Về tới quán trọ, Tô Tần ngồi chưa nóng chỗ, đã nghe thấy tiếng gõ cửa. Mở cửa ra, quả nhiên gặp ngay bộ mặt cười nhăn nhở của lão chủ quán.
Chủ quán vòng tay nói: “Tô Tử bán xe ngựa rồi ư?”
Tô Tần không trả lời, lấy chín lượng vàng từ trong túi ra, cộng thêm ba lượng vàng còn lại, đặt cả lên mặt bàn.
Chủ quán liếc mắt nhìn, cười cười mà nói: “Tô Tử, mới được mười hai lượng, vẫn thiếu hai lượng nữa.”
Tô Tần giận dữ, rít qua kẽ răng: “Chỉ có chừng đấy thôi!”
Chủ quán vẫn giữ nguyên nụ cười trên mặt, song giọng nói đã có chút châm biếm: “Tô Tử làm nghiệp lớn, hai lượng vàng cỏn con này, hẳn sẽ không quỵt đấy chứ?”
Một cảm giác ghê tởm trào dâng từ tận đáy lòng. Tô Tần lấy ra hai bộ trang phục sĩ tử chưa mặc lần nào, lạnh lùng nói: “Hai bộ trang phục này may mới ở Lạc Dương, cùng với bộ tại hạ đang mặc tổng cộng là tám lượng. Không tính bộ tại hạ đang mặc, tính riêng hai bộ này, một bộ là trang phục xuân thu, một bộ là trang phục hè, ít nhất cũng có giá bốn lượng. Tại hạ chưa mặc lần nào, tạm đổi lấy hai lượng, được chứ?”
Chủ quán liếc qua hai bộ trang phục, cười khinh khỉnh mà nói: “Mũ áo may theo số đo của Tô Tử, bảo tại hạ dùng thế nào đây? Hơn nữa, những y phục này chỉ hợp để cho quý nhân mặc, tại hạ thân hèn, làm gì có phúc hưởng? Mà nói thực, dù có phúc được hưởng, bộ mũ áo kiểu này, ở Hàm Dương tại hạ chỉ cần một lượng là đã mua được, làm gì có giá hai lượng?”
Tô Tần giận sôi máu, cởi phăng tấm áo đang mặc trên người, ném luôn lên bàn: “Thêm bộ này nữa, đã đủ chưa?”
Chủ quán nhìn Tô Tần, đoán chừng trên người hắn cũng chẳng còn thứ gì đáng giá nữa, mới ra bộ thở ngắn than dài, lên giọng bất đắc dĩ: “Chậc chậc! Thôi được rồi, làm người cũng nên rộng lượng. Nể tình Tô Tử thuê trọ bản quán lâu ngày, tại hạ cũng không so đo với Tô Tử nữa. Có thể đi được rồi, Tô tiên sinh!”
Tô Tử khoác tay nải lên vai, trừng mắt hằn học nhìn chủ quán một cái, rồi sải bước đi luôn.
Từ trên cây hoè già trong sân, một con chim sà xuống, nhảy tưng tưng trên sân một hồi, rồi bay lên đỗ trên chạc cây nơi Ngô Tần từng treo cổ tự vẫn, kêu lích chích vài tiếng, khiến một cụm tuyết rơi xuống lả tả.
Sau buổi nghị chính công khai với Tô Tần tại Luận Chính đàn, Huệ Văn Công khó khăn lắm mới gạt bỏ được hai chữ “đế sách” của Tô Tần ra khỏi đầu, song lại rơi vào một mối lo âu khác.
Sau khi khởi giá về cung, Huệ Văn Công ngồi một mình trước bàn, đôi mày chau tít, trầm lặng hồi lâu, rồi thình lình giáng mạnh nắm đấm xuống bàn, mặt đằng đằng sát khí, giận dữ lẩm bẩm: “Cái gì mà xưng vương chính danh? Cái gì mà xa thân gần đánh? Cái gì mà thâu tóm thiên hạ? Quả nhân khổ sở suy nghĩ suốt bao năm qua, khó khăn lắm đến gần đây mới tìm ra được con đường chính sự tương lai của nước Tần, mà tên này chỉ dăm ba câu đã nói toạc ra trước bàn dân thiên hạ! Tô Tần này rõ ràng muốn chết!” Rồi đứng phắt dậy, đi tới đi lui trong phòng. “Kẻ này đúng là đi guốc trong bụng quả nhân. Nếu không diệt trừ, không biết sẽ còn phá hỏng bao nhiêu việc lớn!”
Huệ Văn Công lại đi quanh vài vòng nữa, rồi trở về trước bàn ngồi phịch xuống, lớn tiếng gọi: “Người đâu!”
Nội thần vội bước vào: “Có thần!”
“Báo với Hắc Điêu, cho kẻ này tiêu biến vĩnh viễn!”
“Thần lĩnh chỉ!”
Nội thần lui ra cửa, quay người đang định đi, thì Huệ Văn Công lại gọi giật: “Khoan đã!”
Nội thần dừng bước, quay người lại.
Huệ Văn Công chậm rãi nói: “Ngươi hãy tạm lui ra, để quả nhân suy nghĩ lại!”
Cũng trong buổi chiều hôm đó, đoàn xe sứ đi Ngụy trở về, rầm rập tiến vào cổng đông thành Hàm Dương.
Lúc gần tới cung Tần, Sư Lý Tật nói với công tử Hoa: “Công tử mau vào cung phục mệnh chúa thượng, tại hạ tới phố Sĩ Tử một chuyến, xem Tô Tử có còn ở đó không.”
Công tử Hoa cười nói: “Đã về đến nơi rồi, sớm muộn gì cũng phục mệnh, đâu phải vội vàng một chốc lát. Trên đường đi nghe thượng đại phu luôn miệng nhắc tới Tô Tần, hẳn người này bản lĩnh rất đỗi phi thường, Tiểu Hoa cũng muốn gặp mặt hắn xem sao.”
Sư Lý Tật bật cười, rồi hai người lại cùng nhau ngồi xe thẳng tới khách sạn Vận Lai, dừng xe trước cổng, vội vã vào trong, đi thẳng tới nơi Tô Tần ở, gõ cửa vài cái, song không thấy ai trả lời.
Chủ quán bước lại, nhìn thấy công tử Hoa, vội khấu bái sát đất: “Thảo dân khấu kiến công tử!”
Công tử Hoa chỉ vào phòng của Tô Tần: “Tô Tử có ở đây không?”
Chủ quán thấy công tử Hoa quan tâm tới Tô Tần như vậy, trong lòng sợ hãi, ấp úng nói: “Tô Tử... sáng... sáng nay... trả phòng... đi rồi!”
“Đi rồi?” Công tử Hoa thấy chủ quán nói năng ấp úng, liền sầm ngay mặt xuống. “Đi như thế nào?”
“Bẩm... bẩm...” Chủ quán giọng càng run rẩy, “Tô Tử tiêu hết tiền, không còn tiền trọ, sáng nay ra chợ bán xe ngựa, rồi cuốc bộ bỏ đi rồi!”
Công tử Hoa cười nhạt một tiếng, đang định hỏi tiếp thì Sư Lý Tật đã kéo lại, quay sang chủ quán hỏi: “Có biết Tô Tử đi đâu không?”
Chủ quán lắc đầu. Sư Lý Tật hất hàm ra hiệu cho công tử Hoa, hai người bước ra khỏi nhà trọ, đi tới Anh Hùng cư. Một lát sau, công tử Hoa bước ra khỏi Anh Hùng cư, huýt sáo một tiếng, lập tức có vài người xuất hiện, cùng công tử Hoa đi thẳng tới khách sạn Vận Lai.
Chủ quán nhìn thấy công tử Hoa quay lại, sắc mặt âm trầm, lại thấy vài người đi cùng ai nấy đằng đằng sát khí, lập tức mặt mày tái mét, không đợi hỏi tới, đã quỳ sụp xuống đất, lắp bắp nói: “Công... công tử gia, Tô... Tô Tử để... để lại... mũ áo...”
Công tử Hoa lạnh lùng nhìn chủ quán: “Nói mau, còn gì nữa?”
Trong ngự thư phòng, Huệ Văn Công ngồi ngay ngắn, hai mắt nhắm lại, đôi mày chau tít, vẫn đang suy nghĩ về chuyện của Tô Tần.
Đột nhiên, Huệ Văn Công mở choàng mắt, lôi một tấm thẻ tre từ dưới bàn lên, mặt trước viết chữ “sát”, mặt sau viết chữ “xá”, cầm lên xem xét kỹ một hồi, rồi tung lên không trung. Tấm thẻ tre lộn vài vòng trên cao rồi rơi xuống đất, nảy lên một cái, nằm im lìm.
Huệ Văn Công không bước đến xem tấm thẻ tre, mà từ từ nhắm mắt lại.
Không biết bao lâu sau, Huệ Văn Công mới từ từ mở mắt, nhìn quanh quất tìm kiếm, thấy tấm thẻ rơi sát chân tường, mặt phải ngửa lên, hiện rõ một chữ “sát” lạnh lẽo.
“Than ôi!” Huệ Văn Công tràn đầy thất vọng, thở dài tiếc nuối. “Tô Tử, không phải quả nhân không biết trân trọng hiền tài, mà là ông trời không dung ngươi!”
Huệ Văn Công đang than thở, thì nội tể bước vào báo: “Khởi bẩm chúa thượng, thượng đại phu, công tử Hoa đi sứ Ngụy đã trở về, đang đợi bên ngoài cầu kiến.”
Huệ Văn Công bèn ngồi ngay ngắn lại: “Truyền!”
Sư Lý Tật, công tử Hoa song song bước vào cửa, khấu đầu: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”
Huệ Văn Công phẩy tay: “Hai vị ái khanh, bình thân!”
Sư Lý Tật, công tử Hoa cảm tạ, đứng dậy rồi ngồi xuống.
Huệ Văn Công hỏi: “Chuyến đi này có tin tốt lành chăng?”
Sư Lý Tật lắc đầu nói: “Đúng như chúa thượng dự đoán, Bàng Quyên quả nhiên không dung Tôn Tẫn, vu cho Tôn Tẫn tội mưu phản. Ngụy Vương không phân biệt thật giả, tin lời Bàng Quyên, hạ lệnh xử trảm Tôn Tẫn. Bàng Quyên và quần thần cầu xin, Ngụy vương mới đổi sang tẫn hình, thích chữ lên mặt, giờ Tôn Tẫn đã trở thành phế nhân rồi!”
Huệ Văn Công dường như sớm đã liệu trước kết quả này, mặt không hề biến sắc, trầm ngâm hồi lâu mới hỏi: “Tôn Tẫn có biết Bàng Quyên hại mình không?”
Sư Lý Tật lại lắc đầu: “Tôn Tẫn không những không biết, ngược lại còn lấy làm cảm kích trước ơn cứu mạng của Bàng Quyên. Sau khi hành hình, Bàng Quyên đón Tôn Tẫn về phủ, chăm sóc vô cùng chu đáo. Hành động của Bàng Quyên đã khiến cả nước Ngụy chấn động, ai nghe thấy cũng cảm động, đều nói Bàng Quyên là người có tình có nghĩa.”
Huệ Văn Công khẽ gật đầu: “Bàng Quyên kia quả là mưu mô thủ đoạn. Thế nhưng...” Nói đến đây thì dừng lại, đầu mày lại chau tít.
“Chúa thượng?” Sư Lý Tật nhìn thấy, bèn bước lại gần hỏi.
“Nếu đã là như vậy, tình thế xem ra càng tệ hơn!”
Sư Lý Tật ngạc nhiên hỏi: “Cớ sao lại tệ hơn?”
“Ái khanh không biết ư?” Huệ Văn Công chậm rãi nói. “Nếu Tôn Tẫn không chịu hình, Tôn, Bàng ắt có tranh chấp. Hai người tranh chấp, sẽ có lợi cho ta. Hiện tại Tôn Tẫn đã thành phế nhân, tất không còn tâm tranh chấp nữa. Bàng Quyên lại có ân chăm sóc, Tôn Tẫn lấy làm cảm kích, hẳn sẽ tìm cách báo đáp. Tôn Tẫn bị tổn thương đến cơ thể, song trí tuệ vẫn vẹn toàn. Bàng Quyên vốn là hổ tướng, lại có Tôn Tẫn mưu tính giúp, khác nào hổ mọc thêm cánh. Nếu trí của Tôn Tẫn kết hợp với dũng của Bàng Quyên, hẳn không gì địch nổi!”
Nghe Huệ Văn Công nói vậy, Sư Lý Tật, công tử Hoa đều kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau. Rồi Sư Lý Tật vội vàng nói: “Vi thần thực sự chưa nghĩ tới chuyện này!”
Huệ Văn Công trầm ngâm một lát, ngẩng nhìn Sư Lý Tật: “Sư Lý ái khanh, khanh hãy tìm cách khiến cho Tôn Tẫn biết rõ chân tướng sự việc. Dựa vào trí tuệ của Tôn Tẫn, nếu đã hiểu ra chân tướng, tất có kế ứng phó, ít nhất cũng không để Bàng Quyên lợi dụng. Nếu không có Tôn Tẫn, Bàng Quyên sẽ chỉ là một con mãnh thú, tuy biết nhe nanh múa vuốt, song không đáng sợ.”
“Quả là diệu kế!” Sư Lý Tật thán phục gật gù, nhưng rồi lại nói. “Chỉ có điều... vi thần đi sứ sang Ngụy, lần trước khiến Công Tôn Diễn ra đi, lần này lại khiến Tôn Tẫn bị hại, người Ngụy hẳn sẽ đề phòng vi thần. Muốn làm việc này, tốt nhất chúa thượng nên cử người khác.”
Không đợi Huệ Văn Công lên tiếng, công tử Hoa đã chủ động thỉnh mệnh: “Chúa thượng, Tiểu Hoa xin được đi chuyến này!”
“Được!” Huệ Văn Công đồng ý. “Tiểu Hoa quả là người phù hợp, quả nhân chuẩn tấu!” Rồi quay sang Sư Lý Tật. “Còn chuyện gì nữa không?”
“Chúa thượng!” Sư Lý Tật vòng tay nói. “Vi thần từng mời Tôn Tẫn đánh cờ, qua trò chuyện biết được, Quỷ Cốc Tử thu nạp bốn đệ tử, là Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Trương Nghi và Tô Tần. Tôn, Bàng tinh thông binh học, Tô, Nghi tinh thông mưu học. Nghe Tôn Tẫn nói, trong số các đệ tử Quỷ Cốc, hắn kính trọng nhất Tô Tần, ca ngợi Tô Tần có thể làm nên đại sự. Sở dĩ vi thần gấp rút trở về, chính là vì chuyện này. Chúa thượng, Bàng Quyên đã một lòng với Ngụy, Tôn Tẫn lại thành phế nhân, chỉ còn Tô Tử...”
“Nói như vậy...” Huệ Văn Công kinh ngạc thất sắc, “đến tài của Trương Nghi cũng không bằng Tô Tần?”
“Hẳn là như vậy!” Sư Lý Tật gật đầu nói. “Từ đầu tới cuối, Tôn Tẫn chưa một lần nhắc tới Trương Nghi. Vi thần mới gặp Tôn Tẫn lần đầu, cũng ngại hỏi tường tận.”
Huệ Văn Công khép mắt lại, chìm vào suy nghĩ, hồi lâu sau, mới ngẩng lên nhìn Sư Lý Tật: “Sư Lý ái khanh, khanh mau đi gặp Tô Tần, truyền tới yết kiến lập tức!”
“Muộn rồi!” Sư Lý Tật khẽ thở dài. “Trên đường trở về, vi thần tiện đường rẽ vào phố Sĩ Tử, định vào thăm Tô Tử. Song chủ quán nói, Tô Tử đã đi rồi!”
“Đi rồi?” Huệ Văn Công sửng sốt. “Đi lúc nào?”
“Sáng nay!”
Huệ Văn Công trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau, đột nhiên lại trở nên bình thản như không, dang tay mà nói: “Người này muốn đi thì cứ để cho hắn đi! Sư Lý ái khanh, khanh đi đường vất vả, hẳn đã mệt rồi, hãy về nghỉ ngơi vài ngày cho khoẻ. Tiểu Hoa ở lại!”
Sư Lý Tật sững sờ, rồi đứng dậy, khấu đầu nói: “Vi thần cáo lui!”
Chính vào lúc lui ra, ánh mắt Sư Lý Tật vô tình liếc qua tấm thẻ tre ở sát chân tường, nhìn thấy bên trên rành rành một chữ “sát”, tim liền nảy lên một cái, bước chân bất giác lảo đảo.
Huệ Văn Công ngạc nhiên hỏi: “Ái khanh?”
Sư Lý Tật đứng vững trở lại, vội vòng tay nói: “Vi thần cáo lui!”
Huệ Văn Công chậm rãi đứng dậy, đi ra phía cửa, dõi mắt nhìn theo Sư Lý Tật một đoạn xa, mới quay trở lại, nhìn chằm chằm vào công tử Hoa: “Tiểu Hoa, đệ vừa mới trở về, liệu sức khoẻ có chịu nổi không?”
Công tử Hoa vỗ ngực bồm bộp: “Quân huynh yên tâm, Tiểu Hoa khoẻ lắm!”
“Chịu nổi thì tốt!” Huệ Văn Công dừng lại một lát, rồi hạ quyết tâm, nghiến răng nói. “Tô Tần rời Hàm Dương, hẳn sẽ qua ải Hàm Cốc về phía đông. Đệ chọn lấy vài tên Tiểu Điêu tháo vát, đuổi theo kẻ này, giết ngay tại chỗ!”
Công tử Hoa trợn trừng mắt kinh hãi, đứng chết lặng hồi lâu mới định thần trở lại: “Giết Tô Tử? Nghe thượng đại phu nói, Tô Tử là đại tài kia mà!”
“Đại tài cái gì?” Huệ Văn Công lừ mắt nhìn công tử Hoa. “Kẻ khuấy động dư luận để mong đắc sủng, giữ hắn lại, chỉ tổ chuốc họa!”
“Nhưng...” Công tử Hoa vẫn đứng ngây ra ngơ ngác.
“Đừng hỏi nhiều lời, mau phụng chỉ!”
Thấy Huệ Văn Công lời lẽ quyết đoán, quyết không thương lượng, công tử Hoa không dám hỏi thêm gì nữa, bèn quỳ xuống khấu đầu mà nói: “Thần đệ tuân chỉ!”
Thấy công tử Hoa đã đi xa, Huệ Văn Công chậm rãi bước lại phía chân tường, nhặt tấm thẻ tre lên, trở về bàn ngồi xuống, lật mặt sau tấm thẻ tre, nhìn vào chữ “xá” mà thở dài thườn thượt, rồi nhắm mắt lại.
Công tử Hoa lòng đầy nghi hoặc bước ra khỏi cửa cung, gọi xe ngựa lại, đi về phía Hắc Điêu đài.
Vừa rẽ qua một khúc ngoặt thì nhìn thấy xe ngựa của Sư Lý Tật chắn ngang góc phố, Sư Lý Tật đứng phía trước xe, có vẻ đang đợi công tử Hoa.
Công tử Hoa dừng xe, hỏi Sư Lý Tật: “Thượng đại phu vì sao lại đứng đợi ở đây?”
“Kính chờ công tử!”
“Chờ tại hạ?” Công tử Hoa ngẩn người, nhưng rồi hiểu ra ngay, bèn nhảy xuống xe ngựa, hỏi khẽ. “Vì Tô Tần ư?”
Sư Lý Tật gật đầu: “Nếu tại hạ đoán không nhầm, chúa thượng giữ công tử lại, hẳn là muốn công tử truy sát Tô Tử.”
Công tử Hoa kinh ngạc: “Sao thượng đại phu lại biết?”
Sư Lý Tật khẽ thở dài: “Khi tại hạ lui ra, vô tình nhìn thấy một tấm thẻ tre rơi trên nền đất, bên trên đề một chữ ‘sát’. Tại hạ đoán rằng, đây là chữ chúa thượng viết riêng cho Tô Tử. Từ đó tại hạ suy đoán, chúa thượng sớm đã hiểu rõ tài trí của Tô Tử, sợ rằng sau khi Tô Tử xuất quan, sẽ được liệt quốc trọng dụng, để lại hậu họa, do đó mới quyết định trừ khử Tô Tử.”
Công tử Hoa vội nói: “Chúa thượng đã biết Tô Tử là đại tài, cớ sao không dùng?”
Sư Lý Tật trầm ngâm hồi lâu, rồi lắc đầu nói: “Tại hạ cũng không biết! Dựa vào trí tuệ của chúa thượng, không dùng Tô Tử, hẳn có nguyên do.”
Công tử Hoa cũng gật đầu nói: “Phải, thượng đại phu nói rất đúng, chúa thượng mưu sự nhìn xa trông rộng, không dùng Tô Tử, tất có nguyên do. Chỉ có điều...” Ngập ngừng một lát, “Tô Tử là đại tài, nay phải giết đi, bảo tại hạ ra tay thế nào đây?”
“Tại hạ đợi công tử ở đây cũng chính là muốn nói với công tử chuyện này. Đừng nói là công tử không thể ra tay, mà ngay cả chúa thượng cũng chưa thực sự quyết đoán.”
“Ồ?” Công tử Hoa trợn tròn mắt. “Chúa thượng vẫn chưa quyết đoán ư?”
“Đúng vậy!” Sư Lý Tật trịnh trọng gật đầu. “Mặt trước của tấm thẻ tre viết chữ ‘sát’, vậy mặt sau hẳn là viết chữ ‘xá’. Thẻ tre nằm ở góc tường, dứt khoát là chúa thượng chưa thể quyết định, mới nhờ tới tấm thẻ tre, nghe theo ý trời, không ngờ mặt ngửa lại mang chữ ‘sát’!”
Thấy Sư Lý Tật chỉ ra điều này, công tử Hoa dường như cũng đã lờ mờ hiểu, ngẫm nghĩ một lúc rồi gật đầu nói: “Đã là theo ý trời, tại hạ chỉ có thể giết Tô Tử mà thôi!”
“Việc khó quyết, mới phải nghe theo ý trời. Chúa thượng đã nghe theo ý trời, nhưng trong lòng rõ ràng không muốn giết Tô Tử. Công tử nếu ra tay, về sau nếu chúa thượng hối hận, công tử chẳng phải sẽ...” Sư Lý Tật bỏ lửng nửa chừng, nhìn công tử Hoa.
“Ờ...” Công tử Hoa cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ, một lúc sau mới ngẩng đầu nhìn Sư Lý Tật. “Theo thượng đại phu, tại hạ nên hành sự thế nào?”
“Xin hỏi công tử, chúa thượng hạ chỉ thế nào?”
“Ý chỉ của chúa thượng là ‘đuổi theo kẻ này, giết ngay tại chỗ’.”
Sư Lý Tật cười nói: “Chúa thượng đã có ý chỉ, công tử không thể trái lệnh. Tuy nhiên, chúa thượng lại không yêu cầu công tử phải xách thủ cấp Tô Tử về phục mệnh, chỉ bảo công tử đuổi theo Tô Tử, giết hắn ngay tại chỗ, còn công tử có đuổi được hắn hay không, thì...” Nói tới đây, dừng lại nhìn công tử Hoa bằng ánh mắt đầy ẩn ý.
Công tử Hoa đã hiểu ra, ôm quyền mà nói: “Cũng không còn sớm nữa, tại hạ phụng chỉ đuổi người, xin được đi trước!”
Sư Lý Tật cũng ôm quyền nói: “Chúc công tử thuận lợi!”
Gió cuốn tuyết rơi mỗi lúc một thêm dữ dội. Khắp vùng Tần Xuyên rộng lớn, tuyết trắng mênh mông.
Tuyết lành báo bội thu, đối với người Tần, cuối năm tuyết rơi dày, chính là điềm may mắn. Tuy nhiên, đối với Tô Tần hiện chỉ còn vài đồng hoàn trong người, thì trận tuyết lớn này rõ ràng là tai họa. Sau khi vội vàng rời khỏi khách sạn Vận Lai, Tô Tần tới một quán ăn, vét hết số tiền hoàn còn lại mua bánh bao, đút vào trong tay nải, rồi lập tức rời khỏi Hàm Dương.
Do quần áo ấm đã bị lão chủ quán tham lam bóc lột hết, trên người Tô Tần giờ đây chỉ còn lại hai lượt áo vải mỏng, đi trong gió lạnh tuyết lẽo nhường này, đương nhiên khó lòng chịu thấu. Cách duy nhất làm ấm cơ thể chính là đi thật nhanh, do vậy, sau khi ra khỏi cổng đông thành Hàm Dương, Tô Tần sải bước quần quật, theo con đường cái quan bên bờ nam Vị Thuỷ cắm cúi đi miết về phía đông.
Tô Tần chỉ có một hy vọng, chính là cố gắng đi được tới thôn Tiểu Tần. Tô Tần tin rằng, chỉ cần sống sót để đi tới đó, hán tử cụt tay chắc chắn sẽ giúp đỡ mình. Do trong người chẳng còn lấy một xu, Tô Tần không dám nghỉ chân ở quán ven đường, ăn mặc lại phong phanh, nên chỉ có thể đi liên hồi không nghỉ để không phải rét cóng. Tới chập tối ngày hôm sau, sau một ngày một đêm đi bộ liên tục, vượt qua hơn ba trăm dặm đường, Tô Tần cuối cùng đã tới được Vũ Thành.
Vũ Thành cách thôn Tiểu Tần không đầy ba mươi dặm. Tô Tần nhìn sắc trời, không dám lề mề, càng rảo bước nhanh hơn. Do khắp nơi tuyết phủ trắng xoá, Tô Tần không nhận ra đường đi, đang lúc do dự, vừa hay gặp một người khách bộ hành, mới hỏi được đường tới Ninh Tần. Tô Tần cảm tạ xong, lại gấp rút đi tiếp.
Đây là một con đường cái quan rộng rãi, vốn dĩ xe lớn có thể đi được. Tuy nhiên từ Vũ Thành tới Ninh Tần, đã bắt đầu vào vùng núi, chưa nói đến đường đi quanh co khúc khuỷu, mà còn rất nhiều dốc lớn vực sâu, chỉ hơi sơ sẩy là có thể trượt chân ngã xuống vực như chơi.
Đi hơn chục dặm thì bóng tối bắt đầu buông xuống. Gió tuy đã ngừng thổi, song tuyết lại mỗi lúc một thêm mù mịt. Chưa đầy hai canh giờ, tuyết đã phủ trên mặt đường non nửa thước. Do là tuyết mới, nên đi lại vô cùng tốn sức, Tô Tần càng đi càng chậm, bước thấp bước cao, nặng nề khó nhọc. Đi chậm lại, càng dễ thấm lạnh. Áo quần thấm ướt mồ hôi sau một buổi chiều đi mải miết không nghỉ, giờ dính bết vào người, chẳng khác gì lưỡi dao sắc buốt.
Tệ hại hơn là Tô Tần đã ăn hết chiếc bánh bao cuối cùng từ lâu. Đi suốt ngày đêm không nghỉ, chưa nói đến mệt mỏi mất sức, lại càng không thể bụng rỗng. Đi liền vài trăm dặm đường ngập tuyết, dù là người khoẻ mạnh cũng khó lòng kham nổi, huống hồ Tô Tần lại rét cóng đói mềm.
Do là cuối năm, trên đường không một bóng người. Tô Tần đói rét thê thảm, mệt mỏi khó kham, gắng hết sức lực leo lên được một đỉnh dốc, ước chừng lộ trình tiếp theo ít nhất cũng còn hơn chục dặm. Nhìn vào tình trạng hiện thời, đừng nói là hơn chục dặm, dù là một dặm cũng đã quá xa xôi.
Tô Tần bước lại bên lề đường, vốc hai vốc tuyết bỏ vào miệng trệu trạo nuốt xuống. Nhìn thấy một gốc cây nhỏ, định bẻ cây làm gậy chống, nào ngờ bẻ mấy lần liền mà thân cây vẫn dẻo dai khác thường, bẻ vặn kiểu gì cũng không gãy. Tô Tần không dám lãng phí sức lực, đành khẽ thở dài, trượt xuống chân dốc dọc theo con đường. Lại đi thêm vài bước, thì thấy phía trước xuất hiện một bãi đất trống, cạnh đó hình như có nhà ở.
Rõ ràng, đây là một quán trọ sơ sài chuyên phục vụ khách qua đường. Tô Tần nhìn kỹ, thấy bên trong có ánh đèn le lói.
Tô Tần đắn đo một lúc, rồi chậm chạp bước tới trước cửa, phủi tuyết dính trên người, gõ cửa khe khẽ.
Bên trong vọng ra tiếng làu bàu: “Ai thế? Năm hết tết đến cũng không để cho người ta yên?” Một lát sau, cánh cửa kêu đánh “két” một tiếng, rồi mở ra một khe hẹp, một cái đầu tròn tròn thò ra qua khe cửa.
Tô Tần vừa nhìn, đã giật mình kinh ngạc, bởi lẽ cái đầu kia không chỉ giống hệt lão chủ khách sạn Vận Lai, mà nhìn kỹ, quả nhiên đúng là cùng một người. Tô Tần giật mình lùi lại một bước, người run bắn, chưa kịp nói gì, người kia đã săm soi Tô Tần một lượt từ đầu tới chân, lại làu bàu: “Quan nhân muốn ăn cơm phải không?”
Tô Tần định thần trở lại, lần mò trong ống tay áo trống rỗng một cách vô thức.
Chủ quán nhìn Tô Tần một hồi, thấy hắn ăn mặc phong phanh, bèn gật đầu nói: “Vào trong ngồi đi, bên ngoài lạnh lắm!”
Chủ quán nói xong, quay người bước vào, đi xuống bếp, mở nồi, lấy ra hai chiếc màn thầu mới hấp, lại múc một bát canh xương từ trong nồi đất trên bếp lò, rồi mang ra ngoài, ngẩng đầu nhìn quanh, thì không thấy người đâu nữa.
Chủ quán ngẩn người, nhìn ra phía cửa, thấy cánh cửa vẫn khép hờ như lúc nãy, bèn lớn tiếng trách móc: “Quan nhân, mau vào đi, gió lạnh lùa hết vào phòng rồi!”
Ngoài cửa vẫn lặng im phăng phắc.
Chủ quán bước ra cửa nhìn, chỉ thấy tuyết rơi trắng xoá, song không thấy một bóng người. Ông ta đứng thần ra một lúc, dụi mắt: “Ồ, người đâu rồi?” Lại ngó nghiêng một hồi, lẩm bẩm. “Chẳng lẽ là ma hiện?” Rồi khép cửa lại, trở vào trong nhà, đứng thừ người một lúc, gật đầu tự nhủ. “Phải rồi, chắc chắn là ma! Đêm giao thừa, ai còn lang thang ngoài đường nữa? Vả lại, người này ăn mặc phong phanh, mặt mày tái mét, chẳng nói một lời...”
Nghĩ đến ma, chủ quán sợ đến hai chân nhũn ra, người run rẩy lạnh toát, quay người lấy gậy chống chặt cánh cửa. Vừa định quay vào, lại thấy bên ngoài vang lên tiếng ngựa hí. Ngay sau đó, vài kỵ sĩ rầm rập lao tới. Chủ quán đang sững sờ kinh hãi thì bảy tám kỵ sĩ đã dừng lại bên ngoài, có người nhảy xuống ngựa, tiến lại gõ cửa. Chủ quán đắn đo một lát, mới bỏ gậy chống ra, cầm trong tay, từ từ mở cửa.
Người gõ cửa chính là công tử Hoa.
Sau khi về tới Hắc Điêu đài, công tử Hoa chọn ra hơn hai chục thuộc hạ tháo vát, lại sai Hắc Điêu giỏi vẽ phác họa ra chân dung Tô Tần, sau đó dẫn đám thuộc hạ ra khỏi cổng đông thành Hàm Dương. Sau khi nghe lời Sư Lý Tật, công tử Hoa trong lòng đã có dự tính, suốt dọc đường đi, theo cung cách gió tuy lớn nhưng mưa lại nhỏ, đoàn người trông thì có vẻ vội vàng khẩn cấp đấy, song thực chất lại rất lề mề. Mỗi khi gặp một ngã rẽ, công tử Hoa lại dừng lại ngần ngừ, phân tích ngược xuôi mãi mới quyết định đi hướng nào, dẫn đám người tiếp tục truy đuổi. Khi tới các thành ấp như Hý, Vũ Thành, công tử Hoa lại sai người tìm vào tất cả các quán trọ lục soát, sục sạo suốt mấy canh giờ. Rồi lại chia bớt người theo các ngả, cầm chân dung tìm kiếm theo lối khác, còn mình dẫn theo vài kỵ sĩ đuổi về phía Ninh Tần.
Chủ quán nhìn thấy là kỵ sĩ trong cung, thì thở phào nhẹ nhõm, bước ra đón, vòng tay vái chào: “Quan nhân hẳn là muốn nghỉ chân?”
Công tử Hoa vừa xoa tay giậm chân vừa, gật đầu hỏi: “Có gì ăn không?”
“Có, có!” Chủ quán vội vã trả lời. “Có bánh bao nóng, có canh thịt bò!”
“Tốt lắm!” Công tử Hoa quay sang đám thuộc hạ, nói. “Mọi người dừng chân, uống xong canh nóng lên đường cũng chưa muộn!”
Đám người lần lượt xuống ngựa, buộc vào gốc cây gần đó, xuýt xoa bước vào trong quán. Chủ quán ôm lại vài bó cỏ khô, đặt xuống phía trước mấy con ngựa, rồi quay trở vào phòng, đóng cửa, châm đèn, cười nói: “Các vị quan gia, hiện là đêm giao thừa, thảo dân có đủ canh thịt, màn thầu, thịt bò, bánh bao, sủi cảo, còn có rượu lâu năm nữa!”
Công tử Hoa căn dặn: “Mỗi người một bát canh thịt, hai cái bánh bao, thêm năm cân thịt bò, hai vò rượu!”
“Có ngay!”
Chủ quán đi xuống bếp, một loáng sau đã bưng đồ ăn và hai bình rượu lâu năm lên, rót ra chén. Đám người lập tức ăn ngấu nghiến. Được một lúc, công tử Hoa lôi ra một tấm da dê từ trong ngực áo, trải lên trên bàn, quay sang hỏi ông ta: “Xin hỏi ông chủ, có nhìn thấy người này không?”
Chủ quán vừa nhìn, lập tức nhận ra ngay người vừa mới đứng ngoài cửa lúc nãy, trong lòng sợ hãi, miệng lắp bắp: “Có... có thấy!”
“Ồ?” Công tử Hoa thoáng giật mình. “Hắn ở đâu?”
“Đi... đi rồi!”
“Đi bao giờ?”
“Khoảng... nửa canh giờ!”
Đám người mừng rỡ, đứng bật cả dậy định đi ngay. Công tử Hoa bèn cười nói: “Các ngươi không phải vội, trước mắt chỉ có một con đường, hắn ta còn đi đâu được nữa? Mọi người cứ ăn uống no nê, kiểu gì chẳng bắt sống được tên đó đưa về!”
Đám người lại ngồi xuống, ăn uống hết chỗ rượu thịt còn lại, trả tiền xong xuôi, mới vui vẻ bước ra khỏi cửa.
Lúc này, tuyết lại càng mù mịt hơn nữa.
Đám người lên ngựa, đội tuyết đuổi theo hơn chục dặm, vẫn không thấy một bóng người. Trên mặt đất cũng không có lấy một dấu chân. Đuổi tới ngã rẽ hướng về thôn Tiểu Tần, công tử Hoa ghìm ngựa dừng lại, quan sát kỹ lưỡng một hồi, lờ mờ nhận ra một đường vết chân kéo dài đã gần như bị phủ kín dưới trận mưa tuyết dữ dội vừa nãy, hướng về phía đầu thôn, thì ngẫm nghĩ một hồi, rồi chỉ vào con đường cái quan, nói với thuộc hạ: “Các ngươi hãy đuổi theo đường lớn, hắn chưa chạy xa được đâu! Còn ngã rẽ này dẫn đến một thôn, ta sẽ tới đó xem sao!”
Đám thuộc hạ vâng lệnh, thúc ngựa rầm rập đuổi theo đường cái quan. Công tử Hoa nhảy lên ngựa, ngoặt sang lối rẽ, đi chưa đầy hai dặm, khi sắp tới thôn Tiểu Tần, quả nhiên thấy một bóng đen đang bước xiêu vẹo phía trước. Công tử Hoa ghìm ngựa, quan sát bóng người từ phía xa.
Cái bóng loạng choạng ngả nghiêng, như không còn đủ sức để đi tiếp nữa. Chưa được vài bước, bèn trượt chân ngã nhào. Cái bóng gắng gượng bò dậy, song vật vã đến mấy lần vẫn không tài nào đứng lên được. Công tử Hoa đang lo lắng, lại thấy cái bóng nhúc nhích, song là chật vật bò về phía trước.
Bò một lúc, bóng người cuối cùng cũng đã tới được một hộ gia đình ở đầu thôn, vịn tay vào khung cổng, gắng gượng đứng dậy, dùng chút sức lực cuối cùng đập vào cánh cổng.
Có tiếng chó sủa vang.
Nghe thấy chó sủa, bóng người “huỵch” một tiếng đổ vật luôn xuống tuyết. Công tử Hoa giật thột, đang định thúc ngựa lên, lại nghe tiếng chó sủa càng dữ hơn nữa. Trong sân có ánh đèn loé lên.
Nhìn thấy đèn sáng, công tử Hoa mới thở phào một tiếng, quay đầu thúc ngựa, đuổi theo đám kỵ sĩ ban nãy.
Đêm giao thừa.
Người Tần có phong tục thức đợi giao thừa. Những người khoẻ mạnh sẽ thức cả đêm, cho tới tận khi gà gáy, đợi người khách đầu tiên tới xông đất, chúc mừng năm mới.
Cả nhà hán tử cụt tay từ già đến trẻ đều chưa ngủ, đang quây quần ngồi quanh bếp lò trong phòng khách nghe lão trượng kể chuyện vui, chốc chốc trong nhà lại rộ lên những tràng cười vui vẻ. Người Tần thích cát lợi, vào đêm giao thừa, không được nói chuyện tang tóc, chỉ được nói chuyện may mắn. Tiếng cười càng nhiều, càng may mắn. Do vậy, dù là người nghiêm khắc nhất, vào đêm giao thừa, cũng sẽ nói dăm ba câu hài hước.
Lão trượng đang kể cho con cháu nghe chuyện đi săn trong núi từ thời trai tráng. Trong đêm tối, lão nhân tưởng con báo đốm là con la nên đã nhảy lên cưỡi. Đang định cưỡi nó về nhà, vừa hay trời sáng, nhìn lại mới thấy té ra là một con báo, sợ đến toát mồ hôi hột, vội vàng túm chặt lấy cổ nó, sống chết cũng không dám nhảy xuống. Con báo bực quá, chỉ muốn hất văng lão trượng xuống, nên cứ thế chạy vòng tròn, chạy đến khi chính nó cũng phải hoa mắt chóng mặt. Khi lão trượng đánh liều nhảy xuống, con báo đốm vẫn đang chạy vòng tròn trên bãi đất trống. Nhân lúc nó vẫn hùng hục chạy, lão trượng vội vã chuồn khỏi cánh rừng. Chuyện này vừa nghe đã biết là bịa, nhưng lão trượng kể chuyện hóm hỉnh, sinh động như thật, khiến cả nhà chốc chốc lại cười ồ lên thích thú.
Mọi người đang cười nói rộn ràng, chợt nghe thấy tiếng chó sủa bên ngoài. Lão trượng dừng kể, Thu Quả làm ra vẻ kinh hãi, nhìn lão trượng hỏi: “Ông ơi, hay là con báo đốm chóng mặt quá lượn tới tận cửa nhà ta rồi?”
Mọi người lại cười ồ lên.
Chó càng sủa to hơn nữa, lão trượng nghiêng tai nghe ngóng, rồi lắc đầu nói: “Không phải báo đốm! Hẳn là ai đó đã nhầm giờ, tới chúc Tết sớm quá!”
Thu Quả cười nói: “Vẫn còn sớm thế này mà ông đã muốn nhận lễ của người ta!”
Thấy chó vẫn sủa, hán tử cụt tay đứng dậy, mở cửa ra xem. Thu Quả thấy vậy, vội tranh chạy ra trước, tới bên cổng, mở cánh cổng gỗ ra, song chẳng nhìn thấy gì. Thu Quả ngó nghiêng thêm một hồi, vẫn không thấy ai, đang định quay vào thì chú chó lao thẳng ra ngoài, chạy xộc đến chỗ Tô Tần đang nằm sóng soài trên tuyết, sủa ầm ĩ. Thu Quả nhìn xuống, quả nhiên thấy có một bóng người tuyết phủ kín mít, vội kêu toáng lên: “Cha ơi, mau ra đây, có người tuyết!”
Hán tử cụt tay vội vàng chạy lại, cúi người xuống nhìn, ngạc nhiên la lớn: “Tô quan nhân!”
Tô Tần không hề lên tiếng.
Hán tử cụt tay đưa tay lên mũi Tô Tần, thấy vẫn còn hơi thở, vội giục: “Tiểu Quả, mau đỡ một tay!” Nói đoạn, đưa cánh tay còn lại ra, kéo Tô Tần dậy, rồi ngồi thụp xuống đất. Thu Quả đỡ Tô Tần lên lưng hán tử cụt tay, hán tử liền cõng Tô Tần lên, chạy vội vào trong nhà.
Thu Quả đóng cổng lại, rồi cũng chạy vào theo.
Khi Tô Tần dần dần tỉnh lại, đã là quá nửa đêm. Tô Tần cảm thấy cơ thể ấm sực, mở mắt ra nhìn, thấy mình đang nằm trên chiếc giường lò quen thuộc, trên người đắp hai tấm chăn. Trên mặt bàn bên cạnh đã đặt sẵn một bát canh gừng, vẫn đang bốc khói nghi ngút.
Một lát sau, cánh cửa mở ra, Thu Quả đẩy cửa bước vào, bưng lại một chậu tuyết trắng, đặt trước giường, lật chăn lên, kéo một chân Tô Tần ra, bốc một nắm tuyết, nhẹ nhàng xoa lên chân hắn.
Tô Tần bỗng trào nước mắt, nhìn Thu Quả, cất giọng yếu ớt: “Cô nương!”
Nghe thấy tiếng nói, Thu Quả reo lên sung sướng: “Quan nhân đã tỉnh lại rồi! Vừa rồi làm tiểu nữ sợ muốn chết, định cho quan nhân húp chút canh gừng, mà không tài nào cạy được miệng ra!”
Thu Quả nói xong, đỡ Tô Tần ngồi dậy, bê bát canh gừng lại, bón cho Tô Tần từng thìa một, rồi quay ra ngoài cửa gọi lớn: “Cha ơi, cha... quan nhân tỉnh rồi!”
Bên ngoài vọng lại tiếng chân bước trên tuyết. Một lát sau, hán tử cụt tay đẩy cửa bước vào.
Tô Tần nhìn hán tử, gượng cười mà nói: “Tạ ơn Tần huynh!”
Hán tử cụt tay cười mà nói: “Quan nhân tỉnh lại thì tốt quá! May mà có con bé này, nó tìm thấy quan nhân bên ngoài cổng. Nếu nó không ra mở cổng, e rằng quan nhân đã bỏ mạng rồi!”
Tô Tần quay sang Thu Quả: “Đa tạ ơn cứu mạng của cô nương!”
Thu Quả cười bẽn lẽn: “Quan nhân, mau uống canh gừng cho ấm!”
Uống hết bát canh gừng, Tô Tần thấy trong người tỉnh táo hơn nhiều. Lúc này, lão trượng bưng lại một bát cháo loãng. Tô Tần gắng sức cử động, muốn vái chào lão trượng một cái mà không tài nào nhấc nổi hai tay.
Lão trượng xua tay ngăn Tô Tần lại: “Quan nhân chớ cử động! Quan nhân vừa đói vừa lạnh cóng nên mới ngất đi, không đáng ngại. Mà quan nhân cũng thật là, vào hôm tuyết lớn thế này lại ăn mặc phong phanh, dù có là người sắt cũng không chịu nổi. Hãy húp bát cháo loãng này trước cho ấm bụng, đợi tới chiều mai mới có thể ăn đồ cứng được. Còn nữa, lão hủ bảo con bé kia xoa tuyết cho quan nhân, nếu không, lớp da trên người e rằng cũng không giữ nổi.”
Tô Tần nghẹn ngào: “Đa tạ... đa tạ lão trượng!”
Vào đêm giao thừa, công tử Hoa và đám thuộc hạ Hắc Điêu đuổi tới Ninh Tần, đến ngày hôm sau lại tìm tới ải Hàm Cốc, đương nhiên chẳng thu được kết quả gì. Công tử Hoa bố trí hai người ở lại Hàm Cốc quan, bảo họ giữ tấm chân dung để tìm người, còn mình và vài người khác trở về Hàm Dương, nghỉ ngơi một lát, rồi xách một tay nải vào cung phục chỉ.
Nghe nói công tử Hoa cầu kiến, Huệ Văn Công vội ra nghênh đón, không kịp hành lễ, đã đưa mắt nhìn khắp một lượt từ đầu tới chân hắn. Quan sát một chặp, nét mặt có vẻ giãn ra, rồi chậm rãi hỏi: “Xem ra, khanh vẫn chưa tìm thấy Tô Tử?”
Công tử Hoa gật đầu, nét mặt rầu rầu: “Là do thần đệ vô dụng!”
“Vào trong nói chuyện!” Huệ Văn Công trong lòng thanh thản, ung dung đi trước.
Công tử Hoa bước theo sau, quỳ sụp xuống đất, đang định thỉnh tội thì Huệ Văn Công xua tay: “Bình thân!”
Công tử Hoa đứng dậy, ngồi xuống, kể lại đầu đuôi một lượt quá trình truy đuổi, cuối cùng nói: “Khi ra khỏi Hàm Dương, Tô Tử trên mình chỉ phong phanh manh áo mỏng, trong người không còn nổi một đồng. Mấy ngày qua gió tuyết dữ dội, lại là ngày cuối năm, Tô Tần thân là danh sĩ, tuyệt đối không chịu xin ăn. Sau khi qua Vũ Thành, thần đệ tới một quán ven đường, chủ quán nói là Tô Tần vừa rời khỏi đấy. Thần đệ gấp rút đuổi theo, đuổi tới tận cửa ải Hàm Cốc cũng chẳng thấy người đâu. Có lẽ đường núi gập ghềnh khúc khuỷu, sườn núi cheo leo, không chừng Tô Tần đã trượt xuống vực sâu, chết cóng nơi đồng hoang mất rồi!”
Huệ Văn Công trầm ngâm hồi lâu, khẽ thở dài, chậm rãi nói: “Cũng tốt! Tô Tử chết hay sống, hãy tuân theo ý trời!” Rồi im lặng, ánh mắt dừng lại trên chiếc tay nải công tử Hoa mang theo. “Là vật gì vậy?”
“Là mũ áo của Tô Tử.” Công tử Hoa mở tay nải, đặt lên mặt bàn.
Huệ Văn Công nhìn một lượt, gật đầu nói: “Phải, là mũ áo của hắn!” Im lặng một lát, mới như sực nghĩ ra, ngạc nhiên ngẩng nhìn công tử Hoa. “Ồ, tại sao mũ áo của hắn lại ở chỗ của đệ?”
“Là thần đệ thu lấy từ chỗ lão chủ quán ác tâm của khách sạn Vận Lai.”
“Chủ quán ác tâm?”
Công tử Hoa gật đầu, lời lẽ hết sức bi thương: “Tô Tử nợ tiền trọ của lão, bán xe bán ngựa, đến cả bộ quần áo mặc trên người cũng phải cởi ra gán nợ. Thần đệ thấy nghi ngờ, đòi lão cho xem hoá đơn của Tô Tử, mới biết lão là kẻ ác tâm. Tô Tử chỉ ở trọ trong quán hai tháng hai ngày, lão lại thu tiền trọ đủ ba tháng. Lão lại còn thu thêm đủ loại tiền khác, đến cả nước nóng để tắm, chỗ đỗ xe ngựa, lão cũng tính tiền. Thần đệ tính toán lại, thấy lão thu trội của Tô Tử chí ít năm lượng, bức ép Tô Tử tới mức bán hết ngựa, xe, còn phải gán nợ cả bộ quần áo mặc trên người!”
“Là quán trọ nào?”
“Khách sạn Vận Lai!”
“Khách sạn Vận Lai?” Huệ Văn Công khẽ chau mày, ngẫm nghĩ một lát. “Sĩ tử treo cổ tự vẫn lần trước, hình như cũng thuê ở quán trọ này?”
“Đúng vậy!” Công tử Hoa gật đầu xác nhận. “Thần đệ điều tra biết được, Ngô Tần cũng nợ tiền trọ của người này, bị bức ép quá không còn cách nào, mới tìm đến cái chết!” Rồi lôi ra một bản tấu. “Đây là lời khai của chủ quán. Đây là lời khai của tiểu nhị trong quán trọ!”
Huệ Văn Công đùng đùng nổi giận: “Hừm, quả nhân cầu hiền nạp sĩ, đến thuế quan cũng không nỡ thu. Kẻ này được lắm, kiếm đủ tiền trọ, tiền cơm mà còn chê ít, vẫn nghĩ cách moi thêm, tham lam vô độ, đúng là không muốn sống!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Chiếu theo luật pháp nước Tần, thương gia ác tâm như vậy, nên xử tội thế nào?”
“Thương gia bất lương, ép người vào chỗ chết, tội này đáng xử chém ngang lưng!”
“Được! Vậy thì xử chém ngang lưng kẻ này trước bàn dân thiên hạ!”
Công tử Hoa nghe vậy, vội nói: “Quân huynh, không thể được!”
“Vì sao không thể?”
“Người này thấy thần đệ thẩm tra gay gắt, đã lôi lão thái hậu ra làm bình phong, nói là cháu họ xa của lão thái hậu.”
“Lão thái hậu?” Huệ Văn Công dường như cũng cảm thấy khó xử, đôi mày chau tít, ngẫm nghĩ một hồi, rồi quyết đoán. “Vậy thì lập tức đóng cửa hắc điếm, tịch thu toàn bộ gia sản, đuổi kẻ này tới vùng sơn cốc Thương Ư, cho hắn một căn nhà dột nát, để hắn ngày ngày đóng cửa tự sám hối lỗi lầm.”
“Thế còn lão thái hậu, nên nói thế nào đây?”
“Tha cho hắn một mạng chó đã là tốt lắm rồi!”
“Thần đệ lĩnh chỉ!”
Mồng năm Tết, trời đã có nắng, mặt đất ấm áp trở lại. Tuyết ở những nơi có ánh mặt trời bắt đầu tan chảy, song ở những nơi khuất bóng trong rừng núi, khe sâu, vẫn là tầng tầng tuyết trắng.
Sáng hôm nay, bên ngoài cánh cổng gỗ nhà hán tử cụt tay, cả nhà lão trượng lục tục đi tiễn Tô Tần lên đường. Tô Tần đã hồi phục hoàn toàn, mặc chiếc áo nâu vạt xanh, khoác ngoài tấm áo ngắn vải thô, trên đầu vấn mảnh khăn trắng giống như người Tần, nhìn từ xa, trông chẳng khác gì một người Tần thực thụ.
Hán tử cụt tay xách tay nải của Tô Tần ra khỏi cổng, ngắm nghía Tô Tần kỹ lưỡng một hồi, gật gù nói: “Ồ, nếu đi trên đường, thấy quan nhân ăn vận thế này, ai cũng nghĩ là một người Tần thực thụ!”
Tô Tần ngượng nghịu nhìn lại mình một lượt, rồi quỳ sụp xuống, hướng vào lão trượng, lạy liền ba lạy, lại dập đầu nói: “Ân một giọt nước, trả cả dòng sông. Ân cứu mạng của lão trượng, Tô Tần ngày sau nhất định sẽ báo đáp!”
Lão trượng bước lại, nhẹ nhàng đỡ Tô Tần đứng dậy: “Quan nhân nói như vậy là khách khí quá rồi! Đừng nói là quan nhân, dù là kẻ ăn mày, người Tần cũng không thể giương mắt đứng nhìn hắn chết rét trước cửa nhà mình!”
Hán tử cụt tay tiếp lời: “Đúng đấy, Tô quan nhân, nếu không chê Tần huynh cụt tay này, lúc nào gặp khó khăn, cứ tới đây tìm tôi!”
Tô Tần quay sang hán tử cụt tay, vái một vái thật sâu: “Hậu nghĩa của Tần huynh, Tô Tần xin ghi lòng tạc dạ!”
Hán cử cụt tay đáp lễ, rồi đưa tay nải cho Tô Tần.
Tô Tần khoác chéo tay nải lên vai, lần lượt vái chào từ biệt từng phụ nữ trong nhà, song không thấy Thu Quả đâu, thì ngạc nhiên hỏi: “Thu Quả cô nương đâu?”
Lão trượng quay vào trong sân gọi lớn: “Tiểu Quả!”
Thu Quả xúng xính quần áo mới, mặt mày hớn hở, lưng khoác một tay nải nhỏ bước ra khỏi cổng, ngượng ngùng bước đến bên cạnh Tô Tần, cơ thể mảnh mai khiến người ta nhìn mà thương xót.
Lão trượng vòng tay nói: “Quan nhân, sức khoẻ của quan nhân vẫn chưa bình phục, trên đường cần người chăm sóc. Con bé này tuy ngốc nghếch, song cũng biết ấm biết lạnh, hãy để con bé đi theo chăm sóc cho quan nhân!”
Tô Tần kinh ngạc, rồi lập tức nói ngay: “Lão trượng, chuyện này dứt khoát không thể!”
Lão trượng sững người: “Tô Tử hẳn là chê Tiểu Quả?”
Tô Tần vội vái dài mà nói: “Lão trượng, cho phép Tô Tần nói một lời!”
“Xin quan nhân cứ nói!”
“Ân nghĩa sâu nặng của cả nhà lão trượng, Tô Tần cả đời không quên. Tô Tần đã nhận Tần huynh cụt tay đây làm anh thì Thu Quả cũng coi như là con gái của Tô Tần. Nay Tô Tần lang bạt kỳ hồ, hà cớ phải để Thu Quả phải chịu khổ theo? Cùng lắm ba năm nữa, đợi Tô Tần có chút sự nghiệp, sẽ quay lại đón Thu Quả sau. Tô Tần đã coi cô bé như con một, chắc chắn không để Thu Quả phải thiệt thòi!”
Lão trượng nhìn Thu Quả, lại nhìn Tô Tần, rồi gật đầu nói: “Quan nhân đã có nỗi khổ tâm trong lòng, lão hủ đây cũng không miễn cưỡng. Tiểu Quả chỉ cần biết ở nhà đợi quan nhân là được!” Rồi quay sang Thu Quả. “Tiểu Quả, quan nhân đã nói ba năm sau quay lại đón cháu, cháu có đồng ý đợi không?”
Thu Quả mắt ngấn lệ, gật đầu.
Tô Tần lại vòng tay vái dài: “Tô Tần đã hứa, quyết không nuốt lời!”
Hán tử cụt tay tháo lấy chiếc túi buộc bên thắt lưng xuống: “Đây là một chút lương khô và vài đồng bạc lẻ, để quan nhân dùng trên đường đi.”
Tô Tần nhận lấy, lại vái mà nói: “Tạ ơn Tần huynh!” Rồi lại vái chào mọi người một lần nữa. “Đa tạ chư vị! Tô Tần cáo từ!”
Đoàn người bịn rịn tiễn Tô Tần ra tận đường cái quan, cứ đứng nhìn theo bóng Tô Tần khuất dần, tới lúc chỉ còn là một chấm đen nhỏ xíu.
Công tử Hoa không tìm được Tô Tần, Huệ Văn Công lại thở phào nhẹ nhõm.
Dù thế nào đi nữa, Tô Tần không phải chết trong tay mình, Huệ Văn Công cũng thấy nhẹ nhõm hơn nhiều. Cảm giác đó chẳng khác gì một gã keo kiệt gặp được bảo bối vô giá, biết mình không thể có được, thà huỷ hoại cũng không muốn người khác chạm vào. Song nếu đích thân phá huỷ, lại không nỡ ra tay. Ngược lại, nếu như bảo bối tự hỏng, tuy trong lòng có xót xa, song cũng thấy dễ chịu hơn.
Người tài mến tài. Trong lòng Huệ Văn Công, quả thực cũng thấy vô cùng thương tiếc. Sau khi công tử Hoa đi khỏi, Huệ Văn Công tiện tay với lấy bộ áo cừu của Tô Tần ra, lật đi lật lại ngắm nghía hồi lâu, hình dung về tình cảnh mà Tô Tần đã phải trải qua, trước mắt như hiện lên cảnh tượng Tô Tần mình không áo ấm, ăn mặc phong phanh, trong túi không có lấy một xu, một mình lặn lội trong gió tuyết căm căm, lấy tuyết làm cơm, lê bước khó nhọc đến khi ngất lịm, lăn xuống vực sâu thăm thẳm, bị tuyết lở chôn vùi. Nghĩ tới đây, bỗng lòng đau quặn thắt, nước mắt tuôn rơi.
Suốt mấy ngày sau, Huệ Văn Công không lúc nào thôi trăn trở chuyện này, ăn cơm cũng chẳng thấy mùi vị. Trong số các học trò Quỷ Cốc, Bàng Quyên một lòng với Ngụy, Trương Nghi quyết chí ở Sở, Tôn Tẫn đã thành phế nhân, duy có Tô Tần là người tài có thể sử dụng, đã thế còn hạ mình tìm tới tận cửa, nếu thực sự chết thảm như vậy, chẳng phải đáng tiếc lắm ư?
Nghĩ tới đây, Huệ Văn Công lại thấy đau đớn trong lòng.
Không dùng Tô Tần, liệu có phải là quyết định đúng đắn? Còn dùng Tô Tần, liệu có phải là sai lầm? Huệ Văn Công chìm trong trầm tư trăn trở.
Kỳ thực, mấy tháng nay, Tô Tần đã khiến Huệ Văn Công suy nghĩ không biết bao nhiêu lần, nhưng quả tình chuyện này vô cùng nan giải, bên cạnh lại không có lấy một người để bàn bạc. Trúc Viễn không thể, Công Tôn Diễn không thể, Sư Lý Tật không thể, Tiểu Hoa không thể, tất cả triều thần đều không thể, dù là nội thần cả ngày cận kề bên cạnh, cũng không thể.
Duy chỉ một người có thể, chính là tiên quân.
Nghĩ tới đây, Huệ Văn Công đứng dậy, truyền nội thần tới cung Di Tình, gặp lão nội tể, bảo lão đứng đợi ngoài cửa, rồi một mình ngồi trước giường tiên quân, lại chìm vào suy nghĩ.
Không biết bao lâu sau, trong đầu Huệ Văn Công bỗng loé lên một suy nghĩ. Tài của Tô Tử, hôm nay không dùng, ngày mai ắt sẽ dùng tới. Đế sách không thể công khai thực thi, vẫn có thể ngấm ngầm thực thi. Bản thân Huệ Văn Công đã thông qua Luận Chính đàn mà xoá bỏ các dư luận bất lợi, cớ sao lại không thể lùi một bước, lấy danh nghĩa “tôn sĩ” mà giữ Tô Tần lại trong cung, cho Tô Tần một hư chức nào đó, không dùng công khai thì dùng ngấm ngầm, đợi thời cơ chín muồi, lại chuyển từ ngấm ngầm sang công khai, cùng hắn liên thủ, hoàn thành đại nghiệp?
Nghĩ tới đây, Huệ Văn Công chợt thấy trong lòng thắt lại. Đúng vậy, bậc đại tài như Tô Tử, nghìn năm mới có một người. Mấy năm qua Huệ Văn Công đã vất vả tìm kiếm, khổ sở chờ đợi, chẳng phải đều vì người này ư? Người này đã tới rồi, cũng đã bộc lộ tài năng rồi, vậy mà...
Lại tiếp tục suy nghĩ về ngôn hành của Tô Tần trong mấy tháng qua. Tô Tần chân ướt chân ráo tới nơi, muốn gặp mặt quân chủ, trước hết phải luận về chính sự; muốn luận về chính sự, nhất thiết phải luận về thiên hạ. Lời Tô Tần nói, cũng là lời sĩ tử liệt quốc thường nói, chỉ là Tô Tần nhìn xa hơn, trông rộng hơn mà thôi. Tất cả đều trách bản thân, là bản thân Huệ Văn Công có tật giật mình.
Huệ Văn Công càng nghĩ càng hối hận, bèn đứng dậy, bước lại trước linh vị Hiếu Công, quỳ xuống khấn rằng: “Quân phụ, Tứ Nhi vô dụng, đã bỏ lỡ một đại tài. Tô Tử lần này ra đi, lần này ra đi...”
Huệ Văn Công đột nhiên khựng lại, ngẩn ngơ một hồi, rồi đứng phắt dậy, vội vàng mở cửa đi ra ngoài, lớn giọng nói với nội thần: “Mau mời thượng đại phu yết kiến!”
Sư Lý Tật thấy cung nhân giục giã cuống quýt, không biết đã xảy ra chuyện gì, bèn tất tả vào cung. Nội thần đã chờ sẵn, liền dẫn Sư Lý Tật vào ngự thư phòng. Hành lễ quân thần xong xuôi, khi ngồi xuống chiếu, Sư Lý Tật mới nhìn thấy công tử Hoa cũng đã ngồi ở đó. Nhìn thần sắc, hẳn cũng vừa vội vã tới.
Huệ Văn Công đưa mắt nhìn hai người, chậm rãi nói: “Hai vị ái khanh, quả nhân gấp rút cho gọi hai vị tới đây, vẫn là vì chuyện của Tô Tử!”
Sư Lý Tật trong lòng kinh ngạc, cho rằng âm mưu của hai người họ đã bị quân chủ phát giác, vội nhìn sang công tử Hoa, thấy công tử Hoa cũng đang trợn mắt nhìn sang phía mình, biết rằng hắn cũng không hề hay biết, vội quay lại nhìn Huệ Văn Công, giả như không biết mà hỏi: “Xin hỏi Tô Tử làm sao?”
“Hỡi ôi!” Huệ Văn Công nhìn Sư Lý Tật, than thở mà rằng. “Sư Lý ái khanh, quả nhân nghe nói Tô Tử đã bán hết xe, ngựa, gán nợ quần áo, tay không đi bộ rời khỏi Hàm Dương, trong lòng cảm thấy vô cùng áy náy. Hôm nay ngồi ngẫm nghĩ lại, tuy luận điệu của Tô Tần không sát thực, song cũng xứng mặt nhân tài. Khi Tô Tần rời đi, ăn mặc phong phanh, không một đồng dính túi, lại gặp đúng ngày gió tuyết dữ dội, đất trời lạnh lẽo, chuyện an nguy vô cùng đáng ngại. Quả nhân nghe được sự tình, đã sai Tiểu Hoa đuổi theo, muốn mời hắn trở về, cho hắn một chức quan nào đó. Nào ngờ, Tiểu Hoa đuổi tới tận ải Hàm Cốc, vẫn không thấy bóng người đâu!”
Sư Lý Tật nhìn Huệ Văn Công không chớp mắt, tim đập thình thình.
Dừng lại một lát, Huệ Văn Công nói tiếp: “Sư Lý ái khanh, quả nhân đoán rằng, tình cảnh hiện tại của Tô Tử, chỉ có hai khả năng. Thứ nhất là chết cóng chốn hoang vu vì đói rét, thứ hai là gặp nạn không chết, được cứu sống. Quả nhân gọi ái khanh tới đây, là muốn ái khanh điều tra rõ việc này. Nếu Tô Tử thoát được hiểm nạn, ái khanh hãy mời hắn trở lại Hàm Dương, quả nhân sẽ hạ mình tới đón, cung kính tạ tội, xem xét tài năng mà trọng dụng. Còn nếu Tô Tử đã chết cóng nơi đồng hoang, đó là sai lầm của quả nhân. Ái khanh hãy mang thi hài của Tô Tử về Hàm Dương, quả nhân sẽ đích thân cúng tế, mai táng long trọng theo nghi lễ quốc sĩ, đồng thời tới Thái miếu sám hối lỗi lầm, để răn đe bản thân!”
Sư Lý Tật đứng dậy, khấu bái sát đất nói: “Vi thần thay Tô Tử khấu tạ long ân của chúa thượng!”
Huệ Văn Công quay sang công tử Hoa: “Tiểu Hoa, khanh hãy chuẩn bị xe ngựa, lập tức tới Đại Lương, tìm cách để Tôn Tẫn hiểu rõ chân tướng sự việc. Nếu có thể đưa được Tôn Tẫn về Tần, quả nhân coi như khanh đã lập được đại công!”
“Vi thần tuân chỉ!”
Vài ngày sau, Sư Lý Tật sau khi tích cực “điều tra”, cuối cùng được lý chính dẫn tới thôn Tiểu Tần, đến trước cổng nhà hán tử cụt tay. Nghe thấy tiếng người gọi cổng, lão trượng và hán tử cụt tay vội bước ra, nhìn thấy lý chính dẫn theo một quan nhân đứng đợi bên ngoài. Lão trượng không biết là ai, bèn vòng tay vái chào lý chính. Lý chính nói: “Thượng đại phu trong triều Sư Lý đại nhân có chuyện muốn hỏi lão!”
Nghe nói người này là thượng đại phu, lão trượng và hán tử cụt tay vội vàng quỳ xuống đất bái lạy: “Thảo dân khấu kiến thượng đại phu đại nhân!”
Sư Lý Tật bước lên đỡ lão trượng dậy, vái chào mà hỏi: “Lão đại nhân, nghe nói vào đêm giao thừa, nhà lão đã cứu sống một người, có chuyện này chăng?”
Lão trượng vái đáp lễ, nói: “Khởi bẩm đại nhân, quả thực có chuyện này!”
“Người được cứu là ai vậy?”
“Họ Tô tên Tần, người Đông Chu!”
“Vậy hắn đâu rồi?”
“Đã đi được vài ngày. Nếu đoán không sai, giờ này có lẽ đã qua ải Hàm Cốc, tới Thằng Trì rồi.”
“Ồ!” Sư Lý Tật mặt đầy thất vọng, lại hỏi tiếp: “Người này có để lại lời nhắn nhủ gì không?”
Lão trượng lắc đầu.
Nhưng hán tử cụt tay lại lớn tiếng đáp: “Tô quan nhân hẹn rằng, sau ba năm nữa sẽ quay trở lại thôn Tiểu Tần!”
“Thật ư?” Sư Lý Tật quay sang hán tử cụt tay, hỏi ngay. “Vì sao Tô Tử lại quay lại?”
Hán tử cụt tay rất đỗi tự hào: “Để đón con gái thảo dân!”
“Đón con gái ngươi?” Sư Lý Tật vẻ như không hiểu, bèn ngẩng đầu hỏi. “Con gái ngươi đâu?”
Hán tử cụt tay ngoảnh vào trong nhà gọi to: “Tiểu Quả, mau ra đây!”
Thu Quả “vâng” một tiếng chạy ra, đứng tựa vào khung cửa, mở to mắt, rụt rè nhìn đám người lạ trước cổng. Thấy họ đều đổ dồn mắt nhìn mình, thì mặt đỏ bừng, vội nấp sau cánh cửa.
Sư Lý Tật thấy là một đứa bé gái, ngẫm nghĩ một lát rồi quay sang hán tử cụt tay hỏi: “Vì sao Tô Tử lại đón con gái ngươi?”
“Khởi bẩm đại nhân!” Hán tử cụt tay chỉ vào Thu Quả đang đứng lấp ló sau cánh cửa. “Tô quan nhân hai lần gặp nạn, đều được con bé này cứu sống. Cha thảo dân nói rằng, con bé có duyên với Tô quan nhân, muốn con bé đi theo hầu hạ Tô quan nhân, song Tô quan nhân thấy con bé còn ít tuổi, nói là để lui lại ba năm, mới quay lại đón.”
Sư Lý Tật sửng sốt một hồi, rồi bật cười mà nói: “Hay lắm, hay lắm, bản phủ chúc mừng ngươi, cũng chúc mừng con gái ngươi! Ba năm sau, Tô Tử tới đây hỏi vợ, đừng quên báo với bản phủ một tiếng, để bản phủ tới uống chén rượu mừng!”
Hán tử cụt tay không dám tin vào tai mình: “Đại nhân nói thật ư?”
“Bản phủ đã nói, đương nhiên là thật!” Sư Lý Tật lại nhìn Thu Quả lần nữa, thấy cô bé mặt mũi thanh tú, trông rất khả ái, trong lòng bỗng nảy ra một ý, bèn chỉ vào Thu Quả nói với hán tử cụt tay. “Bản phủ muốn cho Thu Quả tới nhạc phường học vài năm, đợi ba năm Tô Tử quay lại rước, cũng hiểu chút học vấn lễ nghi, như vậy mới xứng đôi với Tô Tử.”
“Được! Được!” Hán tử cụt tay cảm kích kéo Thu Quả lại dập đầu tạ ơn.
Sư Lý Tật quay sang lý chính dặn dò: “Hộ dân này có nghĩa cử cứu người hoạn nạn, đáng được khen thưởng, tăng tước hai bậc, thưởng ba mươi lượng vàng. Ngươi hãy về làm tấu báo, trực tiếp trình lên bản phủ, bản phủ sẽ chuyển lên chúa thượng ngự phê. Còn cô nương này, hãy đưa thẳng tới nhạc phường!
Lý chính vòng tay nói: “Hạ quan tuân chỉ”.
Trong phòng dệt vải nhà họ Tô, Tiểu Hỷ đang cắm cúi dệt trước khung cửi, bỗng nghe ngoài sân vọng lại tiếng cười nói.
Tiểu Hỷ nghe ra giọng của chị dâu cả và vợ Tô Đại. Giờ đang là buổi trưa, trời nắng đẹp, họ đang chọn kén tằm trong sân. Tiểu Hỷ ngẩng đầu nhìn ra ngoài sân, thấy chị dâu cả đang xoa cái bụng lùm lùm của vợ Tô Đại, cười cười nói nói: “Em ba, nhìn cái bụng thế này, chắc chắn là con trai rồi!”
Vợ Tô Đại trong lòng sung sướng, song ngoài miệng lại cười hỏi: “Xin hỏi chị dâu, dựa vào đâu mà nói là con trai?”
“Em không hiểu được đâu!” Chị dâu cả cười nói. “Nếu sinh con trai, thấy trước không thấy sau. Nhìn bụng em chỉ thấy trước không thấy sau, chắc chắn là con trai rồi!”
“Thế nào là thấy trước không thấy sau?” Vợ Tô Đại mở to mắt hỏi.
“Là chỉ nhìn thấy bụng từ phía trước, nếu nhìn từ phía sau, sẽ không nhận ra là đang mang bầu, vẫn như người bình thường ấy. Em dâu sắp sinh rồi mà bên eo vẫn thẳng, còn không phải là con trai ư?”
“Tạ ơn lời vàng ngọc của chị dâu!”
Tiểu Hỷ nghe vậy, trong lòng đau đớn như bào. Nghĩ tới mình khi ở nhà mẹ đẻ mãi không có ai tới hỏi, khó khăn lắm mới có được một đấng lang quân, làm vợ người ta đã sáu năm rồi, tới nay vẫn còn là xử nữ, bất giác cảm thấy đau xót cho mình, bèn dừng tay dệt, gục đầu trên khung cửi, song lại không dám khóc thành tiếng, chỉ lặng lẽ nấc lên từng hồi.
Chị dâu cả không nghe thấy tiếng thoi đưa, bèn ngó vào trong phòng dệt, thấy Tiểu Hỷ đang khóc lóc, thì vội đứng dậy bước vào phòng. Vợ Tô Đại thấy vậy, cũng ôm bụng đi theo. Tiểu Hỷ thấy hai người tiến lại, vội vàng cầm thoi lên.
Chị dâu cả nhìn Tiểu Hỷ, nói: “Em hai, hãy nghỉ tay một lát!”
Tiểu Hỷ ngẩng đầu, mắt còn ngấn lệ, cố nặn ra một nụ cười.
Chị dâu khẽ thở dài: “Nhìn hai vệt nước mắt trên má em kia, hẳn là lại nhớ tới quan nhân của em ư?”
Nước mắt lại lăn dài trên hai má, Tiểu Hỷ chỉ cúi đầu lặng im không nói.
Vợ Tô Đại an ủi: “Chị hai, sớm nay em nghe thấy tiếng chim khách kêu trên cây xuân, hẳn là anh hai sắp về rồi!”
“Này em hai!” Chị dâu cả cười nói. “Em còn ở đây dệt vải làm gì? Chú hai đến đất còn đem bán hết, hẳn là đã hạ quyết tâm. Người ta một khi đã quyết tâm, chưa biết chừng sẽ làm nên sự nghiệp! Mấy ngày trước, chị đi chợ ở Y Lý, trên đường vừa hay gặp tư nông đại nhân đi tuần. Tư nông đại nhân đi ở phía trước, phía sau có vài chục người đi theo, đến đám người có máu mặt ở quanh đây cũng không dám lại gần. Bình thường lý chính vênh vang là thế, nhưng hôm ấy chỉ bám theo tít đằng sau, nhìn cái lưng lom khom, trông y như cánh cung ấy!” Dừng lại một lát, lại nói. “Chậc chậc, tư nông đại nhân mới oai phong làm sao, chị đây cứ nghĩ tới, trong lòng lại thấy... Chà chà...”
Vợ Tô Đại tiếp lời: “Nếu anh hai có thể trở thành đại phu gì gì đó, thì chị hai đúng là khổ tận cam lai!”
“Phải đấy, phải đấy!” Chị dâu cả tiếp lời. “Em hai này, nếu chú hai làm quan thực, chưa biết chừng còn oai phong hơn cả tư nông đại phu ấy chứ. Tới lúc đó, chà chà, chú hai về quê, ngựa đẹp, xe sang, tiền hô hậu ủng, vàng chất thành đống. Em hai, tới lúc đó, em đừng có chỉ biết sung sướng một mình, mà quên mất chúng ta là chị em dâu đấy nhé!”
Hai người một xướng một họa, chọc cho Tiểu Hỷ đang khóc cũng phải bật cười, đưa ống tay áo lên lau nước mắt, đang định dệt vải tiếp thì chị dâu cả bước lại, giật lấy con thoi, nắm tay Tiểu Hỷ khăng khăng kéo ra khỏi khung cửi, muốn đưa ra ngoài sân nghỉ ngơi.
Hai người đang lôi kéo nhau, con Mực vẫn nằm dưới gốc cây xuân trong sân đột nhiên ngỏng đầu, hai tai dựng đứng, miệng “ử” lên một tiếng, rồi vẫy đuôi tít mù, sủa lên rối rít, lao ra khỏi cổng.
Ba người đang ngơ ngác, bỗng nghe thấy ngoài cổng có tiếng chân bước. Chốc lát sau, một người Tần râu ria đầy mặt, mệt mỏi phờ phạc xuất hiện ở trước cổng. Con Mực hết liếm chân lại dụi người, mừng rỡ sủa ngậu lên quanh người này.
Ba người phụ nữ sững sờ tại chỗ.
Mãi một lúc sau họ mới nhận ra, người đang đứng trước cổng chính là Tô Tần!
Nhìn thấy bộ dạng thảm hại của Tô Tần, chị dâu cả định thần lại đầu tiên, bước ra giữa sân, hừ mũi một tiếng, giọng đầy châm chọc: “Ối chao ôi, lời vừa ra khỏi miệng, người đã về thật rồi!”
Tô Tần lảng tránh ánh mắt giễu cợt của chị dâu cả, cúi gằm mặt xuống không nói lời nào, bước vào trong sân, đặt tay nải xuống, ngẩn ngơ một hồi, rồi ngồi xuống dưới gốc cây xuân. Con Mực chạy tới bên Tô Tần, vẫy đuôi rối rít, liếm lấy liếm để.
Chị dâu cả bước lại trước mặt Tô Tần, săm soi Tô Tần một lượt, giọng nói càng thêm cay nghiệt: “Chú hai này, chị dâu nghe nói chú làm quan lớn, nhưng nhìn cách ăn mặc của chú, thật chẳng khác gì ăn mày. À mà chị hiểu rồi, chú hai hẳn là đang cải trang vi hành ư?” Rồi quay sang vợ Tô Đại. “Em ba này, ngựa đẹp xe sang của chú hai hẳn là ở phía sau, chị em mình ra đầu thôn tiếp đón đi chứ, chớ nên thất lễ với chư vị quan gia!”
Chị dâu cả nói xong, liền ngoay ngo ả y bước luôn ra khỏi cổng. Vợ Tô Đại liếc nhìn Tô Tần, do dự một lát rồi gọi to: “Chị dâu!”
“Em ba, sao thế?” Chị dâu cả ngoảnh mặt lại hỏi.
Vợ Tô Đại nói khẽ: “Anh hai vừa mới về, hẳn là chưa ăn uống gì. Hay là, chị em ta vào bếp nấu chút cơm canh cho anh hai?”
Tuy nói là chia nhà, song nhà họ Tô vẫn thổi chung một bếp, Tô Diêu thị quản lý thóc gạo, vợ Tô Lệ trông coi bếp núc, mỗi lần nổi lửa nấu cơm đều do chị ta quyết định. Vợ Tô Lệ liếc nhìn Tô Tần, thấy hắn ăn vận trang phục của người Tần, thì bĩu môi nói: “Em ba này, em không phải lo bò trắng răng! Chú hai là người cao quý, ăn sơn hào hải vị quen rồi, làm gì nuốt nổi mấy thứ đạm bạc trong nhà này? Hơn nữa, bếp cũng hết củi từ lâu, lấy gì để nấu đây?”
Tô Tần mặt lúc đỏ lúc tái, cúi gằm đầu không nói.
Tiểu Hỷ trong lòng rối bời, nghe thấy những lời này, nước mắt trào ra giàn giụa, vốn định bước xuống khung cửi, lại sợ Tô Tần không nhìn tới, cũng sợ chị dâu cả chế giễu, nên chỉ ngồi thẫn thờ tại chỗ.
Đúng lúc này, Thiên Thuận dẫn Địa Thuận và đứa em gái cười nói chạy về. Vừa bước vào cổng, nhìn thấy một người lạ đang ngồi dưới gốc cây, thì khựng lại, rồi thận trọng tiến lên vài bước, săm soi hồi lâu mới nhận ra Tô Tần, reo lên: “A, chú hai!”
Hai đứa em nghe thấy anh nói vậy, cũng đã nhận ra, ríu rít chạy lại chỗ Tô Tần. Vợ Tô Lệ lập tức nghiêm giọng quát: “Thiên Thuận, Địa Thuận, mau ra ngoài!”
Ba đứa trẻ nghe thấy vậy, vội lùi lại, nhìn vợ Tô Lệ ngơ ngác.
Vợ Tô Lệ thủng thẳng nói: “Thiên Thuận, ngựa đẹp xe sang của chú hai ở ngoài thôn ấy, con mau dẫn Địa Thuận và em gái ra đầu thôn mà xem xem xe đã về tới nơi chưa?”
Thiên Thuận nghe vậy, mừng rỡ đáp: “Vâng ạ!” Rồi dẫn em trai, em gái chạy như bay ra khỏi cổng, vừa chạy vừa reo lên: “Đón xe đẹp! Đón xe đẹp của chú hai!”
Thấy mấy đứa trẻ đã chạy đi hết, vợ Tô Lệ liếc xéo Tô Tần, lại hừ mũi một tiếng, nói với vợ Tô Đại: “Em ba này, chúng ta cũng ra đầu thôn đón xe ngựa đi!” Vừa nói vừa kéo vợ Tô Đại đi ra khỏi cổng.
Tiểu Hỷ mũi cay sè, gục đầu trên khung cửi, bật khóc nức nở. Vừa khóc được hai tiếng, lại sợ Tô Tần nghe thấy, bèn gắng gượng nuốt lệ, cắn chặt răng, cầm con thoi lên, vừa nức nở vừa đưa khung dệt vải. Một lát sau, tiếng khung cửi đã kẽo kẹt vang lên, tiếng này nối tiếp tiếng kia, lúc chậm, lúc nhanh, nước mắt cũng cứ thế lăn thành hàng dài trên má, giọt liên tiếp xuống mảnh vải đang dệt dở, thánh thót như châu rơi.
Tô Tần ngồi lặng phắc như hoá đá dưới gốc cây, nước mắt cũng ứa ra bên khoé mắt nhắm nghiền, rơi lã chã xuống đất. Con Mực ngoan ngoãn ngồi bên cạnh Tô Tần, giương đôi mắt nhìn Tô Tần không chớp, không biết làm thế nào để khiến vị đại ân nhân từng cứu mạng mình được vui lòng.
Sau khi Tô Tần bỏ đi, Tô Hổ biết được con trai đã bán hơn chục mẫu ruộng tốt được chia cho lý chính, thì bàng hoàng uất hận, ngã lăn ra chết giấc. Sau được đại phu cứu sống, tuy giữ được tính mạng, song bán thân bất toại, nằm liệt trên giường. Đừng nói là làm việc, đến tự chăm sóc bản thân cũng không thể, đại tiểu tiện không thể khống chế, chẳng khác gì đứa trẻ sơ sinh. Từ sau khi cha chồng mắc bệnh, ba cô con dâu không thể đỡ đần được gì, hai người con trai cũng suốt ngày làm lụng cật lực ngoài đồng ruộng, nên Tô Hổ đã trở thành gánh nặng của Tô Diêu thị.
Sông Y Thuỷ chảy lại từ phía tây bắc thôn Hiên Lý, cách đầu thôn khoảng hai dặm, người dân trong thôn mỗi khi giặt quần áo, đều mang ra Y Thuỷ. Mấy hôm nay, nước sông không còn đóng băng, cứ sau bữa cơm trưa, thấy trời nắng ấm, Tô Diêu thị lại bê chậu quần áo đầy ra sông giặt.
Nước sông lạnh buốt, chẳng khác gì nước băng, song Tô Diêu thị cũng không còn cách nào khác. Tới mùa đông, phụ nữ trong thôn đa phần đều giặt quần áo ở giếng, vì nước giếng ấm hơn. Song Tô Diệu thị không dám tới đó giặt, bởi quần áo của Tô Hổ quá nặng mùi hôi hám, bà sợ khiến mọi người khó chịu.
Giặt xong chậu quần áo đầy, hai tay Tô Diêu thị đã tím tái, lạnh buốt đến tê dại. Tô Diêu thị đưa hai tay lên miệng, hà hơi vài cái cho bớt lạnh, rồi đút tay vào trong người ủ ấm một chốc, sau đó mới bê chậu quần áo lên, nặng nhọc leo lên đê, rẽ xuống con đường nhỏ dẫn vào trong thôn.
Mới có vài tháng trôi qua, Tô Diêu thị đã già đi trông thấy, bước đi run rẩy, phải dừng lại nghỉ đến hai lần mới tới được đầu thôn.
Nhìn thấy ba đứa cháu nội đang đứng trên đỉnh dốc ngỏng cổ trông về phía xa, Tô Diêu thị dừng bước, lớn tiếng hỏi: “Thiên Thuận, các cháu mau xuống đi, đứng đó làm gì thế?”
Thiên Thuận đáp: “Bà ơi, chúng cháu đang đợi xe ngựa!”
“Mấy đứa ngốc kia, tự dưng ở đâu ra xe ngựa?”
“Là xe ngựa của chú hai!”
“Chú hai?” Tô Diêu thị sửng sốt. “Chú hai ở đâu?”
Thiên Thuận hồ hởi nói: “Chú hai về rồi, đang ngồi ở trong sân! Mẹ cháu nói, chú hai còn có ngựa đẹp xe sang, bảo chúng cháu ra đây đợi xem!”
Tô Diêu thị không kịp nói thêm lời nào, vội vã bê theo chậu quần áo, loạng choạng rảo bước chạy vào trong thôn. Còn cách cổng nhà khoảng hơn chục bước chân, con Mực đã chạy ra khỏi cổng, vẫy đuôi rối rít đón bà.
Tô Diêu thị bước qua cánh cổng gỗ, song không nhìn thấy Tô Tần đâu, chỉ thấy một người Tần ngồi đờ đẫn dưới gốc cây xuân. Tô Diêu thị thấy tim mình thắt lại, đưa mắt nhìn quanh, vẫn không thấy bóng dáng Tô Tần, chỉ thấy Tiểu Hỷ đang ngồi dệt vải trong phòng, tiếng khung cửi bập bõm lúc nhanh lúc chậm.
Tô Diêu thị sửng sốt, nếu là Tô Tần, tại sao Tiểu Hỷ vẫn ngồi dệt vải? Còn nếu không phải, vậy người này là ai?
Tô Diêu thị nghĩ bụng, người này hẳn là bạn cùng về với Tô Tần, trong lòng lấy làm lo lắng, vội bước lại vài bước, khẽ giọng hỏi: “Ồ! Nhà có khách ư?” Thấy người kia vẫn không nói gì, lại tiến thêm vài bước, đến dưới gốc cây xuân.
Tới lúc này, Tô Tần mới ngẩng đầu lên, nước mắt lăn dài, đổi ngồi thành quỳ, dập đầu mà gọi: “Mẹ!”
Tô Diêu thị sững sờ, chậu gỗ trên tay rơi thẳng xuống đất, quần áo văng tung toé.
Hồi lâu sau, Tô Diêu thị mới định thần lại được, vội bước lại gần, ôm lấy đầu Tô Tần, khóc nấc lên mà nói: “Tần Nhi, Tần Nhi của mẹ, con ơi, mẹ nhớ con đến chết!”
Tô Tần gục đầu vào lòng Tô Diêu thị, cũng bật khóc nức nở.
Tiếng khung cửi trong phòng dệt lại càng hối hả, càng vang vọng hơn nữa.
Hai mẹ con khóc lóc một hồi, Tô Diêu thị bỗng đẩy Tô Tần ra: “Tần Nhi, con đói bụng chưa? Mau theo mẹ xuống bếp, mẹ nấu gì cho con ăn.”
Tô Diêu thị quay người, lập cập bước vào trong bếp. Tô Tần đứng dậy đi theo, tới trước bếp lò ngồi xuống, giúp mẹ nhóm lửa. Lại nhìn phía trước bếp lò, củi xếp thành đống, đâu phải đã hết củi?
Tô Tần đun nước sôi, Tô Diêu thị chần mấy quả trứng, lại hâm nóng mấy chiếc bánh bao, bày ra trước mặt Tô Tần: “Tần Nhi, mau ăn đi!”
Tô Tần bưng bát trứng chần, song lại bần thần chưa động đũa.
Tô Diêu thị mắt nhìn con trai đăm đắm, giục: “Tần Nhi!”
Tô Tần cuối cùng cũng thốt lên một câu: “Cha... có khoẻ không?”
Nghe thấy con trai hỏi vậy, Tô Diêu thị nước mắt giàn giụa, khóc mà nói: “Hai tháng trước, cha con ra ruộng cày cho con, thấy có người khác đang cày, cha con tới hỏi lý chính, lý chính đưa khế đất ra, lúc đó cha con mới biết con đã bán ruộng. Nhìn thấy chữ ký của con, cha đã chết ngất tại chỗ, sau đó...”
Tô Tần kinh hãi: “Cha con làm sao rồi?”
Tô Diêu thị gạt nước mắt: “Thầy thuốc nói, ông ấy trúng gió, liệt nửa người bên phải, từ sáng tới tối nằm liệt trên giường, đến đại tiểu tiện còn không biết, nào có khác gì người chết chưa chôn?”
Tô Tần nước mắt đầm đìa, mắt nhìn trân trân vào bát một hồi, rồi bưng bát lên, chậm rãi bước ra khỏi bếp, đi lên gian nhà chính.
Tô Hổ đang nằm trên giường lò trong phòng, gần tường đệm một tấm chăn dày, nên trông ông như nửa ngồi nửa nằm. Tô Hổ người tuy bị liệt, song tai lại không điếc. Tô Tần về nhà, ông đã biết từ lâu. Mỗi lời nói vẳng lại từ trong sân, ông đều nghe rõ mồn một. Thấy Tô Tần bước vào, ông liền quay đầu ngoảnh mặt đi chỗ khác.
Tô Tần vén rèm cửa, bước vào phòng, đặt bát trứng chần lên mặt bàn trước giường, quỳ xuống trước mặt Tô Hổ, khóc mà gọi: “Cha!”
Tô Hổ không thèm ngoảnh lại, cứ ngồi im phăng phắc.
Không biết đã qua bao lâu, bát trứng chần đã nguội ngắt, Tô Hổ vẫn không nói nửa lời, còn Tô Tần vẫn quỳ dưới đất.
Cuối cùng, Tô Hổ khẽ thở hắt ra một hơi dài não nề, từ từ ngoảnh mặt lại, nhìn Tô Tần: “Về rồi ư?”
Tô Tần càng cúi đầu thấp hơn.
“Về thì tốt rồi!” Tô Hổ lại khẽ thở dài.
Tô Tần bật khóc mà nói: “Cha ơi, là con trai bất hiếu... con trai bất hiếu!”
Từ trong đôi mắt già nua của Tô Hổ, hai hàng nước mắt từ từ lăn chảy.
Hồi lâu sau, ông mới đưa cánh tay còn cử động được lên, lau nước mắt, lặp đi lặp lại một câu: “Về thì tốt rồi!”
Tô Tần lại dập đầu sát đất, khóc gọi nghẹn ngào: “Cha!”
Lại một quãng im lặng thật lâu nữa, Tô Hổ đưa mắt nhìn Tô Tần, thiết tha khuyên nhủ: “Tần Nhi, nông dân vẫn cứ là nông dân, hãy chấp nhận số phận! Con cũng đã tới tuổi lập thân, nếu cứ tiếp tục lang thang rày đây mai đó, biết lúc nào mới dừng lại đây?”
Tô Tần dập đầu sát đất, nghẹn ngào không nói nên lời. Tiểu Hỷ không biết đã vào phòng từ lúc nào, âm thầm quỳ xuống sau lưng Tô Tần.
“Than ôi!” Tô Hổ thở dài. “Còn chút ruộng đất kia, bán cũng đã bán rồi. Chỉ cần con quyết chí thay đổi, cha tin rằng, rồi có một ngày, sẽ lấy lại được!” Nói đoạn, lại nhìn sang Tiểu Hỷ. “Còn nữa, vợ con là người tốt, con không thể đối xử như vậy với nó!”
Nghe những lời này, Tiểu Hỷ không kìm nén nổi, oà lên khóc nức nở, vừa khóc vừa gọi: “Cha ơi!”
Tô Tần lại càng dập đầu sát đất.
“Lui ra đi!” Tô Hổ lại ngoảnh mặt nhìn ra chỗ khác.
Tô Tần vẫn không nhúc nhích, lại một lúc nữa, mới lẩm bẩm gọi khẽ: “Cha!”
Tô Hổ ngoảnh mặt lại, nhìn Tô Tần: “Còn chuyện gì, nói đi!”
“Túp lều ở bãi đập lúa, con muốn mượn vài ngày, mong cha cho phép!”
Tô Hổ lập tức sầm ngay nét mặt, đau đớn nhắm nghiền hai mắt lại, hồi lâu sau mới mở mắt ra, hỏi: “Tần Nhi, con thực sự muốn sa lầy tới cùng ư?”
Tô Tần cúi gằm mặt, không nói gì.
“Tính khí của con, đúng là ương ngạnh hơn cả lão trâu già này!”
Tô Tần càng cúi đầu thấp hơn.
“Hỡi ôi!” Tô Hổ trầm ngâm hồi lâu, thở dài thườn thượt mà rằng. “Nếu thực sự muốn dùng, thì cứ dùng đi!”
Tô Tần lại dập đầu bình bịch: “Tạ ơn cha đã đồng ý!”
Tô Tần lạy thêm vài lạy, rồi đứng dậy bước ra khỏi cửa phòng, tới giữa sân, nhặt tay nải lên, cầm lấy mấy chiếc bánh bao mẹ vừa hâm nóng, nặng nề lê bước về phía bãi đập lúa ở phía bắc thôn. Con Mực hăm hở chạy theo sau, nhảy loi choi quanh chân Tô Tần, không rời nửa bước.
Tô Tần đi về phía túp lều, mở cửa, nhìn khắp lượt bên trong, thấy bốn phía đều hở thông thổng, trên nóc còn có một lỗ thủng to cỡ cái đấu. Một cơn gió thổi qua, thốc đám tuyết chưa tan hết rơi xuống lả tả, hệt như xơ liễu ngày xuân.
Tô Tần lập tức đi tìm rơm rạ, bận rộn một hồi, chẳng mấy chốc đã bịt kín lỗ hổng trên mái, dùng gậy và dây thừng chống chắc túp lều. Lại lấy rơm bịt kín những chỗ gió lùa, sửa sang lại cánh cửa mục nát.
Đến khi trời tối, việc sửa sang đã tạm xong xuôi, Tô Tần nhìn kỹ một lượt, lấy làm hài lòng, bèn trở về nhà, vào phòng lấy hai tấm chăn cũ và manh chiếu mà Tiểu Hỷ vẫn dùng, quay trở lại lều, rải một lớp rơm ở dưới rồi trải chiếu lên trên, làm cho mình một cái ổ để ngủ. Con Mực ngoan ngoãn nằm phục bên cạnh.
Tô Tần vừa nằm xuống một lúc, chợt thấy con Mực sủa lên mừng rỡ, vẫy đuôi chạy ra phía cửa. Một lát sau, cửa lều cọt kẹt mở ra, Tiểu Hỷ đẩy cửa bước vào.
Tô Tần ngồi bật dậy, ngỡ ngàng nhìn Tiểu Hỷ.
Tiểu Hỷ bưng theo một bát canh gừng còn bốc khói, ngần ngừ một lát, rồi tập tễnh bước lại, quỳ xuống bên cạnh Tô Tần, nâng bát canh qua đầu, ứa nước mắt mà nghẹn ngào nói: “Về nhà ngủ đi! Ở nhà có giường lò, còn túp lều này, hãy để Hỷ Nhi ngủ lại!”
Tô Tần thấy trong lòng đau xót, bèn đưa tay đỡ lấy bát canh, cố gắng trấn tĩnh lại, ôn tồn nói: “Về đi, để bát canh lại, giường lò nàng cứ nằm! Nhớ lấy, sau này đừng đến đây nữa!”
Tiểu Hỷ im lặng, ngẩn ngơ hồi lâu, mới vái mấy vái, nuốt lệ lui ra, cẩn thận khép cửa lại.
Bên ngoài, đất trời lạnh giá, lặng phắc như tờ.
Tiểu Hỷ đứng thẫn thờ trên cánh đồng tuyết trắng chưa tan hết, mặc cho gió lạnh buốt giá thổi như roi quất vào người.
Hôm nay là ngày mười lăm tháng giêng, đêm nay là đêm nguyên tiêu. Trăng tròn vành vạnh treo lơ lửng giữa trời, ánh trăng lạnh lẽo tràn trề chảy xuống, chiếu lên khuôn mặt trắng bệch đẫm nước mắt của Tiểu Hỷ.
Hồi Thứ 32
Tin con trẻ, Bạch Hổ gửi túi gấm
Rõ lòng người, Tôn Tẫn đốt binh thư
Mười ngày sau khi Tôn Tẫn bị hành hình, viên phủ úy do Bạch Hổ phái tới Sở Khâu nước Vệ trở về phục mệnh, nói rằng Lật thủ thừa đã bị gièm pha bãi chức cách đây một năm, hiện đã đưa cả nhà về quê cũ ở nước Tống. Phủ úy tìm gặp được một nô bộc già trong phủ, người này nói rằng khi Lật tướng quân đương chức, bên cạnh chưa từng có thị vệ nào tên gọi Lưu Thanh.
Tất cả mọi bằng chứng đều cho thấy, Tôn Tẫn đã bị vu oan giá hoạ. Tuy nhiên, Bạch Hổ suy đi nghĩ lại, thấy Tôn Tẫn mới tới Đại Lương, chưa gây thù chuốc oán với ai, vậy là kẻ nào đã hãm hại Tôn Tẫn?
Bạch Hổ quyết tâm điều tra bằng được sự việc này. Bạch Hổ đoán rằng, kẻ hãm hại Tôn Tẫn tất ở Đại Lương, bèn dặn dò phủ úy không được hé răng tiết lộ chuyện này với bất cứ ai, đồng thời điều động thêm nhiều sai nha, bí mật điều tra tìm kiếm tên Lưu Thanh giả mạo có vết sẹo ở má. Chỉ cần tìm thấy kẻ này, sự việc sẽ được sáng tỏ.
Lại nói tới Cẩu Tử, từ sau khi gặp Tôn Tẫn trở về, được quản gia Bàng Thông bố trí cho ở trong một khu nhà kín đáo khuất nẻo. Cẩu Tử vốn là người thô tục, sống phóng túng đã quen, không thích ở yên một chỗ, sao có thể bó chân trong nhà? Mới đầu, do có tỳ nữ hầu hạ, còn chịu ở yên. Song hơn hai chục ngày sau, dần thấy chán tỳ nữ, tay chân bắt đầu ngứa ngáy không yên.
Chiều hôm nay, Cẩu Tử lôi mười lượng vàng mà Tôn Tẫn đã tặng cho hắn vì “đi lại vất vả” ra, đùa nghịch tung hứng cùng tỳ nữ ở trong viện. Tỳ nữ chưa từng nhìn thấy nhiều vàng như vậy, càng cung phụng hắn hơn, miệng không ngớt lời tán thưởng. Cẩu Tử được thể khoe khoang với tỳ nữ: “Chỗ vàng cỏn con này nhằm nhò gì, để ta mang cả trăm đĩnh về cho nàng xem!”
Tỳ nữ cũng khích hắn thêm.
Cẩu Tử hứng lên, càng thấy ngứa nghề, lập tức lấy mũ che đi vết sẹo, đút mười lượng vàng vào ống tay áo, lặng lẽ chuồn ra khỏi cửa. Khu nhà này nằm trong hậu hoa viên, trong hậu hoa viên có một cổng phụ, vốn dành riêng cho thợ làm vườn ra vào cho tiện. Cẩu Tử sớm đã biết tới chỗ này, bèn âm thầm mở cổng, lẻn ra phố, đi thẳng tới sòng bạc.
Những chốn đông người qua lại như sòng bạc, kỹ viện, quán trọ chính là mục tiêu lùng sục của đám sai nha. Cẩu Tử tới sòng bạc, vừa bỏ mũ, để lộ vết sẹo trên mặt, đã lập tức bị sai nha cải trang thường dân ở đó nhận ra ngay. Sai nha vốn định bắt hắn, song thứ nhất đây là sòng bạc, thứ hai thấy người này thân thể cường tráng, đoán rằng hắn rất giỏi võ, sợ không bắt nổi, lại rút dây động rừng. Muốn quay về bẩm báo, lại sợ hắn đi mất. Đang vắt óc nghĩ cách, thì Cẩu Tử đến nhanh, mà thua cũng nhanh, chưa đầy nửa canh giờ đã thua sạch cả mười lượng vàng. Lại thêm trong lòng nơm nớp, nên đến kêu than cũng không dám, im thin thít vác bộ mặt rầu rĩ bỏ ra về ngay.
Sai nha nghĩ bụng: “Bây giờ có mỗi mình ta, nếu bắt hắn, để hắn chạy thoát, lại thành hỏng việc lớn. Ta cứ bám theo hắn, xem hắn đang ở đâu.”
Nghĩ là vậy, sai nha lập tức bám theo Cẩu Tử từ khá xa. Cẩu Tử do đang lẩn trốn, không dám tuỳ tiện đi lại trên phố, tới một con phố nhỏ thì chui tọt vào trong một cánh cổng phụ. Sai nha ngước mắt nhìn lên, thấy tường cao viện lớn, biết đây là một nhà phú hộ. Vội bước lại gần, đẩy khẽ vào cánh cổng, song kẻ kia đã cài then bên trong. Đúng lúc này có một cụ già thong dong đi qua, sai nha vừa hỏi thăm đã giật bắn mình kinh ngạc. Hoá ra, bên trong cánh cổng phụ này không phải nhà ai khác, mà chính là hậu hoa viên của phủ Vũ An Quân.
Sai nha cảm tạ cụ già, rồi vội vã quay trở về phủ tư đồ, bẩm báo tường tận những điều tai nghe mắt thấy cho Bạch Hổ biết.
Bạch Hổ lặng người, ánh mắt đầy kinh hãi, đứng ngây hồi lâu mới hỏi: “Ngươi có nhìn rõ không?”
Sai nha khẳng định chắc nịch: “Đại nhân yên tâm, hai mắt của tiểu nhân vẫn tinh tường lắm!”
Bạch Hổ lại đứng lặng hồi lâu, mới chậm rãi nói: “Ngươi tạm thời ở yên trong phủ, không được đi đâu, cũng không được nói chuyện này với bất kỳ ai!”
“Tiểu nhân tuân lệnh!”
Bạch Hổ gấp rút ra khỏi phủ, thấy trời sắp tối, bèn gọi xe ngựa đi thẳng tới phủ Vũ An Quân. Bàng Thông ra đón, đưa Bạch Hổ vào phòng khách, sắp xếp chỗ ngồi xong xuôi thì tới thư phòng bẩm báo với Bàng Quyên.
Một lát sau, Bàng Quyên tất tả bước tới, người còn chưa đến phòng khách, đã nghe thấy tiếng nói vọng vào: “Tiểu đệ, lâu lắm không gặp, sao hôm nay lại có nhã hứng tới thăm ngu huynh vậy?”
Bạch Hổ đứng dậy, ôm quyền đáp: “Tiểu đệ vừa đi qua đây, chợt nhớ tới đại ca, nên tiện thể ghé thăm.”
“Đại ca cũng vậy, vừa hôm kia thôi, còn nói chuyện với chị dâu về nhà tiểu đệ. Chị dâu rất thích Khởi Nhi, còn nói rằng hôm nào đẹp trời, sẽ theo đại ca tới thăm Khởi Nhi.”
“Đa tạ đại tẩu!” Bạch Hổ vái tạ. Trò chuyện một lúc, rồi như tiện miệng hỏi. “Tôn tướng quân thế nào rồi?”
“Chao ôi!” Bàng Quyên than thở. “Đại ca đã thay mấy thầy thuốc rồi, ngày nào cũng thay băng, trong uống ngoài bôi, song vết thương của Tôn huynh vẫn sưng tấy mãi không khỏi. Đại ca lo lắm, lại đang nghĩ đến chuyện thay thầy thuốc khác!”
Bạch Hổ lo lắng, gật đầu nói: “Vâng, đại ca lo cũng phải. Người bị chết bởi hành hình, đa phần không chết trong lúc hành hình, mà chết do viêm loét sau hành hình. Tôn tướng quân may mắn có đại ca chăm sóc, nên tiểu đệ cũng yên tâm phần nào. Tiểu đệ đã tới đây, cũng muốn vào thăm Tôn tướng quân một lát!”
“Tôn huynh có thói quen mặt trời lặn là đi nghỉ, giờ này có lẽ đã ngủ rồi!” Bàng Quyên lập tức cắt ngang. “Tiểu đệ nếu không bận việc gì, trong lúc đợi người chuẩn bị cơm rượu, đại ca muốn đi dạo cùng đệ một lát, sau đó hai huynh đệ ta uống với nhau vài chén, được chăng?”
“Đương nhiên là được!” Bạch Hổ cười nói.
Bàng Quyên dặn Bàng Thông chuẩn bị rượu thịt, còn mình và Bạch Hổ ra ngoài đi dạo. Hai người đi theo con đường nhỏ trong trạch viện, khi sắp tới hậu hoa viên, Bàng Quyên chợt dừng bước, rẽ vào một lối đi khác.
Bạch Hổ cười nói: “Tiểu đệ chưa biết hậu hoa viên của đại ca, muốn vào ngắm nghía một lát, được chăng?”
Bàng Quyên cười mà rằng: “Giờ đang giữa đông, tuyết chưa tan hết, quang cảnh tiêu điều, vườn hoa héo tàn xơ xác, nhìn mà rầu lòng, tiểu đệ không xem là hơn!”
Bạch Hổ không biết nói gì, đành đi theo Bàng Quyên rẽ sang lối khác quay về phòng khách.
Đúng là oan gia ngõ hẹp. Hai người vừa đi ngang qua phòng sổ sách, đột nhiên thấy một kẻ mặt mày hỉ hả bước ra khỏi cửa, có tiếng người nói với theo sau: “Cẩu Tử, quản gia nói rồi, chỉ có thể cho ngươi thêm năm lượng. Nếu lại đánh bạc, một xu cũng không có đâu!”
Cẩu Tử quay đầu lại quát lớn: “La hét cái gì thế, bố mày biết rồi!”
Cẩu Tử nói chưa dứt câu, vừa ngẩng đầu lên đã đụng ngay Bàng Quyên và Bạch Hổ.
Nhìn thấy Bàng Quyên, Cẩu Tử kinh hãi thất sắc, lắp bắp: “Đại... đại tướng quân!”
Tuy trời đã nhá nhem, song nhờ chút ánh tà dương rơi rớt, vẫn nhìn thấy rõ ràng vết sẹo hằn trên mặt Cẩu Tử.
Bàng Quyên, Bạch Hổ đều giật mình sững lại. Bàng Quyên sầm mặt giận dữ, quát lên như sấm: “Còn không cút mau!”
Cẩu Tử chẳng dám ho he, lập tức cúi đầu lủi nhanh vào con đường mòn mà hai người vừa đi qua.
Bạch Hổ ngây người nhìn theo, cho tới khi bóng hắn khuất hẳn ở phía cuối con đường.
Bàng Quyên gọi khẽ: “Tiểu đệ!”
Bạch Hổ dường như không nghe thấy.
Bàng Quyên lên giọng: “Tiểu đệ!”
Bạch Hổ giật mình: “Ồ, đệ lơ đãng quá. Đại ca, kẻ này là ai?”
“Một tên súc sinh! Tiểu đệ, đi thôi, cơm rượu đã chuẩn bị xong xuôi!”
Bạch Hổ dừng bước, vòng tay vái mà nói: “Tiểu đệ bỗng sực nhớ ra là có một việc gấp, phải trở về phủ lập tức. Bữa rượu này hãy để ngày mai uống, được chăng?”
Bàng Quyên thoáng ngẩn người, rồi vái đáp lễ mà nói: “Tiểu đệ đã có việc, đại ca cũng không ép!”
Bàng Quyên tiễn Bạch Hổ tới cổng phủ, đã có xe ngựa chờ sẵn ở đó.
Bạch Hổ quay người vái chào: “Đại ca dừng bước, tiểu đệ sẽ tới thăm sau!”
Bàng Quyên đáp lễ, nói: “Tiểu đệ ra về cẩn thận!”
Nhìn thấy xe ngựa của Bạch Hổ đã đi xa, Bàng Quyên mặt đằng đằng sát khí, bước vội về phía hậu hoa viên, đi tới khu nhà của Cẩu Tử, song không thấy Cẩu Tử đâu. Hỏi tỳ nữ, tỳ nữ cũng không biết, chỉ nói rằng hắn cầm vàng rồi chuồn ra ngoài qua lối cổng phụ của hậu hoa viên.
Bàng Quyên suy nghĩ một lát, cho gọi Bàng Thông tới hỏi: “Thông đệ, Cẩu Tử đi đâu rồi?”
Bàng Thông vò đầu bứt tai: “Tiểu đệ không biết. Vào lúc chập tối, phòng sổ sách tới tìm đệ, nói là hắn đòi chi mười lượng. Mười lượng là một khoản tiền lớn, song thấy hắn là khách quý của đại ca, tiểu đệ suy nghĩ mãi, mới bảo phòng sổ sách tạm chi cho hắn năm lượng. Đợi bẩm báo lên đại ca xong, mới chi tiếp năm lượng còn lại.”
“Hừm!” Bàng Quyên giận dữ rít lên. “Tên súc sinh này, đúng là chán sống rồi!”
“Đại ca?” Bàng Thông nhìn Bàng Quyên ngơ ngác.
“Thông đệ có điều không biết,” Bàng Quyên giải thích, “kẻ này vốn là quan coi kho của tả quân, do ham mê cờ bạc mà tham ô lương thảo, phạm tội chết không thể dung thứ. Trong quân phát hiện ra, hắn liền chạy tới chỗ đại ca, cầu xin cứu mạng. Cũng vì đại ca qúy trọng nhân tài, nể tình hắn lập nhiều chiến công, mới đứng ra giúp hắn, mở cho một con đường sống, để hắn tạm thời lánh nạn ở đây, chờ sóng gió trong quân qua đi, sẽ giao cho hắn làm việc khác để hắn lập công chuộc tội. Nào ngờ tên súc sinh này đã không hối cải, lại ngựa quen đường cũ, còn dám đòi chi tiền đi đánh bạc, bảo đại ca tha thứ cho hắn thế nào đây?”
“Ồ!” Bàng Thông lấy làm hối hận. “Đều trách tiểu đệ khinh suất, không hỏi cho rõ ràng đã vội chi tiền!”
“Chuyện này không liên quan tới Thông đệ!” Bàng Quyên an ủi. “Chỉ là... tên súc sinh này xuất đầu lộ diện như vậy, thật bất lợi cho đại ca!”
“Ồ?”
“Đại ca đã gây dựng được danh tiếng tốt đẹp trong quân, nếu để ba quân tướng sĩ biết chuyện đại ca bao che, chứa chấp kẻ tham ô, dù đại ca có nghìn miệng lưỡi cũng không thể giải thích. Ba quân thất trị, đại ca thất uy, làm sao còn tiếp tục hiệu lệnh được nữa?”
Nghe lời này, Bàng Thông đã hiểu sự thể nghiêm trọng, vội hỏi: “Chuyện đã tới nước này, phải làm thế nào đây?”
Bàng Quyên ghé sát tai Bàng Thông, thầm thì một chốc, Bàng Thông gật đầu lia lịa.
Bạch Hổ rời khỏi phủ Vũ An Quân, vội vã trở về phủ tư đồ, gọi phủ úy và đám sai nha lại, dặn dò: “Người trong bức chân dung đã xuất hiện. Nếu đúng như dự đoán của bản phủ, lúc này hắn đang ở sòng bạc! Các ngươi lập tức hành động, bắt sống bằng được hắn về cho ta!”
Phủ úy nhận lệnh, gấp rút dẫn theo vài chục sai nha, lao đi như lốc cuốn, tiến thẳng tới sòng bạc, bao vây kín mít không chừa một khe hở. Phủ úy dẫn người xông vào chiếu bạc, đám con bạc có mặt không hiểu xảy ra chuyện gì, nháo nhác dúi dụi vào các góc, run rẩy sợ hãi.
Phủ úy tra xét một hồi, không tìm thấy Cẩu Tử, bèn gọi chủ sòng bạc lại, đưa bức chân dung ra tra hỏi: “Ngươi có biết kẻ này không?”
Chủ sòng bạc nhìn tấm chân dung, gật đầu nói: “Khởi bẩm quan gia, kẻ này có biệt danh là Mặt Sẹo, đám con bạc ở đây không ai không biết hắn. Buổi chiều nay Mặt Sẹo thua mười lượng vàng, vừa rồi lại mang năm lượng tới đánh tiếp, song còn chưa tới lượt thì đã có người gọi đi rồi!”
Phủ úy vội hỏi: “Ai gọi hắn đi?”
Chủ sòng bạc ngẫm nghĩ một thoáng: “Có những mấy người, đứng ở ngoài cửa, do trời tối, tại hạ nhìn không rõ!”
“Đi lúc nào?”
“Vừa xong!” Chủ sòng bạc chỉ vào một chén trà trên bàn. “Quan gia nhìn xem, trà của hắn vẫn còn ấm!”
Phủ úy cắt cử hai người ở lại canh chừng sòng bạc, còn mình dẫn đám sai nha chia đường tìm kiếm. Lúc này đã tới giờ Nhân định, trên phố tối đen như mực, vắng tanh không một bóng người. Đám sai nha đốt đuốc, toả đi lùng sục khắp nơi.
Khi phủ úy dẫn người tới một ngã rẽ, bỗng có kẻ kinh hãi kêu lên: “Báo, Mặt Sẹo ở đây!”
Mọi người vội lao tới.
Dưới ánh đuốc bập bùng, chỉ thấy Cẩu Tử đổ nghiêng bên góc tường, cổ họng bị cứa đứt toang hoác, hai mắt trợn trừng khiếp hãi, máu tươi còn ộc ra xối xả qua vết thương. Sai nha lục soát kỹ hiện trường, không phát hiện thấy có bất kỳ vật chứng nào.
Phủ úy lệnh cho đám sai nha cuốn thi thể Cẩu Tử vào trong chiếu cỏ, khiêng về phủ tư đồ, bẩm báo toàn bộ sự việc lên Bạch Hổ, muốn Bạch Hổ tới xem xét.
Bạch Hổ ngồi phịch xuống đất, lặng đi một hồi, rồi xua tay nói: “Không cần! Lui ra đi!”
Hiển nhiên, đây là sự thực mà Bạch Hổ không muốn nhìn thấy nhất. Nhìn theo bóng phủ úy xa dần, Bạch Hổ thở dài não nề, hai mắt đẫm lệ, lẩm bẩm một mình: “Bàng đại ca, ân công, tại sao... tại sao huynh lại có thể như vậy?”
Khu nhà mà Tôn Tẫn đang dưỡng bệnh cũng ở trong hậu hoa viên của phủ Vũ An Quân, cách khu nhà của Cẩu Tử chỉ một ao sen dài vài chục trượng. Trần Chẩn thích câu cá, ao này vốn là ao thả cá, song vì muốn lấy lòng Thụy Liên, nên Bàng Quyên đã cho thả xuống đủ các loại sen. Khi mùa hè tới, sen đua nhau nở rộ, rực rỡ vô cùng.
Bấy giờ là giữa đông, trong ao chỉ còn lá sen tàn úa, rất đỗi tiêu điều. Trời vừa hửng sáng, Bàng Quyên, Bàng Thông, Phạm Trù và một thầy lang tầm năm mươi tuổi rảo bước theo con đường lát đá bên cạnh ao sen, vội vã đến phòng Tôn Tẫn.
Bàng Quyên đi tới trước giường Tôn Tẫn, ân cần hỏi han: “Tôn huynh, hôm nay cảm thấy trong người thế nào?”
Tôn Tẫn gật đầu cười nói: “Đã bớt đau chút ít, cảm tạ hiền đệ quan tâm!”
Bàng Quyên cúi xuống, cẩn thận đỡ Tôn Tẫn ngồi dậy, khẽ than: “Than ôi, đúng là tên lang băm hại người. Đã hai tháng trời, mà vết thương của Tôn huynh chẳng thấy tiến triển gì, ngược lại còn sưng tấy hoá mủ. Quyên đệ lấy làm bực mình, hôm kia đã phạt tên lang băm đó ba mươi gậy, tống vào quân ngũ phục dịch. Hôm qua Phạm Trù tìm được một thầy lang mới, nói là danh y nước Tống, chuyên trị vết thương do bị đánh bị ngã, Quyên đệ dự tính đổi sang người này, nên nay tới nói với Tôn huynh.”
Tôn Tẫn lại gật đầu: “Đa tạ hiền đệ đã lo lắng!”
Bàng Quyên quay sang lão thầy lang, nói: “Lão tiên sinh, thương thế của Tôn tướng quân, xin tiên sinh xem xét cho kỹ.”
Lão thầy lang vén chăn, tháo bỏ lớp vải băng để kiểm tra vết thương, sau đó quay lại dập đầu nói: “Khởi bẩm tướng quân, vết thương của Tôn tướng quân đã bị thối loét...”
Không đợi lão thầy lang nói hết lời, Bàng Quyên đã chặn ngang: “Đám lang băm các ngươi, hễ tới đây là chỉ biết nói mỗi câu này. Nếu không thối loét, còn cần tới ngươi làm gì? Bản tướng hỏi ngươi, vết thương này có chữa trị được không?”
“Thảo dân sẽ tận lực!”
“Cái gì mà tận lực?” Bàng Quyên nổi giận. “Ngươi đã nhận chữa trị, chứng tỏ ngươi tin vào y thuật của mình. Bản tướng nói luôn cho ngươi biết, nếu chữa lành vết thương, bản tướng sẽ thưởng ngươi mười lượng vàng. Còn nếu như có bề gì, bản tướng sẽ lấy hai đầu gối ngươi để bồi thường cho Tôn tướng quân!”
Lão thầy lang khiếp sợ đến hai đầu gối va vào nhau lập cập, dập đầu lia lịa nói: “Tướng quân, thảo... thảo dân...”
Bàng Quyên trợn trừng hai mắt: “Sao, ngươi không dám nhận lời ư?”
“Thảo dân...”
Bàng Quyên quay sang Phạm Trù nói: “Phạm Trù, mỗi bữa của Tôn tướng quân ít nhất phải có bốn món, một canh, rau thịt hài hoà, cứng mềm đúng cách, không được sơ suất mảy may!”
Phạm Trù khấu đầu nói: “Tiểu nhân tuân lệnh!”
Bàng Quyên sắp xếp xong, quay sang Tôn Tẫn, ôm quyền nói: “Tôn huynh ở lại dưỡng thương, Quyên đệ bận việc công, phải đi ngay bây giờ!”
Tôn Tẫn vòng tay đáp lễ: “Hiền đệ bận việc cứ đi, thương thế của Tẫn, không thể vội vàng được!”
“Tôn huynh bảo trọng, Quyên đệ cáo từ!”
“Hiền đệ đi cẩn thận.”
Bàng Quyên từ biệt Tôn Tẫn, cùng Bàng Thông quay trở lại tiền viện, đã có xe ngựa chờ sẵn. Bàng Quyên nhảy lên xe, đi thẳng tới phủ tư đồ.
Bạch Hổ nhận được tin báo, thoáng chút ngạc nhiên, vội ra cổng phủ nghênh đón, vòng tay vái chào: “Sao hôm nay đại ca lại có nhã hứng tới thăm tiểu đệ vậy?”
Câu hỏi này Bàng Quyên cũng mới hỏi Bạch Hổ vào tối qua khi Bạch Hổ tới thăm. Bàng Quyên hơi sững lại, song vẫn nở một nụ cười, vòng tay đáp lễ mà nói: “Tối qua tiểu đệ tới thăm, đại ca vốn đã chuẩn bị rượu thịt sẵn sàng, vậy mà tiểu đệ lại vội vã ra về, đại ca cảm thấy không yên tâm, không biết đệ có chuyện gì nghiêm trọng. Hôm nay có việc đi qua đây, tiện thể ghé vào hỏi thăm.”
Bạch Hổ cũng cười đáp lại: “Đa tạ đại ca đã quan tâm!” Rồi chìa tay nói. “Đại ca, mời vào trong phủ!”
Bàng Quyên đưa cương ngựa cho người hầu, cùng Bạch Hổ đi vào phòng khách, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Bàng Quyên cười hỏi: “Nghe nói, tiểu đệ gần đây rất bận, là bận chuyện gì vậy?”
Bạch Hổ cười nói: “Đều là chuyện vụn vặt trong phủ, không đáng nhắc đến.”
“Em dâu khoẻ chứ?”
“Vẫn khoẻ, đa tạ đại ca hỏi thăm!”
“Còn Khởi Nhi thế nào? Lần trước gặp thằng bé, thấy rắn rỏi khoẻ mạnh, ra dáng lắm rồi! Trông thằng bé thông minh lanh lợi, sau này ắt có tiền đồ!”
“Tạ ơn lời vàng của đại ca!”
“Nói tới Khởi Nhi, đại ca tới đây, vốn dĩ cũng có một mong muốn.”
“Đại ca xin cứ nói!”
“Nhắc tới chuyện này, cũng thật thú vị!” Bàng Quyên cười vang mà nói. “Chị dâu của đệ kết hôn đã mấy năm, tới nay vẫn chưa sinh nở, hẳn cũng sốt ruột lắm rồi, đêm ngủ cũng mơ thấy ôm con. Mấy ngày trước, chẳng hiểu chị dâu nghe ở đâu mách rằng, chỉ cần nhận con nuôi, có được dẫn dắt, chắc chắn sẽ sinh được thằng cu kháu khỉnh. Chị dâu mừng lắm, về đến nhà liền kể ngay với ta. Đệ cũng biết đấy, chuyện gì đại ca cũng nghe theo lời chị dâu, cả việc nhận con nuôi cũng thế. Đại ca nhớ tới Khởi Nhi, đang định nói thì chị dâu cứ như đã đoán ra suy nghĩ của ta, liền nói ngay rằng muốn nhận Khởi Nhi làm nghĩa tử. Đại ca vui lắm, muốn tới đây bàn chuyện với đệ. Nếu đệ nhận lời, đại ca sẽ làm lễ nhận con nuôi, sai người tới đón Khởi Nhi về phủ đại ca ở vài ngày, thứ nhất là muốn không khí trong nhà được vui vẻ, thứ hai là nhân lúc rảnh rỗi, cũng muốn dạy Khởi Nhi chút công phu quyền cước.”
Bạch Hổ vái tạ mà nói: “Khuyển tử có được vinh hạnh này, là phúc phận của nó. Để tiểu đệ báo cho tiện nội, chọn ngày đẹp đưa khuyển tử tới phủ, đại ca thấy sao?”
“Hay lắm!” Bàng Quyên phấn khởi nói. “Không phải chọn ngày nữa, ngày mai luôn đi!”
“Tiểu đệ xin nghe lời đại ca!” Bạch Hổ cảm tạ xong, lại quan tâm hỏi. “Thương thế của Tôn tướng quân thế nào rồi?”
“Ồ!” Bàng Quyên thở dài nói. “Thương thế vẫn không đỡ, vừa rồi đại ca lại thay thầy lang khác. Thầy lang mới xem ra cũng có chút tài cán, hy vọng lần này sẽ có tiến triển.”
Bạch Hổ ôm quyền, giọng đầy ẩn ý: “Tôn tướng quân gặp đại nạn lần này, may có đại ca giúp đỡ, quả là may mắn trong bất hạnh!”
“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài. “Nếu không phải tại đại ca gửi thư tiến cử, Tôn huynh hẳn sẽ không tới đây, cũng sẽ không gặp đại nạn này. Không giấu tiểu đệ, mấy ngày qua, cứ nghĩ đến chuyện này là đại ca lại thấy hối hận khôn nguôi. Song suy đi nghĩ lại, đại ca vẫn thấy chuyện này có điều khuất tất. Đại ca rất hiểu Tôn huynh, có chết cũng không tin Tôn huynh mưu phản. Đại ca khẳng định, việc này ắt có người hãm hại. Đại ca muốn nhờ đệ điều tra kỹ lưỡng, để trả lại sự trong sạch cho Tôn huynh.”
Nói tới đây, Bàng Quyên lại nghẹn ngào, đưa ống tay áo lên lau nước mắt.
Nhìn thấy Bàng Quyên diễn kịch giỏi đến vậy, Bạch Hổ bỗng thấy ớn lạnh trong lòng, song vẫn bình thản nói: “Đại ca yên tâm, điều tra chân tướng vụ việc vốn là chức trách của tiểu đệ. Đại ca có manh mối gì, có thể cung cấp cho tiểu đệ chăng?”
Bàng Quyên lắc đầu nói: “Không có! Đại ca xưa này làm việc, chỉ để ý tới đại cục, ít chú ý tới tiểu tiết, chưa từng lưu tâm tới những chuyện vụn vặt quanh mình. Tiểu đệ hẳn đã có manh mối?”
Bạch Hổ cũng lắc đầu.
Bàng Quyên bèn đứng dậy, vòng tay vái mà nói: “Chuyện của Tôn huynh, đại ca xin nhờ cậy cả vào tiểu đệ. Ngày mai đại ca chỉ ở nhà, đợi Khởi Nhi đến.”
Bạch Hổ cũng đứng dậy, vòng tay vái mà nói: “Đại ca yên tâm, ngày mai tiểu đệ sẽ cùng tiện nội đưa khuyển tử tới phủ đại ca!”
Sau khi tiễn Bàng Quyên ra về, Bạch Hổ quay vào trong phủ, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, vẫn chưa lần ra manh mối. Mãi tới buổi chiều, Bạch Hổ bỗng nảy ra một ý, bèn cấp tốc đánh xe tới phủ tướng quốc.
Quản gia dẫn Bạch Hổ tới dãy nhà thứ nhất trong hậu hoa viên, rồi quay người rời đi. Trong sân bày một dãy vài chục chậu gốm, bên trong trồng đủ các loại cây hoa, cây nào cây nấy xanh tươi mơn mởn, vừa nhìn đã biết toàn là giống cây chịu được rét. Huệ Thi giống như một ông lão làm vườn, đang ngồi lom khom dưới đất, chuyên chú xén tỉa.
Bạch Hổ tiến lại gần, vòng tay vái chào: “Hạ quan Bạch Hổ bái kiến tướng quốc.”
Huệ Thi vẫn ngồi nguyên tại chỗ, vừa chăm sóc chậu hoa, vừa nhìn Bạch Hổ cười nói: “Lão hủ đang trong bộ dạng này, không phải nghi lễ rườm rà nữa. Có việc gì vậy, nói đi!”
Bạch Hổ bèn kể lại một lượt từ đầu tới cuối chuyện Tôn Tẫn bị hãm hại, cứ ngỡ Huệ Thi sẽ phải kinh ngạc lắm, nào ngờ ông chỉ khẽ chau mày, hai tay vẫn chăm chú vào công việc, miệng hỏi: “Chuyện này còn có ai biết?”
Bạch Hổ lắc đầu nói: “Ngoài Vũ An Quân, chỉ có hạ quan và tướng quốc biết thôi!”
“Tên phủ úy kia thì sao?”
“Có lẽ không biết chi tiết. Hạ quan chỉ bảo hắn bắt người, không hề nói rõ nguyên nhân!”
“Vậy thì tốt!” Huệ Thi khẽ gật đầu. “Bạch tư đồ, việc này không nên điều tra nữa, cũng không nên hé lộ cho bất kỳ ai khác. Tư đồ biết, ta biết, chỉ nên dừng lại ở đây thôi!”
Bạch Hổ vội nói: “Sự việc đã rõ như ban ngày, vụ án này từ đầu tới cuối đều do một tay Vũ An Quân sắp đặt. Vũ An Quân biến trắng thành đen, vừa ăn cắp vừa la làng, hãm hại Tôn giám quân tới nước này, cớ sao tướng quốc lại không muốn trừng trị hắn?”
Huệ Thi vẫn chăm chú cắt tỉa cành hoa: “Cẩu Tử đã chết, không còn người đối chứng. Tội của Tôn Tẫn lại do bệ hạ khâm định. Bệ hạ vốn không phải là thánh chúa, Vũ An Quân lại là rể yêu của bệ hạ, dù có điều tra được chứng cứ rõ ràng, liệu tư đồ và lão hủ có thể làm được gì đây?” Dừng lại một lát, rồi đứng dậy khệ nệ bê chậu hoa lên giá. “Chuyện này chưa tính đến, dù tư đồ có điều tra ra chân tướng vụ việc, Bàng Quyên bị trừng phạt, Tôn Tẫn được rửa oan, liệu nước nhà có được ích lợi gì không? Tranh qua đấu lại, ắt làm tổn hại tới nguyên khí quốc gia. Suốt mấy năm qua, nước Ngụy đã gặp quá nhiều phiền toái, hà tất lại gây thêm chuyện?”
“Nếu như vậy...” Bạch Hổ lập tức tiếp lời. “Tôn tướng quân cả đời này sẽ không rửa được oan khiên ư?”
Huệ Thi thở dài một tiếng, bày xong chậu hoa, phủi bùn đất dính trên tay: “Số phận con người đều do trời định đoạt. Tôn giám quân gặp kiếp nạn này, hẳn là số trời đã định. Số mệnh của Tôn giám quân đã như vậy, tư đồ và ta còn làm gì được đây?”
“Nhưng...” Bạch Hổ vội nói, “hạ quan thân là tư đồ, chuyên cai quản hình ngục, sao có thể giương mắt đứng nhìn người khác bị hãm hại oan ức?”
“Phải!” Huệ Thi gật đầu tán thành. “Nghe lời này, quả không hổ danh là hậu duệ của Bạch Khuê! Ta thấy Tôn Tẫn mệnh vẫn chưa tận, không nên ở lại lâu trong hang hùm. Nếu Bạch tư đồ muốn giúp, hãy cân nhắc tình hình mà định liệu!”
Bạch Hổ ngẫm nghĩ một lát, rồi vòng tay nói: “Tướng quốc nhìn xa trông rộng, hạ quan kính phục!”
Giờ Mão hôm sau, Bạch Hổ và Khởi Y đưa Bạch Khởi tới phủ Vũ An Quân như đã hẹn. Bàng Quyên và Thụy Liên ra tận cổng phủ nghênh đón. Bàng Quyên cười vang, bế Bạch Khởi lên tay, dẫn khách vào trong phòng.
Nói cười được một lát thì Bàng Thông bước vào, bẩm báo từ đường đã chuẩn bị xong xuôi, có thể bái lễ. Mọi người bèn kéo nhau tới từ đường. Bàng Quyên, Thụy Liên quỳ xuống, bái lạy linh vị Bàng Hành xong thì đứng dậy, ngồi xuống trong đường.
Bạch Khởi nhìn cha mẹ, sau đó bước lại trước mặt Bàng Quyên và Thụy Liên, quỳ xuống đất, lạy liền mấy lạy, dập đầu mà nói: “Nghĩa tử Bạch Khởi khấu bái nghĩa phụ, nghĩa mẫu!”
Bàng Quyên đưa mắt nhìn Thụy Liên.
Thụy Liên đứng dậy, bước tới trước mặt Bạch Khởi, đeo lên cổ cậu bé một chiếc vòng vàng, rồi đưa tay ôm cậu bé vào lòng, sau đó dắt tới bên Bàng Quyên.
Bàng Quyên tươi cười rạng rỡ, đưa hai tay đỡ lấy: “Nào, con trai ngoan, thơm nghĩa phụ đi, ba cái vào nhé!” Nói xong, vỗ vỗ tay lên má mình.
Bạch Khởi chu môi thơm má Bàng Quyên, do Bàng Quyên râu mọc lởm chởm đầy mặt, Bạch Khởi lại thơm khá mạnh, nên lập tức chau mày nhăn mặt.
Bàng Quyên cười vang, thuận tay trả lại Bạch Khởi cho Thụy Liên: “Con trai ngoan, ăn quả lừa rồi! Nào, hai cái thơm còn lại chuyển sang cho nghĩa mẫu con, má nghĩa mẫu mềm hơn nhiều!”
Mọi người cùng cười ồ lên.
Bạch Khởi nghe theo Bàng Quyên, thơm Thụy Liên liền năm cái. Thụy Liên sung sướng cứ giữ mãi cậu bé trong lòng, không chịu buông tay.
Mọi người đang cười nói vui vẻ, bỗng thấy Bàng Thông tất tả chạy lại, khẽ bẩm báo: “Đại ca, điện hạ và Mai công chúa giá lâm.”
Thụy Liên nghe nói Thụy Mai tới, vội vã đặt Bạch Khởi xuống, cùng đám Bàng Quyên bước ra khỏi từ đường, ra cổng phủ nghênh đón. Một lát sau, Bàng Quyên và thái tử Thân đi ở phía trước, Thụy Liên nắm tay Thụy Mai đi ở đằng sau, cùng nhau bước vào phòng khách.
Thái tử Thân vừa ngồi xuống, cả nhà Bạch Hổ đã kéo vào, khấu bái sát đất, Bạch Hổ khấu đầu nói: “Vi thần Bạch Hổ cùng gia quyến khấu kiến điện hạ! Khấu kiến công chúa!”
Thái tử Thân chìa tay ra nói: “Ái khanh mau đứng dậy!”
Bạch Hổ lại dập đầu: “Tạ ơn điện hạ!”
Thụy Liên tiến tới trước mặt Thụy Mai, cười nói: “Để em giới thiệu với chị, đây là Bạch tư đồ, đây là Bạch phu nhân!” Rồi bước về phía Tiểu Bạch Khởi, bế cậu bé lên, quay trở lại. “Đây là Tiểu Bạch Khởi, hôm nay em nhận thằng bé này làm con nuôi!”
Thụy Mai nắm tay Bạch Khởi, mỉm cười nói: “Thật là một cậu bé ngoan!”
Bạch Khởi quay sang hỏi Thụy Liên: “Nghĩa mẫu, con phải gọi cô ấy là gì?”
Thụy Liên cười nói: “Gọi là dì!”
“Dì ơi!” Bạch Khởi gọi một tiếng, rồi thơm nhẹ lên má Thụy Mai.
Thụy Mai đỏ mặt, cười nói: “Thằng bé này quả là lanh lợi đáng yêu!”
Bạch Hổ bèn vòng tay nói: “Bạch Hổ xin được cáo từ!”
Bàng Quyên đáp lễ, nói: “Tiểu đệ ra về cẩn thận, đại ca không tiễn xa được!”
Vợ chồng Bạch Hổ lại bái lạy thái tử, rồi ra về.
Bạch Khởi đuổi theo hai bước: “Cha, mẹ...”
Khởi Y mắt ngấn lệ, nói: “Khởi Nhi, con ở chơi nhà nghĩa phụ, vài ngày nữa, mẹ sẽ quay lại đón!”
Bạch Khởi rơm rớm nước mắt gật đầu, nhìn theo bóng cha mẹ xa dần.
Bàng Quyên đương nhiên hiểu rõ vì sao thái tử và Mai công chúa lại tới đây. Đợi sau khi cha mẹ Bạch Khởi đi khỏi, Bàng Quyên vòng tay nói với thái tử Thân: “Điện hạ tới đây, phải chăng muốn thăm Tôn huynh?”
Thái tử Thân gật đầu: “Tôn tướng quân khoẻ chứ?”
Bàng Quyên trào nước mắt, nghẹn ngào nói: “Khởi bẩm điện hạ, đã hai tháng trời rồi mà vết thương của Tôn huynh vẫn chưa lành, thật khiến người ta lo lắng!”
Nghe thấy lời này, Thụy Mai đứng cạnh nước mắt ròng ròng. Thái tử Thân liếc nhìn Thụy Mai, rồi quay sang Bàng Quyên: “Mai muội tới đây, kỳ thực là muốn thăm Tôn Tử, không biết có được chăng?”
Bàng Quyên lau nước mắt: “Nếu Tôn huynh được gặp điện hạ và Mai công chúa, hẳn sẽ vui mừng lắm lắm!”
Thái tử Thân đứng dậy, nói với Thụy Mai: “Mai muội, đi thôi!”
Bàng Quyên dẫn đầu đoàn người, đi về phía hậu hoa viên, tới khu nhà mà Tôn Tẫn đang ở. Bàng Quyên bước vào phòng trước tiên, nói với Tôn Tẫn: “Tôn huynh, điện hạ và Mai công chúa tới thăm huynh!”
Nghe nói điện hạ và Mai công chúa tới, Tôn Tẫn giật mình kinh ngạc, muốn cử động thân người, song vết thương đau buốt, khiến trán vã mồ hôi. Bàng Quyên thấy vậy, vội bước lại đỡ: “Tôn huynh chớ cử động!”
Nói tới đây, vừa lúc thái tử Thân, Thụy Mai, Thụy Liên bế theo Bạch Khởi nối đuôi nhau bước vào trong phòng. Tôn Tẫn đưa tay gõ mấy cái lên mặt bàn phía trước giường, khóc mà rằng: “Tội nhân Tôn Tẫn khấu kiến điện hạ! Khấu kiến công chúa!”
Thái tử Thân tiến lên một bước, ngồi xuống bên giường Tôn Tẫn: “Tôn tướng quân miễn lễ!”
Tôn Tẫn lại gõ ngón tay: “Tạ ơn điện hạ!”
Thái tử Thân nhìn Tôn Tẫn, nước mắt ứa ra: “Tôn tướng quân đã phải chịu khổ rồi!”
Tôn Tẫn khóc nói: “Là tội thần có tội, phải chịu thôi!”
Thái tử Thân thở dài một tiếng: “Than ôi, không nói tới chuyện này nữa, Mai muội có điều muốn hỏi tướng quân!” Rồi đứng dậy, quay sang vợ chồng Bàng Quyên. “Bàng ái khanh, Liên muội, chúng ta ra ngoài đi!”
Bàng Quyên bế Bạch Khởi lên, cùng thái tử Thân, Thụy Liên rời khỏi phòng. Thấy mọi người đã đi xa, trong phòng không còn ai, Thụy Mai bèn bước tới trước giường Tôn Tẫn, ứa lệ nghẹn ngào: “Tôn tướng quân!”
Tôn Tẫn từ từ khép mắt lại, nước mắt âm thầm trào ra bên khoé mắt.
Thụy Mai như đứt từng khúc ruột, chỉ biết gọi: “Tôn tướng quân!” Rồi lại ôm mặt khóc nấc.
Tôn Tẫn đưa ống tay áo lên lau nước mắt, gượng trấn tĩnh lại, rồi chậm rãi nói: “Điện hạ vừa nói, công chúa có lời muốn hỏi tội nhân, Tẫn xin rửa tai lắng nghe.”
Thụy Mai không nói được gì, vẫn gục mặt vào hai bàn tay mà khóc.
Giọng Tôn Tẫn dần trở nên lạnh nhạt: “Công chúa thân qúy nghìn vàng, chớ nên khóc nhiều, tổn hại tới ngọc thể. Ở đây nhơ bẩn, nếu công chúa không có điều gì căn dặn, xin hãy về đi!”
Thụy Mai lại nghẹn ngào gọi: “Tôn tướng quân!”
Giọng Tôn Tẫn càng thêm lạnh lẽo: “Công chúa, người mau về đi, tất cả đều là lỗi của tội thần. Là tội thần không phải với bệ hạ, không phải với điện hạ, lại càng không phải với công chúa!”
Thụy Mai nghe vậy, tiếng khóc chợt im bặt, nàng ngẩng đầu nhìn thẳng vào Tôn Tẫn, cất giọng kiên định lạ lùng: “Tôn tướng quân, Thụy Mai biết, chuyện này chắc chắn không phải là sự thực!”
Song thái độ của Tôn Tẫn còn kiên định hơn: “Công chúa sai rồi, tất cả đều là sự thực! Người Ngụy giết cả nhà tại hạ, tại hạ muốn báo thù là chuyện đương nhiên. Công chúa và tại hạ không cùng một con đường, bệ hạ tha tội chết cho tại hạ đã là đại ân đại đức. Công chúa, người mau về đi, tội nhân Tôn Tẫn khẩn cầu công chúa!”
Thụy Mai mở to cặp mắt đẫm lệ, nhìn Tôn Tẫn đăm đăm hồi lâu, rồi bỗng giọng oanh rành rọt: “Tướng quân hiểu mai, tất hiểu lòng Mai. Thụy Mai kiếp này đã chọn tướng quân. Tướng quân sống, Thụy Mai sẽ theo bên tướng quân; tướng quân chết, Thụy Mai... cũng đi theo tướng quân!”
Tôn Tẫn trong lòng chua xót, nước mắt tuôn trào, hồi lâu sau mới khẽ thì thầm: “Thụy Mai...”
Thấy Tôn Tẫn lần đầu gọi thẳng tên mình, Thụy Mai trong lòng rung động, ngồi xuống bên giường, tay run run nắm lấy tay Tôn Tẫn, giọng nói nghẹn ngào: “Tiên sinh...”
Bên ngoài khu nhà, Thụy Liên đã dẫn Bạch Khởi đi ra phía xa, chỉ có Bàng Quyên cùng thái tử Thân đang tản bộ dưới hàng liễu bên ao sen. Tết Nguyên đán đã qua lâu, tiết trời tuy còn giá lạnh, song loài liễu vốn rất nhạy bén với mùa xuân đã bắt đầu nhú chồi đâm lộc.
Tản bộ được một lát, thái tử Thân than thở mà rằng: “Mai muội thanh cao kiêu ngạo, khó khăn lắm mới gặp được tri âm. Gặp Tôn Tử đây, Mai muội đã coi là tri kỷ, nào ngờ kết cục lại thành ra thế này!”
Bàng Quyên cũng thở dài buồn bã: “Điện hạ, Tôn huynh gặp nạn, vi thần lòng đau như cắt. Tôn huynh và vi thần tình thân như thủ túc, Mai công chúa và Liên Nhi lại là chị em một nhà, điện hạ yên tâm, vi thần sẽ tận tâm tận lực chăm lo cho Tôn huynh. Chỉ có điều việc thành thân...”
“Sao kia?” Thái tử Thân dừng lại, nhìn Bàng Quyên. “Ái khanh có gì lo lắng?”
Bàng Quyên lại thở dài ảo não: “Than ôi, vi thần cũng biết Mai công chúa một lòng với Tôn huynh, song Tôn huynh đã thành phế nhân, đừng nói là phụ vương không đồng ý, dù phụ vương có đồng ý, Mai công chúa lá ngọc cành vàng, lại gả cho một phế nhân, chẳng phải quá thiệt thòi ư?”
Thái tử Thân lắc đầu: “Ái khanh hiểu Liên, song không hiểu Mai. Mai muội một khi đã chọn Tôn Tử, đừng nói Tôn Tử là phế nhân, dù chỉ là một đống xương khô, cũng quyết không bội tình!”
“Than ôi!” Bàng Quyên thực lòng cảm thán. “Đại trượng phu có được diễm phúc này, coi như sống không uổng phí!” Lại trầm ngâm một lát, khó tránh ghen ghét trỗi dậy, khẽ thở dài chua chát. “Nếu được như vậy, vi thần thực sự vui mừng thay cho Tôn huynh.”
Thái tử Thân lời đầy ẩn ý: “Bàng ái khanh, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Tôn Tử hiểu Mai, làm sao Mai lại không trao gửi trái tim cho Tôn Tử?”
Phủ Vũ An Quân nằm trên phố Đông Nhai của Đại Lương. Phía đông thuộc Mộc, mang nghĩa phồn vinh, do vậy, trên con phố này phần lớn là quý nhân sinh sống, hai bên dãy phố đều là đại viện kín cổng cao tường, nha phủ san sát.
Nằm giữa phố Đông Nhai và cung Ngụy Vương còn có một con phố lớn khác, tên gọi là Đông Thị, dài khoảng hai dặm, rộng rãi thoáng đãng, hai bên phố hàng quán san sát, đèn màu rực rỡ, chủ yếu phục vụ cho quý tộc quan lại. Ở tận cùng phía đông của phố Đông Thị có một cửa hàng, trên cửa đề mấy chữ “Cửa hàng đồ da họ La”, phía trước cửa dựng một tấm biển gỗ, trên viết: “Nhượng lại toàn bộ cửa hàng”.
Công tử Hoa trong trang phục thiếu gia giàu có kêu xe dừng lại, cùng một tuỳ tùng xuống xe, sải bước vào trong cửa hàng.
Ông chủ thấy có khách đến, vội bước ra đón, vòng tay đon đả: “Thiếu gia, mời vào trong!”
Công tử Hoa vòng tay đáp lễ, chỉ vào biển gỗ hỏi: “Ông chủ muốn bán cửa hàng ư?”
“Phải, phải!” Ông chủ gật đầu lia lịa. “Tại hạ là người Trung Sơn, buôn bán đồ da ở Đại Lương đã hơn chục năm nay. Giờ phụ bệnh nặng, gọi tại hạ về gấp, nên cửa hàng nhỏ này đành phải bán lại.”
Công tử Hoa đưa mắt xem xét một lượt cửa hàng: “Ông chủ muốn nhượng lại giá bao nhiêu?”
Ông chủ chỉ tay vào phía trước cửa hàng, nói: “Cửa hàng có ba gian mặt tiền, bên trong có một dãy mười gian nhà. Theo thời giá, trị giá bảy mươi lượng vàng. Trong cửa hàng còn tồn ba trăm năm mươi tấm da lông, đều là chất liệu thượng hảo hạng nhập từ Yên, Triệu, Trung Sơn, đáng giá bảy mươi lượng, tổng cộng cả thảy một trăm bốn mươi lượng. Do tại hạ bán gấp, bớt hai mươi lượng, công tử trả một trăm hai mươi lượng là được.”
Công tử Hoa đi quanh xem xét một vòng, lại sai tuỳ tùng kiểm đếm số đồ da lông còn tồn, thấy đúng như lời ông chủ nói, không sai một ly, bèn ôm quyền mà nói: “Ông chủ nói cửa hàng này đáng giá một trăm hai mươi lượng, nhưng giờ đây sắp tới mùa xuân, chính là thời điểm đồ da ế ẩm, chưa tính tới chuyện quá nửa năm đầu không thể bán ra, riêng việc duy trì cửa hàng cũng đã phải tiêu tốn một khoản tiền kha khá!”
Ông chủ gật đầu nói: “Công tử đã nói như vậy, hẳn là người trong nghề. Vậy hãy ra giá đi!”
Công tử Hoa bèn chìa ra một ngón tay: “Chừng này, được chứ?”
Ông chủ gật đầu: “Công tử đã thực lòng muốn mua, giá này cũng được!”
Công tử Hoa bảo tuỳ tùng mang hòm lại, đếm đủ trăm lượng vàng, trả cho ông chủ. Ông chủ dẫn tuỳ tùng tới nha phủ, đổi xong khế ước, lập tức lên xe ngựa trở về Trung Sơn.
Công tử Hoa đích thân viết năm chữ “Cửa hàng da họ Tần”, sai người làm thành biển ngạch, tháo biển cũ xuống thay lên. Lại sửa sang cửa hàng cho mới mẻ, tìm người đến khua chiêng gõ trống một hồi, coi như khai trương.
Cách cửa hàng đồ da trăm bước, còn có một con phố nhỏ, đây là khu chợ của phố Đông Thị, bán đủ các loại thịt cá tôm cua, hàng hoá la liệt.
Buổi sáng hôm nay, đầu bếp Phạm Trù của phủ Vũ An Quân xách một chiếc làn to tướng đi chợ, lượn hết sạp hàng này đến sạp hàng khác, sờ soạng thứ này, ngó nghiêng thứ kia, túi tiền treo lủng lẳng sau mông.
Mấy đứa bé quần áo rách rưới đưa mắt nhìn nhau, rồi lẳng lặng bám theo sau. Phạm Trù đi tới một quầy đồ khô, thấy có sọt táo khô bày trước quầy, định mua một ít về hầm canh cho Tôn Tẫn, bèn ngồi xuống, lựa chọn cẩn thận. Một thằng bé liền móc ra cây kéo, lẹ làng cắt đứt phăng sợi dây buộc túi tiền của Phạm Trù, vơ lấy túi rồi co giò bỏ chạy.
Phạm Trù giật mình, vội quờ tay ra sau lưng, cuống quýt ngoảnh đầu nhìn lại, thấy một đứa bé đang cầm túi tiền của mình chạy như bay, vội quát lớn: “Trộm tiền, có kẻ trộm tiền, mau bắt thằng trộm kia lại!” Rồi đứng bật dậy, cắm cổ đuổi theo.
Phạm Trù đuổi gấp, song dọc đường, thi thoảng lại nhao ra một vài đứa trẻ choai choai hoặc bán hoa, hoặc bán đồ lặt vặt, cản bên nọ chắn bên kia, tới khi Phạm Trù lách qua được, thì đứa trộm tiền đã chạy cách một tầm tên bắn.
Phạm Trù vừa hô hoán vừa đuổi thật lực, đến khi chạy vào trong một ngõ hẻm, thì không thấy bóng dáng thằng kẻ trộm đâu nữa. Phạm Trù chạy đi chạy lại, sụp xuống tìm kiếm một hồi, biết là vô vọng, thì ngồi thụp xuống đất khóc ti tỉ. Đúng vào lúc đó, công tử Hoa từ đầu ngõ thong thả tiến lại, thấy Phạm Trù đang khóc lóc ủ ê, bèn ngồi xuống bên cạnh hỏi thăm: “Xin hỏi nhân huynh, có chuyện gì mà buồn lòng đến vậy?”
“Than ôi!” Phạm Trù than thở. “Bẩm thiếu gia, tiểu nhân ra chợ mua thức ăn, chẳng may bị kẻ trộm lấy mất túi tiền. Giờ tiểu nhân không còn lấy một đồng xu dính túi, biết lấy gì để mua thức ăn đây? Không mua được, biết lấy gì nấu ăn cho cả nhà chủ nhân đây?”
Công tử Hoa ra vẻ thông cảm: “Ồ! Quả là nghiêm trọng! Nhân huynh hãy kể rõ sự tình cho tại hạ nghe thử!”
“Chao ôi!” Phạm Trù vẫn nước mắt tèm nhem, rầu rĩ khóc lóc. “Tất cả tiền bạc của tiểu nhân đều đựng cả trong cái túi ấy. Tiểu nhân là đầu bếp trong phủ của chủ nhân, quản gia đưa tiền cho tiểu nhân mua thức ăn cho cả nhà. Tiểu nhân một lần đi chợ mua thức ăn cho ba ngày. Hôm nay còn chưa mua được món gì, đã bị trộm cả túi tiền. Giờ tay không về phủ, tiểu nhân biết ăn nói thế nào với quản gia đây?”
Công tử Hoa hỏi: “Xin hỏi nhân huynh, trong túi có bao nhiêu tiền?”
“Tổng cộng hai trăm chín mươi tám đồng tiền Nguỵ, chừng ba lượng vàng.”
“Nếu mất ba lượng vàng này, nhân huynh sẽ ra sao?”
Phạm Trù sụt sùi nói: “Mất nhiều tiền thế, quản gia chắc chắn sẽ trừ vào tiền công của tiểu nhân. Mỗi tháng tiền công của tiểu nhân chỉ có năm mươi đồng, phải sáu tháng mới trả hết được số tiền mất trộm, ở nhà tiểu nhân, trên có mẹ già hơn sáu mươi tuổi, dưới có trẻ nhỏ đang tuổi ăn tuổi lớn... Sáu tháng không tiền, tiểu nhân biết lấy gì để nuôi cả nhà đây?”
Công tử Hoa bèn đứng dậy, nói: “Nếu đã như vậy, nhân huynh hãy đi theo tại hạ!”
Phạm Trù kinh ngạc nhìn công tử Hoa: “Thiếu gia giúp tiểu nhân đi bắt trộm ư?”
“Trộm thì không bắt được rồi,” công tử Hoa cười nói. “Có điều, chút tiền cỏn con này, tại hạ lại không thiếu.”
Phạm Trù bán tín bán nghi nhìn công tử Hoa, vẫn đứng ngây tại chỗ.
“Sao, nhân huynh không tin tại hạ ư?”
Phạm Trù dường như cũng đã kịp định thần, vội nói: “Tin chứ, tin chứ!”
Phạm Trù lòng dạ thấp thỏm đi theo công tử Hoa tới phố Đông Thị, rẽ vào cửa hàng da họ Tần. Phạm Trù đứng trong cửa hàng, đưa mắt nhìn quanh cửa hàng, biết công tử Hoa là thương nhân lớn, trong lòng càng thêm lo lắng. Công tử Hoa sai thuộc hạ lấy ra ba lượng vàng, đặt vào tay Phạm Trù. Nhìn thấy những đĩnh vàng sáng lấp lánh trên tay, Phạm Trù không dám tin là thực, nhất thời đứng chết trân tại chỗ.
Công tử Hoa cười nói: “Nhân huynh ngẩn ra đó làm gì, còn không mau đi chợ?”
Phạm Trù cứ ngỡ mình đang ngủ mơ: “Ba... ba lượng vàng này đúng là tặng cho tiểu nhân thực ư?”
Công tử Hoa cười vang mà nói: “Chỉ là ba lượng vàng quèn, có nhiều nhặn gì đâu? Nhân huynh cứ cầm lấy đi, coi như để kết bạn!”
Phạm Trù quỳ phịch xuống đất, dập đầu lia lịa: “Xin hỏi ân công quý tính đại danh?”
Công tử Hoa bèn đỡ hắn dậy: “Nhân huynh hãy đứng lên đi! Tại hạ họ Tần, cứ gọi Tần gia là được rồi!”
Phạm Trù khóc mà nói: “Tiểu nhân họ Phạm, do biết nấu vài món tàm tạm nên mọi người gọi là Phạm Trù. Ba lượng vàng hôm nay coi như tiểu nhân nợ ân công, đợi lúc nào có tiền, tiểu nhân nhất định sẽ hoàn trả!”
Công tử Hoa cười nói: “Đã bảo tặng huynh là tặng, Phạm huynh chớ nhắc tới hai chữ ‘hoàn trả’!”
Phạm Trù lại quỳ xuống, khấu đầu mà nói: “An công nếu có việc gì cần dùng đến tiểu nhân, xin cứ nói một lời!”
Công tử Hoa cười vang, gật đầu nói. “Bản thiếu gia nghe rất lọt tai câu này. Bản thiếu gia vừa tới đây, hôm nay coi như đã kết giao được một người bạn là Phạm huynh. Từ nay về sau, Phạm huynh hễ gặp khó khăn gì, cứ tới đây tìm bản thiếu gia!”
Phạm Trù nghẹn ngào nói: “Phạm Trù xin ghi nhớ!”
Cỏ lên xanh mướt, đã sắp bước vào mùa cày bừa vụ xuân bận rộn, đợt tập huấn mùa đông kéo dài suốt mấy tháng ròng của nước Ngụy cuối cùng cũng đã kết thúc. Bàng Quyên cho triệu tập tất cả thú thừa và tướng lĩnh phụ trách việc tập huấn các nơi tới doanh trại ở Phùng Trạch báo cáo tình hình cụ thể, thưởng người có công, phạt kẻ lơ là tắc trách, bận rộn suốt mấy ngày trời, mới đánh xe trở về Đại Lương.
Về tới phủ, Bàng Quyên sau khi nghe Bàng Thông bẩm báo, trong đầu chợt loé lên một ý, bèn sải bước tới hậu hoa viên thăm Tôn Tẫn.
Vừa ra khỏi thư phòng, Bàng Quyên nhìn thấy Bạch Khởi đang chăm chú quan sát gì đó dưới một gốc cây to. Bàng Quyên lấy làm tò mò, lén bước lại sau lưng Bạch Khởi. Bạch Khởi không hề hay biết, vẫn cắm cúi nhìn.
Bàng Quyên vỗ khẽ vào vai Bạch Khởi, hỏi: “Con trai ngoan, con ngồi đây xem gì thế?”
Bạch Khởi nhìn thấy Bàng Quyên, bèn quỳ xuống khấu đầu nói: “Khởi bẩm nghĩa phụ, con đang xem bầy kiến bài binh bố trận!”
Bàng Quyên lấy làm hứng thú, cũng ngồi xuống xem, quả nhiên thấy hàng nghìn con kiến đang hối hả nối đuôi nhau bò ra khỏi tổ, tạo thành một hàng dài đen kịt, leo thẳng lên gốc cây to. Quan sát một lát, Bàng Quyên cười hỏi: “Con trai, có biết bầy kiến bày thế trận gì không?”
“Khởi bẩm nghĩa phụ, là trận trường xà chữ nhất!”
“Được lắm!” Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, rồi hỏi. “Giả dụ con là tướng quân phía ta, bầy kiến này dàn trận trường xà chữ nhất đối đầu với con, con sẽ ứng phó thế nào?”
Bạch Khởi nghĩ một lát rồi đáp: “Tấn công vào hang ổ của chúng, cắt đứt đường rút lui của chúng, đánh cho chúng không còn manh giáp!”
“Ồ?” Bàng Quyên lại bật cười. “Vậy con làm thế nào để tấn công hang ổ của chúng, đánh cho chúng không còn manh giáp?”
“Nghĩa phụ hãy đợi một lát!” Bạch Khởi chạy vào gian nhà cạnh đó, một lát sau thì xách ra một ấm nước sôi, từ từ tưới vào tổ kiến dưới đất, rồi lại từ miệng tổ tưới dọc theo đường kiến đi.
Bạch Khởi tưới xong, Bàng Quyên bèn kéo cậu bé vào lòng, xoa đầu Bạch Khởi, vẻ rất hài lòng: “Được lắm, thông minh sáng dạ, có thể dạy bảo được đây! Nào, theo nghĩa phụ tới thăm Tôn bá phụ!”
Bàng Quyên bế Bạch Khởi bước vào phòng Tôn Tẫn, chuyện trò một lúc thì kéo Bạch Khởi lại trước giường Tôn Tẫn: “Con trai ngoan, hãy dập đầu chào Tôn bá phụ con!”
Bạch Khởi bèn quỳ xuống, dập đầu nói: “Bạch Khởi, trưởng tử của tư đồ Bạch Hổ, nghĩa tử của Vũ An Quân khấu kiến Tôn bá phụ!”
Tôn Tẫn cười nói: “Khởi Nhi, hãy mau đứng dậy!”
Bàng Quyên thấy Bạch Khởi ngoan ngoãn biết điều, trong lòng vô cùng phấn khởi, cười nói với Tôn Tẫn: “Bạch Khởi là con nuôi của Quyên, cũng là con nuôi của Tôn huynh, mong Tôn huynh hãy coi nó như nghĩa tử!”
Bạch Khởi chớp mắt một cái, lại quỳ xuống đất: “Tôn nghĩa phụ ở trên, xin nhận của hài nhi một lạy!” Nói xong, lạy liền ba lạy.
Tôn Tẫn vui mừng khôn xiết, gật đầu cười nói: “Hay lắm, hay lắm! Tôn nghĩa phụ xin nhận con!”
Bàng Quyên lật chăn lên, vừa xem xét vết thương của Tôn Tẫn, vừa hỏi: “Tôn huynh, gần đây thấy thế nào rồi?”
Tôn Tẫn gật đầu khen ngợi: “Ồ, thầy lang này rất cao tay, mủ đã tiêu hết rồi. Tiên sinh nói, nếu thuận lợi, một tháng nữa thôi sẽ khỏi hoàn toàn!”
“Hay quá!” Bàng Quyên quay người gọi. “Thầy lang có đấy không?”
Lão thầy lang đang sắc thuốc ở gian bên cạnh nghe thấy tiếng gọi, vội vã chạy lại, dập đầu chào Bàng Quyên. Bàng Quyên nhìn ông ta, gật gù hài lòng: “Bệnh tình của Tôn tướng quân có tiến triển tốt, đều là công lao của tiên sinh đây. Bản tướng tạm thưởng tiên sinh năm lượng trước, đợi Tôn tướng quân bình phục hoàn toàn, sẽ thưởng nốt số vàng còn lại!”
Thầy lang dập đầu nói: “Thảo dân tạ ơn đại tướng quân ban thưởng!”
Bàng Quyên xoa đầu Bạch Khởi: “Con trai, hãy dẫn thầy lang tới phòng sổ sách, hạ lệnh chi năm lượng vàng!”
Bạch Khởi “vâng” một tiếng, rồi nhanh nhẹn dẫn thầy lang bước ra khỏi cửa.
Tôn Tẫn nhìn Bàng Quyên, trong lòng xúc động muôn phần, khẽ thở dài, nghẹn ngào nói: “Than ôi! Tẫn tới Đại Lương, vốn là muốn trợ giúp hiền đệ một tay, nào ngờ lại trở thành gánh nặng cho hiền đệ. Cứ nghĩ đến chuyện này, trong lòng lại thấy vô cùng hổ thẹn.”
Bàng Quyên quỳ xuống đất, nước mắt ròng ròng mà nói: “Tôn huynh gặp đại nạn này, đều là lỗi của Quyên. Không giấu Tôn huynh, cứ nghĩ tới chuyện này, Quyên lại day dứt không yên, chỉ hận không thể lấy thân này chịu khổ thay cho Tôn huynh, trả lại cho Tôn huynh hai đầu gối đã mất.”
Tôn Tẫn càng thêm xúc động, lại thở dài: “Hỡi ôi, Tẫn đã thành phế nhân, đại ân của hiền đệ, Tẫn chỉ có thể đợi kiếp sau báo đáp.”
Bàng Quyên im lặng một lát, đưa ống tay áo lên lau nước mắt, rồi ngẩng nhìn Tôn Tẫn nói: “Chuyện này cũng trách tiên sinh, đang yên đang lành, cớ sao lại đổi tên Tân của Tôn huynh thành Tẫn? Quyên cũng từng nói, chữ Tẫn thật không tốt lành, nay quả nhiên đã ứng nghiệm!”
“Chuyện này không liên quan tới tiên sinh,” Tôn Tẫn nói. “Giờ ngẫm lại mới thấy, là trong số mệnh Tẫn đã có kiếp nạn này! Tiên sinh cao thâm, đã nhìn thấu thiên cơ từ trước, song không tiện nói lộ, bởi vậy đã đổi tên để cảnh báo cho Tẫn biết. Nào ngờ Tẫn đầu óc ngu muội, không lĩnh ngộ ra, mới gặp hoạ này.”
“Than ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng. “Nhắc tới tiên sinh, Quyên thực sự thấy vô cùng hối tiếc!”
“Hiền đệ hối tiếc chuyện gì?”
“Quyên vốn là người Ngụy, coi Ngụy là nhà, chỉ nghĩ tới lập nghiệp ở Ngụy. Năm xưa khi ở Quỷ Cốc, Quyên một lòng tham luyến công danh ngoài núi, nghiệp học chưa thành đã hấp tấp hạ sơn. Nào ngờ núi cao còn có núi cao hơn, người tài còn có người tài hơn, Quyên đệ dốc hết tâm lực, song luôn thấy lực bất tòng tâm, mới khẩn thiết mời Tôn huynh xuống núi. Khi mời huynh, trong lòng Quyên chỉ có một suy nghĩ, nếu hai ta liên thủ, có lẽ sẽ thành tựu đại nghiệp. Nào ngờ sự thể trái ngược, Quyên lại đã làm hại Tôn huynh!”
Tôn Tẫn thở dài một tiếng: “Than ôi, hiền đệ! Là thời, cũng là vận; là vận, cũng là mệnh. Tẫn xuất thân trong gia tộc chinh chiến, bản thân cũng kinh qua sát phạt, thập tử nhất sinh, hồ đồ không nhận ra phương hướng. May sao gặp được cự tử Mặc gia chỉ rõ bến mê, Tẫn tới Quỷ Cốc, mới hiểu rõ tiền đồ. Tu học bốn năm trong Quỷ Cốc, tuy Tẫn không bằng hiền đệ, song cũng coi như đã tận tâm tận lực. Khi quyết xuống núi, Tẫn vốn muốn lập chút sự nghiệp, nào ngờ người tính không bằng trời tính!” Dừng lại một chốc, thở dài não nề. “Hỡi ôi, hiền đệ, thôi đừng nói nữa!”
“Tôn huynh khiêm tốn rồi,” Bàng Quyên thực lòng khen ngợi. “Qua trận chiến Hạng Thành, Quyên đã nhìn ra được tài của Tôn huynh. Trong ván cờ lần trước, Tôn huynh khí thế tựa cầu vồng, càng khiến Quyên thấy mình còn xa mới theo kịp. Sau ván cờ đó, Quyên trở về đã suy nghĩ rất nhiều, chỉ một năm không gặp, công lực của Tôn huynh đã tiến bộ thần tốc, hẳn có liên quan tới ‘Tôn Tử binh pháp’. Hỡi ôi, đáng tiếc là Quyên quá nôn nóng lập công, đã bỏ lỡ mất sách quý, nên tiếc nuối khôn nguôi!”
“Hiền đệ chớ nên nghĩ ngợi,” Tôn Tẫn an ủi. “Từ khi tới Ngụy, Tẫn vốn đã có ý định truyền lại sách này cho hiền đệ, chỉ là bận rộn quá chưa có lúc nào rảnh rỗi. Nay Tẫn đã thành phế nhân, sách quý có giữ trong lòng cũng là vô dụng. Đợi Tẫn đỡ hơn chút ít, sẽ viết ra hết những gì mình ghi nhớ, để hiền đệ cùng tham ngộ.”
Bàng Quyên nghe vậy, bèn sụp xuống khấu lạy: “Nếu thực là vậy, quả là diễm phúc của Bàng đệ!”
Tôn Tẫn vội nói: “Hiền đệ mau đứng dậy!” Thấy Bàng Quyên đã đứng lên, lại nói. “Hiền đệ hãy chuẩn bị sẵn thẻ tre, bút mực, đợi Tẫn khoẻ hơn ít nhiều, sẽ viết ngay tại giường này.”
“Thực làm phiền Tôn huynh!”
Ngay ngày hôm sau, Bàng Thông sai người mang thẻ tre, bút mực tới. Bàng Quyên đích thân chọn ra một tỳ nữ thông minh lanh lợi, hiểu chút ít chữ nghĩa đến hầu hạ Tôn Tẫn. Tôn Tẫn vẫn chưa thể cử động, thầy lang cũng không cho phép làm việc gì quá sức, song vì cảm kích trước ơn nghĩa của Bàng Quyên, Tôn Tẫn khăng khăng đòi viết. Thầy lang bất đắc dĩ, đành sai người làm một bàn thấp, đặt lên mặt giường, vực Tôn Tẫn ngồi dậy, tỳ nữ ở bên cạnh hầu hạ bút mực, để Tôn Tẫn viết ra.
Viết chữ rất tốn sức, cứ mỗi chữ viết ra, Tôn Tẫn đều phải cắn răng chịu đựng nỗi đau đớn kịch liệt, vật vã suốt cả buổi sáng, mới viết xong được hai tấm thẻ tre vỏn vẹn chục chữ. Tới trưa, Bàng Quyên nghe nói Tôn Tẫn đã bắt đầu viết sách, bèn vội vã tới xem.
Thấy Tôn Tẫn cầm bút khó nhọc, trán rịn mồ hôi, Bàng Quyên tỏ vẻ áy náy, lấy ra một chiếc khăn lụa, nhẹ nhàng lau mồ hôi trên trán Tôn Tẫn, bật khóc mà gọi: “Tôn huynh!”
“Than ôi!” Tôn Tẫn thở dài buồn bã. “Vừa mới nhúc nhích một cái, đã đau buốt tận tim gan. Suốt hai canh giờ, mới chép được có từng này!”
Bàng Quyên nghẹn ngào nói: “Tôn huynh, dục tốc bất đạt, Tôn huynh không việc gì phải vội. Hiện tại dưỡng thương mới là quan trọng, đợi vết thương lành hẳn, viết cũng chưa muộn!”
Tôn Tẫn lại than thở mà rằng: “Hỡi ôi, giờ đây xem ra Tẫn đã thành phế nhân thực rồi!”
Bàng Quyên gạt nước mắt, khuyên nhủ: “Tôn huynh chớ nói những lời này! Phế hay không phế, dứt khoát không hạn chế ở thân thể. Rất nhiều người chân tay đầy đủ, song cả ngày ăn no ngồi rỗi, nào có khác gì phế nhân? Tuy Tôn huynh hai chân tàn khuyết, song mưu trí hơn người, mọi việc trong thiên hạ, không gì không biết, làm sao có chuyện đánh đồng cùng phế nhân?”
Tôn Tẫn cười buồn: “Phế hay không phế, trong lòng Tẫn tự biết, hiền đệ không phải an ủi Tẫn!”
Hai người vừa nói tới đây thì Phạm Trù tay xách hộp đựng cơm bước vào, thấy Bàng Quyên thì vội vàng dập đầu bái lạy: “Tiểu nhân khấu kiến đại tướng quân!”
Bàng Quyên liếc nhìn Phạm Trù: “Dọn cơm đi!”
Phạm Trù lấy cơm canh ra, bày lên bàn. Bàng Quyên mở ra nhìn, thấy chỉ có hai món một canh, thì đùng đùng nổi giận, quát lớn: “Nô tài to gan, cơm nước của Tôn tướng quân mỗi bữa phải bốn món một canh, sao lại giảm bớt hai món? Người đâu, lôi hắn ra ngoài, đánh hai mươi trượng cho ta!”
Bàng Thông đứng hầu sẵn trong sân lập tức dẫn hai tên gia đinh hùng hổ xông vào, túm lấy Phạm Trù.
Tôn Tẫn vội can: “Hiền đệ, chuyện này chớ trách Phạm Trù, là Tẫn đã dặn, Tẫn tứ chi bất động, không thấy đói bụng, hai món một canh là đã đủ rồi!”
Bàng Quyên vẫn hằm hằm giận dữ: “Thân là nô tài, tự ý giảm bớt đồ ăn, đáng bị xử phạt. Tôn huynh nếu đã dặn dò, vậy thì giảm cho mười trượng, lập tức lôi ra đánh!”
Bàng Thông sai người lôi Phạm Trù ra ngoài. Tôn Tẫn thấy vậy, chỉ cúi đầu, không nói gì nữa.
Bàng Quyên đích thân bày hai món một canh vào khay, bưng lại bên giường: “Tôn huynh, mời dùng bữa!”
Tôn Tẫn đẩy trả khay cơm: “Hiền đệ, hãy mang đi đi!”
Bàng Quyên ngạc nhiên: “Tôn huynh?”
“Hỡi ôi!” Tôn Tẫn khẽ thở dài. “Phạm Trù vì Tẫn mà chịu phạt, bảo Tẫn làm sao nuốt nổi?”
Bàng Quyên vội gọi: “Người đâu!”
Nô tỳ bước vào, khấu đầu đáp: “Có nô tỳ!”
“Mau đi bảo quản gia, nể tình Tôn tướng quân xin hộ, tạm tha cho Phạm Trù! Ghi nợ mười trượng!”
Nô tỳ tuân lệnh, vội vã đi ra.
Chập tối hôm sau, Phạm Trù tay xách một chiếc hộp sơn đen đẹp đẽ tìm tới cửa hàng da họ Tần. Người làm nhận ra Phạm Trù, vội đón vào trong.
Phạm Trù vòng tay hỏi: “An công có đây không?”
Lời vừa nói dứt, công tử Hoa đã từ nhà trong bước ra, mừng rỡ reo lên: “Ồ, Phạm huynh tới ư, mau vào trong nhà ngồi chơi!”
Phạm Trù theo công tử Hoa vào trong nhà, đặt chiếc hộp xuống rồi quỳ dưới đất, lấy từ trong hộp ra bốn đĩa thức ăn, một bình rượu nhỏ, bày lên trên bàn, dập đầu nói: “An công ở trên, tiểu nhân chẳng có gì đáng giá, nên tự tay nấu vài món vặt, chuẩn bị thêm bình rượu nhạt, kính mời ân công thưởng thức!”
Công tử Hoa đỡ Phạm Trù dậy: “Phạm huynh mau đứng dậy! Đã có rượu ngon, vậy hai ta hãy cùng thưởng thức, được chứ?”
Phạm Trù do dự một lát, rồi bẩm: “Rượu này chỉ dành riêng cho ân công, tiểu nhân không dám!”
Công tử Hoa đang ngẩn người ngạc nhiên, đã thấy Phạm Trù quỳ xuống, lấy bình rượu ra.
Rượu còn chưa rót, hương thơm đã bay ngào ngạt khắp phòng, công tử Hoa buột miệng khen: “Rượu ngon!”
Phạm Trù lấy làm tự hào nói: “Đây là rượu gia truyền của tiểu nhân, ân công có đi khắp Đại Lương, cũng không tìm đâu ra thứ rượu tương tự!”
“Ồ?” Công tử Hoa cười cười. “Nếu nói như vậy, bản thiếu gia đúng là có diễm phúc!”
“Không giấu công tử,” Phạm Trù rót rượu xong, chậm rãi kể, “tổ tiên tiểu nhân đều là thợ nấu rượu ở Đại Lương, rượu ngon ủ ra đều là ngự phẩm của cung đình. Ông cố nội của tại hạ cả đời nấu rượu cho cung thất. Ông nội kế tục nghiệp nhà, nấu rượu hơn ba mươi năm, qua đời từ năm mươi năm về trước. Rượu này là do ông cố nội tiểu nhân ủ riêng, trong nhà chỉ còn một hũ duy nhất, đã cất giấu suốt một trăm hai mươi năm, không phải có tiền là mua được!”
Công tử Hoa kinh ngạc thốt lên: “Bản thiếu gia đã từng thưởng thức vô số mỹ tửu, song thứ rượu ủ tới trên trăm năm, lại là lần đầu tiên được uống!”
“Đừng nói là ân công, dù có là đương kim bệ hạ, cũng chưa từng được uống!”
“Lẽ nào chúa công nhà Phạm huynh cũng chưa từng được uống?”
Phạm Trù càng dương dương tự đắc: “Tiểu nhân thân phận thấp hèn, song ý chí kiên định. Nếu không phải tri kỷ, dù có là vương tôn công tử, muốn ngửi thử rượu này, tiểu nhân cũng quyết không đồng ý! Không giấu ân công, cho tới ngày nay, trên thế gian được nếm qua rượu này mới chỉ có năm người!”
“Ồ?” Công tử Hoa rất đỗi tò mò. “Là năm người nào, Phạm huynh hãy nói nghe thử!”
“Người thứ nhất là ông cố nội. Ông cố nội cả đời thưởng thức vô số mỹ tửu, duy có rượu này chưa từng nếm một giọt. Sau khi niêm phong hũ rượu, ông cố nội đào một căn hầm trong sân, rồi giấu hũ rượu dưới đó. Cứ tới cuối năm, ông cố nội lại tắm gội xông hương, đích thân xuống hầm, hít ngửi hơi rượu qua nắp hũ. Sau khi ông cố nội qua đời, ông nội nuốt lệ mở hũ rượu, rót ra một chén, từ từ đổ vào miệng ông cố nội, còn bản thân ông nội đến một giọt cũng không động, lại niêm phong kín hũ rượu như cũ!”
“Người thứ hai là ai?” Công tử Hoa hỏi.
“Người thứ hai là ông nội!” Phạm Trù giọng đều đều như đang kể chuyện. “Ông nội cũng giống như ông cố nội, cứ tới cuối năm lại tắm gội xông hương, xuống hầm ngửi hơi rượu qua nắp hũ, vô cùng trang trọng. Khi ông nội qua đời, tiên phụ lại mở hũ rượu, rót đây một chén, nuốt lệ đổ rượu vào miệng ông nội. Người thứ ba là tiên phụ, và người rót rượu cho ông chính là tiểu nhân!”
Công tử Hoa kinh ngạc tới đờ người: “Nói như vậy, ba người được thưởng thức rượu, đều là người đã chết!”
“Đúng vậy!” Phạm Trù hai mắt đẫm lệ, gật đầu.
“Dám hỏi Phạm huynh, người thứ tư là ai?” Công tử Hoa càng lúc càng thêm tò mò.
“Sau khi tiên phụ qua đời, tiểu nhân vốn không định mở hũ rượu. Nhưng tối qua, sau khi lễ bái tiên tổ, tiểu nhân đã lén mở hũ rượu, rót ra một bình, mang tặng một người.”
Công tử Hoa sửng sốt: “Hôm qua? Tặng cho ai vậy?”
“Tôn tướng quân!”
Công tử Hoa trợn tròn mắt: “Phải chăng là Tôn Tẫn?”
“Đúng vậy!” Phạm Trù nói. “Mấy tháng qua, Tôn tướng quân đều ăn những món tiểu nhân nấu nướng. Tiểu nhân thân làm tôi tớ, cả đời hầu hạ quan lại quyền quý, thứ nhận được chỉ là đòn roi của chủ nhân, thứ nghe được chỉ là lời quát mắng của chủ nhân, chẳng may sơ sểnh, là gặp hoạ sát thân như bỡn, sống chẳng khác gì trâu ngựa. Từ lúc gặp Tôn tướng quân, tiểu nhân mới biết, tiểu nhân cũng là một con người!” Nói đoạn, bèn kể lại chi tiết sự việc xảy ra hôm qua cho công tử Hoa nghe.
Công tử Hoa nghe mà cảm động, gật gù nói: “Phải lắm, mở hũ rượu vì Tôn tướng quân cũng là xứng đáng!”
“Đúng vậy!” Phạm Trù nước mắt giàn giụa, rót ra một chén rượu từ trong bình, quỳ xuống đất, dâng lên công tử Hoa. “Và ngày hôm nay, tiểu nhân lại mở hũ rượu lần nữa. Ân công ở trên, xin mời uống chén rượu này!”
Công tử Hoa xuất thân quyền qúy, lớn lên trong chốn cung đình, làm gì được nghe thấy những chuyện kiểu này của hàng tiểu nhân? Một người thợ tầm thường, một đầu bếp hạ đẳng chuyên phục dịch người khác, lại trải qua những chặng đời xúc động nhường ấy, tấm lòng lại hào hiệp nhường ấy, thực sự khiến công tử Hoa thán phục! Công tử Hoa rơm rớm nước mắt, cũng quỳ xuống, hướng về chén rượu, lạy liền ba lạy, rồi hai tay đỡ lấy, nâng chén rượu lên nói: “Rượu ngon hiếm có chốn nhân gian, bản thiếu gia được ngửi hương đã là may mắn lắm rồi, huống chi còn được uống!”
Thấy công tử Hoa cung kính như vậy, Phạm Trù lại ứa nước mắt, khóc mà nói: “Ân công, mời dùng!”
Công tử Hoa một hơi uống cạn, quả là thấm thía tận tâm can.
Phạm Trù cầm bình rượu lên, định rót thêm chén nữa, công tử Hoa bèn vòng tay cảm tạ mà rằng: “Vật ngon không thể dùng nhiều, một chén là đủ rồi!”
Phạm Trù cũng không nài ép, đặt chén rượu xuống, lại bái lạy mà nói: “Tiểu nhân cảm tạ ân công đã dùng rượu!”
Công tử Hoa đáp lễ, đưa mắt nhìn Phạm Trù, rồi nói thẳng vào việc chính: “Vừa nãy nghe Phạm huynh nhắc tới Tôn tướng quân, bản thiếu gia chợt nhớ ra một chuyện!”
“Ân công cứ nói!”
“Cách đây không lâu, một người bạn có nhờ bản thiếu gia chuyển một bức thư tới Tôn tướng quân. Bản thiếu gia đã tìm kiếm Tôn tướng quân khắp nơi, được biết tướng quân không may ngộ nạn, được đưa vào phủ quân hầu. Phủ quân hầu thâm nghiêm như biển, thư này đương nhiên không thể chuyển được tới tay. Việc đã lâu rồi, nay nếu Phạm huynh không nhắc tới, bản thiếu gia suýt nữa cũng quên mất!”
“Một ngày ba bữa cơm của Tôn tướng quân, đều do tiểu nhân mang tới. Việc cỏn con này, ân công cứ giao cho tiểu nhân!”
“Cảm tạ Phạm huynh!” Công tử Hoa nói đoạn, lấy ra một phong thư dán kín từ trong ống tay áo, đưa cho Phạm Trù. “Lá thư này là chuyện riêng tư giữa bạn bè, xin Phạm huynh hết sức cẩn thận, tốt nhất không nên để cho ai thấy. Tôn tướng quân hiện là tội nhân, ngộ nhỡ để lộ chuyện ra ngoài, sẽ liên luỵ tới nhân huynh, cũng sẽ khiến bản thiếu gia phải bất an.”
Phạm Trù đưa hai tay đỡ lấy bức thư: “Ân công yên tâm, tiểu nhân tự biết phải làm thế nào!”
Trước giường Tôn Tẫn, tỳ nữ quỳ một bên mài mực, Tôn Tẫn tay phải cầm bút, cẩn thận viết từng nét lên tấm thẻ tre.
Phạm Trù tay xách hộp cơm, bước vào trong phòng, khẽ bẩm: “Tôn tướng quân, xin hãy nghỉ tay một lát, tới bữa trưa rồi!”
Tôn Tẫn vòng tay nói: “Phạm huynh vất vả quá!”
Tỳ nữ thu dọn bàn gỗ, thẻ tre và các vật dụng khác, rồi đứng hầu bên cạnh. Phạm Trù chợt vỗ trán kêu lên: “Phải rồi, tướng quân thích ăn trứng muối, tiểu nhân lại quên khuấy đi mất!” Rồi quay sang tỳ nữ. “Cô nương, trứng muối ở trên bàn dưới bếp, cô nương chân tay nhanh nhẹn, cảm phiền đi lấy giúp cho.”
Tỳ nữ vâng lời, líu ríu chạy đi.
Phạm Trù bước ra giữa sân, ngó quanh quất không thấy ai, mới vội trở vào phòng, lấy bức thư của công tử Hoa từ trong ống tay áo ra, quỳ xuống bẩm: “Có người nhờ tiểu nhân chuyển thư này tới tướng quân, xin tướng quân hãy mở xem vào lúc không có người.”
Tôn Tẫn hết sức kinh ngạc, nhìn Phạm Trù chăm chăm, thấy sắc mặt Phạm Trù vô cùng trịnh trọng, hiểu rằng không phải thư thường, bèn đưa tay cầm lấy, giấu xuống dưới gối, rồi vòng tay nói: “Đa tạ Phạm huynh!”
Phạm Trù làm xong việc ân công nhờ cậy, mới lấy thức ăn ra, bày lên mặt bàn. Không lâu sau, tỳ nữ cầm hai quả trứng muối quay về, đưa cho Phạm Trù.
Đợi Tôn Tẫn dùng bữa xong, Phạm Trù liền dọn khay cơm mang xuống bếp.
Tôn Tẫn quay sang tỳ nữ, nói: “Cô nương, tại hạ muốn nghỉ ngơi một lát, cô nương cũng đã mệt rồi, mau khép cửa lại, sang phòng bên nghỉ đi!”
Tỳ nữ “vâng” một tiếng, lui ra khỏi phòng, đóng cửa lại, song không dám sang phòng bên nghỉ, mà vẫn đứng hầu ngoài cửa.
Tôn Tẫn lấy bức thư từ dưới gối lên, giở ra đọc: “Kinh hãi hay tin tướng quân hàm oan, tại hạ lòng đau như dao cắt. Qua điều tra cặn kẽ, tại hạ biết được, người vu oan hãm hại tướng quân, không phải ai khác, chính là Vũ An Quân. Sự việc quá ư đường đột, tại hạ bàng hoàng sửng sốt, bèn cấp báo cho tướng quân, mong tướng quân hết sức đề phòng. Người đấu cờ ở lầu Vọng Xuân, Mộc Vũ Khuy.”
Tôn Tẫn đọc xong, vội vã gập ngay thư lại, nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu sau mới lẩm bẩm một mình: “Không thể!” Dừng lại một lát, lại lắc đầu thật mạnh. “Tuyệt đối không thể!”
Hồi lâu sau, Tôn Tẫn lại mở bức thư ra, đọc kỹ một lượt nữa, lại nhắm mắt suy nghĩ miên man, bỗng nhiên như bừng tỉnh: “Phải rồi, ta đã hiểu rồi! Thứ người Tần muốn, là Ngụy; thứ người Tần sợ, là ta và hiền đệ! Giờ đây, xem ra kẻ hãm hại ta, rất có thể chính là người này! Người này lần trước hẹn ta đánh cờ, nếu không phải bệ hạ nói ra, ta đâu biết đó là trúng kế? Nay, hắn lại gửi thư tới, hẳn là muốn dùng kế ly gián, khiến ta và hiền đệ mâu thuẫn, để lợi ích cho người Tần. Được, đợi hiền đệ tới, ta sẽ nói rõ chuyện này với hiền đệ, để hiền đệ biết mà đề phòng!”
Tôn Tẫn nghĩ vậy, bèn cất lá thư xuống dưới gối, yên tâm đi ngủ.
Tới chập tối, Bàng Quyên hồi phủ. Do lúc nào cũng canh cánh bên lòng cuốn “Tôn Tử binh pháp”, nên ăn quấy quá cho xong bữa tối rồi hấp tấp cùng Bàng Thông tới ngay phòng Tôn Tẫn, ngồi xuống trước giường, vén chăn lên, cẩn thận xem xét vết thương của Tôn Tẫn, rồi ôn tồn hỏi: “Tôn huynh hôm nay thấy thế nào?”
Tôn Tẫn gật đầu nói: “Đã đỡ hơn nhiều, chỉ có điều ngứa ngáy ghê gớm!”
Bàng Quyên cười vui vẻ mà nói: “Ngứa là tốt! Thấy ngứa, chứng tỏ vết thương đang mọc da liền thịt. Hẳn không bao lâu nữa, Tôn huynh có thể xuống giường được rồi!”
Tôn Tẫn cũng vui mừng nói: “Xuống giường được thì tốt quá, cả ngày từ sáng tới tối nằm lì trên giường, buồn bực vô cùng. Hơn nữa, ngồi trên giường viết chữ đúng là không ổn, một canh giờ viết không nổi vài hàng.”
Bàng Quyên cầm tấm thẻ tre trên bàn lên, nhìn qua một lượt, tấm tắc khen ngợi: “Tôn huynh ngồi trên giường mà viết chữ vẫn đẹp thế này, khiến Quyên vô cùng khâm phục. Đã viết xong mấy chương rồi?”
“Đây là chương thứ ba, cũng sắp xong rồi!”
Tôn Tẫn sực nhớ tới bức thư, vội đưa tay xuống dưới gối lần tìm, đang định lấy thì Bàng Quyên đã quay sang hỏi tỳ nữ: “Hôm nay Phạm Trù mang tới mấy món?”
Tỳ nữ khấu đầu nói: “Bẩm, bốn món một canh!”
“Tốt! Là những món gì?”
“Bốn món là rau cải, đậu phụ, thịt ướp, cá muối. Một canh là canh trứng nấu rau cải, thêm hai quả trứng muối.”
Bàng Quyên lập tức chau mày, hai mắt sầm lại, quay sang Bàng Thông: “Thông đệ, gọi Phạm Trù lại đây!”
Bàng Thông quay người, đang định bước đi, Tôn Tẫn bỗng thấy chột dạ, vội hỏi: “Hiền đệ, gọi Phạm Trù tới làm gì?”
Bàng Quyên giận dữ nói: “Bản phủ tuy nghèo, song không thiếu những thứ sâm, nhung. Vết thương của Tôn huynh đang lúc hồi phục, cần phải chú ý bồi bổ. Những món kia đều là thức ăn tầm thường trong mâm cơm của bách tính, mà tên chết tiệt này lại nấu cho Tôn huynh ăn, há không đáng đánh đòn?”
Tôn Tẫn cười nói: “Hiền đệ, chuyện này không liên quan tới Phạm Trù! Đây đều là những thứ Tẫn thích, món ăn là do Tẫn tự yêu cầu, Phạm Trù chẳng qua chỉ làm theo y lời mà thôi. Hiền đệ có trách, xin cứ trách Tẫn!”
“Nếu đúng là vậy, Quyên sẽ tạm tha cho hắn!”
Tôn Tẫn cúi đầu ngẫm nghĩ: “Xem ra, chuyện bức thư cũng không nên nói với hiền đệ. Nếu hiền đệ biết được, ắt sẽ truy cứu nguồn gốc lá thư, chẳng phải làm hại tới Phạm Trù ư?” Nghĩ là vậy, bèn rụt ngay bàn tay đang lần dưới gối về.
Bàng Quyên không chú ý đến, chỉ chăm chú nhìn đống thẻ tre mà Tôn Tẫn đã viết xong bày ở trên bàn, cười nói: “Tôn huynh, Quyên thực sự nhịn không nổi nữa rồi! Số thẻ tre này, hãy để Quyên tạm mang về đọc trước!” Nói xong, đưa tay vơ hết chỗ thẻ tre cho cả vào tay áo.
Tôn Tẫn cũng cười nói: “Hiền đệ có thể mang hết về, có điều...
“Tôn huynh cứ nói!”
“Những phần này đều được viết ra theo trí nhớ của Tẫn, trong lúc vội vã, khó lòng chuẩn xác. Tẫn dự định sau khi viết xong toàn bộ, sẽ chỉnh sửa kỹ càng, đến khi đảm bảo hoàn toàn không còn sai sót, mới giao lại cho hiền đệ.”
“Ờ, vậy cũng tốt!” Bàng Quyên gật đầu lia lịa, rút mớ thẻ tre từ trong ống tay áo ra trả lại. “Quyên tạm để đây đã, đợi Tôn huynh viết xong, đọc một thể càng hay!”
Từ sau khi nhận vợ chồng Bàng Quyên làm cha mẹ nuôi, Bạch Khởi thường xuyên được đón tới phủ Vũ An Quân, mỗi lần đều ở liền vài ngày. Lúc nào thấy nhớ con quá, Khởi Y lại sai lão quản gia tới đón cậu bé về. Bàng Quyên thường xuyên vắng nhà, Thụy Liên một mình cô đơn vò võ, bởi vậy niềm vui lớn nhất là có Bạch Khởi ở bên cạnh. Mỗi khi người nhà cậu bé tới đón, Thụy Liên thường lưu luyến bịn rịn không thôi, tiễn ra tới tận cổng, còn dặn đi dặn lại cậu bé sớm trở về, như thể không phải Bạch Khởi về nhà mà chỉ là tạm thời đi thăm người thân.
Hôm nay cũng vậy, Thụy Liên ân cần dặn dò, Bạch Khởi vâng dạ luôn miệng, hẹn rằng chỉ đi hai ngày là về.
Bên này cũng là mẫu tử tình thâm, mấy ngày không gặp, như cách ba thu, vừa gặp mặt đã ôm chầm lấy nhau. Ôm ấp một hồi, Bạch Khởi đẩy Khởi Y ra, hí hửng lôi ngay cây thương kết ngù đỏ mà Bàng Quyên làm riêng cho mình ra khoe với mẹ: “Mẹ ơi, hài nhi múa cho mẹ xem nhé!”
Bạch Khởi chạy lại khoảng đất trống, múa tít cây thương nhỏ, trông cũng thành chiêu thành thức, gió rít vù vù.
Chớp mắt đã qua hai ngày. Hôm nay Bạch Khởi dậy rất sớm, ra sân luyện tập thương pháp một hồi, rồi cáo biệt Khởi Y, nói là phải về nhà cha nuôi. Khởi Y quyến luyến, không muốn cho cậu đi. Bạch Khởi quỳ xuống, lạy ba lạy mà nói: “Mẹ, nam tử hán nói lời phải giữ lời, hài nhi đã nhận lời với nghĩa mẫu, giờ phải trở về như đã hẹn, nếu không sẽ là thất tín. Đợi con về bái chào nghĩa mẫu, nói với nghĩa mẫu nỗi lòng thương nhớ con của mẹ, sau đó sẽ từ biệt nghĩa mẫu, lại trở về với mẹ, có được không?”
Nghe Bạch Khởi nói ra được những lời như vậy, Khởi Y không khỏi thầm kinh ngạc trong lòng, liền gật đầu đồng ý. Thấy con trai còn nhỏ mà đã hiểu chuyện, Bạch Hổ bỗng nảy ra một ý, bèn nói với Bạch Khởi: “Khởi Nhi, hãy theo cha tới đây!”
Bạch Khởi gật đầu, đi theo cha tới từ đường. Hai cha con quỳ xuống trước linh vị liệt tổ liệt tông, lạy liền mấy lạy. Bạch Hổ chỉ tay vào linh vị Bạch Khuê, hỏi: “Khởi Nhi, con có biết đây là linh vị của ai không?”
“Thưa cha, là ông nội!”
“Bái lạy ông nội đi con!”
Bạch Khởi quay mặt vào linh vị Bạch Khuê, lạy liền mấy lạy, rồi ngẩng nhìn Bạch Hổ.
Bạch Hổ nhìn con trai, do dự hồi lâu rồi mới hạ quyết tâm, sắc mặt hết sức nghiêm trang hỏi: “Khởi Nhi, hãy trả lời cha, con họ gì tên gì?”
Bạch Khởi vừa ngạc nhiên vừa băn khoăn: “Thưa cha, con họ Bạch tên Khởi!”
“Tên này từ đâu mà có?”
Bạch Khởi quay về phía linh vị Bạch Khuê: “Là do ông nội đặt cho con.”
“Cớ sao ông nội lại chọn chữ Khởi?”
“Khởi, nghĩa là bắt đầu bước đi; Khởi, cũng có nghĩa là tự mình bước đi!” Bạch Khởi nhắc lại câu mà mẹ đã dạy từ tấm bé.
“Tốt lắm!” Bạch Hổ xoa đầu con trai. “Con hãy trả lời tiếp, năm nay con mấy tuổi?”
Bạch Khởi càng ngạc nhiên hơn: “Thưa cha, Bạch Khởi vừa tròn bảy tuổi!”
Bạch Hổ gật gật đầu: “Khởi Nhi, con đã bảy tuổi, làm việc lớn được rồi!”
Nghe cha nói mình có thể làm việc lớn, Bạch Khởi rất đỗi tự hào: “Thưa cha, Khởi Nhi đã bảy tuổi, có thể làm được việc lớn! Chỉ cần cha căn dặn, dù có phải vào nơi nước sôi lửa bỏng, Khởi Nghi cũng không chối từ!”
“Giỏi lắm!” Bạch Khởi sắc mặt càng thêm nghiêm nghị. “Cha sẽ giao cho con một việc lớn!” Rồi lần trong ống tay áo, lấy ra một túi gấm. “Con tới nhà nghĩa phụ, hãy tìm cách gặp Tôn bá phụ, giao vật này cho bá phụ!”
Bạch Khởi nhìn túi gấm: “Xin hỏi cha, đây là thứ gì?”
“Đây là vật hệ trọng của người lớn! Khi con đưa cho bá phụ, nhất thiết không được để ai biết!”
“Cũng không được nói với nghĩa phụ?”
“Đúng vậy!” Bạch Hổ trịnh trọng gật đầu. “Không chỉ nghĩa phụ mà ngay cả thân mẫu, con cũng không được nói. Còn nữa, từ nay về sau, con phải nhớ lời cha dặn, tuyệt đối giữ kín chuyện này. Bất kể là ai, bất kể người đó nói gì, dù là đao thương kề cổ, con cũng không được hé răng tiết lộ nửa lời!”
Bạch Khởi ngẫm nghĩ một lát, rồi trịnh trọng nhận lấy túi gấm, quỳ xuống dập đầu mà nói: “Cha yên tâm, Bạch Khởi đã bảy tuổi rồi!”
Bạch Hổ xoa đầu con trai: “Con trai ngoan, cha tin con!”
Bạch Khởi giấu túi gấm vào trong người, theo lão quản gia trở về phủ Vũ An Quân. Thụy Liên đã đợi sẵn ngoài cổng, vừa nhìn thấy cậu bé, đã vội chạy lại ôm chầm lấy. Bạch Khởi mất cả buổi sáng quanh quẩn bên nghĩa mẫu, tới tận buổi chiều, Thụy Liên thấy mệt, bèn về phòng nghỉ ngơi. Bạch Khởi ra hậu hoa viên chơi đùa, tìm cơ hội tới phòng Tôn Tẫn.
Khi Bạch Khởi tung tăng chạy vào trong phòng, Tôn Tẫn đang rạp người trên giường, tay đưa từng nét chữ.
Bạch Khởi đến trước giường, quỳ xuống dập đầu nói: “Bạch Khởi khấu kiến nghĩa phụ!”
Tôn Tẫn đặt bút xuống, cười hiền hoà mà đáp: “Khởi Nhi, mau đứng dậy đi!”
Bạch Khởi lại khấu đầu: “Bạch Khởi tạ ơn nghĩa phụ!”
Tôn Tẫn xoa đầu cậu bé: “Khởi Nhi, mấy ngày nay không gặp, nghĩa phụ nhớ con quá!”
“Khởi bẩm nghĩa phụ, thân mẫu nhớ Khởi Nhi, gọi Khởi Nhi về nhà vài ngày, hôm nay mới lại tới được.”
“Hay lắm, con tới là tốt rồi! Đợi vài ngày nữa, chân của nghĩa phụ khỏi hẳn, sẽ cùng con ra ngoài sân chơi!”
“Đa tạ nghĩa phụ!” Bạch Khởi liếc nhìn vào nghiên mực trong tay tỳ nữ, thấy đã cạn, bèn quay sang nhìn tỳ nữ cười nói: “Chị ơi, chị dạy Khởi Nhi mài mực nhé!”
Tỳ nữ hốt hoảng nói: “Thiếu gia, không được đâu! Mài mực là công việc của kẻ thấp hèn, thiếu gia thân phận cao qúy, không được đâu!”
Bạch Khởi nằn nì: “Chị ơi, chị dạy Khởi Nhi đi, Khởi Nhi muốn mài mực cho nghĩa phụ!”
Tỳ nữ không còn cách nào khác, chỉ biết đưa mắt nhìn Tôn Tẫn. Tôn Tẫn cười nói: “Cô nương, cứ để thiếu gia mài, thằng bé này thực là lanh lợi!”
Tỳ nữ do dự một lát, rồi đưa nghiên mực cho Bạch Khởi. Bạch Khởi vui mừng đỡ lấy, bắt đầu chăm chú mài mực. Tôn Tẫn nhìn dáng vẻ nghiêm túc của cậu bé, tấm tắc khen ngợi: “Khởi Nhi, con mài mực giỏi lắm!”
Bạch Khởi ngẩng lên cười nói: “Tạ ơn nghĩa phụ quá khen!” Rồi lại quay sang tỳ nữ. “Chị ơi, chị làm cho Khởi Nhi một chiếc còi liễu được không?”
Tỳ nữ lúng túng: “Làm còi liễu thế nào?”
“Dễ thôi!” Bạch Khởi cười nói. “Chị ra bên hồ bẻ một cành liễu về đây, Khởi Nhi sẽ dạy cho chị làm!”
Tỳ nữ cười nói: “Được thôi!” Nói đoạn liền đi luôn ra khỏi phòng.
Thấy tỳ nữ đã đi xa, Bạch Khởi nhìn quanh quất, thấy trong nhà không còn ai, vội vã quỳ xuống, lần tìm túi gấm trong lớp áo trong cùng, đưa hai tay dâng lên Tôn Tẫn: “Gia phụ nhờ Bạch Khởi chuyển túi gấm này tới tận tay nghĩa phụ, không được để cho người ngoài biết!”
Nhớ lại có lần Bạch Hổ từng hứa sẽ rửa sạch nỗi oan cho mình, Tôn Tẫn chột dạ, vội nhận lấy túi gấm, xoa đầu Bạch Khởi mà nói: “Khởi Nhi, con còn nhỏ tuổi đã thông minh lanh lợi đến vậy, tương lai ắt làm nên nghiệp lớn.”
Bạch Khởi lại bái lạy mà nói: “Tạ ơn nghĩa phụ quá khen!”
Tối đến, Tôn Tẫn đuổi hết người hầu ra ngoài, châm đèn, mở túi gấm ra, đọc chăm chú: “Tôn tướng quân, tại hạ đã điều tra xác thực, kẻ đưa thư tên gọi Cẩu Tử, do Vũ An Quân sai đến. Tại hạ định bắt người này, song Vũ An Quân đã đi trước một bước, giết người diệt khẩu. Vũ An Quân là sư đệ của tướng quân, cũng là ân công của tại hạ. Song sự thực đã rành rành, tại hạ không thể không tin. Ngoài ra, dựa vào tình thế trong triều, người đủ sức lung lạc bệ hạ, gia hại tướng quân, không thể là ai khác ngoài Vũ An Quân! Xét thấy vụ án này nghiêm trọng, tại hạ lực bất tòng tâm, không giúp được gì, chỉ biết nói ra sự thực, mong tướng quân hãy mau chóng nghĩ kế thoát thân. Đọc xong đốt ngay, khẩn thiết! Bạch Hổ.”
Tôn Tẫn đọc xong, hai mắt trợn trừng, bàng hoàng kinh hãi, không biết bao lâu sau mới định thần lại được, vội lôi bức thư ở dưới gối ra, so sánh một hồi, nhận thấy nội dung của hai bức thư giống hệt như nhau.
Tôn Tẫn xem đi xem lại vài lượt, rồi đưa hai bức thư lên trên ngọn đèn dầu, châm lửa đốt đi.
Rồi Tôn Tẫn thả mình xuống giường, nhắm nghiền mắt lại, mặc cho hai dòng lệ lặng lẽ trào ra bên khoé mắt.
Sáng sớm hôm sau, thầy lang tới rất sớm, thay băng cho Tôn Tẫn.
Thầy lang tháo bỏ lớp băng, mừng rỡ reo lên: “Chúc mừng Tôn tướng quân, vết thương đã kín miệng, đóng vảy rồi!”
Tôn Tẫn gật đầu.
Lão thầy lang thay thuốc xong, quấn một lớp băng mới, mặt mày hớn hở, vui vẻ nói: “Đóng vảy cho thấy đã lên da non. Tướng quân, không đầy bảy ngày nữa, vảy sẽ bong ra, để lộ lớp da mới, lúc đó vết thương của tướng quân sẽ khỏi hoàn toàn.”
Tôn Tẫn vẫn không nói năng gì, cứ ngồi ngẩn ngơ trên giường.
Thầy lang lấy làm ngạc nhiên, đưa mắt nhìn Tôn Tẫn, thấy hai mắt sưng húp, hẳn là mất ngủ, bèn quan tâm hỏi: “Tối qua tướng quân không ngủ được ư?”
Tôn Tẫn lại gật đầu.
Lão thầy lang lại hỏi: “Phải chăng vết thương lên da non, tướng quân thấy ngứa ngáy khó chịu, mới bị mất ngủ?”
Tôn Tẫn lắc đầu.
Thầy lang sửng sốt nhìn Tôn Tẫn, hỏi: “Nếu không phải vậy, cớ sao tướng quân không ngủ được?”
Tôn Tẫn khẽ thở dài: “Hỡi ôi! Ngoại thương đã lành, song nội thương lại thêm trầm trọng!”
“Nội thương?” Lão thầy lang vô cùng khó hiểu. “Nội thương gì? Để thảo dân bắt mạch xem sao!”
Lão thầy lang bắt mạch, xem xét một hồi rồi nói: “Mạch tướng quân rất tốt, thảo dân nào thấy có nội thương gì!”
Tôn Tẫn cười gượng: “Vết thương trong người vãn sinh, chỉ mình vãn sinh biết. Xin hỏi tiên sinh, hôm nay vãn sinh có thể xuống giường được chưa?”
Thầy lang lắc đầu nói: “Trong thời gian đóng vảy, tướng quân càng nên hạn chế cử động. Đầu gối là khớp xương quan trọng, chỉ hơi cử động sẽ khiến vảy bong ra, lại phải mất thêm thời gian để đóng lớp vảy mới.”
“Đa tạ tiên sinh!”
Sau khi thầy lang đi khỏi, tỳ nữ giúp Tôn Tẫn rửa mặt, chải đầu, lão nô bộc giúp Tôn Tẫn vệ sinh xong xuôi, vừa hay Phạm Trù mang cơm tới.
Tôn Tẫn không còn tâm trí đâu để ăn uống, lùa lấy lệ vài miếng, rồi sai Phạm Trù dọn đi.
Tỳ nữ nhìn thời gian, chuẩn bị sẵn thẻ tre, bắt đầu lặng lẽ mài mực. Tôn Tẫn nhìn đống thẻ tre xếp gọn gàng bên cạnh giường, hỏi: “Cô nương, đã viết tổng cộng bao nhiêu tấm rồi?”
Tỳ nữ bèn nói: “Hồi bẩm tướng quân, hôm qua tỳ nữ vừa đếm, đã viết được năm mươi tấm rồi!”
Tôn Tẫn gật đầu nói: “Tối qua đau đầu cả đêm, không ngủ được, hôm nay không viết nữa. Cô nương hãy đi làm việc khác, nếu tại hạ cần gì, sẽ gọi cô nương sau!”
“Nô tỳ tuân lệnh!”
Thấy tỳ nữ đi khỏi, trong phòng cũng không còn ai khác, Tôn Tẫn lại nhắm mắt lại, hồi tưởng về những tháng ngày đi chung một đường với Bàng Quyên suốt mấy năm qua, từ buổi gặp gỡ tại cửa Túc Tư, trải qua cơn hiểm nạn ở Đại Lương, rồi tới Quỷ Cốc mấy năm trời, Bàng Quyên tuy tính tình hiểm độc, song cũng là người hào sảng, hơn nữa cũng coi Tôn Tẫn là bạn tốt, có ân có nghĩa, chưa từng dối trá nửa lời. Vậy mà mới có hai năm, Bàng Quyên đã thay lòng đổi dạ.
Tôn Tẫn trầm ngâm một lát, thở dài sườn sượt, than thở mà rằng: “Hỡi ôi, hẳn là cái tâm hiếu thắng đã hại sư đệ! Lúc còn trong sơn cốc, sư đệ không lúc nào thôi tranh hơn với ta, nay thấy ta tài nghệ trội hơn, nên cái tâm cũng đổi khác rồi!”
Tôn Tẫn ngồi trên giường, suy nghĩ mải miết, trước mặt lần lượt hiện lên những gương mặt thân quen, Tôn Cơ, Tôn Thao, Tôn An, Lật Bình, tiền bối Tuỳ Sào Tử, Quỷ Cốc tiên sinh, Ngọc Thiền, đại sư huynh, Tô Tần và Trương Nghi, càng nghĩ càng thấy đau lòng.
Nghĩ ngợi triền miên một hồi, Tôn Tẫn trong lòng bi thảm, nước mắt cứ thế lăn trào.
Buồn bã hồi lâu, Tôn Tẫn chợt nhớ tới lời dặn trong thư của Bạch Hổ: “... mong tướng quân hãy mau chóng nghĩ kế thoát thân”, bất giác lặng người kinh hãi, than thở mà rằng: “Hiện giờ xem ra, giá trị của ta chỉ nằm ở bộ binh thư này. Một khi binh thư đã viết xong, sư đệ nếu có tâm khác, ắt sẽ không dung tha cho ta. Ta vừa là tội nhân, lại là phế nhân, hơn nữa thân ở trong hang hùm, sư đệ nếu muốn giết ta, chẳng phải dễ dàng như bóp chết con kiến...” Nghĩ tới đây, nước mắt lại giàn giụa. “Than ôi, hiện giờ lâm vào tình cảnh thế này, bảo ta phải thoát thân thế nào đây?”
Lại đờ đẫn một hồi, suy nghĩ của Tôn Tẫn một lần nữa quay trở về Quỷ Cốc, nhớ lại trước ngày ra đi, Quỷ Cốc Tử đã ân cần nhắc nhở: “Tên của con cần đổi một chữ... Hãy đổi chữ ‘Tân’ thành chữ ‘Tẫn’, hoặc giả sẽ giúp con tiến thủ... Con và Bàng Quyên cùng ở một triều, cùng phò một chủ, mọi việc cần phải lưu tâm...”
Tôn Tẫn mắt đẫm lệ, lẩm bẩm mà rằng: “Tiên sinh, mọi việc tiên sinh đều đã liệu trước cả rồi, chỉ là đệ tử ngu muội, không hiểu được nỗi khổ tâm của tiên sinh. Nay đệ tử thân bị giam cầm, xin tiên sinh chỉ giúp đệ tử một kế thoát thân!”
Nói tới đây, Tôn Tẫn bỗng thấy trong đầu vụt sáng, sực nhớ ra một chuyện, lại khẽ lẩm bẩm: “Phải rồi, lúc chia tay, tiên sinh có trao cho ta một túi gấm, dặn ta gặp lúc cấp bách hãy mở ra xem. Hiện tại hẳn là lúc cấp bách, sao lại không mở ra?”
Tôn Tẫn nghĩ đã thông, bèn vội vã cởi bỏ lớp áo trên người xuống, xé rách lớp vải lót bên trong, lấy túi gấm ra. Tôn Tẫn cầm túi gấm trên tay, ngước mắt nhìn lên không trung, lầm rầm cầu khấn một hồi, rồi thận trọng mở túi gấm ra. Bên trong có một mảnh lụa, không viết bất kỳ lời dặn dò nào, chỉ thấy duy nhất một chữ “phong” thật lớn, hơn nữa không viết ở giữa, mà viết hơi chếch xuống dưới, lệch sang bên phải.
Tôn Tẫn nhìn đăm đăm vào mảnh lụa, hồi lâu vẫn không hiểu, bèn cất mảnh lụa đi, nhắm mắt ngưng thần, chìm vào suy nghĩ.
Một lát sau, Tôn Tẫn mở choàng hai mắt, lại lấy mảnh lụa ra, bày ở trước mặt, nhìn sững một hồi, thầm nghĩ: “Chữ ‘phong’ này, rốt cuộc có thâm ý gì? Cả mảnh lụa chỉ có duy nhất một chữ ‘phong’, nhìn vào kích thước, rất không hài hoà, muốn viết thêm một chữ nữa, cũng không còn chỗ mà viết. Nhưng nếu không cần viết thêm, cớ sao tiên sinh lại không viết ở chính giữa?” Vắt óc suy nghĩ một hồi nữa, đột nhiên trí não vụt sáng. “Phải chăng chữ ‘phong’ này chỉ là nửa con chữ, nửa còn lại đã cố ý giấu đi?”
Vậy thì giấu thứ gì đây?
Tôn Tẫn lại vắt óc suy nghĩ một chốc, trong đầu lại nảy ra một ý: “Phải rồi! Mình bị hành hình thành ra tàn phế, nằm liệt trên giường, chính là bệnh nhân. Bệnh nhân gặp chữ ‘phong’, chính là chữ này!” Vội vàng lấy bút, viết thêm một bộ “nạch” lên trên chữ “phong”, nhìn lại vừa hay thấy viết kín mảnh vải lụa, bèn gật đầu nói: “‘Phong’ này, chính là phong cuồng!”(1)
Tôn Tẫn đã ngộ ra diệu kế trong túi gấm, lập tức đánh đá lửa, châm đèn dầu, đốt rụi cả túi gấm và mảnh lụa, sau đó ngước nhìn lên cao, vòng tay bái lạy, khóc mà rằng: “Tạ ơn tiên sinh đã chỉ bảo đệ tử kế thoát thân!”
Chập tối, Bàng Quyên sốt sắng tìm tới, đến bên giường Tôn Tẫn, nôn nóng hỏi: “Quyên vừa trở về phủ, nghe nói Tôn huynh mất ngủ cả đêm qua, vội tới đây ngay. Tôn huynh sao vậy?”
Tôn Tẫn khẽ chau mày, cười gượng mà nói: “Tạ ơn hiền đệ quan tâm! Nửa đêm hôm qua, Tẫn chợt tỉnh giấc trong cơn mơ, thấy đầu đau như búa bổ, muốn ngủ tiếp mà không tài nào ngủ nổi, cả ngày nay mệt mỏi rã rời.”
Bàng Quyên không buồn nghĩ ngợi, oang oang nói luôn: “Phải rồi. Hiện đang là lúc giao mùa đông xuân, thời tiết thay đổi, Tôn huynh sức khoẻ còn yếu, hẳn không chịu nổi phong hàn. Để Quyên gọi thầy lang tới, khám bệnh cho Tôn huynh!”
“Hiền đệ không phải bận tâm!” Tôn Tẫn lắc đầu, cười nói. “Hôm nay lại không có gì đáng ngại. Trưa nay, Tẫn ngủ ngon suốt một canh giờ, đã bớt đau đầu rồi. Đêm nay nếu không có chuyện gì, ngày mai hẳn sẽ khoẻ lại.”
“Cũng được!” Bàng Quyên thấy Tôn Tẫn tinh thần nhẹ nhõm, biết là không có chuyện gì nghiêm trọng, bèn chuyển sang chuyện khác. “Nghe nói vết thương của Tôn huynh đã đóng vảy, vài ngày nữa sẽ khỏi hoàn toàn, Quyên cũng thấy an ủi lắm lắm. Đợi đến khi vảy bong hết, Quyên nhất định sẽ mở tiệc trong phủ mời quần thần tới chúc mừng Tôn huynh!”
“Tẫn là tội nhân, không nên phô trương thái quá!”
“Phải, phải, phải!” Bàng Quyên gật gù nói. “Tôn huynh nghĩ vậy cũng đúng. Vậy thì, Quyên sẽ chỉ mời điện hạ và Mai công chúa, được chăng?”
“Đa tạ ơn hiền đệ hậu ái!”
Bàng Quyên di chuyển ánh mắt sang đống thẻ tre trên bàn, cấm lên vài tấm, đọc lướt qua, rồi ngoảnh sang hỏi: “Tôn huynh, viết xong mấy chương rổi?”
“Sách này tổng cộng có mười ba chương. Tẫn viết hơn mười ngày rồi, mới được tám chương, thật là hổ thẹn!”
Bàng Quyên đặt thẻ tre xuống, cười nói: “Tôn huynh không phải vội, cứ từ từ thôi!”
“Hiền đệ yên tâm,” Tôn Tẫn đáp lời, “đợi Tẫn bình phục hẳn, sẽ có thể xuống giường, mấy chương còn lại, chỉ vài ngày là viết xong.”
“Vất vả cho Tôn huynh quá!”
Vài ngày sau đó, đúng dịp vụ xuân bận rộn. Ngụy Huệ Vương dẫn theo bá quan ra đồng ruộng ngoại thành, đích thân cày ruộng, đêm đến ngủ tại biệt cung Phùng Trạch.
Bàng Quyên cũng phải bồi giá từng ấy ngày, tới ngày thứ sáu mới được quay về.
Vừa về tới phủ, Bàng Quyên đã cùng Bàng Thông hộc tốc đi thẳng tới phòng Tôn Tẫn, thấy Tôn Tẫn hai tay ôm đầu, ngồi ngay ngắn trên giường, vẻ mặt vô cùng đau đớn.
Bàng Quyên kinh hãi, vội hỏi: “Tôn huynh, huynh làm sao thế?”
Tôn Tẫn không nói một lời nào, hồi lâu sau mới chỉ tay vào đầu, rồi nhắm nghiền mắt lại.
Bàng Quyên nhìn đống thẻ tre trên bàn, thấy vẫn như cũ, chưa thêm được tấm nào, thì khẽ chau mày, lui ra khỏi phòng, trở về thư phòng của mình, sai Bàng Thông cho gọi đám Phạm Trù, thầy lang, tỳ nữ và lão nô bộc tới tra hỏi từng người.
Tỳ nữ bẩm rằng: “Mấy ngày nay, Tôn tướng quân hôm nào cũng kêu đau đầu, có lúc đau quá ôm đầu đấm ngực thùm thụp, chưa viết thêm được chữ nào!”
Bàng Quyên quay sang Phạm Trù: “Tôn tướng quân ăn uống ra sao?”
Phạm Trù khấu đầu nói: “Khởi bẩm chúa công, Tôn tướng quân đột nhiên ăn rất nhiều, bình thường bốn món một canh, Tôn tướng quân ăn không hết một nửa, nhưng mấy hôm nay, bữa nào cũng ăn hết sạch. Tiểu nhân chẳng biết làm thế nào, chỉ biết tăng lượng thức ăn lên.”
Bàng Quyên sắc mặt đăm chiêu, đi tới đi lui trong phòng, một lúc sau thì dừng lại, quay sang hỏi thầy lang: “Thương thế của Tôn tướng quân thế nào rồi?”
Lão thầy lang dập đầu nói: “Khởi bẩm đại tướng quân, lớp vảy bên đầu gối trái của Tôn tướng quân đã bong hôm qua, lớp vảy bên đầu gối phải chắc đêm nay sẽ bong. Chiều qua, Tôn tướng quân đã thử xuống giường, chống hai tay di chuyển được vài bước. Về lý mà nói, ngoại thương của Tôn tướng quân đã khỏi hoàn toàn!”
“Tôn tướng quân vì sao lại đau đầu?”
“Thảo dân chỉ biết về ngoại thương, còn đau đầu thuộc về nội thương, thảo dân y thuật hạn hẹp, không nhìn ra nguyên nhân!”
“Phải!” Bàng Quyên gật gù. “Nói cũng có lý.”
Thầy lang lại nói: “Vết thương của Tôn tướng quân đã khỏi hoàn toàn, xin hỏi đại tướng quân, thảo dân đã được về quê thăm mẹ già chưa?”
“Tiên sinh về được rồi!” Bàng Quyên gật đầu, quay sang Bàng Thông. “Lão tiên sinh đã có công trị khỏi bệnh cho Tôn tướng quân, thưởng nốt năm lượng vàng!”
Thầy lang lạy liền mấy lạy: “Tạ ơn đại tướng quân đã thưởng hậu!”
Bàng Thông bảo Phạm Trù, tỳ nữ dẫn thầy lang tới phòng sổ sách, lĩnh năm lượng vàng. Thấy họ đã đi xa, Bàng Thông bèn quay sang hỏi Bàng Quyên: “Đại ca, Tôn tướng quân đúng là đột nhiên mắc chứng đau đầu, hôm kia tiểu đệ có nói bảo tướng quân hãy mời thầy lang về khám bệnh, song Tôn tướng quân có vẻ ngại phiền phức, một mực nói không sao. Tiểu đệ đi hỏi thầy lang, thầy lang bảo chỉ dựa vào mạch tượng thì thấy không có gì đáng ngại, nên tiểu đệ cũng thấy yên tâm phần nào.”
Bàng Quyên suy nghĩ một lát, nói với Bàng Thông: “Đợi nốt đêm nay xem sao. Nếu ngày mai Tôn tướng quân vẫn đau đầu, thì mời thầy lang về thăm bệnh!”
“Tiểu đệ tuân lệnh!”
Sáng hôm sau, Phạm Trù xách hộp cơm bước vào trong cổng, thấy Tôn Tẫn ngồi thu lu một mình giữa sân, hai mắt đờ đẫn, miệng lẩm bẩm, không biết đang nói gì.
Phạm Trù đặt hộp cơm xuống, gọi khẽ: “Tôn tướng quân, tới giờ ăn sáng rồi!”
Tôn Tẫn dường như không nghe thấy, miệng vẫn lẩm bẩm không ngừng. Phạm Trù lại gọi, Tôn Tẫn đột nhiên hét lên một tiếng kinh hãi, hai tay ôm đầu, ngã vật xuống đất, hôn mê bất tỉnh. Phạm Trù kinh hoảng, vứt luôn cả hộp cơm, bấm vội nhân trung, Tôn Tẫn vẫn không tỉnh. Phạm Trù sợ hãi, mang đến một bát nước lạnh, dội lên đầu Tôn Tẫn.
Bị dội nước lạnh, Tôn Tẫn rùng mình tỉnh lại, hai mắt trợn trừng nhìn vào Phạm Trù, vẻ vô cùng hoảng loạn, hét lớn: “Ngươi là ai?”
Phạm Trù vội nói: “Tôn tướng quân, tiểu nhân là Phạm Trù, tướng quân không nhận ra ư?” Rồi đưa tay đỡ lấy Tôn Tẫn, muốn dìu trở vào phòng.
Tôn Tẫn rụt mạnh tay về, chống xuống đất, khiếp đảm lùi lại vài bước, hét đến lạc giọng: “Ma quái phương nào, dám tới đây hại ta?”
Phạm Trù cảm thấy sự lạ, vội quỳ xuống đất: “Tôn tướng quân, tiểu nhân là Phạm Trù, là Phạm Trù vẫn mang cơm cho tướng quân đây, sao đến tiểu nhân tướng quân cũng không nhận ra?”
“Ha ha ha!” Tôn Tẫn bật cười sằng sặc. “Ta là thần tiên giáng trần, bên cạnh có tám vạn thiên binh thiên tướng, một tên tiểu yêu như ngươi, làm sao có thể hại được ta? Ha ha ha!” Vừa cười lớn, vừa chống tay xuống đất, thoăn thoắt di chuyển vào trong nhà, đóng sập cửa lại, dựa lưng chống chắc bên trong.
Phạm Trù giờ mới phát giác ra sự tình nghiêm trọng, vội vã co cẳng chạy thục mạng ra khỏi cổng.
Phạm Trù chạy liền một mạch tới phòng của Bàng Quyên, vừa đến nơi đã gào toáng lên: “Có chuyện rồi, đại tướng quân! Có chuyện rồi...”
Bàng Thông hộc tốc chạy ra, nghiêm giọng quát: “Phạm Trù, đại tướng quân đã lên triều từ sớm, phu nhân đang ngủ, có chuyện gì mà la lối om sòm ở đây thế, chán cái mạng chó của người rồi ư? “
Phạm Trù giật mình kinh hãi, quỳ xuống tự vả vào miệng bôm bốp mà nói: “Tiểu nhân đáng chết, tiểu nhân nhất thời kinh sợ, nên mới lớn tiếng như vậy!”
“Xảy ra chuyện gì?”
Phạm Trù chỉ tay về phía hậu hoa viên: “Tôn tướng quân bị điên rồi?”
“Bị điên?” Bàng Thông sửng sốt. “Vì sao lại điên?”
“Tiểu nhân không biết. Vừa nãy tiểu nhân mang cơm tới cho tướng quân, thấy tướng quân đã hoá điên rồi!”
Bàng Thông không nói thêm lời nào, lập tức chạy thẳng tới hậu hoa viên. Phạm Trù thấy vậy, vội vã đứng dậy, đuổi theo sau. Hai người rẽ qua góc tường, vừa tới hậu hoa viên, từ xa đã nhìn thấy khói lửa bốc lên cuồn cuộn từ phòng của Tôn Tẫn.
Bàng Thông cuống cuồng: “Nguy rồi, Tôn tướng quân phóng hoả đốt nhà rồi!”
Hai người vùng chạy như điên, xông vào trong sân, đạp mạnh cửa phòng.
Đạp liền vài cái, then cửa mới bung ra, hai người nhảy vọt qua ngưỡng cửa, thấy trong phòng lửa cháy ngùn ngụt, đống thẻ tre to tướng trên bàn, cả thẻ viết rồi và chưa viết đều đang bốc cháy rần rật. Tôn Tẫn ngồi bên cạnh, hai tay vẫn liên tục ném các đồ vật vào đống lửa, vừa ném, vừa gào thét: “Lạnh quá! Mau đốt lửa lên, lạnh quá!”
Bàng Thông cả kinh, tung người lao tới, bới được mấy tấm thẻ tre cháy dở trong đám lửa, quăng ra ngoài sân, cuống cuồng giẫm đạp dập lửa, bỏng rát đến mặt mày méo xệch. Tôn Tẫn vẫn như không thấy, tiếp tục quăng ném mọi thứ vớ được vào trong lửa, cả chăn đệm, gối cũng vứt cả vào, khói xộc lên mù mịt khiến Bàng Thông, Phạm Trù cay sè mắt mũi. Song Tôn Tẫn lại hồ hởi vỗ tay reo lên: “Mau đốt lửa lên, lạnh quá!”
Bàng Thông giậm chân quát: “Mau lên, kéo tướng quân ra!”
Hai người xông vào đám khói lửa mịt mù, mỗi người giữ một tay Tôn Tẫn, kéo xềnh xệch ra sân. Đám gia đinh thấy khói bốc ngùn ngụt đã lũ lượt chạy lại, kẻ xô người chậu, hối hả múc nước dưới ao sen hắt vào đám cháy.
Thấy lửa đã được dập tắt, Bàng Thông mới thở hắt ra, nói với Phạm Trù: “Ngươi canh chừng ở đây, ta đi gọi chúa công về!”
Bàng Thông đánh xe thẳng tới Nguỵ cung, sai người vào bẩm báo với Bàng Quyên. Bàng Quyên vừa hay tan triều, nhận được tin báo, gấp rút trở về, chạy thẳng tới nơi, thấy vài chục người từ lớn tới bé trong phủ đều tụ tập hết ở chỗ Tôn Tẫn. Tôn Tẫn ngồi trong sân, ánh mắt đờ đẫn, hai tay múa may loạn xạ, ngửa mặt nhìn trời hú gọi: “Các lộ thần tiên, tứ hải Long Vương, lục Giáp lục Đinh! Yêu ma quỷ quái xâm phạm bờ cõi ta, Thiên Vương sai ta xuống trần truy bắt, các ngươi đều phải nhất nhất theo lệnh ta, nếu ai trái lệnh, chém đầu không tha!” Rồi hai tay làm bộ gõ trống. “Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng... Bản tướng điểm binh, Đông Hải Long Vương nghe lệnh, bản tướng lệnh cho ngươi dẫn ba nghìn quân tôm tép, tới mai phục trong núi. Nam Sơn Hầu Vương nghe lệnh, bản tướng lệnh cho ngươi dẫn ba nghìn quân khỉ vượn, mai phục dưới sông. Hoa Sơn Xà Tinh nghe lệnh, bản tướng lệnh cho ngươi dẫn ba nghìn quân rắn rết, mang theo vật dẫn lửa, mai phục trong hang núi! Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng...”
Bàng Quyên chau tít đôi mày, bước lại gần, lớn tiếng gọi: “Tôn huynh!”
Tôn Tẫn không buồn để ý, hai tay vẫn múa may khua khoắng, làm bộ gõ trống, miệng kêu ra rả: “Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng...”
Bàng Quyên mặt biến sắc, gầm lên: “Tôn Tẫn, ngươi không nhận ra bản tướng ư?”
Tôn Tẫn dừng “gõ trống”, trừng mắt nhìn Bàng Quyên, một lúc sau thì quát lớn: “Kẻ nào khiêu chiến, mau mau xưng danh, bản tướng không giết kẻ vô danh!”
Bàng Quyên nói lớn: “Tôn huynh không nhận ra Bàng Quyên ư?”
Tôn Tẫn kêu lên: “Bàng Quyên hay Bàng Góp gì, hễ có tên, hãy lãnh một thương của bản tướng!” Miệng lại kêu “tùng tùng” hai tiếng, hai tay giơ lên khua khoắng loạn xạ, như thể đang cầm thương đâm giết.
Bàng Quyên rướn mày, lùi về phía sau một bước, gọi Phạm Trù lại: “Nghe nói ngươi nhìn thấy Tôn tướng quân phát điên đầu tiên?”
Phạm Trù quỳ xuống, khóc nức nở mà nói: “Khởi bẩm chúa công, tiểu nhân sáng nay mang cơm tới như thường lệ, vừa mở cửa đã thấy tướng quân ngồi trong sân, miệng lẩm bẩm, không biết đang nói gì. Tiểu nhân gọi tướng quân ăn cơm, tướng quân không trả lời, tiểu nhân lại gọi, tướng quân đột nhiên hét to một tiếng, ngã vật ra hôn mê bất tỉnh. Tiểu nhân hoảng hốt, vội bấm nhân trung, tướng quân vẫn không tỉnh. Tiểu nhân sốt ruột, lấy nước lạnh dội vào đầu tướng quân. Tướng quân bừng tỉnh dậy, trợn mắt nhìn tiểu nhân, bảo tiểu nhân là yêu quái. Tiểu nhân sợ xanh mắt, mới chạy vội đi gọi người. Trong lúc tiểu nhân và quản gia đang chạy tới, Tôn tướng quân đã phóng hoả trong phòng. Sự việc sau đó, mọi người đều đã rõ.”
Bàng Quyên nhìn hộp cơm vẫn chỏng chơ bên cạnh, thì đảo mắt một vòng, bước lại cầm hộp cơm lên, lấy từ trong đó ra một chiếc bánh nướng và hai quả trứng gà, đặt trước mặt Tôn Tẫn nói: “Bánh nướng tới rồi, mời Tôn huynh dùng bữa!”
Tôn Tẫn đang “gõ trống”, nghe có tiếng nói, quay đầu lại nhìn bánh nướng và trứng gà, một tay chộp lấy chiếc bánh, một tay giật lấy hai quả trứng gà, giơ lên cao múa may điên loạn, cười ha hả mà nói: “Ha ha ha, Thiên Vương tặng ta hai bảo bối, đám yêu ma quỷ quái kia, kẻ nào muốn tới nạp mạng? Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng...” “Tiếng trống” càng gõ càng nhanh, đột nhiên chuyển thành tiếng gào rú. “Ma đầu to gan, dám đánh lén bản tướng sau lưng, lãnh đòn của ta đây!” Rồi nghiến răng quăng luôn một quả trứng về phía Phạm Trù, vừa hay bay trúng ngực ông ta.
Phạm Trù kinh hãi kêu lên một tiếng, lùi liền vài bước. Tôn Tẫn tiếp tục vung tay ném chiếc bánh nướng đi. Chiếc bánh bay vụt qua đầu đám người, lao qua đỉnh tường, khiến hai tỳ nữ đang đứng hóng chuyện gần đó kêu ré lên khiếp đảm. Nhìn thấy trong tay chỉ còn lại một quả trứng, Tôn Tẫn chuyển từ tay trái sang tay phải, rồi lại chuyển từ tay phải sang tay trái, mắt đảo tứ phía, miệng hét lớn: “Đám ma đầu kia, kẻ nào còn dám liều mạng?”
Đám người hầu đang vây lại xem đều kinh hãi giật lùi cả lại.
Bàng Quyên đưa mắt nhìn đám người hầu, gầm lên: “Các ngươi đứng đó làm gì? Còn không cút mau!”
Đám người sợ hãi, vội vã tản đi.
Bàng Quyên bán tín bán nghi nhìn Tôn Tẫn, một lát sau, khẽ chau mày lại, sải bước bỏ đi. Bàng Quyên vừa về tới phòng khách, Bàng Thông đã bước theo bén gót, tay cầm vài tấm thẻ tre cháy nham nhở, đưa cho Bàng Quyên.
Bàng Quyên xem kỹ một lượt, trầm ngâm suy nghĩ, rồi lắc đầu nói: “Thông đệ, có nhận ra không, Tôn huynh giả điên!”
Bàng Thông kinh ngạc: “Giả điên?”
Bàng Quyên gật đầu, than thở: “Than ôi, đệ thử nói xem, Tôn tướng quân tội gì phải khổ sở đến thế?”
Bàng Thông vẫn thấy mơ hồ không hiểu, ngẩn người hồi lâu mới hỏi: “Cớ sao đại ca biết Tôn tướng quân giả điên?”
Bàng Quyên ném mấy tấm thẻ tre trong tay lên mặt bàn: “Chính là thứ này! Nếu điên thật, Tôn huynh chắc chắn không đốt thẻ tre!”
Bàng Thông vội nói: “Đại ca, tiểu đệ mắt kém, nhìn không ra Tôn tướng quân chỉ có ý muốn đốt thẻ tre! Tiểu đệ tận mắt thấy, tướng quân luôn miệng kêu lạnh, quăng hết mọi thứ có thể trong phòng vào đống lửa. Nếu tiểu đệ không tới cứu kịp, e rằng, đến phòng ốc cũng bị tướng quân đốt trụi mất rồi.”
“Than ôi!” Bàng Thông khẽ thở dài. “Thông đệ là người thực thà, làm sao nhận ra mưu kế của Tôn huynh? Nhưng thật đáng tiếc, lần này Tôn huynh thông minh quá mức, diễn trò khổ nhục kế thái quá, ngược lại đã để lộ ra sơ suất.”
“Khổ nhục kế?” Bàng Thông ngơ ngác, trợn tròn mắt nhìn Bàng Quyên. “Đại ca, khổ nhục kế gì kia?”
“Thông đệ đã từng nghe chuyện tráng sĩ chặt tay chưa?” Bàng Quyên hỏi.
Bàng Thông lắc đầu.
Bàng Quyên cười gằn, nói: “Thông đệ, xem ra, đệ nên đọc thêm sách sử mới được. Đại trượng phu đứng trong trời đất, phải làm nên đại sự. Đệ cả ngày quẩn quanh trong phủ, lẽ nào muốn làm quản gia suốt đời?”
Bàng Thông đỏ bừng mặt, vò đầu nói: “Đại ca trách rất đúng. Tuy nhiên Thông đệ ngu dốt, thuở nhỏ không học hành tử tế, nay đã qua tuổi đội mũ, dù muốn học, e rằng cũng không kịp. Hơn nữa, đại ca từ sáng tới tối bận rộn bên ngoài, mọi việc trong phủ cũng cần có người lo liệu.”
“Nói vậy cũng đúng!” Bàng Quyên gật đầu, thở dài đánh sượt. “Tuy nhiên... như vậy thì thiệt thòi cho Thông đệ quá. Dựa vào tài của Thông đệ, làm phó tướng trong quân, phụ trách kho lương cho ba quân cũng xứng.”
Bàng Thông cười nói: “Đa tạ đại ca đã đề cao. Chỉ là Thông đệ không có phúc, chẳng thiết tha chuyện gì, chỉ muốn ở trong phủ đại ca, ngày ngày giúp đại ca lo toan việc nhà. Đại ca tin tưởng giao cả gia nghiệp này cho Thông đệ, đã là đánh giá cao đệ rồi!” Dừng lại một lát, ngước mắt nhìn Bàng Quyên. “Chuyện tráng sĩ chặt tay, đại ca vẫn chưa kể!”
“Nói lạc đề mất rồi!” Bàng Quyên cười gượng. “Chuyện tráng sĩ chặt tay chính là chuyện Yêu Ly hành thích Khánh Kỵ xưa kia. Năm xưa, thái tử nước Ngô sai Chuyên Chư hành thích Ngô Vương Liêu, rồi lên ngôi kế vị, chính là Hạp Lư. Con trai trưởng của Ngô Vương Liêu là Khánh Kỵ chạy trốn sang nước Vệ, mưu đồ phục thù. Nghe đồn Khánh Kỵ là đệ nhất dũng sĩ ở nước Ngô, vạn người không địch nổi, Hạp Lư và Ngũ Tử Tư phái kiếm khách Yêu Ly đi hành thích. Yêu Ly tự chặt cánh tay phải, giết chết vợ con, nói dối là do Hạp Lư gây ra, rồi chạy tới nương nhờ Khánh Kỵ. Khánh Kỵ thấy tình cảnh của Yêu Ly như vậy, không mảy may nghi ngờ, coi là tâm phúc, cuối cùng đã bị Yêu Ly đâm chết.”
Bàng Thông gật đầu nói: “Khổ nhục kế chính là Yêu Ly đã giết chết vợ con, tự chặt cánh tay phải của mình?”
“Đúng vậy!”
Bàng Thông vẫn chưa hiểu ra, vò đầu bứt tai: “Đại ca nói Tôn tướng quân giả điên, vì sao cũng là khổ nhục kế?”
Bàng Quyên khẽ thở dài: “Than ôi, Thông đệ có điều không biết đấy, khi ở trong sơn cốc, Quỷ Cốc tiên sinh đã truyền thụ cho đại ca một bộ binh thư, có tên là ‘Ngô Khởi binh pháp’, sau đó lại truyền thụ cho Tôn huynh một bộ binh thư, tên gọi ‘Tôn Tử binh pháp’. Đại ca đã truyền lại cho Tôn huynh ‘Ngô Khởi binh pháp’, Tôn huynh cũng đã đồng ý truyền lại ‘Tôn Tử binh pháp’ cho đại ca. Nào ngờ còn chưa kịp truyền, Tôn huynh đã lén giấu đại ca, ngấm ngầm cấu kết với Tần, Tề, cuối cùng bị bệ hạ phát giác. Bệ hạ vốn muốn xử trảm Tôn huynh, song đại ca đã kết nghĩa kim lan với Tôn huynh, tình như thủ túc, nên giữa triều đình đã liều chết bảo toàn mạng sống cho Tôn huynh. Bệ hạ nể tình đại ca có công lao, đã đổi trảm hình thành tẫn hình. Sau khi hành hình, đại ca lại giữ Tôn huynh trong phủ chăm sóc chu đáo. Cách đây mười ngày, Tôn huynh nhớ tới lời hứa trước đây, bảo đại ca chuẩn bị bút mực, thẻ tre để chép lại ‘Tôn Tử binh pháp’ cho đại ca. Nào ngờ mới chép có đoạn đầu, Tôn huynh đã...”
“Tôn tướng quân cớ sao lại không muốn chép lại bộ sách này?”
“‘Tôn Tử binh pháp’ chỉ còn một bản duy nhất tại nhân gian, là bảo bối trong thiên hạ, sau khi truyền thụ cho Tôn huynh, Quỷ Cốc tiên sinh đã lập tức đốt ngay. Nếu Tôn huynh truyền lại cho đại ca, đại ca sẽ là thiên hạ đệ nhất binh gia, không ai địch nổi.”
“Thông đệ đã hiểu rồi, hẳn là Tôn tướng quân sinh lòng đố kỵ, không muốn truyền lại binh thư cho đại ca.”
Bàng Quyên gật đầu.
Bàng Thông vẫn băn khoăn không hiểu: “Khi ở trong sơn cốc, cớ sao Quỷ Cốc tiên sinh lại không truyền sách này cho đại ca?”
“Hỡi ôi!” Bàng Quyên than thở. “Đều trách đại ca suốt ngày chỉ nghĩ tới thù nhà, kiên quyết đòi xuống núi sớm. Tiên sinh khuyên nhủ hết lời, đại ca vẫn không chịu nghe theo, hẳn là đã khiến tiên sinh tức giận, nên mới không truyền lại cho đại ca.”
Bàng Thông nghe vậy, cũng thấy phẫn nộ: “Nếu quả như vậy, Tôn Tẫn thực là xấu xa! Đại ca đối xử tốt với hắn như thế, hắn đã không báo đáp thì chớ, lại còn ở đây giở trò loè bịp!”
“Hỡi ôi, Thông đệ,” Bàng Quyên lại than thở, “cũng là do đại ca đã hại Tôn huynh! Năm đó, nếu đại ca không mời Tôn huynh tới đây cùng hưởng phú quý, Tôn huynh hẳn đã không phải chịu nỗi khổ xác thịt này. Mấy ngày trước, nếu đại ca không chuẩn bị giấy bút, thẻ tre cho Tôn huynh, không bảo Tôn huynh chép binh thư, thì đâu đến nỗi Tôn huynh phải giả điên giả dại, diễn trò khổ nhục kế này!”
“Đại ca đúng là ngốc!” Bàng Thông giậm chân kêu lên. Ngẫm nghĩ một lát, lại đảo mắt rồi nói. “Đại ca yên tâm, việc này cứ giao cho Thông đệ. Người này nếu giả vờ điên, đệ không tin hắn có thể vờ vịt được mãi!”
“Thông đệ không được hồ đồ!” Bàng Quyên nghiêm giọng ngăn cản. “Dù thế nào đi nữa, Tôn huynh cũng là huynh đệ kết nghĩa của đại ca. Đại ca thà chịu thiệt thòi, cũng quyết không làm hại đến bạn bè!”
“Nhưng... nhưng hắn đâu có coi đại ca là bằng hữu!”
“Tôn huynh không coi đại ca là bằng hữu, nhưng đại ca không thể không coi Tôn huynh là bằng hữu!”
Bàng Thông cúi đầu, không nói thêm lời nào nữa.
Bàng Quyên bước lại, vỗ vai hắn, cười nói: “Thông đệ, đệ không phải lo lắng chuyện này nữa! Hãy nói thử xem, những ngày qua, có những ai tới phòng Tôn huynh?”
Bàng Thông ngẫm nghĩ một lát, rồi lắc đầu nói: “Ngoài Phạm Trù, tỳ nữ, thầy lang, lão nô bộc, không còn ai tới. Phải rồi, còn có một người nữa, là Bạch thiếu gia.”
“Bạch Khởi?” Bàng Quyên trong lòng giật thột. “Nó... nó đâu?”
“Vừa nãy mới thấy múa kiếm bên ngoài, để Thông đệ đi gọi!”
“Đại ca tự đi!” Bàng Quyên bước vội ra ngoài, rẽ qua góc tường, từ xa đã nhìn thấy Bạch Khởi đang múa kiếm thoăn thoắt trên bãi trống, né trái dịch phải, thanh kiếm trên tay lên xuống liên hồi, vùn vụt xé gió, miệng “hự” lên liên tục nghe rất khí thế.
Bàng Quyên tiến lại gần, vỗ tay khe khẽ. Bạch Khởi nhìn thấy Bàng Quyên, bèn thu kiếm lại, lạy chào: “Bạch Khởi khấu kiến nghĩa phụ!”
Bàng Quyên khen ngợi: “Kiếm pháp này con mới học hôm qua, hôm nay trông đã ra dáng lắm rồi, nghĩa phụ rất vui!”
Bạch Khởi lại dập đầu nói: “Tạ ơn nghĩa phụ quá khen!”
Bàng Quyên bước lại, bế Bạch Khởi lên tay: “Con trai, chuyện của Tôn nghĩa phụ, con đã biết chưa?”
Bạch Khởi xị u mặt, gật đầu: “Con biết rồi! Vừa rồi con tới thăm Tôn nghĩa phụ, nghĩa phụ không nhận ra con. Con gọi ‘nghĩa phụ’ mà nghĩa phụ còn lấy cành cây đánh con, nói con là tiểu yêu ma. Tối qua nghĩa phụ vẫn bình thường là thế, sao hôm nay lại thành ra như vậy, thật đáng thương!”
Bàng Quyên thở dài: “Than ôi, con trai ngoan, con có biết vì sao Tôn nghĩa phụ của con bị điên không?”
Bạch Khởi lắc đầu.
Bàng Quyên lại thở dài: “Ồ, nói đến chuyện này, phải trách con trai đấy!”
Bạch Khởi kinh ngạc ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên: “Trách con?”
“Nghĩa phụ nghe nói, mấy hôm trước, con tới chỗ Tôn nghĩa phụ, có đưa vật gì đó cho Tôn nghĩa phụ?”
Bạch Khởi giật nảy mình, bên tai lập tức văng vẳng lời dặn của thân phụ Bạch Hổ: “Không chỉ nghĩa phụ mà ngay cả thân mẫu, con cũng không được nói. Còn nữa, từ nay về sau, con phải nhớ lời cha dặn, tuyệt đối giữ kín chuyện này”. Ngẫm nghĩ một lát, bèn lắc đầu nói: “Hôm đó con tới mài mực cho Tôn nghĩa phụ, không đưa vật gì cho Tôn nghĩa phụ cả!”
Bàng Quyên cười nói: “Con trai ngoan, con thử nghĩ kỹ lại xem, có ai nhờ con đưa vật gì không?”
Bạch Khởi nghiêng đầu nhìn Bàng Quyên: “Xin hỏi nghĩa phụ, ai sẽ nhờ con?”
“Chẳng hạn như, thân phụ con, thân mẫu con, hoặc nghĩa mẫu con!”
Bạch Khởi lại ngẫm nghĩ một lát, rồi dứt khoát lắc đầu. Một lúc sau, bỗng mắt sáng bừng, phấn khởi reo lên: “Nghĩa phụ, hài nhi nhớ ra rồi!”
Bàng Quyên mừng rỡ giục giã: “Con trai ngoan, mau nói đi!”
“Hôm kia, trước lúc ra về, hài nhi quả thực đã tặng Tôn nghĩa phụ một vật!”
“Ồ?” Bàng Quyên vội hỏi. “Là bảo bối gì vậy?”
“Một chiếc còi liễu! Do con tự làm, con đã tặng cho Tôn nghĩa phụ, khỏi nói cũng biết Tôn nghĩa phụ vui mừng đến đâu. Khi con đã đi xa, vẫn nghe thấy Tôn nghĩa phụ thổi còi ‘toe toe’ trong phòng...” Bạch Khởi nói rồi chu cái miệng bé xíu, giả tiếng “toe toe” liên hồi.
Sắc mặt Bàng Quyên tối sầm lại, từ từ thả Bạch Khởi xuống đất, rồi quay người, cúi đầu lầm lũi bước đi.
Bạch Khởi vội đuổi theo vài bước: “Nghĩa phụ, còi liễu hay lắm, nếu nghĩa phụ thích, con cũng sẽ làm một cái tặng cho nghĩa phụ!”
Bàng Quyên quay đầu lại, nhìn cậu bé mỉm cười: “Nghĩa phụ không thích còi liễu, con cứ làm đi, rồi mang tặng Tôn nghĩa phụ!”
Tôn Tẫn thình lình hoá điên là chuyện Bàng Quyên không bao giờ ngờ tới. Suốt một ngày trời, Bàng Quyên không ra khỏi cửa, chỉ giam mình trong thư phòng, ngồi buồn bã trên chiếu, trầm ngâm suy nghĩ về biến cố này.
Bất luận thế nào, Bàng Quyên có chết cũng không tin Tôn Tẫn bị điên thật. Khả năng lớn nhất là, sau khi Tôn Tẫn biết được chân tướng sự việc, không còn cách nào khác, buộc phải giả vờ điên dại. Tuy nhiên, vì sao Tôn Tẫn lại có thể biết được chân tướng sự việc? Hiện tại, ở nước Ngụy, người có khả năng biết rõ việc này, cùng lắm chỉ có hai mà thôi, một là bản thân Bàng Quyên, hai là Bạch Hổ.
Điểm mấu chốt hiện nay là, liệu Bạch Hổ đã biết được bao nhiêu? Cẩu Tử đã chết rồi. Còn Lật Bình? Phải rồi, Lật Bình! Liệu Bạch Hổ có cử người tới nước Vệ điều tra Lật Bình không? Nếu điều tra ra chỗ Lật Bình vốn không có người đưa thư nào tên là Lưu Thanh, Bạch Hổ sẽ có bằng chứng để chứng minh bức thư đó là giả, còn Tôn Tẫn bị hàm oan. Dựa vào tính khí của Bạch Hổ, hẳn sẽ bẩm báo với Chu Uy, Chu Uy sẽ bẩm báo với tướng quốc, rồi sẽ tới bệ hạ! Còn nữa... tại sao Bạch Hổ lại biết mà điều tra Cẩu Tử? Than ôi, con bạc năm xưa khi đã hối cải, cũng thực đáng gờm!
Thần sắc Bàng Quyên mỗi lúc càng thêm căng thẳng. Hắn biết, chưa tới lúc cùng bất đắc dĩ, thì hắn dứt khoát không thể nói ra sự thực với Bạch Hổ. Hơn nữa, dù có nói ra sự thực với Bạch Hổ, liệu Bạch Hổ lúc đó có còn coi hắn là ân công như trước nữa không? Nếu Bạch Hổ không còn coi hắn là ân công, giữa hắn và Bạch Hổ chỉ có thể là thù địch, là một mất một còn. Nghĩ tới những ân oán trước đây, nghĩ tới việc mình đã từng mưu trí cứu Bạch Hổ ra khỏi sòng bạc, lại nghĩ tới Bạch Hổ đã từng bất chấp nguy hiểm cứu mình ra khỏi tử lao, trong lòng Bàng Quyên chợt trào dâng một niềm chua xót.
“Hỡi ôi!” Bàng Quyên khẽ thở dài. “Lẽ nào ta đã đi quá xa rồi? Ngộ nhỡ Tôn huynh... Tôn huynh không phải giả điên, mà là điên thật, bảo ta sao có thể nhẫn tâm? Bất luận thế nào, Tôn huynh cũng có ân nghĩa với ta, thân thiết như thể tay chân, vì ta mà tới Ngụy, cũng vì ta mà gặp kiếp nạn, không những trở thành phế nhân, giờ lại thành kẻ điên điên dở dở...” Nghĩ đến đây, Bàng Quyên cúi gằm đầu xuống, một lát sau, lại lắc đầu dứt khoát. “Không được, không được, dứt khoát không thể có lòng dạ mềm yếu đàn bà! Dựa vào bản lĩnh của Tôn Tẫn, trước khi vào núi còn không sợ sinh tử, vài năm ở trong núi, càng tỏ ngộ cái đạo trời đất, vì sao lại phát điên được? Điên loạn như vậy, chắc chắn là giả, ta phải tìm cách lật tẩy trò hề của hắn!”
Bàng Quyên đang suy tính, bỗng từ trong sân vọng lại tiếng bước chân. Bàng Quyên nghe giọng nói, biết là Thụy Liên và tỳ nữ, lập tức nảy ra một ý hay, bèn ngồi ngay ngắn trên chiếu, sắc mặt lộ vẻ ủ rũ đau thương.
Tỳ nữ gõ cửa, Bàng Quyên không trả lời.
Thụy Liên xua tay, tự đẩy cửa bước vào phòng, thấy bộ dạng khổ sở của Bàng Quyên, bèn tiến lại gần nói: “Thiếp nghe nói phu quân suốt ngày ngồi rầu rĩ trong thư phòng, cơm không buồn ăn, lấy làm lo lắng, mới tới đây xem sao.” “Tạ ơn phu nhân quan tâm!” Bàng Quyên chỉ xuống chỗ ngồi bên cạnh. “Phu nhân hãy ngồi xuống đây!”
Thụy Liên ngồi xuống, lo lắng nhìn Bàng Quyên: “Phu quân, chàng chẳng tha thiết chuyện ăn uống, có phải vì Tôn huynh?”
“Hỡi ôi!” Bàng Quyên thở dài một tiếng, nước mắt ứa ra ròng ròng. “Nghĩ tới Tôn huynh, vốn là huynh đệ tình thâm với Quyên, giờ thành ra nông nỗi như vậy, bảo Quyên sao có thể đành lòng!”
Thụy Liên cũng chảy nước mắt: “Phu quân nói rất đúng. Thần thiếp hôm kia vào cung, thấy Mai tỷ vẫn còn đau buồn rơi lệ vì Tôn huynh. Mai tỷ tâm cao khí ngạo, mà số mệnh thực bi thương. Tôn huynh đã thành người tàn phế, mà Mai tỷ vẫn một lòng một dạ không thay đổi. Nếu biết chuyện Tôn huynh phát điên, không biết Mai tỷ còn đau khổ tới mức nào?”
“Phu nhân lo lắng cũng phải!” Bàng Quyên lau nước mắt, rồi ngẩng đầu nhìn Thụy Liên. “Nghe phu nhân nhắc tới Mai công chúa, Quyên chợt nảy ra một ý này, bệnh điên của Tôn huynh, có lẽ Mai công chúa sẽ chữa khỏi được!”
Thụy Liên vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, mở to mắt nhìn Bàng Quyên: “Vậy thì tốt quá! Phu quân nói mau, chữa trị thế nào?”
“Tôn huynh gặp đại nạn này, trong lòng tất có oán hận. Lại thêm hai chân tàn tật, nằm liệt trên giường, oán hận không biết trút bỏ vào đâu, tất dồn cả vào tâm, dẫn tới tinh thần điên loạn. Tôn huynh trước khi phát bệnh, đã đau đầu liền vài ngày, hẳn là dấu hiệu báo trước. Tôn huynh và Mai công chúa rất mực thâm tình, nếu được Mai công chúa ra mặt khuyên nhủ, biết đâu oán hận trong lòng Tôn huynh sẽ tiêu tan. Nếu vậy, bệnh tình không cần chữa cũng tự khỏi.”
“Chỉ có điều...” Thụy Liên khẽ lắc đầu, “hiện tại bộ dạng của Tôn huynh như vậy, nếu để Mai tỷ thấy, há chẳng đau lòng đứt ruột?”
“Phu nhân, Mai công chúa với Tôn huynh tình sâu nghĩa nặng, nếu nghe tin Tôn huynh phát điên, song lại không trông thấy người, chẳng phải càng đau khổ hơn ư?”
“Phu quân nói cũng phải. Ngày mai thiếp sẽ vào cung ngay, nói lại chuyện này với Mai tỷ. Nếu Mai tỷ có thành ý, thiếp sẽ đưa chị ấy về đây.”
Bàng Quyên vòng tay vái Thụy Liên mà nói: “Quyên thay mặt Tôn huynh tạ ơn phu nhân!”
Buổi chiều hôm sau, bốn người Bàng Quyên, Bàng Thông, Thụy Mai và Thụy Liên tất tả tới phòng Tôn Tẫn.
Vừa bước vào cổng, Bàng Quyên đã lớn tiếng gọi: “Tôn huynh, Tôn huynh ơi, Mai công chúa tới thăm huynh đây!”
Bên trong không một tiếng đáp.
Bàng Quyên bước vào trong phòng, ngó nhìn tứ phía, song không thấy Tôn Tẫn đâu cả.
Bàng Quyên lo lắng, quay sang Bàng Thông hỏi: “Tôn tướng quân đâu?”
Bàng Thông đáp: “Có lẽ vẫn ở trong nhà. Tiểu đệ đã cử người trông coi, chưa từng thấy Tôn huynh ra ngoài.”
“Tìm mau!”
Bàng Thông tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng phát hiện ra Tôn Tẫn đang ở trong góc chứa củi khô, đầu gối trên củi, ngủ ngon lành. Mới có một ngày không gặp, trông Tôn Tẫn đã không còn ra hình người, đầu bù tóc rối, mặt mũi nhem nhuốc, chẳng khác gì một gã điên lang thang nơi đầu đường xó chợ.
Vừa nhìn thấy Tôn Tẫn, Mai công chúa đã vùng tay khỏi Thụy Liên, chạy thẳng về phía góc tường, chỉ vài bước đã đến bên Tôn Tẫn, níu lấy tay, đau đớn khóc oà lên thành tiếng: “Tôn tướng quân!”
Đây chính là điều Bàng Quyên đang chờ đợi.
Thụy Liên vội vã bước lại, gắng sức kéo Thụy Mai ra.
Bàng Quyên giậm chân quát mắng đám người hầu: “Các ngươi thật là một lũ vô tích sự, sao lại để Tôn tướng quân ngủ ở đây? Mau đưa Tôn tướng quân về phòng ngủ!”
Bàng Thông gọi hai gia đinh lại, người nhấc tay kẻ nhấc chân khiêng Tôn Tẫn về phòng.
Tôn Tẫn bị họ xô đẩy mà choàng tỉnh, ráng sức giãy giụa: “Đám ma đầu kia, mau mau thả ta ra! Ngấm ngầm hãm hại bản tướng thế này, còn gọi gì là bản lĩnh?”
Đám gia đinh chẳng nói chẳng rằng, khiêng thẳng Tôn Tẫn về phòng đặt lên giường.
Bàng Quyên bước vào theo, gọi lớn: “Mau mang nước nóng lại đây!”
Người hầu bê nước nóng lại. Bàng Quyên đích thân lấy khăn rửa mặt cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn giãy giụa rất dữ, không cho Bàng Quyên động đến người. Bàng Quyên cũng không nhiều lời, một tay giữ chặt Tôn Tẫn, một tay cầm khăn lau mặt, sau đó ấn Tôn Tẫn xuống giường, đắp chăn bông lên.
Tôn Tẫn bị giữ chặt, trợn tròn hai mắt, kinh hãi nhìn Bàng Quyên, như thể Bàng Quyên là ma đầu thực sự.
Bàng Quyên quỳ sụp xuống đất, bật khóc thảm thiết, đau đớn cất tiếng gọi: “Tôn huynh!”
Ánh mắt Tôn Tẫn càng thêm sợ hãi, toàn thân run lên bần bật, rúm người nép vào tận góc tường phía cuối giường.
Thụy Liên đưa mắt ra hiệu, Bàng Thông bèn dẫn đám gia đinh lánh ra ngoài sân.
Bàng Quyên khóc không thành tiếng: “Tôn huynh, có Mai công chúa tới thăm huynh!”
Thụy Mai bước lại bên giường, khóc mà nói: “Tôn tiên sinh... Thụy Mai tới thăm tiên sinh đây!”
Tôn Tẫn toàn thân vẫn run rẩy, hai tay bịt mắt, miệng gào lên thật lớn: “Đám ma đầu kia, mau cút đi, mau, mau, mau cút hết đi!”
Bàng Quyên đứng dậy, nắm tay Thụy Liên kéo ra ngoài, thuận tay khép cánh cửa lại. Bàng Quyên áp sát tai vào cánh cửa, chăm chú lắng nghe động tĩnh bên trong.
Mai công chúa khóc lóc một hồi, thấy Tôn Tẫn vẫn ra rả một điều “ma đầu” hai điều “ma đầu”, bèn nín khóc, hai mắt nhìn Tôn Tẫn đăm đăm, nuốt lệ ngâm nga:
“Mong manh mai một cội,
Khinh tuyết nở âm thầm.
Lặng đưa hương phảng phất,
Theo lối tìm tri âm.
Thấy Tôn Tẫn vẫn toàn thân run rẩy, Thụy Mai ngừng lại một lát, rồi tiếp tục ngâm:
“Mong manh mai một cội,
Trong tuyết nở âm thầm.
Đợi người hiểu mai tới,
Hai ý thành gió xuân.”
Tôn Tẫn vẫn hai mắt đờ đẫn, sợ hãi nhìn Thụy Mai, miệng không ngớt lảm nhảm: “Ma đầu, ma đầu, các ngươi mau cút đi!...”
Thụy Mai bàng hoàng đau đớn, lại khóc một hồi nữa, rồi nghẹn ngào nói: “Xuân có mẫu đơn, là hoa giàu có; hạ có sen trắng, là hoa sang trọng; thu có cúc vàng, là hoa ẩn dật; đông có mai hồng, là hoa thanh cao. Giàu có là áo của hoa, sang trọng là mũ của hoa, ẩn dật là tình của hoa, thanh cao là tâm của hoa. Tẫn tài đức gì đâu, nào dám... mơ đến... tâm hoa!”
Thụy Mai ngâm tới câu cuối cùng, bật khóc thành tiếng, bước lại gần, toan nắm lấy tay Tôn Tẫn, nào ngờ bị Tôn Tẫn điên cuồng đẩy mạnh, ngã nhào ra phía sau. Tôn Tẫn lại càng co rúm người nép sát vào góc tường, hai mắt đầy khiếp đảm nhìn Thụy Mai, gào lên điên dại: “Ma đầu! Ma đầu! Ngươi là đại ma đầu! Mau chạy thôi, đại ma đầu tới rồi! Mau chạy thôi, đại ma đầu tới rồi...” Rồi sau đó, trái ngược hẳn với vẻ khiếp sợ khi nãy, lập tức hai mắt trợn trừng, đôi mày dựng ngược, chộp lấy gối, đập thùm thụp vào bức tường sau lưng, miệng lại gõ trống chiến. “Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng... Đại ma đầu, bản tướng sao phải sợ ngươi? Bản tướng là thần tiên giáng trần, Thiên Vương giao cho ta chuỳ báu Hỗn Thiên, đám ma đầu các ngươi mau tới chịu chết! Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng...”
Thụy Mai cõi lòng tan nát, khắp người đau nhức, kêu lên một tiếng bi thảm, ngất lịm trên đất.
Bàng Quyên nghe rõ mồn một, vội đẩy cửa xông vào, xốc Thụy Mai dậy, cùng Thụy Liên cấp tốc rời đi.
Tôn Tẫn bật cười một tràng dài, miệng lại đánh trống thắng trận: “Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng... Bản tướng giương cờ thắng trận, đại ma đầu đã bị quật chết dưới chuỳ báu Hỗn Thiên! Tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng...”
Nghe thấy tiếng bước chân đã xa dần rồi mất hút, khu nhà lại chìm trong tĩnh lặng như vốn có, “tiếng trống” của Tôn Tẫn cũng chậm lại, yếu dần, dần dần biến thành tiếng nức nở: “Tùng tùng tùng... Thụy Mai... Thụy Mai... tùng tùng tùng...”
Ngay sau khi Tôn Tẫn phát điên, Bàng Quyên lập tức hạ lệnh, cấm không cho bất kỳ gia nhân nào được ra ngoài, đến việc đi chợ của Phạm Trù cũng bị kiểm soát gắt gao. Phạm Trù chỉ được liệt kê những thực phẩm cần mua, còn thì Bàng Thông sẽ đích thân mua về.
Tới ngày thứ ba, Bàng Thông mới xoá bỏ lệnh cấm. Phạm Trù được ra khỏi cổng phủ, vội tìm cơ hội, kín đáo chạy tới cửa hàng da họ Tần, kể lại đầu đuôi sự việc cho “ân công” nghe, cuối cùng, khóc nghẹn mà nói: “Tôn tướng quân đã... đã hoá điên mất rồi!”
Công tử Hoa trong lòng đã hiểu rõ, bèn gật đầu hỏi: “Khi Tôn tướng quân phát bệnh, vết thương nơi đầu gối thế nào?”
“Vừa mới khỏi hẳn!”
Công tử Hoa càng thêm chắc chắn, trầm ngâm một lát, lại hỏi: “Xin hỏi Phạm huynh, trong thành Đại Lương có thầy lang nào chuyên trị bệnh điên không?”
Phạm Trù ngẫm nghĩ một lát: “Tiểu nhân nghe nói có hai người, đều chữa được bệnh thần kinh và bệnh điên.”
“Phạm huynh hãy nói qua về họ!”
“Một người trung niên, sống ở phố Tây Nhai. Còn người kia nhiều tuổi hơn một chút, sống ở góc ngoặt phố Nam Nhai.”
“Ồ?” Công tử Hoa hỏi. “Thế người nào nổi tiếng hơn?”
“Đương nhiên là người nhiều tuổi hơn. Nghe nói người trung niên vốn là em trai của ông ta, sau này tự mở y quán.”
“Ông ta họ gì?”
“Họ Hoàng, nghe nói y thuật cao siêu, hễ người điên nào gặp phải ông ta cũng phải ngoan ngoãn hết! Tần gia muốn tìm ông ta ư?”
Công tử Hoa khẽ mỉm cười: “Người này sắp phát tài rồi!”
Sau khi Phạm Trù ra về, công tử Hoa tức tốc đánh xe tới phố Nam Nhai, từ xa đã nhìn thấy tại khúc ngoặt trên phố có treo một tấm biển, trên viết một chữ “Y” rất lớn. Công tử Hoa xuống xe, bước vào y quán.
Hoàng y sư tuổi độ ngũ tuần, nghe thấy tiếng động liền bước ra, công tử Hoa vòng tay vái chào: “Là Hoàng y sư chăng?”
Hoàng y sư vòng tay đáp lễ: “Chính tại hạ!”
Công tử Hoa lập tức nói thẳng vào chuyện: “Vãn sinh nghe nói tiên sinh chuyên trị bệnh điên, nên mới tới đây cầu kiến.”
“Sĩ tử, mời!”
Hoàng y sư dẫn công tử Hoa vào phòng trong, phân ngôi chủ khách ngồi xuống, tự giới thiệu: “Y quán này và cả y thuật của lão hủ đây, đều là do tổ tiên truyền lại, đến lão hủ đã là đời thứ năm.”
Công tử Hoa vòng tay nói: “Vãn sinh ngưỡng mộ đã lâu! Xin hỏi tiên sinh, phí khám chữa bệnh thế nào?”
Hoàng y sư cũng vòng tay đáp: “Trong thành Đại Lương, tính theo số lần khám bệnh, mỗi lần năm mươi đồng, tiền thuốc tính riêng. Bệnh điên thông thường, ba lượng vàng chữa đến khỏi.”
Công tử Hoa thoáng ngạc nhiên: “Ba lượng chữa đến khỏi, là thế nào?”
“Là thế này!” Hoàng y sư giải thích. “Hễ là bệnh điên, lão hủ đây nhiều nhất cũng chỉ thu ba lượng. Nếu vượt quá số tiền này mà bệnh vẫn không khỏi, lão hủ một đồng cũng không lấy thêm, chữa cho tới khi bệnh khỏi hẳn mới thôi.”
“Nếu tiên sinh không chữa khỏi thì sao?”
“Trả lại toàn bộ phí tổn!”
“Ồ, y thuật của tiên sinh quả nhiên cao siêu!” Công tử Hoa lấy ra năm lượng vàng từ trong ống tay áo, đặt lên mặt bàn. “Vãn sinh có một bệnh nhân muốn nhờ tiên sinh chữa trị giúp, đây là tiền đặt trước.”
Hoàng y sư kinh ngạc nhìn năm lượng vàng: “Người bệnh của khách quan hẳn không phải người tầm thường, có thể nói cho lão hủ biết, bệnh nhân là ai không?”
Công tử Hoa đứng dậy, bước tới bên Hoàng y sư, ghé tai thì thầm một hồi, rồi quay trở về chỗ ngồi.
Hoàng y sư ngẫm nghĩ một lát, rồi lắc đầu nói: “Khách quan hãy cất vàng đi, xin mời về cho!”
Công tử Hoa mỉm cười, lại lấy thêm năm lượng vàng nữa từ trong ống tay áo, đặt lên mặt bàn: “Tiên sinh, mười lượng vàng này vẫn chỉ là ứng trước. Sau khi xong việc, tại hạ xin cảm tạ nốt mười lượng còn lại!”
Hoàng y sư vẫn lắc đầu: “Khách quan nhầm rồi, lão hủ đây từ chối, không phải vì chuyện tiền bạc. Dòng họ Hoàng hành nghề y, lấy y đức làm trọng, chưa từng làm chuyện sai trái. Nếu tham chút vàng cỏn con này, dù giấu được mọi người, giấu được đại tướng quân, song y đức của lão hủ lại mất, khi tế lễ tổ tiên, trời biết đất biết, khách quan bảo lão hủ phải ăn nói thế nào trước liệt tổ liệt tông?”
Công tử Hoa vòng tay nói: “Y đức của tiên sinh, thực khiến người ta phải kính trọng. Hãy khoan nói tới chuyện tiền bạc, tiên sinh có biết Tôn tướng quân chăng?”
“Lão hủ không biết!”
“Không giấu gì tiên sinh,” công tử Hoa sắc mặt nghiêm trang, chậm rãi nói, “vãn sinh xin kể rõ ngọn ngành cho tiên sinh biết! Tôn tướng quân là cháu đời thứ sáu của danh tướng thiên hạ Tôn Vũ Tử, tiên tổ phụ Tôn Cơ là tướng quốc nước Vệ. Khi bệ hạ phạt Vệ, thượng tướng quân công tử Ngang dẫn quân thảm sát Bình Dương, cả dòng họ Tôn tuẫn thân tận trung với Vệ thất, duy có Tôn tướng quân may mắn thoát nạn. Sau này, Tôn tướng quân cùng đại tướng quân Bàng Quyên kết nghĩa vào núi, cùng bái Quỷ Cốc tiên sinh làm thầy. Đại tướng quân thành tựu tầm tầm, mọi mặt đều không bằng Tôn tướng quân, do đố kỵ mà sinh lòng thù hận, trước mặt bệ hạ đã hãm hại Tôn tướng quân, khiến Tôn tướng quân phải chịu tẫn hình. Tôn tướng quân đã thành phế nhân, đại tướng quân vẫn không buông tha, giam lỏng Tôn tướng quân trong phủ. Tôn tướng quân không còn cách nào khác, đành phải giả điên. Nếu tiên sinh khám ra bệnh điên của Tôn tướng quân là giả, Tôn tướng quân ắt khó lòng bảo toàn tính mạng! Dòng họ Tôn chỉ còn sót lại mình Tôn tướng quân, mà sự sống chết của Tôn tướng quân hiện nay, phụ thuộc cả vào lời nói của tiên sinh. Tiên sinh, y đức lớn nhất là cứu người thoát nạn, một lời nói của tiên sinh, vừa cứu sống Tôn tướng quân, lại không mảy may tổn thương tới một cọng tóc của đại tướng quân. Vãn sinh thiết nghĩ, một công đôi việc, đã không tổn hại tới y đức, ngược lại còn là công đức, xin tiên sinh nghĩ lại!”
Hoàng y sư trầm ngâm hồi lâu, rồi ngẩng đầu nhìn công tử Hoa: “Nghe nói Tôn tướng quân là người tốt, Bàng tướng quân cũng là người tốt. Chuyện giữa hai người họ, người khác không hiểu được, càng không liên quan gì tới lão hủ đây. Có điều, những lời khách quan nói không phải không có lý. Một lời nói của lão hủ, nếu vừa có thể cứu sống Tôn tướng quân, lại không làm tổn thương tới Bàng tướng quân, thì lão hủ coi như cũng có lời giải thích trước tổ tiên. Chuyện này, lão có thể đồng ý.”
Công tử Hoa vòng tay cảm tạ mà nói: “Vãn sinh thay mặt Tôn tướng quân cảm tạ ân cứu mạng của tiên sinh.”
“Lão hủ tuy đã đồng ý với khách quan, nhưng liệu đại tướng quân có tới mời hay không, cũng chưa thể biết. Do vậy, khách quan bất tất phải cảm tạ quá sớm, xin hãy mang vàng về cho!”
Công tử Hoa lại vái tạ mà nói: “Tiên sinh yên tâm, vãn sinh đã nói, tất không rút lời. Nếu đại tướng quân không tới mời tiên sinh, mười lượng vàng này coi như vãn sinh kính tặng tiên sinh. Nếu đại tướng quân tới mời, chỉ cần tiên sinh đừng nói ra chuyện này, vãn sinh sẽ hậu tạ thêm mười lượng nữa.”
Hoàng y sư thở dài một tiếng, vòng tay nói: “Khách quan đã khăng khăng như vậy, thì cứ tạm để số vàng này ở đây, đợi sự việc qua đi, sẽ hoàn trả sau!”
Công tử Hoa đứng dậy cáo từ, Hoàng y sư tiễn ra ngoài cửa, nhìn theo bóng xe ngựa xa dần, lắc đầu thở dài một tiếng, rồi quay trở vào trong y quán.
Tiễn Mai công chúa ra về, Bàng Quyên lại ngồi rầu rĩ trong thư phòng, vùi đầu suy nghĩ. Nếu Tôn Tẫn quả thực giả điên, chắc chắn đã hiểu rõ nội tình. Nội tình duy chỉ Bạch Hổ có khả năng biết được, tuy nhiên hắn đã canh phòng rất nghiêm ngặt, Bạch Hổ chưa từng một mình gặp mặt Tôn Tẫn bao giờ. Tất cả những người được phép vào phòng Tôn Tẫn, cũng đều được hắn chọn lựa kỹ lưỡng. Phạm Trù? Cũng không thể. Phạm Trù vừa không quen biết Bạch Hổ, cũng chưa từng nghe nói giữa hai người có tiếp xúc qua lại. Khả năng duy nhất chính là Bạch Khởi, nhưng một đứa trẻ bảy tuổi đầu, dù Bạch Hổ có giao việc đi chăng nữa, bộ dạng ngây thơ của cậu bé hôm đó cũng không thể là giả được. Một điều nữa là Mai công chúa. Trước phản ứng hôm nay của Mai công chúa, dù Tôn Tẫn có định lực bằng trời, lòng dạ sắt đá cũng không thể không lộ ra sơ suất, vậy mà...
Lẽ nào... lẽ nào Tôn Tẫn lại bị điên thật? Bàng Quyên càng chau tít đôi mày. Một lúc sau, đầu mày khẽ giật một cái, trong đầu bỗng nảy ra một ý. Điên hay không, không thể giấu được thầy lang. Tôn Tẫn nếu giả điên, dù có giả giống y như thật, cũng không thể qua mắt được thầy lang chuyên trị bệnh điên.
Nghĩ tới đây, Bàng Quyên đứng dậy bước ra ngoài cửa, sai người gọi Bàng Thông tới, than thở mà rằng: “Thông đệ này, hôm nay xem ra, bệnh tình của Tôn huynh không giống như giả dạng. Thực không ngờ Tôn huynh hôm nay lại lâm vào tình cảnh này, đại ca thân là sư đệ, càng nghĩ càng đau đớn. Dù thế nào đi nữa, có bệnh thì phải chữa. Đệ thử đi nghe ngóng xem trong thành Đại Lương, có thầy lang nào chuyên trị bệnh điên không?”
Bàng Thông đáp ngay: “Tiểu đệ đã dò la biết được, trong thành Đại Lương, có hai thầy lang chuyên trị bệnh điên, một người sống ở phố Tây Nhai, một người sống ở phố Nam Nhai. Trong hai người, y thuật của Hoàng y sư phố Nam Nhai giỏi hơn, nghe nói là đã truyền qua năm đời, phí điều trị ba lượng chữa đến khỏi, chữa không khỏi bệnh không lấy một đồng công.”
Bàng Quyên chau mày suy nghĩ một hồi, rồi quyết đoán: “Đã có hai người, thì mời cả về đây!”
Bàng Thông chần chừ một lát: “Hồi bẩm đại ca, thầy lang phố Tây Nhai sáng sớm nay có người đến gọi đi rồi, nghe nói là tới nơi xa khám bệnh, ở tận vùng đất gì đó của nước Hàn, xem ra, vài ba hôm nữa chưa chắc đã về được.”
“Được rồi, nếu Hoàng y sư kia y thuật giỏi nhất, hãy mau đi mời ông ta về đây trị bệnh!”
Bàng Thông vâng lệnh, vội vã đi ngay. Nhìn theo bóng Bàng Thông, Bàng Quyên cười nhăn nhó: “Than ôi, quả là quái lạ! Mình muốn hai người cùng tới trị bệnh, ai ngờ một người lại đi mất rồi!”
Chưa đầy nửa canh giờ sau, Bàng Thông đã dẫn Hoàng y sư tất tả quay về. Bàng Quyên hành lễ xong, lập tức dẫn ông ta tới phòng Tôn Tẫn. Còn chưa tới nơi, ba người đã loáng thoáng nghe thấy “tiếng trống” trong viện của Tôn Tẫn, âm thanh lúc cao lúc thấp, lên bổng xuống trầm.
Hoàng y sư ra hiệu, ba người khẽ khàng dừng bước. Hoàng y sư nghiêng tai nghe ngóng một lúc, rồi nhấc chân bước vào trong cửa.
Thấy có người vào, Tôn Tẫn kích động trông thấy, miệng gào lên: “Ma đầu tới rồi, thiên binh thiên tướng mau bày trận, nghe hiệu lệnh của bản tướng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng tùng tùng tùng tùng tùng...”
Hoàng y sư quan sát kỹ một hồi, rồi hỏi Bàng Thông: “Người này phát bệnh bao lâu rồi?”
“Bốn ngày rồi!”
“Trước khi phát bệnh, người này phải chăng luôn miệng kêu đau đầu, ăn thùng uống vại?”
“Đúng vậy!”
“Sau khi phát bệnh, người này lúc nào cũng như thế kia phải không?”
“Lúc phát lúc đỡ, có lúc nằm ngủ li bì.”
“Phải rồi!” Hoàng y sư không hỏi thêm gì nữa, gật gật đầu ra chiều khẳng định, sau đó cất cao giọng, rõ ràng là muốn nói cho Tôn Tẫn nghe. “Đúng thực là bị điên rồi, để lão hủ bắt mạch thử xem.”
Nghe thấy Hoàng y sư nói muốn bắt mạch, tiếng trống của Tôn Tẫn lại càng gấp gáp, hai cánh tay khua khoắng điên cuồng, nắm đấm nện tứ tung. Hoàng y sư không thể lại gần, Bàng Quyên đành phải xông vào, gắng sức ghì chặt lấy hai cánh tay Tôn Tẫn. Hoàng y sư đưa tay bắt mạch, lần sờ một hồi rồi buông tay ra, chau tít đôi mày.
Bàng Quyên vội hỏi: “Hoàng tiên sinh, bệnh thế nào?”
Hoàng y sư thở dài, trầm giọng mà nói: “Người này mắc chứng thất tâm phong!”
“Thất tâm phong là thế nào?”
“Hồi bẩm đại tướng quân,” Hoàng y sư dõng dạc đáp, ngoài mặt vẻ như đang nói với Bàng Quyên, song thực chất vẫn là muốn nói cho Tôn Tẫn nghe. “Người ta đều có hai thân, một là nhục thân, hai là linh thân. Hai thân hợp một, là người bình thường. Linh thân còn gọi là nguyên thần, một khi bị kinh hãi, sẽ trốn khỏi nhục thân. Linh nhục phân ly, nhục thân không có linh thân, sẽ mất kiểm soát, người bình thường sẽ trở thành người điên. Khi linh thân quay trở về nhục thân, lúc đấy bệnh điên sẽ khỏi dần. Nếu linh thân mãi mãi không chịu trở về nhục thân, người này sẽ điên dại kéo dài!”
Nghe Hoàng y sư giảng giải về y lý huyền diệu, Bàng Quyên tuy vẫn mơ hồ, song cũng thấy phục, im lặng hồi lâu, bèn gật gù mà nói: “Hoàng y sư xứng đáng là danh y, vậy chứng thất tâm phong này...”
Hoàng y sư thuận miệng nói tiếp: “Về mặt y lý, linh thân bị kinh hãi có nhiều nguyên nhân khác nhau, mức độ khác nhau, chứng bệnh đương nhiên cũng khác nhau. Phàm bệnh điên được phân thành bốn loại, một là mê tâm phong, hai là loạn tâm phong, ba là kinh tâm phong, bốn là thất tâm phong.”
Bàng Quyên kinh hãi hỏi: “Theo như tiên sinh nói, lẽ nào thất tâm phong là nghiêm trọng nhất?”
“Đúng vậy!” Hoàng y sư gật đầu. “Chứng điên thông thường đều là mê tâm phong và loạn tâm phong. Mê tâm phong và loạn tâm phong có thể chữa khỏi, kinh tâm phong cũng có thể chữa, riêng thất tâm phong thì không chữa được, bởi lẽ người mắc chứng thất tâm phong, nguyên thần bị kinh hãi nặng nề nhất, hoàn toàn rời khỏi nhục thân, không có chỗ bấu víu. Bệnh của Tôn tướng quân, đừng nói là tại hạ, dù Biển Thước tái thế, e rằng cũng khó lòng chữa trị. Bất luận là ai, một khi đã mắc chứng thất tâm phong, đời này coi như đã hết!”
Bàng Quyên nghe mà bàng hoàng chấn động, trợn mắt đứng chết trân.
“Thôi được!” Hoàng y sư khẽ thở dài. “Lão hủ cứ kê đơn thuốc, nếu người này uống thuốc đều đặn, bệnh tình hoạ may có thể thuyên giảm. Song muốn trị tận gốc, đại tướng quân cần mời người cao tay hơn.” Nói xong, kê ngay một đơn thuốc, đưa cho Bàng Thông.
Bàng Thông cầm lấy đơn thuốc, nhìn Bàng Quyên.
Bàng Quyên quay người, đi thẳng một mạch ra khỏi khu nhà, ra tới cổng thì quay đầu lại nói: “Thưởng tiên sinh một lượng. Tiễn khách!”
Bàng Thông lấy một lượng vàng, đưa cho Hoàng y sư, dẫn ông ta ra khỏi khu nhà, đến lúc đi xa, lại nghe thấy tiếng “trống chiến” dồn dập của Tôn Tẫn.
Hồi Thứ 33
Hối chuyện cũ, Tần Công tìm lại hiền tài
Nghe tuyệt khúc, Tô Tần ngộ đạo trị thế
Từ ngày Tô Tần ra đi, Luận Chính đàn không mở thêm lần nào nữa. Không khí bất an bao trùm phố Sĩ Tử, chúng sĩ tử lục tục thu dọn hành lý, lũ lượt rời bỏ đất này để tìm đến nơi khác. Cung Tần cũng không níu kéo, phố Sĩ Tử vốn tập nập là thế, chẳng bao lâu đã trở nên vắng vẻ đìu hiu.
Qua ngày mười lăm tháng giêng, Trúc Viễn thấy Tần Công vẫn không có động tĩnh gì, bèn bảo Giả Xá Nhân thu dọn hành lý, chuẩn bị trở về núi Chung Nam. Kỳ thực hành lý cũng chẳng có gì, ngoài mấy bộ quần áo mặc thường ngày, còn có thêm một đống thẻ tre, được họ thu thập ở Hàm Dương hoặc từ chỗ sĩ tử liệt quốc trong mấy năm qua, dự định mang về trên núi cho người mới học để mở rộng kiến văn.
Do thẻ tre quá nhiều, họ phải gọi đến hai cỗ xe ngựa để chở. Lúc này, hai cỗ xe đã đỗ trong sân. Trúc Viễn hết nhìn đống thẻ tre ngất ngưởng, lại nhìn hai cỗ xe ngựa, ước tính không thể chất hết lên hai xe; hơn nữa, dù có chất được hết, cũng khó mà chở được tới Hàn Tuyền, nên lại ngồi xuống lựa chọn, rồi bó lại thành từng bó. Giả Xá Nhân khuân từng bó thẻ tre đã được sư huynh lựa kỹ xếp lên trên xe. Khi đã chất đầy một xe, bèn sửa sang ngay ngắn rồi lấy dây thừng buộc lại cho chắc chắn.
Chằng buộc một lúc, Giả Xá Nhân ngẩng đầu nhìn Trúc Viễn, trầm ngâm nói: “Sư huynh, chúng ta vẫn chưa tìm được đại hiền cho chúa thượng, lần này trở về, liệu tiên sinh có trách không?”
Trúc Viễn vẫn đang lựa chọn thẻ tre, không buồn ngẩng đầu lên, thở dài mà nói: “Than ôi, người nên đến đã đi mất rồi còn đâu!”
Lời vừa nói dứt, từ ngoài cổng bỗng vang lên một giọng nói hùng hậu: “Người không nên đi lại đang muốn bỏ đi ư?”
Trúc Viễn, Giả Xá Nhân giật thót, ngẩng đầu nhìn lên thì thấy Huệ Văn Công, Sư Lý Tật đang đứng ngay trước cổng, vội quỳ xuống dập đầu hô: “Thảo dân khấu kiến chúa thượng!”
Huệ Văn Công vội bước lại, đỡ họ dậy, mỉm cười nói: “Hai vị tiên sinh miễn lễ!”
Trúc Viễn, Giả Xá Nhân cảm tạ, rồi vòng tay đứng sang một bên.
Huệ Văn Công đưa mắt nhìn cỗ xe đầy ắp thẻ tre, lại nhìn đống thẻ tre đang chờ xếp trên đất và cỗ xe trống, rồi quay sang hỏi Trúc Viễn, Xá Nhân: “Hai vị muốn bỏ đi thật ư?”
Trúc Viễn, Giả Xá Nhân đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng gật đầu.
“Ồ!” Huệ Văn Công khẽ thở dài. “Doanh Tứ tới đây, vốn định khẩn cầu hai vị giúp cho một việc lớn, không ngờ hai vị lại sắp ra đi.”
Trúc Viễn ngẩn người, mở to mắt nhìn Huệ Văn Công: “Chúa thượng muốn thảo dân làm việc gì?”
“Tìm Tô Tử, mời hắn trở lại Hàm Dương!”
Trúc Viễn, Giả Xá Nhân đều bàng hoàng kinh ngạc, đứng sững hồi lâu, không ai nói câu nào, đều quay sang nhìn Sư Lý Tật, thấy ông ta còn ngơ ngác hơn.
Huệ Văn Công mỉm cười nói: “Hai vị hẳn đang nghĩ, Tô Tử tìm tới tận cửa, quả nhân chê bỏ không dùng. Giờ Tô Tử quay lưng đi rồi, quả nhân lại cuống quýt đuổi theo, khác nào vứt áo rồi lại tìm áo, tự bày thêm việc cho mình?”
Những người có mặt đều không nhịn được cười.
Huệ Văn Công thu lại nụ cười, thở dài một tiếng: “Than ôi, chư vị có điều không biết, không phải quả nhân không dùng Tô Tử, mà là giữa Tô Tử và quả nhân không có duyên phận!”
Thái độ của Huệ Văn Công đối với Tô Tần thay đổi xoành xoạch, khiến ba người Sư Lý Tật, Trúc Viễn, Giả Xá Nhân đều thấy mơ hồ như lạc giữa biển sương, thảy đều giương mắt nhìn Huệ Văn Công không chớp.
Huệ Văn Công nhìn họ một lượt rồi nói: “Nghe Mạnh Tử người Trâu có nói: ‘Trời sắp giao trọng trách cho người nào, trước tiên ắt khiến kẻ đó tâm chí khổ sở, gân cốt mệt mỏi, cơ thể đói khát, thân người rệu rã’, quả nhân cũng biết tài của Tô Tử, sở dĩ hết lần này tới lần khác chèn ép không cất nhắc, chẳng qua là muốn làm chùn nhuệ khí của hắn, khích lệ tâm trí của hắn, để chờ ngày trọng dụng.”
Quả là một lý do rất hay. Ba người đưa mắt nhìn nhau, rồi lại nhìn Huệ Văn Công.
“Hỡi ôi!” Huệ Văn Công lại tiếp tục than thở. “Ai ngờ Tô Tử là người nóng vội, nói đi là đi ngay, khiến quả nhân trở tay không kịp. Khi nhận được tin Tô Tử bỏ đi, quả nhân lập tức sai người đuổi theo mời về, không ngờ tuyết rơi mù mịt, không thấy tăm hơi. Sau lại sai Sư Lý ái khanh tiếp tục tìm kiếm, được biết Tô Tử đã rời khỏi nước Tần. Gần đây quả nhân nghĩ lại chuyện này, thấy rằng tuy kế sách của Tô Tử quá ư huyễn hoặc, song hắn vẫn là đại tài trị quốc. Quả nhân muốn nhờ hai vị đây vất vả một chuyến, tìm cách mời Tô Tử trở lại, nói với hắn rằng, quả nhân muốn uỷ thác quốc sự cho hắn!”
Trúc Viễn từ từ di chuyển ánh mắt sang Giả Xá Nhân, Giả Xá Nhân bèn gật đầu. Trúc Viễn vòng tay nói: “Chúa thượng nhìn xa nghĩ rộng, thảo dân hôm nay mới biết. Chúa thượng coi trọng Tô Tử như vậy, thực là may mắn cho Tô Tử. Tiết Thanh minh sắp tới, thảo dân muốn về Hàn Tuyền tảo mộ cho sư tổ, việc tìm Tô Tử, xin hãy giao cho Xá Nhân, chúa thượng thấy có được chăng?”
Huệ Văn Công quay sang Giả Xá Nhân, vòng tay nói: “Đã nói vậy, phải làm phiền Giả tiên sinh một chuyến!”
Giả Xá Nhân vòng tay đáp lễ: “Xá Nhân nguyện góp chút sức mọn!”
Tháng hai mùa xuân, tiết trời trở ấm, cây cỏ xanh rờn.
Bên bãi đập lúa của nhà họ Tô phía bắc thôn Hiên Lý, Thiên Thuận đang cùng Địa Thuận, em gái họ và mấy đứa trẻ hàng xóm chơi trò trốn tìm quanh mấy đống rơm. Khi tới lượt Thiên Thuận trốn, cậu bé chạy như bay tới túp lều, định nấp vào đống cỏ bên trong. Nào ngờ vừa tới cửa, con Mực đã nhảy xổ ra, chực sủa lên, song thấy là Thiên Thuận thì vẫy đuôi tít mù, đứng chặn ngang trước mặt cậu bé. Thiên Thuận đi vòng qua con Mực, vẫn muốn chạy vào bên trong, song con chó há miệng cắn chặt lấy ống quần cậu bé, kéo ngược trở ra, rồi đứng chắn ở cửa, dứt khoát không cho vào. Thấy thời gian trốn không còn nhiều, Thiên Thuận sốt ruột, gắng sức xô bật con Mực ra, xông vào trong cửa.
Đúng lúc đó, Thiên Thuận đứng khựng lại, ngây người kinh hãi.
Bên cạnh đống cỏ khô sát góc lều, Tô Tần đầu tóc rối bù, mặt mày vàng xạm ngồi ngay ngắn dưới đất, hệt như pho tượng, lưng quay về phía cửa, tay cầm thẻ tre, đang chăm chú đọc. Có lẽ do quá nhập tâm, nên không hề hay biết trận giằng co vừa nãy.
Hẳn là Tô Tần đang buồn ngủ, mí mắt sụp xuống, đầu gật một cái, thẻ tre suýt rơi khỏi tay. Tô Tần vội ngồi lại cho vững, tiện tay với lấy chiếc dùi nhọn bên cạnh, “sột” một cái đâm thẳng vào đùi. Thấy mũi dùi nhọn xuyên thẳng xuống, Thiên Thuận vội nhắm tịt mắt lại, đến khi mở mắt ra, đã thấy chiếc dùi nằm ở chỗ cũ, Tô Tần tay vẫn cầm thẻ tre say sưa đọc. Thiên Thuận nhìn xuống phía dưới, thấy máu tươi chảy ròng ròng nơi mắt cá chân. Nhìn kỹ lại, thấy trên cổ chân còn rất nhiều vệt tím đen đông cứng, không cần nghĩ cũng biết ống quần màu đen của Tô Tần đã nhuốm đầy những máu, chỉ là không thể nhìn ra.
Thiên Thuận không thiết trốn nữa, vội quay đầu co cẳng chạy trở ra. Mấy đứa trẻ vừa tìm tới cửa, thấy cậu bé chạy ra, mừng rỡ xô lại túm lấy. Thiên Thuận đẩy bật chúng ra, cuống quýt chạy thục mạng về nhà.
“Bà ơi, bà...” Gần tới cổng, Thiên Thuận gọi toáng lên.
“Thiên Thuận, gọi gì bà thế?” Tô Diêu thị vẫn cắm cúi sàng gạo trong sân, cất tiếng hỏi.
“Bà ơi, chú hai, chú ấy... chú ấy...” Thiên Thuận chạy tới dưới gốc cây xuân, tựa lưng vào gốc cây, thở hổn hển nói không ra hơi.
“Chú hai làm sao?” Tô Diệu thị giật mình kinh hãi, đặt vội sàng xuống, ngẩng đầu lên hỏi.
“Chú hai, chú ấy... chú ấy lấy dùi... đâm... đâm vào đùi!” Thiên Thuận nói ngắt quãng trong tiếng thở dốc.
“Thiên Thuận, con nói nhăng nói cuội gì thế?” Vợ Tô Lệ đang ngồi khâu vá trong phòng, nghe vậy liền bước ra, cất giọng châm chọc. “Chú hai của con thông minh lắm, chẳng động đến tay chân, ngồi chơi xơi nước cả ngày, bắt người ta cơm bưng nước rót hầu tận miệng, làm gì có chuyện tự mình đâm mình?”
“Mẹ!” Thiên Thuận sốt ruột. “Con đâu dám nói nhăng nói cuội! Thật đấy, con tận mắt thấy chú hai lấy dùi...” rồi bắt chước bộ dạng Tô Tần đâm thẳng xuống đùi, “thế này này, máu chảy đầy chân, cổ chân toàn là vết máu!”
Tô Diêu thị kinh hãi rụng rời, không nói nổi câu nào, đứng bật ngay dậy, chân thấp chân cao chạy ra khỏi cổng.
Vợ Tô Đại bụng chửa vượt mặt cũng bước ra, thấy bộ dạng hoảng hốt của Tô Diêu thị, vội hỏi vợ Tô Lệ: “Chị dâu, có chuyện gì vậy?”
“Còn chuyện gì vào đây được nữa?” Vợ Tô Lệ hất hàm ra phía cổng. “Cậu con trai quý hoá của mẹ lấy dùi tự đâm mình!”
“Tự đâm mình?” Vợ Tô Đại kinh ngạc. “Sao anh hai lại làm thế?”
“Hừm!” Vợ Tô Lệ hậm hực nói. “Đều do mẹ chiều chuộng quá mức mới thành ra thế, thật không công bằng! Em dâu thử nói xem, có mảnh đất ruộng tốt nhất cũng bị chú ấy đem đi bán, mà bán cho ai không bán, lại đi bán cho tay lý chính họ Lưu kia! Em biết không, cả đám ruộng chú ấy chỉ bán có ba mươi lượng, cái giá bèo bọt như thế, chỉ có kẻ đại ngốc mới nghĩ ra. Còn cha nữa chứ, đang khoẻ mạnh là vậy, cũng bị chú ấy làm cho tức uất mà thành bại liệt! Còn nữa, chị còn nghe nói, chú ấy mang ba mươi lượng vàng đổi lấy xe ngựa hào nhoáng, quần gấm áo cừu, đi khắp nơi khoe khoang. Còn con chó kia, cũng là do chú ấy bỏ ra cả một túi tiền để mua về! Em nói thử xem, có con chó nào đáng giá cả một túi tiền không? Nói thật với em, từ sau khi biết được chuyện này, chị uất ức nghẹn họng, hễ nhìn thấy con chó, chị lại giận sôi máu, chỉ muốn đánh cho nó một trận! Em dâu cứ chờ mà xem, rồi sẽ có một ngày, chị sẽ phải làm thịt con súc sinh đó!”
Nghe thấy nói làm thịt con Mực, Thiên Thuận sợ hãi, vội quỳ thụp xuống đất nói: “Mẹ ơi, đừng giết con Mực, con cầu xin mẹ đấy!”
“Cút mau!” Vợ Tô Lệ quát thẳng vào mặt Thiên Thuận. “O ắt con vắt mũi chưa sạch, biết cái gì! Không lo theo cha học cấy cày cho giỏi, sau này chỉ có nước giống như chú hai mày thôi, phá gia bại sản không nói, còn tự lấy dùi đâm mình, xem có đau chết mày không!”
Thiên Thuận bị mẹ mắng sa sả, không còn dám nhắc tới chuyện con Mực nữa, len lén chuồn ra khỏi cổng.
Lời nói của vợ Tô Lệ khiến vợ Tô Đại sực nhớ tới cái dùi, bất giác bật khóc mà nói: “Anh hai thành ra nông nỗi này, đều trách em cả!”
Vợ Tô Lệ ngớ người: “Em dâu ngốc, chú ấy thành ra như vậy, sao lại trách em?”
“Mấy hôm trước mẹ nói cái dùi của mẹ cùn rồi, khó dùng, muốn mượn dùi của em, em đã cho mẹ mượn, mẹ lại cho anh hai mượn. Như vậy... chẳng phải là em hại anh hai ư?” Vợ Tô Đại thút thít đưa tay áo lên lau nước mắt.
Vợ Tô Lệ ngẩn ra một lúc, rồi bật cười mà nói: “Được rồi được rồi, giờ là lúc nào mà em dâu còn khóc được? Em mà khóc, em bé trong bụng sẽ nghe thấy. Em bé thấy mẹ buồn, cũng sẽ buồn theo. Em bé sắp chào đời rồi mà buồn bã, không phải chuyện hay đâu!”
Nghe chị ta nói vậy, vợ Tô Đại lập tức nín bặt, không dám khóc nữa.
Vợ Tô Lệ dường như sực nhớ ra, bèn hỏi: “À, Ma Cô dự tính em dâu sinh vào ngày nào nhỉ?”
Vợ Tô Đại trả lời ngay: “Theo dự tính của Ma Cô, ba ngày nữa sẽ sinh!”
“Vậy chắc là đúng đấy!” Vợ Tô Lệ khen ngợi. “Ma Cô đúng là tính toán như thần! Không giấu em dâu, Thiên Thuận và con bé con nhà em sinh ra đúng như dự tính của Ma Cô, xê dịch trước sau không quá ba ngày. Địa Thuận càng chính xác hơn nữa, không sai lấy một ngày, chỉ hơi lệch giờ!”
Hai chị em dâu mỗi người một câu, trò chuyện âu yếm với đứa bé trong bụng, song từng câu từng chữ lại như mũi dao nhọn hoắt đâm nát trái tim Tiểu Hỷ, lúc này đang ngồi khâu đế giày dưới mái hiên. Nghĩ tới chuyện mình khó khăn lắm mới lấy được chồng, sau khi xuất giá, không những chưa một lần sinh nở, mà đến mùi đàn ông còn chưa biết tới, nỗi tủi hờn này thực không biết giãi bày cùng ai, hai tay dần bất động, đầu cúi gằm xuống, nước mắt giàn giụa ướt đẫm khuôn mặt.
Thiên Thuận chuồn ra khỏi cổng, đứng ngẩn một lát ở bên ngoài, mới co giò chạy về phía bãi đập lúa phía bắc thôn. Vừa tới nơi, đã thấy Địa Thuận, em gái họ và mấy đứa trẻ đang đứng túm tụm bên ngoài cửa lều, thò cổ ngó vào trong. Con Mực ngoe nguẩy đuôi trước cửa, nhìn thấy Thiên Thuận tới, vội chạy ra mừng quấn quýt. Chợt nhớ mẹ vừa nói sớm muộn gì cũng sẽ làm thịt con Mực, Thiên Thuận thấy sống mũi cay sè, bèn cúi xuống ôm lấy con chó vuốt ve.
Thiên Thuận vừa định đứng dậy, bỗng thấy đám Địa Thuận nhăn mặt lùi hết ra ngoài, lát sau, lại thấy bà nội tay cầm chiếc dùi đáng sợ kia, gạt nước mắt bước ra khỏi cửa.
Tô Diêu thị đứng lặng một hồi trước cửa lều, đưa ống tay áo lên lau nước mắt, chệnh choạng bước về phía Thiên Thuận, rồi vẫy tay gọi đám Địa Thuận lại. Tô Diêu thị đưa mắt nhìn bọn trẻ, thở dài mà dặn rằng: “Thiên Thuận, cả các cháu nữa, bắt đầu từ hôm nay, không đứa nào được phép bước chân vào trong lều cỏ!”
Lũ trẻ gật lấy gật để.
“Cũng không được chơi ở bãi đập lúa này nữa. Thôn mình rộng như vậy, các cháu chơi đâu chẳng được!”
Nghe thấy nói không được chơi ở bãi đập lúa, đám trẻ đều im lặng, không nói câu nào.
“Có nghe thấy không?” Tô Diêu thị lắc lắc chiếc dùi trong tay. Nhìn thấy chiếc dùi nhọn hoắt dính máu, lũ trẻ cùng sợ hãi đồng thanh: “Dạ, nghe thấy rồi!”
Tô Tần ở thôn Hiên Lý sớm đã trở thành chủ đề bàn tán khắp các thôn làng phố xá Lạc Dương. Bỏ nhà đi biệt sáu năm trời mới về, bán ruộng lấy tiền mua quần áo sang trọng, xe ngựa xa hoa tới đất Tần, sau đó đói rách trở về, càng là đề tài đàm tiếu tại quán trà tiệm nước. Lần này lại cầm dùi đâm đùi, qua lời kể khuếch trương của vợ Tô Lệ, cũng nhanh chóng lan truyền khắp thôn xóm chẳng khác gì gió thổi.
Ấp Hà Nam là một thành cổ ở bờ tây Lạc Thuỷ, là thực ấp được phong của Tây Chu Công. Buổi chiều hôm nay, trong một quán trà cũ kỹ tại phố Nam Nhai ấp Hà Nam, một đám người nhàn rỗi ngồi quây quanh bàn, vừa uống trà vừa nghe một người ngồi giữa nói chuyện phiếm.
Người này khoảng bốn mươi tuổi, vóc dáng gầy gò, đang khoa tay múa chân, mặt mày hớn hở mà nói: “Các vị nghe này, những năm gần đây đúng là chuyện lạ nào cũng có. Các vị có nghe nói không, phía đông Y Thuỷ có một ấp tên là Y Lý, phía bắc ấp Y Lý có một thôn tên là Hiên Lý, trong thôn có một gia đình họ Tô, chủ hộ tên là Tô Hổ...”
Có người sốt ruột xen ngang: “Kể chi tiết thế để làm gì? Chẳng phải là anh hai ngốc họ Tô ở Hiên Lý đấy ư? Hắn lại giở trò gì nữa?”
“Trò gì ấy à?” Anh gầy lừ mắt lườm người này. “Nếu ngươi biết thì tự nói đi!”
Người này tặc lưỡi một cái, ngồi im không nói gì nữa.
Anh gầy chặn họng kẻ kia xong, hớp một ngụm trà, đưa mắt nhìn khắp đám đông: “Các vị có ai biết không?”
“Biết gì?” Từ ngoài cửa có một người bước vào, lớn giọng hỏi.
Mọi người quay lại nhìn, hoá ra là một cậu công tử bột ở gần đó, vội vã đứng dậy vòng tay chào. Anh gầy kia cũng đứng dậy, cúi gập lưng xuống, cười nịnh nọt mà nói: “Cơn gió nào thổi Lục thiếu gia tới chốn bần hàn này vậy?”
Lục thiếu gia cười ha hả, xua tay nói: “Miễn lễ, miễn lễ! Ngồi, ngồi cả đi!” Rồi vén áo dài gấm, làm bộ dạng cao kỳ ngồi xuống, nhìn về phía anh gầy. “Vừa rồi ngươi đang nói gì thế?”
Đám người đều ngồi xuống, anh gầy vòng tay nói: “Bẩm thiếu gia, tiểu nhân đang nói, nhà họ Tô thôn Hiên Lý có cậu con trai thứ hai, đọc sách tới hoá điên!”
“Ồ?” Lục thiếu gia hào hứng ra mặt, nhổm người về phía trước hỏi. “Điên như thế nào?”
“À, ờ...” Anh gầy ra bộ ngập ngừng.
Lục thiếu gia móc từ trong tay áo ra một xu tiền đồng, đặt đánh “cạch” xuống bàn, nói với tiểu nhị: “Tiểu nhị, mang trà lên đây! Hôm nay bản thiếu gia mời khách, ai cũng có phần, đây là tiền trà!”
Tiểu nhị cầm tiền, pha một ấm trà cho hắn. Đám người cùng vòng tay vái tạ. Lục thiếu gia đáp lễ, rồi lại nhìn sang anh gầy: “Nói đi, gã đó điên như thế nào?”
Anh gầy lúc này mới chép miệng một cái, lại bắt đầu hoa chân múa tay: “Điên như thế nào ư, thiếu gia hãy nghe tiểu nhân nói đây! Anh con trai thứ hai nhà họ Tô tên là Tô Tần, từ nhỏ đã khác người, chỉ ưa chơi bời lêu lổng, không biết chí thú làm ăn. Sáu năm trước, cha hắn vất vả lắm mới cưới được vợ về cho hắn, vậy mà hắn vừa bái đường xong, chưa kịp động phòng, đã biến mất tăm mất tích. Hắn đi liền một mạch vài năm, năm ngoái bỗng dưng trở về nhà, Tô lão hán cứ ngỡ hắn hồi tâm chuyển ý, vui mừng không để đâu cho hết, bèn phân ruộng chia nhà. Nào ngờ vừa cầm khế đất trên tay, hắn đã bán quách mười lăm mẫu ruộng đứng tên mình đi, nghe nói bán cho nhà Lưu lý chính được ba mươi lượng. Các vị nghe xem, ruộng này là do Chu thiên tử ban tặng cho tổ tiên Tô gia, toàn là ruộng thượng đẳng, tên tiểu tử đó lại chỉ bán có ba mươi lượng, đúng là đại ngốc! Rồi tên tiểu tử này mang ba mươi lượng vàng đi mua xe sang ngựa đẹp, quần gấm áo cừu, vênh vang tới nước Tần. Kết quả thế nào? Chưa đầy ba tháng, xe ngựa chẳng còn, mà quần gấm áo cừu cũng mất, tiểu tử kia mình mặc thứ áo bông đen trũi của người Tần, đeo tay nải rách nát lếch thếch trở về, khiến Tô lão hán uất ức tới trúng gió, trở thành bại liệt!” Kể đến đây, lắc đầu lia lịa, bật ra một câu. “Than ôi, người với chả ngợm!”
Lục thiếu gia ngây người: “Nghe mãi, đã thấy tiểu tử đó có gì điên đâu!”
“Còn chưa điên ư?” Anh gầy trợn mắt hỏi lại. “Có nhà không chịu ở, cưới vợ không ngủ cùng, suốt ngày ở trong túp lều dột nát cùng một con chó đen, mặt không rửa, quần áo không thay, cả tháng trời không bước chân ra khỏi cửa, hoặc ngồi thẫn thờ, hoặc nói lảm nhảm, nhìn hắn lúc này, đầu tóc rối bù, râu ria lởm chởm, ba phần giống người, bảy phần giống quỷ. Hãy khoan nói tới chuyện này, vừa rồi tôi còn nghe thấy, hắn lấy dùi tự đâm vào đùi mình, tới mức máu chảy ướt đẫm hai chân. Thiếu gia thử nói xem, như thế còn không điên thì gọi là gì?”
Lục thiếu gia vội hỏi: “Vì sao hắn lấy dùi đâm mình?”
Anh gầy trả lời luôn: “Nghe nói hắn đang mải đọc sách, đọc tới lúc nào ngủ gật thì cầm dùi đâm vào đùi.”
“Hay!” Lục thiếu gia gật gù. “Chuyện này hay đấy. Lát nữa về nhà, bản thiếu gia sẽ kể cho ông già nghe. Ông già cả ngày ép bản thiếu gia đọc sách, bản thiếu gia phải nói cho ông già biết, đọc sách mà thành ra như vậy thì hay ho nỗi gì!” Dừng lại một lát, đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, bèn đưa mắt nhìn khắp một vòng. “Nghe nói, mấy hôm nay có một người gảy đàn thường đến quán trà này, hễ người này gảy đàn, đến trâu bò cũng phải rơi lệ, có chuyện này chăng?”
Anh gầy gật đầu.
“Người đâu?” Lục thiếu gia ngó nghiêng hỏi.
Anh gầy hất cằm ra cửa, đám người không hẹn mà cùng nhìn cả về phía đó. Lục thiếu gia nheo mắt nhìn, quả nhiên thấy một ông lão quần áo rách rưới ngồi thu lu ở đó. Ông lão chớp mắt vài cái, khó nhọc đứng dậy.
Thấy chỉ là một lão ăn mày, Lục thiếu gia khẽ chau mày, càu nhàu: “Bản thiếu gia đang hỏi một vị cầm sư danh giá kia mà, sao lại là một lão ăn mày?” Quay sang anh gầy, tỏ vẻ không tin. “Cầm sư lẽ nào lại là người này?”
Anh gầy gật đầu.
Lục thiếu gia lại chau mày, lên giọng nói: “Này, lão già kia, bản thiếu gia mải nghe chuyện lạ, suýt quên mất việc chính. Ông già nhà ta nghe nói lão gảy đàn xuất thần, bảo bản thiếu gia tới mời lão về phủ gảy vài khúc!” Rồi móc ra một xu tiền đồng, vung tay ném tới trước mặt cầm sư. “Đây là tiền thưởng, lão cầm đi!”
Cầm sư dường như không nghe thấy, cũng không thèm đếm xỉa tới Lục thiếu gia, càng không nhìn đến đồng xu trên đất, chỉ lom khom thân người, gắng gượng đứng dậy. Anh gầy vội đứng lên, chạy ra đỡ lấy cầm sư. Cầm sư liếc anh ta một cái, cúi xuống nhấc hộp đàn lên, ôm vào trong lòng, khó nhọc lê từng bước ra ngoài.
Lục thiếu gia cuống lên, đứng dậy đuổi theo vài bước: “Lão già kia... à không, lão tiên sinh, mau đứng lại!”
Cầm sư vẫn không thèm đếm xỉa, cứ tiếp tục bước đi.
Lục thiếu gia lại đuổi theo mấy bước nữa, lớn tiếng nói: “Lão tiên sinh, bản thiếu gia thưởng lão một lượng! À không, ba lượng!”
Cầm sư vẫn không hề dừng bước.
Lục thiếu gia sửng sốt, giậm mạnh chân, nhổ “phì” một tiếng, nói với theo sau lưng cầm sư: “Hừm! Lão già chết tiệt, đúng là không biết điều!”
Thật đúng như dự tính của Ma Cô, ba ngày sau, trời vừa hửng sáng, vợ Tô Đại đã ôm bụng kêu la oai oái. Tô Đại cuống lên, vội vã đi gọi Tô Diêu thị. Tô Diêu thị sớm đã nghe thấy tiếng kêu, chạy đến trước cửa.
“Đại Nhi, mau đi gọi Ma Cô, nghe tiếng kêu kiểu này, hẳn sắp sinh rồi!” Tô Diêu thị lập tức giục giã.
Tô Đại không nói một lời, co cẳng chạy luôn khỏi cửa. Vợ Tô Lệ, Tiểu Hỷ đều đã nghe thấy tiếng kêu, chạy xúm cả lại. Tô Diệu thị sai Tiểu Hỷ đun nước nấu cơm, còn mình và vợ Tô Lệ trực ở trong phòng, chuẩn bị các thứ cần thiết. Tô Lệ thấy mọi người bận rộn tất bật, mà mình chẳng giúp được gì, lại không chịu được tiếng kêu rên của em dâu, bèn quyết định mang nông cụ ra ruộng làm việc.
Một lát sau, Ma Cô tất tả theo Tô Đại chạy vào sân, vừa đến cửa đã gọi toáng lên: “Bà chị ơi!”
Nghe thấy tiếng gọi của Ma Cô, Tô Diêu thị mới thở phào, đon đả chạy ra đón: “Đến rồi đấy à, mau lên mau lên, mau vào phòng!”
Ma Cô cười nói: “Không giấu bà chị, trời còn chưa sáng, em đã mơ một giấc mộng đẹp, cười sung sướng mà tỉnh giấc luôn. Em vừa bước ra sân, còn đang hồi tưởng lại giấc mơ thì cậu ba nhà chị đã tới gọi cửa.” Miệng cười nói tíu tít, chân bước thoăn thoắt, loáng cái đã vào trong phòng, tới bên giường vợ Tô Đại, vuốt vuốt bụng chị ta, lại nghe ngóng một hồi, cười nói. “Phải rồi, cậu nhóc này đã nhịn hết nổi, đòi chui ra rồi!”
Nghe thấy tiếng Ma Cô, mọi người đều thấy yên tâm, vợ Tô Đại cũng bớt kêu la, mỉm cười nói với Ma Cô: “Cô tới rồi, cháu yên tâm hẳn!”
Ma Cô vỗ nhẹ vai vợ Tô Đại, cười hỉ hả mà nói: “Cháu gái ngoan, có Ma Cô ở đây, cháu cứ yên một trăm hai mươi cái tâm đi! Không giấu gì cháu, trong vòng dọc ngang mười dặm này, liệu có chàng trai, cô gái nào chào đời mà không qua tay Ma Cô không?”
Mọi người đều cười.
Cả nhà tất bật tới lui, vậy mà đứa trẻ lại không hề sốt ruột, tới giờ Mão rồi mà vẫn chưa chịu ra. Vợ Tô Đại cũng đã thấm mệt, tiếng kêu rên lúc cao lúc thấp, cho thấy sức đã cạn.
Ma Cô bèn an ủi: “Cháu gái ngoan, cháu đừng kêu rên nữa, hãy nhắm mắt lại, giữ sức, đợi lúc nào sinh còn dùng!” Rồi quay sang nói với vợ Tô Lệ. “Này vợ Tô Lệ, mau đun nóng lại nước đi!” Quay sang Tô Diêu thị. “Chị gái, chị đi nấu một bát canh trứng, cho thêm mười quả táo khô vào, nhớ ninh táo cho nhừ đấy!” Dừng lại một lát, sực nhớ ra, lại hỏi. “Ồ, sao không thấy Tiểu Hỷ đâu?”
Vợ Tô Lệ trả lời: “Em hai đang nhóm lửa dưới bếp!”
“Gọi nó lại đây!” Ma Cô nói như ra lệnh.
Vợ Tô Lệ ra khỏi cửa, một lát sau, dẫn Tiểu Hỷ bước vào phòng Tô Đại. Nghe thấy tiếng chân bước, Ma Cô vội vàng bước ra, rồi mắng sa sả: “Tiểu Hỷ, Ma Cô đắc tội với cháu chỗ nào, mà tới đây lâu như vậy rồi, không thấy cháu ra chào một tiếng?”
Tiểu Hỷ lí nhí: “Cháu... cháu... đã tới rồi đây!”
“Lại đây, cháu gái, để Ma Cô xem thử nào!” Ma Cô bước sấn tới kéo Tiểu Hỷ lại, săm soi một lượt từ đầu tới chân, rồi ra lệnh. “Há miệng, thè lưỡi ra nào!”
Tiểu Hỷ không biết phải làm sao, đành há miệng, thè lưỡi ra. Ma Cô nhìn một lát, kinh ngạc kêu lên: “Chuyện gì thế này, thằng hai về lâu như vậy rồi mà vẫn chưa có động tĩnh gì ư?” Rồi đổi giọng, cười vang vài tiếng. “Cháu gái ơi, ở đây không có người ngoài, nói Ma Cô nghe thử, còn cái bụng của cháu, lúc nào mới cần tới Ma Cô đây?”
Lời nói này chẳng khác gì lưỡi dao cứa sâu vào vết thương lòng của Tiểu Hỷ. Song lúc này sắp có chuyện vui, Tiểu Hỷ không dám khóc, cũng không thể khóc, chỉ biết cúi gằm mặt, cắn chặt răng không nói lới nào.
Ma Cô dường như cũng đã hiểu ra, chuyển sang mắng mỏ Tô Tần: “Thằng hai thật chẳng ra gì! Con gái nhà người ta gả cho nó sáu bảy năm trời, dù có là mảnh ruộng cằn, cũng phải nảy ra cái mầm chứ!”
“Ma Cô ơi,” Vợ Tô Lệ cười khanh khách, cất giọng mỉa móc, “chớ có chỉ nhìn việc nhỏ nhặt. Em hai không sinh thì thôi, nếu sinh chắc chắn phải là thai long phượng!”
“Thế thì tốt quá!” Ma Cô cũng cười.
Tiểu Hỷ không chịu đựng thêm được nữa, hai mắt đẫm lệ, cúi đầu bước ra khỏi cửa, lặng lẽ chạy vào trong phòng mình, vật người xuống giường, vùi mặt vào trong chăn, khóc nấc lên ai oán.
Đúng lúc này, vợ Tô Đại lớn giọng rên la ầm ĩ, ối đã vỡ. Ma Cô, Tô Diệu thị bận rộn túi bụi, không đầy nửa canh giờ sau, cuối cùng đã nghe thấy tiếng khóc oe oe.
Tô Đại nãy giờ sốt ruột đi tới đi lui dưới gốc cây xuân, nghe thấy tiếng khóc, vừa mừng vừa lo, hộc tốc chạy vội vào nhà, suýt đâm sầm vào vợ Tô Lệ đang từ trong đi ra.
Tô Đại vội dừng bước, trong lòng hồi hộp, giọng cũng ấm ớ: “Chị dâu, sinh chưa?”
Vợ Tô Lệ lườm hắn một cái: “Khóc ầm ĩ thế kia, chẳng lẽ lại chưa sinh?”
Tô Đại lúng túng vò đầu bứt tai, ngượng nghịu cười nói: “Phải phải phải. Chị dâu, em muốn hỏi, là giống em hay là giống mẹ nó?”
Vợ Tô Lệ phì cười: “Cứ hỏi thẳng là con trai con gái cho rồi, lại còn quanh co dài dòng! Chẳng phải chị dâu đã nói với chú là con trai rồi ư, sai thế nào được?”
Tô Đại vòng tay, vái dài sát đất: “Tạ ơn chị dâu!” Vái xong, không giấu được niềm phấn khích, quay người lao về phía gian nhà chính, chạy liền một mạch tới trước giường Tô Hổ, quỳ xuống nói: “Cha ơi, có tin vui, là một thằng cu!”
Tô Hổ cười thành tiếng, nói: “Nghe ra rồi! Tiếng khóc vừa cất lên, cha đã biết là một tay cày cừ khôi!” Lại cười lên ha hả. “Đại Nhi, bảo với mẹ con, nấu cho con dâu nhiều trứng gà vào, làm thịt con gà mái không biết đẻ kia đi, hâm cho con dâu ăn!”
Từ sau khi bị trúng gió, đây có lẽ là lần đầu tiên thấy Tô Hổ cười.
Thấy cha vui mừng như vậy, Tô Đại liền gật đầu, giọng nghẹn lại: “Đại Nhi nhớ rồi. Cha, đứa bé này đang đợi cha đặt tên cho nó!”
Tô Hổ cười nói: “Cha sớm đã nghĩ xong, Thiên Thuận có rồi, Địa Thuận có rồi, đứa bé này hãy gọi là Niên Thuận!”
Tô Đại lẩm bẩm: “Niên Thuận? Niên Thuận!” Rồi mừng rỡ, xoa tay liên hồi. “Vâng, tên này hợp lắm!”
Vợ Tô Đại tuy đã sinh xong, nhưng sữa vẫn chưa về. Niên Thuận lại khóc váng lên.
Tiểu Hỷ nằm sấp trên giường, mỗi khi nghe thấy tiếng khóc của Niên Thuận, hai vai lại rung lên bần bật. Niên Thuận càng khóc càng to, Tiểu Hỷ không nhịn thêm được nữa, bèn lau nước mắt, vén rèm lên, bước ra khỏi phòng, đứng nhìn một hồi rồi chui vào trong bếp.
Tô Diêu thị nghe theo lời dặn của Ma Cô, đang nấu canh cho vợ Tô Đại trong bếp. Trước ninh táo đỏ lấy nước, rồi dùng nước nấu canh trứng. Ninh táo không cần to lửa, Tô Diêu thị rắc mạt gỗ quanh bếp, cho lửa nhỏ bớt lại, song lại khiến khói bốc mù mịt, làm bà chảy nước mắt, bưng miệng ho húng hắng.
Tiểu Hỷ mặc kệ khói bốc mù mịt, vẫn bước phăm phăm vào trong bếp, đôi mắt đỏ hoe nhìn sững vào Tô Diêu thị.
Tô Diệu thị dụi mắt, ngẩng đầu nhìn Tiểu Hỷ, đặt thanh củi xuống, vẻ ngạc nhiên: “Tiểu Hỷ?”
Tiểu Hỷ quỳ phịch xuống đất, khóc thất thanh: “Mẹ...”
Tô Diêu thị lập tức hiểu ra nỗi khổ tâm của con dâu, bèn ôm lấy đầu Tiểu Hỷ, thở dài thương xót.
Tiểu Hỷ gục mặt vào đầu gối Tô Diêu thị, khóc nức nở một hồi, rồi ngẩng đầu cầu khẩn: “Mẹ ơi, con... con muốn sinh em bé, sinh em bé...”
Tô Diêu thị lại thở dài một tiếng, nước mắt cũng trào ra: “Con ơi, đứng dậy đi!”
Tiểu Hỷ không nhúc nhích, chỉ ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn mẹ chồng.
Tô Diêu thị đứng dậy, lấy ra một chiếc làn từ dưới bàn đưa cho Tiểu Hỷ: “Con hãy cầm lấy, nhân lúc trời chưa tối, mang cơm tới cho Tần Nhi!”
Tiểu Hỷ nghẹn ngào nói: “Nhưng chàng... chàng không muốn gặp con!”
Tô Diêu thị rầu rĩ: “Hỡi ôi, mẹ cũng chẳng còn cách nào khác!” Im lặng lại một lát, bèn khích lệ Tiểu Hỷ. “Nếu Tần Nhi có trách móc, con cứ nói là mẹ bảo con mang tới. Hỷ Nhi ơi, con khổ, Tần Nhi cũng khổ. Con phải biết rằng, vết thương của Tần Nhi còn sâu hơn con! Đi đi, con người không phải cây cỏ, chẳng ai có thể vô tình! Tần Nhi là người trọng tình trọng nghĩa, hiện giờ đang lâm vào cảnh gian nan, con đối xử tốt với Tần Nhi, nó nhất định sẽ nhớ!”
Tiểu Hỷ mắt đẫm lệ, khẽ gật đầu.
Mặt trời xuống núi, màn đêm bắt đầu vây bủa.
Tô Tần đang khoanh chân ngồi trầm ngâm trong lều, đôi mày chau tít. Con Mực ngồi chồm hỗm dưới đất, hai mắt tròn xoe nhìn Tô Tần.
Lát sau, Tô Tần khẽ gọi: “Này Mực!”
Con chó lập tức nhổm dậy, ve vẩy đuôi chạy lại. Tô Tần đưa tay xoa lên đầu nó: “Mực, ngồi xuống, nghe tao nói đây!”
Con Mực ngoan ngoãn ngồi xuống trước mặt Tô Tần, mắt nhìn Tô Tần chăm chú.
“Mực này!” Tô Tần chậm rãi nói. “Tiên sinh từng nói, ‘đến mà không được dùng, là do kế sách không đúng’, mấy ngày nay ta đã đọc kỹ lưỡng, suy đi nghĩ lại, thấy kế sách thuyết Tần hoàn toàn phù hợp với đạo mở khép mà tiên sinh đã dạy, chú mày nói thử xem, cớ sao Tần Công lại bỏ không dùng?”
Con Mực dường như cũng biết Tô Tần đang nói chuyện với mình, nên kêu lên ư ử.
Tiểu Hỷ tới bên ngoài túp lều, đang định vào trong, đột nhiên nghe thấy tiếng Tô Tần nói chuyện, thì ngạc nhiên khựng lại, nép vào bên cửa.
“Than ôi!” Tô Tần thở dài thườn thượt mà rằng. “Chú mày nói là chú mày cũng không hiểu ư? Sao cơ? Chú mày đã hiểu rồi à, chú mày nói lòng vua khó đoán? Phải rồi, lòng vua khó đoán! Ta đã quan sát Tần Công, biết Tần Công là người có chí lớn. Chí lớn của quân vương, không gì khác ngoài nhất thống bốn biển, cai trị thiên hạ. Ta đã dùng sách lược nhất thống để thuyết phục, về lý mà nói, đáng lẽ phải trúng lòng quân vương mới đúng, nào ngờ lại thất bại nối tiếp thất bại, là vì lẽ gì?”
Con Mực sủa liền hai tiếng đáp lại.
“Sao cơ?” Tô Tần ngạc nhiên nhìn chằm chằm vào con Mực. “Chú mày nói ta đã sai ư, Tần Công không có ý nhất thống thiên hạ?” Ngẫm nghĩ một lát, bỗng bật cười một tràng dài. “Sai rồi, sai rồi! Ta quan sát thiên hạ bấy lâu, thấy ba vị vương Sở, Ngụy, Tề có lẽ không có lòng này, quân chủ liệt quốc có lẽ không có lòng này, song duy chỉ Tần Công là có!”
Dường như cũng đúng vào lúc này, trong lòng Tô Tần chợt loé lên một tia sáng, mắt chớp liền vài cái, lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại: “Duy chỉ Tần Công là có! Đúng vậy, duy chỉ Tần Công là có!..” Giọng nói mỗi lúc một chậm, sau đó nhắm mắt lại, chìm vào suy tư.
Một lát sau, Tô Tần mở choàng mắt, bật dậy đánh vụt như lò xo, phá lên cười sằng sặc: “Ha ha ha ha, ta hiểu rồi! Ta hiểu rồi! Này Mực, ta đã hiểu rồi!”
Thấy Tô Tần phấn chấn như vậy, con Mực vẫy đuôi tít mù, kêu lên vài tiếng.
Tô Tần tràn đầy hưng phấn, nói tiếp: “Tâm của Tần Công ắt là muốn thôn tính thiên hạ. Tiên thánh có câu: ‘Muốn cho buông chùng, phải giương cho căng. Muốn cho suy yếu, phải giúp mạnh thêm. Muốn cho phế bỏ, phải giúp hưng vượng. Muốn cướp đoạt lấy, hãy trao cho trước’!” Đột nhiên, đứng lặng người đi, một lúc sau mới lặp lại. “‘Muốn cho buông chùng, phải giương cho căng’, cũng có nghĩa là ‘muốn giương cho căng, phải buông cho chùng’.”
Đột nhiên, Tô Tần tựa như vén mây nhìn thấy mặt trời, vung nắm đấm nện thẳng vào vách: “‘Muốn giương cho căng, phải buông cho chùng’! Tô Tần ơi là Tô Tần, trí tuệ của ngươi đi đâu cả rồi? Tiên thánh có câu: ‘Cá không nên rời khỏi vực, bí mật của nước không nên khoe ra’, Tần Công có lòng thôn tính thiên hạ, há lại để ngươi nói trắng ra trước bàn dân thiên hạ hay sao?”
Tô Tần khổ sở suy ngẫm suốt mấy tháng trời, giờ bất chợt hiểu ra, vừa mừng, lại vừa hối hận vì hành động xuẩn ngốc của mình ở Tần, đập đầu mấy cái vào vách, không ngừng than thở: “Tô Tần ơi là Tô Tần, ngươi đúng là đại ngốc! Tâm địa của Tần Công, há chịu để ngươi phơi trần trước bàn dân thiên hạ?”
Tiểu Hỷ càng nghe càng cảm thấy bất thường, cho rằng Tô Tần đã hoá điên, bèn đẩy cửa bước vào trong lều, mở to mắt kinh ngạc nhìn Tô Tần.
Thấy Tiểu Hỷ không hẹn mà tới, Tô Tần cũng ngẩn ra, cơn hưng phấn tràn trề lập tức bị dập tắt.
Hai người sững sờ nhìn nhau.
Một lát sau, Tô Tần mới định thần trở lại, đưa mắt nhìn Tiểu Hỷ, chậm rãi hỏi: “Sao nàng lại tới đây?”
Thấy Tô Tần đã trở lại bình thường, Tiểu Hỷ lại ngẩn ra, giờ mới phát giác mình đã quá đường đột, bèn lắp bắp: “Hỷ Nhi... Hỷ Nhi... mang cơm tới cho... phu quân.”
Tô Tần lạnh lùng nhìn Tiểu Hỷ: “Chẳng phải ta đã nói chỉ để mẹ mang tới ư?”
Tiểu Hỷ cũng đã bình tĩnh lại: “Mẹ bận quá không dứt ra nổi, nên bảo... Hỷ Nhi mang tới!”
Tô Tần vẫn nhạt nhẽo: “Mang về đi, ta không đói!”
Tiểu Hỷ đột nhiên quỳ sụp xuống, nước mắt ròng ròng, cất giọng cầu xin: “Phu quân!”
Tô Tần bực bội, xua tay nói: “Được rồi, được rồi, để cơm đấy, mau về đi!”
Tiểu Hỷ vẻ như đã hạ quyết tâm, vẫn quỳ tại chỗ, khóc nấc mà gọi: “Phu quân...”
Tô Tần chau mày: “Nói đi, còn có chuyện gì?”
Tiểu Hỷ dập đầu sát đất, nức nở: “Vợ Tô Đại vừa... vừa sinh... sinh em bé!”
“Ồ!” Tô Tần gật đầu. “Biết rồi!”
Tiểu Hỷ vẫn dập đầu dưới đất mà khóc.
Tô Tần ngạc nhiên: “Ta biết rồi, nàng hãy về đi!”
Tiểu Hỷ lại dập đầu, giọng càng run rẩy: “Phu quân, vợ... vợ Tô Đại đã... đã sinh em bé rồi!”
Tô Tần đột nhiên hiểu ra ẩn ý trong lời nói của Tiểu Hỷ, bỗng giật nảy minh. Suy nghĩ một lúc, Tô Tần nhíu chặt đôi mày, châm đèn dầu lên, mài mực, cầm bút, lấy ra một tấm thẻ tre, rạp người xuống viết. Viết một hồi, Tô Tần cẩn thận đọc lại một lượt, rồi đưa cho Tiểu Hỷ: “Nàng hãy cầm lấy cái này, từ nay trở đi, nàng cũng có thể sinh em bé được rồi!”
Tiểu Hỷ cầm lấy thẻ tre, do không biết chữ, nên chỉ mở to hai mắt nhìn tấm thẻ: “Phu quân, đây cái gì?”
“Là hưu thư!” Tô Tần bình thản nói. “Nàng hãy cầm lấy nó, ngày mai trở về nhà mẹ đẻ, bảo cha nàng gả nàng cho nhà khác!”
“Phu quân!” Tiểu Hỷ kêu lên một tiếng thảm thiết, rồi ngã xuống đất ngất lịm.
Đêm đã về khuya, đại viện nhà họ Tô đen kịt một màu.
Tô Diêu thị vẫn chưa ngủ. Bà lặng lẽ ngồi bên giường chồng, song hai tai dỏng lên, nghe ngóng mọi động tĩnh trong sân. Chiều nay, vợ Tô Đại đã thấy sữa về, Tiểu Niên Thuận sau khi bú no, đã ngủ say sưa. Những người khác cũng đều đã chìm vào giấc ngủ.
“Cha nó này,” Tô Diêu thị khẽ lay Tô Hổ, “giờ là canh mấy rồi?
“Quá canh ba rồi!”
“Vậy ư, xem ra, chuyện đã thành rồi!” Tô Diệu thị phấn khởi nói.
“Hừm!” Tô Hổ thở dài một tiếng. “Cái thằng hai này, thực khiến tôi chết không nhắm mắt!”
“Cha nó này, Tần Nhi không phải là người không biết suy nghĩ đâu!” Tô Diệu thị biện hộ giúp Tô Tần. “Mấy hôm trước nghe nói nó lấy dùi đâm đùi, tôi sợ muốn chết, cứ ngỡ nó hoá điên. Nhưng khi tới chỗ nó ở, thấy nó đang đọc sách, không có vẻ gì điên dại. Tôi hỏi nó sao lại lấy dùi đâm đùi, nó nói đâm vài cái cho đỡ buồn ngủ. Than ôi, ông thử nói xem, cả ngày Tần Nhi ngồi trong lều, chẳng làm việc gì, buồn ngủ một tí cũng có sao đâu, thế mà lại đem cả thân mình ra hành hạ, tôi nghĩ mãi mà vẫn không thông!”
“Dùi đâu?”
“Tôi đi lấy về rồi!”
“Cái thằng này, chưa thấy quan tài không đổ lệ, sự việc đã tới nước này mà vẫn không chịu bỏ cuộc, vẫn mơ giấc mơ phú quý, bà thấy có não lòng không?”
“Nếu đêm nay nó ở cùng Tiểu Hỷ, có lẽ sẽ đầu xuôi đuôi lọt, mọi việc sẽ tốt cả thôi!”
“Phải!” Tô Hổ gật đầu. “Tiểu Hỷ đã được gả cho nhà chúng ta, dù thế nào đi nữa, cũng là con dâu của dòng họ Tô. Tôi đoán rằng, thằng hai nhà mình chẳng phải thần thánh, chịu nhịn lâu như vậy, cũng phải có tính người một chút chứ. Nếu chuyện này mà thành, Tiểu Hỷ có tin vui, tôi có chết cũng nhắm mắt!”
Tô Diêu thị đang định đáp lời, chợt nghe thấy tiếng bước chân vọng lại trong sân. Tô Diêu thị biết là Tiểu Hỷ trở về, liền nín thở, chăm chú lắng nghe.
Tiếng bước chân rất đỗi nặng nề, như thể kéo lê trên đất.
Tô Diêu thị ngẩn người, nhìn sang Tô Hổ, thấy ông cũng đang dỏng tai nghe ngóng, bèn nói khẽ: “Cha nó ơi, có nghe thấy không, sao lại đi chậm thế nhỉ?”
“Hay là bị thương rồi?” Tô Hổ đăm chiêu nói.
“Phỉ phui cái mồm ông! Đều hơn hai mươi cả rồi, có phải trẻ con đâu, sao có thể bị thương được?”
“Bà nghĩ đi đâu thế?” Bạch Hổ lừ mắt nhìn vợ, giải thích. “Ý tôi nói là cái chân thọt của con bé ấy!”
Hai người nói tới đây, vừa hay Tiểu Hỷ đã trở vào đến phòng mình. Tô Diệu thị nghĩ đi nghĩ lại, thấy không yên tâm, lẳng lặng xuống giường, mở cửa phòng, đi sang phòng Tiểu Hỷ.
Cổng mở toang, Tô Diêu thị đứng sát cổng nghe ngóng, thấy từ trong phòng vọng ra tiếng khóc bi thiết, tiếp đó là tiếng xé vải soàn soạt. Tô Diêu thị đang băn khoăn không hiểu vì sao Tiểu Hỷ lại xé vải, bỗng từ trong phòng vọng ra một tiếng “kịch”, rõ ràng là tiếng vật cứng bị hất đổ xuống nền nhà. Đột nhiên, Tô Diêu thị linh cảm thấy sự chẳng lành, cuống quýt chạy bổ vào, xô cửa thật mạnh. Cửa không chốt, Tô Diêu thị mất đà lao thẳng vào phòng, thấy Tiểu Hỷ đầu chui trong thòng lọng, người treo lơ lửng trên xà nhà.
Tô Diêu thị kinh hoàng chạy lại, ôm cứng lấy hai chân Tiểu Hỷ, run rẩy kêu lên: “Con gái ơi, con ơi...” Rồi ngoảnh ra ngoài, gọi toáng lên. “Có ai không?”
Tô Diêu thị dồn hết sức tàn đỡ lấy Tiểu Hỷ, đám Tô Đại, Tô Lệ, vợ Tô Lệ nghe thấy tiếng kêu thét, đều hộc tốc chạy lại, tay năm tay mười đỡ Tiểu Hỷ xuống.
Được Tô Diêu thị đỡ kịp thời nên Tiểu Hỷ mới chỉ tím tái mặt mày, chưa đến mức tắt thở, hai tay còn nắm chặt một tấm thẻ tre. Tô Đại cầm lấy xem, hoá ra là thư thôi vợ Tô Tần viết cho Tiểu Hỷ.
Tô Diêu thị dìu Tiểu Hỷ lại bên giường, đỡ nằm xuống, không dám rời Tiểu Hỷ nửa bước, cả đêm hôm đó ở cùng Tiểu Hỷ.
Tô Đại, Tô Lệ thấy sự việc nghiêm trọng, chỉ còn biết đi tới gian nhà chính, quỳ xuống trước giường Tô Hổ, kể lại chuyện Tiểu Hỷ tự vẫn cho cha nghe. Tô Đại chần chừ một lát, rồi lôi hưu thư của Tô Tần từ trong ống tay áo ra, đặt lên mặt bàn trước giường.
Tô Hổ nhìn tấm thẻ tre, mặt mày tái xanh, thở không ra hơi. Mãi hồi lâu sau, mới dần dần bớt hổn hển, nhắm nghiền mắt lại, nước mắt giàn giụa: “Chao ôi, chưa khiến lão già này tức chết, nó không cam lòng đây mà!”
“Cha!” Tô Đại ngần ngừ một lát. “Anh hai e là...”
Tô Hổ mở choàng mắt, nhìn thẳng vào Tô Đại.
“Bên ngoài đồn thổi, anh hai... e là tẩu hoả nhập ma, hoá điên dở mất rồi!”
Tô Hổ thở dốc vài tiếng, gật đầu lia lịa, quay sang Tô Lệ: “Lệ Nhi!”
Tô Lệ đáp lời: “Có con!”
“Than ôi!” Tô Hổ thở dài một tiếng. “Xem ra, thằng hai bị bệnh thực rồi. Đợi khi trời sáng, con hãy tới vương thành một chuyến, mời một thầy lang chuyên trị bệnh điên về đây. Nói gì thì nói, có bệnh cũng phải chữa trị.”
“Cha yên tâm, đợi trời sáng, Lệ Nhi sẽ đi ngay.”
Sáng hôm sau, Tô Lệ dậy rất sớm, mang theo lương khô, rời thôn đi tới vương thành.
Vừa qua Y Thuỷ, Tô Lệ gặp ngay cầm sư mới rời khỏi quán trà ở ấp Hà Nam đi lại. Cầm sư lê bước khó nhọc, càng đi càng chậm, rồi đột nhiên loạng choạng, suýt nữa ngã nhào. Tô Lệ vội bước lại, đỡ lấy cầm sư.
Cầm sư hai tay run rẩy, dường như đi không nổi nữa. Tô Lệ đỡ ông ngồi xuống bờ đê bên cạnh, khẽ hỏi: “Cụ ơi, cụ không sao chứ?”
Cầm sư nhìn Tô Lệ, lắc đầu.
Tô Lệ lấy ra một chiếc bánh nướng từ trong túi: “Cụ ơi, hẳn là cụ đói rồi! Cụ ăn bánh nhé!”
Cầm sư lại nhìn Tô Lệ, gật gật đầu, hai tay run rẩy đỡ lấy chiếc bánh, cắn ngay một miếng. Tô Lệ tháo bầu nước bên hông xuống, mở nắp đưa cho cầm sư: “Cụ ơi, hãy uống chút nước cho khỏi khô miệng.”
Cầm sư uống liền vài ngụm, thấy đã đỡ hơn, bèn vòng tay vái tạ Tô Lệ: “Lão hủ xin đa tạ!”
Tô Lệ vòng tay đáp lễ, thấy cầm sư già yếu run rẩy, lại bê trong lòng một chiếc hộp lớn, bèn lo lắng hỏi: “Cụ ơi, cụ đi đâu thế?”
“Lão hủ muốn tới thôn Hiên Lý, nghe nói qua Y Thuỷ là tới!”
Tô Lệ chỉ về thôn Hiên Lý nằm chênh chếch phía nam bờ sông, nói: “Cụ ơi, cụ nhìn kìa, đó chính là thôn Hiên Lý!”
Cầm sư nhìn về phía đó, gật đầu: “Cảm ơn anh!”
Tô Lệ nhìn dòng Y Thuỷ sau lưng, lại nhìn cầm sư, ái ngại nói: “Cụ ơi, mùa này nước nông, không có đò chở sang sông, nước lạnh lắm, để cháu đưa cụ qua sông!”
Cầm sư lại vòng tay vái tạ mà nói: “Anh bạn trẻ, đa tạ!”
Cầm sư cắn vài miếng bánh, uống mấy ngụm nước, rồi Tô Lệ ôm giúp ông hộp đàn, dìu ông bước xuống bờ đê, tới bên mép nước. Tô Lệ cởi giày, xắn ống quần, cõng cầm sư trên lưng, tay cầm hộp đàn, lội xuống nước. Do là tháng hai, nước sông tuy lạnh, song rất nông, chỗ sâu nhất cũng không quá đầu gối. Loáng một cái, Tô Lệ đã cõng cầm sư sang đến bờ kia.
Sau khi qua sông, Tô Lệ định lội trở sang, song vẫn thấy không yên tâm với cầm sư, ngẫm nghĩ một lát, thấy thôn Hiên Lý cũng đã tới rồi, làm người tốt thì làm cho trót, nên quyết định đưa ông cụ tới nơi ông muốn đến, rồi đến vương thành cũng chưa muộn.
Nghĩ là vậy, Tô Lệ xỏ giày vào chân, vòng tay nói: “Cụ ơi, cụ muốn tới nhà ai, vãn bối sẽ đưa cụ đi!”
Cầm sư vô cùng cảm kích, vòng tay đáp lễ rồi nói: “Lão hủ muốn hỏi anh, trong thôn này phải chăng có một vị Tô sĩ tử?”
Thôn Hiên Lý chỉ có duy nhất nhà Tô Lệ họ Tô. Tô Lệ nghe vậy, đoán ngay người cầm sư muốn hỏi là Tô Tần, bèn vòng tay nói: “Người cụ muốn hỏi, phải chăng tên gọi Tô Tần?”
Cầm sư khẽ gật đầu.
“Thật trùng hợp, Tô Tần chính là em trai của vãn bối.”
Cầm sư ngẩn ra một thoáng, rồi mừng rỡ nói: “Quả là trùng hợp! Nghe nói Tô sĩ tử mắc bệnh, có chuyện này chăng?”
Tô Lệ thoáng ngạc nhiên, đưa mắt nhìn cầm sư, rồi gật đầu: “Đúng vậy. Em trai vãn bối bị bệnh, vãn bối đang định tới vương thành tìm thầy lang về chữa trị.”
“Là bệnh gì vậy?”
Tô Lệ chỉ vào tim, lại chỉ vào đầu: “Hẳn là đầu óc có vấn đề, đoán là bệnh điên khùng. Vậy còn cụ, cụ là...”
“Ồ!” Cầm sư cười nói. “Nếu là bệnh này, anh không phải đi tìm nữa. Lão hủ tới đây, chính là để trị bệnh cho Tô sĩ tử!”
Tô Lệ mừng rỡ, lập tức quỳ xuống, lạy cầm sư liền mấy lạy: “Vãn sinh thay mặt em trai tạ ơn cụ!”
“Tô sĩ tử hiện ở đâu?”
“Ở túp lều bên bãi đập lúa phía bắc thôn. Cụ ơi, hãy tới nhà cháu uống chút canh nóng đã, rồi tới trị bệnh cho Tô Tần cũng chưa muộn.”
“Không được!” Cầm sư lắc đầu nói. “Lão hủ muốn nói với anh rằng, muốn trị bệnh cho Tô sĩ tử, phải làm giúp lão hủ một chuyện.”
“Xin cụ cứ nói!”
“Không được nói với người nhà, cũng không được nói với Tô sĩ tử! Anh chỉ cần nói cho lão biết túp lều của Tô sĩ tử ở đâu là được rồi!”
Tô Lệ ngẩn ra một thoáng, rồi gật đầu nói: “Vãn bối xin nghe theo cụ!”
Trong túp lều bên bãi đập lúa, Tô Tần ngồi dưới đất, đắm chìm trong suy nghĩ.
Trước mặt Tô Tần là một bát sành đựng đầy cháo, bên trên đặt hai chiếc bánh bao và hai cọng hành lớn. Bánh bao và cháo đều đã nguội tanh nguội ngắt.
Con Mực ngồi chồm hỗm cách Tô Tần không xa, mắt hau háu nhìn vào chiếc bánh bao.
Tô Tần từ từ mở mắt: “Này Mực!”
Con Mực sủa lên một tiếng mừng rỡ, vẫy đuôi chạy lại.
“Ngồi xuống!”
Con chó ngoan ngoãn ngồi xuống.
“Ta nói cho chú mày biết, ta đã nát óc suy nghĩ mấy ngày nay, giờ đã nghĩ thông rồi. Thuyết Tần không thành, lại chưa hẳn không phải là chuyện tốt!”
Con Mực sủa lên mấy tiếng, nghiêng mắt nhìn Tô Tần.
“Sao? Mày không hiểu ư? Ta biết mày không hiểu, chẳng phải ta đang nói với mày đấy ư? Ghé sát tai lại đây, nghe này!”
Con Mực vẫn nghiêng đầu nhìn Tô Tần.
“Khi ở Quỷ Cốc, tiên sinh từng nói, trị thế bắt đầu từ trị tâm, trị tâm bắt đầu từ trị loạn. Thiên hạ hôm nay, chỉ có hai cách trị loạn, hoặc là thiên hạ nhất thống, hoặc là chư hầu hoà thuận. Chư hầu trong thiên hạ mỗi người đều có dã tâm, muốn họ hoà thuận là rất khó. Do vậy, ta và Trương Nghi đều chủ trương nhất thống. Quan sát thiên hạ, thấy rằng có thể thành công, duy có nước Tần. Ta vốn muốn giúp Tần Công hoàn thành đại nghiệp, song vừa rồi tới Hàm Dương, đã khiến ta như mộng chợt tỉnh. Mực này, mày có biết nguyên do vì đâu không?”
Con Mực lại sủa lên vài tiếng.
Tô Tần phóng mắt nhìn ra phía cửa lều, khẽ lẩm bẩm trong miệng: “Người Tần sùng chuộng vũ lực, nên lựa chọn trị nước theo pháp của Thương Quân. Pháp của Thương Quân quá ư hà khắc, không thực thi giáo hoá, không có chút tình thương. Một nước ỷ sức cậy mạnh như vậy, dù có nhất thống thiên hạ, cũng sẽ dùng bạo lực để trị quốc. Trị quốc bằng bạo lực, ắt không thi hành thiên đạo. Không thi hành thiên đạo, sao có thể thuyết phục lòng người? Thiên hạ nhất thống mà lòng người không phục, thì nhất thống cũng có ích gì đâu?”
Con Mực ve vẩy đuôi, mắt nhìn chằm chằm vào hai chiếc bánh bao đặt trên bát cháo, lưỡi thè ra ngoài, nước dãi chảy ròng ròng. Tô Tần cầm lên một chiếc bánh bao, ném cho nó. Con Mực há miệng táp ngay lấy, mừng quýnh vẫy tít đuôi chạy lại phía Tô Tần.
Tô Tần nhìn con chó, cười buồn một tiếng, lắc đầu nói: “Hừm, mày đúng là đồ tham ăn! Đường nhất thống đã đi không thông, mày bảo ta nên làm thế nào? Chư hầu trong thiên hạ ai ai cũng giống mày, chỉ một khúc xương đã đủ để họ xâu vào cắn xé, làm thế nào mới có thể xoá bỏ lòng tham, để họ thoả hiệp, hoà giải, sống hoà mục với nhau, mà không tranh giành xâu xé? Hoặc chí ít khiến họ tạm gác bỏ chuyện tranh giành, hạ đao buông kiếm, bình tâm tĩnh khí cùng ngồi bàn kế tương lai?”
Con Mực chẳng còn để ý tới Tô Tần, ngoạm cái bánh bao ăn lấy ăn để.
Tô Tần khẽ thở dài, lắc đầu, lại ngồi xuống, nhắm mắt, tiếp tục chìm vào suy nghĩ.
Màn đêm buông xuống, ánh sao lấp lánh đầy trời, trăng lưỡi liềm chênh chếch.
Tô Tần đang mải miết suy tư, đột nhiên, có một tiếng đàn từ phía xa vẳng lại, sau đó lại im lìm như cũ. Tuy chỉ là một tiếng, song đã khiến Tô Tân thân tâm run rẩy, vội vã nín thở lắng nghe. Một lát sau, tiếng đàn theo gió phảng phất bay tới, lúc có lúc không, lúc xa lúc gần, lúc cao lúc thấp, như run rẩy, như chơi vơi, như tơ như lụa, như làn gió mát rượi thổi vào tận phế phủ, thấm đến tận tim gan.
Vành tai Tô Tần như khẽ rung lên, toàn bộ thân tâm đều chìm đắm trong tiếng đàn kỳ diệu.
Một lát sau, tiếng đàn bỗng nhiên chuyển điệu, như khóc lóc như giãi bày, bi thương tột đỉnh.
Cùng với tiếng đàn như có như không, thoắt ẩn thoắt hiện, trước mắt Tô Tần dần dần hiện ra từng cảnh tượng sống động.
Trên cánh đồng bất tận, ruộng vườn nứt nẻ, gió Bắc ào ào lạnh buốt; một lão nghệ nhân dạn dày sương gió lê từng bước chân nặng nề, sau lưng cõng theo một cây cổ cầm, nhọc nhằn tiến bước.
Trên đồi đất vàng quạch, một người đàn bà gầy đét như que củi đang cắm cúi đào rau dại; đầu thôn, một thằng bé choai choai dẫn theo vài đứa em cả trai lẫn gái khóc mếu vì đói, đứng trên đồi cao, khắc khoải ngóng mẹ trở về.
Đầu thôn, hai người một già một trẻ áo quần tả tơi gõ cửa từng nhà ăn xin, cứ tới trước cửa nhà ai, họ lại quỳ xuống, dập đầu lia lịa.
Một nàng dâu bụng chửa vượt mặt nhìn tấm bài vị mới tinh của chồng trên bàn thờ, khóc ngất dưới đất.
Mấy cụ già đẩy bật một cánh cửa cũ kỹ, từ bên trong khiêng ra một thi thể già nua cô độc chết đã nhiều ngày.
Trong chợ, hai đứa bé gái mới lớn lưng cắm cọng rơm khô, một người đàn bà đứng cạnh, đưa tay lau nước mắt.
Trên chiến trường, xác chết ngổn ngang, không ai chôn cất, từng bầy quạ sà xuống lượn vòng quanh, rào rào đậu xuống các thi hài, cất tiếng kêu xé tai, tranh nhau mổ xác.
Trên bãi đất trống trong thôn, lý chính trưng binh, người trong thôn tụ về, đa phần là người già, đàn bà trẻ nít. Lý chính đọc tên, những người bước ra hầu hết đều là trẻ choai choai hoặc người già đã qua sáu chục...
Đúng lúc những suy tưởng của Tô Tần đang miên man bất định theo tiếng đàn bi thiết thê lương, bỗng dội lên một tiếng vang sầu thảm như xé gan xé ruột, rồi thình lình ngưng bặt.
Tô Tần giật mình kinh hãi, mở choàng mắt, gọi lớn: “Tiên sinh! Tiên sinh ơi!” Rồi cuống cuồng đứng dậy, xô cửa lao ra, chạy về phía bãi đập lúa, hướng về phía đồng ruộng mênh mông, gọi thất thanh. “Tiên sinh... Tiên sinh...”
Xung quanh lặng ngắt như tờ, dường như tiếng đàn vốn không hề tồn tại.
Con Mực hình như đã hiểu ra Tô Tần đang muốn tìm gì, bèn lao ra ngoài, sủa lên ông ổng, rồi chạy vụt về một hướng. Tô Tần vội bám theo con Mực, vừa chạy vừa hét lớn: “Tiên sinh, tiên sinh! Tiên sinh đang ở đâu?”
Đáp lại lời gọi, chỉ có tiếng gió rít và tiếng sủa của con Mực đang chạy phía trước. Tô Tần sải rộng bước chân, chạy theo con chó như phát cuồng. Chạy được một lúc, đột nhiên lại nghe thấy tiếng dây đàn “tưng” một nhịp ở phía trước, rồi lại im lìm như cũ.
Con Mực càng sủa dữ hơn.
Tô Tần cuống cuồng chạy về phía trước, được chừng vài dặm thì tìm thấy cầm sư bên bờ Y Thuỷ.
Trên đỉnh dốc đất bên bờ đê, cầm sư hai tay đặt trên mặt đàn, đang ngồi nghiêm trang sừng sững.
Tô Tần thả lỏng bước chân, khi còn cách cầm sư vài bước, bèn quỳ phục xuống, lạy liền mấy lạy, gọi khẽ: “Tiên sinh!”
Cầm sư ngồi im bất động, không đáp.
“Tiên sinh!” Tô Tần lại gọi một tiếng, song cầm sư vẫn không hề nhúc nhích.
Tô Tần đứng dậy, tiến lên vài bước, lại quỳ xuống, dập đầu nói: “Vãn sinh Tô Tần khấu kiến tiên sinh!”
Vẫn không có tiếng trả lời.
Tô Tần lặng đi một lát, rồi lết bằng đầu gối tới trước mắt cầm sư, thấy cầm sư nhắm nghiền hai mắt, đã ngừng thở. Tiếng “tưng” trầm đục vừa nãy, có lẽ chính là tiếng đàn tuyệt mệnh mà ông đã gom hết chút sức tàn sau cuối để gảy nên.
Tô Tần quỳ dưới đất, khóc nức nở: “Tiên sinh!”
Mảnh trăng lưỡi liềm cong vút lơ lửng phía trời tây. Gió đêm lồng lộng, song không hề mang chút hơi lạnh lẽo.
Tô Tần nhìn khắp tứ phía, thấy địa thế nơi này cao nhất, dòng sông đến đây lượn thành một vòng cung rộng lớn, nhìn xuống lòng sông, thấy mênh mông vời vợi, nhìn sang bên cạnh, có hai cây cổ thụ và mấy bụi gai, thực đúng là một chốn phong thuỷ bảo địa.
Tô Tần biết, đây là nơi yên nghỉ cuối cùng mà cầm sư đã tự chọn cho mình, bèn đứng dậy, lầm lũi về nhà, mang xẻng sắt ra, bắt đầu đào đất trên đỉnh dốc.
Trăng lưỡi liềm đã lặn, trời đất lờ mờ, gió lạnh hiu hắt.
Tô Tần cứ thế đào mải miết, cho đến khi hố sâu hơn trượng mới leo trở lên, xốc cầm sư, đặt xuống dưới huyệt, tiếp đến lại đặt cây cổ cầm cũ kỹ đã theo ông suốt bấy nhiêu năm trước mặt ông, để ông mãi mãi trong tư thế gảy đàn.
Tô Tần vẫn dưới huyệt mộ, hướng về cầm sư lạy liền ba lạy, sau đó nhảy lên trên, xúc từng xẻng đất lấp xuống huyệt.
Tới lúc phương đông chuyển màu trắng bạc, một nấm mộ mới đã mọc lên trên dốc đồi bên sông.
Tô Tần quay trở lại lều, tìm một tấm gỗ, mài mực lấy bút, trịnh trọng viết lên năm chữ “Thiên hạ đệ nhất cầm”, sau đó mang ra, cắm trên ngôi mộ.
Làm xong tất cả những việc này, Tô Tần quay mặt vào tấm bia gỗ, lại quỳ xuống, nói với cầm sư: “Tiên sinh, đây chính là nơi tiên sinh đã lựa chọn, xin tiên sinh hãy yên nghỉ!” Quỳ lặng một hồi, lại lạy ba lạy, giọng nói nghẹn ngào. “Tiên sinh, những lời tiên sinh muốn nói, Tô Tần đều đã hiểu rồi! Những điều tiên sinh trông thấy, Tô Tần đều đã thấy rồi! Những điều tiên sinh nghe thấy, Tô Tần đều đã nghe rồi!”
Tô Tần lại lạy thêm mấy lạy nữa, rồi từ từ đứng dậy, quay người bước đi. Song vừa đi được vài bước, bỗng từ phía sau, một cơn gió ào ào thốc tới, tiếp đến nghe “cạch” một tiếng rất vang. Con Mực dường như đã cảm nhận thấy gì đó, sủa lên ăng ẳng. Tô Tần kinh sợ, quay đầu lại nhìn, thì thấy tấm bia gỗ vừa dựng đã bị một cơn gió xoáy thình lình cuốn bật lên, quăng đi rất xa.
Thấy con Mực vẫn sủa rối loạn, Tô Tần bèn quát nó im miệng, kinh hãi bước lại, nhặt tấm bia gỗ lên, rồi hướng về cơn gió xoáy đã cuốn đi xa, vái sâu một vái: “Tiên sinh, người bất tất phải quá ư khiêm tốn! Tối qua Tô Tần đã nghe rồi, thật xứng danh là thiên hạ đệ nhất cầm, dù là Quỷ Cốc tiên sinh, cũng không thể gảy hay hơn thế!” Nói đoạn, trở lại trước mộ, cắm tấm bia vào chỗ cũ, lại lạy mấy lạy.
Tô Tần còn chưa kịp đứng dậy, lại một cơn gió xoáy còn mạnh hơn trước thình lình thốc tới, cuốn quanh tấm bia. Do Tô Tần cắm rất sâu, nên tấm bia gỗ chưa bị thổi bật, song cũng vẹo sang một hướng. Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, ngẩng đầu nhìn quanh, thấy cách đó không xa có một cành cây khô to cỡ quả trứng gà, bèn bước lại nhặt lấy.
Tô Tần cầm theo cành cây, bước lại trước tấm bia gỗ, ước lượng một lúc, nắm chặt hai đầu, tì đầu gối vào giữa ấn mạnh. “Rắc” một tiếng, cành cây gãy làm đôi.
Tô Tần mỗi tay cầm một khúc cây, đang cân nhắc xem nên dùng đoạn nào chống tấm bia gỗ thì thích hợp. Chợt trong đầu loé lên một ý, vội vã đứng dậy, chập hai đoạn cành cây vừa bẻ với nhau, tì đầu gối vào giữa thúc mạnh. Đầu gối đau điếng, Tô Tần vội đưa tay ôm lấy gối, luôn miệng xuýt xoa, song hai khúc cành cây vẫn trơ trơ như cũ.
Tô Tần lại đứng ngẩn ngơ một hồi, rồi bỗng mừng rỡ khôn tả, ném một khúc cây đi, chỉ giữ lại một khúc, vừa bẻ đã gãy làm đôi. Tô Tần như hoá rồ, vội đi tìm khắp xung quanh, nhặt nhạnh về một đống cành khô lớn nhỏ đủ cỡ, lại lặp lại động tác vừa rồi. Trước hết bẻ một cành làm đôi, rồi chập hai đoạn lại bẻ, rồi chập ba đoạn lại bẻ, lại chập bốn đoạn, rồi chập năm đoạn. Dù là cành cây nhỏ nhất, chỉ cần chập lại với nhau, sức mạnh sẽ tăng lên gấp đôi. Chập tới một mức độ nhất định, có gắng đến mấy cũng không tài nào bẻ gãy.
Trong lòng Tô Tần bỗng chốc sáng bừng, mọi u mê những ngày qua bỗng chốc tan biến sạch không.
Đúng vậy, một cành dễ bẻ, một tay khó vỗ, thường thức này đến một đứa trẻ lên ba cũng biết. Tuy nhiên, chính đạo lý bình dị đó đã khiến Tô Tần bỗng chốc ngộ ra đạo trị lý thiên hạ. Tô Tần phấn chấn bê cả bó cành cây khô vừa bẻ vụn, dồn sức tung thẳng lên không trung. Các đoạn cành cây theo gió rơi xuống tứ tung xung quanh ngôi mộ.
Tô Tần từ từ quỳ xuống, hướng về phía ngôi mộ, dập đầu lạy mấy lạy: “Tạ ơn tiên sinh đã chỉ cho con đạo lý thiên hạ hoà thuận!”
Bái xong, Tô Tần đứng dậy, cầm lấy xẻng đào bới đất mới trên mộ, chôn sâu tấm bia gỗ “Thiên hạ đệ nhất cầm” xuống dưới, sau đó lại cẩn thận vùi đất lấp chặt.
Tô Tần ngắm nghía một hồi, thấy đã hài lòng, lại quỳ xuống, bái lạy mà nói: “Tiên sinh, dù có Quỷ Cốc tiên sinh ở đây, cũng sẽ đồng ý với danh hiệu trên tấm bia này. Song tiên sinh đã không muốn phô trương, vãn sinh cũng xin nghe theo mong muốn của tiên sinh, chôn tấm bia này sâu trong lòng đất, để nó mãi mãi đi theo tiên sinh.”
Tô Tần lại quỳ hồi lâu trước mộ cầm sư, sau đó đứng dậy, phủi sạch tay, rồi sải bước dõng dạc, lòng tràn đầy tự tin, đi thẳng vê phía thôn xóm cách đó không xa.
Tô Tần đầu bù tóc rối song vẻ mặt rạng rỡ bước vào trong thôn, con Mực nhảy loi choi hết trước lại sau. Một đám trẻ đang chơi đùa ở bên rìa thôn, thằng bé lớn nhất nhìn thấy Tô Tần từ xa tiến lại, thì gào toáng lên: “Chạy mau chạy mau, gã điên đến rồi!”
Đám trẻ nhìn thấy Tô Tần, bỏ chạy tán loạn, duy có Thiên Thuận đứng nghệt tại chỗ, e dè nhìn Tô Tần.
Con Mực lao vọt lại, rối rít chạy quanh Thiên Thuận. Cậu bé không để ý tới nó, chỉ nhìn Tô Tần không chớp mắt. Tô Tần bước lại gần, ngồi xuống, dang hai tay gọi khẽ: “Thiên Thuận!”
“Chú hai!” Thiên Thuận tiến lên một bước, rụt rè gọi khẽ.
Tô Tần mỉm cười, rồi bế cậu bé lên: “Thiên Thuận, đi nào, cùng chú hai về nhà!”
Thằng bé lúc nãy chạy như bay tới nhà họ Tô, vừa chạy vừa gào lên lạc giọng: “Nguy rồi, gã điên bế mất Thiên Thuận đi rồi!”
Song Địa Thuận, đứa em gái họ và hai đứa trẻ khác không sợ Tô Tần, chúng bám theo phía sau ở khoảng cách không gần cũng không xa.
Tô Tần bế theo Thiên Thuận còn chưa về tới nhà, hàng xóm láng giềng đã chạy đến vây kín, song không ai nói gì, chỉ mở to mắt nhìn chằm chằm vào hai chú cháu. Tô Lệ, Tô Đại đang sửa chữa nông cụ trong sân, hay tin cũng vội chạy ra khỏi cổng, chưa kịp nói câu nào thì vợ Tô Lệ đã từ dưới bếp xông ra, nhìn thấy Tô Tần đang bế Thiên Thuận trên tay, thì khựng lại, rồi “phịch” một cái quỳ sụp xuống đất, mặt mày xanh lét lắp ba lắp bắp: “Chú hai, chú... chú đừng... Thiên Thuận, mau... mau lại đây!”
Thiên Thuận thấy mẹ tự dưng quỳ xuống, không hiểu xảy ra chuyện gì, bèn trượt xuống khỏi tay Tô Tần, chạy về phía mẹ. Vợ Tô Lệ thấy vậy, lập tức đâm bổ tới, bế thốc Thiên Thuận vào lòng, như thể cậu bé vừa thoát khỏi miệng hùm.
Tô Tần nhìn chị ta, rồi ung dung bước lại, vòng tay vái chào Tô Lệ: “Anh cả!”
Tô Lệ thấy bệnh điên của em đã hết, bèn vòng tay đáp lễ: “Em hai!” Đột nhiên nhớ tới cụ già hôm trước, vội hỏi. “Ông cụ đâu rồi?”
“Ông cụ?” Tô Tần biết anh cả đang nói tới cầm sư, bèn hỏi lại. “Sao anh biết ông ấy?”
Tô Lệ ngẩn ra một lúc, rồi đành phải nói thực: “Là anh đã cõng cụ ấy qua sông tới đây!”
“Đa tạ anh cả!” Tô Lệ lại vòng tay vái Tô Lệ một vái thật sâu, rồi đau buồn mà nói. “Cụ ấy... đi rồi!”
“Em hai!” Tô Lệ lo lắng. “Sao em lại để cụ ấy đi? Cụ ấy vì em hai mà tới đây chữa bệnh, nay em khỏi bệnh rồi, dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải cảm tạ người ta chứ!”
Tô Tần cúi đầu, lặng lẽ đi vào trong sân.
Vợ Tô Lệ hoài nghi liếc nhìn Tô Tần, một tay kéo Thiên Thuận, một tay kéo Địa Thuận, tránh sang chỗ khác. Tô Đại cũng nhận thấy Tô Tần đã bình thường trở lại, vội đuổi theo hai bước, mừng rỡ nói: “Anh hai, em báo cho anh một tin vui!”
Tô Tần vòng tay chúc mừng: “Em ba sinh được quý tử, anh hai xin chúc mừng!”
Tô Đại vô cùng ngạc nhiên: “Anh hai, sao... sao cái gì anh cũng biết?”
“Đúng vậy!” Tô Tần mỉm cười nói. “Hôm qua còn không biết, hôm nay cái gì cũng biết!”
Thấy Tô Tần đã khỏi bệnh hoàn toàn, Tô Diêu thị mừng vui khôn xiết, đứng ở cửa bếp đưa vạt áo lên chùi nước mắt.
Tô Tần bước lại, quỳ xuống, khấu đầu gọi: “Mẹ!”
Tô Diêu thị khóc mà nói: “Tần Nhi, cuối cùng con đã trở về rồi!”
“Mẹ!”
Tô Diêu thị bèn kéo Tô Tần dậy: “Tần Nhi, mau lên, vào thăm cha con đi!”
Tô Tần gật đầu, bước vào gian nhà chính, vén rèm cửa, tới bên giường Tô Hổ, từ từ quỳ xuống.
Hơn một tháng không gặp, Tô Hổ đã già sọm đi, xanh xao thấy rõ, hai mắt đã mất hẳn vẻ tinh anh, thay vào đó là sự đờ đẫn mệt mỏi.
Tô Tần lạy liền mấy lạy: “Con bất hiếu Tô Tần khấu kiến cha!”
Tô Hổ từ từ di chuyển ánh mắt tới Tô Tần, khẽ gật đầu, nói với Tô Diêu thị đứng ở phía sau: “Đun nước nóng cho Tần Nhi tắm rửa!”
Tô Diêu thị “vâng” một tiếng, rồi lau nước mắt quay ra.
Chỉ một lời nói, Tô Tần chợt cảm nhận được sâu sắc tình yêu của cha, trong lòng xúc động, tròng mắt đỏ hoe, run giọng gọi: “Cha!”
Tô Hổ nhìn Tô Tần đăm đăm, tựa như muốn xuyên thấu lục phủ ngũ tạng: “Hình như, con lại sắp đi rồi?”
Tô Tần ngập ngừng một lát, rồi dứt khoát gật đầu.
Tô Hổ ngoảnh mặt sang một bên, hồi lâu mới cất giọng trầm đục hỏi: “Đi đâu?”
“Hàm Đan!”
Lại im lặng một hồi lâu nữa, rồi Tô Hổ khẽ thở dài, nói: “Than ôi, hoài bão của con, cha đã không thể lay chuyển!” Rồi đưa bàn tay còn có thể cử động, gắng sức lần tìm dưới gối, lôi ra một bản khế đất, chìa ra. “Đây là hai mươi mẫu ruộng cạn, cha không còn sức cấy cày, con cầm lấy đi!”
Tô Tần kinh hãi nhìn cha, không dám tin là sự thực.
Tô Hổ nhắc lại: “Cầm lấy đi!”
Tô Tần đưa hai tay đỡ lấy bản khế đất, cẩn thận gấp lại, trả về cho cha, lại lạy Tô Hổ ba lạy.
Tô Hổ ngạc nhiên nhìn Tô Tần: “Tần Nhi, không một xu dính túi, không thể đi được. Hàm Đan xa xôi nghìn dặm, con ra đi với hai bàn tay trắng, sao có thể thành công?”
“Cha yên tâm!” Tô Tần kiên định nhìn cha. “Lần này ra đi, tuy Tô Tần hai bàn tay trống rỗng, song trong lòng đầy đặn. Hàm Đan dù có xa hơn thế nữa, chỉ cần Tần Nhi còn có hai chân, nhất định sẽ đi tới nơi!”
Tô Hổ trầm ngâm hồi lâu, rồi nhét tờ khế đất xuống dưới gối, khẽ gật đầu nói: “Được rồi, con không muốn cầm thì cha sẽ tạm cất đi. Bất cứ lúc nào, nếu như con hoàn toàn bỏ cuộc, chút ruộng cỏn con này vẫn sẽ thuộc về con!”
“Cha!” Tô Tần nghẹn ngào.
“Than ôi!” Tô Hổ thở dài một tiếng. “Tần Nhi, cha...” Mắt nhìn Tô Tần, muốn nói lại thôi.
Tô Tần mở to mắt nhìn cha.
Tô Hổ cười buồn bã, lắc đầu: “Thôi, không nói nữa!”
Tô Tần biết, lần này ra đi, rất có thể sẽ không còn cơ hội gặp lại cha nữa, trong lòng càng thêm đau xót, nước mắt cứ thế chảy dài, sụt sùi mà nói: “Cha, lòng cha đang nghĩ gì, cha hãy nói ra đi! Tần Nhi sẽ mang theo nó suốt dọc đường, để sớm tối có điều tưởng nhớ.”
“Than ôi!” Tô Hổ khẽ lắc đầu. “Tần Nhi, canh năm vừa qua, cha lại một lần nữa mơ gặp thiên tử. Thiên tử mỉm cười, ung dung bước tới trước mặt cha, đích thân đỡ cha dậy, khen cha giỏi việc nhà nông. Con thử nói xem, cha...” Lại cười một tiếng buồn bã.
Tô Tần khóc lớn mà nói: “Cha, Tần Nhi xin cha hãy đợi thêm ba năm nữa. Sau ba năm, Tần Nhi nhất định sẽ quay lại đón cha, đưa cha vào cung, bái kiến Chu thiên tử!”
“Quả là một giấc mộng đẹp!” Tô Hổ lại cười buồn bã, hai hàng lệ đục lăn trào qua khoé mắt nhăn nheo, ngần ngừ hồi lâu, rồi gật đầu nói. “Tần Nhi, con... đi đi!”
Tô Tần bước ra khỏi cửa phòng cha. Tô Đại đã chuẩn bị nước nóng xong xuôi, bảo Tô Tần đi tắm gội.
Tô Tần tắm xong, bước ra khỏi thùng tắm, mặc vào bộ trang phục sĩ tử của mình, tuy cũ kỹ song đã được Tiểu Hỷ giặt sạch sẽ. Bước ra sân, thấy người thợ cắt tóc trong thôn đã đứng đợi sẵn dưới gốc cây xuân, không hiểu Tô Lệ đã lặng lẽ đi gọi tới từ lúc nào.
Trước sau không đầy nửa canh giờ, diện mạo Tô Tần đã hoàn toàn thay đổi từ đầu tới chân.
Tô Diêu thị bưng bữa sáng lại, Tô Tần ăn vội ăn vàng, chuẩn bị lương khô, lục tìm bó thẻ tre Quỷ Cốc Tử tặng trước lúc ra đi và các vật dụng cần thiết, gói ghém gọn gàng trong tay nải, sau đó vào trong gian nhà chính chào từ biệt Tô Hổ, rồi lại đến từng phòng từ biệt Tô Diêu thị, Tô Lệ, Tô Đại, cảm tạ mọi người xong xuôi, đang định quay người bước đi, đột nhiên nhìn thấy Tiểu Hỷ xách theo một cái túi, tập tễnh từ trong phòng bước ra.
Tô Tần chợt nhớ mình vẫn chưa chào từ biệt Tiểu Hỷ, thì ngượng ngùng nhìn nàng.
Tiểu Hỷ bước tới trước mặt Tô Tần, quỳ sụp xuống đất, cúi gằm mặt, không nói nửa lời, chỉ nâng cái túi lên quá đỉnh đầu.
Tô Tần kinh ngạc nhìn sững vào cái túi. Một lát sau, mới nhận lấy, mở ra xem, thấy bên trong là hai đôi giày vải mới khâu và một túi tiền thêu hình long phượng, bên trong đựng hơn trăm đồng tiền Đại Chu.
Tô Tần không nén nổi kinh ngạc hỏi: “Số tiền này ở đâu mà có?”
Tiểu Hỷ cất giọng lí nhí: “Là Tiểu Hỷ dệt vải nuôi tằm, gom góp từng đồng một!”
Nhìn người con gái chất phác chỉ thuộc về mình trên danh nghĩa kia, Tô Tần trong lòng cuộn lên một niềm thương xót, thở dài một tiếng não nề, rồi mở tay nải, bỏ cái túi vào trong, buộc lại như cũ, sau đó sải bước đi luôn.
Khi ra tới cổng, Tô Tần chợt quay đầu lại, thấy Tiểu Hỷ vẫn đang quỳ dưới đất, bèn lớn giọng nói: “Nàng ơi... hãy nghe đây, Tô Tần kiếp này nợ nàng, kiếp sau sẽ trả!”
Nói đoạn, quay đầu bước đi vài bước, lại vòng trở lại, nhìn Tiểu Hỷ một lần nữa, rồi vỗ nhẹ lên con Mực nãy giờ vẫn không rời mình nửa bước: “Còn nữa, vì hai đôi giày mới này của nàng, vì nàng là một người con gái tốt, Tô Tần đã chấp nhận nàng! Nghe này, con Mực chính là Tô Tần, nàng hãy ở yên trong nhà, sớm tối bầu bạn cùng nó, chịu khó chăm sóc cha, trông nom mẹ, thay Tô Tần báo hiếu!”
Tiểu Hỷ lại lạy thêm mấy lạy, liên tiếp gật đầu, hai mắt đẫm lệ nhìn theo bóng Tô Tần được Tô Lệ, Tô Đại và con Mực tiễn đưa, dần mất hút bên ngoài cổng, tiếng bước chân hỗn độn bên tai mỗi lúc một nhỏ dần.
Hồi Thứ 34
Bày kế trong kế, Trương Nghi diệt nước Việt
Hiến mưu trên mưu, Trần Chẩn giúp họ Chiêu
Nghe theo lời xúi giục của Trương Nghi, Việt Vương Vô Cương bỏ Tề phạt Sở, khí thế tựa cầu vồng, thân chinh dẫn hai mươi mốt vạn đại quân thuỷ lục ào ào tiến lên theo dòng Giang Thuỷ, vượt qua Vân Thuỷ, áp sát Hán Thuỷ. Ba tháng trước, người Việt ỷ vào thuỷ quân hùng hậu, nghĩ rằng mình có hàng trăm thuyền lương thảo, lại thêm thuỷ quân tinh nhuệ, nên chẳng sợ gì, khí thế hừng hực muốn vượt qua Hán Thuỷ, bắt lấy Sở Vương Hùng Thương trên núi Nội Phương. Sở Vương đã điều động mười một vạn đại quân của Khuất Vũ xây dựng thành luỹ kiên cố dọc bờ Hán Thuỷ, dựa vào địa thế bày trận trường xà chữ nhất, canh phòng cẩn mật suốt ngày đêm, thuyền của người Việt dù muốn tập kích lên bờ chỗ nào cũng vấp phải đòn phản công quyết liệt.
Người Việt đột kích suốt mấy tháng trời, tổn thất tới hàng vạn binh và hơn chục tướng, song vẫn không thể đột phá dù là gang tấc. Hiện giờ sắp sang thu, lương thảo đã cạn kiệt, Vô Cương sai Nguyễn Ứng Long dẫn thuỷ quân ra Hạ Khẩu vận chuyển lương thực, song phát hiện ra Hạ Khẩu đã bị người Sở chiếm giữ. Hạ Khẩu là cửa sông nơi Hán Thuỷ chảy vào Giang Thuỷ, lòng sông thu hẹp, giống hệt cổ chai. Chiêu Dương đích thân canh giữ Hạ Khẩu, chỉ huy ba vạn binh, dìm thuyền đóng cọc chặn kín đáy sông, lại giăng nhiều đường xích sắt dưới Giang Thuỷ, trên xích sắt treo tua tủa gai đồng, giăng đầy lưới cá, hai bên bờ sông rải gai sắt, bày sẵn nỏ liên châu và vật liệu dễ cháy như củi khô, lưu huỳnh, cành thông nhựa, sẵn sàng đối phó với thuỷ quân Việt. Nguyễn Ứng Long lo sợ, bèn bỏ thuyền lên cạn, tấn công dữ dội vào Hạ Khẩu, những mong kiểm soát được hai bên bờ sông, từ đó tháo bỏ vật cản trên sông. Người Sở dựa vào địa thế thuận lợi chống trả, người Việt tấn công suốt mấy ngày trời, tổn thất thêm hơn vạn binh, thiệt hại hơn chục chiến thuyền, cuối cùng vẫn phải công cốc rút về.
Tới lúc này, Vô Cương mới nhận ra đã trúng kế dụ địch của người Sở, vội vã hạ lệnh lui binh, song đã quá muộn. Chiêu Dương sớm đã dựng luỹ kiên cố dọc bờ đông Vân Thủy, Vô Cương tấn công liên tục nhiều ngày, vẫn không thể đột phá, đành phải gõ chiêng thu quân, nát óc nghĩ kế phá vây.
Nhìn thấy thế tấn công của người Việt giảm dần, rồi chuyển sang thế phòng ngự, Sở Uy Vương truyền chỉ, sai Khuất Vũ chia năm vạn binh, phía đông vượt Hán Thuỷ, đóng quân ở tuyến núi Đại Hồng, Kinh Sơn, chặn đứng đường rút lui về phía bắc của người Việt, vây khốn triệt để người Việt trong khu vực hoang vu không quá hai trăm dặm vuông giữa Vân Thuỷ, Hán Thuỷ, đầm Vân Mộng, núi Đại Hồng. Ngoài đầm Vân Mộng ở phía nam, mênh mông bát ngát không thấy bến bờ, song thuyền lại không thể đi qua, ba mặt đông, tây, bắc đều có quân đội hùng hậu của người Sở trấn giữ.
Vô Cương thấy tình thế này, lo sợ người Sở thừa thế tấn công, cũng bày trận sẵn sàng quyết chiến, chia quân ba nơi, hình thành thế chân vạc cố thủ các vị trí hiểm yếu. Tuy nhiên, mùa thu đã sắp qua đi, mùa đông đang dần tới, người Sở vẫn chỉ cố thủ mà không tấn công, dường như có ý vây khốn người Việt tới cùng.
Mới đầu, người Việt cũng không nhận ra. Tuy nhiên, khi mùa đông về tới, cơn ác mộng thực sự của người Việt mới bắt đầu. Vì người Việt dấy binh phạt Sở vào khoảng tháng tư, tháng năm, quần áo đều là đồ xuân thu, không hề chuẩn bị đồ đông.
Người Việt sống lâu ở vùng duyên hải đông nam, dù là mùa đông, khí hậu cũng khá ấm và ẩm, không như ở đầm Vân Mộng, chẳng những giá rét căm căm, mà bước sang tháng chạp, trời lại đổ tuyết lớn suốt mấy ngày trời. Gió Bắc gào thét, tuyết rơi mù mịt, người Việt thiếu quần áo, cạn lương thực, trong Hán Thủy tuy có cá lớn, song người Việt lại không mang theo chài lưới để bắt. Binh sĩ vốn có thể xuống đầm Vân Mộng bắt cá nhỏ, tôm tép ăn tạm qua ngày, song tới khi trên đầm đóng một lớp băng mỏng, thì nguồn lương thực cuối cùng này cũng đã bị cắt đứt.
Vô Cương không còn cách nào khác, đành phải truyền chỉ ba quân tự tìm thức ăn trong phạm vi hai trăm dặm. Người Việt đào đất sâu ba thước, đừng nói là chim muông, rắn rết, cá mú, giun dế, dù là một rễ cây cọng cỏ cũng không bỏ qua. Về sau, thậm chí người Việt phải ăn cả vỏ cây để cầm cự.
Cứ như thế suốt một mùa đông, trước khi cây cỏ nảy mầm, đất trời trở ấm, người Sở không phải tổn thất đến một binh một tốt, trong khi người Việt đã tự hao hụt đến vài vạn quân, sĩ khí kiệt quệ, mộ mới mọc lên như nấm, nơi nơi tiếng Ngô oán tiếng Việt sầu, bi thương tang tóc.
Việt Vương Vô Cương tai nghe mắt thấy thảm cảnh này, trong lòng đau đớn như dao cắt. Chiều hôm nay, Vô Cương ủ rũ ngồi trong trại trung quân, khép hờ hai mắt, như đang chìm đắm trong suy nghĩ. Vào lúc nhá nhem, thị vệ bưng vào một nồi canh thịt, bên trong có một khúc xương ngựa, một thị vệ khác tay bưng chiếc khay, trên đựng một miếng thịt ngựa nhỏ. Hai người quỳ xuống trước bàn, lần lượt bày canh, thịt lên trên.
Vô Cương hé mắt, nhìn hai người rồi nói khẽ: “Dọn đi!”
Hai người đưa mắt nhìn nhau, đang định lên tiếng thì tư kiếm lại bước vào, quỳ xuống dập đầu nói: “Đại vương, Luân quốc sư không ổn rồi!”
Vô Cương kinh hãi, quay sang hai thị vệ: “Bê tất cả lên, theo ta tới chỗ Luân quốc sư!”
Tư kiếm lại và hai thị vệ đưa Vô Cương tới trại của quốc sư Luân Kỳ.
Quân sĩ ngoài trướng nhìn thấy Việt Vương, vội vào bẩm báo. Một lát sau, Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long và vài viên tướng khác ra khỏi trướng, dập đầu đón bên ngoài, Vô Cương lần lượt đỡ họ dậy, bước vào trong trướng, ngồi xuống trước giường Luân Kỳ.
Luân Kỳ quả nhiên chỉ còn thở hắt ra, không thấy hít vào. Mở mắt nhìn thấy Vô Cương, gắng sức mấy lần muốn hành lễ mà không được, bị Vô Cương ấn trở xuống giường. Luân Kỳ trào nước mắt, giọng nói phều phào, tới mức gần như không thể nghe rõ: “Vi thần không thể phụng... phụng sự đại vương được nữa!”
Vô Cương đưa tay ra hiệu, thị vệ liền bưng canh thịt lại, Vô Cương đích thân múc một thìa đưa lên miệng Luân Kỳ: “Luân ái khanh, hãy uống lấy một thìa, một thìa là được!”
Luân Kỳ hé miệng, nhấp một chút, rồi cảm tạ: “Tạ ơn canh ngon của đại vương. Đại vương hãy dùng đi, vi thần uống không nổi nữa!”
Vô Cương đặt thìa canh xuống, nước mắt trào ra: “Than ôi, là quả nhân đã hại khanh, đã hại các khanh, cũng đã hại thần dân nước Việt!”
Luân Kỳ khó nhọc hít vào một hơi, than khẽ: “Là ông trời muốn diệt Việt, đại vương chớ tự trách mình!”
Vô Cương nắm chặt tay Luân Kỳ, hỏi: “Luân ái khanh, khanh nói đi, bây giờ quả nhân nên đi đâu đây?”
“Học tiên vương Câu Tiễn, giảng hoà với Sở, cúi đầu xưng thần, sau đó lại... lại... nằm... nằm gai nếm mật!” Giọng Luân Kỳ càng thêm yếu ớt.
Vô Cương sắc mặt thoáng sa sầm, trầm tư một lát mới nói: “Quả nhân nghe thấy rồi, Luân ái khanh, hãy nghỉ ngơi đi!” Nói đoạn, từ từ đứng dậy, đi ra khỏi trại, quay sang tư kiếm lại. “Cho gọi đại phu Lã Tông tới đại doanh.”
Lã Tông nhận lệnh, cấp tốc tới đại doanh, dập đầu nói: “Vi thần khấu kiến đại vương!”
Vô Cương đưa mắt nhìn Lã Tông: “Trương Nghi vẫn bặt vô âm tín?”
Giọng Lã Tông run rẩy: “Vi thần đã cử tổng cộng hơn chục người đi liên lạc với Trương Nghi, đa phần đều bị người Sở bắt làm tù binh, số quay trở về cũng nói không tìm thấy Trương Nghi đâu.”
“Sự việc đã rất nguy cấp,” giọng Vô Cương vô cùng khẩn thiết, “khanh hãy làm đặc sứ cho quả nhân, tới doanh trại Sở một chuyến, bề ngoài ra vẻ giảng hoà với người Sở, thực chất âm thầm liên lạc với Trương Nhi, xem ý hắn thế nào?” Đưa tay với lấy bức thư để trên bàn. “Nếu gặp được Trương Nghi, hãy đưa lá thư này cho hắn. Còn nữa, nói với hắn rằng, quả nhân ra khẩu dụ, nếu hắn giúp quả nhân phá Sở, quả nhân sẽ phong hầu cho hắn, ban cho hai nghìn dặm đất Kinh.”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Trong biệt cung Thu Thuần sâu trong núi Nội Phương, Trương Nghi đang ngồi đánh cờ với Uy Vương, thì nội thần hấp tấp chạy vào bẩm báo: “Khởi bẩm bệ hạ, Việt Vương sai đại phu Lã Tông tới cầu hoà!”
“Sao kia?” Sở Uy Vương thoáng ngạc nhiên. “Người Việt tới cầu hoà? Người ở đâu?”
“Đang ở ngoài cung đợi chỉ!”
Trương Nghi thu cờ, vòng tay nói: “Bệ hạ hãy tiếp khách quý, vi thần cáo lui.”
“Ái khanh khách sáo rồi!” Uy Vương cười vang mà nói. “Giảng hoà với người Việt, ái khanh là trợ thủ đắc lực, cớ sao lại tránh mặt?”
“Bệ hạ thực lòng muốn giảng hoà với người Việt?”
“Ồ, chuyện này...”
“Bệ hạ!” Trương Nghi mỉm cười, lại vòng tay cáo lui. “Hạt cứng đã sắp tới ngày hái, vi thần xem tâm tư của bệ hạ, hẳn là không muốn giảng hoà. Bệ hạ đã không muốn giảng hoà, vi thần ở đây không tiện, tránh đi sẽ tốt hơn!”
Sở Uy Vương lập tức hiểu ra: “Được, được! Ái khanh hãy lui ra!” Rồi quay sang nội thần. “Truyền sứ Việt vào yết kiến!”
Thấy nội thần lĩnh chỉ đi ra, Trương Nghi đưa mắt nhìn Uy Vương: “Lát nữa sứ Việt tới, dám hỏi bệ hạ sẽ ứng phó thế nào?”
Uy Vương cảm thấy lời lẽ của Trương Nghi chứa đầy ẩn ý, bèn hỏi: “Ý ái khanh thế nào?”
Trương Nghi đứng dậy, bước lại bên Uy Vương, ghé sát tai Uy Vương thì thầm một chốc.
Uy Vương thoạt tiên sửng sốt, sau đó gật đầu lia lịa: “Hay lắm, đúng là khổ nhục kế tuyệt vời, quả nhân sẽ nghe theo khanh!” Rồi ngưng thần chuẩn bị một hồi, sắc mặt từ từ sầm xuống, rồi thình lình vung tay hất tung bàn cờ, gầm lên như sấm. “Người đâu, đuổi hắn ra ngoài!”
Trương Nghi cũng lập tức nhập vai, mặt mũi tái mét, vội quỳ xuống dập đầu mà nói: “Vi thần cáo lui!”
Trương Nghi lại lạy liền ba lạy, cúi gằm mặt nặng nề lê bước ra khỏi cửa. Đã có hai lực sĩ cầm kích đợi sẵn bên ngoài, áp giải Trương Nghi ra khỏi điện.
Biệt cung xây trên núi, từ cửa cung lên tới cửa điện cao đến vài chục trượng, phải leo chừng vài trăm bậc thang. Lã Tông đang đi theo nội thị leo bậc mà lên, từ xa nhìn thấy Trương Nghi bị hai giáp sĩ cầm kích áp giải xuống, thì cả kinh, dừng bước quay sang nội thần hỏi: “Xin hỏi đại nhân, người này vì sao lại bị áp giải?”
Nội thần cũng ngẩn người: “Ồ... tại hạ cũng không biết!”
Lã Tông vờ như không quen, lại hỏi: “Dám hỏi đại nhân, người này là ai?”
“Hồi bẩm sứ thần, người này là khách khanh Trương Nghi, vừa rồi phụng chỉ đánh cờ với bệ hạ!” Rồi vòng tay giục. “Đặc sứ đại nhân, mời!”
Lã Tông tim đập thình thình, theo nội thần bước lên bậc thang, đối đầu với ba người Trương Nghi đang tiến lại.
Khi hai bên sắp chạm mặt nhau, thấy Trương Nghi cúi đầu rầu rĩ, Lã Tông đặng hắng một tiếng, dừng bước. Trương Nghi cũng dừng lại, thấy là Lã Tông thì liếc nhìn ông ta lắc lắc đầu, thở dài một tiếng, tiếp tục cúi gằm mặt bước xuống.
Lã Tông trong lòng lo sợ, theo nội thần bước lên bậc thang, vào trong điện, khấu đầu hô: “Sứ thần Lã Tông khấu kiến đại vương!”
Sở Uy Vương sắc mặt giận dữ, hơi thở hào hển, chỉ tay vào vị trí khách trước mặt: “Sứ Việt miễn lễ!”
Lã Tông tạ ơn, đứng lên, thấp thỏm bước lại chỗ ngồi, nhìn thấy xung quanh bừa bộn, bàn cờ đổ chỏng chơ, quân đen trắng vương vãi tứ tung, chưa kịp nói gì, Sở Vương đã giận dữ mắng nội thần: “Ngươi mù ư, còn không mau thu dọn, để khách quý cười chê?”
Nội thần vội vã quỳ xuống đất, thu dọn “chiến trường”.
Uy Vương vẫn chưa hết giận, lại thở phì phì một chốc, mới ngẩng đầu quay sang Lã Tông, cố gắng trấn tĩnh lại, rồi vòng tay nói: “Quả nhân nghe danh tiếng Lã Tử đã lâu, hôm nay được gặp, lại để Lã Tử cười chê!”
Lã Tông cũng ôm quyền nói: “Kẻ bất tài Lã Tông tạ ơn đại vương yêu mến. Dám hỏi vì sao đại vương lại giận dữ đến vậy?”
“Chẳng phải đều là vì tên Trương Nghi đáng chết kia!” Cơn thịnh nộ của Uy Vương lại được thế bùng phát, chỉ tay ra ngoài điện chửi mắng. “Quả nhân nể tình hắn chơi cờ giỏi, bái hắn làm khách khanh, phong hắn chức tước, thưởng hắn tiền bạc mỹ nữ. Nay quả nhân muộn phiền, sai người mời hắn tới đánh cờ giải sầu, nào ngờ hắn không biết phải quấy, đã không giúp quả nhân giải khuây, ngược lại còn khiến quả nhân bực bội thêm!”
Lã Tông cười hỏi: “Ồ, dám hỏi đại vương, Trương Tử đã làm gì để khiến đại vương bực bội thêm?”
“Hừm!” Sở Uy Vương nhìn xoáy vào Lã Tông, giận dữ mà nói. “Quả nhân đang muốn hỏi ý Lã Tử đây! Mấy chục năm qua, hai nước Sở, Việt láng giềng hoà mục, không xâm phạm bờ cõi của nhau, quả nhân suy đi tính lại, thấy từ lúc kế vị tới nay, chưa từng làm gì có lỗi với Việt Vương, vậy mà đại vương của các vị đã không gửi hịch văn, cũng chẳng ra chiến thư, bất thình lình khởi hơn hai mươi vạn binh xâm phạm bờ cõi của quả nhân, làm nhục thần tử của quả nhân, bắt bớ hiếp giết, không tội ác nào không làm, khiến dân chúng Đại Sở lầm than, máu chảy thành sông, lặp lại thảm hoạ nước Ngô năm xưa. Quả nhân và Vô Cương thế như nước lửa, không đội trời chung, song tay Trương Nghi này chẳng hiểu nhận được lợi lộc gì từ Vô Cương mà lại ăn cây táo rào cây sung, ra sức khuyên can quả nhân giảng hoà với người Việt, còn muốn quả nhân cắt hai mươi thành phía tây Chiêu Quan dâng tặng người Việt. Lã Tử nói xem, chẳng phải rõ ràng muốn đối đấu với quả nhân ư?”
Lã Tông vốn định tới đây giảng hoà, nghe những lời này, mặt mày xám ngo ét, hai chân run rẩy, giọng nói cũng lạc đi: “Đại... đại vương...”
“Ồ!” Sở Uy Vương mau chóng thay đổi sắc mặt, lấy lại thái độ ôn hoà, vòng tay hỏi. “Lã Tử tới đây, có điều gì chỉ giáo quả nhân?”
Lã Tông trấn tĩnh lại, cũng vòng tay đáp lễ: “Đại vương nước thần nghe theo lời gièm pha, thất lễ phạt Sở, nay đã hối hận, phái Lã Tông tới khẩn cầu đại vương, nguyện cùng đại vương láng giềng hoà mục, đời đời kết minh!”
“Hừm, giờ hối hận cũng đã muộn rồi!” Sở Uy Vương thoắt cái đã đổi ngay sắc mặt. “Đặc sứ đại nhân, quả nhân nhờ đặc sứ chuyển lời tới Vô Cương, đại trượng phu dám làm dám chịu, đã dám tới đây thì hãy so tài cao thấp trên chiến trường. Vô Cương tới đây, còn chưa quyết chiến, đã vội giảng hoà, đừng nói là quả nhân, dù là một đứa trẻ ba tuổi ở nước Sở cũng sẽ coi khinh, nói gì đến anh hùng?”
“Đại... đại vương...”
Sở Uy Vương vòng tay đuổi khách: “Xin hỏi Lã Tử, còn việc gì nữa không?”
Lã Tông đang ấp úng, Sở Uy Vương đã lạnh lùng đứng dậy: “Lã Tử đã không còn việc gì, quả nhân muốn được nghỉ ngơi!” Rồi quay sang nội thần. “Tiễn khách!”
Lã Tông ra khỏi cửa điện, mặt mũi tiu nghỉu bước xuống bậc cấp. Vừa thoát khỏi tầm mắt của giáp sĩ thị vệ, đã nghe thấy một giọng nói vang lên ngay sau lưng: “Lã đại nhân!”
Lã Tông quay đầu lại nhìn, thấy là Kinh Sinh, thì mừng rỡ mà gọi: “Kinh tiên sinh!”
Kinh Sinh suỵt khẽ một tiếng, nói nhỏ: “Lã đại nhân chớ to tiếng, mau theo tại hạ!”
Lã Tông đi theo Kinh Sinh, vòng vèo một hồi thì tới trước một khu nhà.
Kinh Sinh bảo Lã Tông dừng bước, để mình vào trong trước. Một lát sau, Trương Nghi bước ra đón, cung kính cúi gập người chào Lã Tông, phấn chấn mà nói: “Tại hạ Trương Nghi bái kiến Lã đại nhân.”
Lã Tông cũng vòng tay đáp lễ, nói: “Lã Tông bái kiến khách khanh!”
Trương Nghi khẽ nói: “Lã đại nhân, nơi này không thích hợp nói chuyện, mời vào trong!”
Hai người bước vào trong phòng, sau khi phân ngôi chủ khách ngồi xuống, Lã Tông bèn vòng tay nói: “Đại vương không nhận được tin tức của Trương Tử, vô cùng lo lắng, đặc phái tại hạ lấy danh nghĩa cầu hoà, tìm cơ hội liên lạc, không ngờ thực vừa đúng lúc.”
“Than ôi!” Trương Nghi thở dài sườn sượt. “Tại hạ cũng đã phái người liên lạc với đại nhân, không ngờ Chiêu Dương kia canh phòng cẩn mật, đi rất nhiều lần rồi mà không được, ba tráng sĩ bị bại lộ đã tự sát, hai tráng sĩ công cốc trở về. Sự việc hôm nay, hẳn Lã đại nhân cũng đã thấy!”
Lã Tông gật đầu: “Tấm lòng của Trương Tử, tại hạ trở về nhất định sẽ bẩm báo lên đại vương. Đại vương có một bức mật thư, xin Trương Tử hãy đọc!” Rồi lấy ra một tấm lụa từ trong túi ngầm dưới vạt áo, đưa cho Trương Nghi.
Trương Nghi mở ra, đọc xong thì để bức thư lên bàn, trầm ngâm một hồi, thở dài mà nói: “Không giấu Lã đại nhân, yêu cầu của đại vương thực sự đã làm khó cho tại hạ!”
Lã Tông vội nói: “Đại vương còn có một điều, mong Trương Tử suy nghĩ.”
“Tại hạ xin lắng nghe!”
“Đại vương truyền khẩu dụ, nếu Trương Tử trợ giúp đại vương diệt Sở thành công, đại vương sẽ lập tức phong Trương Tử tước hầu, thưởng hai nghìn dặm đất Kinh.”
“Ý tốt của đại vương, tại hạ có chết vạn lần cũng không thể báo đáp. Chỉ là...” Trương Nghi vòng tay cảm tạ, “hiện tại thời cơ chưa chín muồi, mong Lã đại nhân chuyển tấu đại vương, đợi một vài ngày nữa, đợi tại hạ...”
“Dám hỏi Trương Tử có chỗ nào khó khăn?”
“Than ôi!” Trương Tử lại than thở. “Lã đại nhân có điều không biết, tại hạ mua chuộc thái tử điện hạ, được bái kiến Sở Vương, vốn định tìm cơ hội làm một vài việc cho đại vương, nào ngờ Chiêu Dương kia không biết dò la ở đâu mà biết được tin tại hạ thuyết khách người Việt phạt Sở, lập tức tấu báo Sở Vương, khiến Sở Vương đùng đùng nổi giận, ép hỏi tại hạ. May mà tại hạ thừa cơ ứng biến, thề thốt không nhận, vu cáo lại Chiêu Dương, Chiêu Dương cũng không có bằng chứng gì cụ thể, nhờ vậy mới bảo toàn được tính mạng. Có điều, từ lúc đó, Sở Vương không còn tin tại hạ nữa, chỉ coi tại hạ là người mua vui, hễ lúc nào buồn lại cho gọi tới chơi cờ, tán chuyện. Gặp đại sự, chỉ bàn với hai trụ quốc Chiêu Dương và Khuất Vũ, đừng nói là tại hạ, dù điện hạ cũng không được tham gia. Không chỉ có vậy, Chiêu Dương ngày càng cảnh giác với tại hạ!” Hạ thấp giọng nói tiếp. “Không giấu Lã huynh, chưa biết chừng trong nhà, ngoài sân này đều có tai mắt của Sở Vương rình rập!”
“Vậy phải làm sao đây?” Lã Tông giậm chân lo lắng.
“Ồ?” Trương Nghi nhoài người lại hỏi. “Dám hỏi Lã đại nhân có chuyện gì mà sốt ruột đến vậy?”
Lã Tông than thở mà rằng: “Hỡi ôi, sự tình đã tới nước này, tại hạ cũng không giấu Trương Tử nữa. Trong quân sớm đã cạn kiệt lương thảo, đại vương một ngày cũng khó lòng cầm cự thêm được nữa!”
Trương Tử làm bộ kinh ngạc: “Sao có chuyện này được? Đại vương lẽ nào không biết tới đạo lý dụng binh thông thường, ‘binh mã chưa động, lương thảo đi trước’ ư?”
Lã Tông lại than thở: “Năm trước khi quyết định phạt Sở, đại vương chỉ muốn lập tức công phá Sính Đô, hành quân chóng vánh, lương thực không chuyển theo kịp. Lần này lại bị Chiêu Dương cắt mất đường rút lui, đứt lương đã một mùa đông rồi!”
Trương Nghi ra vẻ lo âu sợ hãi, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, rồi ngẩng đầu lên, than thở: “Than ôi, tại hạ bị canh chừng chặt chẽ, không nhận được bất kỳ tin nào từ bên ngoài, chuyện lớn thế này cũng không hề hay biết. Chỉ có điều... tại hạ vẫn có một chuyện không hiểu.”
“Trương Tử cứ nói!”
“Đại vương là minh chủ, Bôn Thành thông thạo binh pháp, Nguyễn tướng quân cũng không phải là hạng tầm thường, Luân quốc sư lại càng lão luyện dày dạn, lúc đầu phạt Sở, cớ sao không chia quân hai lộ, thuỷ binh theo dòng Giang Thuỷ tập kích Sính Đô, lục quân tấn công Hán Thuỷ? Nếu làm vậy, người Sở ắt bị tấn công từ hai phía, Hán Thuỷ sẽ không thể giữ được. Đại vương chỉ cần đột phá Hán Thủy, Sính Đô sẽ nhanh chóng bị phá. Nếu Sính Đô đã giành được, Sở Vương ắt phải buông tay chịu trói, người Kinh sẽ như rắn mất đầu, không chiến tự bại!”
“Vốn dĩ cũng có kế sách này, sau đại vương nghe nói Sở Vương đang ở núi Nội Phương, bởi muốn thành công cấp tốc. Mà thôi... chuyện đã qua rồi, không nhắc tới nữa!”
“Vậy... cho dù có ồ ạt vượt Hán Thuỷ, đại vương cũng nên cắt cử trọng binh trấn giữ Hà Khẩu, đảm bảo không phải lo lắng chuyện lương thảo mới phải!”
Lã Tông cúi đầu, im lặng không nói, hồi lâu sau mới lại thở dài một tiếng: “Than ôi, nói gì cũng đã muộn rồi. Xin hỏi Trương Tử, hiện tại có kế sách tạm thời nào không?”
Trương Nghi lại trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu mới ngẩng đầu nhìn Lã Tông: “Đã tới nước này, tại hạ chỉ còn biết khuyên đại vương tạm thời lui binh!”
Lã Tông lắc đầu: “Không giấu Trương Tử, người Sở đã chặn hết mọi ngả đường rút lui, đại quân Việt hơn mười vạn, ngoài không có viện binh, trong không có lương thảo, sớm đã lâm vào bước đường cùng, dù muốn rút lui, cũng không có đường rút nữa!”
“Hiện tại xem ra, đại vương nếu muốn phạt Sở, cơ hội chưa tới; nếu muốn lui binh, lại không hề khó!”
Lã Tông hai mắt sáng rực: “Ồ, Trương Tử có kế hay rồi ư?”
Trương Nghi tìm lấy một tấm gỗ, cầm bút phác thảo ra bản đồ hình thế, rồi chỉ bút vào hình vẽ: “Lã đại nhân hãy xem, đây là sông Vân Thuỷ, đây là núi Bồi Vĩ. Núi này từ bắc tới nam hơn hai trăm dặm, từ đông tới tây chỉ ba mươi dặm, là tấm bình phong trời cho, người Sở phòng ngự rất mỏng. Trong núi có một con đường tắt, tên là khe Dương Trường, dài không tới bốn mươi dặm, vô cùng hiểm yếu. Đại vương có thể dẫn đại quân tràn vào Vân Thuỷ từ đây, tấn công tuyến phòng thuỷ ven sông, đột nhập vào khe này, khống chế hai đầu khe núi, chưa đầy hai canh giờ, đại quân đã có thể xuyên qua núi Bồi Vĩ, phá được trùng vây. Trọng binh của người Sở đa phần tập trung ở tuyến phòng ngự Hà Khẩu, Vân Thuỷ, còn ở Sơn Đông, có lẽ không có binh mã. Đại vương chỉ cần đột phá tuyến phòng thủ trước mắt, thì có thể thẳng tiến sang phía đông, men theo phía bắc núi Để Kỳ là có thể rút tới Chiêu Quan. Đi qua Chiêu Quan, chính là đất của đại vương rồi!”
Lã Tông gật đầu lia lịa: “Quả là diệu kế, tuy nhiên...” Dừng lại nửa chừng, nét mặt lộ vẻ băn khoăn.
“Lã đại nhân có gì lo lắng?”
“Nơi hiểm yếu nhường này, người Sở ắt sẽ bố trí trọng binh phòng thủ, song quân ta đã rệu rã khó kham, làm sao có thể đột phá?”
“Lã đại nhân yên tâm, tướng giữ núi Bồi Vĩ là Cảnh Thuý có mối quan hệ thân thiết với tại hạ, tại hạ có thể thuyết phục hắn, buông lỏng vòng vây, mở ra một con đường thoát!”
“Thế thì tốt quá!” Lã Tông đổi lo thành mừng, rồi lập tức lại chuyển sang đăm chiêu. “Tuy quân ta có thể thoát thân, song lại đẩy Cảnh tướng quân vào chỗ bất nghĩa, biết làm thế nào cho phải?”
“Đại nhân nói rất phải!” Trương Nghi trầm ngâm một lát, rồi ngẩng đầu nói. “Thế này đi, đại nhân hãy bảo đại vương huy động quân tinh nhuệ, dốc toàn lực chiến đấu, còn Cảnh tướng quân sẽ cắt cử người già yếu canh giữ cửa khe núi, khi hai bên giáp lá cà, thắng thua lập tức định đoạt, Cảnh tướng quân giả thua rút lui, lúc bệ hạ trách cứ, cũng có cái để thanh minh.”
“Hay lắm, nhưng còn... chỗ Cảnh tướng quân...”
Trương Nghi dường như đã hiểu Lã Tông muốn nói gì, mỉm cười mà đáp: “Lã đại nhân không phải lo lắng cho Cảnh tướng quân. Giữa hai nhà Chiêu, Cảnh xưa nay vốn có thù hận, trong trận chiến lần trước với Ngụy, Chiêu Dương mượn tay Bàng Quyên hại chết Cảnh Hợp, Cảnh tướng quân trải trăm trận chiến mới thoát chết, đã khắc cốt ghi tâm mối thù giết cha với Chiêu Dương. Lần này Chiêu Dương một lòng muốn lập công, Cảnh tướng quân làm gì có chuyện để yên cho Chiêu Dương đạt được mục đích.”
“Ồ!” Lã Tông không còn băn khoăn nữa. “Nếu nói như vậy, cũng là có thể! Dám hỏi Trương Tử, lúc nào đột phá là thích hợp?”
“Đêm dài lắm mộng, sự việc không nên chậm trễ. Ngay giữa đêm mai, chính là vào giờ Tý!”
Lã Tông vòng tay cảm tạ: “Tại hạ thay mặt đại vương cảm tạ Trương Tử, cảm tạ Cảnh tướng quân!”
“Lã đại nhân bất tất phải khách khí!” Trương Nghi cũng vòng tay nói. “Đại vương nghe theo lời tại hạ, mới chuyển hướng phạt Sở. Nay thành ra nông nỗi này, thực không phải là ý muốn của tại hạ. Lúc trở về, xin Lã đại nhân hãy chuyển lời tới đại vương, nói rằng tại hạ trong lòng hối hận, khẩn cầu đại vương khoan thứ!”
“Là trời không trợ giúp Việt, Trương Tử bất tất phải tự trách mình!”
Trương Nghi lại cúi đầu suy nghĩ một hồi, rồi vòng tay nói: “Lã đại nhân, nơi này hung hiểm, không tiện ở lâu!” Rồi quay sang Kinh Sinh. “Kinh huynh, mau đưa Lã đại nhân về, phải hết sức cẩn thận!”
Kinh Sinh đáp lời: “Lão nô tuân lệnh!”
Lã Tông vòng tay cáo từ Trương Nghi, rồi theo Kinh Sinh ra khỏi cổng.
Hai người vừa rời đi chưa được bao lâu, tại một góc khuất cách đó không xa, một bóng đen bất ngờ chui ra, âm thầm bám theo phía sau. Bóng đen đi theo một đoạn, thấy Lã Tông vòng tay từ biệt Kinh Sinh, bước vào dịch quán của sứ thần nước Việt, mới quay người, vụt một cái chạy biến vào trong một toà trạch viện.
Trong đại sảnh của trạch viện, thượng khanh nước Tần Trần Chẩn ngồi xếp bằng trên chiếu, mắt nhìn không chớp vào mỹ nữ Y Na. Y Na đang nhảy một vũ điệu lạ lẫm vùng Tây Vực, vài nhạc công tay cầm nhạc cụ, chuyên tâm đệm nhạc cho Y Na.
Xem một hồi, Trần Chẩn bỗng chau tít đôi mày, đột nhiên hô lớn: “Dừng!”
Đám người đều khựng lại, ngạc nhiên nhìn Trần Chẩn. Y Na đang múa tới say sưa, không hiểu chuyện gì, ngơ ngác đứng ngây tại chỗ.
Trần Chẩn quay sang phía nhạc công: “Đổi sang tấu nhạc Sở!”
Đám nhạc công liền chuyển sang nhạc Sở.
Trần Chẩn nói với Y Na: “Đi, mau đi thay áo sa mỏng, để hở rốn, múa điệu hở rốn mà ngươi từng múa hôm trước, theo bản nhạc này!”
Y Na ngẩn ra một thoáng, rồi vào phòng trong thay y phục. Đúng lúc này, Hắc Điêu vừa theo dõi Kinh Sinh hấp tấp chạy vào. Trần Chẩn phẩy tay cho đám nhạc công lui ra, Hắc Điêu thuật lại chi tiết một lượt toàn bộ sự việc.
Trần Chẩn quay sang Hắc Điêu, lập tức sai phái: “Cắt cử vài người, theo dõi chặt chẽ đám Trương Nghi, Kinh Sinh, không được làm kinh động tới họ!”
Hắc Điêu tuân lệnh lui ra.
Trần Chẩn nở một nụ cười âm hiểm, lẩm bẩm một mình: “Tiểu tử, hay lắm! Ta đang tìm kiếm sơ hở, ngươi lại tự vác xác tới tận nơi!” Bộ dạng đắc ý, gõ khẽ lên bàn, cất giọng sang sảng. “Y Na, nhạc công, nổi nhạc múa nào!”
Trong trại trung quân, sau khi nghe Lã Tông bẩm báo chi tiết sự tình, Vô Cương trầm ngâm suy nghĩ, chốc sau liền than thở: “Chao ôi, không giấu ái khanh, trong khoảng thời gian này, Trương Tử chẳng khác gì trâu đất xuống biển, lặn mất tăm mất tích, không có tin gì, trong lòng quả nhân không khỏi sinh mối hoài nghi, hẳn là Trương Tử âm mưu bất trắc, rắp tâm lừa dối quả nhân. Nay xem ra, quả nhân đã hiểu lầm Trương Tử!”
“Đại vương nói chí phải!” Lã Tông hùa theo. “Vi thần trong lòng vốn cũng có suy nghĩ tương tự, nay gặp Trương Tử, mới biết là đã hiểu nhầm.”
Vô Cương lại than: “Hỡi ôi, lời Trương Tử thật hữu lý, lần này phạt Sở bất lợi, đều là lỗi của quả nhân. Đầu tiên nếu nghe theo Nguyễn tướng quân, chia quân hai lộ, trước sau giáp công, có phải đã sớm phá được Sính Đô rồi không? Dù không chia quân hai lộ, quả nhân cũng nên điều động trọng binh chiếm giữ Hạ Khẩu. Ôi, đều trách quả nhân quá tự phụ, chỉ muốn cấp tốc phá Sở, không để ý tới đường lui, mới có thất bại hôm nay.”
Lã Tông khuyên nhủ: “Đại vương bất tất phải tự trách mình. Núi xanh còn đó, sợ gì không có củi đun. Chỉ cần đại vương rút lui an toàn, sau này lại báo thù cũng chưa muộn!”
“Lã ái khanh, Trương Tử đã định giờ Tý đêm mai đột phá vòng vây, hiện thời gian cũng không còn nhiều, khanh mau mời Bôn tướng quân, Nguyễn tướng quân vào doanh trại nghe lệnh!”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Thấy Lã Tông đã lui ra khỏi trại, Vô Cương đập khẽ xuống bàn, tư kiếm lại liền bước vào.
Vô Cương nhìn tư kiếm lại, tháo bỏ thanh kiếm Việt Vương đang đeo bên hông, lại lôi từ dưới bàn lên ngọc tỷ của Việt Vương, đặt vào tay tư kiếm lại, vỗ tay gọi bốn thị vệ thân tín đến, đưa mắt nhìn năm người hồi lâu, rồi chậm rãi nói: “Năm người đều là tâm phúc của quả nhân, quả nhân cũng xin giao cho chư vị một việc tâm phúc. Nghe chỉ!”
Thấy Việt Vương trịnh trọng đến vậy, tư kiếm lại và bốn vị kiếm sĩ đưa mắt nhìn nhau, rồi đồng loạt quỳ xuống, khấu đầu nói: “Vi thần đợi chỉ!”
“Với sức của chư vị, người Sở không ai cản nổi. Chư vị hãy lập tức lên đường, đột phá vòng vây phía bắc, tìm khe hở chạy vào núi Đại Hồng, băng qua núi Đồng Bách chạy sang phía đông trở về Việt. Trong vòng ba tháng, nếu quả nhân an toàn trở về, coi như không sao. Nếu quả nhân gặp điều bất trắc, năm người chư vị phải đồng tâm hiệp lực, phò tá thái tử lên ngôi, tiếp tục duy trì cơ nghiệp nước Việt. Hễ ai không phục, chém ngay bằng kiếm này!”
Tư kiếm lại và bốn kiếm sĩ cùng khóc mà nói: “Chúng thần thề chết bảo vệ đại vương, sống chết cùng đại vương!”
“Than ôi!” Việt Vương thở dài. “Quả nhân và xã tắc, không thể lưỡng toàn!”
Năm người khóc lóc rầu rĩ, lại bái lạy, song chưa chịu bỏ đi. Đúng vào lúc này, bên ngoài doanh trại vọng lại tiếng vó ngựa, Việt Vương biết là đám Bôn Thành đã tới, vội nói: “Quả nhân giao phó xã tắc cho chư vị,” phẩy mạnh tay một cái, “chư vị còn không mau lên đường?”
Năm người nước mắt sụt sùi, lại lạy liền mấy lạy, mới đứng dậy trở ra.
Một lát sau, Lã Tông dẫn Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long bước vào. Nhìn thấy hai người đều mặc áo tang, Vô Cương biết rằng Luân Kỳ đã qua đời, khóc mà hỏi: “Quốc sư ra đi lúc nào?”
“Vừa mới đây!” Nguyễn Ứng Long mắt đẫm lệ trả lời.
“Đi rồi cũng tốt!” Vô Cương gạt nước mắt, quay sang Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long. “Hai vị ái khanh, hiện tại số binh lính có thể lên đường còn được bao nhiêu?”
“Mười ba vạn ba nghìn!” Bôn Thành đáp lời.
“Ngựa thì sao?”
“Hai nghìn chín trăm con!”
Vô Cương trầm ngâm hồi lâu, rồi cắt đặt: “Giết hết ngựa, cho binh lính ăn no bụng. Ăn không hết, mang theo lên đường, đánh thẳng về nhà!”
Bôn Thành chết sững, nhìn sang Nguyễn Ứng Long.
Nguyễn Ứng Long cũng kinh ngạc không kém. Đây là số ngựa chiến ít ỏi còn giữ được, hai người định dùng chúng bảo vệ Việt Vương, đột phá vòng vây.
“Đi mau!” Vô Cương cao giọng dứt khoát. “Truyền lệnh ba quân, đêm nay ăn no, nghỉ ngơi cả ngày mai, tích luỹ sức lực, đợi khi trời tối, tiến quân về núi Bồi Vĩ!”
Bôn Thành, Nguyễn Ứng Long khấu đầu nói: “Vi thần tuân chỉ!”
Chập tối hôm sau, hơn chục vạn lính Việt ăn no thịt ngựa, âm thầm nhổ trại lên đường, tiến thẳng về phía núi Bồi Vĩ.
Tới bên sông Vân Thủy, đã gần đến giờ Tý. Quân Việt ném những mảnh ván thuyền đã tháo bỏ từ trước xuống sông, bắc thành mấy đường cầu phao, tướng sĩ tuần tự nối đuôi nhau, vượt qua Vân Thủy. Do ồn ào quá mức, không lâu sau đã bị người Sở phát giác, lập tức trống trận vang rền, người hô ngựa hí bủa tới.
Bôn Thành không kịp nghĩ nhiều, lập tức xông lên đầu, dẫn theo vài chục kiếm sĩ lao vào chém giết. Phía quân Sở đúng như Trương Nghi đã nói, rặt là người già yếu, còn phía Việt lại là quân tinh nhuệ đi đầu, người nào người nấy khí thế hừng hực. Không bao lâu sau, phía Sở đã bỏ lại vài trăm thi thể, cuống cuồng tháo chạy. Nguyễn Ứng Long chỉ huy quân lính bố trí phòng thủ ở bờ đông Vân Thuỷ, trong khi Bôn Thành từ cửa sông Phù Lỗ lần tìm được lối vào khe Dương Trường, dẫn quân xông thẳng vào khe núi.
Bôn Thành cử người đi trước thám thính, quả đúng như Trương Nghi nói, trong khe núi không hề có phục binh. Khe núi chỗ rộng chỗ hẹp, nơi hẹp nhất chỉ đủ năm người đi qua, người Việt đành xếp thành hàng dài, rồng rắn nối đuôi nhau mà đi. Đến khi trời sáng, quân tiên phong đã gần tới lối ra phía đông, còn đoạn cuối hậu quân vẫn ở bên ngoài lối vào phía tây. Tới lúc này, tướng Sở Cảnh Thuý mới như chợt “bừng tỉnh”, dẫn đại quân ào ào đánh tới. Nguyễn Ứng Long phụ trách đoạn hậu, một mặt tiếp tục sắp xếp các quân rút vào khe núi, một mặt dẫn quân xông ra ứng phó. Cảnh Thuý có vẻ như lại một lần nữa “không địch nổi”, chỉ biết giương mắt đứng nhìn đám Nguyễn Ứng Long vừa đánh vừa lui, chui hết vào khe núi. Sau đó, lại chỉ huy quân dàn trận ngoài khe. Nguyễn Ứng Long cũng sai người dàn trận ở cửa khe, hai bên đối đầu.
Khi Bôn Thành phụ trách mở đường phía trước dẫn quân xông ra khỏi khe núi, quả nhiên không thấy người Sở đâu. Bôn Thành mừng rỡ, lập tức cùng đám kiếm sĩ bảo vệ Vô Cương, tìm đường đi về phía đông. Đại quân vẫn nối đuôi nhau thành một hàng dài bám sát theo sau.
Đi chưa đầy một dặm, sau lưng bỗng vang lên tiếng trống trận dồn dập, tiếng hò la dậy đất. Một cánh quân hung hãn, hào khí ngất trời xông ra từ cánh rừng bên cạnh, đánh thọc mạng sườn, thế như dời non lấp biển, chớp mắt đã cắt đứt ngang đội ngũ quân Việt, phong tỏa kín mít cửa khe. Vô Cương cả kinh, lập tức dừng bước, quay đầu nhìn lại, từ xa trông thấy một lá cờ phấp phới dưới ánh bình minh, bên trên hiện rõ mồn một chữ “Chiêu”.
Vô Cương bàng hoàng chấn động, quay người định đánh ngược trở lại, song bị Bôn Thành, Lã Tông và đám kiếm sĩ ngăn chặn. Vô Cương định thần nhìn kỹ, thấy quân Sở đông đến vài vạn, rõ ràng đã có chuẩn bị từ trước. Quân Việt phần lớn vẫn kẹt lại trong khe núi, dù có đông hơn, dũng mãnh hơn, cũng không thể nào xông ra khỏi khe núi chật hẹp.
Vô Cương hiểu rằng đại thế đã mất, chỉ còn biết than dài một tiếng, quay đầu chạy về phía đông dưới sự bảo vệ của đám Bôn Thành. Bôn Thành, Lã Tông hộ tống Việt Vương chạy được một đoạn, nhìn thấy người Sở vẫn chưa đuổi tới, bèn dừng lại, điểm qua quân số, thấy mới chỉ có khoảng hơn ba nghìn quân ra được khỏi khe núi.
Trước mặt xuất hiện một ngã rẽ, Vô Cương đang bàn với Bôn Thành, Lã Tông xem nên đi về phía nào, thì thấy trên một ngã rẽ cát bụi tung mù, lại có một cánh quân dũng mãnh ào ào xông ra, tướng dẫn đầu là Khuất Cái. Đám người không kịp cân nhắc thêm, vội vã ngoặt sang con đường còn lại. Quân Sở đánh tạt ngang sườn, Bôn Thành chia quân đoạn hậu, vừa đánh vừa lui. Cho tới khi trời tối, tàn quân rút đến núi Để Kỳ, lại điểm quân, chỉ còn hơn năm trăm người.
Đi thêm được một đoạn nữa, Bôn Thành thấy phía trước có một thôn xóm, bèn sai người tiến vào, song trong thôn không một bóng người, cũng không có lấy một hạt gạo. Đi tiếp vài trăm dặm, Vô Cương thấy binh lính đã mệt lả, bèn truyền lệnh nghỉ ngơi. Lã Tông dẫn người lùng sục tứ phía, may mắn tìm được một hầm trữ lương, bèn sai người đào lên, gom toàn bộ bếp nồi của các hộ dân lại, cuối cùng quân sĩ cũng được một bữa. Sau đó mặc nguyên áo giáp, kiếm cầm trong tay, ngồi dựa vào nhau, cùng ngủ mê mệt.
Trời còn chưa sáng, quân Sở lại ồ ạt đánh tới. Đám Bôn Thành hốt hoảng ứng chiến, Bôn Thành dẫn các kiếm sĩ bảo vệ Vô Cương, thoát ra theo hướng đông nam.
Người Sở đuổi theo một hồi, cuối cùng cũng rút lui.
Đây quả là một ngày gian khổ cực độ. Tàn quân của Vô Cương vốn định men theo Giang Thuỷ xuống phía đông, Song dù đi tới đâu, cũng gặp phải những cánh quân Sở lớn nhỏ đột kích. Bôn Thành đề nghị chuyển sang đi đường núi, Vô Cương tán thành. Tàn quân liền đi sang phía bắc, rẽ vào núi Đại Biệt, đêm đi ngày nghỉ, quả nhiên trên đường không gặp trở ngại nào nữa. Trước mắt đã sắp tới ải Đông Lăng, Vô Cương đưa mắt nhìn quanh, thấy chỉ còn lại Bôn Thành, Lã Tông và hơn chục kiếm sĩ, người nào người nấy mệt mỏi đói khát, bước chân mỏi mệt, rõ ràng khó lòng cầm cự thêm nữa. Vô Cương bất giác nhớ tới đại quân hai mươi mốt vạn người, giờ chỉ còn lại vài kẻ trước mặt, cầm lòng không nổi, nước mắt lặng lẽ tuôn rơi.
Đám người thấy Việt Vương chảy lệ, đua nhau quỳ xuống dập đầu.
Vô Cương kéo vạt áo lau nước mắt, thở dài một tiếng: “Than ôi, chư vị dũng sĩ, là Vô Cương đã hại chư vị ra nông nỗi này!”
“Đại vương!” Đám người cùng khóc thất thanh, dập đầu lia lịa.
Vô Cương đang định nói thêm, bỗng nghe phía trước có âm thanh khác lạ, vội ngẩng đầu nhìn, thì thấy đại quân của người Sở đang ồ ạt bủa tới như ong vỡ tổ.
Đám người đang quỳ trên đất quay đầu nhìn lại, ai nấy kinh hãi rụng rời, bởi lẽ chỉ vài trăm bước phía sau, quân Sở đã kéo tới đông nghìn nghịt như kiến cỏ. Ở giữa đám lính nổi lên một tán lọng hoa, đứng hiên ngang dưới tán lọng chính là Sở Vương Hùng Thương. Hai bên trái phải có hai cánh quân, đứng đầu hai cánh quân lần lượt là thái tử Hùng Hoè và khách khanh Trương Nghi. Bên cạnh Trương Nghi tuy không có lính Sở, song có vài chục kiếm sĩ áo nâu, dẫn đầu là Công Tôn Điệt, Công Tôn Yến và Kinh Sinh.
Quân Sở từ từ áp sát lại gần.
Vô Cương không lùi mà tiến, dẫn toàn bộ tàn quân bước thẳng lên đối đầu.
Khi còn cách năm mươi bước, hai bên đều dừng lại.
Trương Nghi vẫn ăn mặc như khi tới Việt, tay cầm quạt lông phe phẩy, do trời không nóng nên động tác này càng thêm phần chướng mắt. Việt Vương, Bôn Thành và đám kiếm sĩ dường như không thèm đếm xỉa tới đám người Sở, chỉ nhìn Trương Nghi trừng trừng.
Lã Tông kinh hoàng hơn ai hết, đưa tay chỉ vào Trương Nghi, lập cập nói: “Trương... Trương Tử... ngươi...”
Trương Nghi thu quạt, cất vào trong tay áo, đứng trên xe vòng tay vái dài mà nói: “Sĩ tử Trung Nguyên Trương Nghi bái kiến đại vương! Bái kiến Bôn tướng quân! Bái kiến Lã đại nhân!”
Bôn Thành như bừng tỉnh mộng, vung kiếm gầm lên: “Trương Nghi, nước Việt không thù không oán với ngươi, vì cớ gì mà ngươi... ngươi bày hết độc kế này đến độc kế khác, hãm hại chúng ta?”
Trương Nghi lại vái một lễ mà nói: “Hồi bẩm Bôn tướng quân, là người Việt tự chuốc nhục cho mình, cớ sao lại nói do Nghi hại?”
Bôn Thành lắp bắp: “Ngươi ngươi ngươi... ngươi đúng là hạng người vô sỉ! Chính miệng ngươi đã xúi giục đại vương bỏ Tề phạt Sở, cớ sao còn nói người Việt tự chuốc nhục về mình?”
“Bôn tướng quân bớt giận!” Trương Nghi lại vòng tay, dõng dạc nói. “Xin cho Nghi được giải thích.”
Bôn Thành bừng bừng giận dữ: “Loại tiểu nhân tráo trở lật lọng như ngươi, còn dám già mồm, xem kiếm của ta đây!”
Rồi vung kiếm định xông lên, thì Vô Cương đã ngăn lại, từ tốn nói: “Bôn ái khanh, hắn nói rất đúng, chính là quả nhân đã tự chuốc nhục vào mình!” Rồi quay sang Trương Nghi, vòng tay nói. “Trương Tử, Vô Cương lâm vào tình cảnh này, không hề trách ngươi. Có điều, quả nhân còn một chuyện không hiểu, xin Trương Tử chỉ giáo!”
Trương Nghi vòng tay đáp lễ: “Đại vương cứ nói!”
“Giả sử Vô Cương không nghe theo lời Trương Tử, một lòng phạt Tề thì kết cục sẽ ra sao?”
“Cũng giống hiện tại mà thôi, có điều đứng trước mặt đại vương lúc này sẽ là người Tề, chứ không phải người Sở!”
Vô Cương thoạt tiên sửng sốt, sau đó khẽ gật đầu: “Phải, quả nhân tin rồi. Quả nhân còn có một câu hỏi, muốn được thỉnh giáo Trương Tử.”
“Đại vương cứ nói!”
“Theo Trương Tử, dù phạt Tề hay phạt Sở, kết cục vẫn như nhau, cớ sao Trương Tử không giúp người Tề, mà lại dành ưu ái cho người Sở?”
Trương Nghi mỉm cười, lại vòng tay nói: “Đại vương đã hỏi như vậy, Nghi không thể không trả lời. Theo Nghi thấy, thiên hạ ngày nay, người có thể có được Trạm Lư không phải là Tề Vương, mà là Sở Vương, nên Nghi giúp Sở mà không giúp Tề.”
Vô Cương cúi thấp đầu, trầm ngâm hồi lâu, mới ngẩng lên nói tiếp: “Trương Tử muốn giúp Sở, thì cứ giúp Sở, cớ sao lại vòng tới Lang Nha, khua môi múa mép, mưu hại quả nhân?”
“Không phải Nghi mưu hại đại vương, là đại vương tự hại chính mình!”
“Nói vậy là sao?”
“Nếu đại vương chịu an phận ở một góc đông nam, có lẽ đã vô sự. Song đại vương lại không tự lượng sức, hưng binh nhọc dân, chinh phạt người vô tội, lấy trứng chọi đá, sao chẳng thất bại? Thiên hạ ngày nay sớm đã không còn là thiên hạ của Câu Tiễn năm xưa, đại vương lại khắc thuyền tìm kiếm, một mực theo đuổi giấc mộng xưng bá của Câu Tiễn ngày trước, là không biết thiên thời. Đại vương rời bỏ vùng núi Ngô Việt, quay sang tranh giành chốn đồng bằng, như hổ xuống núi, là không biết địa lợi. Đại vương vô cớ khởi binh, thảo phạt mù quáng, là không biết nhân hoà. Ba thứ thiên thời, địa lợi, nhân hoà, đại vương đều không có, chỉ cậy vào cái dũng của kẻ thất phu, há chẳng tự mình chuốc lấy bại vong?”
Sắc mặt Vô Cương chuyển sang phẫn nộ: “Quả nhân biết ngươi là đại tài, rất mực trọng dụng ngươi. Ngươi đã biết tất có chuyện bại vong, song lại không khuyên can, chẳng phải là mưu hại, thì là gì đây?”
“Đại vương bớt giận, xin cho Nghi được giải thích!” Trương Nghi dõng dạc nói. “Đại vương thử nghĩ mà xem, giữa mùa xuân năm ngoái, đại vương ấp ủ mưu kế đã nhiều năm, khí thế hừng hực, tập hợp ba quân hai mươi mốt vạn ở Lang Nha, thế như tên đã lên cung, không bắn thì không chịu. Vào lúc đó, nếu Nghi khuyên đại vương thu binh về Việt, an phận ở đông nam, liệu đại vương có chịu nghe chăng? Nếu đúng như Nghi đoán, đại vương sẽ dứt khoát không nghe, nhất quyết khởi binh phạt Tề, mà đã phạt Tề chắc chắn sẽ chuốc thất bại. Nghi nghĩ, nếu để đại vương thất bại trước Tề, chẳng thà thất bại trước Sở, bởi vậy đã khuyên đại vương phạt Sở!”
“Ngươi...” Vô Cương nghẹn lời, rồi đột ngột di chuyển ánh mắt sang Lã Tông bên cạnh, sắc mặt hung tợn, đưa tay lần tìm bảo kiếm bên hông.
Sự biến chỉ trong nháy mắt.
Đám tuỳ tùng gần như không thấy Vô Cương rút kiếm, cũng không thấy Vô Cương tra kiếm vào bao, mà đầu Lã Tông đã rơi dưới đất.
Kiếm thuật cao siêu của Việt Vương, khiến tất thảy những người có mặt đều bàng hoàng thán phục. Sở Vương hết sức hãi hùng, bất giác lùi về phía sau vài bước, hai viên phó tướng bước vội lên che chắn phía trước. Vài chục tay nỏ giương lên, đồng loạt chĩa mũi tên vê phía Việt Vương.
Trương Nghi phẩy tay, đám nỏ thủ liền hạ tên xuống, song vẫn trong tư thế cảnh giác cao độ.
Trương Nghi lại quay sang Việt Vương, vòng tay vái dài: “Nghi còn một điều muốn nói với đại vương!”
Vô Cương không đáp lễ, lạnh lùng buông một tiếng: “Nói!”
“Đại vương tuy không có duyên với Trạm Lư, song vẫn được xem là nhất đại kiếm sĩ. Nếu đại vương thức thời, hạ vũ khí xuống, đưa tay chịu trói, Nghi sẽ thỉnh cầu Sở Vương, tìm cho đại vương một hòn đảo đẹp ở Dũng Đông, đại vương có thể ở đó ngày ngày tu luyện kiếm đạo cùng các kiếm sĩ.”
Nghe những lời này, Sở Uy Vương cũng gạt tuỳ tùng sang hai bên, tiến lên một bước, vòng tay vái dài, rồi cất giọng sang sảng mà nói: “Hùng Thương bái kiến Việt Vương! Hùng Thương ân chuẩn thỉnh cầu của Trương Tử!”
“Ha ha ha!” Vô Cương bật cười sằng sặc một tràng dài, không thèm đến xỉa tới Sở Vương, chỉ ôm quyền hướng về phía Trương Nghi mà nói. “Trời đã không dung Vô Cương, Vô Cương sao có thể sống thừa trên đời? Vô Cương không có nguyện vọng nào khác, chỉ cầu được chết dưới lưỡi kiếm của Trương Tử, mong Trương Tử tác thành!”
“Ồ...” Trương Nghi có phần lúng túng.
Vô Cương lại hỏi: “Lẽ nào đầu của Vô Cương không xứng với kiếm của Trương Tử?”
“Khởi bẩm đại vương, Nghi không thông kiếm thuật, sao có thể ra tay với đại vương?”
“Ngươi...” Vô Cương chết sững một hồi, đau đớn thở dài một tiếng. “Than ôi, Trương Tử, quả nhân thấy ngươi là cao sĩ, tin ngươi là tri giao, lúc lâm chung xin ngươi một kiếm, lẽ nào lại không chịu ban?”
Trương Nghi vòng tay nói: “Đại vương đã quyết chí muốn chết, Nghi đành phải tuân lệnh!”
Vô Cương đáp lễ: “Tạ ơn Trương Tử đã thành toàn!”
“Nghi tuy kiếm thuật không tinh, song sẽ giới thiệu với đại vương một kiếm sĩ thực thụ, hoặc giả sẽ thoả được mong ước của đại vương!” Nói xong, Trương Nghi vòng tay về phía Công Tôn Điệt đứng bên cạnh, vái một vái dài.
Công Tôn Điệt bước lên một bước, vòng tay về phía Việt Vương: “Thảo dân bái kiến Việt Vương!”
Nhìn lão già chưa từng gặp mặt, Vô Cương ngẩn ra một thoáng, rồi hỏi ngay: “Ông là ai?”
“Công Tôn Điệt!”
“Công Tôn Điệt?” Vô Cương nhìn sang Bôn Thành và đám kiếm sĩ, thấy họ cũng đều sửng sốt, đành quay sang Công Tôn Điệt, hỏi. “Vô Cương kiến thức hạn hẹp, dám hỏi lão trượng là cao nhân phương nào?”
“Đại vương không biết thảo dân, song hẳn có biết Công Tôn Hùng?”
“Công Tôn Hùng?” Vô Cương kinh ngạc. “Ông là...”
“Thảo dân là hậu duệ đời thứ sáu của Công Tôn Hùng, nay tới đây thay tiên vương rửa nhục.” Nói đoạn, lập tức bước lên vài bước.
Vô Cương nghe nói vậy, lại suy nghĩ một hồi, dường như đã hiểu ra, bật cười một tràng, cũng bước lên vài bước, vòng tay vái Công Tôn Điệt một vái dài: “Được chết dưới kiếm của hậu duệ Công Tôn Hùng, Vô Cương đã có thể yên tâm nhắm mắt! Công Tôn tiên sinh đã tới đây rửa nhục, dám hỏi rửa nhục bằng cách nào?”
“Nghe nói đại vương kiếm thuật cao siêu, thảo dân bất tài, muốn đọ cao thấp với đại vương!”
“Đây cũng là mong muốn của Vô Cương! Công Tôn tiên sinh, mời!”
Vô Cương vừa dứt lời, Bôn Thành đã quỳ xuống bái lạy: “Đại vương, xin cho phép vi thần đi trước một bước!” Đám kiếm sĩ thấy vậy, cũng đua nhau quỳ xuống cầu xin.
“Chư vị ái khanh,” Vô Cương lần lượt đỡ từng người dậy, rồi khoanh chân ngồi xuống, gật đầu cười nói, “được, sinh tử có nhau, chư vị nguyện theo quả nhân, quả nhân cũng thấy vô cùng an ủi! Chư vị ái khanh, ai xuất chiến trước?”
Lập tức có ba kiếm sĩ bước lên. Kiếm sĩ của Công Tôn Điệt đứng ở phía sau thấy vậy, cũng có ba người nhảy ra.
Cả hai bên đều phi thân ra giữa bãi trống, hành lễ xong xuôi, lập tức rút kiếm thủ thế, hét lớn một tiếng, lập tức xông thẳng vào trận, giao chiêu mù mịt, chỉ thấy bóng kiếm mà không thấy hình người. Trong khoảnh khắc, năm xác người đã đổ vật trên đất, chỉ còn một người bị chém đứt ngang đùi trái, chống kiếm đứng vững trong tư thế vòng tay.
Mọi người cùng nhìn, là kiếm sĩ thuộc hạ của Công Tôn Điệt.
Quân sĩ liền chạy lên, kéo các xác chết sang một bên. Vòng giao đấu thứ hai bắt đầu, mỗi bên lại có ba kiếm sĩ xông lên. Do kiếm sĩ của Vô Cương vừa trải qua sát phạt liên miên, lại đi ròng rã mấy ngày trời, thế lực sớm đã cạn kiệt, chưa được mấy hiệp, toàn bộ tử chiến. Lượt kiếm sĩ này vừa tử chiến, lại thay ba kiếm sĩ khác, một lát sau, cũng bỏ mạng hết lượt. Phía Công Tôn Điệt cũng tử chiến hai người, chỉ còn lại một, cầm kiếm đứng hiên ngang.
Hai bên lại giao chiến thêm vài trận nữa, kiếm sĩ thuộc hạ của Vô Cương không ai chùn bước, toàn bộ xông lên. Kiếm sĩ thuộc hạ của Công Tôn Điệt cũng tử trận tám người, chỉ còn lại ba người trơ lại trên đấu trường.
Tới lượt Bôn Thành.
Bôn Thành quỳ xuống trước Vô Cương, lạy liền mấy lạy: “Đại vương, vi thần xin đi trước một bước!”
Vô Cương nhìn ông ta gật đầu, mỉm cười nói: “Bôn ái khanh, đi đi!”
Bôn Thành chậm rãi đứng dậy, thong thả bước ra đấu trường.
Hai bên hành lễ xong xuôi, ba kiếm sĩ áo nâu đứng vây quanh Bôn Thành, bày thế sẵn sàng. Bôn Thành di chuyển vài vòng cùng ba kiếm sĩ, rồi hét lớn một tiếng, thình lình xuất kiếm. Chỉ thấy kiếm quang loang loáng, bóng người vùn vụt, trong chớp mắt, ba kiếm sĩ áo nâu ở thế chân kiềng đều đã thành ba cái xác không hồn.
Lại có ba kiếm sĩ áo nâu khác tung người lao ra, song nháy mắt đã lại phơi thây trên đất. Bôn Thành cười nhạt, tra kiếm vào bao, đứng hiên ngang giữa đấu trường.
Vô Cương khen ngợi: “Bôn ái khanh, kiếm pháp tuyệt diệu!”
Đám kiếm sĩ áo nâu đưa mắt nhìn nhau, đang định xông lên tiếp, thì Kinh Sinh phẩy tay ngăn lại, vòng tay vái Công Tôn Điệt, rồi tung người phi thân tới, hướng về phía Bôn Thành, vái chào mà nói: “Tại hạ Kinh Sinh xin được thỉnh giáo Bôn tướng quân!”
Bôn Thành cũng đáp lễ: “Nghe danh Kinh tiên sinh đã lâu, Bôn Thành lĩnh giáo!”
Hai người hành lễ xong, bày thế sẵn sàng, bắt đầu xuất kiếm giao chiêu. Kiếm thuật của Bôn Thành vốn cao hơn Kinh Sinh, song do lúc này cơ thể rệu rã, lại vừa ứng chiến mấy trận, nên sức lực đã giảm sút. Hai người đấu với nhau vài chục hiệp, vẫn ngang sức ngang tài.
Lại qua vài hiệp nữa, Bôn Thành đột nhiên thần uy trỗi dậy, một kiếm đâm trúng đùi trái Kinh Sinh, Kinh Sinh vung ngược lưỡi kiếm chém đứt phăng cánh tay phải Bôn Thành, máu phun như suối, bảo kiếm rơi xuống đất. Hai bên đều lùi lại một bước, Kinh Sinh nhặt kiếm của Bôn Thành lên, đưa trả cho Bôn Thành.
Bôn Thành cảm tạ, tay trái cầm kiếm, lại hành lễ, rồi tiếp tục giao chiến. Song vết thương máu tuôn như suối, Bôn Thành mất máu quá nhiều, mau chóng đuối sức, còn bên kia Kinh Sinh chân trái trọng thương, di chuyển khó khăn. Lại qua vài hiệp, Kinh Sinh thấy một kiếm của Bôn Thành đâm tới, song không né tránh, vẫn tung người lao tới, đâm ra một kiếm.
Hai lưỡi kiếm đồng thời xuyên thẳng vào ngực đối phương. Hai thân người dính chặt vào nhau, rồi cùng đổ vật xuống đất.
Hương Nữ bật khóc, kêu thét lên: “Chú Kinh!” Rồi định tung người lao ra, song đã bị Công Tôn Điệt giữ chặt lấy vạt áo.
Đám binh sĩ chạy vào, kéo hết xác người sang một bên.
Nhìn thấy đấu trường đã dọn sạch, Việt Vương Vô Cương nãy giờ vẫn ngồi xếp bằng dưới đất, giờ chậm rãi đứng dậy, bước từng bước tiến lên.
Công Tôn Điệt cũng bước lên nghênh chiến.
Hai người mắt như chớp xẹt, nhìn nhau trừng trừng, rồi bước từng bước về phía đối phương. Khi còn cách năm bước thì dừng lại, đứng im phăng phắc.
Vô Cương vòng tay vái Công Tôn Điệt, nói: “Công Tôn tiên sinh, ngài là trưởng lão, mời xuất kiếm trước!”
Công Tôn Điệt cũng vòng tay đáp lễ: “Đại vương là bậc cao quý, lão hủ thân hèn, không dám xuất kiếm trước. Đại vương, mời!”
Vô Cương lại vái đáp lễ: “Nhìn các kiếm sĩ thuộc hạ của Công Tôn tiên sinh, quả nhiên xuất chúng, hôm nay Vô Cương đã được đại khai nhãn giới!”
“Đa tạ đại vương quá khen! Đại vương, mời!” Công Tôn Điệt lùi lại ba bước, Vô Cương cũng lùi lại ba bước.
Đây là một cuộc tỉ thí giữa hai kiếm sĩ tuyệt đỉnh, nên xung quanh lặng im phăng phắc, tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào hai người.
Sở Uy Vương trợn tròn hai mắt, không muốn bỏ qua bất kỳ tiểu tiết nào.
Hương Nữ sợ hãi bủn rủn, phải dựa hẳn vào Trương Nghi mới đứng vững, căng thẳng tới toàn thân run bắn.
Trương Nghi đưa tay giữ lấy Hương Nữ, mắt nhìn ra đấu trường không chớp.
Vô Cương đứng đối diện với Công Tôn Điệt, hai người cùng đặt tay vào chuôi kiếm, song đều chưa xuất chiêu. Quân sĩ đứng hàng trên cùng dường như không thể chịu nổi kiếm khí ép người ngùn ngụt toả ra từ hai người họ, vô thức lùi lại vài bước.
Một khắc trôi qua.
Hai khắc trôi qua.
Hai người vẫn đứng sừng sững ở đó như hai cây cột, chẳng ai di chuyển dù nửa tấc.
Cuộc đọ sức giữa họ, chỉ bằng ánh mắt.
Xung quanh dường như chết lặng.
Mọi người càng thêm căng thẳng, toàn thân rùng rùng nổi da gà.
Lại một khắc nữa trôi qua.
Những người có mặt đa phần đã bắt đầu mỏi mắt, tâm lực rã rời, có người đã quên mất đây là cuộc đọ sức giữa hai cao thủ, thậm chí có người bắt đầu ngáp dài. Sở Uy Vương xem ra cũng đã mỏi mắt, đưa tay lên dụi.
Gần như cùng một khoảnh khắc, cả Vô Cương và Công Tôn Điệt đều thình lình tung người nhảy vọt lên cao, hệt như hai con chim lớn lướt qua không trung.
Sự việc xảy ra quá đường đột, quá chóng vánh, tựa như sét đánh ngang tai. Tới khi mọi người kịp ngước mắt nhìn lên, đã thấy hai người họ thay đổi vị trí cho nhau, xoay nửa vòng trên không trung, lại hạ xuống đứng đối diện nhau, sừng sững bất động.
Mọi người thảy đều kinh ngạc, trợn tròn mắt nhìn chằm chằm vào hai người, chỉ sợ lại bỏ lỡ mất hiệp đấu tiếp theo.
Song giữa Công Tôn Điệt và Việt Vương Vô Cương không còn hiệp đấu tiếp theo nữa!
Mọi người đợi thêm một lát, chợt nhìn thấy một dòng máu đen đặc chảy ra từ miệng Vô Cương. Lại nhìn sang Công Tôn Điệt, tình hình cũng y hệt như vậy.
Hương Nữ giờ mới phát giác ra, bèn rú lên thảm thiết: “Cha!” Rồi phi thân lao vọt về phía Công Tôn Điệt.
Trương Nghi, Sở Uy Vương, thái tử Hoè và chư tướng dường như cũng đã hiểu ra, vội vã chạy lại, quả nhiên thấy hai người đều đã ngừng thở, hai thanh kiếm đều xuyên trúng tim đối phương không chệch một ly. Song họ đâm lúc nào, đâm như thế nào vào tim của đối phương, thì không một ai trong số những người có mặt nhìn thấy được.
Sở Vương không dám tin vào mắt mình, bước qua bên này xem một lúc, lại bước qua bên kia xem một hồi, rồi quay sang Trương Nghi hỏi: “Họ chỉ... chỉ đánh một chiêu?”
“Hồi bẩm bệ hạ,” Trương Nghi vẻ mặt thẫn thờ, điềm đạm nói, “cao thủ thực thụ, không cần tới chiêu thứ hai!” Nói đoạn, cúi xuống, vực Hương Nữ đang bất tỉnh dưới đất lên, đưa tay bấm vào nhân trung.
Hương Nữ dần dần hồi tỉnh trong tay Trương Nghi, nước mắt tuôn trào như suối: “Phu quân!”
Trương Nghi đưa tay áo lau nước mắt cho Hương Nữ, nói: “Hương Nữ, cha và Kinh huynh đã được thoả nguyện, nàng nên vui mừng mới phải, đừng khóc!”
“Phu quân!” Hương Nữ càng đau đớn lòng, bật khóc thảm thiết.
Sau khi toàn bộ quân Việt đã chui vào trong khe Dương Trường, Chiêu Dương, Khuất Vũ dẫn quân bao vây bốn mặt núi Bồi Vĩ, bịt kín hai đầu khe núi. Nhìn thấy đại thế đã mất, Nguyễn Ứng Long bèn rút kiếm tự vẫn. Quân Việt như rắn mất đầu, lại đói khát khó kham, bèn lũ lượt kéo nhau ra khỏi khe núi, nộp vũ khí xin hàng.
Trong trại trung quân, người ra kẻ vào tấp nập, Chiêu Dương ngồi ngay ngắn ở vị trí chủ, mặt mày hoan hỷ nghe chư tướng báo cáo chiến quả. Đúng vào lúc này, Trần Chẩn theo chư tướng bước vào trại, do không mặc áo giáp, Chiêu Dương thoáng liếc đã thấy ngay, bèn bảo chư tướng ra ngoài đợi, cũng không đứng dậy, chỉ tay vào vị trí khách mà nói: “Trong quân trướng, không phải hành lễ. Thượng khanh mời ngồi!”
Trần Chẩn ngồi xuống, khẽ vòng tay nói: “Tướng quân bận trăm công nghìn việc, Trần Chẩn tới làm phiền, đã quấy quả rồi!”
Chiêu Dương cũng vòng tay nói: “Thượng khanh xưa nay không có việc không tới, hôm nay tới đây, hẳn có việc hệ trọng!”
“Phải!” Trần Chẩn gật đầu. “Tướng quân suy đoán như thần. Tại hạ tới đây, đúng là có hai việc.”
“Thượng khanh cứ nói.”
“Một là tới chúc mừng, hai là tới báo tin dữ.”
“Ồ?” Chiêu Dương cười nói. “Dám hỏi thượng khanh, tin mừng ở đâu, tin dữ thế nào?”
“Tướng quân tiêu diệt toàn quân Việt, công lớn nhường vậy, bệ hạ ắt sẽ trọng thưởng, nên tại hạ xin chúc mừng. Tướng quân sắp thành lại bại, nên tại hạ xin báo tin dữ.”
“Sắp thành lại bại?” Chiêu Dương ngẩn người. “Tại hạ ngu muội, xin thượng khanh nói rõ!”
“Tướng quân tiêu diệt toàn quân Việt, song lại để Việt Vương Vô Cương chạy thoát. Nếu đúng như dự đoán của tại hạ, Vô Cương ắt rơi vào tay Trương Nghi. Xin hỏi tướng quân, được Vô Cương và được lính Việt, công nào lớn hơn?”
Chiêu Dương dường như chưa từng nghĩ tới việc này, giờ mới vò đầu bứt tai, suy nghĩ một lát, thì uất ức gật đầu: “Phải, thượng khanh nói đúng, thảo nào Trương Nghi yêu cầu tại hạ thả Vô Cương đi, hoá ra là muốn đoạt lấy đại công này.”
“Xin hỏi tiếp tướng quân,” Trần Chẩn nói tiếp, “hoà Ngụy diệt Việt, là mưu của ai? Vây khốn người Việt, tuyệt đường lương thảo, vây mà không đánh, là kế của ai?”
Chiêu Dương mặt mày biến sắc.
“Còn nữa!” Trần Chẩn vẫn không buông tha. “Trong một năm qua, ai thường xuyên hầu bên bệ hạ? Ai lúc nào cũng cận kề bên điện hạ?”
Sắc mặt Chiêu Dương càng khó coi hơn.
“Tướng quân thử nghĩ mà xem, tướng quân vất vả bao nhiêu năm qua, là vì cái gì? Trương Nghi bỏ Việt tới Sở, lập nên kỳ công, lẽ nào chỉ vì một chức khách khanh cỏn con?”
Chiêu Dương hít vào một hơi khí lạnh, toát mồ hôi hột, hấp tấp nói: “Thượng khanh có diệu kế gì, mau mau chỉ giáo tại hạ!”
Trần Chẩn bước lại gần, ghé sát tai Chiêu Dương thì thầm một chặp.
Chiêu Dương gật gù: “Hay lắm, kế của thượng khanh quả nhiên tuyệt diệu, tại hạ sẽ thực thi ngay, lập tức tấu lên bệ hạ.”
Trần Chẩn trở lại chỗ ngồi, vòng tay nói: “Tại hạ kính cẩn chờ tin tốt lành!”
Sau khi Trần Chẩn cáo lui, Chiêu Dương không dám chậm trễ lấy một chốc, lập tức lên xe ngựa gấp rút đi về phía đông, vào chiều tối hôm sau thì tới núi Quy Phong, nghe tin Sở Vương đang khải hoàn trở về từ ải Đông Lăng, bèn cấp tốc tới đón đường. Đi chưa được bao xa, quả nhiên thấy đoàn xe của Uy Vương rầm rập tiến lại, vội vã đánh xe sát bên lề đường, xuống xe quỳ lạy, dập đầu sát đất.
Sở Uy Vương nhận được tin báo, bèn dừng xe, vui mừng nói: “Chiêu ái khanh miễn lễ! Mau lên xe, ngồi cùng quả nhân!”
Chiêu Dương tạ ơn, trèo lên xe của Uy Vương, kể lại tóm tắt một lượt chiến sự ở núi Bồi Vĩ, đặc biệt nhấn mạnh tới các kế sách như chỉ vây không đánh, dùng lương thảo thay cho đao thương, ép Nguyễn Ứng Long tự sát, toàn quân Việt bỏ giáp ra hàng, cuối cùng lại nói: “Vi thần đã sắp xếp Cảnh tướng quân, Khuất tướng quân phân phối mười vạn thạch lương thực, chia quân Việt thành hai mươi phần, cứ năm nghìn người một trại, di chuyển tới các nơi khác nhau, tách riêng họ ra, để tránh làm loạn.”
Những kế sách này đều là do Chiêu Dương và Trương Nghi bàn bạc từ trước khi xung trận, song lúc này nói ra từ miệng Chiêu Dương, cảm giác hoàn toàn khác hẳn, toàn bộ công lao dường như đều thuộc về một mình Chiêu Dương.
“Tốt lắm!” Uy Vương khen ngợi. “Ái khanh xử trí như vậy, quả nhân thấy rất hài lòng. Vô Cương làm trái đạo trời, tự diệt nước Việt, tất cả người Việt tự khắc sẽ trở thành thần dân của quả nhân, bớt giết được người nào thì hay người đó. Trải qua một mùa đông, đám người Việt kia hẳn đã đói khát rã rời, khanh sắp xếp như vậy, ắt sẽ khiến họ tâm phục.”
“Tạ ơn bệ hạ khen ngợi!” Chiêu Dương vòng tay cảm tạ, rồi hỏi khẽ. “Dám hỏi bệ hạ, sao không thấy Trương Tử đâu?”
“Trương ái khanh đang lo tang lễ ở ải Đông Lăng.”
“Tang lễ? Tang lễ gì kia?”
Uy Vương kể sơ qua về cái chết của Vô Cương, rồi than thở: “Hỡi ôi, quả nhân vốn cho rằng Việt Vương Vô Cương là kẻ lỗ mãng, nào ngờ cũng là người hiểu biết. Quả nhân thấy hắn có lòng nghĩa hiệp, đã lệnh cho Trương ái khanh an táng trọng thể theo nghi lễ vương hầu.”
Chiêu Dương thoáng sững sờ: “An táng trọng thể như thế nào?”
“Theo Trương ái khanh, Vô Cương từng đưa ra hai nguyện vọng, thứ nhất là chết dưới kiếm của cao thủ, thứ hai là chôn dưới biển sâu. Nguyện vọng thứ nhất đã được thực hiện, còn nguyện vọng thứ hai, quả nhân cũng đã ân chuẩn rồi.”
Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lát, rồi hỏi: “Bệ hạ muốn Trương Nghi tới Dũng Đông?”
Uy Vương gật đầu.
Chiêu Dương thở dài một tiếng, lại vòng tay nói: “Vi thần cũng vì việc này mới phải vội vàng đến yết kiến bệ hạ.”
“Sao?” Uy Vương hơi ngạc nhiên. “Ái khanh mau nói!”
“Tuy ta đã tiêu diệt toàn quân Việt, song mới chỉ thành công một nửa. Đất Việt rộng lớn, dân Việt đông đúc, tuy Vô Cương đã chết, song vẫn còn thái tử. Dù người Việt đã phục tùng bệ hạ, song lòng họ chưa chắc đã phục, vi thần e rằng ngày sau lại có biến.”
“Ái khanh nói rất phải!” Uy Vương nghe thấy là chuyện này, thì thở phào nhẹ nhõm. “Có điều, việc ái khanh lo lắng, Trương Tử cũng đã lường trước cả rồi. Mấy hôm nay, Trương Tử và quả nhân lúc nào cũng bàn kế sách trị Việt, dự tính phân đất Việt làm ba, đặt thành quận Giang Đông, quận Cối Kê, quận Nam Việt, đồng thời an táng Việt Vương long trọng, giảm lao dịch, tô thuế cho người Việt nhằm vỗ yên họ.”
Chiêu Dương trong lòng thầm kinh ngạc: “Ý bệ hạ thế nào?”
“Quả nhân thấy rất phải, đã ân chuẩn cả rồi. Sao, ái khanh có ý kiến khác ư?”
“Bệ hạ thánh minh, vi thần không có ý kiến gì khác, chỉ là... vi thần cho rằng, hiện tại phân đất Việt làm ba, bất lợi cho quản lý. Theo vi thần, tốt nhất bệ hạ nên tuần tự từng bước, tạm thời không phân quận, trước mắt chỉ đặt một quận Cối Kê, đợi đất Việt đã bình định triệt để, mới phân tiếp để trị.”
“Phải!” Uy Vương gật đầu tán thành. “Ái khanh nói rất đúng, người Việt chưa trị đã phân, lòng tất không phục, không phục thì dễ sinh tai hoạ. Quả nhân ân chuẩn đề xuất của khanh, tạm thời chỉ đặt một quận Cối Kê.”
“Bệ hạ thánh minh! Dám hỏi bệ hạ muốn cử ai làm Cối Kê lệnh?”
“Theo ý ái khanh, ai là người thích hợp?”
“Không ai khác ngoài Trương Tử!”
Uy Vương tán thành, gật đầu lia lịa.
“Bệ hạ, người Việt hiện tại như rắn mất đầu, là lúc dễ vỗ yên nhất, thời gian không đợi ta!”
Uy Vương nhắm mắt suy nghĩ một lát, quay sang nội thần: “Dừng xe, triệu kiến thái tử!”
Một lát sau, từ trên cỗ chiến xa ngay sau xe Uy Vương, thái tử Hoè nhảy xuống, hối hả bước lên, bái lạy Uy Vương: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”
“Truyền chỉ, tạm thời thiết đặt quận Cối Kê ở đất Việt, phong Trương Nghi làm Cối Kê lệnh, phong Cảnh Thuý làm thú thừa, khởi binh đúng ngày, chiêu an người Việt!”
“Nhi thần lĩnh chỉ!”
Mười ngày sau, bên bờ Giang Thuỷ ở một mé Chu Thành, vài chục chiến thuyền nối đuôi nhau thành hàng dài, trên thuyền cờ bay phấp phới, từ xa đã nhìn thấy rõ các chữ “Cối Kê lệnh”, “Trương”, “Cảnh”.
Trương Nghi, Cảnh Thuý từ biệt thái tử Hoè, Chiêu Dương, Khuất Vũ tới tiễn đưa, dẫn tám vạn đại quân, chia thành hai đường thuỷ lục, khí thế ngất trời rời khỏi đất Sở.
Hồi Thứ 35
Tỏ mưu âm hiểm, Túc Hầu ngọa bệnh
Trên đài luận kế hợp tung, Tô Tần bị khinh ở Triệu
Phía đông nam kinh đô Hàm Đan nước Triệu có một đầm nước chu vi chừng vạn mẫu, mặt nước mênh mông bát ngát, có tên là Hồng Trạch, cách cung thành chừng ba dặm. Bên đầm có một ngọn núi đất, tiên quân của Triệu thất đã cho xây dựng một biệt cung ở đây, đặt tên là đài Hồng Ba.
Tháng hai mùa xuân, chính là thời điểm vạn vật hồi sinh, thời tiết lúc nóng lúc lạnh. Triệu Túc Hầu vui mừng phấn khởi, cùng hoạn giả lệnh (1) Củng Trạch lên đài Hồng Ba ngắm cảnh xuân, xem sóng nước. Không ngờ vừa tới nơi, chưa kịp thưởng lãm, đã có người hối hả chạy lên đài, trình lên Củng Trạch một bức mật báo. Củng Trạch thấy mật báo được gửi tới từ biên giới Triệu Yên, lập tức bẩm báo lên Túc Hầu. Túc Hầu mở ra xem, lập tức mặt mày biến sắc, trả lại cho Củng Trạch.
Củng Trạch đọc kỹ một lượt, trầm ngâm một lát, hỏi nhỏ: “Chúa thượng, vi thần thực sự không hiểu, Triệu, Yên xưa nay luôn là láng giềng hòa mục, Trung Sơn gần đây cũng không có động tĩnh gì khác lạ, tướng quốc đại nhân cớ sao lại gấp rút tấu xin điều động đại binh, đóng quân ở đất Đại? Sáu vạn đại quân, không phải là một con số nhỏ!”
Túc Hầu chau tít đôi mày, sắc mặt lạnh tanh, một lát sau mới chậm rãi nói: “Không chỉ có vậy, gần đây hắn còn thường xuyên thư từ qua lại với công tử nước Yên Vũ Thành Quân, giao tình rất mực thân thiết. Xem ra, Triệu Thành đã không nhịn nổi nữa rồi!”
“Chúa thượng?”
Túc Hầu nhắm mắt, lại suy nghĩ một hồi lâu, rồi cười nhạt một tiếng, từ từ mở mắt: “Triệu kiến thái y!”
“Thần lĩnh chỉ!”
Trên đài Hồng Ba, thành lũy sâm nghiêm vững chãi.
Một đội giáp sĩ hộ vệ một đoàn tám cỗ xe rầm rập từ phía tây chạy tới, dừng lại trước đài. Em trai thứ ba của Triệu Túc Hầu, tướng quốc Phụng Dương Quân Triệu Thành nhảy xuống xe, đưa tay ra hiệu cho đoàn người dừng bước, rồi một mình hối hả leo lên bậc cấp dẫn tới đài Hồng Ba. Em trai thứ tám của Túc Hầu là công tử Phạm bước xuống bậc nghênh đón, dẫn Phụng Dương Quân tới tẩm cung của Triệu Túc Hầu.
Túc Hầu nằm trên long sàng, mặt đỏ phừng phừng, hai mắt nhắm nghiền, cánh tay khẽ co giật. Vài vị thái y sắc mặt căng thẳng quỳ ở trước giường, một thái y trung tuổi đang chườm túi vải đựng băng lên trán Túc Hầu, một lão thái y râu tóc bạc phơ đang toàn thần chuyên chú bắt mạch. Em trai thứ tư của Túc Hầu là An Dương Quân công tử Khắc quỳ ở trước giường, lo lắng nhìn lão thái y.
Một lát sau, lão thái y buông cổ tay Túc Hầu xuống, bước ra phòng ngoài. An Dương Quân vội theo ra, đang định hỏi thì thấy công tử Phạm dẫn Phụng Dương Quân hối hả bước vào, bèn vòng tay nghênh đón.
Phụng Dương Quân không đáp lễ, chỉ hỏi: “Tứ đệ, quân huynh sao rồi?”
An Dương Quân lắc đầu nói: “Nghe nói quân huynh đổ bệnh, tiểu đệ cũng vừa tới!”
Phụng Dương Quân thoáng ngạc nhiên: “Quân huynh hôm kia vẫn khoẻ mạnh là thế, sao nói đổ bệnh là đổ bệnh ngay được?” Rồi di chuyển ánh mắt sang lão thái y. “Nói đi, chúa thượng bệnh gì?”
“Khởi bẩm tướng quốc,” lão thái y vòng tay vái mà nói, “chúa thượng mạch tượng hư phù, lục kinh không điều hòa, hàn nhiệt sinh ra, lúc tỉnh lúc mê, theo lão thần thấy, đây là chứng quyết âm.”
“Chứng quyết âm?” Phụng Dương Quân khẽ chau mày. “Thế nào là chứng quyết âm?”
An Dương Quân bèn giải thích: “Chứng quyết âm chính là thương hàn!”
Phụng Dương Quân lừ mắt nhìn lão thái y: “Thương hàn thì nói là thương hàn, quyết âm quyết dương cái gì?”
“Lão thần biết tội!”
Phụng Dương Quân vội hỏi: “Bệnh này... không nghiêm trọng chứ?”
“Nếu trong vòng bảy ngày không còn sốt cao thì không nghiêm trọng.”
“Hừm!” Phụng Dương Quân sắc mặt âm trầm, khẽ gật đầu. “Biết rồi, mau kê đơn thuốc!”
Lão thái y vâng lệnh, đứng dậy, tiến lại bên bàn viết đơn thuốc. Đúng lúc này, Củng Trạch từ phòng trong bước ra, vòng tay vái chào Phụng Dương Quân, An Dương Quân: “Hai vị đại quân, chúa thượng có lời mời!”
Công tử Phạm thấy Túc Hầu không cho gọi mình, sắc mặt sầm xuống, sượng sùng bước ra cửa điện, nghênh ngang bỏ đi. Phụng Dương Quân, An Dương Quân theo Củng Trạch vào phòng trong, khấu đầu trước giường Túc Hầu: “Thần đệ khấu kiến quân huynh, chúc quân huynh long thể an khang!”
Triệu Túc Hầu nhìn hai người, cười gượng gạo, tay run run chỉ vào chỗ ngồi bên cạnh: “Hai vị hiền đệ, mời ngồi!”
Hai người lại không nhúc nhích, đưa mắt nhìn nhau, vẫn dập đầu dưới đất.
Triệu Túc Hầu quay sang Củng Trạch: “Truyền Ung Nhi vào!”
Một lát sau, Củng Trạch dẫn thái tử Ung mới mười tuổi vội vã bước vào. Thái tử Ung chạy tới bên giường, quỳ xuống khóc gọi: “Quân phụ!”
Triệu Túc Hầu đưa tay xoa đầu thái tử Ung, chậm rãi nói: “Ung Nhi, nào, hãy tới quỳ trước hai vị công thúc!”
Triệu Ung đứng dậy, đến trước mặt Phụng Dương Quân, An Dương Quân quỳ xuống, khấu đầu chào: “Ung Nhi khấu kiến hai vị công thúc!”
An Dương Quân đưa tay đỡ Triệu Ung dậy: “Ung Nhi miễn lễ!”
“Hai vị hiền đệ,” Triệu Túc Hầu nhìn hai em trai, lại nở một nụ cười méo xệch, chậm rãi nói. “Quả nhân vốn cứ ngỡ cơ thể này cứng như sắt thép, nào ngờ... nói ốm là ốm liền. Than ôi! Trời có gió mưa khó đoán, người có phúc họa khó lường, chính là ý này đây!”
Phụng Dương Quân dập đầu nói: “Quân huynh chẳng qua chỉ là nhất thời khó ở, tuyệt đối không nên nghĩ vậy!”
“Chao ôi!” Túc Hầu lại than thở. “Tạ ơn hiền đệ đã nói lời hay. Hai vị hiền đệ, sức khoẻ của quả nhân thế nào, quả nhân tự biết. Nay gọi hai hiền đệ tới, là có việc muốn ủy thác.”
Phụng Dương Quân, An Dương Quân sụp xuống khấu bái: “Thần đệ nghe chỉ!”
Triệu Túc Hầu ho khẽ một tiếng: “Xem ra, bệnh của quả nhân không thể khỏi được trong ngày một ngày hai. Quả nhân tính rồi, qua vài ngày nữa, hãy tạm để Ung Nhi lâm triều, làm phiền hai hiền đệ phò tá!” Rồi không để hai người kịp nói gì, đưa mắt nhìn thẳng vào Phụng Dương Quân. “Tam đệ!”
Phụng Dương Quân dập đầu đáp: “Có thần đệ!”
“Mọi việc trong triều, nhờ tam đệ quán xuyến giúp cho!”
“Thần đệ lĩnh chỉ!”
Triệu Túc Hầu quay sang An Dương Quân: “Mọi việc trong cung, cũng cậy nhờ tứ đệ!”
An Dương Quân khóc mà bái lạy: “Thần đệ lĩnh chỉ!”
“Hai hiền đệ hãy lui ra, quả nhân mệt rồi!”
Hai người dập đầu cáo từ, đi xuống khỏi đài Hồng Ba.
Phụng Dương Quân từ biệt An Dương Quân, mau chóng ra roi thúc ngựa trở về phủ, vừa cởi bỏ triều phục vừa nói với quản gia Thân Tôn vẫn bám sát theo sau từ lúc rời khỏi đài Hồng Ba: “Gấp rút triệu tập chư vị công tử Phạm, ngự sử, tư đồ, ngũ đại phu, tư khấu tới phủ bàn việc!”
“Tiểu nhân tuân lệnh!” Thân Tôn tuy miệng nói vậy, song chân vẫn đứng im. “Khởi bẩm chúa công, có quý khách tới cầu kiến!”
“Là ai?”
Thân Tôn bước lên một bước, ghé sát tai Phụng Dương Quân thì thầm vài câu, Phụng Dương Quân vội nói: “Ô, là Quý Tử, mau mời vào!”
Thân Tôn đi ra, một lát sau, từ bên ngoài bước vào một người, quỳ xuống dập đầu nói: “Quý Thanh người Yên khấu kiến tướng quốc!”
Phụng Dương Quân vòng tay vái chào: “Quý Tử miễn lễ, ngồi đi!”
Quý Thanh lại bái lạy tạ ơn rồi mới đứng dậy, ngồi vào chỗ, lấy từ trong ngực áo ra một bức mật thư, hai tay kính cẩn dâng lên: “Thư này do đích thân chúa công viết, mời tướng quốc xem!”
Phụng Dương Quân nhận thư, mở ra, đọc kỹ một lượt.
Quý Thanh đoán chừng Phụng Dương Quân đã đọc xong, bèn nói tiếp: “Trước lúc tại hạ lên đường, chúa công còn căn dặn năm lần bảy lượt, bảo tại hạ khẩn cầu tướng quốc huy động thêm binh mã tới đất Đại, càng nhiều càng tốt!”
Phụng Dương Quân suy nghĩ hồi lâu, rồi gật đầu nói: “Bản phủ biết rồi. Quý Tử hãy chuyển lời tới công tử, bản phủ chấp thuận lời ủy thác trong thư của công tử. Cũng mong công tử khi việc lớn đã thành, chớ quên lời hứa!” Quý Thanh đứng dậy bái lạy: “Tại hạ nhất định sẽ chuyển lời vàng ý ngọc của tướng quốc tới chúa công!”
Tin Triệu Túc Hầu lâm trọng bệnh, ủy thác quốc sự cho con thơ đã sớm tới tai Hắc Điêu nước Tần, rồi mau chóng được bẩm báo về cung Tần. Huệ Văn Công gấp rút triệu tập Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác, Cam Mậu vào cung, đồng thời cũng cho vời công thúc Doanh Kiền, vốn thường xuyên qua lại với người Triệu nhiều năm qua, tới bàn bạc về sự biến bất ngờ trong cung Triệu.
“Chư vị ái khanh,” Huệ Văn Công đi ngay vào việc chính, “mấy ngày trước, Triệu Ngữ đột nhiên phát bệnh nặng, thái tử Ung lâm triều chủ chính, quốc sự giao phó hết cho Phụng Dương Quân và An Dương Quân...” Dừng lại, đưa mắt nhìn một lượt quần thần, rồi dừng lại ở Doanh Kiền, khẽ mỉm cười. “Người hiểu nước Triệu, không ai hơn công thúc, hãy để công thúc nói thì hơn!”
“Chúa thượng vừa nói gì kia? Công thúc nghe không rõ, xin chúa thượng nói to hơn!” Từ sau thoái lui khỏi triều chính, mới chỉ vài năm, Doanh Kiên đã già đi trông thấy, tai cũng nghễnh ngãng, nên cúi hẳn người về phía trước, lớn tiếng hỏi.
Thấy công thúc râu tóc bạc phơ, Huệ Văn Công trong lòng đau xót, ngả người về phía trước, ghé sát tai ông nói lớn: “Triệu Ngữ đổ bệnh, thái tử chấp chính, quốc sự giao phó hết cho Phụng Dương Quân, Tứ Nhi muốn nghe ý kiến của công thúc!”
“Ồ?” Doanh Kiền hai mắt vụt sáng. “Chúa thượng nói Triệu Ngữ... đổ bệnh rồi ư?” Trầm ngâm một lát, gật gù. “Được, hay lắm, hay lắm, người này đổ bệnh, Tấn Dương có thể đoạt về!”
“Xin hỏi công thúc, đoạt về thế nào?”
“Hơn chục năm trước, Kính Hầu băng hà, Triệu Ngữ kế vị, công tử Tiết không phục, cấu kết với Triệu Thành mưu phản. Triệu Thành thấy công tử Tiết khó lòng thành công, nên tráo trở lật mặt, trước khi khởi sự, đã tiết lộ mưu đồ của Triệu Tiết với Triệu Ngữ. Triệu Tiết biết sự việc bại lộ, vội vã bỏ chạy sang Trịnh, không lâu sau bị người truy sát. Qua sự việc này, Triệu Thành không những vô tội, lại còn có công, được Triệu Ngữ phong làm Phụng Dương Quân, bái làm tướng quốc, quyền thế khuynh đảo triều đình. Triệu Thành một tay che cả bầu trời nước Triệu, sớm đã có dã tâm cướp ngôi, nay trời ban thời cơ hội tốt, ắt không chịu ngồi yên. Nếu đúng như công thúc dự đoán, cung Triệu sắp sinh nội loạn. Ta có thể tận dụng cơ hội này!”
“Phải!” Công Tôn Diễn hưởng ứng. “Vi thần tán thành ý kiến của thái phó. Nếu có được Tấn Dương, chúng ta có thể đặt nên móng vững chắc ở Hà Đông, phía bắc ép Triệu, Yên, phía tây ép Nghĩa Cừ, phía nam ép Hà Đông của Ngụy.”
“Than ôi!” Doanh Kiền nhìn Huệ Văn Công thở dài một tiếng. “Chúa thượng, nói tới Tấn Dương, tiên quân các triều từ Mục Công tới Hiếu Công đều đã từng chinh phạt. Chưa nói tới chuyện xa xôi, chỉ tính từ thời tiên quân Hiến Công trở lại, Tần, Triệu đã trải qua ba trận huyết chiến tại đây, ta tuy thắng hai trận, song vẫn chưa thể chiếm thành.”
Huệ Văn Công ngẩng đầu lên, ánh mắt kiên định, giọng điệu tuy chậm, song ngữ khí quyết liệt: “Quả nhân muốn có được thành này, chư vị ái khanh có diệu kế gì chăng?”
Mọi người đều trầm ngâm suy nghĩ.
Lát sau, Công Tôn Diễn ngẩng lên nói: “Thần có một kế, có thể chiếm được thành này dễ như trở bàn tay.”
“Ồ?” Huệ Văn Công đưa mắt nhìn Công Tôn Diễn. “Ái khanh hãy nói!”
“Theo vi thần được biết, con trai trưởng của Yên Công là công tử Ngư đóng quân ở hạ đô Vũ Dương, âm mưu soán ngôi. Mấy năm gần đây, Phụng Dương Quân ngấm ngầm cấu kết với công tử Ngư, lấy lý do vây ép Trung Sơn, điều động sáu vạn đại quân, chia thành hai tuyến, một tuyến đóng quân ở Vũ Toại, một tuyến tiến vào đất Đại, ra khỏi núi Thái Hý, bức bách tới Vũ Dương, nhằm trợ giúp công tử Ngư đoạt ngôi thái tử. Người Triệu dàn đại binh ở biên giới, khiến người Yên cảnh giác cao độ, Yên Công đích thân phái đại tướng Tử Chi dẫn sáu vạn binh, chia quân canh gác, đề phòng bất trắc.”
Tư Mã Thác vẻ khó hiểu: “Dám hỏi đại lương tạo, Phụng Dương Quân cớ sao lại muốn trợ giúp công tử Ngư đoạt vị?”
“Công tử Ngư một khi đã nắm quyền triều chính, chắc chắn sẽ nghe theo lời Phụng Dương Quân. Phụng Dương Quân nếu có được sự trợ giúp của người Yên, sẽ tiến tới bức quân chủ thoái vị.”
“Nói vậy là sai rồi!” Tư Mã Thác phản bác. “Phụng Dương Quân đã nắm quyền khuynh đảo triều chính, quan viên thăng chức miễn chức đều do hắn quyết định. Người này nếu muốn bức quân chủ thoái vị, có thể trực tiếp điều binh tấn công Hàm Đan, cớ gì còn cần tới sự trợ giúp của người Yên?”
Công Tôn Diễn không thèm trả lời Tư Mã Thác, chỉ nhìn vào Huệ Văn Công, chậm rãi nói: “Chúa thượng, nếu long thể Triệu Hầu đã như vậy...” Rồi dừng lại nửa chừng.
Huệ Văn Công mắt bỗng vụt sáng, trầm ngâm suy nghĩ một hồi, rồi nói với Công Tôn Diễn: “Phải, Công Tôn ái khanh nói rất đúng, Tần, Triệu là láng giềng thân thiết, vui buồn có nhau. Triệu Hầu long thể bất an, quả nhân nên thăm hỏi mới phải!” Quay sang Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh, chuẩn bị quà biếu, tới Hàm Đan, thay quả nhân thỉnh an Triệu Hầu!”
Sư Lý Tật dường như cũng đã hiểu ra: “Vi thần lĩnh chỉ!”
Được thái y trong cung “tận tình cứu chữa”, Túc Hầu đã gắng gượng cầm cự được bảy ngày, tuy không nguy hại tới tính mệnh, song sức khoẻ vẫn chưa hồi phục, chốc chốc lại “đổ mồ hôi trộm, tức ngực, ho ra đờm”, long thể ngày càng gầy yếu. Thái y sau vài lần khám bệnh, chẩn đoán là chứng lao, kiêng gió, chỉ được ở trong phòng dưỡng bệnh. Thái tử Triệu Ung và mẫu hậu Điền phu nhân, vốn là em ruột Tề Vương Điền Nhân Tề, ngày đêm túc trực trong đài Hồng Ba, không rời Túc Hầu nửa bước.
Lại hơn mười ngày nữa trôi qua, Túc Hầu thấy bệnh tình đã “thuyên giảm ít nhiều”, bèn dặn đình úy Phì Nghĩa, hoạn giả lệnh Củng Trạch sắp xếp cho Triệu Ung lâm triều xử lý chính sự.
Buổi sáng hôm sau, tiếng chuông thượng triều vang vọng, thái tử Ung vẻ lo âu sợ sệt bước lên ngai vàng dưới sự dẫn dắt của Củng Trạch. Triệu Ung từ trên ngai vàng nhìn xuống, thấy trong Tín cung rộng mênh mông chỉ lác đác hơn chục triều thần như An Dương Quân công tử Khắc, đình úy Phì Nghĩa, trung đại phu Lâu Hoãn, ngự sử đang quỳ dưới đất.
Hôm nay là đại triều, về lý mà nói, đáng lẽ triều thần từ cấp trung đại phu trở lên đều phải lên triều, ít nhất cũng tới ba bốn mươi người. Triệu Ung trong lòng nặng trĩu, đang không biết phải nói gì, chợt thấy Củng Trạch đứng phía sau đặng hắng khẽ một tiếng. Do đã được diễn tập từ trước, Triệu Ung bắt chước giọng Túc Hầu, chậm rãi nói: “Chư vị ái khanh, bình thân!”
Quần thần tạ ơn, đứng dậy, trở về vị trí, khoanh chân ngồi xuống.
Triệu Ung đưa mắt nhìn khắp lượt, thấy trống đến hơn hai mươi chỗ, thì bực bội ra mặt, quay sang Củng Trạch lớn tiếng hỏi: “Buổi đại triều hôm nay, đã truyền dụ tới tất cả triều thần chưa?”
Củng Trạch cúi gập người tấu: “Khởi bẩm điện hạ, hôm qua hạ quan đã truyền dụ tới chư thần từ cấp trung đại phu trở lên!”
Triệu Ung sầm mặt xuống, nhìn sang An Dương Quân, làm bộ không hiểu, chỉ vào vị trí trống của Phụng Dương Quân hỏi: “Tứ thúc, hôm nay bản cung lần đầu lâm triều, tam thúc vì sao không tới?”
An Dương Quân vòng tay tấu: “Khởi bẩm điện hạ, vi thần không biết!”
Triệu Ung chuyển ánh mắt sang đình úy Phì Nghĩa, lại tiếp tục nhìn sang trung đại phu Lâu Hoãn, hai người cũng đều im lặng.
Đang lúc không khí căng thẳng, thì ngự sử đứng dậy khấu đầu nói: “Khởi tấu điện hạ, hôm qua tướng quốc đột nhiên trúng phong hàn, nằm bẹp trên giường, không thể lên triều, nhờ vi thần tấu báo điện hạ!”
“Còn các vị khác thì sao?” Ngón tay bé nhỏ của Triệu Ung chỉ về phía các chỗ trống khác. “Họ cũng đều trúng phong hàn cả ư?”
Ngự sử im lặng không nói.
Triệu Ung đang định hỏi tiếp thì Lâu Hoãn vòng tay tấu: “Khởi bẩm điện hạ, tướng quốc đại nhân đổ bệnh, các vị khác hẳn đã tới thăm.”
Triệu Ung mặt đỏ phừng phừng, đang định trách cứ thì thấy Củng Trạch đứng ở phía sau khẽ huých đầu gối vào lưng mình. Triệu Ung hiểu ý, bèn nén cơn tức giận, nín thở một lát, đổi giọng cười nói: “Tam thúc đã đổ bệnh, các khanh cũng nên đi thăm mới phải. Đình úy!”
Phì Nghĩa bước lên một bước: “Có vi thần!”
“Sau khi bãi triều, bản cung cũng muốn đi thăm tam thúc, đình úy hãy sắp xếp!”
“Vi thần tuân lệnh!”
Triệu Ung ngẩng đầu nhìn quần thần: “Long thể của quân phụ chưa bình phục, bản cung thay quân phụ lâm triều, chư vị ái khanh có gì tấu không?”
Lâu Hoãn vòng tay khởi tấu: “Khởi tấu điện hạ, sứ thần nước Tần Sư Lý Tật tới triều, đang đợi bên ngoài điện.”
Triệu Ung khẽ gật đầu: “Truyền sứ Tần lên triều.”
Sư Lý Tật bước vào triều đường, khấu đầu hô: “Đặc sứ của Tần Công Sư Lý Tật khấu kiến điện hạ!”
Triệu Ung phẩy tay: “Sứ Tần miễn lễ!”
“Tạ ơn long ân của điện hạ!” Sư Lý Tật lại bái lạy. “Tần Công nghe nói long thể Triệu Hầu bất an, có chút quà mọn, sai vi thần tới thăm hỏi, cung chúc Triệu Hầu sớm ngày bình phục, vạn thọ vô cương!” Rồi hai tay trình lên danh sách lễ vật.
Củng Trạch nhận lấy, đưa lên Triệu Ung.
Triệu Ung xem lướt qua một lượt, đặt danh sách lên bàn, ngẩng đầu nhìn Sư Lý Tật: “Triệu Ung thay mặt quân phụ đa tạ ý tốt của Tần Công, tiện đây xin chúc Tần Công vạn an.”
“Vi thần nhất định sẽ chuyển tới chúa thượng lời chúc tốt lành của điện hạ. Tần Công còn có một thỉnh cầu, mong điện hạ lắng nghe!”
“Đặc sứ cứ nói!”
“Hai nước Tần, Triệu núi liền núi, sông liền sông, thân thiết như môi với răng, hòa thuận thì đều hưng, tranh chấp thì đều tổn hại. Nay nước Ngụy thất đạo, Bàng Quyên ngang tàng, khiến các bang đều xem là loài lang sói. Tần Công muốn cùng Triệu thất kết minh láng giềng, cùng phạt Ngụy vô đạo, khẩn cầu điện hạ ân chuẩn!”
Triệu Ung ngẫm nghĩ một lát, nhìn sang An Dương Quân. An Dương Quân hất hàm về chỗ trống của Phụng Dương Quân. Triệu Ung hiểu ý, quay sang Sư Lý Tật nói: “Tần, Triệu kết minh láng giềng, là chuyện may mắn của nước Triệu, bản cung có thể quyết định. Tuy nhiên kết minh phạt Ngụy, lại là chuyện liên quan tới sự an nguy của nước Triệu, bản cung tuổi nhỏ, chưa thể tự quyết. Xin sứ Tần tạm về dịch quán nghỉ ngơi, đợi sau khi bản cung bàn bạc với triều thần, bẩm qua tướng quốc, tấu lên quân phụ, mới có thể trả lời!”
Thấy Triệu Ung còn nhỏ tuổi, lần đầu lâm triều đã đối đáp trôi chảy đến vậy, Sư Lý Tật không khỏi kinh ngạc, bất giác đưa mắt nhìn kỹ Triệu Ung, rồi phủ phục xuống bái lạy mà nói: “Vi thần cung kính chờ tin tốt lành!”
Tại phòng khách rộng lớn của phủ Phụng Dương Quân, văn võ bá quan trong triều cùng đám người hầu khiêng theo lễ vật ra vào tấp nập, Thân Tôn tươi cười niềm nở, đứng trước cửa đại sảnh cúi gập người đón tiễn khách.
Gần tới giờ Ngọ, khách vào phủ đã giảm bớt. Thân Tôn uể oải vươn vai, đang định tìm chỗ ngồi nghỉ, thì thấy quan lệnh Hà Gián là Thân Bảo sai người khiêng một hòm lễ vật lớn tiến vào trong sân. Thân Tôn lại cúi gập người đón khách, đang định vòng tay hành lễ, thì thấy Thân Bảo quỳ phịch xuống đất, hướng vào mình vái liền vài vái. Thân Tôn lấy làm kinh ngạc, vội bước tới đỡ Thân Bảo dậy, nói ngay: “Thân đại nhân... chúa công không có ở đây, tại hạ nào dám nhận đại lễ của Thân đại nhân!”
Thân Bảo đứng dậy, lại cúi khom lưng trước Thân Tôn, sắc mặt nghiêm trang mà nói: “Gia lão khách khí rồi! Thân môn trong thiên hạ chỉ có một. Hạ quan nghe nói từ đường của lão quản gia vốn ở đất Sở, thì biết lão quản gia hẳn là từ đất Thân mà tới. Tổ tiên của hạ quan cũng ở đất Thân, hôm nay to gan nhận người thân ở đây, cũng coi là đồng môn đồng tông với lão quản gia. Theo sự phân chia vai vế trong họ Thân, hạ quan là hàng cháu. Cháu gặp ông, đừng nói là dập đầu, dù có ba lạy chín dập đầu, cũng là phải đạo.”
Thân Tôn cười vang mà nói: “Không giấu đại nhân, từ sau khi nước Thân diệt vong, dòng họ Thân phiêu bạt tứ xứ, đâu đâu cũng có. Bất luận thế nào, hễ mang họ Thân, gặp nhau chính là người thân. Cách đây không lâu, tướng Hàn Thân Bất Hại qua đời, tại hạ còn cử người tới chia buồn đấy!”
Thân Bảo vòng tay vái: “Lão quản gia đã nhận hạ quan, quả là phúc phận của hạ quan!” Rồi lấy từ trong tay áo ra bản danh sách lễ vật, hai tay trình lên. “Nghe nói tướng quốc quý thể bất an, hạ quan vô cùng lo lắng, suốt đêm qua mất ngủ, rạng sáng hôm nay đã đôn đáo khắp nơi chuẩn bị chút lễ mọn này, của ít lòng thành, chỉ mong tướng quốc đại nhân mau chóng bình phục!”
Thân Tôn cầm bản danh sách, liếc qua một lượt, chợt sững người, đưa mắt về phía hòm lễ vật. Thân Bảo vội đứng dậy, bước tới trước hòm, mở nắp ra, bên trong bày sáu dãy vàng thỏi, mỗi dãy sáu dật, tổng cộng ba mươi sáu dật.
Thân Tôn thu lại nụ cười, sắc mặt hơi sầm xuống, quay sang Thân Bảo, ôn tồn nói: “Nói đi, cùng là người nhà, lại mang tới lễ vật hậu hĩnh đến thế, hẳn là có điều mong cầu!”
Thân Bảo cười nịnh mà nói: “Gia lão đã hỏi, hạ quan không dám giấu. Từ đường và song thân của hạ quan đều ở Tấn Dương, nay phụ mẫu tuổi đã cao, hạ quan rất mong được điều về Tấn Dương, một là có thể tận lực vì đất nước, hai là muốn tận hiếu với phụ mẫu. Hạ quan bất tài, chút nguyện vọng riêng tư này, mong gia lão nể mặt tổ tiên mà ra mặt giúp đỡ cho.”
“Này Thân đại nhân!” Thân Tôn sắc mặt hơi giãn ra, nụ cười hiện trở lại, dang rộng hai tay mà nói. “Tấn Dương là nền móng của nước Triệu, là bồi đô của chúa thượng, làm gì có chuyện ai muốn đến cũng đến được? Hơn nữa, dựa vào tài năng của đại nhân, chức Hà Gián lệnh đã đủ lắm rồi. Đại nhân lần này tới đây, vừa mở miệng đã đòi làm Tấn Dương lệnh, chẳng phải đã làm khó cho chúa công ư?”
Thân Bảo lại móc từ trong ống tay áo ra một hộp gấm, hai tay trình lên.
Thân Tôn nhận lấy, mở nắp hộp, thấy bên trong là một chiếc bát ngọc tinh xảo, thì nhìn Thân Bảo cười nói: “Ồ, đây quả là báu vật! ở đâu ra vậy?”
Thân Bảo hạ giọng nói: “Đây là vật tổ truyền của nhà hạ quan, xin kính tặng quản gia đại nhân!”
“Ha ha!” Thân Tôn cười nhạt, đậy nắp hộp gấm lại, đưa trả về. “Đã là vật quý trấn trạch của nhà Thân đại nhân, tại hạ không dám nhận.”
Thân Bảo sốt ruột thấy rõ, hai chân khuỵu xuống, lại quỳ sụp dưới đất khấu đầu mà nói: “Gia lão nếu không chịu nhận, hạ quan coi như hết đường tiến thân!”
“Than ôi!” Thân Tôn thu hộp ngọc về, than thở. “Thân đại nhân ép tới nước này, tại hạ không nỡ từ chối, có điều...” Đoạn nhét hộp ngọc vào trong ống tay áo, cúi người xuống đỡ Thân Bảo đứng dậy. “Việc đại nhân nhờ vả, tại hạ sẽ cố gắng hết sức, tuy nhiên thành công hay không, còn phải trông vào may mắn của đại nhân.”
Thân Bảo vòng tay vái lia lịa: “Vâng vâng vâng, đương nhiên rồi! Hạ quan tạ ơn sự cất nhắc của đại nhân!”
Thân Bảo về rồi, Thân Tôn đứng thêm một lát nữa, nhìn thấy không còn khách nào, bèn sai người hầu kiểm kê quà tặng và lễ vật, xếp vào trong kho, đích thân viết một bản kê, nhét vào ống tay áo, cất bước đi về phía hậu hoa viên.
Góc đông bắc hậu hoa viên có một vườn trúc rộng, ẩn trong vườn trúc là một khu nhà bí mật, bên cạnh khu nhà là một ao sen. Song hiện tại chưa tới mùa, nên lá sen vẫn chưa nhú, mặt nước trống trơn lạnh lẽo, đưa mắt nhìn đi, cảm thấy ít nhiều hiu quạnh. Trên khung cửa là ba chữ “Thính Vũ các” do đích thân Phụng Dương Quân viết.
Ở đây yên tĩnh, rộng rãi, vừa là thư phòng của Phụng Dương Quân, cũng là nơi ông ta tiếp đón bạn bè riêng tư.
Chính giữa phòng, Phụng Dương Quân đang ngồi ngay ngắn, hai mắt khép lại, bảy tám trọng thần trong triều như công tử Phạm, tả sư, tư đồ, nội sử cung Triệu ngồi hầu ở bên cạnh, đang chăm chú lắng nghe ngự sử thuật lại mọi việc trong triều.
Ngự sử kể chuyện sinh động như thật, mọi người hớn hở ra mặt. Đợi ngự sử dừng lời, công tử Phạm không kìm nổi, cười vang mà nói với Phụng Dương Quân: “Ha ha, quả đúng như dự đoán của tiểu đệ, chỉ cần quân huynh không lên triều, coi như trên triều đường không còn người nữa!”
Đám triều thần đều cười hi hả. Tư đồ phụ họa: “Công tử nói chí phải. Bá quan trong triều, không ai không nghe lời chúa công!”
Thấy đám triều thần cười đã rồi, Phụng Dương Quân khẽ đặng hắng một tiếng, đưa mắt nhìn khắp lượt, rồi dừng lại ở ngự sử: “An Dương Quân không nói gì ư?”
“Khởi bẩm chúa công!” Ngự sử vòng tay nói. “Điện hạ hỏi chúa công cớ sao không lên triều, An Dương Quân nói rằng...” dừng lại một lát, đặng hắng khẽ một tiếng, bắt chước giọng An Dương Quân, “khởi bẩm điện hạ, vi thần không biết.”
Do ngự sử bắt chước quá giống, đám triều thần lại cười ồ lên. Phụng Dương Quân phẩy tay ra hiệu im lặng, nhoài người lên hỏi: “Sau đó thì sao?”
Ngự sử lắc đầu: “Sau đó không nói gì thêm nữa. Vi thần thấy triều đường im ắng, mới bẩm báo rằng chúa công trúng phong hàn, quý thể bất an. Điện hạ lập tức sai Phì Nghĩa đi sắp xếp, nói là muốn đích thân tới thăm chúa công.”
“Ồ?” Phụng Dương Quân bần thần một lát, lại nhoài người lên hỏi. “Lúc nào điện hạ tới thăm?”
“Vi thần không biết, có lẽ là buổi chiều!”
Phụng Dương Quân ngẫm nghĩ một lúc, mỉm cười nói: “Được, điện hạ tới thăm càng tốt!” Quay sang công tử Phạm. “Bát đệ, ta uy hiếp Trung Sơn, khiến người Yên bất mãn, Yên Công đã phái đại tướng Tử Chi dẫn tam quân sáu vạn ngăn cản, ta muốn điều động thêm hai vạn quân trấn giữ Tấn Dương tới đóng ở quận Đại, trấn áp người Yên. Đợi lát nữa điện hạ tới, ta sẽ yêu cầu điện hạ ban hổ phù, bát đệ đích thân đi Tấn Dương một chuyến. Không biết ý đệ thế nào?”
“Đệ xin nghe lời tam huynh!”
“Còn nữa,” Phụng Dương Quân lôi từ trong ống tay áo ra một chỉ dụ, đưa cho công tử Phạm, “sau khi tới quận Đại, bát đệ hãy truyền khẩu dụ của ta, tạm thay quyền chủ tướng, chỉ huy ba quân. Tới lúc đại sự thành công, chức đại tướng quân nước Triệu sẽ do bát đệ đảm nhiệm!”
Nghe thấy Phụng Dương Quân giao cho mình chức vụ quan trọng như vậy, công tử Phạm xúc động tới lạc cả giọng, quỳ xuống dập đầu hô: “Vi thần lĩnh chỉ!”
Phụng Dương Quân đích thân đỡ công tử Phạm dậy: “Bát đệ mau đứng dậy!” Rồi quay sang một thị tùng đang đứng cạnh. “Chúa thượng gần đây thế nào?”
Người này rõ ràng là vừa từ đài Hồng Ba tới, thấy Phụng Dương Quân hỏi đến, vội vòng tay đáp: “Khởi bẩm chúa công, chúa thượng sốt cao chưa giảm, giờ lại mắc bệnh lao, nghe thái y nói, ít nhất cũng phải tĩnh dưỡng ba tháng. Người mắc bệnh lao thể chất yếu ớt, theo hạ quan thấy, xem ra, chúa thượng khó mà xuống nổi đài Hồng Ba!”
“Ba tháng?” Phụng Dương Quân vuốt râu, gật gù nói. “Tốt, chút thời gian này, cũng đủ dùng rồi!” Quay sang triều thần, nói tiếp. “Chư vị ái khanh, hãy mau hồi phủ, từ ngày hôm nay, làm việc gì cũng phải thận trọng, chưa có ý chỉ của bản công, không được nghị luận lung tung. Đợi khi đại sự thành công, bản công tất báo đáp hậu hĩnh.”
Đám triều thần khấu đầu hô: “Vi thần lĩnh chỉ!”
Sau khi triều thần đã lui ra hết, Phụng Dương Quân lại ngồi thêm một lát, rồi đứng dậy, chậm rãi đi ra khỏi phòng, nhìn đăm đăm vào dăm vệt cành khô lá rữa lơ thơ dưới ao sen, một lúc sau, bắt đầu luyện quyền cước.
Thân Tôn từ phía xa bước lại.
Phụng Dương Quân nhìn thấy ông ta, bèn dừng tay hỏi: “Khách tới đủ chứ?”
Thân Tôn gật đầu, lấy ra một danh sách từ trong ống tay áo, trình lên: “Khởi bẩm chúa công, chưa tính hạ đại phu, mới chỉ tính từ trung đại phu trở lên đã là hai mươi tư người. Đây là bản danh sách lễ vật.”
Phụng Dương Quân nhận lấy bản danh sách, vừa đọc vừa nói: “Ngươi mau thảo một bản điều trần, phàm người có tên trong danh sách, dựa theo chức vị hiện tại, thăng lên một cấp, người nào chưa có chức thực thì bổ sung.”
“Lão nô đã thảo xong rồi!” Thân Tôn lại lôi ra một mảnh lụa từ trong ống tay áo, hai tay trình lên.
Phụng Dương Quân cầm lấy, chẳng buồn xem, nhét ngay vào trong ống tay áo, vẫn tiếp tục lật giở danh sách.
Lật tới trang cuối cùng, ánh mắt Phụng Dương Quân chợt sững lại, rồi quay sang Thân Tôn hỏi: “Ba mươi sáu dật vàng? Tay Thân Bảo này là ai? Vì sao lại đem biếu nhiều vàng đến thế?”
“Khởi bẩm chúa công, người này vốn là tham tướng thuộc hạ của Phì Nghĩa, thấy chúa công thế mạnh, năm ngoái đã cậy nhờ tư đồ mà được làm việc dưới trướng chúa công. Nay thấy chúa công đổ bệnh, mới nhân cơ hội thể hiện lòng trung thành mà thôi.”
“Ồ!” Phụng Dương Quân gật đầu. “Ta nhớ ra rồi. Hình như đã thăng cho hắn chức lệnh gì đó.”
“Hà Gián lệnh!”
“Phải, phải rồi, là Hà Gián lệnh. Hắn làm việc thế nào?”
“Lão nô đã điều tra biết được, Hà Gián vốn là nơi trộm cướp hoành hành, vậy mà chỉ trong một năm, đã tới mức của rơi không ai nhặt, đêm không phải đóng cửa.”
“Ồ!” Phụng Dương Quân không giấu vẻ kinh ngạc. “Nếu đúng vậy, người này quả là kỳ tài, có thể dùng được!”
“Chúa công anh minh!” Thân Tôn vội nói. “Người này không những là nhân tài, mà còn rất trung thành với chúa công. Theo nô tài thấy, liệu có thể để hắn trấn giữ Tấn Dương?”
“Tấn Dương?” Phụng Dương Quân khẽ chau mày. “Hà Gián chẳng qua chỉ là một huyện ấp, còn Tấn Dương lại là quận lớn vùng biên cương, tổng cộng có bốn huyện tám ấp. Nếu dùng người này, dù thế nào cũng phải có lý do. Hơn nữa, ngộ nhỡ để xảy ra sai sót, há chẳng làm hỏng việc lớn của bản công ư?”
Thần Tôn đảo con ngươi một vòng: “Chính vì Tấn Dương là quận lớn, chúa công càng cần dùng người đáng tin cậy!” Tiến sát thêm một bước, hạ thấp giọng. “Thú thừa Tấn Dương Triệu Báo xưa nay không phục chúa công, nếu Thân Bảo hắn...”
“Được rồi!” Phụng Dương Quân trầm ngâm một lát, gật đầu đồng ý. “Trước hết hãy điều hắn tới Tấn Dương làm đô úy một năm, nếu có công lao, tất được cất nhắc. Ngươi hãy nói với hắn, bảo gì nghe đấy, không được tranh giành với Triệu Báo, chỉ cần âm thầm làm đúng như dự tính là được.”
“Lão nô tuân lệnh!”
Thân Tôn vừa dứt lời, chủ sự tiền đường bỗng vùn vụt chạy lại, quỳ xuống bẩm báo: “Báo, điện... điện hạ tới!”
Phụng Dương Quân ngẩn ra một thoáng, rồi vội nói với Thân Tôn: “Mau, ra nghênh đón điện hạ, một khắc nữa, đưa điện hạ tới tẩm cung!”
Thân Tôn tuân lệnh đi ra.
Một lát sau, dưới sự dẫn dắt của Thân Tôn, đình úy Phì Nghĩa đưa thái tử Ung tới tẩm cung của Phụng Dương Quân, vừa tới cửa đã nhìn thấy Phụng Dương Quân nằm nghiêng trên giường, đầu quấn khăn trắng, trước giường đặt một bát thuốc còn phân nửa.
Thân Tôn dõng dạc: “Điện hạ giá lâm!”
Thái tử Ung, Phì Nghĩa bước vào, đám người hầu trong phòng vội vã quỳ xuống nghênh đón. Phụng Dương Quân gắng sức chống một cánh tay lên giường, làm bộ muốn xuống giường hành lễ.
Thái tử Ung vội bước lại, đỡ Phụng Dương Quân nằm xuống. Phụng Dương Quân bèn khom người, vòng tay, cười buồn bã mà nói: “Ung Nhi, tam thúc thật là...”
Thái tử Ung ngồi xuống bên mép giường, nhìn Phụng Dương Quân nói: “Nghe nói tam thúc quý thể bất an, Ung Nhi vô cùng lo lắng, bãi triều vội tới thăm ngay. Tam thúc đã đỡ hơn chút nào chưa?”
Phụng Dương Quân lại gượng cười: “Tạ ơn điện hạ quan tâm. Chỉ là chút phong hàn, không có gì nghiêm trọng.”
Thái tử Ung ứa nước mắt mà nói: “Quân phụ ốm liệt giường, Ung Nhi trẻ người non dạ, việc lớn trong triều chỉ biết trong cậy vào tam thúc, tứ thúc. Nào ngờ, tam thúc cũng...”
Phụng Dương Quân hơi nghiêm mặt lại, vờ như không biết: “Nghe giọng của điện hạ, trong triều hẳn đã xảy ra chuyện gì ư?”
Thái tử Ung đưa ống tay áo lau nước mắt, gật đầu nói: “Sứ Tần Sư Lý Tật vào triều, muốn kết minh với ta để phạt Ngụy. Đây là việc lớn, Ung Nhi không biết ứng phó thế nào, mong tam thúc định đoạt.”
“Ồ?” Phụng Dương Quân ra vẻ kinh ngạc. “Người Tần lại muốn kết minh phạt Ngụy ư? An Dương Quân có kế sách ứng phó chăng?”
Thái tử Ung lắc đầu nói: “Ung Nhi có hỏi tứ thúc, tứ thúc nói, những việc như điển chương lễ nghi, việc trong cung, hay củi dầu gạo muối có thể hỏi tứ thúc. Còn chuyện bang giao phạt quốc, bổ nhiệm miễn nhiệm quan viên các ấp bên ngoài, hãy hỏi tam thúc.”
Phụng Dương Quân chợt giật thột trong lòng, bởi lời lẽ của thái tử Ung, rõ ràng là muốn vạch rõ quyền hạn của ông ta. Tuy ông ta là tướng quốc, song chỉ được quản những chuyện bên ngoài cung Triệu. Còn nội chính của cung Triệu, đặc biệt là chuyện của ba tư phủ, tức phủ tư đồ, tư không và tư mã, đều do An Dương Quân trực tiếp quản lý, Triệu Túc Hầu không cho ông ta xen vào. Gần đây, tuy tư đồ đã chạy về dưới trướng ông ta, song nếu không được An Dương Quân đóng ấn, thì đến một xe gạo, tư đồ cũng không dám động đến, nếu không sẽ phạm tội mưu phản.
Phụng Dương Quân mau chóng định thần, khẽ thở dài: “Than ôi, quân huynh giao phó ta và tứ đệ phò tá điện hạ, nào ngờ vừa gặp chuyện khó khăn, tứ đệ đã đùn đẩy trách nhiệm sạch trơn, chỉ muốn hưởng nhàn một mình.”
Thái tử Ung vái dài sát đất: “Đại sự của đất nước, phải làm phiền đến tam thúc!”
“Hỡi ôi!” Phụng Dương Quân lại thở dài. “Như vậy xem ra cũng đành phải để tam thúc đây gắng gượng sức tàn mà thôi!” Nói đoạn, đưa tay lần về phía bát thuốc. Thái tử Ung bèn thuận tay bưng lên, đặt vào trong tay Phụng Dương Quân.
Phụng Dương Quân uống vài ngụm, rồi đưa ống tay áo chấm khẽ quanh miệng: “Điện hạ, nếu để tam thúc nói, thì tam thúc cho rằng người Tần là không đáng tin cậy nhất. Kẻ địch trước mắt không phải là người Ngụy, mà là Trung Sơn. Mấy năm gần đây, Trung Sơn chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương, ngấm ngầm cấu kết với Ngụy, Tề, quấy nhiễu dân chúng biên cương của ta. Nếu để mặc Trung Sơn bành trướng, ta khác nào mắc xương trong họng, ăn ngủ không ngon!”
Thái tử Ung tỏ ra lo lắng: “Vậy ý của tam thúc ra sao?”
“Ngụy, Tề trợ giúp Trung Sơn, muốn dựa vào sức mạnh của Trung Sơn để đối đầu với Triệu, Yên. Tam thúc cho rằng, điện hạ hãy đồng ý kết tình láng giềng hòa mục với Tần, tạm thời giải quyết mối lo phía tây bắc, sau đó điều quân trấn thủ Tấn Dương tới quận Đại, uy phục Trung Sơn!”
Phì Nghĩa vừa đặng hắng, vừa kín đáo giẫm vào mũi chân thái tử Ung. Thái tử Ung làm như không biết, lập tức đồng ý: “Cứ làm theo ý của tam thúc!”
“Tuy nhiên,” Phụng Dương Quân do dự một lát, “điều quần trấn thủ biên giới phải có hổ phù, hổ phù lại ở trong tay chúa thượng. Hiện tại việc quân cấp bách, mà chúa thượng lại...”
Thái tử Ung gật đầu nói: “Tam thúc chớ lo, việc quân cấp bách, Ung Nhi sẽ lập tức trở về tấu xin quân phụ cấp hổ phù, giao cho tam thúc.”
“Vậy thì tốt quá!” Phụng Dương Quân thở phào một tiếng, lần dưới gối lôi ra một bản danh sách dài. “Còn nữa, đây là một số chức quan cần được điều chỉnh, cũng xin điện hạ phê chuẩn!”
Thái tử Ung cầm bản danh sách, cẩn thận đọc một lượt, mỉm cười rồi đặt trở xuống: “Việc này nằm trong thẩm quyền của tam thúc, không cần tấu thỉnh, tam thúc hãy tự quyết. Nếu cần Ung Nhi đóng ấn, tam thúc cứ cho người mang tới Tín cung.”
Phụng Dương Quân không ngờ thái tử Ung lại vui vẻ đồng ý với tất cả thỉnh cầu của mình nhanh chóng đến vậy, thần người ra một lúc, mới gập người cảm tạ: “Lão thần kính cẩn nghe lời điện hạ!”
Thái tử Ung cũng đứng dậy nói: “Tam thúc còn yếu, Ung Nhi không quấy rầy nữa!”
Phụng Dương Quân lại cúi gập người: “Điện hạ ra về cẩn thận!”
Trên đường về cung, Phì Nghĩa hai chân thúc ngựa, phóng nhanh lên trước vài bước, đi song song cùng xe thái tử, lớn tiếng hỏi: “Điện hạ, quân trấn thủ Tấn Dương sao có thể tự ý điều động được?”
Triệu Ung đưa mắt nhìn Phì Nghĩa: “Cớ sao không thể điều động?”
“Điện hạ!” Phì Nghĩa vội nói. “Tấn Dương là trọng trấn của Hà Đông, là nền tảng của nước Triệu, dứt khoát không được để mất!”
“Làm gì có cái lý đấy!” Triệu Ung trừng mắt nhìn Phì Nghĩa. “Tam thúc trị nước lâu năm, lẽ nào đến đạo lý cỏn con này cũng không biết?”
“Hừm, trị nước lâu năm cái gì!” Phì Nghĩa không phục, lớn tiếng phản bác. “Hành động này của tướng quốc, dứt khoát là có ý đồ đen tối! Điện hạ có nhận thấy không, Phụng Dương Quân... chẳng qua chỉ là giả bệnh!”
Triệu Ung dường như không nghe thấy, hỏi lại Phì Nghĩa: “Đình úy có biết một người tên là Thân Bảo không?”
“Có biết!” Phì Nghĩa trả lời. “Ba năm trước, kẻ này chính là tham quân dưới trướng mạt tướng!”
“Ồ?” Triệu Ung có vẻ rất tò mò về Thân Bảo. “Hãy nói về kẻ này!”
“Một tên tiểu nhân không hơn không kém!” Phì Nghĩa hừ mũi khinh thường. “Chỉ cần ném tiền cho hắn, hắn sẵn sàng bán luôn cả cha mẹ! Có điều, kẻ này vô cùng tinh quái, thấy đi theo vi thần không có tiền đồ, nên đã ngấm ngầm quay sang nịnh hót quản gia Thân Tôn của phủ Phụng Dương Quân, nên đã được thăng quan, đảm đương chức Hà Gián lệnh. Sao, điện hạ hỏi hắn có việc gì?”
Triệu Ung tim nảy lên một nhịp, song mặt không hề biến sắc, điềm tĩnh nói: “Kẻ này lại thăng quan rồi, đô úy Tấn Dương!”
Phì Nghĩa ngây người, trợn trừng hai mắt nhìn Triệu Ung, đang muốn hỏi tiếp thì Triệu Ung đã cười nhạt, nói: “Đình úy đại nhân, nếu đình úy không yên tâm về kẻ này, có thể cắt cử vài người, bố trí theo dõi hắn, xem hắn làm những trò gì!”
Về đến phủ, trời đã tối. Phì Nghĩa cho gọi quân úy thuộc hạ lại, căn dặn dẫn theo vài tên lính, cải trang kỹ lưỡng, ngấm ngầm theo dõi Thân Bảo.
Thân Bảo sống tại một trạch viện ở Hàm Đan. Đám quân úy cải trang dân thường, ngồi lê la quanh trạch viện. Chưa được bao lâu, cổng viện mở ra, một cỗ xe sang trọng lao khỏi cổng viện, chạy vụt đi. Do ở trong thành, xe ngựa không thể đi nhanh, quân úy cử một người ở lại theo dõi trạch viện, rồi cùng hai người khác gấp rút bám theo.
Cỗ xe sau một hồi vòng vèo lắt léo, dừng lại trước một quán trọ. Ba người tiến lại gần, thấy trên cổng treo biển hiệu đề dòng chữ “Quán trọ Dạ Lai Hương”, bên trong đèn nến sáng trưng, vô cùng náo nhiệt. Quân úy lại cử một người ở ngoài trông chừng, rồi cùng một người bước vào bên trong, song không thấy Thân Bảo đâu.
Tiểu nhị bước ra đón, tươi cười niềm nở: “Khách quan muốn thuê phòng ư?”
Quân úy lấy từ trong ống tay áo ra một đồng tiền đao (2), dúi vào tay tiểu nhị, khẽ hỏi: “Người mới vào đâu rồi?”
Tiểu nhị cầm đồng tiền đao, nhìn quân úy dò xét, hỏi nhỏ: “Người khách quan muốn hỏi phải chăng là Thân gia?”
Quân úy gật đầu.
“Mời đi theo tiểu nhân!”
Tiểu nhị dẫn quân úy tới hậu viện, rẽ qua một khúc ngoặt, chỉ vào một dãy nhà, nói khẽ: “Khách quan muốn tìm Thân gia, cứ vào trong nhà kia. Tiểu nhân cáo từ!”
Quân úy gật gật đầu, thấy tiểu nhị đi khuất, bèn chỉ vào góc tường nói với tên lính đi theo: “Ngươi canh chừng ở đây, có người tới thì ho lên một tiếng!” Nói xong, rón rén tiến về phía khu nhà, dừng lại trước cổng.
Cửa phòng đóng chặt. Quân úy đưa mắt nhìn quanh, thấy bên cạnh có một bức tường thấp, bèn tung người nhảy lên, thận trọng leo lên nóc nhà, di chuyển theo sống nóc vào trong, nhìn thấy trong phòng khách đèn thắp sáng trưng, Thân Bảo đang ngồi đối diện với một người, hai người đều nâng chén rượu. Bên cạnh còn có một kẻ nữa đang đứng, hẳn là nô bộc của người kia.
Người kia nâng chén chúc mừng: “Tại hạ chúc mừng Thân đại nhân đã thăng chức đô úy Tấn Dương!”
Thân Bảo cũng nâng chén, nói: “Nếu không nhờ đặc sứ đại nhân đây giúp đỡ quà biếu, tại hạ làm gì có được ngày hôm nay?”
Nghe thấy hai chữ “đặc sứ”, quân úy lập tức nhận ra ngay người kia chính là đặc sứ nước Tần Sư Lý Tật, thì giật mình kinh ngạc, nín thở, nằm dán mình trên mái ngói, nghiêng tai lắng nghe.
Sư Lý Tật cười nói: “Thân đại nhân khách khí rồi! Dựa vào tài năng của Thân đại nhân, chức vị đô úy Tấn Dương e rằng vẫn chưa xứng! Đợi đại sự thành công, tại hạ nhất định sẽ tấu xin Tần Công, phong đại nhân làm quận thú Hà Đông, thống lĩnh việc phòng ngự Hà Đông.”
Thân Bảo trợn tròn mắt, đặt chén rượu xuống, đứng dậy bái lạy mà nói: “Chỉ sợ tại hạ tài hèn học kém, khó mà đảm đương trọng trách!”
Sư Lý Tật đứng lên, đỡ hắn dậy nói: “Thân đại nhân bất tất phải khách khí! Tài của đại nhân, đừng nói là tại hạ, đến Tần Công cũng đã sớm nghe danh. Tại hạ lần này tìm đến, cũng là vi ngưỡng mộ tài năng của Thân đại nhân!”
Thân Bảo lại lạy mấy lạy: “Tạ ơn Tần Công yêu mến! Tạ ơn đại phu nâng đỡ!”
Trên con đường mòn dẫn tới Hàm Đan, Tô Tần dáng vẻ bơ phờ, vừa đi vừa gặm lương khô. Cắn được vài miếng, bèn gỡ bầu nước bên hông xuống, mở nắp, uống ừng ực.
Tô Tần chợt dừng bước, ngồi phịch xuống, cởi đôi giày vải cuối cùng mà Tiểu Hỷ khâu cho, cầm trên tay ngắm nghía một hồi, thấy đế giày đã mòn vẹt hết cả, bèn nở một nụ cười buồn bã, lắc lắc đầu, vung tay vứt đánh vèo vào bụi cỏ ven đường, sau đó lấy từ trong tay nải trên lưng ra một đôi giày cỏ, thử đi vài bước, rồi lại tiếp tục hành trình.
Đi được vài giờ, Tô Tần rẽ vào một con đường lớn, người qua kẻ lại dần tấp nập hơn. Tô Tần ngẩng đầu nhìn về phía trước, thấy xa xa thấp thoáng một bức tường thành và cổng thành hùng vĩ, đoán là đã tới Hàm Đan, bất giác mỉm cười.
Tô Tần sải bước nhanh hơn, chưa đầy nửa canh giờ sau, đã tới cổng nam Hàm Đan. Cổng thành mở rộng, người đợi vào thành xếp hàng dài dằng dặc chờ lính canh tra xét. Do năm ngoái đã từng qua đây nên Tô Tần thông thuộc đường đi lối lại, không gặp phiền hà gì, nhanh chóng qua được tra xét, tự tin sải bước trên phố lớn Hàm Đan.
Tô Tần đi theo con phố, thẳng tới cung Triệu. Khi sắp tới cung thành, Tô Tần buông chậm bước chân, hai mắt chăm chú nhìn vào các quán trọ ven đường, mong tìm được một nơi giá rẻ.
Đúng vào lúc này, một người quẩy gánh bánh nướng tiến lại, vừa đi vừa rao: “Bánh nướng đây, bánh nướng Trịnh Ký chính hiệu, thơm nức cay giòn, một đồng hai chiếc, không ngon không lấy tiền!”
Mùi bánh nướng thơm phức mời gọi Tô Tần. Tô Tần liền tiến lại, tìm trong ống tay áo lấy ra một xu tiền đồng: “Bán cho hai chiếc!”
Người bán bánh nướng cầm tiền, lấy ra hai chiếc bánh. Tô Tần đang đói ngấu, quay người liền đưa lên miệng ăn ngay. Không ngờ vừa đi được vài bước, người bán bánh nướng đã gọi với theo: “Quan gia, xin dừng bước!”
Tô Tần thấy anh ta gọi mình, bèn dừng lại, ngoảnh đầu nhìn. Người bán bánh nướng chạy vội tới, trả lại đồng xu cho Tô Tần: “Quan gia, nhầm tiền rồi! Tiền của quan gia là tiền Chu, tiểu nhân chỉ nhận tiền Triệu thôi!”
Nghe người này nhắc nhở, Tô Tần mới sực nhớ ra rằng từ lúc vào nước Triệu, quên chưa đổi tiền. Tiền Chu và tiền Triệu đều là tiền đồng, song trọng lượng khác nhau, bề ngoài chỉ hơi khác biệt, nếu không nhìn kỹ, khó mà nhận ra.
Tô Tần cười nói: “Anh bạn, tại hạ là người Chu, vừa tới đây, trên người chỉ có tiền Chu, không có tiền Triệu!”
Người bán bánh cuống lên: “Ông chủ đã dặn, bán bánh chỉ nhận tiền Triệu, không nhận bất cứ thứ tiền nào khác. Khách quan chỉ có tiền Chu, không có tiền Triệu, thì tiểu nhân không bán bánh nữa!”
Tô Tần lúng túng nhìn vào chiếc bánh nướng đã bị cắn mất một miếng. Người bán bánh liếc thấy, lập tức la rầm lên: “Chết rồi, làm thế nào đây? Tiểu nhân bán bánh có số lượng, giờ về chắc sẽ bị ông chủ mắng chết. Khách quan mau đền bánh cho tiểu nhân!”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, trả chiếc bánh còn nguyên vẹn cho anh ta, lại móc từ trong túi ra một đồng tiền Chu, cười biết lỗi mà nói: “Anh bạn, chiếc bánh này tại hạ đã cắn một miếng, không thể trả lại được. Ta đền cho anh hai đồng tiền Chu, anh cứ cầm tiền về đi, đảm bảo ông chủ sẽ khen anh đấy!”
Người bán bánh lại khóc rống lên, túm chặt Tô Tần không buông: “Tiểu nhân không cần tiền Chu của khách quan, chỉ cần tiền Triệu thôi!”
Rõ ràng anh chàng này mới theo nghề bán bánh. Tô Tần chỉ biết cười nhăn nhó, thấy người trên phố quây lại mỗi lúc một đông, lại càng thêm lúng túng, đang vắt óc nghĩ kế thoát thân, thì có người chìa ra một đồng tiền Triệu về phía người bán bánh: “Anh bạn, tiền của tôi là tiền Triệu, trả giúp cho vị khách quan đây!”
Người bán bánh cầm lấy đồng xu, xem kỹ rồi vòng tay vái lia lịa: “Tiểu nhân cảm tạ quan gia, cảm tạ quan gia!”
Tô Tần ngẩng đầu nhìn, té ra là Giả Xá Nhân, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ: “Giả huynh!”
Giả Xá Nhân vòng tay: “Xá Nhân xin chào Tô Tử!”
Tô Tần vội đáp lễ, phấn chấn nói: “Thật không ngờ lại gặp được Giả huynh ở đây.”
“Tại hạ đợi Tô Tử đã lâu rồi!” Giả Xá Nhân cười vang mà nói. “Không giấu Tô Tử, khi Tô Tử vừa bước chân vào cổng nam, tại hạ đã cảm thấy ngờ ngợ, chỉ là nhìn Tô Tử ăn mặc thế này, tại hạ không dám nhận, nhưng cũng sợ mình sai, nên mới bám theo sau. Nếu không xảy ra chuyện này, tại hạ có lẽ vẫn chưa dám chắc.”
Tô Tần nhìn vào trang phục rách nát của mình, cười nói: “Giả huynh cũng nhìn người qua mũ áo ư?”
Giả Xá Nhân cười lớn, nói: “Đã là người, làm sao không có mũ áo được!”
“Ồ!” Tô Tần bỗng sực nhớ ra, bèn thu lại nụ cười, hỏi. “Giả huynh vừa nói, Giả huynh đã đợi ở đây lâu rồi. Tại hạ ngu muội, dám hỏi câu này có nghĩa gì?”
Giả Xá Nhân tảng lờ không trả lời, cười hỏi: “Tô Tử đã có chỗ nghỉ chưa?”
“Tại hạ vừa tới Hàm Đan, vẫn chưa tìm được quán trọ ưng ý.”
Giả Xá Nhân chỉ tay về phía trước: “Tại hạ hiện đang ở quán trọ Phong Vân đằng kia, phòng ở cũng khá rộng rãi. Nếu Tô Tử không chê, hãy tạm tới ở chung với tại hạ, ý Tô Tử thế nào?”
Đúng lúc Tô Tần cũng đang vì hầu bao rỗng tuếch mà lo lắng về chuyện ăn ở, nghe vậy liền vòng tay vái tạ liên hồi: “Được Giả huynh chiếu cố, tại hạ cung kính không bằng tuân mệnh!”
Giả Xá Nhân đáp lễ, nói: “Tô Tử, mời!”
Hai người về đến quán trọ Phong Vân. Giả Xá Nhân dẫn Tô Tần vào khu nhà đang thuê trọ, bố trí chỗ ngủ xong xuôi, bèn gọi tiểu nhị mang tới thức ăn và rượu ngon, rót rượu ra hai chén, nâng chén mà nói: “Tô Tử đi đường vất vả, tại hạ tạm dùng chén rượu nhạt, xin được tẩy trần cho Tô Tử!”
Tô Tần cầm chén trên tay, song không nâng lên, mà hỏi Xá Nhân: “Câu hỏi của tại hạ, Giả huynh vẫn chưa trả lời!”
“Không giấu Tô Tử,” Giả Xá Nhân đặt chén rượu xuống, chậm rãi nói, “từ lúc Tô Tử bỏ đi, Tần Công vô cùng hối hận, đã sai tại hạ cấp tốc tới Lạc Dương tìm Tô Tử. Cách đây mười ngày, tại hạ tìm tới Hiên Lý, gặp được lệnh đệ Tô Đại, nói rằng Tô Tử vừa đi một ngày trước. Tại hạ hỏi Tô Tử đi đâu, đáp rằng Tô Tử tới Hàm Đan. Tại hạ vội đuổi theo, nhưng không đuổi kịp. Tại hạ suy tính, Tô Tử đi bộ, tất đi đường mòn; tại hạ đi xe ngựa, phải đi đường lớn, nên không có duyên gặp nhau. Tại hạ đành phải ra roi thúc ngựa, mau chóng tới Hàm Đan trước, tìm quán trọ, ngày ngày ra cổng nam đứng đợi, quả nhiên đã gặp được Tô Tử.”
Tô Tần nâng chén rượu lên: “Vất vả cho Giả huynh rồi!”
Giả Xá Nhân cũng nâng chén, nói: “Tô Tử, mời!”
Hai người cùng uống cạn. Tô Tần đặt chén xuống, nhìn Giả Xá Nhân hỏi: “Xem ra, Giả huynh muốn tại hạ quay trở về Hàm Dương?”
Giả Xá Nhân nghiêm túc gật đầu: “Là ý của Tần Công! Tần Công muốn tại hạ tìm bằng được Tô Tử, mời Tô Tử quay trở lại Hàm Dương. Tần Công còn nói đi nói lại rằng, sẽ giao phó đất nước cho Tô Tử, để thành tựu tráng chí của Tô Tử.”
Tô Tần mỉm cười: “Nếu nói như vậy, e rằng Giả huynh lần này đã uổng công rồi!”
Giả Xá Nhân hơi sững lại: “Sao kia? Tô Tử không muốn quay lại Hàm Dương?”
Tô Tần gật đầu.
Giả Xá Nhân uống một chén rượu, than thở: “Hỡi ôi, để mất Tô Tử, là điều đáng tiếc cả đời của Tần Công!”
Tô Tần lại cười: “Nếu Tần Công dùng Tô Tần, cũng là điều đáng tiếc cả đời của Tô Tần!”
Giả Xá Nhân sửng sốt hỏi: “Cớ sao Tô Tử lại nói vậy?”
Tô Tần bưng vò rượu lên, rót đầy hai chén, nâng chén mà nói: “Tại hạ và Tần Công, chí không giống, đạo không hợp, sao có thể mưu sự cùng nhau?”
Giả Xá Nhân ngẩn ra: “Chí của Tô Tử là nhất thống thiên hạ, chí của Tần Công cũng là nhất thống thiên hạ, cớ sao lại nói chí không giống, đạo không hợp?”
“Giả huynh có điều không biết,” Tô Tần chậm rãi nói, “chí của Tần Công chỉ là nhất thống; còn chí của Tô Tần, nhất thống chẳng qua chỉ là khởi đầu!”
“Câu này nên hiểu thế nào?”
“Không giấu Giả huynh,” Tô Tần nhấp môi chút rượu, ánh mắt chuyển từ Giả Xá Nhân ra ngoài khung cửa, “sau khi du thuyết Tần bất lợi, tại hạ khổ sở suy nghĩ suốt mấy tháng trời, cuối cùng đã ngộ ra một chính đạo trị loạn.”
Giả Xá Nhân trợn tròn hai mắt: “Xin hỏi Tô Tử, là chính đạo gì vậy?”
Tô Tần thu ánh mắt lại, quay sang nhìn Giả Xá Nhân: “Giả huynh có thể trả lời vài câu hỏi của tại hạ trước được chăng?”
“Tô Tử cứ hỏi!”
“Học vấn bách gia, đều là nhằm trị loạn. Dám hỏi Giả huynh, chư tử đều muốn trị loạn, mục đích là gì?”
Giả Xá Nhân ngẫm nghĩ một lát: “Khiến thiên hạ hòa thuận, trở về với thánh đạo thái bình.”
Tô Tần gật đầu: “Xin hỏi tiếp Giả huynh, làm thế nào để khiến thiên hạ hòa thuận?”
Giả Xá Nhân ngẩn người một lát: “Khi ở Hàm Dương, chẳng phải Tô Tử đã từng bàn về điều này rồi ư? Cái đạo thiên hạ hòa thuận, chỉ có hai cách, thứ nhất là chư hầu hòa thuận, thứ hai là thiên hạ nhất thống.”
“Đúng vậy!” Tô Tần lại gật đầu. “Tại hạ còn nói, chư hầu ai ai cũng ấp ủ dã tâm riêng, khó lòng chung sống hòa thuận. Nếu muốn trị loạn, thiên hạ chỉ còn con đường nhất thống.”
“Luận bàn của Tô Tử, Xá Nhân thấy rất đúng!”
“Tạ ơn Giả huynh ủng hộ. Xin hỏi tiếp Giả huynh, thất cường trong thiên hạ, kết cục sẽ quy về nhà nào?”
“Theo luận bàn của Tô Tử lúc ở Hàm Dương, thiên hạ có lẽ sẽ quy về Tần!”
“Đúng vậy!” Tô Tần dõng dạc nói. “Tại hạ quả thực đã từng nói, thiên hạ trong tương lai, nhất định sẽ hình thành thế chân vạc giữa ba nước Tề, Sở, Tần, tranh giành Trung Nguyên, mà người chiến thắng cuối cùng là Tần. Giả sử tại hạ không may đoán trúng, liệt quốc quy Tần, bốn biển nhất thống, vậy xin hỏi Giả huynh, thiên hạ lúc đó có thực sự hòa thuận hay không? Thánh đạo thái bình có thực sự được thi hành trong nhân gian không?”
Giả Xá Nhân không biết trả lời ra sao, cúi đầu im lặng. Rõ ràng, mới vài tháng không gặp, suy nghĩ của Tô Tần đã tiến xa thêm một bậc.
“Than ôi!” Tô Tần nhìn Xá Nhân, thở dài một tiếng. “Giờ nghĩ lại mới thấy, luận bàn của tại hạ lúc ở Hàm Dương quá đỗi ngây ngô. Đế sách dù có thành công, cũng chỉ là trị ngọn mà không trị gốc. Chỉ trị ngọn mà không trị gốc, thiên hạ dù nhất thống, cũng có ích gì?”
“Dám hỏi Tô Tử, phải chăng đã ngộ ra đạo trị gốc?” Giả Xá Nhân ngẩng lên hỏi.
Tô Tần nhìn sững vào chiếc bàn trước mặt, giọng nói trầm mà kiên định: “Thiên hạ bất trị, do lòng người bất trị. Lòng người bất trị, do ham muốn quá nhiều. Muốn trị thiên hạ, trước hết phải trị lòng người; muốn trị lòng người, trước hết phải trị loạn tượng. Trị loạn chẳng qua là một biện pháp, trị lòng người mới là chính đạo gốc rễ. Nếu chúng ta chỉ trị loạn vì loạn, chỉ dùng bạo lực để nhất thống thiên hạ, thì dù có thành công, thiên hạ không những không thể trị, ngược lại sẽ càng thêm loạn.”
“Tô Tử nói rất đúng!” Giả Xá Nhân ngẫm nghĩ một lát, gật đầu nói. “Nếu thiên hạ chỉ luận theo mạnh yếu, thế gian này thực sự sẽ không bao giờ có được ngày bình yên.”
“Đúng vậy!” Tô Tần đồng tình. “Hiện tại chư hầu đều cậy sức tranh giành, không ai nhường ai, thiên hạ nếu muốn nhất thống, ắt phải dựa vào sức mạnh. Tại hạ quan sát đại thế thiên hạ, thấy rằng có được sức mạnh nhất thống thiên hạ, không ai khác ngoài Tần Công. Nếu tại hạ trợ giúp Tần Công, có lẽ sẽ thành công. Tuy nhiên, người Tần vốn sùng thượng vũ lực, nay lại thực thi pháp của Thương Quân, ở Hàm Dương vài tháng, tại hạ đã tìm hiểu về pháp của Thương Quân, cảm thấy thực đáng sợ. Pháp của Thương Quân, không hành giáo hóa, không chút xót thương, chỉ dùng bạo lực để chế phục người. Giả sử Tần Công thực sự có nhờ vào đó mà nhất thống thiên hạ, tất cũng sẽ dựa vào đấy để trị lý thiên hạ. Nước cậy vào sức mạnh, người không chút tình thương, liệu có thể thi hành thiên đạo được chăng? Thiên đạo không hành, liệu có khiến lòng người quy phục được chăng? Thiên hạ nhất thống mà lòng người không phục, thì nhất thống nào có ích gì?”
Giả Xá Nhân cúi đầu, lại trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, mới ngẩng lên nhìn Tô Tần: “Xem ra, Tô Tử muốn vứt bỏ đế sách nhất thống, đi theo con đường chư hầu hòa thuận?”
Tô Tần gật đầu.
“Có điều...” Giả Xá Nhân do dự một thoáng mới nói tiếp, “theo Tô Tử nói, chư hầu ai ai cũng ấp ủ dã tâm riêng, khó lòng được hòa thuận, vậy Tô Tử làm thế nào để trừ khử được dã tâm của họ, để họ hòa thuận với nhau, mà chung sống hòa mục?”
“Hợp tung!”
“Hợp tung?” Giả Xá Nhân ngơ ngác. “Thế nào là hợp tung?”
“Giả huynh hãy nhìn này!” Tô Tần đưa mắt nhìn quanh, thu gom toàn bộ bát đĩa trên bàn lại, rồi đặt hai cái bát tô ở hai góc của một đầu bàn, vừa đặt vừa nói. “Đây là nước Tề, ở phía đông, sau lưng là biển; đây là nước Tần, ở phía tây, sau lưng là tộc Nhung, Địch!” Di chuyển hũ rượu tới đầu bàn bên kia. “Khu vực rộng lớn này là nước Sở, ở phía nam, rộng lớn nhường này, đã chiếm hơn nửa giang sơn!” Rồi cầm bốn chiếc đĩa nhỏ lên, lần lượt đặt ở phía bắc của hũ rượu, kẹp giữa hai chiếc bát tô, lại đặt vào các khe hở giữa chúng một vài quả táo ngâm, rồi chỉ vào chúng. “Từ đây tới đây, lần lượt là Tam Tấn Hàn, Ngụy, Triệu, chiếc đĩa này là Yên, nước Việt vốn ở đây, hiện tại đã ở cả trong hũ rượu này. Tộc Hồ phía bắc, tộc Nhung phía tây, tộc Di phía nam, các nước chư hầu tại lưu vực sông Tứ, Trung Sơn, Nghĩa Cừ đều là nước nhỏ yếu, khó mà thành công.” Rồi hai mắt nhìn chăm chú vào thế trận trên bàn, hồi lâu sau mới ngẩng lên. “Giả huynh có nhìn ra điều gì không?”
Giả Xá Nhân mở to hai mắt, đổ người về phía trước quan sát một chập, lại ngả người ra sau nhìn một hồi nữa, vẫn không nhận ra huyền cơ, bèn lắc đầu nói: “Đây là bản đồ hình thế thiên hạ, Xá Nhân ngu dốt, nhìn không ra chỗ huyền diệu. Thế nào là hợp tung, xin Tô Tử chỉ giáo!”
“Giả huynh đã khiêm tốn như vậy, tại hạ đành phải múa rìu qua mắt thợ!” Tô Tần nhìn xuống bàn, rồi dõng dạc nói. “Thiên hạ hiện nay, thành bại chỉ luận theo mạnh yếu. Mạnh thì thịnh, thịnh tất ức hiếp người khác; yếu thì hèn, hèn tất bị người khác ức hiếp. Từ thời Xuân Thu tới nay, thiên hạ giao tranh công phạt tính ra có tới nghìn trận, song chưa từng có chuyện yếu ức hiếp mạnh, nhỏ xâm phạm lớn.” Tô Tần chỉ tay xuống bàn. “Giả huynh hãy nhìn đại thế thiên hạ, ba nước Tề, Tần, Sở, giống như ba con mãnh hổ, mỗi nước chiếm một địa bàn, nằm phục ở ba hướng đông, tây, nam. Giữa ba mãnh hổ này là Tam Tấn Hàn, Triệu, Ngụy, Tam Tấn giống như ba con sói đói, nhe nanh múa vuốt, cắn xé lẫn nhau. Duy có nước Yên là an phận ở một góc đông bắc.”
Giả Xá Nhân lại quan sát một hồi, song vẫn nhìn Tô Tần bằng vẻ mặt khó hiểu.
Tô Tần lại cười, từ tốn nói: “Thiên hạ nếu muốn trị an lâu dài, trước hết phải trị lòng người; muốn trị lòng người, trước hết phải trị loạn. Đạo trị loạn chỉ có hai cách, thứ nhất là nhất thống, thứ hai là chư hầu hòa thuận. Nhất thống có thể xem là lấy bạo trị bạo, lấy loạn trị loạn, tuy dễ thành công, song chỉ trị được trước mắt, không thể trị được lâu dài. Chư hầu hòa thuận tuy khó thực hiện, song là trị tận gốc, một khi đã thành công, có thể trị an mãi mãi.”
Giả Xá Nhân rõ ràng đang nóng lòng muốn biết câu trả lời: “Điều này thì có liên quan gì tới hợp tung?”
“Nếu Giả huynh xem kỹ bản đồ này,” Tô Tần nhìn bản đồ hình thế, chỉ vào Tam Tấn, “thì sẽ không khó để nhận ra mấu chốt của thiên hạ. Mấu chốt của thiên hạ ở đâu? Chính là ở Tam Tấn. Giả huynh nghĩ kỹ mà xem, gần trăm năm qua, thiên hạ liên tục tranh giành, đa phần đều ở Trung Nguyên, đó chính là nguồn gốc của câu nói ‘đuổi hươu Trung Nguyên’. Trung Nguyên là đâu? Trung Nguyên chính là Tam Tấn, cũng chính là ba cái đĩa nhỏ này, hay ba con sói đói này. Tam Tấn hoặc tranh với Tần, hoặc tranh với Tề, hoặc tranh với Sở, hoặc tranh chấp trong ổ, tự xâu xé lẫn nhau...”
“Ý Tô Tử là...” Giả Xá Nhân chợt bừng tỉnh, nôn nóng hỏi ngay, “hợp tung chính là Tam Tấn hợp nhất?”
“Đúng vậy!” Tô Tần nghiêm trang gật đầu. “Thiên hạ giống như bàn cờ, dọc ngang đều là đường đi. Theo quy tắc xưa nay, đông tây là ngang, nam bắc là dọc. Tam Tấn Hàn, Ngụy, Triệu dàn thẳng từ nam tới bắc, phân cách đông tây, chính là mấu chốt của thiên hạ. Tam Tấn chia ba, giống như ba con sói đơn độc, mặc cho ba con hổ xung quanh ức hiếp. Nếu Tam Tấn kết thân, ba sói thành bầy, dù là mãnh hổ, cũng không làm gì nổi.”
“Tuyệt diệu!” Giả Xá Nhân lập tức bừng tỏ, vui mừng khôn xiết mà nói. “Một khi Tam Tấn kết thân, Tần không dám xâm phạm phía đông, Tề không dám tiến đánh phía tây, Sở không dám tấn công phía bắc, Tần, Tề cách bởi Tam Tấn, muốn tranh giành cũng không được. Sở tuy rộng lớn, song phía bắc là Tam Tấn, đông bắc là Tề, tây bắc là Tần, cũng không dám động đao binh. Nước lớn dừng đao binh, sẽ không còn phân tranh nữa!”
“Hợp tung còn gồm cả nước Yên!” Tô Tần bổ sung thêm. “Tam Tấn hợp nhất, lại thêm nước Yên, cái thế này thiên hạ khó ai địch nổi, Tần, Sở, Tề tất không dám manh động. Nước lớn không manh động, nước nhỏ không tranh giành, loạn trong thiên hạ có thể hóa giải, tuy phân song thực chất lại là hợp. Thiên hạ hợp, sẽ không tranh; thiên hạ không tranh, lòng người sẽ được trị.”
“Lòng người trị thế nào, Tô Tử hẳn đã có cách?”
“Đúng vậy!” Tô Tần chậm rãi nói. “Trên đường từ Chu tới Triệu, tại hạ đã suy nghĩ mãi về câu hỏi này. Tại hạ nghĩ rằng, lòng người ngày nay không còn thuần phác, tư dục tung hoành. Nếu muốn người trong thiên hạ đều có thể đoạn tuyệt tư dục, vứt bỏ trí khôn giống như tiên thánh Lão Đam đã nói, trở về thời đại chất phác như tam thánh viễn cổ, là điều không thể. Theo ý tại hạ, các thuyết lễ chế nhân nghĩa của Trọng Ni, thiên hạ kiêm ái của Mặc Địch, người người vì mình của Dương Chu đều là đạo trị tâm, tuy cách thức có khác nhau, song đều quy về một chỗ, có thể chọn dùng. Lòng người hướng thiện không hướng ác, từ cổ chí kim, bách tính thiên hạ không thích chém giết, người trí tuệ không thích sát phạt, dù là chư hầu, cũng không có mấy ai thực lòng muốn sát phạt. Thích sát phạt chỉ là loài cầm thú, chúng sát phạt lẫn nhau là để giao phối, để giành thức ăn. Loài người không phải là cầm thú, vì loài người có lương tri, lương năng, lương tâm. Loài người biết hổ thẹn, loài người phải mặc quần áo, loài người không thể giao cấu công khai. Loài người biết sợ hãi, sợ trời, sợ cô độc. Sợ trời, nên sẽ tuân theo thiên đạo; sợ cô độc, nên sẽ đối xử tốt với nhau. Người người đối xử tốt đẹp với nhau, trên đời sẽ không còn chinh phạt, tức không còn chém giết, không còn chiến tranh. Lâu dần, tư tâm sẽ dần bị tiêu trừ!” Nói tới đây, bèn ngừng lại, một lát sau, lại cười buồn một tiếng. “Những lời nói bừa của tại hạ, Giả huynh có thấy nực cười chăng? Có thấy suy nghĩ của tại hạ hão huyền viển vông chăng?”
Giả Xá Nhân trầm ngâm hồi lâu, rồi đổi ngồi thành quỳ, hướng về Tô Tần hành đại lễ ba lạy: “Tô Tử ở trên, xin nhận của Xá Nhân ba lạy!”
Tô Tần cả kinh: “Giả huynh... sao lại làm như vậy?”
Giả Xá Nhân lạy xong ba lạy, mới nói: “Không phải Xá Nhân bái lạy Tô Tử, mà là Xá Nhân thay mặt bách tính thiên hạ thành tâm bái lạy Tô Tử. Bất luận Tô Tử có hoàn thành đại nghiệp này hay không, song tấm lòng cao cả của Tô Tử đã đủ cảm động đất trời, khiến quỷ thần rơi lệ.”
Tô Tần đứng dậy, đi vòng qua bàn, hướng về Giả Xá Nhân lạy lại ba lạy, xúc động mà nói: “Được Giả huynh tận lực ủng hộ, Tô Tần nhất định sẽ kiên gan tiến bước, có chết cũng không quay đầu!”
Giả Xá Nhân đứng dậy, ngồi xuống, cung kính vòng tay vái Tô Tần: “Không phải nhờ Xá Nhân ủng hộ. Thiện ý của Tô Tử, phàm là người có lương tâm trong thiên hạ, đều sẽ dốc lòng ủng hộ!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Tô Tử đã tới Hàm Đan, Xá Nhân dám hỏi, đại nghiệp hợp tung, hẳn là bắt đầu từ Triệu?”
“Đúng vậy!” Tô Tần đáp lễ mà nói. “Nước Ngụy từ thời Văn Hầu tới nay, vẫn luôn ỷ vào sức mạnh, nay có các hiền tài Bàng Quyên, Huệ Thi, thế nước hưng thịnh trở lại, không phải là chỗ khởi xướng. Hàn ở giữa bốn nước mạnh Sở, Tần, Ngụy, Tề, hình thế bất lợi, không có lực khởi xướng. Trong Tam Tấn, duy có Triệu là thích hợp, nên tại hạ quyết định tới Hàm Đan trước tiên.”
“Phải!” Giả Xá Nhân gật đầu nói. “Tô Tử nắm vững đại thế, nhìn từ chỗ cao, bắt tay từ chỗ nhỏ, hợp tung có lẽ sẽ thành công. Dám hỏi Tô Tử, Xá Nhân bất tài, có thể giúp được gì chăng?”
“Đa tạ Giả huynh!” Tô Tần vòng tay vái tạ. “Tại hạ đang lo một tay khó vỗ đây! Tại hạ mới tới, trên đường nghe nói Triệu Hầu đổ bệnh, có chuyện này không?”
Giả Xá Nhân kể lại toàn bộ sự việc xảy ra trong cung Triệu mà mình đã nghe ngóng được gần đây. Tô Tần trầm ngâm một lát, rồi ngẩng đầu cười nói: “Đúng là vừa mới nói xong, tại hạ đã phải làm phiền Giả huynh ngay rồi!”
“Tô Tử xin cứ nói, chớ ngại.”
“Theo tình thế trước mắt, Giả huynh có biết người nào có thể tiếp cận Triệu Hầu?”
Giả Xá Nhân lập tức nói ngay không chút đắn đo: “An Dương Quân!”
Tô Tần vòng tay nói: “Làm phiền Giả huynh tìm cách loan tin để An Dương Quân biết tại hạ đã tới Hàm Đan!”
Trên đài Hồng Ba, thái tử Ung bước vào cửa cung, xua hết người hầu lui ra, tiến lại trước giường bệnh của Túc Hầu, dập đầu hô: “Nhi thần khấu kiến quân phụ!”
Triệu Túc Hầu vụt cái đã ngồi bật dậy, nhìn thái tử Ung, mỉm cười nói: “Ung Nhi, lại đây ngồi đi!”
Thái tử Ung tạ ơn, đứng dậy, ngồi xuống mép giường.
“Ung Nhi,” Túc Hầu âu yếm xoa đầu thái tử Ung, “đã gặp tam thúc chưa?”
Thái tử Ung ngẩng nhìn Túc Hầu, khẽ vâng một tiếng.
“Bệnh tình của tam thúc thế nào?”
“Quả đúng như quân phụ nói, tam thúc giả bệnh. Thần nhi hỏi ý tam thúc về việc triều chính, nói Tần Công phái sứ thần kết minh phạt Ngụy, nhi thần không dám tự quyết, xin tam thúc định đoạt.”
“Tam thúc nói sao?”
“Tam thúc nói, người Tần không đáng tin, hiện tại cấp bách không phải ở Ngụy, mà là ở Trung Sơn, nên xin điều động hai vạn quân trấn giữ Tấn Dương tới đóng ở quận Đại, lại còn thỉnh cầu hổ phù. Nhi thần đã nghe theo lời dặn của quân phụ, đồng ý cả rồi!”
“Tam thúc còn nói gì nữa không?”
“Tam thúc đưa ra một tờ danh sách, liệt kê những triều thần cần được điều động, muốn nhi thần xem xét và phê chuẩn. Nhi thần liếc sơ qua, thấy những người tới phủ tam thúc thăm bệnh đều được thăng chức. Ngoài tứ thúc và ngự sử, tất cả những người có thể giáng chức, đều bị giáng chức nhất loạt. Những người không lên triều, tuy không tới hỏi thăm tam thúc, vẫn giữ nguyên chức. Nhi thần không nói thêm gì, cũng làm theo lời dặn của quân phụ, đồng ý cả với tam thúc!”
Triệu Túc Hầu khẽ gật đầu.
“Có điều,” thái tử Ung ngẫm nghĩ một lát, khẽ nói, “người cuối cùng trong bản danh sách là Hà Gián lệnh Thân Bảo, tam thúc đột ngột thăng cấp cho hắn làm đô úy Tấn Dương, nhi thần lấy làm ngạc nhiên, dò hỏi Phì Nghĩa, được biết Thân Bảo vốn là tham quân thuộc hạ của Phì Nghĩa, năm ngoái được thăng Hà Gián lệnh, lần này lại được thăng làm đô úy Tấn Dương, nhảy liên vài cấp, quả là một bước lên thẳng mây xanh!”
Triệu Túc Hầu nhắm mắt lại, chau tít đôi mày. Một lát sau, mở mắt nhìn thái tử Ung, cười nói: “Con xử lý việc này thế nào?”
“Nhi thần trong lòng ngờ vực, cảm thấy có điều mờ ám bên trong, nên đã sắp xếp tướng quân Phì Nghĩa âm thầm điều tra.”
“Ồ, tướng quân có điều tra được gì không?”
Thái tử Ung lôi từ trong ống tay áo ra một mật báo, trình lên Túc Hầu.
Túc Hầu đọc xong, xoa đầu thái tử Ung, khen ngợi: “Ung Nhi giỏi lắm, chỉ vài ngày không gặp, con đã lớn bổng lên rồi. Có cái đầu của con, quả nhân có thể yên tâm ngủ được một lúc.”
“Tạ ơn quân phụ quá khen!”
“Quả nhân nghe nói, Lạc Dương có một sĩ tử tên gọi Tô Tần đã tới nước ta, hiện đang ở Hàm Đan. Ung Nhi có biết người này chăng?”
Thấy phụ vương đến chuyện cỏn con như vậy cũng biết rõ, thái tử Ung lấy làm kinh ngạc, không giấu được niềm khâm phục tự đáy lòng, khẽ gật đầu nói: “Bẩm có, nhi thần đã từng nghe Phì Nghĩa nhắc tới người này, nói hắn là cuồng sinh, năm ngoái tới Tần, hiến đế sách cho Tần Công, mong muốn bình định liệt quốc, nhất thống thiên hạ, may mà chưa được Tần Công trọng dụng!”
“Ung Nhi hãy tìm cách gặp hắn, xem thử hắn có cuồng pháp gì?”
“Nhi thần lĩnh chỉ!”
Trong quán trọ Phong Vân, Tô Tần đang cùng Giả Xá Nhân trò chuyện về tình hình trong cung Triệu, chợt chủ quán bước vào, vòng tay vái chào: “Làm phiền hai vị một lát. Xin hỏi, vị nào là Tô tiên sinh?”
Tô Tần đứng dậy vòng tay đáp lễ, nói: “Là tại hạ!”
“Có một vị khách quan tới tìm tiên sinh!”
Tô Tần chẳng quen ai ở Hàm Đan, lúc này bỗng dưng có người tới tìm, chẳng cần hỏi cũng biết là chuyện gì. Tô Tần liếc nhìn Giả Xá Nhân, Xá Nhân cười nói: “Tô huynh mau đi đi, tin tốt lành đã tới tận cửa rồi!”
Tô Tần vòng tay nói: “Giả huynh xin đợi cho một lát, tại hạ đi một lúc sẽ về!”
Giả Xá Nhân cũng vòng tay nói: “Xá Nhân cung kính ngồi chờ tin tốt lành.”
Tô Tần theo chủ quán ra ngoài cửa, Phì Nghĩa trong trang phục quý tộc tiến lại hỏi: “Tiên sinh phải chăng là Tô Tử người Lạc Dương?”
Tô Tần đáp lời: “Chính tại hạ!”
Phì Nghĩa nheo nheo mắt, nhìn kỹ Tô Tần một lượt từ đầu tới chân, rồi gật đầu nói: “Ồ, quả là có khí phách!” Rồi khẽ ôm quyền. “Tại hạ Phì Nghĩa xin chào Tô Tử!”
Tô Tần sớm đã biết rõ nội tình cung Triệu, đương nhiên đoán được ngay Phì Nghĩa là ai, song cũng chưa vội nói thẳng ra, mà ôm quyền đáp lễ: “Tô Tần Lạc Dương xin chào Phì Tử!”
Phì Nghĩa đứng né sang một bên, nghiêng người chỉ vào cỗ xe ngựa trên phố: “Chúa công nhà tại hạ nghe danh Tô Tử đã lâu, muốn mời Tô Tử tới thưởng trà, rất mong Tô Tử nể mặt.”
Tô Tần lại vòng tay nói: “Cung kính không bằng tuân lệnh!”
Tô Tần bước lên xe, Phì Nghĩa vung roi, ngựa phi băng băng, chẳng mấy chốc, đã dừng lại trước một cánh cổng màu đỏ. Tô Tần nhìn tấm biển treo trên cổng, thấy bên trên để ba chữ “Phong Nhã viên”. Nghe thấy tiếng xe ngựa, có người vội bước ra đón, dắt ngựa và xe đi. Phì Nghĩa dẫn Tô Tần vào trong cổng chính, bước vào dãy nhà thứ nhất, khẽ đẩy cánh cửa màu đỏ, quay người lại nói với Tô Tần: “Tô Tử xin đợi một lát!” Nói xong bước vào trong, một lúc sau, quay trở ra. “Tô Tử, chúa công có lời mời!”
Tô Tần bước vào, thấy giữa phòng có một cậu thiếu niên ngồi ngay ngắn, nhìn vào cách ăn mặc, biết ngay là thái tử, vội quỳ xuống đất, dập đầu mà nói: “Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần khấu kiến điện hạ!”
Thái tử Ung cũng giống như Phì Nghĩa, mở to mắt quan sát Tô Tần một lượt từ đầu tới chân, rồi khẽ hất hàm, chỉ vào chỗ ngồi bên cạnh: “Tô Tử miễn lễ, mời ngồi!”
“Tạ ơn điện hạ ban chỗ!” Tô Tần cảm tạ xong, đứng dậy, ngồi xuống chỗ, đưa mắt nhìn thái tử, thấy thái tử tuy còn nhỏ tuổi, song tư thái phi phàm, hoàn toàn khác hẳn với những đứa trẻ bình thường.
Thái tử Ung ôm quyền nói: “Triệu Ung nghe danh Tô Tử đã lâu, được biết Tô Tử tới Hàm Đan, bèn sai tướng quân Phì Nghĩa mạo muội đi mời, đã làm phiền tới Tô Tử, mong Tô Tử lượng thứ!”
Tô Tần ôm quyền đáp lễ: “Điện hạ vì thảo dân mà mệt nhọc tới quý thể, thảo dân vô cùng e sợ!”
“Triệu Ung bất tài, muốn hỏi Tô Tử về chuyện thiên hạ.”
“Điện hạ cứ hỏi, thảo dân biết sẽ không giấu.”
“Dám hỏi Tô Tử, liệt quốc trong thiên hạ, nước nào mạnh nhất?”
“Nước Triệu!” Tô Tần không chút đắn đo, lập tức trả lời.
“Hay lắm!” Phì Nghĩa vỗ mạnh vào đùi, lớn tiếng tiếp lời. “Phì Nghĩa thích nghe câu này!”
Thái tử Ưng lại khẽ chau mày, do dự một lát, ngẩng lên hỏi: “Xin hỏi tiếp Tô Tử, liệt quốc trong thiên hạ, nước nào yếu nhất?”
“Nước Triệu!” Tô Tần vẫn trả lời dứt khoát không chút đắn đo.
Phì Nghĩa sững người, biến ngay sắc mặt: “Xin hỏi Tô Tử, nước Triệu đã mạnh nhất, vì sao lại thành yếu nhất?”
“Hồi bẩm tướng quân,” Tô Tần hơi ôm quyền hướng về phía Phì Nghĩa, “mạnh có đạo lý của mạnh, yếu có đạo lý của yếu!”
Thái tử Ung lại tỏ ra rất hào hứng, nhổm người về phía trước nói: “Triệu Ung muốn nghe rõ hơn!”
“Khởi bẩm điện hạ,” Tô Tần vòng tay, dõng dạc nói, “nước Triệu rộng hai nghìn dặm, dân đông bốn trăm vạn, chúa thượng giơ tay hô một tiếng, chỉ trong sớm tối, có thể điều động vài chục vạn giáp sĩ, lại thêm ngựa tốt, nỏ cứng, dũng sĩ thiện chiến vô số. Thế nước mạnh như vậy, giả sử người Triệu có cùng kẻ thù, tướng sĩ sẵn sàng xả thân, liệt quốc ai có thể chống lại? Tô Tần dựa vào điểm này mà nói là mạnh nhất, hẳn không có gì quá đáng!”
Phì Nghĩa gật gù: “Phải, đây là sự thực!”
“Tuy nhiên,” Tô Tần lại đổi giọng, “đất Triệu cằn cỗi, đã không có được cái lợi cá muối như Tề, Sở, lại không có mỏ đồng sắt như Yên, Hàn, càng không có nhiều ruộng đồng màu mỡ như Quan Trung nước Tần, người dân còn sống khổ cực, nói gì đến tích trữ quốc khố? Nước không có tích trữ, sao có thể chiến đấu lâu dài? Chuyện này khoan chưa tính đến, lại thêm nước Triệu bốn phía không có cửa ải hiểm trở để phòng thủ, láng giềng bốn bên không có bạn, chỉ có thù địch, trong bụng lại có khối nhọt lớn là Trung Sơn, muốn tồn tại e còn chưa đủ lực, nói gì tới mở rộng bờ cõi? Tại hạ dựa vào điểm này mà nói là yếu nhất, hẳn không có gì...”
Không đợi Tô Tần nói hết câu, Phì Nghĩa đã giận dữ cắt ngang: “Theo ý Tô Tử, nước Triệu há chẳng phải ngay đến nước Yên già yếu cũng không bằng, đúng là phóng miệng nói bừa...” Thấy thái tử Ung trừng mắt nhìn sang, đành gắng gượng kìm nén cơn phẫn nộ, ngoảnh mặt sang một bên, không nhìn Tô Tần nữa.
Thái tử Ung quay sang Tô Tần: “Tô Tử, nói tiếp đi!”
“Vừa rồi tại hạ mới chỉ đề cập tới ngoại thương, song ung nhọt của Triệu, phần lớn là ở nội thương!”
Thái tử Ung hai mắt vụt sáng: “Xin hỏi Tô Tử, nội thương của Triệu ở đâu?”
“Trong tam quân, kẻ xung phong lâm trận thì nhiều, song tướng trí dũng lại hiếm hoi. Trên triều đường, kẻ hưởng lộc thực ấp thì nhiều, bậc đại hiền tài lại khó tìm. Trong cung thất, quanh năm bận rộn quay cuồng, song kế sách trị quốc lâu dài lại không thấy...” Nói đến đây, Tô Tần ngừng lời, đưa mắt nhìn thái tử Ung và Phì Nghĩa.
Lời của Tô Tần, câu nào cũng xác thực, đánh trúng vào điểm yếu của nước Triệu, dù là Phì Nghĩa cũng nghe đến ngẩn người, đứng đực tại chỗ, không còn lời nào phản bác, hai mắt mở to nhìn Tô Tần chằm chằm.
“Điện hạ!” Tô Tần thấy cơ hội đã tới, bèn nói thẳng suy nghĩ trong lòng. “Thiên hạ hiện nay, thành bại tồn vong chỉ dựa vào mạnh yếu. Nước Triệu yếu ớt như vậy, tình thế nguy ngập như vậy, nếu quần thần vẫn không tự biết, thậm chí còn như tình hình trước mắt, thần trọng quân khinh, trên dưới không đồng lòng, cùng thuyền mà không cùng chí, thì tiền đồ của Triệu, Tô Tần thực không dám hy vọng.”
Thái tử Ung như choàng tỉnh từ trong cơn kinh sợ, nghiêng người về phía trước hỏi: “Tô Tử đã chẩn đoán ra được vết thương lớn của Triệu, liệu có phương thuốc chữa trị chăng?”
Tô Tần trong lòng tràn đầy tự tin, gật đầu nói: “Khởi bẩm điện hạ, có vết thương tự khắc có cách trị!”
“Tô Tử xin hãy nói!”
“Hợp tung!”
“Hợp tung?” Thái tử Ung ngẩn người, trầm ngâm một lát, lại nhổm người về phía trước hỏi. “Triệu Ung trẻ người non dạ, xin Tô Tử nói kỹ hơn!”
Vào buổi trưa hôm đó, một cơn bão cát đột ngột tấn công vào trọng trấn Tấn Dương, bồi đô nước Triệu, nằm ở phía tây bắc bên bờ sông Phần Thủy. Phóng mắt nhìn ra, chỉ thấy gió cuốn cát bay mù mịt, không thấy mặt trời.
Công tử Phạm dẫn đầu một đoàn xe ngựa hơn chục cỗ từ từ tiến vào cổng đông Tấn Dương trong cát bụi kín trời. Quận thú Thái Nguyên kiêm thú thừa Tấn Dương Triệu Báo hay tin, ra tận cổng phủ nghênh đón đám công tử Phạm, hành lễ xong xuôi thì dẫn khách vào trong phủ.
Công tử Phạm lấy từ trong ống tay áo ra tấm hổ phù, bày trên mặt bàn. Triệu Báo cũng lấy hổ phù ra, khớp lại cùng. Hai tấm hổ phù khớp thành một thể nguyên vẹn. Triệu Báo xác nhận không có sai lệch gì, bèn quỳ xuống bái lạy hổ phù, rồi đứng dậy vái mà nói: “Mạt tướng xin nghe lời công tử!”
Công tử Phạm lấy từ trong ống tay áo ra bức chiếu thư, dõng dạc tuyên đọc: “Triệu Báo nghe chỉ! Điện hạ có dụ, thăng chức cho Hà Gián lệnh Thân Bảo làm đô úy Tấn Dương, hỗ trợ phòng thủ Tấn Dương, điều động hai vạn bộ binh và kỵ binh Tấn Dương gấp rút lên đường tới quận Đại ngay trong đêm nay!”
Triệu Báo lại bái lạy mà nói: “Mạt tướng tuân chỉ!” Công tử Phạm cho gọi Thân Bảo tới bái kiến Triệu Báo, Triệu Báo cũng sai người gọi tướng quân Hàn Cử tới, căn dặn: “Hàn tướng quân, lập tức điểm hai vạn binh, theo công tử viễn chinh tới quận Đại!”
Hai canh giờ sau, Hàn Cử dẫn theo hai vạn bộ binh và kỵ binh tinh nhuệ của Tấn Dương, rời khỏi cổng đông vào lúc hoàng hôn, thâu đêm hành quân gấp rút.
Tới sáng hôm sau, cổng thành đông vừa mở, lại có vài kỵ mã phi nước đại vào thành, lao thẳng tới phủ quận úy cầu kiến Triệu Báo. Người dẫn đầu lấy từ trong ống tay áo ra một bức mật thư, trình lên Triệu Báo. Triệu Báo xem xong, mặt hơi biến sắc, một lát sau, cười nhạt một tiếng, sắp xếp chỗ nghỉ cho đám người này, sau đó sai người gọi Thân Bảo tới, dẫn hắn đi thị sát việc phòng ngự thành.
Triệu Báo dẫn Thân Bảo tuần tra một vòng dọc tường thành Tấn Dương, tới cổng tây, chỉ vào thành cao, hào sâu, cùng các công sự phòng ngự khác, giọng đầy cảm khái nói vói Thân Bảo: “Thân tướng quân, ba mươi năm qua, người Tần đã ba lần đánh Tấn Dương rồi!”
Thân Bảo nịnh nọt: “Tướng quân thần dũng, người Tần nhìn vào đã sợ, nào dám tới nữa?”
“Than ôi!” Triệu Báo khẽ lắc đầu. “Không giấu Thân tướng quân, bốn huyện tám ấp thuộc Tấn Dương, dọc ngang vài trăm dặm, chỉ có năm vạn bộ binh và kỵ binh, điện hạ lại vừa điều động đi hai vạn, bản tướng cảm thấy lo lắng không yên!”
“Sao kia?” Thân Bảo ngạc nhiên hỏi. “Triệu tướng quân có gì lo lắng?”
“Than ôi!” Triệu Báo lại thở dài sườn sượt, nhìn Thân Bảo đầy ẩn ý. “Thân tướng quân có điều không biết, tại hạ trấn thủ Tấn Dương đã nhiều năm, biết chắc người Tần không lúc nào thôi dòm ngó thành này. Tấn Dương là thành kiên cố nhất Hà Đông, thành cao hào sâu, là nền móng của Triệu, ngộ có gì sơ suất, Triệu Báo còn mặt mũi nào mà nhìn người Triệu nữa?”
“Tướng quân yên tâm!” Thân Bảo cười nói. “Trước khi tại hạ lên đường, tướng quốc đại nhân đã đích thân căn dặn, người Tần đã kết minh với ta cùng phạt Ngụy, tuyệt đối sẽ không tấn công Tấn Dương!”
“Ồ?” Triệu Báo cố tình ra vẻ kinh ngạc, rồi gật đầu nói. “Tướng quốc đã nói vậy, bản tướng cũng yên tâm phần nào. Có điều, dù người Tần có kết minh hay không, việc bảo vệ thành vẫn phải tăng cường. Thân tướng quân, tướng quân xem thế này được không, tướng quân vừa mới tới nơi, chưa thông thạo hình thế, tạm thời tiếp quản việc phòng ngự thành ở cổng tây. Còn các cổng thành khác, vẫn do bản tướng giám sát.”
Thân Bảo tỏ vẻ không vui, đang định lên tiếng, chợt nhớ lời Thân Tôn căn dặn mình không được gây chuyện, đành im lặng không nói gì thêm, chỉ gật đầu đồng ý: “Mạt tướng tuân lệnh!”
Trở về phủ đô úy, Thân Bảo ngẫm nghĩ một hồi, rồi ngồi vào bàn viết một bức mật thư, gọi tay chân thân tín lại dặn dò: “Ngươi mau trở về Hàm Đan, đưa bức mật thư này cho Sư Lý đại nhân!”
Người này cầm lấy mật thư, dõng dạc đáp lời: “Tiểu nhân tuân lệnh!”
Trong đài Hồng Ba, thái tử Ung chậm rãi bẩm tấu: “Ung Nhi đã phụng chỉ gặp mặt Tô Tử!”
“Ồ!” Triệu Túc Hầu đang nằm trên giường khẽ nhổm dậy, cười hỏi. “Người này phải chăng là kẻ ngông cuồng?”
“Đúng vậy!” Thái tử Ung gật đầu. “Ung Nhi đã gặp không ít người cuồng, song chưa thấy ai cuồng như hắn!”
“Hắn cuồng như thế nào?” Triệu Túc Hầu từ từ thu lại nụ cười.
“Ung Nhi cho rằng, dù Ngô Khởi, Thương Ưởng còn sống, cũng không bằng hắn!”
“Ung Nhi dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Tài của Ngô Khởi, Thương Ưởng, chẳng qua chỉ là làm mạnh cho một nước. Còn tài của Tô Tử, lại có thể dẹp yên phân tranh trong thiên hạ.”
“Thật ư?” Triệu Túc Hầu chấn động, ngả người về phía trước. “Hắn có thể dẹp yên phân tranh trong thiên hạ, cũng là cuồng lắm rồi. Ung Nhi có hỏi hắn, loạn trong thiên hạ phải làm thế nào mới có thể dẹp yên?”
“Có! Là hợp tung!”
“Thế nào là hợp tung?”
“Theo Tô Tử, chính là hợp tung chế hoành. Nói cách khác, là nước yếu liên minh, chống lại nước lớn. Cụ thể là, Tam Tấn kết minh hợp nhất, phía đông chống Tề, phía tây kháng Tần, phía nam chế Sở, khiến ba nước này đều sợ, không dám tuỳ tiện khởi binh. Ba nước không dám khởi binh, mạnh không dám ức hiếp yếu, loạn trong thiên hạ đương nhiên được dẹp trừ.”
Triệu Túc Hầu trầm ngâm suy nghĩ, một lát sau, khẽ chau mày, gật đầu nói: “Phải! Ngộ được đạo này, hẳn là đại tài, có thể trọng dụng. Truyền chỉ An Dương Quân, cho An Dương Quân giới thiệu Tô Tử lên Phụng Dương Quân, nói là quả nhân tiến cử, bảo Phụng Dương Quân cân nhắc mà dùng!”
Thái tử Ung ngần ngừ một lát, rồi gật đầu nói: “Nhi thần lĩnh chỉ!”
Trong phủ Phụng Dương Quân, Thân. Tôn dẫn tư đồ hối hả đi men theo con đường nhỏ dẫn vào Thính Vũ các. Triều thần đã tới ngồi chật kín trong Thính Vũ các, có tư không, ngự sử, nội sử, tả sư và phủ doãn các quận huyện lân cận, Phụng Dương Quân ngồi ngay ngắn ở vị trí chủ chính giữa phòng.
Thân Tôn bước vào bẩm báo, tiếp đó tư đồ tiến vào bái lạy: “Hạ quan khấu kiến tướng quốc!”
Phụng Dương Quân chỉ vào chỗ trống bên cạnh: “Ngồi đi!” Thấy tư đồ đã ngồi xuống, bèn mỉm cười trách móc. “Đinh đại nhân, sao hôm nay tới muộn thế?”
Tư đồ vòng tay nói: “Tướng quốc cho gọi, hạ quan nào dám tới chậm nửa bước. Chỉ vì khi hạ quan ra khỏi cửa, vừa hay gặp quân úy từ quận Đại trở về, đã nán lại một lát nghe hắn bẩm báo việc quân, nên tới chậm.”
“Ồ?” Phụng Dương Quân vội hỏi. “Là việc gì vậy?”
“Khởi bẩm tướng quốc, giờ Thìn hôm kia, hai vạn binh mã Tấn Dương đã tới quận Đại. Hiện tại binh mã đã tập kết đông đủ ở quận Đại, lương thảo đang thiếu thốn, công tử Phạm sai hắn trở về giục cấp lương thảo.”
“Ồ, tư đồ hãy trực tiếp báo lên An Dương Quân, bảo An Dương Quân mau chóng cấp một vạn năm nghìn thạch lương thực!”
“Hạ quan tuân lệnh!”
“Chỗ người Yên có tin gì không?”
“Công tử Ngư đang chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, chờ thời cơ hành sự.”
“Tốt!” Phụng Dương Quân gật gù. “Tốt lắm! Nếu công tử Ngư thành công, ta sẽ có được Yên. Được Yên, đại sự coi như đã định!”
Nghe nói vậy, ngự sử không khỏi lo lắng, ngờ vực nhìn Phụng Dương Quân: “Hạ quan có chuyện không hiểu. Chúa thượng đổ bệnh nằm liệt giường đã lâu, điện hạ trẻ người non dạ, tướng quốc trong triều lại nhất ngôn cửu đỉnh, bá quan kính phục, chính là cơ hội tốt để hành sự. Theo ngu kiến của hạ quan, chỉ cần tướng quốc hô lên một tiếng, bá quan nhất nhất hưởng ứng, tướng quốc kế vị dễ dàng như lấy vật trong túi, cớ sao lại phải bỏ gần cầu xa, đi đường vòng như vậy?”
“Đúng thế!” Tư đồ cũng nói. “Tướng quốc, cơ hội không thể bỏ lỡ, thời cơ không chờ đợi ta!”
“Than ôi!” Phụng Dương Quân nhìn ngự sử, thở dài một tiếng. “Chuyện này nếu dễ dàng như lời ngự sử nói, thì năm năm trước bản công đã khởi sự rồi, đâu phải đợi tới hôm nay?” Ho khẽ một tiếng. “Việc khác khoan tính đến, chỉ riêng một mình chúa thượng, chư vị đã không hiểu hết được đâu!”
“Chúa thượng cái gì?” Ngự sử hùng hổ. “Năm xưa nếu không có tướng quốc giúp đỡ, chúa thượng sao có thể ngồi lên được ngai vàng? Mấy năm qua, nếu không có tướng quốc phò tá, nam chinh bắc chiến, ngai vàng kia liệu có giữ nổi không? Còn nữa, cứ nhìn chúa thượng mà xem, mỗi lần lên triều, vâng vâng dạ dạ, chuyện lớn chuyện nhỏ đều không có chủ kiến, lúc nào cũng chờ quyết định của tướng quốc, nào có còn tôn nghiêm quân chủ uy?”
Ngự sử vừa nói ra, triều thần đều nhao nhao hưởng ứng.
Phụng Dương Quân nghiêm mặt, đặng hắng một tiếng, ra hiệu cho mọi người im lặng, rồi lắc đầu than rằng: “Hỡi ôi, chư vị chỉ nhìn thấy bề ngoài, mà không rõ bên trong! Đừng thấy Triệu Ngữ chỉ biết vâng vâng dạ dạ, hắn hành sự chẳng khác gì giấu kim trong bông. Mọi việc trong triều, chư vị đều đã thấy cả, chuyện khác khoan nói đến, chỉ tính riêng vài năm qua, những việc Triệu Ngữ chịu nghe bản công, là những việc gì? Toàn là việc vụn vặn không đáng kể. Còn những việc hệ trọng, như phòng ngự Hàm Đan, canh giữ cung thành, vận chuyển lương thảo, sưu thuế địa tô, có lúc nào hắn chịu nghe bản công không? Hắn chỉ giao việc lặt vặt cho bản công, song lại giao việc hệ trọng cho An Dương Quân, hoặc đích thân xử lý. Những điều này, chư vị có biết hay không?”
Nghe Phụng Dương Quân nói vậy, triều thần thảy đều cúi đầu.
Phụng Dương Quân đưa mắt lướt qua một lượt triều thần, dừng lại ở ngự sử: “Chỗ An Dương Quân có động tĩnh gì không?”
“Khởi bẩm tướng quốc!” Ngự sử bẩm tấu. “Hạ quan hôm kia tới thăm trung đại phu Lâu Hoãn, nghe khẩu khí của trung đại phu, có vẻ như An Dương Quân cũng nghiêng về phía tướng quốc.”
“Ồ?” Phụng Dương Quân mở to mắt. “Lâu Hoãn nói thế nào?”
“Lâu Hoãn nói với hạ quan rằng, có một hôm, ông ta cùng An Dương Quân luận bàn về thời cục, An Dương Quân khép mắt một lát, chỉ nói bốn chữ ‘ngựa già quen lối’.”
“Ngựa già quen lối?” Phụng Dương Quân ngẫm nghĩ một lát, gật đầu nói. “Phải, rất có ý nghĩa!”
Tư đồ mơ hồ không hiểu, ngơ ngác hỏi: “Dám hỏi tướng quốc, ‘ngựa già quen lối’ có thâm ý gì?”
Phụng Dương Quân mỉm cười nói: “Chư vị hẳn là không biết, năm xưa khi tiên quân băng hà, Triệu Ngữ là thái tử, đúng lúc đang đi tuần ở Tấn Dương, huynh trưởng của hắn là Triệu Tiết ngấm ngấm cấu kết với vài vị chư thần, giả mạo chỉ dụ cướp ngôi, trong đó có Triệu Phạm, Triệu Báo, An Dương Quân và bản công. Triệu Tiết vốn là thái tử, song do bụng dạ độc ác, hành vi khinh bạc, đã bị tiên quân phế truất, thay bằng Triệu Ngữ. Bản công hiểu rõ con người hắn, cũng biết hắn không thể làm nên nghiệp lớn, nên đã quyết định không theo. Bản công tuy nghĩ như vậy, song trong lòng lại không chắc chắn, mới đi tìm An Dương Quân bàn mưu. An Dương Quân lập tức đáp rằng, ‘ngựa già quen lối’!”
Tư đồ vẫn không hiểu, vò đầu bứt tai: “Hạ quan ngu muội, xin tướng quốc giải thích rõ hơn!”
“Tư đồ đại nhân đúng là ngốc thật!” Phụng Dương Quân nhìn ông ta, cười vang mà nói. ‘“Ngựa già quen lối’ chính là biết nhận thời thức thế. Năm xưa, An Dương Quân đã biết công tử Tiết khó thành đại sự, lại thấy bản công không phục tùng, đương nhiên cũng đi theo bản công. An Dương Quân trong bụng nghĩ vậy, song lại không nói thẳng ra. Bản công nghe lời, trong lòng hiểu rõ. Quả đúng như vậy, sau khi bản công tìm cách ngăn chặn công tử Tiết, âm thầm đưa Triệu Ngữ về cung, An Dương Quân là người đầu tiên đứng ra trợ giúp thái tử, sau đó mới đến Triệu Báo. Công tử Tiết thấy mọi người không ủng hộ mình nữa, biết là đại thế đã mất, cuống cuồng bỏ chạy khỏi Hàm Đan, trốn tại đất Trịnh.”
Nghe Phụng Dương Quân kể ra chuyện này, triều thần thảy đều sửng sốt.
Ngự sử đại phu tiếp lời: “Tướng quốc giải thích như vậy rất đúng. Lâu Hoãn vốn là môn khách của An Dương Quân, trước đây vẫn thường lạnh nhạt với hạ quan, gần đây lại tỏ ra thân thiết. Hạ quan ngờ rằng, nhất định là có toan tính trong lòng!”
“Phải!” Phụng Dương Quân khẽ gật đầu. “An Dương Quân nếu đã nói vậy, chắc chắn là có ý đồ!” Quay sang Thân Tôn. “Ngươi mau chuẩn bị xe ngựa, bản công muốn tới thăm hắn!”
Phụng Dương Quân đánh xe thẳng tới phủ An Dương Quân. An Dương Quân ra tận cổng phủ, cúi gập người nghênh đón, chào hỏi xong xuôi, hai người nắm tay nhau bước vào hậu đường, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Phụng Dương Quân ngẩng đầu nhìn mớ tóc bạc bên trán An Dương Quân, tỏ vẻ kinh ngạc kêu lên: “Mấy ngày không gặp, tóc mai tứ đệ đã bạc cả rồi!”
An Dương Quân cười nói: “Tóc mai đã bạc từ năm trước, tam huynh bận rộn tối ngày, không có lúc nào để ý đấy thôi!”
“Phải, phải!” Phụng Dương Quân cũng cười mà nói. “Việc nước việc nhà chồng chất, bận rộn đến tối tăm mặt mũi. Gần đây định bụng nghỉ ngơi chốc lát, nào ngờ quân huynh lại đổ bệnh, tứ đệ nói xem... chuyện này... hỡi ôi, thực khiến người ta lo lắng!”
“Phải đấy!” An Dương Quân thuận miệng trả lời. “Việc nước việc nhà lúc nào cũng đè nặng lên vai tam huynh, thật vất vả cho tam huynh quá!”
“Than ôi, nói ra những lời này làm gì!” Phụng Dương Quân gượng cười, ngẩng đầu nói. “Nhắc tới quân huynh, mấy ngày qua sức khoẻ của ta cũng yếu, chưa có lúc nào vào cung thăm quân huynh được. Nghe nói tứ đệ hôm kia có tới đài Hồng Ba, long thể của quân huynh thế nào rồi?”
“Không giấu tam huynh,” An Dương Quân khẽ lắc đầu, “long thể quân huynh lúc tốt lúc xấu. Nghe ngự y nói, thương hàn tuy có đỡ hơn, song chứng lao lại nặng thêm. Trong bách bệnh, duy có chứng lao là khó chữa trị nhất.” Dừng lại một lát, thở dài một tiếng. “Than ôi, quân huynh vốn tráng kiện như sắt thép, nào ngờ... chưa nổi vài ngày, đã suy sụp đến vậy. Quân huynh vừa trông thấy tiểu đệ, đã rơi lệ đau thương, dặn đi dặn lại tiểu đệ phải chú ý giữ gìn sức khoẻ!” Lại than một tiếng đầy ẩn ý. “Than ôi, đúng là đời người!”
“Này tứ đệ!” Phụng Dương Quân sắc mặt nghiêm nghị. “Giữ gìn sức khoẻ đương nhiên quan trọng, song bảo vệ giang sơn xã tắc còn quan trọng hơn. Ngu huynh tới đây, chính là muốn bàn với tứ đệ chuyện này.”
“Tam huynh cứ nói!”
“Nghe tứ đệ nói vậy, e là bệnh tình quân huynh không cầm cự được lâu nữa. Ngu huynh đang nghĩ, ngộ nhỡ quân huynh... ý ngu huynh là, ngộ nhỡ quân huynh băng hà, tứ đệ có suy nghĩ gì không?”
An Dương Quân trầm ngâm hồi lâu, rồi hỏi ngược lại: “Vậy ý tam huynh thế nào?”
“Than ôi!” Phụng Dương Quân khẽ thở dài. “Ung Nhi ít tuổi chưa tính đến, tính khí lại yếu đuối, nhu nhược, thiếu quyết đoán, không thể ứng phó với loạn thế hiện nay. Tứ đệ đức cao vọng trọng, được lòng thần dân,” hai mắt nhìn thẳng vào An Dương Quân, “ngu huynh đang có ý thế này, vạn nhất quân huynh băng hà, vì xã tắc Triệu thất, ngu huynh quyết định phò tá tứ đệ kế thừa ngôi đại thống.”
“Tam huynh,” An Dương Quân vội vàng vòng tay từ chối, “chuyện này dứt khoát không thể!”
“Tứ đệ bất tất phải khiêm nhường!” Phụng Dương Quân sắc mặt càng thêm nghiêm nghị. “Anh em ta đều là cốt nhục của tiên quân, quân huynh có thể kế tục ngôi vị, tứ đệ tài đức song toàn, hà cớ lại không thể? Hơn nữa, em kế ngôi anh, không hề trái đạo, cũng là lệ thường xưa nay!”
“Được tam huynh cất nhắc, ngu đệ vô cùng cảm kích!” An Dương Quân vẫn từ chối. “Chỉ là tam huynh có điều không biết, ngu đệ tuy bất tài, song cũng biết mình biết ta. Nếu luận về tài trí, khoan tính đến quân huynh, trong số các huynh đệ còn lại, dù là ai cũng vượt xa ngu đệ!”
Phụng Dương Quân nhổm người về phía trước: “Ý tam đệ là...”
“Vạn nhất quân huynh băng hà, tứ đệ chỉ nhất nhất nghe theo tam huynh!”
“Tạ ơn tứ đệ yêu mến!” Phụng Dương Quân mừng rỡ ra mặt, vái tạ liên hồi. “Lời của tứ đệ, ngu huynh xin ghi nhớ trong lòng. Tứ đệ có việc bận, ngu huynh xin cáo từ!” Rồi đứng dậy vòng tay từ biệt.
An Dương Quân tiễn ra ngoài phủ, rồi quay trở về hậu đường, vừa định ngồi xuống thì Lâu Hoãn hấp tấp bước vào, ghé tai thì thầm một hồi.
An Dương Quân khẽ chau mày, ngẫm nghĩ một lát, rồi gật đầu nói: “Đã là ý của chúa thượng, hãy mau đi sắp xếp!”
“Đại nhân!” Lâu Hoãn băn khoăn. “Chúa thượng làm vậy, chẳng phải chắp cánh cho hổ ư?”
An Dương Quân mỉm cười: “Muốn chắp cánh cho hổ, trước tiên phải có hổ đã!”
“Ý đại nhân là...” Lâu Hoãn dường như vẫn chưa hiểu ra, nhìn sững vào An Dương Quân, “tướng quốc còn chưa phải là hổ ư?”
“Nếu là hổ, ông ta còn có thể sống tới hôm nay?”
Lâu Hoãn trợn tròn hai mắt, sửng sốt hồi lâu, rồi gật đầu nói: “Tướng quốc đã không phải là hổ, cớ sao chúa thượng lại mặc cho ông ta làm càn tác loạn?”
“Chúa thượng đang đợi thời cơ!”
“Thời cơ?”
“Đúng vậy!” An Dương Quân gật đầu. “Chúa thượng đang đợi tướng quốc biến thành một con hổ!”
Lâu Hoãn như đã hiểu ra: “Nghe đại nhân nói vậy, chúa thượng tiến cử Tô Tần với Phụng Dương Quân, là có thâm ý khác?”
An Dương Quân mỉm cười, hỏi: “Trung đại phu nói thử xem, chúa thượng có thâm ý gì?”
“Khiến tâm chí thêm kiêu căng!” Lâu Hoãn đáp. “Chúa thượng muốn nói với tướng quốc rằng, bên cạnh chúa thượng đã không còn ai, cũng không dám trọng dụng ai!”
An Dương Quân lại cười một tiếng, lặng im không nói.
“Đại nhân,” Lâu Hoãn lại hỏi, “Phụng Dương Quân... sẽ dùng Tô Tử chứ?”
“Nếu dùng, thì ông ta đã thực sự là một con hổ!” An Dương Quân nói xong, bèn quay người bỏ đi, chậm rãi bước về phía thư phòng ở sau nhà.
Phụng Dương Quân đang múa kiếm trên bãi cỏ bên ngoài Thính Vũ các thì Thân Tôn tất tả bước lại, thấy chủ nhân đang lúc cao hứng, thì khom lưng đứng đợi bên cạnh. Phụng Dương Quân múa thêm một lát thì dừng lại, quay sang Thân Tôn hỏi: “Có việc gì?”
“Có sĩ tử Lạc Dương Tô Tần cầu kiến!” Thân Tôn hai tay trình lên bái thiếp của Tô Tần.
“Sĩ tử Lạc Dương? Tô Tần?” Phụng Dương Quân chau mày hỏi. “Người này tới vì việc gì?”
Thân Tôn bước lên một bước, ghé sát tai Phụng Dương Quân thầm thì vài câu. Phụng Dương Quân sững người, hỏi vội: “Nói như vậy, người này là do chúa thượng tiến cử?”
“Đúng vậy!” Thân Tôn gật đầu. “Theo Lâu Hoãn nói, điện hạ đã cùng Phì Nghĩa ngấm ngầm gặp gỡ Tô Tần, mục đích là tiến cử đại hiền lên chúa thượng. Chúa thượng chưa hỏi rõ đầu đuôi đã lập tức truyền chỉ An Dương Quân tiến cử lên chúa công, để chúa công xem tài mà dùng.”
“Xem tài mà dùng?” Phụng Dương Quân trầm ngâm suy nghĩ. “Theo ý ngươi, kẻ này có tài không?”
“Theo tiểu nhân được biết, Tô Tần là môn đệ của Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng, học thuật du thuyết, năm ngoái tới Tần, lấy đế sách để du thuyết Tần Công, muốn phò tá Tần Công nhất thống thiên hạ, song Tần Công lại bỏ không dùng.”
“Nhất thống thiên hạ?” Phụng Dương Quân cười hềnh hệch. “Thảo nào Triệu Ngữ không dùng! Những lời lẽ ngông cuồng kiểu ấy chỉ có thế lừa được đứa trẻ vắt mũi chưa sạch như Triệu Ung mà thôi!”
“Chúa công!” Thân Tôn như đã nhìn thấu suy nghĩ của Phụng Dương Quân. “Kẻ đó đã đợi rất lâu ở tiền sảnh, nếu chúa công không muốn gặp, tiểu nhân bảo hắn về là xong!”
Phụng Dương Quân suy nghĩ một lát, phẩy tay ngăn lại: “Đã là chúa thượng tiến cử, không gặp cũng phải có lý do thoái thác. Thế này đi, ngươi ra nói với hắn, mấy ngày nay, bản công việc nước phiền hà, không còn thiết đến chuyện người. Dù là ai, hễ tới đây nói chuyện người, nhất loạt không gặp, xem hắn nói sao.”
Thân Tôn “vâng” một tiếng, quay người bước đi. Một lát sau, tới tiền sảnh, vừa bước vào cửa đã vòng tay cung kính: “Để Tô Tử chờ lâu, thực có lỗi!”
Tô Tần vội đứng dậy đáp lễ: “Đã làm phiền gia lão!”
Thân Tôn đưa trả bái thiếp cho Tô Tần, ra vẻ áy náy mà nói: “Tại hạ đã bẩm báo việc Tô Tử cầu kiến với chúa công. Chúa công nói, nếu Tô Tử tới đây nói chuyện người, thì mời hôm khác hãy tới.”
Tô Tần ngạc nhiên: “Thế nghĩa là sao?”
Thân Tôn hạ giọng giải thích: “Gần đây long thể chúa thượng bất an, mọi việc lớn nhỏ trong triều đều do một mình chúa công gánh vác, chúa công từ sáng tới tối chỉ lo lắng việc nước, còn việc người không có tâm trí để bàn luận!”
Tô Tần trầm ngâm một lát, rồi ngẩng đầu nói: “Làm phiền gia lão lại vào bẩm báo với tướng quốc lần nữa, rằng tại hạ tới đây không phải nói chuyện người, được chăng?”
Thân Tôn ngạc nhiên: “Không nói chuyện người, vậy nói chuyện gì?”
“Chuyện ma!”
Thân Tôn do dự một lúc, rồi nói: “Tô Tử hãy chờ một lát!” Rồi cất bước đi ngay, một lát sau, quay trở lại, vòng tay vái mà nói. “Tô Tử, chúa công có lời mời.”
Tô Tần cũng vòng tay đáp lễ: “Gia lão, mời đi trước!”
Hai người kẻ trước người sau ra khỏi tiền sảnh, đi theo con đường nhỏ rợp bóng cây xuyên qua hậu hoa viên, tiến vào trong Thính Vũ các.
Tô Tần dập đầu nói: “Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần khấu kiến tướng quốc!”
Phụng Dương Quân hơi nhổm người dậy, chìa tay trịnh trọng nói: “Tô Tử miễn lễ, mời ngồi!”
Tô Tần tạ ơn, đứng dậy, ngồi xuống vị trí khách. Thân Tôn ra hiệu, một nô tỳ bưng trà lại, rồi lui ra.
Phụng Dương Quân quan sát Tô Tần một lượt từ đầu đến chân, vẻ rất mực hiếu kỳ: “Nghe nói Tô Tử tới đây muốn nói về chuyện ma, Triệu Thành rất muốn nghe!”
“Là thế này!” Tô Tần dõng dạc nói. “Mười ngày trước, thảo dân từ Chu tới Triệu, khi đến gần Hàm Đan, trời nhá nhem tối, phóng mắt nhìn khắp tứ phía, thấy xung quanh không có lấy một nếp nhà. Thảo dân đang lúc lo sợ, chợt thấy có một ngôi miếu bên vệ đường, bèn lại đó nghỉ chân. Thảo dân ngủ tới nửa đêm, đột nhiên nghe thấy tiếng người, bèn giật mình tỉnh giấc.”
Phụng Dương Quân lấy làm kinh ngạc, hỏi: “Giữa chốn hoang vu, lấy đâu ra tiếng người?”
“Đúng vậy!” Tô Tần nói tiếp. “Thảo dân cũng thấy quái lạ, bèn nghiêng tai lắng nghe, hóa ra tiếng nói phát ra từ hai pho tượng trong miếu, một pho là tượng gỗ, một pho là tượng đất!”
Phụng Dương Quân thở phào một tiếng, gật đầu nói: “Ồ, thì ra là vậy, dù gì cũng rất thú vị. Tô Tử nói thử xem, hai pho tượng đã nói những chuyện gì?”
“Hai pho tượng có vẻ đang tranh cãi chuyện gì đó, thảo dân nghe lời nói, vẻ như đã tranh luận lâu rồi. Tới lượt tượng gỗ nói, tượng gỗ cười một tràng, cất giọng châm biếm: ‘Này anh đất, anh nhìn tôi mà xem, muốn uy phong có uy phong, muốn thần thánh có thần thánh, nào có giống như anh, nhìn ngang nhìn dọc chẳng qua cũng chỉ là một cục đất. Chỉ cần một cơn nước lớn ào qua, lập tức biến thành đống bùn nhão nhoét!’”
“Phải!” Phụng Dương Quân lại gật đầu. “Nói cũng có lý. Vậy tượng đất trả lời thế nào?”
“Tượng đất cũng cười một tiếng, trầm giọng mà nói rằng: ‘Này anh gỗ, anh nói sai rồi! Dù nước lớn phá hỏng thân xác tôi, song tôi vẫn là một đống đất vàng ở nguyên chỗ cũ. Còn anh gỗ đây là cây không gốc, nước lớn vừa tới, chẳng còn cách khác, chỉ có thể trôi nổi theo dòng, hoang mang không biết về đâu. Hơn nữa thế sự vô thường, nếu không phải là nước lớn, mà là một cơn hoả hoạn, thì tình cảnh của anh gỗ đây, thực không dám tưởng tượng!”’
Nghe tới đây, Phụng Dương Quân rùng mình kinh hãi, đột nhiên tỉnh ngộ, đưa mắt nhìn Thân Tôn. Thân Tôn khẽ mấp máy môi, song không nói ra lời nào.
Tô Tần thấy vậy, vòng tay hỏi: “Thảo dân to gan muốn hỏi tướng quốc đại nhân, lý lẽ của tượng gỗ và tượng đất, ai hay ai dở?”
Phụng Dương Quân trầm ngâm một lát: “Theo Tô Tử thì thế nào?”
“Tô Tần cho rằng, lý lẽ của tượng đất hợp tình hợp lý hơn. Cây không gốc, không thể lâu dài!”
Phụng Dương Quân lại trầm ngâm hồi lâu, rồi vòng tay nói: “Tô Tử nói chuyện ma, thật thú vị, Triệu Thành đã được mở rộng tầm mắt! Triệu Thành hôm nay dậy sớm, nên trong người mệt mỏi. Nếu Tô Tử rỗi rãi, ngày mai hãy lại tới đây, Triệu Thành mong được lắng nghe cao luận!”
Tô Tần đứng dậy vái chào: “Thảo dân cáo lui!”
Thân Tôn tiễn Tô Tần ra khỏi cửa, rồi vội vã quay trở lại, thấy Phụng Dương Quân vẫn ngồi nguyên tại chỗ, dáng vẻ đăm chiêu, bèn khom lưng cúi đầu, đứng hầu bên cạnh.
Phụng Dương Quân cũng không buồn ngẩng đầu lên, lẩm bẩm như tự nhủ một mình: “Cây không gốc, không thể lâu dài, Tô Tần nói vậy, là ám chỉ bản công không có địa vị tôn quý, mà chuyên quyền tự phụ, vận mệnh tương lai rồi sẽ giống như tượng gỗ mà thôi!”
Thân Tôn vội nói: “Cuồng sinh vọng ngôn, chúa công không nên cả tin!”
Phụng Dương Quân lừ mắt nhìn Thân Tôn: “Ngươi nói thử xem, Tô Tử vọng ngôn thế nào?”
“Chúa công vốn là cốt nhục của tiên quân, tài đức song toàn, lại được lòng người, tuyệt đối không thể là cây không gốc. Tô Tần đến đây nói chuyện viển vông, chẳng qua muốn nhân dịp này mong được chúa công trọng dụng, để mưu cầu bổng lộc danh vọng mà thôi!”
Phụng Dương Quân lại ngẫm nghĩ một hồi, rồi gật đầu: “Phải, nói vậy cũng có lý. Có điều, Tô Tần trong nháy mắt đã nghĩ ra được chuyện mà để cầu kiến, còn có thể ngấm ngầm lôi chuyện tượng gỗ, tượng đất ra ví von với bản công, cũng đáng là bậc kỳ tài!”
Thân Tôn đảo con ngươi một vòng: “Theo tiểu nhân thấy, Tô Tử miệng lưỡi sắc sảo, nếu chúa công dùng người này, không chừng sẽ bị hắn xúi giục mà lung lay ý chí, uổng phí công lao đã tạo dựng trước đây.”
Phụng Dương Quân thoáng do dự: “Có điều, bản công đã đồng ý để hắn ngày mai lại tới, vốn là muốn dùng hắn. Nếu không dùng hắn, sẽ không bảo hắn tới. Hiện tại trăm việc bộn bề, bản công còn tâm trí đâu mà nghe chuyện ma qủy nhăng cuội của hắn?”
“Nếu chúa công không muốn nghe lời lẽ nhăng cuội của hắn, đợi ngày mai hắn tới, tiểu nhân sẽ đuổi hắn về!”
Phụng Dương Quân trầm ngâm hồi lâu, rồi lắc đầu nói: “Không được! Bản công đã đồng ý gặp hắn, hắn lại đúng hẹn mà tới, nếu bản công không gặp, chính là nuốt lời. Việc này nếu đồn ra ngoài, mọi người sẽ nhìn bản công ra sao?”
Thân Tôn lại đảo con ngươi một vòng: “Tiểu nhân có một kế, vừa có thể khiến chúa không nuốt lời, lại có thể khiến chúa công không phải nghe lời lung lạc của hắn.”
“Ngươi nói xem!”
Thân Tôn bước lên một bước, ghé sát tai Phụng Dương Quân thì thầm. Trên mặt Phụng Dương Quân từ từ hiện một nụ cười, rồi gật gù nói: “Được, trò này thú vị đây! Ngày mai, cứ làm như ngươi nói!”
Chiều hôm sau, Tô Tần đúng hẹn mà tới. Thân Tôn đã đợi sẵn ở đó, dẫn Tô Tần vào Thính Vũ các ở hậu hoa viên. Phụng Dương Quân vẫn ngồi ở vị trí chủ như hôm qua, Tô Tần hành lễ xong, ngồi vào vị trí khách, Thân Tôn ngồi ở vị trí đối diện, thị nữ vẫn bưng trà thơm lại như cũ.
Tô Tần nhấp một ngụm trà, đặt chén trà xuống, rồi ôm quyền, nói thẳng vào đề: “Tướng quốc đại nhân, hôm qua chỉ nói chuyện ma, hôm nay thảo dân to gan nói chuyện người, được chăng?”
Phụng Dương Quân khép hờ hai mắt, mỉm cười, gật đầu: “Xin cứ nói!”
Tô Tần đặng hắng một tiếng, dõng dạc mà rằng: “Tướng quốc ở Triệu, vị trí dưới một người, trên vạn người, việc lớn trong triều đều do tướng quốc định đoạt, có thể nói là nhất hô bách ứng, gió xuân đắc ý. Có điều...” bất chợt đổi giọng, nhìn Phụng Dương Quân, im bặt.
Phụng Dương Quân vẫn giữ nguyên nụ cười trên mặt: “Xin cứ nói!”
Tô Tần lại đặng hắng khẽ một tiếng: “Tô Tần cho rằng, trăng tròn lại khuyết, vật cực tất phản, đây là đạo lý của vạn vật. Tướng quốc đại nhân tuy địa vị tối cao trong số triều thần, song đại họa lại ở ngay bên cạnh!” Lại ngừng lời, mắt nhìn thẳng vào Phụng Dương Quân.
Phụng Dương Quân hai mắt khép hờ, nụ cười vẫn giữ nguyên như cũ: “Xin hãy nói tiếp!”
Tô Tần thoáng ngạc nhiên, quay sang nhìn Thân Tôn.
Thân Tôn mỉm cười, chậm rãi nói: “Có đại họa gì, xin Tô Tử nói rõ!”
Tô Tần thu ánh mắt về, lại nhìn sang Phụng Dương Quân: “Đại họa hiện tại của Triệu không phải ở Trung Sơn, không phải ở nước Ngụy hùng mạnh, càng không phải ở tộc Nhung Địch, mà chính là ở nước Tần lang sói. Tần chiếm được Hà Tây, tất mưu Hà Đông. Tần mưu Hà Đông, tất mưu Tấn Dương. Nếu Tấn Dương thất thủ, đại nhân ắt gặp nguy khốn!” Rồi dừng lại, quan sát Phụng Dương Quân.
Phụng Dương Quân không hề có bất kỳ phản ứng nào, trên mặt vẫn giữ nguyên nét cười, khép hờ hai mắt.
Tô Tần kinh ngạc không hiểu, quay sang nhìn Thân Tôn. Thân Tôn vẫn giữ vẻ mặt tươi cười, hỏi ngược lại Tô Tần: “Xin hỏi Tô Tử, giả sử Tấn Dương thất thủ, cớ sao lại nguy hại tới chúa công?”
Tô Tần cười nhạo: “Với kiến thức của gia lão, không thể đến điều này cũng không nhìn ra!”
Thân Tôn lộ vẻ bối rối, cười gượng một tiếng, rồi vòng tay nói: “Tại hạ ngu dốt, mong Tô Tử nói rõ!”
“Hiện tại chúa thượng không màng triều chính, đại sự nước Triệu đều do tướng quốc đại nhân quyết định. Tướng quốc nhìn không ra dã tâm của người Tần, đã đóng quân ở quận Đại, còn điều động hai vạn quân tinh nhuệ rời khỏi Tấn Dương. Lần điều quân này của tướng quốc, đương nhiên người Tần biết rõ. Nếu người Tần thừa cơ đột kích, Tấn Dương có lẽ sẽ không giữ nổi. Thần dân nước Triệu coi Tấn Dương là nền tảng của quốc gia, nếu để mất Tấn Dương, dân chúng ắt sẽ trách tội tướng quốc đại nhân. Cả nước trách tội đại nhân, nếu lại không được chúa thượng che chở, đại nhân liệu có thể kê cao gối ngủ hay chăng?”
Từng lời Tô Tần nói ra, Thân Tôn nghe mà toát mồ hôi lạnh, vội ngẩng đầu nhìn sang Phụng Dương Quân, thấy ông ta vẫn giữ nguyên thái độ như cũ, thì thở hắt ra một tiếng, khẽ hỏi: “Dám hỏi Tô Tử, có sách lược ứng phó hay chăng?”
Tô Tử không đáp lời Thân Tôn, vẫn nhìn Phụng Dương Quân: “Dựa vào quốc lực hiện tại của Triệu, phía tây không thể kháng Tần, phía đông không thể chống Tề. Do vậy, Tô Tần cho rằng, thượng sách của Triệu không phải ở mưu chiếm Trung Sơn, mà ở hợp tung. Trước hết hợp Yên, sau hợp Hàn, Ngụy. Tam Tấn nếu hợp, phía tây có thể mưu Tần, phía đông có thể chống Tề, phía nam có thể kháng Sở. Có đại thế này, Triệu đã có thể kê cao gối ngủ. Nếu tướng quốc đại nhân lập được đại công này, đưa chúa thượng ngồi vào ngôi vị minh chủ hợp tung, trên có thể bảo vệ cơ nghiệp muôn đời của Triệu thất, dưới có thể khiến lê dân an cư lạc nghiệp, giữa có thể hóa giải khúc mắc giữa quân thần, gần có thể bản thân yên ổn, xa có thể lưu thơm trăm đời...”
Tô Tần lời lẽ rành mạch, xúc động động lòng người, song Phụng Dương Quân vẫn trơ trơ như khúc gỗ, không mảy may biểu cảm, hai mắt vẫn khép hờ, nụ cười vẫn bất động, sắc mặt đờ đẫn nhìn Tô Tần.
Tuy lấy làm quái lạ, song Tô Tần vẫn nói tiếp: “Nếu tướng quốc đại nhân có mong muốn này, Tô Tắn bất tài, cũng xin trợ giúp đại nhân thành tựu đại nghiệp!” Nói tới đây, ánh mắt nhìn thẳng vào Phụng Dương Quân chờ đợi.
Đợi một hồi lâu, trái với dự đoán của Tô Tần, Phụng Dương Quân vẫn chỉ thủng thẳng thốt ra ba chữ: “Xin cứ nói!”
Tô Tần chau tít đôi mày, rất đỗi hoài nghi, rồi vòng tay nói: “Tướng quốc bảo trọng, Tô Tần cáo từ!” Nói đoạn, đứng ngay dậy.
Phụng Dương Quân vẫn lặng thinh, ngồi ngay ngắn trên đất, giữ nguyên tư thế ban đầu.
Thân Tôn cuống lên, đưa tay chạm khẽ vào ống tay áo Phụng Dương Quân. Phụng Dương Quân giật nảy mình, mở choàng mắt, thấy Tô Tần sắp sửa ra về, vội vòng tay nói: “Lời Tô Tử như sét đánh ngang tai, Triệu Thành xin thụ giáo!”
Tô Tần đáp lễ: “Đa tạ trà thơm của tướng quốc!”
Phụng Dương Quân lại nói một đằng trả lời một nẻo: “Xin cứ nói!”
Tô Tần ngẩn người, chuyển ánh mắt sang Thân Tôn.
Thân Tôn làm động tác tiễn khách, vòng tay cười nói: “Tô Tử thực lòng muốn đi, chúa công nhà tôi cũng không giữ khách nữa!”
Tô Tần lùi lại, rồi quay người đi thẳng. Thân Tôn đứng ngây ra một lát, vội vã đuổi theo, tiễn tới tận cổng.
Tô Tần cúi đầu bước ra khỏi cổng phủ, bỗng dừng chân lại, quay người vòng tay nói: “Tại hạ có một việc không hiểu, xin gia lão giải thích giúp cho!”
Thân Tôn trong lòng đã rõ, hỏi ngay: “Tô Tử muốn hỏi chuyện vừa rồi chăng?”
“Đúng vậy!” Tô Tần buồn bã mà rằng. “Hôm qua tại hạ nói chuyện ma, tướng quốc còn thấy thú vị. Hôm nay, tại hạ bàn về an nguy đất nước, tướng quốc lại không mảy may xúc động, gia lão hẳn biết rõ nguyên do?”
“Tô Tử có điều không biết,” Thân Tôn vòng tay, tỏ vẻ áy náy, “chúa công trong người có bệnh, không được phép xúc động. Hôm qua nghe lời lẽ của Tô Tử, tại hạ cho rằng quá sắc bén, e là nếu hôm nay để chúa công nghe thấy, thứ nhất sẽ làm tổn thương tới quý thể chúa công, thứ hai sợ rằng gây bất lợi cho Tô Tử, do vậy đã khổ sở khuyên chúa công lấy bông bịt tai lại. Kế này thực sự là do tại hạ nghĩ ra, không liên quan tới chúa công. Có gì bất kính, mong Tô Tử bỏ qua.”
Tô Tần nghe xong, nhất thời như sét đánh ngang tai, đứng chết trân tại chỗ, hồi lâu sau mới định thần lại được, ngửa cổ lên trời, cười một tràng dài, rồi khẽ vòng tay với Thân Tôn, sau đó ung dung ngẩng cao đầu bước đi.
Trời nhập nhoạng tối, một người mặc áo đen lẩn nhanh vào dịch quán liệt quốc, ghé sát tai sứ Tần Sư Lý Tật thầm thì một hồi.
Sư Lý Tật cả kinh, ngẩng đầu hỏi ngay: “Hắn tới lúc nào?”
“Hồi bẩm đại nhân,” người áo đen bẩm báo, “từ nửa tháng trước!”
“Nửa tháng?” Sư Lý Tật sầm mặt xuống, quắc mắt giận dữ mắng. “Nuôi lũ các ngươi thật vô tích sự, người này đã tới đây nửa tháng, sao bây giờ mới báo?”
“Tiểu nhân biết tội!” Người áo đen quỳ xuống dập đầu. “Mấy ngày nay, đám huynh đệ chỉ tập trung chú ý tới cung Triệu, phủ Phụng Dương Quân và phủ An Dương Quân, mà không để ý tới người này. Hôm qua đột nhiên thấy hắn tới phủ Phụng Dương Quân, hôm nay lại tới, tiểu nhân vội vã điều tra, mới biết hắn là Tô Tần, nên lập tức tới đây bẩm báo.”
Sắc mặt Sư Lý Tật hơi dịu lại: “Đứng lên! Nói như vậy, cũng không thể trách ngươi. Tô Tần hiện đang ở đâu?”
“Quán trọ Phong Vân, hắn còn ở cùng một người nữa!”
“Ai vậy?”
“Nghe tiểu nhị nói, người kia họ Giả, cũng từ nơi khác tới, đến sớm hơn Tô Tần vài ngày.”
“Hẳn là Giả tiên sinh?” Sư Lý Tật ngẫm nghĩ một lát, gật đầu nói với người mặc áo đen. “Phải, nhất định là ông ta. Chuẩn bị xe, tới quán trọ Phong Vân!”
Xe đã chuẩn bị xong, Sư Lý Tật sắp bước ra đến cửa thì một người Triệu hớt hải chạy lại, nằng nặc đòi gặp đặc sứ đại nhân. Thị vệ tới bẩm báo, Sư Lý Tật bèn cho vào.
Người này mặc y phục thường dân, sải bước vào phòng khách, nhìn thấy Sư Lý Tật, bèn cúi gập người hỏi: “Đại nhân hẳn là đặc sứ nước Tần Sư Lý đại nhân?”
Sư Lý Tật nói: “Chính tại hạ. Tráng sĩ là...”
Người này liền quỳ xuống, dập đầu nói: “Tiểu nhân là môn khách của Thân tướng quân, phụng mệnh tướng quân cầu kiến đại nhân, có mật thư trình báo!” Rồi lấy từ trong ống tay áo một bức thư, kính cẩn dâng lên.
Sư Lý Tật vội cầm lấy đọc, đọc xong bèn nói với người này: “Do sự việc cơ mật, bản tướng không thể trả lời bằng thư. Ngươi hãy về nói lại với Thân tướng quân, mọi việc cứ làm đúng như lời tướng quân nói. Vào canh năm ngày mồng hai tháng sau, đốt lửa làm ám hiệu ở cổng tây Tấn Dương, bất kể mưa gió.”
“Tiểu nhân nhận lệnh!”
Sư Lý Tật bước sang bên cạnh, lấy ra mười lượng vàng, đưa cho người này: “Đi đường vất vả, chút tiền này coi như tiền rượu. Lúc nào sự việc thành công, sẽ thưởng thêm!”
Người này khấu tạ xong, cầm lấy mười lượng vàng, vội vã ra về.
Sư Lý Tật nhìn theo bóng hắn xa hẳn, rồi vội vã bước lại bên bàn, ngồi xuống viết một bức mật thư, phong kín lại, đưa cho người áo đen: “Đại sự đã thành, ngươi hãy mau trở về Hàm Dương, giao mật thư này cho chúa thượng!”
Người áo đen cầm thư, khẽ gật đầu, đi ra khỏi cửa.
Sư Lý Tật cũng rời khỏi dịch quán, lên xe ngựa, đánh thẳng tới quán trọ Phong Vân.
Song Sư Lý Tật không thể ngờ được rằng, người Triệu không phải là người Ngụy, trong dịch quán liệt quốc sớm đã có tai mắt của Túc Hầu. Sư Lý Tật vừa ra khỏi cổng, đã có người phi ngựa như bay tới đài Hồng Ba, tấu báo mọi điều mắt thấy tai nghe với Củng Trạch. Củng Trạch soạn một bức mật tấu, trình lên Túc Hầu. Túc Hầu xem xong, ngẫm nghĩ một lát, bảo Củng Trạch chuyển mật tấu tới An Dương Quân.
An Dương Quân đọc xong mật tấu, lập tức cho gọi Lâu Hoãn tới, kể sơ qua tình hình, rồi dặn dò Lâu Hoãn: “Trung đại phu mau sai người báo tin cho Triệu Báo, dặn Triệu Báo để mắt tới Thân Bảo, cứ theo kế mà làm!”
Lâu Hoãn nhận lệnh, cũng lấy từ trong ống tay áo một bức tấu báo, hai tay trình lên: “Phủ tư đồ tấu báo, binh mã quận Đại đột ngột tăng vọt, công tử Phạm xin cấp một vạn năm nghìn thạch lương thảo!”
An Dương Quân chẳng buồn xem, phẩy tay nói: “Lần lữa hai tháng, ngươi tự xử trí!”
An Dương Quân quay người toan đi luôn, Lâu Hoãn bèn ngẩng lên cười nói: “Bẩm chúa công, còn có một chuyện rất thú vị.”
An Dương Quân ngoảnh đầu lại hỏi: “Chuyện gì thú vị?”
“Chuyện của Tô Tần!”
“Ồ?” An Dương Quân lấy làm hào hứng. “Tô Tần thế nào?”
“Buổi chiều hôm kia, Tô Tần trình bái thiếp cầu kiến, Phụng Dương Quân vốn không muốn gặp, nhưng lại sợ gây tiếng xấu, nên sai người chuyển lời rằng, nếu tới nói chuyện người thì không gặp. Tô Tần bèn nói chuyện ma để được vào gặp. Hắn đem chuyện tượng gỗ, tượng đất ra so sánh với tình thế nguy khốn hiện tại của Phụng Dương Quân, Phụng Dương Quân hiểu ra, lấy cớ mệt mỏi, hẹn Tô Tần hôm sau lại gặp. Buổi chiều nay, Tô Tần lại tới, Phụng Dương Quân vẫn đón tiếp nhiệt tình, trò chuyện nửa canh giờ. Tô Tần bàn về sách lược hợp tung với Phụng Dương Quân, cho rằng đây là thượng thượng sách có thể làm thay đổi tình cảnh hiện tại của Phụng Dương Quân.”
“Phụng Dương Quân có chịu nghe không?”
Lâu Hoãn lắc đầu: “Phụng Dương Quân hoàn toàn không nghe thấy.”
“Ồ?” An Dương Quân sửng sốt. “Tô Tần trò chuyện tới nửa canh giờ, sao hắn có thể không nghe?”
“Bởi lẽ hai tai của Phụng Dương Quân đã bịt kín bông!”
An Dương Quân ngẩn ra một hồi mới hiểu ra, lắc đầu mà rằng: “Than ôi, bịt tai để nghe đại hiền, kế sách rác rưởi này mà hắn cũng nghĩ ra được!”
“Hạ quan điều tra biết được, đây là mưu kế của quản gia Thân Tôn nhà ông ta.”
“Than ôi!” An Dương Quân lại than thở. “Xung quanh toàn là tiểu nhân, mà tâm chí lại cao hơn trời, Triệu Thành đúng là u mê mất rồi!”
“Chúa công, Phụng Dương Quân không dùng Tô Tần, Tô Tần ắt nản mà bỏ đi. Theo hạ quan thấy, người này đúng là đại tài, có ích cho Triệu. Tam Tấn hợp tung, với Triệu có lợi mà vô hại, chúng ta nên tìm cách giữ người này lại mới phải.”
An Dương Quân ngẫm nghĩ hồi lâu, lắc đầu nói: “Không nên làm kinh động tới hắn. Nhìn vào tình thế hiện tại, Tô Tử nếu muốn hợp tung Tam Tấn, tuyệt đối không thể rời khỏi nước Triệu. Có điều, cũng không được bất cẩn. Trung đại phu hãy thông báo với chủ quán trọ, nếu Tô Tử có hành động khác thường, lập tức bẩm báo ngay!”
“Hạ quan tuân lệnh!”
Sư Lý Tật đánh xe tới quán trọ Phong Vân, song tiểu nhị nói rằng Tô Tần vẫn chưa trở về.
Giả Xá Nhân hay tin vội ra đón, thấy Sư Lý Tật, bèn vòng tay hành lễ. Sư Lý Tật đáp lễ, hai người bước vào trong phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Sư Lý Tật vòng tay vái chào: “Tại hạ tới Hàm Đan đã nhiều ngày, thế mà vừa rồi mới hay tin Giả tiên sinh ở đây, đã tới thăm muộn, mong Giả tiên sinh lượng thứ.”
Giả Xá Nhân cũng vòng tay nói: “Thượng đại phu khách khí rồi. Tại hạ vừa tới Hàm Đan đã biết thượng đại phu ở đây. Tại hạ thấy thượng đại phu việc nước bận rộn, vả lại cũng chẳng có tin gì quan trọng để bẩm báo, nên không dám tới làm phiền. Tại hạ thất lễ trước, người nói lời xin lỗi, phải là tại hạ mới đúng!”
Sư Lý Tật cười nói: “Giả tiên sinh khách sáo quá. Tại hạ nghe nói Giả tiên sinh đã tìm được Tô Tử, hơn nữa Tô Tử hiện đang trọ ở đây, lần này tới cũng là muốn gặp mặt Tô Tử!”
“Hai canh giờ trước, Tô Tử có hẹn tới phủ tướng quốc, hiện vẫn chưa thấy trở về. Thượng đại phu muốn gặp Tô Tử, có lẽ phải chờ một lát!” Giả Xá Nhân nói đoạn bày đồ trà ra pha trà, đặt một chung lên bàn Sư Lý Tật.
Sư Lý Tật cảm tạ, bưng chung trà lên, mở nắp nhấp một ngụm, khen ngợi: “Trà của Giả tiên sinh đúng là khác hẳn bình thường. Tuy ở Hàm Đan, mà uống vào vẫn thấy có vị của vùng núi Chung Nam.”
Giả Xá Nhân mỉm cười nói: “Cảm tạ thượng đại phu quá khen!”
Sư Lý Tật lại nhấp một ngụm, rồi nói thẳng vào chuyện chính: “Giả tiên sinh đã tìm được Tô Tử, vậy bao giờ sẽ đưa Tô Tử về? Chúa thượng hẳn đang sốt ruột chờ mong!”
Giả Xá Nhân khẽ thở dài: “Than ôi, e là Tô Tử không về nữa rồi!
“Sao kia?” Sư Lý Tật kinh ngạc hỏi. “Chuyện là thế nào?”
Giả Xá Nhân thuật lại sơ qua một lượt kế sách Tam Tấn hợp tung của Tô Tần.
Sư Lý Tật nghe xong, mặt mày biến sắc, vội nói: “Nếu Tam Tấn hợp tung, chẳng phải là đại nạn giáng xuống Tần ư? Giả tiên sinh, bằng mọi giá, chúng ta phải khiến Tô Tử thay đổi chủ ý, trở về Hàm Dương!”
Giả Xá Nhân lắc đầu nói: “E rằng Tô Tử không chịu nghe đâu!”
Sư Lý Tật tràn đầy tự tin: “Chưa chắc! Công Tôn Diễn ban đầu chẳng phải quyết một lòng tận trung với Ngụy thất, vậy mà sau này vẫn tới nước Tần đó ư?”
“Đó là Công Tôn Diễn, không phải Tô Tần!” Giả Xá Nhân nói chắc như đinh đóng cột.
Sư Lý Tật ngẫm nghĩ một lát, nói với Giả Xá Nhân: “Giả tiên sinh, Tô Tử muốn quay về Hàm Dương hay không là một chuyện, chúng ta nỗ lực khuyên hắn quay về lại là chuyện khác. Tiên sinh thấy thế này có được không, đợi Tô Tử trở về, chúng ta cùng khuyên hắn, thuyết phục hắn quay lại Hàm Dương. Nếu Tô Tử không chịu, chúng ta sẽ nghĩ cách khác.”
Giả Xá Nhân còn chưa kịp trả lời, từ bên ngoài đã vọng lại tiếng trò chuyện của Tô Tần và tiểu nhị. Lát sau, tiếng bước chân dừng lại trước cửa, Tô Tần đẩy cửa bước vào.
Sư Lý Tật đứng dậy, vòng tay vái chào: “Tại hạ Sư Lý Tật bái kiến Tô Tử!”
Tô Tần ngẩn người, song lập tức nhớ ra đã từng gặp mặt người này ở Hàm Dương, vội vòng tay đáp lễ: “Tại hạ Tô Tần bái kiến Mộc tiên sinh!” Dừng lại một lát, lại nói thêm. “Cũng là bái kiến thượng đại phu đại nhân!”
Sư Lý Tật cười nói: “Hay tin Tô Tử ở đây, tại hạ không mời mà tới, đã mạo muội quấy quả!”
Tô Tần cũng cười nói: “Thượng đại phu là khách quý, tại hạ muốn mời còn chẳng được! Thượng đại phu đại nhân, mời ngồi!”
Hai người vừa ngồi xuống chiếu, Sư Lý Tật đã đi thẳng vào chuyện: “Tô Tử lần trước tới Tần, Tần Công đang định trọng dụng, nào ngờ Tô Tử đã lẳng lặng bỏ đi. Tần Công hay tin Tô Tử đi rồi, vội sai công tử Hoa đuổi theo tới tận ải Hàm Cốc, do tuyết lớn mịt mù, nên không tìm thấy Tô Tử đâu. Tần Công lại sai tại hạ tiếp tục tìm kiếm, tại hạ tìm tới thôn Tiểu Tần, thì được biết Tô Tử đã rời khỏi Hàm Cốc!”
Tô Tần bèn hỏi: “Thượng đại phu đã tới nhà nhân huynh cụt tay ư?”
“Đúng vậy!” Sư Lý Tật cười nói. “Tại hạ còn được gặp mặt Thu Quả cô nương. Theo lời vị nhân huynh cụt tay kia kể lại, thì Thu Quả cô nương rất có duyên với Tô Tử, Tô Tử chính miệng hứa rằng ba năm nữa sẽ quay lại hỏi cưới, không biết có chuyện này chăng?”
“Đúng là có chuyện này!” Tô Tần thoáng đỏ mặt, gật đầu nói. “Có điều, tại hạ hứa rằng ba năm nữa sẽ quay lại đón Thu Quả, chứ không phải là hỏi cưới. Tại hạ tới Tần, hai lần gặp nạn, nếu không nhờ Thu Quả cô nương cứu giúp, e là không sống nổi tới ngày nay. Đại ân cứu mạng của Thu Quả cô nương, tại hạ đang chờ dịp báo đáp. Tại hạ có lòng nhận Thu Quả làm nghĩa nữ, chỉ là hiện tại đang lúc ngặt nghèo, bản thân còn chưa lo nổi, nói gì tới lo cho người khác? Tại hạ hứa ba năm nữa sẽ quay lại đón, song e rằng chỉ là hứa suông, gắn như viện lẽ thoái thác vậy!”
“Hóa ra là vậy!” Sư Lý Tật thần người, thu lại nụ cười, khẽ gật đầu. “Con người của Tô Tử thật khiến tại hạ khâm phục. Có điều, người Tần thực thà chất phác, Tô Tử đã hứa như vậy, họ ắt sẽ cung kính chờ đợi Tô Tử quay về. Nói tới đây, tại hạ lại có một suy nghĩ!” Rồi dừng lại, nhìn Tô Tần.
“Thượng đại phu có gì xin cứ nói!”
Sư Lý Tật dõng dạc: “Nhìn khắp thiên hạ, thấy nơi đại bàng dừng chân, chính là Tần; có hoài bão thiên hạ, chính là Tần Công. Tô Tử không quản đường sá xa xôi tới đất Triệu, hẳn là muốn hoàn thành đại nghiệp của đời người. Tần Công đã có thành ý trọng dụng Tô Tử, cớ sao Tô Tử không thuận thế cùng tại hạ quay trở lại Hàm Dương, thành tựu sự nghiệp huy hoàng?”
Tô Tần cười gượng một tiếng, vòng tay cảm tạ mà nói: “Tô Tần có duyên với Thu Quả cô nương, song lại vô duyên với Tần Công. Làm phiền thượng đại phu quay về tấu với Tần Công, nói là Tô Tần cảm tạ Tần Công coi trọng!”
“Không giấu Tô Tử,” Sư Lý Tật bắt đầu tỏ vẻ sốt ruột, “tại hạ lần này đi sứ sang Triệu chỉ là danh nghĩa, còn thực chất là tìm Tô Tử. Trước khi đi, Tần Công có dặn đi dặn lại, bằng mọi giá phải tìm cho kỳ được Tô Tử. Tần Công hứa rằng, chỉ cần Tô Tử nguyện tới Hàm Dương, Tần Công ắt sẽ ủy thác quốc sự cho Tô Tử.”
Tô Tần khẽ mỉm cười: “E rằng lần này thượng đại phu tới Triệu tìm Tô Tần chỉ là danh nghĩa, mưu cầu Tấn Dương mới là sự thực!”
Sư Lý Tật kinh ngạc đến toát mồ hôi: “Tô Tử... Tô Tử dựa vào đâu mà nói như vậy?”
Tô Tần lại cười, vòng tay nói: “Thượng đại phu chớ nên kinh hãi, tại hạ chỉ là thuận miệng nói đùa mà thôi!”
Sư Lý Tật liếc nhìn Giả Xá Nhân, sắc mặt nghiêm trang mà nói: “Tại hạ thỉnh cầu Tô Tử, đã là nói đùa thì đừng nên lan truyền ra ngoài. Nếu để người Triệu nghe thấy câu này của Tô Tử, ắt sinh ác cảm với Tần, từ đó mà dẫn tới họa binh đao, như vậy sẽ không còn là lời nói đùa nữa!”
“Than ôi!” Tô Tần thở dài một tiếng. “Dù tại hạ có ý nói với người Triệu, người Triệu cũng chẳng có tai, nghe thế nào được?”
Sư Lý Tật ngạc nhiên hỏi: “Người Triệu không có tai, nghĩa là sao?”
Tô Tần lắc đầu, cười buồn mà rằng: “Vừa rồi tại hạ tới gặp tướng quốc đại nhân như đã hẹn, khua ba tấc lưỡi nói một thôi một hồi, vậy mà tướng quốc đại nhân cứ trơ trơ như khúc gỗ, sắc mặt không chút biểu cảm. Tô Tần lấy làm kinh ngạc, hỏi ra mới biết, tướng quốc đại nhân đã lấy bông bịt kín hai tai từ trước!”
Sư Lý Tật nghe vậy thì sững sờ, đến khi trấn tĩnh trở lại, bèn quay sang nhìn Giả Xá Nhân, phá lên cười mà nói: “Ha ha ha, Tô Tử thật đúng là kỳ nhân có kỳ ngộ! Từ xưa tới nay, du sĩ bôn tẩu bốn phương, bày kế hiến sách, những chuyện cười ra nước mắt không biết bao nhiêu mà kể, song chuyện bịt tai nghe hiền tài, lại chỉ có Tô Tử gặp phải!”
“Đúng vậy!” Tô Tần lại cười gượng. “Thiên cổ kỳ sự lại khiến tại hạ gặp phải, thật đúng là tạo hóa trêu ngươi!”
Nghe tới đây, Sư Lý Tật không để lỡ thời cơ, nói luôn: “Tại hạ có điều này, mong Tô Tử lắng nghe. Vừa rồi thấy Giả tiên sinh nói, Tô Tử có chí hợp tung Tam Tấn. Trong Tam Tấn, người Triệu không có tai, người Ngụy cũng chưa chắc đã biết nghe. Công Tôn Ưởng chẳng làm được gì ở Ngụy, song lại lập nên kỳ công cái thế ở Tần; Công Tôn Diễn một lòng tận trung với Ngụy, song Ngụy Vương lại xem là phản tặc, ban chiếu thư truy nã khắp nơi. Còn như nước Hàn, dù là việc trong nước hay ngoại giao, đều không phải là nơi kiến công lập nghiệp. Lại nhìn nước Tần, đông có Hàm Cốc, Hà Tây, nam có vùng sơn cốc Thương Ư, bốn bề cửa ải hiểm trở, tiến có thể đánh, lùi có thể phòng, là nơi anh hùng dụng võ. Tần Công trẻ tuổi kế vị, bên trong chỉnh đốn quan lại, bên ngoài mưu cầu bang giao, người trong thiên hạ đều công nhận là minh chủ. Dựa vào trí tuệ của Tô Tử, không khó để nhận ra điều này. Tô Tử là đương kim đại tài, đại tài duy có gặp minh chủ mới có thể thi triển tài năng, do vậy, tại hạ thiết nghĩ...” Dừng lại, không nói nữa, đưa mắt nhìn sang Giả Xá Nhân.
“Lời thượng đại phu rất hữu lý!” Giả Xá Nhân tiếp lời. “Tần Công thực lòng trọng dụng Tô Tử, Tô Tử cũng nên suy nghĩ đến việc trở lại Tần, thực hiện hoài bão bình sinh.”
Tô Tần ôm quyền hướng về phía hai người, cất giọng quyết đoán: “Tại hạ bất tài, song tính khí lại ương bướng, một khi đã nhận ra đại đạo, dù có bước tới chỗ sơn cùng thủy tận, cũng quyết không quay đầu. Tấm thịnh tình của hai vị nhân huynh đây, tại hạ ngoài lòng cảm kích, thực không biết nói gì hơn.”
Sư Lý Tật ngơ ngẩn hồi lâu, mới thở dài một tiếng: “Hỡi ôi, mỗi người một chí, Tô Tử đã khăng khăng như vậy, tại hạ chỉ có thể lấy làm nuối tiếc mà thôi!” Rồi đứng dậy, vòng tay chào. “Thời gian không còn sớm nữa, tại hạ có việc phải làm, xin cáo từ!”
Tô Tần, Giả Xá Nhân đứng dậy, tiễn Sư Lý Tật ra tới ngoài cửa, vái chào từ biệt, rồi quay trở lại phòng.
Hai người ngồi ủ ê một hồi, rồi Giả Xá Nhân lên tiếng trước: “Nhìn vào tình thế trước mắt, Tô Tử nếu muốn khởi xướng hợp tung ở Triệu, e rằng phải đợi thêm vài ngày nữa!”
Tô Tần gật đầu nói: “Giả huynh nói rất phải. Có điều, theo tại hạ thấy, ngày này không còn xa nữa!”
“Tô Tử vì sao lại biết?”
“Phụng Dương Quân chức cao quyền trọng, lần này lại nhân lúc Triệu Hầu bệnh nặng, mưu cướp ngôi vị. Mưu sự nên ngấm ngắm không lộ liễu, thế mà nay người Triệu đều biết Phụng Dương Quân có lòng cướp ngôi, đại họa sắp giáng xuống đầu ông ta rồi! Đại họa rình rập, mà lão ngốc này không nhận ra, tại hạ có ý khuyên can, vậy mà còn lấy bông bịt tai, thực đúng là... chao ôi!” Tô Tần lại than thở.
Giả Xá Nhân do dự một lát, rồi chậm rãi nói: “Triệu Hầu bệnh nặng, thái tử nhỏ tuổi, Phụng Dương Quân lại thâu tóm quyền hành trong triều, mưu đồ cướp đoạt ngôi vị không phải không có. Tuy nhiên theo tại hạ thấy, Triệu Hầu dù biết ông ta có dã tâm cướp ngôi, e rằng cũng không làm gì được!”
“Không phải không làm gì được, chỉ là thời cơ chưa tới!” nghe giọng của Tô Tần, rõ ràng đã chắc chắn mười mươi.
“Dám hỏi Tô Tử, lúc nào thời cơ sẽ tới?”
“Giả huynh có biết chuyện Trịnh Trang Công và Công Thúc Đoạn không?” Tô Tần nhìn Giả Xá Nhân. “Trang Công kế ngôi, em ruột Công Thúc Đoạn không phục, muốn cướp đoạt ngôi vị. Mấy lần đòi phong chế, Trang Công đều đồng ý. Đoạn ngỡ là Trang Công nhu nhược dễ lấn át, bắt đầu ngang nhiên chiêu binh mãi mã, công khai mưu phản. Trang Công thấy người trong nước đều biết rõ dã tâm mưu phản của Đoạn, cho rằng thời cơ đã chín muồi, bèn khởi binh thảo phạt, đúng là cốt nhục tương tàn!”
“Ý Tô Tử là, Triệu Hầu cũng đang đợi thời cơ?”
“Thời cơ này, chính là Tấn Dương!”
“Tấn Dương?”
“Đúng vậy, người Tần sớm đã nhòm ngó Tấn Dương. Nếu đúng như tại hạ đoán, Sư Lý Tật đi sứ sang Triệu, hẳn vì chuyện này. Phụng Dương Quân không nhận ra huyền cơ, trong thời khắc then chốt này, lại điều động hai vạn đại quân tới quận Đại. Tấn Dương là nền móng của Triệu, ngộ nhỡ có gì sơ sảy, Triệu Hầu vừa hay tìm được lý do, dù Phụng Dương Quân có trăm cái miệng cũng khó phân trần.”
Giả Xá Nhân ngờ vực: “Triệu Hầu nếu muốn trừ Phụng Dương Quân, chỉ cần gọi vào cung rồi cho người ám sát, muốn giết lúc nào thì giết, hà tất phải phiền phức đến vậy?”
Tô Tần lắc đầu nói: “Sự việc không đơn giản như vậy. Năm xưa Triệu Hầu lên ngôi, Phụng Dương Quân không phải không có công. Từ sau khi nhậm chức tướng quốc, Phụng Dương Quân lo toan trong ngoài, đông chinh tây chiến, hết lòng vì nước, điều này không người Triệu nào không biết. Chuyện này tạm không nói tới, Triệu Thành là em ruột của Triệu Hầu, nếu không có lý do chính đáng mà huynh đệ tương tàn, bảo sử quan ghi chép thế nào đây?”
“Đã là vậy, Triệu Hầu cũng không nên đem Tấn Dương ra đánh cược mới phải!”
“Chuyện này rất khó nói!” Tô Tần đáp lời. “Theo lẽ thường, Triệu Hầu đã biết tỏng mưu này, đương nhiên sẽ có chuẩn bị từ trước.” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Có điều, tại hạ vẫn còn một điểm chưa rõ, chính là Phụng Dương Quân cớ sao lại muốn điều động quân trấn thủ Tấn Dương tới quận Đại? Tuy nói Trung Sơn lớn mạnh, là cái nhọt lớn trong bụng nước Triệu, song đại sự trước mắt của Phụng Dương Quân, đâu có phải là Trung Sơn?”
“Tô Tử hỏi câu này, Xá Nhân có biết chút ít.”
“Giả huynh xin hãy nói!”
“Tại hạ mới gặp hai sĩ tử trong quán trọ, tán gẫu với họ, được biết cung Yên xảy ra nội đấu, công tử Ngư vì tranh đoạt ngôi thái tử, đang chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, rắp tâm khởi sự. Phụng Dương Quân điều đại binh tới quận Đại, có lẽ liên quan tới chuyện này.”
Tô Tần kinh ngạc, trầm ngâm một lát, rồi ngẩng lên hỏi: “Hai người đó hiện đang ở đâu?”
“Họ nghe nói công tử Ngư không tiếc tiền bạc chiêu mộ nhân tài, nên nói là muốn tới đầu quân cho hắn, giờ này có lẽ đã đi rồi!”
Tô Tần trầm ngâm một lát, rồi đứng dậy vòng tay nói: “Giả huynh, tại hạ xin từ biệt vài hôm, tới Yên một chuyến!”
Giả Xá Nhân sửng sốt: “Tới Yên làm gì?”
“Giúp một người!” Lời nói vừa dứt, chân đã bước vào phòng, bắt đầu thu dọn hành lý. Chưa đầy một khắc sau, Tô Tần đã gói ghém xong tay nải, khoác lên vai, đi ra cửa, định tìm Giả Xá Nhân từ biệt, thì thấy Giả Xá Nhân đã chuẩn bị xe ngựa sẵn sàng đợi ở bên ngoài.
Tô Tần kinh ngạc: “Giả huynh...”
Giả Xá Nhân cười nói: “Từ đây tới Kế Thành không dưới nghìn dặm, Tô Tử chỉ đi bằng đôi chân, sẽ phải mất bao nhiêu ngày đây? Ngựa của tại hạ đang tuổi sung sức, có thể thay thế cho đôi chân!”
Tô Tần lắc đầu quầy quậy: “Không có xe ngựa, Giả huynh đi lại thế nào?”
Giả Xá Nhân cười nói: “Tại hạ không đi đâu cả, chỉ đợi Tô Tử quay về. Cỗ xe này coi như tạm cho Tô Tử mượn!”
Tô Tần vòng tay cảm tạ: “Nếu được như vậy, tại hạ xin cảm tạ Giả huynh!” Rồi tiếp lấy dây cương từ trong tay Giả Xá Nhân, nhảy lên xe, lại vái chào lần nữa từ biệt.
Giả Xá Nhân đáp lễ, nhân tiện hỏi luôn: “Tô Tử đi lần này, có cần Xá Nhân giúp đỡ gì chăng?”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Chỉ nhờ Giả huynh để ý giúp sự tình trong cung Triệu, đặc biệt là cục diện Tấn Dương. Nếu có động tĩnh gì, hãy tìm cách báo cho tại hạ!”
Giả Xá Nhân gật đầu.
Hồi Thứ 36
Cung đình nội đấu, Cơ Ngư thân Triệu cướp ngôi
Huynh đệ tương tàn, Tô Tần giúp Yên dẹp loạn
Nước nhỏ Trung Sơn kẹp giữa ba nước lớn Triệu, Yên, Tề, phía bắc tiếp giáp Hoàn Sơn. Vùng đồi núi và đồng cỏ mênh mông nghìn dặm ở hai mặt bắc và tây Hoàn Sơn vốn là địa bàn của nước Đại vùng Bắc Hồ, sau bị Tương Tử nước Triệu tiêu diệt, nước Đại trở thành một quận của nước Triệu, đổi tên là quận Đại.
Công tử Phạm thay quyền chủ tướng, dựng đại doanh ở ải Hồng Thượng phía đông Hoàn Sơn. Tám vạn quân Triệu đóng trại ở vùng đất rộng lớn phía đông Hoàn Sơn, lưng dựa Hoàn Sơn, mặt nhìn Dịch Thuỷ, trên danh nghĩa là chế ước Trung Sơn, song mũi nhọn lại uy hiếp vài trăm dặm biên giới nước Yên, phía bắc tới Trọc Lộc, phía nam tới Lạc Từ. Chủ tướng Tử Chi nước Yên tuổi mới ba mươi, không hề chịu lép, chỉ huy sáu vạn quân đóng trại dọc Dịch Thuỷ, dựng đại doanh trung quân ở Long Đoài cách ải Hồng Thượng chưa đầy trăm dặm, đối đầu với quân Triệu từ xa.
Vào xế chiều hôm nay, một đoàn hơn chục kỵ mã phóng như bay về phía ải Hồng Thượng.
Khi tới gần cửa ải, trưởng tử của Yên Công là Cơ Ngư Vũ Thành Quân trong trang phục phú thương đất Hồ đang phi ngựa dẫn đầu bỗng ghìm cương, quay sang nói với Quý Thanh đang theo sát phía sau: “Quý Tử, bản cung thực sự không hiểu, vì sao Triệu Phạm lại khăng khăng muốn bản cung đích thân tới?”
Quý Thanh lắc đầu nói: “Vi thần cũng không rõ, hẳn Triệu Phạm có việc lớn muốn bàn bạc với chúa công!”
Vũ Thành Quân chau mày: “Theo Quý Tử thấy, hắn không có âm mưu gì với bản cung chứ?”
Quý Thanh lại lắc đầu: “Làm gì có chuyện đó! Phụng Dương Quân nếu mưu đại sự, còn cần dựa vào sức mạnh của chúa công. Đây là nút thắt liên hoàn, đối với ai cũng có lợi. Hiện tại trò vui mới bắt đầu, công tử Phạm chắc chắn sẽ không làm gì bất lợi với chúa công!”
Vũ Thành Quân ngẫm nghĩ một lát, khẽ thúc hai chân vào bụng ngựa, giục chiến mã chậm rãi bước đi. Một lát sau, đám kỵ mã đã tới trước cửa ải. Quý Thanh xuống ngựa, quân uý canh ải bước ra nghênh đón. Quý Thanh lấy từ trong ống tay áo ra một tấm lệnh bài, quân uý kiểm tra xong, liền báo lên tướng giữ ải.
Tướng giữ ải vội vã ra đón, lần lượt hành lễ với Vũ Thành Quân, Quý Thanh, sau đó gấp rút dẫn họ đi tới đại doanh trung quân.
Công tử Phạm khắp người giáp trụ, hay tin liền bước ra đón, cầm tay Vũ Thành Quân dắt vào đại doanh, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Công tử Phạm vỗ tay, từ bên cạnh bước ra hai vũ nữ, đặt lên bàn mỗi người một chiếc bát lớn, rồi rót đầy bát thứ rượu mạnh của đất Đại.
Công tử Phạm cười vang mà nói: “Tới đất Hồ, phải tuân theo tập tục của người Hồ, uống rượu bằng bát lớn!” Rồi hai tay bưng bát rượu, hướng về phía Vũ Thành Quân. “Xin mời Vũ Thành Quân,” lại quay sang Quý Thanh, “và cả Quý Tử, đi đường vất vả, bản tướng chỉ có bát rượu nhạt, tạm dùng để tiếp đón hai vị!”
Vũ Thành Quân liếc nhìn Quý Thanh, rồi bưng bát rượu lên, nói: “Cơ Ngư đa tạ đại tướng quân đã đón tiếp!”
Ba người uống cạn bát rượu. Quý Thanh đứng dậy, bưng vò rượu lại, rót cho công tử Phạm một bát, cũng rót cho mình một bát, rồi nâng bát mà nói: “Tại hạ từ lâu đã nghe thần uy của đại tướng quân, hôm nay mới được gặp mặt, vô cùng kính phục. Tại hạ xin mượn rượu ngon của đại tướng quân, hồi kính đại tướng quân một bát!” Nói đoạn, uống một hơi cạn sạch.
Công tử Phạm cười vang mà nói: “Quý Tử quả là người hào sảng! Được, bản tướng sẽ uống!” Rồi nâng bát uống cạn.
Quý Thanh lại rót rượu, quay sang công tử Phạm, vòng tay nói: “Giờ Hợi đêm qua, hay tin đại tướng quân vời đến, chúa công không dám chậm trễ, đã lên đường ngay trong đêm. Dám hỏi đại tướng quân cho gọi chúa công gấp như vậy, hẳn có việc quan trọng?”
Công tử Phạm cũng vòng tay nói: “Được, Quý Tử đã hỏi vậy, bản tướng cũng xin nói thẳng. Tướng quốc đại nhân đã đồng ý với lời thỉnh cầu của công tử, điều động hai vạn binh mã từ Tấn Dương tới chi viện cho quận Đại. Tuy nhiên, bản tướng không lường được rằng, đất Đại nghèo khó, lương thảo vốn dĩ thiếu thốn, nay lại tăng thêm hai vạn binh, hiển nhiên khó càng thêm khó. Không giấu công tử, tám vạn tướng sĩ của bản tướng, lương thảo đã cạn rồi. Bản tướng tuy đã cấp báo lên tướng quốc, xin cấp phát thêm, song e là nước xa không cứu được lửa gần.” Dừng lại một lát, thăm dò. “Bản tướng nghe nói trong thành Vũ Dương trữ nhiều lương thảo, nên có ý...” Dừng lại nửa chừng, nhìn sang Vũ Thành Quân.
Vũ Thành Quân mặt hơi biến sắc: “Dám hỏi đại tướng quân cần bao nhiêu lương thảo?”
“Một vạn thạch gạo là đủ!”
“Một vạn thạch?” Vũ Thành Quân thoáng kinh hãi.
“Sao, công tử tiếc ư?” Công tử Phạm hơi sắt mặt lại, cười mà không giống cười.
“Không, không, không!” Vũ Thành Quân vừa rối rít đáp, vừa đưa mắt liếc sang Quý Thanh.
Ánh mắt của công tử Phạm cũng chiếu sang.
“Ha ha ha!” Quý Thanh bật cười lớn, khẽ ôm quyền hướng vào công tử Phạm. “Ít quá, ít quá! Triệu, Yên là láng giềng thân thiết bao đời, nước Yên gặp nạn, đại tướng quân vất vả viễn chinh, chút lương thảo cỏn con này làm sao mà đủ xuất? Chúa công nhà tôi muốn khao một vạn năm nghìn thạch gạo, một nghìn xe cỏ ngựa, dám mong đại tướng quân không chê!”
Lời Quý Thanh vừa nói ra, đừng nói là Vũ Thành Quân, đến công tử Phạm cũng ngây người kinh ngạc, một lúc sau mới định thần lại được, cười vài tiếng mà nói: “Quý Tử quả là người hào sảng!”
“Có điều...” Quý Thanh đổi giọng, mắt nhìn sang công tử Phạm.
Công tử Phạm vội nói: “Quý Tử có gì, xin cứ nói thẳng.”
“Chúa công nhà tôi cũng có một thỉnh cầu!”
“Xin cứ nói!” Công tử Phạm phóng khoáng phẩy tay. “Có đi có lại mới công bằng!”
“Chúa công nhà tôi mê ngựa tới phát cuồng, đất Đại là nơi sản sinh ngựa tốt, đại tướng quân liệu có thể bán cho chúng tôi ít ngựa tốt đất Đại chăng?”
“Bán mua nỗi gì, chỗ bản tướng rất nhiều chiến mã, công tử muốn mấy cỗ, cứ nói đừng ngại!”
“Hai nghìn cỗ!”
“Hai nghìn cỗ!” Công tử Phạm giật nảy mình, sững sờ một lát, rồi vò đầu bứt tai. “Chuyện này... chuyện này...”
“Đại tướng quân chớ lo!” Quý Thanh lại cười. “Chúa công nhà tôi chỉ là mượn tạm mà thôi. Đợi đại sự thành công, tại hạ đảm bảo, không chỉ trả đủ hai nghìn ngựa, mà còn tặng thêm năm trăm cỗ ngựa Yên, gọi là tạ ơn.”
“Hay lắm!” Công tử Phạm nghe vậy, vỗ bàn quyết định. “Vẫn là Quý Tử hào sảng, việc này cứ quyết như vậy!”
“Còn một việc nữa!” Quý Thanh thủng thẳng nói. “Đại tướng quân đã nghĩ tới việc giao nhận thế nào chưa?”
Công tử Phạm dường như chưa hề nghĩ tới chuyện này, lại ngẩn người ra. Hiện tại, hai nước Yên, Triệu đều đã dàn quân ở biên giới, tuy chưa giao chiến, song thế như nước lửa, Vũ Thành Quân dù muốn xuất số lương thảo này, song hắn sẽ nhận thế nào đây, thực là hóc búa.
“Đại tướng quân xem thế này có được không?” Quý Thanh dường như đã vạch sẵn kế sách trong đầu. “Trọng trấn biên giới Trọc Lộc là địa giới của chúa công, trong ấp có bố trí kho lương, trong kho chứa sẵn vạn thạch lương, năm trăm xe cỏ ngựa. Ngày tới, chúng tôi sẽ chuyển tiếp vào kho năm nghìn thạch lương, năm trăm xe cỏ ngựa, gom đủ số lượng đã hứa, sau đó sẽ báo lại với đại tướng quân. Đại tướng quân liền điều binh tập kích, chiếm lấy ấp này, việc lương thảo coi như đã xong. Binh sĩ giữ ấp đều là binh mã của chúa công, thấy quân của đại tướng quân kéo tới, sẽ lập tức bỏ thành mà chạy, đại tướng quân thứ nhất có thể chiếm được trọng trấn biên giới này dễ như trở bàn tay, lập nên chiến tích; thứ hai sẽ có được lương thảo, chẳng phải là vẹn cả đôi đường ư?”
Công tử Phạm gật đầu lia lịa, quay sang Vũ Thành Quân: “Ý công tử thế nào?”
“Ờ...” Vũ Thành Quân do dự một lát, mắt nhìn Quý Thanh, thấy hắn thần sắc điềm tĩnh, đành gật đầu. “Cứ làm theo ý Quý Tử!”
Công tử Phạm quay sang Quý Thanh: “Thế còn chuyện ngựa, giao nhận thế nào?”
“Sau khi đại tướng quân chuẩn bị ngựa xong xuôi, sẽ có một người buôn ngựa tên là Đầu Thích Tử tới nhận, đại tướng quân chỉ cần giao ngựa cho người này là được!”
“Được!” Công tử Phạm quyết đoán. “Cứ làm như vậy!”
Vừa ra khỏi cửa ải, Vũ Thành Quân không nhịn thêm được nữa, lập tức gọi Quý Thanh lại gần, trách cứ: “Lương thảo nhiều đến vậy, sao ngươi dám mở miệng là nhận lời ngay? Còn nữa, Trọc Lộc là trọng trấn biên giới của ta, nhân khẩu không dưới vạn hộ, sao lại dễ dàng dâng tặng người Triệu? Ngươi bảo bản cung phải giải thích thế nào với người Yên?”
“Người làm đại sự, không tiếc cái nhỏ!” Quý Thanh hạ giọng trả lời. “Quý Thanh làm như vậy, là bày mưu giúp chúa công. Chúa công cũng đã thấy, sáu vạn đại quân của tướng quân Tử Chi đã đóng trại ở Long Đoài, cách Vũ Dương không đầy trăm dặm. Có đại tướng Tử Chi bên cạnh, chúa công mưu đồ thế nào đây? Người Triệu tuy dàn quân ở biên giới, trên danh nghĩa lại là uy hiếp Trung Sơn, chứ không phải là chinh phạt nước Yên. Tử Chi án binh bất động, quân Triệu tự khắc không có lý do xuất kích. Nếu chúa công chủ động từ bỏ Trọc Lộc, công tử Phạm tham công tham lương, ắt xuất binh chiếm lấy. Lúc này chúa công hãy cầu cứu Tử Chi tướng quân, Tử Chi tất sẽ cứu viện, và thế là Yên, Triệu sẽ khai chiến. Yên, Triệu khai chiến, Kế Thành tất trống trải, nếu chúa công nhân lúc này khởi sự...”
Không đợi Quý Thanh nói tiếp, Vũ Thành Quân đã hiểu ra, vội gật đầu lia lịa, tung người nhảy lên ngựa, ra roi phi nước đại về phía trước.
Vào giờ Hợi đêm hôm sau, Yên Văn Công tuổi quá lục tuần đã mệt mỏi rã rời, được lão nội thần dìu đỡ, chậm chạp bước vào cung Cam Đường.
Cung Cam Đường là chính cung trong cung Yên. Phu nhân nước Yên Cơ Tuyết nghe tiếng bước chân, vội vã cùng thị nữ thân tín Xuân Mai ra cửa cung nghênh đón, mau chóng thế chỗ cho nội thần, mỗi người một bên dìu Văn Công bước vào chính tẩm, nhẹ nhàng giúp Văn Công cởi áo.
Đứng trước một Yên Văn Công già nua, rệu rã, Cơ Tuyết tuổi mới hai mươi ba càng thêm kiều diễm mơn mởn, tràn đầy sức xuân. Đã bảy năm trôi qua, song thời gian vẫn không thể thay đổi một sự thực, Cơ Tuyết chính là người phụ nữ xinh đẹp nhất trong cung thành. Đôi mắt nàng vẫn to tròn, long lanh như thuở tại Hàm Dương, cặp lông mày cong vút thi thoảng vẫn hơi nhíu lại, khiến giữa vầng trán vấn vương vài nét u buồn.
Tuy nhiên, nếu có con mắt tinh tường, vẫn sẽ phát hiện ra một vài thay đổi. Vẻ chân tình đã không còn thấy trong ánh mắt, nét ngây thơ hồn nhiên đã thiếu vắng trên vầng trán, nụ cười rạng rỡ cũng đã biến mất trên khuôn mặt nàng. Cơ Tuyết dường như đã trở thành một con người khác hẳn, trong vẻ dịu dàng đã toát lên sự lạnh lùng, trong ý hiền hoà đã lộ nét khôn ngoan sắc sảo, chẳng khác gì một con mèo hoang lang thang phiêu bạt, đơn độc chốn đồng không.
Quần áo Văn Công còn chưa cởi xong, lão nội thần đã bước vào, khẽ bẩm báo: “Muôn tâu chúa thượng, điện hạ cầu kiến!”
Yên Văn Công khẽ chau mày, sắc mặt không vui, chẳng buồn ngẩng đầu đã hỏi: “Muộn như vậy, điện hạ tới có việc gì?”
Lão nội thần đắn đo một lát, hạ thấp giọng nói: “Lão nô quan sát thần sắc của điện hạ, thấy có vẻ là việc hệ trọng!”
Yên Văn Công trầm ngâm một lát, tự mặc lại quần áo, quay sang lão nội thần nói: “Được, bảo điện hạ tới tiền sảnh yết kiến!”
Lão nội thần vội vã lui ra.
Yên Văn Công quay sang cười gượng với Cơ Tuyết, khẽ lắc đầu. Cơ Tuyết không nói gì, dịu dàng dìu ông đi về phía tiền sảnh bên ngoài tẩm cung. Khi tới gần cửa, Cơ Tuyết buông tay ra, lùi lại một bước, vòng tay nói: “Chúa thượng, thần thiếp xin đợi ở đây!”
Yên Văn Công đáp lễ: “Thật vất vả cho phu nhân!” Rồi bước ra khỏi cửa tẩm cung, tới tiền sảnh, ngồi vào chỗ.
Lão nội thần dẫn thái tử Cơ Tô tất tả bước vào. Cơ Tô quỳ xuống, khấu đầu hô: “Nhi thần khấu bái công phụ!”
Yên Văn Công chậm rãi hỏi: “Tô Nhi, đêm đã khuya, có chuyện gì cấp bách ư?”
Thái tử Tô đưa mắt nhìn lão nội thần và hai cung nữ đứng hầu bên cạnh, có vẻ ngần ngừ. Lão nội thần đang định lui ra, Yên Văn Công bèn xua tay, nói với thái tử: “Nói đi, ở đây không có người ngoài!”
Thái tử Tô lại do dự một lát, rồi đứng dậy, bước lên một bước, ghé sát tai Văn Công thì thầm vài câu.
Yên Văn Công sắc mặt từ từ sầm xuống, hơi thở bắt đầu hồn hển, hai mắt nhìn sững vào Cơ Tô, gằn từng tiếng: “Thực có chuyện này ư?”
Thái tử Tô lôi từ trong ống tay áo ra một tấm lệnh bài và một tờ mật báo, hai tay trình lên Văn Công, khẽ bẩm báo: “Đây là lệnh bài mà nghịch tặc dùng để ra vào đại doanh của quân Triệu, chi tiết cụ thể thế nào, nhi thần đã viết rõ trong mật báo!”
Yên Văn Công bóc mật báo, đọc kỹ một lượt, sắc mặt càng thêm khó coi, hồi lâu sau mới ngẩng lên hỏi: “Tô Nhi... làm sao con biết được những điều này?”
Thái tử Tô lộ vẻ đắc ý, đảo mắt nhìn quanh, khẽ nói: “Khởi bẩm công phụ, trong đám thị vệ thân cận của Tử Ngư có tai mắt của nhi thần, nhất cử nhất động của hắn đều nằm trong sự kiểm soát của nhi thần. Theo nhi thần biết, Tử Ngư gần đây chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, tập kết được hơn vạn giáp sĩ, vài nghìn ngựa tốt, muốn mưu đại sự. Lần này ngấm ngầm cấu kết với người Triệu, viện trợ cho người Triệu một vạn năm nghìn thạch lương thảo...”
Thái tử Tô còn chưa nói hết lời, Văn Công đã đưa tay lên ôm ngực, miệng thở hồng hộc, lát sau, hai mắt tối sầm, miệng hộc máu tươi, rú lên một tiếng thảm thiết, ngã gục xuống đất. Thái tử Tô không ngờ sự thể lại ra nông nỗi này, kinh hoàng thất sắc, khóc lớn mà gọi: “Công... công phụ...” Lão nội thần cũng đứng chết lặng, đang lúc kinh hãi, Cơ Tuyết từ trong tẩm cung chạy vụt ra, lao tới bên Yên Văn Công, ôm ông vào lòng, bấm vào nhân trung, gọi lớn: “Chúa thượng...” Rồi quay sang lão nội thần. “Mau lên, truyền thái y!”
Lão nội thần lúc này mới kịp định thần, quay sang cung nữ đang mặt mày tái mét, giục: “Mau lên, truyền thái y!” Khi hai cung nữ dẫn theo thái y cuống quýt chạy vào trong cung, Yên Văn Công cũng đã dần hồi tỉnh, từ từ mở mắt, nhìn thấy Cơ Tuyết mặt đẫm lệ đang ngồi cạnh, thì nước mắt cũng trào ra.
Thái y quỳ xuống, đưa tay bắt mạch Văn Công, chẩn đoán một hồi, đầu mày chau tít, đang định cất lời thì Văn Công đã xua tay, quay sang thái tử Tô vẫn đang quỳ dưới đất, nói: “Đi đi!”
Thái tử Tô thấy ánh mắt Văn Công nhìn thẳng vào mình, biết là đang nói với mình, thì ngẩn người kinh ngạc, rồi bái lạy, đứng dậy, hậm hực lui ra.
Trở về Đông cung, thái tử Tô vẻ bồn chồn lo lắng, đi tới đi lui trong phòng.
Một lúc sau, thái tử chau mày, ngồi xuống bàn viết một bức thư, đóng tỷ ấn, lớn tiếng gọi: “Người đâu!”
Nội tể Đông cung nghe tiếng, vội chạy vào: “Có thần!”
“Cho gọi Cơ Khoái lại đây!”
Một lát sau, trưởng tôn Cơ Khoái bước vào, dập đầu nói: “Nhi thần khấu kiến quân phụ.”
Cơ Khoái vừa tới tuổi đội mũ, tính tình đôn hậu, rất được cung nhân và triều thần yêu mến, lão Yên Công cũng rất yêu quý đứa cháu trai này. Thái tử Tô đưa mắt nhìn con trai, từ tốn hỏi: “Nghe nói con và Tử Chi tướng quân qua lại thân thiết, có chuyện này chăng?”
“Đúng vậy!” Cơ Khoái đáp lời. “Tử Chi và nhi thần khá thân thiết, bình thường tướng quân còn dạy nhi thần cưỡi ngựa bắn cung và sách lược dụng binh.”
“Vậy thì tốt!” Thái tử Tô giao mật thư cho Cơ Khoái. “Con mau lên đường ngay trong đêm nay, vòng qua Vũ Dương, trước khi trời sáng giao bức thư này cho Tử Chi tướng quân! Nhớ rằng, sự việc hệ trọng, nhất thiết không được để cho người ngoài biết!”
“Nhi thần xin ghi nhớ!”
Cơ Khoái cất thư, từ biệt cha, dẫn theo vài tên tuỳ tùng, ra lệnh mở cổng nam Kế Thành, gấp rút lên đường tới Long Đoài ngay trong đêm.
Kế Thành cách Long Đoài sáu trăm dặm, do phải đi vòng qua Vũ Dương, nên phải đi thêm năm mươi dặm nữa.
Đám Cơ Khoái ra roi thúc ngựa phi hết tốc lực, vào giờ Thân hôm sau thì tới Long Đoài, được Tử Chi đón đưa vào đại doanh trung quân.
Tử Chi là con trai thứ ba của Cơ Lịch, em trai thứ năm của Yên Công, từ nhỏ thông minh mẫn tiệp, văn tài võ lược môn gì cũng thích, đặc biệt đam mê binh pháp chiến trận, là người có tiền đồ nhất, cũng nhiều mưu lược nhất trong số con cháu họ hàng của Văn Công, rất được Văn Công trọng dụng. Do anh em Cơ Tô, Cơ Ngư bất hoà, nên Cơ Ngư tuy tinh thông binh pháp, song Văn Công lại không dám giao binh quyền cho hắn, bởi vậy ba năm trước, đã phong Tử Chi làm thượng tướng quân, thống lĩnh ba quân.
Tử Chi mới ngoài ba mươi, xét về vai vế thì cùng hàng với thái tử, là thúc phụ của Cơ Khoái, do vậy xưa nay vẫn luôn đối xử với Cơ Khoái như vãn bối, rất mực yêu mến. Hai bên hành lễ xong xuôi, lần lượt ngồi xuống, Tử Chi biết Cơ Khoái có việc hệ trọng, bèn lên tiếng trước: “Nhìn sắc mặt công tôn, lần này hẳn không phải đến đây để cưỡi ngựa bắn cung như mọi khi. Có việc gì, nói cho mạt tướng biết được chăng?”
Cơ Khoái lấy từ trong ống tay áo ra bức mật thư của Cơ Tô, đưa cho Tử Chi: “Gia phụ nhờ tại hạ đích thân giao thư này cho tướng quân!”
“Ồ, là mật thư của điện hạ!” Tử Chi vội tiếp lấy, bóc ra xem, thần sắc kinh hãi, chau tít đôi mày, một lát sau mới gấp thư lại, nhắm mắt suy nghĩ.
Nhìn thấy phản ứng của Tử Chi, Cơ Khoái vội hỏi: “Tướng quân, có việc hệ trọng ư?”
Tử Chi mở choàng mắt, ngỡ ngàng nhìn Cơ Khoái: “Những điều viết trong thư, lẽ nào công tôn không mảy may hay biết?”
Cơ Khoái lắc đầu.
“Than ôi!” Tử Chi thở dài một tiếng. “Không giấu công tôn, quốc nạn sắp tới rồi!”
Cơ Khoái kinh hãi hỏi: “Tướng quân hãy nói mau, là quốc nạn gì?”
“Vũ Thành Quân chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, đã chiêu mộ hơn vạn dũng sĩ, vài nghìn ngựa tốt, cấu kết với người Triệu, âm mưu phản nghịch. Người Triệu mượn cớ muốn đánh Trung Sơn, điều quân tới sát biên giới, muốn giúp Vũ Thành Quân mưu phản!”
“Vũ Thành Quân?” Cơ Khoái kinh hoảng kêu lên. “Tướng quân nói bá phụ muốn mưu phản ư?”
Tử Chi gật đầu.
“Bá phụ vì sao lại mưu phản?”
“Giành ngôi thái tử với điện hạ!”
Cơ Khoái im lặng hồi lâu, rồi hỏi: “Gia phụ muốn tướng quân làm gì?”
Tử Chi đưa thư cho Cơ Khoái: “Công tôn hãy đọc đi!”
Cơ Khoái cầm lấy thư, đọc lướt qua một lượt, bàng hoàng thốt lên: “Gia phụ muốn tướng quân quay sang vây đánh Vũ Dương?”
“Than ôi!” Tử Chi thở dài. “Kẻ thù áp sát biên giới, vậy mà người nhà lại đánh nhau trước!”
Cơ Khoái vội hỏi: “Tướng quân dự định thế nào?”
“Hỡi ôi!” Tử Chi lại thở dài. “Một bên là điện hạ, một bên là trưởng công tử, ai cũng là chúa công của mạt tướng, mạt tướng biết làm thế nào đây?” Ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng nhìn Cơ Khoái. “Công tôn lần này trở về, hãy chuyển lời tới điện hạ, nói rằng yêu cầu của điện hạ, mạt tướng thực sự khó lòng tuân lệnh! Mạt tướng nhận lệnh của chúa thượng, chỉ nghe theo ý chỉ của chúa thượng. Đừng nói là người Triệu ở bên cạnh, dù không có người Triệu, nếu không có hổ phù của chúa thượng, mạt tướng cũng không dám tự ý điều động dù chỉ một binh một tốt! Còn về tình hình tiền phương, công tôn hãy bẩm báo với điện hạ rằng, có mạt tướng ở đây, nhất định sẽ không để mất Trọc Lộc. Một vạn năm nghìn thạch quân lương của Vũ Thành Quân, dù là một hạt, người Triệu cũng không thể lấy đi!”
Thấy Tử Chi đặt nước trước nhà, coi quân chủ là tối cao, sắp xếp kín kẽ đâu ra đấy, Cơ Khoái gật đầu tán thành, nghỉ ngơi một đêm, sáng sớm hôm sau mới lên đường trở về Kế Thành.
Tử Chi sai thám mã âm thầm điều tra Trọc Lộc, quả nhiên thấy xe ngựa ùn ùn vận chuyển lương thảo từ Vũ Dương tới đó. Tử Chi lệnh cho phó tướng dẫn hai vạn hữu quân tới đóng trại ở vùng yết hầu cách Trọc Lộc bốn mươi dặm về phía tây, bố trí canh phòng cẩn mật, đồng thời truyền lệnh di chuyển đại doanh trung quân ba mươi dặm về phía Trọc Lộc, từ xa hô ứng với hữu quân, hình thành thế ỷ giốc, kiềm chế địch từ hai phía.
Cơ Khoái trở về, bẩm báo lại toàn bộ lời nói của Tử Chi không sót một chữ, rồi khuyên Cơ Tô rằng: “Quân phụ, kẻ địch lớn đang ở ngay trước mặt, người Yên sao có thể tự đánh nhau trước?”
Thái tử Tô lừ mắt nhìn Cơ Khoái: “Con trẻ người non dạ, hiểu cái gì?”
Cơ Khoái đang định can gián, thái tử Tô đã bực bội xua tay: “Khoái Nhi, con vừa trở về, hẳn cũng mệt rồi, mau về phòng nghỉ ngơi đi!”
Thấy bị chặn họng, Cơ Khoái đành phải cáo từ.
Cơ Khoái vừa đi khỏi, thái tử Tô hằm hằm tức giận, nói với nội tể: “Hừm, Tử Chi thực đáng ghét! Công phụ cho hắn trị binh, hắn lại bắt nhỏ thả lớn, đảo ngược đầu đuôi. Trọc Lộc cái gì mà Trọc Lộc, loạn Vũ Dương mới là gốc rễ!”
“Điện hạ!” Nội tể bước lên một bước. “Thần cho rằng, muốn để Tử Chi dẹp loạn, cũng không phải không thể.”
“Không có hổ phù, hắn chắc chắn không chịu xuất binh!”
Nội tể giọng đầy ẩn ý: “Cớ sao điện hạ không đi thỉnh cầu hổ phù giúp hắn?”
Thái tử Tô lừ mắt nhìn nội tể: “Ngươi cũng thực là! Nếu bản cung lấy được hổ phù, cần gì phải cầu xin hắn nữa? Dùng hổ phù để giết Tử Ngư, công phụ chắc chắn sẽ không chịu. Tử Ngư chính vì biết rõ điều này, nên mới ỷ thế làm càn.”
“Theo thần thấy...” nội tể hạ thấp giọng, “nếu điện hạ muốn có được hổ phù, lại không hề khó.”
Thái tử Tô trợn tròn mắt: “Có kế gì hay, nói mau!”
“Điện hạ, trong ngoài Yên cung, chúa thượng nghe lời ai nhất?”
“Ý ngươi là...” Thái tử Tô ngẩn người hồi lâu, mãi sau mới định thần trở lại, nện mạnh nắm đấm xuống bàn, hối tiếc thốt lên. “Ồ, sao bản cung lại quên mất người này nhỉ?”
Tại một nơi hẻo lánh cách cung thành không xa có một quán trọ nhỏ, trên cổng treo tấm biển đề ba chữ màu đen “Lão Yên Nhân” đã thu hút sự chú ý của Tô Tần lúc này đang đi dọc phố tìm quán trọ. Tô Tần dừng xe, tiến lại gần.
Một lão trượng nghe thấy tiếng xe ngựa, vội bước ra đón, cúi gập người cung kính: “Lão hủ xin chào khách quan!” Tô Tần vòng tay đáp lễ: “Vãn sinh xin chào ông chủ!” Rồi đưa mắt nhìn vào bên trong nhà trọ. “Xin hỏi ông chủ, có còn phòng trống không?”
“Còn, còn, còn!” Lão trượng đáp liền vài tiếng. “Quán trọ của lão đã lâu năm, bài trí cũ kỹ, lại ở nơi vắng vẻ, mấy năm trước làm ăn còn tạm, hai năm gần đây khách khứa vắng vẻ, từ đầu năm tới cuối năm, chẳng lúc nào được kín phòng. Sĩ tử nếu không chê, có thể vào trong xem thử!” Nghe lão trượng tự vạch áo cho người xem lưng, Tô Tần lấy làm cảm khái, đưa dây cương cho lão trượng: “Không cần xem, vãn sinh sẽ trọ ở chỗ lão trượng!”
Lão trượng quay đầu gọi tiểu nhị, bảo hắn đánh xe vào hậu viện, rồi quay sang nói với Tô Tần: “Sĩ tử, mời vào!” Tô Tần gật đầu, theo lão trượng bước vào quán trọ.
Lão trượng dẫn Tô Tần tới một dãy phòng, đẩy cửa nói: “Sĩ tử xem thử, khu nhà này có vừa ý chăng?”
Tô Tần bước vào trong, đưa mắt nhìn quanh, thấy khu nhà tuy không rộng, song sạch sẽ thoáng mát, bèn gật đầu nói: “Tốt lắm, vãn sinh sẽ ở đây!” Dừng lại một lát bèn hỏi. “Xin hỏi lão trượng, tiền phòng tính thế nào?”
“Một ngày ba xu tiền đồng, tiền cơm tính riêng.”
Nghe nói chỉ có ba đồng, Tô Tần gật đầu, thò tay vào trong ống tay áo, lần mò một hồi, lại chỉ sờ thấy vài xu đồng, trong lòng giật thột, cười ngượng nghịu mà nói: “Vãn sinh để tiền trong tay nải mất rồi!”
Lão trượng thấy vậy, cất giọng thực thà: “Tiền là chuyện nhỏ, sĩ tử cứ ở không phải băn khoăn. Lúc nào đi, trả tiền phòng cũng chưa muộn!”
Tô Tần vội vòng tay nói: “Tạ ơn lão trượng!”
Lão trượng đang định vái chào, bỗng nghe thấy tiếng người ồn ào từ bên ngoài vọng lại, tiếp đến là tiếng vận chuyển đồ đạc lịch kịch. Lão trượng thấy tiểu nhị cất xong xe ngựa, đang xách tay nải của Tô Tần bước lại, bèn dặn dò hắn: “Tiểu nhị, đợi sĩ tử sắp xếp xong, hãy dẫn ra trước nhà dùng bữa!” Nói đoạn, vòng tay chào Tô Tần, sau đó tiến lại chỗ khu nhà đang ồn ào.
Tô Tần sắp xếp xong đồ đạc, theo tiểu nhị đi ra phía trước, thấy hai người dáng dấp sĩ tử đã chuyển mấy rương hành lý ra giữa sân, một trong hai người đang trả tiền phòng cho lão trượng, còn người kia đứng đợi bên cạnh.
Trả tiền xong, hai người lại chưa vội đi ngay, mà tò mò nhìn Tô Tần một lượt từ đầu tới chân. Tô Tần thấy lạ, đang định lên tiếng, thì một người trông có vẻ lớn tuổi hơn vòng tay vái chào mà hỏi: “Nhân huynh đây hẳn là tới Yên mưu cầu tiền đồ?”
Tô Tần vòng tay đáp lễ, nói: “Tại hạ là Tô Tần người Lạc Dương, vừa mới tới nơi, còn phải nhờ hai vị nhân huynh đây chỉ bảo!”
Sĩ tử đó cười buồn, lắc đầu than vãn: “Than ôi, tới nước này rồi, còn chỉ bảo gì nữa! Tại hạ thực lòng khuyên nhân huynh, chớ nên lãng phí thời gian ở đây, nhân lúc còn chưa muộn, hãy đi đi!”
“Ồ?” Tô Tần ngạc nhiên hỏi. “Tại sao nhân huynh lại nói như vậy?”
“Không giấu nhân huynh,” sĩ tử đó chỉ vào người còn lại, “chúng tôi là anh em ruột, nhà ở Trung Sơn, dày công tu luyện thuật ngũ hành, biết lẽ âm dương biến hoá. Lần này tới Yên, vốn định mưu cầu một chức quan sai trong cung Yên, nào ngờ chờ đợi mỏi mòn đã vài tháng nay, đừng nói là gặp chúa thượng, ngay cả bên trong cửa cung hình thù thế nào cũng không hề biết!”
“Sao, nước Yên không muốn nạp sĩ ư?” Tô Tần sửng sốt hỏi.
Sĩ tử kia còn chưa kịp trả lời thì người em đã đặng hắng một tiếng, bắt chước giọng đuổi khách của vệ sĩ trước cửa cung: “Chúa thượng có chỉ, không tiếp khách!”
Sĩ tử kia lại cười buồn, không nói gì thêm nữa.
“Thì ra là vậy!” Tô Tần hít sâu vào một hơi, lại từ từ thở ra. “Hai vị nhân huynh định đi đâu?”
Người kia khẽ thở dài mà nói: “Trên người chẳng còn tiền bạc, không thể đi xa, nghe nói ở Vũ Dương đang chiêu mộ hiền tài rộng khắp, muốn tới đó kiếm miếng cơm ăn!”
“Vũ Dương?” Tô Tần sửng sốt. “Hai vị nhân huynh muốn tới đầu quân cho Vũ Thành Quân ư?”
Người em trai hào hứng nói: “Đúng vậy! Vũ Thành Quân chiêu hiền nạp sĩ ở Vũ Dương, sĩ tử tới Yên đa phần đều tới đầu quân cho ông ta. Tháng trước, tại hạ vốn đã định đi rồi, song anh trai tại hạ dứt khoát không chịu. Chờ đợi tới hôm nay, anh ấy cũng chẳng còn gì để nói, đành phải theo con đường này. Nhân huynh, nếu như muốn tới Vũ Dương, chúng ta hãy kết bạn cùng đi.”
“Tạ ơn ý tốt của nhân huynh!” Tô Tần ôm quyền hướng về phía hai anh em họ, mỉm cười mà nói. “Tại hạ đã tới thành này, dù thế nào, cũng quyết xem cho bằng được bên trong cửa cung hình dạng ra sao!”
Hai anh em người kia lắc đầu ngán ngẩm, vòng tay từ biệt, mỗi người cõng một túi nặng, theo đường lớn mà đi.
Sáng hôm sau, Tô Tần tới cung thành rất sớm, từ xa đã nhìn thấy hai hàng vệ sĩ mỗi bên tám người cầm kích đứng canh hai bên cánh cổng sơn son. Tô Tần bước lại gần, ngay lập tức có hai vệ sĩ giương kích chặn lại. Tô Tần cúi gập người vái chào, rồi lấy từ trong ống tay áo ra tấm bái thiếp đã chuẩn bị từ trước, đưa cho vệ sĩ. Vệ sĩ chẳng buồn xem đã đẩy trả lại, lớn tiếng báo tin. Nghe thấy tiếng bẩm báo, một môn uý từ phòng bên bước ra, săm soi Tô Tần một lượt, rồi dài giọng hỏi: “Ngươi là ai?”
Tô Tần vòng tay nói: “Sĩ tử Lạc Dương Tô Tần!” Rồi hai tay trình lên bái thiếp.
Môn uý cầm lấy bái thiếp, vừa xem, vừa hỏi: “Tô Tử tới đây, muốn gặp ai? Làm gì?”
“Tại hạ có quốc sự trọng đại, cầu kiến Yên Công!”
Môn uý hừ mũi một tiếng, đưa trả lại bái thiếp, rồi kéo dài giọng: “Chúa thượng có chỉ, không tiếp khách!” Nói đoạn quay người đi luôn, không buồn đáp lễ.
Tô Tần suy nghĩ một lát, rồi đi men theo cung thành tới vài cánh cổng khác, chỗ nào cũng dừng lại hỏi, quả đúng như hai anh em sĩ tử kia đã nói, môn uý chẳng buồn hỏi đầu cua tai nheo, lập tức phán ngay một câu: “Chúa thượng có chỉ, không tiếp khách!”
Tô Tần sau vài lần uổng công, đành buồn bực quay trở về nhà trọ, đóng cửa phòng lại, suy nghĩ xem nên bắt tay từ đâu.
Yên Văn Công quả thực không thể tiếp khách.
Trong chính điện của cung Minh Quang, Văn Công nằm lặng trên giường, hai mắt nhắm nghiền, sắc mặt nhợt nhạt, toàn thân bất động, giống như người sắp chết.
Cơ Tuyết ngồi trước giường, khẽ ngâm nga một làn điệu dân ca nước Yên:
“Cây non Yên xanh xanh chừ,
Người ấy ra đi.
Cây non Yên khô úa chừ,
Sao chẳng thấy về...”
Đây là khúc dân ca tưởng nhớ chinh nhân của người Yên, do một cung nữ già dạy cho Cơ Tuyết cách đây không lâu. Lúc này, không hiểu Cơ Tuyết nghĩ tới chuyện gì mà lại cất giọng ngâm nga. Khúc ca vốn đã bi thương, lại qua giọng ngâm của Cơ Tuyết, càng thêm sầu thảm. Văn Công lắng nghe một hồi, hai hàng lệ đục bỗng trào ra khoé mắt, bèn đưa tay ra, nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của Cơ Tuyết, siết chặt. Do Văn Công vận lực quá mạnh, khiến Cơ Tuyết phải cắn răng chịu đau, để yên ông nắm thêm một lát, mới dịu dàng nói: “Chúa thượng, người tỉnh rồi ư?”
Văn Công dường như cũng đã nhận ra, vội thả lỏng bàn tay, mở choàng mắt, nhìn Cơ Tuyết với vẻ xót thương: “Phu nhân, quả nhân làm nàng đau rồi!”
Giọng Cơ Tuyết càng thêm dịu dàng: “Chúa thượng, người... khóc ư?” Nói rồi rút tay ra, lấy mảnh khăn lụa thấm lệ bên khoé mắt ông.
Văn Công gượng cười nói: “Phu nhân hát thực hay!”
Cơ Tuyết đáp lời: “Là nhờ chúa thượng nhân từ!” Rồi quay sang Xuân Mai. “Chúa thượng đã tỉnh, mau mang thuốc vào!”
Hai cung nữ kẻ trước người sau bưng khay bước vào, một khay đặt bát thuốc, một khay đặt chén trà mật ong. Xuân Mai đón lấy, Cơ Tuyết cầm thìa, múc lên nếm thử, rồi nói khẽ: “Chúa thượng, thần thiếp đã nếm thử rồi, không quá đắng, độ ấm vừa phải!”
Văn Công xua tay bảo Cơ Tuyết để xuống.
Cơ Tuyết tay bưng bát thuốc, khẩn cầu: “Chúa thượng... người hãy nể mặt Tuyết Nhi mà gắng uống đi!”
“Hỡi ôi!” Văn Công thở dài buồn bã, lắc đầu nói. “Phu nhân không biết đấy thôi, bệnh của quả nhân, thuốc gì cũng không thể trị nổi!”
Cơ Tuyết nước mắt đầm đìa, từ từ quỳ xuống: “Chúa thượng!”
Cơ Tuyết đang định khuyên can, thì lão nội thần bước vào, đứng bên cửa đặng hắng một tiếng, khẽ gọi: “Phu nhân!”
Cơ Tuyết ngoảnh nhìn, thấy lão nội thần vẫy tay ra hiệu với mình, dường như có việc quan trọng. Cơ Tuyết thoáng ngạc nhiên, đặt bát thuốc xuống, đứng dậy bước ra. Lão nội thần ghé sát tai Cơ Tuyết thầm thì vài câu, Cơ Tuyết thoạt tiên sửng sốt, sau đó nhìn về phía Yên Công, do dự không quyết.
Lão nội thần lại đưa tay ra hiệu, có ý giục giã Cơ Tuyết mau chóng ra ngoài. Cơ Tuyết không còn cách nào khác, đành phải đi theo ông ta. Vừa ra khỏi cửa điện, lão nội thần đã nói ngay: “Phu nhân hãy đi mau, điện hạ đang đợi phu nhân ở thiên điện phía trước!”
Nghe nhắc tới điện hạ, Cơ Tuyết sững người lại, dừng bước, đưa ánh mắt lạnh lẽo nhìn lão nội thần: “Bản cung và điện hạ xưa nay chưa từng qua lại, điện hạ tìm bản cung có việc gì?”
“Lão nô cũng không biết!” Lão nội thần đáp. “Có điều, nhìn dáng vẻ của điện hạ, hẳn là có chuyện hệ trọng. Theo lão nô thấy, dù là chuyện gì, phu nhân cũng nên thử gặp điện hạ xem sao.”
Cơ Tuyết ngẫm nghĩ một lát, rồi quyết định đi theo lão nội thần tới thiên điện.
Vừa tới cổng điện, đã thấy thái tử Tô bước ra nghênh đón, rồi lập tức quỳ phịch xuống đất, dập đầu lia lịa, bật khóc thất thanh: “Mẫu hậu!”
Nhìn thấy thái tử đương triều hơn mình tới gần hai chục tuổi lại quỳ rạp xuống đất gọi mình là mẫu hậu, Cơ Tuyết bối rối trong lòng, ngượng ngùng nói: “Điện hạ hãy mau đứng dậy!”
Thái tử Tô vừa khóc vừa nói: “Mẫu hậu, người hãy mở lòng từ bi, cứu lấy nước Yên!”
Cơ Tuyết kinh ngạc hỏi: “Nước... nước Yên làm sao?”
“Mẫu hậu, Tử Ngư rắp tâm làm phản ở Vũ Dương, sắp đánh vào Kế Thành rồi!”
Cơ Tuyết mặt biến sắc: “Tử Ngư ư... Chuyện này làm sao có thể!”
“Sự thực đã rành rành, mẫu hậu!” Thái tử Tô giọng càng gấp gáp. “Tử Ngư chiêu mộ vài vạn binh ở Vũ Dương, nay lại ngấm ngầm cấu kết với người Triệu, sắp khởi binh tấn công Kế Thành, uy hiếp cung thành!”
Cơ Tuyết dần trấn tĩnh lại, điềm đạm nhìn thái tử Tô: “Điện hạ, nếu Tử Ngư thực sự sắp đánh tới, bản cung phận gái yếu đuối, có thể làm được gì đây?”
“Mẫu hậu!” Thái tử Tô lại bái lạy sát đất. “Nhi thần thỉnh cầu mẫu hậu cầu xin công phụ ban hổ phù, điều động đại quân của Tử Chi về phòng ngự Kế Thành. Nếu không, Kế Thành khó lòng giữ nổi, mẫu hậu...”
“Ý điện hạ là muốn... hổ phù?”
“Phải phải phải, là hổ phù! Nhi thần đã tới thỉnh cầu tướng quân Tử Chi, song Tử Chi khăng khăng đòi nhi thần phải có được hổ phù của công phụ, nếu không, Tử Chi sẽ không chịu xuất binh.”
Cơ Tuyết do dự một lát, cuối cùng cũng tìm được lý do thoái thác, từ tốn nói. “Tự cổ chí kim, phận nữ nhi không được phép can dự chính sự, hành binh chinh phạt là quốc gia đại sự, điện hạ nên tự bẩm báo lên chúa thượng, sao có thể bảo một nữ tử hậu cung mở miệng cho được?” Nói đoạn, liền quay gót bước ra ngoài cửa.
Thái tử Tô như thể phát cuồng, lập tức bổ nhào về phía trước, túm chặt lấy gấu váy Cơ Tuyết không buông, dập đầu bình bịch như giã tỏi, khóc rống lên: “Mẫu hậu!”
“Điện hạ!” Cơ Tuyết vừa xấu hổ vừa cuống quýt, giậm chân nói. “Điện hạ... thật chẳng ra sao, mau đứng dậy đi!”
Thái tử Tô càng thêm điên khùng, hai tay ôm chặt lấy chân Cơ Tuyết, vừa ra sức dập đầu, vừa gào lên thật lớn: “Mẫu hậu, nếu mẫu hậu không đồng ý với nhi thần, nhi thần... nhi thần sẽ quỳ đến chết tại đây, không bao giờ đứng dậy nữa!”
“Được rồi! Được rồi!” Cơ Tuyết sợ quá đáp bừa. “Ta đồng ý, ta đồng ý. Điện hạ đứng lên... mau đứng lên!”
Thái tử Tô mừng rơi nước mắt, buông hai tay ra, lại bái lạy mà nói: “Nhi thần khấu tạ mẫu hậu!”
Cơ Tuyết nào dám nghe Cơ Tô nói thêm gì nữa, chỉ chờ có thế, lập tức lách người chạy vội ra khỏi cửa, lao như bay về phía chính điện. Khi tới gần cửa điện, Cơ Tuyết mới dừng bước, tựa vào cột hành lang hổn hển một hồi, gắng điều hoà hơi thở, trấn tĩnh lại tinh thần, rồi mới bước vào, đi tới trước giường Văn Công.
Văn Công mở mắt, hỏi: “Phu nhân, hình như nàng có chuyện gì?”
Cơ Tuyết mặt đỏ bừng, ấp úng nói: “Không... không có gì!”
“Nói đi!” Văn Công điềm tĩnh nhìn Cơ Tuyết. “Không có gì phải ngại!”
Cơ Tuyết đã trấn tĩnh trở lại: “Là điện hạ muốn gặp thần thiếp.”
“Tô Nhi?” Văn Công sửng sốt, gắng gượng ngồi dậy, nhìn chằm chằm vào Cơ Tuyết. “Gặp nàng có việc gì?”
“Chúa thượng!” Cơ Tuyết ngẫm nghĩ một lát, quyết định nói thật. “Điện hạ muốn thần thiếp xin chúa thượng ban cho hổ phù, nói là...”
Không đợi Cơ Tuyết nói hết câu, Văn Công lập tức xua tay: “Đừng nói nữa! Tô Nhi mà tới, chỉ có chuyện này mà thôi! Nói thực, chỉ cần quả nhân còn sống trên đời này ngày nào, dứt khoát sẽ không giao hổ phù cho Tử Tô!”
Cơ Tuyết lấy làm kinh ngạc: “Tử Tô quý làm thái tử, sau khi chúa thượng trăm năm, đừng nói là hổ phù, ngay cả giang sơn xã tắc này cũng thuộc về thái tử, chúa thượng giao sớm một ngày hay muộn một ngày, chẳng phải kết quả vẫn giống nhau ư?”
“Than ôi!” Văn Công thở dài một tiếng. “Phu nhân có điều không biết, một khi hổ phù nằm trong tay Tử Tô, nước Yên sẽ phải hứng chịu một trường máu lửa!”
Nghe Văn Công nói ra lời này, Cơ Tuyết mới nhận ra sự việc nghiêm trọng, ngẫm nghĩ một lát, bèn nói: “Thần thiếp nghe điện hạ nói, Tử Ngư hiện chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, mưu đồ làm phản. Ngộ nhỡ hắn khởi binh đánh trước, nước Yên chẳng phải cũng sẽ gặp hoạ máu lửa hay sao?”
Văn Công cúi đầu xuống, không biết bao lâu sau, mới lại thở dài một tiếng mà nói: “Hỡi ôi, đây cũng chính là nỗi lo lắng của quả nhân. Không giấu phu nhân, nỗi khổ tâm này của quả nhân, nếu nói với phu nhân, sợ rằng phu nhân sẽ lo nghĩ. Còn không nói ra, thực sự khiến quả nhân trầm uất khó lòng chịu nổi.”
“Chúa thượng!” Cơ Tuyết bước lại, ngồi xuống bên mép giường. “Nếu chúa thượng không nhịn nổi nữa, xin hãy nói ra!”
“Nghĩ đi nghĩ lại...” Văn Công nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của Cơ Tuyết, xúc động thốt lên, “trên đời này, có lẽ chỉ còn phu nhân có thể chia sẻ âu lo với quả nhân!” Mắt nhìn Cơ Tuyết, dòng lệ tuôn rơi, lại than thở. “Than ôi, phu nhân, vạn nhất xảy ra bi kịch cốt nhục tương tàn, chính là lỗi của quả nhân!”
Cơ Tuyết sửng sốt: “Chúa thượng cớ sao lại nói vậy?”
“Nói ra thì dài lắm!” Văn Công chậm rãi nói. “Quả nhân và tiên phu nhân Triệu Cơ có với nhau hai người con trai, là song sinh. Tử Ngư ra trước, là con trưởng, Tử Tô ra sau, là con thứ. Hai anh em tuy là song sinh, song tính tình lại trái ngược. Tử Ngư thượng võ, Tử Tô thượng văn. Chiếu theo phép tắc của Yên thất, quả nhân lý ra phải lập Tử Ngư làm thái tử.”
Văn Công ho một tiếng, Cơ Tuyết vội bưng một chén nước lại, đưa lên miệng Văn Công: “Chúa thượng vì sao lại không lập Tử Ngư?”
Văn Công than thở: “Quả nhân vốn muốn lập Tử Ngư, song Tử Ngư từ nhỏ luyện võ công, thích đánh đấm chém giết, nói năng thẳng thắn bộc trực, không như Tử Tô, đọc sách hiểu lễ, ăn nói khéo léo, dần dần đã chiếm được cảm tình của quả nhân. Vào năm hai anh em chúng mười sáu tuổi, quả nhân trong một lần kích động, đã bất chấp quần thần phản đối, kiên quyết lập Tử Tô làm thái tử. Tử Ngư cho rằng ngôi thái tử lý ra phải thuộc về mình, trong lòng ấm ức, bèn cầu xin phong cho đất Vũ Dương. Triệu Cơ cho rằng quả nhân không phải với Tử Ngư, đã khẩn cầu giúp Tử Ngư. Quả nhân cũng cảm thấy mình có lỗi, nên đã ưng thuận, phong Tử Ngư làm Vũ Thành Quân.”
Cơ Tuyết ngẫm nghĩ một lát, hỏi tiếp: “Tử Ngư vì sao lại thỉnh cầu phong đất Vũ Dương?”
“Vũ Dương giống như Tấn Dương của nước Triệu, là cố đô nước Yên, còn gọi là hạ đô. Ở nước Yên, ngoài Kế Thành, Vũ Dương là thành rộng nhất, đất đai màu mỡ, lương thực dồi dào, dân cư đông đúc, trong nối thông với Kế Thành, ngoài tiếp giáp Tề, Triệu, Trung Sơn, là vùng đất then chốt. Nếu mưu phản, tiến có thể tấn công Kế Thành, lùi có thể dựa vào Trung Sơn, Triệu, Tề, cắt đất chiếm cứ.”
“Nói như vậy, Tử Ngư cầu Vũ Dương là có kế sách lâu dài?”
“Đúng vậy!” Văn Công gật đầu. “Sau khi Triệu Cơ qua đời, quả nhân biết Tử Ngư đã thay lòng đổi dạ, từng khuyên răn Tử Ngư. Nào ngờ Tử Ngư đã không nghe, ngược lại còn sinh lòng oán hận, không những không vào triều, còn ngấm ngầm cấu kết với người Triệu, rắp tâm mưu phản!”
“Chúa thượng có lẽ đã lo lắng thái quá rồi! Theo thần thiếp thấy, Tử Ngư là người thẳng thắn, hẳn sẽ không làm ra chuyện như vậy!”
“Than ôi!” Văn Công thở dài sườn sượt. “Tử Ngư vốn dĩ không đến nỗi này. Song mấy năm qua, Tử Ngư đã bị mưu thần Quý Thanh xúi bẩy, dần dần thay đổi rồi.”
“Quý Thanh? Quý Thanh là ai kia?”
“Quý Thanh là con trai Quý Vỹ, tư đồ trước đây của quả nhân. Huynh đệ tranh giành, triều thần phân làm hai phe, hoặc ủng hộ Tử Tô, hoặc ủng hộ Tử Ngư. Quả nhân lập Tử Tô, những triều thần ủng hộ Tử Ngư ra sức phản đối, đặc biệt là tư đồ Quý Vỹ, năm lần bảy lượt khuyên can quả nhân, song quả nhân không nghe, nên đã tức giận từ quan, u uất mà qua đời. Quý Thanh mai táng cha xong, bán hết gia sản, cho người hầu kẻ hạ về quê, một mình tới Vũ Dương, trợ giúp Tử Ngư giành lại ngôi thái tử, nhằm thực hiện di nguyện của cha. Kẻ này hoài bão lớn lao, đầy mình thao lược, thủ đoạn nham hiểm, là một kẻ đáng gờm, Tử Ngư đã bị hắn mê hoặc, nhất nhất nghe theo lời hắn!”
Cơ Tuyết dường như đã hiểu rõ nguyên nhân, lại suy nghĩ một hồi, rồi an ủi: “Chúa thượng đã lập Tử Tô làm thái tử, hẳn là do trời cao an bài. Tử Ngư nếu thực sự dám làm phản, ắt sẽ bị trời trừng phạt. Chúa thượng chớ tự trách mình mà tổn thương tới long thể!”
“Than ôi, phu nhân có điều không biết, nỗi khổ tâm thực sự của quả nhân vẫn không phải chuyện này!”
Cơ Tuyết ngỡ ngàng hỏi: “Ngoài chuyện này, lẽ nào chúa thượng còn có nỗi khổ tâm nào khác?”
Văn Công im lặng hồi lâu, sắc mặt rầu rĩ: “Mấy năm qua, quả nhân đã suy xét kỹ rồi, có lẽ Quý Vỹ đã nói đúng, quả nhân, than ôi, có lẽ đã chọn lầm người rồi!”
Cơ Tuyết giật mình kinh ngạc: “Chúa thượng muốn nói tới... điện hạ?”
Văn Công không trả lời mà hỏi ngược lại: “Phu nhân thấy Tô Nhi thế nào?”
Từ sau khi vào cung Yên, người Cơ Tuyết không muốn gặp nhất chính là thái tử Tô, bởi lẽ mỗi khi gặp nàng, thái tử Tô lúc nào mắt cũng hau háu, dán chặt vào nàng, khiến Cơ Tuyết vô cùng khó chịu. Hành động vừa rồi của Cơ Tô càng khiến Cơ Tuyết sợ hãi chưa nguôi, song lúc này Văn Công hỏi đến, Cơ Tuyết lại không biết nói gì, chỉ trả lời qua loa cho xong chuyện: “Thần thiếp xưa nay không qua lại với điện hạ. Thi thoảng gặp mặt, điện hạ một điều mẫu hậu, hai điều mẫu hậu, thần thiếp... thần thiếp kém điện hạ nhiều tuổi, nghe điện hạ gọi thân mật như vậy, cũng thấy ngượng tai, nên thường cố ý tránh mặt điện hạ!”
“Đó chỉ là vẻ bề ngoài!”
“Vẻ bề ngoài?”
“Đúng vậy!” Văn Công khẳng định. “Sự việc tới ngày hôm nay, quả nhân mới biết bản tính của Tô Nhi bỉ ổi đê tiện, nhưng... phu nhân, quả nhân thực sự... thực sự... tiến thoái lưỡng nan!”
“Đạo trời thuận theo tự nhiên!” Cơ Tuyết an ủi. “Chúa thượng đã tận tâm rồi, còn chuyện trong tương lai, hãy thuận theo ý trời.”
Văn Công gật đầu, âu yếm nhìn Cơ Tuyết: “Phu nhân... mà thôi, không nói là hơn!”
“Chúa thượng có điều gì, xin hãy nói ra!”
“Hỡi ôi!” Văn Công than thở. “Quả nhân già rồi, lực bất tòng tâm. Nếu được trẻ thêm vài tuổi, có thể cùng phu nhân sinh hạ một công tử, để nàng đích thân nuôi dạy, thì ngày hôm nay đâu phải phiền muộn thế này?”
Cơ Tuyết xấu hổ đỏ bừng mặt, nước mắt tràn mi, khẽ gọi: “Chúa thượng!”
Tô Tần dậy từ rất sớm, ra ngoài đi dạo.
Dù ngoài mặt Tô Tần vẫn bình thản như không, song trong lòng lại lo lắng không yên. Cho dù có tiết kiệm đến mấy, mỗi ngày ít nhất cũng phải ăn hai bữa, đã mấy hôm rồi, trong túi Tô Tần không còn lấy một xu. Tiểu Hỷ vốn đưa cho Tô Tần hơn trăm xu tiền đồng, lúc ở Hàm Đan tuy không tiêu là bao, song trên đường tới Kế Thành, lại tiêu đáng kể. Thứ nhất ăn uống dọc đường, thứ hai nuôi ngựa, thứ ba thuê quán trọ, đều là những khoản không thể tiết kiệm, do vậy khi gần tới Kế Thành, trong túi Tô Tần chỉ còn lại vài đồng. Tô Tần nói với lão trượng tiền ở trong tay nải, chỉ là thoái thác. May mà lão trượng nhân hậu thực thà, không bắt Tô Tần trả tiền trọ trước, nếu không, chắc hẳn đã phải một phen bẽ mặt.
Hiện tại, việc cấp bách là làm thế nào gặp được Cơ Tuyết càng sớm càng tốt. Hầu bao rỗng tuếch là chuyện nhỏ, tình thế nguy cấp mới là chuyện chính. Nghe Giả Xá Nhân nói nước Yên đang xảy ra nội tranh, trong lòng Tô Tần bỗng có mối linh cảm, Cơ Tuyết đang cần tới mình, nước Yên cần tới mình, bởi vậy Tô Tần cần phải xuất hiện để ngăn chặn cuộc phân tranh này. Một khi nước Yên xảy ra nội chiến, không chỉ một mình Cơ Tuyết bị tổn thương, mà dân chúng nước Yên cũng sẽ gặp nạn.
Hơn nữa, nếu nhìn rộng hơn, bất luận Vũ Thành Quân có thành công hay không, nước Yên vẫn sẽ bất hoà với Triệu, điều này sẽ gây hại tới sách lược hợp tung của Tô Tần.
Gần tới giờ Ngọ, Tô Tần vẫn đi đi lại lại trên phố. Mấy ngày nay, Tô Tần đang nát óc suy tính làm thế nào mới vào được cung thành yết kiến Yên Công, song vẫn chưa tìm ra cách hay. Yên Công đổ bệnh nằm liệt giường, cự tuyệt tiếp khách, cũng không lên triều, đừng nói là Tô Tần, dù là đại phu trong triều cũng chỉ có thể ở yên trong phủ đợi chỉ. Tô Tần lại xưng là người quen cũ của phu nhân nước Yên cầu kiến Cơ Tuyết, song do thủ uý các cổng cung đều đã quen mặt Tô Tần, nên không chịu tin.
Theo như suy đoán của Tô Tần, bệnh của Yên Công có nguyên nhân bởi loạn cục hiện tại của Vũ Dương. Giải quyết loạn cục này thế nào, đối với Tô Tần chỉ là chuyện nhỏ, song nếu không gặp được Yên Công, đối sách có hay đến mấy cũng là vô dụng.
Đi lại hồi lâu, Tô Tần bụng đã đói cồn cào. Tô Tần biết đã tới giờ cơm trưa, đưa mắt nhìn quanh, thấy quán xá hai bên đường hoặc đang ăn cơm, hoặc đang dọn cơm, trên phố loáng thoáng nghe tiếng mẹ gọi con về dùng bữa. Người đi lại trên phố bắt đầu tấp vào quán bên đường, mùi thức ăn bốc lên ngào ngạt, từ phía đều là cảnh nhai nuốt.
Tô Tần nuốt nước bọt đánh “ực”, quay bước trở lại, lát sau thì về tới quán trọ Lão Yên Nhân, trong sảnh đã có vài vị khách đang ngồi ăn, trên bàn bày đầy rượu thịt. Mọi người trò chuyện rôm rả, miệng nhai nhồm nhoàm.
Lão trượng ngồi im lặng trước quầy hàng, thấy Tô Tần bước vào, cũng không nói gì, chỉ nhìn Tô Tần chằm chằm. Tô Tần mỉm cười với lão trượng thay cho lời chào, rồi lẳng lặng đi qua phòng ăn, cũng chẳng buồn nhìn đám thực khách, đi thẳng về phòng.
Vào trong phòng, Tô Tần múc một gáo nước lạnh, ngửa cổ uống ừng ực, rồi tới bên giường ngồi xuống, nhắm mắt dưỡng khí.
Một canh giờ trôi qua, bên ngoài vọng lại tiếng bước chân. Có người gõ cửa.
Tô Tần ngạc nhiên, mở choàng mắt, từ từ đứng dậy, ra mở cửa, thì ra là tiểu nhị.
Tiểu nhị vòng tay nói: “Tô gia, ông chủ có lời mời!”
Tô Tần trong lòng giật thột, bỗng nhớ tới lão chủ quán độc địa ở Hàm Dương trước đây, nghĩ thầm trong bụng: “Chủ quán trọ đều xấu bụng như nhau, nhìn ánh mắt vừa rồi của lão trượng, hẳn là đã đoán ra sự tình, chắc sợ mình không trả nổi tiền phòng đây!”
Nghĩ là vậy, Tô Tần liền sầm mặt xuống, cất giọng lạnh tanh: “Hôm kia thuê phòng trọ, ông chủ ngươi đã nói rằng, tiền trọ lúc nào không thuê nữa thì tính một thể, ngươi...”
Không đợi Tô Tần nói hết câu, tiểu nhị đã bật cười: “Tô gia nghĩ đi đâu thế, ông chủ tôi không phải muốn đòi tiền trọ!”
Tô Tần thầm ngạc nhiên, cũng cảm thấy mình quá hấp tấp, bèn cười ngượng nghịu, không hỏi gì thêm nữa, tiện tay đóng cửa phòng lại, theo tiểu nhị đi vào trong sảnh.
Thực khách đã đi hết, lão trượng ngồi ngay ngắn sau bàn, trên bàn bày bốn đĩa thức ăn thường ngày của người Yên, một hũ rượu và hai chén đồng tinh xảo đã rót đầy rượu.
Lão trượng vẫn ngồi nguyên tại chỗ, vòng tay đáp lễ: “Lão hủ đã làm phiền Tô Tử!” Chỉ tay vào vị trí đối diện. “Tô Tử, mời ngồi!”
Tô Tần không biết lão trượng có ý gì, lại vòng tay: “Lão trượng có gì sai bảo, xin cứ nói!”
Lão trượng mỉm cười: “Tô Tử cứ ngồi xuống đã!”
Tô Tần bước tới chỗ đối diện, khoanh chân ngồi xuống, hai mắt nhìn thẳng vào lão trượng.
Lão trượng ung dung nói. “Hôm nay lão hủ vừa tròn sáu mươi tuổi, đã sống được một vòng Giáp Tý, cũng coi là đại hỷ. Lão hủ trong lòng vui vẻ, nên chuẩn bị vài món đạm bạc, một vò rượu nhạt để chúc mừng. Tô Tử là quý nhân, nên lão hủ mạo muội mời Tô Tử một chén, gọi là lấy may, mong Tô Tử đồng ý.”
Trực giác của Tô Tần hoàn toàn có thể cảm nhận được thành ý chân thực trong lời nói của lão trượng, trong lòng bỗng thấy chua xót, khoé mắt cay sè, giọng nói có phần nghẹn ngào: “Lão trượng!”
Lão trượng dường như không nhận ra, chỉ vào chén rượu trước mặt, cười nói: “Hai chiếc chén đồng này không phải vật tầm thường, vốn đều là vật trong cung. Nếu không gặp dịp tết nhất, cúng tế tổ tiên, thì lão hủ không nỡ mang ra dùng. Hôm nay, cũng coi là ngày đại hỷ, nên lấy ra cung kính mời Tô Tử!” Rồi nâng một chén lên. “Tô Tử, mời!” Nhìn vẻ mặt hiền từ, chân thành của lão trượng, Tô Tần cũng đã trấn tĩnh trở lại, bưng chén rượu lên, vòng tay chúc mừng: “Vãn sinh cung chúc lão trượng, chúc lão trượng thọ sánh núi cao, phúc như biển lớn!”
Hai người nhìn nhau, cùng cười, uống cạn.
Lão trượng đặt chén rượu xuống, cầm đũa lên, liên tục gắp thức ăn bỏ vào chiếc đĩa trước mặt Tô Tần, cười nói: “Những món này đều do lão hủ tự tay nấu nướng, cũng coi như là hương vị đất Yên, mời Tô Tử thưởng thức!”
Tô Tần gắp vài miếng, lần lượt nếm thử, tấm tắc khen: “Ồ, sắc hương vị đầy đủ, quả là món ngon chốn dân gian!”
“Tạ ơn Tô Tử quá khen!” Lão trượng vừa nói, vừa tiếp thức ăn cho Tô Tần.
Hai người ăn uống, chuyện trò vui vẻ.
Khi vò rượu sắp trơ đáy, lão trượng móc từ trong ống tay áo ra một túi tiền, đẩy tới trước mặt Tô Tần: “Tô Tử sớm tối ra ngoài, không thể không có đồng nào trong túi. Túi tiền này, Tô Tử hãy tạm cầm lấy!”
“Lão trượng!” Tô Tần vô cùng bối rối, vội vã đẩy trả về. “Chuyện này... làm sao có thể?”
“Sao lại không thể?” Lão trượng lại đẩy lại, cười vang mà nói. “Chỉ là mấy đồng xu lẻ thôi mà!”
Tô Tần nhìn chăm chăm vào lão trượng, thấy lão tình cảm chân thành, không có vẻ gì là đùa cợt, thì vô cùng cảm kích, bèn quỳ sụp xuống tạ ơn: “Lão trượng ở trên, xin nhận của vãn sinh một lạy!” Rồi lạy liền ba lạy. “Đại ân của lão trượng, Tô Tần sẽ có ngày hậu tạ!”
“Tô Tử mau đứng dậy!” Lão trượng vội vã đứng lên, kéo Tô Tần dậy. “Tô Tử là quý nhân, lão hủ sao dám nhận đại lễ của Tô Tử? Hơn nữa, chút tiền cỏn con này, Tô Tử không chê là may rồi, nói gì tới hậu tạ? Lão hủ cũng đã sắp về với đất, giữ mấy đồng lẻ bên mình chẳng để làm gì, Tô Tử cầm lấy, có thể tạm thời giải quyết khó khăn trước mắt!”
Tô Tần vô cùng xúc động trước tấm thịnh tình của ông lão đất Yên, bèn cất túi tiền vào tay áo, vòng tay nói: “Lão trượng đại nghĩa, văn sinh lấy làm hổ thẹn!”
Lão trượng quay lại chỗ ngồi, nhìn Tô Tần gật đầu, nâng chén rượu nói: “Vì tiền đồ của Tô Tử, cạn chén!”
Tô Tần cũng nâng chén, nói: “Đa tạ lão trượng hậu ái!”
Hai người lại uống thêm vài chén nữa. Tô Tần chậm rãi đặt chén rượu xuống, hai mắt nhìn thẳng vào lão trượng: “Vãn sinh có một khúc mắc, không biết có nên nói ra không?”
“Tô Tử cứ nói!”
“Vãn sinh vốn không quen biết lão trượng, nay tới thuê phòng trọ của lão trượng, lão trượng nhìn mầm biết cây, hiểu rõ tình cảnh cùng quẫn của vãn sinh, không những mời ăn mời uống, lại còn cởi hầu bao mang tặng, thực khiến vãn sinh không thể nào ngờ. Vãn sinh rất muốn biết, lão trượng là người làm ăn, tiếp khách thập phương tứ xứ, cớ sao lại chỉ ưu ái vãn sinh?”
Lão trượng mỉm cười, chậm rãi nói: “Tô Tử đã hỏi, lão hủ cũng xin nói thực. Lão mở quán trọ này đã ba mươi lăm năm, gặp rất nhiều sĩ tử qua lại, nhãn lực cũng thành tinh tường. Không giấu Tô Tử, vừa gặp mặt, lão đã biết Tô Tử không giống như sĩ tử bình thường, mà là người làm nên đại sự.”
Tô Tần cũng cười một tiếng: “Lão trượng đã đánh giá cao Tô Tần rồi!”
“Có điều, lão hủ đây không cầu hậu tạ, song lại cầu báo đáp!” Lão trượng thu lại nụ cười, nheo mắt nhìn Tô Tần.
“Đương nhiên!” Tô Tần không biết lão trượng muốn cầu chuyện gì, trong lòng hơi lo lắng, song lúc này đã không còn đường lui, đành vòng tay nói. “Lão trượng cứ nói!”
“Ngày sau đắc ý, mong Tô Tử chớ quên người Yên!” Lão trượng sắc mặt nghiêm trang, giọng nói khẩn thiết.
Nghe thấy một ông lão thường dân nước Yên lại có thể nói ra những lời này, Tô Tần trong lòng chấn động, muôn phần cảm kích đáp lời: “Vãn sinh xin ghi nhớ!”
“Nhớ thì tốt!” Lão trượng nhìn Tô Tần không chớp. “Tô Tử tới đây, hẳn là muốn bái kiến chúa thượng?”
“Than ôi...” Tô Tần thở dài, vẻ mặt tràn đầy thất vọng.
“Muốn gặp chúa thượng, lại không có gì khó!”
Tô Tần trợn tròn hai mắt, kinh ngạc nhìn lão trượng. Lão trượng chậm rãi nói: “Con trai lão tên Viên Báo, hiện giữ chức quan nhỏ trong cung, là quân úy ở điện thái tử. Hôm nay, lão hủ tròn sáu mươi tuổi, nó nói sẽ về, song hai canh giờ trước lại cho người mang thư tới, nói là giờ Thân hôm nay, phải hộ tống thái tử điện hạ và phu nhân nước Yên tới Thái miếu, e là không về được. Lão đang tính, nếu Tô Tử tới cửa đông cung thành chờ sẵn, có thể yết kiến điện hạ. Nếu gặp được điện hạ, có thể yết kiến chúa thượng!”
“Phu nhân nước Yên?” Tô Tần nghe mà trong lòng mừng rỡ.
“Đúng vậy!” Lão trượng gật đầu đáp lời. “Chúa thượng long thể bất an, phu nhân muốn tới Thái miếu cầu phúc cho chúa thượng.”
Ăn cơm xong, Tô Tần từ biệt lão trượng, trở về phòng ngồi một lát, thấy đã gần tới giờ Thân, thì ra phố, đi về phía cung Yên.
Tô Tần đứng đợi ngoài cửa đông một lát, quả nhiên thấy cửa cung mở toang, một đội vệ sĩ tiến ra, đi trước dẹp đường. Lát sau, lại có đại đội giáp sĩ tiến ra, ở giữa đội ngũ, cờ quạt rợp trời, hai cỗ xe lộc cộc lăn bánh. Phía trước cỗ xe, một con ngựa cao lớn sắc lông hung đỏ khoan thai bước đi, người cưỡi trên lưng ngựa tay cầm thương dài, vai hổ lưng gấu, ánh mắt nghiêm nghị nhìn về phía trước.
Không cần hỏi, Tô Tần cũng đã đoán ra, người này chắc hẳn là quân uý Viên Báo.
Đội vệ sĩ ra khỏi cửa cung chưa được bao lâu, Tô Tần thấy thời cơ đã đến, cũng giống như năm xưa ở Lạc Dương, xông vọt ra từ bụi rậm ven đường, không để tướng sĩ kịp phản ứng, đã quỳ phịch xuống giữa phố, dập đầu sát đất, lớn tiếng báo danh: “Tô Tần người Lạc Dương khấu kiến thái tử điện hạ nước Yên!”
Viên Báo cả kinh, thúc ngựa xông lên, quát lớn: “Mau, bắt lấy hắn!”
Đám vệ sĩ lập tức vây kín lại, hai giáp sĩ xông tới, bẻ quặt hai tay Tô Tần ra phía sau. Viên Báo nhìn khắp xung quanh, thấy không có gì bất thường, mới thở phào nhẹ nhõm, quay ngựa tới trước xe thái tử, lớn tiếng bẩm báo: “Khởi bẩm điện hạ, có kẻ chặn xa giá!”
Sự việc xảy ra thình lình, khiến thái tử Tô cứ ngỡ là thích khách do công tử Ngư phái tới, kinh hồn bạt vía, run như cầy sấy trong xe, lập bập hỏi: “Là thích... thích khách ư?”
“Khởi bẩm điện hạ,” Viên Báo dõng dạc đáp, “kẻ cản đường tự xưng là Tô Tần người Lạc Dương, muốn cầu kiến điện hạ!”
Nghe thấy không phải là thích khách, thái tử Tô mới trấn tĩnh trở lại, liền vén rèm xe, quát lớn: “Tô Tần gì chứ? Đánh chết tại chỗ!”
“Điện hạ!” Viên Báo thoáng do dự, khẽ nói. “Mạt tướng quan sát người này, thấy không có vẻ gì ác ý. Liệu...”
Thái tử Tô trừng mắt, cắt ngang lời Viên Báo: “Làm kinh động tới quốc hậu là tội chết, còn không mau lôi đi!”
“Mạt tướng tuân chỉ!” Viên Báo quay người lại, hạ lệnh. “Điện hạ có chỉ, Tô Tần người Lạc Dương làm kinh động xa giá quốc hậu, phạm tội chết, lôi ra đánh chết ngay tại chỗ!”
Đám giáp sĩ đang định ra tay, Tô Tần bỗng phá lên cười lớn một tràng: “Ha ha ha, nước Yên không có mắt! Yên gặp đại nạn, người Lạc Dương Tô Tần không quản nghìn dặm xa xôi tới cứu, lại chịu hoạ sát thân. Nước Yên quả thực không có mắt ư?”
Thái tử Tô giận dữ quát: “Kẻ to gan lớn mật kia, chết tới nơi rồi mà vẫn ngông cuồng. Hành hình!”
Lời nói còn chưa dứt, từ trong cỗ xe phía sau bỗng vọng ra giọng nói của Cơ Tuyết: “Khoan!”
Giọng Cơ Tuyết tuy nhu hòa, song rất đỗi uy nghiêm. Đám giáp sĩ đang định hành hình, nghe vậy vội dừng ngay lại.
Cơ Tuyết chậm rãi nói: “Dẫn kẻ chặn xa giá lại đây!”
Viên Báo nghe vậy, lập tức lệnh cho vệ sĩ giải Tô Tần tới trước xe.
Cơ Tuyết khẽ vén rèm xe, thấy người chặn xe quả nhiên là Tô Tần, trái tim bỗng đập lên bấn loạn, vội đưa tay chặn lên trước ngực. Hồi lâu sau, nàng mới gắng định thần lại được, hạ rèm châu xuống, giọng hơi lạc đi: “Kẻ chặn xe kia, ngươi nói ngươi là Tô Tần người Lạc Dương?”
Bảy năm không gặp, giờ lại được nghe thấy giọng nói của Cơ Tuyết, Tô Tần tuy kích động muôn phần, song cũng chỉ biết gắng gượng kìm nén, trầm giọng mà đáp: “Khởi bẩm phu nhân nước Yên, thảo dân chính là Tô Tần người Lạc Dương!”
Im lặng một hồi, rồi Cơ Tuyết khẽ nói: “Viên tướng quân, thả người này ra!”
“Mạt tướng tuân chỉ!” Viên Báo nhận lệnh xong, quay lại hạ lệnh cho đám vệ sĩ thả Tô Tần ra.
Tô Tần quỳ xuống, dập đầu nói: “Tô Tần người Lạc Dương khấu kiến phu nhân nước Yên, cung chúc phu nhân vạn an!”
Cơ Tuyết khẽ nói: “Tô Tử miễn lễ!”
Thái tử Tô nhìn thấy Viên Báo thả Tô Tần ra, nhất thời không rõ nguyên nhân, liền nhảy phắt xuống xe, nói với Cơ Tuyết: “Khởi bẩm mẫu hậu, kẻ ngông cuồng kia dám chặn đại giá của mẫu hậu, đã phạm tội chết, cớ sao lại thả hắn ra?”
Cơ Tuyết lúc này đã điềm tĩnh trở lại, từ tốn nói: “Điện hạ, người này là danh sĩ Lạc Dương, không phải là kẻ ngông cuồng!”
Thái tử Tô dường như cũng đã hiểu ra, đảo con ngươi một vòng, lập tức đổi ngay thái độ, quay sang Tô Tần vái dài một vái mà rằng: “Cơ Tô không biết Tô Tử là danh sĩ đồng hương với mẫu hậu, có chỗ nào đắc tội, mong Tô Tử bỏ qua!”
Tô Tần bái lạy Cơ Tô, nói: “Thảo dân tạ ân không giết của điện hạ!”
Thái tử Tô đích thân đỡ Tô Tần dậy: “Tô Tử hãy mau bình thân!”
Tô Tần lại bái lạy thêm lần nữa, rồi đứng lên.
Thái tử Tô ân cần nói: “Cơ Tô và mẫu hậu muốn tới Thái miếu, Tô Tử có muốn đi theo xa giá chăng?”
Tô Tần vòng tay nói: “Tạ ơn điện hạ hậu ái!”
Thái tử Tô muốn lấy lòng Cơ Tuyết, bèn mời Tô Tần lên xe của mình, sau đó truyền chỉ đi tiếp. Chưa đầy nửa canh giờ sau, đoàn người ngựa đã tới Thái miếu. Thái miếu lệnh ra đón Cơ Tuyết và thái tử Tô bước vào đại điện, dâng lễ cúng tế theo nghi lễ Yên thất, cầu thọ cho Yên Văn Công.
Tế lễ xong xuôi, Thái miếu lệnh dập đầu nói: “Mời quốc hậu, điện hạ tới thiên điện nghỉ ngơi!”
Cơ Tuyết, thái tử Tô đi vào thiên điện, lần lượt ngồi xuống. Còn chưa ấm chỗ, thái tử Tô trong lòng sốt sắng, không nhịn được thêm, bèn xua đám người hầu lui ra hết, khấu bái sát đất mà nói: “Mẫu hậu, việc nhi thần cậy nhờ mẫu hậu, quân phụ có đồng ý hay chăng?”
Do có sự việc lần trước, lần này Cơ Tuyết đã trở nên cảnh giác, lập tức lớn tiếng gọi: “Người đâu!”
Thái tử Tô không còn cách nào, vội đứng ngay dậy, nghiêm túc ngồi vào chỗ.
Lão nội thần vội vã bước vào: “Có lão nô!”
Cơ Tuyết dõng dạc nói: “Mời Tô Tử vào!”
“Phu nhân có chỉ, mời Tô Tử!”
Một lát sau, Tô Tần bước vào, phủ phục xuống đất dập đầu nói: “Thảo dân khấu kiến Yên quốc phu nhân, khấu kiến thái tử điện hạ!”
Cơ Tuyết phẩy tay nói: “Tô Tử miễn lễ!” Rồi chỉ vào vị trí khách bên cạnh. “Tô Tử, mời ngồi!”
“Tại ơn phu nhân ban chỗ!” Tô Tử lại bái lạy, rồi đứng dậy, ngồi vào chỗ.
Cơ Tuyết đưa mắt nhìn Tô Tần một lượt, rồi chậm rãi hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, mấy năm qua đã đi đâu?”
“Khởi bẩm phu nhân,” Tô Tần vòng tay đáp, “thảo dân và bạn tốt Trương Nghi cùng tới núi Vân Mộng, bái Quỷ Cốc tiên sinh làm thầy, tu học vài năm, mới xuống núi vào mùa thu năm ngoái!”
“Trương Nghi?” Thái tử Tô kinh ngạc, trợn tròn hai mắt, nhìn Tô Tần không chớp. “Có phải là Trương Nghi đã trợ giúp Sở Vương một trận tiêu diệt hơn hai mươi vạn đại quân nước Việt?”
“Đúng là người này!” Tô Tần vòng tay đáp lời.
Cơ Tuyết khẽ cười, nói: “Bản cung cũng từng nghe nói tới chuyện này, thực không ngờ Trương Nghi đã có được thành tựu nhường đó!”
Thái tử Tô càng thêm kinh ngạc: “Mẫu hậu nói vậy, lẽ nào cũng quen biết Trương Nghi?”
Cơ Tuyết khẽ gật đầu: “Đã từng gặp hắn vài lần!” Lại quay sang Tô Tần hỏi. “Nghe nói Tô Tử năm ngoái từng tới Tần, có chuyện này chăng?”
Tô Tần cười buồn một tiếng, lắc đầu than thở: “Than ôi, là thảo dân nhất thời mê muội, muốn trợ giúp Tần Công nhất thống thiên hạ.”
“Gì kia?” Thái tử Tô trợn mắt sững sờ. “Tô Tử muốn giúp Tần Công nhất thống thiên hạ? Tô Tử...”
Cơ Tuyết khẽ mỉm cười, quay sang thái tử Tô: “Chẳng phải vừa nãy điện hạ vừa hỏi về việc đã cậy nhờ ư? Nay có Tô Tử, có thể thay thế hổ phù được rồi!”
Thái tử Tô nhìn Tô Tần với ánh mắt hoài nghi, hồi lâu sau mới định thần lại được, cất giọng nửa khẩn cầu nửa châm biếm: “Cơ Tô khẩn cầu Tô Tử, liệu có thể tạm hoãn việc nhất thống thiên hạ một chốc, để cứu lấy nước Yên trước hay chăng!”
Tô Tần khẽ gật đầu, cố tình hỏi lại: “Xin hỏi điện hạ, nước Yên có chuyện gì?”
Thái tử Tô nói ngay: “Cơ Tô nhận được tin báo, công tử Ngư chiêu binh mãi mã ở Vũ Dương, ngấm ngầm cấu kết với Triệu, muốn trong ứng ngoài hợp, gây chuyện đại nghịch. Quân phụ hay tin, uất ức mà đổ bệnh. Công tử Ngư nghe nói chúa thượng bệnh nặng, càng được thể làm già, sớm muộn gì cũng sẽ khởi binh đánh vào Kế Thành, đại nạn sắp giáng xuống nước Yên đến nơi rồi!”
Tô Tần mỉm cười mà nói: “Theo Tô Tần, loạn Vũ Dương chẳng qua chỉ là chuyện nhỏ!”
Thái tử Tô sửng sốt: “Sao kia? Loạn Vũ Dương nếu là chuyện nhỏ, thì chuyện gì mới là lớn?”
“Khởi bẩm điện hạ, chuyện lớn của nước Yên là ở chỗ triều không có hiền tài, nước không có kế sách lâu dài!”
Thái tử Tô đang định phản bác, Cơ Tuyết đã xua tay nói: “Không còn sớm nữa, Tô Tử hãy tạm trở về dịch quán, đợi bản cung về bẩm lại với chúa thượng, hôm khác sẽ lại thỉnh giáo Tô Tử!”
Tô Tần đứng dậy khấu bái: “Thảo dân cáo từ!”
Hôm nay ngày mồng một tháng ba, thành cổ Tấn Dương lại một lần nữa cát bụi mịt mù.
Vào lúc nửa đêm về sáng, một cơn bão cát dày đặc bao trùm khắp một vùng rộng lớn vốn đang chìm trong bóng tối như bưng, mờ mịt không thấy bầu trời. Trên lầu cổng thành ở cổng tây Tấn Dương, đô uý Tấn Dương Thân Bảo toàn thân giáp trụ cùng hơn chục tuỳ tùng thân tín đang đứng trên ụ thành, nhìn không chớp mắt về phía trước.
Cách đó không xa, vọng lai tiếng mõ của người điểm canh, năm tiếng liền nhau, dừng lại một lát, lại gõ năm tiếng nữa, tiết tấu rất nhịp nhàng.
Một tuỳ tùng đứng bên cạnh bước lại, khẽ nói: “Tướng quân, đã đến canh năm!”
“Nghe thấy rồi!” Thân Bảo đáp, không giấu vẻ nôn nóng, hai mắt vẫn nhìn chăm chú về phía xa.
Lại một hồi lâu nữa trôi qua, không thấy động tĩnh gì, Thân Bảo bắt đầu bồn chồn, quay sang tuỳ tùng vừa nãy, hỏi. “Ngươi chắc chắn là canh năm đêm nay chứ?”
Người này vội đáp: “Khởi bẩm tướng quân, tiểu nhân khẳng định chắc chắn. Chính miệng Sư Lý đại nhân đã nói, sáng sớm mồng hai tháng này, vào canh năm, đốt lửa làm hiệu lệnh!” Bỗng mừng rỡ chỉ tay về phía xa. “Tướng quân xem kìa...”
Quả nhiên, từ phía xa bất ngờ bùng lên ba đống lửa.
Thân Bảo rút kiếm, khí thế hừng hực, khẽ giọng hạ lệnh: “Châm lửa!”
Mấy tuỳ tùng thân tín tay cầm đuốc vội chạy tới trước đống củi đã chuẩn bị sẵn. Chỉ một lúc sau, trên lầu thành, ba đống lửa đã dàn thành hàng ngang bốc cháy rừng rực. Ngay lập tức, từ trong cát bụi mịt mù phía xa, quân Tần ồ ạt xông lên như ong vỡ tổ, không nói không rằng, lặng lẽ áp sát cổng tây.
Thân Bảo thấy vậy, cố nén cơn kích động trong lòng, khẽ giọng hạ lệnh: “Mau thả cầu treo, mở cổng thành!”
Tuỳ tùng thân tín lập tức quay đi, đang định xuống lầu hạ lệnh, đột nhiên đứng chết trân tại chỗ, hai mắt trợn trừng.
Thân Bảo vội giục: “Người Tần đã tới sát cổng thành, ngươi còn đứng ngẩn ra đó làm gì?”
Lời nói vừa dứt, từ dưới lầu đã vọng lên tiếng thả cầu treo và mở cổng thành.
Thân Bảo đang kinh ngạc, bỗng từ sau lưng vang lên một giọng nói trầm hùng nhưng lạnh lẽo: “Không cần phiền tới Thân tướng quân, cổng thành đã mở rồi!”
Thân Bảo khiếp hãi quay ngoắt lại nhìn, thì thấy thú thừa Tấn Dương Triệu Báo võ phục uy nghiêm đã đứng sừng sững sau lưng tự bao giờ, lính Triệu đứng dày đặc xung quanh, ai nấy đều đã giương cung lắp tên, chỉ chờ hiệu lệnh.
“Triệu... Triệu tướng quân!” Thân Bảo chết lặng, lập cập không nói thành lời.
Triệu Báo nhìn hắn, lạnh lùng hô: “Bắt lấy nghịch tặc!”
Đám binh sĩ lập tức xông lên, tóm gọn Thân Bảo và toàn bộ thân tín.
Mắt thấy đã có vài trăm lính tiên phong phía quân Tần leo qua cầu treo, tiến vào cổng thành, Triệu Báo cười nhạt một tiếng, dõng dạc hạ lệnh: “Chư vị tướng sĩ, nhấc cầu treo, đóng cửa đánh chó!”
Quân Triệu hô vang, hợp sức xoay ròng rọc cầu treo. Cầu treo thình lình dựng ngược, lính Tần trên cầu không kịp đề phòng, ngã lăn lông lốc rơi xuống hào thành rộng gần ba trượng. Cùng lúc này, lửa trên thành bùng cháy tứ phía, vạn nỏ đồng loạt bắn ra. Đáng thương cho vài trăm lính Tần vừa hăm hở qua cầu treo, chớp mắt đã biến thành hồn ma trong tiếng gào rú thê thảm.
Tư Mã Thác giật mình kinh sợ, vội hạ lệnh gióng chiêng thu quân.
Đúng lúc này, cổng đông thành Tấn Dương mở toang, từ bên trong xông ra hai kỵ sĩ, ra roi thúc ngựa, phóng như bay về phía Hàm Đan.
Trung đại phu Lâu Hoãn nhận được cấp báo, cấp tốc bẩm báo lên An Dương Quân: “Khởi bẩm thái sư, Tấn Dương cấp báo!”
An Dương Quân xem lướt qua, nói ngay: “Mau lên, chuẩn bị xe, tới đài Hồng Ba!”
Tin Tử Chi bí mật tới Trọc Lộc đóng quân đã mau chóng được báo lên Vũ Thành Quân.
Cơ Ngư lo lắng triệu tập Quý Thanh tới: “Tử Chi đột nhiên tăng quân tới Trọc Lộc, Quý Tử có biết chuyện này chăng?”
Quý Thanh gật đầu.
“Quý Tử hãy mau báo tin này với người Triệu, bảo họ hãy tạm...”
“Khởi bẩm chúa công, đã muộn rồi!”
“Quý Tử... nói vậy có ý gì?”
“Chúa công,” Quý Thanh chậm rãi nói, “vi thần sớm đã phái người báo tin cho công tử Phạm, lương thảo mà hắn cần đã chuẩn bị đủ cả, chưa biết chừng quân Triệu đã trên đường tập kích Trọc Lộc mất rồi!”
“Chuyện này sao có thể?” Vũ Thành Quân kinh hãi thất sắc. “Người Triệu không biết mà đề phòng, tất chịu thiệt hại lớn, ngộ nhỡ họ hỏi tội, bảo bản công giải thích thế nào đây?”
“Đây chính là điều mà vi thần trông đợi!” Quý Thanh cười âm hiểm. “Công tử Phạm nếu thiệt hại lớn, đương nhiên sẽ không chịu bỏ qua. Triệu, Yên giao chiến, nơi đây ắt thành ra hỗn loạn, nếu chúa công nhân lúc này khởi binh, đại sự tất thành!”
Vũ Thành Quân đang định hỏi thêm, quả nhiên có thám mã hộc tốc chạy về bẩm báo: “Báo, người Triệu đêm qua đột kích Trọc Lộc, đã bị Tử Chi tướng quân đánh lui!”
Vũ Thành Quân vội hỏi: “Tình hình ra sao?”
“Người Triệu thiệt hại ba nghìn quân, thoái lui ba mươi dặm hạ trại, Tử Chi tướng quân cũng lui về trấn giữ Trọc Lộc.”
“Người Triệu có tổng cộng bao nhiêu binh mã?” Quý Thanh hỏi.
“Một vạn!”
“Tiếp tục theo dõi.”
Thám mã vâng lệnh lui ra.
Quý Thanh mỉm cười, quay sang Vũ Thành Quân: “Chúa công, có thể khởi binh được rồi!”
“Quý Tử?”
“Công tử Phạm vốn cho rằng có thể chiếm được Trọc Lộc dễ như trở bàn tay, nên chỉ điều một vạn quân tới đánh, không ngờ gặp phải đòn đau. Dựa vào tính khí của công tử Phạm, tất sẽ khởi đại binh phục thù, chúa công không khởi binh lúc này thì còn chờ đến bao giờ nữa?”
“Ờ, chuyện này...”
“Chúa công, thời cơ đã tới, không thể bỏ lỡ!”
Vũ Thành Quân trầm ngâm một lát, sắc mặt dần trở nên kiên định: “Được, ngươi mau đi truyền lệnh!”
Trong cung Minh Quang, Cơ Tuyết chậm rãi tiến lại trước giường Văn Công, nhẹ nhàng đặt tay lên trán ông, hỏi khẽ: “Chúa thượng, hôm nay có đỡ hơn chăng?”
Văn Công gượng cười, khẽ lắc đầu nói: “Lòng trĩu nặng như đeo đá, đầu cũng đau như búa bổ!”
“Chúa thượng chớ lo lắng!” Cơ Tuyết mỉm cười, giọng nói càng thêm dịu dàng. “Thần thiếp đã cầu được một quẻ ở Thái miếu, là quẻ thượng thượng. Nghe bốc sư giải quẻ, bệnh của chúa thượng chẳng bao lâu nữa sẽ bình phục!”
“Than ôi!” Văn Công thở dài não nề. “Phu nhân, nàng không phải an ủi quả nhân. Bệnh của quả nhân, quả nhân tự biết, không thể khỏi trong một sớm một chiều.”
Cơ Tuyết bật cười một tiếng.
Văn Công ngạc nhiên hỏi: “Phu nhân cớ sao lại cười?”
Cơ Tuyết cười thêm tiếng nữa, mới nói: “Thần thiếp tới Thái miếu, trên đường gặp một chuyện kỳ lạ, vừa rồi nhớ lại, nhất thời không nhịn được, nên mới bật cười!”
“Ồ?” Văn Công hết sức tò mò, tâm trạng cũng bớt u uất, nghiêng đầu nhìn Cơ Tuyết. “Là chuyện kỳ lạ gì mà khiến phu nhân cười vui đến vậy?”
“Thần thiếp vừa rời khỏi cung thành thì có một người xông ra giữa phố, chặn xa giá lại!”
Văn Công kinh ngạc: “Là kẻ nào chặn xa giá? Có làm kinh động tới phu nhân không?”
“Thưa không!” Cơ Tuyết cười nói. “Thần thiếp đâu phải đứa trẻ lên ba!” Dừng lại một lát, kể tiếp. “Người kia quỳ xuống, nói là muốn cầu kiến điện hạ. Điện hạ thấy hắn chặn đường thì muốn hỏi tội. Cũng do thần thiếp hiếu kỳ, bèn gọi hắn lại hỏi, hắn tự xưng là đệ tử của Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng, đại tướng quân nước Ngụy Bàng Quyên, khách khanh nước Sở Trương Nghi đều là sư đệ của hắn. Thần thiếp quan sát kỹ lưỡng, thấy hắn tướng mạo không có gì đặc biệt, mũ áo cũ rích, hành vi cử chỉ trông cũng không giống bậc kỳ tài. Vậy mà hắn lại tự xưng là đồng môn của Bàng Quyên, Trương Nghi, chẳng phải ba hoa nói xằng ư? Chúa thượng, thế đạo hiện nay chẳng khác gì một khu rừng tạp, chim nào cũng có! Chúa thượng thấy nhiều hiểu rộng, đã gặp chuyện nào đáng cười như vậy chưa?”
“Phải!” Văn Công thấy Cơ Tuyết nói cười vui vẻ, cũng thấy yên tâm. “Chuyện này nghe ra cũng rất nực cười. Sau đó thế nào?”
“Cũng vì lòng hiếu kỳ trỗi dậy, thứ nhất muốn xem thử tài năng, thứ hai cũng muốn dẹp bớt thói ba hoa của hắn, nên thần thiếp đã hỏi hắn về chuyện nước Yên. Không ngờ hắn nói rằng, Yên có bệnh nặng. Thần thiếp cho rằng, người Yên ai cũng biết, chúa thượng long thể bất an, kẻ này nói vậy, cũng chẳng có gì lạ, bèn hỏi tiếp: ‘Phải chăng tiên sinh muốn nói tới chuyện chúa thượng long thể bất an?’ Kẻ này bèn đáp rằng: ‘Không phải, chúa thượng không có bệnh, có bệnh chính là nước Yên.’ Chúa thượng rõ ràng có bệnh mà kẻ này lại nói là không có, chẳng phải là cuồng ngôn vọng ngữ ư? Thần thiếp vốn muốn trách phạt, song thấy lời hắn nói cũng có chỗ may mắn, sau lại chiêm được quẻ tốt, nhất thời vui mừng nên đã thả hắn đi. Giờ nhớ tới chuyện này, nên mới kể lại cho chúa thượng nghe!”
Văn Công thình lình ngồi phắt dậy: “Người này họ gì tên gì? Hiện đang ở đâu?”
“Chúa thượng chớ nên kinh động đến long thể!” Cơ Tuyết vội đỡ Văn Công nằm xuống. “Thần thiếp đã hỏi rõ, người này họ Tô tên Tần, là người Lạc Dương, cùng quê với thần thiếp, hiện đang ở quán trọ Lão Yên Nhân ngoài cung thành!”
“Tô Tần?” Văn Công trợn mắt. “Chẳng phải chính là Tô Tần đã hiến đế sách lên Tần Công muốn nhất thống thiên hạ đó ư?”
“Chúa thượng quả là thần thông!” Cơ Tuyết làm bộ kinh ngạc. “Thần thiếp đã hỏi qua, chính là người này!”
Văn Công lại ngồi bật dậy, bệnh tật như biến đi đâu hết: “Phu nhân, mau triệu người này vào cung! Phải rồi, không được để lộ ra ngoài, bảo hắn tới...” dừng lại ngẫm nghĩ một lát, “tới thư phòng của quả nhân!”
Cơ Tuyết cười, nhắc nhở: “Chúa thượng, long thể của người...”
“Ồ!” Văn Công cũng cười. “Phải rồi, quả nhân vẫn đang bị bệnh cơ mà! Vậy thì, hãy truyền hắn tới cung Minh Quang, yết kiến trước giường!”
“Thần thiếp lĩnh chỉ!”
Cơ Tuyết lại đỡ Văn Công nằm xuống, từ từ lui ra tới cửa, rồi quay người bước đi. Vừa tới đại sảnh phía trước, chợt thấy thái tử Tô đi đang tới đi lui trong sảnh. Thấy Cơ Tuyết bước ra, Cơ Tô chạy ngay lại, quỳ phịch xuống đất, khấu đầu gọi: “Mẫu hậu!”
Cơ Tuyết muốn tránh mà không kịp, đành dừng bước, chau tít đôi mày: “Điện hạ?”
“Mẫu hậu!” Thái tử Tô vội nói. “Xảy ra chuyện lớn rồi!”
Cơ Tuyết chậm rãi bước tới trước chiếu ngồi xuống, phẩy tay nói: “Điện hạ hãy đứng dậy, xảy ra chuyện gì, nói mau!”
Thái tử Tô đứng dậy, cũng ngồi xuống chiếu, vòng tay nói: “Khởi bẩm mẫu hậu, nhi thần nhận được tin báo, một vạn quân Triệu hôm qua tập kích trọng trấn Trọc Lộc ở biên giới của ta, bị Tử Chi tướng quân đánh lui. Chủ tướng quân Triệu là Triệu Phạm nổi cơn thịnh nộ, lệnh cho đại quân gấp rút nhổ trại ngay trong đêm, di chuyển bảy mươi dặm tới sát biên giới. Tử Chi tướng quân cũng lệnh cho tướng sĩ nước Yên người không cởi giáp, ngựa không tháo yên, ngày đêm sẵn sàng trực chiến, đại chiến giữa hai nước sắp nổ ra rồi! Vũ Thành Quân thấy thời cơ chín muồi, đang giết bò mổ lợn ở Vũ Dương, tuyên thệ phạt Kế Thành, hịch văn cũng đã thảo xong, nói là trong triều có gian tặc, muốn kéo quân về thanh trừ! Chuyện này tạm chưa nói đến, nhi thần còn biết, trong Kế Thành có rất nhiều nội ứng của hắn, ngay cả trong cung cũng có tai mắt của hắn, nhất cử nhất động của vi thần đều nằm trong sự giám sát của hắn!”
“Điện hạ dự định thế nào?”
“Mẫu hậu!” Thái tử Tô vội nói. “Hiện tại tình thế đã vô cùng cấp bách, mẫu hậu nhất thiết phải tấu lên chúa thượng, xin cấp hổ phù, điều động Tử Chi tướng quân trở về giữ lấy Kế Thành, tiêu diệt loạn thần tặc tử!”
Cơ Tuyết lấy làm ngạc nhiên: “Nếu điều Tử Chi tướng quân trở về, lấy ai để đánh người Triệu?”
“Mẫu hậu!” Thái tử Tô thuận miệng nói luôn. “Người Triệu nếu đánh tới, chúng ta cùng lắm cắt thành hiến đất là xong. Còn Tử Ngư đánh tới, chúa thượng, mẫu hậu và nhi thần, chúng ta... chúng ta sẽ cầm chắc cái chết! Mẫu hậu!”
Đứng trước giang sơn xã tắc do tổ tiên để lại, mà thái tử lại nói những lời dửng dưng nhường này, Cơ Tuyết trong lòng chua xót, đột nhiên nhớ tới câu nói của Văn Công “đã chọn nhầm người”, bèn ném về phía hắn một cái nhìn khinh bỉ, cất giọng lạnh lùng: “Điện hạ, bệnh tình của chúa thượng vừa mới thuyên giảm chút ít, không được làm kinh động! Chuyện hổ phù, điện hạ chớ nên nhắc lại nữa!”
Thái tử Tô cuống lên, lại diễn màn kịch cũ, đứng dậy, quỳ sụp xuống lạy lục, hai tay túm chặt lấy gấu váy Cơ Tuyết, khóc toáng lên mà gọi: “Mẫu hậu!”
Cơ Tuyết giận dữ, đứng phắt ngay dậy, giật mạnh gấu váy về, nghiêm giọng gọi lớn: “Người đâu!”
Thái tử Tô kinh hãi trước vẻ uy nghiêm của Cơ Tuyết, quỳ ngây trên đất không biết phải làm gì.
Lão nội thần nghe gọi, vội vã chạy vào: “Có lão nô!”
“Điện hạ mệt rồi, mau đưa điện hạ về Đông cung nghỉ ngơi!” Cơ Tuyết cất giọng lạnh lẽo.
Lão nội thần bước lên một bước, quay sang thái tử Tô vái mà nói: “Phu nhân có chỉ, mời điện hạ về Đông cung nghỉ ngơi. Điện hạ, mời!”
Thái tử Tô quệt nước mắt, lồm cồm bò dậy, hậm hực bỏ đi.
Thấy Cơ Tô đã đi xa, Cơ Tuyết bèn quay sang nói với lão nội thần: “Ngươi mau tới quán trọ Lão Yên Nhân, mời Tô Tử vào cung lập tức!”
“Lão nô tuân lệnh!”
Từ Thái miếu trở về, Tô Tần không biết tin của Cơ Tuyết bao giờ sẽ tới, nên không dám đi đâu, chỉ biết ở yên trong phòng chờ đợi. Gần tới giờ Ngọ, một người dắt theo con ngựa ô hối hả bước lại, nhìn thấy trên biển ghi rõ ba chữ “Lão Yên Nhân”, bèn dừng lại, đưa ống tay áo lên lau mồ hôi, trông thấy lão trượng đang mài mũi giáo trong sân, bèn vòng tay hỏi: “Xin hỏi lão trượng, quý quán có tiên sinh nào họ Tô không?”
Lão trượng đặt mũi giáo xuống, đứng dậy vòng tay đáp: “Khách quan hẳn muốn tìm một sĩ tử tên gọi Tô Tần?”
Người kia mừng rỡ nói: “Đúng vậy!”
Lão trượng nhìn kỹ người này một hồi, rồi quay vào trong nhà trọ, đi tới trước phòng Tô Tần, gõ cửa gọi: “Tô Tử, có người tới tìm.”
Tô Tần nghe tiếng bước ra, thấy là một tráng hán lạ mặt, bèn vòng tay nói: “Tại hạ Tô Tần bái kiến tráng sĩ!”
Người kia vòng tay đáp lễ, cũng không nói gì nhiều, chỉ lấy từ trong ống tay áo ra một bức mật thư, đưa cho Tô Tần: “Tại hạ từ Hàm Đan tới, có một tiên sinh họ Giả nhờ tại hạ chuyển gấp thư này cho tiên sinh!”
Tô Tần nhận thư, vòng tay nói: “Đã khiến tráng sĩ phải vất vả!”
Tô Tần đang đọc thư, bỗng trên phố vọng lại tiếng vó ngựa dồn dập, một cỗ xe lao tới, dừng lại ngoài cổng quán trọ.
Lão trượng vội bước ra nghênh đón.
Lão nội thần từ trên xe bước xuống, vòng tay nói: “Xin hỏi lão trượng, Tô Tử người Lạc Dương có ở đây không?”
Lão trượng mừng rỡ quay vào trong gọi Tô Tần: “Tô Tử, có người trong cung tới tìm!”
Tô Tần cũng đã nhận ra nội tể, vội bước lại đón, vòng tay vái chào: “Tô Tần người Lạc Dương bái kiến nội tể!”
Lão nội thần lại vòng tay: “Tô Tử, phu nhân có lời mời!”
Tô Tần quay sang tráng hán: “Tráng sĩ hãy ngồi đợi một lát, tại hạ có chút việc gấp, cần vào cung một chuyến, quay về sẽ lại tiếp chuyện tráng sĩ!” Rồi quay sang lão trượng. “Phiền lão trượng làm vài món ăn ngon, thiết đãi tráng sĩ từ nơi xa tới!”
Lão trượng vui vẻ nhận lời, Tô Tần lập tức bước lên xe ngựa, theo lão nội thần gấp rút vào cung.
Cơ Tuyết đang đi đi lại lại trong cung, sắc mặt tràn đầy phấp phỏng, chợt thấy lão nội thần tất tả bước vào, khẽ bẩm báo: “Khởi bẩm phu nhân, Tô Tử đã tới!”
Cơ Tuyết thở phào một hơi, gắng ổn định lại tâm tư rối bời, khoan thai bước tới bên chiếu, chậm rãi ngồi xuống: “Cho mời Tô Tử!”
Tô Tần bước vào, dập đầu sát đất: “Tô Tần khấu kiến Yên quốc phu nhân!”
“Tô Tử miễn lễ! Dâng trà!”
Tô Tần tạ ơn, đứng dậy, ngồi vào vị trí khách. Cung nữ bưng trà thơm lại.
Cơ Tuyết nhìn Tô Tần chăm chú, một lát sau, bèn vòng tay nói: “Nước có đại sự, chúa thượng long thể lại bất an, bản cung phận nữ yếu đuối, thực không có sức ứng phó. Tình thế cấp bách, đành phải mạo muội làm phiền Tô Tử, mong Tô Tử không tiếc lời chỉ giáo!”
Do lão nội thần đang đứng đó, Tô Tần đành nói một lời đầy ẩn ý: “Tô Tần đã tới nước Yên, sẽ hết lòng vì nước Yên, vì phu nhân, cúc cung tận tụy tới hơi thở cuối cùng!”
Cơ Tuyết khẽ gật đầu, giọng hơi run lên: “Cơ Tuyết cảm tạ Tô Tử!”
“Nghe phu nhân nói nước có đại sự, xin hỏi phu nhân, đại sự thế nào?”
Cơ Tuyết thuật lại sơ lược chuyện Triệu Yên giao chiến, Tử Ngư dẫn quân tiến đánh Kế Thành, rồi không giấu vẻ lo lắng, đưa mắt nhìn Tô Tần: “Tô Tử, đại thể là như vậy, tình hình trước mắt vô cùng cấp bách, đại quân của Tử Ngư e rằng cách Kế Thành không còn xa nữa!”
Tô Tần hỏi: “Xin hỏi phu nhân, về chuyện của Tử Ngư, chúa thượng có ý chỉ gì không?”
“Than ôi!” Cơ Tuyết lắc đầu than thở. “Tử Ngư, Tử Tô đều là cốt nhục của chúa thượng, nay thế như nước lửa, chúa thượng vô cùng khó xử. Không giấu Tô Tử, bệnh của chúa thượng cũng từ đó mà ra. Giả sử kẻ phản loạn không phải Tử Ngư, chúa thượng hẳn sẽ không để sự thể dây dưa tới nước này.”
Tô Tần lại hỏi: “Phu nhân có ý chỉ gì không?”
“Than ôi!” Cơ Tuyết lại than thở. “Bản cung phận nữ yếu đuối, có ý chỉ gì được? Tô Tử, nước Yên vốn là nước yếu, phía đông có người Hồ, phía bắc có Nhung Địch, phía nam có Tề mạnh, còn phía tây... Tô Tử cũng đã thấy rồi, hiện tại tám vạn đại quân Triệu đã áp sát biên cương. Tô Tử, nước Yên thế yếu, không thể tự loạn!”
Nghe thấy lời này, Tô Tần vô cùng xúc động, bái lạy mà nói: “Tô Tần cung kính tuân theo ý chỉ của phu nhân!”
Cơ Tuyết bối rối: “Tô Tử, bản cung làm gì... làm gì có ý chỉ nào?”
Tô Tần lại bái lạy: “Phu nhân vừa nói, nước Yên không thể tự loạn, chính là ý chỉ!”
Cơ Tuyết mừng rỡ: “Tô Tử hẳn đã có sách lược ứng phó?”
“Phu nhân yên tâm!” Tô Tần trịnh trọng gật đầu. “Nếu trị loạn thiên hạ, Tô Tần không dám ba hoa, song là trị loạn hiện tại của nước Yên, với Tô Tần lại không hề khó.”
Cơ Tuyết thở phào một tiếng, đặt tay lên ngực: “Tô Tử đã nói vậy, bản cung cũng thấy yên tâm!”
Lời vừa nói dứt, một cung nhân hấp tấp chạy vụt vào, khấu đầu trên đất, thở hổn hển nói không ra hơi: “Khởi... khởi bẩm phu... phu nhân... phản... phản quân đã tới ngoại thành, sắp... sắp đánh... tới... tới thành... rồi!”
Có Tô Tần ở bên, Cơ Tuyết không còn sợ hãi, nghe tin mà thần sắc vẫn điềm nhiên, quay sang lão nội thần, khoan thai nói: “Truyền điện hạ và Kế Thành lệnh tới nghị sự!”
Lão nội thần đáp lời: “Lão nô lĩnh chỉ!”
Trên đồng hoang rộng lớn, cờ quạt rợp trời, chiến xa rầm rập, chiến mã hí vang, gần hai vạn binh mã chia thành tam quân tả trung hữu thẳng tiến về phía Vũ Dương.
Kế Thành lệnh sớm đã nhận được tin thám mã báo về, các cổng thành đều đóng chặt, cầu treo bắc ngang hào thành cũng đã được kéo lên.
Đại quân dừng lại cách cổng thành nam chừng một tầm tên bắn, bài binh bố trận đúng theo kế sách đã bày trước đó. Vũ Thành Quân một thân giáp trụ, tay cầm trường thương, uy phong lẫm liệt đứng trên cỗ chiến xa giữa trận, mắt sáng rực nhìn chằm chằm lên lầu cổng thành cao vút. Hai bên Vũ Thành Quân, lần lượt là Quý Thanh và hơn chục viên chiến tướng.
Quan sát một lát, Vũ Thành Quân đưa mắt cho Quý Thanh. Quý Thanh dõng dạc nói lớn: “Chư vị tướng quân, chúa công Cơ Ngư thân là trưởng tử của chúa thượng, lý ra phải được lập làm thái tử, song công tử Cơ Tô dùng âm thuật mê hoặc, xúi bẩy chúa thượng, cướp ngôi thái tử. Cơ Tô thân là thái tử, lại không biết thương dân, chuyên quyền hống hách, trừ khử người trái ý, chặn đường ngôn luận, trọng dụng gian thần, khiến cho nước Yên dân chúng lầm than, nơi nơi oán hận, đã trở thành kẻ thù chung của nước Yên. Chúa công phụng theo ý trời, khởi binh chính nghĩa, thảo phạt nghịch tặc, làm trong sạch triều đình!”
Hơn chục chiến tướng đồng thanh hô vang: “Mạt tướng thề chết đi theo chúa công, diệt trừ gian tặc, làm trong sạch triều đình!”
Quý Thanh rút kiếm hô lớn: “Sống ở trên đời, không gì bằng kiến công lập nghiệp. Chư vị tướng quân, cơ hội đã đến, lập tức chỉ huy binh mã, theo kế sách đã định, đánh vào Kế Thành. Ai lên thành trước, ghi công đầu tiên!”
Chư tướng đồng thanh hô vang: “Mạt tướng tuân lệnh!”
Nói đoạn, cùng dẫn theo binh mã bản bộ, hè nhau xông lên.
Chớp mắt, tiếng trống trận vang rền tứ phía, tiếng xung phong chấn động đất trời, phản quân Vũ Dương tranh nhau tràn tới, ồ ạt tấn công vào các cổng thành.
Tình hình Kế Thành vô cùng nguy cấp, trống thúc dồn dập, tiếng hô hét dậy khắp tứ bề, từng đoàn tráng đinh tay cầm vũ khí, hăng hái dồn về bốn cổng thành.
Trong quán trọ Lão Yên Nhân, lão trượng đang ngồi tiếp rượu tráng sĩ mới tới, bỗng nghe trên phố lớn, tiếng người huyên náo lạ thường, hỗn loạn như chợ vỡ. Chốc lát sau, tiểu nhị hớt hải chạy vào, báo tin phản quân Vũ Dương đang tấn công thành.
Lão trượng đặt bát rượu xuống, vào trong nhà lục lọi một hồi, lôi ra một cán thương dài trượng tám, lấy giẻ lau sạch lớp bụi phủ, rồi lắp vào mũi giáo mới mài sáng loáng, lấy đinh ghim chặt. Tráng sĩ bước lại, cầm lên múa vài đường, buột miệng khen: “Thương tốt!”
Lão trượng đỡ lấy cây thương, không giấu vẻ tự hào: “Nghe khẩu khí của tráng sĩ, biết rằng tráng sĩ là người am hiểu! Không giấu tráng sĩ, cây thương này là bảo bối gia truyền của tổ tiên lão, mũi thương được đúc bằng đồng tinh, ngù thương được làm từ bờm ngựa đất Hồ, cán thương là gỗ tử đàn thượng đẳng phương nam. Ở đất Yên, bảo bối nhường này, duy chỉ giáp sĩ trong cung mới có được!”
Tiểu nhị ngạc nhiên hỏi: “Ông chủ, ông lau chùi cây thương này, lẽ nào là muốn...”
Lão trượng vứt mảnh giẻ xuống, cầm thương bước ra giữa sân, múa lên vài đường rồi nói với tiểu nhị: “Ngươi hãy ở lại trông coi quán trọ, lão hủ đi giữ cổng thành!”
Tráng sĩ bưng hũ rượu lên, uống ừng ực một hơi cạn đáy, rồi với lấy bảo kiếm trên bàn, vòng tay nói với tiểu nhị: “Hãy chăm sóc ngựa giúp ta!” Đoạn quay sang lão trượng, cười vang mà nói. “Lão trượng quả là người hào sảng! Vãn sinh xin được đi cùng lão!”
Trong Đông cung, cảnh tượng vô cùng hỗn loạn. Vài chục cỗ xe ngựa đã chất đầy đồ đạc, bảy tám cung phi cùng hơn chục tiểu công tử, tiểu công chúa tranh nhau chạy ra xe. Một vài kẻ không muốn đi, ngồi chồm hỗm một bên khóc lóc. Đám nô bộc và cung nhân người kêu kẻ réo, hối hả khiêng vác các đồ vật quý lên xe.
Ngoài điện, vài chục giáp sĩ đang đứng nghiêm trang, quân uý Viên Báo tay cầm trường thương, ngẩng đầu hiên ngang đứng trước hàng người, phóng ánh mắt nghiêm nghị lạnh lùng nhìn đám người cả nam cả nữ, cả nửa nam nửa nữ đang cuống cuồng khiếp đảm, xấu xí đớn hèn kia.
Bên ngoài cổng nam vọng lại tiếng trống trận dồn dập, tiếng reo hò dậy đất. Thái tử Tô hấp tấp chạy ra khỏi cửa điện, nhảy phắt lên xe, giục giã Viên Báo: “Viên tướng quân, đi mau!”
Viên Báo đứng im không nhúc nhích. Đám quân sĩ cũng vậy.
Thái tử Tô sốt ruột, cao giọng: “Viên Báo, ngươi điếc ư!”
Viên Báo dõng dạc hỏi: “Xin hỏi điện hạ, muốn đi đâu?”
“Ngươi...” Thái tử Tô càng thêm giận dữ, gào lên. “Chẳng phải đã nói trước với ngươi rồi ư? Ra khỏi cổng bắc, đi tới Tạo Dương!”
“Điện hạ!” Viên Báo quỳ một gối xuống đất. “Phản quân sắp đánh tới thành, chúa thượng vẫn ở trong cung, điện hạ lại bỏ thành mà chạy, nhất thiết không thể được!”
Thái tử Tô nghiêm giọng quát lớn: “Bảo ngươi đi thì ngươi cứ đi, lải nhải cái gì?”
Viên Báo khổ sở van nài: “Kế Thành sắp lâm nguy, chúa thượng long thể bất an. Nếu điện hạ nhất quyết bỏ đi, lòng quân ắt sẽ phân tán, Kế Thành sao giữ nổi đây?”
Thái tử Tô mặt giận tái mét, rút phắt bảo kiếm ra: “Viên Báo, ngươi dám kháng chỉ?”
Viên Báo vươn cổ, cất giọng lạnh tanh: “Điện hạ muốn giết thì giết, mạt tướng quyết không bỏ chạy!”
Đám giáp sĩ nhất loạt quỳ xuống, đồng thanh hô vang: “Chúng tôi thề chết không bỏ chạy, nguyện theo Viên tướng quân bảo vệ Kế Thành, quyết một trận sống mái với phiến quân!”
Thái tử Tô quét thoạt tiên sững sờ, sau đó gân cổ hét rống lên: “Người đâu!”
Xung quanh lặng im phăng phắc, không một ai đáp lời.
Thái tử Tô kinh hãi đến lặng người, bàn tay nắm kiếm bắt đầu run lên, nhìn sững vào đám tướng sĩ như không dám tin: “Các ngươi... muốn mưu phản?”
Viên Báo dõng dạc đáp lời: “Mạt tướng không dám!”
Đám giáp sĩ cũng đồng thanh tiếp lời: “Chúng tôi không dám!”
Thái tử Tô vốn sức trói gà không chặt, không có quân sĩ hộ tống, nào dám tự ý bỏ đi. Thấy quân sĩ kháng lệnh bất phục, trong lòng vô cùng run sợ, đứng im thin thít trên xe, không biết phải làm gì. Bỗng ngoài điện vọng lại tiếng vó ngựa dồn dập, Cơ Khoái dẫn một toán giáp sĩ chạy tới, nhìn thấy cảnh tượng này, lập tức sững người chết lặng.
Thái tử Tô cả mừng, vội gọi: “Khoái Nhi, lại đây mau!”
Cơ Khoái bước lại gần, từ từ quỳ xuống: “Nhi thần khấu kiến điện hạ!”
Thái tử Tô chỉ tay vào đám giáp sĩ: “Đám nghịch tặc này ngang nhiên kháng lệnh, mau tước vũ khí của chúng!”
Không đợi Cơ Khoái ra tay, Viên Báo đã ném ngay trường thương xuống trước mặt, dập đầu dưới đất. Đám giáp sĩ thấy vậy, cũng lần lượt vứt thương xuống đất.
Cơ Khoái ngỡ ngàng nhìn thái tử Tô: “Chuyện này... chuyện này là thế nào?”
Đúng lúc này, từ phía cổng thành tây, đông đều vọng lại tiếng trống trận dồn dập.
Thái tử Tô không kịp giải thích, cuống cuồng giục giã: “Khoái Nhi, không nói chuyện này nữa, đi mau, mở cổng bắc, tạm thời chạy tới Tạo Dương!”
Cơ Khoái nghe vậy, khấu đầu sát đất, chần chừ không chịu đứng lên.
Thái tư Tô sốt ruột, quát lớn: “Khoái Nhi!”
Cơ Khoái chậm rãi nói: “Khởi bẩm quân phụ, cổng bắc không đi được nữa rồi. Theo nhi thần biết, tám cổng thành đều đã bị phản quân bao vây kín mít!”
Thái tử Tô nghe như sét đánh ngang tai, ngã phịch xuống sàn xe.
Cơ Khoái đứng dậy, đưa mắt nhìn khắp lượt tướng sĩ: “Các ngươi còn đứng đây làm gì? Không mau chuyển đồ trở xuống!”
Đám người còn chưa kịp phản ứng, một cỗ xe ngựa đã đỗ xịch ngoài điện. Lão nội thần nhảy xuống xe, chậm rãi bước vào, đưa mắt liếc qua, trong lòng lập tức hiểu rõ sự tình, song không nói gì, chỉ dõng dạc tuyên chỉ: “Điện hạ, phu nhân có khẩu dụ!”
Thái tử Tô vẫn chưa hết bàng hoàng, xuống xe khấu đầu hô: “Nhi thần lĩnh chỉ!”
Lão nội thần nói rành rọt từng chữ: “Mời điện hạ tới cung Cam Đường nghị sự!”
Lão nội thần đi rồi, Cơ Tuyết dẫn Tô Tần tới tiền điện, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Trong điện chỉ còn Xuân Mai và một cung nữ thân tín khác. Xuân Mai liếc mắt ra hiệu, rồi cùng cung nữ lánh ra ngoài cửa điện, đứng canh ở đằng xa.
Thấy xung quanh không còn ai nữa, Cơ Tuyết bỗng tim đập thình thình, muôn lời nghìn ý như nghẹn lại trong cổ họng, chỉ có hai mắt vẫn nhìn Tô Tần đăm đăm. Tô Tần cũng không nói một lời, đáp trả nàng bằng ánh nhìn tha thiết.
Hai người cứ thế nhìn nhau hồi lâu, vẫn là Cơ Tuyết lên tiếng trước, phá tan bầu không khí trầm lặng, than thở mà rằng: “Tô Tử, Tuyết Nhi tuyệt không thể ngờ, trong đời này còn có ngày gặp lại Tô Tử, hơn nữa, lại trong tình cảnh thế này! Không giấu Tô Tử, những ngày qua, mây đen giăng kín cung thành, giông tố rình rập ập xuống, trong ngoài Yên thất nguy nan dồn dập, chúa thượng lại mắc bệnh liệt giường, với Tuyết Nhi... thực sự... ngày dài như năm!”
Nghe thấy Cơ Tuyết tự xưng là Tuyết Nhi, Tô Tần trong lòng rung động, khắp người run rẩy, giọng đầy xót thương: “Công chúa đã gầy hơn xưa!”
“Thật ư?” Thấy Tô Tần cũng đổi giọng gọi mình là công chúa, trong khoảnh khắc, Cơ Tuyết như thể cũng đã quay trở về với ngày xưa, nở một nụ cười rạng rỡ mà rằng. “Than ôi, trông Tuyết Nhi hẳn là xấu xí lắm!”
Tô Tần cũng đã trấn tĩnh trở lại, bật cười mà nói: “Xấu xí? Nếu công chúa xấu xí, trong thiên hạ này chắc chẳng còn ai xinh đẹp!”
Cơ Tuyết cũng cười: “Tô Tử nói vậy hẳn là muốn Tuyết Nhi được vui lòng!”
“Công chúa!” Tô Tần ngước nhìn Cơ Tuyết với ánh mắt chan chứa thâm tình. “Tô Tần có một niềm tâm sự, vẫn giấu kín trong lòng suốt mấy năm qua!”
Cơ Tuyết dường như đã đoán ra Tô Tần muốn nói gì, cất giọng khẽ khàng mà run rẩy: “Có thể nói cho Tuyết Nhi nghe chăng?”
Tô Tần đưa tay vào trong ngực áo, lần tìm một chốc, kéo ra mảnh khăn lụa giấu trong tận lớp áo trong cùng, nâng hai tay đưa cho Cơ Tuyết: “Công chúa, người còn nhớ vật này chăng?”
Cơ Tuyết đưa tay nhận lấy, nhìn mảnh khăn lụa đã ố vàng, loang lổ lấm tấm, hương thơm ngày trước đã không còn nữa, thì xúc động ngẹn ngào, nâng lên sát mặt, nước mắt trào ra lã chã.
Tô Tần từ từ quỳ xuống, khẽ nói: “Công chúa! Suốt bao năm qua, vào những lúc mất hết niềm tin, vào những lúc suy sụp thất vọng, vào những lúc cần sự an ủi, vào những lúc gặp phải cám dỗ, Tô Tần chỉ làm một việc duy nhất, chính là lấy mảnh khăn lụa này ra!”
Cơ Tuyết gắng gượng kìm nén không để cho mình bật khóc, giọng nói khẽ như làn gió thoảng: “Xin hỏi Tô Tử, chẳng qua chỉ là một mảnh khăn lụa, Tô Tử lấy ra có tác dụng gì?”
Giọng Tô Tần đã pha chút nghẹn ngào: “Bởi vì... bởi vì trên khăn này còn lưu lại vệt nước mắt của công chúa!”
Nghe thấy lời này, Cơ Tuyết không kìm nén thêm được nữa, hai vai run rẩy, nấc lên từng hồi uất nghẹn. Sụt sùi một lúc, Cơ Tuyết chợt đứng bật dậy, rảo bước vào phòng trong. Lát sau, nàng quay trở ra, ôm theo một hộp gấm.
Cơ Tuyết chậm rãi bước lại, từ từ ngồi xuống, dịu dàng lên tiếng: “Tạ ơn Tô Tử đã coi trọng. Tuyết Nhi cũng có một vật báu, mời Tô Tử thưởng lãm!” Nói xong, đẩy hộp gấm lại trước mặt Tô Tần.
Thấy hộp gấm đẹp đẽ tinh xảo, Tô Tần rất đỗi ngạc nhiên, chỉ ngây ra nhìn.
Cơ Tuyết dịu dàng giục giã: “Tô Tử, hãy mở ra đi!”
Tô Tần đưa tay mở hộp gấm, lấy ra một vật, thấy vật này được bọc trong tầng tầng gấm lụa, song Tô Tần đã lập tức nhận ra, hai tay run run gỡ bỏ từng lớp lụa.
Cuối cùng, Tô Tần cũng đã nhìn thấy thanh kiếm gỗ mà mình từng tỉ mẩn đẽo gọt năm xưa. Đặt bên chiếc hộp tinh xảo và gấm lụa mỹ miều, đặt bên dung nhan hoa nhường nguyệt thẹn và phục sức lộng lẫy của Cơ Tuyết, đặt bên những đồ trần thiết xa hoa và cung điện sang trọng xung quanh, thanh kiếm gỗ càng thêm xấu xí thô kệch khác thường, đúng là thảm hại đến không muốn thấy.
Nhìn sững một lát, Tô Tần phủ phục dưới đất, dập đầu mà nói: “Vật xấu xí này, công chúa không vứt bỏ đã là may mắn lắm rồi, hà tất phải đối xử trọng hậu đến thế?”
Cơ Tuyết chậm rãi nói: “Trong mắt Tuyết Nhi, thứ quý giá thực thụ trong cung điện, chỉ có vật này!” Dừng lời một lát, giọng càng chậm lại. “Không giấu Tô Tử, từng vết khắc trên đó, Tuyết Nhi đều đã thuộc lòng!”
Tô Tần lại bái lạy sát đất, khóc mà nói: “Tạ ơn công chúa hậu ái!”
Cơ Tuyết cũng cúi đầu rơi lệ.
Một lúc lâu sau, Cơ Tuyết mới như sực tỉnh, vội ngẩng lên, khẽ lau nước mắt, nhìn Tô Tần tươi cười mà nói: “Tô Tử, hai vật này đối với Tô Tử, đối với Tuyết Nhi đều đã là bảo bối, thì mỗi chúng ta hãy cứ tự giữ lấy!” Rồi đưa trả mảnh khăn lụa cho Tô Tần, còn mình cũng cẩn thận bọc lại từng lớp gấm lụa quanh thanh kiếm gỗ, cất vào trong hộp như cũ.
Tô Tần cũng cất khăn lụa đi, đứng dậy, quay về chỗ ngồi xuống.
Cơ Tuyết đặt chiếc hộp sang bên cạnh, như đã biến thành một người khác hẳn, mỉm cười nói: “Còn nhớ lần đầu chúng ta gặp nhau chăng? Không giấu Tô Tử, Tuyết Nhi vừa nhìn thấy Tô Tử, đã biết Tô Tử ngày sau chắc chắn sẽ thành tài. Ngày nay gặp lại, quả đúng như vậy!” Dừng lại một lát, nghiêng đầu nhìn Tô Tần, tinh nghịch hỏi. “Nhưng có một điều khiến Tuyết Nhi rất tò mò muốn biết, tật nói lắp của Tô Tử biến đâu mất rồi?”
Tô Tần ngồi ngay ngắn lại, nghiêm trang mà đáp: “Khởi bẩm công chúa, từ sau khi vào núi Vân Mộng, tật nói lắp của Tô Tần đã dần dần biến mất nhờ gặp được ân sư Quỷ Cốc tiên sinh!”
“Quả là kỳ diệu!” Cơ Tuyết mở to hai mắt. “Có điều, nghe Tô Tử nói lắp, lại rất thú vị. Không giấu Tô Tử, mấy năm nay, bên tai Tuyết Nhi lúc nào cũng như văng vẳng giọng nói lắp của Tô Tử. Hôm nay... đột nhiên không nói lắp nữa, Tuyết Nhi thực sự cảm thấy... có chút không quen!”
Tô Tần bật cười: “Nếu công... công chúa... thích... thích nghe... Tô... Tô Tần nói... nói lắp, thì... thì Tô... Tô Tần... sẽ... sẽ nói... nói lắp... cho... cho công... công chúa... nghe... nghe...”
Cơ Tuyết chỉ tay vào Tô Tần cười khanh khách, rồi cũng bắt chước mà nói: “Tô... Tô... Tô... Tô Tử thật... thật... thật... là hài... hài hước!”
Hai người đều chỉ tay vào nhau, cười vui vẻ.
Cười một lúc, Cơ Tuyết mới như sực nhớ ra, lập tức thôi cười, vội hỏi: “Xin hỏi Tô Tử, Vũ Nhi có ở đó không?”
Tô Tần vòng tay nói: “Tại hạ cũng đang định bẩm báo với công chúa đây. Vũ công chúa đã đổi tên là Ngọc Thiền, là sư tỷ của tại hạ, theo tiên sinh tu học y đạo trong cốc, đã có thành tựu!”
“Ồ?” Cơ Tuyết mừng rơi nước mắt, vội hỏi. “Vũ Nhi... hãy mau kể về Vũ Nhi!”
Tô Tần lại ngồi ngay ngắn, chậm rãi kể về Ngọc Thiền, từ chuyện Ngọc Thiền tu đạo thế nào, thành tựu ra sao, cho tới chuyện ngày ngày ngóng trông chim nhạn, gảy đàn gửi gắm niềm tâm sự tới Cơ Tuyết. Cơ Tuyết nghe mà nước mắt giàn giụa. Đang lúc đau thương rầu rĩ, thì lão nội thần quay về, khẽ đặng hắng một tiếng ngoài cửa, rồi bước vào bẩm báo: “Khởi bẩm phu nhân, điện hạ và Kế Thành lệnh đang ở bên ngoài cầu kiến!”
Cơ Tuyết gạt nước mắt, ngồi im một chốc gắng trấn tĩnh lại, rồi chậm rãi gật đầu: “Truyền!”
Lão nội thần dõng dạc hô: “Truyền điện hạ, Kế Thành lệnh yết kiến!”
Từng hồi trống trận văng vẳng vọng vào tận trong cung Minh Quang. Yên Văn Công lắng nghe một lát, cảm thấy bất thường, thình lình ngồi bật dậy gọi lớn: “Người đâu!”
Cung chính vội bước vào đáp: “Có vi thần!”
“Phu nhân đâu?”
“Khởi bẩm chúa thượng, phu nhân đang cùng quần thần nghị sự trong cung Cam Đường!”
Yên Văn Công lấy làm ngờ vực: “Cung Cam Đường? Cùng quần thần nghị sự? Về chuyện gì?”
Miệng cung chính vừa hé mở, đã lập tức khép lại ngay.
Văn Công sốt một hỏi: “Là chuyện gì vậy, nói mau!” Cung chính quỳ xuống, dập đầu nói: “Là chuyện ngoài cung, phu nhân sợ chúa thượng lo lắng, tạm thời không cho vi thần bẩm báo!”
Văn Công trầm giọng hỏi: “Tử Ngư tới rồi ư?”
“Đúng vậy!” Cung chính hạ thấp giọng bẩm tấu. “Trưởng công tử dẫn vài vạn đại quân kéo tới, lúc này đang đánh vào Kế Thành!”
Yên Văn Công sắc mặt lạnh tanh, đôi mày rậm chau tít lại, sát khí hiển lộ, xoay người xuống giường, như thể không hề có bệnh: “Thay áo!”
Cung chính thấy vậy, rất đỗi ngạc nhiên: “Chúa thượng!” Sững lại một lúc mới quay sang cung nữ. “Mau, thay áo cho chúa thượng!”
Tại tiền điện cung Cam Đường, thái tử Tô và Kế Thành lệnh Chử Mẫn phủ phục dưới đất.
Dù sâu trong thâm cung, từng hồi trống trận và tiếng hô xung sát vẫn vượt qua trùng trùng tường vách, truyền tận vào trong, lúc xa lúc gần, lúc ẩn lúc hiện. Nghe tiếng trống trận dồn dập, đoán rằng phiến quân có thể đánh vào thành bất cứ lúc nào. Công tử Tô sắc mặt trắng bệch, Tô Tần thấy rõ hai chân hắn run lên bần bật không ngừng.
Cơ Tuyết sắc mặt bình thản như không, dường như tiếng hò hét, tiếng trống trận bên ngoài chẳng hề liên quan tới nàng.
Cơ Tuyết khẽ nâng tay ngọc, cất giọng bình hoà: “Điện hạ, Chử ái khanh, miễn lễ!” Chỉ vào vị trí đã sắp xếp sẵn bên cạnh. “Ngồi đi!”
Thái tử Tô, Kế Thành lệnh cảm tạ, cùng đứng dậy ngồi vào chỗ.
Cơ Tuyết đưa mắt nhìn Tô Tần, thấy Tô Tần gật đầu, bèn từ từ quay sang Kế Thành lệnh, môi son hé mở, giọng nói không nhanh cũng không chậm: “Bản cung vốn là phận nữ lưu, theo lệ thường không được can dự triều chính. Tuy nhiên, quốc nạn giáng xuống, chúa thượng long thể bất an, điện hạ...” liếc xéo sang thái tử Tô, “điện hạ niệm đến tình nghĩa máu mủ, khó lòng quyết đoán, bản cung cũng chỉ biết làm điều bất đắc dĩ, vời hai vị tới đây, cùng bàn mưu kế! Chử ái khanh, hãy nói sơ qua tình hình trước mắt!”
Trước vẻ điềm tĩnh phi thường và lời lẽ khéo léo của Cơ Tuyết, đừng nói là thái tử Tô và Chử Mẫn, ngay cả Tô Tần cũng vô cùng chấn động, đưa mắt nhìn Cơ Tuyết, khẽ gật đầu.
Chử Mẫn vòng tay nói: “Khởi bẩm phu nhân, theo vi thần được biết, phản quân Vũ Dương tập hợp được ba vạn người, vũ khí công thành đã chuẩn bị đầy đủ, kết hợp với lầu tháp, nỏ liên châu, khí thế vô cùng hung hãn!”
Thái tử Tô càng thêm hoảng loạn, giọng cũng run bắn lên: “Chẳng phải nói là... chỉ... chỉ có hai vạn quân thôi ư?”
“Khởi bẩm điện hạ,” Chử Mẫn quay sang thái tử Tô, “phản quân vốn có hai vạn, gần đây lại cưỡng chế trưng binh tất cả tráng đinh tại các ấp quanh Vũ Dương, do vậy đã có thêm hơn vạn nữa!”
Cơ Tuyết thoáng kinh hãi trong lòng, đưa mắt nhìn Tô Tần, thấy Tô Tần vẫn ngồi im khép mắt, như nghe mà không nghe, dường như đó chẳng qua chỉ là một con số.
Ngoài cổng nam, tiếng hò reo, tiếng trống trận càng thêm kinh động.
Thái tử Tô giật mình run rẩy, vô thức nhìn sang Cơ Tuyết: “Mẫu hậu, phải... phải chăng phản quân đã... đã đánh vào thành?”
Cơ Tuyết không thèm đếm xỉa tới hắn, mà đưa mắt nhìn Chử Mẫn.
Chử Mẫn đáp: “Khởi bẩm điện hạ, vi thần thăm dò biết được, phản quân đánh trống không phải thực sự muốn tấn công thành, chẳng qua chỉ là hư trương thanh thế, làm kinh hãi lòng quân!”
Cơ Tuyết sửng sốt hỏi: “Cớ sao lại làm vậy?”
“Khởi bẩm phu nhân, theo vi thần điều tra biết được, trong Kế Thành còn có vài trăm phản quân, hẹn đến canh ba nửa đêm tập kích cổng đông, trong ứng ngoài hợp với phản quân ngoài thành. Hiện tại phản quân vờ tấn công ba cổng nam, bắc, tây, chỉ không tấn công cổng đông, nguyên do là như vậy!”
Cơ Tuyết cả kinh, nhìn sang Tô Tần, thấy hắn vẫn ung dung tự tại.
Cơ Tuyết khẽ gọi: “Tô Tử!”
Tô Tần mở choàng mắt, nhìn Chử Mẫn: “Xin hỏi tướng quân, trong thành có cả thảy bao nhiêu quân trấn thủ?”
“Hồi bẩm Tô Tử,” Chử Mẫn vòng tay nói, “trong thành vốn có hai vạn quân, tháng trước để phòng ngự người Triệu, Tử Chi tướng quân đã điều đi hơn một vạn, hiện tại, quân giữ thành không tới tám nghìn. Ngoài ra còn có ba nghìn vệ sĩ trong cung, không thuộc sự chỉ huy của mạt tướng!”
Tô Tần gật đầu nói: “Nếu giao hai nghìn vệ sĩ cho tướng quân, liệu tướng quân có thể giữ thành trong ba ngày được không?”
Chử Mẫn ngẩn ra không hiểu, ngập ngừng một thoáng: “Chuyện này...”
Tô Tần thoáng ngạc nhiên: “Nghe giọng của tướng quân, lẽ nào không giữ nổi ba ngày?”
“Không phải, không phải!” Chử Mẫn vội nói. “Nếu giữ ba mươi ngày, mạt tướng không dám chắc, song nếu chỉ là ba ngày, mạt tướng dám lập quân lệnh trạng để đảm bảo!”
“Tô Tử,” thái tử Tô kinh hoàng cắt ngang, “nhưng... sau ba ngày, chúng... chúng ta sẽ như thế nào?”
Tô Tần khẽ ôm quyền hướng về phía thái tử Tô: “Điện hạ yên tâm, Tô Tần đoán rằng, trong vòng ba ngày, phản quân tất tan rã!”
Lời vừa thốt ra khỏi miệng, tất cả những người có mặt đều đưa mắt nhìn nhau, rồi không hẹn mà cùng đổ dồn ánh mắt về phía Tô Tần.
Chử Mẫn bán tín bán nghi, nhìn Tô Tần không chớp mắt: “Tô Tử vừa nói, trong vòng ba ngày, phản quân tất tan rã?”
“Đúng vậy!” Giọng Tô Tần chắc nịch.
Thái tử Tô vội hỏi: “Vì đâu phản quân tất tan rã?”
Không đợi Tô Tần trả lời, từ ngoài cửa đã vọng lại một giọng nói: “Bởi lẽ đã có đại quân sáu vạn của quả nhân!”
Tất cả mọi người đều giật mình kinh ngạc, thảy đều quay đầu nhìn lại, thấy Yên Văn Công đang được cung chính dìu đỡ, không hiểu đã đứng giữa cửa tự bao giờ, hiên ngang chẳng khác gì một gốc tùng nghìn tuổi.
Mọi người vội vã đứng dậy, khấu bái sát đất.
Yên Văn Công lúc này không hề còn thấy vẻ bệnh tật, hất tay cung chính ra, sải bước tiến vào, ngồi xuống vị trí chủ, chìa tay nói: “Phu nhân, chư vị ái khanh, mời ngồi!”
Mọi người tạ ơn, đứng dậy, cùng ngồi xuống chỗ.
Yên Văn Công đưa mắt nhìn thái tử Tô, Chử Mẫn, chậm rãi nói: “Thái tử, Chử ái khanh, mau đi đi, việc phòng ngự Kế Thành, trông cậy cả vào hai khanh! Chiếu cáo chư tướng sĩ, quả nhân có chỉ, không ai được phép thoái lui dù chỉ một bước!”
Hai người nhận lệnh, đứng dậy cáo lui.
Thấy họ đã đi xa, Văn Công quay người lại, vòng tay hướng về phía Tô Tần: “Sĩ tử phải chăng là Tô Tử? Quả nhân vốn đã bàn cùng phu nhân, định hẹn Tô Tử tới bên giường thỉnh giáo,” cười buồn một tiếng, “nào ngờ sự biến thình lình!”
“Thảo dân tạ ơn chúa thượng hậu ái!” Tô Tần vòng tay đáp lễ. “‘Dịch’ có sáu mươi tư quẻ, mỗi quẻ đều không tách rời chữ biến, đó chính là cương nhu xô đẩy, sinh ra biến hoá!”
“Tô Tử nói rất phải!” Văn Công gật gù. “Nghe nói Tô Tử tới Yên, bệnh của quả nhân bỗng chốc thuyên giảm quá nửa, đây cũng coi là sinh ra biến hoá!”
“Thảo dân thân phận thấp hèn, có thể cầu phúc cho chúa thượng, quả là sự may mắn của thảo dân!”
Cơ Tuyết trong lòng băn khoăn, vội nói xen vào: “Bản cung có một việc không rõ, mong Tô Tử chỉ giáo!”
Tô Tần quay sang Cơ Tuyết, vòng tay nói: “Phu nhân xin cứ nói!”
“Tô Tử không biết chuyện chúa thượng muốn điều động sáu vạn đại quân của Tử Chi tướng quân, cớ sao lại khẳng định phản quân trong vòng ba ngày tất tan rã?”
Tô Tần mỉm cười mà nói: “Vì Tô Tần đoán rằng, trong vòng ba ngày, quân Triệu tất sẽ tan rã. Nếu quân Triệu tan rã, Tử Chi tướng quân còn lý do gì để tiếp tục cố thủ ở biên cương?”
Tô Tần nói ra lời này, đừng nói là Cơ Tuyết, dù Yên Văn Công cũng vô cùng kinh ngạc: “Vì đâu mà Tô Tử lại đoán rằng quân Triệu tất tan rã?”
“Khởi bẩm chúa thượng,” Tô Tần dõng dạc bẩm tấu, “Tô Tần vừa từ đất Triệu tới, đương nhiên hiểu Triệu. Chúa thượng có lo âu, Triệu thất cũng tương tự. Phụng Dương Quân Triệu Thành không ngôi vị mà nắm đại quyền, ngấm ngầm cấu kết với Vũ Thành Quân, muốn giúp Tử Ngư cướp lấy quyền bính cung Yên, rồi dựa sức người Yên bức Triệu Hầu thoái vị. Để đạt được mục đích này, Phụng Dương Quân đã lấy cớ phòng ngự Trung Sơn, điều quân Triệu tới quận Đại, khiến Tấn Dương trống rỗng, giúp người Tần thừa cơ đột kích. Tô Tần đoán rằng, người Tần tất công phá Tấn Dương, Triệu Hầu sẽ thừa cơ hội này trừ khử Phụng Dương Quân, quân Triệu cũng sẽ rút khỏi quận Đại, tới chi viện cho Tấn Dương. Không còn sự hậu thuẫn của quân Triệu, phản quân Vũ Dương khác nào cây không gốc, rắn mất đầu, không chiến tự tan.”
Cơ Tuyết, Yên Văn Công đưa mắt nhìn nhau.
Cơ Tuyết dường như không thực tin: “Tô Tử, suy đoán như vậy, liệu có khả năng sơ sảy hay không?”
“Khởi bẩm phu nhân, trong vòng ba ngày nữa, mọi việc sẽ rõ ràng!”
Tô Tần còn chưa kịp ngừng lời, lão nội thần tay cầm quân báo đã hấp tấp bước vào: “Khởi bẩm chúa thượng, Tử Chi tướng quân cấp báo!”
Yên Văn Công nhận lấy cấp báo, đọc lướt qua một lượt, sắc mặt phấn chấn, nói với Tô Tần: “Tô Tử phán đoán như thần, nước Triệu đã xảy ra đại biến. Giờ Tý đêm qua, chủ tướng quân Triệu là công tử Phạm bị đình uý Phì Nghĩa bắt sống, quân Triệu gấp rút lên đường ngay trong đêm, quay về chi viện cho Tấn Dương. Tử Chi tướng quân hiện chia quân hai lộ, một lộ tập kích đoạt lấy Vũ Dương, một lộ tiến về chi viện Kế Thành.”
Cơ Tuyết thở phào, nhìn Tô Tần vẻ đầy khâm phục.
Hai luồng ánh mắt chạm nhau, Cơ Tuyết bỗng như bừng tỉnh, lập tức cúi đầu, đứng dậy vòng tay mà nói: “Chúa thượng, Tô Tử, hai người hãy luận bàn quốc sự, thần thiếp cáo lui!” Nói xong, chậm rãi lui ra.
Màn đêm buông xuống. Trong đại doanh của phản quân bên ngoài cổng thành nam, đèn đuốc sáng trưng. Vũ Thành Quân ngồi ngay ngắn trên chiếu, tay cầm một bó lệnh tiễn, hơn chục tướng quân đang chăm chú nghe lệnh.
Quý Thanh hấp tấp bước vào, ghé sát tai Vũ Thành Quân thì thầm một hồi. Vũ Thành Quân bàng hoàng kinh hãi, bó lệnh tiễn trong tay rơi luôn xuống đất. Chư tướng không biết xảy ra chuyện gì, ngơ ngác nhìn nhau.
Quý Thanh ngẩng đầu, phẩy tay nói với chư tướng: “Chư vị tướng quân, hãy tạm ra ngoài doanh trại đợi lệnh!”
Thấy chư tướng đã ra khỏi đại doanh, Quý Thanh thở dài một tiếng: “Chúa công, Vũ Dương mất rồi, đại quân của Tử Chi đang quay về chi viện, chúng ta... đã không còn đường thoái lui!”
Vũ Thành Quân chết lặng một hồi, rồi ngẩng đầu nhìn Quý Thanh: “Quý... Quý Tử, bản công không nghĩ ra được chủ ý gì nữa, Quý Tử hãy mau nghĩ kế vẹn toàn!”
Quý Thanh than thở: “Than ôi, cái danh phản loạn đã định, chúa công tiến lui đều hết đường thoát thân, theo kế của vi thần, hiện tại chỉ còn một cách, cá chết lưới rách!”
Sắc mặt Vũ Thành Quân từ trắng bệch chuyển sang xanh lét, rồi lại từ xanh lét chuyển sang tím tái, cuối cùng gật đầu mà hỏi: “Nói đi, cá chết lưới rách là thế nào?”
“Đánh hạ Kế Thành trước khi đại quân của Tử Chi kịp về tới. Chỉ cần kiểm soát được Kế Thành, bắt sống chúa thượng, đại quân của Tử Chi sẽ ngoan ngoãn nghe lệnh chúa công!”
“Được!” Vũ Thành Quân lập tức quyết định, cao giọng nói lớn. “Đằng nào cũng chết, cứ làm theo kế của Quý Tử, cá chết lưới rách!”
Quý Thanh quay ra ngoài vỗ tay, chúng tướng vội vã kéo vào.
Quý Thanh đặng hắng một tiếng, chậm rãi nói: “Chư vị tướng quân, trải qua một ngày công thành, lòng quân Kế Thành đã phân tán, ý chí rệu rã, thành công chính là vào đêm nay! Tại hạ vừa bàn với chúa công, canh ba đêm nay, nghe tiếng trống trận ở cổng đông làm hiệu, nhất tề dốc sức đánh vào Kế Thành. Ba cổng nam, tây, bắc vốn chỉ định hư trương thanh thế, giờ đổi thành đánh thực!”
Vũ Thành Quân đứng bật dậy, gằn mạnh từng chữ: “Chư vị tướng quân, ai đánh được vào thành trước, bắt sống được gian tặc, bản công sẽ ghi công đầu, thưởng nghìn lạng vàng, phong chức đại tướng quân!”
Chư tướng đưa mắt nhìn nhau, cùng quỳ một gối đồng loạt hô vang: “Mạt tướng nhận lệnh!”
Đêm xuống, gần tới canh ba, trên cánh đồng rộng lớn ngoài cổng thành đông, nhờ màn đêm che phủ, từng cánh quân đông như kiến cỏ ồ ạt tiến về phía cổng thành, dừng lại cách thành một tầm tên bắn.
Tiếng mõ canh ba đã điểm, tất cả ánh mắt của phản quân đều dán chặt vào cổng thành. Đột nhiên, trên cổng thành đèn đuốc vụt sáng, tiếng hô giết dấy vọng động trời, tiếng kêu gào thảm thiết liên miên bất tuyệt. Không cần phải hỏi, Vũ Thành Quân cũng biết kế hoạch “trong ứng ngoài hợp” đã bại lộ, thì sắc mặt đại biến, mắt giận toé lửa, cướp lấy dùi trống, đích thân thúc trống điên cuồng. Trong chốc lát, tiếng trống dồn dập vang vọng, phản quân đồng thanh hò hét, mang theo vũ khí công thành, xông thẳng tới trước cổng.
Trên tường thành đèn đuốc sáng rực, tên bắn như mưa. Phản quân liều mạng băng qua mưa tên, lội qua hào nước, xông tới chân thành, bắc thang mây, đua nhau trèo lên. Hàng trăm binh lính xúm xít ngoài cổng thành, công kênh một súc gỗ to, ra sức nện vào cánh cổng. Trên thành gỗ đá rơi xuống tới tấp, phản quân tử thương la liệt, tiếng gào rú triền miên không dứt.
Cùng lúc này, phản quân tại các cổng tây, bắc, nam nghe thấy tiếng trống ở cổng đông, cũng đồng loạt tấn công điên cuồng vào các cổng thành.
Cung Cam Đường vốn là chốn thâm cung, người ngoài không được tự ý ra vào, càng không thể luận bàn chính sự tại đây. Trước đó, Cơ Tuyết triệu mấy người tới đây nghị chính, là bởi tình thế cấp bách. Đến khi Yên Công bàn về chính sự, đương nhiên sẽ không tiếp tục ở đây, mà đã mời Tô Tần tới cung Minh Quang, vào ngự thư phòng tiếp tục bàn luận.
Từ bên ngoài, tiếng trống trận thùng thùng, tiếng hò la vang động dội vào mồn một, hết đợt này đến đợt khác.
Hai người vừa ngồi xuống, đã thấy thái tử Tô hốt hoảng chạy vào, dập đầu sát đất: “Quân phụ, phản quân... sắp... sắp đánh vào rồi!”
Nhìn thấy bộ dạng kinh hãi mất hồn của thái tử Tô, Yên Văn Công khẽ chau mày, cất giọng lạnh lùng: “Chẳng phải vẫn chưa đánh vào ư?”
Tô Tần xin mang bút mực ra, ngồi bên bàn viết mải miết một chặp, rồi trình lên Yên Văn Công. Văn Công xem xong, bèn gật đầu, trả lại Tô Tần. Tô Tần đưa bức thư cho thái tử Tô, vòng tay nói: “Điện hạ, hãy mau chuyển thư này tới Kế Thành lệnh, có lẽ sẽ tạm thời chặn được thế tấn công của phản quân!”
Yên Văn Công thêm một câu: “Nói với Kế Thành lệnh, đây là ý chỉ của quả nhân!”
Nhìn thấy thái tử Tô đã đi khuất, Tô Tần quay sang, nói với Văn Công: “Chúa thượng dự định xử tội trưởng công tử thế nào?”
Yên Văn Công chau tít đôi mày, hồi lâu sau, mới rít qua kẽ răng: “Y theo luật lệnh!”
“Chúa thượng!” Tô Tần chậm rãi nói. “Trưởng công tử tuy phạm tội không thể dung thứ, thế nhưng, chúa thượng thực sự muốn giết con trai mình ư?”
“Than ôi!” Yên Văn Công đau đớn nhắm nghiền hai mắt, thở dài não nề. “Từ ngày Đại Chu lập quốc, nội loạn cung đình xảy ra liên miên trong liệt quốc, duy có Yên thất vẫn trật tự quy củ, không ngờ đến đời quả nhân lại sinh ra giống nghịch tử này. Nếu không trừng trị nghiêm minh, hậu thế ắt sẽ bắt chước làm theo, hậu hoạ thật khôn cùng!”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, bèn quỳ xuống cầu xin: “Trưởng công tử đi tới bước đường này, đương nhiên là tội chết. Có điều, vừa rồi phu nhân có nói một câu khiến thảo dân vô cùng cảm khái, đó là ‘nước Yên không thể tự loạn’. Yên có loạn này, đã tổn thương tới gốc rễ, nếu chúa thượng xử tử trưởng công tử, bè đảng của trưởng công tử ắt sẽ kinh hãi, hoặc chạy trốn vì sợ tội, hoặc tụ hợp để chống đối, chưa nói đến chuyện nước Yên lại một lần nữa đổ máu, chỉ nói riêng trong thần dân Vũ Dương, sẽ lại có thêm bao nhiêu người gia đình ly tán, tan cửa nát nhà. Hơn nữa, hổ dữ không ăn thịt con, chúa thượng xưa nay vẫn lấy nhân đức làm gốc, lẽ nào không còn sự lựa chọn nào khác ư?”
Nghe Tô Tần nói những lời này, Yên Văn Công hít vào một hơi khí lạnh, rồi gật gù nói: “Tô Tử suy nghĩ rất thấu đáo. Theo ý Tô Tử, quả nhân nên làm thế nào?”
“Chúa thượng có thể xuống một đạo chỉ, xá tội chết cho trưởng công tử, để trưởng công tử tự mình hối cải, làm lại cuộc đời. Còn thuộc hạ của trưởng công tử, bỏ qua không trách tội!”
Yên Văn Công ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi gật đầu nói: “Cứ làm theo ý Tô Tử!”
Tô Tần lại bái lạy, khấu đầu mà nói: “Thảo dân thay mặt trưởng công tử, thay mặt người Yên ở Vũ Dương khấu tạ ân không trách tội của chúa thượng!”
Thái tử Tô lĩnh chỉ, vội vã đi ra, gọi Viên Báo lại, sai hắn cấp tốc mang thư của Tô Tần tới cho Chử Mẫn. Viên Báo nhận lệnh, gọi đến hơn chục giáp sĩ, cầm thương lên ngựa, phi như bay tới cổng đông.
Do chủ lực phản quân tập trung chủ yếu ở cổng thành đông, nên nơi đây chiến sự cũng ác liệt nhất. Trên dưới thành đèn đuốc sáng trưng, Vũ Thành Quân đích thân đốc trận, phản quân nghìn nghịt như sóng, đã bắc được vô số thang mây dọc theo tường thành.
Ở một nơi cách cổng thành không xa, lão trượng và tráng sĩ mỗi người đang cố thủ sau một ụ thành. Một phản quân vừa ló đầu lên phía sau ụ thành, đã bị lão trượng một thương đâm tới. Kẻ này nhanh mắt, lập tức né đầu, đưa tay chộp chặt đầu thương. Lão trượng tuổi cao, hơn nữa đã giao chiến suốt nhiều giờ, sức đã yếu, không còn đủ sức giằng co với phản quân. Phía sau lại có vài phản quân khác xông lên, một tên vung thương đâm thẳng vào lão trượng. Lão trượng đang lúc giằng co, không kịp né tránh, bị mũi thương đâm thấu ngực, rú lên một tiếng, miệng vọt máu tươi, lập tức ngã gục. Phản quân còn chưa kịp rút thương về, tráng sĩ đang chém giết phía ụ thành bên kia đã nhìn thấy, gầm lên một tiếng, vung tay phóng tới một mũi phi đao, đâm trúng yết hầu hắn. Tiếp đó, lại thêm vài mũi phi đao xé gió lao tới, đao nào cũng trúng yết hầu, cả mấy tên phản quân vừa ló đầu lên đều ngã gục. Tráng hán chạy lại, vực lão trượng dậy, thì thấy lão đã tắt thở mất rồi.
Phía sau ụ thành lại thấy có thêm phản quân tiếp tục nhô lên. Tráng hán đã phóng hết phi đao, bèn giật lấy cây thương của lão trượng từ trong tay phản quân đã chết, múa lên tít mù, xông về phía ụ thành, cản bước phản quân.
Đúng lúc này, Viên Báo vội vã leo lên lầu cổng thành, thấy Chử Mẫn đang đứng trên thành thúc trống trận, bèn gọi lớn: “Chử tướng quân, chúa thượng có cấp chỉ!”
Chử Mẫn vội đưa dùi trống cho lính đánh trống, cầm lấy thư, mở ra đọc, rồi đưa cho Viên Báo: “Mau chép thư này, truyền lệnh cho thủ quân toàn thành, hô vọng xuống dưới thành đúng như nội dung trong thư!”
Viên Báo đang chép vội vã, ngẩng đầu nhìn lên, thấy cách đó không xa, một tốp phiến quân đã leo được lên mặt thành, đang lo sợ thì Chử Mẫn đã vung thương xông lên cản bước. Viên Báo cắm cúi chép làm nhiều bản, giao cho tay chân thân tín, bảo họ mau chóng mang xuống lầu thành, chia tới tất cả các cổng thành, còn mình giữ lại một bản, nằm phục phía sau ụ thành, lấy hết sức bình sinh gân cổ hét vọng xuống dưới chân thành: “Chư vị tướng sĩ dưới thành nghe đây! Đại quân Triệu đã tan rã, Tử Chi tướng quân đã chiếm lại được Vũ Dương, không đầy một canh giờ nữa sẽ đuổi tới đây. Mọi người đã hết đường tháo chạy, nếu còn ngoan cố kháng cự, chỉ còn đường chết... Chư vị tướng sĩ dưới thành nghe đây, chư vị đã bị lừa rồi. Nhân lúc còn chưa muộn, hãy mau chạy thoát thân!... Chúa thượng có chỉ, người Yên Vũ Dương dù đã cả tin mê lầm, mưu nghịch tạo phản, quả nhân vẫn sẽ dung thứ, bởi các ngươi đều là người Yên, đều là con dân của quả nhân! Người Yên không đánh người Yên, chỉ cần các ngươi hạ vũ khí, thực bụng hối cải, quả nhân sẽ không truy cứu...”
Thấy Viên Báo hô lên như vậy, các tướng sĩ khác cũng vội buông vũ khí, cùng hét vọng xuống dưới. Chốc sau, phản quân đang tấn công thành bắt đầu dừng lại, lắng tai nghe. Một chốc nữa, phản quân bèn nhao nhao kêu lên:
“Chúa thượng nói đúng, chúng ta đều là người Yên, người Yên không giết người Yên!”
“Mẹ kiếp, bị lừa rồi!”
“Anh em, đại quân của chúa thượng đã tới, mau chạy cho nhanh!”
Lại một chốc nữa, phản quân đua nhau vứt bỏ vũ khí, nháo nhào chạy tán loạn vào trong bóng đêm.
Buổi sáng hôm sau, vài trăm quân sĩ chưa chịu rời bỏ Vũ Thành Quân tập trung xung quanh đại doanh. Trong đại doanh, Vũ Thành Quân ngồi ngay ngắn trước bàn, hai tay bưng một hũ rượu, ngửa cổ uống ừng ực. Quý Thanh và năm tướng quân đều quỳ dưới đất.
Quý Thanh khấu đầu nói: “Chúa công, xin chúa công đừng uống nữa!”
Chư tướng cũng đồng loạt khấu đầu khuyên: “Chúa công, mau chạy thôi, nếu không sẽ không kịp nữa!”
Vũ Thành Quân như thể không nghe thấy, vẫn dốc ngược hũ rượu mà đổ thẳng xuống cổ.
Quý Thanh đứng dậy, giật lấy hũ rượu, ném xuống đất: “Chúa công, lẽ nào chúa công thực sự muốn chết ở đây?”
Vũ Thành Quân nhìn Quý Thanh, cười gằn một tiếng, lắc đầu nói: “Quý Tử, Vũ Dương đã mất, ngươi nói xem, bản công còn có thể đi đâu?” Rồi nheo đôi mắt lờ đờ nhìn khắp lượt chư tướng, cao giọng nói. “Chư vị tướng quân, chư vị nói xem, bản công còn có thể đi đâu?”
Quý Thanh đáp: “Tề Vương xưa nay đối xử với chúa công không tệ, chúa công có thể tới Lâm Truy!”
Năm vị tướng quân đồng thanh nói: “Mạt tướng thề chết bảo vệ chúa công, chạy tới Lâm Truy!”
Vũ Thành Quân đang định lên tiếng, bỗng ngoài trại vọng lại tiếng bước chân rậm rịch, tham tướng tiến vào bẩm báo: “Báo, sứ thần của chúa thượng tới!”
Quý Thanh vội đứng dậy, khẽ ra hiệu với mấy vị tướng quân. Đám người vội đứng lên, lùi sang hai bên, tay đặt sẵn vào chuôi kiếm, như thể sắp sống mái với kẻ thù. Vũ Thành Quân gật đầu với Quý Thanh, Quý Thanh bèn quay sang tham quân nói: “Truyền vào!”
Lão nội thần ung dung tiến vào, theo sau là Viên Báo.
Vừa bước vào trướng, Viên Báo đã đặt tay lên chuôi kiếm, ánh mắt lạnh lùng quét khắp lượt xung quanh, đứng sát bên cạnh lão nội thần.
Lão nội thần dừng bước, dõng dạc nói: “Chúa thượng khẩu dụ, Vũ Thành Quân nghe chỉ!”
Vũ Thành Quân giật nảy mình, đứng bật dậy, sụp xuống khấu bái: “Nhi thần tiếp chỉ!”
Lão nội thần đặng hắng khẽ một tiếng, rồi dõng dạc tuyên đọc: “Chúa thượng khẩu dụ! Ngư Nhi, con thực hồ đồ! Con và Tô Nhi đều là cốt nhục của quả nhân, lại là anh em cùng thai, nay sự việc ra nông nỗi này, thực khiến quả nhân đau xót! Ngư Nhi, mây đen đã qua, mọi việc đã thành quá khứ. Lỗi lầm của con, quả nhân sẽ khoan dung. Thuộc hạ của con đều là con dân của quả nhân, quả nhân cũng sẽ tha thứ. Ngư Nhi, quả nhân già rồi, chẳng thiết tha gì nữa, chỉ mong được gặp mặt con. Tối qua, trong lúc nửa tỉnh nửa mơ, quả nhân đã gặp mẫu hậu của các con, đứng bên giường nước mắt giàn giụa, nói với quả nhân rằng, Ngư Nhi đâu, Ngư Nhi của thần thiếp đâu rồi? Ngư Nhi, ngày mai là ngày giỗ của mẫu hậu con, đừng làm loạn nữa, hãy mau trở về! Quả nhân đợi con trong cung Minh Quang!”
Lão nội thần truyền xong khẩu dụ, đưa ống tay áo lên lau nước mắt.
Vũ Thành Quân khóc nấc lên không thành tiếng, dập đầu lia lịa, giọng lạc đi: “Công phụ... mẫu hậu... nhi thần tới đây! Nhi thần tới ngay đây!”
Lão nội thần nghẹn ngào nói: “Công tử, hãy theo lão nô trở về, chúa thượng long thể vẫn chưa bình phục, nay lại mất ngủ suốt đêm, đang ôm bệnh mỏi mắt chờ công tử!”
Vũ Thành Quân gạt nước mắt, đứng dậy vòng tay vái lão nội thần một vái thật sâu: “Nội tể xin đợi cho một lát!” Nói xong, quay người bước vào phòng trong.
Lát sau, sau vách trại vẳng ra một tiếng “xẹt” trầm trầm. Quý Thanh giật mình choàng tỉnh, vội lao người chạy vào phòng trong, thấy Vũ Thành Quân đã nằm dưới đất, phục kiếm tự vẫn.
Quý Thanh đoạt lấy bảo kiếm từ trong tay Vũ Thành Quân, hét lên thật lớn: “Chúa công, Quý Tử tới đây!” Rồi cũng vung kiếm đưa ngang cổ.
Giờ Mão vừa tới, thái tử Tô mặt mày hớn hở sải bước vào cung Cam Đường, người còn chưa tới cửa, đã nghe thấy tiếng: “Mẫu hậu! Mẫu hậu!”
Xuân Mai đứng canh trước cửa cung đưa tay ra hiệu, “suỵt” khẽ một tiếng, tỏ ý bảo Cơ Tô không được to tiếng.
Thái tử Tô dừng bước, hỏi khẽ: “Mẫu hậu đâu?”
Xuân Mai trả lời: “Phu nhân cả đêm không ngủ, giờ đang nghỉ ngơi. Điện hạ có việc gì cần kíp?”
Thái tử Tô vội nói: “Mau bẩm báo với mẫu hậu, nói là nhi thần có việc gấp cầu kiến!”
Xuân Mai liếc mắt qua thái tử Tô, rồi bước vào cửa cung, một lát sau, trở ra nói: “Phu nhân có chỉ, hỏi điện hạ có việc gấp gì?”
Thái tử Tô vui mừng ra mặt, cất giọng oang oang: “Bẩm báo mẫu hậu, có tin đại hỷ, nghịch tặc Tử Ngư đã nhận tội tự sát!”
Xuân Mai lại quay trở vào, một lát sau, từ sau cánh cửa vọng ra giọng nói lạnh lùng của Xuân Mai: “Phu nhân có chỉ, tin vui này chỉ là với một mình điện hạ, không liên quan tới phu nhân. Điện hạ có thể ra về được rồi!”
Thái tử Tô sượng sùng, quay người hậm hực bỏ đi.
Chủ tướng quân Yên Tử Chi thân mang giáp trụ sải bước vào trong chính điện cung Minh Quang, tới trước mặt Yên Văn Công, quỳ xuống dập đầu hô: “Mạt tướng khấu kiến chúa thượng!”
Yên Văn Công phẩy tay: “Tướng quân miễn lễ!”
Tử Chi đứng dậy, ngồi xuống chỗ đầu tiên bên phải.
Yên Văn Công chỉ tay vào Tô Tần đang ngồi đối diện với mình, nói: “Tử Chi tướng quân, quả nhân giới thiệu, vị này là danh sĩ thiên hạ Tô Tần.”
Tử Chi vòng tay hướng về phía Tô Tần nói: “Tại hạ ngưỡng mộ đại danh Tô Tử đã lâu!”
Tô Tần cũng vòng tay đáp: “Tạ ơn lời nói tốt đẹp của tướng quân!”
Đúng lúc này, ngoài điện bỗng vọng lại tiếng chân bước, lão nội thần hấp tấp chạy vào, quỳ xuống đất bật khóc mà nói: “Chúa thượng, trưởng công tử, trưởng công tử...”
Không cần hỏi, Yên Văn Công cũng hiểu đã xảy ra chuyện gì, từ từ nhắm mắt lại.
Lão nội thần khóc không thành tiếng: “Trưởng công tử đi rồi!”
Trong điện im lìm như chết, chỉ còn tiếng sụt sùi của lão nội thần.
Hồi lâu sau, Yên Văn Công mới từ từ mở mắt: “Nghịch tử... ra đi cũng tốt!” Lặng im một hồi nữa, mới hỏi. “Nó không nói gì ư?”
“Trưởng công tử nói, công phụ... mẫu hậu... nhi thần tới đây! Nhi thần tới ngay đây!”
Hai hàng nước mắt lăn dài trên khuôn mặt già nua của Yên Văn Công. Hồi lâu sau, Văn Công khẽ phẩy tay, cất giọng khản đặc: “Mai táng cho nó! Chôn bên Triệu Cơ, để hai mẹ con có thể trò chuyện cùng nhau. Còn nữa, đặt bài vị của nó trong linh đường tại cung cũ của Triệu Cơ.”
“Lão nô tuân chỉ!”
Nhìn theo bóng lão nội thần khuất hẳn, Yên Văn Công lại lau nước mắt: “Tô Tử, Tử Chi, chuyện này coi như kết thúc, giờ quân thần chúng ta hãy bàn chuyện sau này!”
Tử Chi, Tô Tần đưa mắt nhìn nhau, cùng vòng tay nói: “Xin lắng nghe lời chỉ bảo của chúa thượng!”
Yên Văn Công quay sang Tô Tần: “Nghe phu nhân kể lại, Tô Tử từng nói rằng quả nhân không có bệnh, có bệnh chính là nước Yên. Bệnh của quả nhân chỉ ở Vũ Dương, Tô Tử lại nói quả nhân không có bệnh, chắc hẳn bệnh của nước Yên theo lời Tô Tử, không phải là hoạ Vũ Dương! Tử Chi là trụ cột của nước Yên, cũng là cháu hiền của quả nhân, ở đây không có ai khác, Tô Tử hãy nói xem, bệnh của nước Yên nằm ở đâu?”
“Chúa thượng thánh minh!” Tô Tần vòng tay nói. “Theo Tô Tần thấy, bệnh của nước Yên không phải ở loạn Vũ Dương, mà ở chỗ đất nước không có kế sách lâu dài.”
Yên Văn Công nhổm người về phía trước: “Quả nhân muốn nghe tường tận!”
“Bệnh của con người, là do nóng lạnh mất cân bằng; bệnh của đất nước, là do mối lo trong ngoài. Nước Yên bên trong nội bộ đấu đá, bên ngoài kẻ địch nhòm ngó, lại không có kế sách lâu dài, nên Tô Tần đoán rằng nước Yên có bệnh nặng.”
“Xin hỏi Tô Tử, mối lo bên trong là ở đâu?”
“Liệt quốc Trung Nguyên đều trọng dụng hiền tài, cải chế biến pháp, duy có nước Yên vẫn tuân theo lối cũ, chỉ trọng dụng người thân, khiến triều cương bất trị, triều đình thiếu vắng hiền thần. Tô Tần cho rằng, bệnh nặng của Yên là ở đây.”
Lời của Tô Tần khiến Tử Chi gật gù tán thưởng, vòng tay phụ hoạ: “Chúa thượng, Tô Tử nói rất đúng! Mạt tướng cho rằng, phép tắc của tổ tông đều là quy chế cũ, từ lâu đã không còn phù hợp với tình hình nước Yên hiện tại, cũng nên thay đổi.”
Tô Tần vừa mở lời đã nói ngay tới biến pháp cải chế, điều này hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của Yên Văn Công. Nước Yên nằm ở góc đông bắc, từ ngày lập nước đến nay, chưa từng bị ảnh hưởng bởi biến pháp tại Tam Tấn, Tề, Sở, Tần, nhất nhất noi theo pháp chế của tổ tông, dựa vào quý tộc trị quốc, dựa vào tông pháp xử sự, khiến cho trong nước, kẻ tầm thường làm quan trong triều, còn người hiền năng lại lang thang nơi thôn dã, đã lạc hậu rất xa so với các nước khác. Còn về biến pháp ra sao, Yên Văn Công mấy năm trước cũng từng nghĩ tới, nhưng do việc này trọng đại, liên đới quá rộng, một khi cải chế, e rằng sẽ nảy sinh nội loạn, hơn nữa cũng do bên cạnh thiếu những người phát động giống như Công Tôn Ưởng, Thân Bất Hại, nên vẫn lề mề chưa thể thực thi. Nay có Tô Tần, Tử Chi, nhân lực tuy đã đủ, thế nhưng bản thân ông lại...”
Nghĩ tới đây, Yên Văn Công đưa mắt nhìn hai người, cười gượng mà nói: “Nước Yên quả thực cần phải cải chế. Chỉ có điều, quả nhân già rồi, đại sự nhường này, đành phải để lại cho đời sau!” Dừng lại một lát, cúi đầu than thở. “Ôi, già rồi, quả nhân già rồi!”
Tô Tần, Tử Chi đưa mắt nhìn nhau, chẳng ai nói được lời nào.
Hồi lâu sau, Yên Văn Công ngẩng đầu lên, nhìn vào Tô Tần: “Tạm thời không nói đến mối lo bên trong nữa. Tô Tử, hãy thử nói về mối lo bên ngoài!”
Tô Tần lại đưa mắt nhìn Tử Chi, rồi vòng tay thoái thác: “Nếu bàn về mối lo bên ngoài, Tử Chi tướng quân là người rõ nhất!”
Tử Chi thấy Văn Công cũng nhìn sang mình, bèn vòng tay đáp lời: “Khởi bẩm chúa thượng, ta phía đông có người Hồ, phía bắc có Nhung Địch, phía tây, nam có Triệu và Trung Sơn, phía nam có nước Tề hùng mạnh. Ngoài những điều này, không còn mối lo nào khác!”
Yên Văn Công quay sang Tô Tần: “Mối lo bên ngoài của nước Yên, có đúng như Tử Chi tướng quân nói không?”
Tô Tần gật đầu: “Đúng vậy!” Rồi quay sang Tử Chi. “Trong các mối lo vừa nhắc tới, tướng quân có sợ người Hồ hay Nhung Địch?”
Tử Chi kiên định lắc đầu: “Người Hồ, Nhung Địch chẳng qua là chỉ là man di, tuy có quấy nhiễu, song không đáng sợ!”
“Tướng quân có sợ Trung Sơn?”
“Trung Sơn xưa nay sợ Triệu thân Yên, không có gì đáng lo!”
“Tướng quân có sợ người Triệu?”
“Cũng không!”
“Tướng quân có sợ người Tề?”
Tử Chi ngẫm nghĩ một lát, cúi đầu không nói.
“Như vậy, xem ra...” Tô Tần lại cười, “tướng quân không sợ bất kỳ mối lo nào bên ngoài!”
“Không phải, không phải!” Tử Chi lắc đâu. “Nhìn vào hiện tại, người Tề chưa đáng sợ, song về lâu dài, người Tề chính là kẻ địch lớn của ta!”
“Tử Chi nói rất đúng!” Yên Văn Công gật gù.
“Tướng quân!” Tô Tần đổi giọng. “Tạm chưa nói tới nước Tề, chỉ giả sử người Triệu tấn công tới, tướng quân sẽ làm gì?”
“Dẫn quân chống trả!” Tử Chi trả lời ngay không chút đắn đo.
Tô Tần lại gật đầu: “Phải, đúng là nước đến đất chặn, quân tới tướng cản.” Lại hỏi tiếp. “Tướng quân, giả sử tướng quân dẫn quân đi chống Triệu, người Hồ nhân cơ hội tập kích, tướng quân sẽ làm thế nào?”
“Chia quân chống trả!”
“Người Địch cũng tới thì sao?”
“Chuyện này... chuyện này là không thể!” Tử Chi bắt đầu luống cuống.
“Tử Chi tướng quân!” Tô Tần khẽ mỉm cười. “Thường có câu, hoạ vô đơn chí, trong thiên hạ không có chuyện gì không thể xảy ra. Trị nước cũng vậy, mà cầm quân cũng thế, thượng sách là phòng hoạ khi chưa xảy ra, không thể loại trừ bất kỳ khả năng nào.”
Lời Tô Tần chính là đạo lý thường tình trong nhân gian, Tử Chi nghe vậy, chỉ biết cúi đầu im lặng.
Yên Văn Công ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng đầu hỏi: “Vừa nãy Tô Tử có nhắc tới ‘nước không có kế sách lâu dài’, hẳn là ở đây?”
“Đúng vậy!” Tô Tần quay sang Văn Công. “Thiên hạ hiện nay, chỉ dựa vào thế và lực. Từ cổ chí kim, không có chuyện nhỏ ức hiếp lớn, yếu xâm phạm mạnh. Nước Yên không sợ Hồ phía đông, Địch phía bắc hay Trung Sơn, đều là vì những nước này thế yếu lực mỏng. Nước Yên không sợ người Triệu, vì Triệu Yên thế lực ngang nhau. Nước Yên tạm thời không sợ người Tề, vì Tề phía tây có Tam Tấn, phía bắc có Sở lớn mạnh, hiện tại không đủ sức để đánh lên phía bắc. Tuy nhiên, đây đều chỉ là tình thế tạm thời, chứ không phải viễn cảnh tương lai. Thánh quân trị nước không cầu bình an trước mắt, mà phải cầu sách lược lâu dài.”
“Tô Tử nói rất đúng!” Yên Văn Công nghe mà phấn khởi, vòng tay liên hồi. “Tô Tử có kế sách gì hay, xin hãy chỉ giáo!”
“Chỉ giáo thì không dám” Tô Tần cũng đáp lễ, xúc động mà nói. “Thảo dân cho rằng, từ thời Xuân Thu tới nay, liệt quốc thiên hạ chỉ dựa vào thế. Nước thế yếu chỉ mưu cầu tồn tại, nước thế mạnh lại muốn tranh hùng. Thiên hạ có bảy nước lớn, trong đó nước Yên thế yếu nhất. Duy có hai nước ngang sức ngang tài với Yên là Triệu và Hàn. Ngoài hai nước này, nếu Yên giao chiến với Tề, hay với Ngụy, với Tần, với Sở, cũng đều nắm chắc phần thua. Nước Yên chỉ sợ người Tề, không sợ ba nước Tần, Ngụy, Sở, là vì có nước Triệu chắn ở phía trước, nên có được địa lợi.”
Nghe tới đây, Yên Văn Công như chợt bừng tỉnh, gật gù: “Nghe Tô Tử nói, kế sách lâu dài của Yên chính là kết Triệu kháng Tề?”
Tô Tần khẽ lắc đầu: “Kết Triệu kháng Tề mới chỉ là kế sách trước mắt, không phải kế sách lâu dài!”
Yên Văn Công thoáng ngạc nhiên: “Xin Tô Tử chỉ rõ!”
“Kết Triệu kháng Tề có lẽ sẽ giải quyết được hoạ gần, cũng chính là hoạ Tề, song không thể giải quyết được hoạ xa, cũng chính là hoạ Tần, Ngụy, Sở. Do vậy, Tô Tần cho rằng, kế sách lâu dài của Yên chính là hợp tung!”
“Hợp tung?” Yên Văn Công vuốt râu, trầm ngâm. “Hợp thế nào?”
“Kết minh với Triệu, Hàn!” Tô Tần trầm giọng nói. “Ba nước Yên, Triệu, Hàn thế lực tương đương, nếu đứng đơn độc một mình, sẽ bị ức hiếp. Nếu ba nước hợp tung, bện thành một sợi thừng, kết thành một tấm sắt, thử hỏi chúa thượng, liệu có nước lớn nào dám vọng động?”
Bản ý của Tô Tần là hợp tung Tam Tấn, song lúc này cố tình không nhắc tới Ngụy, là vì trong mắt Yên Văn Công, Ngụy vẫn là nước lớn thế mạnh, không thể xếp ngang hàng với nước Yên.
Yên Văn Công, Tử Chi rõ ràng đều nghe thấy lọt tai, bèn đưa mắt nhìn nhau, gật đầu đồng tình.
“Tuy nhiên,” Tô Tần lại đổi giọng, “nước Yên an phận vô lo tuy là kế sách lâu dài, song lại không phải là mưu kế xa xôi của Tô Tần.”
Yên Văn Công ngạc nhiên, nhổm người về phía trước hỏi: “Dám hỏi mưu kế xa xôi của Tô Tử là gì?”
“Mưu kế xa xôi của Tô Tần chính là tìm kiếm một con đường bình an lâu dài, mạnh yếu cùng tồn tại, thiên hạ trị an trường cửu.”
“Điều này thực mới mẻ!” Yên Văn Công tỏ ra hào hứng. “Tô Tử hãy nói rõ!”
“Chúa thượng xin hãy lắng nghe!” Tô Tần dõng dạc nói. “Người Yên không sợ Hồ, không sợ Nhung Địch, không sợ Trung Sơn, bởi lẽ so với Yên, những nước này đều ở thế yếu. Tuy nhiên, nếu như Hồ, Nhung Địch, Trung Sơn kết thành liên minh, hình thành một khối kiên cố thì nước Yên có dám không sợ chăng? Nói cách khác, nếu ba nước Yên, Triệu, Hàn kết minh, các nước mạnh Tề, Sở, Tần, Ngụy liệu có dám không sợ chăng? Bốn nước mạnh đều sợ, liệu có dám tuỳ tiện khởi binh chăng? Từ cổ chí kim, yếu vốn không dám động tới mạnh. Mạnh không tuỳ tiện khởi binh, thiên hạ sẽ không có chiến tranh. Thiên hạ đều không có chiến tranh, nước Yên cũng đâu còn mối lo bên ngoài? Do vậy, Tô Tần cho rằng, hợp tung vừa là kế sách lâu dài của nước Yên, cũng là con đường khiến thiên hạ trị an trường cửu.”
Yên Văn Công trầm ngâm hồi lâu, rồi vòng tay hướng vào Tô Tần nói: “Chí lớn của Tô Tử, quả nhân thực sự kính phục. Thiên hạ trị an trường cửu, vốn là điều quả nhân chỉ dám nghĩ tới trong mơ. Nay nghe Tô Tử nói vậy, có lẽ không phải là mơ nữa. Quả nhân có một thỉnh cầu, không biết ý Tô Tử ra sao?”
“Tô Tần xin cung kính lắng nghe.”
“Đường xa nghìn dặm, bắt đầu từ dưới chân. Nước Yên bang nhỏ thế yếu, nếu Tô Tử không chê, xin hãy bắt đầu từ đây!”
Thấy lão Yên Công lời lẽ chân thành, Tô Tần vô cùng cảm kích, đứng dậy khấu đầu mà nói: “Tô Tần khấu tạ chúa thượng coi trọng!”
Yên Văn Công đang định đáp lời, bỗng nhìn thấy lão nội thần đang đứng đợi ngoài cửa, bèn phẩy tay gọi vào.
Lão nội thần bước vào, bẩm báo: “Khởi bẩm chúa thượng, điện hạ cầu kiến!”
“Ồ, Tô Nhi tới rồi ư?” Yên Văn Công khẽ gật đầu. “Hôm nay là ngày giỗ mẫu hậu của Tô Nhi, ngươi hãy dẫn Tô Nhi tới cung Triệu phi trước!” Thấy lão nội thần lĩnh chỉ đi rồi, bèn quay sang nói với Tô Tần, Tử Chi. “Hôm nay là ngày giỗ của tiền phu nhân Triệu Cơ, dù sao cũng là tình nghĩa phu thê, quả nhân cũng nên tới thăm viếng. Bởi vậy chuyện này, đành để lúc khác bàn bạc tiếp!” Rồi quay sang Tử Chi. “Tử Chi, kế sách lâu dài của Tô Tử rất hợp với ý quả nhân, còn thực thi như thế nào, khanh và Tô Tử cứ bàn luận trước!”
Tử Chi khấu đầu nói: “Mạt tướng lĩnh chỉ.”
Triệu Cơ sinh tiền sống tại cung Cẩm Hoa, cách cung Minh Quang hơi xa. Thái tử Tô hăm hở theo lão nội thần đi một hồi lâu, thì thấy đã tới trước cung Cẩm Hoa. Thái tử Tô nhận ra là nơi mẫu hậu ở khi còn sống, thì sững lại, đang định lên tiếng hỏi thì lão nội thần đã bước lên một bước, vòng tay nói: “Điện hạ, mời!”
Thái tử Tô nhìn lão nội thần với ánh mắt khó hiểu, rồi cùng bước vào cửa cung.
Vừa tới chính điện, thái tử Tô lại lặng người lần nữa, bởi lẽ đập vào mắt hắn chính là bài vị của mẫu hậu Triệu Cơ. Song điều khiến hắn kinh ngạc hơn cả, đó là bên cạnh bài vị của Triệu Cơ còn có thêm một bài vị khác, bên trên viết rõ rành rành hai chữ “Cơ Ngư”.
Thái tử Tô sầm mặt xuống, quay sang lão nội thần xẵng giọng hỏi: “Chuyện này là thế nào?”
Lão nội thần vòng tay nói: “Khởi bẩm điện hạ, hôm nay là ngày giỗ mười năm của tiền phu nhân.”
Thái tử Tô chỉ tay vào bài vị bên cạnh, giận dữ nói lớn: “Bản cung muốn hỏi, là ai dám để bài vị của nghịch tặc ở nơi này!”
“Là quả nhân!” Giọng nói của Yên Văn Công bỗng vang lên ngay sát sau lưng.
Thái tử Tô vội quay đầu lại, sắc mặt có phần kinh hãi, vội quỳ xuống dập đầu: “Công phụ!”
“Cơ Tô!” Yên Văn Công chậm rãi bước vào trong điện, chẳng buồn nhìn hắn, chỉ nhìn đăm đăm vào bài vị của Vũ Thành Quân, nước mắt ứa ra, rồi cất giọng rành rọt. “Con không được phép gọi anh mình là nghịch tặc! Quả nhân mong con hiểu rõ sự thực này, Cơ Ngư là huynh trưởng của con, theo lý mà nói, ngôi thái tử là thuộc về Cơ Ngư!”
Thái tử Tô sắc mặt lúc đỏ lúc tái, ngỡ ngàng một lát, rồi cúi gập người, từ từ quỳ xuống trước bài vị.
Sau khi thực hiện xong một loạt nghi thức cung đình phiền tạp, trời đã nhập nhoạng tối.
Thái tử Tô cáo từ Yên Văn Công, bước lên xe ngựa, mau chóng trở về Đông cung.
Trong cùng một ngày, trước phải chịu sự chế giễu của Cơ Tuyết, sau lại bị Văn Công trách cứ, thái tử Tô đầy bụng hậm hực, chịu nhịn cho đến lúc trở về Đông cung, cuối cùng cũng có thể trút giận, cứ vớ được gì là quăng đập thẳng tay, tiếng đổ vỡ loảng xoảng trong đại sảnh cứ ầm ĩ liên hồi không dứt. Tần phi, cung nữ không hiểu thái tử Tô tức tối chuyện gì, sợ đến xanh mặt, không dám tới gần.
Đúng lúc này, quân uý Viên Báo bước vào, trông thấy cảnh tượng này, không nén nổi kinh hãi mà gọi: “Điện hạ?” Thái tử Tô hai tay bưng một chiếc thạp, đang định đập xuống, quay đầu nhìn thấy Viên Báo đứng trước cửa, bèn dừng lại, trừng mắt nhìn hắn hỏi: “Có việc gì?”
Viên Báo do dự một lát, rồi khẽ bẩm báo: “Tối qua gia phụ mừng thọ sáu mươi, mạt tướng...”
“Cút, cút ngay!” Thái tử Tô gầm lên. “Phường phản phúc, đáng lẽ ngươi phải cút đi từ lâu rồi mới phải, còn đứng đây làm gì cho chướng mắt!”
Viên Báo vô duyên vô cớ bị lăng nhục, mặt đỏ tía tai, sững sờ mất một lúc mới kịp định thần, vội vã lui ra. Hai chân còn chưa bước ra khỏi cửa chính, đã nghe thấy thái tử Tô quát với theo sau: “Cút luôn đi, đừng bao giờ quay lại nữa, cút đi càng xa càng tốt!”
Thấy thái tử không chút niệm tình những tháng năm cúc cung tận tuy bên yên ngựa, Viên Báo ứa nước mắt, bước chân sải rộng, cứ thế bước thẳng ra khỏi Đông cung, không một lần ngoảnh lại.
Hồi Thứ 37
Yên - Triệu liên minh, Tô Tần bái tướng
Hợp tung kết quả, Tần Công phá ngang
Tô Tần và Tử Chi bước ra khỏi cửa cung, đã có một cỗ chiến xa tứ mã chờ sẵn bên ngoài. Phu xe kê sẵn ghế giẫm chân, đứng hầu bên cạnh. Tử Chi vòng tay nói với Tô Tần: “Tại hạ phụng chỉ cùng Tô Tử bàn luận đại sự, nơi đây phức tạp, tại hạ kính mời Tô Tử tới một nơi yên tĩnh để bàn chuyện, mong Tô Tử đồng ý!”
“Cung kính không bằng tuân lệnh!” Tô Tần vòng tay đáp lễ.
“Tô Tử, mời!” Tử Chi lùi sang một bên, chỉ vào xe ngựa, đưa tay mời.
“Tướng quân mời lên trước!” Tô Tần đáp lễ.
Tử Chi mỉm cười, cầm tay Tô Tần cùng bước lên xe. Phu xe ra roi thúc ngựa, băng qua con phố lớn trước cung thành, lướt qua rất nhiều đại viện kín cổng cao tường, cuối cùng dừng lại trước một khu nhà kín đáo.
Tử Chi nhảy xuống trước, kê ghế giẫm chân, đích thân đỡ Tô Tần xuống xe, quay sang nói với phu xe: “Mời công tôn tới, nói là có khách quý!”
Phu xe không đáp tiếng nào, chỉ lẳng lặng quay xe, ra roi, lao đi mất hút.
Tô Tần đưa mắt nhìn, thấy phía trước là một trạch viện nông gia rất đỗi tầm thường, nhà cỏ tường đất, đã không có lầu trên cổng, cũng không thấy phòng bên cổng, càng không có môn nhân. Cánh cổng gỗ được đóng rất khéo léo, một chú chó xồm lông vàng vẫy đuôi sủa rối lên sau cánh cổng. Nhìn vẻ hưng phấn của chú chó, rõ ràng không hề có ý thù địch. Nghe tiếng chó sủa, cánh cửa nhà cỏ cót két mở, một bé gái tầm bốn, năm tuổi chạy ra, trông thấy Tô Tần, vội rụt trở vào, nấp sau cánh cửa, chỉ thò mỗi cái đầu nhỏ xíu ra nghiêng ngó. Lát sau, một thiếu phụ xinh đẹp trong trang phục người Hồ thoăn thoắt bước ra, vừa mở miệng định gọi, thấy có người lạ, thì hổ thẹn đỏ mặt, đưa tay lên che miệng, chậm rãi đi ra mở cổng, khép nép đứng sang một bên, khom lưng đứng đợi. Bé gái kia cũng chạy ra, sợ sệt nép sau lưng thiếu phụ.
Cánh cổng vừa mở, con chó đã cuống quýt nhảy phốc ra, quấn quýt bên chân Tử Chi. Tử Chi cúi xuống xoa đầu nó vài cái, rồi vòng tay nói với Tô Tần: “Tô Tử, mời!”
Tô Tần ngập ngừng bước vào trong nhà, đưa mắt nhìn quanh, thấy bên trong có ba dãy nhà, tuy không lộng lẫy xa hoa, song rất gọn gàng ngăn nắp, đồ đạc đầy đủ không thiếu thứ gì. Hai người bước vào phòng khách ngồi xuống, song ghế chủ vẫn để trống. Một lát sau, thiếu phụ khi nãy bưng trà lại, tiện tay dắt bé gái đi, trở xuống bếp chuẩn bị cơm rượu.
Tô Tần đang băn khoăn trong lòng, bên ngoài lại vang lên tiếng xe ngựa.
Tử Chi vội nói với Tô Tần: “Mau lên, công tôn tới rồi!”
Tô Tần không biết công tôn là ai, chỉ biết vội vã theo Tử Chi ra cổng nghênh đón. Còn chưa tới cổng, công tôn Khoái đã nhảy xuống xe, hối hả bước vào trong. Tử Chi bước lại đón, cười vang mà nói: “Công tôn đến nhanh quá!”
Cơ Khoái cũng cười đáp: “Chỗ tướng quân hiếm hoi lắm mới có khách tới, nay có khách quý, Cơ Khoái nào dám chậm trễ!” Rồi quay sang Tô Tần. “Tướng quân, vị này hẳn là khách quý?”
“Đúng vậy!” Tử Chi chỉ tay vào Tô Tần, nói với Cơ Khoái. “Để mạt tướng giới thiệu, vị này là Tô Tần, sĩ tử Lạc Dương nổi danh liệt quốc.” Lại chỉ vào Cơ Khoái, quay sang nói với Tô Tần. “Vị này là công tôn Khoái, trưởng tử của điện hạ!”
Nghe nói là trưởng tử của điện hạ, Tô Tần liền quỳ xuống định bái lạy, thì công tôn Khoái vội ngăn lại: “Tô Tử miễn lễ!”
Tô Tần đổi lạy sang vái, kính cẩn nói: “Tô Tần người Lạc Dương bái kiến công tôn!”
Cơ Khoái cũng đáp lễ: “Cơ Khoái bái kiến Tô Tử!”
Ba người trở lại phòng khách, Cơ Khoái cũng không đùn đẩy, ngồi ngay vào vị trí chủ. Tử Chi, Tô Tần cũng lần lượt ngồi xuống hai bên trái phải.
Cơ Khoái cười nói với Tô Tần: “Đúng là nể mặt Tô Tử! Nơi này của tướng quân, người bình thường còn lâu mới được bén mảng tới!”
“Ồ?” Tô Tần đưa mắt nhìn cách bài trí sơ sài xung quanh, vờ cười mà hỏi. “Dám hỏi công tôn, những người thế nào mới được tới đây?”
Cơ Khoái lại cười: “Theo Khoái biết, ở đất Yên, được bước vào cửa này mới có hai người, một là tại hạ, người còn lại chính là Tô Tử!”
Tô Tần lấy làm kinh ngạc: “Tại sao lại như vậy?”
“Bởi đây là tư gia của tướng quân!” Cơ Khoái cười đáp. “Tướng quân có một điều kỳ cục là xưa nay chưa từng đưa khách về nhà, trừ phi là tri kỷ!”
Tô Tần sửng sốt, quay đầu nhìn sang Tử Chi, dường như không dám tin: “Tư gia của tướng quân?”
Tử Chi mỉm cười, gật đầu nói: “Chính là hàn xá của tại hạ!”
Tô Tần kinh ngạc: “Vậy người vừa rồi...”
“Là tiện nội! Bé gái kia chính là tiểu nữ.”
“Tô Tử có điều không biết,” Thấy Tô Tần mắt tròn mắt dẹt, Cơ Khoái cười nói xen vào, “phu nhân của tướng quân không phải là nhân vật tầm thường, trước khi xuất giá, chính là hạt minh châu trên tay đại vương Đông Hồ!”
“Là công chúa người Hồ?” Tô Tần lại sững sờ kinh ngạc. “Công chúa tình nguyện sống trong gian nhà cỏ này ư?”
“Đâu còn cách nào khác!” Tử Chi nhún vai, nửa đùa nửa thật. “Ai bảo nàng ấy chấp nhận lấy một tên nghèo mạt rệp như Tử Chi đây!”
Tô Tần trong lòng kính phục bội phần, cảm khái thốt lên: “Đại tướng quân thân là dòng dõi quý tộc Yên thất, lại là quan lớn trong triều, vậy mà cuộc sống lại chất phác giản dị đến vậy. Nếu không phải tại hạ tận mắt chứng kiến, thực không dám tin!”
“Là tại hạ tự khoe xấu!” Tử Chi khẽ ôm quyền, tỏ vẻ áy náy. “Nhà cửa bần hàn nên ít có người ngoài tới thăm. Nay ở trong cung, nghe được cao luận của Tô Tử, tại hạ đoán Tô Tử không phải người ngoài, mới mạo muội đưa Tô Tử về đây!”
“Than ôi!” Tô Tần lắc đầu than thở. “Không phải tướng quân tự khoe xấu, mà là Tô Tần đáng chê cười. Không giấu tướng quân, Tô Tần chu du liệt quốc, gặp không ít đại quan quý tộc, không ai không ăn trắng mặc trơn, nhà cao cửa rộng, song tôn quý như đại tướng quân đây mà vẫn giữ được phẩm cách nhường này, thực nằm ngoài tưởng tượng của tại hạ!”
“Ồ!” Tử Chi thu lại nụ cười, cũng than thở mà rằng. “Tại hạ cũng là người bằng xương bằng thịt, làm gì có chuyện không thích ăn trắng mặc trơn? Có điều...” mắt nhìn xuống đất, sắc mặt buồn rầu, “Tô Tử có điều không biết, nước Yên đất đai cằn cỗi, thiên tai triền miên, dân chúng lầm than đói khổ, sống đời cơ cực, rất nhiều nhà thậm chí còn không có cơm ăn, Tử Chi ngày ngày chứng kiến mà lòng đau như cắt. Không giấu Tô Tử, so với bách tính, cuộc sống của tại hạ đã là quá xa hoa!”
Có lẽ cũng là lần đầu được nghe Tử Chi dốc bầu tâm sự, Cơ Khoái vô cùng xúc động, lập tức thu lại nụ cười, cúi đầu tư lự.
Tô Tần kính nể bội phần, ôm quyền vái mà nói: “Tướng quân tâm niệm đến nỗi khổ của bách tính, thực là phúc của người Yên!”
“So với Tô Tử,” Tử Chi cũng đáp lễ, “tại hạ thực lấy làm hổ thẹn. Điều tại hạ nghĩ đến, chẳng qua chỉ là nỗi thống khổ của người Yên, còn điều Tô Tử nghĩ đến, lại là phúc lợi của thiên hạ. Một bên là người Yên, còn một bên là thiên hạ, nếu đem so với nhau, chẳng phải chí khí của tại hạ đã thua xa Tô Tử rồi ư?”
“Là tướng quân đã đánh giá cao Tô Tần rồi! Tô Tần chẳng qua chỉ ba hoa ngoài miệng, còn tướng quân đã thực sự làm được. Có tướng quân, hợp tung đã có hy vọng, bách tính đã có hy vọng, thiên hạ đã có hy vọng!”
“Tạ ơn Tô Tử quá khen!” Tử Chi vái tạ Tô Tần, quay sang Cơ Khoái. “Công tôn, chúng ta hãy cùng bàn chính sự!”
Cơ Khoái đang mải suy nghĩ, chợt nghe gọi đến tên thì giật mình, ngước nhìn Tử Chi, ngơ ngác không biết nói gì.
Tử Chi cười nói: “Mạt tướng mời công tôn tới, là muốn cùng Tô Tử bàn luận kế sách lâu dài của nước Yên.”
“Chuyện này không khó!” Cơ Khoái gật đầu. “Có điều, trước hết tướng quân hãy đồng ý với Cơ Khoái một việc!”
“Công tôn cứ nói!”
“Cơ Khoái có ý muốn làm láng giềng của tướng quân, dựng một căn nhà cỏ ở đây, kích thước, hình thù giống hệt nhà cỏ của tướng quân, không biết ý tướng quân thế nào?” Cơ Khoái nhìn Tử Chi với ánh mắt chân thành.
“Ồ...” Tới lượt Tử Chi ngẩn người sửng sốt.
“Sao kia?” Cơ Khoái lo lắng. “Lẽ nào tướng quân không muốn làm láng giềng với Cơ Khoái?”
“Không phải, không phải!” Tử Chi vội thanh minh. “Là mạt tướng được yêu mến quá sinh thấp thỏm mà thôi!”
“Nói vậy là tướng quân đã đồng ý rồi!” Cơ Khoái mừng ra mặt.
“Vâng, vâng, vâng!” Tử Chi luôn miệng đáp. “Đợi mạt tướng qua cơn bận rộn này, sẽ cho gọi thợ mộc tới dựng nhà!”
“Được!” Cơ Khoái quay sang Tô Tần. “Tô Tử, nghị sự được rồi!”
Tô Tần đang định trả lời, chợt nghe bên ngoài vọng lại tiếng bước chân, phu nhân của Tử Chi đã chuẩn bị xong rượu thịt, đích thân bưng lên. Ba người vừa uống rượu, vừa bàn bạc rôm rả, mỗi lúc càng thêm ý hợp tâm đầu, loáng cái trời đã sập tối lúc nào không hay. Tử Chi sai người châm đèn, tiếp tục trò chuyện. Ba người cứ thế bàn luận say sưa tới tận khi trời sáng, chỉ đến lúc nghe thấy tiếng chuông thượng triều văng vẳng vọng lại, mới dừng câu chuyện.
Xe ngựa đã đợi sẵn ngoài cổng, ba người rửa mặt xong xuôi, vội vã vào cung.
Yên Văn Công ban chỉ trước điện, tấn phong Tô Tần làm khách khanh, ban hai bộ quan phục, một toà trạch viện, một cỗ xe ngựa, ba trăm lượng vàng, mười lăm nô bộc. Nghĩ tới Tử Chi vẫn ở trong nhà cỏ vách đất, công chúa Đông Hồ không có lấy một nữ tỳ, Tô Tần lấy làm hổ thẹn, dập đầu ba lần từ chối, song Văn Công không ân chuẩn, truyền chỉ bãi triều.
Quần thần đã ra về hết, Yên Văn Công chỉ giữ lại Tô Tần, đưa tới thư phòng, bàn tiếp về đại thế thiên hạ và sách lược hợp tung. Quân thần hai người bàn luận tới tận giờ Thân buổi chiều, Tô Tần thấy Văn Công đã mệt, bèn thi lễ cáo từ. Tô Tần vừa ra khỏi cửa điện, đã thấy lão nội thần đợi sẵn ngoài cửa, dẫn Tô Tần tới trạch viện mà quân chủ vừa ban tặng.
Đó là một toà đại viện cao lớn rộng rãi, vốn là phủ của Quý tư đồ trước đây, nằm giữa con phố lớn chạy qua trước cung điện, là nơi tập trung phủ đệ của các đại quan quý tộc. Quý Vỹ cũng được liệt vào dạng hiển hách trong hào môn. Sau khi Quý Vỹ qua đời, Quý Thanh giải tán kẻ hầu người hạ, chuyển hết gia sản cho một thuộc hạ, cũng là bạn thân của cha là Lôi Trạch. Mấy hôm trước, Vũ Thành Quân đánh thành, cả nhà Lôi Trạch làm nội ứng, sau khi sự việc bại lộ, nam giới trong nhà đều chết ở cổng thành đông, đàn bà con gái chưa kịp tự vẫn đều bị bắt làm nô tỳ cho nhà quan, gia sản bị tịch biên toàn bộ, còn toà phủ trạch ban thưởng cho Tô Tần.
Lão nội thần và Tô Tần bước vào trong viện, quản gia do lão nội thần phái tới nghe thấy tiếng chân bước, vội vỗ tay ra hiệu, mười bốn gia nô gồm sáu nam tám nữ lập tức chạy ra, tính cả quản gia vừa đủ mười lăm người, đồng loạt quỳ sụp xuống đất.
Lão nội thần sai người khiêng hai chiếc hòm lại, một hòm là quan phục, một hòm là ba trăm lượng vàng, mở cả hai hòm ra cho Tô Tần kiểm tra.
Đúng vậy! Bày ngay trước mặt Tô Tần chính là phú quý, thứ phú quý mà Tô Tần đã tìm kiếm suốt bao năm qua!
Phú quý nói tới là tới, lại tới một cách giản đơn nhanh chóng đến nhường này.
Tô Tần nhìn hai chiếc hòm, nhìn mười lăm gia nô đang quỳ dưới đất, lại nhìn hậu hoa viên và trạch viện rộng lớn xa hoa, chẳng khác nào đang ngủ mơ. Thậm chí Tô Tần không hề nghe thấy lão nội thần đang sai bảo đám nô bộc những gì, chỉ mơ hồ nghe thấy ông ta đang lớn tiếng ồn ào gì đó, còn đám nô bộc dập đầu lia lịa. Sau đó, lão nội thần quay sang Tô Tấn vòng tay cáo từ, quay người bước đi.
Tô Tần vô thức tiễn lão nội thần ra khỏi cổng phủ, lại đứng ngẩn ngơ bên cổng một hồi, mới quay trở vào trong viện, thấy quản gia và đám nô bộc vẫn đang quỳ dưới đất, lấy làm kinh ngạc, vội xua tay nói: “Mau lên, đứng dậy đi, mọi người quỳ mãi ở đó làm gì?”
Quản gia tạ ơn xong, quay sang phía đám nô bộc ra lệnh: “Chúa công đã có lời, các ngươi mau đứng dậy. Bắt đầu từ hôm nay, bổn phận của các ngươi là hầu hạ chu đáo chúa công. Ai to gan biếng nhác, sẽ trừng trị theo gia pháp!”
Đám nô bộc tạ ơn xong, quản gia bèn sai mấy gia đinh to khoẻ khiêng hai chiếc hòm về phòng, rồi đứng sang bên cạnh chờ lệnh.
Tô Tần ngồi im lặng trong sảnh một lúc, bỗng sực nhớ ra một việc, bèn nói với quản gia: “Mang theo vàng, chuẩn bị xe!”
“Xin hỏi chúa công, mang theo bao nhiêu vàng là đủ?” Quản gia nhận ra chủ nhân mới được phú quý, vẫn chưa kịp quen, sau một thoáng ngẩn ngừ, cẩn thận hỏi lại một câu.
“Tuỳ!” Tô Tần đáp liền.
“Ồ...” Quản gia có vẻ lúng túng, khẽ chau mày.
Tô Tần lấy ra một chiếc túi từ trong ống tay áo, đưa cho quản gia: “Đếm xem trong túi có bao nhiêu đồng xu, thì lấy bấy nhiêu lượng vàng!”
Quản gia tuân lệnh, hai tay đỡ lấy túi tiền, quay người bước đi. Một lát sau, ông ta quay trở lại, dẫn theo hai tỳ nữ trẻ tuổi, mỗi người bưng một chiếc khay, bên trên là một bộ quan phục. Quản gia cúi gập lưng nói: “Khởi bẩm chúa công, trong túi có tổng cộng một trăm đồng xu, tiểu nhân đã chuẩn bị đủ một trăm lượng vàng, chuyển lên xe rồi. Nếu chúa công muốn đi ngay, xin hãy thay trang phục!”
Tô Tần nhìn bộ quan phục mới tinh, lại nhìn quần áo trên người, thấy đã cũ sờn hoen ố, thực không tương xứng với toà trạch viện xa hoa và cỗ xe tứ mã. Đắn đo một lát, Tô Tần cười khẽ, lắc đầu mà nói: “Mặc quen rồi, không thay tốt hơn. Đi thôi!” Lời vừa dứt, chân đã bước thẳng ra sân.
Quản gia vội bước theo sau, nhanh nhảu tiến tới trước cỗ xe tứ mã do quân chủ ban thưởng, đặt ghế giẫm chân ngay ngắn, đỡ Tô Tần lên xe, còn mình nhảy lên chỗ dành cho người đánh ngựa ở phía trước, quay đầu lại hỏi: “Chúa công muốn đi đâu?”
“Quán trọ Lão Yên Nhân!”
Trời đã nhập nhoạng, bốn phía bảng lảng mịt mờ.
Tuy dinh thự mới nằm trên cùng một con phố với quán trọ Lão Yên Nhân, song cũng phải đi một đoạn khá xa mới tới. Do chiến loạn vừa qua, suốt dọc đường đi, Tô Tần nhìn thấy rất nhiều hộ dân đang làm tang sự, chốc chốc lại nghe văng vẳng tiếng than khóc bi thương.
Thấy phía trước đã là quán trọ Lão Yên Nhân, Tô Tần phẩy tay ra hiệu dừng lại, nhảy xuống xe, nói với quản gia: “Ngươi chờ ở đây, để một mình ta vào trong!”
Tô Tần chậm rãi tiến vào trong quán. Vừa bước qua cổng, đã giật mình kinh hãi, bởi lẽ trong nhà cũng đầy vẻ tang thương. Giữa sảnh đường đặt một cỗ quan tài sơn đen, phía sau bày linh vị, không có tiếng khóc than, chỉ có ba thanh niên mặc hiếu phục quỳ trước linh đường.
Tô Tần vội vã rảo lên vài bước, tiến lại trước linh vị, nhìn vào bài vị, mới biết lão trượng đã qua đời, bỗng chốc đờ người chết lặng, hồi lâu sau mới định thân lại được, quỳ sụp xuống trước linh vị, dập đầu vài cái, nước mắt tuôn rơi.
Quỳ đờ đẫn hồi lâu, Tô Tần bèn đứng dậy, trở ra ngoài. Lát sau, mang theo hòm lễ vật quay trở vào trong, lại lạy thêm mấy lạy, rồi lần lượt lấy từng đĩnh vàng trong hòm ra, xếp thành một hình chữ “phẩm” thực lớn. Tiểu nhị quỳ bên cạnh trợn tròn hai mắt, kinh ngạc nhìn sững vào đống vàng sáng loá, hích nhẹ cùi tay vào Viên Báo.
Viên Báo và tráng sĩ cùng tiến lại, lần lượt quỳ xuống bên cạnh Tô Tần.
Tô Tần mắt đẫm lệ, quay sang tiểu nhị: “Mang rượu lại đây, tại hạ muốn uống vài chén cùng lão trượng.”
Tiểu nhị bê hũ rượu lại, Viên Báo lấy ra hai chiếc chén đồng của lão trượng.
Tô Tần rót đầy chén, nâng lên nói: “Lão trượng, tại hạ xin được đối ẩm với người một chén, cung kính cạn trước!” Rồi uống một hơi cạn chén, đoạn tưới rượu trong chén còn lại xuống trước linh vị.
Tô Tần cứ thế một mình đối ẩm cùng lão trượng, cạn liền ba tuần. Im lặng một chốc, Viên Báo bỗng cất giọng bi thiết, khe khẽ ngâm nga
“Cây non Yên xanh xanh chừ,
Người ấy ra đi.
Cây non Yên khô úa chừ,
Sao chẳng thấy về...”
Viên Báo ngâm đi ngâm lại hai câu dân ca cổ xưa, Tô Tần và tráng sĩ nghe mà nước mắt đầm đìa, không kìm nổi lòng, cũng ngâm theo:
“Cây non Yên xanh xanh chừ,
Người ấy ra đi.
Cây non Yên khô úa chừ,
Sao chẳng thấy về...”
Không biết ba người đã ngâm nga bao nhiêu lâu, Tô Tần mới gạt nước mắt, quay đầu lại hỏi: “Viên tướng quân, lão trượng ra đi thế nào?”
Viên Báo sụt sùi nói: “Nghe nhân huynh đây nói, đã tử chiến ở cổng đông.”
Không đợi Tô Tần hỏi tới, tráng sĩ đã kể lại đầu đuôi câu chuyện lão trượng dũng cảm xả thân hộ thành, rồi cảm thán mà nói: “Tại hạ chu du khắp nơi, gặp không ít anh hùng hào kiệt, song tới nay, người thực sự khiến tại hạ cảm kích tận đáy lòng, chỉ có lão trượng!”
“Đúng vậy!” Tô Tần gật đầu nói. “Lão trượng là người Yên, là một người Yên đích thực!” Lát sau, lại quay sang tráng sĩ. “Lần gặp mặt trước, do có việc gấp, tại hạ chưa kịp hỏi rõ tôn tính đại danh, quê quán của tráng sĩ?”
Tráng sĩ vòng tay nói: “Tại hạ từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, không biết danh tính, lớn lên ở Phiên Ngô đất Triệu, thuở nhỏ gặp dị nhân truyền cho dị thuật, có thể phi dao khoá họng trong khoảng ba mươi bước, người Phiên Ngô gọi tại hạ là Trâu Phi Đao, hẳn là tổ tiên của tại hạ họ Trâu!”
Tô Tần kinh ngạc hỏi: “Tráng sĩ đã gặp dị nhân nào? Có còn nhớ chăng?”
Trâu Phi Đao trầm tư một lát, rồi gật đầu nói: “Là một người trung niên, vận trang phục nâu, võ nghệ cao cường, tinh thông kiếm thuật. Ông gặp tại hạ đúng vào mùa đông lạnh giá, khi đó tại hạ ăn mặc phong phanh, sống trong miếu sơn thần, toàn thân run rẩy vì giá lạnh. Ông đã cởi áo trên người mặc cho tại hạ, lại cho tại hạ ăn, sau đó truyền thụ cho thuật phi đao, giảng giải thuyết kiêm ái cho tại hạ, dặn tại hạ phải hành hiệp trượng nghĩa, đối xử lương thiện với mọi người!”
Nghe thấy hai chữ “kiêm ái”, Tô Tần đã chắc tới tám, chín phần, gật đầu mà rằng: “Người tráng sĩ gặp, hẳn là đệ tử Mặc gia. Ông ấy không xưng danh tính ư?”
Tráng sĩ lắc đầu nói: “Ông ấy không chịu nói, chỉ bảo tại hạ gọi là ‘tiên sinh’. Tới khi tại hạ học xong thuật phi đao, tiên sinh cũng ra đi. Lúc đó tại hạ trẻ người non dạ, chỉ biết học kỹ nghệ, mà không biết tìm hiểu cho cặn kẽ.”
“Vậy tráng sĩ vì đâu lại gặp Giả tiên sinh?”
“Cách đây không lâu, tại hạ đang biểu diễn ngón phi đao khoá họng trên phố Hàm Đan thì gặp Giả tiên sinh. Tại hạ rất kính phục tiên sinh. Tiên sinh tặng cho tại hạ một con ngựa tốt, nhờ tại hạ mang thư tới cho Tô Tử, nói là thư này liên quan tới chuyện sinh tử tồn vong của ngàn vạn người. Tại hạ chẳng hỏi lấy một câu, lập tức lên ngựa đi ngay.”
“May mà tráng sĩ tới kịp!” Tô Tần vòng tay tạ ơn. “Dám hỏi tráng sĩ, về sau có dự định gì không?”
“Còn dự định gì được nữa? Trở lại Hàm Đan tiếp tục mãi võ thôi!”
“Mãi võ chỉ có thể kiếm sống qua ngày, không phải là việc của tráng sĩ thực thụ. Lẽ nào tráng sĩ chưa từng nghĩ tới điều gì khác, ví như sự nghiệp nhân sinh lẫy lừng?”
“Lẫy lừng?” Trâu Phi Đao tròn mắt nhìn Tô Tần. “Là sự nghiệp gì kia?”
“Hợp tung!”
“Thế nào là hợp tung?” Trâu Phi Đao, Viên Báo không hẹn mà cùng hỏi một câu.
Tô Tần chậm rãi giải thích: “Hợp tung, chính là ngăn chặn chinh phạt, chính là khiến dân chúng hoà thuận, chính là đối xử lương thiện với người khác, thi hành đại đạo kiêm ái.”
Nhìn vào một trăm đĩnh vàng xếp ngay ngắn trước mặt, Trâu Phi Đao biết Tô Tần đã được Yên Công trọng dụng, bèn dõng dạc nói: “Tại hạ nguyện theo Tô Tử, thực thi đại nghiệp hợp tung.”
“Tô tiên sinh,” Viên Báo do dự một lát, hỏi khẽ, “tại hạ có thể theo cùng không?”
Tô Tần ngạc nhiên nhìn Viên Báo: “Viên tướng quân chẳng phải vẫn là người của điện hạ ư?”
“Điện hạ...” Hai giọt lệ bỗng ứa ra bên khoé mắt Viên Báo, “điện hạ đã cách chức tại hạ, đuổi đi rồi!”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, rồi gật đầu đáp lời: “Tướng quân đồng ý theo tại hạ, thực quá tốt! Đợi cho lệnh tôn mồ yên mả đẹp, tướng quân hãy cùng Trâu huynh tới phủ của tại hạ, ba huynh đệ chúng ta đồng tâm hiệp lực, thực thi đại nghiệp hợp tung!”
Viên Báo đưa ống tay áo lên lau nước mắt: “Tạ ơn tiên sinh thu nhận!”
Người Yên vừa trải qua những ngày u ám do loạn Vũ Dương gây nên, lại có ngay tin vui tới cửa. Vào một buổi chiều đẹp trời, nắng êm gió nhẹ, một đoàn sứ giả gồm vài chục cỗ xe ngựa chở lễ vật của nước Triệu rầm rập tiến vào Kế Thành từ cổng nam, đi thẳng vào dịch quán liệt quốc cách cung Yên không xa.
Sáng hôm sau, đặc sứ của Triệu Túc Hầu là Lâu Hoãn lên triều, trước tiên thay mặt Triệu Hầu chúc Yên Công bình an, tiếp đó gửi lời tạ lỗi tới nước Yên về chuyện Phụng Dương Quân gây chiến ở biên giới, đồng thời dâng tặng hậu lễ, bày tỏ mong muốn kết minh ước láng giềng hoà mục với nước Yên.
Sau khi sứ Triệu thoái triều, Yên Văn Công lập tức triệu tập trọng thần tới cung Minh Quang nghị sự. Do kế sách hợp tung của Tô Tần sớm đã được mọi người biết tới, nên quân thần Yên thất nhanh chóng nhất trí, đáp lễ nước Triệu, thực hiện hợp tung. Tô Tần tấu xin cho công tôn Khoái làm đặc sứ, mình làm phó sứ, Viên Báo làm hữu tướng quân, song Văn Công không nghe, hạ chỉ lệnh cho Tô Tần làm đặc sứ, công tôn Khoái làm phó sứ, Viên Báo làm hữu tướng quân, điều động trăm cỗ xe ngựa, năm trăm kỵ mã tinh nhuệ, để tăng thanh thế.
Văn Công thoái triều trước, để điện hạ đứng ra chủ trì.
Điện hạ giữ lại những triều thần có liên quan như Tô Tần, Tử Chi, Cơ Khoái tới thiên điện tiếp tục bàn luận chi tiết về việc đi sứ sang Triệu, tới giờ Ngọ mới bãi triều.
Tô Tần hăm hở bước ra khỏi cửa cung, đang định đi xuống, bỗng thấy bên cạnh có một người bước ra, vòng tay vái chào: “Tô Tử xin dừng bước!”
Tô Tần nhìn sang, nhận ra cung chính của cung Cam Đường, vội vòng tay đáp lễ: “Tô Tần bái kiến cung chính!”
“Phu nhân có lời mời!”
Tô Tần theo cung chính tới cung Cam Đường, cung chính mời Tô Tần đợi ở thiên điện, còn mình vào bẩm báo.
Đợi đúng nửa canh giờ, cung chính mới quay trở lại thiên điện, vòng tay nói với Tô Tần: “Phu nhân có chỉ, mời Tô Tử tới hậu hoa viên thưởng lãm hoa đào!”
Nước Yên nằm ở phương bắc rét mướt, năm nay mùa xuân lại lạnh giá kéo dài, nên hoa đào mãi tới tháng ba mới nở. Tô Tần theo cung chính đi tới rừng đào nằm ở một góc hậu hoa viên, từ xa đã thấy hoa đào nở rộ khắp vườn, sắc hồng rực rỡ. Tại đình hóng mát trong vườn, Yên Văn Công và Cơ Tuyết đang ngồi trên chiếu, tỳ nữ Xuân Mai đứng hầu bên cạnh.
Vườn đào buổi chiều nắng ấm. Nhìn thấy Văn Công ở đó, Tô Tần không khỏi khâm phục Cơ Tuyết. Tô Tần sắp phải lên đường đi sứ, đương nhiên rất mong được gặp mặt Cơ Tuyết. Tuy nhiên, dù là Tô Tần hay Cơ Tuyết, đều không có lý do chính đáng để gặp nhau. Cơ Tuyết mời Tô Tần và Văn Công cùng tới thưởng hoa đào, thực là một chủ ý vô cùng tuyệt diệu.
Tô Tần rảo bước lên phía trước, quỳ xuống dập đầu hô: “Vi thần khấu kiến chúa thượng, khấu kiến phu nhân!”
Văn Công mỉm cười, chỉ vào vị trí khách trước mặt: “Ái khanh miễn lễ, mời ngồi!”
Tô Tần tạ ơn, khoanh chân ngồi xuống chỗ ngồi, đưa mắt nhìn Văn Công, rồi lại chuyển ánh nhìn sang Cơ Tuyết đang ngồi bên cạnh Văn Công. Cơ Tuyết xiêm y trắng muốt, thêu điểm xuyết mấy đoá hoa nhỏ xíu màu hồng phấn, hệt như những búp hoa đào đang nở rộ khắp vườn, thấy Tô Tần nhìn sang, bèn mỉm một nụ cười rạng rỡ, đúng là nhan sắc tựa hoa đào, trông khác hẳn thường nhật, yêu kiều hơn không biết bao nhiêu lần.
Yên Văn Công cũng đưa mắt ngắm nhìn Cơ Tuyết, càng nhìn càng yêu, rồi quay sang Tô Tần, cười vang mà nói: “Không giấu ái khanh, mấy năm qua, lần đầu tiên quả nhân thấy ái phi vui vẻ đến vậy!”
Tô Tần ngoảnh mặt quay đi, nhìn ra phía vườn đào, nói: “Là bởi hoa đào đẹp quá!”
Cơ Tuyết cất tiếng cười trong vắt, buột miệng ngâm nga:
“Đào tơ mơn mởn,
Hoa nở rực hồng.
Nàng ấy theo chồng,
Yên bề gia thất.”
Bài thơ “Đào yêu” này xuất phát từ “Chu phong”, là một trong những bài mở đầu của ba trăm thiên “Thi”, nói về người thiếu nữ xuất giá trong mùa đào nở rộ cùng với niềm ước ao tình cảm vợ chồng ân ái, hạnh phúc hài hoà. Bài thơ này, Tô Tần và Yên Văn Công đều đã thuộc làu. Tuy nhiên, nghe Cơ Tuyết ngâm nga vào lúc này, lại mang một phong vị khác hẳn. Tô Tần, Văn Công mỗi người có một cách lĩnh hội, mỗi người có một nỗi bùi ngùi, bất giác cũng ngâm nga theo Cơ Tuyết:
“Đào tơ mơn mởn,
Trái đào đơm đầy.
Nàng ấy xuất giá,
Hạnh phúc vui vầy.
Đào tơ mơn mởn,
Lá xanh rậm rì.
Nàng ấy vu quy,
Gia đình hoà thuận. (1)
Mọi người ngâm xong, Cơ Tuyết vòng tay quay sang Tô Tần, Văn Công, chậm rãi nói: “Năm nay xuân lạnh, hoa đào trong vườn bắt đầu nở từ mấy hôm trước, hôm nay vừa hay nở rộ, thích hợp để thưởng lãm. Thần thiếp phúc mỏng, không dám hưởng một mình, nên có nhã ý mời chúa thượng, Tô Tử tới đây cùng thưởng hoa!” Rồi quay sang Văn Công. “Chúa thượng, chớp mắt, thần thiếp gả tới đất Yên đã bảy năm rồi. Nay gặp Tô Tử, thần thiếp ngỡ như thấy mình được trở về Lạc Dương, gặp gỡ người thân thích. Thần thiếp đã lâu không động đến đàn cầm, nay gặp người thân, đối diện với vườn đào rực rỡ, thần thiếp bỗng nhiên khởi hứng, nguyện vì chúa thượng, nguyện vì Tô Tử, nguyện vì những đoá hoa đào, xin gảy tặng một khúc nhạc, để trợ hứng!” Rồi quay sang Xuân Mai ra lệnh. “Bày đàn!”
Xuân Mai kê giá, bày đàn ngay ngắn. Cơ Tuyết hạ bàn tay ngọc, lướt nhẹ trên dây. Tiếng đàn ngân nga, khác nào gió xuân phơ phất. Cơ Tuyết khép mắt lại, khẽ nhấc tay lên, điều hoà hơi thở, rồi chậm rãi lướt phím vuốt dây, không thấy dây đàn động, chỉ nghe thấy âm thanh dìu dặt, một khúc “Lưu thuỷ” cất lên du dương, như giãi bày như tâm sự, như than thở như nỉ non, giao hoà làm một với ngày xuân, tình xuân.
Nhờ vào công phu tu luyện nhiều năm trong Quỷ Cốc, Tô Tần vừa nghe đã hiểu, đây không đơn thuần chỉ là tiếng đàn, mà là nỗi lòng của Cơ Tuyết. Cơ Tuyết đang mượn tiếng đàn để giãi bày tâm sự, những luyến ái âm thầm, những ý tình nồng nhiệt, đều được thổ lộ qua mấy sợi dây đàn, khiến Tô Tần nghe mà mặt nóng bừng bừng, tim đập thổn thức, liếc trộm sang Yên Văn Công, thấy ông ta không hề hay biết, hai ngón tay vẫn lên xuống nhịp nhàng theo tiết tấu, khẽ gõ nhịp cho Cơ Tuyết. Văn Công tuy thông âm luật, song không hiểu tiếng lòng Cơ Tuyết, do vậy nhịp gõ của ông thường không chuẩn. Tô Tần nhìn rõ mồn một, song cũng không dám tỏ ý, chỉ ngồi ngay ngắn trên chiếu, cố gắng che giấu hơi thở đã có phần gấp gáp.
Cơ Tuyết gảy xong một khúc, hai tay lại lướt nhẹ trên dây đàn, dư âm văng vẳng không tan.
Yên Văn Công thấy Cơ Tuyết đã gảy xong, vỗ tay nói: “Ái phi cầm nghệ tuyệt diệu, quả nhân nghe như tiếng nhạc tiên!”
Cơ Tuyết khẽ mỉm cười, vòng tay về phía Yên Văn Công: “Tạ ơn chúa thượng hậu ái!” Quay sang Tô Tần, thấy Tô Tần vẫn chìm đắm trong tiếng nhạc, thì khẽ gọi. “Tô Tử!”
Tô Tần giật mình choàng tỉnh, sững sờ mất một thoáng, rồi mới vòng tay khen ngợi: “Tiếng đàn của phu nhân đã có thể sánh ngang với tiên sinh rồi!”
“Tiên sinh?” Cơ Tuyết thoáng ngạc nhiên. “Tô Tử muốn nói đến Quỷ Cốc tiên sinh ư?”
“Không!” Tô Tần lắc đầu. “Là cầm sư!”
Nghe nhắc tới cầm sư, Cơ Tuyết trong lòng xúc động, khẽ giọng hỏi: “Tiên sinh... có khoẻ không?”
“Khởi bẩm phu nhân,” Tô Tần trầm giọng đáp, “tiên sinh đã quy tiên rồi!”
“A?” Cơ Tuyết bàng hoàng kinh hãi. “Tiên sinh ra đi như thế nào?”
Tô Tần kể vắn tắt lại một lượt những chuyện xảy ra ở Hàm Dương trong mấy năm qua, Cơ Tuyết, Xuân Mai nghe mà sụt sùi buồn bã, Văn Công cũng lệ nhoà hai mắt.
Thương cảm một hồi, Cơ Tuyết lại ngẩng đầu lên, mở to đôi mắt đẫm lệ nhìn Tô Tần, chuyển sang chuyện khác: “Nghe chúa thượng nói, Tô Tử muốn đi Hàm Đan hợp tung, dám hỏi Tô Tử, bao giờ lên đường?”
“Khởi bẩm phu nhân,” Tô Tần vòng tay nói, “ngày kia đại cát, vi thần dự định giờ Thìn sẽ khởi hành!”
Cơ Tuyết cúi đầu, im lặng một hồi, lại ngẩng lên nhìn thẳng vào Tô Tần, lời đầy ẩn ý: “Nếu Tô Tử có thể giúp ba nước Yên, Triệu, Hàn hợp tung, vừa có lợi cho ba nước, vừa có lợi cho thiên hạ, càng có lợi cho nước Yên. Có điều, nước Yên vừa trải qua nội loạn, nguyên khí tổn thương nghiêm trọng, chúa thượng long thể đang chờ bình phục, còn điện hạ thì...” Ngập ngừng một lát, nói tiếp. “Tô Tử, thôi không nhắc tới chuyện này nữa. Nước Yên không thể thiếu Tô Tử. Lần này Tô Tử ra đi, dù thành công hay không, đều phải vẹn toàn trở lại nước Yên, Tuyết Nhi...” chợt như nhận ra mình đã lỡ lời, vội vàng sửa lại, “bản cung nhất định sẽ cùng chúa thượng đến bên bờ Dịch Thuỷ nghênh đón, mở tiệc tẩy trần cho Tô Tử!”
Tô Tần trong lòng hiểu rõ, bèn đứng dậy, dập đầu đáp: “Tô Tần tạ ơn phu nhân hậu ái!” Rồi quay sang Văn Công. “Chúa thượng, không còn sớm nữa, vi thần còn một số việc cần chuẩn bị, xin cáo từ!”
Yên Văn Công nhìn Cơ Tuyết, gật đầu nói: “Cũng phải! Ái khanh lần này đi sứ, trọng trách nặng nề. Đợi ngày khải hoàn, quả nhân nhất định sẽ như lời phu nhân nói, đến bờ Dịch Thuỷ nghênh đón, mở tiệc tẩy trần cho ái khanh.”
Tô Tần lại bái lạy: “Vi thần khấu tạ long ân của chúa thượng!”
Nhờ sự hiện diện của trưởng tôn Cơ Khoái với thân phận phó sứ, lại cộng thêm trăm cỗ xe chiến, năm trăm kỵ mã tinh nhuệ, tính cả số tuỳ tùng theo cùng, thì sứ đoàn nước Yên cả thảy có tới gần hai nghìn người, xét về quy cách, không hề thua kém sứ đoàn nước Triệu. Sứ Yên, sứ Triệu hợp binh một chỗ, kéo dài vài dặm, suốt dọc đường đi cát bụi tung bay, khí thế hào hùng.
Sau khi băng qua Dịch Thuỷ, Lâu Hoãn vượt trước Tô Tần, dẫn đoàn sứ Triệu trở về trước, bẩm báo về tình hình và thành ý của nước Yên. Túc Hầu cảm kích, hay tin sứ đoàn nước Yên đã gần tới Hàm Đan, bèn sai thái tử Triệu Ung đi xe của mình, dẫn theo đám trọng thần An Dương Quân, Phì Nghĩa, Lâu Hoãn, Triệu Báo ra tận ngoài thành ba mươi dặm, nghênh đón trọng thể.
Đúng vào giờ Ngọ, trong thành Hàm Đan, trên con phố chính dẫn tới cung thành, cứ cách ba bước lại thấy một giáp sĩ cầm thương đứng nghiêm trang, người đi đường đều bị dẹp sang hai bên. Trong tiếng trống tiếng nhạc tưng bừng, xe của Triệu Hầu lộc cộc lăn bánh, đứng trên xe là thái tử Triệu Ung và đặc sứ nước Yên Tô Tần. Những người khác đều ngồi trên xe của mình, bám sát phía sau, cùng tiến thẳng về phía trạm dịch liệt quốc bên cạnh cung thành.
Dưới mái hiên rộng lớn của quán trọ Phong Vân, người đi đường bị dồn vào bên lề, giương mắt hết cỡ mà nhìn không chớp, như sợ lỡ mất cảnh tượng náo nhiệt hiếm có.
Đột nhiên, có một người phấn khích reo lên thật lớn: “Tôi nhận ra rồi, chính là anh ta!”
Đám đông đều ngoảnh lại nhìn, thấy kẻ vừa reo chỉ là một gã bán bánh nướng, đều ỉu xìu thất vọng, lừ mắt lườm nguýt, rồi lại quay đầu nhìn ra phố.
“Tôi nhìn rõ rành rành mà!” Gã bán bánh nướng thấy không ai để ý tới mình, bất mãn làu bàu.
“Nhìn rõ cái gì?” Có người bước lại gần hỏi.
Người bán bánh nướng chỉ vào Tô Tần vừa băng qua trước mặt: “Chính là người đó, tôi đã gặp rồi!”
“Hừm, ngươi đã gặp rồi?” Người kia hừ mũi xem thường. “Biết người đó là ai không? Là đặc sứ nước Yên! Còn cậu bé bên cạnh là điện hạ đương triều đấy! Này thằng bán bánh nướng kia, cắm cọng hành vào mũi lợn mà ngỡ thành voi rồi hẳn?”
“Đặc sứ nước Yên cái gì!” Gã bán bánh nướng giãy nảy. “Hai tháng trước, hắn chẳng qua chỉ là một tên khố rách áo ôm, đi đôi giày cỏ rách nát, lang thang trên phố ở cổng thành nam, mua của tôi có hai cái bánh nướng lại trả bằng tiền Chu. Lúc tôi phát giác ra, đòi hắn trả tiền Triệu thì một cái bánh đã bị xực hết veo rồi. Chuyện này là thật, tôi mà lừa anh thì tôi làm con rùa!”
Người kia thấy gã bán bánh lên giọng thề thốt, không thể không tin, bèn chế giễu mà rằng: “Ngươi đúng là hạng ngu đần mạt hạng, quý nhân tới sát bên cạnh mà còn không biết, mọc ra con mắt thật phí hoài! Ta mà là ngươi, ta sẽ mang toàn bộ bánh nướng ra biếu tặng để kết nhân duyên! Ta dám chắc, sau khi người này thành công đắc chí, chưa biết chừng sẽ thưởng cho ngươi dăm đĩnh vàng ròng!”
Gã bán bánh than thở: “Than ôi, lúc đó, ai biết được hắn lại là quý nhân!”
“Ồ, cũng phải!” Người kia tiếp lời. “Đúng là mỗi người một mệnh, hạng người như ngươi, chỉ xứng đi bán bánh nướng mà thôi!”
Đám đông cười ồ lên.
Phía sau, cách đó không xa, Giả Xá Nhân đầu đội nón lá đứng ngay sát cửa, lắng nghe một hồi, rồi khẽ mỉm cười, lại quay người bước vào trong.
Lần này, Triệu Túc Hầu không còn tránh mặt nữa. Tuy chưa gặp Tô Tần, song Túc Hầu cũng đã hiểu đại khái về sách lược hợp tung của Tô Tần, hết sức tán thưởng. Lần này phái Lâu Hoãn đi sứ sang Yên, vốn là muốn trọng dụng Tô Tần, thúc đẩy kế sách hợp tung. Để thúc đẩy hợp tung, Triệu Túc Hầu vốn túc trí đa mưu đã phải vắt óc suy nghĩ suốt một đêm trường, rồi quyết định triệu kiến Tô Tần vào buổi đại triều để cùng bàn luận, thứ nhất là muốn xem tài trí của Tô Tần, thứ hai cũng là để triều đình và dân chúng hiểu rõ hơn về kế sách hợp tung.
Sáng hôm sau, Triệu Túc Hầu mở đại triều tại chính điện Tín cung, long trọng tiếp đãi đặc sứ nước Yên. Thái tử Ung, An Dương Quân Triệu Khắc cùng các triều thần cấp đại phu trở lên như quốc uý tân nhiệm Phì Nghĩa, thượng tướng quân Triệu Báo, thượng đại phu Lâu Hoãn chia nhau ngồi ở hai bên. Ngoài ra còn có một số khách quý, là các lão thần tiền triều của nước Triệu, học vấn uyên bác, cũng được Túc Hầu mời tới cùng thảo luận. Ngay phía dưới ngai vàng của Túc Hầu có hai chỗ trống, dành riêng cho hai vị đặc sứ nước Yên.
Tô Tần, Cơ Khoái bước vào trong cung, dập đầu hô: “Đặc sứ của Yên Công Tô Tần, Cơ Khoái khấu kiến chúa thượng, cung chúc chúa thượng long thể an khang, vạn thọ vô cương!”
Triệu Túc Hầu quan sát Tô Tần, Cơ Khoái một hồi, mới gật đầu nói: “Sứ Yên miễn lễ, mời ngồi!”
Tô Tần, Cơ Khoái tạ ơn, đứng dậy bước lại vị trí khách, lần lượt ngồi xuống.
Triệu Túc Hầu nhìn Tô Tần, mỉm cười, vòng tay nói: “Quả nhân sớm đã nghe danh Tô Tử, nay mới được gặp, quả thực không phải tầm thường!”
Tô Tần mỉm cười đáp lời: “Vừa qua Dịch Thuỷ, Tô Tần đã lấy nước thơm rửa mắt, không dám lười biếng dù chỉ một ngày!”
“Ồ!” Triệu Túc Hầu lấy làm kinh ngạc, nhoài người về trước hỏi. “Cớ sao Tô Tử phải lấy nước thơm rửa mắt?”
Tô Tần ngồi ngay ngắn, mở to mắt nhìn Túc Hầu không chớp, hồi lâu sau mới vòng tay nói: “Để nhìn rõ vẻ uy nghi của chúa thượng!”
Cả triều đường đều bật cười, Triệu Túc Hầu càng vui lòng, lại nhổm người về trước hỏi: “Tô Tử đã nhìn rõ chưa?”
“Vi thần đã nhìn rõ!” Tô Tần gật đầu.
“Uy nghi của quả nhân thế nào?”
“Vi thần không nhìn thấy!” Tô Tần đáp rành rọt.
Tất thảy triều thần có mặt đều giật nảy mình kinh hãi, Phì Nghĩa, Triệu Báo mặt lộ sắc giận.
Cơ Khoái mặt hơi biến sắc, ngờ vực nhìn sang Tô Tẩn.
Duy có Triệu Túc Hầu vẫn bình thản như không, nụ cười vẫn giữ nguyên trên mặt: “Vậy Tô Tử nhìn thấy gì?”
“Từ bi!”
Hai chữ này vừa thốt ra khỏi miệng, quần thần có mặt đều thở phào nhẹ nhõm.
Triệu Túc Hầu khẽ gật đầu, cười vang mà nói: “Tạ ơn lời hay ý đẹp của Tô Tử!” Quay sang quần thần. “Quả nhân sống tới lúc này, vốn cho rằng mình chẳng có được thứ gì, nào ngờ Tô Tử lại nhìn ra được sự từ bi. Hai chữ này hay lắm, quả thực hay lắm, còn tốt hơn nhiều so với uy nghi!” Lại quay sang Tô Tần, vòng tay liên hồi. “Tạ ơn lời hay của Tô Tử!”
Tô Tần vòng tay đáp lễ, nói: “Lời tạ ơn của chúa thượng, vi thần không dám nhận. Từ bi là xuất phát từ trong tâm chúa thượng, vi thần chẳng qua chỉ nói ra sự thực mà thôi!”
“Lời lẽ thật hay!” Triệu Túc Hầu gật gù, rồi đi vào chuyện chính. “Nhiều lần nghe Lâu ái khanh nói, Tô Tử có kế sách lâu dài muốn chỉ giáo quả nhân, có đúng vậy chăng?”
Tô Tần ngẫm nghĩ một lát, rồi khẽ lắc đầu: “Thực hổ thẹn, Tô Tần lại không hề có kế sách lâu dài!”
Lâu Hoãn kinh ngạc, trợn mắt nhìn Tô Tần.
Triệu Túc Hầu cũng kinh ngạc không kém, quét mắt về phía quần thần, thấy họ cũng đang đưa mắt nhìn nhau. Rút kinh nghiệm từ câu nói lúc nãy, mọi người không hiểu Tô Tần lần này sẽ có trò gì, nên mọi ánh mắt lại đổ dồn vào Tô Tần.
Triệu Túc Hầu dường như đã đoán ra ý nghĩ của Tô Tần, khẽ đặng hắng một tiếng: “Tô Tử đã không chịu chỉ giáo, quả nhân đành phải...” Nói đoạn giả bộ khom lưng, làm ra vẻ chuẩn bị đứng dậy.
Quả nhiên, Tô Tần đã lên tiếng rất đúng lúc: “Chúa thượng, Tô Tần đã không có kế sách lâu dài, cũng không có kế sách trước mắt, chỉ có kế sách cứu Triệu!”
Lời vừa thốt ra, quần thần đều kinh ngạc.
Triệu Túc Hầu ngồi ngay ngắn trở lại, mắt nhìn Tô Tần chăm chú: “Ồ, nước Triệu làm sao?”
“Khởi bẩm chúa thượng, nước Triệu nguy như chồng trứng, tồn vong chỉ trong một sớm một chiều!”
Lời vừa nói dứt, quần thần thảy đều bàng hoàng kinh hãi, nhất loạt nhìn sững vào Tô Tần.
Một người trợn tròn hai mắt, lớn tiếng quát: “Tô Tử chớ ăn nói ngông cuồng! Triệu có thiết kỵ, có cung cứng, núi sông hiểm trở, hàng trăm năm qua mở rộng trái phải, phía bắc đánh Hồ Địch, phía nam chống Hàn, Ngụy, phía đông đẩy lùi cường Tề, phía tây chặn đứng bạo Tần, mở mang bờ cõi nghìn dặm, kiên cố uy nghiêm tựa Thái Sơn, làm gì có chuyện nguy như chồng trứng, tồn vong sớm chiều?”
Mọi người đưa mắt nhìn lại, người vừa lên tiếng chính là thượng tướng quân tân nhiệm Triệu Báo.
Tô Tần khẽ mỉm cười, vòng tay hướng về Triệu Báo, nói: “Triệu tướng quân chớ nôn nóng, hãy nghe Tô Tần nói rõ. An nguy của con người nằm ở hoàn cảnh xung quanh, an nguy của quốc gia nằm ở đại thế. Đại thế nguy, tuy có công lao phá quân giết tướng, cũng khó thoát khỏi ách vận, nước Trịnh một thời hùng mạnh cũng đã diệt vong như vậy đấy. Đại thế an, dù gặp đại bại cũng không tổn thương đến từ đường, nước Vệ nhỏ yếu ở lưu vực sông Tứ đã tồn tại như vậy đấy. Đất Triệu dọc ngang hai nghìn dặm, giáp sĩ vài chục vạn người, lương thực đủ dùng vài năm, thoạt nhìn có thể sánh vai các nước lớn. Tuy nhiên...” Đưa mắt nhìn một lượt quần thần, giọng nói bỗng trở nên sắc bén. “Triệu có tứ chiến tứ hoạn, chư vị có biết chăng?”
Quần thần đưa mắt nhìn nhau, Triệu Báo sắc mặt giận dữ, miệng mấp máy mấy lần muốn nói, rồi lại câm bặt.
Thấy không khí lắng xuống, Phì Nghĩa nói xen vào: “Thế nào là tứ chiến tứ hoạn, xin Tô Tử nói rõ.”
Tô Tần dõng dạc nói: “Tứ chiến là Ngụy, Tần, Tề, Hàn. Chư vị đều thấy, từ lúc Triệu lập nước đến nay, chiến tranh với bốn nước này đã bao giờ ngưng nghỉ?”
Không khí bất chợt lặng phắc, có người đã gật đầu.
“Tứ hoạn, chính là Trung Sơn, Hồ Địch, Sở, Yên.”
Lại qua một hồi im lặng dài hơn nữa, Triệu Báo cuối cùng không nhịn nổi, cười nhạt một tiếng, gõ bàn lớn giọng: “Dù có tứ chiến tứ hoạn, cũng làm gì nổi nước Triệu?”
Tô Tần khẽ mỉm cười với Triệu Báo, ung dung nói: “Triệu tướng quân nói ra lời này, đúng là cái dũng của kẻ thất phu! Từ đó mà thấy, nguy của nước Triệu, chính là ở cái tâm mù quáng!”
Triệu Báo thình lình đưa tay đẩy bật bàn đi, đứng phắt dậy, chỉ tay vào Tô Tần, lắp bắp: “Ngươi...”
An Dương Quân đưa mắt liếc hắn một cái. Triệu Báo thấy vậy, bèn hằm hằm ngồi phịch xuống, đưa tay kéo bàn về chỗ cũ, do quá mạnh tay, chân bàn rê trên nền nhà ken két.
An Dương Quân mỉm cười, quay sang Tô Tần: “Xin hỏi Tô Tử, thế nào là cái tâm mù quáng?”
“Hồi bẩm An Dương Quân!” Tô Tần vòng tay hướng sang Triệu Khắc. “Tâm mù quáng tức là, không nghe ngóng bên ngoài, không xem xét bên trong. Nước Triệu cậy binh khoẻ quân dũng, bên ngoài không màng đến đại thế thiên hạ, bên trong không biết thuận thời hành động, chỉ biết trừng mắt giận dữ nhìn liệt quốc thiên hạ, hơi chút là động binh đao, tranh dũng đấu mạnh. Nước Triệu lâu nay đều hành sự như vậy, mà trên dưới đều không biết, khác gì người mù cưỡi ngựa mù, lẽ nào còn không phải là nguy như chồng trứng?”
Tô Tần ăn nói vơ đũa cả nắm, không phân biệt trắng đen kiểu này, đừng nói là võ tướng như Triệu Báo, dù là An Dương Quân xưa nay vốn nổi tiếng điềm tĩnh, cũng khó tránh mặt mày biến sắc, đặng hắng khẽ một tiếng, rồi chậm rãi hỏi: “Theo ý Tô Tử, đại thế thiên hạ nên lý giải thế nào?”
“Nước lớn tranh hùng, nước nhỏ cầu mong tồn tại!” Tô Tần nói rành rọt từng chữ.
“Xin hỏi Tô Tử,” Phì Nghĩa nói xen vào, “nước lớn, nước nhỏ phân biệt dựa vào đâu?”
Tô Tần mỉm cười mà rằng: “Người mạnh yếu phân biệt nhờ sức mạnh, nước mạnh yếu phân biệt nhờ thế. Hình thành đại thế là nước lớn, hình thành tiểu thế là nước nhỏ.”
“Theo ý Tô Tử,” Phì Nghĩa hỏi tiếp, “thiên hạ hiện nay, nước nào là nước lớn, nước nào là nước nhỏ?”
“Luận theo thiên hạ hiện nay, thành đại thế là Tần, Tề, Sở, ba nước này là nước lớn. Những nước khác đều là tiểu thế, là nước nhỏ.”
Lời của Tô Tần quá ư kinh động, quần thần thảy đều sửng sốt.
Triệu Báo lớn tiếng hỏi: “Dám hỏi Tô Tử, lẽ nào nước Ngụy bá chủ cũng là nước nhỏ?”
Tô Tần mỉm cười: “Ngụy khác nào mũi tên đã hết tầm, thế không đủ xuyên qua the mỏng, sao dám xưng là nước lớn?”
Triệu Túc Hầu khẽ gật đầu: “Phải, nói rất hay! Theo ý Tô Tử thì mối nguy trong sớm tối không chỉ xảy ra với nước Triệu, mà Hàn, Ngụy cũng chịu chung số phận?”
“Chúa thượng thánh minh!” Tô Tần vòng tay, đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, rồi chậm rãi nói. “Người trí tuệ dù không ra khỏi cửa cũng biết chuyện thiên hạ. Chư vị đều là những người hoài bão thiên hạ, xin hãy mở mắt nhìn thử. Thiên hạ ngày nay, phía đông là cường Tề, phía tây là bạo Tần, phía nam là Đại Sở. Tề có thịnh trị Quản Hoàn, nông tang phát triển, cá muối dồi dào, hơn nữa phong tục thuần chính, sĩ dân khai hoá, tằm tang thịnh vượng, dựa biển ôm góc, dân giàu binh mạnh. Tần có Quan Trung đất đai màu mỡ nghìn dặm, dân sùng chuộng pháp, nhiều dũng sĩ sẵn sàng xả thân vì nước, lại có Thương Ư, Hà Tây, Hàm Cốc, trở thành nước bốn bề hiểm ải, tiến có thể uy hiếp liệt quốc, lùi có thể phòng thủ dựa vào thế hiểm. Sở chiếm được Ngô Việt, dài rộng năm nghìn dặm, dân hơn nghìn vạn, đất rộng của nhiều, liệt quốc không thể sánh kịp. Ba nước này đều thành đại thế, mỗi nước ở vào một góc, bao vây Tam Tấn vào giữa. Hãy thử so sánh, ba nước lớn này giống như ba con sói đói, còn Tam Tấn, Hàn, Triệu, Ngụy chẳng khác gì ba con hươu gầy. Ba con sói đều dựa vào địa thế, dồn ba con hươu vào giữa, sói này một miếng, sói kia một miếng, cứ thế từ từ cắn xé, nhai nuốt ba hươu, đây chính là ‘đuổi hươu Trung Nguyên’. Song ba hươu lại không hề hay biết, đã không chung sức đối địch kẻ thù chung, ngược lại còn hiềm khích lẫn nhau, tranh giành qua lại. Đại thế thiên hạ như vậy, chẳng đáng buồn ư?”
Lời của Tô Tần giống như một luồng hàn khí lạnh buốt xuyên thấu xương tuỷ. Quần thần rùng mình kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau, không ai nói câu nào. Đám Cơ Khoái, Lâu Hoãn, Triệu Ung cuối cùng cũng đã hiểu ra cơ mưu của Tô Tần, cùng gật gù tán đồng.
Triệu Túc Hầu sắc mặt trầm tư, khẽ thốt lên một câu: “Theo ý Tô Tử, Tam Tấn không còn con đường nào khác, chỉ còn cách hợp tung?”
“Chúa thượng thánh minh!” Tô Tần lại vòng tay nói. “Đông tây là hoành, nam bắc là tung. Tam Tấn kết minh hợp nhất, sẽ không còn là hươu nữa, mà thành một hổ. Lại thêm nước Yên, bốn nước kết thân, thế thành cường thịnh. Phía đông, Tề không dám động; phía tây, Tần không dám động; phía nam, Sở không dám động. Ba nước lớn đều không dám động, thiên hạ làm gì còn có chiến tranh? Thiên hạ không có chiến tranh, nước Triệu cũng đâu còn nguy khốn?”
Dù đến Triệu Túc Hầu cũng không thể không khâm phục tầm nhìn xa trông rộng và tài biện luận siêu phàm của Tô Tần, hơn nữa, khí thế mà Tô Tần tạo ra cũng chính là điều mà ông mong muốn. Trầm ngâm hồi lâu, Túc Hầu nhìn khắp lượt quần thần, nghiêm mặt mà nói: “Chư vị ái khanh, cách so sánh ‘bầy sói đuổi hươu’ của Tô Tử quả là xác thực, không biết các khanh cảm thấy thế nào, còn quả nhân đã khắp người toát mồ hôi lạnh! Tô Tử đề xướng hợp tung Tam Tấn, chư vị ái khanh có ý kiến gì không?”
An Dương Quân vòng tay nói: “Tam Tấn kết thân đương nhiên là chuyện tốt, song Tô Tử lại bỏ qua mất một chuyện, đó là dù Triệu, Hàn mong muốn kết thân, chắc gì Ngụy đã chịu? Nước Ngụy hùng bá Trung Nguyên đã mấy chục năm, mấy năm trước tuy phải chịu mối nhục Hà Tây, song nay có mãnh tướng Bàng Quyên, hiền tướng Huệ Thi, quốc lực hồi phục mạnh mẽ, dứt khoát sẽ không chịu hợp!”
“Phải, An Dương Quân nói rất đúng!” Túc Hầu gật gù, quay sang Tô Tần. “Ngụy Anh xưa nay vẫn tự coi mình là bá chủ, làm sao chịu ở ngang hàng với quả nhân? Hơn nữa, mấy năm trước, Nguỵ Anh thất đạo, vừa xưng vương, lại vừa phạt Vệ, khiến liệt quốc phẫn nộ, quả nhân và hắn vì thế càng thêm xa cách. Muốn kết thân với hắn, e là rất khó!”
Tô Tần mỉm cười: “Chúa thượng bất tất phải lo lắng chuyện này. Nước Ngụy hiện nay mạnh hay yếu, chư vị tự có phán xét, thiên hạ cũng tự có phán xét, Tô Tần không phải nói thêm. Còn như Bàng Quyên, Huệ Thi, tuy là đại tài, song cũng có hạn. Huệ Thi quá nhu, Bàng Quyên quá cương. Nhu thì thiếu lực, mà cương thì dễ gãy. Còn nữa, nước Ngụy xưa nay không thiếu đại tài, trước có Công Tôn Ưởng, nay có Công Tôn Diễn, ở Ngụy đều vô công, đến Tần lại thành đại dụng.” Dừng lại một lát, thu lại nụ cười. “Hơn nữa, cho dù Ngụy có phục hồi thế mạnh, Tam Tấn kết thân, với Ngụy cũng chỉ có lợi mà không có hại, Ngụy Vương nếu không phải là kẻ ngốc, chắc chắn sẽ đồng ý hợp tung!”
“Ồ!” Túc Hầu hỏi lại. “Hợp tung có lợi gì với Ngụy?”
“Giống như chúa thượng vừa nói, mấy năm trước, nước Ngụy thất đạo với thiên hạ, xưng vương, chinh phạt nước yếu, phía đông đánh Vệ, phía tây đánh Tần, trở thành kẻ thù của liệt quốc. Nước Ngụy hiện nay, phía tây chịu mối nhục Hà Tây, là kẻ thù không đội trời chung của người Tần; phía đông có mối nhục hội vương, trở thành kẻ thù của người Tề; phía nam có cuộc chiến Hình Sơn, gây thù kết oán với người Sở. Ngụy Vương không còn con đường nào khác, chỉ có thể kết thân với Hàn, Triệu, mới có thể đứng vững tại Trung Nguyên.”
Triệu Báo vội nói xen vào: “Nói như vậy, Tam Tấn hợp tung, nước Ngụy có được đại lợi này, nước Triệu chẳng phải sẽ chịu thiệt ư?”
“Tướng quân nhầm rồi!” Tô Tần cười nói. “Tam Tấn kết thân, nước Triệu đã không chịu thiệt, ngược lại còn được lợi nhiều nhất!”
“Nói vậy nghĩa là sao?”
“Bởi lẽ có Hàn, Ngụy. Triệu không lo Sở, bởi lẽ có Yên, Ngụy, Hàn. Triệu không lo Tề, bởi lẽ có Hàn, Ngụy. Triệu không lo Tần, đạo lý trong đó, tại hạ không nói, tướng quân hẳn cũng đã biết!”
Giữa liệt quốc, các nước cân bằng chế ước lẫn nhau, đây là điều ai ai cũng hiểu, Triệu Báo không thể không gật đầu đồng tình.
Triệu Túc Hầu đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần: “Chuyện hợp tung, chư vị có ý kiến gì chăng?”
Quần thần đồng thanh nói: “Chúng thần không có ý kiến gì, xin nghe theo quyết định sáng suốt của chúa thượng!”
“Được!” Triệu Túc Hầu dõng dạc nói. “Tam Tấn vốn là một nhà, hợp thì cùng hưng, tranh thì cùng vong! Chư vị ái khanh đã không có ý kiến gì khác, quả nhân quyết định, đồng ý hợp tung!” Rồi quay sang Lâu Hoãn, Phì Nghĩa. “Còn thực thi cụ thể thế nào, xin hai vị ái khanh hãy bàn cùng Tô Tử, thảo ra nội dung chi tiết, rồi tấu báo quả nhân!”
Hai người đứng dậy, khấu đầu nói: “Vi thần lĩnh chỉ!”
Sau khi bãi triều, Lâu Hoãn, Phì Nghĩa phụng chỉ tới dịch quán, cùng Tô Tần, Cơ Khoái bàn luận kế sách hợp tung cụ thể. Về việc kết thân giữa bốn nước Triệu, Ngụy, Hàn, Yên, Tô Tần sớm đã thảo sẵn kế sách cụ thể, chủ yếu gồm loại trừ ngăn cách, hoá giải tranh chấp, dùng lễ qua lại, thông thương hàng hoá, bang giao dụng binh.
Sau khi bàn luận, mọi người đều nhất trí, kế sách này có thể thực thi. Tiếp đó Lâu Hoãn thảo tấu chương, bẩm tấu lên Túc Hầu.
Sau khi Lâu Hoãn, Phì Nghĩa đi khỏi, Tô Tần thấy trời còn sớm, bèn thay trang phục, cùng Trâu Phi Đao bước ra con phố lớn trước cung thành, tới quán trọ Phong Vân. Giả Xá Nhân được Trâu Phi Đao báo trước Tô Tần sẽ đến, nên đã chờ sẵn trong phòng.
Sau vài câu khách sáo, Tô Tần kể sơ qua một lượt về tình hình nội loạn ở nước Yên, Giả Xá Nhân cũng kể vắn tắt chuyện Triệu Túc Hầu nhờ vào nguy cục Tấn Dương mà diệt trừ tận gốc bè lũ Phụng Dương Quân. Phụng Dương Quân Triệu Thành, quyền chủ tướng công tử Phạm đều đã nhận chiếu mệnh tự sát trong ngục, quản gia Thân Tôn của Phụng Dương Quân và đám Thân Bảo đều bị xử chém ngang lưng giữa chợ vì tội phản quốc. Vụ án liên luỵ tới vài trăm người, khiến họ hoặc bị cách chức quan, hoặc trở thành nô lệ.
“Than ôi!” Tô Tần lắc đầu, thở dài buồn bã. “Giữa huynh đệ còn tàn sát lẫn nhau, huống chi là người trong thế gian!”
“Không nhắc tới họ nữa!” Điều Giả Xá Nhân quan tâm lại không phải là chuyện này. “Đại sự của Tô Tử đã thực hiện đến đâu rồi?”
Tô Tần đáp lời: “Triệu Hầu đồng ý hợp tung, lệnh cho Lâu Hoãn, Phì Nghĩa và tại hạ cùng công tôn Khoái bàn luận cụ thể, mãi tới vừa nãy mới thống nhất được sách lược, chính là các nước kết thân, hoá giải ân oán, tìm kiếm cái chung, gác lại bất đồng, dựa vào nền tảng đó mà thực hiện ‘ngũ thông’ và ‘tam đồng’.”
“Ngũ thông?” Giả Xá Nhân ngạc nhiên. “Thế nào là ngũ thông?”
“Chính là thông thương, thông dịch, thông tệ, thông sĩ, thông binh!”
“Thế còn... tam đồng?”
“Đồng tâm, đồng lực, đồng thù!”
Xá Nhân ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng lên nói: “Tô Tử tóm lược như vậy, đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, có lợi cho truyền tụng. Tuy nhiên... ngũ thông thì dễ, mà tam đồng lại khó.”
“Đúng vậy!” Tô Tần gật đầu tán thành. “Tam Tấn vốn là một nhà, phong tục đại thể giống nhau. Yên tiếp giáp Triệu, rất nhiều nơi cùng chung phong tục, ngũ thông đã có sẵn nền tảng. Cái khó là ở tam đồng. Tam Tấn bất hoà bấy lâu, oán hận chồng chất, rất khó đồng tâm. Không đồng tâm, tự khắc không đồng lực, nói gì tới đồng thù!”
“Tô Tử hẳn đã có cách ứng phó?”
“Bốn nước kết thân, mấu chốt là Tam Tấn. Tam Tấn muốn đồng tâm, trước hết cần đồng lực. Muốn đồng lực, trước hết cần đồng thù. Tại hạ đã nát óc suy nghĩ, nói về kẻ thù của Tam Tấn, thù của Hàn là Sở, Tần; thù của Ngụy là Sở, Tề, Tần; thù của Triệu là Tề, Tần. Sở tuy bất hoà với Tam Tấn, song kẻ thù thực sự của Sở lại là Tề, Tần. Do vậy, tại hạ cho rằng, thù chung của bốn nước kết thân chỉ có hai, một là Tần, hai là Tề. Chỉ cần vua tôi, dân chúng Tam Tấn đều nhận biết được Tần, Tề là kẻ thù chung, thì có thể thực hiện được ‘đồng thù’. Có đồng thù rồi, tất sẽ đồng lực, mà tiền đề của đồng lực chính là đồng tâm!”
Giả Xá Nhân cười nói: “Là Tô Tử đã khiên cưỡng rồi!”
Tô Tần cười gượng: “Than ôi, cũng không còn cách nào khác! Thời nay lợi dục hun đốt cái tâm, không thể đồng tâm, chỉ còn cách mượn dùng sức mạnh bên ngoài mà khiên cưỡng.”
“Nói như vậy, kẻ thù của Tô Tử là hai, chứ không phải ba?”
Tô Tần lắc đầu: “Kỳ thực, kẻ thù thực sự của Tô Tử chỉ có một, chính là nước Tần. Tề, Sở tuy có lòng xưng bá, song không có lòng thôn tính thiên hạ; hoặc giả cũng có lòng này, song không đủ lực. Có lòng này, lại đủ lực, duy chỉ có Tần. Tại hạ nêu ra ba kẻ thù, chỉ là muốn bức bách Tam Tấn, khiến họ tỉnh ngộ mà dừng nội chiến, đồng lòng đối phó với bên ngoài. Đợi Tam Tấn hợp nhất, bốn nước hoà thuận, mục tiêu tiếp theo của tại hạ chính là nước Sở. Chỉ khi nước Sở cùng kết thân, hợp tung mới coi như hoàn thành. Từ Giang Nam tới Tái Bắc đều thành một nhà, năm nước thực hiện ‘ngũ thông, tam đồng’, thế vững như tường đồng, Tần, Tề sẽ bị chia cách làm đôi, muốn vọng động cũng không dám, thiên hạ sẽ không còn chiến tranh!” Tô Tần càng nói càng chậm rãi, trong mắt ánh lên niềm hy vọng về viễn cảnh tươi đẹp. “Thiên hạ đã không còn chiến tranh, thì có thể thực thi giáo hoá, kết thành minh ước liên bang cùng trị, thịnh thế chung sống hoà bình của tiên thánh thời thượng cổ sẽ lại thành hiện thực.”
“Chí lớn của Tô Tử, Xá Nhân thực sự kính phục. Tuy nhiên, Tô Tử coi người Tần là kẻ thù, vậy thì Tần Công quyết sẽ không để yên cho Tô Tử. Tô Tử sẽ ứng phó thế nào đây?”
Tô Tần khẽ mỉm cười: “Điều này tại hạ lại không sợ. Ngược lại, điều tại hạ lo sợ chính là họ không quan tâm đếm xỉa, mặc kệ tại hạ!”
“Ồ?” Xá Nhân ngẩn người. “Nói vậy là nghĩa gì?”
“Không có đen thì không có trắng!” Tô Tần cười nói. “Tam Tấn hợp tung, đồng nghĩa với khoá chặt người Tần ở Tần Xuyên, trước hết sẽ gây bất lợi cho Tần. Dựa vào chí của Tần Công, dựa vào tính cách của Tần Công, tất không cam chịu, sẽ tích thế tụ lực, ứng phó với hợp tung. Lão Đam từng nói: ‘Có và không sinh ra nhau, khó và dễ thành tựu lẫn nhau, dài và ngắn hình thành lẫn nhau, trên và dưới bổ sung cho nhau, âm và thanh hài hoà với nhau, trước và sau theo nhau, nên thành cân bằng. Ở đây tại hạ coi Tần là địch, thì Tần cần phải đối địch. Tại hạ không sợ Tần tích thế, không sợ Tần cường thịnh, ngược lại chỉ sợ Tần không tích thế, không cường thịnh.”
Giả Xá Nhân bật cười: “Tô Tử một mặt chống Tần, một mặt làm mạnh Tần, chẳng phải là mâu thuẫn ư?”
“Giả huynh nói rất phải!” Tô Tần thu lại nụ cười, giọng trầm xuống. “Điều tại hạ mong muốn chính là sự mâu thuẫn này, thứ tại hạ cần chính là khiến Tần thêm mạnh. Cái gọi là hợp tung, chính là duy trì cân bằng sức mạnh. Nếu người Tần không mạnh, hợp tung lại sẽ không thể thành công. Chỉ khi người Tần tích thế tụ lực, duy trì được sức mạnh cường thịnh, thì Tam Tấn mới có cảm giác nguy hiểm cận kề, mới vui vẻ hợp tung. Chỉ khi Tam Tấn hợp tung, người Tần mới thấy sợ hãi, mới nỗ lực khiến bản thân càng thêm cường thịnh. Người Tần càng mạnh, Tam Tấn càng hợp; Tam Tấn càng hợp, người Tần càng mạnh, thiên hạ vì thế mà duy trì được cân bằng, mới có thể ngang tài ngang sức!”
Tô Tần nói ra lời này, khiến Giả Xá Nhân không khỏi kinh ngạc. Song ngẫm nghĩ kỹ, thấy cũng có lý. Xá Nhân trầm ngâm một hồi, cũng không nghĩ ra được lời nào phản bác, bèn cảm khái mà rằng: “Than ôi, Tô Tử quả nhiên tài giỏi. Song nói đi cũng phải nói lại, hiện tại Tần không có đại tài, Tô Tử lại không chịu tới Tần, làm thế nào giữ vững thế mạnh được đây?”
“Tại hạ tới đây, cũng chính là vì chuyện này!” Tô Tần nhìn thẳng vào Xá Nhân. “Tuy tại hạ không phò tá Tần, song nguyện tiến cử một người với Tần Công, hoặc giả sẽ giúp được Tần giữ vững thế mạnh.”
“Ai?”
“Trương Nghi!”
“Người này chẳng phải đang ở Sở ư?”
“Đúng vậy, hiện đang ở Sở!” Tô Tần mỉm cười nói. “Dựa theo tính cách của người này, có lẽ không thể lưu lại Sở. Tại hạ đang định phiền Giả huynh vất vả tới Sính Đô một chuyến. Nếu người này ở đó được đắc chí, coi như bỏ đi. Còn nếu người này không được đắc chí, huynh có thể tìm cách dụ hắn tới Hàm Đan!”
“Dụ hắn tới Hàm Đan?” Xá Nhân lại một phen sửng sốt. “Cớ sao lại không để hắn trực tiếp tới Hàm Dương?”
“Giả huynh có điều không biết,” Tô Tần bật cười mà nói, “vị nhân huynh này nếu không gặp tại hạ, sẽ không chịu tới Tần đâu!”
“Vậy thì tốt quá!” Giả Xá Nhân cả mừng. “Tại hạ tới đây, vốn là tuân theo mệnh lệnh của tiên sinh, tìm Tô Tử về cho Tần Công. Song Tô Tử lại có chí lớn khác, tại hạ có được Trương Nghi, cũng đã có thể về núi phục mệnh với tiên sinh được rồi.”
“Về núi?” Tô Tần ngạc nhiên. “Xin hỏi tôn sư của Giả huynh là...”
“Hàn Tuyền Tử núi Chung Nam!” Giả Xá Nhân từ tốn đáp.
“Hàn Tuyền Tử là ân sư của Giả huynh?” Tô Tần vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. “Khi ở Quỷ Cốc, tại hạ từng nghe đại sư huynh nói, chúng đệ có một sư thúc tên gọi Hàn Tuyền Tử, sống trên núi Chung Nam. Thật không ngờ, Giả huynh chính là đệ tử của sư thúc!”
“Đúng vậy!” Giả Xá Nhân cười vang mà nói. “Tô Tử vừa tới Hàm Dương, tại hạ đã biết là đồng môn rồi!”
Tô Tần ngỡ ngàng một lúc, đột nhiên bừng tỉnh: “Thảo nào...”
Cùng lúc này, trong ngự thư phòng cung Tần, Huệ Văn Công và ba vị trọng thần Công Tôn Diễn, Tư Mã Thác, Sư Lý Tật đang ngồi ngay ngắn, sắc mặt trầm ngâm.
Huệ Văn Công chau tít đôi mày, đưa mắt nhìn ba vị trọng thần, chậm rãi lên tiếng: “Việc quả nhân lo sợ cuối cùng đã tới. Tô Tần từ Yên tới Triệu, muốn hợp tung Tam Tấn và nước Yên. Đừng nói là nước Yên, chỉ riêng Tam Tấn hợp nhất, đã là mối đe doạ với Tần. Chư vị ái khanh có kế sách ứng phó nào chăng?”
Quần thần đưa mắt nhìn nhau. Lát sau, Công Tôn Diễn vòng tay nói: “Khởi bẩm chúa thượng, từ lúc ba nước phân Tấn đến nay, Hàn, Triệu, Ngụy không lúc nào ngừng mưu toan đấu đá, tranh giành lẫn nhau, giữa các bên đều có mối huyết thù sâu sắc. Tô Tần hợp tung, chẳng qua chỉ là ý của một bên mà thôi. Có điều, phòng hoạ nên từ lúc chưa xảy ra, vi thần cho rằng, ta hãy nhân lúc hợp tung mới chỉ manh nha, để tới khua rừng doạ hổ!”
“Khua rừng doạ hổ là thế nào?”
“Mục đích của Tô Tần là hợp tung Tam Tấn, nếu không nằm ngoài dự đoán của vi thần, Tam Tấn ắt lấy Triệu làm gốc rễ. Vi thần cho rằng nên chĩa mũi nhọn vào Triệu, phát đại binh đánh Triệu, làm lung lay gốc rễ của Tam Tấn. Hàn, Ngụy thấy vậy, có lẽ sẽ sinh lòng e sợ, biết khó mà tự lui. Hàn, Ngụy không tham gia, hợp tung sẽ chết ngay từ trong trứng nước.”
“Đại lương tạo nói rất phải!” Sư Lý Tật hùa theo. “Vi thần cho rằng, ta có thể vừa phạt Triệu, vừa kết minh với Hàn, Ngụy, phân chia Tam Tấn.”
“Chúa thượng!” Tư Mã Thác không giấu vẻ kích động. “Đánh thôi! Lần trước tập kích Tấn Dương, sắp thành lại bại, các tướng sĩ đều ôm mối hận trong lòng!”
Huệ Văn Công nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu sau, vầng trán lại từ từ giãn ra: “Phải, chư vị ái khanh nói rất đúng, mối nhục Tấn Dương cũng nên có câu trả lời!” Rồi quay sang Công Tôn Diễn. “Công Tôn ái khanh!”
“Có vi thần!”
“Quả nhân quyết định phạt Triệu. Ái khanh văn hay chữ tốt, hãy thảo ngay hịch văn phạt Triệu, truyền hịch thiên hạ!”
“Vi thần tuân chỉ!”
“Tư Mã ái khanh!” Huệ Văn Công quay sang Tư Mã Thác.
“Có vi thần!”
“Quả nhân muốn phát hai mươi vạn đại quân, truyền xuống quận huyện các nơi, trưng binh theo lệnh.”
“Hai mươi vạn?” Tư Mã Thác lộ rõ thảng thốt, cứ ngỡ nghe lầm.
Huệ Văn Công mỉm cười nói: “Phải, hai mươi vạn, nhưng e là hai mươi vạn vẫn chưa đủ.” Lại quay sang Công Tôn Diễn. “Công Tôn ái khanh, hãy thêm một câu vào hịch văn, đại ý nói rằng, hiện đang lúc giữa xuân tươi đẹp, quả nhân nghe nói trong thành Hàm Đan có nhiều hoa thơm, muốn đến tận nơi thưởng hương sắc!”
Công Tôn Diễn trong lòng chợt sáng tỏ, dõng dạc đáp lời: “Vi thần đã hiểu!”
“Hiểu thì tốt!” Huệ Văn Công cũng mỉm cười. “Hai vị ái khanh, hãy mau chia việc mà làm!” Rồi quay sang Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh hãy dừng bước!”
Công Tôn Diễn, Tư Mã Thác cáo lui. Thấy hai người đã đi khuất, Huệ Văn Công nói với Sư Lý Tật: “Quả nhân giữ ái khanh lại, là muốn cho ái khanh xem thứ này!” Nói đoạn, lần dưới bàn, lấy ra một vật, chính là tấm thẻ tre viết chữ “sát” và “xá” trước kia, chậm rãi đặt lên mặt bàn. “Vật này hẳn ái khanh đã từng nhìn thấy, giờ có lẽ đã hiểu rõ rồi chăng?”
Sư Lý Tật gật đầu than thở: “Vâng, chúa thượng do tiếc tài, cuối cùng đã không nỡ giết Tô Tử!”
“Than ôi!” Huệ Văn Công khẽ thở dài, giọng đầy ẩn ý. “Không phải quả nhân tiếc tài, mà là Sư Lý ái khanh tiếc tài đấy!”
Sư Lý Tật thoáng chột dạ, rồi ra vẻ ngơ ngác không hiểu, nhìn Huệ Văn Công: “Chúa thượng...”
Huệ Văn Công như cười mà không cười, ánh mắt nhìn xoáy vào Sư Lý Tật: “Sư Lý ái khanh, không phải làm bộ làm tịch nữa. Quả nhân hỏi khanh, phải chăng khanh đã chặn Tiểu Hoa trên phố, bảo Tiểu Hoa thả Tô Tần đi?”
Sư Lý Tật mặt mày trắng bệch, vội đứng dậy, quỳ xuống khấu lạy: “Vi thần quả thực có chặn công tử Hoa, dặn công tử... Vi thần đáng chết, xin chúa thượng trị tội!”
“Than ôi!” Huệ Văn Công thở dài. “Trị khanh tội gì đây? Trị tội tiếc tài ư? Là quả nhân bảo khanh tiếc tài kia mà! Trị tội khi quân ư? Khanh cũng đâu có khi quân. Trị tội mềm lòng ư? Khanh cũng đã nhìn thấy tấm thẻ tre này, lòng quả nhân cũng đâu cứng rắn hơn khanh? Quân thần hai ta đều do nhất thời mềm lòng, nên mới lưu lại đại hoạ ngày nay.”
Sư Lý Tật trầm ngâm một lát, rồi ngẩng đầu nhìn Huệ Văn Công: “Chúa thượng, giờ bày mưu, vẫn còn kịp!”
“Bày mưu thế nào?” Huệ Văn Công ngẩng lên nhìn Sư Lý Tật. “Giết hắn ư?” Lắc đầu liên hồi. “Đã muộn mất rồi! Khi hắn còn ở trên đất của quả nhân, chỉ là một tên sĩ tử quèn, giết hắn dễ như giết một con kiến. Nhưng nay hắn đã vang danh liệt quốc, lại ở đất khác, lỡ để xảy ra sơ sảy, sẽ gây nên chấn động thiên hạ!”
“Chúa thượng yên tâm, chuyện này cứ giao cho vi thần!”
“Thôi không nói nữa!” Huệ Văn Công phẩy tay ngăn lại. “Quả nhân nếu thực lòng muốn giết hắn, đứng nói là hắn ở Hàm Đan, dù hắn ở chân trời góc bể, cũng khó lòng thoát chết! Tuy nhiên...” lập tức đổi giọng, “chuyện này dứt khoát không được! Minh quân không làm chuyện mờ ám, từ ngày Đại Tần lập nước đến nay, vẫn luôn giao tranh trực diện, quang minh chính đại, chưa từng ngấm ngầm hại ai. Nếu như ám sát Tô Tần, thì sử gia sẽ ghi chép về quả nhân thế nào đây? Thắng mà không quang vinh, người Tần làm sao có thể lập uy ở liệt quốc? Còn nữa...” Dừng lại, dõi mắt nhìn về phía xa xăm, trầm ngâm một lát, sắc mặt dần trở nên kiên nghị. “Tô Tần kia xứng đáng là một đối thủ, nếu để hắn chết mập mờ như thế, quả nhân đời này cũng chẳng còn gì thú vị!”
Sư Lý Tật lấy làm cảm phục trước con mắt nhìn xa trông rộng và sự tự tin của Huệ Văn Công, bèn dập đầu lia lịa.
“Có điều,” Huệ Văn Công thu lại ánh nhìn, quay sang Sư Lý Tật, “chưa tới lúc vạn bất đắc dĩ, quả nhân vẫn chưa muốn coi hắn là kẻ thù. Người này là đại tài, hơn thế nữa, còn là kỳ tài. Lần trước không dùng hắn, là lỗi của quả nhân, quả nhân không biết đã phải hối hận bao nhiêu lần. Nên lần này, lại muốn khanh đi sứ sang Hàm Đan một chuyến, thứ nhất là chuyển chiến thư tới Triệu Hầu, thứ hai là cầu kiến Tô Tần, nhất thiết phải bày tỏ với hắn thành ý của quả nhân. Khanh hãy nói với Tô Tần, quả nhân thỉnh cầu hắn, chỉ cần hắn từ bỏ định kiến, nguyện tới nước Tần, quả nhân sẽ khom lưng, đi chân trần ra tận cửa ải nghênh đón, thỉnh tội ngay trước mặt hắn. Quả nhân nguyện phó thác cả quốc gia, dốc toàn lực của Tần, hoàn thành chí nguyện nhất thống của hắn.”
“Vi thần lĩnh chỉ!”
Vài ngày sau, trong buổi đại triều diễn ra ở Tín cung, Triệu Túc Hầu phê chuẩn bản tấu của Lâu Hoãn, học theo Yên Công, phong Tô Tần làm khách khanh kiêm đặc sứ của Triệu Hầu. Do thái tử còn quá nhỏ, các công tử khác lại không đủ tư cách đảm đương, bèn bổ nhiệm Lâu Hoãn làm phó sứ, mang theo một trăm cỗ xe ngựa, năm trăm kỵ mã tinh nhuệ, nghìn dật vàng, tập hợp thành sứ đoàn hợp tung Triệu, Yên, lên đường tới Hàn, Ngụy, thúc đẩy hợp tung.
Mục tiêu tiếp theo của Tô Tần là nước Hàn. Theo suy đoán của Tô Tần, trong Tam Tấn, thế của Hàn yếu nhất, hơn nữa lại trực tiếp chịu sự uy hiếp của ba nước mạnh Tần, Ngụy, Sở, ắt sẽ vui vẻ hợp tung. Nước Hàn một khi đã hợp tung, sẽ hình thành áp lực đối với Ngụy, ép nước Ngụy buộc phải tham gia hợp tung. Do Lâu Hoãn đã từng đi sứ sang Hàn, nên thông thạo tình hình nước Hàn, để thêm phần chắc chắn, Tô Tần sai hắn đi trước, truyền đạt ý nguyện hợp tung.
Cùng lúc này, Tô Tần sai người sao chép sách lược hợp tung “ngũ thông”, “tam đồng” thành vô số bản, tuyên truyền khắp liệt quốc, truyền bá ý tưởng hợp tung tới người dân.
Xong xuôi mọi việc, Tô Tần chọn ngày đẹp, từ biệt Túc Hầu, dẫn đầu sứ đoàn hợp tung gồm hai trăm cỗ xe ngựa, hơn bốn nghìn người rầm rập thẳng tiến ra khỏi cổng nam thành Hàm Đan, dự định men theo phía đông núi Thái Hàng, bờ tây Hà Thuỷ, mượn đường qua đất Nguỵ tới kinh thành Trịnh của nước Hàn, sau đó từ Trịnh tới Lương, tiếp tục thực thi đại nghiệp hợp tung.
Tuy nhiên, đoàn người ngựa của sứ đoàn hợp tung chưa đi nổi trăm dặm, còn chưa tới Phẫu Thuỷ, đã nhìn thấy một cung uý dẫn theo vài kỵ sĩ phi ngựa như bay đuổi tới.
Cung uý xuống ngựa trước xe Tô Tần, vòng tay nói: “Chúa thượng khẩu dụ, mời Tô Tử trở lại Hàm Đan gấp!”
Tô Tần truyền lệnh cho Viên Báo quay xe, trở lại Hàm Đan.
Vừa tới cổng nam, đã thấy hoạn giả lệnh Củng Trạch cung kính chờ sẵn ở đó. Củng Trạch vội vã dẫn Tô Tần lên đài Hồng Ba, yến kiến Túc Hầu.
Quân thần hành lễ xong xuôi, Triệu Túc Hầu cười gượng một tiếng, lắc đầu nói: “Thật không may! Tô Tử vừa bước chân đi khỏi, đại sự đã tới. Quả nhân suy nghĩ nát óc, không biết làm sao, đành phải triệu hồi Tô Tử.”
Tô Tần mỉm cười hỏi: “Là người Tần tới phải không?”
“Đúng vậy!” Triệu Hầu kinh ngạc. “Sao Tô Tử biết?”
“Tam Tấn hợp nhất, đương nhiên bất lợi cho Tần. Vi thần vừa nghe nói chúa thượng triệu hồi, đã đoán ngay là người Tần đã tới!”
Triệu Túc Hầu lấy ra chiến thư của người Tần, đưa cho Tô Tần, chậm rãi nói: “Người Tần muốn rửa mối nhục Tấn Dương, lấy cớ giải oan cho Phụng Dương Quân, đã hạ chiến thư, điều động hai mươi lăm vạn đại quân tới chinh phạt Hàm Đan. Tuy quả nhân không sợ, song trong lòng cũng không chắc chắn, nên mới triệu hồi Tô Tử để bàn bạc. Nay thấy Tô Tử vẫn thản nhiên như không, hẳn đã có kế sách hay đẩy lui quân địch?”
Tô Tần cầm lấy chiến thư, đọc lướt qua một lượt, rồi đặt lại lên bàn, cười nói: “Chiến thư thế này, chỉ là ra oai trên giấy, không đáng bận tâm! Vi thần đoán rằng, Tần Công lần này phạt ta, sẽ không xuất ra một binh một tốt!”
Triệu Túc Hầu vô cùng kinh ngạc: “Xin Tô Tử giải thích rõ hơn!”
“Chúa thượng nhìn xem!” Tô Tần đưa lại chiến thư cho Túc Hầu. “Người Tần rêu rao trong vòng một tháng xuất hai mươi vạn binh, đánh thẳng tới Hàm Đan, Tần Công còn tỏ ý muốn đùa giỡn gái Triệu, tất cả đều là giọng điệu doạ dẫm mà thôi! Theo tính toán của vi thần, dựa vào chiến lực của nước Tần hiện tại, đứng nói là điều động hai mươi vạn đại quân trong vòng một tháng, dù chỉ mười lăm vạn, cũng đã kiệt quệ lắm rồi, đây là điều thứ nhất. Lần trước đột kích Tấn Dương, người Tần đại bại đến quăng cả giáp trụ mà tháo chạy, đã rút ra bài học sâu cay, làm sao còn dám tuỳ tiện khởi chiến, đây là điều thứ hai. Tần Công hùng tài đại lược, xưa nay ăn nói thận trọng, trong chiến thư này lại nói muốn tới chơi Hàm Đan thưởng thức gái Triệu, ngôn từ tuỳ tiện, hẳn là tiện miệng nói bừa, đây là điều thứ ba. Tần Công chuẩn bị chiến trận xưa nay vốn rất mực chu đáo, chỉ cầu toàn thắng, nên sẽ không phát động chiến tranh khi không nắm chắc phần thắng, đây là điều thứ tư. Việc binh cốt ở cơ mật, nếu người Tần thực sự đánh ta, đương nhiên sẽ không rêu rao ầm ĩ, đây là điều thứ năm. Tô Tần dựa vào năm điều này, đoán rằng người Tần chẳng qua chỉ là hù doạ mà thôi!”
“Tô Tử suy luận chí phải!” Triệu Túc Hầu rất đỗi thán phục. “Người Tần rêu rao như vậy, quả nhân vốn cũng không tin. Tuy nhiên, nước Triệu yếu ớt, lại vừa xảy ra chiến sự Tấn Dương, triều thần còn chưa hết hoang mang lo sợ. Quả nhân cho triệu Tô Tử về gấp, không phải vì sợ người Tần chinh phạt, mà là muốn bàn bạc kế sách ứng phó nhằm vỗ yên lòng dân.”
Tô Tần phỏng đoán Túc Hầu đã có ý muốn gác lại chuyện hợp tung, trầm ngâm một lát, thuận thế nói luôn: “Chúa thượng thánh minh. Nếu không ngoài dự đoán của vi thần, hịch văn của Tần Công hẳn đã truyền khắp thiên hạ để uy hiếp Hàn, Ngụy. Hàn, Ngụy không biết thật giả, có lẽ sẽ sinh lòng sợ hãi. Vi thần sẽ tạm nán lại Hàm Đan vài hôm, đợi người Tần tự lòi đuôi khuếch trương dối trá, lúc đó lên đường thực thi hợp tung cũng chưa muộn!”
Triệu Túc Hầu gật đầu lia lịa: “Quả nhân cũng có ý này. Ngoài ra, quả nhân còn có một việc nữa muốn thỉnh cầu, mong Tô Tử không từ chối.”
“Chúa thượng cứ nói!”
“Từ sau ngày Phụng Dương Quân tự vẫn, ngôi tướng quốc của Triệu vẫn bỏ trống. Quả nhân thực lòng muốn bái Tô Tử làm tướng, mong Tô Tử không từ chối.”
Lời khẩn cầu của Triệu Túc Hầu, với Tô Tần quả là tin mừng ngoài mong đợi. Chức tướng quốc là điều Tô Tần mơ ước suốt bao năm qua, Tô Tần cũng vững tin sớm muộn sẽ có ngày này, chỉ là không ngờ nó lại tới nhanh như vậy. Ngẫm nghĩ một lát, Tô Tần gắng kiềm chế cơn xúc động, điều hoà hơi thở, chậm rãi đứng dậy, trịnh trọng khấu đầu: “Tạ ơn chúa thượng coi trọng!”
“Tô Tử mau bình thân!” Túc Hầu đứng lên, đích thân đỡ Tô Tần dậy, cười vang mà nói. “Kỳ thực, quả nhân từ ngày gặp Tô Tử, đã có ý này, sở dĩ trì hoãn tới hôm nay, là vì hai nguyên do. Thứ nhất, Tô Tử muốn thực hiện hợp tung, thời gian quá cấp bách, quả nhân không muốn gây thêm phiền nhiễu. Thứ hai, người Triệu coi trọng công lao, Tô Tử tuy có đại tài, song chưa lập đại công ở Triệu, quả nhân lo sợ Tô Tử chưa có công mà đã hưởng lộc, sẽ khiến quần thần không phục, muốn đợi sau khi hợp tung thành công, sẽ đề xuất chuyện này. Nào ngờ thời thế biến đổi, người Tần rêu rao tấn công, khiến trong triều ngoài nội kinh hãi, khí thế bức người, hai lý do quả nhân vừa nói, đương nhiên đã không còn tồn tại.”
Tô Tần vòng tay đáp: “Vi thần bất tài, nguyện dốc hết sức lực báo đáp đại ân tri ngộ của chúa thượng!”
Hôm sau, trong buổi đại triều ở Tín cung, Túc Hầu hạ chiếu thư, bái Tô Tần làm tướng quốc, đảm trách nội chính bang giao, trao kim ấn tướng phủ cho Tô Tần ngay trong buổi chầu, ban cho phủ đệ của Phụng Dương Quân.
Sau buổi chầu, hoạn giả lệnh Củng Trạch dẫn theo các quan viên nội phủ, tháp tùng Tô Tần tới phủ Phụng Dương Quân, để tiếp quản phủ mới.
Tô Tần tế lễ thần linh tại chính đường trong phủ, bái nhận kim ấn. Đám Củng Trạch kiểm tra phủ đệ, đối chiếu sổ sách kiểm kê tài sản. Phủ đệ của Phụng Dương Quân, Tô Tần đã từng tới hai lần, nên khá thông thạo. Chỉ trong chớp mắt, vật đổi sao dời, vật còn người mất, trước sau chưa tới vài tháng, Tô Tần đã nghiễm nhiên trở thành chủ nhân của toà phủ đệ này, trong lòng khó tránh bùi ngùi cảm thán.
Đi quanh một vòng, Tô Tần thấy mọi thứ vẫn còn dùng tốt, nên ngay ngày hôm sau đã chuyển ra khỏi dịch quán, tới sống ở phủ mới, đồng thời bổ nhiệm Viên Báo làm quản gia, Trâu Phi Đao làm hộ viện. Sau khi mọi người chuyển tới, phủ Phụng Dương Quân đang vắng lặng tịch liêu bỗng lại tràn đầy sức sống.
Bận rộn nhất trong phủ là tân quản gia Viên Báo. Từ một tướng quân trở thành quản gia, Viên Báo vừa thấy lạ lẫm, lại vừa hào hứng, suốt mấy ngày liền, cùng Trâu Phi Đao luôn tay luôn chân sai bảo đám gia nô quét dọn, sắp xếp trạch viện tinh tươm.
Vừa qua giờ Ngọ, Củng Trạch sai người mang hoành phi tới, trên đề ba chữ vàng rực rỡ “Phủ Tướng quốc” do đích thân Túc Hầu ngự bút, toàn bộ khung đồng là do viên thợ đồng giỏi nhất thành Hàm Đan đúc nên, tinh xảo đẹp đẽ khiến ai nhìn cũng phải trầm trồ. Tô Tần bái lạy hoành phi, tạ ơn hoạn giả lệnh, rồi sai Viên Báo treo lên. Viên Báo gọi người khiêng theo hoành phi, leo lên hai thang, gỡ hoành phi cũ xuống, thay hoành phi mới lên.
Viên Báo nheo mắt nhìn hai gia đinh trên thang, miệng không ngừng hò hét: “Dịch sang trái một chút, được rồi, được rồi! Để nguyên như thế, đóng đi!”
Hai người vung búa, đóng đinh cồm cộp cố định tấm hoành phi.
Đúng lúc này, Sư Lý Tật mình mặc thường phục chậm rãi bước vào, đi tới trước mặt Viên Báo, vòng tay hỏi: “Vị này phải chăng là Viên tướng quân?”
Viên Báo nhìn Sư Lý Tật dò xét, đáp lễ nói: “Chính tại hạ. Tiên sinh là...”
Sư Lý Tật vòng tay nói: “Xin tướng quân bẩm báo với tướng quốc đại nhân, nói rằng có bạn cũ Mộc Vũ Khuy cầu kiến.”
Viên Báo lại săm soi Sư Lý Tật một lượt, rồi vòng tay nói: “Mộc tiên sinh xin đợi một lát!” Bước vào trong phủ, một lát sau quay trở ra, vòng tay nói. “Mộc tiên sinh, chúa công có lời mời!”
Tô Tần hai lần cầu kiến Phụng Dương Quân, đều là ở Thính Vũ các, biết đây là chốn thanh tao, nên chọn làm thư phòng, chuyên để đọc sách tiếp khách. Nghe thấy tiếng chân bước, Tô Tần vội ra nghênh đón, vòng tay vái Sư Lý Tật: “Mộc tiên sinh giá lâm, tại hạ không kịp ra ngoài nghênh đón, thật thất lễ!”
Sư Lý Tật đáp lễ: “Tô Tử giờ đai ngọc áo gấm, nếu đi ngoài phố, tại hạ thực sự không dám nhận người quen!”
“Vậy ư?” Tô Tần cười vang. “Xem ra, Mộc tiên sinh cũng chỉ nhận mũ áo mà không nhận người!”
Sư Lý Tật cũng cười: “Phải đấy, phải đấy, người xem mũ áo ngựa xem yên, không thể không có mũ áo!”
Hai người nắm tay nhau bước vào trong phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Người hầu rót trà, hai người cùng uống, Tô Tần cười nói: “Mộc tiên sinh tới đây, nghe nói để hạ chiến thư, có chuyện này chăng?”
Sư Lý Tật đưa mắt nhìn Tô Tần, ôm quyền mà nói: “Mục đích của tại hạ khi tìm đến đây, hẳn cũng không giấu được Tô Tử. Trước lúc lên đường, chúa thượng nắm tay tại hạ, tha thiết dặn đi dặn lại, muốn tại hạ nhất thiết phải chuyển khẩu dụ tới Tô Tử.”
“Ồ, Tần Công muốn khẩu dụ việc gì?”
“Chúa thượng khẩu dụ rằng: ‘Quả nhân thỉnh cầu Tô Tử, chỉ cần Tô Tử nguyện tới Tần, quả nhân sẽ khom lưng, đi chân trần ra tận cửa ải nghênh đón, nguyện phó thác cả quốc gia, dốc hết sức lực của Tần, hoàn thành chí nguyện nhất thống của Tô Tử’.”
Nghe thấy mấy chữ “khom lưng đi chân trần”, Tô Tần trong lòng xúc động, trầm ngâm hồi lâu, mới ngẩng đầu lên, thở dài một tiếng: “Than ôi, là thời, là mệnh! Xưa kia khi tại hạ còn ở Hàm Dương, nếu Tần Công nói ra những lời này, thì đâu phải nhiều khổ tâm đến vậy!”
“Tô Tử!” Sư Lý Tật khẩn thiết nhìn Tô Tần. “Trước đây tại hạ đã nói, chúa thượng vô cùng hối hận vì đã không kịp thời trọng dụng Tô Tử. Chuyện này là có thực, tại hạ không dám nói dối nửa lời.”
“Tại hạ đã biết là thực!” Tô Tần lại nhấp một ngụm trà, khẽ mỉm cười mà nói. “Tại hạ cũng biết, Tần Công còn đang hối hận một chuyện, chính là trước kia nhất thời mềm lòng, cho tại hạ thoát được một mạng!”
Sư Lý Tật trong tim giật thột, há miệng cứng lưỡi, hồi lâu sau mới định thần lại được: “Tô Tử, Tô Tử... đúng là đã hiểu lầm chúa thượng rồi!”
“Cứ coi như tại hạ đã hiểu lầm!” Tô Tần cười vang, ôm quyền mà nói. “Đều là chuyện đã qua! Song tại hạ làm phiền Mộc huynh, hãy trở về bẩm với Tần Công, nói là bất luận thế nào, Tô Tần vẫn khấu tạ Tần Công hậu ái. Tô Tần cũng nhờ thượng đại phu chuyển tấu Tần Công, Tô Tần hôm nay đã không còn là Tô Tần hôm qua nữa!”
Sư Lý Tật cười gượng một tiếng, gật đầu mà nói: “Đúng vậy, Tô Tử hôm qua chẳng qua chỉ là một hàn sĩ, Tô Tử hôm nay quý là đặc sứ nước Yên, tướng quốc nước Triệu. Nước Tần nghèo nàn hẻo lánh, đương nhiên không xứng với quý thể của Tô Tử!”
“Sư Lý huynh hiểu lầm rồi!” Tô Tần khẽ lắc đầu.
“Xin Tô Tử giải thích rõ hơn!”
“Ý tại hạ muốn nói,” Tô Tần thong thả nói tiếp, “vật đổi sao dời, Tô Tần vẫn là một người, song ngày nay đã khác hôm qua. Mục đích của Tô Tần hôm qua là mưu cầu thiên hạ nhất thống, còn mục đích của ngày hôm nay là mưu cầu thiên hạ cùng hoà thuận phồn vinh. Tại hạ nhờ thượng đại phu chuyển lời tới Tần Công, Tô Tần đề xướng liệt quốc kết thân, chỉ vì cầu được ‘ngũ thông’, ‘tam đồng’, khiến cho liệt quốc tôn trọng lẫn nhau, chung sống hoà mục. Tô Tần không có ý trở thành kẻ thù của liệt quốc, cũng không có ý trở thành kẻ thù của nước Tần.”
“Ồ!” Sư Lý Tật bưng chén trà lên, nhấp khẽ một ngụm. “Mưu cầu của Tô Tử, chỉ có thể khiến người ta cảm động mà không thể khiến người ta ngưỡng mộ. Những điều khác chưa nói tới, tại hạ chỉ xin Tô Tử suy nghĩ tới một sự thực.”
“Tô Tần xin rửa tai lắng nghe!”
“Sở dĩ Tam Tấn trở thành Tam Tấn, nguyên nhân chỉ có một, đó là người Tấn là một đĩa cát khô, không thể hợp thành một khối. Tô Tử nhất quyết muốn họ kết thân, khác nào bắt thỏ bay lên trời, ép người vào chỗ khó. Tật cả gan nói bừa, dù Tam Tấn miễn cưỡng hợp tung, cũng sẽ giống như hoa quỳnh chớm nở đã tàn, chỉ thoáng gió lay cỏ động, lập tức rụng rời tan tác.”
Tô Tần cười vang mà nói: “Thượng đại phu hiểu sai ý Tô Tần rồi!”
“Ồ?”
“Thứ Tần mong cầu không phải là muốn Tam Tần hợp thành một nước, mà là muốn Tam Tấn tôn trọng lẫn nhau, chung sống hoà thuận. Không chỉ Tam Tấn, Tô Tần cho rằng, liệt quốc thiên hạ, bất luận lớn nhỏ, chỉ cần từ bỏ chiến tranh, chỉ cần chung sống hoà thuận, thì không có mâu thuẫn nào không thể giải quyết. Điều Tô Tần mong cầu, chỉ là muốn mọi người ngồi xuống cùng nhau, tập trung tâm lực hữu hạn để mưu cầu phúc lợi cho chúng sinh trong thiên hạ, chứ không phải tiêu tốn vào những cuộc chiến tranh một mất một còn.”
Sư Lý Tật trầm ngâm hồi lâu, rồi quay sang Tô Tần vái dài một vái: “Tới hôm nay, tại hạ mới biết thiện tâm của Tô Tử. Kính phục! Kính phục!”
Tô Tần đáp lễ: “Tạ ơn Sư Lý huynh đã cảm thông!”
Sư Lý Tật vẫn chưa hết hy vọng, lại nhoài người về phía trước, vòng tay mà rằng: “Điều Tô Tử mong cầu cũng là điều Tần Công mong cầu, càng là điều bách tính thiên hạ mong cầu. Tại hạ khẩn cầu Tô Tử, chỉ cần đồng ý tới Hàm Dương, bất luận Tô Tử muốn thực hiện tráng chí gì, chúa thượng cũng sẽ dốc sức thực hiện.”
“Tạ ơn ý tốt của Sư Lý huynh!” Tô Tần cười nói. “Tô Tần xưa nay làm việc không muốn bỏ dở giữa chừng, mong Sư Lý huynh lượng thứ.”
Sư Lý Tật im lặng, trầm tư hồi lâu, rồi thở dài sườn sượt: “Than ôi, Tần mất Tô Tử, tiếc nuối để đời!”
Tô Tần lại phá lên cười. “Thiên hạ không thiếu người tài giỏi hơn Tô Tần, Sư Lý huynh quá lời rồi!”
“Ồ, còn người nào giỏi hơn được Tô Tử?”
“Trương Nghi!”
“Trương Nghi?” Sư Lý Tật trợn tròn hai mắt. “Chẳng phải người này đang ở nước Sở ư?”
“Đúng vậy!” Tô Tần khẽ mỉm cười. “Hiện tại đang ở Sở. Có điều, Sư Lý huynh có thể chuyển tấu Tần Công, nói rằng tuy tại hạ không có duyên với Tần, song muốn tiến cử người này. Nếu Tần Công có được hắn, có lẽ sẽ không còn lo lắng!”
“Ồ...” Sư Lý Tật ngẩn ra một chốc mới định thần lại được, đảo con ngươi vài vòng rồi nói. “Trương Nghi ở tận nước Sở xa xôi, dù Tô Tử có tiến cử, cũng làm sao có được?”
“Sư Lý huynh chớ lo lắng!” Tô Tần cười nói. “Nếu không ngoài dự đoán của tại hạ, trong vòng năm mươi hôm nữa, người này sẽ tới Hàm Đan. Sư Lý huynh nếu không có việc gấp, cứ lưu lại đây du sơn ngoạn cảnh, giăng sẵn lưới chờ hắn tới là được!”
“Tốt lắm!” Sư Lý Tật vòng tay cười nói. “Có lời này của Tô Tử, tại hạ sẽ không đi nữa!”
Hồi Thứ 38
Dâng tặng mỹ nữ, Trần Chẩn bày mưu
Trúng kế liên hoàn, Trương Nghi gặp họa
Sau khi diệt Việt, Uy Vương dường như đã cảm thấy công đức viên mãn, lại giao phó triều chính cho thái tử, còn mình tiếp tục lên đài Chương Hoa, ngày ngày chìm đắm trong đàn ca múa hát, hoan lạc hậu cung, không còn màng đến triều chính. Thái tử Hoè đoán rằng Uy Vương có ý muốn tôi luyện mình, do vậy ngày càng thận trọng, nhất nhất tuân theo phép tắc cũ của Uy Vương, gặp việc hệ trọng, hoặc viết thư tấu trình, hoặc lên đài hỏi ý, không dám biếng nhác mảy may.
Đầu xuân năm nay, vừa qua tiết Thanh minh, chính đàn nước Sở xảy ra chuyện nghiêm trọng. Lão lệnh doãn Cảnh Xá tuổi ngoại thất tuần trong lúc lên triều, bỗng nhiên hai mắt tối sầm, ngã gục dưới bậc thềm trước điện, thái dương xuất huyết, miệng trào máu tươi, chết giấc bất tỉnh.
Cảnh Xá đột tử trên đường lên triều, cũng coi như đã cúc cung tận tuy với Đại Sở. Trong dòng họ Cảnh, người thân đích mạch của ông ta chỉ còn lại cháu trai Cảnh Thuý, lúc này đang ở quận Cối Kê xa xôi cùng Trương Nghi trị lý người Việt. Thái tử Hoè một mặt an trí hậu sự, mặt khác sai người cho gọi Cảnh Thuý gấp rút trở về Sính Đô chịu tang. Trước lúc kỵ sĩ đưa tin lên đường, Ngận Thượng vốn có mối quan hệ thân thiết với Trương Nghi đưa cho hắn một bức mật thư, nhờ chuyển tới Trương Nghi. Trương Nghi nhận được thư, mở ra xem, vội vã thu xếp ổn thoả công việc ở Cối Kê, lấy danh nghĩa viếng tang, cùng Cảnh Thuý, Hương Nữ lên đường trở về Sính Đô.
Đám người Trương Nghi lúc đi đường bộ lúc đổi đường thuỷ, ròng rã suốt ngày đêm, dọc đường ngựa không ngừng vó, thuyền không cập bờ, chưa đầy nửa tháng đã tới Sính Đô. Vừa tới Sính Đô, Trương Nghi không kịp về phủ, đã theo Cảnh Thuý tới Cảnh phủ chia buồn. Theo tập tục đất Kinh, Hương Nữ không tiện đi theo, đành phải trở về phủ khách khanh mà Sở Vương ban tặng. Do lâu không ở nhà, trong phủ chỉ có một lão nô trông coi. Lão nô mới đầu còn chăm chỉ, song lâu dần cũng thành biếng nhác, để cho trong viện cỏ mọc um tùm, phòng ốc sặc mùi ẩm mốc, trông rất quạnh quẽ hoang lương. Hương Nữ nhìn không thuận mắt, dù vừa đi đường xa mệt mỏi, vẫn đốc thúc gia nô quét dọn sửa sang.
Hương Nữ đang lúc bận rộn, bỗng nghe ngoài cửa vọng lại tiếng xe ngựa. Chớp mắt, đã thấy một người bước thẳng vào trong. Hương Nữ thấy là Ngận Thượng, vội ném chổi xuống, bước ra nghênh đón, vái chào: “Tiểu nữ bái kiến Ngận đại nhân!”
Ngận Thượng vòng tay đáp lễ: “Ngận Thượng bái kiến tẩu phu nhân!” Lời vừa dứt, chợt ngửi thấy một mùi hương lạ, vội chun mũi hít hà vài cái, đảo mắt nhìn quanh.
Hương Nữ cười hỏi: “Ngận đại nhân đang tìm gì vậy?”
Ngận Thượng vừa nhìn dáo dác vừa ngạc nhiên tự hỏi: “Quái lạ, trong viện làm gì có hoa cỏ, hương thơm ở đâu ra thế?”
Hương Nữ bật cười thành tiếng: “Ngận đại nhân không phải tìm nữa, mùi hương là ở trên người tiểu nữ.”
Ngận Thượng liếc nhìn Hương Nữ, thấy nàng khắp người mồ hôi nhễ nhại, thì lắc đầu quầy quậy: “Tẩu phu nhân đừng nói đùa nữa! Nhìn phu nhân mồ hôi mồ kê thế kia, dù có cắm hoa tươi lên người, mùi thơm cũng chẳng còn được nữa!”
Hương Nữ lại cười: “Ngận đại nhân có điều không biết, tiểu nữ ngay từ lúc sinh ra, trên người đã mang hương lạ, bình thường còn đỡ, càng ra mồ hôi, hương thơm càng nồng. Vừa rồi quét dọn nhà cửa, mồ hôi đầm đìa, nên mới toả hương thơm, làm kinh động tới Ngận đại nhân!”
Ngận Thượng lấy làm hiếu kỳ, nhìn Hương Nữ chăm chú hồi lâu, lại tiến thêm hai bước, chun mũi hít ngửi vài lần, mới tin là thực, tấm tắc mà rằng: “Tẩu phu nhân đúng là kỳ nhân, hôm nay tại hạ đã được đại khai nhãn giới!” Dừng lại một lát, mới sực nhớ ra việc chính. “Trương đại nhân có nhà không?”
Hương Nữ đáp lời: “Còn chưa về đến nhà, đã đi viếng tang ở Cảnh phủ!”
Ngận Thượng đưa mắt liếc nhìn Hương Nữ, thấy nàng phong tư ung dung sắc sảo, hai má đỏ hồng, áo đẫm mồ hôi, hương thơm ngào ngạt, khắp người toát lên một vẻ quyến rũ kiều mỵ khó tả, bỗng thấy trong lòng xao động, nhất thời ngơ ngẩn. Đứng đờ ra một lát, mới định thần lại được, ngẩng đầu nhìn sắc trời, thấy vầng nhật đã lặn xuống núi tây, bèn bước lên vài bước, cúi xuống nhặt lấy cây chổi của Hương Nữ, cười mà nói: “Tẩu phu nhân, trông phu nhân hẳn đã mệt rồi, hãy đi nghỉ ngơi trước, để tại hạ quét giúp cho!” Nói xong, lập tức quét lấy quét để.
“Làm thế sao được?” Hương Nữ nhìn vào đôi bàn tay trắng nõn chưa từng làm việc nặng nhọc của Ngận Thượng, cười khanh khách mà nói. “Ngận đại nhân thân thể cao quý, sao có thể làm việc nặng nhọc này?”
Ngận Thượng cũng cười, dừng tay chổi, nửa đùa nửa thực: “Người tại hạ chỉ biết đổ mồ hôi chua loét, còn người tẩu phu nhân lại ra mồ hôi thơm tho, nếu nói đến thân thể cao quý, phải là tẩu phu nhân mới đúng!” Nói xong, hai mắt hau háu nhìn thẳng vào người Hương Nữ.
Thấy ánh mắt như muốn ăn tươi nuốt sống của Ngận Thượng, Hương Nữ hơi nóng mặt, lùi lại một bước, vòng tay vái mà nói: “Ngận đại nhân nếu cứ nhất quyết muốn lao lực, tiểu nữ cũng không biết phải làm sao, đành đi pha trà cho đại nhân vậy!” Nói đoạn, đĩnh đạc quay người, uyển chuyển bước về phía cửa phòng.
Ngận Thượng đắm đuối nhìn theo bóng nàng cho đến khi khuất sau cánh cửa, mới thu ánh mắt lại, tâm tư treo ngược, đưa chổi quấy quả. Vừa quét được vài nhát, bên ngoài lại có tiếng xe ngựa vọng vào. Ngận Thượng đặt chổi xuống, nhìn thấy là Trương Nghi, bèn bước ra đón, rồi kể sơ qua cho Trương Nghi nghe chuyện Chiêu Dương muốn tranh chức lệnh doãn.
Trương Nghi ngẫm nghĩ một lát, rồi ngẩng lên hỏi: “Ý điện hạ thế nào?”
“Điện hạ rất trọng vọng Trương Tử. Lần này cho gọi Trương Tử trở về, kỳ thực cũng là ý chỉ của điện hạ. Song Trương Tử có điều không biết, chức lệnh doãn không phải ai muốn ngồi vào cũng được, từ thời Xuân Thu đến nay, đại khái chỉ nằm trong ba dòng họ Chiêu, Khuất, Cảnh. Đừng nói là người từ nơi khác tới, dù là người thuộc dòng tộc khác, cũng hiếm ai có thể vượt mặt. Tuy điện hạ có ý này, song có thành hay không, còn phụ thuộc vào quyết định của bệ hạ.”
Trương Nghi lại ngẫm nghĩ một lát, rồi gật đầu nói: “Đa tạ Ngân huynh!” Dừng lại một lát, nói tiếp. “Còn một việc nữa, tại hạ trở về lần này, chưa có vương mệnh, nói nhẹ là vì việc tư mà bỏ việc công, nói nặng là tự ý rời cương vị. Nếu bệ hạ hỏi tội, tại hạ...”
“Trương Tử yên tâm!” Ngận Thượng cười nói. “Nếu là chuyện này, lại không có gì đáng lo. Đợi lát nữa, tại hạ sẽ thỉnh cầu điện hạ, điện hạ sẽ lo liệu chuyện này, chỉ cần bổ sung một chiếu lệnh là được!”
Trương Nghi vòng tay nói: “Tạ ơn Ngận đại nhân. Việc này bất luận là thành hay bại, đại ân của Ngận đại nhân, tại hạ cũng xin ghi tạc trong lòng.”
“Chúng ta là huynh đệ, nói gì đến chuyện này?” Ngận Thượng vòng tay đáp lễ. “Hơn nữa, tại hạ cũng mong muốn như vậy. Không giấu Trương Tử, gần đây điện hạ và đám Khuất Cái, Khuất Hạ có bàn bạc, mọi người đều đồng ý tiến cử Trương Tử, điện hạ cũng mong muốn trọng dụng Trương Tử để hoàn thành đại nghiệp. Trương Tử trở về thì hay quá. Điện hạ nói rằng, hiện tại không thích hợp để gặp mặt Trương Tử, Trương Tử tạm thời cứ ở trong phủ, không được đi đâu, đợi ý chỉ của điện hạ!”
“Xin Ngận đại nhân chuyển tấu điện hạ, vi thần bất tài, nguyện thịt nát xương tan báo đáp ân tri ngộ của điện hạ!”
“Lời này Trương Tử nên đích thân nói với điện hạ, tại hạ cáo từ!”
Phương nam xuân sớm, mấy ngày gần đây thời tiết trở ấm, phu nhân Giang Quân tuổi quá lục tuần chịu không nổi thời tiết biến động, đột nhiên cảm lạnh, chốc chốc lại ho khan.
Phu nhân Giang Quân là goá phụ của Chiêu Hề Tuất, lệnh doãn nức tiếng liệt quốc của triều vua trước (Sở Tuyên Vương), cũng chính là Hạng thị, thân mẫu của Chiêu Dương. Chiêu Hề Tuất được phong đất Giang, người Sở gọi ông là Giang Quân, dưới thời Tuyên Vương, nắm quyền triều chính nước Sở hơn chục năm trời. Về sau, Chiêu Hề Tuất qua đời, Cảnh Xá kế tục ngôi lệnh doãn, đại chính nước Sở từ tay họ Chiêu chuyển sang họ Cảnh. Lần này Cảnh Xá qua đời, là người quyền uy nhất dòng họ Chiêu, Chiêu Dương đương nhiên không muốn bỏ lỡ cơ hội trời cho để giành lại đại quyền triều chính.
Sau khi mưu tính kỹ càng, Chiêu Dương quyết định tiết lộ thông tin Hạng thị đổ bệnh ra ngoài. Các danh môn vọng tộc xưa nay vẫn thường qua lại với họ Chiêu như họ Hạng, họ Hoàng, đặc biệt là bạn bè cũ của Chiêu Hề Tuất hay tin, lũ lượt kéo tới thăm hỏi. Chốc lát, trước phủ Chiêu Dương đã ngựa xe tấp nập, Chiêu Dương đón tiễn khách liên hồi, kết thành thế lực với những gia tộc quyền quý đó.
Vào buổi chiều, Chiêu Dương đang tiếp khách, bỗng quản gia Hình Tài hấp tấp bước lại, ghé sát tai ông ta thầm thì vài câu. Chiêu Dương sắc mặt kinh hãi, kéo Hình Tài sang một bên, lo lắng hỏi: “Ngươi nói rõ ràng xem nào, Trương Nghi làm sao?”
“Trương Nghi đã về rồi!”
“Về lúc nào?”
“Cùng Cảnh Thuý trở về, vừa tới Sính Đô, lúc này đang phúng viếng ở Cảnh phủ.”
Chiêu Dương trợn mắt há miệng, đứng ngẩn hồi lâu, mới cười khan một tiếng, lắc đầu mà nói: “Đúng thực là, chỗ tối có ma, chỗ ngứa có rận! Triệu Trần Chẩn tới gấp, nói là bản công có lời mời!”
Hình Tài vâng dạ, quay người bước vội đi.
Chưa đầy nửa canh giờ sau, Trần Chẩn sai người khiêng theo hòm lễ vật, cũng tới hỏi thăm. Chiêu Dương bảo con trai trưởng Chiêu Tuy tiếp đón những khách khứa khác, còn mình mời Trần Chẩn tới thư phòng, đuổi hết nô bộc ra, đóng chặt cửa lại, ôm quyền mà nói: “Thượng khanh đại phu, Trương Nghi đã trở về rồi!”
“Tại hạ đã biết! Tại hạ còn biết, là do điện hạ gửi mật thư mời hắn trở về!” Trần Chẩn khẽ mỉm cười, giọng nói rất đỗi bình thản.
“Ồ?” Chiêu Dương lại một phen kinh ngạc trợn mắt. “Chuyện này... làm sao có thể?”
Trần Chẩn cười nói: “Trụ quốc đại nhân, ở nước Sở, không có gì là không thể!”
“Thượng khanh nói vậy, là có ý gì?”
“Đại nhân thử nghĩ mà xem, nước Sở tuy rộng, kỳ thực chỉ có bốn nhà, là Hùng, Khuất, Cảnh, Chiêu. Một nhà là quân, ba nhà là thần, đây là quy tắc không thể phá vỡ suốt mấy trăm năm qua. Nay tuy họ Cảnh thất thế, song dòng họ Cảnh vẫn tồn tại, ngoài ra còn có dòng họ Khuất, cũng sẽ không cam tâm để quyền bính quay về tay họ Chiêu. Theo vi thần biết, trong một năm nay, bệ hạ giao lại triều chính cho điện hạ, mà người thân thiết với điện hạ là ai? Là Cảnh Thuý của dòng họ Cảnh, là Khuất Cái, Khuất Hạ của dòng họ Khuất. Còn một người nữa, chính là Ngận Thượng. Mà kẻ qua lại thân thiết với Ngận Thượng, không ai khác chính là Trương Nghi kia!”
Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lát: “Nếu là như vậy, hai họ Khuất, Cảnh cũng đâu có chuyện hai tay dâng chức lệnh doãn cho một kẻ từ nơi khác tới?”
“Ha ha ha!” Trần Chẩn phá lên cười lớn. “Tại hạ xin nói cho trụ quốc đại nhân biết, chức lệnh doãn của nước Sở, không phải là chưa từng rơi vào tay người nơi khác. Hai trăm năm trước có Tôn Thúc Ngao, bốn mươi năm trước có Ngô Khởi. Đại nhân làm việc lớn, lẽ nào lại quên?”
Chiêu Dương vò đầu bứt tai, không biết đáp lời ra sao.
“Còn nữa!” Trần Chẩn nói tiếp. “Xin hỏi đại nhân, trong dòng họ Khuất có nhân tài nào đảm đương được chức lệnh doãn hay chăng?”
Chiêu Dương ngẫm nghĩ một lát, lắc đầu.
“Trong dòng họ Cảnh, có nhân tài nào đảm đương được chức lệnh doãn hay chăng?”
Chiêu Dương lại lắc đầu.
“Xin hỏi tiếp đại nhân,” Trần Chẩn khẽ mỉm cười, lại cất giọng thủng thẳng, “nếu đại nhân là người của hai dòng họ Khuất và Cảnh, theo như tình thế trước mắt, sẽ hai tay nhường chức lệnh doãn cho họ Chiêu, hay là giao phó cho người từ nơi khác tới là Trương Nghi?”
Chiêu Dương cúi đầu, trầm ngâm một lát, rồi ngẩng nhìn Trần Chẩn: “Thượng khanh đại phu, tại hạ ngu muội, trước mắt nên làm thế nào, xin đại nhân chỉ giáo!”
“Chỉ giáo thì không dám!” Trần Chẩn cười nói. “Song tại hạ có một báu vật, nếu đại nhân rảnh rỗi, hãy đi xem cùng tại hạ!”
Chiêu Dương không đoán được Trần Chẩn đang giở chiêu bài gì, bèn gật đầu đồng ý: “Được, tại hạ sẽ đi xem!”
“Hay lắm!” Trần Chẩn đứng dậy, đưa tay mời. “Trụ quốc đại nhân, mời!”
Hai người tới phủ Trần Chẩn. Vừa bước chân vào cửa, Chiêu Dương đã trợn mắt kinh ngạc, bởi lẽ trên nền gạch chính giữa chính đường trải một tấm thảm đỏ chót, hai bên treo hai tấm rèm màu tím sẫm.
Trần Chẩn nhìn vẻ nghi hoặc ngỡ ngàng của Chiêu Dương, cười nói: “Trụ quốc đại nhân, mời!” Rồi cầm tay ông ta dắt vào, phân ngôi chủ khách ngồi xuống.
Chiêu Dương càng khó hiểu, chỉ tay vào hai tấm rèm hai bên mà hỏi: “Thượng khanh đại nhân, đây là...”
Trần Chẩn khẽ vỗ tay hai tiếng. Tấm rèm bên trái được kéo ra, để lộ một toán nhạc công dị vực, tay mang nhạc cụ, nghiêm trang chờ lệnh.
Chiêu Dương vẫn đang ngơ ngác, lại thấy Trần Chẩn vỗ tay một tiếng, toán nhạc công lập tức lập tức diễn tấu, song lại là điệu nhạc nước Sở. Dù Chiêu Dương xuất thân danh giá, tinh thông âm luật, cũng chưa từng nghe nhạc Sở được tấu bởi nhạc cụ dị vực, nên chốc lát đã bị cuốn hút vào điệu nhạc.
Tấu được một lúc, tiết tấu đột nhiên trở nên nhanh gấp. Chiêu Dương đang sửng sốt, lại thấy từ phía góc rèm bên phải, lần lượt bước ra sáu vũ nữ, nhảy múa theo nhịp nhạc. Chiêu Dương đã từng xem vô số điệu múa, song lại không hiểu nổi những vũ nữ kia đang múa điệu gì, chỉ thấy uốn éo ma mỵ, trống nhạc rộn ràng, như vào tiên cảnh.
Trần Chẩn hẹn ông ta tới xem báu vật, không ngờ lại là một vũ khúc lạ kỳ, thực khiến Chiêu Dương chẳng lấy gì làm vui vẻ. Xem một lát, sắc mặt Chiêu Dương dần dần sầm xuống, quay đầu định hỏi, thì lại nghe một hồi trống dồn dập, thế rồi góc rèm một lần nữa lại được vén lên. Một làn hương thơm bay ra sực nức, mỹ nữ Y Na làn da trắng muốt, vận trang phục Tây Vực uyển chuyển bước ra, chân giẫm theo nhịp trống, xoay tròn ra giữa tấm thảm.
Y Na xiêm y phóng khoáng, để hở cả mảng bụng trắng ngần, tóc vàng mắt xanh, mũi cao mắt sâu, eo thon ngực nở, khắp người hương lạ ngào ngạt, nước da mịn màng trắng nuột, nhảy múa lại càng khéo léo lạ lùng, lúc đưa eo lắc hông, lúc giơ chân quá đầu, lúc xoay tròn như gió, thật đúng là nghìn vẻ kiều mỵ, vạn vẻ phong tình. Đừng nói là con gái đất Sở, dù là mỹ nữ Việt, Triệu cũng không thể sánh kịp. Chiêu Dương đắm đuối như say, hai mắt lồi ra như chuông đồng, miệng há hốc, ngắm đến ngây dại.
Điệu múa đã kết thúc, tiếng nhạc chợt ngừng bặt, Y Na cúi thấp lưng thon, thốt lên tiếng chào bằng giọng Sở lơ lớ, rồi xoay tròn, lui vào sau rèm.
Trần Chẩn thấy ánh mắt Chiêu Dương nhìn như hút theo vào sau tấm rèm, thì khẽ mỉm cười, hỏi: “Trụ quốc đại nhân, báu vật này thế nào?”
“Báu vật trời cho, đúng là báu vật trời cho!” Chiêu Dương đã định thần lại, tấm tắc khen không ngớt miệng.
Trần Chẩn bật cười vang. Cười xong, sai người hầu gỡ rèm xuống, dọn dẹp phòng khách trở lại như cũ.
Chiêu Dương trong lòng chỉ nghĩ tới Y Na, thấy người hầu đã lui ra hết, bèn hỏi nhỏ: “Báu vật nhường này, thượng khanh làm thế nào mà có được?”
“Hồi bẩm trụ quốc đại nhân, vũ nữ này là do Tây Nhung dâng tặng Tần Công hai năm về trước. Tần Công còn chưa dùng, đã ban thưởng cho tại hạ. Tại hạ tới Sở, nhân tiện mang nàng theo cùng.”
Chiêu Dương thất vọng tràn trề: “Nói như vậy, vũ nữ này là bảo bối của thượng khanh ư?”
Trần Chẩn lại cười lớn. “Có gì mà bảo bối, chỉ là một đứa con gái mà thôi! Không giấu trụ quốc đại nhân, tại hạ đưa nàng tới đây, vốn cũng không phải để dành cho mình!”
“Ồ?” Chiêu Dương vội hỏi. “Thượng khanh đại nhân đã không để dành cho mình, vậy thì để cho ai dùng?”
“Là để dành tặng cho đại nhân!”
Chiêu Dương nhất thời ngây sững, rồi lập tức hớn hở ra mặt: “Tại hạ tạ ơn thượng khanh!” Bỗng sực nhớ ra một điều, bèn ngẩng đầu nhìn thẳng vào Trần Chẩn. “Thượng khanh đã có ý tặng cho tại hạ, cớ sao hai năm trước lại cất kỹ nàng trong phủ, không chịu hé lộ?”
“Bởi thời cơ chưa tới!”
“Nói vậy là sao?”
Trần Chẩn ra hiệu, Chiêu Dương bèn ghé lại gần. Trần Chẩn thì thầm một hồi vào tai ông ta. Chiêu Dương nghe xong, ngẫm nghĩ một lát, thở dài một tiếng mà nói: “Than ôi, không giấu thượng khanh, trong những ngày qua, tại hạ trăn trở ngày đêm, nát óc suy tính, nghĩ ra trăm phương nghìn kế, song chẳng kế nào sánh bằng diệu kế này của thượng khanh đại nhân!” Lại dừng một lát, càng nghĩ càng khâm phục, cảm kích mà nói. “Hay lắm, đúng là liên hoàn kế, vòng này nối tiếp vòng kia, đan xen kín kẽ, khôn ngoan tinh quái như Trương Nghi, cũng khó hòng thoát khỏi kiếp nạn này!”
“Không giấu đại nhân,” Trần Chẩn cười nói, “tại hạ giữ lại báu vật, chính là vì người này. Chỉ cần hất cẳng được Trương Nghi, đất Đại Sở này còn có ai dám tranh giành chức lệnh doãn với đại nhân nữa?”
Chiêu Dương khẽ gật đầu, lát sau, lại nhìn Trần Chẩn chăm chú: “Nếu trời phù hộ, đại sự thành công, đại ân của thượng khanh, tại hạ thực không biết phải báo đáp thế nào?”
“Lời này sai rồi!” Trần Chẩn vòng tay đáp lễ. “Giữa hai chúng ta, nói gì tới báo đáp? Nếu có một ngày tại hạ sa cơ thảm hại, trốn chạy tới chỗ đại nhân, chỉ cần đại nhân còn nhớ tới chút công lao khó nhọc hôm nay của tại hạ, không xua đuổi là đã tốt lắm rồi!”
“Thượng khanh yên tâm!” Chiêu Dương thu thần nghiêm mặt mà rằng. “Chỉ cần tại hạ còn một hơi thở, sẽ không cho phép bất cứ kẻ nào động tới một cọng lông chân của thượng khanh!”
Ngận Thượng đưa thái tử Hoè tới trước đài Chương Hoa. Thái tử Hoè bước lên bậc cấp, mới leo được vài bậc, lại dừng chân, ngoảnh đầu nói với Ngận Thượng: “Hiện giờ ngươi cũng không có việc gì, mau trở về Sính Đô đón Trương Tử đến đây đợi chỉ. Ngộ nhỡ phụ vương muốn triệu kiến, cũng đỡ phải đi lại mất công!”
Ngận Thượng tuân lệnh, quay người bước đi. Thái tử Hoè sải bước leo lên đỉnh đài Tam Hưu, sai cung nhân bẩm báo. Sau vụ yết kiến đường đột gây xấu hổ hai năm về trước, thái tử Hoè giờ đã coi trọng lễ nghi, dù lên đài lúc nào, cũng bẩm báo trước.
Lão nội thần ra nghênh đón, dẫn thái tử Hoè vào một đài lộ thiên ở sát bên hồ. Uy Vương đã ngồi sẵn trên chiếu, nghiêm trang chờ đợi.
Thái tử Hoè bước lại, dập đầu nói: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”
Uy Vương chỉ vào chỗ ngồi bên cạnh: “Ngồi đi!”
Thái tử Hoè tạ ơn, đứng dậy, ngồi xuống.
Uy Vương nhìn thái tử Hoè một lát, gật đầu mà nói: “Hoè Nhi, con tới thật đúng lúc, quả nhân đang định cho gọi con!”
“Nhi thần kính cẩn lắng nghe lời chỉ dạy của phụ vương.”
“Dòng họ Cảnh một lòng trung thành với nước, Cảnh ái khanh lại có công lớn với xã tắc, vừa rồi ra đi ngay trên đường lên triều, là một bề tôi tận trung, tấm lòng đáng khen ngợi, hành động đáng biểu dương. Tang lễ nhất định phải trọng thể, để thần dân cả nước biết rằng, với những trung thần tận tuỵ với đất nước, có công với xã tắc, quả nhân nhất định không để họ phải chịu thiệt thòi!”
“Nhi thần tuân chỉ!”
“Còn nữa!” Uy Vương trầm ngâm một lát, chậm rãi nói. “Về người thế chỗ cho Cảnh ái khanh, quả nhân cũng muốn nghe ý kiến của con. Quả nhân già rồi, không còn sống được bao lâu nữa, giang sơn xã tắc đều sẽ thuộc về con. Chọn ai làm lệnh doãn, sẽ do con quyết định!”
“Phụ vương...” Thái tử Hoè hai mắt nhoà lệ, đứng dậy, quỳ sụp xuống đất, dập đầu mà nói. “Phụ vương chớ nói những lời không may mắn! Phụ vương long thể như sắt nung đồng đúc, thọ sánh Nam Sơn, nhi thần...”
Uy Vương cười vang mà nói: “Hoè Nhi, đứng dậy đi, quả nhân đã già chưa, xương cốt thế nào, trên đời này không ai hiểu rõ bằng quả nhân. Thọ sánh Nam Sơn, chẳng qua chỉ là câu nói cát lợi, dù là ai nói ra, quả nhân cũng không tin, quả nhân cũng khuyên con không nên tin!”
Thái tử Hoè gật đầu, đứng dậy, quay về chỗ ngồi xuống.
“Nói đi, theo ý con, vị ái khanh nào có thể bổ sung chỗ khuyết này?”
“Nhi thần... xin tiến cử Trương Nghi!”
Uy Vương ngẫm nghĩ một lát, khẽ gật đầu: “Phải, con đã trưởng thành, đã biết đánh giá nhân tài, quả nhân thấy mừng cho con. Nghe nói hắn cai trị người Việt rất tốt, có chuyện này chăng?”
“Đúng vậy!” Thái tử Hoè đáp lời. “Trương Tử trị Việt chỉ có vài tháng, mà người Việt đều đã phục tùng, dù ở Dũng Đông, cũng không xảy ra biến loạn.”
“Làm được vậy thực không dễ dàng!” Uy Vương khen ngợi. “Trị Việt là việc khó, quả nhân đã dặn Chiêu Dương chuẩn bị sẵn năm vạn đại binh ở Chiêu Quan, là để đề phòng người Việt bạo loạn. Trương Tử lấy nhu chế cương, dùng trí mà thu phục người Việt, quả là kỳ tài. Con muốn hoàn thành đại sự, có thể dùng người này. Truyền chỉ bảo hắn quay về!”
“Khởi bẩm phụ vương, Trương Tử đã trở về rồi!”
“Ồ?” Uy Vương thoáng ngạc nhiên. “Hắn có việc gì mà trở về?”
“Là nhi thần cho mời Trương Tử về. Nhi thần cho rằng, người Việt đã trị xong, Trương Tử không cần phải tiếp tục ở lại đất Việt nữa. Đúng lúc lão ái khanh qua đời, nhi thần bèn truyền khẩu dụ, cho phép hắn trở về cùng Cảnh Thuý, một là tới viếng tang nhà họ Cảnh, hai là cũng muốn nghe hắn kể chuyện người Việt.”
“Ồ!” Uy Vương chau mày, trầm ngâm suy nghĩ, lát sau gật đầu mà nói. “Tốt lắm, nếu hắn đã trở về, hãy mau truyền hắn tới đài Chương Hoa yết kiến. Chuyện của người Việt, quả nhân cũng muốn nghe!”
“Nhi thần lĩnh chỉ!”
Tiếp đến, thái tử Hoè bẩm báo vắn tắt mọi việc trong triều cùng phương cách xử trí lên Uy Vương. Uy Vương khép mắt lắng nghe, chốc chốc lại hỏi một câu, thái tử Hoè bèn giải thích tường tận. Khoảng nửa canh giờ sau, thái tử Hoè thấy Uy Vương ngáp dài, bèn đứng dậy cáo lui. Uy Vương cũng không giữ lại, nhìn theo thái tử Hoè đi khuất rồi đứng lên, bước tới đình Quan Ba, đi một bài quyền trước mặt nước đầm, sau đó bước vào mật thất bên cạnh, ngồi xếp bằng trên giường, nhắm mắt dưỡng thần. Chưa đẩy nửa canh giờ, nội thần đã tất tả bước vào, nói là có thượng trụ quốc Chiêu Dương cầu kiến.
Uy Vương khẽ chau mày, lầm bầm hỏi: “Ông ta tới có việc gì?”
Nội thần đáp: “Nói là có báu vật dị vực mang dâng tặng bệ hạ!”
“Báu vật dị vực?” Uy Vương mở choàng mắt. “Có biết là báu vật gì không?”
“Lão nô không biết!”
Uy Vương ngẫm nghĩ một lát, rồi giơ tay lên nói: “Truyền vào yết kiến!”
Nội thần lĩnh chỉ đi ra.
Uy Vương lại ngồi thêm một lát, rồi mới đứng dậy, bước ra khỏi mật thất, vào đại sảnh ngồi xuống. Một lát sau, ngoài điện vọng lại tiếng bước chân, Chiêu Dương cùng nội thần sải bước tiến lại, dập đầu hô: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”
Uy Vương nhìn chằm chằm vào ông ta, cười vang mà hỏi: “Nghe nói ái khanh có báu vật hiếm có, mau cho quả nhân xem thử!”
“Vi thần tuân chỉ!” Chiêu Dương bái xong liền đứng dậy, quay ra ngoài vỗ tay hai tiếng. Một dàn nhạc công Tây Vực phục sức lạ lùng, tay mang nhạc cụ dàn hàng tiến vào, khấu lạy Uy Vương, rồi ngồi xuống một bên. Tiếp đến, vài người khiêng vào một tấm thảm đỏ, trải xuống sàn điện. Lát sau, nhạc nổi rộn ràng, sáu vũ nữ nhảy múa uyển chuyển tiến ra, người cuối cùng xuất hiện chính là Y Na. Nàng yểu điệu trong điệu vũ đã dày công luyện tập suốt mấy tháng qua. Tất cả nhạc cụ, vũ điệu, phục sức đều xuất phát từ dị vực, Uy Vương chưa từng nhìn thấy, song điệu nhạc tấu lên lại là điệu Sở quen thuộc, bởi vậy Uy Vương không những không thấy lạ lẫm, ngược lại còn vô cùng hào hứng. Nhất là nàng Y Na trắng muốt như tuyết, tóc vàng như nắng, càng khiến Uy Vương mê mẩn như say như ngơ.
Điệu vũ vừa kết thúc, Uy Vương vỗ tay tấm tắc hồi lâu, rồi quay sang Chiêu Dương khen ngợi: “Ái khanh nói không sai chút nào, vũ nữ này quả là báu vật, quả nhân sẽ nhận!” Rồi quay sang nội thần. “Dẫn họ tới nhạc phường!”
Đám người tạ ơn, từ từ theo nội thần lui ra.
Uy Vương đứng dậy, cười nói với Chiêu Dương: “Lâu ngày không gặp ái khanh, hãy cùng quả nhân đến bên hồ một lát!”
Hai người bước tới bên hồ, đến đình Quan Ba cùng ngồi xuống.
Uy Vương chiếu thẳng ánh mắt vào Chiêu Dương, nhìn chăm chú một hồi, rồi đi thẳng vào đề: “Ái khanh tới đây, hẳn không phải chỉ để dâng báu vật?”
“Bệ hạ thánh minh!” Chiêu Dương quỳ xuống, khấu đầu nói. “Vi thần tới đây, quả thực có một chuyện muốn thỉnh cầu bệ hạ!”
“Cầu gì, cứ nói!”
“Vi thần không dám nói!”
“Đã không dám nói, còn tới thỉnh cầu, khanh có ý định gì vậy?”
“Vi thần muốn thỉnh cầu bệ hạ ngọc Hoà thị bích!”
Ngọc Hoà thị bích quý báu liên thành, còn là vật trấn cung của đài Chương Hoa, các triều Sở Vương đều coi là báu vật vô giá. Chiêu Dương vừa mở miệng đã thỉnh cầu ngọc Hoà thị bích, khiến Uy Vương giật nảy mình, kinh ngạc hỏi: “Vì sao ái khanh lại thỉnh cầu vật này?”
“Bệ hạ!” Chiêu Dương lại bái lạy, dập đầu mà nói. “Ngọc bích này giá trị liên thành, vi thần không dám thỉnh cầu! Vi thần tới đây, là thỉnh cầu cho gia mẫu!”
“Giang Quân phu nhân?” Uy Vương sửng sốt hỏi. “Phu nhân có chuyện gì?”
“Bệ hạ!” Chiêu Dương nước mắt ròng ròng. “Gần đây, gia mẫu đổ bệnh liệt giường, đêm đêm thường gặp ác mộng, vi thần đã mời danh y khắp nơi về chữa trị, song bệnh tình không thuyên giảm. Mới đây, vi thần có mời vu sư tới xem bệnh, vu sư nói rằng gia mẫu bị ma nhập, cần dùng ngọc Hoà thị bích trấn trạch ba ngày. Gia mẫu khổ sở vì ác mộng giày vò, cầu xin vi thần thỉnh cầu bệ hạ, nên vi thần...” Nói đến đây, giọng nghẹn lại, nức nở không ngừng.
“Phải!” Uy Vương gật gù. “Bảo vật này có thể đuổi ma tránh tà, quả nhân dùng nó trấn cung, cũng vì nguyên do đó. Nếu là người khác thỉnh cầu, quả nhân dứt khoát không đồng ý, song nếu là Giang Quân phu nhân, quả nhân sẽ ưu ái. Đợi lát nữa, quả nhân sẽ sai người mang báu vật tới phủ ái khanh, giúp Giang Quân phu nhân trấn ma ba ngày!”
Chiêu Dương dập đầu lia lịa: “Vi thần thay mặt gia mẫu khấu tạ long ân của bệ hạ!”
“Ái khanh mau bình thân!” Uy Vương phẩy tay, ra hiệu cho Chiêu Dương đứng dậy.
Uy Vương cười nói: “Được rồi, chuyện này coi như đã xong! Chiêu ái khanh, quả nhân có một việc khác, cũng muốn thử nghe ý kiến của ái khanh.”
“Vi thần kính cẩn lắng nghe!”
“Nước không thể thiếu tướng,” Uy Vương đi thẳng vào chuyện, “Cảnh ái khanh vừa qua đời, chức lệnh doãn đang để trống. Theo ý ái khanh, người nào thích hợp ngồi vào vị trí này?”
Chiêu Dương không chút đắn đo, lập tức vòng tay tiến cử: “Vi thần cho rằng, Trương Nghi là người thích hợp!”
Chiêu Dương tiến cử Trương Nghi khiến Uy Vương hết sức bất ngờ, bất giác hít vào một hơi thật sâu, nhìn sững vào Chiêu Dương, dường như muốn thấu tỏ suy nghĩ thực sự trong lòng ông ta. Lát sau, Uy Vương mới chậm rãi hỏi: “Ái khanh không tiến cử người của ba dòng tộc lớn, mà lại tiến cử Trương Nghi, nguyên do vì đâu?”
“Khởi bẩm bệ hạ!” Chiêu Dương đáp lời. “Vi thần không tiến cử người thân, chỉ tiến cử người tài. Trương Nghi tới Sở chưa đầy hai năm, không những giúp ta diệt Việt, mà còn trên được lòng vua, dưới được lòng dân, là hiền tài thực sự, có thể đảm đương vị trí lệnh doãn!”
“Khanh thử nói xem, hắn được lòng dân thế nào?”
“Người Việt thần phục Trương Nghi, đã hơn cả thần phục Việt Vương.”
“Ồ, có chuyện như vậy ư?”
“Đúng vậy! Trương Nghi dùng người Ngô trị Ngô, dùng người Việt trị Việt, đương nhiên thu được kỳ tích!”
“Người Ngô trị Ngô? Người Việt trị Việt?” Trán Uy Vương khẽ chau lại. “Hắn trị thế nào?”
“Theo vi thần được biết, Trương Tử dùng hậu lễ mai táng Việt Vương, hậu đãi và tiếp tục sử dụng triều thần cũ của người Việt, lại không hiểu tìm đâu ra được cháu đời thứ sáu của Ngô Vương Phù Sai, cho hắn lập nước ở Cô Tô, qua lại vô cùng thân thiết với hắn. Con trai trưởng của Vô Cương chạy tới Mân Nam lập nước, con trai thứ chạy tới Nam Việt lập nước, Trương Tử đều qua lại với họ, nghe nói còn mang cả lễ vật tới chúc mừng.”
“Ồ!” Uy Vương trán hơi giãn ra, khẽ gật đầu. “Còn gì nữa không?”
“Nghe nói Trương Tử rất được lòng dân đất Việt. Theo vi thần được biết, đất Việt vài nghìn dặm, người Việt vài trăm vạn, vậy mà chỉ trong vài tháng ngắn ngủi, thảy đều phục tùng Trương Tử. Vi thần sai người ngấm ngầm tới quận Cối Kê điều tra, biết rằng hễ nơi nào Trương Tử tới, bách tính đều dìu già dắt trẻ rồng rắn kéo ra nghênh đón hơn chục dặm, còn có thôn trấn lập miếu dựng bia thờ Trương Tử. Vi thần còn dò la biết được một bài ca dao, có lẽ đã thể hiện được lòng yêu kính của dân Việt đối với Trương Tử.”
“Bài ca dao như thế nào?”
“Là đồng dao con nít thường hát, ca rằng: ‘Trời đen kịt chừ sắp mưa, mau mở cửa đón Trương Tử. Đất vàng quạch chừ mưa tạnh, cùng đóng cửa tiễn Trương Tử’.”
Uy Vương lại chau mày, ngẫm nghĩ một hồi, rồi đứng dậy nói: “Bài đồng dao này nghe cũng thú vị. Chiêu ái khanh, hẳn khanh không còn việc gì nữa?”
Chiêu Dương hiểu ý, bèn tạ ơn lui ra.
Uy Vương nhắm mắt trầm ngâm một hồi, thấy nội thần đã quay trở lại, khom lưng đứng hầu bên cạnh, bèn cất giọng chậm rãi hỏi: “Vừa nãy Chiêu ái khanh nói, đất Việt có bài đồng dao của con nít, lời rằng: ‘Trời đen kịt chừ sắp mưa, mau mở cửa đón Trương Tử. Đất vàng quạch chừ mưa tạnh, cùng đóng cửa tiễn Trương Tử’. Ngươi có nghe thấy chuyện này không?”
Nội thần đáp: “Vi thần chưa từng nghe thấy!”
“Có chuyện người Việt dựng miếu lập bia thờ hắn?”
“Chuyện này thì có, tuy nhiên là người Ngô ở Cô Tô, chứ không phải người Việt.”
“Ồ!” Uy Vương gật đầu nói. “Xem ra, lời Chiêu ái khanh không hoàn toàn là bịa đặt!” Ngẫm nghĩ một lát, bèn mỉm cười, ngẩng đầu nói tiếp. “Truyền vũ nữ da trắng kia nhảy thêm điệu nữa!”
Nội thần lĩnh chỉ, toan bước ra khỏi cửa, Uy Vương lại nói với theo một câu: “Phải rồi, còn nữa! Nếu Trương Nghi tới, nói rằng quả nhân đang bận, bảo hắn về phủ đợi chỉ!”
Ngận Thượng cùng Trương Nghi hăm hở tới đài Chương Hoa, song lại chỉ nhận được bốn chữ “về phủ đợi chỉ”.
Thái tử Hoè lấy làm khó hiểu, sai người đi dò la, mới biết Chiêu Dương vừa từ đó về. Thái tử Hoè đích thân lên đài, tìm gặp nội thần. Nội thần không dám giấu giếm, thì thào cho thái tử biết, vừa rồi Chiêu Dương dâng tặng vũ nữ da trắng Tây Vực cho bệ hạ, bệ hạ đang thưởng thức ca vũ, không rảnh rỗi để tiếp khách.
Thái tử Hoè tạ ơn nội thần, buồn bực bước xuống đài, nhìn thấy Trương Nghi, ngại để lộ chuyện này, đành cười gượng một tiếng mà nói: “Thật không may, phụ vương hôm nay gặp được cao nhân dị vực, đang lúc cao hứng, mọi việc trong triều đều gạt sang một bên. Trương Tử hãy tạm thời trở về chờ chỉ, đợi phụ vương vài ngày nữa hết bận, ắt sẽ cho triệu hồi!”
Trương Tử về phủ, lòng dạ băn khoăn, đang đóng cửa suy nghĩ, bỗng có người hầu bên phủ Chiêu Dương mang thiệp mời tới, mời Trương Nghi ngày mai tới phủ dự tiệc.
Trương Nghi hậu thưởng cho người gửi thiệp, qua hỏi thăm biết được nguyên do, hoá ra Giang Quân phu nhân trúng tà, Chiêu Dương tới cung Chương Hoa cầu được ngọc Hoà thị bích về đuổi tà trấn phủ, vào giờ Ngọ ngày mai làm lễ đuổi tà. Người mang thiệp còn kể với Trương Nghi, nghe người trong phủ nói, ngọc Hoà thị bích lấy từ Sơn Âm, là vật chí âm, chỉ có gặp chân dương mới có thể hiển thị thần uy, xua đuổi ma tà. Bởi vậy, vu sư yêu cầu Chiêu Dương mở tiệc, mời ba mươi sáu vị khách quý có cang khí thuần dương tới phủ. Chiêu Dương đích thân soạn danh sách, mời ba mươi sáu vị được liệt vào hàng danh môn hiển quý ở Sính Đô tới dự. Do vu sư yêu cầu rất nghiêm ngặt về việc tuyển chọn khách quý, trẻ nhất không dưới hai mươi, mà già nhất không quá bốn mươi, hơn nữa cần có đủ tứ khí, tức đầu có cang khí, mặt có sát khí, thân có quý khí, trong có chính khí, nên Chiêu Dương suy đi tính lại, chỉ tìm được ba mươi lăm người. Đang lúc lo lắng, chợt nghe Trương Nghi đã hồi phủ, thì vô cùng mừng rỡ, đích thân viết thiệp, mời Trương Nghi tới dự tiệc, cho đủ số thiên cang.
Tiễn người đưa thiệp về, Trương Nghi ngồi xếp bằng dưới chiếu, suy nghĩ kỹ càng tất cả các chi tiết trước sau, thấy không có gì sơ hở, cũng lấy làm yên tâm. Buổi sáng hôm sau, Trương Nghi đánh xe ra chợ, chọn mua ít sâm nhung, sắm một rương lễ vật, nhìn trời đã không còn sớm, bèn thúc ngựa đi tới phủ Chiêu Dương.
Trước phủ Chiêu Dương, người qua kẻ lại nhộn nhịp, ngựa xe nườm nượp như mắc cửi. Trương Nghi vừa đỗ xe, đã có môn nhân đến nhận hòm lễ vật, dắt ngựa đánh xe rồi dẫn tới cổng phủ. Quản gia Hình Tài miệng cười đon đả, cúi gập người chào đón, đích thân dẫn Trương Nghi vào phòng khách.
Chiêu Dương đang trò chuyện với khách quý, từ xa nhìn thấy Trương Nghi, vội đứng dậy, bước ra nghênh đón, còn cách khoảng mười bước chân, đã dừng lại, vòng tay hành đại lễ mà nói: “Tại hạ cung kính chờ đợi Trương Tử đã lâu!”
Trương Nghi cũng dừng bước, ôm quyền đáp lễ: “Tại hạ đã đến muộn!”
Hành lễ xong xuôi, Chiêu Dương sải bước lên trước, dắt tay Trương Nghi dẫn vào phòng khách, giới thiệu với mọi người: “Chư vị khách quý, tại hạ xin được giới thiệu, vị này chính là danh sĩ Trung Nguyên, Cối Kê lệnh mà tại hạ vừa nói tới, Trương Tử!”
Tân khách đa phần là con em quý tộc, Trương Nghi đều chưa từng gặp mặt, chỉ biết vòng tay xoay cả nửa vòng, vái chào mà nói: “Tại hạ Trương Nghi bái kiến chư vị!”
Trương Nghi tuy nói là thanh danh hiển hách ở Sở, song tân khách ở đây đều xuất thân vọng tộc, hiển quý từ trong bụng mẹ, nên chẳng ai thèm để mắt tới một kẻ chân ướt chân ráo từ nơi khác tới, do vậy trước đó chẳng ai buồn đứng dậy chào hỏi. Lúc này, thấy Chiêu Dương giới thiệu long trọng như vậy, đám người cũng nể mặt ông ta, đua nhau đứng dậy, vòng tay lấy lệ: “Xin chào Trương Tử!”
Thấy không khí có phần gượng gạo, Chiêu Dương vội cười nói với Trương Nghi: “Trương Tử, lại đây, lại đây, đều là người nhà cả, cứ tự nhiên mời ngồi!”
Trương Nghi vốn cũng xuất thân quyền quý, lại thêm một thân bản lĩnh, cũng chẳng thèm để ý tới đám giá áo túi cơm vô dụng kia, nhìn sang bên trái thấy còn một chỗ trống, bèn cười nhạt, đường hoàng bước lại đó ngồi xuống.
Chiêu Dương nhìn sắc trời, lại nhìn ra ngoài cửa, dường như đang đợi ai đó. Thấy giờ Ngọ sắp tới, Chiêu Dương đang định lên tiếng, bỗng nghe ngoài sảnh ồn ào, rồi Hình Tài bước vào bẩm báo: “Bẩm, thượng khanh nước Tần Trần đại nhân tới!”
Đám tân khách vừa nghe nói tới Trần đại nhân, thảy đều ra ngoài nghênh đón. Một lát sau, từ ngoài sảnh vọng vào tiếng bước chân. Trong tiếng chào đón cung kính của đám đông khách quý, Trần Chẩn mặt mày phởn phơ, hoan hỷ bước vào, vừa vòng tay vái chào, vừa cười nói luôn miệng.
Trong khắp sảnh đường, chỉ còn Trương Nghi vẫn ngồi ngay tại chỗ, không buồn di chuyển.
Trần Chẩn nhìn thấy, tiến lại gần, nhận ra Trương Nghi, không giấu vẻ ngạc nhiên kêu lên: “Ồ, là Trương Tử đó ư? Tại hạ Trần Chẩn xin có lễ!” Rồi vòng tay vái chào.
Trương Nghi đành phải đứng dậy, đáp lễ mà nói: “Ồ, là thượng khanh đại nhân, tại hạ cũng xin có lễ!”
Trần Chẩn cười vang mà nói: “Mới ngày nào chia tay ở Quỷ Cốc, thoáng chốc đã vài năm, tại hạ thực không thể ngờ rằng lại được gặp Trương Tử ở đây, đúng là kỳ ngộ!”
Trương Nghi cũng cười vài tiếng: “Thượng khanh đại nhân vốn ở Tần, lại vượt vạn dặm đường tới Sở, quả nhiên bận rộn! Cách đây không lâu, nghe nói đại nhân ở Sính, tại hạ vốn định đến cửa xin chỉ giáo, song không biết thượng khanh đại nhân sống ở đâu. Nay gặp ở đây, đúng là kỳ ngộ!”
Chiêu Dương thấy tân khách đã tới đông đủ, khẽ đặng hắng một tiếng, dõng dạc nói lớn: “Chư vị khách quý! Gia mẫu quý thể bất an, bệ hạ hay tin, đặc biệt ban bảo bối trấn cung là ngọc Hoà thị bích cho hàn xá, dùng để trừ tà. Thầy cúng đã chọn giờ Ngọ lễ ngọc. Hiện tại sắp tới giờ Ngọ, tại hạ cung kính mời chư vị tới đàn tế, cùng dự nghi lễ trừ tà, thưởng lãm báu vật!”
Đám người đồng loạt đứng dậy, đi theo Chiêu Dương tới từ đường phía sau.
Một đàn tế đã được dựng lên tại bãi đất trống trong viện, cờ ngũ sắc tung bay, khói hương nghi ngút, vu sư và đám đệ tử đã đợi sẵn. Dưới đàn tế là ba mươi sáu chiếc bàn xếp hàng ngay ngắn, sau mỗi bàn đều đề rõ tên hiệu, trên bàn bày đầy sơn hào hải vị, hoa quả rượu ngon.
Quan khách lần lượt ngồi vào chỗ, chủ nhân Chiêu Dương ngồi ở bàn đầu tiên, Trương Nghi ngồi ở chính giữa hàng giữa.
Quản gia Hình Tài thấy Chiêu Dương và quan khách đều đã yên vị, đặng hắng một tiếng, rồi dõng dạc hô lớn: “Chư vị khách quý, giờ lành đã tới, lễ trấn ma ngắm ngọc bắt đầu!”
Chiêng trống nổi lên rộn ràng. Vu sư kỳ trang dị phục bước lên đàn tế, hất khẽ cánh tay, đội nhạc sau đàn đồng loạt tấu lên vu nhạc nước Sở. Nhạc vừa nổi, một toán vu nữ bước ra, múa điệu nhập đồng trên đàn.
Múa may một hồi, đám vu nữ khiêng lại một án tế, trên án có bày một vật. Mọi người không cần hỏi cũng biết, đó chính là ngọc Hoà thị bích. Vu sư lại bước lên đàn, nhảy múa xung quanh án tế trong tiếng nhạc cuồng loạn hơn nữa. Nhảy nhót một lát, vu sư thình lình dừng lại, sải bước thẳng tới trước án tế, vận thần phát công, mở miệng hô lớn: “Xuất ngọc!”
Lời vừa dứt, một cảnh tượng lạ kỳ lập tức hiện ra trước mắt. Từ chính giữa án, vô số mảnh lụa đủ màu bay lên phơi phới, mịt mù như tuyết sa, nhẹ nhàng đáp xuống sau án. Trên án hiện ra một khay vàng, trên khay đặt viên ngọc bích thần kỳ lớn bằng miệng bát.
Ngọc Hoà thị bích là chí bảo trong thiên hạ, giá trị liên thành. Ở đất Sở, chuyện về họ Hoà nhà nhà đều biết, người người đều hay, tuy nhiên, ngọc Hoà thị bích hình dạng thế nào, đừng nói là quan khách, cho dù là Chiêu Dương cũng chưa từng được trông thấy. Do vậy, toàn bộ những người có mặt đều nghển cổ, mở to mắt nhìn không chớp vào bảo bối.
Vu sư lại nhảy nhót múa may quanh bàn cúng một thôi một hồi, lại hô lớn: “Thưởng ngọc!”
Thưởng ngọc, chính là để đám khánh quý thưởng lãm ngọc Hoà thị bích. Trước đó, đã có vu nữ dặn kỹ từng người về cách thưởng ngọc, chính là nhắm mắt nín thở, thành tâm cung kính, trước đưa tay trái vuốt khẽ ba lần, sau dùng tay phải vuốt khẽ ba lần, truyền tứ khí trong người vào ngọc quý, thời gian trong khoảng ba hơi thở.
Vu sư vừa dứt lời, một vu nữ vận trang phục trắng khoan thai bước tới bên án tế, bưng khay vàng lên, đặt xuống trước mặt Chiêu Dương đang ngồi nghiêm trang ở bàn đầu tiên, rồi từ từ lui ra. Chiêu Dương nhắm mắt nín thở, trong vòng ba hơi thở, hai tay trái phải đều đã vuốt trên viên ngọc ba lần, sau đó truyền khay vàng sang Trần Chẩn ngồi kế bên.
Trần Chẩn cũng bắt chước y hệt, rồi lại truyền sang người tiếp theo.
Thời gian ba hơi thở trôi qua rất nhanh, chẳng mấy chốc, khay vàng đã được truyền tới trước mặt Trương Nghi. Trương Nghi cũng y theo lời, nhắm mắt nín thở, đưa tay trái vuốt khẽ lên viên ngọc. Mới qua một hơi thở, bỗng từ đằng xa có tiếng người gào toáng lên: “Nguy rồi, mau đi lấy nước!”
Tiếp đến là tiếng chân người huỳnh huỵch, tiếng hô hoán náo loạn.
Đám tân khách ngẩng đầu nhìn ra, quả nhiên thấy cách đó không xa, khói bốc cuồn cuộn. Tất thảy đều giật mình kinh hãi, song cũng không dám rời khỏi chỗ, ánh mắt đổ dồn cả vào Chiêu Dương.
Chiêu Dương vẫn ngồi im bất động.
Đúng lúc này, Hình Tài hớt hải chạy lại, lớn tiếng bẩm báo: “Chúa công, trong phòng lão phu nhân phát hoả!”
Chiêu Dương giật nảy mình, lập tức đứng phắt dậy, gào to một tiếng: “Mẫu thân...” Rồi chạy vụt đi như bay.
Tân khách đưa mắt nhìn nhau, rồi người nào người nấy nhảy bật dây, xô nhau chạy ra khỏi cửa như nước thuỷ triều.
Trong sân không còn một ai, đến cả đám vu sư cũng chạy đi cả. Trương Nghi tay cầm ngọc bích, đi cũng dở, mà ở cũng không xong, đang chần chừ do dự, bỗng từ phía sau bức tường hoa có tiếng sột soạt, rồi một thiếu nữ áo tía bước ra, uyển chuyển tiến lại trước mặt Trương Nghi, vái dài một cái, cất giọng nói trong trẻo: “Đại nhân, xin hãy đưa khay vàng cho tiểu nữ!”
Trương Nghi đưa mắt nhìn, thấy cô gái dung nhan xinh đẹp, cử chỉ đoan trang, nói năng lễ phép, thì đoán là vu nữ. Lúc này, tâm trí Trương Nghi chỉ để vào chuyện cháy nhà, nên chẳng nghĩ ngợi gì thêm, cứ thế đưa ngay khay vàng cho cô ta, rồi mau chóng chạy đi cứu hoả.
May mắn là lửa vừa bốc cháy, thế chưa kịp vượng. Mỗi người một tay một chân, chẳng mấy chốc đã dập tắt lửa. Giang Quân phu nhân sớm đã được cứu ra, tuy có hơi kinh hãi, song bình yên vô sự.
Sau khi lửa được dập tắt, mọi người đang xôn xao bàn tán về lý do phát hoả thì Hình Tài tiến lại, bẩm báo với Chiêu Dương đã điều tra ra nguyên nhân, là do một thị nữ của phu nhân lỡ tay làm đổ cây nến đang cháy trên bàn, song lại không hề hay biết, cứ thế đi ra. Lửa cháy bén vào rèm, rèm cháy bén vào cửa, cứ thế lan rộng. Tới khi thị nữ quay trở lại, phát hiện ra thì đã muộn rồi. Thị nữ kinh hãi, biết rằng khó thoát tội chết, nhân lúc mọi người bận rộn cứu hoả, đã chạy vào trong vườn treo cổ tự sát.
Chiêu Dương sắc mặt sa sầm, nghe bẩm báo xong, bèn tiến lại trước giường mới của Giang Quân phu nhân vấn an.
Lại qua một lúc nữa, Chiêu Dương từ trong phòng bước ra, nhìn thấy tân khách vẫn đứng ở trong sân, mới sực nhớ tới chuyện thưởng ngọc, vội ôm quyền hướng vào tân khách mà nói: “Chư vị khách quý, xin được tạ lỗi! Xin mời trở lại đàn tế tiếp tục thưởng ngọc!” Nói xong, dẫn đầu đoàn người tiến về phía từ đường.
Quan khách chẳng ai nói gì, lẳng lặng đi theo sau, nối đuôi nhau bước vào trong sân, trở về đúng chỗ của mình, ngồi xuống.
Vu sư lại bước lên đàn tế, lớn tiếng hỏi: “Chư vị khách quý, vừa rồi đã tới lượt ai?”
Đám người đều nhìn về phía Trương Nghi.
Trương Nghi dõng dạc đáp: “Tới lượt tại hạ!”
Vu sư chìa tay. “Mời quý khách tiếp tục thưởng ngọc!”
Mọi ánh mắt lại đổ dồn tới, Trương Nghi vẫn ngồi nghiêm trang bất động.
Thầy cúng cao giọng lặp lại: “Mời quý khách tiếp tục thưởng ngọc!”
Trương Nghi vẫn ngồi nghiêm trang bất động.
Người ngồi bàn bên cạnh khẽ huých vào Trương Nghi: “Trương Tử, hãy mau thưởng ngọc!”
Trương Nghi đáp: “Ngọc còn chưa mang tới, bảo tại hạ thưởng thế nào đây?”
Vu sư nghe rõ rành rành, mặt thoáng biến sắc, vội hỏi: “Ngọc đâu?”
Trương Nghi chậm rãi nói: “Vu nữ mang đi rồi!”
“Vu nữ?” Vu sư kinh ngạc hỏi. “Vu nữ nào?”
“Chính là...” Trương Nghi khựng lại một lát, “chính là vu nữ bưng khay vàng!”
Vu sư vội vã cho gọi vu nữ bưng khay vàng lại, hỏi: “Có phải ngươi đã lấy báu vật từ tay quý khách này không?”
Vu nữ lắc đầu, lớn giọng nói: “Tiểu vu không hề lấy!” Thầy cúng sững sờ, quay sang Trương Nghi: “Tiên sinh, có phải vu nữ này không?”
Trương Nghi định thần nhìn kỹ, khẽ lắc đầu: “Không phải người này, là một vu nữ mặc áo tía!”
Song vu sư và tất cả vu nữ đều mặc áo trắng, Trương Nghi lại nói là vu nữ mặc áo tía, khiến đám người không khỏi ngỡ ngàng, vô số cặp mắt đều đổ dồn cả lại.
Chiêu Dương hoảng hốt, hấp tấp đứng dậy, tiến lại trước mặt Trương Nghi, mặt méo xệch, vòng tay nói: “Sự việc hôm nay, tại hạ... tại hạ đã khó xử lắm rồi, Trương Tử... xin đừng đùa cợt nữa!”
Trương Nghi lúc này cũng phát giác ra sự chẳng lành, vội đứng dậy, vòng tay đáp lễ mà nói: “Bẩm trụ quốc đại nhân, tại hạ không hề đùa cợt. Vừa nãy, tại hạ thực sự đã giao bảo bối cho một thiếu nữ áo tía, rồi chạy đi cứu hoả!”
Chiêu Dương mặt tái mét, quay sang to tiếng hỏi Hình Tài. “Hình Tài, ở đây có thiếu nữ nào mặc áo tía không?”
“Hồi bẩm chúa công,” Hình Tài dập đầu sát đất mà đáp, “lễ ngọc hôm nay kỵ màu tía, do vậy hôm qua tiểu nhân đã thông báo, cấm tiệt màu tía xuất hiện ở đàn tế!”
Chiêu Dương lại nhìn sang vu sư, vu sư gật đầu nói: “Khí tía xông lên, sẽ xung khắc với cang khí, nên tiểu vu cấm kỵ màu tía. Tất cả vu nữ đều mặc áo trắng, không hề có ai mặc áo tía!”
Chiêu Dương sầm mặt, chầm chậm quay sang Trương Nghi, lại vái mà nói: “Trương Tử, cầu xin Trương Tử, dù không nhìn đến tại hạ, cũng mong Trương Tử nể tình gia mẫu mà mau đưa bảo bối ra! Tại hạ...”
Trương Nghi chết lặng, mặt trắng bệch, lưỡi ríu cả lại, nói không thành tiếng: “Trụ... trụ quốc đại nhân, tại hạ thực sự đã giao báu vật... cho một thiếu nữ... áo tía!”
Chiêu Dương quỳ phịch xuống trước mặt Trương Nghi, nước mắt ứa ra: “Trương Tử, tại hạ cầu xin Trương Tử!”
Tất cả những người có mặt đều chấn động trước cảnh van nài khổ sở của Chiêu Dương, nhao nhao trách móc Trương Nghi. Lúc này, dù cho Trương Nghi miệng mọc khắp người, cũng khó lòng phân trần, chỉ biết lắp bắp: “Chư vị... tại hạ... tại hạ thực sự không lấy báu vật... thật sự không lấy!”
Chiêu Dương thình lình đứng phắt dậy, lập tức trở mặt, nghiêm giọng quát lớn: “Trương Nghi, ta kính ngươi là sĩ tử có học, phục ngươi là nhân tài hiếm có, nay có nhã ý mời ngươi tới đây, cũng là xem trọng ngươi rồi! Nào ngờ ngươi... ngươi lại lấy oán trả ân, nghĩ ra thủ đoạn này để bức hại ta!” Đoạn quay sang Hình Tài. “Bay đâu! Bắt tên trộm ngọc này lại cho ta!”
Từ bên ngoài lập tức có một toán tráng đinh xông thẳng vào, chẳng nói chẳng rằng, giữ chặt lấy Trương Nghi.
Chỉ tới lúc này, Trương Nghi mới nhận ra chân tướng, bèn ngửa cổ cười một tràng dài, rồi chiếu thẳng ánh mắt vào Chiêu Dương mà nói: “Chiêu Dương, ông xuất thân danh môn, thân là trụ quốc, ở Sở cũng đường đường là một đấng trượng phu, vậy mà lại nghĩ ra kế tiểu nhân hèn đớn nhường này để hãm hại tại hạ...”
Chiêu Dương quay về phía đám quan khách, vòng tay vái liên hồi mà rằng: “Chư vị khách quý, tại hạ một lòng kính trọng kẻ này. Sự việc hôm nay, trước sau có chư vị đây tận mắt chứng kiến, tại hạ có hãm hại kẻ này không, khẩn cầu chư vị đứng ra làm chứng giúp!”
Tân khách đều ôm quyền đáp: “Hồi bẩm đại nhân, chúng tôi đều đã nhìn thấy, nguyện đứng ra làm chứng giúp đại nhân!”
Trương Nghi biết đã bị vào tròng, có giải thích cũng vô ích, bèn nhắm mắt lại, không nói gì thêm nữa. Chiêu Dương cũng không đánh đập, chỉ phẩy tay ra hiệu cho đám nô bộc tạm thời giam Trương Nghi lại, viết một bản tường trình đầu đuôi sự việc, đưa cho đám tân khách lần lượt điểm chỉ vào, làm thành một bản tấu chương. Rồi đánh xe chở theo tất cả tân khách và đám vu sư, vu nữ làm nhân chứng, gấp rút lên đường, thẳng tới đài Chương Hoa.
Uy Vương đang mê mải thưởng thức vũ khúc lạ mắt của vũ nữ da trắng, nghe tin ngọc Hoà thị bích bị đánh cắp, thì bàng hoàng chết lặng, lập tức xua đám vũ nữ lui ra, cho triệu kiến Chiêu Dương, đọc lướt qua bản tấu, lại nghe Chiêu Dương nước mắt nước mũi đầm đìa kể lể đầu đuôi sự việc, thì vô cùng chấn động, cho gọi toàn bộ nhân chứng vào. Tân khách nhao nhao kể lại sự việc hệt như nội dung bản tấu của Chiêu Dương, còn thề thốt chắc nịch.
Uy Vương nhìn kỹ đám người, thấy không phải đều là thân thuộc của họ Chiêu, trong đó có vài người còn có hiềm khích với họ Chiêu, không thể có chuyện toàn bộ đều bị Chiêu Dương mua chuộc. Lại nghĩ Chiêu Dương là con có hiếu, việc đuổi ma trấn tà cho mẹ liên quan tới quỷ thần miếu đường, hẳn không phải là vu cáo, lập tức nổi trận lôi đình, hạ chỉ phế bỏ chức tước của Trương Nghi, tịch thu toàn bộ gia sản, tra tấn hỏi cung, tìm cho bằng được ngọc Hoà thị bích.
Hương Nữ ở nhà sốt ruột chờ đợi, đến tận khi trời tối vẫn không thấy Trương Nghi về phủ. Hương Nữ biết Trương Nghi thích rượu, đoán rằng có lẽ đã uống quá chén ở phủ Chiêu Dương, do vậy cũng không quá lo lắng.
Chờ tới tận canh hai, vẫn không thấy Trương Nghi hồi phủ, cũng chẳng có tin tức gì báo về, Hương Nữ bắt đầu bồn chồn thấp thỏm, sai một nô bộc nhanh nhẹn chạy tới phủ Chiêu Dương nghe ngóng. Một canh giờ sau, nô bộc trở về, nói rằng cổng phủ Chiêu Dương đóng im im, bên trong lặng phắc, hẳn mọi người đều đã ngủ say.
Thấy nô bộc hai mắt lờ đờ, Hương Nữ bèn đuổi gã đi ngủ, còn mình tiếp tục ngồi chờ trong phòng. Đến tận khi nghe thấy tiếng gà gáy sáng, biết là Trương Nghi chắc chắn không về, mới lẩm bẩm một câu: “Con sâu rượu này, hễ thấy rượu là mất hồn!” Rồi đứng dậy, đi vào phòng trong, mặc nguyên quần áo đi nằm.
Trời đã sáng bảnh, mặt trời hửng rạng đằng đông. Hương Nữ đang say giấc nồng, bỗng trên phố lớn vọng lại tiếng chân chạy rầm rập, một đội giáp sĩ xông thẳng vào trong trạch phủ của Trương Nghi. Một quân uý giơ chân đạp tung cánh cổng, cả toán giáp sĩ tay thương lăm lăm ồ ạt xông vào, đứng dàn hàng trong sân.
Quân uý gân cổ, lớn tiếng quát nạt: “Tất cả nhân đinh trong phủ, mau ra hết cả đây!”
Tỳ nữ thân tín của Hương Nữ cuống quýt chạy vào phòng trong, bẩm báo với Hương Nữ: “Phu nhân, nguy rồi, có quan binh xông tới!”
“Quan binh?” Hương Nữ giật bắn mình, bật dậy khỏi giường. “Quan binh tới làm gì?”
Tỳ nữ chỉ tay ra ngoài: “Nô tỳ không biết, bọn họ hung...”
Lời còn chưa dứt, giọng quân uý đã lại ông ổng vọng vào: “Tất cả người trong nhà, mau ra cả đây nghe chỉ!”
Nghe thấy hai chữ “nghe chỉ”, Hương Nữ lại một phen kinh hãi, suy nghĩ một thoáng, bèn đeo kiếm Tây Thi lên người, bước tới trước gương, chải qua mái tóc, mới khoan thai bước ra khỏi phòng, đứng trước cửa, nhìn về phía đám giáp sĩ, môi son khẽ động, cất giọng lạnh lùng: “Chư vị quân sĩ, có việc gì mà lại tới đây?”
Thấy Hương Nữ một thân anh khí, quân uý cũng thoáng run sợ trong lòng, bèn ôm quyền mà nói: “Tại hạ phụng chỉ, tới đây tịch biên toàn bộ tài sản trong phủ của tội thần Trương Nghi, xin phu nhân lượng thứ!”
“Tội thần Trương Nghi?” Hương Nữ rụng rời thất sắc. “Xin hỏi quân uý, phu quân ta đã phạm tội gì?”
“Tại hạ không biết! Tại hạ chỉ phụng chỉ tịch biên, xin phu nhân lui ra cho!”
Hương Nữ thoáng ngẫm nghĩ một lát, giọng vẫn lạnh lùng: “Tịch biên cũng được, nhưng xin quân uý hãy trình ngự chỉ!”
“Có ngự chỉ!”
Hương Nữ vừa dứt lời, từ bên ngoài cổng lại tiến vào một người, là quan tư bại nước Sở Hạng Lôi.
Tư bại là chức quan riêng của nước Sở, tương đương với tư khấu hoặc tư hình của liệt quốc Trung Nguyên, chuyên trách truy bắt trộm cướp, tội phạm gian đảng. Hương Nữ lớn lên ở đất Sở, tự khắc hiểu rõ điều này. Hôm nay tư bại đích thân tới đây, đủ thấy sự việc vô cùng nghiêm trọng, bèn bước lên trước vòng tay vái chào: “Xin hỏi đại nhân, phu quân của tiểu nữ đã phạm tội gì?”
Hạng Lôi tiến lên một bước, quét mắt nhìn qua Hương Nữ, rồi rút từ trong ống tay áo ra một đạo ngự chỉ, chẳng buồn đáp lễ, cất giọng dửng dưng: “Phu nhân, Trương Nghi đến làm khách trong phủ thượng trụ quốc đại nhân, nhân lúc trong phủ xảy ra hoả hoạn, đã lấy trộm báu vật trấn tà là ngọc Hoà thị bích, chứng cứ đã rõ ràng. Bệ hạ vô cùng giận dữ, hạ đặc chỉ phế bỏ chức tước của Trương Nghi, tịch biên toàn bộ gia sản. Đây là ngự chỉ, mời phu nhân xem!”
Khi ở Cối Kê, Hương Nữ không dưới một lần nhìn thấy dấu ngọc tỷ của Uy Vương trong các chiếu thư do Uy Vương gửi tới, do vậy biết rõ thật giả. Hương Nữ nhìn kỹ, thấy đúng là ngự chỉ không sai, trong lòng kinh hãi, bèn dập đầu cầu xin: “Tiểu nữ khẩn cầu đại nhân chuyển tấu bệ hạ, phu quân Trương Nghi không phải đạo tặc, chắc chắn bị người vu oan giá hoạ, cầu xin bệ hạ minh xét!”
Hạng Lôi cười hô hố vài tiếng: “Phu quân nhà phu nhân có bị oan hay không, sẽ biết ngay thôi! Tại hạ tới đây là phụng chỉ tịch biên gia sản, xin phu nhân tránh đường!”
Hương Nữ biết cầu xin cũng vô ích, từ từ đứng dậy, vái mà nói: “Đại nhân đã phụng chỉ tịch biên gia sản, tiểu nữ cũng không dám ngăn cản. Toàn bộ của cải đều ở cả trong phủ, xin đại nhân cứ việc tịch thu! Nếu đại nhân không có việc gì sai bảo, tiểu nữ xin đi trước!”
Tư bại không ngờ Hương Nữ lại muốn bỏ đi, vội nói: “Phu nhân không thể đi được!”
Hương Nữ đưa trả ngự chỉ cho tư bại: “Đại nhân xem đi, trong ngự chỉ chỉ nói tịch biên gia sản, không nói bắt giữ tiểu nữ. Cớ sao tiểu nữ không thể đi được?”
Tư bại ngẩn người, xem lại ngự chỉ, không biết đối đáp ra sao, đành phải vòng tay mà nói: “Chiếu theo ngự chỉ, phu nhân có thể đi, nhưng gia tài phải để lại!”
Hương Nữ ung dung nói: “Hồi bẩm đại nhân, kiếm đeo trên người tiểu nữ là vật tuỳ thân; trang phục mặc trên người tiểu nữ là vật che thân, đều không phải là gia tài!” Nói đoạn, gỡ lấy cây trâm vàng từ trên búi tóc xuống. “Gia tài đều ở trong phủ, tài sản trên người tiểu nữ duy chỉ có cây trâm vàng này, mời đại nhân thu giữ!”
Một tên lính tiến lên một bước, cầm lấy trâm vàng.
Hạng Lôi đã thụ lý vô số vụ án, song chưa từng gặp người nào khó đối phó nhường này, nhất thời đứng ngẩn tò te, không biết phải đối đáp thế nào cho phải, chỉ biết nhìn sững vào Hương Nữ.
Hương Nữ thong thả giơ hai tay lên: “Nếu đại nhân không tin, có thể lục soát người tiểu nữ!”
Thấy Hương Nữ đã nói tới nước này, Hạng Lôi cũng không còn lời gì nữa, bèn vòng tay mà nói: “Phu nhân gặp hoạ không kinh hãi, đúng là bậc kỳ nữ, tại hạ bội phục! Phu nhân có thể đi được rồi!”
Hương Nữ cảm tạ, khoan thai bước qua lối đi mà đám giáp sĩ vừa dạt ra tránh đường, lưu lại một làn hương thoang thoảng.
Nhìn thấy đám quân sĩ thi nhau hít lấy hít để, Hạng Lôi nổi giận quát lên: “Ngửi cái khỉ gì! Mau khám xét!”
Hương Nữ bước ra khỏi cổng, ruột gan nóng như lửa đốt, lập tức cắm đầu chạy đi trên phố như phát cuồng, cho tới khi đến bên một hồ nước nhỏ mới thả lỏng bước chân.
Khóc lóc cũng vô ích. Hương Nữ vừa đi lững thững ven hồ, vừa cố dằn lòng trấn tĩnh lại, suy nghĩ về tai hoạ vừa thình lình giáng xuống.
Rõ ràng, Trương Nghi không thể là phường đạo tặc, lại càng không thể lấy trộm ngọc Hoà thị bích. Nhất định có kẻ hãm hại, hơn nữa kẻ hãm hại chỉ có thể là Chiêu Dương chứ không còn ai khác, mục đích cũng đã rõ ràng, chính là tranh giành ngôi lệnh doãn. Hương Nữ biết, Trương Nghi trở về cũng là vì chuyện này. Chức lệnh doãn có lẽ khá quan trọng với Trương Nghi, song với Hương Nữ, thứ quan trọng hơn chính là bản thân Trương Nghi. Công Tôn Điệt, Kinh Sinh đều đã ra đi, trên đời này, chỉ còn Trương Nghi là người thân duy nhất của nàng. Nếu Trương Nghi có mệnh hệ gì, Hương Nữ cũng không còn thiết sống.
Hương Nữ bắt đầu vắt óc suy nghĩ. Chiêu Dương là trọng thần nước Sở, ngọc Hoà thị bích càng là bảo bối chí tôn của nước Sở, khoan nói tới chuyện này, chỉ riêng việc Sở Vương đã hạ ngự chỉ, chính là khâm án, muốn lật lại án này, hầu như không có khả năng.
Cảnh Thuý? Cái chết của Cảnh Xá đã khiến họ Cảnh suy yếu, Cảnh Thuý có muốn giúp, e cũng lực bất tòng tâm. Hơn nữa, Cảnh phủ trên dưới đều đang lo chuyện tang ma, lúc này đi tìm Cảnh Thuý, chẳng phải làm khó cho hắn?
Hương Nữ suy nghĩ nát nước, vẫn không thể tìm ra ai có thể giúp đỡ. Trong lúc tuyệt vọng, bỗng một tia sáng loé lên trong đầu Hương Nữ.
Ngận Thượng!
Chỉ cần tìm được người này là có thể tìm được điện hạ. Trương Nghi lần này trở về, vốn là tuân theo ý chỉ của điện hạ, xảy ra chuyện lớn, hẳn điện hạ sẽ không giương mắt ngồi nhìn mà không giúp. Hơn nữa, dựa vào tình thế hiện tại, chỉ còn điện hạ mới cứu được Trương Nghi.
Trương Nghi đã từng nhắc đến phủ trạch của Ngận Thượng với Hương Nữ, nói là ở phố Cung Tiền. Hương Nữ không nghĩ ngợi gì thêm, lập tức quay người, chạy thẳng về phía đó. Tới trước con phố, Hương Nữ không khỏi tròn mắt bàng hoàng, bởi trên con phố lớn này toàn là phủ đệ của danh gia vọng tộc, phủ Chiêu Dương tiếng tăm hiển hách cũng ở gần đây. Hương Nữ không biết môn phủ nào là của Ngận Thượng, lại không dám hỏi bừa. Đang lúc hoang mang, chợt thấy phía trước có một cụ già đang luyện võ trên phố, bèn tiến lại hỏi thăm. Cụ già chỉ cho Hương Nữ thấy một toà phủ, Hương Nữ tiến lại gần, quả nhiên là Ngận phủ.
Hương Nữ xưng danh tính, môn nhân bảo nàng ngồi chờ, rồi chạy vụt vào trong bẩm báo.
Chốc lát sau, Ngận Thượng đã sải bước vội vã ra đón, vòng tay vái chào: “Tẩu phu nhân, tại hạ biết phu nhân sẽ tới, chẳng dám đi đâu, chỉ ngồi yên trong hàn xá chờ đợi!”
Nghe thấy lời này, Hương Nữ đoán rằng Ngận Thượng sớm đã hay biết sự tình, bèn vòng tay đáp lễ, cũng không nói gì, hai hàng nước mắt cứ thế tuôn rơi lã chã.
Ngận Thượng bối rối: “Tẩu phu nhân đừng khóc, chỗ này không phải nơi nói chuyện, mau vào trong phủ!”
Hương Nữ gật đầu, gạt nước mắt, bước theo Ngận Thượng vào trong. Ngận Thượng dẫn Hương Nữ đi lòng vòng một hồi, tới một mật xá rất lịch sự trang nhã, ngồi xuống trong phòng, chỉ tay vào vị trí khách, nói: “Tẩu phu nhân, mời ngồi!”
Hương Nữ quỳ sụp xuống đất, bật khóc thảm thiết: “Ngận đại nhân, tiểu nữ cầu xin đại nhân!”
Thấy Hương Nữ như vậy, hai mắt Ngận Thượng bỗng loé dục quang, hừng hực như lửa nhìn dán vào nàng. Hồi lâu, bèn đứng lên, chậm rãi đỡ Hương Nữ dậy, ôn tồn nói: “Tẩu phu nhân, hãy bình tĩnh, có chuyện gì hãy từ từ nói!”
Hương Nữ đứng dậy, ngồi vào chỗ, mở to đôi mắt đẫm lệ nhìn thẳng vào Ngận Thượng, vòng tay cầu khẩn: “Ngận đại nhân, phu quân bị kẻ xấu hãm hại, bệ hạ đã tống phu quân vào đại ngục rồi!”
“Ồ!” Ngận Thượng khẽ đảo con ngươi, thở dài mà nói. “Tại hạ đã điều tra rõ, là do Chiêu Dương bày trò! Tại hạ vừa từ trong cung trở về, nghe điện hạ nói, Chiêu Dương hôm kia dâng tặng bệ hạ một vũ nữ da trắng dị vực, khẩn cầu mượn ngọc Hoà thị bích đuổi tà cho mẹ. Bệ hạ vui vẻ trao ngọc bích cho hắn. Nào ngờ, hắn đã không dùng ngọc này để đuổi tà, lại còn dùng để hãm hại Trương Tử! Người này lòng dạ hiểm độc, bày sẵn cạm bẫy, trước sau liên hoàn, vô cùng kín kẽ. Trương đại nhân không chút đề phòng, đã trở thành con mồi trong bẫy. Hiện tại Chiêu Dương có đủ nhân chứng vật chứng, Trương Tử có nghìn cái miệng cũng không thể phân trần. Ngọc Hoà thị bích là thiên hạ chí bảo, còn là bảo bối gan ruột của bệ hạ, bỗng dưng biến mất, bệ hạ đương nhiên sẽ nổi trận lôi đình. Than ôi, ngay đến điện hạ...” Nói đến đây thì dừng lời, hai mắt nhìn chằm chằm vào Hương Nữ.
“Ngận đại nhân!” Hương Nữ hiểu ý, sắc mặt trắng bệch. “Ý đại nhân là... đến điện hạ cũng...”
“Không giấu tẩu phu nhân,” Ngận Thượng trịnh trọng gật đầu, “sự việc quá ư nghiêm trọng, e là điện hạ cũng lực bất tòng tâm!”
“Trời ơi!” Hương Nữ kêu lên một tiếng thảm thiết, trước mắt tối sầm, ngã vật xuống đất.
Ngận Thượng vừa kinh sợ vừa mừng hú, vội dấn lên một bước, ôm luôn Hương Nữ vào lòng, đưa tay ấn vào nhân trung.
Hương Nữ bừng tỉnh, thấy mình đang nằm trong vòng tay Ngận Thượng, mặt bỗng đỏ bừng, vừa ngượng vừa sợ, cuống cuồng giãy ra, vụt một cái đã đứng thẳng dậy, né sang một bên, rồi lại quỳ sụp xuống đất, khấu đầu lia lịa, nước mắt chan hoà mà nói: “Ngận đại nhân...”
Ngận Thượng không ngờ Hương Nữ lại cương liệt đến vậy, sững sờ một thoáng, rồi hậm hực đứng dậy, ngồi trở lại chỗ cũ, đặng hắng khẽ một tiếng, rồi thở dài: “Than ôi, tẩu phu nhân! Nói đi, phu nhân muốn tại hạ giúp gì?”
Hương Nữ gạt nước mắt, ngẩng đầu, cất giọng kiên định: “Tiểu nữ muốn bái kiến điện hạ, cầu xin Ngận đại nhân giúp đỡ!”
Ngận Thượng lại đảo con ngươi vài vòng, sắc mặt đăm chiêu, rồi thở dài thườn thượt: “Than ôi, không giấu tẩu phu nhân, điện hạ sớm đã đoán trước tẩu phu nhân sẽ tới, nên bảo tại hạ ngồi đợi ở nhà, chính là để nói với tẩu phu nhân rằng, hiện tại điện hạ không muốn gặp tẩu phu nhân!”
“Tại sao?”
“Bởi việc này rất nan giải. Chiêu Dương chứng cứ rành rành, bệ hạ tin tưởng tuyệt đối, lại đang trong cơn phẫn nộ, nên điện hạ...” Ngận Thượng bỏ dở nửa vời.
Hương Nữ cúi đầu ủ rũ, một lúc sau, ánh mắt sắc như mũi dao lại nhìn xoáy vào Ngận Thượng: “Ngận đại nhân, tiểu nữ khẩn cầu đại nhân lần nữa, đại nhân có chịu giúp hay không?”
Ngận Thượng sững người, không dám nhìn thẳng vào Hương Nữ, lắc đầu than thở: “Than ôi, tại hạ đương nhiên muốn giúp, chỉ có điều...”
Hương Nữ đưa tay vén tóc, dường như đã nhìn thấu tâm tư của hắn, giọng nói cũng điềm tĩnh trở lại: “Nói đi, đại nhân muốn tiểu nữ báo đáp thế nào?”
Thấy Hương Nữ thẳng thừng như vậy, Ngận Thượng cả kinh, ngây ra một hồi, mới gật đầu: “Được, tẩu phu nhân đã thẳng thắn như vậy, tại hạ cũng không có gì phải ngại ngùng nữa!”
“Nói đi!” Hương Nữ thu ánh nhìn về, hơi khép mắt lại, giọng nói càng thêm bình thản.
Ngận Thượng nở một nụ cười bối rối. “Từ lúc hay tin tẩu phu nhân bẩm sinh đã mang hương lạ, tại hạ tò mò khó chịu, trong mơ cũng muốn tìm tới ngọn nguồn hương thơm trên thân thể tẩu phu nhân. Nếu tẩu phu nhân chịu...” dừng lại đắn đo một lát, mới ra giọng như ngã giá với tiểu thương nơi chợ búa, “chịu trút bỏ xiêm y, giúp tại hạ được thoả nguyện ước, thì tại hạ...”
“Đại nhân còn muốn gì nữa?” Hương Nữ lạnh lùng cắt ngang lời hắn.
“Thì... thì bấy nhiêu đó thôi!” Ngận Thượng sững người, lúng túng không tiện nói tiếp.
Hương Nữ chẳng nói chẳng rằng, tháo bảo kiếm xuống, đặt lên mặt bàn, rồi đứng dậy, tiến lại gần, đứng ngay trước mặt Ngận Thượng, chầm chậm trút bỏ xiêm y, cho tới khi trên người không còn một mảnh vải, giọng nói vẫn bình thản như không: “Tiểu nữ đã bỏ xiêm y, mời Ngận đại nhân khám hương!”
Đứng trước một nữ tử như vậy, Ngận Thượng chết lặng, ngồi bất động không dám ho he.
“Ngận đại nhân, tiểu nữ đã bỏ xiêm y như giao ước, nếu đại nhân không khám, thì tiểu nữ sẽ mặc vào đấy!”
“Khám! Khám! Khám!” Ngận Thượng cũng đã định thần trở lại, đáp liền mấy tiếng, rồi lom khom nửa quỳ nửa ngồi trên đất.
Do trước đó đã trót có lời, nên Ngận Thượng cũng không dám hành động thô lỗ, chỉ đi quanh Hương Nữ vài vòng, làm bộ làm tịch hít hít ngửi ngửi khắp người nàng từ trên xuống dưới, chẳng khác gì chó săn. Hương Nữ hai mắt nhắm nghiền, nước mắt lăn dài trên má, rơi lã chã xuống nền đất lạnh lẽo.
Ngận Thượng hít ngửi một hồi, Hương Nữ cất giọng lạnh lùng hỏi: “Ngận đại nhân, ngài đã khám xong chưa?”
Ngận Thượng sớm đã biết Hương Nữ võ nghệ cao cường, vốn dĩ tưởng nàng sẽ nhẫn nhục nghe lời, ai dè nàng lại cương liệt đến vậy, tuy phải khoả thân trước hắn, song vẫn cao ngạo không thể xâm phạm. Đứng trước một nữ tử như vậy, vọng niệm trong lòng Ngận Thượng bỗng chốc tan biến. Hắn lùi lại một bước, từ từ ngồi xuống chiếu.
“Ngận đại nhân, ngài đã khám xong chưa?” Hương Nữ vẫn truy hỏi không tha.
“Xong rồi!” Ngận Thượng đã hoàn toàn khuất phục.
“Ngận đại nhân đã khám xong, vậy tiểu nữ sẽ mặc lại y phục!” Hương Nữ nói xong, lùi lại một bước, lần lượt nhặt từng món y phục lên, mặc vào người. Xong xuôi, lại ngồi xuống chiếu, đôi mắt to nhìn không chớp vào Ngận Thượng. “Ngận đại nhân đã được thoả nguyện, giờ giúp tiểu nữ thế nào, tiểu nữ xin được lắng tai nghe.”
Ngận Thượng khẽ vòng tay, gật đầu than thở: “Tẩu phu nhân đúng là kỳ nữ nghìn năm có một, Trương Tử có được tẩu phu nhân, thật là diễm phúc. Tại hạ từ nhỏ hiếu kỳ, chỉ yêu mùi hương phụ nữ, sự việc hôm nay, có gì mạo phạm, cũng mong tẩu phu nhân bỏ quá cho. Tẩu phu nhân yên tâm, tại hạ đã hứa, ắt sẽ tận lực, giờ lập tức đi thỉnh cầu điện hạ cứu giúp Trương Tử!” Dừng lại một lát, lại nói tiếp. “Không giấu tẩu phu nhân, chuyện sống chết của Trương Tử, hiện tại chỉ còn một con đường này!”
Hương Nữ khẽ ôm quyền: “Tiểu nữ biết rồi, tạ ơn đại nhân!”
Trời nhá nhem tối, trong mật thất tại phủ Trần Chẩn đối diện xéo với phủ Chiêu Dương trên phố Cung Tiền, một nữ tử áo đen quỳ trên đất, trước mặt đặt một bọc vải. Trần Chẩn đưa tay mở toang bọc vải, bên trong lộ ra một bộ xiêm y màu tía, bọc trong xiêm y là một chiếc khay vàng, đi kèm với nó là thiên hạ chí bảo vừa mất tích - ngọc Hoà thị bích.
Trần Chẩn cố nén niềm kích động trong lòng, hai tay nâng ngọc, ngắm nghía kỹ lưỡng, luôn tay vuốt ve, tấm tắc khen ngợi: “Chậc chậc, đúng là thiên hạ chí bảo!” Lại ngắm vuốt thêm một hồi nữa, rồi thở dài. “Báu vật nhường này, lại bị Sở Vương giấu kín trong cung, dùng để trấn tà, quả là đáng tiếc!”
Trần Chẩn ngắm nghía suốt nửa canh giờ, thấy nữ tử áo đen vẫn quỳ dưới đất, dường như mới sực nhớ ra sự có mặt của cô ta, bèn quay sang, gật gù mà nói: “A Kiều, chuyện này còn có người nào biết?”
“Hồi bẩm chúa công,” nữ tử có tên A Kiều đáp, “ngoài nô tỳ, không còn ai biết. Nô tỳ đã làm đúng như lời dặn của chúa công, sau khi mang ngọc bích đi, đã lánh mặt trong nhà trọ suốt cả ngày, thấy trời tối hẳn, mới lẳng lặng quay về phục mệnh chúa công!”
“Ngươi làm rất tốt!” Trần Chẩn mỉm cười khen ngợi, rồi lấy ra hai cái chén, rót đầy rượu, đưa cho cô ta một chén. “Nào, chúa công chúc mừng ngươi!” Nói xong, nâng chén của mình lên trước.
“Nô tỳ tạ ơn chúa công ban rượu!” A Kiều nâng chén rượu lên, một hơi uống cạn.
Thấy A Kiều đã uống hết, Trần Chẩn bèn từ từ đặt chén rượu xuống, hai mắt dán chặt vào cô ta.
A Kiều thoáng ngạc nhiên, khẽ hỏi: “Chúa công, sao lại không uống?”
“Than ôi!” Trần Chẩn khẽ thở dài. “A Kiều, sau khi đi rồi, chớ oán hận ta!”
“Đi?” A Kiều kinh hãi. “Đi đâu? Nô tỳ không đi đâu hết, chỉ theo chúa...” Lời còn chưa dứt, tai tay chợt ôm chặt lấy bụng, chốc lát, đã đau đớn đến lăn lộn trên đất, gọi lớn. “Chúa... chúa công...”
Trần Chẩn không đành lòng nhìn cô ta vật vã, ngoảnh mặt quay đi, nói vớt vát một câu: “Than ôi, A Kiều! Không phải chúa công độc ác, chỉ là con đường này, ngươi bắt buộc phải đi!”
A Kiều ôm cứng lấy bụng, đau đớn kịch liệt đến không nói nên lời, lăn lộn một hồi trên đất, từ khoé miệng trào ra một dòng máu đen, rồi nằm im bất động.
Trần Chẩn quay đầu lại, cất bảo bối đi, thiêu huỷ bộ xiêm y màu tía mà A Kiều đã mặc, sau đó cho gọi hai gia nhân vào, lấy chiếu cỏ cuộn xác cô ta lại, khiêng ra hậu hoa viên, thả xuống một cái hố đã được đào sẵn từ trước, rồi lấp kín đất lên.
Trần Chẩn vừa làm xong mọi việc thì quản gia vội vã bước vào bẩm báo: “Chúa công, trụ quốc đại nhân tới!”
Trần Chẩn phủi tay, nói: “Đi, ra nghênh tiếp trụ quốc đại nhân!”
Quản gia bước lên một bước, khẽ bẩm báo: “Trụ quốc đại nhân dường như có việc gấp, còn chưa kịp nghênh tiếp, đã tự vào phủ rồi, đang đợi chúa công trong phòng khách.”
Trần Chẩn và quản gia bước ra khỏi mật thất, rảo bước đi tới tiền sảnh, thấy Chiêu Dương quả nhiên đã ở đó, đang bồn chồn đi tới đi lui. Nghe thấy tiếng bước chân, Chiêu Dương vội ra đón, vòng tay vái chào: “Thượng khanh đại nhân, cuối cùng ông cũng xuất hiện!”
Trần Chẩn vòng tay đáp lễ: “Tại hạ đang bận chút việc vặt, không biết đại nhân tới, đã đón chậm một bước, mong đại nhân lượng thứ!”
Chiêu Dương giống như đang ở trong phủ của mình, tiến lại cầm lấy tay Trần Chẩn, dắt trở vào phòng khách, phá lên cười sảng khoái: “Không nói chuyện này nữa! Hãy mau ngồi xuống!” Nói đoạn, bản thân ngồi xuống chiếu chủ, lại để Trần Chẩn ngồi vào chiếu khách.
Trần Chẩn cười nói: “Trụ quốc đại nhân, ngài đổi khách thành chủ rồi!”
Chiêu Dương nhìn lại, vội đứng dậy, cười ngượng nghịu mà nói: “Ồ, tại hạ trong lòng nôn nóng, đã thất lễ rồi!”
Trần Chẩn cũng cười một tiếng, ngồi xuống chiếu chủ, vòng tay mà nói: “Đại nhân, mời ngồi!” Thấy Chiêu Dương cũng đã ngồi xuống, lại vòng tay nói tiếp. “Trông dáng điệu của đại nhân, hẳn là có việc gấp, có thể nói cho tại hạ biết được chăng?”
Chiêu Dương liếc nhìn quản gia của Trần Chẩn. Trần Chẩn hiểu ý, hất hàm ra hiệu cho quản gia lui ra.
Chiêu Dương thấy không còn ai nữa, nhịn không nổi hấp tấp hỏi ngay: “Thượng khanh đại nhân, vật đó đâu rồi?”
“Dám hỏi đại nhân, là vật gì?”
Chiêu Dương sững lại, rồi hạ thấp giọng: “Ngọc ấy!”
Trần Chẩn bật cười: “Ồ, cái thứ đồ chơi đấy ư? Vứt rồi!”
“Vứt rồi?” Chiêu Dương kinh hãi. “Vứt đi đâu?”
“Đầm Vân Mộng!”
Chiêu Dương mặt trắng bệch, giơ tay chỉ vào Trần Chẩn, lắp bắp: “Sao... sao... sao ông lại vứt xuống đầm?”
Trần Chẩn vòng tay, hạ thấp giọng hỏi: “Trụ quốc đại nhân, theo ý đại nhân, tại hạ nên xử trí vật này thế nào?”
Chiêu Dương vội nói: “Đây là vật của tại hạ, đương nhiên phải trả lại cho tại hạ!”
“Trụ quốc đại nhân,” Trần Chẩn vẫn thong thả đáp, “vì viên ngọc này, chưa nói tới chức lệnh doãn, lẽ nào đến cả mạng sống của mình, đại nhân cũng bất chấp?”
Chiêu Dương ngơ ngác: “Nói vậy là sao?”
“Than ôi!” Trần Chẩn khẽ thở dài. “Đại nhân đúng thực là hám của mất khôn, ngay cả điều này cũng không nghĩ ra. Đại nhân thử nghĩ mà xem, đại nhân vì muốn có được chức lệnh doãn, đã dùng vật này làm bẫy, lừa dối bệ hạ, tông miếu, lão phu nhân, hãm hại bạn hiền Trương Nghi, xét về trung, hay hiếu, hay hữu, đều là đại nghịch. Nếu việc này để lộ ra ngoài, đại nhân liệu còn có thể sống được trên đời hay chăng? Dám hỏi đại nhân, còn dám cất giấu thứ này trong phủ?”
Chiêu Dương sững lại một chốc, vội đáp: “Tại hạ giấu ở mật thất, không bao giờ cho người khác biết, chẳng phải là được rồi ư?”
“Than ôi!” Trần Chẩn lại thở dài. “Đại nhân đúng là cố chấp! Trên đời này, nếu muốn không ai biết, trừ phi mình đừng làm. Đại nhân giấu bảo bối trong phòng, khác nào giấu khối nhọt trong bụng. Hiện tại đại nhân có thể không nói, song khó mà đảm bảo sau này không nói ra; lúc tỉnh có thể không nói, song khó mà đảm bảo trong mơ không nói ra; trước khi uống rượu không nói, song khó mà đảm bảo sau khi rượu say không nói ra. Dù đại nhân không nói gì đi chăng nữa, thì vụ án Trương Tử cũng khó lòng đầu xuôi đuôi lọt. Nếu có một ngày bệ hạ bỗng nhiên tỉnh ngộ, lật lại chuyện này, đại nhân có tật giật mình, khó tránh ấp úng lỡ lời. Ngộ nhỡ lộ ra sơ suất, chẳng phải mọi công lao đều đổ xuống sông xuống bể ư?”
Trần Chẩn thao thao một mạch, Chiêu Dương nghe mà toát mồ hôi lạnh, đưa ống tay áo lên lau trán, nói khẽ: “Cho dù là vậy, báu vật nhường ấy lại bị thượng khanh ném xuống đầm sâu, cũng thực đáng tiếc!”
“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài thườn thượt. “Tại hạ cũng là người mê của, sao không cảm thấy đáng tiếc? Tại hạ làm vậy, thực sự cũng là vạn bất đắc dĩ mà thôi! Tại hạ đã suy đi tính lại, thấy chỉ có cách này mới khiến mọi thứ ở đúng vị trí!”
“Mọi thứ ở đúng vị trí là sao?”
“Với ngọc, ngọc vốn là linh vật trời đất, trả về với trời đất, là đúng chỗ của nó. Với đại nhân, do không giữ vật này, trong lòng không còn canh cánh, giả cũng là thật, thật cũng là giả, đại nhân chỉ còn một con đường duy nhất, không thể quay đầu, không còn đường lui, chỉ biết coi như vật này đã bị Trương Nghi lấy trộm. Với Trương Nghi, vĩnh viễn không thể lật lại vụ án, dù hắn có trở thành quỷ dữ, cũng không thể tìm ra chứng cứ. Với bệ hạ, do vật này không bao giờ trở về, nên cũng mãi mãi cho rằng mình quyết đoán sáng suốt, không có chuyện trách nhầm người tốt. Còn với tại hạ, trong lòng cũng cảm thấy nhẹ nhõm ung dung, không lo sợ bị liên luỵ.”
Lời Trần Chẩn nói ra, câu nào nghe cũng hợp tình hợp lý, Chiêu Dương không thể không phục, cũng thở dài sườn sượt mà nói: “Than ôi, vứt cũng đã vứt rồi, nói nữa cũng ích gì đâu?” Ngẫm nghĩ một lát, hỏi tiếp. “Thế... kẻ vứt ngọc đâu rồi?”
“Kẻ vứt ngọc, cũng chính là kẻ trộm ngọc, tại hạ vừa mới cho ả lên đường! Đại nhân yên tâm, sự việc này đã kết thúc, kết thúc vĩnh viễn. Từ nay về sau, thiên hạ chí bảo ngọc Hoà thị bích cũng sẽ giống như thanh kiếm Hiên Viên, trở thành giai thoại!”
“Được rồi!” Chiêu Dương đổi giọng. “Không nói tới chuyện này nữa. Tại hạ tới đây, còn có một việc muốn bàn với thượng khanh!”
“Hẳn là chuyện Trương Nghi?”
“Đúng vậy!” Chiêu Dương gật đầu. “Người này còn sống ngày nào, tại hạ không yên tâm ngày đó. Tại hạ đang nghĩ, nhân lý do này, kết liễu hắn luôn, triệt để đoạn trừ hậu hoạ!”
Trần Chẩn lắc đầu quầy quậy.
“Ồ?” Chiêu Dương rất đỗi ngạc nhiên. “Tại sao?”
“Trụ quốc đại nhân!” Trần Chẩn chậm rãi nói. “Trương Nghi lấy trộm ngọc Hoà thị bích, khắp trên dưới nước Sở, đặc biệt là điện hạ, đa phần đều thấy hồ nghi. Nếu đại nhân vô duyên vô cớ xử chết Trương Nghi, thì chính là giấu đầu hở đuôi, đã không được lợi, lại khiến nghi ngờ càng lớn, điện hạ ắt cho rằng đại nhân muốn giết người diệt khẩu. Bệ hạ đã già yếu, một khi băng hà, điện hạ sẽ lên ngôi kế vị, quân thần vốn đã có nghi ngờ khúc mắc, trụ quốc đại nhân sẽ thế nào đây?”
“Nhưng... nếu Trương Nghi còn sống, nhất định sẽ quay đầu cắn lại tại hạ!”
“Ngọc Hoà thị bích bị mất tích khi truyền tới tay Trương Nghi. Theo tính cách của hắn, nhất định sẽ sống chết cho rằng mình không cầm, và đã giao ngọc cho một nữ tử áo tía, mà trên thế gian này, nữ tử áo tía kia đã không còn tồn tại. Trương Nghi càng khăng khăng, quần thần càng cho rằng hắn nói dối, dù hắn có mọc thêm trăm cái miệng, cũng khó mà biện bạch. Ngọc Hoà thị bích nức tiếng thiên hạ, chuyện Trương Nghi trộm ngọc ắt sẽ truyền khắp liệt quốc. Một tên trộm cắp, dù đi tới đâu, cũng khác nào chuột nhắt qua đường, kẻ này có sống cũng ngang bằng chết. Hơn nữa, trụ quốc đại nhân một khi đã giành được chức lệnh doãn, nắm đại quyền trong tay, lẽ nào còn sợ một con chuột nhắt lang thang xó chợ, kinh hãi thất thần?”
Chiêu Dương gật đầu lia lịa, vòng tay mà nói: “Nghe thượng khanh nói vậy, tại hạ như được ra khỏi chỗ tối, xin thụ giáo!” Rồi chậm rãi đứng dậy. “Thượng khanh nghỉ ngơi, tại hạ cáo từ!”
Tiễn Chiêu Dương về xong, Trần Chẩn quay trở vào mật thất, lại lấy ngọc Hoà thị bích ra ngắm nghía, càng ngắm càng yêu, vuốt ve một chặp rồi lẩm bẩm một mình: “Bảo bối tuyệt diệu, bảo bối tuyệt diệu, đúng là bảo bối tuyệt diệu! Đời này có được ngươi, Trần Chẩn cũng thấy đáng sống!”
Rồi thận trọng nâng viên ngọc lên môi hôn khẽ.