Chương 3: Chương Hồi Thứ 17

Huệ Văn Công một đá ném ba chim

Công Tôn Diễn ‘Thập sách’ chấn hưng Ngụy

Tiếng mõ báo canh hai.

Trong hậu hoa viên cung Ngụy tại An Ấp, tỳ nhân dẫn công tử Ngang đi theo một con đường nhỏ quanh co rợp bóng hoa, rảo bước vội vàng.

Đi được một lúc, công tử Ngang bước chậm lại, kéo tay áo tỳ nhân, hỏi nhỏ: “Đã giờ này rồi, phụ vương gọi ta đến, hẳn có chuyện lớn?”

Tỳ nhân đáp: “Lão nô không biết, An Quốc Quân, mời!”

Công tử Ngang trong lòng nghi hoặc, tiếp tục đi theo tỳ nhân một lúc nữa thì đến đình hóng mát của Ngụy Huệ Vương. Trong đình, ánh đèn sáng rực. Tỳ nhân dừng lại, khẽ dặn: “Công tử dừng bước, đợi lão nô bẩm báo bệ hạ!” Rồi thoăn thoắt bước lên bậc thang.

Một lát sau, tỳ nhân đứng trên đình, cao giọng hô vọng xuống: “Bệ hạ có dụ, An Quốc Quân yết kiến!”

Công tử Ngang chậm rãi bước lên bậc tam cấp, từ xa đã thấy Ngụy Huệ Vương đang ngồi ngay ngắn trước bàn, mấy cung nhân đứng hầu bên cạnh, còn ngồi đối diện trước bàn chính là tư đồ Chu Uy áo mũ chỉnh tề.

Vừa nhìn thấy Chu Uy, tim công tử Ngang lập tức đập lên thình thịch. Sau trận chiến Hà Tây, công tử Ngang rất sợ Ngụy Huệ Vương nhắc lại chuyện cũ, và đương nhiên, cũng rất không muốn gặp ba người, một là Long Giả, hai là Công Tôn Diễn, ba là Chu Uy. Trong ba người này, Long Giả đã về quê dưỡng lão, Công Tôn Diễn chỉ là một sĩ tử thất chí, người khiến công tử Ngang e ngại nhất chính là Chu Uy. Công tử Ngang đoán chừng Chu Uy đã biết rõ chân tướng về trận chiến Hà Tây, nhưng biết mà không nói, biết nóng biết lạnh, biết tiến biết lui, điều này khiến công tử Ngang ăn không ngon, ngủ không yên. Hễ nhìn thấy Chu Uy, công tử Ngang lại thấy khiếp sợ tận đáy lòng.

Công tử Ngang đang do dự, bỗng liếc thấy trên bàn bày rượu và thức ăn ngon, phía xa còn có mấy nhạc công, lúc này mới thở phào nhẹ nhõm, vội rảo bước tới gần, dập đầu sát đất: “Nhi thần khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương cười vang mà nói: “Ngang Nhi miễn lễ, ngồi đi!”

Công tử Ngang đa tạ, đứng dậy ngồi xuống trước chiếc bàn đã được chuẩn bị sẵn bên cạnh Chu Uy, trên bàn cũng bày rượu và đủ loại mỹ vị.

Thấy công tử Ngang đã ngồi xuống, Ngụy Huệ Vương vui vẻ nói với người hầu rượu: “Rót rượu cho hai vị ái khanh!”

Người hầu lập tức rót rượu, sau đó lui sang một bên. Ngụy Huệ Vương nâng chén, giọng đầy phấn chấn: “Hai vị ái khanh, quả nhân muộn thế này rồi còn mời hai vị đến uống rượu, là muốn tiễn một người!”

Công tử Ngang vội hỏi, không giấu được vẻ hoang mang: “Là ai vậy?”

“Công Tôn Ưởng!”

Chu Uy cũng sững sờ, hỏi khẽ: “Bệ hạ, vi thần nghe nói Công Tôn Ưởng bị vu oan, đã bị tống vào đại lao, lẽ nào...”

“Không sai!” Ngụy Huệ Vương gật đầu. “Ái khanh hãy xem!” Nói đoạn, với lấy một bức thư trên bàn. Tỳ nhân bèn nhận lấy, chuyển qua cho Chu Uy. Ngụy Huệ Vương mỉm cười nhìn Chu Uy. “Chu ái khanh, khanh hãy đọc lên, để mọi người cùng nghe!”

Chu Uy đọc lớn: “Khởi tấu bệ hạ, vở kịch lớn trong cung Tần đã hạ một màn, Công Tôn Ưởng hôm nay bị hành hình, quân chủ mới xử hắn năm xe phân thây bên bờ sông Vị Thuỷ. Vi thần muốn ở lại Hàm Dương thêm mấy ngày, để hoàn tất thêm một màn kịch hay nữa, mong được bệ hạ ân chuẩn! Trần Chẩn khấu đầu.”

Chu Uy đọc xong, Ngụy Huệ Vương cười vang mà nói: “Trần ái khanh quả nhiên tài giỏi, đúng là một bề tôi đắc lực!”

Nghe thấy là tiễn đưa Công Tôn Ưởng, công tử Ngang giận sôi sùng sục, dằn chén rượu đánh “cạch” xuống bàn, khiến rượu trong chén bắn ra tung toé: “Phụ vương, nếu là vì tiễn Công Tôn Ưởng, thì nhi thần không muốn uống!”

Ngụy Huệ Vương cười nói: “Ngang Nhi, cơ sao con không uống?”

“Tên gian tặc này phản phúc lật lọng, chết là còn may, chúng ta tại sao phải tiễn hắn?”

Ngụy Huệ Vương nói với người hầu rượu: “Rót rượu cho An Quốc Quân!”

Người hầu bước lên, lại rót đầy chén cho công tử Ngang.

“An Quốc Quân, xin hãy nâng chén!”

Công tử Ngang liếc sang Chu Uy, thấy ông ta cũng đã nâng chén, nên đành phải miễn cưỡng nâng lên.

Ngụy Huệ Vương chậm rãi nói: “Công Tôn Ưởng một lòng vì Tần, lập được kỳ công cái thế. Người Tần không biết báo đáp, ngược lại còn lấy oán trả ơn, dùng cực hình hại chết trung thần. Mặc dù Công Tôn Ưởng là kẻ địch của Đại Ngụy, nhưng luận về tài trí, đích xác là bậc đại tài. Người Tần không tiếc, nhưng quả nhân thấy tiếc. Hai vị ái khanh, nào, hãy cạn chén này, tiễn oan hồn Công Tôn Ưởng lên đường bình an!”

Ba người cùng cạn chén.

“Than ôi!” Chu Uy thở dài. “Nếu ở dưới cửu tuyền, Công Tôn Ưởng nghe được những lời này của bệ hạ, không biết sẽ nghĩ gì?”

Công tử Ngang hừ mũi một tiếng: “Hừm, hắn còn nghĩ gì được nữa? Chắc chắn là hối hận tại sao năm xưa mình có mắt như mù, bỏ chỗ sáng đến chỗ tối!”

Thấy công tử Ngang nói lời nông cạn, Chu Uy chẳng buồn nói thêm gì, chỉ cười khan một tiếng, rồi quay mặt sang chỗ khác.

Ngụy Huệ Vương đặng hắng một tiếng, chậm rãi nói: “Hai vị ái khanh, thường có câu, địch biến ta biến. Hiếu Công đột ngột băng hà, tân quân đăng cơ, cựu đảng phục hồi thế lực, Công Tôn Ưởng vô cớ bị hại, chỉ trong mấy tháng, cung Tần liên tiếp xảy ra đại biến, các khanh hãy nói xem, quả nhân phải đối phó thế nào?”

Công tử Ngang bẩm tấu: “Phụ vương, những ngày tháng tốt đẹp của người Tần đã kết thúc. Nhi thần tấu xin khởi binh phạt Tần, chiếm lại Hà Tây, báo thù rửa hận!”

Ngụy Huệ Vương quay sang nhìn Chu Uy: “Chu ái khanh thấy thế nào?”

“Vi thần thấy không ổn!”

“Tại sao không ổn?”

“Hiện giờ người Tần đang chịu quốc tang, nếu ta đánh họ, thì ngược lại, sẽ khiến lòng căm giận của người Tần dâng cao, bất lợi cho ta.”

“Ý ái khanh là, hiện giờ ta nên ngồi yên quan sát, chờ đợi thời cơ?”

“Bệ hạ thánh minh!”

“Ừm!” Ngụy Huệ Vương gật gù. “Lời ái khanh rất hợp với tâm ý quả nhân. Tần Hiếu Công mài kiếm mười tám năm mới chiếm được Hà Tây, quả nhân cũng phải học hỏi ông ta, nhẫn nại ít lâu, xem tên nhãi ranh kia có tài cán gì. Hai vị ái khanh, điều cấp bách hiện tại không phải là phạt Tần, mà là tìm kiếm hiền tài. Năm xưa quả nhân để mất Công Tôn Ưởng, người Tần có hắn nên mới chiếm được Hà Tây. Hôm nay người Tần mưu sát hiền tài, quả nhân phải làm ngược lại, cần trọng dụng hiền tài.”

Chu Uy đứng dậy, khấu đầu nói: “Nếu bệ hạ làm được như vậy, thì lấy lại Hà Tây chỉ còn là thời gian.”

“Ha ha ha!” Ngụy Huệ Vương cười sảng khoái, chìa tay nói. “Chu ái khanh, mời ngồi!”

Chu Uy lại bái tạ, rồi ngồi xuống.

“Hai vị ái khanh!” Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn từng người, rồi chậm rãi nói. “Quả nhân đã suy nghĩ rất nhiều, ngôi vị tướng quốc không thể để trống quá lâu. Hai vị đều là thân tín của quả nhân, quả nhân muốn hai vị tìm giúp hiền tài. Nếu tìm được người thích hợp, quả nhân sẽ giao ngôi tướng quốc cho người đó.”

“Phụ vương!” Công tử Ngang không bỏ lỡ thời cơ, lập tức tiến cử. “Hiện giờ nhi thần có một người rất thích hợp!”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương nhổm người về phía trước. “Là người nào vậy?”

“Chính là người mà phụ vương vừa khen ngợi, thượng đại phu Trần Chẩn!”

“Ừm!” Ngụy Huệ Vương khẽ gật đầu. “Trần ái khanh cũng là một người có thể lựa chọn!”

Cung Tần, trong ngự thư phòng, Cảnh Giám dập đầu dưới đất.

Huệ Văn Công đưa tay áo lau nước mắt, rồi chậm rãi hỏi: “Cảnh ái khanh, quốc phụ... đi rồi ư?”

Cảnh Giám bật khóc thất thanh: “Hồi bẩm... bẩm chúa thượng, Thương Quân uống ngự tửu xong... đã đi rồi!”

Huệ Văn Công lại rơi lệ: “Thương Quân... có dặn dò gì không?”

“Thương Quân dặn vi thần chuyển tấu với chúa thượng, lập uy tại quân, lập tín tại dân, muốn thành nghiệp lớn, gốc phải vững bền.”

“Khanh hãy nhắc lại lần nữa!” Giọng Huệ Văn Công run lên.

“Lập uy tại quân, lập tín tại dân, muốn thành nghiệp lớn, gốc phải vững bền.”

Huệ Văn Công nước mắt ròng ròng, nghẹn ngào nói: “Gốc là nông, nông là dân, dân là pháp, pháp là Tần! Nghe những lời của Thương Quân, đâu có giống kẻ mưu phản?” Rồi lại đưa tay áo lau nước mắt, ngẩng đầu nhìn Cảnh Giám, gọi. “Cảnh ái khanh!”

“Có vi thần!”

“Không giấu ái khanh...” Huệ Văn Công run rẩy nói. “Trong lòng quả nhân luôn thấy nghi ngờ, chuyện Thương Quân phản nghịch có điều mờ ám. Vừa nãy nghe khanh thuật lại lời Thương Quân trước lúc lâm chung, quả nhân càng thấy bất an. Theo lý mà nói, Thương Quân nếu muốn mưu phản, lẽ ra phải giết quả nhân mới đúng, tại sao lại giết công thúc? Và còn Chu Đà, vừa nãy quả nhân nghe nói, hắn mới tới chỗ Thương Quân chưa đầy nửa năm, Thương Quân không hề tin tưởng hắn. Việc lớn nhường này, Thương Quân phải giao cho thân tín mới đúng, sao có thể tuỳ tiện giao cho Chu Đà? Cảnh ái khanh, quả nhân hỏi khanh, phải chăng có người muốn hãm hại Thương Quân?”

Cảnh Giám tuy trong lòng hiểu rõ mười mươi, nhưng không dám nói ra, quỳ xuống đáp lời: “Chúa thượng thánh minh! Có người hãm hại hay không, vi thần không dám đoán bừa. Nhưng thần muốn bẩm với chúa thượng, phàm kẻ mưu phản, đều có lòng riêng. Thương Quân là người nước Vệ, tuổi đã ngũ tuần, lại chẳng có người thân thích ở Tần. Thần vốn hiểu rất rõ Thương Quân, từ sau khi tới Tần, mười mấy năm vẫn như một ngày, chỉ một lòng thực thi biến pháp giúp Tần lớn mạnh, đã chưa thành gia, lại không lập thất, càng không có con cái nối dõi. Nếu như mưu phản, thì Thương Quân mưu phản vì ai đây?”

“Lời này rất hữu lý!” Huệ Văn Công liên tiếp gật đầu. “Quả nhân có ý muốn điều tra lại vụ án. Nếu quả thực Thương Quân bị người ta hãm hại, quả nhân tuyệt đối không dung! Cảnh ái khanh, quả nhân muốn giao vụ án này cho ái khanh điều tra, được chăng?”

Nhớ lại lời của Công Tôn Ưởng trước lúc lâm chung, Cảnh Giám bèn nói: “Đa tạ chúa thượng đã coi trọng! Nhưng vụ án này liên quan đến viên lão thế tộc, quyền quý quốc thích, vi thần sợ mình khó lòng gánh vác!”

“Vậy... theo ý ái khanh, ai mới có thể đảm nhiệm?”

“Thái phó!”

Huệ Văn Công suy nghĩ hồi lâu, rồi quay sang nội thần: “Truyền dụ, truyền thái phó, công tử Hoa đến thư phòng yết kiến!”

Nội thần khom lưng đáp: “Thần tuân chỉ!”

Phủ thái sư, không khí tưng bừng.

Trong phòng khách rộng thênh thang, Cam Long ngồi ngay ngắn trước bàn, Trần Chẩn ngồi kề bên cạnh. Các thành viên cựu đảng ngồi thành hai hàng hai bên theo thứ tự chức tước, trên các mặt bàn bày đầy rượu ngon và sơn hào hải vị. Ai nấy mặt mày hớn hở, nâng chén liên hồi.

Rượu được ba tuần, Cam Long đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, đặng hắng liền mấy tiếng.

Đại sảnh đang huyên náo lập tức lặng phắc như tờ, tất cả các ánh mắt đều đổ dồn vào lão thái sư.

Cam Long rót đầy chén rượu, đưa cho Trần Chẩn, sau đó lại rót đầy chén của mình, tay nâng chén, chậm rãi nói: “Hôm nay chúng ta trừ được gian tặc Công Tôn Ưởng, thượng đại phu đã góp công lớn! Chư vị đại nhân, theo ý lão hủ, trước tiên hãy kính thượng đại phu một chén!”

Mọi người cùng nâng chén, đồng thanh nói: “Người Tần xin kính thượng đại phu một chén!”

Trần Chẩn nâng chén, đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người: “Công Tôn Ưởng hành vi trái nghịch, nên trời cao nổi giận mà trừng phạt, Trần Chẩn không dám nhận công! Theo ý Trần Chẩn, chúng ta hãy kính chén rượu này cho trời cao, ý các vị đại nhân thế nào?”

Mọi người đồng thanh khen hay, rồi đua nhau hắt rượu lên không.

Đỗ Chí hớn hở nói: “Lời này của thượng đại phu đã nói tới tận tâm khảm hạ quan! Nhớ năm xưa, khi Công Tôn Ưởng xử trảm bảy trăm hiền sĩ, máu chảy thành sông bên bờ Vị Thuỷ, e rằng không thể ngờ được bản thân hắn rồi cũng sẽ có ngày hôm nay. Đây gọi là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, ông trời dù sao cũng rất công bằng.”

“Than ôi!” Công Tôn Giả vuốt râu, khẽ thở dài. “Nhưng đáng tiếc, khi ngũ mã phanh thây, hạ quan lại không được nghe tiếng kêu rú thảm thiết của Công Tôn Ưởng, quả là đáng tiếc! Lão thái sư, hạ quan thật không hiểu, Công Tôn Ưởng đã phạm tội chết, tại sao chúa thượng còn ban cho hắn rượu độc?”

“Các vị đại nhân,” Cam Long đưa tay vuốt chòm râu dài, rồi chậm rãi nói, “ta cho rằng, đây chính là chỗ thánh minh của chúa thượng. Chúa thượng khác với tiên quân. Tiên quân coi dân như kẻ thù, động một chút là sử dụng hình phạt tàn khốc, tru di cửu tộc. Còn chúa thượng lại lấy nhân ái làm gốc trị quốc, hành động này đủ để thể hiện tấm lòng khoan dung của chúa thượng, đây chính là điềm đại phúc của nước Tần!”

“Thái sư nói chí phải,” Đỗ Chí thán phục nói. “Bây giờ nghĩ lại, năm xưa chúa thượng sở dĩ dẫn đầu chống lại biến pháp, cũng là xuất phát từ lòng yêu dân.”

“Ta cho rằng, mầm hoạ của nước Tần không phải ở Công Tôn Ưởng, mà ở biến pháp.”

Lời Cam Long vừa dứt, Trần Chẩn lập tức gật đầu phụ hoạ: “Lời lão thái sư chí lý. Trần Chẩn cũng có một lời, nếu có điều gì chưa thoả, mong thái sư và các vị đại nhân lượng thứ!”

Cam Long khẽ vòng tay: “Thượng đại phu cứ nói đừng ngại!”

“Nếu như Trần Chẩn đoán không sai, xử tử Công Tôn Ưởng, hoàn toàn không phải kế sách sâu xa của chúa thượng!”

Đỗ Chí thoáng ngần ngừ: “Nghe thượng đại phu nói vậy, kế sách sâu xa của chúa thượng, phải chăng là trừ bỏ tân pháp?”

“Đỗ đại nhân một lời đã trúng!” Trần Chẩn quay sang Đỗ Chí, dựng ngón tay cái lên. “Tuy nhiên, lúc này chúa thượng cũng có chỗ khó xử, vì tân pháp chính là quốc sách do tiên quân Hiếu Công định ra, chúa thượng mới kế vị, không dễ tuỳ tiện biến đổi!”

Mọi người đều gật gù.

Tuy nhiên, Trần Chẩn liền đổi giọng, “Tại hạ cho rằng, việc này không khó giải quyết. Nếu các vị đại nhân dám nghĩ điều mà chúa thượng nghĩ, phát động thần dân trong triều ngoài nội cùng dâng tấu xin phế bỏ tân pháp, sẽ trở thành ý dân. Nếu đã trở thành ý dân, thì lúc đó... tình thế sẽ khác hẳn.”

Quả là một đề nghị bạo gan. Mọi người đều quay sang nhìn nhau, rồi lại cùng ngoảnh nhìn thái sư Cam Long.

“Ừm!” Cam Long vuốt râu một hồi, rồi khẽ gật gù. “Lời thượng đại phu không phải không có lý. Chúa thượng thấy ý dân như thế, thì có thể thuận dòng đẩy thuyền, khôi phục cựu chế của Đại Tần!”

“Các vị đại nhân,” Đỗ Chí đứng dậy, ôm quyền quay khắp một vòng, “lão thái sư đã có lời, chúng ta cũng nên nhanh chóng hành động, phát động thần dân, mỗi người trình một tấu thư, cầu xin chúa thượng phế bỏ tân pháp, khôi phục cựu chế!”

Mọi người đều đồng lòng nhất trí.

Trong điện Thái Hoà, trên bàn của Huệ Văn Công lại là một chồng tấu chương chất cao ngồn ngộn, không bản nào không có dòng chữ “phế bỏ tân pháp, khôi phục cựu chế của Mục Công”.

Huệ Văn Công sắc mặt trầm trọng, tiện tay lật qua mấy bản tấu, đôi mày từ từ chau tít lại.

Nội thần đi vào: “Bẩm chúa thượng, có thái phó, quốc uý, thượng đại phu, công tử Hoa cầu kiến.”

“Cho họ vào!”

Doanh Kiền, Xa Anh, Cảnh Giám, công tử Hoa rảo bước vào, quỳ xuống bái lạy: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”

“Các khanh bình thân!” Huệ Văn Công chỉ tay vào dãy bàn ở hai bên. “Mời ngồi!”

Mọi người lục tục ngồi xuống, ai nấy đều cúi gằm mặt, Doanh Kiền vòng tay nói: “Khởi bẩm chúa thượng, vi thần đã điều tra rõ ràng, không có chuyện Công Tôn Ưởng làm phản, mà là do Cam Long, Đỗ Chí dựng chuyện giá hoạ.”

“Ồ?” Huệ Văn Công ra vẻ kinh hãi. “Ái khanh có chứng cứ gì không?”

Doanh Kiền ra hiệu cho công tử Hoa, công tử Hoa bèn lấy ra bản cung khai có điểm chỉ của Chu Đà: “Đây là lá thư sám hối mà quan tư hình tìm thấy trên người Chu Đà, trên đó còn có điểm chỉ của hắn!”

Đây chính là bản cung khai của Chu Đà do Huệ Văn Công đích thân thẩm vấn, công tử Hoa đã bắt hắn điểm chỉ vào. Huệ Văn Công đã sớm biết sự thật, nhưng vẫn giả bộ nhận lấy đọc, rồi đập mạnh tay xuống bàn: “Gian tặc to gan, dám nhân lúc quả nhân mới kế vị, kết bè kết đảng, lừa dối quả nhân, hãm hại trụ cột quốc gia, âm mưu phá hoại tân pháp của tiên quân, đúng là gian tặc nước Tần! Xa quốc uý!”

Xa Anh bước lên một bước: “Có vi thần!”

Huệ Văn Công chỉ vào đống tấu chương chồng chất trên bàn: “Khanh hãy mang những bản tấu này về! Tất cả những cái tên có trên bản tấu đều là đồng đảng của gian tặc, hãy bắt tất cả về quy án, tống giam vào tử lao, đợi quả nhân xử quyết!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Bên bờ Vị Thuỷ, người đông nghìn nghịt như kiến. Những tiếng hô “tru di gian tặc”, “biến pháp cường quốc”, “báo thù cho Thương Quân” vang lên dậy đất. Cũng tại chính nơi đã hành hình Công Tôn Ưởng, đám Cam Long, Đỗ Chí, Công Tôn Giả... cùng các viên lão thế tộc và người nhà của họ đông tới vài trăm đều bị giáp sĩ của quốc uý áp giải đến pháp trường.

Trên giám hình đài, hình quan Xa Anh ngồi chính giữa, quan giám hình Doanh Kiền, Cảnh Giám ngồi ở hai bên. Tất cả các quan viên trong cung Tần từ đại phu trở lên đều có mặt, sứ thần liệt quốc vẫn ngồi ở hàng thứ hai. Trần Chẩn cũng có mặt trong số đó, nhưng vẻ mặt sượng sùng, khí sắc không còn phấn chấn như ngày ngũ xa phân thây Công Tôn Ưởng.

Ba hồi trống kết thúc, Xa Anh đang định hạ lệnh hành hình, thì đột nhiên một kỵ sĩ phi ngựa nước đại lao đến, từ xa đã hô lớn: “Chúa thượng giá lâm!”

Đám Xa Anh vội vàng quỳ xuống.

Đám Cam Long đang mặt mày tái mét chờ chết, giờ bỗng như vớ được một tia hy vọng.

Huệ Văn Công rảo bước xuống xe, đi tới giám hình đài.

Từ sau khi đăng cơ, đây là lần đầu tiên Huệ Văn Công trực tiếp lộ diện trước thần dân nước Tần. Trên đài dưới đài, cả vạn chúng dân đều dõi mắt nhìn Huệ Văn Công.

Mọi người đều lặng phắc, chờ đợi.

Huệ Văn Công đứng trên đài cao, vung mạnh cánh tay, giọng vang như sấm: “Hỡi các thần dân Đại Tần! Hôm nay, trời cao nổi giận, tru diệt quốc tặc, dân chúng vui mừng, cả nước hoan hỷ. Quả nhân nhân cơ hội hiếm có này, cũng đến đây giãi bày tấm lòng cùng mọi người!” Dừng lại một lát, lại vung quyền lên. “Mười tám năm trước, Công Tôn Ưởng người Vệ đã rời Ngụy đến Tần, trợ giúp tiên quân, thực thi biến pháp. Trong hơn mười năm Đại Tần biến pháp, dân giàu nước mạnh, thứ nhất chiếm được Hà Tây, thứ hai dễ dàng đoạt lấy Thương Ư, uy phục liệt quốc. Nước Tần có được ngày hôm nay, đều nhờ công của Thương Quân. Tiên quân băng hà, quả nhân đã dùng lễ quốc phụ để đối đãi với Thương Quân. Nhưng gian tặc Cam Long, Đỗ Chí, Công Tôn Giả luôn coi tân pháp là thù địch, coi Thương Quân là cái gai trong mắt, nhân lúc quả nhân mới kế vị, đang chịu quốc tang, lập bè kết đảng, vu oan hãm hại Thương Quân, lại không đếm xỉa tới lợi ích quốc gia, cấu kết với sứ thần nước khác,” rồi đưa mắt quét qua giám hình đài, thoáng dừng tại Trần Chẩn, “kết mưu với Nhung Địch, nội ngoại bức ép, buộc quả nhân phải giết Thương Quân. Từ khi Thương Quân ngộ nạn, gian đảng càng thêm lộng hành, liên tục âm mưu, nhiều lần dâng tấu, muốn tiếp tục bức quả nhân phế bỏ tân pháp, khôi phục cựu chế! Điều này mà nhẫn nhịn được, thì còn gì không nhẫn nhịn được? Hỡi các thần dân Đại Tần, các người có muốn phế bỏ tân pháp, khôi phục cựu chế hay không?”

Mọi người đồng thanh: “Không đồng ý!”

Huệ Văn Công nói lớn: “Tân pháp là cái gốc giúp Tần lớn mạnh, là tâm huyết suốt mười mấy năm của tiên quân, Thương Quân và con dân Đại Tần, làm sao có thể bị phế trong tay quả nhân? Hỡi các thần dân Đại Tần, lẽ nào các người muốn quay về con đường cũ, cam lòng nhìn Đại Tần trở lại là nước yếu dân nghèo, như con dê non mặc cho người ta xẻ thịt?”

Mọi người đồng thanh: “Không muốn!”

“Tốt lắm!” Huệ Văn Công lại giơ tay lên cao. “Quả nhân ở đây, xin thề với anh linh của Thương Quân, xin thề với trời cao, pháp của tiên quân, mãi không thay đổi!”

Muôn lời cùng hưởng ứng, muôn cánh tay đồng loạt giơ lên, tất cả đồng thanh: “Chúa thượng vạn tuế! Tân pháp vạn tuế! Giết chết gian tặc! Báo thù cho Thương Quân!”

Trên đài hành hình, đám Đỗ Chí, Công Tôn Giả sau gáy đều bị cắm các thẻ bài chữ “trảm”, mặt nhợt như sáp, đưa ánh mắt uất ức nhìn sang Cam Long.

“Lão thái sư,” ánh mắt Đỗ Chí đầy uất hận, “ông nghe xem, chúng ta kết mưu với Nhung Địch bao giờ thế?”

“Than ôi!” Cam Long nhắm mắt thở dài. “Là lão hủ đã nhìn nhầm! Ta cứ ngỡ thằng nhóc kia đã là quân cờ trong tay chúng ta, thật không thể ngờ, con trai còn thâm độc hơn cha hắn ba phần!”

“Phải rồi!” Công Tôn Giả đau xót nói. “Đây gọi là rắn sinh rắn, bọ cạp sinh bọ cạp, cha độc con càng độc!”

“Hai vị đại nhân,” Cam Long mở mắt ra, “chắc hai vị vẫn còn nhớ mấy con chim vàng anh hôm nọ? Đến hôm nay ta mới hiểu ra, kẻ này còn hơn cả cha mình, ung dung bất động, mà một hòn đá giết ba chim!”

“Một hòn đá giết ba chim?” Công Tôn Giả kinh ngạc. “Ý thái sư là, ngài cũng là một trong ba con chim đó?”

“Đúng thế!” Cam Long thừa nhận. “Cũng giống như Công Tôn Ưởng, lão hủ đây chính là một con chim trong lồng của tiên quân!”

Công Tôn Giả sững sờ mất một lúc mới mở miệng hỏi: “Xin hỏi thái sư, con chim còn lại thì sao? Lẽ nào lại là... là hạ quan ư?”

Cam Long cười nhạt: “Công Tôn đại nhân, ngài đánh giá mình quá cao rồi!”

“Vậy...” Công Tôn Giả đưa mắt nhìn lên giám hình đài, “người đó là ai?”

Cam Long không trả lời, mà quay sang hất cằm lên giám hình đài: “Nhìn xem, có người còn nhớ đến ta, muốn đến tiễn ta đấy!”

Công Tôn Giả ngẩng lên nhìn, quả nhiên thấy Doanh Kiền đang nói gì đó với Huệ Văn Công, rồi Huệ Văn Công gật đầu. Một lát sau, Doanh Kiền tay cầm chén, một người khác ôm theo vò rượu, hai người bước từng bước chậm rãi xuống khỏi giám hình đài, đi lên hành hình đài.

Doanh Kiền đi thẳng tới chỗ Cam Long đang bị trói chặt hai tay, quỳ xuống đất, rót đầy chén rượu, hai tay đưa lên đến miệng Cam Long: “Lão thái sư, Doanh Kiền xin được tiễn ông!”

Cam Long chậm rãi nói: “Đa tạ thái phó!” Rồi há miệng, một hơi uống cạn.

“Lão thái sư!” Doanh Kiền do dự một lát. “Ông còn chuyện gì dang dở, xin hãy giao phó cho Doanh Kiền!”

Cam Long đưa mắt khắp pháp trường, nhìn đám con trai, con dâu, con gái, con rể, mười mấy người cháu và thê thiếp cùng phải chịu chung số phận với mình, đau đớn nói: “Cả nhà lão hủ đều ở cả đây, còn có gì để giao phó nữa? Nhưng ta có một câu muốn nói với thái phó!”

“Thái sư cứ nói!”

“Còn nhớ ba con chim vàng anh trước linh cữu tiên quân chăng?”

Doanh Kiền gật đầu.

“Hai con chim đã chết, cũng đến lượt con thứ ba rồi!”

“Thái sư lo xa quá rồi!” Doanh Kiền lại quay sang Công Tôn Giả, Đỗ Chí, rót cho mỗi người đầy một chén rượu, lần lượt mời họ uống cạn, sau đó quay người, cất từng bước nặng nề trở lên giám hình đài.

Nhìn theo bóng ông ta, Công Tôn Giả kinh ngạc hỏi: “Thái sư, ý ông là, con chim thứ ba sẽ là thái phó?”

Cam Long không trả lời, từ từ khép mắt lại.

“Điều này không thể!” Công Tôn Giả lập tức phản bác. “Chúa thượng có tàn độc đến mấy, cũng không thể giết hại chú ruột của mình...”

“Than ôi!” Cam Long thở dài. “Có thể hay không, chúng ta cũng chẳng nhìn thấy được nữa!”

Lời Cam Long vừa dứt, tiếng trống bỗng vang lên dồn dập, Xa Anh thẳng tay ném lệnh tiễn xuống đất: “Thời gian đã đến, hành hình!”

Một hàng đao phủ rảo bước lên hành hình đài, áp tới sau lưng đám Cam Long, vung đại đao chém thẳng xuống trong nhịp trống thùng thùng.

Tối hôm đó, Doanh Kiền trở về phủ, tâm tư hồi lâu vẫn chưa thể trấn tĩnh. Câu nói của Cam Long trước khi chết cứ văng vẳng bên tai: “Hai con chim đã chết, cũng đến lượt con thứ ba rồi.”

Kỳ thực, từ sau khi Doanh Tứ hạ chỉ cho Doanh Kiền điều tra lại vụ án Thương Quân, Doanh Kiền đã từ từ hiểu ra, một triều thiên tử một triều thần. Thương Quân, thái sư, và cả ông ta, tất cả đều là lão thần của triều trước, tất cả đều có thế lực lớn. Có họ trong triều, chúa thượng ắt phải có chỗ dè chừng, và cũng không thể an tâm. Lúc trước Doanh Kiền luôn nghĩ rằng Doanh Tứ không quan tâm đến quốc sự, bây giờ xem ra, ông đã nhìn lầm.

Doanh Kiền ngồi trầm tư trong phòng hồi lâu, đột nhiên, một tia sáng loé lên trong đầu, liền đánh xe đi thẳng tới phủ Cảnh Giám.

Doanh Kiền ngoài miệng tán đồng biến pháp, nhưng trong tâm vẫn nhớ về cựu đảng, vì vậy luôn đối đầu với Công Tôn Ưởng, không hay qua lại với những người thuộc tân đảng như Cảnh Giám. Lúc này đến phủ, lại giữa đêm khuya, không khỏi khiến Cảnh Giám giật mình, do dự một lát rồi mới thay quan phục, ra cổng đón tiếp, vòng tay vái mà nói: “Hạ quan không biết thái phó đại nhân quang lâm, thất lễ, thất lễ!”

Doanh Kiền thân mặc thường phục, đáp lễ mà nói: “Thượng đại phu bất tất phải khách khí. Doanh Kiền không hẹn mà tới, coi như là khách không mời!”

“Thái phó đại nhân là khách quý, hạ quan còn không dám mong mời được ngài tới thăm. Đại nhân, mời!”

Hai người đi vào trong phòng, chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Người hầu dâng trà lên, hai người cùng uống một ngụm, Cảnh Giám mở miệng liền hỏi thẳng: “Thái phó đại nhân bận trăm công ngàn việc, lần này tới hàn xá của hạ quan, hẳn là có việc lớn cần chỉ giáo?”

“Doanh Kiền muốn cho thượng đại phu biết, chuyện của Thương Quân, Doanh Kiền thực lòng hối hận!”

“Chuyện của Thương Quân không liên quan tới thái phó, thái phó không phải tự trách mình.”

“Than ôi!” Doanh Kiền thở dài. “Doanh Kiền là người thô lỗ, chưa hỏi rõ phải trái trắng đen đã vội tin lời Cam Long. May sao chúa thượng thánh minh, cuối cùng cũng làm rõ chân tướng. Doanh Kiền hôm nay nghĩ lại, thấy hối hận vô cùng!”

“Nếu không có thái phó đại nhân, đâu có thể giải oan báo thù cho Thương Quân?”

“Thượng đại phu nói vậy, khiến Doanh Kiền càng thêm hổ thẹn. Hôm nay Doanh Kiền đến đây, là muốn hỏi một chuyện.”

“Thái phó cứ hỏi, hạ quan nếu biết sẽ không dám giấu!”

“Nghe nói, chúa thượng muốn Doanh Kiền điều tra lại vụ án, là theo ý của thượng đại phu, có chuyện này chăng?”

“Không phải ý của hạ quan, mà là ý của Thương Quân!”

“Ý của Thương Quân?” Doanh Kiền thất kinh. “Thương Quân nói thế nào?”

“Trước lúc lâm chung, hạ quan có đến tiễn chân, Thương Quân nói với hạ quan, nếu chúa thượng muốn điều tra lại vụ án, hãy giao cho thái phó!”

“Ồ?” Doanh Kiền kinh ngạc đến trợn mắt há miệng, một lúc sau mới thốt nên lời. “Thương Quân còn nói gì nữa không?”

“Thương Quân còn nói, tại hạ công thành danh toại, nhưng không biết tiến thoái, cũng đáng đời lắm! Cảnh huynh, huynh hãy nói lại với Xa tướng quân, hai người nhất định phải lấy Ưởng làm gương, tự biết trân trọng!”

Doanh Kiền trầm tư một lát, liên tiếp gật đầu, rồi ngẩng lên hỏi: “Xin hỏi thượng đại phu, sau này có tính toán gì chưa?”

Cảnh Giám thở dài: “Than ôi, còn tính toán gì nữa! Hạ quan tuổi quá ngũ tuần, cũng đã già rồi. Hạ quan và Xa tướng quân đều đã suy nghĩ kỹ, ngay ngày mai, sẽ tâu xin chúa thượng cho cáo lão hồi hương, tìm một nơi an dưỡng tuổi già, trồng hoa nuôi chim, vui với ruộng vườn, coi như sống nốt tuổi tàn!”

Doanh Kiền vội vòng tay: “Nuôi chim trồng hoa cũng là thú vui của Doanh Kiền. Nếu hai vị không tính toán chuyện trước đây, có thể cho Doanh Kiền cùng chung hưởng được chăng?”

Cảnh Giám vòng tay đáp lễ! “Có thể cùng chung vui với thái phó đại nhân, đó là phúc phận của hạ quan.”

“Tốt lắm! Tốt lắm!” Doanh Kiền khen liền mấy tiếng. “Xin thượng đại phu hãy nói lại với Xa tướng quân, rằng chúng ta quyết định như vậy!”

Trên con đường dịch đạo (1) ở ngoại ô phía đông Hàm Dương, Tư Mã Thác dẫn theo một đoàn tuỳ tùng ra roi phóng gấp, từ xa nhìn thấy phía trước cũng xuất hiện một đoàn người ngựa, nhìn cờ hiệu đoán là Sư Lý Tật đã chạy thông đêm từ Thương Quận trở về, liền quất ngựa chạy tới.

Tư Mã Thác vòng tay vái mà nói: “Sư Lý huynh, thật không ngờ lại gặp được huynh ở đất này!”

“Tại hạ cũng vậy!” Sư Lý Tật vòng tay đáp lễ. “Tư Mã tướng quân, tướng quân đang ở Hà Tây, sao lại tới đây?”

“Chúa thượng triệu mạt tướng gấp rút hồi cung, không biết có chuyện gì? Còn Sư Lý huynh?”

“Tại hạ cũng vậy!”

“Nghe nói chúa thượng đã chém đầu đám gian tặc Cam Long, tổng cộng hơn mười hai gia tộc, mấy trăm mạng người, thật khiến người ta sảng khoái! Nếu lúc đó mạt tướng có mặt, chắc chắn sẽ tự tay chặt mấy cái đầu chó đó xuống!”

Sư Lý Tật thở dài: “Chúa thượng thánh minh, vong hồn Thương Quân trên trời coi như cũng được an ủi!”

Hai người hội quân, cùng tiến về cổng thành, vào thẳng trong cung.

Hôm nay là tiểu triều, nên chỉ có chừng mười triều thần thượng triều, đều là có việc cần bẩm báo. Huệ Văn Công lần lượt trả lời từng bản tấu chương, thấy không còn ai tấu báo gì nữa, đang định bãi triều thì Cảnh Giám đưa mắt nhìn Xa Anh, rồi bước lên nói lớn: “Vi thần có tấu!”

“Ái khanh cứ nói!”

“Chúa thượng!” Cảnh Giám hai tay trình lên bản tấu. “Vi thần tuổi đã cao, sức yếu nhiều bệnh, vốn dĩ cũng muốn cúc cung tận tụy vì chúa thượng, nhưng tâm có thừa mà sức không đủ, chỉ e làm lỡ đại sự triều đình. Vi thần xin được cáo lão hồi hương, an dưỡng tuổi già, mong chúa thượng ân chuẩn!”

Quần thần đưa mắt nhìn nhau, còn chưa kịp định thần thì Xa Anh cũng bước lên, dâng tấu mà nói: “Vi thần cũng xin được cáo lão hồi hương, an dưỡng tuổi già, mong chúa thượng ân chuẩn!”

Huệ Văn Công trầm tư một lát, rồi gật đầu đồng ý: “Chuẩn tấu cho hai vị ái khanh!” Quay sang nội thần. “Hạ chỉ, hai vị ái khanh trung quân yêu dân, bảo vệ tân pháp, vất vả lập công, thưởng cho mỗi vị năm trăm lượng vàng, năm mươi tấm lụa, phong tặng trăm hộ, một toà phủ trạch.”

Xa Anh, Cảnh Giám cùng quỳ xuống khấu tạ: “Vi thân tạ ân chúa thượng!”

Hai người tạ ân xong, Doanh Kiền cũng bước lên: “Chúa thượng, vi thần có tấu!”

“Công thúc, xin cứ nói!”

Doanh Kiền lấy ra một bản tấu từ trong tay áo, hai tay dâng lên: “Những điều vi thần muốn tâu bày, đều đã viết trong bản tấu này, mong chúa thượng ngự lãm!”

Nội thần nhận lấy bản tấu, trình lên Huệ Văn Công.

Huệ Văn Công xem qua bản tấu, rồi nói với chúng thần: “Chư vị ái khanh, nếu không ai còn tấu, bãi triều!”

Chúng thần lần lượt tản đi.

Doanh Kiền trong lòng lo lắng, đang định rời đi thì Huệ Văn Công gọi: “Công thúc, xin dừng bước!”

Doanh Kiền liền dừng lại.

“Mời công thúc đến thư phòng nói chuyện!” Huệ Văn Công nói đoạn, liền đi trước dẫn đường.

Doanh Kiền đi theo Huệ Văn Công đến ngự thư phòng, chia ngôi quân thần ngồi xuống.

“Công thúc,” Huệ Văn Công vòng tay. “Công thúc cũng muốn cáo lão hồi hương ư?”

“Khởi bẩm chúa thượng, công thúc chỉ nhỏ hơn quân huynh ba tuổi. Khi quân huynh còn, công thúc vẫn chưa có cảm nhận gì. Quân huynh vừa ra đi, công thúc mới đột ngột nhận ra mình đã thành già yếu. Công thúc quả thực đã già rồi, suốt mấy ngày nay, cứ mãi nhớ nhung quân huynh...” Doanh Kiền nói đến đây, hai mắt rưng rưng.

Huệ Văn Công thấy sống mũi cay sè, bèn quỳ xuống trước mặt Doanh Kiền: “Tâm sự của công thúc, Tứ Nhi hiểu rõ. Công thúc không phải đã già, mà công thúc thấy Tứ Nhi còn non nớt, cần được rèn giũa, muốn giao lại gánh nặng nghìn cân cho một mình Tứ Nhi gánh vác, để khiến Tứ Nhi sớm tối tôi rèn mà thành lão luyện!”

“Chúa thượng,” Doanh Kiền cũng quỳ xuống, “trước đây công thúc đã nhìn lầm chúa thượng. Nước Tần có được chúa thượng, chắc chắn sẽ thành đại nghiệp!”

“Đa tạ công thúc quá khen!” Huệ Văn Công nhìn thẳng vào Doanh Kiền. “Công thúc cai quản lương thảo, đó là việc lớn của đất nước. Công thúc muốn từ chức, vậy xin hỏi công thúc, người nào có thể đảm đương trọng trách này?”

“Cam Mậu!”

“Cam Mậu?” Huệ Văn Công hít vào một hơi dài. “Tứ Nhi còn nhớ hình như người này đã từng phản đối công thúc ngay trước mặt quần thần, khiến công thúc mất mặt.”

“Chúa thượng chỉ hỏi là người nào có thể đảm đương trọng trách, chứ không hỏi người nào đã từng xung đột với lão thần!”

“Đúng vậy!” Huệ Văn Công gật đầu. “Xin hỏi công thúc, khi Thương Quân lâm chung đã tiến cử Sư Lý Tật và Tư Mã Thác với Tứ Nhi, theo ý công thúc, hai người này thế nào?”

“Người mà Thương Quân tiến cử, chúa thượng cứ yên tâm dùng!”

Lời vừa dứt, nội thần liền bước vào: “Khởi bẩm chúa thượng, quận thú Hà Tây Tư Mã Thác, quận thú Thương Ư Sư Lý Tật đang đợi ở bên ngoài!”

“Thật là vừa khéo!” Huệ Văn Công đứng dậy, vui vẻ nói. “Quả nhân vừa nhắc đến họ, họ đã đến nơi.” Rồi quay sang nội thần. “Truyền hai người vào yết kiến!”

Trong buổi đại triều ba ngày sau, Huệ Văn Công liên tiếp ban mấy đạo chiếu thư, đồng ý cho thái phó Doanh Kiền, thượng đại phu Cảnh Giám, quốc uý Xa Anh từ quan quy ẩn, cáo lão hồi hương, đồng thời bổ nhiệm Sư Lý Tật làm thượng đại phu, tiếp quản chính vụ của Cảnh Giám; Tư Mã Thác làm quốc uý, tiếp quản quân vụ của Xa Anh; quận thú Lũng Tây Cam Mậu làm hữu canh, tiếp quản tài vụ của Doanh Kiền.

Mấy ngày sau đó, Huệ Văn Công tiến hành điều động quy mô lớn với các quan viên từ quận thú, đại phu, thiên phu trưởng trở lên ở tất cả các vùng, hoặc thăng hoặc giáng, hoặc điều chuyển hoặc di dời, chỉnh đốn toàn diện, hầu như không bỏ sót một ai.

Mọi công việc được Huệ Văn Công tiến hành liền mạch chóng vánh, vừa không dây dưa kéo dài, cũng không qua loa cẩu thả, bất kể nhìn từ điểm nào cũng có thể nhận ra, Huệ Văn Công đã sớm có tính toán từ trước. Hành động lần này đã cho tất cả các quan viên được biết, toàn bộ sống chết vinh nhục của họ đều nằm trong tay quân chủ mới.

Và như vậy, sau khi Tần Hiếu Công băng hà chưa đầy ba tháng, Huệ Văn Công tả hữu giương cung, quyết sách liên hoàn, hành sự chặt chẽ, trừ Thương Quân, diệt cựu đảng, thay đổi triều thần, khiến cho liệt quốc nhìn mà hoa mắt chóng mặt.

Nhờ một loạt quyết sách khiến người khác phải kinh tâm táng đởm, Huệ Văn Công đã chỉnh đốn lại toàn bộ triều cục rối ren sau khi Tần Hiếu Công băng hà, hoàn toàn khống chế triều chính nội ngoại của nước Tần.

Tuy nhiên, Huệ Văn Công vẫn chưa thể kê gối ngủ ngon, mà vẫn ngồi lặng lẽ trước án, cảm nhận một nỗi sợ hãi xuất phát từ sâu thẳm trong tim.

Huệ Văn Công biết mình đang sợ hãi điều gì. Ông hiểu rất rõ, mặc dù đã hành sự vẹn toàn, nhưng vẫn còn thiếu một thứ quan trọng.

Đó chính là Thương Quân!

Tiên quân có Thương Quân, vì vậy biết rõ nước Tần nên đi theo hướng nào, không nên đi hướng nào, nhưng trong tay ông lại chưa có gì cả. Sư Lý Tật, Tư Mã Thác, Cam Mậu, mặc dù trung dũng đáng tin, có chút tài cán, nhưng đều chỉ biết làm những việc cụ thể, không ai có khả năng nhìn xa trông rộng, đảm đương quốc chính như Thương Quân, chứ chưa nói đến khả năng xoay chuyển nguy cục.

Nếu so với Thương Quân, họ hoàn toàn không xứng đáng. Có lẽ chỉ có một người có thể ngang hàng với Thương Quân, đó chính là Công Tôn Diễn.

Tuy nhiên, hiện giờ Huệ Văn Công không có thời gian để mắt đến người này, vì còn có một sự việc cấp bách hơn nhiều.

Sự việc đó chính là, nước Tần nên đi theo đường nào? Nước Tần giống như con thuyền lớn đang lênh đênh trên biển cả, thuyền trưởng đột nhiên ngã xuống, cùng ngã theo thuyền trưởng là một loạt thuỷ thủ lão luyện, trong số họ, có người rành thiên văn, có người thạo hải đồ, có người cầm lái, có người giương buồm, có người quăng neo. Trên mặt biển lúc này, sóng lớn cuộn trào, đá ngầm rình rập, vị thuyền trưởng tân nhiệm đã dốc tận tài năng tâm sức, cuối cùng đã giữ cho con thuyền được thăng bằng. Hiện giờ, toàn bộ thuyền viên trên dưới một lòng, muôn sự đổi mới, nhưng là thuyền trưởng và người cầm lái, Huệ Văn Công hiểu rõ, trên thuyền giờ đây không thiếu tay chèo, không thiếu người giương buồm, mà là thiếu người quan sát thiên văn và đọc hải đồ. Không tìm được sao Bắc Đẩu, không biết đọc hải đồ, không xác định được đông nam tây bắc, con thuyền lớn sẽ không biết phải đi đâu, càng không biết nơi nào có sóng cả, nơi nào có đá ngầm.

Huệ Văn Công đột nhiên nhớ lại lời Công Tôn Ưởng lúc ở trong ngục, trầm tư một hồi, rồi gọi Tư Mã Thác và Sư Lý Tật tới, quân thần ba người cùng tìm đến núi Chung Nam.

Doanh trại trước đây của Tư Mã Thác đóng gần Hàn Tuyền, cộng thêm mấy lần trước có qua lại với Công Tôn Ưởng, vì vậy rất rành đường thuộc lối. Nhờ Tư Mã Thác dẫn đường, quân thần ba người đi ra khỏi doanh trại, chưa tới hai canh giờ đã đến thung lũng dẫn đến Hàn Tuyền. Đi thêm một lúc, Huệ Văn Công, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác chợt thấy một người đứng bên đường.

Thấy ba người đi tới, người này chưa hỏi han gì đã vòng tay vái thật sâu: “Tại hạ Giả Xá Nhân phụng mệnh tiên sinh, đứng đợi ba vị đại nhân ở đây!”

Huệ Văn Công giật mình, đưa mắt nhìn Sư Lý Tật, lại quay sang nhìn Tư Mã Thác, hai người đều cả kinh. Ba người lần này đến không báo trước, nhưng Hàn Tuyền Tử lại đoán biết được, nếu không phải người đắc đạo, sao có được công lực này?

Tư Mã Thác trước đây đã từng gặp Giả Xá Nhân, vội vòng tay nói: “Đã khiến Giả tiên sinh phải vất vả!”

Giả Xá Nhân chìa tay: “Ba vị đại nhân, mời!”

Tư Mã Thác đáp lại: “Giả tiên sinh, mời!”

Giả Xá Nhân đi trước dẫn đường, bốn người đi theo đường núi đến trước một căn nhà cỏ, Hàn Tuyền Tử đã đứng đợi sẵn bên ngoài, thấy Huệ Văn Công, bèn vòng tay vái mà nói: “Chúa thượng giá lâm hàn xá, Hàn Tuyền Tử không nghênh đón từ xa, đắc tội, đắc tội!”

Huệ Văn Công lại giật mình kinh ngạc, rồi cũng vòng tay đáp lễ: “Làm sao tiên sinh biết Doanh Tứ là quân chủ?”

“Lão hủ thấy khí tía từ phương bắc tới, lại có mây lành bao phủ, nên đoán biết được.”

“Tiên sinh quả là thần nhân!”

Hàn Tuyền Tử dẫn họ vào nhà cỏ, chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Hai đạo đồng rót trà xong, lui sang hai bên.

Hàn Tuyền Tử chỉ vào chén trà: “Chúa thượng, hai vị đại nhân, mời dùng trà!”

Huệ Văn Công nhấp một ngụm: “Quả là trà ngon!”

Hàn Tuyền Tử cười nói: “Trà này hái ở bên bờ Hàn Tuyền tại núi Chung Nam, hiện giờ có tám gốc trà, đều do tiên sư Quan Doãn Tử tự tay trồng lấy, uống vào thơm tho thanh nhuận, khác hẳn trà thường.”

“Chẳng trách nơi này thanh tịnh tốt lành, thì ra là thánh địa. Thánh trà nơi thánh địa, Doanh Tứ có thể lấy về một ít để ngày ngày thưởng thức hay chăng?”

“Chúa thượng là quân chủ một nước, có thể ngày ngày thưởng thức. Có điều... trà này không giống trà thường, nếu không phải nước suối Hàn Tuyền thì không thể hãm. Nếu chúa thượng có nhã hứng, có thể sai bách tính nối nhau chuyển về.”

“Nếu vậy thì đành thôi! Chỉ vì thoả mãn ý thích của miệng lưỡi trong chốc lát mà bắt người dân nhọc nhằn lấy nước, trà pha được cho dù có thơm tho thanh nhuận đến mấy, Doanh Tứ cũng không thể nuốt trôi.”

“Chúa thượng có lòng yêu dân, đúng là phúc của nước Tần!”

“Lời khen của tiên sinh, Doanh Tứ không dám nhận.” Không dám giấu tiên sinh, lần này Doanh Tứ đến là có chuyện muốn nhờ cậy.

Dường như Hàn Tuyền Tử đã đoán được Huệ Văn Công định nói gì, lập tức đáp lời: “Chúa thượng cùng Hàn Tuyền Tử sang phòng khác nói chuyện, được chăng?”

Huệ Văn Công gật đầu.

Hàn Tuyền Tử đứng dậy dẫn đường. Hai người đi đến một thư phòng, phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Tiểu đồng đi vào, tiếp tục rót trà, sau đó lui ra.

Hàn Tuyền Tử ôm quyền nói: “Chúa thượng có việc gì, xin cứ nói!”

Huệ Văn Công ôm quyền đáp lễ: “Tiên quân sớm băng hà, Doanh Tứ phải gánh trọng trách trên vai. Nước Tần nhỏ hẹp, dân chúng thô tục, nước không có tích luỹ, bách tính cơ cực, lại gặp phải lúc thiên hạ đang loạn, liệt quốc phân tranh, gian nan chồng chất. Doanh Tứ non yếu kém cỏi, chưa đủ lông cánh, mỗi khi nghĩ đến điều này, suốt đêm không thể chợp mắt. Hôm nay đến thánh địa, mong được đại sư chỉ giáo!”

“Chúa thượng bất tất quá ư khiêm tốn!” Hàn Tuyền Tử vòng tay đáp lễ. “Theo quan sát của lão hủ, chúa thượng hành sự quyết đoán, sắp đặt kín kẽ, chỉ trong mấy tháng đã khiến Tần đại hợp đại khai, muôn sự đổi mới. Tài trí nhường này, những quân vương tầm thường tuyệt đối không thể có được. Lão hủ xin chúc mừng chúa thượng!”

“Mọi việc khó lòng qua được tuệ nhãn của tiên sinh, Doanh Tứ thán phục!”

“Chúa thượng giá lâm Hàn Tuyền, phải chăng có liên quan tới đại lương tạo?”

“Đúng thế! Khi Thương Quân còn tại thế, Doanh Tứ có hỏi về đường đi của nước Tần, Thương Quân nói, nếu Doanh Tứ có điều chưa rõ, có thể đến hỏi Hàn Tuyền tiên sinh. Doanh Tứ không mời mà đến, đã quấy nhiễu sự thanh tịnh của tiên sinh, quả thực đường đột.”

“Dám hỏi chúa thượng muốn biết việc gì?”

Huệ Văn Công không hề nghĩ ngợi, lập tức hỏi ngay: “Đại thế của thiên hạ!”

“Đại thế của thiên hạ, phân lâu tất hợp. Ngày nay thiên hạ giả hợp thực phân, về sau sẽ đi đến chỗ giả phân thực hợp. Còn về việc sẽ hợp về tay ai, đó là thiên cơ, lão hủ không thể tiết lộ. Nhưng tình thế trước mắt, tất cả đều như chúa thượng đã thấy, liệt quốc tuy đông, nhưng thành đại thế thì chỉ có bảy. Yên yếu mà ở xa; Triệu mạnh nhưng thiếu giáo hoá; Ngụy, Hàn kẹt giữa nước lớn, khó lòng tự bảo vệ mình. Có thể thành đại nghiệp, chỉ có ba nước Tề, Sở, Tần.

Huệ Văn Công hai mắt mở to: “Xin tiên sinh giải thích rõ hơn!”

“Nước Sở người đông, đất đai màu mỡ, sản vật phong phú, lãnh thổ rộng rãi, có thể thành đại nghiệp. Tề có mối lợi cá muối, giàu có nhờ dâu đay, giáo hoá mà trị, chắc hẳn sẽ là kẻ địch lớn của Tần.”

Huệ Văn Công trầm ngâm một hồi, rồi nói khẽ: “Trăm năm trở lại đây, người Tần luôn coi Ngụy là kẻ địch đáng gờm. Nếu nói như vậy, e rằng đã xem thường Ngụy.”

“Lời của chúa thượng đã là quá khứ!” Hàn Tuyền Tử chậm rãi nói. “Nước Ngụy ngày nay, đông tây chia cắt làm hai, giữa không nối liền, đây là điều đại kỵ của phong quốc. Tạm chưa nói tới điều này, nước Ngụy lại nằm giữa Trung Nguyên, bốn phía đều có địch, ba cường quốc nhòm ngó, chắc chắn sẽ trở thành cá nằm trên thớt, sao có thể thành đại sự?”

“Tiên sinh dạy chí phải. Xin hỏi tiên sinh, Doanh Tứ phải dùng kế sách gì để đối phó với Tề, Sở?”

“Ba nước đối địch, thế lực cân bằng, chỉ được dùng trí, không được dùng sức. Đây gọi là kẻ dùng sức thì mất, kẻ dùng mưu thì còn. Chúa thượng nên coi trọng bang giao, chiến tranh chỉ là thứ yếu.”

“Đây cũng chính là điều mà Doanh Tứ lo lắng. Người Tần trước nay luôn dựa vào trí, nay lại thiếu nhân tài. Khi tiên quân còn sống, có Công Tôn Ưởng phò tá, trí lực vẹn toàn. Nhưng nay Thương Quân tuẫn quốc, Doanh Tứ chỉ có người sức lực, mà khổ vì không có anh tài!”

“Anh tài do thời thế tạo ra. Đại thế của thiên hạ đã đi tới bước này, tự nhiên sẽ có anh tài xuất hiện. Theo lão hủ thấy, không phải chúa thượng thiếu anh tài, mà là thiếu tuệ nhãn để nhận biết anh tài.”

“Lời của tiên sinh như vén lên tấm màn trước mắt. Doanh Tứ có một thỉnh cầu quá đáng, không biết có nên nói ra hay không?”

“Chúa thượng xin cứ nói đừng ngại!”

“Tiên sinh tuệ nhãn ngàn dặm, Doanh Tứ muôn phần kính phục. Doanh Tứ bất tài, muốn bái tiên sinh làm quốc sư, sớm tối nghe tiên sinh dạy bảo, không biết tiên sinh có chịu hạ mình hay chăng?”

“Lão hủ đa tạ chúa thượng đã coi trọng. Có điều lão hủ đã ở ẩn nhiều năm, không quen bôn tẩu, mong chúa thượng lượng thứ!”

Huệ Văn Công sững người: “Ồ...”

Hàn Tuyền Tử mỉm cười nói: “Chúa thượng chớ lo lắng! Lão hủ có một tiểu đồ tên Trúc Viễn, tự Tu Trường, đã theo lão hủ nhiều năm, dù không có tài kinh thiên vĩ địa, nhưng cũng có khả năng nhận biết người tài. Lão hủ sẽ phái Tu Trường xuống núi, ngõ hầu có thể giúp chúa thượng một tay.”

Huệ Văn Công vái mà nói: “Doanh Tứ đa tạ tiên sinh tương trợ!”

Hàn Tuyền Tử cũng vái đáp lễ: “Lão hủ chẳng qua chỉ thuận theo ý trời, chúa thượng bất tất phải đa tạ!” Rồi quay ra ngoài gọi. “Tu Trường!”

Một người trung niên đáp lời rồi đi vào, khấu bái: “Tu Trường khấu kiến tiên sinh!”

“Con và Xá Nhân hãy theo chúa thượng xuống núi, mọi việc nhất nhất nghe theo lời chúa thượng!”

Trúc Viễn lại bái lạy: “Đệ tử xin nghe lời tiên sinh!” Rồi quay sang Tần Công bái lạy. “Thảo dân Trúc Viễn khấu kiến chúa thượng.”

Huệ Văn Công đáp lễ, nói: “Trúc tiên sinh, hãy đứng lên! Thế tục bận rộn, Doanh Tứ đã khiến Trúc tiên sinh phải vất vả rồi!”

“Thảo dân nguyện nghe chúa thượng sai bảo!”

Huệ Văn Công bèn đứng dậy, hành lễ với Hàn Tuyền Tử: “Đa tạ tiên sinh! Doanh Tứ cáo từ!”

Hàn Tuyền Tử đứng dậy đáp lễ: “Lão hủ cung tiễn chúa thượng!”

Chuyến đi Hàn Tuyền đã khiến Huệ Văn Công được đại khai nhãn giới. Lời của Hàn Tuyền Tử rất trùng khớp với giấc mơ của tiên quân. Ngay hôm trở về tới thành Hàm Dương, Huệ Văn Công bèn một mình tới điện Di Tình, lấy hộp đá cất trong mật thất ra, chăm chú nhìn vào dòng minh văn khắc trên đó: “Số Chu tám trăm, đỏ tận đen xuất; làm đế thiên hạ, bốn biển đều phục.”

Kỳ thực, từ trong thâm tâm, chưa lúc nào Huệ Văn Công thôi nghi ngờ về sự thật giả của hộp đá, cho rằng là do tiên quân chôn sẵn từ trước. Hôm nay nhìn lại, sự nghi ngờ này không những nực cười, mà còn là bất kính với trời cao.

Huệ Văn Công cung kính bày hộp, đốt hương thắp nến, rồi khấu đầu mấy cái trước hộp đá. Sau đó ngồi đối diện trước hộp, trầm ngâm suy nghĩ. Bên tai Huệ Văn Công lại văng vẳng giọng nói của tiên quân Hiếu Công: “Liệt quốc trong thiên hạ, chỉ có duy nhất nước Tần ta có thể thay thế nhà Chu. Đây không phải ý ta, mà là ý trời!”.

Giọng Hiếu Công vừa lắng xuống, giọng Hàn Tuyền Tử lại vang lên: “Nước Sở người đông, đất đai màu mỡ, sản vật phong phú, lãnh thổ rộng rãi, có thể thành đại nghiệp. Tề có mối lợi cá muối, giàu có nhờ dâu đay, giáo hoá mà trị, chắc hẳn là kẻ địch lớn của Tần... Ba nước đối địch, thế lực cân bằng, chỉ được dùng trí, không được dùng sức. Đây gọi là kẻ dùng sức thì mất, kẻ dùng mưu thì còn. Chúa thượng nên coi trọng bang giao, chiến tranh là thứ yếu.”

Huệ Văn Công trầm tư hồi lâu, rồi chậm rãi thu chiếc hộp lại, mang cất vào trong mật thất, rồi quay trở về ngự thư phòng, đứng trước bản đồ liệt quốc, ngưng thần chuyên chú quan sát các ký hiệu tình thế được khắc trên ván gỗ.

Quan sát một lúc, Huệ Văn Công khẽ chau mày: “Đúng vậy, kẻ dùng sức thì mất, kẻ dùng mưu thì còn... Nên coi trọng bang giao, chiến tranh là thứ yếu... Bang giao?”

Huệ Văn Công đang mải suy nghĩ, nội thần chợt bước vào: “Chúa thượng, thượng đại phu cầu kiến!”

“Truyền”

Một lát sau, Sư Lý Tật bước vào, bái lạy mà nói: “Khởi bẩm chúa thượng, Tây Nhung cống nạp hai mươi con ngựa quý, Nghĩa Cừ cống nạp ba mươi con ngựa quý, tất cả đều đã ở bãi ngựa.”

Huệ Văn Công vốn rất yêu ngựa, nghe có ngựa quý, không giấu nổi hào hứng, vội nói: “Đi, dẫn quả nhân đi xem!”

Hai người phấn khởi đi ra cửa cung. Huệ Văn Công dừng bước, quay sang nói với nội thần: “Ngươi hãy đến dịch quán, mời Trúc tiên sinh, Giả tiên sinh cùng đến bãi ngựa.”

“Thần lĩnh chỉ!”

Khi Huệ Văn Công đến bãi ngựa, nội thần cùng Trúc Viễn, Giả Xá Nhân đã đứng đợi sẵn. Đại tư mã dẫn đường, mọi người chậm rãi đi qua các tàu ngựa. Thấy có người đến, bầy chiến mã đều giậm chân thở phì phì, trông rất sung sức.

Huệ Văn Công rất hài lòng, đưa tay chỉ vào chiến mã, cười nói với Trúc Viễn: “Trúc tiên sinh, tiên sinh thấy chúng thế nào?”

Trúc Viễn vòng tay nói: “Khởi bẩm chúa thượng, tất cả đều là ngựa tốt!”

Huệ Văn Công có vẻ ngạc nhiên: “Chẳng lẽ không có con nào là ngựa quý ư?”

“Vậy phải xem chúa thượng nhìn nhận chữ “quý” như thế nào.”

“Xin tiên sinh nói rõ!”

“Nếu chúa thượng coi kéo xe, ngao du, săn bắn là quý, thì tất cả chúng đều có thể coi là ngựa quý. Nếu chúa thượng coi ngày chạy nghìn dặm, tung hoành thiên hạ là quý, thì chúng chỉ có thể coi là ngựa tốt.”

Huệ Văn Công trầm ngâm một lúc, rồi vái Trúc Viễn: “Trúc tiên sinh nói rất hay! Không giấu tiên sinh, quả nhân mời tiên sinh đến đây xem ngựa, chính là để đợi những lời này. Quả nhân mới kế vị, chí hướng lớn lao, đáng tiếc sức ngựa không đủ, khó lòng đi xa. Quả nhân đang muốn có ngựa ngày chạy ngàn dặm, đêm không cần ngủ. Lần này lên núi mời được hai vị tiên sinh, đúng là hồng phúc của quả nhân. Thường có câu, thiên lý mã thường có, nhưng Bá Nhạc không thường gặp. Hôm nay có hai vị Bá Nhạc ở bên, quả nhân chẳng còn lo phiền gì nữa!”

Trúc Viễn vòng tay đáp lễ: “Chúa thượng coi trọng nhường này, thảo dân thực không dám nhận!”

“Tiên sinh bất tất phải khách sáo. Quả nhân có lòng tìm ngựa, hôm nay mời tiên sinh đến là muốn thỉnh giáo, quả nhân phải làm thế nào mới có được thiên lý mã?”

“Có hai cách tìm ngựa. Một là huy động nhân lực, tìm kiếm khắp nơi trong thiên hạ. Hai là nuôi dưỡng ngựa, tạo bãi cỏ rộng lớn, khiến ngựa không có bị gò bó mà được tung hoành, dần dần sẽ thành thiên lý mã.”

“Lời của Trúc tiên sinh rất chí lý! Tiên sinh xem thế này có được không, bây giờ quả nhân sẽ bố cáo thiên hạ, sĩ tử trong liệt quốc, phàm có tài năng, đều có thể đến Tần thực hiện hoài bão. Các sĩ tử đến Tần, quả nhân sẽ tuỳ tài mà dùng. Quả nhân sẽ dành ra một phần trong dịch quán liệt quốc, mở ra một con đường cho sĩ tử, xây dựng nhiều dịch quán, chuyên để tiếp đãi chúng sĩ tử trong thiên hạ.”

“Chúa thượng có thành ý này, ngựa quý trong thiên hạ ắt sẽ tự tìm đến!”

“Thứ mà quả nhân cầu, không phải là ngựa tốt, mà là thiên lý mã. Còn về việc có cầu được hay không, phải trông cậy vào tuệ nhãn của hai vị.”

“Chúa thượng cầu hiền như khát nước, Tu Trường đâu dám không tận lực?”

Đúng vào lúc đó, thấy một con ngựa lao tới như bay, công tử Hoa nhảy xuống ngựa, dập đầu sát đất: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”

“Ái khanh bình thân!”

“Tạ ơn chúa thượng!” Công tử Hoa đứng dậy, ngập ngừng như muốn nói nhưng lại thôi.

“Nói đi, ở đây không có người ngoài!”

“Khởi bẩm chúa thượng, sứ thần nước Ngụy Trần Chẩn đã quay về nước!”

“Trần Chẩn? Kẻ này đáng lẽ phải về lâu rồi mới phải!”

“Chúa thượng nói rất đúng! Có điều lần này Trần Chẩn quay về rất vội vàng, dường như có việc gấp gáp.”

“Ồ?” Huệ Văn Công ngẩn người. “Có biết việc gì không?”

Công tử Hoa lắc đầu: “Tối qua vào giờ Nhân định, có người đến giao cho Trần Chẩn một bức mật thư. Trần Chẩn đọc qua, vội vàng gọi người đóng xe rồi khởi hành ngay trong đêm. Vi thần nghĩ, chắc hẳn là nước Ngụy đã xảy ra chuyện lớn, nếu không, Trần Chẩn đã chẳng phải vội vã đến vậy.

Huệ Văn Công suy nghĩ một lát, rồi quay sang nói với Sư Lý Tật: “Sư Lý ái khanh, lần này tiên quân băng hà, quả nhân mới kế vị, Ngụy Vương không tính toán chuyện cũ, đã phái thượng đại phu Trần Chẩn đến thăm hỏi, quả nhân rất mực cảm kích. Có đi thì phải có lại, ái khanh hãy thay quả nhân đi sứ nước Ngụy, một là đa tạ hậu tình của Ngụy Vương, hai là thay quả nhân chuyển lời tới Ngụy Vương, nói rằng quả nhân nguyện cùng Ngụy Vương xoá bỏ hiềm khích trước đây, kết thành liên minh, mở thông các ải để giao thương, làm lợi cho hai nước.”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Sư Lý ái khanh, lần này còn có một sứ mệnh, khanh có biết chăng?”

“Khuyên Công Tôn Diễn sang Tần!”

Huệ Văn Công lắc đầu: “Chỉ khuyên thôi chưa đủ, phải mời! Nhớ kỹ, mời trực diện không được, thì phải mời ngấm ngầm; mời nhu hoà không được, thì phải mời cứng rắn. Tóm lại, khanh chỉ được phép có một kết quả: không được để hắn phò tá nước Ngụy!”

“Vi thần tuân chỉ!”

“Còn nữa, Trần Chẩn kia cũng là một nhân vật lớn, nếu có cơ hội, hãy giúp ông ta làm tướng quốc nước Ngụy.”

Sư Lý Tật ngỡ mình nghe nhầm: “Chúa thượng muốn giúp Trần Chẩn làm tướng quốc Ngụy?”

“Đúng thế!” Huệ Văn Công gật đầu, rồi quay sang công tử Hoa. “Tiểu Hoa, khanh cũng đi cùng, theo thượng đại phu để mở mang tầm mắt.”

Công tử Hoa vòng tay đáp: “Vi thần tuân chỉ!”

Trên đường cái quan ở ngoài thành An Ấp, đoàn người ngựa của Trần Chẩn lao đi băng băng. Đang đi gấp, đoàn xe đột nhiên khựng lại, phía trước ồn ào hỗn loạn.

Trần Chẩn từ trong xe thò đầu ra, lớn tiếng quát nạt: “Có chuyện gì thế?”

Quân uý quay ngựa lại đáp: “Khởi bẩm đại nhân, có mấy cỗ xe bò chặn ngang, không chịu nhường đường.”

Trần Chẩn giận dữ nhảy xuống xe, cùng quân uý rảo bước đi lên phía trước, quả nhiên thấy mấy cỗ xe bò đang chặn ngang đường. Mấy tên lính đã nhảy lên cỗ xe bò đầu tiên, đang lôi kéo bò kéo xe. Một tên lính khác đang cãi vã với người đánh xe. Trần Chẩn đưa mắt nhìn, thấy người đánh xe là một nam tử trung niên, tuổi quá tứ tuần, vóc dáng cao gầy, thư sinh nho nhã, trong tay cầm một cuộn thẻ tre, không thèm đếm xỉa tới tên lính đang sinh sự.

Mấy cỗ xe bò cũ nát không ngừng kêu cọt kẹt. Mỗi cỗ xe thắng vào một con bò, dẫn đầu là một con bò mộng, trên cổ đeo chuông, hễ lúc lắc đầu là chuông lại kêu lên leng keng. Ngoài nam tử trung niên đang ngồi trên cỗ xe đầu tiên, những cỗ xe khác không thấy một ai.

Quân uý bước lên trước, quát lớn: “Ngươi là ai, sao dám chặn đường?”

Nam tử trung niên liếc xéo hắn một cái, rồi chậm rãi nói: “Ngươi thật vô lý! Đường của ngươi ngươi đi, đường của ta ta đi, sao nói là chặn đường?”

“Ái chà!” Quân uý bắt đầu điên tiết. “Người vô lý chính là ngươi đấy! Xe bò của ngươi đi phía trước, chắn ngay giữa đường lớn, không phải chặn đường thì là gì?”

“Phi lý thay! Phi lý thay!” Nam tử trung niên lắc lư cái đầu. “Người vô lý chính là ngươi đấy! Xe của ta phía trước, xe của ngươi phía sau. Xe bò của ta đi phía trước, xe ngựa của ngươi đi phía sau. Xe bò của ta di chuyển về phía trước, xe ngựa của ngươi cũng di chuyển về phía trước, tại sao có thể nói xe bò của ta chặn đường?”

Quân uý nghe ông ta thao thao một tràng mà chóng cả mặt, ngây ra một lát mới định thần lại được, học theo điệu nói năng rề rà của nam tử trung niên, lắc lư cái đầu mà nói: “Ngươi... thế này nhé, xe ngựa của ta chạy nhanh, xe bò của ngươi chạy chậm; xe bò chạy chậm chắn phía trước xe ngựa chạy nhanh, xe ngựa chạy nhanh không thể vượt qua xe bò chạy chậm, như thế gọi là chặn đường, đã hiểu chưa?”

“Phi lý thay! Phi lý thay!” Nam tử trung niên lại lắc đầu, nói lớn. “Chim bay không động, tên bắn chẳng bay, huống hồ là xe bò xe ngựa?”

“Cái gì mà chim bay không động?” Quân uý nổi khùng. “Hôm nay ông đây phải dạy cho ngươi một bài học! Người đâu, lật xe bò của hắn sang vệ đường!”

Mấy tên lính lập tức lao lên, nhăm nhăm muốn lật cỗ xe sang bên đường, nam tử trung niên liền hét lớn: “Cái gì mà đất nước lễ nghi? Người Ngụy đúng là rặt một lũ cường bạo!”

Thấy đám thủ hạ sắp sửa ra tay, Trần Chẩn đặng hắng mấy tiếng, đi tới trước mặt nam tử kia, xua tay với đám lính.

Quân lính lập tức dừng tay.

Trần Chẩn quan sát người này một hồi, rồi chậm rãi hỏi: “Tiên sinh phải chăng là Huệ Tử người nước Tống?”

“Không dám!” Người này cũng liếc Trần Chẩn một cái. “Tại hạ là Huệ Thi người nước Tống!”

Trần Chẩn vòng tay hành lễ: “Trần Chẩn người Ngụy đã mạo phạm!”

Huệ Thi vẫn ngồi trên xe bò, ôm quyền đáp lễ: “Huệ Thi xin chào thượng đại phu!”

Trần Chẩn tạ lỗi: “Tại hạ có việc gấp phải về An Ấp, thuộc hạ đang lúc nôn nóng, đã mạo phạm tới tiên sinh, mong tiên sinh lượng thứ!”

“Ha ha ha!” Huệ Thi cười lớn rồi nói. “Nghe khẩu khí của thượng đại phu, hẳn là muốn đi trước Huệ Thi?”

Trần Chẩn lại vòng tay hành lễ: “Làm phiền Huệ Tử nhường cho!”

“Muốn nhường không khó!” Huệ Thi lại lắc lư cái đầu. “Chỉ cần thượng đại phu cùng tại hạ bàn luận vài đề.”

“Từ lâu đã nghe danh Huệ Tử học vấn chứa đầy ba xe, tại hạ vẫn mong được chỉ giáo, nhưng hôm nay thực sự có việc gấp, hay là tiên sinh...”

“Ha ha ha!” Huệ Thi lại lắc đầu, cười lên mấy tiếng. “Tại hại chỉ nghe có tâm gấp, chứ không nghe thấy có việc gấp. Thượng đại phu đại nhân, việc tốt không gặp trong vội vàng!”

Trần Chẩn sững lại một thoáng, rồi đành phải chấp nhận: “Huệ Tử có đề gì, tại hạ xin được thỉnh giáo!”

Huệ Thi lại lắc lư cái đầu: “Huệ Thi cho rằng, trời thấp như đất, núi ngang với đầm.”

“Điều này...” Trần Chẩn ngẫm nghĩ một hồi, “về lý thì không hợp!”

“Huệ Thi cho rằng, vật vừa sống vừa chết, ngựa đẻ trứng, gà có ba chân.”

Trần Chẩn gãi đầu, lẩm bẩm: “Vật vừa sống vừa chết, ngựa đẻ trứng, gà có ba chân?”

“Huệ Thi cho rằng...”

Huệ Thi chưa kịp nói hết câu, Trần Chẩn đã hoả bốc ba trượng, sắc mặt sầm xuống, lớn giọng quát nạt: “Thật là tầm bậy, đúng là một kẻ điên khùng!” Rồi quay sang quân uý. “Người đâu, hất xe của hắn sang một bên!”

Lời vừa dứt, Trần Chẩn nộ khí đùng đùng, quay về xe kiệu của mình, chui tọt vào trong xe.

Đám binh lính lập tức ra tay, xúm vào kéo đẩy, dẹp mấy cỗ xe bò của Huệ Thi sang vệ đường, mở ra lối đi, rồi đoàn xe ngựa vội vã băng qua.

Huệ Thi đứng bên đường, nhìn theo bụi cuốn mù mịt, nhếch mép khinh thường, lắc đầu nói: “Trần Chẩn, chỉ e ngươi muốn nhanh cũng chẳng được!” Rồi cúi người nhặt mấy bó sách rơi vãi dưới đất lên, lại tiếp tục lắc đầu. “Với chút tài mọn của ngươi, lại thêm thói hấp tấp nhường này, sao có thể làm nên việc lớn?”

Trần Chẩn bỏ lại Huệ Thi, nhanh chóng trở về An Ấp, vội vàng tiến vào phủ.

Nghe thấy tiếng xe ngựa, Thích Quang liền chạy ra đón, bái lạy: “Chúa công, cuối cùng người cũng đã trở về!”

Trần Chẩn vội hỏi: “Có chuyện gì?”

Thích Quang đứng dậy, ghé tai Trần Chẩn thì thào một hồi.

“Thật ư?” Trần Chẩn vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ.

“Hoàn toàn chính xác!” Thích Quang hớn hở. “Chính miệng An Quốc Quân nói! An Quốc Quân nói rằng, bệ hạ đang tìm người thích hợp cho chức tướng quốc, An Quốc Quân đã nhân cơ hội tiến cử chúa công, bệ hạ nói, ‘Trần ái khanh cũng là một người có thể lựa chọn!’ Tiểu nhân đoán, lần này chúa công đã nắm chắc đến chín phần rồi!”

“Mau chuẩn bị hậu lễ, tới phủ An Quốc Quân!”

Trần Chẩn không quản đường xa mệt mỏi, lập tức cùng Thích Quang đến phủ An Quốc Quân.

Nghe báo thượng đại phu đến, quản gia của công tử Ngang vội vàng ra đón, thấy Thích Quang đang sai bảo thủ hạ khiêng lễ vật vào, thì cười tít mắt, tay vái Trần Chẩn, mắt liếc nhìn rương: “Thượng đại phu, đây là vật gì vậy?”

Trần Chẩn đáp lễ, cười nói: “Đây là chút đặc sản tại hạ đưa từ nước Tần về, mang đến tặng cho An Quốc Quân!”

Quản gia lại hành lễ: “Thượng đại phu lúc nào cũng nhớ tới chúa công chúng tôi, thật hiếm có!” Rồi chìa tay. “Thượng đại phu, mời!”

Hai người đi vào phòng khách, quản gia đợi Trần Chẩn ngồi xuống, liền mang trà ra, đích thân pha trà, bày lên bàn.

Trần Chẩn ngước mắt hỏi: “An Quốc Quân có trong phủ không?”

“Bẩm đại nhân, chúa công đi câu cá cùng bệ hạ rồi!”

“Câu cá? Đi lúc nào?”

“Phải đến hai canh giờ rồi. Thượng đại phu nếu có việc gấp, có thể đến Thuý Sơn tìm!”

“Không gấp, không gấp!” Trần Chẩn suy nghĩ một lát, rồi cười mà nói. “Tại hạ sẽ ở đây đợi. Nghe nói ông là bực cao cờ, tại hạ có thể thỉnh giáo chăng?”

Quản gia cũng cười mà đáp: “Thượng đại phu đã có nhã hứng, tại hạ đâu dám không tuân mệnh?” Rồi lấy bàn cờ từ dưới bàn lên, đưa cho Trần Chẩn hộp cờ màu đen. “Thượng đại phu, mời!”

Núi Thuý Sơn nằm ở phía bắc An Ấp, gọi là núi nhưng thực ra chỉ là một dải đồi gò nhấp nhô, nơi cao nhất không quá mấy chục trượng. Một con suối nhỏ không rõ tên băng qua nơi này, chảy sang phía đông thành An Ấp, sau đó đổ ra sông Đại Thanh, nhập vào Hà Thuỷ ở gần Mạnh Tân. Nơi đây cây cối rậm rạp, có nhiều chim thú, ngay từ thời Văn Hầu đã được dùng làm nơi săn bắn của triều đình.

Trong Thuý Sơn có một đầm đá nhỏ, rộng chừng mười mấy trượng, sâu không thấy đáy, nước đầm trong veo, một màu xanh biếc. Trong đầm tôm cá nhiều vô kể, là nơi ngự điếu. Xung quanh đầm có nhiều đình hóng mát, chuyên dùng làm nơi câu cá cho quân chủ và các công tử, quan lại quyền quý.

Buổi trưa hôm nay, Ngụy Huệ Vương, công tử Ngang, Chu Uy mỗi người mang một cần câu, chuyên tâm câu cá. Phao của Chu Uy không động đậy, nhưng phao của Ngụy Huệ Vương và công tử Ngang lại máy liên tục.

Công tử Ngang mừng thầm, vội giật cần, nhưng chỉ câu được một con cá nhỏ. Ngụy Huệ Vương dù thấy phao động, nhưng không vội vàng kéo lên.

Công tử Ngang vội giục: “Phụ vương, cá đã cắn câu rồi, mau kéo lên!”

Ngụy Huệ Vương liếc xéo một cái, vẫn ngồi bất động. Công tử Ngang quay sang nhìn phao của Chu Uy, thấy cũng đang máy, lại giục: “Chu tư đồ, cá cắn câu rồi!”

Chu Uy đáp: “Công tử, chẳng qua chỉ là một con cá nhép mà thôi.”

Công tử Ngang nghe thấy mà nóng tai, sắc mặt sa sầm, vung mạnh lưỡi câu đã mắc sẵn mồi xuống nước.

Đột nhiên, chiếc phao của Ngụy Huệ Vương bị kéo bật đi, Ngụy Huệ Vương bèn giật mạnh cần, quả nhiên được một con chép lớn.

Công tử Ngang bỏ cần câu xuống, vòng tay nói: “Nhi thần chúc mừng phụ vương đã câu được cá lớn!”

Ngụy Huệ Vương cười ha hả, gỡ con cá chép, cẩn thận thả vào trong thùng, rồi móc mồi câu mới, lại quăng xuống nước, quay sang công tử Ngang, nói: “Ngang Nhi, đã hiểu chưa, đây mới là câu cá!”

“Nhi thần xin ghi nhớ kỹ!”

Huệ Vương vừa buông câu, phao lại động. Ngụy Huệ Vương tiếp tục giật lên, lại là một con cá chép. Huệ Vương tiếp tục thả câu, rồi phao lại động, Huệ Vương lại giật lên, lại được thêm một con cá chép.

Huệ Vương liên tiếp câu được ba con chép lớn, vui không kể xiết, đắc ý liếc sang chiếc phao của Chu Uy, thấy phao cũng động mạnh như phao của mình, nhưng Chu Uy lại như đang ngủ gật, mắt nửa mở nửa khép, ngồi im lìm như đá.

Huệ Vương sốt ruột, giục: “Chu ái khanh, có cá lớn cắn câu kìa!”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Chu Uy duỗi cánh tay còn lại ra, làm động tác khấu đầu. “Chẳng qua chỉ là một con cá chép mà thôi!”

Huệ Vương nghe vậy, bèn quay sang nhìn vào ba con cá chép trong thùng của mình, trầm tư không nói.

“Ái chà!” Công tử Ngang giọng đầy mỉa mai. “Lẽ nào Chu tư đồ muốn câu được cá côn ở Bắc Minh?”

“Hồi bẩm An Quốc Quân!” Chu Uy hạ giọng trả lời. “Chu Uy chỉ dám câu cá thường, không dám câu cá côn.”

“Xin hỏi tư đồ đại nhân, người nào có thể câu cá côn?”

“Cá côn ở Bắc Minh, phải do thánh nhân câu. Cá côn ở đầm này, phải do bệ hạ câu.”

Huệ Vương trong lòng chấn động, nhìn chằm chằm vào chiếc phao của mình, trầm tư một hồi, quay sang Chu Uy: “Chu ái khanh, quả nhân muốn câu cá côn, phải thả câu thế nào?”

“Hồi bẩm bệ hạ!” Lời Chu Uy đầy ẩn ý. “Cá côn ẩn tàng dưới sâu, còn cá thường nổi trên mặt nước. Nếu bệ hạ muốn câu được cá côn, hãy thử thả câu xuống sâu hơn!”

“Ái khanh nói chí phải!” Huệ Vương gật gù, thu lưỡi câu về, dịch chuyển phao lên cao hơn mấy tấc, thay một mồi câu to hơn, sau đó vung tay quăng mạnh xuống đầm sâu.

Đúng vào lúc này, tỳ nhân đi tới.

Huệ Vương liếc nhìn, hỏi: “Người đâu?”

“Hồi bẩm bệ hạ,” tỳ nhân hạ giọng bẩm báo, “lão nô đến chậm mất một bước, điện hạ đã thay đổi y phục, xuất cung rồi.”

“Xuất cung?” Huệ Vương khẽ chau mày. “Điện hạ xuất cung làm gì?”

“Lão nô không biết!”

Huệ Vương trầm ngâm một lát: “Đi, truyền điện hạ cấp tốc trở về!”

“Lão nô tuân chỉ!”

Phía đông thành An Ấp, cỗ xe bò của Huệ Thi vẫn chậm chạp lăn bánh, rồi dừng lại ở một nơi náo nhiệt.

Huệ Thi chậm rãi bước xuống, lần lượt chằng mấy cỗ xe lại, tháo mấy con bò ra, buộc vào càng xe, lại đặt trước mỗi con bò một sọt cỏ khô. Sau đó, Huệ Thi lấy một mảnh ván gỗ từ trên xe xuống, lấy đinh và búa ra, đóng mảnh ván lên trên tường gạch.

Trên tấm gỗ, là bài “Quan vật thập sự” do chính tay ông viết:

Cái cực lớn không có gì ở ngoài, cái cực nhỏ không có gì ở trong.

Sâu ngàn dặm, không dày.

Trời thấp như đất, núi ngang với đầm.

Vật vừa sống vừa chết.

Vạn vật đều giống đều khác.

Vũ trụ không cùng tận mà có cùng tận.

Hôm nay đến Việt mà hôm qua đã về.

Vòng tròn nối liền nhau có thể gỡ.

Trung tâm của mặt đất ở phía bắc nước Yên, phía nam nước Việt.

Trời đất một thể.

Làm xong, Huệ Thi phủi hai tay, hài lòng nhìn tấm ván gỗ, rồi tựa lưng vào chân tường, ngồi luôn xuống đất, hai mắt khép hờ.

Ở khu phố náo nhiệt này, hành vi kỳ quặc của Huệ Thi, đặc biệt là tấm ván gỗ trên tường nhanh chóng thu hút được một đám đông xúm xít lại xem, bàn luận nhao nhao, những tiếng cười cợt rộ lên từng hồi.

Cuối cùng cũng có người không nhịn được, chỉ tay vào ván gỗ, hỏi lớn: “Các vị, các vị, câu ‘hôm nay đến Việt mà hôm qua đã về’ nghĩa là gì?”

Có người trả lời: “Nói cho anh biết, có nghĩa là hôm nay anh vừa mới đến đất Việt, nhưng hôm qua anh đã từ đất Việt trở về rồi.”

Người hỏi kinh ngạc: “Như vậy chẳng phải hoang đường lắm ư?”

Mọi người lại cười ồ lên, tranh nhau bàn tán ầm ĩ: “Các người xem, ‘vòng tròn nối liền có thế gỡ’. Ai có vòng tròn nối liền, thử mang ra gỡ xem sao!”

“Nhìn kìa, ‘vạn vật đều giống đều khác’! Nếu như vạn vật đều giống nhau, như vậy chẳng phải sẽ không còn dài ngắn thô mịn, cao thấp béo gầy hay sao?”

“Theo cách ông ta nói, thì gà chẳng phải gà, mà là chó; ngựa cũng chẳng phải ngựa, mà là trâu. Thật nực cười!”

“Ôi, người này đọc sách nhiều quá đến nỗi phát bệnh mất rồi!”

Huệ Thi vẫn khép mắt, ngồi yên bất động.

Trong đám người, thái tử Thân hoá trang thành một thiếu gia giàu có, hai mắt nhìn chăm chú vào những dòng chữ đen trên ván gỗ, trầm ngâm suy nghĩ. Một lúc sau, thái tử Thân ôm quyền vái mà nói: “Tiên sinh, vãn sinh xin thỉnh giáo!”

Hai mắt Huệ Thi chỉ khép hờ, vì vậy sớm đã nhìn thấy thái tử Thân, thấy người này lên tiếng hỏi, nhưng ông không đáp lễ, vẫn ngồi yên bất động, song giọng nói cất lên sang sảng hùng hồn: “Khách quan cứ nói!”

“Ồ, mọi người mau xem kìa, quái nhân đã mở miệng nói năng rồi đây!” Trong đám đông có người nói lớn.

Đám đông vội xúm xít cả lại.

Thái tử Thân lại vái mà nói: “Quan vật thập sự của tiên sinh, có thể phá giải chăng?”

Huệ Thi trả lời dõng dạc: “Vạn vật trong trời đất, có lập ắt có phá; quan vật thập sự, có quan tất có giải.”

“Xin hỏi tiên sinh, thế nào là cái cực lớn không có gì ở ngoài, cái cực nhỏ không có gì ở trong?”

Huệ Thi đáp: “Vạn vật giống nhau, sao phải phân lớn nhỏ?”

Thái tử Thân ngẫm nghĩ một lúc, lại hỏi: “Sâu ngàn dặm, không dày, giải thích thế nào?”

“Vạn vật giống nhau, làm gì có dày mỏng?”

Thái tử Thân lại ngẫm nghĩ một lúc: “Thế còn trời thấp như đất, núi đầm bằng nhau?”

“Vạn vật giống nhau, hà tất luận cao thấp?”

Huệ Thi chỉ dùng một lý do để trả lời các vấn đề, khiến thái tử Thân nghe mà mơ hồ như chìm trong sương mù, mặt đỏ bừng lên: “Vậy... xin hỏi tiên sinh, vật vừa sống vừa chết, phải giải thích thế nào?”

Huệ Thi vẫn trả lời: “Vạn vật giống nhau, nói chi sống chết?”

Thái tử Thân suy nghĩ một hồi lâu, rồi lại vòng tay hỏi: “Tiên sinh xin hãy giải thích, tại sao vạn vật giống nhau?”

“Cái cực lớn không có gì ở ngoài, ngàn dặm không dày, trời thấp như đất, sống chết đồng thời, thì vạn vật có gì khác nhau?”

Thái tử Thân càng thêm mông lung: “Tiên sinh cứ nói ngược nói xuôi, hỏi đáp đảo lộn như vậy, vãn sinh ngu muội, càng nghe càng cảm thấy mơ hồ.”

Huệ Thi từ từ mở mắt ra: “Này sĩ tử, cái đạo biến hoá vốn là như vậy, không phải do Huệ Thi quanh co xuôi ngược.”

“Huệ Thi?” Thái tử Thân kinh ngạc, lại vòng tay hành lễ. “Tiên sinh phải chăng là Huệ Thi người nước Tống?”

Huệ Thi lúc này cũng vòng tay đáp lễ: “Chính tại hạ!”

Thái tử Thân đang định nói tiếp, bỗng một người chen lên, ghé sát tai thì thầm mấy câu.

Thái tử Thân hơi sững lại, rồi quay sang vái Huệ Thi: “Tiên sinh, vãn sinh có việc, xin đi trước một bước, hôm khác sẽ lại đến nhờ tiên sinh chỉ giáo!”

Lời vừa dứt, thái tử Thân đã vội vàng theo người vừa đến ra khỏi đám đông, tiến tới cỗ xe kiệu cách đó không xa.

Huệ Thi thu lại ánh nhìn, tiếp tục nhắm mắt.

Bên bờ đầm đá, Ngụy Huệ Vương hai mắt mở to, dán vào chiếc phao trên mặt nước. Chiếc phao vẫn nằm yên, chỉ khẽ nhấp nhô theo từng làn sóng.

Có vẻ Ngụy Huệ Vương đã bắt đầu sốt ruột, quay sang hỏi Chu Uy: “Chu ái khanh, nơi này hẳn không có cá côn!”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Chu Uy trầm giọng trả lời. “Câu cá côn không giống câu cá thường. Cá thường thấy mồi sẽ đớp, cá côn quan sát tình hình rồi mới đớp. Bệ hạ muốn câu cá côn, cá côn cũng đang quan sát bệ hạ.”

Lúc này Ngụy Huệ Vương đã hiểu ra thâm ý của Chu Uy: “Theo ái khanh, cá côn đang quan sát điều gì ở quả nhân?”

“Quan sát cái tình của bệ hạ. Nếu bệ hạ thực tình muốn tìm cá côn, thành tâm dùng cá côn, cá côn ắt sẽ đến. Nếu bệ hạ chỉ tìm cá nhỏ tôm nhép, hoặc chỉ là nhất thời hứng thú muốn câu, cá côn sẽ bơi đi nơi khác.”

Ngụy Huệ Vương trầm ngâm một hồi, rồi trịnh trọng nói: “Nếu quả thực có cá côn, quả nhân sẽ giao cho chức tướng quốc, ái khanh thấy thế nào?”

“Nếu bệ hạ làm được như vậy, cá côn chắc chắn sẽ đến!”

Nghe thấy hai chữ “tướng quốc”, công tử Ngang cuối cùng cũng đã hiểu ra, sắc mặt sầm xuống: “Xin hỏi tư đồ, cá côn kia rốt cục là người nào, xin cứ nói thẳng ra, đừng nên phải vòng vo qua lại, nghe cứ như đánh đố!”

“Đúng vậy!” Ngụy Huệ Vương nhìn thẳng vào Chu Uy. “Chu ái khanh, nơi đây không có người ngoài, cứ nói đừng ngại!”

Chu Uy đặt cần câu xuống, dập đầu sát đất: “Bệ hạ thành ý cầu tìm, vi thần xin bạo gan nói thẳng. Vi thần cho rằng, cá côn chính là Công Tôn Diễn!”

“Ha ha ha ha!” Công tử Ngang cười phá lên một tràng dài. “Tư đồ đại nhân úp mở nãy giờ, ta cứ ngỡ là vị hiền tài nào kia, hoá ra là kẻ này!”

Chu Uy lại dập đầu sát đất: “Bệ hạ...”

“Chu ái khanh!” Huệ Vương đặt cần câu xuống, rồi chậm rãi đứng dậy. “Nếu là cá côn này, hãy để lại, ngày khác sẽ câu!”

Rồi quay người đi luôn. Mới đi được mấy bước, thì thấy tỳ nhân dẫn thái tử Thân rảo bước đến trước mặt.

Thấy Huệ Vương sắc mặt không vui, thái tử Thân vội vàng bái lạy: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”

Huệ Vương mặt nặng như chì, hỏi: “Nghe nói con vừa xuất cung?”

Thái tử Thân thắc thỏm đáp: “Bẩm phụ vương, nhi thần đã đi tới chợ Đông!”

“Chợ Đông?” Huệ Vương liếc xéo. “Vì việc gì?”

“Vi thần không có việc gì, chỉ muốn dạo chơi mà thôi!”

“Dạo chơi?” Ngụy Huệ Vương giận dữ, sắc mặt hầm hầm, lớn tiếng trách mắng. “Từ sau khi để mất Hà Tây, quả nhân ngày đêm lo lắng quốc sự, chỉ hận không thể khôi phục hùng phong của Đại Ngụy trong một ngày, đoạt lại đất đai đã mất. Còn ngươi? Hãy nhìn ngươi xem, thân là thái tử, nhưng lại không biết lo toan, suốt ngày chỉ chơi bời lêu lổng!”

“Nhi thần biết tội!”

Huệ Vương nhìn trừng trừng vào thái tử Thân, hừ mũi một tiếng, rồi phẩy tay áo bước đi.

Thái tử Thân vô duyên vô cớ bị trách cứ, nhất thời đứng ngây ra tại chỗ, không biết làm sao.

Trên đài câu, thấy Huệ Vương đã đi xa, công tử Ngang cũng đứng dậy, liếc Chu Uy một cái rồi ném toẹt cần câu xuống đất, xoạc bước mà đi.

Công tử Ngang mau chóng đánh xe trở về, được lão quản gia đưa vào trong phủ, từ xa đã nhìn thấy một người quỳ trong sân.

Công tử Ngang liếc nhìn quản gia: “Người quỳ là ai?”

“Hồi bẩm chúa công, là Trần đại nhân, ông ta đã quỳ ở đây lâu rồi!”

Công tử Ngang vội vã rảo bước lại gần, vừa đi vừa gọi: “Thượng đại phu, sao lại làm thế?”

Trần Chẩn lại hành đại lễ, nói lớn: “Đại ân đề bạt của An Quốc Quân, hạ quan có chết cũng không đủ báo đáp!”

Công tử Ngang đỡ Trần Chẩn dậy: “Thượng đại phu mau đứng dậy!” Rồi dắt tay vào phòng khách. “Thượng đại phu từ nước Tần trở về khi nào?”

“Hạ quan vừa về, mới tới phủ, còn chưa kịp ngồi ấm chỗ, đã vội đến phủ tướng quân ngay.”

Hai người chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Công tử Ngang nhìn Trần Chẩn, thở dài: “Ông đến thật đúng lúc, bản công tử đang định tìm ông!”

Trần Chẩn cảm thấy bất an: “Thế nào, có biến cố ư?”

“Có chút bất lợi!”

“Xin tướng quân nói rõ.”

“Lúc nãy cùng phụ vương câu cá bên đầm, nếu không phải bản công tử cũng có mặt, chức tướng quốc e rằng đã rơi vào tay Công Tôn Diễn!”

Trần Chẩn sững người.

Trong nhà Công Tôn Diễn, Công Tôn Diễn đang ngồi bên bàn viết lia lịa, trên bàn dưới bàn chất cao từng chồng thẻ tre.

Chu Uy bước vào, thần sắc buồn bã, ngồi xuống phía đối diện. Ngồi lặng một hồi, Chu Uy tiện tay với lấy một cuộn thẻ tre: “Công Tôn huynh, tất cả sách này đều do huynh viết ư?”

“Đúng thế!” Công Tôn Diễn chỉ tay vào chồng sách. “’Hưng Ngụy thập sách’, chỉ còn thiếu một cuốn này thôi.”

“Hưng Ngụy thập sách!” Chu Uy vừa nghe, vội vã giở ra xem.

“Huynh đã thấy cả rồi đấy!” Cứ nhắc đến thiên hạ, Công Tôn Diễn lại vô cùng sôi nổi. “Hiện tại, tình hình thiên hạ biến đổi vạn mối, liệt quốc giở đủ kỳ chiêu, sáng xuống lệnh chiều thay đổi, chỉ riêng nước Ngụy thủ cựu, vẫn theo quy tắc của Văn Hầu mấy chục năm về trước, từ lâu đã không hợp thời, thiếu sót quá nhiều. Trong những ngày qua, tại hạ bỗng nhiên nổi hứng, ngày đêm nghiên cứu pháp độ của liệt quốc, lại căn cứ vào tình thế hiện tại của nước Ngụy để viết nên bộ ‘Hưng Ngụy thập sách’ này, mong được Chu huynh chỉ giáo!”

“Chỉ giáo cái gì?” Chu Uy đứng bật dậy. “Mau, mau buộc toàn bộ số sách này lại, đưa tất cả cho ta.”

“Cho huynh?” Công Tôn Diễn ngây người. “Huynh cần chúng để làm gì?”

“Mang đi gặp bệ hạ. Tại hạ muốn bệ hạ tận mắt nhìn thấy, Trần Chẩn đang bận làm những gì? Công Tôn huynh đang bận làm những gì?”

“Chu huynh,” Công Tôn Diễn ngạc nhiên, “nghe khẩu khí của huynh, chắc lại muốn tiến cử tại hạ với bệ hạ?”

Chu Uy gật đầu.

Công Tôn Diễn ngẩn ngơ một lát, rồi chậm rãi vươn tay ra, lấy lại bó thẻ tre trong tay Chu Uy, thở dài mà nói: “Than ôi, số sách này, tốt nhất hãy cứ để lại đây!”

“Công Tôn huynh,” Chu Uy sốt sắng, “hiện giờ chính là thời khắc hệ trọng, tuyệt đối không được nhụt chí!”

“Chu huynh ơi,” Công Tôn Diễn lắc đầu, “không phải là chuyện nhụt chí hay không nhụt chí. Tại hạ đã nói rồi, bệ hạ nếu vẫn chưa đi đến sơn cùng thuỷ tận, sẽ chẳng tỉnh ngộ được đâu!”

“Nếu chỗ bệ hạ không thông, tại hạ sẽ đi tìm điện hạ!”

“Chu huynh!” Công Tôn Diễn cười nhạt, mắt nhìn thẳng vào Chu Uy. “Tại hạ khuyên huynh đừng phí sức nữa. Trong thành An Ấp ai mà không biết điện hạ? Nếu luận về phong hoa tuyết nguyệt, cầm kỳ thi hoạ, thiên nam địa bắc, điện hạ có thể thao thao bất tuyệt cả ngày. Nhưng luận về quốc sự, e rằng chẳng nói nổi ba câu.”

“Công Tôn huynh!” Chu Uy phản bác. “Điện hạ có tệ đến mấy cũng vẫn là điện hạ. Bệ hạ tuổi đã quá ngũ tuần, mặc dù sức vóc tráng kiện, nhưng dù sao cũng mỗi năm một yếu. Hiếu Công đột ngột băng hà, bệ hạ hẳn cũng có điều cảm khái. Hôm nay câu cá, khi điện hạ chưa đến, bệ hạ tỏ ra không vui, liền phái nội thần đi tìm. Như vậy có thể thấy, bệ hạ đang có ý dạy bảo điện hạ, để điện hạ theo con đường chính.”

Công Tôn Diễn không thể phản bác, im lặng một lúc, rồi ngẩng lên hỏi: “Nói đi, ý Chu huynh thế nào?”

“Tại hạ muốn tặng cuốn ‘Hưng Ngụy thập sách’ này cho điện hạ, xem điện hạ nói thế nào.”

Công Tôn Diễn trầm ngâm một lát, rồi tiện tay rút lấy một tấm thẻ tre trong cuộn sách đang viết dở: “Hãy đưa cho điện hạ mảnh tre này!”

Chu Uy ngẩn ra: “Chỉ một mảnh này thôi ư?”

Công Tôn Diễn mỉm cười nói: “Nếu như điện hạ đọc hiểu được, chỉ một mảnh này cũng đã đủ rồi; nếu điện hạ không hiểu, cho dù có mang đến cả cuộn, cũng là vô dụng!”

Mặt trời đã lặn về tây, màn đêm buông xuống, người đi trên phố dần thưa thớt.

Ở chợ Đông thành An Ấp, Huệ Thi thu dọn xe bò, đang định tìm chốn nghỉ ngơi, bỗng thấy một cỗ xe ngựa tiến đến, rồi dừng lại trước mặt. Một người từ trên xe bước xuống, vòng tay vái Huệ Thi một vái thật sâu: “Tiên sinh phải chăng là Huệ Thi người nước Tống?”

“Chính tại hạ. Ngài là...”

“Tại hạ là nội tể trong Đông cung!”

Huệ Thi vòng tay đáp lễ: “Huệ Thi xin chào nội tể!”

“Tại hạ phụng ý chỉ của điện hạ, mời tiên sinh vào cung!”

“Điện hạ đã có lời mời, tại hạ cung kính không bằng tuân lệnh.”

Nội tể dặn tuỳ tùng: “Các ngươi hãy đánh xe bò của tiên sinh đến dịch quán, buộc lại cẩn thận!” Rồi quay sang Huệ Thi. “Tiên sinh, mời!”

Đông cung nằm kề sát vương cung, xét về tráng lệ, nơi đây chỉ xếp sau vương cung. Xe ngựa đi đến, từ xa đã thấy thái tử Thân đứng chờ ngoài điện nghênh tiếp. Sau khi hành lễ xong xuôi, thái tử Thân dắt tay Huệ Thi bước vào trong sảnh.

Đêm đó, hai người thắp nến trò chuyện, bắt đầu bàn từ “Quan vật thập sự”, lại nói tới vạn vật giống khác, càng nói càng hợp, đến mức thâu đêm không ngủ.

Trời đã sáng bảnh, nhưng thái tử Thân, Huệ Thi đều không cảm thấy mệt mỏi, lại cất bước tới hậu hoa viên. Lập tức có tỳ nữ mang nước mát đến, hai người rửa mặt, dùng điểm tâm, rồi đến ngồi trong đình hóng mát, đang định nói tiếp câu chuyện thì nội tể tiến lại, bẩm báo: “Khởi bẩm điện hạ, Chu đại nhân ở phủ tư đồ cầu kiến!”

Thái tử Thân khẽ chau mày: “Bản cung đang tiếp khách, bảo ông ta hôm khác hãy đến!”

Nội tể vâng lệnh, ra khỏi hậu hoa viên, đi tới tiền sảnh, tươi cười vòng tay nói với Chu Uy: “Chu đại nhân, điện hạ đang bận tiếp khách, đại nhân có chuyện gì, xin cứ căn dặn tiểu nhân!”

Chu Uy không chịu, vòng tay mà nói: “Việc này vô cùng hệ trọng, tại hạ phải trực tiếp gặp điện hạ, phiền nội tể bẩm báo lại.”

Nôi tể lại đi vào, một lát sau, thái tử Thân nét mặt kém vui rảo bước đi ra.

Chu Uy sụp xuống dập đầu: “Vi thần khấu kiến điện hạ!”

“Chu tư đồ, mời đứng dậy!” Thái tử Thân ngồi xuống, hỏi. “Nghe nói tư đồ có việc cần gặp bản cung?”

Chu Uy đứng lên, ngồi xuống chiếu khách: “Điện hạ còn nhớ chuyện hôm qua chăng?”

“Nhớ!” Thái tử Thân ngạc nhiên. “Cũng vì chuyện này mà bản cung rất đỗi băn khoăn. Tư đồ có biết tại sao phụ vương lại bực bội đến vậy không?”

“Bệ hạ muốn mời điện hạ câu cá!”

“Câu cá?” Thái tử Thân kinh ngạc. “Chỉ là câu cá mà thôi, tại sao phụ vương lại nổi trận lôi đình?”

“Điện hạ có biết bệ hạ muốn câu cá gì không?”

Thái tử Thân lắc đầu.

“Bệ hạ muốn câu cá côn!”

“Chu tư đồ nói gì vậy?” Thái tử Thân khẽ chau mày. “Bản cung càng nghe càng thấy mơ hồ. Cá côn ở đâu ra?”

“Chính là tướng quốc tương lai!” Chu Uy bèn nói thẳng vào đề. “Bệ hạ nói là câu cá, nhưng thực ra là đang bàn chuyện tìm người thích hợp để trao chức tướng quốc.”

Thái tử Thân sốt ruột đứng dậy: “Ai làm tướng quốc là do phụ vương quyết định, sao lại đổ lên đầu bản cung?”

“Nếu bệ hạ có thể tự quyết định, hà tất phải đợi đến tận hôm nay?”

“Vậy... tư đồ có gì chỉ bảo?”

“An Quốc Quân một lòng tiến cử thượng đại phu Trần Chẩn làm tướng quốc, vi thần thấy không thoả đáng. Trần Chẩn là hạng người nào, điện hạ hẳn trong lòng hiểu rõ. Nếu để kẻ này làm tướng quốc, Đại Ngụy chẳng mấy mà suy vong!”

“Theo ý tư đồ, người nào mới xứng làm tướng quốc?”

“Công Tôn Diễn!”

“Nếu là vậy...” thái tử Thân hạ giọng, “tại sao tư đồ không nói rõ với phụ vương, tiến cử Công Tôn Diễn?”

“Than ôi!” Chu Uy thở dài. “Vi thần đã tiến cử nhiều lần, nhưng bệ hạ...”

“Ý của tư đồ là...”

“Vi thần nghĩ đi nghĩ lại, chỉ còn cách nhờ tới điện hạ. Điện hạ, tài của Công Tôn Diễn có thể sánh với Thương Ưởng nước Tần!”

“Tư đồ đã tiến cử mà không được, bản cung cũng lực bất tòng tâm. Nếu tư đồ không còn việc gì khác, bản cung còn có khách đợi trong hậu hoa viên!” Thái tử Thân nói đoạn bèn đứng dậy, vòng tay vái, ra vẻ muốn tiễn khách.

“Điện hạ hãy khoan!” Chu Uy cũng đứng lên, lấy ra tấm thẻ tre từ trong tay áo. “Vi thần khẩn cầu điện hạ hãy đọc vật này, sau đó hãy quyết định!”

Thái tử Thân nhận lấy mảnh thẻ tre, cất vào trong tay áo, rồi quay sang nội tể: “Tiễn khách!”

Nội tể chìa tay nói: “Chu đại nhân, mời!”

Chu Uy vòng tay vái dài: “Vi thần cáo lui!”

Thái tử Thân quay trở lại hoa viên, vòng tay vái Huệ Thi: “Xin tạ lỗi! Toàn bị những việc không đâu làm mất hứng, mong tiên sinh lượng thứ.”

Huệ Thi vòng tay đáp lễ, cười nói: “Dám hỏi thái tử, là việc không đâu nào vậy?”

“Vẫn là việc tướng quốc!”

“Chẳng phải quý quốc chưa có tướng quốc hay sao?”

“Than ôi!” Thái tử Thân cười buồn, than thở. “Chính vì chưa có tướng quốc, nên mới sinh ra nhiều chuyện đến vậy. Không giấu tiên sinh, từ khi Bạch tướng quốc qua đời, trong triều không có tướng quốc, quần thần không có người cầm đầu, phụ vương việc gì cũng đến tay, vô cùng mệt mỏi. Phụ vương từ lâu đã muốn đặt tướng quốc, nhưng vẫn chưa tìm được nhân tài thích hợp, nên mới lần lữa đến hôm nay.”

“Nghe nói bệ hạ muốn bái thượng đại phu Trần Chẩn làm tướng, có chuyện này chăng?”

“Chu tư đồ cũng lo lắng vì việc này.”

“Có người nguyện làm tướng quốc, đúng là việc tốt, Chu tư đồ cớ sao phải lo lắng?”

“Chu tư đồ cho rằng Trần Chẩn là loạn thần hại nước, không thể làm tướng!”

“Theo ý của tư đồ, ai mới thích hợp làm tướng?”

“Công Tôn Diễn!”

“Lẽ nào tư đồ đại nhân muốn nhờ điện hạ tiến cử Công Tôn Diễn?”

“Đúng vậy!”

“Điện hạ đồng ý rồi ư?”

Thái tử Thân lắc đầu.

“Nói như vậy...” Huệ Thi khẽ mỉm cười, “chẳng phải tư đồ đại nhân đã đi một chuyến công cốc hay sao?”

“Ông ta để lại một thẻ tre, nói là do Công Tôn Diễn viết.”

“Thảo dân có thể đọc không?”

Thái tử Thân lấy mảnh thẻ tre từ trong tay áo ra, đưa cho Huệ Thi. Huệ Thi liếc nhìn, rồi trả lại.

“Tiên sinh!” Thái tử Thân thuận miệng hỏi. “Người này viết thế nào?”

“Tốt!” Huệ Thi cười khẽ. “Viết rất tốt!”

“Ý của tiên sinh là...”

“Thảo dân cho rằng...” Huệ Thi lập tức dõi giọng, “nếu người này sẵn lòng làm tướng quốc, điện hạ có thể tiến cử với bệ hạ!”

Trong ngự thư phòng, Ngụy Huệ Vương đang phê duyệt tấu chương, bỗng tỳ nhân bước vào bẩm báo: “Bệ hạ, thượng đại phu đi sứ nước Tần đã về, đang đợi bên ngoài!”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương mừng rỡ. “Trần ái khanh đã trở về rồi ư? Mau, truyền vào yết kiến!”

Trần Chẩn rảo bước đi vào, dập đầu nói: “Vi thần khấu kiến bệ hạ, bệ hạ vạn tuế, vạn vạn tuế!”

“Ái khanh mau bình thân!” Lời chưa dứt, Huệ Vương đã đứng dậy, đi tới đỡ Trần Chẩn đứng lên, dắt tay ngồi xuống chiếu. “Ái khanh lần này đến Tần, lập được đại công, quả nhân phải trọng thưởng mới được!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Người đâu!”

“Có lão nô”

“Truyền chỉ, thưởng Trần ái khanh một trăm lượng vàng, một trăm súc lụa, mười nhạc công, bốn ngựa tốt.”

“Vi thần khấu tạ bệ hạ ban thưởng!” Trần Chẩn đứng dậy, lại quỳ xuống khấu đầu. “Bệ hạ hậu ái, vi thần muôn chết cũng không đủ báo đáp. Bệ hạ hậu thưởng, nhưng vi thần xin cả gan từ chối!”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương thoáng ngạc nhiên. “Lẽ nào ái khanh chê quả nhân thưởng ít?”

“Vi thần không dám!” Trần Chẩn lại khấu đầu. “Cho dù bệ hạ có thưởng một sợi lông chim, vi thần cũng không dám coi là nhỏ, huống hồ lại thưởng trọng hậu đến vậy? Vi thần cúi xin bệ hạ cho phép vi thần nói vài câu!”

“Ái khanh mau nói!”

“Hiếu Công, Công Tôn Ưởng đều đã về trời, hiện tại chính là cơ hội để bệ hạ chiếm lại Hà Tây, tất cả tiền bạc của cải nên dùng vào đại nghiệp quang phục. Chút công nhỏ bé của vi thần, thực không dám lĩnh thưởng!”

Nghe những lời này, Ngụy Huệ Vương vô cùng xúc động, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi lại đứng lên, đích thân đỡ Trần Chẩn dậy, nói: “Trần ái khanh, nói hay lắm! Từ khi Bạch tướng quốc qua đời, những lời trung lương thế này, quả nhân đã lâu lắm không được nghe thấy!”

Thấy Ngụy Huệ Vương so sánh mình với Bạch tướng quốc, Trần Chẩn hai mắt đỏ hoe, nghẹn ngào: “Bệ hạ...”

Ngụy Huệ Vương dìu Trần Chẩn đứng dậy, dắt ông ta ngồi vào chỗ của Bạch tướng quốc trước đây: “Trần ái khanh, hãy kể cho quả nhân nghe chuyện trong cung Tần.”

“Vi thần tuân chỉ.”

Trần Chẩn lần lượt kể lại toàn bộ sự việc trong chuyến đi sứ nước Tần cho Ngụy Huệ Vương nghe, trước tiên kể chuyện mình giúp Cam Long hãm hại Công Tôn Ưởng, sau đó kể chuyện mình khiến các lão thần Cam Long, Công Tôn Giả, Đỗ Chí... phải chịu chết, cuối cùng lại kể chuyện mình khiến đám trọng thần Doanh Kiền, Xa Anh, Cảnh Giám... liên tiếp từ chức, khiến Huệ Văn Công trở thành quân chủ cô độc không còn ai bên cạnh, bất đắc dĩ đành phải sử dụng đám tiểu tử miệng còn hơi sữa. Trần Chẩn khéo dùng chiêu dời hoa gắn cành, uốn lưỡi lò xo, khua môi múa mép, quy tất cả những biến cố trong thời gian ở cung Tần thành công lao của mình, khiến Ngụy Huệ Vương nghe mà há miệng tròn mắt, liên tục vỗ bàn khen hay.

Quân thần đang trò chuyện cao hứng, tỳ nhân lại bước vào: “Khởi bẩm bệ hạ, thượng đại phu nước Tần Sư Lý Tật vào triều!”

“Hừm!” Ngụy Huệ Vương thoáng ngạc nhiên, quay sang nhìn Trần Chẩn. “Đúng là tà môn, nói đến là đến!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Sắp xếp cho họ đến dịch quán nghỉ ngơi!”

“Tuân chỉ!” Tỳ nhân đáp rồi vội lui ra.

“Ha ha ha!” Ngụy Huệ Vương cười lớn, quay sang Trần Chẩn. “Nghe ái khanh kể chuyện, thật sảng khoái! Ái khanh vừa mới trở về, người Tần đã lập tức đến nơi, hành động cũng thật nhanh nhẹn. Ái khanh hãy đi gặp người này, quan sát xem họ vào triều có ý đồ gì?”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

Nước cờ mà Trần Chẩn đã dày công sắp đặt, thực vô cùng tuyệt diệu, rõ ràng cũng đã có được hiệu quả thần kỳ. Trên đường về phủ, trong mắt Trần Chẩn lại hiện lên cảnh tượng Ngụy Huệ Vương hai lần dìu mình đứng dậy, càng nghĩ càng thấy đắc ý, bất giác buột miệng ngâm nga vài khúc hát quê nhà. Trần Chẩn là người nước Tống, cùng quê với Huệ Tử, khúc hát vừa mang phong vị đất Sở phương nam, vừa có âm điệu Tề Lỗ, nghe cũng vui tai. Thích Quang đánh xe thấy chủ nhân cao hứng, trong lòng cũng sảng khoái, ra roi quất ngựa, đang định cho phi nước đại thì Trần Chẩn đột nhiên quát dừng xe.

Thích Quang vội ghì dây cương, ngoảnh đầu hỏi: “Chúa công?”

“Quay lại!”

Thích Quang kinh ngạc hỏi: “Trở lại cung thành?”

“Không, đến dịch quán!”

Thích Quang tìm một nơi rộng rãi để quay đầu xe, sau đó đánh thẳng tới dịch quán ở gần vương cung.

Tới dịch quán, Trần Chẩn xuống xe, chậm rãi đi đến chỗ sứ Tần Sư Lý Tật. Đã có người báo cho Sư Lý Tật biết trước, Trần Chẩn còn chưa kịp đến cửa, Sư Lý Tật đã đi ra đón, vái chào từ xa: “Sư Lý Tật xin chào Trần huynh!”

Trần Chẩn đáp lễ: “Trần Chẩn xin chào Sư Lý huynh!”

“Tại hạ vừa sắp xếp xong, đang định đến quý phủ bái kiến, không ngờ Trần huynh đã nhanh hơn một bước, quả thực khiến tại hạ hổ thẹn.”

“Ha ha ha!” Trần Chẩn cười lớn mà nói. “Tại hạ đến Hàm Dương, Sư Lý huynh là chủ, tại hạ là khách. Sư Lý huynh đến An Ấp, tại hạ là chủ, Sư Lý huynh là khách. Quý khách đến, tại hạ phải đích thân đến bái kiến, mới làm tròn lễ mọn của chủ nhân!”

“Trần huynh khách sáo rồi!” Sư Lý Tật đưa tay nắm lấy tay Trần Chẩn. “Trần huynh, mời!”

Hai người dắt tay nhau vào trong phòng khách, chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Công tử Hoa đi vào, rót trà.

Trần Chẩn thấy người này lạ mặt, bèn quay sang nhìn Sư Lý Tật: “Vị này là...”

“Ồ!” Sư Lý Tật chìa tay giới thiệu. “Tại hạ cũng đang định giới thiệu, vị này là công tử Hoa, phó sứ của tại hạ.”

Công tử Hoa rất ít khi lộ diện, vì vậy dù Trần Chẩn ở nước Tần nhiều ngày, cũng nhiều lần nghe bọn Đỗ Chí nhắc đến, biết rằng người này là tay chân thân tín của Huệ Văn Công, nhưng vẫn chưa có cơ duyên gặp gỡ, không ngờ hôm nay lại không hẹn mà gặp.

“Đại danh của công tử, tại hạ đã ngưỡng mộ từ lâu!” Trần Chẩn không dám chậm trễ, lập tức đứng lên vòng tay thi lễ.

“Doanh Hoa xin chào thượng đại phu!” Công tử Hoa đáp lễ, rồi tiến lên trước một bước, cười hì hì mà nói. “Thượng đại phu, nghe nói An Ấp là nơi náo nhiệt, có thể giới thiệu vài chốn thú vị chăng?”

Trần Chẩn trước đó qua đám Đỗ Chí đã thăm dò được công tử Hoa là tay phong lưu có tiếng, liền cười nói: “Công tử muốn chơi, thì đến An Ấp là đúng chỗ rồi. Không biết công tử muốn chơi trò gì?”

“Có những trò gì hay ho?”

“An Ấp có vô số chốn ăn chơi,” Trần Chẩn nói, “nhưng phải xem công tử có nhã hứng gì mới được. Nếu thích đi săn, công tử có thể đến Thúy Sơn; nếu thích đánh bạc, công tử có thể đến lầu Nguyên Hanh; nếu thích mỹ nữ, công tử có thể đến lầu Miên Hương.”

“Ha ha!” Công tử Hoa lập tức huỵch toẹt. “Nếu là vậy, tại hạ muốn mời thượng đại phu đến lầu Miên Hương!”

“Hay! Hay! Hay!” Trần Chẩn giơ ngón tay cái lên. “Công tử quả là người phong lưu! Trong lầu Miên Hương, có đủ mỹ nữ của liệt quốc, trẻ thì mười ba mười bốn, già thì ba bốn chục; gầy béo đen trắng đều có cả, tuỳ ý công tử chọn lựa!”

“Có quốc sắc thiên hương không?”

“Có chứ, có chứ!” Trần Chẩn cười vang. “Nếu không có hương, còn gọi gì là lầu Miên Hương nữa? Không giấu công tử, trong đó quả thực có một cô nương tên gọi Thiên Hương, là bậc quốc sắc thiên hương, không những kiều diễm vô song, lại cầm kỳ thi hoạ món gì cũng thạo. Chà, nếu như được cùng cô nương ấy vui vầy đêm xuân, quả là không uổng một đời!”

“Nghe thượng đại phu nói vậy, lẽ nào cô nương ấy...”

“Không giấu gì công tử,” Trần Chẩn cười bí hiểm, “cô nương ấy trước nay không tiếp khách, e rằng công tử...” Rồi cố ý dừng lại nửa chừng.

“Ồ!” Công tử Hoa ngạc nhiên. “Thực quái lạ, bản công tử đi khắp thiên hạ, chưa từng thấy kỹ nữ nào không tiếp khách. Thượng đại phu có thể nói rõ, tại sao Thiên Hương cô nương không tiếp khách chăng?”

“Ờ...” Trần Chẩn cố tình ngập ngừng, “tại hạ không tiện nói nhiều!”

Công tử Hoa cười lớn mấy tiếng, vòng tay với Trần Chẩn: “Doanh Hoa đa tạ thượng đại phu đã giới thiệu! Hai vị cứ ở đây trò chuyện, tại hạ phải đi xem thử mới được!”

“Công tử đi cẩn thận!” Trần Chẩn đứng dậy, thấy công tử Hoa đã ra khỏi cửa, đành vòng tay vái tiễn, đưa mắt nhìn theo, sau đó quay sang cười với Sư Lý Tật. “Không ngờ công tử lại sốt sắng đến vậy, quả là một người nhiệt tình! Nghe nói công tử rất thân thiết với Tần Công, Sư Lý huynh có được công tử là phó sứ, thể diện cũng không nhỏ!”

“Thể diện cái gì?” Sư Lý Tật phì cười. “Chúa thượng phái tại hạ đến bái kiến bệ hạ, công tử nghe nói An Ấp có nhiều trò vui nên nhất quyết đòi đi theo. Tại hạ biết công tử quá ham chơi, sợ làm lỡ việc nên không dám cho theo. Công tử không chịu, liền đến cầu xin chúa thượng, chúa thượng đành phải đồng ý. Tại hạ cũng chẳng còn cách nào khác, đành phải để công tử cùng đi.”

Nghe thấy Tần Công trông nom chính sự kiểu này, Trần Chẩn mừng thầm, liền thay đổi chủ đề, vòng tay chúc mừng Sư Lý Tật: “Sư Lý huynh thật may mắn, từ quận thú địa phương thăng liền ba cấp, tại hạ vốn định đến chúc mừng từ lâu, nhưng vẫn chưa có dịp. Hôm nay gặp mặt, tại hạ xin được chúc mừng!”

“Khiến Trần huynh cười chê rồi!” Sư Lý Tật đáp lễ. “Không giấu Trần huynh, hiện giờ nước Tần trên núi không có hổ, đành phải để một con khỉ như tại hạ đây tạm thời nhảy nhót vài hôm.”

“Than ôi!” Trần Chẩn thở dài, ra vẻ đáng tiếc.

“Xin hỏi Trần huynh, sao lại thở dài như vậy?”

Trần Chẩn tỏ vẻ rầu rĩ: “Dù sao đi nữa, Sư Lý huynh cũng đã có đất dụng võ, không giống tại hạ. Chức thượng đại phu này, tại hạ đã ngồi một mạch bảy tám năm rồi, mà mãi vẫn chưa có gì biến chuyển.”

Sư Lý Tật bật cười: “Chắc hẳn thượng đại phu đang nói đùa rồi! Tại hạ nghe nói chức tướng quốc, bệ hạ đã dành cho đại nhân rồi kia mà!”

“Than ôi!” Trần Chẩn lại thở dài sườn sượt. “Để dành gì đâu, Bạch Khuê qua đời đã hai năm rồi!”

“Ồ?” Sư Lý Tật thu nụ cười lại. “Nghe Trần huynh nói vậy, lẽ nào còn có ẩn tình gì khác?”

“Sư Lý huynh đã hỏi, tại hạ cũng không giấu nữa!” Trần Chẩn chớp lấy thời cơ, bèn nói thẳng. “Mấy hôm nay, có người tấu lên bệ hạ, tiến cử Công Tôn Diễn làm tướng quốc.”

“Ha ha ha!” Sư Lý Tật cười toáng lên. “Cứ tưởng người nào gây khó dễ cho Trần huynh, té ra là Công Tôn Diễn. Tại hạ nghe nói, kẻ này chẳng qua chỉ là một gia nô trong phủ Bạch tướng quốc, sao có thể làm tướng quốc được?”

“Không giấu gì Sư Lý huynh,” Trần Chẩn hạ thấp giọng, “kẻ này đúng là không đáng ngại, nhưng quan trọng là Chu Uy, bệ hạ rất nghe lời ông ta.”

“Việc này thì dễ thôi!” Sư Lý Tật cười nói. “Nếu Trần huynh có ý này, tại hạ có thể giúp Trần huynh một tay, loại bỏ chướng ngại.”

“Ý Sư Lý huynh là...” Trần Chẩn hai mắt mở to, “Chu Uy?”

“Không, không!” Sư Lý Tật vội vã xua tay. “Chu đại nhân là vương thần, tại hạ đâu dám! Tại hạ đang nói tới Công Tôn Diễn.”

“Sư Lý huynh nói thật chứ?” Trần Chẩn vội hỏi.

“Ồ, lẽ nào Trần huynh không tin tại hạ?”

“Đâu có, đâu có!” Trần Chẩn vòng tay nói. “Tại hạ đa tạ Sư Lý huynh. Xin hỏi Sư Lý huynh, nếu việc này thành công, tại hạ phải báo đáp thế nào?”

“Đây là chuyện nhỏ, tại hạ đâu dám cầu báo đáp!”

“Có đi thì phải có lại, Sư Lý huynh bất tất phải khách khí. Nếu huynh có việc gì cần, cứ nói cho tại hạ nghe.”

“Thượng đại phu đã có ý, vậy tại hạ xin nói thẳng!” Sư Lý Tật ôm quyền nói. “Không giấu Trần huynh, chúa thượng mới lên ngôi, muốn kết tình hữu hảo cùng bệ hạ, để trở thành láng giềng hoà mục. Tại hạ phụng chỉ đi sứ, cũng là vì việc này. Nếu Trần huynh có thể nói vài lời tốt đẹp trước mặt bệ hạ, giúp tại hạ hoàn thành sứ mệnh, tại hạ đã mãn nguyện lắm rồi!”

“Nếu là việc này...” Trần Chẩn thở phào một hơi, vòng tay nói, “tại hạ nhất định sẽ tận lực!”

“Đa tạ Trần huynh!”

Nghe Trần Chẩn thuật lại nội tình trong cung Tần, Ngụy Huệ Vương vô cùng hưng phấn, đến nửa đêm vẫn chưa ngủ được, vắt óc suy nghĩ cách tận dụng cơ hội hiếm có để chiếm lại Hà Tây. Ngụy Huệ Vương biết, mặc dù hiện giờ thời cơ tốt đẹp, nhưng là quân vương, không được phép nóng vội. Thứ nhất, cần phải quan sát Huệ Văn Công, xem có đúng như Trần Chẩn đã nói hay không: bất tài, không biết dùng người, bị cô lập. Thứ hai, cần phải chuẩn bị cẩn thận trước khi khai chiến.

Chuẩn bị không phải về sức của, không phải về sức người, mà là nhân tài. Tần Hiếu Công có thể chiếm được Hà Tây, vì ông ta có Công Tôn Ưởng. Nhưng hiện giờ trong tay Huệ Vương, ngoài Trần Chẩn ra, thật chẳng còn hiền tài nào khác. Công tử Ngang thì không cần nhắc tới, sự trung thành của Chu Uy cũng không phải nghi ngờ, hai người này đều có tài năng, nhưng nếu nói về mưu lược trong màn trướng, quyết thắng ngoài ngàn dặm, thì còn kém xa Công Tôn Ưởng.

Cho dù là Trần Chẩn cũng khiến Huệ Vương phải đau đầu. Kỳ thực, Huệ Vương đã quan sát Trần Chẩn suốt mấy năm nay. Người này dùng thì thuận tay, hơn nữa, dường như luôn hiểu thấu tâm tư Huệ Vương, luôn biết gãi đúng chỗ ngứa, nhưng khi gặp việc lớn thì lại hồ đồ, không thể tin cậy. Trước đây mấy lần nghe theo Trần Chẩn, có lần nào không khiến Huệ Vương phải đau tim. Đầu tiên là xưng vương, sau đó là phạt Tần, sau nữa là liên kết với Tần phạt Vệ, tiếp theo lại là...

Ngụy Huệ Vương quả thật không dám nghĩ tiếp.

Một người khiến ông đau đầu hơn nữa là thái tử Thân. Nếu luận về tuổi tác, thái tử Thân tuổi đã ba mươi, chính thức lập làm thái tử đã mười mấy năm rồi. Nhưng mười mấy năm nay, dường như thái tử Thân chẳng hề trưởng thành thêm chút nào, không quan tâm tới quốc sự, không chịu rèn giũa bản thân, thật chẳng khác nào Doanh Tứ, tân quân của nước Tần. Nếu tương lai nước Tần sẽ bị huỷ trong tay Doanh Tứ, vậy thì nước Ngụy cũng có thể bị huỷ hoại trong tay thái tử Thân, mà đây là điều Huệ Vương rất không mong muốn. Mặc dù hiện nay, cơ thể vẫn tráng kiện, nhưng sự đời thình lình không thể đoán lường. Tần Hiếu Công đột ngột băng hà, khiến Huệ Vương càng thấm thía điều này.

Ngụy Huệ Vương càng nghĩ càng trằn trọc. Sáng hôm sau, Ngụy Huệ Vương dậy từ rất sớm, lập tức lệnh cho tỳ nhân gọi thái tử đến, nói rằng muốn cùng ăn sáng.

Đây là việc chưa từng có. Thái tử Thân thấp thỏm bất an đi vào ngự thiện sảnh, từ xa đã nhìn thấy Ngụy Huệ Vương ngồi đợi sẵn, liền lại gần khấu bái: “Nhi thần khấu kiến phụ vương!”

Ngụy Huệ Vương thái độ khác hẳn thường ngày, đưa ánh mắt hiền từ nhìn thái tử, mỉm cười, chỉ vào vị trí trước mặt: “Thân Nhi, ngồi đi!”

Vì chuyện câu cá trước đây, thái tử Thân chắc mẩm sẽ bị phụ vương quở mắng, nhưng thật không ngờ phụ vương lại ôn hoà khác thường, thành ra quý quá hoá sợ, chần chừ một lát mới ngồi xuống, nhưng không dám cầm đũa.

Ngụy Huệ Vương thấy thái tử e dè không dám gắp thức ăn, liền tự tay gắp một miếng trứng cuộn, đặt vào bát thái tử: “Thân Nhi, nếm thử xem!”

Thái tử Thân vội cầm đũa, gắp miếng trứng đưa vào trong miệng, không dám nhai đã nuốt chửng luôn. Cũng vì nuốt vội nên miếng trứng bị kẹt ngay cổ họng, khiến thái tử Thân mắc nghẹn, cần cổ cứ trồi lên thụt xuống. Tỳ nhân thấy vậy, vội bưng nước đến, thái tử Thân uống một ngụm to mới tống được miếng trứng xuống bụng.

Thấy bộ dạng bê bối của thái tử, Huệ Vương phì cười: “Thân Nhi, thường ngày con cũng ăn uống như thế ư?”

Thái tử Thân thở lấy thở để, rồi trả lời: “Hồi bẩm phụ vương, Thân Nhi ăn vội quá!”

“Thân Nhi, bắt đầu từ hôm nay, ngày ngày con sẽ ăn cơm cùng quả nhân!”

Thái tử Thân sững sờ, kinh ngạc nhìn Huệ Vương.

“Ồ, con không vui sao?”

Thái tử Thân vội vòng tay khấu tạ: “Nhi thần đa tạ phụ vương hậu ái!”

Huệ Vương lại gắp thêm thức ăn bỏ vào bát của thái tử, đưa ánh mắt ôn tồn nhìn sang: “Thân Nhi, ăn đi!”

Thấy phụ vương không hề có ý trách mắng, lúc này thái tử Thân mới dám thở phào, cười ngượng nghịu, bạo gan gắp một quả trứng bồ câu, nhẹ nhàng đặt vào bát của Huệ Vương: “Phụ vương, người cũng dùng đi!”

Huệ Vương nhận lấy trứng, cười ha hả mà nói: “Thân Nhi, quả trứng này của con, phụ vương sẽ ăn!” Lời vừa dứt, liền bỏ tọt quả trứng vào miệng, không nhai đã nuốt chửng.

Thái tử Thân bỗng thấy tim mình thắt lại, hai mắt ứa lệ.

“Thân Nhi,” Huệ Vương đưa qua một chiếc khăn lụa, “lau đi, ăn cơm là quan trọng nhất!”

Thái tử Thân cúi đầu, nhận lấy khăn tay, lau khô nước mắt, rồi cắm cúi ăn cơm.

Cha con hai người vui vẻ dùng xong bữa sáng, sau đó lại đi dạo dọc theo con đường mòn trong hậu hoa viên. Tỳ nhân lẳng lặng theo sau.

Đi được một lúc, Huệ Vương hỏi: “Thân Nhi, mấy ngày nay con bận gì thế?”

“Hồi bẩm phụ vương, nhi thần gặp được một kỳ nhân, trò chuyện rất tâm đầu ý hợp.”

Huệ Vương cười: “Là kỳ nhân nào, có thể nói cho phụ vương nghe chăng?”

Thái tử Thân cười nói: “Nhi thần nói, chỉ sợ phụ vương sẽ cười chê. Người này nói ra toàn những điều kinh thế hãi tục, kiểu như ‘tên bay không động’, ‘vạn vật giống nhau’, ‘vòng liền gỡ được’... Lúc đầu nhi thần không hiểu, đã tranh biện với người này, nhưng bắt bẻ kiểu gì, người này vẫn biện luận vẹn toàn, hơn nữa còn rất hợp lý, khiến nhi thần không thể không phục!”

“Ha ha ha!” Huệ Vương phấn chấn. “Người con vừa nhắc đến phải chăng là Huệ Tử người Tống?”

Thái tử Thân kinh ngạc: “Phụ vương cũng biết người này ư?”

“Mới chỉ nghe nói!” Huệ Vương gật gù. “Năm ngoái người này đã tới học cung nước Tề biện luận về danh thực với một người tên gọi Công Tôn Long, khiến đối phương phải cứng họng. Công Tôn Long cũng được coi là miệng lưỡi nổi danh liệt quốc, nên sự việc này đã nhanh chóng truyền khắp thiên hạ.”

Thái tử Thân nhìn Huệ Vương với vẻ khó tin: “Phụ vương ngày bận trăm công ngàn việc, nhưng vẫn rành rẽ học vấn bách gia, thật khiến nhi thân bội phục!”

“Than ôi, Thân Nhi!” Huệ Vương thở dài một tiếng. “Cái nhà này thực không dễ cai quản! Ngồi vào ghế ấy, quả nhân không những phải thông thạo củi gạo dầu muối, lại càng phải hiểu biết học vấn bách gia!” Lại đi thêm mấy bước, đột nhiên như sực nhớ ra điều gì. “Nhắc đến chuyện này, tự nhiên lại gợi ý cho quả nhân một điều. Qua sự việc đó, Huệ Tử cũng đã trở thành danh sĩ trong thiên hạ, lần này đến nước ta, quả nhân không thể không gặp mặt. Thân Nhi, khi nào gặp Huệ Tử, con hãy đánh tiếng, nói rằng mấy ngày nữa quả nhân sẽ tìm thời gian đến luận bàn về danh thực với ông ta.”

“Nhi thần nhất định sẽ nói lại với Huệ Tử!”

“Còn một chuyện nữa,” Huệ Vương dừng bước, nhìn thái tử Thân, “quả nhân cũng muốn nghe kiến giải của con.”

“Nhi thần xin nghe.”

“Bạch tướng quốc qua đời đã gần hai năm, chức tướng quốc vẫn để trống, trăm quan không ai cai quản, các việc nội chính, ngoại giao chồng chéo, quả nhân bận rộn tối ngày, cảm thấy lực bất tòng tâm. Thường có câu, ‘trong nước không thể một ngày không có tướng’, xem ra lời này quả thực không sai.”

“Phụ vương muốn đặt tướng quốc, vậy cứ lựa chọn lấy một người thích hợp!”

“Với một đất nước, chọn tướng quốc không phải chuyện tầm thường, tuyệt đối không thể đại khái!”

“Chắc hẳn phụ vương đã chọn được người hợp ý?”

Huệ Vương khẽ lắc đầu: “Khi Bạch tướng quốc còn, quả nhân không có cảm giác gì đặc biệt. Nhưng Bạch tướng quốc đi rồi, quả nhân thực sự không thể tìm được người nào đủ sức thay thế. Ngang Nhi nhiều lần tiến cử thượng đại phu Trần Chẩn, nhưng Chu ái khanh lại liên tiếp phản đối. Chu ái khanh nhiều lần tiến cử Công Tôn Diễn, Ngang Nhi cũng không phục. Chu ái khanh và Ngang Nhi đều là người quả nhân coi trọng, ý hai người như vậy, thực khiến quả nhân khó lòng định đoạt. Giờ đây, quả nhân muốn nghe ý kiến của con.”

“Nhi thần cũng từng nghe người ta nói về Công Tôn Diễn, nghe nói lúc Bạch tướng quốc còn sống, cũng đã tiến cử người này, thiết nghĩ người này hẳn có thực tài.”

“Hắn theo Bạch tướng quốc nhiều năm, Bạch tướng quốc tiến cử hắn cũng là dễ hiểu. Con còn nghe thấy người nào khác tiến cử hắn nữa không?”

“Một số triều thần.”

“Những triều thần nào?”

Thái tử Thân thoáng do dự. “Nhi thần không nhớ rõ. Nhưng nhi thần cho rằng, trăm nghe không bằng một thấy, Công Tôn Diễn có thực tài hay không, tại sao phụ vương không trực tiếp gọi đến gặp mặt?”

Huệ Vương trầm ngâm một lúc, rồi quay sang vẫy tay gọi tỳ nhân. Tỳ nhân vội đi tới: “Bệ hạ có gì căn dặn?”

“Ngươi hãy tìm thời gian đến thăm dò Công Tôn Diễn, thử tài người này xem sao!”

“Lão nô tuân chỉ!”

Tỳ nhân đi được mấy bước, thái tử Thân liền gọi lại, lấy ra một mảnh tre từ trong tay áo, đưa cho tỳ nhân: “Bản cung nhặt được mảnh tre này, nghe nói là do Công Tôn Diễn viết. Nếu gặp người này, hãy trả lại cho ông ta.”

Tỳ nhân nhận lấy, vừa liếc nhìn đã kinh hãi, vội gật đầu rồi cất vào trong tay áo.

Hồi Thứ 18

Chuốc vạ miệng, Miên Hương tàn hoa phấn

Giữ mánh lới, Bàng Quyên hủy binh thư

Lầu Miên Hương cách lầu Nguyên Hanh không xa, chỉ chừng hai tầm tên bắn, mới được xây hai năm nay, nghe nói có chỗ dựa rất chắc chắn, người thì nói là một vị thiếu gia máu mặt, người lại bảo là hoàng thân quốc thích.

Công tử Hoa ăn vận như một thiếu gia giàu có, phe phẩy quạt lông, đi thẳng vào cửa lớn.

Má mì từ xa đã thấy, hớn hở chạy ra nghênh đón: “Vị thiếu gia này trông lạ quá, hẳn là lần đầu tiên đến đây?”

Công tử Hoa đưa mắt liếc ngang liếc dọc mấy cái, tiếp tục phe phẩy cánh quạt: “Nghe nói quý phủ nhiều hoa thơm cỏ lạ, bản thiếu gia muốn được mở mang tầm mắt, nên đến đây chiêm ngưỡng hoa thơm!”

“Vậy thì thiếu gia đã đến đúng chỗ rồi đấy!” Má mì nhanh nhẹn dẫn công tử Hoa đến đài Thưởng Hoa, mời ngồi xuống trước bàn, rồi vỗ tay gọi. “Các cô nương đâu, mau ra đón khách!”

Tiếng nhạc dìu dặt vang lên. Chốc sau, một thiếu nữ xiêm y trắng muốt đi trước dẫn đầu, hai mươi mấy cô gái xinh tươi như hoa theo sau, khoan thai lướt ra, đi qua hành lang cánh cung phía trước lầu trên, rồi tản ra đứng bên những cây cột chạm trổ, bày đủ kiểu làm duyên làm dáng, phô diễn vẻ yêu kiều, từng cặp mắt đong đưa liếc lại.

“Thiếu gia,” má mì chỉ tay vào đám cô nương, giọng đầy tự hào, “trong rừng hoa kia, có bông nào vừa mắt không?”

Công tử Hoa liếc qua một lượt, rồi sập cánh quạt trong tay cái “roẹt”, hai mắt nhắm lại.

Má mì xua tay, các cô nương yểu điệu khom lưng cúi chào, dịu dàng vâng một tiếng, rồi khoan thai lui đi trong tiếng nhạc.

“Thiếu gia thật đặc biệt!” Má mì giơ ngón tay cái lên trước mặt công tử Hoa, rồi lại vỗ tay, gọi lớn. “Mời Tứ Hương ra đây!”

Tiếng nhạc lại dìu dặt vang lên, bốn mỹ nữ tươi trẻ kiều diễm hơn hẳn uyển chuyển cất bước theo tiếng nhạc, đi theo một cô nương áo tía, từ một hướng khác thong thả bước ra. Cả bốn mỹ nữ đều ăn bận giản dị, phấn son phơn phớt, tay mang đàn cầm sáo tiêu, đứng dàn hàng trên đài hoa hình cánh cung, mỗi người một tư thế, nét mặt thẹn thùng nhìn công tử Hoa.

“Thiếu gia!” Má mì chỉ tay vào bốn thiếu nữ. “Bốn nàng này là Tứ Hương Xuân Hạ Thu Đông, sắc tài toàn vẹn, nổi danh An Ấp, chính là bộ mặt của lầu Miên Hương!”

Công tử Hoa đưa mắt nhìn ra, nhìn kỹ bốn người, hồi lâu vẫn không tỏ thái độ gì.

“Thiếu gia,” má mì nhìn thẳng vào công tử Hoa, hỏi, “trong Tứ Hương, có cô nào vừa mắt không?”

“Nghe nói còn có một hương, không biết có thể chiêm ngưỡng hoa dung hay chăng?”

Má mì xua tay. Trong tiếng nhạc, Tứ Hương xoay người lui ra.

“Con mắt của thiếu gia thực là sành điệu!” Má mì tiến sát lại gần công tử Hoa, hạ giọng nói nhỏ. “Nô gia sẽ cho thiếu gia chấm luôn Địa Hương.”

Không đợi công tử Hoa lên tiếng, má mì đã vỗ tay, nói lớn: “Thiếu gia chấm Địa Hương, mời Địa Hương xông hương tiếp khách!”

Tiếng nhạc lại ngân lên lần nữa.

“Thiếu gia, mời vào phòng!” Má mì cười rinh rích, chìa tay ra mời.

Công tử Hoa khẽ gật đầu, đứng dậy đi theo má mì, chậm rãi bước lên lầu trên, theo hành lang đến một căn phòng rộng rãi, hoa lệ.

“Thiếu gia, mời ngồi!” Má mì mời công tử Hoa ngồi xuống, ân cần giới thiệu. “Không giấu thiếu gia, Địa Hương cô nương vốn là công chúa của họ Lý trên núi Long Môn. Mười năm về trước, họ Lý vốn là vọng tộc quyền quý, sau đó gặp chuyện bất hạnh, ngày càng suy bại. Công chúa sớm mất cha mẹ, phải sống cùng huynh trưởng. Huynh trưởng mang theo gia sản rời khỏi núi Long Môn đến An Ấp, vốn định nhờ cậy một người quen để xin một chức sai nha, không ngờ chức còn chưa xin được, đã nợ lầu Nguyên Hanh một món nợ bạc lớn. Huynh trưởng hết cách, đành phải bán cô em cho bản lầu với giá rất cao. Địa Hương cô nương phẩm tính thanh cao, không tiếp đàn ông tầm thường. Người nhân phẩm cao quý như thiếu gia đây, nô gia cảm thấy hữu duyên nên mới cho gọi cô nương!”

Lời vừa dứt, từ phía ngoài đã có tiếng bước chân vọng lại, một cô nương khoan thai bước qua ngưỡng cửa. Công tử Hoa ngước nhìn, quả nhiên thấy cô nương này thoát tục khác thường, vóc dáng thanh tú, nhan sắc yêu kiều, cử chỉ đoan trang, phục sức hài hoà, tay ôm một cây cổ cầm đầu phượng, đôi mắt to trong suốt long lanh vô cùng khả ái.

Cô nương nhún gối chào, quay sang má mì cất giọng du dương: “Địa Hương xin chào mẫu thân!”

“Địa Hương,” má mì chỉ vào công tử Hoa, “vị thiếu gia này từ xa đến, con hãy tiếp đãi chu đáo!”

Địa Hương cô nương liếc mắt nhìn trộm, thấy công tử Hoa quả nhiên hình dung anh tuấn, phong thái ngời ngời, cũng thấy trong tâm rung động, bèn cúi đầu, cất giọng oanh vàng thỏ thẻ: “Tiện thiếp xin chào thiếu gia!”

Thanh đó, hương đó, khiến công tử Hoa trong lòng xao xuyến. Thế nhưng, lần này công tử Hoa đến đây không phải để thưởng hoa, mà còn chuyện lớn cần làm, bèn cố gắng kìm nén lửa tình, quay sang nói với má mì: “Địa Hương cô nương quả nhiên tuyệt sắc, thiếu gia đây coi như đã được mở rộng tầm mắt!”

Thấy công tử Hoa xếp quạt lại, quay mặt đi, Địa Hương cô nương có phần sượng sùng, đỏ mặt quay sang nói với má mì: “Mẫu thân, nếu không còn chuyện gì khác, Địa Hương xin trở về phòng!” Nói đoạn liền quay người, khoan thai bước ra khỏi cửa tựa như lúc đến.

Má mì trợn mắt há miệng, dằn dỗi với công tử Hoa: “Thiếu gia của tôi ơi, người đẹp đến vậy mà vẫn chưa lọt mắt ư?”

“Nghe nói quý lầu còn có một hương nữa, không biết có thật chăng?”

“Thiếu gia muốn nói tới Thiên Hương cô nương?”

Công tử Hoa phe phẩy cánh quạt: “Ở chỗ bà, hẳn cũng không nên giấu giếm mới phải!”

“Thiếu gia quả là người cao nhã!” Má mì khen một câu, rồi thở dài. “Than ôi, chỉ có điều Thiên Hương cô nương...”

Công tử Hoa hơi sầm mặt xuống: “Cô nương làm sao?”

“Không giấu thiếu gia...” má mì do dự một lát, rồi ghé sát tai công tử Hoa, hạ giọng thì thào, “Thiên Hương cô nương là người của thái tử gia, tuyệt đối không tiếp khách.”

Công tử Hoa lôi ra một túi tiền nặng trịch, đặt lên mặt bàn: “Chút tiền lẻ này, bản thiếu gia mua nàng hai canh giờ, chỉ cần được nhìn ngắm chốc lát, nghe nàng trò chuyện, chắc là được chứ?”

Má mì mở túi tiền ra, thấy toàn vàng thỏi, hai mắt đảo lia lịa một hồi, đoạn vơ ngay lấy túi tiền, cao giọng nói: “Thiếu gia! Ngài hãy đợi ở đây, nô gia sẽ đích thân đi mời cô nương đến!”

“Không cần!” Công tử Hoa đứng dậy, phe phẩy quạt. “Ta muốn tận mắt chiêm ngưỡng khuê phòng của Thiên Hương cô nương, coi như không đi uổng chuyến này!”

“Phải rồi! Phải rồi!” Má mì cười khanh khách. “Nô gia sẽ dẫn thiếu gia lên lầu, mời đi phía này!”

Gặp được sứ giả nước Tần Sư Lý Tật, coi như Trần Chẩn đã bỏ được tảng đá đè nặng trong lòng, trở về liền ngủ một giấc ngon lành.

Sáng sớm hôm sau, Trần Chẩn ngồi trên giường hồi lâu, hồi tưởng một lượt những chuyện hôm qua, đặc biệt là cuộc yết kiến Ngụy Huệ Vương, suy ngẫm kỹ lưỡng từng tình tiết, rồi mới thoải mái vươn người, thong dong bước ra sân.

“Chúa công, người đã nghỉ ngơi xong rồi đấy ư?” Thích Quang từ xa nhìn thấy, vội vã chạy lại, khom lưng chào hỏi.

Trần Chẩn vươn vai, vặn vẹo chân tay: “Này lão Thích, ta đang định tìm ngươi đây.”

“Tiểu nhân xin nghe lời căn dặn!”

“Không giấu gì ngươi, hiện giờ đã đến thời điểm hệ trọng. Nếu lần này lại không thành nữa, hẳn cuộc đời ta cũng chỉ dừng lại tại đây mà thôi!”

“Chúa công nhất định sẽ thành công!” Thích Quang nói chắc nịch.

“Tại sao ngươi lại khẳng định như vậy?”

“Còn phải nói nữa? Bệ hạ hai lần đích thân dìu chúa công dậy, lại để chúa công ngồi ở chỗ của Bạch tướng quốc trước đây, ý tứ chẳng phải đã rõ ràng hay sao?”

“Ha ha!” Trần Chẩn cười nói. “Mặc dù là vậy, nhưng nước mưa chưa rơi xuống đầu, mới chỉ nổi sấm thì vẫn chưa gọi là mưa.”

“Nghe chúa công nói vậy, phải chăng vẫn còn điều gì lo lắng?” Thích Quang hỏi.

“Đúng thế!” Trần Chẩn khẽ lắc đầu. “Chính là tay Công Tôn Diễn kia. Ngươi phải theo sát hắn, xem có những ai ra vào nhà hắn.”

“Chúa công!” Thích Quang chau mày. “Nếu quả thực là kẻ này ngáng đường, theo ý của tiểu nhân, cứ trừ khử hắn đi là xong!”

“Nhà ngươi đấy...” Trần Chẩn lừ mắt, “những điểm khác đều tạm, có điều cả ngày chỉ biết nghĩ đến trừ khử kẻ này thủ tiêu kẻ kia, như vậy không ổn! Thường có câu, tha được cho ai thì cứ tha, đối nhân xử thế, phải biết để lại đường lui cho mình. Ngươi thử nghĩ xem, Công Tôn Diễn không phải đơn thương độc mã, còn có bao nhiêu người trợ giúp cho hắn, hy vọng vào hắn. Đặc biệt là Chu Uy kia, từ năm ngoái đã chỉ mong đưa Công Tôn Diễn ngồi lên ngôi tướng quốc. Trong thời khắc hệ trọng này, chúng ta tuyệt đối không được sơ suất, chỉ sai một ly thôi sẽ thành công cốc. Hơn nữa, ngay cả một tên Bàng Quyên các ngươi còn không trừ khử được, nói gì tới Công Tôn Diễn? Ngươi vẫn chưa hiểu được hắn ghê gớm đến mức nào đâu, cái khác không nói, chỉ riêng thanh kiếm Ngô Câu trong tay hắn thôi cũng đủ khiến các ngươi bạt vía. Đó là thanh kiếm mà lão Bạch Khuê tặng lại cho hắn, nghe nói năm xưa Ngũ Tử Tư từng dùng, chém sắt như cắt đậu phụ!”

Thích Quang ngậm miệng, không dám nói thêm gì nữa.

“Đi đi! Căn dặn đám Đinh Tam, cho dù nhìn thấy gì cũng chỉ được ghi nhớ trong lòng, không được gây chuyện phiền phức!”

“Tiểu nhân tuân mệnh!”

Thích Quang lập tức phái Đinh Tam và một đám thuộc hạ nhanh nhẹn, hoặc cải trang thành thợ giày, hoặc hoá trang thành tiểu thương, quanh quẩn ở gần nhà Công Tôn Diễn, từ sáng đến tối không rời mắt khỏi cánh cổng gỗ mục nát cũ kỹ.

Vào lúc quá trưa, một người đàn ông lạ mặt dung mạo thanh tú đi thẳng tới nơi, nhìn dáng điệu, có vẻ như lần đầu tiên đến chốn này, quan sát một hồi lâu, lại hỏi một người đi đường, sau đó mới dừng lại trước cổng, gõ liền mấy tiếng. Thấy không có ai trả lời, bèn lên tiếng gọi: “Có ai ở nhà không?”

Công Tôn Diễn lê đôi guốc gỗ đi ra, quan sát một lượt, vẫn thấy không hề quen biết.

Người đến vòng tay hỏi: “Có phải Công Tôn tiên sinh không?”

Công Tôn Diễn gật đầu: “Nhân huynh là...”

Người đến lấy từ trong tay áo ra một thứ: “Tại hạ vô tình nhặt được thẻ tre này, nghe nói là của tiên sinh, nay đến để trả lại.”

Công Tôn Diễn nhận lấy nhìn, thấy chính là mảnh tre mà mình đã đưa cho Chu Uy, thì giật mình kinh ngạc, đưa mắt nhìn chằm chằm vào người đến, vòng tay đáp lễ: “Là tại hạ không cẩn thận đánh rơi, đa tạ nhân huynh!”

Người đến, chính là tỳ nhân đã cải trang.

Tỳ nhân lại vòng tay: “Công Tôn tiên sinh, tại hạ có một thỉnh cầu, mong tiên sinh tác thành.”

“Nhân huynh xin cứ nói!”

“Tại hạ đã đọc được một vài chữ trên thẻ tre, cảm thấy vô cùng thích thú. Nhưng thẻ tre này trước sau gián đoạn, khiến tại hạ ngứa ngáy trong tâm. Tại hạ rất muốn đọc thêm những thẻ khác, không biết ý tiên sinh thế nào?”

“Những thẻ tre này đều là đích thân tại hạ viết!” Công Tôn Diễn đáp. “Nếu nhân huynh có nhã hứng, xin mời vào hàn xá đọc tiếp.”

Tỳ nhân đa tạ, rồi theo Công Tôn Diễn vào trong, đi thẳng đến chính đường.

Thấy đống thẻ tre cuộn thành từng bó bày trên mặt đất, tỳ nhân ngẩn người, Công Tôn Diễn mời ngồi cũng không nghe thấy, vô thức ngồi thụp xuống đất, cầm luôn lên đọc.

Tỳ nhân đọc hết tấm này đến tấm khác, lại đọc hết bó này đến bó khác, hoàn toàn chìm đắm trong “Hưng Ngụy thập sách” của Công Tôn Diễn. Công Tôn Diễn ngồi bên cạnh, ánh mắt không rời khỏi đối phương.

Tỳ nhân đọc một mạch suốt một canh giờ, có thể là do ngồi lâu đâm mệt, nên ngồi bệt luôn xuống đất.

Công Tôn Diễn chậm rãi đứng lên, rót một bát nước trắng từ trong ấm, đặt lên bàn, vòng tay nói: “Tại hạ chẳng có gì khác, chỉ có nước trắng để mời nhân huynh mà thôi!”

Tỳ nhân cầm lấy bát nước, uống ừng ực một hơi, rồi đặt cái bát không xuống, vòng tay nói với Công Tôn Diễn: “Đa tạ tiên sinh!” Rồi chỉ tay vào cuộn thẻ tre trên đất. “Tiên sinh viết thật sâu sắc, đáng tiếc tại hạ trí nhớ kém cỏi, không thể nhớ cho hết được. Tại hạ có một thỉnh cầu, mong được tiên sinh chấp thuận.”

“Nhân huynh xin cứ nói!”

“Tại hạ muốn mang những cuộn thẻ tre này về hàn xá để từ từ nghiền ngẫm, không biết ý tiên sinh thế nào?”

“Ồ, việc này...” Công Tôn Diễn có vẻ băn khoăn.

“Đây là tâm huyết của tiên sinh, tại hạ hiểu!” Tỳ nhân mỉm cười. “Tiên sinh thấy như thế này có được chăng? Tại hạ mang một cuộn về đọc, đọc xong sẽ trả lại và mượn cuộn tiếp theo!” Rồi tháo lấy một miếng ngọc bội từ bên thắt lưng, đặt lên mặt bàn. “Dùng miếng ngọc bội này làm vật thế chấp, mong tiên sinh đồng ý.”

Công Tôn Diễn liếc nhìn miếng ngọc bội, biết ngay ông ta là nhân vật thế nào, liền cầm ngọc bội đưa trả lại, cười nói: “Nhân huynh khách khí rồi! Chẳng qua là tại hạ tuỳ hứng viết ra, nếu nhân huynh muốn đọc, tại hạ vui còn chưa hết, nói chi đến nhận vật thế chấp?”

Công Tôn Diễn lấy dây thừng buộc thẻ tre thành hai bó lớn, tổng cộng năm cuốn, đưa cho tỳ nhân: “Vốn định để nhân huynh mang đi hết, có điều chỗ này quá nặng, tại hạ lo nhân huynh mang đi không tiện, nên trước tiên để huynh mang đi một nửa. Đợi nhân huynh đọc xong, nếu vẫn còn có ý muốn đọc tiếp, chỉ cần phái người đến lấy là được.”

Tỳ nhân vòng tay vái tạ, rồi cáo từ ra về. Công Tôn Diễn tiễn ra đến cổng, nhìn theo tỳ nhân mỗi tay xách một bó sách tre, từ từ khuất dạng. Đang định quay vào, bỗng một cỗ xe ngựa phóng vụt đến, đột ngột dừng khựng lại cách Công Tôn Diễn chừng hai mươi bước.

Công Tôn Diễn đang sững người ngạc nhiên, thì thấy một người nhảy xuống xe, xua tay với phu xe. Phu xe lập tức đánh xe đi ngay.

Người vừa nhảy xuống là Sư Lý Tật. Nhưng ông ta đã cải trang, lúc này trông giống một thương nhân thu mua đồ cổ.

Sư Lý Tật đi thẳng tới trước cổng nhà Công Tôn Diễn, vòng tay thi lễ: “Xin hỏi tiên sinh, đây có phải là phủ của Công Tôn Diễn tiên sinh?”

Công Tôn Diễn gật đầu.

“Xin hỏi tiên sinh, Công Tôn Diễn tiên sinh có trong phủ không?”

“Tại hạ chính là Công Tôn Diễn, nhân huynh là...”

Sư Lý Tật lại vòng tay hành lễ: “Tại hạ Mộc Vũ Khuy, nghe đại danh của tiên sinh đã lâu, hôm nay tìm đến bái kiến!”

Công Tôn Diễn vòng tay đáp lễ: “Nhân huynh khách khí rồi. Tại hạ và Mộc huynh xưa nay không hề quen biết, Mộc huynh đến tệ xá, không biết có gì chỉ giáo?”

Sư Lý Tật giải thích: “Tại hạ thích chơi đồ cổ, hôm trước mua được một thanh kiếm, nghe nói là kiếm Ngô Câu. Người ta đồn rằng đây là thanh kiếm của Ngô Vương Hạp Lư, về sau ban tặng cho công thần Ngũ Tử Tư. Tại hạ không biết thật giả, đã dò hỏi khắp nơi, nghe nói tiên sinh am hiểu về kiếm, nên mới đến đây nhờ chỉ giáo.”

Nghe nói là kiếm của Ngũ Tử Tư, Công Tôn Diễn liền mỉm cười nói: “Nhân huynh đã là khách, vậy mời huynh vào hàn xá trò chuyện.”

Hai người đi vào chính đường, Công Tôn Diễn theo lệ thường lại rót ra một bát nước trắng: “Nhân huynh, mời uống nước!”

Sư Lý Tật ngồi ngay ngắn, hai tay nhận lấy bát nước, nhấp một ngụm nhỏ giống như thưởng trà, ngẫm ngợi một lúc, rồi khen: “Nước ngon!”

Công Tôn Diễn mỉm cười: “Người có thể cảm nhận được mùi vị của nước trắng, chắc chắn không phải tầm thường. Nhân huynh hãy đưa bảo kiếm ra!”

Sư Lý Tật mở hộp gấm mang theo, lấy ra bảo kiếm.

Công Tôn Diễn nhận lấy, quan sát một hồi, gõ búng mấy cái, lại hà hơi vào bảo kiếm, rồi chậm rãi nói: “Đây là kiếm giả!”

“Ồ...” Sư Lý Tật giả bộ kinh ngạc, “tại hạ bỏ ra trăm lượng vàng mới mua được kiếm này, sao có thể là kiếm giả?”

“Mộc huynh hãy nhìn xem,” Công Tôn Diễn chỉ vào thanh kiếm giả. “Kiếm này bề ngoài mặc dù trông giống Ngô Câu, nhưng lưỡi kiếm hơi khác. Ngô Câu thực nhọn nhưng không lộ, sắc nhưng không sáng, kiếm khí bức người, chém tới đâu là cắt sắt như cắt bùn, giết người không thấy máu. Nhìn kiếm này, lưỡi kiếm sáng loáng, nhưng không hề thấy kiếm khí, chỉ có thể để ngắm, mà không dùng được.”

Sư Lý Tật nhận lấy bảo kiếm, lại quan sát kỹ càng, dường như không tin cho lắm. Nhìn thấy có cái đe sắt gần đó, liền bước lại, vung kiếm chém xuống, đe không sứt mẻ chút nào, nhưng thanh kiếm lại gãy làm đôi.

“Quả nhiên là kiếm giả!” Sư Lý Tật rầu rĩ than. “Mộc mỗ đời này chẳng có mong muốn gì khác, chỉ thích Ngô Câu, không ngờ lại liên tiếp bị lừa, cả trăm lượng vàng chốc lát đã thành vô ích, ngay cả bóng dáng của Ngô Câu cũng không được thấy. Thật đáng buồn thay!”

Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn Sư Lý Tật, mỉm cười nói: “Nếu Mộc huynh muốn thấy Ngô Câu, đâu có gì khó?”

“Ồ?” Sư Lý Tật tỏ vẻ mừng rỡ, nhưng lập tức lại đổi sang ủ rũ. “Không phải lại là kiếm giả đấy chứ?”

Công Tôn Diễn cười nhạt, đi tới bên tường, lấy thanh kiếm của Ngũ Tử Tư mà Bạch Khuê ban tặng xuống, đặt lên mặt bàn: “Mộc huynh, hãy nhìn kiếm này.”

Sư Lý Tật cầm lấy bảo kiếm, vừa khẽ rút, lập tức một luồng hàn khí vọt ra khỏi vỏ. Thổi khẽ một hơi, kiếm ngân lên u u. Búng thử, thấy kêu leng keng.

Sư Lý Tật hết lời khen ngợi: “Bảo kiếm, quả là bảo kiếm!”

“Mộc huynh hãy nhìn xem.” Công Tôn Diễn chỉ vào kiếm, giảng giải. “Đây mới thực là kiếm của Ngũ Tử Tư, được đúc bởi kiếm sư nổi tiếng một thời là Can Tương, ở đây có dòng minh văn của Can Tương. Về sau, kiếm này rơi vào tay Ngô Vương Hạp Lư, sau khi phá Sở, Hạp Lư đã tặng lại kiếm cho Ngũ Tử Tư. Về sau, Ngũ Tử Tư dùng kiếm này tự vẫn.” Nói đoạn, mang kiếm đến trước đe sắt, vung tay chém xuống, đe sắt liền bị phạt bay một góc, song lưỡi kiếm vẫn không hề hấn gì.

“Công Tôn huynh!” Sư Lý Tật vòng tay nói. “Kiếm này có thể bán chăng? Mộc mỗ nguyện bỏ ra ngàn vàng!”

Công Tôn Diễn lắc đầu: “Đây là kiếm do tiên sư tặng cho, cho dù là vạn lượng, tại hạ cũng không thể bán!”

Sư Lý Tật lại vòng tay vái: “Tại hạ không biết, vô tình mạo phạm tiên sư, mong Công Tôn huynh thứ tội!”

Công Tôn Diễn cười nói: “Mộc huynh đã không biết, vậy cũng bất tất phải khách khí!”

Sư Lý Tật nhìn vào đống thẻ tre trên đất: “Công Tôn huynh đang đọc sách quý gì vậy?”

“Mộc huynh cười chê rồi!” Công Tôn Diễn khẽ cười. “Chỉ là tại hạ tuỳ hứng viết ra, chẳng phải sách quý gì!”

“Ồ? Là trước tác của Công Tôn huynh ư? Tại hạ xin đọc qua, được chăng?”

“Mộc huynh xin cứ tự nhiên!”

Sư Lý Tật cầm lấy một cuộn thẻ tre, ngồi ngay ngắn, thu liễm tinh thần rồi giở đọc. Mới đọc được mấy dòng, lập tức lộ vẻ kính trọng, liên miệng tấm tắc: “Sách hay! Sách hay lắm! Có điều...” Nói rồi lại ngập ngừng.

“Có điều làm sao?”

“Đặt nhầm chỗ rồi!”

“Theo ý của Mộc huynh, nên đặt ở chỗ nào?”

“Nên đặt trên bàn của quân chủ, khiến nó trở thành chính lệnh thiết thực.”

Công Tôn Diễn sững sờ, một lúc sau mới khẽ thở dài.

“Công Tôn huynh!” Sư Lý Tật than tiếc. “Sách cất trong xó, dù hay đến đâu cũng là vô dụng! Kiếm cất trong vỏ, dù sắc đến mấy cũng có ích gì?”

“Than ôi!” Công Tôn Diễn thở dài. “Tâm sự của tại hạ, Mộc huynh đã hiểu cả rồi!”

Sư Lý Tật đặt sách xuống, ôm quyền mà nói: “Công Tôn huynh, tại hạ mạo phạm làm phiền, mong huynh bỏ quá cho. Giờ không còn sớm nữa, tại hạ còn có chút việc bận, xin được cáo từ!”

Công Tôn Diễn tiễn ra đến ngoài cổng.

Sư Lý Tật mỉm cười, vòng tay vái Công Tôn Diễn, nói lớn: “Tại hạ cáo từ, Công Tôn huynh xin dừng bước!”

Sư Lý Tật đi được mấy bước, thấy trong bụi cây có bóng người động đậy, gần đó còn có một tên thợ giày liếc ngang liếc dọc, lập tức hiểu rõ nội tình, nên lại quay đầu lại, nói lớn: “Công Tôn huynh, kiếm tốt hẳn có chỗ dùng!”

Thấy Sư Lý Tật đã đi xa, Đinh Tam dặn dò thuộc hạ tiếp tục canh gác, còn mình vội vàng về phủ, bẩm báo lại cho Thích Quang tất cả những gì tai nghe mắt thấy. Thích Quang cảm thấy sự việc nghiêm trọng, vội dẫn hắn đi gặp Trần Chẩn.

Trần Chẩn chau mày hồi lâu, mới ngẩng lên hỏi: “Người đó đi về hướng nào?”

“Hồi bẩm chúa công,” Trần Chẩn đáp, “tiểu nhân bám theo hắn, thấy hắn rẽ vào một con phố, đã có xe ngựa đón sẵn. Người này lên xe ngựa rồi lao đi. Tiểu nhân lo lắng, vội vàng chạy đuổi theo. May mà trên phố đông người, xe ngựa không đi nhanh được, nên tiểu nhân mới có thể đuổi kịp.”

Trần Chẩn sốt ruột: “Ta hỏi ngươi, rốt cuộc xe ngựa đi về đâu?”

“Tiểu nhân bám theo sau, từ xa nhìn thấy xe ngựa dừng tại ngự hoa viên của vương cung. Ở đó có cánh cổng sau, xe ngựa dừng ở đó, người này xuống xe, xách bó sách đi vào bên trong.”

“Ồ?” Trần Chẩn hít ngược một hơi khí lạnh. “Nói mau, người đó tuổi chừng bao nhiêu? Vóc dáng diện mạo thế nào?”

“Chừng bốn mươi tuổi, dáng người tầm thước, không gầy không béo, mặt mũi thanh tú. Đúng rồi, không có râu, nhìn giống như thái giám.”

Trần Chẩn biết đó là tỳ nhân, mặt mày biến sắc, một hồi lâu vẫn không nói nên lời.

Hai mắt Thích Quang nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn, lắp bắp gọi: “Chúa công...”

“Đinh Tam!” Trần Chẩn đột ngột quay sang Đinh Tam. “Ngươi nói hắn tay xách hai bó sách, có nhìn rõ không?”

“Bẩm chúa công, tiểu nhân nhìn thấy rất rõ ràng. Toàn bộ đều là sách mới, sợi dây thừng buộc sách hình như cũng rất mới.”

“Biết rồi!” Trần Chẩn xua tay. “Đi đi, tiếp tục theo dõi!”

Đinh Tam bèn lui ra.

“Chúa công!” Thích Quang lo lắng hỏi. “Liệu may bó sách đó có phải viết về lầu Nguyên Hanh? Chưa biết chừng tiểu tử kia sớm đã biết rõ chân tướng, chỉ đợi đến thời khắc quyết định này để tấu lên chúa thượng, làm hỏng đại sự của chúa công!”

Trần Chẩn bất giác ớn lạnh sống lưng, vội nói: “Mau, chuẩn bị xe, đến dịch quán!”

“Phải rồi!” Thích Quang giờ mới sực tỉnh. “Sư Lý Tật lén lút đi gặp thằng cha này, chắc chắn là biết rõ nội tình.”

Hai người vội vàng tới dịch quán, công tử Hoa liền mời Trần Chẩn vào chính sảnh.

Thấy Trần Chẩn liếc ngang liếc dọc, công tử Hoa liền vòng tay cười nói: “Thượng đại phu sáng sớm đã ra ngoài, giờ vẫn chưa về. Nếu Trần đại nhân không chê, bản công tử sẽ hầu chuyện đại nhân một lát!”

“Công tử khách sáo rồi!” Trần Chẩn vòng tay nói. “Mấy ngày nay tại hạ luôn muốn đến thăm hai vị, nhưng chẳng có lúc nào rảnh rỗi. Hôm nay có thời gian nên vội tìm đến. Thế nào, công tử thấy lầu Miên Hương ra sao?”

Công tử Hoa bật cười sảng khoái, nói. “Nơi thượng đại phu giới thiệu, đương nhiên là miễn bàn!”

“Công tử đã gặp được Thiên Hương cô nương chưa?”

“Tứ Hương Xuân Hạ Thu Đông, còn có Địa Hương, Thiên Hương, bản công tử đều đã gặp, quả là quốc sắc thiên hương!”

“Ồ?” Trần Chẩn rất đỗi kinh ngạc. “Không giấu gì công tử, những thiếu gia giàu có trong thành An Ấp này, đừng nói tới Thiên Hương, ngay cả muốn gặp được Địa Hương cũng khó. Công tử vừa xung trận, lập tức được gặp cả hai, thực là vận khí phi phàm!”

Công tử Hoa bật cười, khẽ nhún vai: “Bản công tử chỉ có chút tài mọn này, khiến thượng đại phu cười chê rồi! Nhắc tới việc này, bản công tử có một việc muốn thỉnh giáo đại nhân.”

“Nếu tại hạ biết, sẽ không dám giấu!”

“Bản công tử gặp được Thiên Hương cô nương, trò chuyện rất tâm đầu ý hợp. Không giấu thượng đại phu, trò chuyện đến hồi vui vẻ, bản công tử vốn muốn cùng nàng qua một đêm xuân, không ngờ Thiên Hương cô nương một mực từ chối. Bản công tử bức bách dữ quá, Thiên Hương cô nương liền tiết lộ một điều bí mật, liên quan đến thái tử của quý quốc. Bản công tử cũng e sợ gây ra hiểu lầm giữa hai nước, nên đành từ bỏ. Có điều sau đó...” Công tử Hoa cố tình ngập ngừng.

“Sau đó thế nào?” Trần Chẩn vội hỏi.

“Sau đó cũng chẳng có chuyện gì cả. Bản công tử nghe nàng gảy đàn, cùng nàng đánh cờ, nói đủ các chuyện đông tây nam bắc. Có thể nhận ra, Thiên Hương cô nương rất hiểu thái tử của quý quốc, với thái tử một mực tình thâm!”

“Ồ? Nàng ấy nói những gì?”

“Nói rất nhiều chuyện!” Công tử Hoa lại bật cười vang. “Hình như có nhắc tới An Quốc Quân. Nghe giọng điệu, có vẻ điện hạ có điều bất mãn với An Quốc Quân, nói An Quốc Quân không những đánh mất Hà Tây, mà còn ngụy báo quân tình, đổ tội đánh mất Hà Tây cho phó tướng Long Giả.”

Trần Chẩn chau tít đôi mày, vừa như lẩm bẩm một mình, lại vừa như đang hỏi: “Điện hạ trước nay không quan tâm chính sự, lẽ nào lại là giả?”

“Việc này thì...” công tử Hoa dang rộng hai tay, “bản công tử không thể biết được.”

Đúng lúc này, Sư Lý Tật từ bên ngoài trở về. Hai người chào nhau, rồi chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Công tử Hoa cáo từ, chậm rãi lui ra.

Thấy công tử Hoa đã đi xa, Trần Chẩn lo lắng nói: “Sư Lý huynh, lần này tại hạ đến là muốn hỏi huynh một việc!”

“Trần huynh cứ nói!”

“Nghe nói hôm nay, Sư Lý huynh đã tới gặp Công Tôn Diễn?”

Sư Lý Tật gật đầu, kể lại một lượt về cuộc gặp gỡ Công Tôn Diễn.

Trần Chẩn sốt ruột: “Sư Lý huynh có nhìn thấy một số cuốn sách?”

“Đúng thế!” Sư Lý Tật trả lời. “Tại hạ nhìn thấy hai cuốn, bày ở chính đường. Tại hạ hiếu kỳ nên đã tiện tay mở xem, thấy không có phần đầu, liền hỏi Công Tôn Diễn, thì hắn nói vừa có người mượn đi rồi. Tại hạ hỏi là ai đã mượn, hắn nói không biết. Kẻ này thật thú vị, sách quý như vậy mà lại cho một người không quen biết mượn đi.”

“Sách quý gì kia?” Trần Chẩn hai mắt mở to.

Sư Lý Tật hết lời khen ngợi: “Là sách hay! Các cuốn sách đều viết về phương cách cai trị nước Ngụy, tên là ‘Hưng Ngụy thập sách’. Tại hạ đọc qua mấy trang, cảm thấy hơi giống với biến pháp của Thương Quân.”

“‘Hưng Ngụy thập sách’?” Trần Chẩn há hốc miệng. “Là do hắn viết ư?”

“Đúng thế!” Sư Lý Tật lại khen ngợi vài câu, rồi than thở. “Không giấu Trần huynh, theo thiển kiến của tại hạ, người này đáng ra không nên ở trong gian nhà nát kia!”

“Than ôi!” Trần Chẩn lại ngẩn ngơ một lát, rồi thở dài sườn sượt.

“Tại sao Trần huynh lại thở dài?”

“Sư Lý huynh có biết người mượn sách là ai không?”

Sư Lý Tật lắc đầu.

“Là nội thần của bệ hạ!”

“Ồ?” Sư Lý Tật kinh ngạc. “Nói như vậy, hiện giờ những cuốn sách đó đã được đặt trên án của bệ hạ rồi?”

“Đúng thế!” Trần Chẩn vẻ rầu rĩ, tiếp tục thở dài. “Than ôi, lần này coi như xong rồi!” Nói đoạn, ủ ê chảy nước mắt, ngẩng đầu lên trời than vãn. “Ông trời ơi, tại sao ông lại không thể cho Trần Chẩn này một con đường?”

Sư Lý Tật như không nghe thấy lời thở than của Trần Chẩn, chỉ chau tít đôi mày, rõ ràng là đang suy nghĩ về tình huống bất ngờ vừa được biết.

“Sư Lý huynh!” Trần Chẩn đột nhiên sực nhớ ra một chuyện. “Còn nhớ mấy ngày trước đích thân huynh đã hứa với tại hạ, sẽ giúp tại hạ trừ khử kẻ này? Sự việc cấp bách, Sư Lý huynh...” Rồi dừng lại không nói nữa, hai mắt nhìn chằm chằm vào Sư Lý Tật.

“Đúng thế!” Sư Lý Tật cũng đã kịp định thần, mỉm cười nói. “Tại hạ đến gặp Công Tôn Diễn, cũng chính là vì việc này. Không giấu Trần huynh, lúc nãy trên đường về, tại hạ đã nghĩ ra một kế, may ra có thể thành công.”

“Sư Lý huynh mau nói!”

Sư Lý Tật vẫy tay, Trần Chẩn liền ghé sát lại.

Sư Lý Tật thầm thì một hồi, Trần Chẩn ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi chậm chạp gật đầu: “Kế này một mũi tên trúng hai đích, quả là một nước cờ hay. Có điều, việc này hệ trọng, mong Sư Lý huynh để tại hạ suy nghĩ thêm.”

“Tại hạ chúc Trần huynh thành công, sớm bước lên ngôi tướng quốc!”

“Đa tạ Sư Lý huynh!”

Tỳ nhân cơ thể mảnh khảnh yếu ớt, phải xách theo hai bó thẻ tre lớn, lại phải đi một quãng đường dài, khi trở về đến cung thành đã hổn hà hổn hển. Ngồi thở một lúc, tỳ nhân mới dần lại sức, bèn gọi hai tên thái giám đến, bảo mỗi người xách một bó, đi thẳng tới ngự thư phòng.

Ngụy Huệ Vương đang đọc tấu chương, thấy tỳ nhân mang đến hai bó sách lớn, thì hết sức ngạc nhiên.

Tỳ nhân cho đặt sách vào trong phòng, bảo hai thái giám lui ra, rồi quỳ xuống nói: “Lão nô phụng chỉ đến thăm dò Công Tôn Diễn, nay về phụng mệnh.”

Ngụy Huệ Vương không nhìn tỳ nhân, mà chỉ nhìn vào hai bó sách: “Thứ gì đây?”

Tỳ nhân đứng dậy, cầm lấy một bó, đi đến trước mặt Huệ Vương, đặt lên bàn: “Bệ hạ, đây là bộ ‘Hưng Ngụy thập sách’ mà Công Tôn Diễn mới viết, lão nô đã xem qua, nay mượn về đây để bệ hạ đọc thử.”

“Ngươi đã đọc qua?”

“Lão nô mới đọc lướt qua, chưa xem chi tiết, vẫn phải đợi bệ hạ bình xét.”

Ngụy Huệ Vương mới đọc hai dòng đã lập tức chấn động, liền chỉnh trang y phục ngồi ngay ngắn, cắm cúi đọc say sưa.

Tỳ nhân từ từ lui ra, đứng hầu ngoài cửa.

Ngụy Huệ Vương đọc một mạch đến tận khi mặt trời lặn, mà tay vẫn không rời khỏi sách. Thấy trời đã tối, tỳ nhân liền vào thắp đèn, khẽ nói: “Bệ hạ, đã đến giờ ngự thiện, còn lại hãy để ngày mai đọc tiếp cũng không muộn.”

Ngụy Huệ Vương cũng đã thấy mệt, bèn đưa tay dụi mắt, vươn vai vặn mình, rồi giơ ngón tay cái lên, nói với tỳ nhân: “Hôm nay ngươi đã làm được một việc rất tốt, quả nhân sẽ ghi công cho ngươi!”

Tỳ nhân xúc động đến ứa nước mắt, quỳ xuống khấu lạy: “Bệ hạ...”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương ngạc nhiên hỏi. “Quả nhân muốn thưởng cho ngươi, ngươi khóc cái gì?”

Tỳ nhân vội đưa tay áo lau nước mắt, đổi khóc thành cười, nhưng giọng vẫn nghẹn ngào: “Lão nô cứ vui sướng... là lại thất thố như vậy!”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương muôn phần cảm khái, thở dài mà nói. “Quả nhân đã ghi công rất nhiều người, cũng đã ban thưởng cho rất nhiều người, chỉ có ngươi chưa từng được thưởng, quả thực là thiếu sót của quả nhân! Kỳ thực, công của ngươi lớn hơn bất cứ người nào khác, nếu như không có ngươi, quả nhân đã trở thành một kẻ mắt mù, tai điếc. Công lớn như vậy, quả nhân nên trọng thưởng từ lâu mới phải!”

“Bệ hạ!” Tỳ nhân nước mắt như mưa, lại dập đầu lạy. “Lão nô không phải vui vì chuyện này.”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương kinh ngạc. “Ngươi không phải vui vì chuyện này, vậy ngươi vui vì cái gì?”

“Lão nô vui thay cho bệ hạ. Nước có hiền thần, bệ hạ biết được, lão nô vui lắm!”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương lại một phen cảm khái. “Là quả nhân đã đánh giá thấp ngươi. Lại đây, hãy ngồi xuống bên cạnh quả nhân.”

Tỳ nhân bước tới, ngồi xuống cạnh Ngụy Huệ Vương.

Ngụy Huệ Vương khẽ vuốt mái tóc dài của tỳ nhân, cảm thán mà rằng: “Nhìn ngươi hiện giờ, lại khiến quả nhân nhớ tới trước đây. Còn nhớ lúc ngươi mới nhập cung chăng? Lúc đó, quả thực là lục cung thất sắc, bao nhiêu mỹ nhân cũng không ai sánh được với ngươi.”

“Nô tài vẫn nhớ!” Tỳ nhân càng dựa sát vào Huệ Vương. “Là do bệ hạ yêu lầm!”

“Lúc trước là yêu lầm, nhưng giờ là yêu thật!” Ngụy Huệ Vương khẽ vỗ lên người tỳ nhân tựa như vỗ về mỹ nhân. “Quả nhân có được ngươi, chẳng khác nào có được số sách quý này. Ngày mai, ngươi hãy tiếp tục đến mượn nốt năm cuốn còn lại, quả nhân sẽ đóng cửa đọc liền ba ngày ba đêm.”

“Bệ hạ!” Tỳ nhân ngẩng lên. “Có được sách quý sao bằng có được người? Nếu bệ hạ có lòng này, ngày mai nô tài sẽ đi mời Công Tôn Diễn vào cung.”

Huệ Vương lắc đầu.

“Bệ hạ?”

“Này tỳ nhân!” Ngụy Huệ Vương nhìn vào bó thẻ tre. “Chưa đọc hết sách của Công Tôn ái khanh, sau khi gặp ái khanh, quả nhân sẽ chẳng biết nói gì, hỏi gì cả. Thử nghĩ xem, quả nhân vừa mở miệng, Công Tôn ái khanh liền nói, bệ hạ, điều này vi thần đã viết trong sách, bệ hạ chưa đọc ư? Quả nhân sẽ phải đối đáp thế nào? Như vậy, chẳng phải ngươi muốn để quả nhân mất mặt trước quần thần hay sao?”

“Bệ hạ!” Tỳ nhân tựa vào lòng Huệ Vương, khẽ thở dài. “Nô tài biết rồi!”

Sáng sớm, trong hậu hoa viên của cung thái tử, không một gợn gió.

Trong hồ sen, làn nước trong veo như mặt gương, lác đác vài chiếc lá sen điểm xuyết. Huệ Thi lặng ngắm bóng mây vụt qua đáy nước, cảm khái cất tiếng thở dài, buột miệng ngâm nga: “Nước bất động giờ động chừ, tháng năm thời loạn. Người không mê giờ mê chừ, muôn sự lỡ làng.”

Thái tử Thân đang bước lại gần, nghe thấy rõ ràng, liền buột miệng khen: “Hay lắm!”

Nghe thấy tiếng nói, Huệ Thi quay người lại, vòng tay thi lễ: “Huệ Thi bái kiến điện hạ!”

Thái tử Thân khen ngợi: “Hay cho câu ‘nước bất động giờ động chừ’, ‘người không mê giờ mê chừ’. Âm vận nước Sở thốt qua lời tiên sinh, quả nhiên là tuyệt cú thiên cổ!”

“Có gì mà tuyệt cú thiên cổ!” Huệ Thi cười gượng. “Chỉ là nhìn nước khởi hứng mà thôi. Thiết nghĩ Huệ Thi này tuổi đã tứ tuần, nhưng đến nay vẫn như một áng mây trôi lướt qua đáy nước, không lưu chút gợn, bất giác thấy thương cảm!”

“Sao tiên sinh lại ví mình với mây trôi? Tiên sinh phải là cá côn trong nước mới đúng.”

“Than ôi!” Huệ Thi lại thở dài. “Điện hạ có điều không biết, cho dù có là cá côn, nếu không có nước Bắc Minh cho nó bơi lội, cũng chỉ có thể chết trong nước ao hồ mà thôi.”

“Tiên sinh chớ lo, nước Bắc Minh đã gần ngay trước mặt!”

“Điện hạ!” Huệ Thi thoáng ngạc nhiên. “Sao lại nói vậy?”

“Ngụy Thân đã tiến cử tiên sinh lên phụ vương, phụ vương từ lâu cũng đã nghe danh tiếng của tiên sinh, nói rằng sẽ tìm cơ hội đến thỉnh giáo tiên sinh. Tối qua Ngụy Thân cùng dùng bữa với phụ vương, có hỏi về chuyện này, phụ vương hẹn trưa nay đưa tiên sinh vào cung, mời tiên sinh dùng trà ở đình hóng mát trong ngự hoa viên.”

“Trưa nay? Vào giờ nào?”

“Giờ Thân! Phụ vương thích yết kiến quần thần vào giờ đó. Phụ vương kiến văn sâu rộng, am hiểu học vấn trong thiên hạ, tin rằng có thể trở thành tri âm của tiên sinh.”

Huệ Thi vái sâu một vái: “Đa tạ điện hạ tiến cử.”

Thái tử Thân đáp lễ, rồi thuận miệng nói tiếp: “Ngụy Thân còn một chuyện muốn thỉnh giáo tiên sinh.”

“Xin điện hạ cứ nói!”

“Gần đây trong thành An Ấp đồn rằng khi xảy ra cuộc chiến Hà Tây, Công Tôn Diễn đã sớm nhận ra âm mưu của Công Tôn Ưởng, nhưng công tử Ngang thân là tướng quân lại không nghe lời khuyên can của Công Tôn Diễn và Long tướng quân, khăng khăng một ý, khinh địch tấn công, nên mới chuốc lấy thảm bại. Công Tôn Diễn trong đêm đã dẫn quân tập kích doanh trại địch, giết cả vạn quân, nhưng công tử Ngang cướp công về mình, lại đổ vấy nguyên do bại trận lên đầu Long tướng quân.”

Huệ Thi khẽ gật đầu: “Còn gì nữa không?”

“Ồ!” Thái tử Thân lại thở dài. “Chỉ riêng việc này đã đủ nghiêm trọng lắm rồi. Tiên sinh, ngài bảo Ngụy Thân phải làm sao đây? Nếu cứ báo lên, với công tử Ngang sẽ là đại tội, với Ngụy Thân sẽ là tàn hại người thân. Dù sao công tử Ngang và Ngụy Thân cũng cùng một cha, phụ vương sẽ phải xử lý con trai mình thế nào? Nếu giấu giếm không báo, để tám vạn binh sĩ chết trong oan uổng, bảy trăm dặm Hà Tây mất về tay giặc, tương lai lại càng đáng lo hơn nữa! Công tử Ngang to gan làm bừa, đảo lộn trắng đen, nếu tiếp tục nắm giữ binh quyền, tướng sĩ trên dưới ắt sẽ xa lánh, triều chính cũng trở nên trong đục khó phân. Nếu lại có đại chiến, bi kịch há chẳng tái diễn?”

Đến An Ấp mấy ngày nay, đây là lần đầu tiên Huệ Thi nghe thấy thái tử nói về quốc gia đại sự, lại thành tâm thành ý đến nhường này, bất giác trong lòng cảm động: “Than ôi, người đời đều nói thái tử chỉ biết chơi hoa thưởng nguyệt, không màng quốc sự, chỉ biết làm mọt sách, không quan tâm đến người sống, xem ra người ta chỉ biết một mà không hiểu rõ nội tình!”

Thái tử Thân thở dài: “Tiên sinh có điều không biết, phụ vương mọi sự chuyên quyền, công tử Ngang lại thích phô tài, Ngụy Thân còn dùng được vào việc gì đây?”

Huệ Thi đồng tình: “Lão Đam có câu, ‘người đại trí trông giống kẻ ngu si, người đại khéo trông giống kẻ vụng về’, hình dung về thái tử như vậy, hẳn không phải quá.”

“Tiên sinh quá khen!” Thái tử Thân vòng tay nói. “Việc Hà Tây, xin hỏi tiên sinh có kế sách vạn toàn chăng?”

“Việc này điện hạ nghe ai nói?” Huệ Thi hỏi.

“Ồ...” Thái tử Thân bỗng đỏ bừng mặt, “là một hồng nhan tri kỷ của Ngụy Thân.”

Huệ Thi mỉm cười: “Nếu thảo dân đoán không nhầm, vị hồng nhan tri kỷ này hẳn là Thiên Hương cô nương của lầu Miên Hương?”

Thái tử Thân kinh ngạc: “Tại sao tiên sinh lại biết?”

“Chuyện tất cả mọi người trong thành đều biết, sao Huệ Thi có thể không biết?”

Thái tử Thân không dám nói thêm lời nào.

“Thảo dân thực sự muốn biết, một chuyện cơ mật đến vậy, cớ sao Thiên Hương cô nương lại biết được?”

“Người biết việc này không chỉ có Thiên Hương cô nương. Trong lầu Miên Hương, ai ai cũng biết.”

“Ồ?” Huệ Thi hít vào một hơi thật sâu, nhắm mắt lại suy nghĩ một hồi, rồi lắc đầu nói. “Lời đồn đại, có thể rước hoạ sát thân!”

“Ha ha ha, tiên sinh nặng lời rồi!” Thái tử Thân bật cười. “Thiên hạ thái bình, chỉ mấy lời đồn đại sao có thể rước hoạ sát thân?”

“Thảo dân chỉ nói vậy, có tin hay không là tuỳ điện hạ!”

“Tiên sinh, việc Hà Tây phải tính thế nào?”

“Thảo dân muốn biết, là điện hạ thực sự quan tâm tới quốc gia đại sự, hay chỉ vì Thiên Hương cô nương?”

Thái tử Thân thở dài: “Ngụy Thân thân là thái tử, sao có thể không quan tâm tới quốc gia đại sự? Hơn nữa, trước đây phụ vương mọi việc chuyên quyền, vốn chẳng nghe lời Ngụy Thân, cũng không cho phép Ngụy Thân nhúng tay vào. Hiện giờ phụ vương đã thay đổi, Ngụy Thân cũng nên làm một việc gì đó.”

“Tốt lắm!” Huệ Thi gật gù. “Điện hạ suy nghĩ như vậy, đúng là may mắn của nước Ngụy. Theo ý thảo dân, sự việc Hà Tây liên quan đến quốc gia xã tắc, danh tiếng vương tộc, tốt nhất không nên lật lại. Có điều... thảo dân có lời muốn nói, không biết điện hạ có muốn nghe chăng?”

“Tiên sinh cứ nói.”

“Thảo dân nghe nói An Quốc Quân có mối quan hệ thân thiết với thượng đại phu Trần Chẩn. An Quốc Quân là một kẻ tầm thường, có thể giở thủ đoạn ở Hà Tây, bảo toàn tính mạng, chắc chắn là mưu của Trần Chẩn. Nghe nói Trần Chẩn một lòng muốn ngồi lên ghế tướng quốc, mà theo thảo dân thấy, người này tâm cao khí ngạo, tính toán khôn khéo, mưu mô trí trá, nhưng thiếu lương tri, càng không cần nói đến chính đạo. Người không theo chính đạo, chắc chắn chẳng phải hiền tài, không thể làm tướng quốc. Bệ hạ hiện giờ đang cân nhắc, tại sao điện hạ không tiến cử Công Tôn Diễn, một là có thể cất nhắc người hiền, hai là có thể chế ngự công tử Ngang?”

“Ngụy Thân đã từng tiến cử. Phụ vương thấy Huệ Thân tiến cử, bèn phái tỳ nhân tới thăm dò. Nghe nói tỳ nhân mang theo hai cuộn thẻ tre trở về, phụ vương đọc liền hai ngày, quên ăn quên ngủ.”

Huệ Thi cười nói: “Nếu đúng như vậy, thì thảo dân đã quá lo xa rồi!”

“Tuy nhiên, tiên sinh nhắc nhở cũng rất đúng!” Thái tử Thân nói tiếp. “Ngụy Thân vẫn phải theo dõi sát sao việc này, hôm nay nhân tiện, sẽ đi hỏi phụ vương.”

Vào giờ ăn trưa, thái tử Thân phụng mệnh tới ngự thiện phòng dùng cơm cùng Huệ Vương, nhưng không thấy Huệ Vương đâu.

Thái tử Thân đợi một lúc, thấy Huệ Vương vẫn chưa đến, suy nghĩ một lát rồi tự ngồi xuống trước bàn, sai thái giám chấp sự tại ngự thiện phòng đi mời bệ hạ. Thái giám vừa ra khỏi cửa, từ xa đã nhìn thấy Huệ Vương cùng tỳ nhân, công tử Ngang đang theo con đường nhỏ quanh co dưới bóng cây đi tới.

Thái giám vội lên tiếng: “Điện hạ, bệ hạ đã tới!”

Thái tử bèn ra đón, quỳ xuống trước cửa.

Ngụy Huệ Vương đi tới trước mặt, chìa tay ra, cười mà nói: “Thân Nhi, mau bình thân!”

Thái tử Thân tạ ơn, đứng dậy, tiến tới đỡ Huệ Vương đi tới trước bàn ăn.

“Ngồi đi, ngồi đi!” Ngụy Huệ Vương ngồi vào chỗ, rồi gọi mọi người. “Đều là người một nhà, hãy cứ tự nhiên. Ngang Nhi, con ngồi bên này, Thân Nhi, con ngồi bên kia, còn ngươi,” tay chỉ vào tỳ nhân, “hãy ngồi bên cạnh quả nhân!”

Mọi người lần lượt ngồi vào chỗ theo sắp xếp của Ngụy Huệ Vương.

“Lát nữa quả nhân còn có việc lớn, nên giờ không uống rượu!” Huệ Vương cầm đũa gắp một miếng thịt hươu, đưa vào miệng. “Nào, động đũa thôi, vừa ăn vừa nói chuyện!”

Cả ba đều là những người thân cận nhất của Huệ Vương, giờ lại thấy Huệ Vương nói vậy, nên cũng không khách sáo nữa, ai nấy tự cầm lấy đũa, bắt chước Huệ Vương, gắp thịt hươu ăn.

Ăn được một lúc, Huệ Vương nhìn công tử Ngang, nói: “Ngang Nhi, lúc nãy con cũng đã đọc mấy dòng, hãy thử nói xem, sách này viết thế nào?”

Công tử Ngang phá lên cười, nói: “Theo nhi thần thấy, văn chương khá hay, viết cũng mạch lạc rõ ràng, có điều...”

Huệ Vương nhìn công tử Ngang: “Có điều làm sao?”

Công tử Ngang do dự một lát, quyết định không nói nữa, cười trừ mà nói: “Nhi thần chẳng qua chỉ đọc vài dòng, không đầu không cuối, sao biết hay dở?”

Huệ Vương cười lớn: “Ngang Nhi, hẳn là ý con muốn nói, nhi thần chỉ thích luận múa đao múa kiếm, đọc không hiểu những thứ rắc rối này ư? Thế thì thôi vậy!”

Thấy Huệ Vương nói vậy, tỳ nhân và thái tử Thân đều bật cười.

“Vâng, vâng!” Công tử Ngang thuận gió bẻ măng, cũng cười hề hề. “Tâm tư của nhi thần, phụ vương đã rõ như lòng bàn tay!”

Mọi người lại cười một chặp nữa, Huệ Vương quay sang thái tử Thân: “Thân Nhi, tối qua quả nhân có được một bộ sách hay, con có thời gian, nhất định phải đọc cho thật kỹ.”

Thái tử Thân sớm đã biết chuyện, nhưng vẫn vờ hỏi: “Xin hỏi phụ vương, là sách gì?”

“Tên là ‘Hưng Ngụy thập sách’, quả nhân đã đọc năm cuốn, cuốn nào cũng chỉ rõ chỗ yếu hại!”

“Sách hay như vậy, không biết do người nào viết?”

“Chẳng phải con đã tiến cử với quả nhân một người tên gọi Công Tôn Diễn sao? Chính là do người này viết!”

Vừa nghe thấy ba chữ “Công Tôn Diễn”, công tử Ngang đã giật nảy mình, miệng đang ăn miếng thịt gà rừng bỗng đờ ra quên cả nhai.

Nhìn thấy công tử Ngang ngây ra như tượng, Ngụy Huệ Vương phì cười: “Ngang Nhi, sao con lại ngẩn ra thế?”

Công tử Ngang định thần lại, ngoảnh sang nhả miếng thịt gà vào ống nhổ, rồi quay lại nói: “Bẩm phụ vương, nhi thần được biết cuốn sách vừa đọc là sách hay, nên cảm thấy thích thú quá.”

Huệ Vương cười vang: “Lại giúp quả nhân vui cười rồi! Con ư, từ nhỏ chỉ ham mê đao kiếm, thấy sách là đau đầu, lúc nào thấy thích thú với sách vở, chắc hẳn mặt trời mọc ở đằng tây!”

Mọi người lại được một trận cười nghiêng ngả.

Huệ Vương quay sang tỳ nhân: “Lát nữa ngươi hãy đến nhà Công Tôn Diễn, mang nốt năm cuốn sách còn lại về đây.”

“Bệ hạ, lát nữa người đã hẹn với Huệ Tử, lão nô...”

“Ồ, phải rồi, phải rồi!” Ngụy Huệ Vương vỗ trán. “Quả nhân già rồi, đãng trí quá. Lát nữa đúng là phải gặp Huệ Tử để bàn về học vấn. Đây là việc lớn, chốc nữa ngươi hãy đến kho sách, tìm những thẻ tre viết về cuộc tranh luận giữa Huệ Tử và Công Tôn Long, chọn lấy một ít đến đây, để quả nhân đọc qua một lượt, tránh khi gặp Huệ Tử lại không biết nói chuyện gì.”

Tỳ nhân đứng dậy, cầm khăn lụa khẽ chấm lên môi: “Lão nô no rồi, giờ xin cáo lui!” Rồi đứng dậy lui ra, vội vàng đi theo con đường nhỏ đến ngự thư phòng.

Công tử Ngang đâu còn hứng thú ăn uống, cũng kiếm cớ có việc gấp, cáo từ Huệ Vương, rồi vội vã về phủ.

Công tử Ngang chân trước bước vào cửa, Trần Chẩn chân sau đã vào theo.

Vừa thấy Trần Chẩn, công tử Ngang không kịp hành lễ đã vội nói: “Mau, ông đến đúng lúc lắm, bản công tử đang định tìm ông!”

Trần Chẩn thấp thỏm đi theo công tử Ngang vào thư phòng, thấy công tử Ngang sắc mặt sa sầm, liền hỏi: “Công tử khí sắc không tốt, có chuyện gì chăng?”

“Có chuyện lớn rồi!” Công tử Ngang nói. “Thái tử Thân trước nay không hề có chủ kiến, lần này lại tiến cử Công Tôn Diễn lên phụ vương. Phụ vương cũng tin tưởng, đã phái tỳ nhân đến nhà Công Tôn Diễn, mang về một bó thẻ tre, là bộ ‘Hưng Ngụy thập sách’ do Công Tôn Diễn viết. Phụ vương đọc được, không nỡ rời tay, nhất định bắt bản công tử và thái tử Thân cùng đọc. Xem tình hình này, có lẽ sẽ cất nhắc Công Tôn Diễn làm tướng quốc mất!”

Trần Chẩn đến đây cũng chính là vì việc này, thấy công tử Ngang đã biết rõ sự tình, thì không nói thêm lời nào, chỉ than ngắn thở dài: “Than ôi, nếu Công Tôn Diễn làm tướng quốc, hạ quan thì không sao, chỉ sợ công tử...”

“Đúng thế!” Công tử Ngang vội nói. “Bản công tử cũng đang lo lắng việc này đây! Sự việc Hà Tây, hắn biết rõ đầu đuôi. Nếu phụ vương triệu kiến hắn, hẳn sẽ hỏi về việc Hà Tây, hắn ghi hận bản công tử trong tim, chắc chắn sẽ phun ra tất cả. Vậy... bây giờ phải làm sao đây?”

“Chỉ sợ chưa đợi đến lúc hắn nói ra, bệ hạ đã biết rồi!”

Công tử Ngang kinh ngạc: “Thượng đại phu, sao lại nói vậy?”

“Hạ quan nghe nói, trong thành An Ấp đã có lời đồn đại về sự việc Hà Tây.”

“Ông...” công tử Ngang đưa tay túm chặt tay áo Trần Chẩn, “nói mau, lời đồn thế nào?”

“Nói rằng công tử không nghe lời Long tướng quân và Công Tôn Diễn, khăng khăng quyết chiến với Tần, kết quả đã trúng kế dụ địch của Công Tôn Ưởng, toàn quân chết thảm. Công Tôn Diễn đêm đến dẫn quân tập kích trại địch, lập được công lớn, nhưng công tử lại tham lam cướp công, rồi đổ tội bại trận Hà Tây lên đầu Long tướng quân...”

Công tử Ngang sắc mặt trắng bệch, không thốt được nửa lời.

“Than ôi, hạ quan...” Trần Chẩn thở dài, định nói nhưng lại thôi, chỉ cúi mặt lắc đầu.

Công tử Ngang đột ngột ngẩng phắt đầu lên: “Tin đồn xuất phát từ đâu?”

“Hạ quan đã điều tra, xuất phát từ lầu Miên Hương!”

“Lầu Miên Hương?” Công tử Ngang sững người. “Tại sao họ lại biết?”

“Họ kể nghe rất chi tiết sinh động, giống như chính mắt họ nhìn thấy vậy. Lúc đầu hạ quan cũng băn khoăn, nếu họ đã biết từ trước, tại sao bây giờ mới có lời đồn? Hạ quan đã phái người đi dò la khắp nơi, cuối cùng cũng đã rõ được uẩn khúc bên trong.”

“Là uẩn khúc gì?”

“An Quốc Quân có điều không biết, hạ quan phụng mệnh bệ hạ, âm thầm theo dõi sứ thần nước Tần là Sư Lý Tật. Lần này hắn đến đây, giảng hoà chỉ là giả, xúi bẩy làm phản mới là thực.”

“Xúi bẩy làm phản?” Công tử Ngang không hiểu. “Xúi bẩy người nào làm phản?”

“Công Tôn Diễn!”

“Hả?”

“Mấy ngày gần đây, Sư Lý Tật nhiều lần đến gặp Công Tôn Diễn, còn cải trang lén lút ra vào, đóng cửa trò chuyện nhiều giờ. Phó sứ công tử Hoa của hắn lại đến lầu Miên Hương tìm Thiên Hương cô nương.”

“Nếu nói như vậy...” công tử Ngang như sực tỉnh mộng, “lẽ nào người Tần đã đem chuyện ở Hà Tây nói với Thiên Hương cô nương?”

“Đúng thế!”

Công tử Ngang kinh ngạc: “Nếu nói như vậy, Ngụy Thân hẳn đã biết rõ sự tình?”

“Hiện giờ vẫn chưa chắc chắn!”

“Ồ?”

“Mấy ngày nay hạ quan đã phái người theo dõi lầu Miên Hương, chưa thấy điện hạ đến đó.”

Công tử Ngang thở phào một hơi dài: “Chưa đến thì tốt! Nếu việc này để Ngụy Thân biết được, sẽ hỏng bét.”

“Công tử, hôm nay điện hạ không đến, chưa chắc ngày mai đã không đến!”

“Thượng đại phu có kế sách gì chăng?”

“Hạ quan có một kế, may ra có thể giải quyết êm thấm.”

“Nói mau!”

Trần Chẩn ghé tai thì thầm. Công tử Ngang nghe xong, do dự không quyết.

“Công tử!” Trần Chẩn sốt ruột. “Không trừ Công Tôn Diễn, nước không thể yên!”

“Được rồi!” Công tử Ngang nghiến răng. “Cứ làm theo ý ông!”

Lúc xế chiều, tại đình hóng mát ở hậu hoa viên trong cung Ngụy, Ngụy Huệ Vương, Huệ Thi ngồi sát mép nước, cùng trò chuyện sôi nổi.

Ngụy Huệ Vương ngước mắt nhìn trời, liền chuyển chủ đề, thu thần mà nói: “Nghe tiên sinh giảng về cái học danh thực, quả nhân giống như nghe được sách trời, thực là đã được thụ giáo. Quả nhân còn có một số việc quốc sự phiền tạp muốn thỉnh giáo tiên sinh, mong tiên sinh chỉ điểm.”

“Bệ hạ, xin cứ nói!”

“Nhà Chu thất thế, thiên hạ chia năm xẻ bảy. Nước Ngụy từ thời tiên tổ Văn Hầu đến nay, luôn thi hành nhân nghĩa, thay Chu thất vỗ yên thiên hạ. Thời gian kéo dài, quả nhân vô cùng mệt mỏi. Để danh hợp với thực, quả nhân đành phải làm theo ý trời, xưng vương vào năm trước. Không ngờ liệt quốc đều có hai lòng, coi quả nhân là thù địch. Người Tần càng là mối hoạ trong tâm, đảo lộn thị phi, bày gian kế chiếm mất Hà Tây của Ngụy. Ngày nay nước Ngụy bốn bề ngự địch, quả nhân một mình chống đỡ gian nan, tình thế cấp bách. Xin hỏi tiên sinh phải ứng phó thế nào?”

“Chính là thứ lúc nãy bệ hạ nhắc tới, việc mà bệ hạ hỏi cũng là vấn đề danh thực. Những việc bệ hạ đã làm, không gì không nhằm khiến danh phù hợp với thực, vốn dĩ không nên trách cứ. Còn về việc liệt quốc vì điều này mà phản đối, kỳ thực ý của họ lại không phải ở điều này!”

Ngụy Huệ Vương nghe vậy, trong lòng chấn động, ngả người về phía trước, hỏi dồn: “Xin hỏi tiên sinh, vậy liệt quốc có ý gì?”

“Thảo dân cho rằng, nước lớn cũng thế, nước nhỏ cũng vậy, tranh chấp danh thực chẳng qua chỉ là cái cớ. Đối với chư hầu, thực sự chỉ có hai việc quan trọng.”

“Là việc gì?”

“Thứ nhất là thời, thứ hai là thế.”

“Xin tiên sinh nói rõ hơn!”

“Thời tức thiên thời, thế tức quốc lực. Ngày trước Văn Hầu độc bá thiên hạ, chẳng phải vì Văn Hầu có ba đầu sáu tay, mà là Văn Hầu giỏi nương thiên thời, giỏi mượn ngoại thế. Tuy nhiên, thứ mà Văn Hầu dùng là thiên thời lúc bấy giờ, thứ mà Văn Hầu mượn là ngoại thế lúc bấy giờ. Thiên hạ ngày nay đã khác hẳn trước kia, bệ hạ cũng nên thuận theo thời thế ngày nay, thay đổi kế sách, may ra có thể nương thời mượn thế, đứng vững nơi bất bại.”

Ngụy Huệ Vương hít sâu một hơi: “Quả nhân ngu muội, xin tiên sinh nói rõ về thời thế ngày nay.”

“Như bệ hạ đã biết, thời ngày nay là Chu thất càng suy, liệt quốc càng mạnh, thiên hạ càng loạn. Thế ngày nay là liệt quốc tuy đông, nhưng thành đại thế chỉ có bảy nước là thất cường, Ngụy chỉ là một trong số đó. Luận về thất cường, mấy chục năm gần đây, thực thi biến pháp đồ cường chỉ có bốn. Một là nước Sở, có biến pháp của Ngô Khởi; hai là nước Hàn, có biến pháp của Thân Bất Hại; ba là nước Tề, có biến pháp của Trâu Kỵ; bốn là nước Tần, có biến pháp của Công Tôn Ưởng. Bốn nước này sau khi biến pháp, quốc thế đều tăng, hơn trước rất nhiều, bất cứ nước nào cũng có thể đối đầu với Ngụy!”

Ngụy Huệ Vương chìm trong suy tư, một lát sau lại hỏi: “Theo tiên sinh nói, quả nhân chỉ còn biết để mặc cho các nước mạnh ức hiếp ư?”

Huệ Thi lắc đầu: “Không đúng!”

“Ồ, tiên sinh có cách ứng phó chăng?”

“Thuận thời mở thế, mượn thế đánh thế!”

“Xin tiên sinh nói rõ!”

“Thuận thời tức là thừa nhận hiện trạng, thừa nhận thế của nước khác, không được cậy sức cưỡng cầu; mở thế tức là hưng bản vụ thực, trữ đầy quốc khố, tăng cường quốc lực; mượn thế tức là kết giao với nước khác, lợi dụng thế của nước khác, tuyệt đối không được gây bất hoà với láng giềng bốn phía; đánh thế tức lợi dụng thế lực bên ngoài, để đánh vào thế địch!”

“Lời của tiên sinh rất chí lý!” Ngụy Huệ Vương nghe mà trong lòng sốt sắng, nghiêng người về trước vội hỏi. “Theo kiến giải của tiên sinh, quả nhân hiện nay có thể mượn thế nào, đánh thế nào?”

“Bảy thế chiến quốc, Ngụy nằm ở giữa. Nằm ở giữa mà phải chiến đấu với bốn bề, nước ắt nguy ngập. Theo quan sát của Huệ Thi, thế nước Tề tranh tại Tứ Hạ, thế nước Sở tranh tại Việt, vì vậy giữa Tề, Sở và Ngụy không có tranh chấp lớn, thế đó có thể mượn. Hàn, Triệu và Ngụy đều thuộc Tam Tấn, vốn cùng một nhà, môi hở răng lạnh, kỳ thực không có tranh chấp lợi hại, tranh chấp đều ở thế nước Tần, nên thế của hai nước này cũng có thể mượn. Tranh chấp lớn nhất với bệ hạ, chỉ ở thế nước Tần.”

Ngụy Huệ Vương vòng tay vái Huệ Thi: “Được nghe lời của tiên sinh, tựa như vén lên bức màn che mắt. Quả nhân lại xin được hỏi, làm thế nào mới có thể mượn thế của các nước?”

Huệ Thi đáp ngay không chút do dự: “Dời đô!”

“Dời đô?” Ngụy Huệ Vương sững sờ. “Dời đô đi đâu?”

“Có thể dời tới Đại Lương!” Huệ Thi nói tiếp. “Đô thành nước Việt nằm tại Hàm Đan, đô thành nước Hàn nằm tại Tân Trịnh, đô thành nước Tề nằm tại Lâm Truy, đô thành nước Sở nằm tại Sính Đô. Bốn đô thành này đều cách xa An Ấp, bất lợi cho kết giao. Chỉ có đô thành Hàm Dương của Tần nằm gần An Ấp, một khi Tần Ngụy giao tranh, quân Tần chỉ cần hành quân một ngày đã áp sát, bất lợi cho bệ hạ mượn thế bên ngoài. Nếu bệ hạ dời đô đến Đại Lương, cùng kết giao hoà hảo với bốn nước, Tần ắt không dám manh động.”

Đúng vào lúc đó, tỳ nhân bước vào: “Bệ hạ, thượng đại phu cầu kiến!”

Ngụy Huệ Vương chau mày: “Nói với ông ta, quả nhân đang bận, bảo ông ta ngày mai hãy đến!”

“Nô tài nói rồi, nhưng thượng đại phu nói rằng có việc gấp, không thể chậm trễ!”

“Trần Chẩn kia cũng thật là...” Ngụy Huệ Vương lầm bầm, rồi xua tay. “Được rồi, tuyên ông ta vào yết kiến!”

Tỳ nhân vâng lệnh, quay người đi khỏi đình hóng mát.

Ngụy Huệ Vương vòng tay với Huệ Thi: “Lời của tiên sinh rất hợp với ý quả nhân. Có điều dời đô là việc trọng đại, hãy để quả nhân suy nghĩ thêm rồi mới định đoạt. Bây giờ trời đã muộn, quả nhân còn có việc phải làm, hôm khác lại xin được thỉnh giáo tiên sinh!”

Huệ Thi bái lạy sát đất: “Huệ Thi cáo lui!”

Huệ Thi đi ra, vừa bước xuống dưới đình hóng mát thì gặp ngay Trần Chẩn đi lên. Sự việc Huệ Thi đặt câu hỏi ở chợ Đông đồn đại ồn ào, Trần Chẩn sớm đã nghe thấy. Vì những mệnh đề của Huệ Thi đều hoang đường trái khoáy, nên bị người dân trong thành An Ấp truyền tai nhau thành chuyện cười, Trần Chẩn cũng không để bụng. Thấy Huệ Thi ở đây, Trần Chẩn không hề cảm thấy ngạc nhiên, vì ông ta biết rõ Huệ Vương thích bàn luận học thuật.

Vì có chuyện tranh đường ở ngoài thành An Ấp, nên hai người cũng coi như đã biết nhau. Huệ Thi hơi vòng tay, nói: “Huệ Thi xin chào thượng đại phu!”

“Trần Chẩn xin chào Huệ Tử!” Trần Chẩn tuy trong lòng vướng chuyện gấp, nhưng vẫn đáp lễ. “Hiện giờ tại hạ phải yết kiến bệ hạ, hôm khác nhất định sẽ đến nhờ Huệ Tử chỉ giáo.”

Lời vừa dứt, Trần Chẩn đã bước lên đình.

Nhưng người ta thường nói, oan gia ngõ hẹp. Đường lên đình hóng mát chỉ là một lối đi nhỏ, Huệ Thi lại đang đứng giữa đường, cũng giống hệt cảnh tượng lần trước ở ngoài thành An Ấp, không một chút ý nhường nhịn. Trần Chẩn cũng không dám ngang ngược ở nơi này, nên đành phải vòng vào khóm hoa ở bên cạnh, hấp tấp đi lên.

Trần Chẩn đi lên đình, dập đầu trước mặt Huệ Vương: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”

“Ái khanh miễn lễ!” Ngụy Huệ Vương chỉ vào chỗ Huệ Thi vừa ngồi. “Ngồi đi!”

Trần Chẩn đứng dậy, rồi ngồi xuống.

“Nghe nói ái khanh có việc gấp, vậy hãy nói đi!”

“Khởi bẩm bệ hạ, vi thần phụng chỉ theo dõi sứ thần nước Tần Sư Lý Tật, quả nhiên đã phát hiện người này có âm mưu.”

“Ồ? Là âm mưu gì?”

“Mấy ngày gần đây, người này khá bận rộn, liên tục ra vào phủ Long Giả, phủ Chu Uy, lại còn cải trang, lấy tên Mộc Vũ Khuy, một mình lẻn vào phủ Công Tôn Diễn, hai người đóng cửa trò chuyện suốt nhiều canh giờ. Lúc ra khỏi cổng, Sư Lý Tật còn cẩn thận dặn dò, ‘kiếm tốt hẳn có chỗ dùng’.”

“Kiếm tốt hẳn có chỗ dùng?” Ngụy Huệ Vương nhăn mày nhíu trán, lẩm bẩm một mình. “Nói vậy là có ý gì?”

“Lúc đầu vi thần cũng không biết. Tối qua vi thần vô tình phát hiện được một bí mật, nên mới hiểu ra.”

“Là bí mật gì?”

“Phó sứ của Sư Lý Tật là công tử Hoa nhiều lần đến lầu Miên Hương tìm hoa ghẹo liễu, lúc đầu vi thần không để ý, nhưng tối qua đột nhiên được biết trong lầu Miên Hương truyền ra lời đồn đại, nói rằng việc đại bại ở Hà Tây đều là do bệ hạ, không liên quan gì đến Long Giả. Bệ hạ xử phạt Long tướng quân chẳng qua là tìm người thế tội mà thôi!”

Ngụy Huệ Vương sắc mặt sa sầm: “Những kẻ nào thường đến lầu Miên Hương?”

“Chuyện này...” Trần Chẩn do dự. “Vi thần không dám nói!”

“Ồ?” Ngụy Huệ Vương ngạc nhiên. “Còn có người ái khanh không dám nói ư?”

Trần Chẩn cúi thấp đầu, không nói thêm gì.

“Trần Chẩn!” Ngụy Huệ Vương sốt ruột, quát lên. “Ngươi cứ ấp a ấp úng, úp úp mở mở như vậy, lẽ nào muốn giấu giếm quả nhân?”

Trần Chẩn vội vàng đứng dậy, dập đầu sát đất, khóc lóc mà nói: “Vi thần không dám! Vi thần...”

Ngụy Huệ Vương hạ giọng: “Đã không dám, vậy hãy nói thẳng ra.”

“Chuyện này...” Trần Chẩn cố ý lắp bắp. “Khởi bẩm bệ hạ, người đó là... là... là điện hạ!”

“Ngươi...” Ngụy Huệ Vương đập bàn quát lớn, “nói láo!”

“Bệ hạ!” Trần Chẩn liên tiếp dập đầu, khóc hu hu. “Vi thần không dám nói láo! Gần một năm trở lại đây, điện hạ cứ năm ba ngày lại đến lầu Miên Hương một lần, trong thành An Ấp không ai không biết!”

Ngụy Huệ Vương nhắm chặt hai mắt, vẻ vô cùng chua xót.

“Bệ hạ!” Trần Chẩn tiếp tục vừa khóc vừa kể lể. “Nghe nói điện hạ say mê một cô nương trong đó, tên gọi Thiên Hương. Cô nương đó từ khi quen biết điện hạ đã không tiếp khách ngoài nữa, chỉ là người của riêng điện hạ...”

“Đừng nói nữa!” Ngụy Huệ Vương quát lớn cắt lời, rồi lập tức đứng phắt dậy, bỏ lại Trần Chẩn, phất tay áo bước đi.

Nhìn Ngụy Huệ Vương giận dữ bỏ đi, khoé miệng Trần Chẩn lộ ra một nét cười nham hiểm.

Sáng sớm, người lấy nước gạo quảy theo hai thùng gỗ, vừa đi vừa hát ư ử, tiến đến cổng bên của lầu Miên Hương.

Người này đặt thùng gỗ xuống, cất tiếng gọi: “Này, mở cửa, đến lấy nước gạo đây!”

Bên trong không có tiếng đáp. Người này gọi thêm mấy tiếng, cổng vẫn đóng im ỉm.

Người lấy nước gạo lầm bầm: “Quái lạ nhỉ, chết hết cả rồi hay sao?” Rồi đưa tay đẩy mạnh vào cánh cổng. Cánh cổng cót két một tiếng rồi mở ra. Người này quảy thùng gỗ lên, vừa bước qua cổng, đột nhiên rú lên thất thanh: “Ôi mẹ ơi!” Rồi quẳng cả thùng gỗ, chạy trối chết ra ngoài.

Lát sau, một đám binh sĩ từ phủ tư đồ rầm rập chạy đến, vây chặt lấy lầu Miên Hương, đến con kiến cũng không chui lọt. Do sự việc nghiêm trọng, nên cả tư đồ Chu Uy cũng vội vàng chạy đến.

Nhìn thấy Chu Uy, Bạch Hổ, lúc này đã được thăng chức làm ngự sử trong phủ tư đồ, vội vã từ trong lầu chạy ra: “Khởi bẩm tư đồ đại nhân, trên lầu dưới lầu không còn ai sống sót, hầu hết là bị giết khi đang ngủ, đếm được bốn mươi hai thi thể, trong đó có ba nam nghi là khách làng chơi ở lại!”

Đã bao năm nay, trong thành An Ấp chưa xảy ra vụ án mạng nào nghiêm trọng đến vậy. Chu Uy chau tít đôi mày, đi vào trong lầu kiểm tra một vòng, quả nhiên chỉ thấy xác chết ngổn ngang. Thiên Hương, Địa Hương, Tứ Hương Xuân Hạ Thu Đông và cả má mì, từ trên xuống dưới, không một ai thoát nạn, ngổn ngang đầy đất, thật thê thảm không nỡ nhìn.

Đúng vào lúc này, một tên lính từ bên ngoài hộc tốc chạy vào, tay cầm một chiếc giày dính đầy máu: “Báo, tìm được chiếc giày này ở góc phố, ngờ là nghi phạm đánh rơi khi bỏ chạy!”

Chu Uy nhận lấy chiếc giày, quan sát kỹ lưỡng.

Bạch Hổ liếc nhìn, kinh ngạc nói: “Đại nhân, chiếc giày này là...”

“Ồ, ngươi biết nó?”

Bạch Hổ chần chừ: “Hạ quan... hạ quan...”

Chu Uy trong lòng chấn động: “Nói đi!”

Bạch Hổ hạ thấp giọng thì thào: “Là giày của Công Tôn huynh!”

“Ồ!...” Chu Uy kinh ngạc. “Không thể nào!”

“Chắc chắn là giày của Công Tôn huynh. Đây là chiếc bên trái, đã đi nhiều tháng, gót mòn đến lộ đế, chỗ ngón chân cái bị thủng một lỗ nhỏ, đại nhân xem có đúng không?”

Chu Uy lật giày lại xem, quả nhiên giống hệt như mô tả.

Chu Uy chau tít đôi mày, suy nghĩ một lát, rồi quyết đoán: “Bạch ngự sử, đi bắt Công Tôn Diễn!”

“Đại nhân!” Bạch Hổ vội nói. “Việc này có nhiều uẩn khúc, chắc hẳn có người vu oan hãm hại!”

Than ôi! Chu Uy khẽ thở dài. “Ta cũng biết là có người hãm hại. Nhưng chiếc giày này là vật chứng duy nhất, hiện giờ Công Tôn Diễn cũng là nghi phạm duy nhất. Hơn nữa, cho dù là người nào hãm hại, thì chân tướng cũng vẫn sẽ là chân tướng.”

“Hạ quan tuân lệnh!”

Bạch Hổ dẫn theo binh lính, vội vã chạy đến nhà Công Tôn Diễn. Đi được một lúc, Bạch Hổ dừng chân, căn dặn mọi người: “Công Tôn Diễn võ công cao cường, ám khí lợi hại. Bây giờ mọi người hãy cùng ta trở về phủ, lấy khiên, cung tên, sau đó hãy đi bắt người!”

Binh lính cùng vâng dạ, đều quay về phủ tư đồ.

Cùng lúc đó, một cỗ xe ngựa lao như bay đến trước cửa nhà Công Tôn Diễn. Công tử Hoa nhảy vụt xuống xe, không kịp gọi đã đẩy tung cánh cổng lao thẳng vào trong.

Công Tôn Diễn đang luyện kiếm trong sân, thấy có khách không mời lao vào, lập tức thu thế, đưa mắt nhìn chằm chằm vào đối phương.

“Phải chăng là Công Tôn tiên sinh?” Công tử Hoa vừa vái vừa hỏi.

“Chính tại hạ!”

“Tiên sinh, đại hoạ sắp giáng xuống đầu rồi, còn ở đây luyện kiếm?”

“Đại hoạ?” Công Tôn Diễn cười nhạt. “Tại hạ không gây thù chuốc oán với ai, thì gặp đại hoạ gì được?”

“Lầu Miên Hương xảy ra án mạng, quan phủ nghi ngờ do tiên sinh gây ra, đang đến bắt tiên sinh đó!”

Công Tôn Diễn kinh ngạc: “Ngươi là ai?”

“Tại hạ là bạn của Mộc Vũ Khuy tiên sinh, phụng mệnh Mộc tiên sinh đến cứu ngài!”

“Mộc tiên sinh?” Công Tôn Diễn đang nghi hoặc, thì một người phi ngựa lao như bay đến, tung mình xuống ngựa, đưa cho Công Tôn Diễn một phong thư rồi lập tức phóng đi ngay.

Công Tôn Diễn mở thư ra đọc, nhận ra chữ của Bạch Hổ: “Lầu Miên Hương xảy ra án mạng, thảm sát bốn mươi hai mạng người. Hiện trường phát hiện một chiếc giày dính máu, điều tra được là giày của Công Tôn huynh. Chu tư đồ biết có người hãm hại, nhưng vẫn lệnh cho tại hạ đến bắt huynh. Sự việc hệ trọng, tại hạ cho rằng Công Tôn huynh mau trốn đi là thượng sách. Không kịp nói rõ, nửa canh giờ sau tại hạ sẽ đến bắt huynh.”

Công Tôn Diễn chết lặng.

“Công Tôn huynh!” Công tử Hoa thúc giục. “Mau đi thôi, chần chừ sẽ không kịp nữa!”

Công Tôn Diễn vẫn không nhúc nhích.

“Công Tôn huynh!” Công tử Hoa lại giục. “Giữa đô thành Đại Ngụy, ngay dưới mắt bệ hạ mà có kẻ dám vào lầu Miên Hương giết người, vu oan giá hoạ cho Công Tôn huynh, hẳn có thế lực hậu thuẫn. Công Tôn huynh dù muốn làm rõ trắng đen, cũng không phải là vào lúc này!”

Công Tôn Diễn lúc này mới định thần lại được, thở dài một tiếng, chạy vội vào nhà, mang theo hai bó sách còn lại đi ra khỏi cổng, nhảy lên xe ngựa của công tử Hoa.

Công tử Hoa ra roi quất ngựa, vội vã lao đi.

Màn tranh giành kịch liệt chức tướng quốc đã khép lại bằng huyết lệ của vô số hương sắc lầu Miên Hương và cuộc bỏ trốn vội vàng của Công Tôn Diễn.

Mấy ngày sau đó, trong chính điện của cung Ngụy thiết đại triều. Vì có chỉ dụ đặc biệt, văn quan võ thần từ trung đại phu trở lên toàn bộ thượng triều, khiến triều đường đông nghẹt như kiến. Thượng đại phu Trần Chẩn dường như đã có dự cảm, hôm nay phục sức chỉnh tề, mặt tươi rói một nụ cười đắc ý. Công tử Ngang cũng rất vui vẻ, mặc dù đã bị tước mất binh quyền, nhưng vẫn mặc giáp trụ, uy phong lẫm liệt đứng đầu chư tướng.

Ngụy Huệ Vương vẫn ngồi uy nghiêm trên ngai vàng giống như những buổi đại triều khác, mặt không cảm xúc. Đối lập với đó, thái tử Thân lộ rõ vẻ đau buồn. Có lẽ là do Thiên Hương cô nương vô cớ chết thảm, nên thái tử tự dằn vặt mình, bởi lúc trước Huệ Thi đã cảnh báo, nhưng thái tử không chịu nghe, dẫn tới phát sinh thảm án! Cũng có lẽ do phụ vương sớm tối nhắc đến chuyện Thiên Hương cô nương trước mặt thái tử, nghiêm khắc trách mắng. Hoặc cũng có lẽ là cả hai, nên sau khi thượng điện, lúc nào cũng mặt ủ mày chau, hai mắt vô thần luôn nhìn xuống đất.

Việc lớn đầu tiên mà đại triều xử lý chính là vụ án mạng trong lầu Miên Hương. Chu Uy bước lên một bước, bẩm tấu lại một lượt toàn bộ tình tiết vụ án, cuối cùng nói: “Tại hiện trường nhặt được một chiếc giày dính máu, qua điều tra, phát hiện đó là giày chân trái của Công Tôn Diễn. Vi thần đã phái người đến bắt, nhưng Công Tôn Diễn đã bỏ trốn, vi thần đang điều đại binh tìm kiếm khắp nơi!”

Chu Uy bẩm tấu xong, toàn bộ chính điện lặng im phăng phắc, không khí hết sức nặng nề.

Ngụy Huệ Vương từ tốn hỏi: “Còn gì nữa không?”

“Vi thần cho rằng, án này có nhiều điểm khả nghi, vi thần ngờ rằng, hoặc giả có người rắp tâm hãm hại, vu oan giá hoạ.”

“Có điểm gì đáng nghi?”

“Theo vi thần được biết, Công Tôn Diễn hành sự ngay thẳng, trước nay không hề qua lại với kỹ viện, càng không có thù oán gì với lầu Miên Hương, nên không hề có động cơ giết người, đó là thứ nhất. Chiếc giày nhặt được ở hiện trường là của nghi phạm, nhưng đế giày lại không dính bùn đất, không giống như giày người ta đang đi. Ngoài ra, sau khi tra xét, thấy chiếc giày còn lại của nghi phạm vẫn nằm trong phủ Công Tôn Diễn, không có dấu vết được đi gần đây. Vi thần cho rằng, nghi phạm không thể nào đi một chiếc giày để hành hung được!”

“Đã không hành hung, vậy tại sao phải bỏ trốn?”

Chu Uy bị hỏi khó, lắp bắp nói: “Điều này... vi thần cũng không rõ!”

“Chu ái khanh, quả nhân biết khanh có qua lại thân thiết với nghi phạm, liệu có ý thiên vị chăng?”

Chu Uy quỳ xuống, khấu đầu: “Bệ hạ...”

“Được rồi!” Ngụy Huệ Vương xua tay. “Chu ái khanh, quả nhân còn không hiểu khanh hay sao? Bình thân, án này khanh không cần điều tra nữa! Trần ái khanh...”

Trần Chẩn bước lên trước: “Có vi thần!”

“Vụ án mạng ở lầu Miên Hương sẽ do khanh tiếp quản điều tra. Bất kể liên quan đến ai, hễ điều tra ra, đều nghiêm khắc trừng trị!”

Trần Chẩn nói lớn: “Vi thần tuân chỉ!”

Ngụy Huệ Vương liếc nhìn quần thần, chậm rãi nói: “Các vị ái khanh, việc này coi như mở đầu cho buổi đại triều hôm nay. Bây giờ quả nhân sẽ thông báo hai việc lớn!”

Triều thần nghe vậy, thảy đều chấn động, đặc biệt là Trần Chẩn, lập tức đứng thẳng người, mắt nhìn chằm chằm vào Huệ Vương.

Ngụy Huệ Vương nói lớn: “Nước không thể lâu ngày không có tướng quốc. Từ sau khi Bạch tướng quốc quy tiên, quả nhân luôn lo lắng chọn người để trao cho trọng trách. Đến nay, quả nhân đã tìm được nhân tài xứng đáng. Việc lớn đầu tiên mà quả nhân muốn tuyên bố, chính là bái tướng quốc.”

Có thể do căng thẳng quá độ, có thể bởi hy vọng quá lớn, nên trong thời khắc quyết định này, cổ họng Trần Chẩn đột nhiên ngứa ngáy, không thể nhịn nổi mà bật ho thành tiếng. Cho dù tiếng ho cực khẽ, nhưng tất cả mọi ánh mắt trong triều đường vẫn đổ dồn cả lại, dường như chức vị tướng quốc mới sắp được chiếu cáo, chính là thượng đại phu Trần Chẩn.

Đúng vào lúc này, Ngụy Huệ Vương quay sang tỳ nhân, chậm rãi nói: “Tuyên Huệ Tử thượng điện!”

Tỳ nhân cao giọng hô: “Bệ hạ có chỉ, tuyên Huệ Tử thượng điện!”

Quần thần đều giật mình kinh ngạc.

Trần Chẩn, công tử Ngang đưa mắt nhìn nhau.

Huệ Tử vẫn ăn mặc theo lối sĩ tử, bước từng bước chậm rãi lên cung điện, đi qua cửa điện, dập đầu bái lạy Huệ Vương: “Huệ Thi người Tống khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương quay sang tỳ nhân: “Tuyên chỉ!”

Tỳ nhân lấy ra một đạo chiếu thư từ trong tay áo, cất giọng sang sảng: “Huệ Thi người Tống nghe chỉ!”

Huệ Thi lại dập đầu: “Huệ Thi kính cẩn nghe chỉ!”

Tỳ nhân tuyên đọc: “Huệ Thi người Tống, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, am hiểu danh thực, thông tỏ thời thế, xứng đáng là bực đại hiền trong thiên hạ. Từ hôm nay, quả nhân bái Huệ Tử làm tướng quốc Đại Ngụy, thống lĩnh văn võ bá quan, xử lý triều chính trong ngoài. Khâm thử!”

Huệ Thi khấu bái: “Huệ Thi lĩnh chỉ!”

Ngụy Huệ Vương liếc nhìn tỳ nhân, tỳ nhân hiểu ý, bèn đặt ngự chỉ xuống, nâng ấn tướng quốc lên, hai tay dâng lên Ngụy Huệ Vương.

Huệ Vương tay cầm đại ấn, nói lớn: “Mời tướng quốc bình thân, nhận ấn!”

Huệ Thi tiếp tục bái lạy, đứng dậy nhận lấy ấn tướng quốc, hai tay nâng ấn, từ từ lùi về chỗ cũ, lại hành đại lễ, rồi đứng dậy bước tới chỗ của Bạch Khuê trước đây.

Một cơn hoa mắt chóng mặt ập tới khiến Trần Chẩn chao đảo mấy cái mới gắng gượng lấy lại được thăng bằng.

Ngụy Huệ Vương liếc xéo Trần Chẩn, giả như không thấy, chậm rãi nói: “Chư vị ái khanh, quả nhân sẽ chiếu cáo việc lớn thứ hai, đó là trong vòng ba tháng, sẽ dời đô đến Đại Lương!”

Dưới chân núi Thuý Sơn, trước mộ Bạch Khuê, Công Tôn Diễn đặt hai bó sách còn lại xuống trước bia mộ, lạy liền ba lạy, khóc mà nói: “Công Tôn Diễn đã phụ sự uỷ thác của tướng quốc, nay đến đây nhận tội!” Nói xong liền châm lửa, đốt cháy hai bó thẻ tre.

Nhìn đống thẻ tre cháy bùng bùng, Công Tôn Diễn lại lạy mấy lạy, nghẹn ngào nói: “Tướng quốc đại nhân, không phải Diễn không báo đáp Ngụy, mà Ngụy đã phụ Diễn!”

“Công Tôn huynh!” Công tử Hoa bước lên một bước. “Nơi này không nên ở lâu, chúng ta hãy đi nhanh là hơn!”

“Than ôi!” Công Tôn Diễn thở dài não nề. “Không giấu ân công, tại hạ đã chẳng còn nơi nào để đi nữa!”

“Công Tôn huynh!” Công tử Hoa nói. “Mộc huynh có vài mối làm ăn ở Hàm Dương, đã để lại thư cho Tiểu Hoa, dặn Tiểu Hoa hãy đến thành Hàm Dương. Nếu Công Tôn huynh không có nơi nào để đi, vậy hãy cùng Tiểu Hoa đến Hàm Dương, sau đó ai đi đường nấy, huynh thấy thế nào?”

“Tại hạ là người bị truy nã, e rằng sẽ làm liên luỵ đến ân công và Mộc huynh.”

“Lời này sai rồi! Mộc huynh không phải hạng trọng lợi khinh nghĩa, Tiểu Hoa cũng chẳng phải phường tham sống sợ chết, Công Tôn huynh nói đến liên luỵ, há chẳng phải hơi quá lời?”

“Ân công và Mộc huynh liều mạng cứu giúp, bảo Công Tôn Diễn phải báo đáp thế nào đây?”

“Công Tôn huynh có thể coi hai chúng tôi là bạn, đã là báo đáp lớn rồi!”

Công Tôn Diễn nhìn bia mộ Bạch Khuê lần cuối, sau đó cùng công tử Hoa đi thẳng xuống núi, không ngoái đầu lại.

Hai người bỏ lại xe ngựa, mỗi người cưỡi một con chiến mã, dưới sự bảo vệ của hai kẻ áo đen, nhanh chóng chạy sang nước Hàn. Họ đi qua Thượng Đảng, rồi vòng về Thiếu Lương Hà Tây, chẳng bao lâu đã tới Hàm Dương.

So với mấy tháng trước, quanh cung Hàm Dương đã thay đổi rất nhiều. Ở bên phải cổng chính của cung thành, vốn dĩ là con phố dịch quán của liệt quốc, đã được sửa thành phố Sĩ Tử theo chiếu dụ của Huệ Văn Công, quán trọ, dịch quán mọc lên như nấm sau mưa.

Công tử Hoa dừng lại trước một quán trọ sang trọng, chỉ vào con phố Sĩ Tử, nói với Công Tôn Diễn: “Công Tôn huynh hãy xem, Tần Công mới lên ngôi, đã chiêu hiền nạp sĩ khắp liệt quốc, nên mới đặt tên phố này là phố Sĩ Tử, chuyên dùng để tiếp đãi các sĩ tử từ liệt quốc đến Tần. Các sĩ tử nghe tiếng tìm đến nhiều vô số kể, nhiều thì một ngày có đến mấy chục, ở chật cả con phố. Chúa thượng sắp đặt quan viên sát hạch, lựa theo tài năng mà dùng.”

“Vậy ư?” Công Tôn Diễn thật lòng khen ngợi. “Xem ra hoài bão của Tần Công chẳng hề thua kém tiên công!”

“Đương nhiên rồi!” Công tử Hoa cười nói. “Nước trên sông cả, sóng sau đè sóng trước, quân chủ nước Tần, đời sau hơn đời trước!” Rồi chỉ vào quán trọ. “Đây là quán trọ do bằng hữu của Mộc tiên sinh mở, Mộc tiên sinh đã gửi thư đến trước, Công Tôn huynh hãy tạm nghỉ chân nơi này!”

“Đa tạ Mộc tiên sinh, tại hạ lạ người lạ đất, cung kính chẳng bằng tuân lệnh.”

Nghe tiếng ngựa hí, tiểu nhị vội vàng chạy ra, thấy là công tử Hoa liền quay đầu gọi: “Chưởng quầy, đại công tử đến rồi!”

Giả Xá Nhân từ bên trong đi ra, vòng tay trước công tử Hoa nói: “Xá Nhân xin chào công tử!”

“Giả tiên sinh!” Công tử Hoa chỉ vào Công Tôn Diễn nói. “Vị này chính là Công Tôn tiên sinh, bạn của Mộc tiên sinh, muốn dừng chân ở đây mấy hôm, tiền phòng sẽ trả một lần.”

Giả Xá Nhân liếc nhìn Công Tôn Diễn, vòng tay vái chào: “Tại hạ Giả Xá Nhân xin chào Công Tôn tiên sinh!”

Công Tôn Diễn vòng tay đáp lễ: “Tại hạ Công Tôn Diễn xin chào Giả tiên sinh!”

“Công Tôn tiên sinh, mời!”

Sắp xếp xong xuôi, công tử Hoa vòng tay nói với Công Tôn Diễn: “Công Tôn huynh, đi ngựa đường xa, chắc tiên sinh cũng đã mệt rồi, hãy nghỉ ngơi trước! Tiểu Hoa còn chút việc phải làm, đi một lát sẽ về!”

“Ân công xin cứ tự nhiên.”

Lúc trời gần tối, công tử Hoa quay trở lại quán trọ, gõ cửa phòng Công Tôn Diễn: “Công Tôn tiên sinh, Mộc tiên sinh đến thăm ngài đây!”

“Ồ!” Công Tôn Diễn ngạc nhiên. “Mộc tiên sinh... hiện ở đâu?”

“Ở ngay nhã phòng phía trước, đang cung kính đợi Công Tôn huynh!”

Công Tôn Diễn đi theo công tử Hoa vòng qua hai dãy nhà, nhìn thấy một khu phòng còn hoa lệ hơn nữa, Sư Lý Tật đang đứng đợi sẵn trước cửa.

Từ xa nhìn thấy, Sư Lý Tật đã vội bước ra vái chào: “Công Tôn huynh!”

Công Tôn Diễn dừng bước đáp lễ: “Mộc huynh!”

“Được biết Công Tôn huynh đã trở về an toàn, tại hạ cũng thấy yên tâm!”

“Lần này gặp nạn, may nhờ Mộc huynh liều mạng cứu giúp, tại hạ cảm kích vô cùng.”

“Công Tôn huynh quá lời rồi, tại hạ thực không dám nhận, vì người thực sự cứu Công Tôn huynh không phải tại hạ, mà là đại ông chủ của tại hạ!”

“Vậy ư?” Công Tôn Diễn kinh ngạc. “Dám hỏi Mộc tiên sinh, ông chủ hiện đang ở đâu?”

“Nghe nói Công Tôn huynh đến, ông chủ đã đích thân đến đây bày tiệc tẩy trần, đang chờ trong sảnh!” Sư Lý Tật chìa tay mời. “Công Tôn huynh, mời!”

Công Tôn Diễn đi theo Sư Lý Tật đến phòng khách, quả nhiên thấy có hai người đang ngồi trong phòng, phục sức rất lịch thiệp nho nhã, không hề có dáng vẻ thương gia.

Vừa thấy Công Tôn Diễn đi đến, hai người liền đứng cả dậy.

Sư Lý Tật bái lạy, nói: “Ông chủ, Công Tôn tiên sinh đã đến!”

Công Tôn Diễn vòng tay vái chào: “Công Tôn Diễn xin chào ông chủ!”

Ông chủ này, chẳng phải ai khác, chính là Huệ Văn Công. Huệ Văn Công quan sát Công Tôn Diễn một lượt từ đầu đến chân, rồi vòng tay đáp lễ: “Đã nghe đại danh của tiên sinh từ lâu, hôm nay mới được gặp mặt, quả là nhân tài anh tuấn!” Rồi chỉ vào Trúc Viễn. “Xin giới thiệu, vị này là Trúc tiên sinh, đây mới là ông chủ của quán trọ này.”

Công Tôn Diễn vòng tay vái chào: “Công Tôn Diễn xin chào Trúc tiên sinh!”

Trúc Viễn đáp lễ: “Tại hạ xin chào Công Tôn tiên sinh!” Rồi chỉ tay xuống chiếu. “Công Tôn tiên sinh, mời ngồi!”

Mọi người lần lượt ngồi xuống chiếu. Trúc Viễn vỗ tay, Giả Xá Nhân bèn lệnh cho người hầu mang rượu và thức ăn lên, bày đầy các bàn.

Huệ Văn Công đích thân rót rượu, hai tay đưa mời Công Tôn Diễn, xong lại rót đầy chén của mình, rồi bảo tất cả mọi người cùng nâng lên: “Hoan nghênh Công Tôn tiên sinh đã đến nước Tần! Ta xin mượn một chén rượu của Trúc tiên sinh, để tẩy trần cho Công Tôn tiên sinh!”

Công Tôn Diễn nâng chén, nói: “Đa tạ ông chủ!”

Mấy người cùng nâng chén, rồi cùng uống cạn.

Huệ Văn Công đặt chén không xuống, đưa mắt nhìn Công Tôn Diễn: “Xin hỏi Công Tôn tiên sinh, lần này đến nước Tần, có dự tính gì chăng?”

“Hồi bẩm ông chủ,” Công Tôn Diễn vòng tay nói, “tại hạ đã là người phiêu bạt, giờ chỉ mong kiếm đủ cơm ăn!”

“Nếu nói như vậy,” Huệ Văn Công khẽ gật đầu, “ta có một mối kinh doanh, nếu tiên sinh không chê, có thể cùng lập nghiệp, tiên sinh thấy thế nào?”

“Dám hỏi ông chủ, kinh doanh việc gì?”

Huệ Văn Công nhìn Trúc Viễn, thấy Trúc Viễn gật đầu, liền nói rành rọt từng chữ: “Việc thiên hạ!”

Công Tôn Diễn vốn đã ngờ vực về thân phận thực sự của Mộc tiên sinh, công tử Hoa. Lần này đến nước Tần, trên đường đi lại càng thấy nghi vấn trùng trùng. Chỉ có điều sự việc đột ngột, bản thân cũng chẳng có đường lui, nên đành phải nhắm mắt đưa chân, phó mặc cho số phận. Lần này gặp được ông chủ, lại nghe ông ta nói vậy, Công Tôn Diễn đã đoán được nội tình, đưa mắt quan sát Huệ Văn Công kỹ lưỡng, lại nhìn kỹ Sư Lý Tật, công tử Hoa, Trúc Viễn, càng thêm khẳng định, lúc này không còn ngờ vực gì thêm, lập tức đứng dậy dập đầu bái lạy: “Thảo dân Công Tôn Diễn có mắt như mù, không biết chúa thượng giá lâm, xin chúa thượng thứ tội!”

“Ái khanh hãy bình thân!” Huệ Văn Công đứng lên, đỡ Công Tôn Diễn dậy. “Quả nhân đã tưởng nhớ đến ái khanh từ lâu, mong mỏi bao ngày, cuối cùng hôm nay cũng đã được gặp mặt, khiến quả nhân vui mừng khôn xiết! Quả nhân kính ái khanh một chén!”

Công Tôn Diễn hai tay nâng chén, nước mắt đầm đìa: “Công Tôn Diễn có tài đức gì mà được chúa thượng hậu ái đến vậy?”

Huệ Văn Công cười sảng khoái: “Quả nhân là người tham tài bậc nhất trong thiên hạ, tiên sinh là chí bảo của thiên hạ, quả nhân sao có thể thấy bảo vật mà không yêu?”

Nhớ lại hồi ở Ngụy, Công Tôn Diễn bất giác cảm thán: “Chỉ trong vài ngày, Công Tôn Diễn từ Ngụy sang Tần, khác nào từ cõi chết sang cõi sống. Đúng là hai vị quân chủ, hai bầu trời khác!”

“Công Tôn ái khanh,” Huệ Văn Công mỉm cười, “quả nhân đảm bảo với khanh, bầu trời này của quả nhân sẽ để ái khanh được sải cánh tung bay.”

Mười ngày sau, trong buổi đại triều của cung Tần, Huệ Văn Công ban chiếu, bái Công Tôn Diễn làm đại lương tạo thay cho Công Tôn Ưởng, cai quản toàn bộ văn võ bá quan.

Liệt quốc thảy đều chấn động.

Tần, Ngụy hai nước biến động kịch liệt, kịch hay màn màn nối tiếp, khiến tứ tử trong Quỷ Cốc nhìn mà trợn mắt há miệng.

Tất cả mọi tin tức đều được truyền đến từ cửa Túc Tư. Do trong núi không có muối, và cũng cần tiếp thêm các nhu yếu phẩm cần thiết hàng ngày như gạo, mì, dầu, vải, nên bốn đệ tử trong Quỷ Cốc cứ cách một vài tháng lại xuống núi một lần, trước tiên vượt Kỳ Thuỷ, sau lại vượt Hà Thuỷ đến cửa Túc Tư mua sắm. Từ núi Vân Mộng đến cửa Túc Tư khoảng trăm dặm, phải băng qua đoạn đường núi khá dài, vì vậy họ thường phải xuất phát từ sáng sớm, đến chiều mới tới nơi, buổi tối nghỉ lại cửa Túc Tư, trưa hôm sau lên đường trở về, sẩm tối mới về đến cốc.

Do cuộc sống trong núi tẻ nhạt vô vị, nên được đến cửa Túc Tư mua bán quả là một cơ hội tốt đẹp, vì vậy Bàng Quyên, Trương Nghi lần nào cũng tranh nhau đi. Đặc biệt là Trương Nghi vốn ham rượu, rượu trữ trong núi lại không nhiều, không gặp dịp quan trọng thì không được uống, vì vậy chỉ có xuống núi mới được uống thoả thích. Tuy nhiên, cho dù hai người tranh giành thế nào, tiểu đồng thân làm đại sư huynh luôn sắp xếp rất công bằng, dù Tô Tần, Tôn Tân không tranh giành, nhưng cơ hội cũng vẫn như nhau.

Hôm nay đến lượt Bàng Quyên và Tôn Tân xuống núi. Bàng Quyên liệt kê những đồ vật cần thiết rồi nhét vào tay áo, trời vừa sáng đã cùng Tôn Tân nhanh chóng lên đường.

Trên đường đi, Bàng Quyên không giống mọi ngày, không nói một lời, cứ thế lầm lũi mà đi. Tôn Tân vốn đã ít nói, lúc này đi sau vài bước chân, cũng chỉ lặng lẽ bám theo. Vượt qua Kỳ Thuỷ, đến một ngã ba, một đường đến bến đò, một đường đi Triều Ca. Bàng Quyên chẳng buồn ngẩng đầu, cứ thế đi thẳng về phía Triều Ca.

Tôn Tân ngạc nhiên dừng bước, thấy Bàng Quyên cứ đi phăm phăm, Tôn Tân cuống lên, gọi lớn: “Hiền đệ, đi đâu vậy?”

Bàng Quyên nghe thấy tiếng gọi, ngoảnh đầu lại nhìn, lúc này mới phát hiện mình đi nhầm đường, vội vàng quay lại, vừa đi vừa ngượng nghịu dang hai tay với Tôn Tân, lắc đầu cười nhăn nhó, như đã biết sai.

Tôn Tân cười nói: “Nhìn dáng vẻ của hiền đệ, hẳn là đang có tâm sự.”

Bàng Quyên thở dài: “Than ôi!”

“Hiền đệ có tâm sự gì, có thể nói cho huynh biết được chăng?”

“Đi thôi, việc này không nên nói ra là hơn!” Bàng Quyên lại cúi đầu lầm lũi bước đi.

Tôn Tân thấy hắn không chịu nói, nên cũng không miễn cưỡng, lại lặng lẽ đi theo sau.

Đi thêm một đoạn, lại là Bàng Quyên không nhịn nổi nữa, bèn đứng khựng lại, quay đầu nhìn Tôn Tân: “Tôn huynh, sáng sớm nay khi huynh gọi đệ, đệ đang nằm mơ thấy một người.”

“Mơ thấy người nào?”

“Than ôi!” Bàng Quyên khẽ thở dài. “Một người không nên mơ thấy.”

Tôn Tân cười nói: “Mơ mộng luôn trái ngược, có gì nên với không nên?”

“Tôn huynh có điều không biết, đúng là đệ rất không nên mơ thấy người đó.”

“Mau nói đi, là ai? Từ lúc nào hiền đệ lại học được cái kiểu nói năng lấp lửng như vậy?”

“Nếu đệ nói ra, Tôn huynh không được cười đệ!”

Tôn Tân phì cười: “Rốt cuộc là người nào mà khiến hiền đệ trở nên bí hiểm đến vậy?”

“Sư tỷ!”

Tôn Tân thoáng ngẩn người, rồi cười lớn mà nói: “Việc này thì có gì lạ? Hai hôm trước ta cũng mơ thấy sư tỷ, trong mơ sư tỷ dạy ta châm cứu, sư tỷ chìa tay ra, bảo ta châm kim lên đó, nhưng ta đâu có dám...”

Bàng Quyên không muốn nghe tiếp, ngắt lời mà nói: “Đấy là giấc mơ bình thường, chẳng có gì lạ, còn giấc mơ của đệ...

“Ồ? Hiền đệ mơ như thế nào?”

“Than ôi,” Bàng Quyên thở dài, “vô cùng dơ dáy!”

“Hiền đệ!” Tôn Tân vẻ đã hiểu ra, gật đầu cười mà nói. “Điều này cũng chẳng có gì đáng trách. Đệ ở trong mộng và đệ lúc tỉnh táo là hai người hoàn toàn khác nhau, không thể đánh đồng làm một!”

“Tôn huynh có điều không biết,” Bàng Quyên lắc đầu, “đối với người khác, có thể là hai chuyện khác nhau, nhưng đối với đệ, lại là một chuyện.”

“Nói như vậy, lẽ nào hiền đệ đã đem lòng yêu sư tỷ?”

Bàng Quyên trịnh trọng gật đầu.

Thì ra, từ hôm sinh nhật Ngọc Thiền, thân thể ngà ngọc của Ngọc Thiền đã in sâu trong tâm khảm Bàng Quyên, mấy ngày gần đây lại càng thêm ám ảnh, khiến Bàng Quyên bứt rứt đến khổ sở vô cùng.

“Hiền đệ!” Tôn Tân khẽ gật đầu. “Nói thực lòng, sư tỷ quả thật rất khả ái, đừng nói là đệ, mà tất cả đàn ông trên cõi đời này không ai là không thấy rung động.”

“Tôn huynh nói rất đúng!” Bàng Quyên càng nói càng xúc động. “Nhưng đệ... huynh cũng biết đấy, đúng là đệ... không nên... không nên yêu nàng, đệ... ôi, đệ... đệ... thực đốn mạt!” Nói đoạn, quỳ sụp xuống đất, vung quyền đấm thùm thụp vào đầu mình.

“Sư đệ đừng nghĩ vậy! Người ta sống ở trên đời, có thể yêu, cũng có thể hận, yêu thích là cảm xúc bình thường của con người, không thể nói là đốn mạt!”

“Tôn huynh có điều không biết,” Bàng Quyên vội nói, đệ... đệ đích xác là kẻ đốn mạt!” Rồi lại vung quyền toan đấm vào đầu, nhưng bị Tôn Tân ngăn lại.

“Hiền đệ,” Tôn Tân khuyên giải, “ta hiểu tâm trạng của đệ. Nếu hiền đệ thực lòng yêu sư tỷ, thì hiền đệ hãy thú thực với sư tỷ. Nếu hiền đệ không tiện nói ra, khi có cơ hội, ta sẽ nói giúp đệ. Có đồng ý hay không là ở sư tỷ, còn việc thích sư tỷ, yêu sư tỷ, lại là chuyện của hiền đệ, đệ thấy có đúng không?”

“Không! Không!” Bàng Quyên vội xua tay rối rít. “Tôn huynh, huynh... huynh hiểu lầm đệ rồi!”

“Hiểu lầm?” Tôn Tân ngạc nhiên.

“Không giấu Tôn huynh,” Bàng Quyên bắt đầu kích động, “đệ tâm cao khí ngạo, một lòng muốn làm đại sự, lập nên đại nghiệp kinh thiên động địa. Cũng là có cơ duyên nên đệ mới gặp được Tôn huynh, cùng vào Quỷ Cốc, được bái tiên sinh làm thầy. Thế nhưng... nhưng đệ đang làm những gì thế này? Than ôi, sư tỷ chế giễu đệ, chế giễu hay lắm. Nghĩ đến sư tỷ, một lòng hướng đạo, vì đạo mà sẵn sàng vứt bỏ tất cả, còn Bàng Quyên đệ... Than ôi, chỉ cần nghĩ đến những lời sư tỷ đã nói vào tối hôm đó, đệ lại cảm thấy... mình thật đốn mạt!” Rồi lại vung tay đấm vào đầu bình bịch.

Những lời bộc bạch và hoài bão to lớn của Bàng Quyên khiến Tôn Tân cảm động: “Hiền đệ...”

“Không giấu Tôn huynh, đệ đã suy nghĩ suốt dọc đường, cho đến lúc nãy, coi như đã hạ quyết tâm!” Bàng Quyên nói đoạn, sụp gối quỳ luôn xuống đất, ngửa mặt lên trời mà thề. “Trời xanh ở trên, Bàng Quyên xin thề, từ ngày hôm nay, Bàng Quyên nhất quyết đoạn tuyệt tư tình, chuyên tâm học nghiệp, nếu trái lời thề, sẽ như...” hai mắt liếc quanh, thấy bên cạnh có một gốc cây nhỏ, liền rút bảo kiếm, vụt một tiếng chém ngang thân cây, “... sẽ như gốc cây này!”

Kể cũng lạ, sau khi thề xong, Bàng Quyên bỗng thấy nhẹ nhõm lạ lùng, lập tức đứng thẳng dậy, rảo bước vùn vụt về phía bến đò, dọc đường nói nói cười cười, không còn bộ dạng ủ ê lầm lũi như lúc mới lên đường nữa.

Gần đến giờ Thân, hai người đã lên được đò, đi tới cửa Túc Tư. Bàng Quyên mua đủ những thứ cần thiết, bèn kéo Tôn Tân đi tìm quán trọ, sắp xếp xong chỗ nghỉ đêm, thấy trời vẫn còn sáng, liền gọi chủ quán thái ít thịt bò, thêm vài món ăn, một hũ rượu, đặt hết thức ăn vào trong giỏ, bảo Tôn Tân xách, còn mình ôm theo hũ rượu, cười mà nói với Tôn Tân: “Chỗ này uống rượu thực chẳng thú vị gì, đệ sẽ dẫn huynh tới một nơi!” Nói đoạn, liền đi trước dẫn đường.

Tôn Tân đi theo Bàng Quyên, lát sau đã đến bờ sông. Hai người đi dọc con đê một lúc, thì gặp một gốc cổ thụ.

“Là chỗ này!” Bàng Quyên chỉ tay vào gốc cây, nói.

Hai người ngồi xuống dưới gốc cây, bày thức ăn và rượu ra. Bàng Quyên rót đầy hai chén, bưng lên đưa cho Tôn Tân, lại nâng chén của mình lên, nói: “Tôn huynh, uống rượu ở nơi này thế nào?”

“Hay lắm, hay lắm!” Tôn Tân khen ngợi. “Hiền đệ chọn được chỗ này uống rượu, thật sảng khoái!”

“Không chỉ sảng khoái đâu, đệ chọn nơi này là còn có ý khác.”

“Hiền đệ cứ nói!”

Bàng Quyên chỉ vào gốc cổ thụ: “Tôn huynh có biết, cây này là do ai trồng không?”

Tôn Tân lắc đầu.

“Đại tướng quân Ngô Khởi!”

“Ồ!” Tôn Tân ngẩng nhìn lên tán cây, gật đầu nói. “Nghe nói năm xưa khi hai nước Triệu Ngụy tranh đoạt bến đò này, Ngô Khởi đã từng đến đây.”

“Đâu chỉ có từng đến đây? Ngụy, Triệu giao tranh ở đây nhiều năm, cửa Túc Tư mấy lần đổi chủ, chẳng ai chiếm được thế thượng phong. Ngụy Hầu sốt ruột, đã phái Ngô Khởi xuất chinh. Ngô Khởi chỉ mang theo hai ngàn binh mã, còn chưa kịp đến nơi thì người Triệu đã nghe tiếng mà tháo chạy. Ngô Khởi không đánh mà chiếm được cửa Túc Tư, thấy phong cảnh nơi này tuyệt đẹp, nên đã trồng cây bên bờ để kỷ niệm. Sau này, người dân nơi đây liền gọi cây này là cây Ngô Khởi.”

“Tại sao hiền đệ lại biết được những chuyện này?”

“Lần trước đệ đi tìm thúc phụ, trên đường đã nghe kể. Tôn huynh, hai ta hãy cạn chén vì Ngô Khởi tướng quân!”

Hai người cùng nâng chén, ngửa cổ đón gió, một hơi uống cạn, cảm thấy sảng khoái tận tâm can.

Hai người uống được một chặp, trời đã tối mịt, ánh trăng vằng vặc chiếu xuống mênh mang, mặt sông lấp loáng ánh bạc, cảnh tượng vô cùng tráng lệ.

Bàng Quyên hào tình trỗi dậy, phóng mắt nhìn dòng nước Hà Thuỷ bao la mà nói: “Xin hỏi Tôn huynh, thiên hạ ngày nay, huynh phục ai nhất?”

Tôn Tân trả lời ngay không chút đắn đo: “Tiên sinh!”

“Đây là điều đương nhiên!” Bàng Quyên cười nói. “Đừng nói là huynh, đệ cũng phục. Nhưng ý đệ là ngoài tiên sinh ra, huynh phục ai nhất?”

“Thế thì nhiều lắm, ví như Tuỳ Sào Tử tiền bối...”

“Đệ không hỏi cái này!” Bàng Quyên xua tay ngắt lời. “Đệ hỏi là trong những vị tướng quân điều binh đánh trận, huynh phục những ai?”

Tôn Tân ngẫm nghĩ một lát, rồi gập ngón tay liệt kê: “Điền Kỵ nước Tề, Công Tôn Ưởng nước Tần, Chiêu Dương và Khuất Cái nước Sở, Long Giả nước Ngụy, Phụng Dương Quân nước Triệu, Tử Chi nước Yên, Thân Bất Hại nước Hàn...”

“Tôn huynh ơi!” Bàng Quyên phá lên cười lớn. “Những người mà huynh vừa kể, chẳng có ai khiến đệ phục cả. Huynh thử nói xem, những người này đã lập được chiến tích nào đáng kể?”

“Ồ...” Tôn Tân ngần ngừ một lát. “Trong cuộc đại chiến Hà Tây, Công Tôn Ưởng lấy yếu thắng mạnh, một lần ra quân đánh bại hai mươi vạn võ binh nước Ngụy, như vậy có được coi là chiến tích chăng?”

“Ha ha ha!” Bàng Quyên lại cười lớn. “Đối đầu với một kẻ bị thịt như công tử Ngang, đừng nói là Công Tôn Ưởng, ngay cả hạng Chiêu Dương, Khuất Vũ, Long Giả, Điền Kỵ cũng có thể thủ thắng.”

“Nếu nói như vậy,” Tôn Tân gãi gãi đầu, “ta cũng không biết. Xin hỏi hiền đệ phục ai?”

Bàng Quyên lại uống cạn một chén rượu, mắt nhìn vào ánh trăng bàng bạc trên sông, chậm rãi nói: “Thiên hạ ngày nay, đệ vẫn chưa thể tìm ra một người đáng phục. Nếu như tính cả trước đây, đệ chỉ phục duy nhất một người, đó chính là người đã trồng cái cây này, tướng quân Ngô Khởi.”

“Đương nhiên rồi!” Tôn Tân cười nói. “Ngô Khởi tướng quân uy chấn thiên hạ, có ai không phục!”

“Nghe nói tổ tiên của Tôn huynh là Tôn Vũ Tử được tôn xưng là binh gia đệ nhất thiên hạ, Tôn huynh có ấn tượng gì không?”

“Nghe ông nội của huynh nói, tiên tổ dụng binh giỏi ở chỗ lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, dùng mấy vạn quân Ngô đánh bại quân Sở hùng mạnh, giết hàng chục vạn quân địch, khiến ta nghe mà bội phục. Còn về việc tiên tổ có phải binh gia đệ nhất thiên hạ hay không, ta không dám nói bừa.”

“Đệ có một suy nghĩ, Tôn huynh thử nói xem, nếu tiên tổ Tôn Vũ Tử của Tôn huynh và Ngô Khởi tướng quân đối trận với nhau, không biết ai sẽ chiến thắng?”

Tôn Tân ngẩn ra một thoáng, rồi cười nói: “Đấy là việc không thể xảy ra.”

“Giả định đó là sự thật thì sao?”

Tôn Tân suy nghĩ một lúc: “Tiên tổ sẽ thắng!”

Bàng Quyên phá lên cười: “Thì ra Tôn huynh cũng biết thiên vị đấy. Được, Tôn Vũ Tử là tiên tổ của Tôn huynh, Tôn huynh nói vậy đương nhiên cũng hợp tình hợp lý.”

“Không phải huynh thiên vị!” Tôn Tân giải thích. “Cho dù Tôn Vũ Tử không phải tiên tổ, huynh cũng sẽ nói như vậy.”

“Ồ? Tại sao Tôn huynh lại khẳng định như vậy?”

“Tiên tổ dụng binh một đời, chưa từng thất bại.”

Bàng Quyên lại cười lớn một tràng: “Đệ còn cho rằng có nguyên nhân nào khác, té ra là như vậy. Nếu luận theo thắng bại, Ngô tướng quân không hề thua kém tiên tổ của Tôn huynh. Theo đệ được biết, Ngô Khởi ở Ngụy thì Ngụy mạnh, ở Sở thì Sở mạnh. Khi ở Ngụy, đại chiến tổng cộng bảy mươi sáu trận, toàn thắng sáu mươi tư trận, hoà mười hai trận, không bại trận nào. Tây phục Tần, bắc dẹp Triệu, đông quét Tề, nam chế Sở, mở rộng đất đai ngàn dặm. Sau khi đến Sở, lại càng đánh đông dẹp tây, mở rộng lãnh thổ nghìn dặm!”

“Cho dù không bại trận nào, cũng không thể so sánh được!”

“Tại sao lại không thể so sánh?”

“Tiên tổ có một cuốn binh thư đệ nhất thiên hạ, nhưng chưa từng nghe Ngô Khởi tướng quân có trước tác nào.”

Bàng Quyên nhớ lại Quỷ Cốc Tử từng nói về cuốn binh thư của Tôn Vũ Tử, nhất thời không còn lời nào đối đáp.

Tôn Tân nâng chén rượu lên, cười nói: “Ai hơn ai kém, ai thắng ai bại, đều chẳng phải là sự thực, hiền đệ bất tất phải cần để bụng. Nào, chúng ta hãy cùng uống hết chỗ rượu này!”

Bàng Quyên chậm rãi nâng chén, hai mắt nhìn xuống mặt nước mênh mang, như có điều gì nghĩ ngợi.

Sau khi trở về Quỷ Cốc, trong lòng Bàng Quyên đã có thêm một tâm sự, bèn tìm kiếm khắp trong động sách của Quỷ Cốc Tử, cắm cúi suốt mấy ngày trời, quả nhiên không tìm thấy bất cứ cuốn sách nào của Ngô Khởi.

Vào một buổi trưa, Bàng Quyên đang suy nghĩ về chuyện này thì thấy Quỷ Cốc Tử bước tới.

Bàng Quyên lập tức đứng dậy, dập đầu sát đất: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

“Bàng Quyên!” Quỷ Cốc Tử ngăn lại. “Ta đã từng nói, nếu không có việc lớn thì không cần hành đại lễ. Con đứng dậy đi!”

Nhưng Bàng Quyên không đứng dậy, tiếp tục dập đầu: “Tiên sinh, đệ tử có điều chưa hiểu, muốn được thỉnh cầu tiên sinh.”

Nghe thấy vậy, Quỷ Cốc Tử lập tức khoanh chân ngồi xuống, chậm rãi hỏi: “Nói đi, con có điều gì chưa hiểu?”

Bàng Quyên cũng đổi từ quỳ thành ngồi, rồi ngẩng lên hỏi: “Xin hỏi tiên sinh, Tôn Vũ Tử bản lĩnh ra sao?”

“Là danh tướng thiên cổ!”

“Vậy còn tướng Ngụy Ngô Khởi?”

“Cũng là danh tướng thiên cổ!”

“Đã cùng là danh tướng thiên cổ, vậy nếu để hai người họ đối trận trên chiến trường, ai sẽ thủ thắng?”

Quỷ Cốc Tử đáp ngay không chút do dự: “Tôn Vũ Tử sẽ thắng!”

“Ồ!” Bàng Quyên kinh ngạc. “Tại sao lại như vậy?”

“Điều con muốn hỏi là chuyện này ư?” Dường như Quỷ Cốc Tử không muốn trả lời, toan đứng dậy bỏ đi.

Bàng Quyên vội nói: “Tiên sinh, đệ tử vẫn còn có điều muốn hỏi!

Quỷ Cốc Tử lại ngồi xuống: “Nói đi!”

Bàng Quyên mắt đảo một vòng: “Nghe nói Ngô Khởi tướng quân từng viết một bộ binh thư, có chuyện này chăng?”

“Con nghe ai nói?”

Bàng Quyên ngần ngừ một thoáng: “Khi đệ tử còn ở An Ấp, nghe thấy người ta đồn như vậy.”

Quỷ Cốc Tử gật đầu xác nhận: “Đúng vậy, Ngô Khởi từng viết một cuốn sách, tên gọi ‘Binh pháp Ngô Khởi’.”

Bàng Quyên tiện miệng tìm bừa một lý do, không ngờ lại có được đáp án, khó tránh mừng rỡ pha lẫn thấp thỏm, buột miệng hỏi: “Hay quá! Vậy tiên sinh đã từng nhìn thấy cuốn sách này chưa?”

“Đã thấy!” Quỷ Cốc Tử đáp. “Ngô Khởi sinh thời từng gặp lão hủ một lần, lão hủ may mắn được đọc qua cuốn sách.”

“Nếu đã có sách, vậy tại sao đệ tử tìm mà không thấy?”

“Số phận của cuốn sách này cũng chẳng khác gì cuốn ‘Binh pháp Tôn Tử’. Ngô Khởi đến cuối đời mới viết sách này, sau khi viết xong, Ngô Khởi muốn tặng cho Sở Vương, nhưng Sở Vương đột ngột băng hà. Ngô Khởi lo sợ cuốn sách lọt vào tay kẻ xấu, nên đã tự đốt đi.”

“Đốt rồi ư?” Bàng Quyên cả kinh, vẻ thất vọng lộ rõ trên nét mặt, bàng hoàng hồi lâu mới ngẩng lên hỏi. “Tiên sinh, tại sao tiên sinh biết được Ngô tướng quân đã tự tay đốt đi?”

“Vì khi Ngô Khởi đốt sách, ta đứng ngay bên cạnh!” Lời vừa dứt, Quỷ Cốc Tử đứng ngay dậy, cất bước đi luôn.

Bàng Quyên thoáng sững sờ, rồi lập tức đứng dậy, đuổi theo mấy bước, hỏi lớn: “Tiên sinh, cuốn thánh thư đó quả thực không còn bản nào truyền lại hay sao?”

“Chắc là không!” Quỷ Cốc Tử không buồn quay đầu lại. “Cho dù có, cũng phải là người hữu duyên mới có được!”

Nghe thấy vậy, Bàng Quyên trong lòng chấn động, lập tức dừng bước, rồi quay trở lại, khoanh chân ngồi xuống, khổ sở suy nghĩ.

Bên tai Bàng Quyên lại vang lên lời nói của Quỷ Cốc Tử: “Ngô Khởi sinh thời đã từng gặp lão hủ... Lo sợ cuốn sách lọt vào tay kẻ xấu, nên đã tự đốt đi... Khi Ngô Khởi đốt sách, ta đứng ngay bên cạnh... Chắc là không. Cho dù có, cũng phải là người hữu duyên mói có được.”

“Chắc là không?” Bàng Quyên lẩm bẩm một mình. “Tại sao tiên sinh lại nói ‘chắc là không?’. Ý tại ngôn ngoại của câu này chính là ‘có’. Đúng, chắc chắn sách này vẫn còn, và đang nằm trong tay tiên sinh. Nếu không, câu ‘người hữu duyên’ kia phải giải thích thế nào?”

Bàng Quyên hai mắt sáng rực, toàn thân run rẩy, lập tức đứng dậy, tâm trạng vô cùng kích động, đi đi lại lại trên bãi cỏ, tự nhủ: “Nếu như ta đoán không sai, ‘Binh pháp Ngô Khởi’ đang nằm trong tay tiên sinh. Trong Quỷ Cốc này, tất cả đều là hư giả, chỉ có cái này mới là thật.”

Thế nhưng, phải làm thế nào mới có được món hàng thật này? Bàng Quyên trấn tĩnh trở lại, khoanh chân ngồi xuống, tiếp tục vắt óc suy nghĩ.

Quỷ Cốc Tử có một thói quen, nếu không ngồi thiền trong động thì cứ đến giờ Thân lại dạo bộ dọc theo con suối, đi cùng ông lúc là tiểu đồng, lúc là Ngọc Thiền, có khi chỉ đi một mình. Quỷ Cốc Tử rất đúng giờ, luôn ra khỏi cửa động vào giờ Thân, đi theo con suối khoảng nửa canh giờ thì quay lại, đi thêm nửa canh giờ, đến khi giờ Thân kết thúc cũng là lúc về đến cửa động.

Vào giờ Thân hôm nay, Quỷ Cốc Tử cũng giống như thường lệ, đi dạo theo con đường mòn. Đang đi, chợt nghe thấy có tiếng nói vọng lại từ khu rừng trước mặt: “Thầy nói, thuật do đạo chế ngự, cũng do đạo sử dụng. Đạo là cội gốc, thuật là mũi nhọn. Thầy nói, thuật dụng binh là ở chiến thắng, đạo dụng binh là ở ngừng chiến. Nên người khéo dùng binh, không đánh mà khuất phục được quân địch. Thầy nói, người không đánh mà khuất phục được quân địch, không đấu sức ở chiến trường, mà giỏi mưu lược, giỏi trù tính trong trướng. Kẻ giỏi mưu lược, trù tính trong trướng mà chiến thắng ngoài ngàn dặm, có thể biến can qua thành ngọc lụa, có thể dùng hai lượng phá nghìn cân. Thầy nói, kẻ phục thiên hạ, bắt đầu từ phục bản thân. Thầy nói, suy nghĩ không cốt ở chu toàn, mà cốt ở thận trọng; mưu tính không cốt ở kín kẽ, mà cốt ở âm hiểm; lời nói không cốt ở nhiều, mà cốt ở tinh. Thầy nói, núi không quý ở cao, mà quý ở có tiên; nước không quý ở sâu, mà quý ở có rồng; đọc sách không quý ở nhiều, mà quý ở tinh, quý ở lĩnh ngộ...”

Quỷ Cốc Tử khẽ mỉm cười, rồi đi đến chỗ phát ra tiếng nói, thấy Bàng Quyên tay cầm bó thẻ tre, đang lắc lư người mà đọc ra rả.

Liếc thấy Quỷ Cốc Tử, Bàng Quyên càng đọc to hơn: “Thầy nói, cuốn ‘Đạo đức’ của tiên thánh Lão Đam, ta cả đời không biết đã đọc mấy nghìn vạn lượt, nhưng đến nay vẫn chưa hoàn toàn triệt ngộ. Mới biết mấy chữ, đọc qua vài cuốn sách, có gì đáng khoe? Thầy nói, kẻ tự cho mình hiểu biết lại không hề thông minh, kẻ tự khoe khoang lại không hề có công lao, người ta sống trên đời, sao có thể tự coi mình là thông minh được?”

Quỷ Cốc Tử nghe đến đây, liền quay người bước đi.

Đúng vào lúc Quỷ Cốc Tử chuẩn bị bỏ đi, Bàng Quyên đã đặt sách xuống, dập đầu sát đất: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử đành phải quay người lại, cười hỏi: “Bàng Quyên, những câu con vừa đọc là từ sách nào?”

Bàng Quyên cười ngượng nghịu, nâng bó thẻ tre lên: “Đều là những điều tiên sinh hàng ngày dạy bảo. Đệ tử ngu độn, nên đành phải dùng đến cách này, ghi chép tất cả những lời nói thường ngày của tiên sinh vào sách, để thường xuyên đọc lại.”

Quỷ Cốc Tử lại cười: “Con đúng là người có tâm. Nhưng những lời ta nói, nếu chỉ ra rả ngoài miệng cũng là vô dụng. Quan trọng là phải ghi nhớ trong tâm, thời thường cảm ngộ.”

“Đệ tử ghi nhớ lời dạy của tiên sinh!”

“Nếu ghi nhớ được, hoặc giả có thể thành tựu!”

Bàng Quyên lại khấu bái sát đất, giọng đầy thương cảm: “Tiên sinh, như tình cảnh hiện tại, đệ tử chỉ e chẳng thành tựu được việc gì, lại làm nhục đến sư môn!”

“Tại sao con lại cho rằng mình không thành tựu được việc gì?”

“Đệ tử tài học nông cạn, tâm khí cao ngạo, từ khi còn nhỏ đã sùng bái Ngô Khởi tướng quân, lấy công nghiệp của Ngô Khởi tướng quân làm chí nguyện cả đời. Nhưng... đệ tử tâm có thừa mà sức không đủ, nghe nói tiên sinh và Ngô Khởi tướng quân từng là bằng hữu, ắt là thấu hiểu về Ngô Khởi, đệ tử khẩn cầu tiên sinh hãy nói riêng với đệ tử vài câu, đệ tử nhất định sẽ ghi khắc trong tâm, suốt đời cảm ngộ.”

Quỷ Cốc Tử nhìn Bàng Quyên một lúc, rồi gật đầu nói: “Hiếm khi con hiếu học thế này! Nói đi, con muốn biết chuyện gì về Ngô Khởi?”

“Đệ tử khẩn cầu tiên sinh truyền thụ cho ‘Binh pháp Ngô Khởi’!”

Quỷ Cốc Tử khẽ mỉm cười: “Nói vậy là con khẳng định trong tay ta có cuốn ‘Binh pháp Ngô Khởi’?”

Bàng Quyên nghe thấy vậy, lập tức hiểu rõ, vội vàng lạy liền ba lạy: “Đệ tử ngu muội, khẩn cầu tiên sinh truyền lại sách này cho đệ tử, đệ tử nhất định sẽ chuyên tâm nghiền ngẫm, mong thành tựu lớn, không phụ ơn thầy!”

Quỷ Cốc Tử cúi đầu ngẫm nghĩ, hồi lâu sau mới chậm rãi gật đầu: “Được thôi! Thánh thư trong thiên hạ, cũng nên truyền lại cho người hữu duyên. Con đã chọn lựa sách này, cũng coi như người hữu duyên. Giờ con hãy trở về, tắm gội sạch sẽ, đến giờ Tý đêm nay đến động của ta!”

Bàng Quyên lập tức lạy liền mấy lạy, xúc động đến bật khóc mà nói: “Đệ tử đa tạ tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử bèn quay đi, tiếp tục dạo bộ dọc con suối.

Nhìn theo bóng Quỷ Cốc Tử xa dần, Bàng Quyên trong lòng trăm hoa đua nở, vụt nhảy cẫng lên, hai tay nắm chặt, sung sướng đến phát cuồng, một hồi lâu sau mới sải rộng bước chân, mặt mũi hớn hở trở về nhà cỏ.

Trở về nhà, Bàng Quyên càng nghĩ càng đắc ý, lập tức lấy ra bộ quần áo sạch sẽ, vừa đi vừa hát nghêu ngao, đến thẳng bờ suối. Bàng Quyên tắm rửa sạch bong từ đỉnh đầu đến gót chân, lại lấy bồ kết vò kỹ tóc tai, thay quần áo sạch tinh tươm rồi quay trở về nhà cỏ. Ăn cơm tối xong, Bàng Quyên đến tìm tiểu đồng, kiếm cớ xin mấy nén hương, vào giờ Thân định liền đóng chặt cửa phòng, thắp hết hương lên, thành tâm kính ý, khấu đầu sát đất, chờ đợi đến giờ Tý.

Mặc dù Bàng Quyên làm mọi việc rất gọn gàng kín kẽ, không lộ chút sơ hở, nhưng vẫn không thể qua mắt người có tâm. Ngửi thấy mùi hương thơm ngát toả ra từng đợt từ phòng Bàng Quyên, Trương Nghi càng nghĩ càng ngờ, nằm ở trên giường mà hai mắt mở thao láo, dỏng tai lắng nghe, toàn thân tập trung theo dõi động tĩnh bên phòng Bàng Quyên, xem hắn định giở trò gì.

Cứ thế đợi đến lúc trăng lên giữa trời, Trương Nghi bỗng nghe thấy cửa phòng Bàng Quyên kêu lên cót két. Một lát sau, thấy tiếng bước chân của Bàng Quyên từ từ xa dần trên con đường trước cửa. Trương Nghi vẫn mặc nguyên quần áo nằm trên giường theo dõi, nghe rõ mồn một, vội vàng bật dậy, lặng lẽ bám sát theo sau.

Trong động, Quỷ Cốc Tử đang ngồi ngay ngắn, trên mặt bàn phía trước có đặt hai bó sách thẻ tre.

Bàng Quyên vào động, quỳ sụp xuống đất: “Đệ tử khấu kiến ân sư!”

“Bàng Quyên,” Quỷ Cốc Tử chỉ tay lên mặt bàn, chậm rãi nói, “đây chính là cuốn ‘Binh pháp Ngô Khởi’ mà con một lòng muốn có.”

Bàng Quyên tim đập rộn ràng, nhưng không dám đưa tay ra lấy, chỉ nhìn trân trân vào Quỷ Cốc Tử: “Tiên sinh...”

“Nếu muốn đọc, con hãy cầm đi!”

“Tiên sinh!” Bàng Quyên cố kìm nén nhịp tim nhảy loạn, ngẩng lên hỏi. “Lúc trước người từng nói, Ngô Khởi đã tự tay đốt sách, vậy cuốn sách này có phải thật không?”

“Sách này là tâm huyết một đời của Ngô Khởi, vốn có hai bản chính phụ, Ngô Khởi coi như bảo bối, không bao giờ cho người khác xem. Trước lúc lâm chung, Ngô Khởi đã đưa bản phụ cho lão hủ, chỉ đốt bản chính.”

Bàng Quyên sung sướng muốn phát cuồng: “Ý tiên sinh là, cuốn này là cuốn duy nhất còn lại trên đời?”

“Theo ta được biết, sách này chính là độc bản. Nếu có thêm bản khác, thì từ lâu đã trở thành báu vật tranh giành của người đời.”

Bàng Quyên nước mắt ròng ròng, dập đầu bình bịch: “Tiên sinh, đệ tử tạ ơn... tiên sinh!”

“Không cần phải tạ ơn ta. Nếu muốn tạ ơn, hãy tạ ơn Ngô Khởi!”

Bàng Quyên sững người: “Ngô Khởi tướng quân?”

“Đúng thế!” Giọng của Quỷ Cốc Tử vẫn điềm tĩnh như không. “Lúc Ngô Khởi tặng sách, đã căn dặn ta rằng, nếu muốn truyền lại sách này cho người khác, thì hãy truyền cho người nước Ngụy. Hôm nay ta truyền lại sách này cho con, chẳng qua là làm theo ý nguyện của Ngô Khởi mà thôi.”

Bàng Quyên dập đầu sát đất: “Ngô Tử ở trên, xin nhận của Bàng Quyên ba lạy!”

Thấy Bàng Quyên bái lạy xong, Quỷ Cốc Tử lại lên tiếng: “Bàng Quyên, sách này cho con đọc ba ngày. Sau ba ngày phải mang trả lại ta!”

“Đa tạ tiên sinh ban sách!” Bàng Quyên lại bái tạ rồi đứng dậy, nâng hai cuốn thẻ tre lên, cung kính lùi ra khỏi cửa động, rồi mới quay người đi về.

Trở về đến nhà cỏ, Bàng Quyên chẳng còn thiết đến ngủ nghê, lập tức chong đèn đọc thâu đêm.

Đến khi trời sáng, Bàng Quyên đã đọc hết hai cuốn thẻ tre. Nghe thấy Tôn Tân, Tô Tần, Trương Nghi đều đã dậy, đang vận động chân tay trên bãi đất trống, Bàng Quyên liền giấu kín cuốn sách đi, mở cửa ra khỏi phòng, bước lên bãi cỏ, vặn hông đá chân, lại luyện kiếm một hồi, sau đó mới xuống suối rửa mặt.

Đó là một ngày đẹp trời, mọi người theo thường lệ, cùng vào động tàng thư chọn sách, đọc sách. Bàng Quyên chọn lấy hai cuốn sách bình thường, trở về nhà cỏ, đổi lấy cuốn “Binh pháp Ngô Khởi”, rồi cắp đến đỉnh Hùng Kê, tìm lấy một nơi yên tĩnh, nhìn quanh không thấy bóng ai, liền ngồi xuống dưới một gốc cây cổ thụ, vừa đọc, vừa nhẩm thuộc lòng: “Ngô Khởi mặc áo nhà Nho, dùng cơ mưu quân sự để yết kiến Ngụy Văn Hầu. Văn Hầu nói, quả nhân không thích chuyện quân sự. Khởi nói, thần dùng cái hiển hiện để đoán cái ẩn vi, dùng quá khứ để xét đoán tương lai, cớ sao chúa thượng lại nói lời không thật lòng...”

Thời gian vùn vụt, chớp mắt đã đến giữa trưa. Tối qua cả đêm không ngủ, giờ lại đọc suốt nửa ngày trời, Bàng Quyên không gắng gượng nổi nữa, đầu đau nhức khó chịu vô cùng, nên đành đặt cuốn sách xuống, dựa vào gốc cây ngủ thiếp đi. Vừa chợp mắt, Bàng Quyên đột nhiên giật bắn mình, mở choàng mắt ra, ôm chặt hai cuốn thẻ tre vào trong lòng.

Ôm sách trong lòng, Bàng Quyên lại không thấy buồn ngủ nữa. Bàng Quyên mở một cuốn ra, giở một mạch đến tận cuối, đặt sang một bên, rồi tiếp tục dỡ cuốn kia ra, cũng giở đến tận cuối, cảm thấy đầu óc tê rần từng chặp, lại cuộn sách lại, lẩm bẩm một mình: ‘“Binh pháp Ngô Khởi’ tổng cộng có bốn mươi tám chương, ta đã đọc cả nửa ngày trời mà chỉ thuộc có sáu chương. Tiên sinh chỉ cho ta mượn ba ngày. Trong ba ngày phải đọc thuộc bốn mươi tám chương, không biết sẽ phải cực khổ thế nào. Chẳng may bỏ sót một câu, chẳng phải đáng tiếc lắm ư?” Lại nhắm mắt suy nghĩ một hồi, đột nhiên mở bừng mắt ra. “Đúng rồi, tại sao ta không chép lấy một cuốn, sau đó giao lại cuốn này cho tiên sinh, một là có thể phục mệnh, hai là còn có cái lưu lại, để sau này từ từ lĩnh ngộ.”

Nghĩ đến đây, Bàng Quyên lập tức mặt mày giãn nở, liền đứng dậy, tìm lấy một hốc cây, giấu hai cuốn sách vào trong đó, sau đó co cẳng chạy về nhà cỏ, lấy bút mực và một mớ thẻ tre, quay trở lại gốc cây, bắt đầu sao chép.

Chép một mạch đến tận khi trời tối, Bàng Quyên mới chỉ chép được có một nửa. Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, rồi mang cuốn “Binh pháp Ngô Khởi” bản gốc trở về, giấu đám thẻ tre vừa sao chép và bút mực vào hốc cây, lại lấy cành khô che lên, đi quanh nhòm ngó một hồi, thấy đã an toàn tuyệt đối, lúc này mới xách theo hai cuốn sách xuống núi, vừa đi vừa hát nghêu ngao.

Tối đó, Bàng Quyên yên tâm vì đã có diệu kế sao chép, nên không phải suy nghĩ về bộ binh pháp nữa, ngủ rất say sưa. Sáng sớm hôm sau, Bàng Quyên vẫn theo lệ trả sách, sau đó trở về phòng đổi lấy hai cuốn thẻ tre lặng lẽ đi lên núi Đông Sơn. Vì trong lòng thắc thỏm, nên suốt dọc đường, Bàng Quyên hết rẽ ngang lại rẽ dọc, vòng vèo đến vài khúc mới tìm đến gốc cây, nhìn thấy mọi thứ vẫn y nguyên, thì mừng thầm trong bụng, ngồi xuống tiếp tục sao chép.

Hai ngày trôi qua, cuối cùng Bàng Quyên cũng đã chép xong toàn bộ cuốn sách vào thẻ tre, xỏ dây đóng thành sách. Để thuận tiện mang theo, Bàng Quyên viết chữ rất nhỏ, bản gốc vốn có hai cuốn, nhưng bản sao sau khi xâu lại chỉ còn một cuốn. Bàng Quyên ngắm nghía một lúc, rồi tự tay đề hai chữ “Ngô Khởi” để phân biệt với cuốn sách gốc “Binh pháp Ngô Khởi”.

Bàng Quyên đứng dậy, tiếp tục nhìn ngắm một lúc nữa rồi khẽ mỉm cười, đưa cuốn sách lên mũi hít ngửi, tự khen: “Thơm quá!”

Thấy trời gần tối, thời hạn ba ngày đã đến, Bàng Quyên bèn thận trọng cất cuốn sách mới sao chép vào trong hốc cây, lại phủ cành khô lá mục lên che đậy kỹ lưỡng, rồi mang theo bản chính “Binh pháp Ngô Khởi” xuống núi, vừa đi vừa hát vui vẻ.

Đi được mấy bước, Bàng Quyên bỗng đứng khựng lại, tự nhủ: “Sách này là cuốn độc bản trên đời, đến nay mới chỉ mình ta được đọc. Tôn Tân và ta cùng học binh pháp, hôm nay sư phụ truyền cho ta, chưa biết chừng hôm khác sẽ lại truyền cho Tôn Tân. Nếu như Tôn Tân cũng đọc được sách này, há chẳng phải sẽ ngang bằng với ta hay sao? Mặc dù Tôn Tân là huynh trưởng, con người cũng rất tốt, nhưng việc này không giống những việc khác, sách quý nhường này, tuyệt đối không được để lọt vào tay người thứ hai. Hơn nữa, lần trước Tôn Tân có được sách quý, cũng giấu ta đến núi Đông Sơn, một mình âm thầm đọc. Tôn Tân đã có ý đề phòng ta, thì ta cũng không nên cứ làm thằng ngốc!”

Bàng Quyên ngồi xuống dưới một gốc cây ven đường, dựa thân cây suy nghĩ hồi lâu, rồi nghiến răng tự nhủ: “Sách này đã lọt vào tay ta, đâu thể để người khác chạm đến?” Rồi hai mắt đảo một vòng, cầm hai cuốn thẻ tre lên, quay người đi thẳng lên đỉnh Hùng Kê.

Một lúc sau, Bàng Quyên đã lên đến đỉnh núi, lại do dự thêm một hồi nữa, rồi mới hạ quyết tâm, tự nhủ: “Muốn thành đại sự, quyết không được có lòng nhân của đàn bà!”

Nghĩ là vậy, Bàng Quyên cũng không chần chừ thêm nữa, giơ cuốn sách lên, thẳng tay quật mạnh vào vách đá. Chỉ nghe “rào” một tiếng, bó thẻ tre đã đứt tung toé, rơi đầy mặt đất. Bàng Quyên nhặt lấy đám thẻ tre, ném từng mảnh xuống vực sâu không đáy. Nhìn thấy thẻ tre bay tứ tung, tả tơi rơi xuống, Bàng Quyên khẽ thở dài một tiếng, rồi phủi tay, quay người đi thẳng xuống núi.

Khi Bàng Quyên đã đi xa, từ sau một bụi cây bỗng thấy Trương Nghi thò đầu ra.

Mấy ngày nay, Trương Nghi giống như một bóng ma, chẳng còn tâm trạng nào mà đọc sách, chỉ âm thầm theo dõi Bàng Quyên. Trương Nghi đi lên đỉnh núi, tìm kiếm quanh quẩn một hồi, nhặt được hai chiếc thẻ tre mà Bàng Quyên đã bỏ sót trên mặt đất, cho vào trong tay áo, bật ra hai tiếng cười ranh mãnh, rồi quay người xuống núi. Lại đi tới trước hốc cây mà Bàng Quyên giấu sách, lật tung đám cành khô, lấy ra cuốn “Ngô Khởi” mà Bàng Quyên đã cẩn thận sao chép xong xuôi, ngắm nghía một hồi, gật đầu khen ngợi: “Thằng cha này cũng khéo léo thực, chỉ có điều lòng dạ hơi thâm hiểm!”

Trương Nghi vừa hát ư ử vừa đi về. Đi được mấy bước, chợt nhìn thấy dưới đất có một đống gì đen sì sì, cứ ngỡ là con rắn cuộn tròn, vội vã lùi lại mấy bước. Giương mắt nhìn kỹ, thì nhận ra đó là một bãi phân lợn rừng, vẫn còn rất mới, có lẽ mới bĩnh ra tối qua. Trong đầu Trương Nghi bỗng nảy ra một ý, liền tìm lấy mấy cành cây, cẩn thận hốt bãi phân lợn lên, quay trở lại hốc cây, nhét vào nơi giấu sách của Bàng Quyên. Thấy vẫn chưa đủ, Trương Nghi lại tìm thêm một cành cây nữa, cày xới rối loạn xung quanh một chặp, rồi bẻ lấy một cành cây tươi, cẩn thận xoá hết các dấu chân, lúc này mới gật đầu hài lòng, cắp theo cuốn “Ngô Khởi” của Bàng Quyên, lại vừa hát vừa đi xuống núi.

Bàng Quyên trở về trong cốc, nhưng không vào gặp Quỷ Cốc Tử theo thời gian đã hẹn, mà đứng đợi bên bờ suối một lúc, đến khi trời tối sập, mới lặng lẽ đi vào động.

Trong động không có ai khác, chỉ thấy một mình Quỷ Cốc Tử đang ngồi ngay ngắn, dường như đang đợi Bàng Quyên.

Bàng Quyên đi vào, hai chân nhũn ra, quỳ sụp xuống đất, nước mắt ròng ròng: “Tiên sinh...”

Quỷ Cốc Tử thấy trong tay Bàng Quyên không có sách, lại quỳ xuống trước mặt mình, thì khẽ thở dài: “Vẫn chưa đọc xong ư?”

Bàng Quyên càng tỏ vẻ đau lòng, dập đầu bình bịch xuống đất, khóc mà nói: “Tiên sinh, đệ tử... đệ tử có lỗi với tiên sinh, đệ tử đáng chết! Tiên sinh...”

“Nói đi, đã xảy ra chuyện gì?”

Bàng Quyên nghẹn ngào nói: “Buổi chiều hôm nay, đệ tử lên đỉnh Hùng Kê đọc sách. Vì đọc mệt quá, nên nằm xuống ngủ thiếp đi, đặt cuốn sách ở bên vách núi. Không ngờ trong sơn cốc thình lình nổi lên một cơn gió xoáy dữ dội, cuốn cả bộ sách bay xuống vực sâu. Đệ tử sợ hãi, vội chạy xuống vách núi tìm kiếm, nhưng không thấy tung tích đâu cả. Đệ tử biết mình đã gây ra tội lớn, lại tìm kiếm suốt nửa ngày nữa, đến tận khi trời tối vẫn chẳng thể tìm ra, đành phải quay về, nghe tiên sinh xử tội.”

Quỷ Cốc Tử nhắm mắt im lặng.

Bàng Quyên tiếp tục dập đầu, khóc lóc: “Tiên sinh, đợi đến sáng mai, Bàng Quyên sẽ tiếp tục xuống vách núi tìm kiếm. Nếu thực sự không tìm được thánh thư, đệ tử... đệ tử thật không còn mặt mũi nào gặp tiên sinh nữa? Làm sao có thể đối diện với anh linh Ngô Khởi tướng quân?”

Quỷ Cốc Tử từ từ mở mắt ra, chậm rãi nói: “Bàng Quyên, con không cần tìm nữa!”

Bàng Quyên càng khóc dữ: “Tiên sinh coi trọng đệ tử như vậy, nhưng đệ tử thực chẳng ra gì. Tiên sinh có đánh có mắng thế nào, đệ tử cũng cam lòng chịu phạt.”

“Than ôi!” Quỷ Cốc Tử khẽ thở dài. “Không ngờ tâm huyết cả đời của Ngô Khởi lại theo gió bay đi!” Im lặng một lát, bèn ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên. “Bàng Quyên, con đọc ba ngày, đã thuộc hay chưa?”

“Đệ tử nhận được thánh thư, không dám biếng nhác, suốt ba ngày qua chuyên tâm đọc thuộc, mặc dù chưa thể ghi nhớ hoàn toàn, nhưng cũng đã nhớ được ý chính, có điều lĩnh ngộ.”

“Con nhớ rồi thì tốt. Về đi, ta mệt rồi!”

Bàng Quyên lại bái lạy mà nói: “Tiên sinh bảo trọng, đệ tử cáo lui!”

Bàng Quyên đi rồi, Quỷ Cốc Tử ngồi trầm ngâm suy nghĩ một lát, rồi khẽ gọi: “Thiền Nhi!”

Ngọc Thiền nghe tiếng gọi, liền bước ra.

“Sáng sớm ngày mai, con hãy cùng tiểu đồng đi theo sơn cốc, vòng xuống dưới đáy vực Hùng Kê, nhìn thấy các mảnh thẻ tre rơi vãi, hãy nhặt hết mang về.”

Buổi trưa hôm sau, Ngọc Thiền và tiểu đồng mỗi người ôm theo một bó thẻ tre, đi vào trong thảo đường.

“Tiên sinh,” Ngọc Thiền bẩm báo. “Đây là tất cả những gì có thể tìm được!”

Ngọc Thiền tìm lấy sợi dây, định xâu những thẻ tre rời rạc thành sách.

“Không cần đâu!” Quỷ Cốc Tử xua tay ngăn lại. “Tiểu đồng, con hãy mang chúng ra ngoài thảo đường, châm lửa đốt đi.”

Tiểu đồng vâng lệnh, rồi ôm bó thẻ tre ra ngoài thảo đường, quẹt đá lửa châm cỏ mồi, đang định đưa thẻ tre lên mồi lửa thì Ngọc Thiền giơ tay ngăn lại: “Khoan!”

Tiểu đồng dừng lại, nhìn Quỷ Cốc Tử.

Ngọc Thiền băn khoăn hỏi: “Tiên sinh, sách quý là vậy, đốt đi há chẳng đáng tiếc lắm ư?”

Quỷ Cốc Tử không chút động lòng, nói với tiểu đồng: “Đốt đi!”

Tiểu đồng châm lửa, ngọn lửa nhanh chóng bùng lên. Thoáng chốc, đống thẻ tre đã hoá tro tàn.

Nhìn đống tro, Ngọc Thiền vẫn không chịu thôi, lại hỏi: “Tiên sinh! Bàng Quyên, Tôn Tân đều học binh pháp, sách này Bàng Quyên đã đọc, nhưng Tôn Tân chưa từng đọc qua, tại sao tiên sinh lại đốt đi?”

Quỷ Cốc Tử không trả lời, chỉ thở dài một tiếng, rồi quay người đi vào trong động.

Ngày hôm nay, Bàng Quyên không đi đâu, chỉ ở lì trong phòng.

Buổi trưa, Bàng Quyên ra khỏi nhà cỏ, nhìn thấy tiểu đồng phía xa, liên gọi khẽ: “Đại sư huynh!”

Tiểu đồng chạy đến: “Gọi ta có việc gì?”

“Lúc nãy sư đệ nhìn thấy sư huynh, sư tỷ đi đâu về, hình như có cầm thứ gì đó trong tay, xin hỏi sư huynh là báu vật gì vậy?”

“Báu vật?” Tiểu đồng cười khúc khích. “Làm gì có báu vật nào? Trời vừa sớm, chị Thiền Nhi đã kéo ta đi xuống đáy vực, tìm nhặt vài cái thẻ tre!”

Bàng Quyên thất kinh: “Nhặt được về chưa?”

“Có đại sư huynh ta ra tay, chẳng lẽ không nhặt được ư?” Tiểu đồng liếc xéo Bàng Quyên, khoé miệng nhếch lên, trông thật láu lỉnh. “Không giấu sư đệ, chị Thiền Nhi tìm thấy một bó, sư huynh ta cũng tìm thấy một bó. Bên dưới vách núi, lác đác đây một cái, kia một cái, khiến ta tìm nhặt mệt muốn chết, thôi đừng nói nữa!”

Bàng Quyên đưa tay ra hiệu: “Nhiều bằng này không?”

Tiểu đồng gật đầu: “Cũng khoảng chừng đó!”

Bàng Quyên sững sờ, rồi lẩm bẩm một mình: “Đúng là đồ ngốc, sao không đốt đi cho rồi?”

Tiểu đồng nghe thấy, lại cười khúc khích, rồi thuận miệng kể tiếp: “Bàng sư đệ, đệ đoán đúng rồi đấy! Chúng ta vừa về, tiên sinh đã bảo sư huynh mang đi đốt, lửa cháy đùng đùng!”

“Cái gì?” Bàng Quyên kinh hãi. “Sư huynh nói lại xem nào!”

Tiểu đồng cao giọng: “Tiên sinh bảo bản sư huynh đốt rụi hai bó thẻ tre đó rồi!”

Bàng Quyên như không tin nổi vào tai: “Thật không?”

“Ơ hay!” Tiểu đồng trợn mắt. “Sư đệ không tin đại sư huynh ư? Là đại sư huynh ta tự tay châm lửa đốt, còn có thể giả được ư?”

“Tin! Tin! Tin!” Bàng Quyên vội vái mà đáp luôn miệng, nói quấy quả thêm vài câu với tiểu đồng, rồi phất tay mà đi.

“Đốt rồi?” Bàng Quyên vừa đi vừa lẩm bẩm. “Không đúng, tại sao tiên sinh lại phải đốt đi? Theo tính cách của tiên sinh, nếu không muốn truyền cho người khác, thì trên đời này bất cứ ai cũng không thể có được. Còn nếu tiên sinh muốn truyền, cho dù có đốt cũng chỉ uổng công. Vì vậy tiên sinh hoàn toàn không cần thiết phải mang đốt.”

“Nhưng sự thực là, tiên sinh đã đốt rồi!” Bàng Quyên dừng bước, trầm ngâm suy nghĩ. “Đại sư huynh không biết nói dối, việc này chắc chắn là sự thực. Xem ra tiên sinh đã quyết tâm đốt cuốn sách này! Còn nữa, tiên sinh để đại sư huynh mang ra ngoài đốt giữa ban ngày ban mặt, rõ ràng là muốn để mọi người nhìn thấy. Tiên sinh truyền thụ sách này cho ta, như vậy là muốn cho ta thấy. Tại sao tiên sinh lại làm như vậy? Lẽ nào tiên sinh đã nhìn thấu tâm can của ta, cũng thực tâm truyền lại cuốn sách quý này cho một mình ta? Hoặc cũng có thể do tiên sinh thấy ta không trả sách, nên giận ta mà cố ý đốt sách đi?”

Bàng Quyên suy đi nghĩ lại, cuối cùng vẫn không thể đoán ra được nguyên do, chỉ tổ càng nghĩ càng thêm rối bời, bèn cười gượng mà nhủ thầm: “Thôi mặc kệ đi, là tiên sinh tự đốt chứ không phải là ta đốt. Hơn nữa, tiên sinh đốt đi cũng tốt, nếu sách này còn ở trong cốc, ta cũng không thể ngủ ngon.”

Nghĩ là vậy, tâm trạng của Bàng Quyên cũng nhẹ nhõm hơn hẳn, bèn nghĩ thầm: “Được rồi, tiên sinh đã kết thúc mọi việc ở đây, coi như không còn chuyện gì nữa. Ta cũng phải đi xem báu vật của mình mới được!”

Bàng Quyên lại ngâm nga vài khúc hát, vẻ mặt đầy mãn nguyện, đi về phía đỉnh Hùng Kê.

Trong lòng đã thanh thản, Bàng Quyên cũng chẳng cần rẽ ngang rẽ dọc, mà đi thẳng đến gốc cây, nhưng thấy xung quanh hỗn loạn tanh bành, rõ ràng đã bị ai phá phách.

Bàng Quyên kinh hãi rụng rời, thoắt cái đã mặt cắt không còn giọt máu, vội vã chạy bổ tới hốc cây, thò tay vào trong hốc, nhưng lại thọc đúng một bãi phân lợn.

Bàng Quyên lòng như lửa đốt, không đếm xỉa tới dơ bẩn, vội vã bới móc hết đống phân lợn trong hốc ra ngoài, lại khua khoắng trong hốc một hồi lâu, song chỉ tìm được bút nghiên và mấy tấm thẻ tre còn thừa lại, mà không thấy tăm hơi cuốn “Ngô Khởi” mà mình đã dày công sao chép đâu cả.

Hốc cây không lớn, không lọt nổi thân người. Bàng Quyên sục sạo vào tất cả những chỗ có thể với đến, nhưng chẳng thấy một thẻ tre nào nữa. Bàng Quyên như hoá rồ, lại điên cuồng tìm kiếm khắp xung quanh gốc cây, nhưng vẫn không thấy tung tích của bó sách. Nó đã không cánh mà bay!

Sau một hồi quýnh quáng, Bàng Quyên cũng từ từ bình tĩnh lại, quay về phía trước hốc cây, vừa quan sát vừa suy đoán: “Nơi này vô cùng kín đáo, trong Quỷ Cốc chưa từng có người đến đây. Hơn nữa, mấy ngày nay ta cũng không hề để lộ dấu vết, ba người Tôn Tân, Tô Tần, Trương Nghi hẳn đều không hay biết!” Lại nhìn vào vết phân lợn nhoe nhoét trên tay, quan sát cảnh tượng tan hoang xung quanh, đột nhiên sực tỉnh. Bãi phân lợn ở đâu tự dưng lại chui vào hốc cây này? Phải chăng chỗ này là một hang ổ lợn rừng, lợn rừng thấy ổ bị chiếm, nên đã giận dữ mà tha cuốn sách đi mất? Ừ, cũng có thể là như vậy! Ta hãy tìm kiếm xem sao, có lẽ đã bị con lợn chết tiệt kia tha đi mất rồi!”

Tìm kiếm một lúc, quả nhiên Bàng Quyên phát hiện trong rừng có dấu chân lợn, thì vui mừng quá đỗi, rút ngay bảo kiếm ra, lần theo dấu chân lợn đến bên bờ suối thì không thấy tăm hơi đâu nữa.

Bàng Quyên gột rửa các vết ô uế trên chân tay người ngợm, ngồi nghỉ một lát trên một tảng đá ven suối, sau đó ủ rũ quay trở về nhà cỏ, ngồi khoanh chân trên giường, nhăn nhó suy nghĩ.

Đột nhiên, trong óc Bàng Quyên bỗng vụt qua một ý nghĩ: “Ngoài tiên sinh ra, trong Quỷ Cốc không còn ai biết chuyện này. Lẽ nào lại là tiên sinh? Liệu có phải sau khi tiên sinh trao binh thư cho ta, vì không yên tâm nên đã âm thầm theo dõi, thấy ta sao chép thêm một cuốn, cảm thấy bất mãn nên đã trộm đi. Có vẻ không đúng, tiên sinh là người có đạo, làm sao có thể làm những chuyện như vậy được? Hay là tiên sinh bảo sư tỷ làm? Cũng không phải! Nếu là sư tỷ, chắc chắn sẽ không bỏ phân lợn vào trong đó! Hành động này chỉ tay Trương Nghi kia mới có thể nghĩ ra, nhưng chuyện binh thư, tiên sinh tuyệt đối sẽ không để Trương Nghi biết. Hay là đại sư huynh? Cũng không giống, nếu như đại sư huynh đã làm việc này, sư huynh tuyệt đối không có khả năng giả bộ hồn nhiên chân thực như buổi ban ngày. Còn nữa, sư tỷ và sư huynh vất vả lắm mới nhặt được thẻ tre trở về, tại sao tiên sinh nhất định phải đốt đi?”

Bàng Quyên càng nghĩ càng rối bời, sau cùng đứng bật dậy: “Không nghĩ nữa, ta phải đi hỏi tiên sinh mới được, xem tiên sinh nói thế nào!”

Bàng Quyên đi tới trước gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử, thấy Ngọc Thiền đứng ngoài cửa, thì vòng tay vái mà hỏi: “Xin hỏi sư tỷ, tiên sinh có nhà không?”

“Có!”

“Nhờ sư tỷ bẩm báo với tiên sinh, Bàng Quyên cầu kiến!”

Giọng Ngọc Thiền hờ hững: “Vào đi, tiên sinh đang đợi sĩ tử!”

Nghe nói tiên sinh đang đợi, Bàng Quyên giật mình cả kinh, thấp thỏm đi vào trong thảo đường, quả nhiên thấy Quỷ Cốc Tử đang ngồi ngay ngắn trên chiếu.

Bàng Quyên quỳ sụp xuống đất, dập đầu mà nói: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

“Đứng dậy đi!”

“Đệ tử không dám!” Bàng Quyên lại dập đầu nói. “Hôm qua đánh mất binh thư, đệ tử buồn bực vô cùng, cả đêm không ngủ được. Hôm nay nghe nói sư huynh, sư tỷ đã tìm được số thẻ tre bị gió cuốn mang về, đệ tử cũng thấy yên lòng, nên đến để tạ tội với tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói: “Về chuyện mất sách, kẻ có tội là gió, không phải là con, tại sao con phải tạ tội?”

“Tiên sinh nói phải, thế nhưng... sách là do đệ tử mượn, đệ tử...”

“Này Bàng Quyên!” Quỷ Cốc Tử khẽ thở dài, sắc mặt nghiêm lại, như muốn dạy bảo. “Con hãy nhớ kỹ lời của sư phụ: vô ý phạm lỗi, lỗi có lớn đến đâu cũng là lỗi nhỏ; cố ý phạm lỗi, lỗi có nhỏ đến đâu cũng là lỗi lớn. Lỗi lớn cũng được, lỗi nhỏ cũng được, nếu chịu hối cải, đều không đáng sợ, chỉ sợ sai mà không hối, sai lại thêm sai.”

Bàng Quyên dập đầu, khóc mà nói: “Lời giáo huấn của tiên sinh, đệ tử ghi lòng tạc dạ!”

Quỷ Cốc Tử cười gượng một tiếng: “Không cần ghi tạc! Con có thể nhớ được một chút cũng đã tốt rồi.”

“Tiên sinh!” Bàng Quyên ngẩng lên. “Đệ tử có một chuyện không hiểu!”

“Nói đi!”

“Nghe nói tiên sinh đã đốt hết số thẻ tre nhặt về, đệ tử nghĩ mãi vẫn không hiểu.”

“Không hiểu chỗ nào?”

“‘Binh pháp Ngô Khởi’ là thánh điển binh học, cớ sao tiên sinh nhất định phải... phải huỷ nó?”

“Được!” Quỷ Cốc Tử cất giọng sang sảng. “Con đã hỏi, vậy lão hủ cũng sẽ cho con biết. Khi Ngô Khởi tặng sách từng căn dặn ta, sách này chỉ được truyền cho một người, cho đọc ba ngày. Ta đã truyền lại cho con, con cũng đã đọc liền ba ngày, như vậy là đã thực hiện được lời hứa năm xưa, sách này cũng thành vô dụng. Ta đốt nó đi, chẳng qua là đem trả lại cho Ngô Khởi mà thôi.”

Bàng Quyên thở hắt ra một hơi: “Thì ra có chuyện này mà đệ tử không biết. Đệ tử chỉ cảm thấy sách tốt như vậy, đốt đi thực đáng tiếc!”

“Ồ!, Bàng Quyên!” Quỷ Cốc Tử lại thở dài. “Ta có lời muốn nói với con, sách tốt là ở đọc tốt, đọc tốt là ở ngộ tốt. Tâm có tạp niệm, chỉ đọc không ngộ, cho dù sách tốt đến đâu cũng thành vô dụng.”

Bàng Quyên cúi gằm mặt, nói lí nhí: Đệ tử xin ghi nhớ lời dạy bảo của tiên sinh!”

“Đi đi!”

Ra khỏi thảo đường, Bàng Quyên tìm đến một nơi yên tĩnh, ngửa mặt nằm xuống, tự nhủ trong lòng: “Thì ra tiên sinh đốt sách là vì lý do này, xem ra ta đã ngờ vực thái quá. Than ôi, cũng tại ta tự cho mình thông minh, chỉ vì lén lút sao chép mà đọc không chuyên tâm, khó khăn lắm mới có được sách quý, nhưng lại không biết để tâm vào đọc, chỉ có sáu chương đầu tiên là đọc thuộc, còn lại bốn mươi hai chương còn lại, hoàn toàn chẳng nhớ lấy một mảy may.”

Thở ngắn than dài một chặp, Bàng Quyên lật người đứng dậy: “Không được, ta phải nhanh chóng chép lại sáu chương kia! Nếu không, chẳng may quên mất đoạn nào, há chẳng đáng tiếc lắm ư?”

Rồi Bàng Quyên rảo bước trở về nhà cỏ, đóng chặt cửa phòng, mài mực, chuẩn bị thẻ tre, vừa nhẩm đọc vừa chép. Đang chép, bên ngoài bỗng nghe có tiếng bước chân vọng lại. Bàng Quyên giật bắn mình, vội ngưng thần lắng nghe. Thì ra là Trương Nghi đi đọc sách trở về, vừa đi vừa huýt sáo, tiếng guốc gỗ gõ lọc cọc dần lại gần, tiến thẳng về phía nhà cỏ. Vì đã có hiềm khích từ trước, nên gần đây hai người bằng mặt không bằng lòng, gần như không hề qua lại với nhau, Bàng Quyên không để tâm, tiếp tục sao chép.

Bước chân không nhanh không chậm, cũng chẳng hề chệch hướng, tiến thẳng tới trước cửa phòng của Bàng Quyên. Bàng Quyên sững lại, vừa đặt bút xuống, cửa phòng thình lình bị xô mạnh một cái. Vì Bàng Quyên chốt cửa rất chặt, nên Trương Nghi đẩy liền mấy cái thì chuyển sang gõ, rồi gọi toáng lên: “Bàng nhân huynh...”

Bàng Quyên cuống lên, vội lật chăn ra, giấu hết thẻ tre vào trong, rồi làm ra bộ ngái ngủ, vừa dụi mắt vừa mở cửa: “Ai đấy? Đang ngủ mà om sòm gì thế?”

Trương Nghi bước vào trong phòng, quét mắt về phía giường, thấy không giống như vừa có người ngủ, lại thấy trong nghiên có mực mới mài, trong lòng đã đoán được mấy phần, liền cười nói: “Ha ha ha, này Bàng nhân huynh, nếu như có lão phu tử Trọng Ni ở đây, huynh đoán xem sẽ xảy ra chuyện gì?”

Bàng Quyên ngạc nhiên: “Xảy ra chuyện gì?”

Trương Nghi lại cười mấy tiếng, chỉ lên giường mà nói: “Lão phu tử nếu thấy huynh lười biếng ngủ ngày, chắc chắn sẽ lắc đầu mà than rằng: than ôi, gỗ mục không thể chạm trổ, tường đất mục không thể trét, sau đó sẽ đi tới, xắn tay áo, chùng vạt áo, ôm lấy đống chăn, đi ra ngoài ném thẳng lên nóc nhà!” Lời vừa dứt, liền xăm xắn bước lại như muốn ôm chăn.

Bàng Quyên vội vàng chặn lại, cười hì hì mà nói: “Lão phu tử là bậc tu dưỡng thế nào, đâu có giống bộ dạng của Trương huynh đây? Hơn nữa, sao Trương nhân huynh có thể ví tại hạ với Tể Dư? Tể Dư ngày nào cũng ngủ lười, còn tại hạ lại là hoàng hoa khuê nữ nhập động phòng, hôm nay mới là lần đầu tiên.”

“Nói cũng phải!” Trương Nghi gật gù liên hồi, rồi cười thâm thuý. “Mấy ngày hôm nay trông Bàng huynh ngẩn ngơ phờ phạc, hẳn là có tâm sự gì chăng, khiến huynh đến ngủ cũng chẳng được ngon giấc?”

Bàng Quyên liếc xéo Trương Nghi, cười lớn rồi đuổi khách: “Nếu Trương huynh có chuyện gì, hãy mau nói ra, nếu không thì tại hạ đi ngủ đây!”

Trương Nghi đảo mắt một vòng: “Bàng huynh không nói, suýt nữa thì tại hạ quên mất. Ở ngoài núi xảy ra một chuyện lớn, tại hạ đến để báo cho Bàng huynh biết.”

“Ồ?” Bàng Quyên vội hỏi. “Là chuyện lớn gì?”

Trương Nghi cố tình úp mở: “Thiên cơ bất khả lộ!” Rồi cười lớn mấy tiếng, quay người đi ra khỏi cửa.

Bàng Quyên hấp tấp cất bước đuổi theo, vẫy tay gọi: “Trương huynh...”

Hồi Thứ 19

Đọc thông cáo, Bằng Quyên vội hạ sơn

Thức canh đêm, tam tử nhận tuyệt học

Năm mới bắt đầu, đất trời ấm lại, vùng đất Tần Xuyên đón thêm một mùa xuân mới. Đúng vào thời điểm thoắt nóng thoắt lạnh, cây cối nảy lộc đâm chồi, tại Thiếu Lương, Hà Tây xảy ra một vụ nông dân bạo loạn khá rầm rộ.

Người cầm đầu chính là Ngô Thanh, Ngô thiếu gia, người từng đến An Ấp thách đấu với Trương Nghi năm nọ. Nguyên nhân rất đơn giản, sau khi Hà Tây bị mất, cũng giống như Trương Nghi, cả nhà Ngô Thanh gặp phải kiếp nạn, không những toàn bộ gia sản bị tịch thu hết sạch, phụ thân của Ngô Thanh còn bị người Tần xử tử, Ngô Thanh và cả nhà lớn bé đều trở thành nô dịch. Càng đau đớn hơn nữa là cô em gái mới mười một tuổi đầu của Ngô Thanh đã lọt vào mắt một viên quan đại phu nước Tần, rồi bị cưỡng bức ngay giữa ban ngày ban mặt. Ngô Thanh nghe tiếng em gái gào khóc thảm thiết, không thể nhẫn nhịn thêm được nữa, máu nóng bốc lên ngùn ngụt, đã giết chết cả nhà quan đại phu, tập hợp những nô bộc trước đây, nhân lúc đêm tối bỏ chạy tới Thiếu Lương, trốn vào rừng rậm ở phía tây. Sự việc này đã khiến cả vùng Thiếu Lương chấn động, rất nhiều người Ngụy có cùng số phận với Ngô Thanh, hoặc không chịu nổi sự tàn khốc của Tần pháp, nghe tin đều rầm rộ đi theo. Chưa đến nửa tháng, Ngô Thanh đã hội tụ được vài nghìn nhân mã, cố thủ ở trong rừng núi hiểm yếu, liều chết chống trả quân Tần. Quận phủ Hà Tây hai lần điều binh càn quét, nhưng đều bị họ đánh bại.

Sự việc nhanh chóng truyền đến tai quận thú Hà Tây Tư Mã Thác. Buổi đại triều hôm nay, Tư Mã Thác bẩm báo chi tiết sự việc lên Huệ Văn Công, xin chỉ tiễu trừ. Huệ Văn Công khẽ chau mày, không trả lời Tư Mã Thác, mà quay sang triều thần: “Chư vị ái khanh còn tấu gì khác chăng?”

Triều thần thấy vậy, cũng lần lượt dâng tấu. Huệ Văn Công xử lý xong mọi chuyện, rồi tuyên bố bãi triều.

Thấy Huệ Văn Công đã lui vào, Tư Mã Thác kinh ngạc, đứng sững sờ hồi lâu, sau đó chặn Công Tôn Diễn lại hỏi: “Công Tôn đại nhân có rảnh không?”

Công Tôn Diễn mỉm cười: “Quốc uý có chuyện gì, xin cứ nói thẳng!”

“Mời đại nhân đến phủ hạ quan!”

Công Tôn Diễn đi theo Tư Mã Thác đến phủ quốc uý, chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Tư Mã Thác đem chuyện Hà Tây thuật lại một lượt, rồi cấp thiết nhìn Công Tôn Diễn: “Đại lương tạo, sự việc khẩn cấp như vậy mà chúa thượng lại không hỏi đến, cũng chẳng ngó ngàng, tại hạ thực tình...” Nói rồi ngừng lại, ánh mắt hoang mang.

Công Tôn Diễn đã nhiều ngày trấn thủ ở Thiếu Lương, tự nhiên cũng hiểu ít nhiều về con người Ngô Thanh. Khi xảy ra đại chiến Hà Tây, quân Tần vây khốn Thiếu Lương, gia tộc Ngô Thanh đã tích cực xuất tiền xuất người, ủng hộ cuộc chiến chống Tần, Công Tôn Diễn vì chuyện này mà rất mực cảm động. Thời thế đổi thay, Công Tôn Diễn giờ đây đã trở thành đại lương tạo của nước Tần, còn nhà họ Ngô thì người chết kẻ trốn, bị người lăng nhục, Ngô Thanh lại trở thành giặc cướp nổi loạn, thực khiến người ta nghĩ đến mà chua xót. Lúc này được hỏi, Công Tôn Diễn không tiện nói nhiều, chỉ biện giải một câu thay cho Ngô Thanh: “Ngô thiếu gia sống trong nhung lụa quen rồi, bình thường tính cũng hiếu thắng. Lần này chắc hẳn đã bị dồn đến đường cùng, nếu không, sẽ không đi tới bước này!”

Tư Mã Thác uất hận nói: “Đám quyền quý nước Ngụy, đáng lẽ ngày trước phải giết sạch mới đúng!”

Công Tôn Diễn thấy ông ta nói lời cạn tàu ráo máng, nhất thời không biết đối đáp ra sao, đang định lấy cớ ra về thì Tư Mã Thác lại khẩn khoản: “Đại lương tạo, sự việc khẩn cấp, hạ quan mời ngài đến là muốn xin ngài cho một chủ ý. Việc này không thể kéo dài thêm nữa, nếu để lan rộng, Hà Tây sẽ không có ngày yên ổn.”

Công Tôn Diễn ngẫm nghĩ một lúc, rồi chậm rãi nói: “Tư Mã tướng quân, chúa thượng trên triều không hạ chỉ, cho thấy chúa thượng vẫn chưa nghĩ thông. E rằng sự việc này không chỉ liên quan đến Ngô Thanh, mà liên quan đến toàn bộ sách lược cai trị Hà Tây. Vì vậy, tại hạ cho rằng, tướng quân hãy chờ đợi thêm xem sao.”

Tư Mã Thác suy nghĩ một lát, thấy lời Công Tôn Diễn cũng có lý, bèn vòng tay nói: “Hạ quan tuân lệnh!”

Rời khỏi phủ quốc uý, khi Công Tôn Diễn trở về đến phủ thì đã quá ngọ. Phủ đại lương tạo cũng chính là phủ Thương Quân trước đây, Công Tôn Diễn bản tính giản dị, lại thêm trong phủ Thương Quân chẳng thiếu thứ gì, vì vậy sau khi vào ở, Công Tôn Diễn chỉ cho thay tấm biển, còn những thứ khác không hề động đến.

Vừa đến cổng phủ, Công Tôn Diễn đã cảm thấy có điều gì đó bất thường, vì trước cổng có nhiều hơn hai thị vệ so với thường ngày. Công Tôn Diễn đưa mắt nhìn họ, không nói lời nào, lập tức đi vào trong phủ, thấy trong sân cũng có hai hàng thị vệ đứng sừng sững. Công Tôn Diễn biết ngay là có chuyện gì, vội vàng đi vào chính đường, quả nhiên thấy Huệ Văn Công và thượng đại phu Sư Lý Tật đang ngồi đó.

Công Tôn Diễn tiến tới mấy bước, dập đầu sát đất: “Vi thần khấu kiến chúa thượng. Vi thần không biết chúa thượng giá lâm, trở về chậm trễ, xin chúa thượng thứ tội!”

Huệ Văn Công xua tay, cười nói: “Ái khanh mau bình thân. Quả nhân không báo mà đến, nếu luận tội thì người có tội phải là quả nhân mới đúng!”

Công Tôn Diễn hành xong đại lễ, đứng dậy đi tới trước bàn, chỉnh áo ngồi xuống. Nội thần đã sớm đã từ khách thành chủ, pha trà xong xuôi, bưng lại đặt xuống trước mặt Công Tôn Diễn, rồi lui ra ngoài cửa.

Huệ Văn Công cười nói: “Thời gian vùn vụt, mới chớp mắt, ái khanh đến Tần đã được nửa năm rồi. Đất Tần phong tục thô lậu, ít hiểu lễ nghĩa, ái khanh sống có quen chăng?”

“Đa tạ chúa thượng quan tâm! Vài ngày trước, vi thần có đi thị sát khắp các quận huyện, cảm thấy vô cùng kinh ngạc trước tập quán của dân Tần.”

“Có gì kinh ngạc?”

“Những nơi vi thần đến, đêm không đóng cửa, đi đường thấy của rơi không nhặt, láng giềng rất ít tranh chấp, nha môn châu phủ cũng ít có kiện tụng, nghe nói mâu thuẫn trong dân gian thường được hoá giải trước khi đến quan phủ. Đây là điều hoàn toàn không thấy ở nước Ngụy!”

Huệ Văn Công lại cười: “Tất cả những điều này đều nhờ tân pháp của tiên quân. Người Tần thiếu giáo hoá, không nhớ được lễ nghĩa, chỉ nhớ được luật pháp. Theo pháp của tiên quân, kẻ nào ăn cắp, dùng tay trái thì chặt tay trái, dùng tay phải thì chặt tay phải.”

Công Tôn Diễn đáp: “Đây cũng là điều khiến vi thần lo lắng!”

“Ồ?” Huệ Văn Công ngạc nhiên. “Cớ sao ái khanh lại lo lắng?”

“Pháp lệnh quá hà khắc, lúc mới thi hành thì còn được, nhưng lâu ngày không đổi, sẽ hại đến dân. Nếu dân bị tổn thương đến lông da, vẫn chưa đáng ngại, nhưng nếu tổn thương tới gốc rễ, thì không thể đi xa.”

Huệ Văn Công ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi ngẩng lên hỏi: “Theo ý ái khanh, lẽ nào pháp của Thương Quân có điểm không thích hợp?”

“Đúng thế!” Công Tôn Diễn đáp. “Ví dụ như điều vừa nãy, kẻ nào ăn cắp, dùng tay trái thì chặt tay trái, dùng tay phải thì chặt tay phải, cũng đã có điểm mơ hồ. Nếu như lấy của cải của người khác vì nghĩa, thì không nên chặt. Hơn nữa, cho dù là lấy một cách bất nghĩa, nhưng trộm bao nhiêu thì chặt tay, trộm bao nhiêu thì không chặt tay, cũng nên phân biệt rõ ràng. Lại ví dụ như vấn đề liên đới, một người phạm tội, chưa nói liên lụy đến cả nhà, mà còn liên lụy đến cửu tộc, liên lụy đến xóm giềng, điều này có hơi thái quá. Còn như cướp bóc, cũng cần phải phân rõ mức độ, sau đó mới phán quyết kẻ đó phải trừng phạt thế nào. Trọng nông khinh thương, xem ra cũng không ổn. Khích lệ trồng trọt đương nhiên quan trọng, nhưng nếu như không có buôn bán, hàng hoá không thể lưu thông, dân gian cũng không thể trao đổi những thứ thừa thiếu, nhà nước cũng không thu được khoản thuế tương ứng.”

Huệ Văn Công khẽ chau mày, ngẫm nghĩ một lúc rồi chậm rãi nói: “Ái khanh nói rất đúng! Nhưng trước lúc tiên quân băng hà, quả nhân từng thề với tiên quân sẽ bảo vệ tân pháp. Nay xương cốt tiên quân còn chưa kịp lạnh, quả nhân lại thay đổi tân pháp, xem ra không ổn.”

Công Tôn Diễn sững lại, rồi đứng dậy bước ra, quỳ xuống đất, khấu lạy mà nói: “Vi thần mạo phạm tiên quân, tội không thể dung thứ!”

Huệ Văn Công xua tay nói: “Không biết không có tội, ái khanh mau bình thân!”

Công Tôn Diễn lại bái lạy: “Vi thần đa tạ ơn xá tội của chúa thượng!”

Huệ Văn Công nhìn Công Tôn Diễn quay trở lại chỗ ngồi, mỉm cười nói: “Nghe nói ái khanh đã viết ‘Hưng Ngụy thập sách’, sau đó lại tự tay đốt đi, có chuyện này chăng?”

“Đều là những chuyện đã qua, không đáng nhắc tới!”

Huệ Văn Công khẽ thở dài: “Than ôi, sách quý như vậy mà lại bị huỷ hoại, quả nhân thấy thực đáng tiếc!”

“Chúa thượng bất tất phải nuối tiếc. Những gì vi thần viết trong sách, đều là việc của nước Ngụy, không hợp với tình hình nước Tần.”

“Ái khanh nhầm rồi!” Huệ Văn Công cười nói. “Tần Ngụy là hai nước láng giềng, quả nhân nếu không biết Ngụy, há chẳng phải sẽ thành kẻ mù loà?”

Công Tôn Diễn cũng cười: “Nghe chúa thượng nói chuyện, quả là sảng khoái!”

“Quả nhân nghe nói tiền tướng quốc Bạch Khuê rất giỏi trị nước, ái khanh đã theo Bạch Khuê nhiều năm, chắc chắn cũng quen thuộc những phương lược này. Mặc dù nói tân pháp của tiên quân không thể thay đổi, nhưng nếu ái khanh có sách lược trị quốc, chỉ cần lợi nước lợi dân, quả nhân sẽ đứng ra làm chủ.”

“Nếu là vậy, thì vi thần có một ý.”

“Ái khanh cứ nói!”

“Tần có được Hà Tây và Thương Ư, đất đai mở rộng hơn nghìn dặm. Mặc dù tân pháp khuyến khích trồng trọt, nhưng chỉ dựa vào số dân vốn có của nước Tần, ắt là lực bất tòng tâm. Vi thần cho rằng, chúa thượng có thế bố cáo với thiên hạ, phàm là những người có chí sang Tần khai khẩn đất đai, có thể miễn cho mười năm tiền thuế. Dân chúng Tam Tấn nhiều kẻ không chịu nổi thuế nặng, nếu biết tin này, chắc chắn sẽ dắt díu cả nhà sang Tần khai hoang...”

Công Tôn Diễn chưa nói dứt câu, Huệ Văn Công đã hào hứng đập tay xuống bàn, buột miệng khen ngợi: “Hay lắm! Đất là thứ chết, dân mới là thứ sống. Thiên hạ ở dân chứ không ở đất, có đất mà không có dân cũng chẳng khác nào không có đất; có dân mà không có đất sẽ chiếm được đất!”

“Chúa thượng thánh minh!” Công Tôn Diễn tiếp lời. “Nếu làm như vậy, đất hoang của Tần sẽ được khai khẩn, ruộng tốt của Tam Tấn sẽ bị bỏ hoang, cứ thế một tăng một giảm, thắng bại đã rõ ràng!”

“Phải! Phải! Phải!” Huệ Văn Công liên tiếp gật đầu. “Kế này của ái khanh chính là kế rút củi dưới nồi, tuyệt diệu!” Rồi quay sang Sư Lý Tật. “Sư Lý ái khanh hãy dựa theo đó để thảo chiếu thư, quả nhân đóng triện, bố cáo khắp toàn dân thiên hạ. Ái khanh hãy viết, phàm là dân trong liệt quốc đến Tần khai hoang, quả nhân không phân biệt quý tiện, nhất loạt đối đãi như con dân nước Tần. Nếu đến Tần khai hoang được hai mươi mẫu ruộng, sẽ miễn thuế khoá lao dịch mười năm. Nếu vượt quá hai mươi mẫu, cứ tăng thêm mười mẫu lại miễn thuế một năm. Vượt quá một trăm mẫu, ghi công tương đương với chém ba đầu địch, tặng quan một cấp. Vượt quá hai trăm mẫu, ghi công tương đương với chém năm đầu địch, tặng quan hai cấp. Còn nữa, đối với dân nghèo hai bàn tay trắng, chỉ cần thỉnh cầu, quả nhân sẽ cho mượn lương thực, công cụ, sau ba năm có thu hoạch sẽ trả lại số đã vay, quả nhân tuyệt không tính lãi.”

Sư Lý Tật vâng lệnh: “Vi thần tuân chỉ!”

Công Tôn Diễn hết sức kinh ngạc. Công Tôn Diễn chẳng qua chỉ đưa ra một ý, còn về phương cách cụ thể ra sao, vẫn chưa nghĩ ra. Vậy mà chỉ trong chốc lát, Huệ Văn Công đã quyết định xong xuôi, lại thấu đáo chu toàn đến vậy, chẳng khác nào đã dự liệu sẵn từ trước, quả thực khiến Công Tôn Diễn không khỏi bội phục.

Công Tôn Diễn đang sững sờ, tiếng của Huệ Văn Công lại vang lên: “Đây là việc lớn, lại là quốc sách, sẽ do hai vị ái khanh cùng thực hiện!”

Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật vòng tay nói: “Vi thần tuân chi!”

Huệ Văn Công đổi sang chuyện khác: “Công Tôn ái khanh, hôm nay quả nhân đến phủ của khanh, không phải vì việc này.”

“Là việc Hà Tây chăng?” Công Tôn Diễn thoáng suy nghĩ, rồi hạ giọng hỏi.

“Không hoàn toàn như vậy!” Lời Huệ Văn Công thấp thoáng lo âu. “Nhưng việc ở Hà Tây quả thực nghiêm trọng. Quả nhân đã tính sơ qua, chỉ riêng đám quyền quý nước Ngụy ở đấy đã có vài trăm hộ, mỗi hộ cũng hơn chục nhân khẩu, nếu tính cả nô bộc, e rằng tổng số không ít hơn mười vạn. Hà Tây để người Ngụy cai trị suốt sáu mươi năm, dân chúng đã quen với chế độ Ngụy, đột nhiên bắt họ đổi theo Tần pháp, quả thực rất khó khăn. Ái khanh thông hiểu Hà Tây, có diệu kế nào chăng?”

“Vi thần nghe nói tiên quân biến pháp chia làm hai bước, bước thứ nhất thực hiện được vài năm, sau đó mới chuyển sang bước thứ hai...”

Huệ Văn Công hai mắt sáng bừng: “Ý ái khanh là, việc chuyển đổi chế độ ở Hà Tây cũng chia thành hai bước?”

“Vi thần cho rằng, đối với dân chúng Hà Tây, không thể bức ép. Trước tiên có thể dùng phương pháp quan hoài vỗ yên, để cho họ có con đường sống, thấm thía được lợi ích khi làm con dân nước Tần, sau đó mới áp dụng Tần pháp. Đối với đám quyền quý nước Ngụy, lại càng phải chú ý vỗ yên. Những người này phần lớn có học hành hiểu biết, đa tài đa nghệ, là tinh anh trong dân chúng, nếu tận diệt họ, sẽ có hại cho nước cho dân. Hơn nữa, nếu ngày sau lại chiếm thêm được đất Ngụy, người Ngụy vì không có đường lui, chắc chắn sẽ trên dưới một lòng, thề chết chống cự.”

Huệ Văn Công trầm tư một lúc, rồi khẽ gật đầu: “Hãy làm theo lời ái khanh! Bây giờ quả nhân sẽ ban chỉ, phàm là quyền quý nước Ngụy, chỉ cần phục tùng Tần pháp, nguyện làm dân ngoan của quả nhân, quả nhân sẽ trả lại một nửa tài sản vốn có. Còn về tên Ngô Thanh cầm đầu nổi loạn, nghe nói ái khanh và hắn có quen biết, phiền ái khanh hãy viết một bức thư chiêu hàng Ngô Thanh. Nếu Ngô Thanh chịu hàng, quả nhân không những không xử tội, mà còn trả lại cho hắn một nửa gia sản. Nếu đồng ý làm việc cho quả nhân, quả nhân có thể theo tài mà dùng, sắp xếp cho hắn một chức quan, ái khanh thấy thế nào?”

Công Tôn Diễn quỳ xuống bái lạy: “Vi thần thay mặt Ngô Thanh và toàn bộ thần dân Hà Tây, đa tạ long ân của chúa thượng!”

Huệ Văn Công dìu Công Tôn Diễn đứng dậy, nói: “Ái khanh mau bình thân. Muốn đa tạ, thì quả nhân phải đa tạ khanh mới phải. Bất kể là người Ngụy, người Tần, chỉ cần sống ở Hà Tây, đều là con dân của quả nhân, quả nhân tuyệt đối không thể để gà cùng một mẹ đá nhau!”

Công Tôn Diễn thực tâm khâm phục: “Nước Tần có chúa thượng, đúng là điều may mắn của người Tần!”

Huệ Văn Công cười nói: “Quả nhân có ái khanh, cũng chính là điều may mắn của quả nhân! Mà này, Công Tôn ái khanh, lần này quả nhân đến, còn có một chuyện nữa muốn thỉnh giáo ái khanh.”

“Vi thần xin nghe!”

“Khanh đã từng gặp Huệ Thi chưa?”

Công Tôn Diễn lắc đầu: “Vi thần có nghe nói về người này, chỉ là chưa có duyên gặp mặt.”

“Ái khanh nghe nói những gì về ông ta?”

“Người này rất giỏi ăn nói, khi ở Tắc Hạ đã cùng Công Tôn Long đấu khẩu hai ngày hai đêm, vô số người đến nghe. Về sau, nghe nói ông ta treo ‘Quan vật thập sự’ trên phố An Ấp, vi thần đang định đến thỉnh giáo thì ông ta đã được thái tử mời về cung.”

“Hôm nay xem ra người này không chỉ có tài ăn nói, mà còn là một bậc đại tài!”

“Đại tài gì đâu?” Sư Lý Tật phì cười. “Ngụy Vương dùng ông ta để trị quốc, chỉ e rằng càng ngày càng loạn.”

Huệ Văn Công chau mày, liếc xéo Sư Lý Tật, chậm rãi nói: “Sự việc không thể chỉ nhìn bề ngoài. Huệ Thi làm tướng quốc, quyết định việc lớn đầu tiên chính là dời đô, hành động này thực không phải tầm thường!”

Sư Lý Tật nói: “Ngụy Vương dời đô, rõ ràng là sợ chúng ta đánh úp!”

Huệ Văn Công đi tới trước bản đồ, đưa tay chỉ mà nói: “Các khanh hãy nhìn xem, đất đai nước Ngụy được chia thành hai phần, một phần ở Trung Nguyên, lấy Đại Lương làm trung tâm; một phần ở Hà Đông, lấy An Ấp làm trung tâm, ở giữa bị nước Hàn cắt đứt ngang lưng. Trung Nguyên đất tốt ngàn dặm, nhân khẩu đông đúc, nông thương phát đạt, còn Hà Đông lại nhiều đồi núi, không có đất xoay sở. Ngụy dời đô về phía đông, một là có thể tăng cường quốc lực, hai là có thể tránh được mối đe dọa từ ta, ba là có thể tranh giành Trung Nguyên với liệt quốc. Cổ nhân có câu, được Trung Nguyên sẽ được thiên hạ, nước Ngụy tránh thực đánh hư, muốn chiếm Trung Nguyên, nhìn về lâu dài, thực không phải một nước cờ tồi.”

Công Tôn Diễn vô cùng thán phục, nói: “Chúa thượng tầm nhìn sâu xa, vi thần bái phục.”

“Tuy nhiên,” Huệ Văn Công nói tiếp, “Nếu Ngụy dời đô về phía đông, thì vùng Hà Tây tự nhiên lại thành ra roi dài khó với, đây sẽ là cơ hội của quả nhân. Hai vị ái khanh hãy nói xem, quả nhân phải nắm bắt cơ hội này ra sao?”

Sư Lý Tật tiếp lời: “Vi thần cho rằng, ta có thể nhân cơ hội này thu phục Âm Tấn!”

“Thu phục Âm Tấn?” Huệ Văn Công gật gù. “Phải, Âm Tấn nhất định phải thu hồi, chỉ có điều... thu hồi bằng cách nào, hai khanh có cao kiến gì chăng?”

“Vi thần cho rằng,” Công Tôn Diễn lên tiếng, “Âm Tấn không quan trọng, quan trọng là mở đường đi về phía đông!” Rồi chỉ tay vào bản đồ. “Chúa thượng hãy nhìn xem, Tần nằm lệch về phía Quan Trung, chỉ có hai con đường tiến về phía đông, một là qua ải Lâm Tấn, hai là qua ải Hàm Cốc. Qua ải Lâm Tấn phải vượt sông Hà Thủy, mặc dù có thể bắc cầu, nhưng cầu là thứ dễ bị phá huỷ. Hơn nữa, đại quân vượt qua sông lớn, trước nay vẫn là điều đại kỵ trong binh pháp, một là dễ bị đánh úp giữa sông, hai là sau khi qua sông, buộc phải dựa lưng vào nước mà đánh. Đường Hàm Cốc không phải qua sông, nếu ta chiếm được Hàm Cốc, Hào Quan, có thể thẳng tiến đến Lạc Dương, chế ngự Chu thất, đồng thời cắt đứt con đường Vũ Toại của nước Hàn, tiến có thể thẳng đến Trung Nguyên, lui có thể bảo vệ Quan Trung.”

“Không giấu ái khanh,” Huệ Văn Công tiếp lời, “quả nhân cũng đang băn khoăn về Hàm Cốc. Nếu có được Hàm Cốc, nam có Vũ Quan, đông có hai vùng hiểm địa là ải Hàm Cốc và sông Hà Thủy, Tần sẽ trở thành nước bốn bề phong kín, quả nhân có thể gối cao đầu mà ngủ. Chỉ có điều...” dừng lại một lát rồi nói tiếp, “hai ải Hàm Cốc, Âm Tấn đều do mãnh tướng nước Ngụy là Trương Mãnh trấn thủ. Từ trận chiến Hà Tây, có thể thấy người này là một tướng tài, không dễ đối phó. Âm Tấn, Hàm Cốc đều là hiểm địa, chưa nói đến dễ phòng khó đánh, lại dễ hô ứng lẫn nhau, nếu muốn chiếm lấy, quả thực khó khăn. Công Tôn ái khanh có kế sách nào chăng?”

“Vi thần có một kế, có thể lấy được Hàm Cốc, Âm Tấn.”

“Ái khanh mau nói!”

Công Tôn Diễn dõng dạc: “Tiếp tục lợi dụng việc Ngụy Hầu xưng vương! Ngụy Hầu xưng vương, bất mãn nhất là hai nước Hàn, Triệu. Hai nước này vốn sợ Ngụy, nhưng sau trận chiến Hà Tây, uy phong của võ binh Đại Ngụy đã không còn nữa, tranh chấp danh phận lại dần hiển lộ. Vi thần cho rằng, chúa thượng có thể phái sứ thần hiểu dụ Chu thiên tử, lấy danh nghĩa Chu thiên tử để chiếu lệnh cho Ngụy Vương từ bỏ vương hiệu. Ngụy Vương chắc chắn sẽ không chịu, lúc này, chúa thượng có thể lấy danh nghĩa phạt nghịch, liên kết với hai nước Triệu, Hàn, chinh phạt nước Ngụy. Nếu ba nước cùng khởi binh, Ngụy Vương ắt sẽ ứng phó rối bời, không còn rảnh rỗi để nhìn đến Hàm Cốc nữa. Còn về tướng Trương Mãnh, vi thần cũng đã có cách ứng phó.”

Huệ Văn Công gật đầu: “Ái khanh nói rất đúng!” Ngẫm nghĩ một lúc, lại nói. “Nhưng hai nước Triệu, Ngụy không chỉ tranh chấp về danh phận. Việc này coi như đã quyết định xong, sẽ do Công Tôn ái khanh trù tính sách lược, Sư Lý ái khanh sắp xếp việc triều kiến Chu thất, đi sứ hai nước Hàn, Triệu, cùng hẹn ước phạt Ngụy. Có thể hứa với Hàn, Triệu, khi phạt Ngụy, những vùng mà người Hàn chiếm được sẽ quy về Hàn, những vùng mà người Triệu chiếm được sẽ quy về Triệu!”

Ngày hôm sau, Huệ Văn Công liên tiếp ban mấy đạo chiếu thư, một là khuyến khích dân chúng đến Tần khai hoang đất đai, hai là vỗ yên quý tộc ở Hà Tây, trả lại một nửa tài sản cho họ. Công Tôn Diễn viết thư cho Ngô Thanh, chỉ rõ đường lui cho hắn. Ngô Thanh thấy có đường sống, cũng hạ vũ khí, chấp nhận chiêu hàng. Để tỏ thành ý, Ngô Thanh đã để thuộc hạ trói mình lại, đích thân giải đến Hàm Dương chịu tội với Huệ Văn Công.

Huệ Văn Công nhận được tin báo, rất đỗi vui mừng, ra tận ngoài điện nghênh đón, tự tay cởi trói cho Ngô Thanh, dắt tay hắn lên điện, xá tội ngay tại chỗ, ban lệnh lựa chọn những người tài giỏi trong số thuộc hạ của Ngô Thanh cho làm lính Tần, tấn phong cho hắn làm quan đại phu kiêm thiên phu trưởng, giữ chức thú uý Thiếu Lương.

Đồng thời với đó, ba lộ sứ thần cũng nhanh chóng lên đường, chia nhau tiến về Lạc Dương, Hàm Đan, Tân Trịnh.

Đúng lúc nước Tần rầm rộ đổi mới, khua chiêng gõ trống chuẩn bị phạt Ngụy, mưu chiếm Hàm Cốc, Âm Tấn, thì Ngụy Huệ Vương lại đang đau đầu vì một việc hệ trọng.

Việc hệ trọng này chính là tiền! Mấy năm gần đây, nước Ngụy đại sự liên tiếp, đầu tiên là đại hội Mạnh Tân, sau đó là xây dựng vương cung, sau nữa là phạt Vệ, tiếp theo là trận chiến Hà Tây, vừa động can qua, lại hưng công xây dựng, việc nào cũng tiêu tốn tiền của vô số. Đặc biệt là trận chiến Hà Tây, không những khiến bảy nghìn lượng vàng mà lão tướng Bạch Khuê quyên góp bốc hơi sạch bách, mà còn thiệt hại tám chín phần ngân khố mà Ngụy Huệ Vương đã tích lũy trong nhiều năm. Lần này cả nước dời đô, Ngụy Huệ Vương lại càng chẳng khác gì kéo vạt lộ khuỷu.

Ngụy Huệ Vương vốn đã giao việc xây dựng vương cung mới cho tư đồ Chu Uy. Chu Uy vừa cai quản hình ngục, lại quản lý tiền bạc, vì vậy biết rõ còn lại được bao nhiêu tài vật. Trước đây Đại Lương vốn là biệt cung của Ngụy Hầu, đã xây dựng cung thất, tông miếu, chỉ có điều quy mô khá nhỏ. Sau khi cân nhắc, Chu Uy đưa ra một phương án, là mở rộng biệt cung vốn có, cải tạo thành vương cung.

Tuy nhiên, khi Chu Uy trình lên phương án này, Huệ Vương lại nổi trận lôi đình, đập bàn trách mắng: “Cái cung thành này của khanh còn không bằng cả cung của Vệ Công, sao có thể gọi là vương cung được? Khanh bảo công hầu liệt quốc sẽ nhìn quả nhân như thế nào đây? Chu Uy, khanh làm thế là có ý gì? Cố tình khiến quả nhân mất mặt ư?”

Chu Uy vẫn điềm tĩnh như không, chỉ dập đầu dưới đất, nghe Huệ Vương trách mắng xong mới lên tiếng: “Bệ hạ, không phải vi thần không muốn xây lớn, mà là quốc khố đã không còn lại bao nhiêu.”

Huệ Vương khẽ chau mày: “Không còn lại bao nhiêu? Không còn lại bao nhiêu là bao nhiêu?”

“Khởi bẩm bệ hạ, trong quốc khố chỉ còn hai nghìn lượng vàng, là vi thần để lại dự trù cho việc quân.”

Trong quốc khố chỉ còn lại hai nghìn lượng vàng, đối với Ngụy Huệ Vương, quả thật là không thể tưởng tượng. Ngày trước, khi Bạch Khuê còn sống, không những giỏi kinh thương, việc chi tiêu hàng ngày cũng tính toán đâu vào đấy, vàng tích luỹ trong ngân khố không bao giờ dưới vài vạn, tiền đồng lại càng không tính xuể. Bạch Khuê mới mất hai năm, quốc khố đã gần như trống rỗng, Huệ Vương âm thầm giật mình, nghĩ ngợi một thoáng rồi nói: “Xem ra, khanh không thể lo liệu được việc xây cung điện, hãy lo tìm vàng đi! Trần ái khanh!”

Trần Chẩn bước lên: “Có vi thần!”

“Lần trước đi sứ nước Tần, ái khanh vất vả lập đại công, thăng chức lên thượng khanh. Việc xây dựng cung điện sẽ do thượng khanh đốc thúc!”

Trần Chẩn quỳ xuống dập đầu: “Vi thần đa tạ long ân!”

Trần Chẩn không được leo lên chức tướng quốc như ý nguyện, đang thất vọng ủ ê, bỗng dưng được thăng lên chức thượng khanh, lại nhận được công việc béo bở này, cũng coi như được an ủi phần nào. Mười ngày sau đó, Trần Chẩn trình lên phương án xây cung điện mới, dựa theo quy cách Chu cung ở Lạc Dương để kiến thiết một vương cung ở Đại Lương, còn biệt cung hiện có được mở rộng thành Đông cung, cho thái tử ở.

Huệ Vương xem qua phương án, rất đỗi hài lòng, sau khi khen ngợi mấy câu, bèn ngẩng lên hỏi: “Trần ái khanh, xây dựng công trình này tốn bao nhiêu tiền?”

Trần Chẩn đáp: “Theo vi thần tính toán qua, xây xong toàn bộ sẽ hết khoảng ba vạn lượng vàng!”

“Ba vạn lượng?” Huệ Vương trợn mắt. “Quả nhân lấy đâu ra nhiều tiền đến thế?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Trần Chẩn mỉm cười nói, “điều này vi thần đã tính tới. Cung điện Đại Chu không phải xây xong trong một sớm một chiều, mà do mấy đời thiên tử xây dựng mà thành. Vi thần cho rằng, trước tiên bệ hạ có thể cho xây chính điện, hai thiên điện và hậu cung, về quy mô không kém hơn vương cung ở An Ấp. Tạm thời chỉ như vậy, sau này có tiền, sẽ từ từ xây tiếp.”

“Ừm, như vậy cũng được!” Huệ Vương suy nghĩ một hồi lâu, gật đầu nói. “Theo như ái khanh nói, xây trước những điện này cần bao nhiêu tiền?”

“Năm nghìn lượng vàng là đủ!”

“Năm nghìn lượng? Nghe Chu tư đồ nói, hiện giờ trong quốc khố chỉ còn hai nghìn lượng.”

“Chẳng phải vẫn còn một số tiền bố xu đồng lẻ hay sao? Gom lại cũng được ngót nghìn lượng!”

“Vẫn còn thiếu hai nghìn lượng nữa!”

“Vi thần có một ý này, có thể bù đắp được số tiền còn thiếu hụt.”

“Ái khanh mau nói!”

“Hiện giờ sưu thuế nước Ngụy là mười khấu một, đây là chế độ thuế từ thời tiên quân Văn Hầu, từ lâu đã không hợp với chế độ thuế hiện nay của liệt quốc.”

“Ồ?” Ngụy Huệ Vương trong lòng chấn động. “Ái khanh hãy nói về chế độ thuế của liệt quốc.”

“Nước Triệu là mười khấu một tám phần mười, nước Hàn là mười khấu một sáu phần mười, nước Sở là mười khấu một năm phần mười, nước Tề là mười khấu một bốn phần mười, nước Tần là mười khấu một ba phần mười.”

“Theo ý của ái khanh, quả nhân nên thu bao nhiêu thì thích hợp?”

“Bây giờ là thời khắc hệ trọng, vi thần cho rằng, có thể thực hiện chế độ thuế mười hai, tức mười khấu hai. Nếu bệ hạ thực thi chế độ này, trong một năm có thể tăng thêm ba nghìn lượng vàng.”

Ngụy Huệ Vương lại trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu mới nói: “Hãy làm theo lời ái khanh, truyền chỉ!”

Ngụy Huệ Vương không cần bàn bạc, trực tiếp ban chiếu thư chuyển đổi chế độ thu thuế từ mười khấu một thành mười khấu hai, ngay lập tức chấn động toàn nước Ngụy. Còn nữa, để xây dựng cung điện mới, Trần Chẩn đã phụng chỉ điều động cả vạn thợ mộc các loại và hơn hai mươi vạn dân đinh, công trình còn chưa hoàn thành, dân chúng đã oán than dậy đất.

Chu Uy lo lắng, lập tức đến phủ cầu kiến Huệ Thi. Huệ Thi nghe Chu Uy thuật lại chuyện thuế khoá, thì chậm rãi nói: “Theo ta được biết, quả thực chế độ thuế mười khấu một có hơi thấp một chút.”

“Tướng quốc có điều không biết,” Chu Uy vội nói, “mặc dù nước Ngụy thực hiện chế độ thuế mười khấu một, nhưng ngoài ra còn có gần mười loại thuế khoá khác như thuế chiến tranh, thuế chè, thuế đay sợi, cộng dồn lại đã vượt quá mười khấu hai rồi. Đây mới chỉ là thuế chính thức mà chúa thượng trưng thu, hay còn gọi là quốc thuế, nhưng thực ra khi thu thuế, quan lại ở các địa phương đều tăng thêm khoản phụ thu, theo hạ quan được biết, phần thu thêm cũng không ít hơn một phần mười, lại cộng thêm tiền địa tô của địa chủ, nên nông nô cày ruộng sẽ chẳng còn lại được bao nhiêu. Nay lại tăng thêm thuế, bảo họ phải sống thế nào đây? Hơn nữa, hiện giờ đã sắp đến vụ thu hoạch mùa thu, nhưng bệ hạ lại bắt dân đi phu dịch, chẳng phải khó khăn chồng lên khó khăn ư?”

Nghe Chu Uy nói vậy, Huệ Thi mới biết sự việc nghiêm trọng, bèn thở dài mà nói: “Than ôi, tại hạ vốn nghĩ kế lâu dài nên mới đề xuất dời đô, thực không ngờ... không ngờ lại thành ra hại dân đến vậy!”

“Tướng quốc đại nhân, nếu cứ thế này, nước Ngụy sẽ nguy mất, chúng ta phải nhanh chóng nghĩ cách ứng phó!”

Huệ Thi hai mắt khép hờ, dường như đang chìm trong suy nghĩ.

“Tướng quốc đại nhân, chúng ta hãy cùng đến gặp bệ hạ!” Chu Uy không muốn chần chừ, lập tức kéo Huệ Thi phăm phăm đi tới vương cung.

Hai người đến ngự thư phòng khấu kiến Huệ Vương, chưa kịp mở miệng đã bị Huệ Vương chặn họng: “Hai vị ái khanh phải chăng đến vì chuyện thu thuế?”

Chu Uy đưa mắt nhìn Huệ Thi, dập đầu mà nói: “Bệ hạ...”

Huệ Vương xua tay ngăn lại: “Chu ái khanh, khanh muốn nói gì, quả nhân đã biết cả. Nhưng hai người đến cũng thật đúng lúc!” Rồi chỉ vào hai bó sách tre ở bên cạnh. “Hai khanh hãy nhìn xem đây là gì?”

Tỳ nhân bước lại, mang hai bó sách đến trước mặt Chu Uy. Chu Uy mở to mắt nhìn, chính là năm cuốn đầu tiên trong “Hưng Ngụy thập sách” của Công Tôn Diễn.

“Than ôi!” Huệ Vương khẽ thở dài. “Công Tôn Diễn tuy là người vô sỉ, trước vì sắc mà giết người, sau lại phản bội quả nhân, nhưng xét cho cùng, những thứ hắn viết ra vẫn rất đáng đọc. Không giấu ái khanh, tối qua quả nhân lại đọc kỹ một lượt, thấy trong đó có rất nhiều điều liên quan đến nông, thương, đúng là cái gốc chấn hưng đất nước. Khanh và Huệ ái khanh hãy mang về nghiên cứu, lựa chọn lấy những điều hữu dụng, làm thành một bản điều trần. Cung thất phải xây, cái gốc hưng quốc cũng không thể bỏ, Huệ ái khanh, khanh thấy có đúng không?”

Huệ Thi khấu đầu: “Bệ hạ thánh minh!”

“Huệ ái khanh, nếu không còn chuyện gì khác, hãy cùng đánh một ván cờ với quả nhân, được chăng?”

Huệ Thi hiểu Huệ Vương có ý đuổi khách, bèn vòng tay nói: “Hồi bẩm bệ hạ, vi thần còn phải về phụng chỉ đọc sách, ngày sau lại đến xin bệ hạ chỉ giáo.”

“Được! Được!” Huệ Vương cười nói. “Huệ ái khanh quả là người đã nói là làm, tác phong nhanh nhẹn! Đã như vậy thì quả nhân cũng không giữ hai vị ái khanh nữa!”

Huệ Thi, Chu Uy cùng cáo từ Huệ Vương, mỗi người xách một bó thẻ tre ra khỏi ngự thư phòng.

Ra khỏi cửa cung, Chu Uy trách móc: “Tướng quốc đại nhân, lúc nãy tại sao ngài không nói gì?”

Huệ Thi thở dài: “Than ôi, ván đã đóng thuyền, còn nói gì được nữa? Hai cuốn sách này, ông hãy mang về hết đi, rồi làm một bản điều trần theo lời bệ hạ, chúng ta cùng dâng tấu. Bây giờ chỉ có thể mất bò mới lo rào chuồng, rào được bao nhiêu thì rào thôi!”

“Hạ quan tuân lệnh!”

Dưới sư đôn đốc của Trần Chẩn, sau hơn nửa năm thi công gấp rút, công trình chính điện và thiên điện của vương cung đã cơ bản hoàn thành, tiếp theo là trang hoàng và xây hậu hoa viên, hậu cung... Ngụy Huệ Vương không yên tâm, vào mùa hè còn đích thân tới kiểm tra. Nhìn thấy cung điện đã gần như hoàn thiện, Ngụy Huệ Vương rất hài lòng, yêu cầu Trần Chẩn đẩy nhanh tốc độ, cố gắng sau mùa thu sẽ dời đô. Trần Chẩn lại đòi thêm năm trăm lượng vàng, Ngụy Huệ Vương lệnh cho tỳ nhân rút số tiền này từ khoản kinh phí dành cho hậu cung.

Ba tháng sau, vào ngày Trung thu, Trần Chẩn trở về An Ấp, bẩm tấu với Ngụy Huệ Vương việc xây cung điện đã hoàn thành. Ngụy Huệ Vương cả mừng, lập tức dẫn theo các trọng thần như thái tử Thân, công tử Ngang, Huệ Thi, Chu Uy, Trần Chẩn đến Thái miếu, một là báo với tổ tiên, hai là nhờ vu chúc gieo quẻ, lựa chọn ngày tốt dời đô.

Lễ bái tiên tổ xong, đại vu chúc bắt đầu nghi thức, đang định gieo quẻ thì ngự sử chấp sự đang trực trong cung lao ngựa đến Thái miếu, trình lên Ngụy Huệ Vương một bản hịch: “Bệ hạ, Tần Công truyền hịch!”

Ngụy Huệ Vương thoáng kinh ngạc: “Hịch? Tần Công truyền hịch gì?”

Tỳ nhân bước lên, nhận lấy bản hịch, trình cho Huệ Vương. Huệ Vương đọc kỹ, sắc mặt chuyển từ ngạc nhiên sang tức giận, sau đó phẫn nộ đến tím tái, đập tấm hịch đánh “chát” xuống mặt bàn. Tấm hịch văng khỏi mặt bàn rơi xuống, vừa hay rơi ngay trước mặt Huệ Thi. Quần thần không biết đã xảy ra chuyện gì, tất cả đều kinh ngạc, ngơ ngác nhìn nhau.

Ngụy Huệ Vương giận dữ nói: “Chư vị ái khanh, các khanh cũng xem đi!”

Huệ Thi chậm rãi nhặt tấm hịch lên, thấy trên hịch có viết: “Than ôi Ngụy Anh, thân là thần tử nước Chu, lừa trời dối đất, tự ý xưng vương, đã phạm phải đại tội trong thiên hạ. Thần tử nước Chu Doanh Tứ phụng chiếu mệnh của thiên tử Đại Chu, khuyên Ngụy Hầu hãy quay đầu hối cải, từ bỏ vương hiệu, mang roi tới Chu thất chịu tội. Nếu chấp mê bất ngộ, khăng khăng ý mình, Doanh Tứ đành phải thuận theo mệnh trời, dẫn đầu thần dân thiên hạ thảo nghịch dẹp loạn, sửa chính đạo trời! Tần Công Doanh Tứ.”

Huệ Thi đọc xong, đưa cho thái tử Thân, thái tử Thân đưa cho Chu Uy, Chu Uy đưa cho công tử Ngang, công tử Ngang đưa cho Trần Chẩn. Thấy chư thần đã đều đọc xong, Ngụy Huệ Vương cười nhạt một tiếng: “Hừm, một tên tiểu tử miệng còn hơi sữa, đứng còn chưa vững mà dám nói năng như vậy với quả nhân!”

Công tử Ngang đứng phắt dậy, máu nóng sôi trào, nói lớn: “Phụ vương, nhi thần xin được chinh phạt nước Tần, thề bắt lấy thằng giặc con này để báo mối thù Hà Tây!”

Ngụy Huệ Vương sầm mặt, lừ mắt nhìn công tử Ngang, rồi quay đi chỗ khác.

Công tử Ngang cúi gằm mặt, đang không biết phải xử trí thế nào thì Trần Chẩn lên tiếng: “Bệ hạ, vi thần có tấu!”

Ngụy Huệ Vương quay đầu lại, nhìn Trần Chẩn: “Ái khanh cứ nói!”

“Theo như vi thần thấy, lời trong hịch không giống lời của Tần Công!”

“Ái khanh hãy nói rõ!”

“Huệ Văn Công kế vị chưa đầy hai năm, địa vị ở Tần vẫn chưa chắc chắn, lại không có các lão thần như Công Tôn Ưởng, Cam Long, Doanh Kiền phò tá, chắc chắn không dám công khai khiêu chiến với bệ hạ. Lần trước sứ thần Sư Lý Tật đến cầu hoà, chính là bằng chứng. Còn về bài hịch này, nghe giọng điệu rất giống của nghịch tặc Công Tôn Diễn.”

“Nói tiếp đi!”

“Vi thần cho rằng, sau khi Công Tôn Diễn phạm phải trọng tội diệt môn, sợ tội mà chạy sang Tần, được Tần Công phong làm đại lương tạo, tiếp quản chức vị của Công Tôn Ưởng. Công Tôn Diễn chưa hề có chút công lao, tự nhiên lại được phong chức cao, đương nhiên không thể khiến quần thần nước Tần khâm phục. Công Tôn Diễn trong lòng hiểu rõ, vì vậy mới nôn nóng kiến công lập nghiệp, một là để báo ơn tri ngộ của Tần Công, hai là mượn đó để trấn áp quần thần. Công Tôn Diễn đi theo Bạch Khuê nhiều năm, biết rõ nước ta, tự nhiên sẽ hiến kế sách này. Tần Công tuổi trẻ khí thịnh, tuy không có tài như Hiếu Công mà lại muốn gây dựng được sự nghiệp như Hiếu Công, tự nhiên sẽ hợp ý với Công Tôn Diễn.”

“Ái khanh có cách đối phó chăng?”

“Vi thần cho rằng, nước ta tây có Hà Thủy hiểm trở, đông có Hàm Cốc hùng quan, với thực lực hiện nay của người Tần, sẽ không làm gì nổi ta. Bây giờ bệ hạ cứ coi như không nghe thấy gì, mặc cho người Tần lải nhải. Đợi sau khi bệ hạ dời đô về Đại Lương, quốc lực được củng cố, lúc đó lý luận với Tần Công cũng chưa muộn!”

Ngụy Huệ Vương trầm ngâm hồi lâu, rồi quay sang Huệ Thi: “Những lời Trần ái khanh vừa nói, Huệ ái khanh thấy thế nào?”

Huệ Thi bèn tâu: “Khởi bẩm bệ hạ, lời thượng khanh có điều không đúng!”

Đây là lần đầu tiên Huệ Thi công khai phản đối của Trần Chẩn. Trần Chẩn lập tức trừng mắt nhìn Huệ Thi.

“Có gì không đúng?”

“Lần này Tần Công muốn phạt ta, không thể ngồi yên mà nhìn được. Theo vi thần được biết, Tần Công đã phái sứ thần tới kết giao với hai nước Triệu, Hàn. Mặc dù ta có Hà Thuỷ hiểm yếu, Hào, Hàm kiên cố, nhưng giả sử ba nước Tần, Triệu, Hàn cùng lúc hưng binh, với thực lực hiện nay của ta, thực khó lòng đối phó.”

Huệ Vương giật mình: “Người Tần kết giao với Triệu, Hàn ư?”

Huệ Thi gật đầu: “Đúng vậy, hai nước Triệu, Hàn đã đồng ý kết minh với người Tần.”

“Huệ ái khanh,” Huệ Vương có vẻ trách móc, “khanh đã biết chuyện này, lẽ ra phải bẩm báo sớm hơn mới đúng!”

“Vi thần biết tội! Vi thần cũng vừa mới biết, đang định vào lúc thượng triều sẽ bẩm báo lên bệ hạ, không ngờ lại được bệ hạ triệu đến đây.”

Huệ Vương mấp máy môi mấy cái, không biết phải nói gì thêm, đành phải nhìn khắp lượt quần thần rồi nói: “Chư vị ái khanh, các khanh nói xem, người Tần rêu rao đánh ta, là muốn điều gì?”

Chu Uy cầm bản hịch lên, chậm rãi nói: “Khởi bẩm bệ hạ, từ bản hịch này có thể thấy, là Tần Công muốn ép bệ hạ từ bỏ tôn hiệu, xưng thần với Chu.”

Huệ Thi cũng nói: “Ba nước muốn đánh ta, đều nói là thảo phạt phản nghịch. Thảo phạt phản nghịch, thực chất chính là bất mãn đối với việc bệ hạ xưng vương.”

Ngụy Huệ Vương hừ mũi một tiếng: “Hừm, hài lòng cũng được, bất mãn cũng chẳng sao, quả nhân đã xưng vương, thì sẽ không bao giờ hối tiếc. Các vị ái khanh có cách gì ứng phó chăng?”

Công tử Ngang bẩm tấu: “Khởi bẩm phụ vương, nhi thần cho rằng, nếu Công Tôn Diễn muốn đánh ta, chắc chắn sẽ muốn chiếm Âm Tấn. Chủ tướng Tây Hà là Trương Mãnh có quan hệ thân thiết với Công Tôn Diễn, không nên cho trấn thủ ở đó. Phụ vương hãy triệu Trương Mãnh về, cử người khác đến giữ ải.”

Ngụy Huệ Vương gật đầu nói: “Lời của Ngang Nhi rất hữu lý, nên điều Trương Mãnh tới Đại Lương, ứng phó với Hàn, Ngụy. Có điều nên để ai trấn thủ tuyến Tây Hà đây?”

“Nhi thần xin lĩnh mệnh!”

Ngụy Huệ Vương lắc đầu nói: “Con hãy ở bên cạnh quả nhân! Huệ ái khanh, về tuyến Tây Hà, khanh xem nên giao cho ai trấn thủ thì thích hợp?”

Huệ Thi không chút đắn đo: “Long tướng quân!”

“Phụ vương, tuyệt đối không được!” Công tử Ngang lập tức phản đối. “Nếu luận về mối tư giao với Công Tôn Diễn, Long Giả còn thân thiết hơn cả Trương Mãnh.”

Ngụy Huệ Vương chau mày suy nghĩ: “Việc phòng thủ tuyến Tây Hà, đợi quả nhân suy nghĩ kỹ rồi sẽ định đoạt!” Lại quay sang Huệ Thi. “Hiện giờ ba nước muốn đánh ta, ái khanh có cách ứng phó chăng?”

“Vi thần có một cách, may ra có thể dập tắt cơn binh hoạ.”

“Ái khanh mau nói!”

Huệ Thi dõng dạc: “Mặc dù ba nước muốn đánh ta, nhưng rắp tâm thực sự chỉ có nước Tần. Bệ hạ hãy xem!” Nói rồi cầm lấy bút và một tấm da dê, bày trên mặt bàn, vạch bút mấy cái đã vẽ ra một tấm bản đồ hình thế, vừa vẽ vừa nói. “Nước Tần nằm ở giữa, tây có Nhung Địch, bắc có Nghĩa Cừ, tất cả đều là thuộc quốc của Tần. Tây nam là hai nước Ba, Thục, đều có núi non bao bọc; đông nam là nước Sở, người Tần đã chiếm được Vũ Quan, đoạt được Thương Ư, đã không còn mối lo ở phương nam. Hiện giờ, điều duy nhất mà Tần Công lo lắng, chính là bệ hạ. Nếu Tần Công muốn kê cao gối ngủ, hoặc có mưu đồ lớn, chắc chắn phải mở đường về phía đông. Người Tần chỉ có hai con đường đi về phía đông, một là đi qua ải Hàm Cốc, Hào Quan đến Lạc Dương, hai là đi qua ải Âm Tấn vượt sông Hà Thuỷ. Theo tình hình hiện nay, cả hai còn đường đều đang nằm trong tay bệ hạ. Vì vậy, vi thần cho rằng, kẻ địch lớn nhất của người Tần chẳng phải ai khác, mà chính là bệ hạ! Ngược lại hai nước Triệu, Hàn không những không có xung đột với Ngụy, mà lại cùng chung lợi ích, môi hở răng lạnh. Sở dĩ Triệu và Hàn cùng hùa về với Tần, chỉ có một lý do, đó là danh phận. Khi ba nước phân chia Tần, Ngụy, Triệu, Hàn cùng là chư hầu, ngày nay bệ hạ thân là thiên tử, mà hai nước Triệu, Hàn vẫn là chư hầu, họ làm sao có thể cam chịu? Sở dĩ trước đây Triệu, Hàn sợ ta, là vì Ngụy có võ binh hùng mạnh. Song Hà Tây thất thế, Triệu, Hàn đã không còn sợ ta nữa, nên cho rằng phải được ngang hàng với bệ hạ.”

Huệ Thi nhìn từ chỗ lớn, bắt tay từ chỗ nhỏ, lời lời hữu lý, khiến ai nấy đều thán phục. Ngay cả Trần Chẩn và công tử Ngang cũng không thể không phục.

“Ái khanh nói chí phải!” Ngụy Huệ Vương gật gù. “Theo ý của ái khanh, quả nhân nên đối phó thế nào?”

“Vi thần cho rằng, bệ hạ có ba sách lược. Thứ nhất là điều hùng binh trấn thủ tuyến Hàm Cốc, Âm Tấn, Tây Hà, phòng bị người Tần; thứ hai là củng cố quốc lực, tăng cường binh lực, chuẩn bị chiến đấu, chiêu mộ hiền tài; thứ ba là kết giao với Tề, Sở. Có Tề ở bên, Triệu không dám manh động. Có Sở ở bên, Hàn cũng không dám làm bừa. Hai nước này không động, người Tần sẽ không dám đánh ta.”

Ngụy Huệ Vương gật đầu nói: “Ái khanh nói hay lắm!”

Trần Chẩn phản bác: “Lời Huệ tướng quốc, câu nào nghe cũng có lý. Song trong ba sách lược, hai cái phía trước đều không phải chuyện khó khăn, song sách lược cuối cùng thì không thông.”

“Phải rồi!” Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn Huệ Thi. “Lời của Trần ái khanh rất đúng! Chưa nói đến nước Sở, chỉ riêng Điền Nhân Tề cũng là một kẻ khó gần, đã nhiều năm nay quả nhân không qua lại với ông ta.”

Huệ Thi vẫn như không nghe thấy: “Thực ra, nếu thực sự muốn kết liên minh, chỉ cần một nước Tề là đủ!” Sau đó cảm thấy chưa ổn, lại thêm một câu. “Còn về Tề Công khó gần, vi thần có một kế, có thể khiến ông ta chủ động kết minh với bệ hạ.”

“Ái khanh có kế gì?”

“Tôn Điền Công làm vương!”

Ngụy Huệ Vương kinh ngạc: “Ý khanh là, quả nhân và Điền Nhân Tề ngang hàng với nhau?”

“Bệ hạ,” Huệ Thi gật đầu nói, “hiện nay thời thế đổi khác, quan trọng ở thực lực, không ở danh phận. Xưng vương chẳng qua cũng chỉ là danh phận. Chu thất là vương, nhưng thiên hạ có nước nào thực sự coi Chu thất là vương? Liệt quốc tranh giành nhau cái danh hão này, vậy tại sao bệ hạ phải độc chiếm cái danh ấy làm gì? Nếu Tề Công cũng xưng vương, Triệu, Hàn sẽ không còn danh nghĩa xuất quân, nên chỉ có hai khả năng, hoặc tự mình xưng vương, hoặc đối địch với hai nước lớn là Ngụy, Tề. Nếu như các nước lớn trong thiên hạ đều xưng vương cả, bệ hạ sẽ không còn là mục tiêu công kích của liệt quốc. Lúc đó, thiên hạ giao tranh, chỉ có thể dựa vào thực lực, không còn luận theo đạo nghĩa nữa!”

Ngụy Huệ Vương trầm tư hồi lâu, rồi ánh mắt chuyển sang tỳ nhân: “Triệu Thái miếu lệnh!”

Tỳ nhân đi ra, một lát sau, Thái miếu lệnh đã tới, dập đầu bái lạy: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”

“Đại vu chúc đã định được ngày tốt hay chưa?”

“Khởi bẩm bệ hạ, đã định được rồi, là ngày chín tháng chín.”

“Ừm, ngày tốt!” Ngụy Huệ Vương gật đầu khen ngợi. “Ngày chín tháng chín Trùng dương, quả nhân thích khí thế này!” Rồi quay sang chư thần. “Chư vị ái khanh, tết Trùng dương dời đô, giờ hãy cắt đặt chuẩn bị. Huệ ái khanh...”

“Có vi thần!”

“Đi, đánh cờ cùng quả nhân!”

Quần thần hai người đi tới đình hóng mát trong hậu hoa viên, tỳ nhân chuẩn bị bàn cờ. Huệ Thi sửa áo ngồi ngay ngắn, vừa định chạm tay vào cờ, Huệ Vương lại nói: “Cảnh thu thật tuyệt! Huệ ái khanh, chúng ta hãy đi dạo quanh hồ trước, khanh thấy thế nào?”

Huệ Thi đứng dậy, đi theo Huệ Vương, hai người cùng dạo bước quanh hồ.

Ngụy Huệ Vương dừng bước, nhìn bóng mây in dưới đáy hồ, nói: “Những lời vừa rồi của ái khanh đã xua tan mây mù trong tâm trí quả nhân! Không giấu ái khanh, lúc đầu quả nhân nghe theo lời xúi bẩy của Công Tôn Ưởng, bất chấp Bạch Khuê phản đối, tự ý xưng vương, nay hối hận cũng không kịp nữa! Nhưng khanh cũng biết, nước đổ khó thu, một khi quả nhân đã ngồi lên vương vị, muốn xuống cũng chẳng được, đành phải đâm lao theo lao. Kế này của ái khanh thật kỳ diệu! Thật kỳ diệu!”

“Bệ hạ có lòng này, đúng là phúc của nước Ngụy!”

“Sách lược thứ hai mà ái khanh vừa nói, quả nhân nghe cũng thấy hợp ý. Nay có được Huệ Tử, coi như đã có được người mưu lược, thứ mà quả nhân còn thiếu, chính là nhân tài cầm quân. Người ta nói nghìn quân dễ có, một tướng khó cầu. Trận chiến Hà Tây là một bài học xương máu!”

Ngụy Huệ Vương thổ lộ những lời tận đáy lòng, khiến Huệ Thi bản tính trầm lặng cũng phải cảm động: “Bệ hạ...”

Ngụy Huệ Vương thở dài một tiếng: “Than ôi, không giấu ái khanh, hiện giờ quả nhân nào còn tâm trạng để đánh cờ? Lần này hẹn khanh đến, chính là để bàn bạc việc này. Ngang Nhi có đọc qua chút ít binh thư, nhưng bản tính ngông cuồng tự đại, không coi ai ra gì, vừa không dung người khác, lại không biết trị quân, đây là điều đại kỵ của người làm tướng. Sống trong thời chiến, nhưng trong triều lại chẳng có nhân tài trị quân, thực khiến quả nhân ăn không ngon, ngủ không yên!”

“Nếu bệ hạ thực lòng cầu tài, dùng tài, lo gì không có được tướng tốt?”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương lại thở dài một tiếng. “Nói thì dễ, nhưng làm thì khó! Huệ ái khanh, đến nơi đâu để tìm tướng tốt, khanh hãy mở mắt giúp quả nhân!”

“Bệ hạ, thứ mà nước Ngụy còn thiếu không chỉ là một tướng tài. Thiên hạ ngày nay, mạnh sống mống chết, mạnh yêu khác nhau theo thế, thế khác biệt do người, người khác biệt do tài. Vì vậy, vi thần cho rằng, kẻ có được người tài sẽ có được thiên hạ.”

“Có được người tài, có được thiên hạ!” Ngụy Huệ Vương lẩm nhẩm mấy lần, rồi gật đầu nói. “Tuyệt hay! Ái khanh nói hay lắm! Có được người tài, có được thiên hạ!” Dừng lại một lúc, lại ngẩng đầu nhìn Huệ Thi. “Xin hỏi ái khanh, quả nhân làm thế nào mới có được anh tài trong thiên hạ?”

“Thiên hạ dù lớn, nhưng anh tài chỉ đếm được trên đầu ngón tay, không chỉ bệ hạ muốn có, mà quân vương của liệt quốc đều muốn có. Tề Công xây học cung ở Lâm Truy, Tần Công mở phố Sĩ Tử ở Hàm Dương, đều là nhằm tìm kiếm nhân tài.”

“Huệ ái khanh!” Ngụy Huệ Vương suy nghĩ một hồi rồi nói. “Học cung hay phố Sĩ Tử cũng đều chưa thể hiện được cái ý tôn trọng hiền tài. Khanh thấy thế này có được chăng? Quả nhân sẽ xây dựng Chiêu Hiền quán ở Đại Lương, sĩ tử trong liệt quốc, phàm có lòng tới Ngụy, muốn ở đó bao lâu cũng được miễn phí ăn ở chi dùng. Nếu muốn lưu lại, quả nhân sẽ cất nhắc theo tài năng. Nếu không muốn, quả nhân sẽ ban cho lộ phí, tiễn khỏi biên giới.”

“Bệ hạ,” Huệ Thi vòng tay vái dài, “nếu được như vậy, chắc chắn sĩ tử trong thiên hạ sẽ nườm nượp kéo đến, bệ hạ lo gì không có được hiền tài?”

Chiếu thư chiêu mộ tướng tài của Ngụy Huệ Vương nhanh chóng được làm thành cáo thị, dán khắp các thành ấp của nước Ngụy.

Ngày hôm nay, trong Quỷ Cốc lại đến lượt Bàng Quyên và Tôn Tân xuống núi mua lương thực. Hai người vừa đi đến cửa Túc Tư, đã thấy một đám người xúm đông xúm đỏ đọc bản cáo thị dán trên tường. Bàng Quyên biết đó không phải cáo thị bắt mình, thì rảo bước lại gần, chen lên trước đám đông, đọc kỹ tờ cáo thị, rồi đứng ngây ra tại chỗ. Trên tường dán hai tờ cáo thị song song, một tờ thông báo ngày chín tháng chín, Ngụy dời đô về Đại Lương; một tờ thông báo mở Chiêu Hiền quán ở tân đô Đại Lương, thành tâm chiêu mộ hiền tài trong thiên hạ.

Tôn Tân cũng chạy tới nơi, nhìn thấy vẻ ngẩn ngơ của Bàng Quyên thì cười hỏi: “Hiền đệ, đọc thấy gì vậy, sao lại đứng ngẩn ra thế?”

Bàng Quyên thoáng giật mình, rồi kéo Tôn Tân đi luôn, nói: “Đi thôi! Chỉ là mấy chuyện vớ vẩn, chẳng liên quan gì tới chúng ta!”

Hai người đi loanh quanh một lúc, thấy trời đã tối, bèn tìm quán trọ để nghỉ đêm. Bàng Quyên không giống mọi lần, không kéo Tôn Tân đi uống rượu dưới gốc cây Ngô Khởi, chỉ ăn qua loa rồi đi ngủ luôn. Tôn Tân cũng không nghĩ ngợi nhiều, thắp đèn dầu lên đọc sách một lúc rồi cũng đi ngủ.

Sáng sớm hôm sau, hai người mua sắm xong xuôi, Bàng Quyên cũng không tự mình gánh đồ như thường lệ, mà thuê hai người khuân vác đến, chia những thứ mua được làm hai gánh, để cho họ gánh, còn mình và Tôn Tân nhàn tản đi theo phía sau.

Bàng Quyên vốn là người nói nhiều, nhưng lần này, suốt dọc đường chẳng hề mở miệng, chỉ cúi đầu lầm lũi bước đi. Thấy đã sắp về tới Quỷ Cốc, Tôn Tân trầm tính là thế cũng không nhịn nổi nữa, phì cười mà hỏi: “Hiền đệ, dường như đệ có chuyện gì thì phải?”

Bàng Quyên đáp: “Chẳng có chuyện gì!”

“Từ tối qua đến giờ, hiền đệ giống như một người hoàn toàn khác, làm sao có thể nói không có chuyện gì?”

Bàng Quyên bước chậm lại, nói với hai người khuân vác đi phía trước: “Hai vị huynh đệ, dừng lại!”

Hai người khuân vác dừng chân, đặt gánh hàng xuống, quay đầu nhìn Bàng Quyên.

Bàng Quyên móc từ trong tay áo ra bốn đồng tiền, bảo họ quay về. Thấy hai người đã đi xa, lúc này Bàng Quyên mới ngồi xuống tảng đá, nhìn Tôn Tân hỏi: “Tôn huynh, hãy thử tính xem, hai ta lên núi đã đầy ba năm chưa?”

“Đã được ba năm rồi!” Tôn Tân gật đầu nói. “Còn nhớ chúng ta lên núi vào trước Trung thu, hiện giờ đã là tháng chín.”

Bàng Quyên dường như không để tâm Tôn Tân nói gì, lẩm bẩm một mình: “Huynh nói xem, chúng ta cả ngày ở lì trong cốc, từ sáng đến tối nào là đọc sách, nào là tĩnh tọa, họa hoằn lắm mới gặp mặt tiên sinh. Cho dù có gặp, tiên sinh cũng ít khi trò chuyện. Xem ra, muốn học binh pháp, ở trong cốc này...” Nói đến đây thì ngừng lại.

Tôn Tân sững người, thầm nghĩ, ba năm ở trong cốc, Bàng Quyên chưa bao giờ nói ra những lời như thế này, có lẽ nào...

Nghĩ đến đây, Tôn Tân bật cười hỏi: “Hiền đệ nói gì vậy? Có phải tối qua ở cửa Túc Tư đã nhìn thấy chuyện gì gây nghĩ ngợi?”

“Không liên quan gì!” Bàng Quyên đứng dậy. “Không còn sớm nữa, đi thôi!” Rồi bước lên chỗ hai gánh hàng, chọn gánh nặng hơn rồi gánh lên vai, cất bước đi luôn. Tôn Tân cũng gánh lấy gánh hàng còn lại, đi theo phía sau.

Mấy ngày sau đó, Bàng Quyên đều tâm tư nặng trĩu, làm việc gì cũng không có tinh thần.

Ngày mười sáu tháng chín, trăng tròn treo trên đỉnh Đông Sơn.

Bốn đệ tử ăn cơm tối xong, đang nằm dài trên bãi cỏ bên ngoài ngắm trăng thì Trương Nghi tinh mắt, hô khẽ: “Mau, tiên sinh đến rồi!”

Mọi người vội vàng đứng dậy, quả nhiên thấy Quỷ Cốc Tử, Ngọc Thiền và tiểu đồng đi tới. Bốn người vội chuyển từ ngồi sang quỳ, đợi Quỷ Cốc Tử đến gần, đồng thanh nói: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử đi tới trước mặt họ, khoanh chân ngồi xuống: “Ngồi đi! Thiền Nhi, tiểu đồng, các con hãy cùng ngồi xuống!”

Mọi người ngồi vây quanh Quỷ Cốc Tử, chăm chú nhìn thầy.

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Các con nhìn ta làm gì? Đêm nay là ngày rằm mùa thu, trăng sáng vằng vặc, mây nhạt trời trong, mọi người hãy cùng ngắm trăng mới phải, chứ cứ nhìn lão già này, chẳng phải mất hứng ư?”

Mọi người cùng bật cười, sau đó đều ngẩng đầu, ngắm vầng trăng sáng.

Ngắm được một lúc, Quỷ Cốc Tử quay sang nói với tiểu đồng: “Tiểu tử, mang đàn của ta lại đây!”

Tiểu đồng đứng dậy, đi vào thảo đường, lát sau ôm cây đàn đi ra. Bốn người đã ở trong Quỷ Cốc ba năm, nhưng chưa từng được nghe Quỷ Cốc Tử gảy đàn, thảy đều kinh ngạc, đặc biệt là hai kẻ thạo đàn là Trương Nghi và Ngọc Thiền, đều mở to mắt nhìn chăm chú vào Quỷ Cốc Tử.

Quỷ Cốc Tử ngửa nhìn trăng sáng, tay chỉnh dây đàn, miệng nói: “Đêm nay trăng sáng vằng vặc, hơn cả hôm qua. Ta sẽ gảy một khúc đàn vì vầng trăng đêm nay!” Lời vừa dứt, dây đã ngân lên, tiếng đàn đã khởi.

Tiểu đồng dường như đã nghe quen tiếng đàn của tiên sinh, lập tức nhắm mắt lại, dỏng tai lắng nghe. Ngọc Thiền cũng khép mắt, dùng tâm cảm nhận.

Quỷ Cốc Tử đàn rất chậm rãi, thi thoảng mới khẽ nhấc ngón tay lên, sau đó nhẹ nhàng hạ xuống. Trong con mắt của bốn đệ tử, Quỷ Cốc Tử tựa hồ như không phải đang đánh đàn, thậm chí dường như đã quên bẵng mất đàn.

Dần dần, họ cũng quên mất đàn, quên mất Quỷ Cốc Tử trước mắt. Tất cả đều khép mắt, chìm trong những suy tưởng do tiếng đàn mang lại.

Ngọc Thiền bất giác thấy trước mắt sáng bừng, một vầng trăng vành vạnh treo giữa bầu không, vài đám mây nhàn nhạt khoan thai lướt tới, chầm chậm băng ngang. Có mây trắng làm nền, vầng trăng tựa như lướt nhanh ngang trời. Một bầy chim nhạn bay lại, từ từ chao xuống, gần đến nỗi dường như khẽ đưa tay là chạm. Gió núi thổi về, triền miên bất tận. Một cây quế chậm rãi nở hoa, từng đợt hương thơm thanh ngọt phả tới, thấm tận tâm can.

Dòng suối róc rách qua khe núi, bên bờ, một con chồn núi dỏng tai nghiêng ngó, thoắt cái đã lẩn vào lùm cây. Trong rừng thông, những chú sóc nhỏ nhảy qua nhảy lại, ríu rít thu lượm quả thông, chuẩn bị cho kỳ ngủ đông sắp tới. Lá phong đỏ rực như máu, gió đưa xào xạc, từng phiến lá đỏ ối lướt đi theo gió, xoay tít chao tới trước mặt nàng. Thấy phiến lá sắp chao xuống mặt, Ngọc Thiền bất giác đưa tay lên đón, nhưng bàn tay nhẹ bẫng, không bắt được vật gì...

Ngọc Thiền giật nảy mình, hai mắt mở bừng, thấy trước mắt chẳng có lá phong gì hết, chỉ có Quỷ Cốc Tử đôi mắt khép hờ, vẫn đang chậm rãi gảy đàn. Ngọc Thiền đang kinh ngạc, bỗng thấy Bàng Quyên vụt một cái đứng phắt ngay dậy, miệng quát lớn: “Chạy đi đâu?”

Quỷ Cốc Tử bỗng rung tay, tiếng đàn thình lình ngưng bặt. Mọi người đều giật mình, choàng tỉnh khỏi cơn mơ màng, ánh mắt đổ dồn cả vào Bàng Quyên. Bàng Quyên lúc này mới sực tỉnh, thấy mình thất thố, hết sức ngượng ngùng, đành cười gượng rồi ngồi xuống.

Quỷ Cốc Tử đẩy đàn sang một bên, nhìn Bàng Quyên mỉm cười: “Bàng Quyên, con đã nhìn thấy gì?”

Bàng Quyên lắp bắp: “Đệ... đệ tử không... không nhìn thấy gì cả!”

Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói: “Con đã nhìn thấy. Con nhìn thấy một con hổ!”

“Tiên sinh!” Bàng Quyên kinh ngạc. “Tại sao tiên sinh... lại biết?”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Ta nói có đúng không?”

Bàng Quyên vô cùng thán phục, vòng tay vái liên hồi: “Đúng là đệ tử đã nhìn thấy một con hổ, đang định bắt lại, nhưng con hổ lại quay mình chạy mất. Đệ tử lập tức đuổi theo định bắt, không ngờ... đã khiến tiên sinh kinh động!”

Quỷ Cốc Tử nhìn thẳng vào Bàng Quyên, hỏi: “Ngoài con hổ, con còn nhìn thấy gì nữa?”

Bàng Quyên biết không thể giấu được tiên sinh, đành phải nói thực: “Đệ tử nhìn thấy bầy thú đang đuổi theo một con hươu.”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Vì vậy, con muốn bắt lấy con hổ, cưỡi lên nó để đuổi hươu ở Trung Nguyên.”

Bàng Quyên đứng dậy, rồi dập đầu nói: “Tiên sinh quả là thần nhân! Những gì đệ tử nghĩ, không thể qua mắt được tiên sinh.”

“Đứng dậy đi!” Quỷ Cốc Tử xua tay. “Ta không phải quân vương, trong Quỷ Cốc này, không cần động chút lại hành đại lễ!” Rồi quay sang Tôn Tân hỏi. “Tôn Tân, con đã nhìn thấy gì?”

Tôn Tân đáp: “Đệ tử nhìn thấy gió thu xào xạc, một bà lão đứng ở đầu thôn, đang dõi mắt trông về phía xa xăm.”

“Bà lão đang trông ngóng điều gì?”

“Hai người con trai! Họ đã đi lính thú biên cương theo lệnh của quân chủ.”

“Đã trông thấy người chưa?”

Tôn Tân cúi mặt, lắc đầu, buồn bã đáp: “Họ đã tử trận cả rồi!”

Quỷ Cốc Tử hồi lâu không nói, một lúc sau, mới quay sang Trương Nghi: “Trương Nghi, còn con?”

Trương Nghi đáp: “Đệ tử chỉ nhìn thấy một vầng trăng sáng.”

“Trên vầng trăng có những gì?”

Trương Nghi đỏ mặt, cúi thấp đầu, lắp bắp: “Trên vầng trăng có... có một cây quế, dưới gốc cây có... có một cô gái, đang nhảy múa dịu dàng.” Trương Nghi vừa nói vừa kín đáo liếc sang Ngọc Thiền.

Bàng Quyên đã nhìn thấy cả, bèn cất giọng châm biếm: “Chẳng trách Trương huynh nói năng lắp bắp, hoá ra là đã nghe thấy mỹ nữ từ trong tiếng đàn của tiên sinh, tại hạ bái phục!”

Trương Nghi đang định sừng sộ thì Quỷ Cốc Tử khẽ đặng hắng một tiếng, quay sang Tô Tần: “Tô Tần, nói xem, con đã nhìn thấy những gì?”

Tô Tần thoáng ngần ngừ, rồi vòng tay nói: “Đệ tử nhìn thấy rất nhiều thứ. Trước tiên là rừng núi này, sau đó là rất nhiều cung điện, toà ngang dãy dọc nối liền, đệ tử muốn đi vào, nhưng có người cản lại. Đệ tử không biết làm thế nào, đành phải quanh quẩn trước thềm ngoài cung điện.”

“Chỉ thế thôi ư?” Quỷ Cốc Tử hỏi.

“Gió rất lạnh lẽo, còn có chim quạ, từng đàn kéo đến, bay lòng vòng trước cung điện.”

Quỷ Cốc Tử gật đầu, quay sang nhìn Ngọc Thiền.

Không đợi Quỷ Cốc Tử lên tiếng, Ngọc Thiền đã cười mà hỏi trước: “Tiên sinh vừa đàn khúc gì vậy, quả thực là nhạc trời!”

Quỷ Cốc Tử cũng cười, đáp: “Ta chỉ là tùy hứng mà gảy, làm gì có tên khúc nhạc? Nếu con nhất định muốn đặt cho nó một cái tên, vậy hãy gọi là ‘Ánh trăng’ đi!”

“Tên này hay lắm, Thiền Nhi có thể học chăng?”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Con đã hiểu âm luật, tự nhiên sẽ học được.” Quay sang bốn người, lại nói. “Các con vào cốc đã được ba năm, song ta chưa từng nghe thấy chí nguyện bình sinh của các con. Hôm nay trăng tỏ giữa trời, các con hãy tự nói về chí nguyện của mình cho ta nghe!”

Bốn người đưa mắt nhìn nhau.

Quỷ Cốc Tử quay sang Tôn Tân: “Tôn Tân, con nói trước đi!”

“Hồi bẩm tiên sinh,” Tôn Tân vòng tay mà nói, “chí nguyện của đệ tử là thiên hạ thái bình, chính trị trong sáng, tai không nghe thấy tiếng trống trận, mắt không nhìn thấy cảnh chém giết, chúng sinh chung sống hài hoà, bách tính an cư lạc nghiệp, cùng hưởng hạnh phúc nhân gian.”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Chí này có thể ở trong cảnh giới thánh đạo, song không thể ở trong loạn thế hiện nay!” Rồi quay sang Bàng Quyên. “Bàng Quyên, con có chí gì, có thể nói ra chăng?”

“Khởi bẩm tiên sinh,” Bàng Quyên vòng tay nói, “đệ tử chỉ có một chí, chính là ở lại Quỷ Cốc, hầu hạ tiên sinh.”

Quỷ Cốc tử mỉm cười, lắc đầu nói: “Đây là chí mà con cố ý nói cho lão hủ nghe, không phải chí thực của con!”

“Tiên sinh trách rất đúng!” Thấy tiên sinh một lời bóc mẽ, Bàng Quyên đỏ mặt, khẽ hắng giọng, rồi chậm rãi nói tiếp. “Đệ tử đời này chỉ có một chí nguyện, là phò tá minh chủ trong thiên hạ, thống lĩnh trăm vạn hùng binh, chiến tất thắng, đánh tất hạ, uy phục liệt quốc, xưng bá thiên hạ, lập nên sự nghiệp muôn đời, lưu danh sử sách.”

Quỷ Cốc Tử mỉm cười, nói: “Ừm, chí này có thể ở trong thời chiến loạn, con đã gặp thời rồi. Nhưng thiên hạ ngày nay, liệt quốc phân tranh, quân chủ các nước ai cũng vận hết tài năng, hoặc mưu đồ xưng bá, hoặc mong cầu tồn tại. Theo ý con, quân chủ nước nào có thể coi là minh chủ?”

Bàng Quyên đáp ngay không chút đắn đo: “Tần Công!”

“Nói như vậy, nếu như con xuống núi, sẽ muốn phò tá Tần Công?”

Bàng Quyên lắc đầu.

“Vậy con muốn phò tá quân chủ nước nào?”

“Đệ tử muốn phò tá Ngụy Vương!”

“Chim khôn chọn cành mà đậu, người khôn chọn chúa để thờ. Ngụy Hầu trước bỏ Công Tôn Ưởng, sau lại bỏ Công Tôn Diễn, cho thấy không biết dùng người. Tần muốn chiếm Hà Tây, Ngụy Hầu không biết là kế, lại ngông cuồng xưng vương, khiến láng giềng bốn bề đối địch, kết quả vừa mất đất vừa mất người, cho thấy không biết thẩm thời độ thế. Đã không biết dùng người, lại không biết thời thế, đủ biết đây chẳng phải là minh chủ.”

“Tiên sinh nói chí phải!”

“Con đã biết Ngụy Vương không phải minh chủ, cớ sao còn muốn phò tá?”

“Đệ tử thân là người Ngụy, phải hết lòng trung thành với Ngụy thất.”

“Đây không phải ý thật của con!”

“Tiên sinh thánh minh! Đệ tử muốn phò tá Ngụy Vương, có ba nguyên nhân. Ngụy Vương không biết dùng người, ắt không có ai bên cạnh, đệ tử sẽ có đất vùng vẫy, đây là nguyên nhân thứ nhất. Nước Ngụy hùng cứ Trung Nguyên, bốn mặt đều là kẻ địch, rất hợp với tính cách của Bàng Quyên, đây là nguyên nhân thứ hai. Ngụy Vương trước mất Công Tôn Ưởng, sau bỏ Công Tôn Diễn, chắc chắn sẽ có lòng hối hận, lúc này nếu có được đệ tử, hẳn sẽ toàn tâm toàn ý, không sinh nghi kỵ, đó là nguyên nhân thứ ba.”

Bàng Quyên một mạch nói liền ba lý do, có thể thấy tính toán thâm sâu đến nhường nào. Mọi người nghe thấy, không ai không giật mình kinh ngạc, ngay cả Quỷ Cốc Tử cũng thấy bất ngờ, trầm tư hồi lâu mới gật đầu nói: “Lời này cũng có lý!” Rồi ngẩng đầu nhìn lên không trung, thấy vầng trăng đã lên tới giữa trời, bèn đứng dậy mà nói. “Không còn sớm nữa, các con hãy về nghỉ đi!” Nói đoạn, đứng dậy bước đi ngay.

Ngọc Thiền, tiểu đồng cũng lần lượt đứng dậy, đi theo Quỷ Cốc Tử về phía thảo đường.

Trương Nghi ngẩn người, đưa khuỷu tay huých Tô Tần: “Tô huynh, chúng ta vẫn còn chưa nói ra chí nguyện, sao tiên sinh đã đi rồi?”

Tô Tần thở dài: “Đi rồi cũng tốt. Nói thực, nếu bảo ta nói ra chí nguyện, ta cũng chẳng biết phải nói thế nào.”

“Đáng tiếc quá!” Trương Nghi hậm hực liếc xéo Bàng Quyên. “Tại hạ đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ đợi tiên sinh hỏi đến, ai ngờ tiên sinh đã phủi mông đi luôn!”

Bàng Quyên bật cười: “Trương huynh đã chuẩn bị xong, vậy sao không nói cho mọi người cùng nghe?”

“Nói cho Bàng huynh biết cũng chẳng sao!” Trương Nghi cũng cười vang. “Chí nguyện của tại hạ là thống lĩnh một vị minh chủ, chỉ huy một vị tướng quân vô địch, chiến tất thắng, đánh tất hạ, uy phục liệt quốc, xưng vương thiên hạ.”

Nghe Trương Nghi nói muốn chỉ huy tướng quân vô địch, Bàng Quyên ngây người một lát mới hiểu ý, cười vang mà nói: “Chí của Trương huynh quả là khí thế tựa cầu vồng. Chỉ có điều quân chủ và Trương huynh, rốt cuộc ai thống lĩnh ai?”

“Hì hì...” Trương Nghi cười nhạt, hạ giọng đáp. “Bàng huynh là người hiểu biết, cần gì tại hạ phải nói hai lần? Mọi người ngắm trăng đi, tại hạ về đi ngủ!” Rồi lập tức đứng dậy, phủi mông phành phạch, quay người bước đi.

Bàng Quyên lại ngẩn ra một thoáng, rồi nhìn theo Trương Nghi mà nói: “Cho dù Trương huynh có thể thống lĩnh quân chủ, thì tướng quân vô địch cũng tuyệt đối không cam tâm nghe theo lời huynh!”

Lúc này Trương Nghi đã đi tới trước cửa nhà cỏ, nghe thấy nói vậy, liền ngoảnh đầu, lại cười hì hì hai tiếng, bước vào trong phòng, sập cửa cái “rầm”.

Bàng Quyên suy nghĩ một thoáng, rồi chõ về phía phòng Trương Nghi, cười lên ha hả: “Tại hạ hiểu rồi, vị quân chủ kia chắc hẳn là bậc nữ lưu! Còn vị tướng quân vô địch kia, hẳn là Trương huynh rồi!”

Lời này của Bàng Quyên rõ ràng có ý gây hấn, may mà hôm nay Trương Nghi đột nhiên rộng lượng, không hề lao ra đôi co với Bàng Quyên. Tô Tần, Tôn Tân đưa mắt nhìn nhau, rồi cũng đứng dậy.

Đi gần đến cửa phòng, Tôn Tân quay đầu, quan tâm hỏi Bàng Quyên: “Đã gần nửa đêm rồi, hiền đệ còn chưa đi ngủ ư?”

Bàng Quyên đáp một tiếng, đứng dậy quay về phòng, nằm xuống giường, quay ngang trở dọc, trằn trọc gần nửa canh giờ mà vẫn chưa ngủ được. Bàng Quyên liên đứng dậy, mở cửa đi ra ngoài.

Lúc này đã nửa đêm, trăng đã qua đỉnh đầu từ lâu. Bàng Quyên ngồi khoanh chân trên bãi cỏ, nhắm mắt dưỡng thần, vốn muốn sắp xếp lại những suy nghĩ rối bời trong mấy ngày gần đây, không ngờ càng nghĩ lại càng loạn. Ngồi được một lúc, Bàng Quyên lại đứng dậy, chậm rãi bước theo con đường nhỏ trước nhà.

Bàng Quyên vô thức đi tới trước cửa gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử. Cũng do cơ duyên dẫn tới, Bàng Quyên chợt ngẩng đầu, nhìn thấy có một người ngồi trên bãi cỏ cách đó không xa. Dưới ánh trăng, người đó ngồi yên phăng phắc, hệt như một pho tượng đá.

Bàng Quyên vội bước đến gần, nhìn thấy người ngồi dưới trăng chẳng phải ai khác, chính là Quỷ Cốc Tử. Bàng Quyên kinh ngạc, vì trước nay tiên sinh đều ngồi thiền trong động, hôm nay lại ngồi thiền dưới ánh trăng, không những chưa từng nhìn thấy, mà cũng chưa từng nghe thấy tiểu đồng nhắc tới.

Khi còn cách Quỷ Cốc Tử khoảng mươi bước chân, Bàng Quyên e sợ quấy nhiễu Quỷ Cốc Tử nhập định, nên lại dừng bước, đang định quay người bỏ đi thì Quỷ Cốc Tử lên tiếng: “Có phải Bàng Quyên không?”

Bàng Quyên giật mình, rồi vội vàng bước tới, quỳ xuống trước mặt Quỷ Cốc Tử, bái lạy: “Đệ tử Bàng Quyên khấu kiến tiên sinh!”

“Ngồi đi!”

Bàng Quyên bèn khoanh chân ngồi xuống, mắt nhìn chăm chú vào Quỷ Cốc Tử. Quỷ Cốc Tử vẫn hai mắt khép hờ, không nhìn Bàng Quyên.

Ngồi được một lúc, thấy Quỷ Cốc Tử vẫn không lên tiếng, Bàng Quyên thử thăm dò: “Đệ tử mạo muội muốn hỏi tiên sinh, cớ sao lại ngồi thiền ở đây?”

“Ta đang đợi con!”

Bàng Quyên kinh ngạc: “Đợi con?”

“Chẳng phải con đã đến rồi ư?”

“Đệ... đệ... đệ tử...” Bàng Quyên nói không thành tiếng, cổ họng bỗng nghẹn lại.

“Bàng Quyên, ta biết con có tâm sự, nói đi!”

“Tiên sinh!” Bàng Quyên bật khóc. “Đệ tử... đệ tử muốn...”

“Con muốn xuống núi, đúng không?”

Bàng Quyên vội đổi sang quỳ, dập đầu mà nói: “Đệ tử bất hiếu, không nên có suy nghĩ này!”

“Là tụ hay tán, đều là duyên phận. Con muốn xuống núi, vậy hãy cứ xuống núi!”

Bàng Quyên lại dập đầu lạy, khóc mà nói: “Tiên sinh...”

“Nghe lời của con, hẳn là muốn tới nước Ngụy?”

“Tiên sinh thánh minh! Mấy ngày trước, đệ tử tới cửa Túc Tư, vô tình được biết Ngụy Vương dời đô về Đại Lương, cho xây Chiêu Hiền quán ở Đại Lương, đang chiêu hiền nạp sĩ khắp thiên hạ.”

“Đúng vậy! Hiện giờ ba nước Tần, Triệu, Hàn đều rình rập nước Ngụy, là lúc nước Ngụy đang cần dùng người.”

Bàng Quyên thầm nghĩ: “Đời này gặp được tiên sinh, đúng là cơ duyên trời ban. Hôm nay xem ra học vấn của tiên sinh quả thực cao thâm khó lường. Nếu từ biệt mà đi, cũng tức là cắt đứt con đường cầu học. Vạn nhất tiên sinh vẫn còn báu vật gì khác, ta lại bỏ qua, há chẳng phải nuối tiếc cả đời ư?”

Nghĩ đến đây, Bàng Quyên khẽ đảo con mắt: “Tiên sinh, mặc dù đệ tử có ý xuống núi, nhưng lại thấy nghiệp học vẫn chưa thành, nếu sau khi xuống núi, chẳng may thất bại, há chẳng phải làm nhục đến sư môn? Đệ tử nghĩ đi nghĩ lại, nên ở nên đi, đến giờ vẫn chưa thể quyết, mong tiên sinh chỉ giáo.”

“Con đã ngộ được tinh hoa dụng binh của Ngô Khởi, nếu giỏi vận dụng, người ngoài núi không có ai địch nổi con, sao lại nói là làm nhục sư môn được?”

Nghe Quỷ Cốc Tử nói vậy, Bàng Quyên trong lòng kinh động, vội hỏi: “Ý tiên sinh là, người ngoài núi không ai có thể địch lại, nhưng trong sơn cốc này vẫn có người hơn được đệ tử?”

“Có người hơn được hay không, trong lòng con đã rõ!”

Bàng Quyên vội thăm dò: “Đệ tử đương nhiên hiểu rõ. Trong sơn cốc này, người có thể so sánh với con, chỉ có Tôn Tân. Theo con được biết, hiện giờ những gì huynh ấy biết, con đều đã biết, nhưng những gì con đã biết, huynh ấy lại chưa hẳn đều đã biết. Hai người chúng con, ai cao ai thấp đã thấy rõ ràng.” Nói đến đây, Bàng Quyên vô cùng tự tin, lại khấu lạy: “Đa tạ tiên sinh dạy bảo. Ơn dạy dỗ của tiên sinh, đệ tử muôn chết cũng không đủ báo đáp. Cha mẹ đệ tử đều đã mất, từ ngày vào Quỷ Cốc, đã coi tiên sinh như cha. Đệ tử lo lắng sau khi xuống núi, cuộc sống bôn ba khó kham, nếu đệ tử muốn gặp lại tiên sinh, e rằng rất khó. Đệ tử... đệ tử thật không nỡ xa tiên sinh!” Bàng Quyên nghẹn ngào.

“Con có lòng này, lão hủ cũng thấy mãn nguyện rồi!”

Bàng Quyên lau nước mắt: “Đệ tử xin nghe theo lời tiên sinh, mấy ngày tới sẽ xuống núi!”

“Sau khi xuống núi, nước cờ đầu tiên nên đi thế nào, hẳn con đã có dự tính?”

“Đệ tử muốn đến Đại Lương cầu kiến Ngụy Vương.”

Quỷ Cốc Tử lắc đầu.

Bàng Quyên sững người, vội nói: “Đệ tử khẩn cầu tiên sinh chỉ điểm!”

“Tiên thánh có câu, muốn cho buông chùng, phải giương cho căng; muốn cho suy yếu, phải giúp mạnh thêm. Con hãy lật ngược câu này lại, may ra sẽ thành công!”

Bàng Quyên kinh ngạc, vội vàng lật ngược lại lời của Lão Đam, lẩm bẩm: “Muốn giương cho căng, phải buông cho chùng; muốn giúp mạnh thêm, phải cho suy yếu...”

Quỷ Cốc Tử chậm rãi hỏi: “Con đã hiểu được đạo lý trong đó hay chưa?”

Bàng Quyên trầm ngâm suy nghĩ một hồi, mắt đảo mấy vòng, đột nhiên bừng tỉnh: “Đệ tử hiểu rồi, đa tạ tiên sinh chỉ dạy!”

“Hiểu rồi thì tốt!”

Quỷ Cốc Tử chậm rãi đứng dậy, đang định bước đi, Bàng Quyên vội nói: “Tiên sinh, đệ tử còn có một thỉnh cầu!”

Quỷ Cốc Tử lại ngồi xuống: “Nói đi!”

Bàng Quyên thấp thỏm hỏi khẽ: “Đệ tử xuống núi, con đường phía trước mờ mịt, có được như ý hay không, cầu mong tiên sinh tiết lộ.”

“Đây là số mệnh!” Quỷ Cốc Tử nói. “Con đã muốn hỏi, lão hủ có thể chỉ điểm. Sáng sớm mai, con hãy vào trong núi hái lấy một cành hoa, ta sẽ xem cho con một quẻ.”

Bàng Quyên dập đầu nói: “Đa tạ tiên sinh!”

Có lẽ do quá ư hưng phấn, cũng có lẽ do ngủ quá muộn, nên ngày hôm sau, khi Bàng Quyên mở mắt, mặt trời đã lên cao. Bàng Quyên ngái ngủ nằm đờ trên giường, đột nhiên nhớ lại lời dặn của tiên sinh, liền lập tức vùng dậy, không kịp cả rửa mặt, co cẳng chạy vào trong núi.

“Tiên sinh bảo ta sáng sớm hái hoa, giờ mặt trời đã cao quá Đông Sơn, sắp chiếu vào trong sơn cốc, ta phải khẩn trương mới được!” Bàng Quyên vừa nghĩ vừa chạy thục mạng.

Bấy giờ đương lúc cuối thu, sớm đã hết mùa hoa nở, lại vì trong núi giá rét, hoa cúc mới đang chớm nụ, không thể coi là hoa. Bàng Quyên sục sạo khắp nơi, ruột gan như lửa đốt, nhưng không nhìn thấy một cành hoa nào.

Bàng Quyên rời khỏi đường mòn, chạy vào rừng sâu. Lại tìm thêm một lúc, hai mắt Bàng Quyên bỗng vụt sáng. Khuất sau một vách đá, có một cụm hoa đang nở xoè.

Bàng Quyên mừng rơn, vội vàng bước tới, lúc này mới nhìn rõ là cây mã đầu linh (1), trên cây nở hai khóm hoa.

“Quái lạ thực!” Bàng Quyên lẩm bẩm. “Loại hoa này mùa hè nở hoa, mùa thu kết quả, bây giờ đã là cuối thu, đúng ra đã phải kết quả rồi, sao giờ mới nở hoa? Thôi kệ, ta cứ hái mang về xem tiên sinh phán đoán thế nào.”

Quyết định như vậy, Bàng Quyên liền đưa tay hái lấy khóm hoa, cầm lên ngắm nghía. Ngắm một lúc, Bàng Quyên lại lẩm bẩm: “Hoa này tuy màu sắc rực rỡ, nhưng là thứ hoa tầm thường, phẩm cách thấp kém, không phải là đại khí, ta phải đi tìm một bông hoa cao quý hơn!” Nghĩ vậy, liền ném luôn bông hoa xuống đất, tiếp tục tìm kiếm.

Lại sục sạo một thôi một hồi nữa, nhưng chẳng tìm thấy được bông hoa nào khác. Bàng Quyên vốn không tin vào mệnh tướng, lúc này lại đã tìm kiếm mệt mỏi, liền giẫm một chân lên tảng đá, lẩm bẩm: “Tiên sinh việc gì cũng linh, chỉ có điều cứ cố tình ra vẻ thần bí, thực đáng buồn thay! Đại trượng phu dựa vào bản lĩnh để kiếm cơm ăn, đàn bà dựa vào nhan sắc mà được sủng ái, mọi việc trong thiên hạ đều do con người tạo ra, làm gì có chuyện tướng mệnh? Ta không thèm tìm hoa nữa, để xem thế nào?”

Nghĩ đến đây, Bàng Quyên liền ngồi phịch luôn xuống tảng đá. Ngồi được một lúc, thấy mặt trời lên đến đỉnh đầu, mới thẳng người đứng dậy, quay trở về theo đường cũ. Đi ngang qua chỗ lúc nãy vứt bỏ bông hoa, Bàng Quyên bất giác dừng lại, nhìn chằm chằm vào cành hoa quẳng trên mặt đất, rồi lại cúi xuống nhặt lên.

Đã bị quăng quật một phen, lại bị nắng chiếu, hơn nữa Bàng Quyên lại bẻ ngang cành, không nhổ cả rễ, nên hai khóm hoa đều đã héo rũ.

“Thôi kệ!” Bàng Quyên ngắm nghía bông hoa, rồi lắc đầu nhét vào tay áo. “Ta cứ mang cành hoa này về, nếu tiên sinh có hỏi, thì cũng biết đường ăn nói.”

Trở xuống chân núi, Bàng Quyên đi tới bên bờ suối, rửa sạch mặt mũi tay chân, chỉnh lại trang phục, rồi đi vào thảo đường.

Trong thảo đường không thấy ai khác, chỉ có Quỷ Cốc Tử đang ngồi xếp bằng, rõ ràng đã đợi Bàng Quyên từ lâu.

Thấy tiên sinh nghiêm túc, Bàng Quyên lại do dự; muốn đi tìm hoa tiếp, nhưng lại thấy không thoả đáng, đành phải miễn cưỡng bước vào, quỳ xuống bái lạy trước mặt Quỷ Cốc Tử: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử hỏi: “Hoa của con đâu?”

“Bẩm tiên sinh, hiện đang là mùa thu, hoa đã lụi tàn, đệ tử đã tìm suốt nhiều canh giờ nhưng chẳng nhìn thấy cành hoa nào cả.”

“Không tìm thấy hoa, vậy trong tay áo con là vật gì?”

Bàng Quyên thất kinh, thầm nghĩ: “Đúng là thần kỳ, ngay cả vật trong tay áo mà tiên sinh cũng nhìn ra”. Ngần ngừ một lát, mới lấy ra cành hoa dại đã héo quắt cất trong tay áo, hai tay dâng lên, bối rối giải thích: “Cành hoa này không phải đại khí, đệ tử vốn không định hái, nhưng sau đó chẳng tìm được cành hoa nào khác nên mới mang nó về. Chỉ vì hoa này không hợp với ý của đệ tử, nên mới không đưa cho tiên sinh, xin tiên sinh thứ tội.”

Quỷ Cốc Tử nhận lấy cành hoa dại, ngắm nghía một hồi, rồi trả lại cho Bàng Quyên.

Bàng Quyên nhận lấy, thấy Quỷ Cốc Tử nhắm mắt ngồi yên lặng, dường như đang chuyên tâm suy nghĩ, thì tiện tay đặt cành hoa sang một bên, dập đầu sát đất, đợi nghe tiên sinh phán quẻ.

Quỷ Cốc Tử ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi mở mắt ra nói: “Hoa này tổng cộng có mười hai bông, ý chỉ con sẽ thịnh mười hai năm. Hoa này hái ở Quỷ Cốc, thấy mặt trời mà héo úa, chữ quỷ đặt cạnh chữ uỷ, ám chỉ nơi con thành công sẽ là nước Ngụy (2).”

Bàng Quyên thầm nghĩ: “Tối qua ta đã nói rõ sẽ đến nước Ngụy thử tài, nơi ta thành công đương nhiên sẽ là nước Ngụy, việc này đâu cần phải nói nữa?”

Bàng Quyên đang nghĩ, Quỷ Cốc Tử lại lên tiếng: “Tuy nhiên, sau khi con hái được lại vứt đi, vứt đi rồi lại nhặt lại, tức là có hai lòng. Trước mặt lão hủ lại giấu giếm không nói, cho thấy con sau này ắt sẽ lừa dối người, cuối cùng bản thân lại bị lừa dối.”

Bàng Quyên lại thầm nghĩ: “Thường có câu, binh bất yếm trá. Với thế đạo này, ta không lừa người ắt người lừa ta, lời này cũng chỉ là doạ suông.”

Quỷ Cốc Tử dường như đã đoán ra suy nghĩ trong lòng Bàng Quyên, trầm tư một lát, khẽ than: “Cho lão hủ nói thêm một câu, hoa này tên là mã đầu linh, ngựa thích ăn nó, nhưng dê thì không, vì vậy lão hủ tặng con một câu: ‘Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì tuyệt’!”

Bàng Quyên lạy liền ba lạy, nói: “Lời phán của tiên sinh, đệ tử kính cẩn ghi nhớ trong lòng!”

Quỷ Cốc Tử hỏi gặng: “Con ghi nhớ điều gì?”

“Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì tuyệt!”

Quỷ Cốc Tử khẽ thở dài, đứng dậy nói: “Nhớ rồi thì tốt, con có thể xuống núi được rồi!”

Bàng Quyên lạy liền ba lạy sau lưng Quỷ Cốc Tử, thấy Quỷ Cốc Tử đã đi vào trong động, lúc này mới đứng dậy, đang định đi ra, lại chợt nhìn thấy cành hoa dại trên đất, bèn cúi xuống nhặt, vừa ngắm nghía vừa đi ra khỏi thảo đường.

Đi được một đoạn, Bàng Quyên quẳng luôn cành hoa héo rũ xuống bên đường: “Cái gì mà thịnh mười hai năm? Cái gì mà ngựa thích ăn, dê không thích? Nếu lợn cũng thích ăn thì sao? Có lẽ tiên sinh thấy ta kiên quyết xuống núi, trong lòng không vui nên mới nói vậy để doạ ta. Hoặc là tiên sinh cố tình ra vẻ huyền bí, không thể tin được.”

Bàng Quyên trở về nhà cỏ, bắt đầu thu dọn hành trang. Bàng Quyên bới tung quần áo, tìm lấy hai chiếc tươm tất, cho vào tay nải, lại lấy từ dưới gầm giường ra một túi vải, mở ra, bên trong chính là cuốn “Ngô Tử” mà Bàng Quyên đã chép lại theo trí nhớ.

Bàng Quyên giở qua một lượt, khẽ thở dài: “Than ôi, đáng tiếc chỉ có sáu chương. Nếu là một bộ ‘Ngô Tử’ hoàn chỉnh thì tốt biết mấy?”

Bàng Quyên cẩn thận đặt cuốn sách vào trong đám quần áo, bỏ vào tay nải, gói ghém xong xuôi, bèn ra khỏi cửa, đi sang phòng Tôn Tân.

Trong phòng không có ai.

Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, rồi đi ra ngoài, theo đường mòn tới một lũng núi yên tĩnh, quả nhiên thấy Tôn Tân đang ngồi nhắm mắt suy tư, bên cạnh không có cuốn sách nào.

“Tôn huynh!” Bàng Quyên bước lại gần, gọi.

“Hiền đệ?” Tôn Tân thấy Bàng Quyên tới, lại thấy sắc mặt buồn rầu, không khỏi ngạc nhiên.

Bàng Quyên thình lình quỳ sụp xuống đất: “Sư huynh ở trên, xin nhận của sư đệ một lạy!”

“Hiền đệ, đệ...” Tôn Tân đứng bật dậy, đưa tay đỡ Bàng Quyên đứng lên, hỏi gấp, “đệ làm sao vậy?”

“Tôn huynh!” Bàng Quyên chậm rãi nói. “Đệ đến để từ biệt Tôn huynh, đệ phải xuống núi rồi!”

“Gì kia?” Tôn Tân hết sức bất ngờ, đứng sững một hồi lâu mới lắp bắp. “Hiền đệ, chuyện... chuyện lớn như vậy, đệ... đệ phải nói cho huynh biết sớm hơn chứ!”

“Đệ cũng vừa mới quyết định xong!”

“Chẳng trách mấy hôm nay, hiền đệ tinh thần bất định, thì ra là vì chuyện này!”

“Đúng vậy!” Bàng Quyên gật đầu thừa nhận. “Đệ tinh thần bất định là vì chưa thể quyết định. Sau khi đã quyết, đệ vẫn chưa nói với ai cả, Tôn huynh là người đầu tiên đệ báo tin.”

“Đa tạ hiền đệ đã coi trọng. Tiên sinh có biết việc này không?”

“Đệ đã từ biệt tiên sinh!”

“Ồ?” Tôn Tân lại sững người. “Hiền đệ dự định lúc nào lên đường?”

“Sáng mai, vào lúc gà gáy. Đệ cũng muốn biết, Tôn huynh định bao giờ xuống núi?”

“Than ôi!” Tôn Tân khẽ thở dài. “Kẻ ngu độn như ta, tuy đã lên núi được ba năm, vẫn chưa học được cái gì ra hồn, đâu có thể so sánh với hiền đệ, chỉ ba năm mà đã tu học đại thành. Còn về ngày xuống núi, không biết phải thêm bao nhiêu năm tháng nữa.”

“Tôn huynh bất tất phải khiêm tốn!” Bàng Quyên an ủi. “Tôn huynh là người chăm học, nghiêm cẩn chu đáo, đệ hổ thẹn không thể sánh bằng. Đệ nóng lòng xuống núi, chẳng qua là thế giới bên ngoài náo nhiệt, trái tim nông nổi của đệ không thể cưỡng lại, chỉ là ngựa non háu đá, không giống như Tôn huynh, điềm tĩnh chín chắn, đại khí lâu thành.”

“Hiền đệ quá lời rồi! Nói về dụng binh, trong liệt quốc không ai có thể sánh được với hiền đệ. Kiến công lập nghiệp chỉ là việc sớm chiều.”

“Đa tạ Tôn huynh khen tặng. Trước khi đi, đệ còn có một thỉnh cầu.”

“Hiền đệ cứ nói!”

“Học vấn của tiên sinh cao thâm khó lường, cho dù có học cả đời cũng không thể học hết. Đệ nôn nóng lập công, vội vã xuống núi, nhưng trong lòng vẫn thấy không yên. Sau khi đệ đi, nếu tiên sinh có tuyệt học bí kíp gì truyền cho Tôn huynh, mong Tôn huynh hãy niệm tới tình nghĩa huynh đệ kết nghĩa của chúng ta mà dạy cho ngu đệ một hai phần.”

“Hiền đệ khách khí rồi! Hiền đệ yên tâm, nếu huynh học được gì, nhất định sẽ truyền lại cho đệ!”

Bàng Quyên dập đầu sát đất: “Xin Tôn huynh hãy nhận của Bàng Quyên ba lạy!”

Tôn Tân lại đỡ Bàng Quyên dậy: “Hiền đệ...”

Nhưng Bàng Quyên cứ đẩy ra, kiên quyết lạy liền ba lạy, rồi đứng dậy nắm lấy tay Tôn Tân, nước mắt đầm đìa.

Hai người thương cảm một hồi, Tôn Tân nói: “Hiền đệ hãy đợi ở đây một lát, ta đi nói với mọi người, tối nay sẽ mở tiệc tiễn đưa.”

“Không cần đâu!” Bàng Quyên lắc đầu. “Trong Quỷ Cốc này, chỉ có hai người khiến đệ lưu luyến, một là Tôn huynh, hai là sư tỷ. Không cần làm kinh động tới những người khác!”

“Như vậy không được! Mấy người chúng ta đã học cùng nhau suốt ba năm ròng, hiền đệ muốn đi, kiểu gì cũng phải chào một tiếng mới phải.”

Bàng Quyên lại lắc đầu: “Từ xưa đến nay, thắng làm vua thua làm giặc. Lần này Bàng Quyên xuống núi, là thành hay bại, vẫn chưa biết được, có gì đáng để kinh động đâu? Hơn nữa, thằng cha Trương Nghi kia, không gặp vẫn hơn.”

“Được thôi!” Tôn Tân thấy Bàng Quyên khăng khăng cố chấp, đành phải nói. “Huynh sẽ nghe theo lời hiền đệ.”

Buổi tối hôm nay, mặt trăng vừa nhú. Ngọc Thiền bày giá đàn lên trên bãi cỏ, ngồi quay mặt về phía vầng trăng sáng, đàn lại khúc nhạc “Ánh trăng” của Quỷ Cốc Tử theo trí nhớ.

Đàn xong, sau lưng bỗng có tiếng vỗ tay vọng lại. Ngọc Thiền ngạc nhiên, ngoảnh lại nhìn, thì ra là Bàng Quyên.

Bàng Quyên vòng tay hành lễ: “Sư tỷ, Bàng Quyên đã quấy rầy!”

Ngọc Thiền đáp lễ: “Tiểu nữ không biết Bàng sĩ tử ở đây, thật xấu hổ!”

Bàng Quyên mỉm cười: “Sư tỷ mới nghe một lần mà đã có thể đàn đến mức xuất thần nhập hoá như vậy, Bàng Quyên là kẻ thô lỗ, trong lòng chỉ biết thán phục.”

“Đa tạ sĩ tử khen tặng. Đêm đã khuya, sĩ tử có gì chỉ dạy?”

Bàng Quyên thấy Ngọc Thiền có ý tiễn khách, thì khẽ thở dài: “Bàng Quyên không dám. Lần này Bàng Quyên đến, chỉ là muốn được nhìn sư tỷ thêm một lần.”

Ngọc Thiền chợt nhớ lại chuyện bên đầm ngày trước, bỗng thấy chột dạ, lập tức mặt hoa biến sắc, cất giọng lạnh lùng: “Tiểu nữ vẫn là tiểu nữ, không chút thay đổi, chẳng phải Bàng sĩ tử đã nhìn thấy từ lâu rồi ư?”

Bàng Quyên hạ thấp giọng: “Sư tỷ vẫn là sư tỷ, nhưng Bàng Quyên không còn là Bàng Quyên nữa!”

Ngọc Thiền kinh ngạc: “Bàng sĩ tử sao lại nói vậy?”

“Lần này Bàng Quyên đến,” Bàng Quyên lại vòng tay vái, “ngoài thăm sư tỷ ra, còn muốn thành tâm nói với sư tỷ một câu, dù rằng ngày trước Bàng Quyên có điều mạo phạm tới sư tỷ, nhưng không có tâm muốn mạo phạm sư tỷ. Sau này, cho dù Bàng Quyên có tâm muốn mạo phạm sư tỷ, cũng chẳng thể mạo phạm được nữa!”

“Bàng sĩ tử nói thế là có ý gì?”

“Bàng Quyên đã bái biệt tiên sinh, ngày mai vào lúc gà gáy sẽ xuống núi mưu sinh, lần này đến là để từ biệt sư tỷ!”

Ngọc Thiền lại giật mình kinh ngạc, rồi thong thả đứng dậy, vòng tay mà nói: “Tiểu nữ chúc Bàng sĩ tử thuận buồm xuôi gió, công thành danh toại!”

“Đa tạ sư tỷ!” Bàng Quyên cũng đáp lễ. “Sư tỷ, Bàng Quyên có một lời giấu kín trong lòng, hôm nay không thổ lộ, e rằng sau này không còn cơ hội nữa.”

“Bàng sĩ tử có lời gì, xin cứ nói!”

“Hôm nay, tại hạ nhìn trăng mà thề, nếu đời này Bàng Quyên có yêu một người con gái nào, thì đó chính là sư tỷ!”

Bàng Quyên bạo gan thổ lộ, Ngọc Thiền quá đỗi bất ngờ, nhất thời sững sờ lúng túng, hai má đỏ bừng, một lúc sau mới định thần lại được, vòng tay vái mà nói: “Tiểu nữ đa tạ Bàng sĩ tử hậu ái!”

Bàng Quyên đáp lễ: “Bàng Quyên vốn là kẻ nhơ bẩn, không xứng với thân phận thanh cao của sư tỷ, nhưng trời đất nhật nguyệt có thể chứng giám, tấm lòng của Bàng Quyên đối với sư tỷ là hoàn toàn chân thực. Từ nay trở đi, cho dù Bàng Quyên ở nơi đâu, chỉ cần sư tỷ có điều sai bảo, Bàng Quyên nhất quyết không từ. Nếu làm trái lời, trời đất không dung! Sư tỷ, hãy bảo trọng!”

Lời vừa dứt, Bàng Quyên đã gập người vái dài một vái. Do vái quá thấp, nên đầu Bàng Quyên gần như chạm đất. Vái xong, Bàng Quyên không nói một lời, lập tức quay người đi thẳng.

Nhìn Bàng Quyên từ từ đi khuất, Ngọc Thiền vẫn đứng thẫn thờ, nhịp tim rối loạn, một lúc sau mới thở hắt ra một hơi dài, trấn tĩnh tâm thần, rồi thì thầm khe khẽ: “Bàng sĩ tử, sĩ tử cũng bảo trọng!”

Sáng sớm hôm sau, khi phía xa xăm vừa vẳng đến hồi gà gáy đầu tiên, Bàng Quyên đã hành trang trên vai, khẽ khàng mở cửa phòng.

Cửa phòng vừa mở, Bàng Quyên gần như không dám tin vào mắt mình: trên bãi cỏ trước nhà, Tôn Tân, Tô Tần, Trương Nghi, Ngọc Thiền và tiểu đồng đã đứng đợi sẵn.

Xa hơn chút nữa, Quỷ Cốc Tử đứng trên một tảng đá lớn, trông hệt như một bức tượng trong ánh bình minh.

Tôn Tân lặng lẽ bước lên vài bước, đỡ lấy hành lý từ trong tay Bàng Quyên, khoác lên vai mình.

Bàng Quyên vốn là một hán tử cứng rắn, nhưng nhìn thấy cảnh này tình này, vẫn không cầm được nước mắt. Bàng Quyên đưa tay áo lau mắt, đi thẳng tới trước Quỷ Cốc Tử, quỳ xuống đất dập đầu mà nói: “Đệ tử bất hiếu, không thể hầu hạ tiên sinh được nữa. Đệ tử xuống núi, nếu được đắc ý, sẽ trở lại Quỷ Cốc thăm tiên sinh.”

Quỷ Cốc Tử mỉm cười, xua tay nói: “Đi đi!”

Bàng Quyên lạy ba lạy, đứng dậy đi về phía Tô Tần: “Tô huynh, Bàng Quyên xin đi trước một bước.”

Tô Tần vòng tay đáp lễ: “Tại hạ đợi tin tốt lành của Bàng huynh!”

“Đa tạ Tô huynh!” Rồi Bàng Quyên quay sang Trương Nghi, cũng vái một vái. “Trương huynh, ba năm trong Quỷ Cốc, Bàng Quyên có chỗ đắc tội, xin hãy bỏ qua!”

Trương Nghi bước lên trước một bước, đưa tay nắm lấy tay Bàng Quyên, cười lớn mà nói: “Bàng huynh đi rồi, Trương Nghi ở trong Quỷ Cốc này cũng thấy vô vị lắm!”

Nghe hắn tếu táo, mọi người thảy đều phì cười.

Bàng Quyên thu nụ cười lại, quay sang tiểu đồng, nhìn chăm chăm một lát, rồi từ từ quỳ xuống: “Đại sư huynh ở trên, xin hãy nhận của sư đệ Bàng Quyên một lạy!”

Bàng Quyên đang định cúi lạy, tiểu đồng liền đưa tay ngăn lại nói: “Bàng sư đệ, đại lễ này của đệ, đại sư huynh ta không nhận nổi!”

Bàng Quyên đứng dậy, kéo tiểu đồng ôm vào lòng, đưa tay xoa đầu tiểu đồng mà nói: “Đại sư huynh, mới chỉ ba năm mà sư huynh đã cao tới cằm sư đệ rồi.”

Tiểu đồng cười nói: “Thêm ba năm nữa, xem chúng ta ai cao hơn ai?”

“Được, được, được!” Bàng Quyên bật cười. “Ba năm sau, sư đệ nhất định sẽ trở lại cốc, đọ chiều cao với đại sư huynh!”

“Sư huynh sẽ đợi!”

Bàng Quyên lại quay mặt đi, ánh mắt nhìn hút vào Ngọc Thiền. Hồi lâu, Bàng Quyên vẫn không hề nói một lời, chỉ nhìn Ngọc Thiền đăm đắm, khiến Ngọc Thiền trong lòng bấn loạn, đang không biết phải làm thế nào, thì Bàng Quyên đã dứt khoát quay người, rảo bước đi luôn.

Tôn Tân khoác túi hành trang, cũng nhanh chóng bước theo sau.

Hai người rời khỏi Quỷ Cốc, đi thẳng về phía cửa Túc Tư.

Thấy đã sắp đến cửa Túc Tư, Bàng Quyên liền dừng bước, ngăn Tôn Tân lại: “Tôn huynh, chúng ta trước sau cũng phải từ biệt, không cần tiễn nữa!”

“Hiền đệ,” Tôn Tân dừng bước, do dự một lát, rồi chân thành nói, “sau khi xuống núi, vạn nhất gặp phải chuyện khó khăn, đệ có thể đến nước Vệ tìm thú thừa Sở Khâu là Lật Bình tướng quân. Chỉ cần nói là bằng hữu của ta, tướng quân nhất định sẽ giúp đỡ!”

“Ha ha ha!” Bàng Quyên phá lên cười lớn. “Tôn huynh quá lo xa rồi! Bàng Quyên cho dù bất tài, cũng tuyệt đối không đến xin cơm những hạng tầm thường.”

Tôn Tân mặt nóng ran, sượng sùng đứng ngây tại chỗ.

Bàng Quyên biết mình đã quá lời, lập tức cười trừ, rồi vái mà nói: “Tấm thịnh tình của Tôn huynh, đệ xin ghi nhớ. Tôn huynh và Quyên kết nghĩa kim lan, tình như thủ túc. Lần này đệ ra đi, nếu tạo được chút công danh, nhất định sẽ tiến cử huynh trước mặt Ngụy Vương, hai chúng ta sẽ cùng phò tá nhà Ngụy, cùng lập cơ nghiệp, dám hỏi ý Tôn huynh thế nào?”

Tôn Tân nghe Bàng Quyên đổi giọng, cũng bớt ngượng ngùng, vòng tay đáp lễ: “Tấm lòng của hiền đệ, Tân vô cùng cảm kích. Ngụy là nước lớn, ta tài học thô thiển, không dám có mơ mộng đó.”

“Lời này sai rồi! Chúng ta học cùng một thầy, nếu đệ có nơi tung hoành, Tôn huynh chắc chắn sẽ có đất dụng võ.”

“Cho dù như vậy, ta cũng khó lòng phụng mệnh!”

“Tại sao lại như vậy?”

“Đệ sinh ra ở nước Ngụy, là gốc gác của đệ. Còn nếu ta đến nước Ngụy, chỉ là cây không gốc cội, bèo trôi theo nước mà thôi.”

“Nghe Tôn huynh nói vậy, lẽ nào muốn trở về nước Vệ?”

“Tổ tiên vốn là người nước Tề, sau này nếu có cơ duyên, ta sẽ đến nước Tề!”

“Tôn huynh nói sai rồi!” Bàng Quyên lắc đầu quầy quậy. “Phượng hoàng nên đậu cành cao, giao long nên xuống đầm rộng. Thiên hạ ngày nay, sĩ tử sớm đã là của chung liệt quốc, sao lại phân chia quốc tịch cố hương? Tề giáp với biển, muốn tiến không được, muốn thoái chẳng xong, hình thế như vùng đất chết. Nước Ngụy nằm giữa Trung Nguyên, là trung tâm của thiên hạ, chính là nơi trổ tài của hai ta. Nếu Tôn huynh và đệ cùng hợp sức, hỏi thiên hạ có ai địch nổi?”

Tôn Tân không tiện phân trần gì thêm, đành phải nói: “Huynh tư chất ngu muội, chỉ sợ không những không giúp được gì, ngược lại còn gây khó khăn cho hiền đệ!”

“Tôn huynh nói như vậy là coi đệ như người ngoài rồi. Việc này, chúng ta cứ quyết định như vậy! Chỉ cần Bàng Quyên thành công, nhất định sẽ quay lại đón Tôn huynh.”

“Tấm lòng của hiền đệ, Tôn Tân xin ghi nhận!”

Bàng Quyên vòng tay vái lạy Tôn Tân: “Tôn huynh, bảo trọng!”

Tôn Tân bỏ túi hành trang xuống, khoác lên vai Bàng Quyên, vòng tay đáp lễ: “Hiền đệ lên đường bình an!”

Bàng Quyên đi xa dần, chốc chốc lại ngoái đầu nhìn lại. Tôn Tân lúc theo lúc dừng, trong lòng muôn phần lưu luyến. Hai người cứ bịn rịn như vậy, cho đến tận bến sông.

Tôn Tân tiễn Bàng Quyên lên đò, nhìn theo đến khi con đò đã đến giữa dòng Hà Thuỷ, chỉ còn là một chấm đen bé xíu, lúc này mới thở dài sườn sượt, rồi quay trở về sơn cốc.

Buổi tối hôm đó, trên bãi cỏ trước căn nhà của bốn người, Tôn Tân, Tô Tần, Trương Nghi lặng lẽ nằm ngửa mặt nhìn trời, ngắm nhìn vầng trăng đang từ từ nhô lên trên đỉnh Đông Sơn.

Ba người chẳng ai lên tiếng, bãi cỏ lặng phắc như tờ.

Trương Nghi không nhịn thêm được nữa, liền trở người ngồi dậy, nói lớn: “Hai vị, nói mấy câu có được không? Chỉ là bớt đi một tên Bàng Quyên thôi mà!”

Chẳng ai để ý đến Trương Nghi.

Trương Nghi sốt ruột, liền kéo Tô Tần dậy: “Huynh ngồi dậy nào!”

Tô Tần bị kéo dậy, hai mắt trừng trừng nhìn Bàng Quyên: “Nói cái gì?”

“Gì cũng được, chỉ cần không im lặng thế này!”

Tô Tần phì cười: “Không có Bàng huynh, đệ bứt rứt đến thế ư?”

“Nói thực, tên tiểu tử đó ở đây, nắm đấm của đệ lúc nào cũng thấy ngứa ngáy. Hắn ta đi rồi, kể cũng chán thực. Huynh nói xem, mới có tí kiến thức trong bụng, đã vội vàng xuống núi, liệu có ổn không?”

“Điều này phải hỏi Tôn huynh mới được!”

Trương Nghi quay sang Tôn Tân: “Tôn huynh, Bàng Quyên lần này lòng dạ nôn nóng, hấp tấp xuống núi, liệu có bị người ta đuổi về không nhỉ?”

Tôn Tân cũng ngồi dậy: “Bàng sư đệ nhạy bén hơn người, lại có nhiều lĩnh ngộ, lần này xuống núi, chắc chắn sẽ làm nên đại sự!”

“Tôn huynh, huynh hãy nói thực, có thật là hắn giỏi hơn huynh không?”

“Nhìn vào ngôn hành của Bàng đệ gần đây, e rằng cả đời này Tôn Tân cũng khó lòng theo kịp!”

“Đúng thế, đúng thế!” Trương Nghi cười lớn. “Vì Bàng huynh có được bảo bối, nhưng Tôn huynh lại hai tay trống không, tất nhiên không thể bằng được.”

Đúng vào lúc này, Ngọc Thiền từ gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử bước ra, nghe được lời này, đoán rằng Trương Nghi đã biết chuyện tiên sinh tặng Bàng Quyên cuốn “Binh pháp Ngô Khởi”, liền buột miệng hỏi ngay: “Trương sĩ tử, Bàng sĩ tử đã có được bảo bối gì thế?”

Trương Nghi biết mình lỡ lời, vội vàng lấp liếm: “Nhìn bộ dạng giấu giấu giếm giếm của hắn, cứ như là đã có được bảo bối gì không bằng. Sư tỷ, mời ngồi!”

Ngọc Thiền bước tới, khép gối ngồi xuống, cười nói: “Nghe sĩ tử nói vậy, Thiền Nhi đã tin là thực. Ba vị sĩ tử...”

Trương Nghi đáp ngay: “Sư tỷ có điều gì căn dặn, xin cứ nói ra!”

“Tiên sinh bảo Thiền Nhi chuyển lời, nói rằng ban đêm thường nghe tiếng chuột kêu, cảm thấy khó chịu, bảo ba vị thay phiên nhau đến canh chừng, đuổi chuột cho tiên sinh!”

Ba người ngơ ngác nhìn nhau, một lúc sau, bèn đồng thanh đáp: “Đệ tử tuân lệnh!”

Trương Nghi chớp mắt một cái, rồi nôn nóng hỏi: “Sư tỷ, ai đi đầu tiên?”

“Tiên sinh đã dặn, đêm đầu tiên là Tô sĩ tử, đêm thứ hai là Trương sĩ tử, tiếp theo là Tôn sĩ tử, bắt đầu tính từ đêm nay. Giờ không còn sớm nữa, Tô sĩ tử, mời!”

Lời vừa dứt, Ngọc Thiền đã đứng dậy, toan quay về.

Tô Tần cũng đứng dậy, vòng tay nói với Tôn Tân, Trương Nghi: “Tôn huynh, hiền đệ, tại hạ đi trực đây!”

Tô Tần đi theo Ngọc Thiền vào trong động, thấy Quỷ Cốc Tử ngồi ngay ngắn im lìm trong động thất, đang chuẩn bị nhập định.

Ngọc Thiên bẩm báo: “Tiên sinh, Tô sĩ tử đến rồi!”

Tô Tần vội bước lên bái lạy: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử hai mắt hé mở, chậm rãi nói: “Không biết con chuột lớn từ đâu đến, làm nhiễu loạn tâm trí lão hủ, khiến lão hủ không thể nhập định. Con hãy canh ở chỗ này, nếu thấy chuột đến thì đuổi đi cho ta!”

“Đệ tử tuân lệnh!”

“Trên bàn có mấy cuốn sách. Nếu mỏi, con hãy lấy đọc.”

Tô Tần bái lạy: “Đệ tử đa tạ tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử khép mắt lại, từ từ nhập định. Tô Tần đưa mắt liếc nhìn, thấy bên cạnh có một cây gậy, liền khẽ khàng bước tới, cầm gậy trong tay, đứng cách Quỷ Cốc Tử chừng mấy bước, giương tai mở mắt canh chừng.

Tô Tần không dám chểnh mảng lấy một chốc, cứ thế canh một mạch đến quá nửa đêm, vẫn không thấy chút động tĩnh gì khác lạ, đến bóng dáng con chuột cũng chẳng thấy. Khi trời gần sáng, Tô Tần thấy mệt mỏi, ngáp ngắn ngáp dài, bỗng sực nhớ đến lời dặn của tiên sinh, liền đi tới bên bàn, quả nhiên thấy có một bó thẻ tre. Đưa mắt nhìn kỹ, hoá ra là cuốn “Âm phù bản kinh” của Khương Thái Công (3).

Thấy là sách quý, Tô Tần lập tức tỉnh cả ngủ, định mở ra đọc, nhưng lại sợ làm kinh động tới tiên sinh. Do dự một lát, thấy tiên sinh đã hoàn toàn nhập định, vả lại lúc trước tiên sinh cũng có căn dặn, nên hết sức thận trọng giở sách ra, chăm chú ngồi đọc dưới ánh đèn.

Bỗng nhiên, có tiếng gà trống ngoài rừng gáy le te. Quỷ Cốc Tử mở mắt, vươn mình.

Tô Tần bái lạy: “Đệ tử đã làm theo lời tiên sinh dặn, canh chừng cả đêm, nhưng không thấy con chuột nào cả.”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Có lẽ có con ở đây nên chuột không dám đến. Con đã canh chừng suốt đêm, hẳn cũng mệt rồi.”

“Đệ tử làm theo lời dặn của tiên sinh, đọc được sách quý, nên không hề thấy mệt!”

“Không mệt thì tốt! Hãy về nghỉ ngơi đi. Có căng thì phải có chùng, nên vẫn phải ngủ!”

Tô Tần bái lạy: “Đa tạ tiên sinh quan tâm! Đệ tử cáo lui!”

Tô Tần ra khỏi nhà cỏ, đang định ra bờ suối rửa mặt, bỗng có tiếng gọi vọng lại từ phía sau gốc cây: “Tô huynh...”

Tô Tần khẽ giật mình, quay đầu lại nhìn, thấy là Trương Nghi, bèn cười hỏi: “Hiền đệ, đệ nấp ở đó làm gì thế?”

“Đang đợi Tô huynh!”

Tô Tần ngạc nhiên: “Đợi ta?”

“Đệ muốn biết, Tô huynh đã bắt được chuột hay chưa?”

Tô Tần lắc đầu

“Ồ!” Trương Nghi gật gù. “Đệ cũng đoán thế. Nói vậy là Tô huynh đã canh chừng suốt cả đêm?”

Tô Tần gật đầu.

“Không hề chợp mắt?”

“Không!”

Trương Nghi không tin lắm: “Chỉ thế thôi ư?”

“Còn chứ, ta đã đọc được một cuốn sách quý.”

Trương Nghi hai mắt vụt sáng: “Đệ đang đợi câu nói này của Tô huynh. Không giấu Tô huynh, tối qua nghe sư tỷ nói, đệ đã đoán ra được phần nào, tiên sinh hẳn là muốn mở kho báu rồi. Xin hỏi Tô huynh đã đọc được sách quý gì vậy?

“‘Âm phù bản kinh’ của Khương Thái Công!”

“Quả là sách quý!” Trương Nghi xuýt xoa. “Đệ đã từng nghe đến sách này, nhưng vẫn chưa có duyên được đọc. Tô huynh, huynh hãy về nghỉ ngơi đi, vất vả cả đêm rồi, sức khoẻ là quan trọng!”

“Đa tạ hiền đệ đã quan tâm!” Dứt lời, Tô Tần liền đi tới bên suối rửa mặt.

Nhìn theo Tô Tần, Trương Nghi gật gù liên hồi, lẩm bẩm: “Xem ra, Trương Nghi ta đã quá đa nghi. Tô huynh vẫn là Tô huynh, không một chút gian trá, khác hẳn thằng cha Bàng Quyên!”

Buổi tối hôm nay, đến lượt Trương Nghi canh gác. Trên bàn vẫn bày cuốn “Âm phù bản kinh”. Trương Nghi mừng rỡ, đọc sách thâu đêm, không hề cảm thấy mảy may buồn ngủ.

Buổi tối ngày thứ ba, tới lượt Tôn Tân canh gác, nhưng trên bàn lại chẳng có gì. Quỷ Cốc Tử hai mắt nhắm nghiền, từ từ nhập định. Tôn Tân canh chừng bên cạnh, tay gậy lăm lăm, hai mắt mở to, dỏng tai lắng nghe, chăm chú canh chuột suốt cả một đêm. Canh tới tận khi trời sáng, vẫn chẳng thấy bóng dáng con chuột nào.

Đêm thứ tư, lại đến lượt Tô Tần canh, trên bàn vẫn bày cuốn “Âm phù bản kinh”, khác là “Âm phù” này không giống với “Âm phù” trước, bên trên viết dày đặc những lời chú giải của Quỷ Cốc Tử. Tô Tần vui mừng, lại đọc suốt một đêm nữa.

Đêm thứ năm, khi Trương Nghi đến canh, trên bàn vẫn để cuốn “âm phù” có chú giải mà tối qua Tô Tần đã đọc. Trương Nghi sớm đã biết trước nhờ thăm dò Tô Tần, vì vậy không hề ngạc nhiên, lại chăm chú đọc thâu đêm.

Đêm thứ sáu, tiếp tục đến phiên Tôn Tân canh gác, trên mặt bàn vẫn chẳng có gì. Tôn Tân cũng vẫn giống như đêm trước, tay gậy sẵn sàng, chăm chú canh một mạch đến khi trời sáng.

Tôn Tân canh chừng suốt hai đêm mà chẳng thu được gì, Ngọc Thiền thấy vậy mà thương cảm.

Sáng sớm hôm sau, sau khi Tôn Tân ra khỏi thảo đường, Ngọc Thiền cùng tiểu đồng và Quỷ Cốc Tử đi đến bãi cỏ ở phía sau thảo đường, luyện tập công pháp thổ nạp (4) do Quỷ Cốc Tử sáng tạo. Luyện được một canh giờ, ba người thu thế, Ngọc Thiền bèn nói: “Thiền Nhi có một chuyện không hiểu, muốn được thỉnh giáo tiên sinh.”

Quỷ Cốc Tử mỉm cười nói: “Không phải không hiểu, mà là thấy bất bình!”

Ngọc Thiền cười hỏi: “Tiên sinh đã biết cả rồi ư?”

Quỷ Cốc Tử giải thích: “Trước tiên nói về ‘Binh pháp Ngô Khởi’, sách này chú trọng kỹ xảo chiến tranh, Bàng Quyên có cái tâm cơ xảo mánh khoé, có thể học được. Tôn Tân là người thật thà, có học cũng vô ích. Còn về cuốn ‘Âm phù bản kinh’, sách này chú trọng tu tâm dưỡng chí, cả Tô Tần và Trương Nghi, từ khi vào Quỷ Cốc, tâm thần vẫn chưa định. Nếu tâm bất định, chí ắt không vững. Học cái học miệng lưỡi, tâm chí không vững là điều đại kỵ. Hai người đó học sách này chính là để bù đắp khuyết điểm của bản thân. Tôn Tân tính tình thận trọng, tâm định chí vững, nếu lại đọc thêm ‘Âm phù’ chẳng những không thể giúp được gì, mà ngược lại, còn làm lỡ đại sự của bản thân.”

Ngọc Thiền vô cùng thán phục: “Người ta đồn Trọng Ni có thể dạy dỗ tất cả mọi hạng người, tuỳ theo tư chất mà dạy, Thiền Nhi hôm nay mới được tận mắt chứng kiến. Có điều... tiên sinh cũng không nên để Tôn sĩ tử đêm đêm canh chuột như thế mãi!”

“Dưa chín cuống rụng, nước đến kênh thành. Tôn Tân tự có tạo hoá của Tôn Tân, chỉ là đang đợi cơ duyên mà thôi!”

Cứ như vậy trực thêm một vòng nữa, đêm nay lại đến lượt Tôn Tân. Đêm đến, Tôn Tân vẫn tay cầm gậy, nghiêm túc đứng canh bên cạnh Quỷ Cốc Tử, không dám lơ là dù chốc lát. Cứ thế canh gác suốt đêm, trời đã sắp sáng, nhưng Tôn Tân không hề thấy mệt. Quỷ Cốc Tử vẫn như thường lệ, ngồi xếp bằng ngay ngắn, thân tâm hoàn toàn nhập định.

Khi gà cất tiếng gáy lần đầu, Tôn Tân bỗng nghe thấy tiếng động lạ, lập tức định thần quan sát, quả nhiên thấy một con chuột lớn đang thập thò trong khe đá. Thấy không có động tĩnh gì, con chuột liền chạy vụt ra, leo lên chiếc bàn trước án của Quỷ Cốc Tử, chui tọt vào một ngăn kéo. Một lát sau, từ trong ngăn kéo vọng ra tiếng chuột gặm gỗ kèn kẹt. Tôn Tân rón rén đi tới trước bàn, rồi đột ngột giật mạnh ngăn kéo.

Con chuột sợ hãi lao vọt ra, Tôn Tân nhanh mắt nhanh tay, vung gậy đập xuống trúng ngang lưng con chuột. Con chuột kêu chít lên một tiếng, chết lăn dưới đất.

Nghe thấy tiếng động, Quỷ Cốc Tử bèn mở mắt ra nhìn.

Thấy Quỷ Cốc Tử xuất định, Tôn Tân bái lạy sát đất: “Tiên sinh, con chuột này quả nhiên đến làm phiền, đã bị đệ tử đánh chết. Đệ tử vô ý làm kinh động tiên sinh, xin tiên sinh thứ tội.”

Quỷ Cốc Tử liếc nhìn con chuột chết trên đất, gật đầu nói: “Kẻ làm phiền ta chính là con chuột này. Con giúp ta diệt chuột, sao lại bảo là có tội?”

Tôn Tân khấu đầu: “Đa tạ tiên sinh không trách tội!”

“Tôn Tân! Bàng Quyên xuống núi, con thấy thế nào?”

“Sư đệ tu học thành tựu, chắc chắn sẽ nên nghiệp lớn.”

“Nghe con nói vậy, con cho rằng Bàng Quyên đã học thành tài rồi ư?”

“Trước khi sư đệ xuống núi, đã từng mấy lần luận binh với đệ tử, đệ tử tự biết mình còn kém xa sư đệ!”

Quỷ Cốc Tử cười nói: “Bàng Quyên bản tính nôn nóng, những gì học được trong ba năm mới chỉ là một chút kỹ xảo vụn vặt mà thôi!”

Tôn Tân kinh ngạc: “Tôn Tân ngu muội, mong tiên sinh dạy bảo!”

“Tiên thánh nói, ‘người đại khéo trông giống kẻ vụng về, người đại trí trông giống kẻ ngu si’, đạo làm người không phải ở thông minh, đạo dụng binh không phải ở chiến thắng. Bàng Quyên tự cậy thông minh, tranh cường hiếu thắng, thoạt nhìn thì ngỡ là đại tài, nhưng thực ra lại tầm thường. Con không có tâm niệm cơ xảo, không có lòng dạ tranh giành, có thể rèn thành đại khí.”

“Tôn Tân thẹn không dám nhận!”

“Còn nhớ chuyện Bàng Quyên và con bàn luận ai là binh gia đệ nhất thiên hạ không?”

“Đệ tử nhất thời nổi tính hiếu thắng, nên đã tranh luận cùng sư đệ. Về sau đệ tử nghĩ lại chuyện này, cảm thấy thật hoang đường.”

“Biết được chỗ hoang đường, có thể thấy được huệ tâm của con. Tuy nhiên, theo ta được biết, tiên tổ Tôn Vũ Tử của con xứng danh là binh thánh trong thiên hạ, từ xưa đến nay, và cả sau này, không ai có thể sánh kịp.”

Tôn Tân dập đầu: “Tôn Tân thay mặt tiên tổ đa tạ tiên sinh đã khen tặng!”

“Nhưng con biết tại sao ta lại gọi Tôn Vũ Tử là thiên hạ binh thánh chăng?”

“Tiên tổ giỏi dụng binh, thường lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh.”

“Không phải! Tôn Vũ Tử có thể gọi là binh thánh, không phải bởi thiện chiến, mà là vì giỏi không chiến!”

Tôn Tân kinh ngạc: “Giỏi không chiến?”

“Đúng thế! Cái đạo dụng binh sâu xa của Tôn Vũ Tử, binh gia bình thường tuyệt đối không thể sánh được. Cho dù là Ngô Khởi cũng chỉ có thể xếp sau.” Quỷ Cốc Tử với lấy một cuộn thẻ tre từ trên án. “Đây là tinh hoa dụng binh của Tôn Vũ Tử, lão hủ mỗi lần đọc đến, đều phải kinh ngạc xuýt xoa, vỗ bàn thán phục!”

“Tiên sinh,” Tôn Tân mở tròn hai mắt, nhìn chằm chằm vào cuốn thẻ tre, “đây phải chăng là cuốn ‘Binh pháp Tôn Vũ’ của tiên tổ?”

“Đúng thế! Con luôn biết giữ mình, tâm không tạp niệm, thành tâm thành ý, có thể đọc sách này!” Quỷ Cốc Tử cầm sách lên, đưa cho Tôn Tân.

Tôn Tân hai tay nhận lấy, dập đầu nói: “Đệ tử đa tạ tiên sinh ban tặng!”

“Theo ta được biết,” Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói, “cuốn sách này là bản duy nhất còn lại trên đời. Tôn Vũ Tử chán ghét chiến tranh, dồn hết tâm huyết cả đời để viết ra cuốn sách này, sau khi tặng cho Ngô Vương đã lui về ở ẩn. Ngô Vương coi sách này như bảo bối, cất giữ cẩn thận trong đài Cô Tô. Khi Việt Vương Câu Tiễn diệt Ngô, đã phóng hoả đốt đài Cô Tô, từ đó sách này cũng thất truyền. May sao khi Tôn Vũ Tử viết sách đã sao thêm một bản phụ, sách này mấy lần đổi chủ, cuối cùng rơi vào tay ta. Trước nay ta luôn thận trọng, chưa từng truyền dạy cho ai. Nay thấy con lòng dạ trung hậu, lại là hậu duệ của Tôn Vũ Tử, biết là đã đến ngày sách này được thấy ánh mặt trời.”

Tôn Tân lại bái lạy: “Ơn đức của tiên sinh, đệ tử suốt đời không quên!”

“Nhớ kỹ,” Quỷ Cốc Tử dặn dò, “có được sách này, khéo dùng thì có lợi cho thiên hạ, không khéo dùng sẽ gây hại cho thiên hạ, nên kẻ lòng dạ bất chính không thể học. Con mang đi, từ từ mà đọc, ba ngày sau trả lại cho ta!”

“Đệ tử kính cẩn tuân mệnh tiên sinh!”

Tôn Tân mang cuốn “Binh pháp Tôn Vũ” về phòng, đóng cửa, thắp hương, bày bài vị tổ tiên, lạy liền ba lạy, sau đó mới phục sức ngay ngắn, ngồi nghiêm trang, mở cuộn sách ra đọc.

Tôn Tân làm theo lời dặn của Quỷ Cốc Tứ, đến buổi tối ngày thứ ba, tay cầm sách quý, đi vào thảo đường.

Vừa vào đến nơi, đã thấy Quỷ Cốc Tử ngồi ở trước án, đang đợi Tôn Tân.

Tôn Tân bái lạy: “Đệ tử khấu kiến tiên sinh!”

“Đứng dậy đi!”

“Đa tạ tiên sinh! Cuốn ‘Binh pháp Tôn Vũ’ mà tiên sinh ban cho, đệ tử đã đọc liền ba ngày, nay mang đến trả!”

Tôn Tân nói đoạn, hai tay dâng cuốn “Binh pháp Tôn Vũ” lên, đưa cho Quỷ Cốc Tử.

Quỷ Cốc Tử liếc nhìn cuốn sách: “Con đã ghi nhớ chưa?”

“Đệ tử đã thuộc lòng!”

Quỷ Cốc Tử tiện tay lật một tấm thẻ tre, đọc thành tiếng: “Tôn Tử nói rằng: Trị lý quân đội, dù nhiều hay ít...”

Tôn Tân đọc tiếp: “Tôn Tử nói rằng: Trị lý quân đội, dù nhiều hay ít, đều cốt ở biên chế. Chỉ huy quân đội, dù nhiều hay ít, đều cốt ở hiệu lệnh chỉ huy. Thống lĩnh ba quân, gặp địch tấn công cũng không thất bại, là nhờ dùng ‘kỳ’ và ‘chính’. Dùng binh đánh địch như lấy đá chọi trứng, là nhờ hiểu lẽ thực hư. Trong tác chiến, thường dùng ‘chính’ để đối đầu với địch, dùng ‘kỳ’ để thủ thắng. Nên tướng giỏi sử dụng kỳ binh, chiến thuật sẽ biến hoá vô cùng như trời đất, vô tận như nước sông; như mặt trời mặt trăng lặn rồi lại mọc; như thời tiết bốn mùa vần xoay, qua rồi lại đến. Âm nhạc chỉ có năm thanh, nhưng năm thanh biến hoá vô cùng, tai nghe không chán. Màu mè chỉ gồm năm sắc, nhưng năm sắc biến hoá vô cùng, mắt nhìn không hết. Mùi vị chỉ gồm năm vị, nhưng năm vị biến hoá vô cùng, không sao nếm đủ. Chiến thuật cũng chỉ gồm ‘kỳ’ và ‘chính’, nhưng ‘kỳ’ và ‘chính’ biến hoá vô cùng vô tận. ‘Kỳ’ và ‘chính’ chuyển hoá lẫn nhau, tựa như vòng tròn, không có điểm bắt đầu, cũng không có điểm kết thúc, ai có thể cùng tận được nó?”

Quỷ Cốc Tử giơ tay ra hiệu dừng lại, rồi lại lật sang một thẻ khác: “Giành thời cơ có chỗ lợi, cũng có chỗ nguy...”

Tôn Tân đọc tiếp: “Nếu mang toàn bộ trang bị đi tranh lợi, sẽ không kịp đến nơi dự định. Nếu bỏ lại toàn bộ trang bị đi tranh lợi, trang bị sẽ tổn thất. Bởi vậy, cuốn giáp đi gấp, ngày đêm không nghỉ, ngày đi gấp đôi đường, vượt cả trăm dặm để tranh lợi, thì tướng lĩnh ba quân sẽ bị bắt. Quân lính khoẻ mạnh đến trước, quân lính mỏi mệt rơi lại phía sau, kết quả chỉ có một phần mười số người đến nơi. Vượt năm mươi dặm đường đi tranh lợi, tướng lĩnh tiền quân bị đánh bại, chỉ có một nửa số người đến nơi. Vượt ba mươi dặm đường đi tranh lợi, chỉ có hai phần ba số người đến nơi...”

Quỷ Cốc Tử đặt cuốn sách xuống, gật gù khen ngợi: “Con chuyên tâm như vậy, linh hồn Tôn Vũ Tử ở trên trời cũng đã được an ủi. Tôn Tân, hãy cầm sách lên, đi theo ta!” Rồi đứng dậy, đi trước dẫn đường.

Tôn Tân tay cầm “Binh pháp Tôn Vũ”, đi theo sau Quỷ Cốc Tử. Hai người đi tới bãi cỏ ở phía ngoài, Quỷ Cốc Tử chỉ vào một cái hố đào trên đất: “Đặt sách xuống đây!”

Tôn Tân cầm bó sách đặt xuống hố đất.

“Quay về, đem một ngọn đuốc lại đây!”

Tôn Tân đi vào nhà cỏ, đốt đuốc mang lại. Quỷ Cốc Tử chỉ tay vào cuốn sách: “Đốt đi!”

Tôn Tân kinh ngạc: “Tiên sinh?”

Quỷ Cốc Tử giọng bình thản: “‘Binh pháp Tôn Vũ’ con đã thuộc lòng, cuốn sách này để lại trên đời cũng chẳng còn tác dụng gì nữa, đốt đi!”

Tôn Tân không nỡ đốt, vẫn mở to mắt nhìn sững vào Quỷ Cốc Tử: “Tiên sinh...”

Quỷ Cốc Tử lặp lại: “Đốt đi!”

Tôn Tân thấy Quỷ Cốc Tử kiên quyết, đành phải nói: “Đệ tử tuân lệnh!”

Tôn Tân đặt ngọn đuốc sang một bên, quỳ xuống đất, xếp cuộn thẻ tre ngay ngắn, lạy liền ba lạy, vừa khóc vừa khấn: “Tổ tiên ở trên, hậu duệ Tôn Tân bất hiếu nay nghe theo lệnh của tiên sinh, trả lại cuốn sách này cho tổ tiên, xin tổ tiên chứng giám!”

Khấn xong, Tôn Tân cầm đuốc, rồi nhẹ nhàng đặt lên trên cuộn sách. Chớp mắt, cuốn thánh thư “Binh pháp Tôn Vũ” đã hoá thành tro trong tiếng lửa lép bép.

Quỷ Cốc Tử nhìn đám tàn tro lập loè bay đi trong gió, rồi nhìn sang Tôn Tân: “Tôn Tân, từ nay về sau, cuốn binh thư đệ nhất thiên hạ chỉ còn lại trong tâm của con. Tuy nhiên, con mới đọc thuộc lòng cũng không có ích lợi gì, cần phải để tâm nghiền ngẫm, ngộ ra cái lý, thấu hiểu cái nghĩa, đắc được cái đạo trong đó, mới có thể lĩnh ngộ được hoàn toàn.”

Tôn Tân bái lạy: “Đệ tử ghi nhớ lời dặn của tiên sinh!”

Hồi Thứ 20

Bàng Quyên khéo dùng kế công tâm

Đê đen ngầm ứng mưu Quỷ Cốc

Bàng Quyên từ cửa Túc Tư đi đò qua Hà Thuỷ, mấy ngày sau đã đến được tân đô Đại Lương của nước Ngụy. Đại Lương vốn là biệt đô của nước Ngụy, nhân khẩu đông đúc, sản vật dồi dào, buôn bán tấp nập, bây giờ lại trở thành đô thành, đương nhiên càng thêm náo nhiệt. Bàng Quyên sau khi hỏi thăm nhiều người, đã tìm đến được phủ của Bạch Hổ, tiến lại gõ cổng. Người mở cửa chính là lão quản gia.

Để tránh chuyện chẳng lành, Bàng Quyên đầu vẫn đội nón sùm sụp. Lão quản gia nhìn một lúc vẫn không nhận ra ai, ngạc nhiên hỏi: “Tiên sinh là...”

Bàng Quyên bỏ nón xuống, cười nói: “Lão quản gia, ông nhìn xem!”

Lão quản gia lại nhìn một lúc, vẫn lắc đầu. Bàng Quyên mỉm cười, lấy ra một bộ râu quai nón từ trong tay áo, đeo lên mặt. Nhìn thấy bộ râu quai nón, lúc này lão quản gia mới kêu lên: “Chao ôi, cặp mắt già của ta làm sao thế này, ngay cả ân công cũng không nhận ra! Ân công, mau, xin mời vào phủ!”

Lão quản gia dẫn Bàng Quyên đi vào trong phủ, vừa đi vừa gọi: “Thiếu phu nhân, mau ra đây, phu nhân hãy đoán xem là ai đến?”

Khởi Y nghe thấy tiếng, vội vàng bước ra, thấy là Bàng Quyên thì vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, lập tức quỳ xuống sân, khấu đầu nói: “Tiện thiếp bái kiến ân công!”

Bàng Quyên vòng tay đáp lễ: “Em dâu mau đứng dậy!”

Khởi Y đứng dậy, đưa tay về phía đại sảnh: “Ân công, xin mời vào trong!” Rồi quay sang lão quản gia. “Gia lão, mau gọi phu quân về!”

Lão quản gia vâng lệnh, lập tức đi ra khỏi phủ.

Khởi Y bưng trà lên mời: “Ân công, mời dùng trà!”

Bỗng thấy một đứa trẻ chưa đầy ba tuổi chạy vào, đứng bên cạnh Khởi Y, hai mắt mở to dè dặt nhìn Bàng Quyên.

Khởi Y khẽ xoa đầu đứa trẻ: “Mau, đây là ân công của nhà chúng ta, con mau khấu đầu trước ân công!”

Đứa bé đưa mắt nhìn khắp người Bàng Quyên, rồi bước lại gần, quỳ xuống khấu đầu trước mặt Bàng Quyên.

Khởi Y giục: “Mau gọi ân công.”

Đứa bé bèn lí nhí: “Ân công!”

Bàng Quyên bước lại, bế đứa bé dậy, cười vang nói: “Không cần hỏi cũng biết, thằng bé này chắc chắn là Bạch tiểu thiếu gia rồi! Nói cho bá phụ nghe, cháu tên gì?”

“Bạch Khởi!”

Bàng Quyên nhắc lại: “Bạch Khởi?”

Khởi Y tiếp lời: “Là ông nội trước lúc lâm chung đã đặt tên cho cháu!”

Bàng Quyên gật gù: “Khởi, tức là tự lập tự cường. Quả là tên hay!”

Hai người đang trò chuyện, Bạch Hổ đã lao như bay vào trong sân, chạy vào phòng khách, sụp xuống bái lạy mà nói: “Bạch Hổ khấu kiến ân công!”

Thấy Bạch Hổ trở về, Khởi Y liền vòng tay lạy Bàng Quyên một lạy, rồi dẫn Bạch Khởi ra ngoài.

Bạch Hổ, Bàng Quyên ngồi đối diện với nhau, vừa uống trà, vừa kể cho nhau nghe những chuyện sau khi chia tay. Đang lúc trò chuyện, Khởi Y bưng mấy món ăn lên, lão quản gia mang đến một vò rượu ngon, bày cả lên bàn.

Khởi Y cười nói: “Mấy món này dù sơ sài, nhưng là do tiện thiếp tự tay làm, vò rượu này cũng là do tiện thiếp tự tay ủ, mời ân công nếm thử.”

Bàng Quyên vòng tay nói: “Bàng Quyên đến đây đã khiến em dâu phải vất vả, thực áy náy.”

Khởi Y đáp lễ: “Đại ơn của ân công, tiện thiếp dù có tan xương nát thịt cũng không đủ báo đáp. Ân công xin hãy dùng bữa, tiện thiếp cáo lui!” Nói đoạn, vòng tay, cúi người lui ra.

Bạch Hổ rót đầy một chén rượu, đưa cho Bàng Quyên, lại rót đầy chén của mình, nâng lên nói: “Ân công, mời!”

Hai người uống cạn một chén, Bạch Hổ nói tiếp: “Ân công, tình thế triều đình về cơ bản là như vậy. Ba năm nay, bệ hạ độc đoán chuyên quyền, chỉ tin tưởng công tử Ngang, Trần Chẩn, không nghe lời trung thần, ép Công Tôn Diễn phải chạy sang Tần. Quần thần nước Ngụy chẳng ai hơn được Công Tôn Diễn. Người hiểu nước Ngụy, cũng chẳng ai hơn được Công Tôn Diễn. Nay Công Tôn Diễn mưu đánh Ngụy, ba nước Tần, Triệu, Hàn kết minh, nước Ngụy nguy trong sớm tối.”

Nhưng Bàng Quyên lại đổi sang chuyện khác, chau mày hỏi: “Hình như Trần Chẩn hiện không có ở Đại Lương?”

“Đúng vậy!” Bạch Hổ gật đầu xác nhận. “Nửa tháng trước, hắn đã sang Tề. Bệ hạ nghe theo lời tướng quốc Huệ Thi, định kết giao với Tề, cùng xưng vương. Trần Chẩn chủ động xin được đi sứ Tề.”

Bàng Quyên gật gù nói: “Mưu của Huệ Thi, quả thực cao thâm!”

Nhưng Bạch Hổ lại lo lắng: “Tề, Ngụy trước nay bất hoà, ân công thử nói xem, liệu Tề Công có đến Tề Châu cùng xưng vương không?”

Bàng Quyên cười mà nói: “Nếu không chắc chắn, hạng người như Trần Chẩn có thể chủ động xin đi ư?”

Bạch Hổ thở phào nhẹ nhõm: “Nói như vậy là nước Ngụy được cứu rồi!”

Bàng Quyên mỉm cười: “Nước Ngụy không những được cứu mà còn có thể hùng bá thiên hạ.”

“Ân công nói đùa rồi!” Bạch Hổ không cười nổi. “Trong tình thế hiện nay, có thể giữ được nước đã là đại phúc của người Ngụy!”

Bàng Quyên bật cười, nhấc vò rượu lên, rót đầy hai chén: “Nào, Bạch huynh đệ, chúc mừng nước Ngụy hùng bá thiên ha, cạn chén!”

Hai người cùng cạn, rồi Bạch Hổ đặt chén xuống, vòng tay nói: “Theo tại hạ được biết, hiện nay bệ hạ đang thiếu nhân tài dùng binh, đang chiêu mộ hiền tài khắp nơi cũng là vì lẽ đó. Ân công lên núi tu luyện binh học, học được bản lĩnh hơn người, nếu yết kiến Ngụy Vương, chắc chắn sẽ được trọng dụng.”

Bàng Quyên hỏi vặn lại: “Chẳng phải Công Tôn Diễn cũng có bản lĩnh hơn người đó ư?”

“Ân công nói phải!” Bạch Hổ cười gượng. “Thế nhưng nay đã khác xưa, tại hạ có thể tiến cử ân công với Chu tư đồ, rồi để Chu tư đồ tiến cử với Huệ tướng quốc. Nếu Huệ tướng quốc chịu tiến cử, bệ hạ chắc chắn sẽ trọng dụng ân công”.

“Nếu Huệ tướng quốc không chịu tiến cử thì sao?”

Bạch Hổ ngẩn người: “Huệ tướng quốc gặp được ân công, sẽ không thể không tiến cử.”

“Bạch huynh đệ!” Bàng Quyên lắc đầu nói. “Ý tốt của huynh đệ, tại hạ xin nhận. Nhưng lần này tại hạ đến đây, tuyệt đối không phải muốn xin bệ hạ một chức quan.”

Bạch Hổ hết sức ngạc nhiên: “Ân công đến Đại Lương, không phải muốn chức quan, vậy thì muốn điều gì?”

“Nước Tề!”

“Nước Tề?” Bạch Hổ kinh ngạc. “Lẽ nào ân công không muốn góp công sức cho Ngụy?”

“Muốn giúp mạnh thêm, phải cho suy yếu!”

“Muốn giúp mạnh thêm, phải cho suy yếu!” Bạch Hổ nhẩm lại mấy lần, vẻ vẫn mơ hồ. “Ân công, câu này có nghĩa là gì?”

Bàng Quyên phá lên cười lớn. “Đây là lời căn dặn của tiên sinh trước khi từ biệt, tại hạ suốt dọc đường ngẫm nghĩ, càng nghĩ càng cảm thấy kỳ diệu, kỳ diệu không thể nói thành lời.”

“Ân công?”

“Không nói tới chuyện này nữa!” Bàng Quyên xua tay. “Bạch huynh đệ, lần này tại hạ đến đây, đúng là có việc cần nhờ cậy.”

“Ân công xin cứ nói.”

Bàng Quyên nghiến răng kèn kẹt, gằn mạnh từng chữ: “Đợi sau khi Trần Chẩn trở về, hãy giúp tại hạ trông chừng hắn, không được để hắn chạy trốn!”

Bạch Hổ đầy bụng hoài nghi, nhưng vẫn gật đầu đồng ý: “Ân công yên tâm, việc này không khó!”

“Vậy thì tốt!” Bàng Quyên lại rót hai chén, từ từ nâng lên. “Đại nạn nước Ngụy, không thể không cứu! Mối thù giết cha, không thể không báo! Bạch huynh đệ, vì hai việc lớn này, hãy cạn chén!”

Trên con đường cái quan giữa đô thành Lâm Truy nước Tề, một cỗ xe ngựa đang lao vùn vụt về phía phủ tướng quốc. Trần Chẩn ngồi trong xe, hai mắt nhắm hờ, dáng điệu ung dung. Thích Quang ngồi đối diện, mặt mày ủ rũ.

“Chúa công,” Thích Quang cuối cùng không nhẫn nhịn được thêm, thấp thỏm hỏi, “liệu Trâu tướng quốc có chịu gặp chúng ta không?”

Trần Chẩn mở mắt, phá lên cười đắc ý: “Chúng ta mang tặng lễ vật hậu hĩnh, sao ông ta có thể không gặp?”

“Lão nô đã thăm dò, Trâu tướng quốc không phải hạng tham tiền!”

“Ông ta không tham tiền, nhưng lại tham thứ khác. Yên tâm, không chắc chắn, sao ta dám nhận đi sứ lần này!”

Xe ngựa đi tới trước cổng phủ tướng quốc, Thích Quang xuống xe, đưa danh thiếp đã viết sẵn cho môn nhân gác cổng, tiện tay nhét vào túi hắn một thỏi vàng. Môn nhân đương nhiên không dám chậm trễ, lập tức ba chân bốn cẳng chạy vào bẩm báo.

Một lát sau, Trâu Kỵ đi ra gặp Trần Chẩn, mời vào phòng khách, cùng ngồi xuống.

Trâu Kỵ mở miệng liền nói thẳng: “Lần này thượng khanh đến, không biết có gì chỉ giáo?”

“Không dám không dám!” Trần Chẩn đáp lời. “Lần này tại hạ đến đây, chỉ là muốn tặng tướng quốc đại nhân một món hậu lễ.”

“Là hậu lễ gì?”

“Một công lao!”

Trâu Kỵ không hiểu, chau mày: “Xin hỏi thượng khanh, là công lao gì?”

“Theo tại hạ được biết, Tề Công trong mơ cũng tưởng đến nước Tống. Nước Tống nằm ở lưu vực sông Tứ, đất đai màu mỡ, nhân khẩu đông đúc, nên nước Sở không lúc nào thôi nhòm ngó.”

Trong số mười hai nước nhỏ ở lưu vực sông Tứ, chỉ có Tống, Vệ là giàu có nhất. Vệ thân với Tề, còn Tống lại thân với Ngụy. Suốt bao năm nay, Tề, Sở đều muốn chiếm nước Tống, nhưng vì e sợ nước Ngụy nên không nước nào dám động binh.

Trâu Kỵ dường như cũng đã hiểu ra, gật gù nói: “Đúng là chúa thượng có nói với tại hạ về việc nước Tống, Trâu Kỵ thực sự muốn biết, lời này của thượng khanh có ẩn ý gì?”

“Lần này tại hạ đến đây, là muốn dâng nước Tống cho Tề Công, nếu tướng quốc đại nhân tác thành được việc này, chẳng phải đã lập được đại công hay sao?”

Trâu Kỵ trong lòng chấn động, mỉm cười nói: “Thượng khanh quá lời rồi! Trâu Kỵ đã làm tới chức tướng, còn tham công gì nữa? Nhưng Trâu Kỵ rất có hứng thú với nước Tống. Chỉ có điều, nước Tống là miếng thịt ngon lành, Ngụy Vương há lại dễ dàng nhả ra?”

“Chỉ cần Tề Công đồng ý một việc, bệ hạ nhất định sẽ buông tay!”

“Việc gì?”

“Xưng vương!”

Trâu Kỵ tim nảy lên một nhịp, rồi nhắm mắt suy nghĩ. Một lúc sau, Trâu Kỵ mở mắt ra, vòng tay với Trần Chẩn: “Được thôi, đại lễ của thượng khanh, Trâu Kỵ tạm thời xin nhận. Thượng khanh còn có chuyện gì chăng?”

Trần Chẩn cũng vòng tay nói: “Đa tạ tướng quốc đại nhân đã thành toàn! Tại hạ cáo lui!”

Ngày hôm sau, Trần Chẩn lên triều với thân phận là sứ giả nước Ngụy, dâng quốc thư lên Tề Uy Công, bẩm rõ việc Ngụy Vương có ý tôn Tề Công làm vương. Nếu Tề Công chấp thuận, hai nước sẽ kết liên minh, cùng chia vương vị.

Quốc sự xong xuôi, Trần Chẩn cáo lui.

Nhìn Trần Chẩn từ từ lui ra, rồi khuất dạng ngoài cửa điện, Tề Uy Công phá lên cười mấy tiếng, rồi quay sang nói với quần thần: “Chư vị ái khanh, Ngụy Anh ngồi trên vương vị, xem ra đã cháy xém mông rồi, bị người Tần bức bách, trước thì mất Hà Tây, sau lại phải dời đô. Nhưng người Tần vẫn không chịu buông tha, nghe nói gần đây lại kết minh với Hàn, Triệu, ba mặt phạt Ngụy. Ngụy Anh lo lắng, mới phái Trần Chẩn đi sứ nước ta, mưu đồ tôn quả nhân làm vương, cùng kéo quả nhân xuống vũng lầy một thể. Các khanh nói xem, quả nhân có nên ngụp xuống vũng bùn này này không?”

Điền Kỵ bước lên trước một bước, bẩm tấu: “Khởi bẩm chúa thượng, việc xưng vương, tuyệt đối không thể được!”

“Điền ái khanh hãy nói xem, tại sao lại không thể?”

“Khi nước Ngụy cường thịnh, họ coi ta là địch, nay thất thế, lại đến xin kết minh với ta, đây là khát mới đào giếng, không phải thực lòng. Hơn nữa, Ngụy Hầu xưng vương là việc ngông cuồng trái đạo, nên hiện giờ mới bị thiên hạ quay lưng, liệt quốc ghét bỏ. Lần này Ngụy Vương tôn chúa thượng làm vương, chắc chắn không có ý tốt, chúa thượng tuyệt đối không được mắc lừa!”

Tề Uy Công gật đầu, đưa mắt nhìn sang Trâu Kỵ: “Điền ái khanh cho rằng Ngụy Vương đợi khát mới đào giếng, lại có ý hại quả nhân, ý ái khanh thế nào?”

Điền Kỵ vốn là danh tướng nước Tề, lại là ruột thịt của Tề Công, chưa từng coi Trâu Kỵ ra gì. Trâu Kỵ tuy ngoài mặt không so đo, nhưng trong lòng vẫn thấy căm tức. Lúc này thấy Điền Kỵ phản đối, lại bị Trần Chẩn xúi giục, Trâu Kỵ bèn quả quyết bước lên tấu: “Khởi bẩm chúa thượng, vi thần cho rằng, chúa thượng có thể chấp thuận thỉnh cầu của Trần Chẩn, cùng xưng vương với Ngụy!”

Tề Công hai mắt vụt sáng: “Ái khanh mau nói rõ!”

Trâu Kỵ dõng dạc: “Ta đông giáp biển lớn, tây giáp Tam Tấn, bắc có Yên, nam là mười hai nước lưu vực sông Tứ. Đất Yên giá rét, đất đai cằn cỗi, xâm chiếm cũng chẳng có ích lợi gì. Tam Tấn đều là nước lớn, phía tây lại có nước Tần cường thịnh, không thể xâm chiếm. Chỉ có mười hai nước lưu vực sông Tứ, đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, nước nhỏ binh yếu, là nơi có thể xâm chiếm. Vùng đất Tam Tấn, Ngụy nằm ở giữa. Nếu ta liên minh với Ngụy, bắc có thể chế Triệu, nam có thể chế Hàn. Có Tam Tấn thì chẳng cần lo gì nước Tần nữa. Chỉ cần phía tây vững chắc, ta có thể toàn lực đánh xuống phía nam, cùng tranh đoạt vùng lưu vực sông Tứ với Sở.”

Kỳ thực, khi Ngụy Huệ Vương xưng vương, Tề Công trong lòng rất đỗi bất bình, từ lâu đã có ý xưng vương để ngang bằng địa vị, chỉ có điều vẫn e ngại đạo nghĩa thiên hạ, không thể mở miệng. Giờ đối diện với chiếc thang mà Ngụy Vương đã bắc sẵn, lời của Trâu Kỵ lại hợp với tâm ý, Tề Uy Công liên tiếp gật đầu: “Phải, Trâu tướng quốc nói rất đúng. Có điều... nếu quả nhân cũng xưng vương như Ngụy Vương, há chẳng phải thiên hạ có hai vương, quả nhân cũng sẽ trở thành mục tiêu công kích ư?”

“Chúa thượng!” Trâu Kỵ vội nói. “Cương thường sớm đã rối loạn, thiên hạ hai vương đã không còn là chuyện lạ lùng. Ngay từ đầu thời Xuân Thu, Kinh Sở đã xưng vương. Cho đến ngày nay, liệt quốc xưng vương đã trở thành đại thế, Ngụy Vương chẳng qua là hành động trước một bước mà thôi. Kinh Sở có thể xưng vương, Ngụy Hầu có thể xưng vương, vậy cớ sao chúa thượng không thể xưng vương?”

Tề Uy Công đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần: “Chư vị ái khanh, Trâu tướng quốc tấu xin quả nhân quay mặt về nam xưng vương, các khanh có ý kiến gì chăng?”

Thượng đại phu Điền Anh bước lên tâu: “Vi thần tán thành chúa thượng xưng vương!”

Tề Uy Công quay nhìn Điền Anh: “Ái khanh nói xem, tại sao lại tán thành?”

“Vi thần cho rằng,” Điền Anh nói tiếp, “Hàn Hầu, Triệu Hầu vốn dĩ ngang hàng với Ngụy Hầu, nay lại thành ra thấp hơn một bực, trong lòng tức tối, nên mới hùa theo Tần Công phạt Ngụy. Ngụy Vương trước nay cố chấp cương cường, một khi đã ngồi lên vương vị, sẽ không bao giờ bước xuống. Vì vậy, vi thần cho rằng, nếu không ngoài dự đoán, Triệu Hầu, Hàn Hầu cũng muốn có được địa vị ngang bằng, không lâu nữa sẽ xưng vương. Mấy năm sau sẽ là thời đại liệt quốc cùng xưng vương. Chúa thượng đi trước một bước, một là đã ban cho Ngụy Vương một món nợ ân tình, hai là để thiên hạ thấy chúa thượng biết nắm bắt cục thế thiên hạ, ba là có thể chế ngự Hàn, Triệu.”

Tề Uy Công đưa mắt sang nhìn thái tử: “Tích Cương, con hãy nói xem!”

“Nhi thần cho rằng, cho dù công phụ quyết định xưng vương, cũng không nên dễ dàng nhận lời với Trần Chẩn.”

“Vi thần đồng ý với lời của điện hạ!” Trâu Kỵ tiếp lời. “Hiện giờ là lúc Ngụy Vương cần tới chúa thượng, cớ sao chúa thượng không đòi ông ta một thứ?”

Tề Uy Công vội hỏi: “Đòi thứ gì?”

“Ép ông ta nhường cho nước Tống!”

“Hay!” Tề Uy Công lập tức vỗ bàn, quay sang Điền Anh. “Điền ái khanh, hãy đi thăm dò Trần Chẩn, nếu Ngụy Anh đồng ý với với yêu cầu của Trâu tướng quốc, quả nhân sẽ cùng xưng vương với ông ta.”

Điền Anh vâng lệnh: “Vi thần tuân chỉ!”

Mấy ngày sau đó, Trần Chẩn và Điền Anh nhiều lần bàn bạc, cùng ước định một tháng sau Tề Công sẽ xưng vương, và đến Từ Châu hội minh với Ngụy Vương, cùng tôn vương vị của đối phương.

Trần Chẩn lần này đi sứ nước Tề, không những giúp Tề Công có được vương vị vốn đã ao ước từ lâu, lại khiến Ngụy Vương hai tay dâng cho nước Tống, đối với Uy Công mà nói, thực là song hỷ lâm môn. Vì vậy, Uy Công đặc biệt mở tiệc khoản đãi Trần Chẩn, tặng ông ta vàng bạc châu báu, lụa là gấm vóc, lại lựa chọn ra mười mỹ nữ, cùng nhiều đặc sản, gửi tặng Huệ Vương.

Trần Chẩn đi sứ thành công, mang theo mỹ nữ trở về, dọc đường xe ngựa rầm rập, cờ quạt tưng bừng.

Xe ngựa đi tới biên giới nước Tề, quan trấn ải kiểm tra quan văn của Trần Chẩn và những người khác, rồi xua tay cho đi. Thích Quang đánh xe ngựa, vừa mới đi qua cửa quan, đột nhiên hai mắt trợn tròn, bộ dạng cực kỳ kinh hãi.

Trần Chẩn ngạc nhiên hỏi: “Sao thế?”

Thích Quang chỉ tay về phía cửa quan, hãi hùng nói: “Chúa công mau nhìn xem, là hắn!”

Trần Chẩn nhìn theo hướng Thích Quang chỉ, thấy một người đầu đội nón rộng, khoác tay nải trên vai, cũng đang qua cửa quan, nhất thời không nhớ ra được là ai, vội hỏi: “Hắn là ai?”

“Bàng Quyên!”

Trong lúc đó, Bàng Quyên đã đi qua cửa quan, bỏ vành nón xuống, quay đầu lại, đưa đôi mắt rừng rực như lửa đuốc nhìn thẳng vào Trần Chẩn và Thích Quang, ánh mắt hung hãn, khoé miệng nhếch lên như cười mà không phải cười, như giận mà không phải giận, rõ ràng là đang thách thức hai người.

Nhìn trừng trừng một lúc, Bàng Quyên lại quay đi, sải bước dọc theo con đường cái quan, nhanh chóng xa dần.

Trần Chẩn định thần lại, đưa tay áo lau mồ hôi, gật đầu nói: “Ừm, chính là hắn! Kẻ này hẹn sau ba năm quay trở lại báo thù, thời hạn ba năm cũng đã đến. Nhưng mà...” khẽ chau mày, “nếu kẻ này trở lại báo thù, phải tới Đại Lương mới đúng, cớ sao lại sang nước Tề?”

“Chúa công,” Thích Quang chưa kịp suy nghĩ đã nói ngay, “kẻ này là khâm phạm triều đình, nước Ngụy nơi nơi đều truy nã, hắn làm sao dám đến?”

Trần Chẩn lừ mắt nhìn ông ta: “Tên này là kẻ liều mạng, có nơi nào không dám đến?”

“Chúa công dạy chí phải!” Thích Quang lắp bắp. “Lần này trở về, tiểu nhân sẽ tăng cường phòng bị, đồng thời báo lên tư đồ đại nhân, để quan phủ cùng truy nã.”

“Hừ!” Trần Chẩn liếc xéo hắn. “Còn có thể nhờ cậy được phủ tư đồ hay sao? Lần trước chính Chu Uy đã thả hắn ra chứ còn ai? Ngươi hãy phái thêm tay chân, tiền trảm hậu tấu. Còn nữa, bảo với Đinh Tam, nói bản phủ treo thưởng, ai lấy được đầu Bàng Quyên, trăm lượng vàng mà mấy ngày trước Tề Vương ban tặng cho bản công sẽ thuộc về người đó.”

“Tiểu nhân tuân lệnh!”

Từ khi có được sáu chương “Ngô Khởi”, Bàng Quyên ngày ngày lấy ra đọc kỹ, và cũng có nhiều lĩnh ngộ. Lần này xuống núi, Bàng Quyên cho rằng trong thiên hạ đã không còn đối thủ, nên rất đỗi tự tin. Nghĩ đến lời tặng của Quỷ Cốc Tử trước khi từ biệt, Bàng Quyên suy tính kỹ lưỡng tình thế của liệt quốc, quyết định đến nước Tề để đi nước cờ mạo hiểm đầu tiên.

Bước vào địa giới nước Tề, Bàng Quyên không phải lo lắng gì nữa, chỉ mấy ngày đã đến được đô thành Lâm Truy.

Nước cờ mạo hiểm này chính là yết kiến Tề Công. Bàng Quyên tìm đến một nhà trọ cách cung thành khá gần, thay đổi y phục, rồi đi thẳng về phía Tề cung. Vừa đến cửa cung, đã bị đám lính canh hùng hổ chặn lại.

Một quân uý đi ra. Bàng Quyên vòng tay, trình lên danh thiếp: “Xin quân uý hãy trình lên chúa thượng, nói rằng có danh sĩ Bàng Quyên cầu kiến.”

Quân uý nhận lấy danh thiếp, kiểm tra qua loa rồi trả lại Bàng Quyên, vòng tay nói mỉa: “Bàng sĩ tử, người như sĩ tử đây nên đến học cung Tắc Hạ thì hơn!”

Bàng Quyên vội nói: “Bẩm quân uý, tại hạ vì chuyện quốc sự cấp bách, nhất định phải gặp mặt chúa thượng để bẩm tấu.”

“Bàng sĩ tử,” quân uý khinh khỉnh đáp, “chúa thượng có chỉ, phàm là sĩ tử đến nước Tề, đều phải đến học cung luận học vấn. Nếu Bàng sĩ tử có chân tài thực học, sẽ được quan tế tửu và học cung lệnh tiến cử vào cung yết kiến chúa thượng.”

“Ha ha ha ha!” Bàng Quyên cười lớn một tràng. “Tắc Hạ chẳng qua chỉ nuôi được một đám ô hợp mà thôi, sao có thể luận học vấn cùng Bàng Quyên ta được?”

Quân uý giận dữ chau mày: “Ngươi đúng là không biết điều, bản uý thành tâm khuyên ngươi, nhưng ngươi lại không coi ai ra gì, khinh thường học cung Tắc Hạ của chúng ta. Cút mau, cút chậm một bước, ta sẽ bắt ngươi tống vào ngục!”

Bàng Quyên liếc nhìn khinh bỉ, lại cười lớn rồi bước đi.

Mấy ngày sau đó, Bàng Quyên phát hiện lời quân uý nói không hề sai, phàm là sĩ tử đến nước Tề, đều phải qua ải Tắc Hạ, nếu không, Tề Công sẽ không chịu gặp mặt. Bàng Quyên biết vậy, nhưng trong học cung có đến hàng ngàn học tử, danh sĩ vô số, đừng nói đến chúa thượng, đến quan tế tửu hay học cung lệnh cũng khó lòng gặp được. Hơn nữa, nghĩ đến việc phải tranh biện suốt ngày với đám học sĩ giá áo túi cơm, Bàng Quyên đã thấy khó chịu trong lòng.

Đúng lúc Bàng Quyên đang bó tay hết cách, chủ quán trọ liền mách cho một ngoại lệ: nếu được tướng quốc Trâu Kỵ tiến cử, Tề Công sẽ phá lệ triệu kiến.

Bàng Quyên suy nghĩ hồi lâu, quyết định đến phủ tướng quốc thử vận may. Trâu Kỵ nổi tiếng khắp liệt quốc, nước Tề có được ngày hôm nay cũng là nhờ công lớn của người này. Nếu gặp được tướng quốc, nói rõ lợi hại với ông ta, chắc chắn Trâu Kỵ sẽ dẫn Bàng Quyên tới gặp quân chủ.

Bàng Quyên tới phủ tướng quốc, đưa danh thiếp cho môn nhân canh cửa. Phủ tướng quốc quả là nơi quy củ, môn nhân cũng rất hoà nhã, xem xong danh thiếp, liền vòng tay hành lễ với Bàng Quyên: “Bàng sĩ tử xin đợi một lát, tiểu nhân sẽ vào trong bẩm báo!”

Một lát sau, một người dáng dấp quản gia đi cùng môn nhân trở ra.

Bàng Quyên bước lên trước, vòng tay vái chào: “Sĩ tử nước Ngụy Bàng Quyên xin chào gia lão.”

Lão quản gia đáp lễ: “Tại hạ xin chào Bàng sĩ tử. Nghe nói Bàng sĩ tử muốn gặp chúa công, xin hỏi có việc gì?”

“Việc này...” Bàng Quyên do dự một lát, “có liên quan đến an nguy của nước Tề, tại hạ chỉ có thể nói trực tiếp với tướng quốc đại nhân.”

Quản gia ngây ra một thoáng, lại vái Bàng Quyên: “Bàng sĩ tử xin đợi một lát, tại hạ sẽ vào bẩm với chúa công!”

Bàng Quyên đáp lễ: “Đa tạ gia lão!”

Trâu Kỵ đang ở trong thư phòng duyệt đọc tấu báo, thấy quản gia đi vào, liền ngẩng lên hỏi: “Có việc gì ư?”

“Khởi bẩm chúa công, có sĩ tử nước Ngụy Bàng Quyên cầu kiến!”

“Sĩ tử nước Ngụy?” Trâu Kỵ thoáng ngạc nhiên. “Chẳng phải đã có Tắc Hạ hay sao, hắn đến đây làm gì? Nói với hắn, Tắc Hạ mới là nơi sĩ tử nên đến!”

“Tiểu nhân cũng đã nói như vậy, nhưng người này nói có việc lớn cần cầu kiến tướng gia.”

“Là việc lớn gì?”

“Tiểu nhân có hỏi, người này nói, là việc liên quan đến an nguy của nước Tề, nhất định phải gặp tướng gia.”

“Việc liên quan đến an nguy của nước Tề?” Trâu Kỵ chau mày, suy nghĩ một lát rồi quay sang nhìn quản gia. “Nước Tề hiện tại chẳng có vấn đề an nguy gì cả, hãy tìm cớ đuổi hắn đi!”

“Tiểu nhân tuân lệnh!”

Sau khi quản gia lui ra, Trâu Kỵ khẽ thở dài, lắc đầu lẩm bẩm: “Cái gì mà an nguy của nước Tề? Muốn vào phủ của ta cũng phải biết tìm lý do cho hay một chút chứ!” Rồi tiếp tục cúi xuống đọc tấu chương.

Bàng Quyên lại bị xua đuổi, trong lòng vô cùng tức giận, tiếp tục ở lại quán trọ thêm vài ngày, thấy thời hạn xưng vương ở Từ Châu ngày càng đến gần, mà nước cờ đầu tiên vẫn chưa đi được, khó tránh ruột gan như lửa đốt.

Buổi trưa hôm nay, gần đến giờ Thân, Bàng Quyên rầu rĩ ủ ê đi trên con đường lớn trước cung thành. Đi một lúc thì nhìn thấy phía trước có một quán rượu, lúc này Bàng Quyên cũng cảm thấy đói, liền tạt vào quán, gọi tiểu nhị dọn lên hai đĩa thức ăn, một vò rượu, vừa uống vừa vắt óc nghĩ cách tìm gặp quân chủ. Đang uống rượu, bỗng đường phố náo loạn. Bàng Quyên thò đầu nhìn ra, thấy một toán kỵ binh đang đi dẹp đường.

Bàng Quyên ngạc nhiên, gọi: “Tiểu nhị, lại đây!”

Tiểu nhị chạy đến: “Khách quan, ngài gọi tiểu nhân?”

Bàng Quyên chỉ ra phía ngoài: “Có chuyện gì thế, sao ồn ào đến vậy?”

“Chắc khách quan không biết, lúc nãy chúa thượng đến Thái miếu xem quẻ, giờ đang trở về!”

“Đến Thái miếu xem quẻ?” Bàng Quyên tim đập thình thịch, ngẫm nghĩa một lát rồi móc ra mấy đồng tiền bố đặt lên bàn, nói: “Trả tiền, còn thừa cho ngươi!” Nói đoạn đặt luôn đũa xuống, hai mắt nhìn không chớp ra ngoài cửa sổ.

Quả không ngoài dự liệu, chốc lát sau, một đội xe ngựa hộ tống xe kiệu của Tề Công từ từ đi tới. Các trọng thần triều đình gồm thái tử Tích Cương, tướng quốc Trâu Kỵ, thượng tướng quân Điền Kỵ, thượng tướng quân Điền Anh... đều cưỡi trên lưng ngựa, đi ở hai bên trái phải xe kiệu của Tề Công.

Bàng Quyên nhìn thấy rõ ràng, mắt thấy xe kiệu của Tề Công đang từ từ tiến tới, liền thình lình hành động, lao vụt ra khỏi quán trọ nhanh như chớp xẹt, quỳ sụp xuống giữa đường. Đám vệ sĩ được một phen kinh hoảng, lập tức xúm xít lại bắt lấy Bàng Quyên.

Tự ý lao vào đoàn xa giá của quân chủ sẽ phải chịu tội chết, đây là điều ai ai cũng biết.

Sau khi cơn rối loạn đã qua, Tề Uy Công thò đầu ra ngoài cửa xe, hỏi Điền Tích Cương: “Là người nào chặn xe của quả nhân?”

Điền Tích Cương bẩm báo: “Bẩm công phụ, là một sĩ tử, nhìn bộ dạng không giống thích khách!”

“Giải hắn tới đây!”

Điền Tích Cương truyền lệnh, mấy tên giáp sĩ liền áp giải Bàng Quyên lại gần. Bàng Quyên quỳ dưới đất, vì hai tay đã bị trói nên không thể khấu đầu, chỉ cúi đầu ba cái tượng trưng, rồi dõng dạc nói: “Sĩ tử nước Ngụy Bàng Quyên khấu kiến chúa thượng!”

Tề Uy Công đưa mắt quan sát một lượt: “Bàng Quyên, ngươi có biết chặn xa giá của quả nhân sẽ phải chịu tội chết?”

“Khởi bẩm chúa thượng, Bàng Quyên biết!”

“Ngươi đã biết sẽ chết, vậy tại sao còn chặn?”

“Nếu như có thể cứu được đại nạn của nước Tề, Bàng Quyên đâu có tiếc cái mạng này?”

“Đại nạn của nước Tề?” Tề Uy Công sững người. “Đại nạn gì, cớ sao quả nhân không hề nghe nói?” Rồi quay sang phía Trâu Kỵ. “Trâu ái khanh, Tề có đại nạn gì?”

“Khởi bẩm chúa thượng!” Lúc này Trâu Kỵ cũng nhớ ra chuyện mấy ngày trước, vòng tay bẩm tấu. “Vi thần nhớ ra rồi, mấy ngày trước kẻ này cũng từng đến phủ của vi thần, cũng nói lời ngông cuồng như vậy, nên đã bị vi thần đuổi đi. Không ngờ kẻ này thật gan to tày trời, dám mạo phạm chặn xa giá của chúa thượng!”

Bàng Quyên cười lớn: “Ngay cả tướng quốc đại nhân uy danh lẫm liệt cũng nói ra những lời này, đúng là nước Tề đã không còn người nữa!”

“To gan!” Trâu Kỵ giận dữ. “Ngươi chết đến nơi, còn dám nói xằng?”

Nhưng Tề Công lại thấy rất hiếu kỳ, nhìn Bàng Quyên chăm chú một hồi rồi hỏi: “Bàng Quyên, quả nhân hỏi ngươi, hiền học trong thiên hạ đều ở Tắc Hạ, kẻ viết sách lập thuyết đông đến hàng trăm, sĩ tử có tới hàng ngàn, đúng là nơi nhân tài đông đúc, tại sao ngươi lại bảo nước Tề ta không còn người?”

Quần thần tuỳ tùng cũng đều giận dữ nhìn Bàng Quyên.

“Khởi bẩm chúa thượng!” Bàng Quyên đáp rành rọt. “Xem thường tình thế thiên hạ, đối địch với ba nước Triệu, Hàn, Tần là thiếu sáng suốt; cùng kết giao xưng vương với nước Ngụy sắp chết mà bỏ đi miếng thịt ngay bên miệng là thiếu khôn ngoan. Nước Tề vừa không sáng suốt lại thiếu khôn ngoan, quần thần không ai khuyên giải, nên mới nói không còn người!”

Nghe nói đến miếng thịt ngay bên miệng, Tề Uy Công hít vào một hơi thật sâu, quay sang nói với đám giáp sĩ: “Cởi trói cho Bàng Tử, dẫn về cung!”

Nơi này cách cửa cung không xa, chỉ một lát sau, đoàn người ngựa đã về tới cung. Tề Uy Công ngồi trên điện, nói với thuộc hạ: “Mời Bàng Tử!”

Lập tức có cung nhân dẫn Bàng Quyên lên điện.

Bàng Quyên dập đầu sát đất: “Bàng Quyên người Ngụy khấu kiến chúa thượng!”

“Bàng Tử miễn lễ!” Tề Uy Công khẽ phất tay, nghiêng người về phía trước mà nói. “Lúc nãy quả nhân vẫn chưa hiểu hết lời Bàng Tử, xin Bàng Tử hãy nói rõ hơn.”

Bàng Quyên đưa mắt liếc nhìn quần thần hai bên: “Chúa thượng có thể cho mọi người lui ra chăng?”

“Chư vị ái khanh!” Tề Uy Công quay sang phía quần thần. “Bãi triều!” Rồi quay sang Điền Tích Cương. “Cương Nhi, dừng bước!”

Mặc dù Trâu Kỵ và quần thần đều không hài lòng, nhưng cũng buộc phải lĩnh chỉ lui đi. Điền Tích Cương đi lại gần Uy Công, đứng ở bên cạnh.

“Bàng Tử,” Tề Uy Công quay sang Bàng Quyên, “có thể nói được rồi!”

“Chúa thượng,” Bàng Quyên vòng tay nói, “thiên hạ ngày nay, là chiến hay hoà đều được quyết định nhờ thực lực. Bàng Quyên to gan dám hỏi chúa thượng, thực lực của Ngụy so với Triệu thì thế nào?”

Thân là một sĩ tử tầm thường, nhưng Bàng Quyên mở miệng lại lập tức chất vấn quân chủ, đây là phạm thượng. Tích Cương mắt hổ trợn trừng, đang định trách mắng thì Uy Công xua tay, hoà nhã nói: “Trước trận chiến Hà Tây, Ngụy mạnh Triệu yếu, sau trận chiến, không còn chênh lệch nhiều nữa!”

“Xin hỏi chúa thượng, thực lực của Triệu so với Hàn thì thế nào?”

“Nước Hàn vốn không bằng Triệu, nhưng từ khi Thân Bất Hại làm tướng, nước Hàn đại trị, hiện giờ thực lực có thể ngang bằng.”

“Lời của chúa thượng mới chỉ nói về sức chiến đấu!” Bàng Quyên không hề khách sáo, nói thẳng vào điểm yếu của Uy Công. “Thực lực của một nước không hoàn toàn chỉ là sức chiến đấu, còn bao gồm cả vật lực và trí lực. Trong trận chiến Hà Tây, nước Tần không phải thắng trong chiến trận, mà là thắng ở vật lực và trí lực. Công Tôn Ưởng biến pháp mười năm, nước Tần quốc khố dồi dào, sức nước vững chãi, cộng thêm Công Tôn Ưởng mưu trí hơn người, nên mới thủ thắng. Lại nhìn nước Ngụy, trước trận chiến đã xây Hồng Câu, dựng vương cung, chinh phạt Vệ, khiến cho tài lực cạn kiệt, binh tướng mệt mỏi. Những điều này vẫn chưa quan trọng, quan trọng là Ngụy Vương không biết dùng người, nên mới phải đại bại.”

Lời của Bàng Quyên, Tề Uy Công đương nhiên trong lòng hiểu rõ. Câu trả lời của Uy Công khi nãy, chẳng qua chỉ là lời nói bề ngoài, hoặc là cố ý dẫn dụ, để nhử đối phương phải nhả ngọc ra. Nghe Bàng Quyên nói một mạch, Uy Công không còn dám tiếp tục coi thường, nghiêng người về phía trước, giục giã: “Bàng Tử, nói tiếp đi!”

“Chúa thượng!” Bàng Quyên tiếp tục dõng dạc. “Tần có Công Tôn Ưởng, nước đại trị. Hàn có Thân Bất Hại, nước đại trị. Triệu mặc dù không trị, nhưng người Triệu quật cường, những năm gần đây không xảy ra đại chiến, thực lực chỉ tăng không giảm. Chỉ có nước Ngụy, nước không có tôi giỏi, kho không trữ lương thực, quân không có chí khí, Ngụy Vương lại không nhận ra những điều đó, liền năm gây chuyện binh đao, thực chẳng khác nào một người bệnh, thân mắc chứng nan y mà không tự biết, vẫn tửu sắc chơi bời, buông tuồng phóng túng. Gần đây lại xây dựng bừa bãi, di chuyển đô thành, dựng vương cung theo chế độ nhà Chu, không những bắt dân phu dịch không đúng lúc, lại thu thuế nặng nề, dân không sống nổi. Chúa thượng, tình thế nước Ngụy ngày nay, đừng nói là nước Tần muốn xâm chiếm, mà chỉ cần Hàn, Triệu liên minh, người Ngụy đã không thể chống đỡ. Lẽ nào chúa thượng không nhìn thấy những điều này?”

Tề Uy Công trán rịn mồ hôi, rút khăn lau vội: “Quả nhân có biết một hai.”

“Chúa thượng đã biết, vậy cớ sao lại muốn mạo hiểm trở mặt với Hàn, Triệu, mà kết giao với kẻ sắp chết là Ngụy?”

Tề Uy Công không biết nói gì, liền quay sang nhìn Tích Cương, thấy thái tử cũng hai mắt trợn tròn, mặt đầy kinh hãi.

“Theo ý Bàng Tử, quả nhân nên ứng phó thế nào?”

“Bỏ Ngụy!”

“Bỏ Ngụy?” Tề Uy Công đưa tay chống cằm, hai mắt khép hờ, chìm trong suy nghĩ hồi lâu, mới mở mắt ra nói: “Lúc nãy nghe Bàng Tử nói tới miếng thịt ngay bên miệng, xin hỏi Bàng Tử, miếng thịt này phải chăng là nước Tống?”

“Với thế của chúa thượng, nước Tống chẳng qua chỉ là một con tép nhỏ mà thôi!”

Coi nước Tống màu mỡ là một con tép, cha con Tề Công đều kinh ngạc, đưa mắt nhìn nhau, rồi lại cùng quay sang nhìn Bàng Quyên.

“Xin hỏi Bàng Tử,” Uy Công hỏi thẳng, “miếng thịt này không phải là nước Tống, vậy là nước nào?”

“Nước Ngụy!”

“Hả?” Tề Uy Công buột miệng kêu lên. “Bàng Tử... Bàng Tử nói bừa gì thế? Lạc đà dù gầy vẫn lớn hơn ngựa, mặc dù nước Ngụy đã suy yếu hơn trước, nhưng võ binh vẫn còn, dân cư đông đúc, kẻ trung dũng đầy ở hương thôn, cho dù là người Tần cũng không dám manh động, vẫn phải kết minh với hai nước Hàn, Triệu!”

Bàng Quyên nghe vậy, phá lên cười lớn một tràng.

“Bàng Tử đang cười quả nhân ư?”

“Đúng vậy!” Bàng Quyên thu nụ cười lại, vòng tay nói.

Uy Công cảm thấy bẽ mặt, lạnh lùng hỏi: “Quả nhân đáng cười ở điểm nào?”

“Cười chúa thượng đã quá lời rồi!” Bàng Quyên hạ giọng. “Thường có câu, nay chẳng phải xưa. Thời thế đã thay đổi, nước Ngụy ngày nay đã không còn là nước Ngụy ngày trước nữa. Nước Ngụy thế nào, thân là người Ngụy, thảo dân chắc chắn sẽ hiểu rõ hơn chúa thượng.”

“Bàng Tử nói mau!” Uy Công lại ngả người về phía trước.

Bàng Quyên lại vòng tay nói: “Nội tình nước Ngụy, một là giống như những điều Bàng Quyên vừa nói. Điều mà Quyên chưa nói, chính là sức quân. Khiến liệt quốc sợ hãi, chẳng qua là võ binh của Đại Nguy. Số võ binh Đại Ngụy trang bị đầy đủ, hùng dũng thiện chiến không hơn tám vạn. Trong trận chiến Hà Tây, tám đã mất đến sáu, nay chỉ còn lại hai vạn, tất cả đều trấn thủ ở Hàm Cốc, Hà Đông phòng bị người Tần, chẳng còn hơi sức đâu để nhìn đến chỗ khác. Số binh sĩ còn lại tuy nhiều, nhưng phần lớn đều là đám ô hợp, giữ thành còn khó khăn, nói gì đến hành quân chiến đấu. Nhưng quan trọng hơn cả không phải là binh lính, mà là người cầm binh. Với tài của Long Giả, nếu ở nước Tề chỉ có thể là một chiến tướng bình thường, nhưng ở nước Ngụy lại chẳng ai hơn được. Dẫu là vậy, Ngụy Vương cũng không trọng dụng Long Giả, cho đồ bị thịt là công tử Ngang cầm quân, để tên nịnh thần Trần Chẩn trị chính, khiến cho trong triều chẳng còn ai, ngôn luận không thông, kho không hạt thóc, quân không ý chí, hiền sĩ bỏ đi, người người quay lưng cô lập. Nước Ngụy ngày nay khác nào cá nằm trên thớt, thịt bày trong đĩa, chỉ còn đợi xem ai ra tay nhanh mà thôi!”

Bàng Quyên nói liền một mạch, Tề Uy Công, Điền Tích Cương nghe mà chấn động. Nói thực, họ chẳng qua mới chỉ để mắt đến các nước vùng lưu vực sông Tứ, cho dù trong mơ cũng chưa từng có chủ ý đánh Ngụy. Tuy nhiên, trong thời chiến quốc loạn lạc, chẳng có điều gì không thể. Người Tần vừa đánh đã lấy được bảy trăm dặm đất Hà Tây, ép Ngụy dời đô về phía đông. Hùng phong của Đại Ngụy, quả thực đã không còn nữa. Nếu như có thể chớp thời cơ chiếm lấy nước Ngụy, không những nước Tống sẽ trở thành vật trong túi, mà con đường tiến về tây cũng được khai thông.

Nghĩ đến đây, Uy Công hít sâu một hơi, vòng tay mà nói: “Lời của Bàng Tử thực chẳng tầm thường. Có điều, mặc dù liệt quốc tranh chấp đã mấy chục năm, nhưng Tề, Ngụy vẫn luôn hoà mục, quả nhân và Ngụy Anh không qua lại nhiều, cũng chưa từng có xung đột. Lần trước Trần Chẩn đi sứ, thành ý tôn quả nhân làm vương, quả nhân đã nhận lời với Ngụy Anh, mấy hôm nữa sẽ đến Từ Châu gặp mặt. Quân tử nhất ngôn cửu đỉnh, quả nhân đức mỏng, song đời này chưa từng nuốt lời. Lời Bàng Tử tuy hay, nhưng e rằng quả nhân khó lòng làm được.”

“Chỉ cần chúa thượng muốn, thiên hạ chẳng có việc gì không thể làm được!”

“Bàng Tử có kế sách vẹn toàn chăng?”

“Đại thế trong tương lai, liệt quốc chắc chắn sẽ tới thời đại cùng xưng vương. Đức của chúa thượng vượt trội Ngụy Vương, Ngụy Vương có thể xưng vương, chúa thượng đáng lý cũng phải làm vương. Theo ý thảo dân, chúa thượng vẫn có thể giữ đúng lời hứa, quay mặt về nam xưng vương, đến Từ Châu hội kiến Ngụy Vương. Ngụy Vương tính tình hiếu thắng, trong buổi hội minh, chắc chắn sẽ khoe khoang những báu vật của mình với chúa thượng, chúa thượng có thể nhân cơ hội ấy, chế nhạo ngay trước mặt đám đông.”

“Ồ?” Tể Uy Công hào hứng. “Quả nhân phải chế nhạo thế nào?”

Bàng Quyên hạ giọng đáp: “Báu vật của Ngụy Vương, chẳng qua chỉ là những món đồ chơi lạ mắt trong thiên hạ. Nhưng báu vật của chúa thượng lại là hiền tài trị quốc. Ngụy hùng bá đã lâu, ngạo khí ngày càng khuếch trương, khiến tiểu nhân lấn át người hiền, quân chủ bị che mắt, trước không dùng Công Tôn Ưởng, sau lại không nghe lời Bạch Khuê, không cất nhắc Công Tôn Diễn, mà dẫn đến suy yếu ngày nay. Nhưng chúa thượng thì ngược lại, tôn quý danh sĩ, trọng dụng hiền tài, khiến kẻ có tài trong thiên hạ đều đổ về Tắc Hạ, lại có những trung thần lương tướng như hiền tướng Trâu Kỵ, lương tướng Điền Kỵ, hiền đại phu Điền Anh... chắc hẳn sẽ có ngày lớn mạnh. Trong buổi hội vương, chúa thượng có thể lấy bảo bối nhân tài để chế giễu Ngụy Vương. Nếu Ngụy Vương chịu nghe theo lời khuyên răn của chúa thượng, từ đó trọng dụng nhân tài, chú trọng trị quốc, chứng tỏ nước Ngụy vẫn còn ý chí chấn hưng, chúa thượng có thể kết minh với họ. Nếu Ngụy Vương hổ thẹn giận dữ, không biết tự hối cải, thì nước Ngụy chỉ còn nước đợi ngày diệt vong. Chúa thượng không những không thể kết minh, mà ngược lại cần phải đi trước một bước, đừng bỏ Ngụy cho ba nước Tần, Hàn, Triệu chia nhau.”

Bàng Quyên nói xong, Tề Uy Công lại liên tiếp gật đầu: “Lời của Bàng Tử sắc sảo chí lý, sâu xa thiết thực, quả nhân nghe mà ngỡ như lời của thánh hiền.”

Bàng Quyên dập đầu: “Chúa thượng quá khen, thảo dân hổ thẹn không dám nhận!”

“Có điều, quả nhân có một chuyện không hiểu, muốn hỏi Bàng Tử.”

“Thảo dân nếu biết sẽ không dám giấu!”

“Bàng Tử thân là người Ngụy, cớ sao lại không giúp Ngụy, mà lại đến giúp quả nhân?”

“Chúa thượng hẳn đã nghe chuyện Công Tôn Diễn bỏ Ngụy theo Tần?”

Tề Uy Công gật đầu.

“Xin hỏi chúa thượng, sĩ tử ở Tắc Hạ không dưới ba nghìn, nhưng có phải đều là người nước Tề? Từ xưa đến nay, chim khôn chọn cành mà đậu. Thân là người Ngụy, nhưng tấm lòng phò Ngụy của thảo dân đã nguội lạnh từ lâu, nên mới bỏ Ngụy đến Tề, nương nhờ chúa thượng.”

“Nói hay lắm!” Tề Uy Công cười lớn mà nói. “Trời cao đã ban Bàng Tử cho Tề, đúng là điều may mắn của quả nhân. Quả nhân xin bái Bàng Tử làm thượng khanh, sớm tối phò tá bên cạnh, chỉ giáo quả nhân, không biết ý Bàng Tử thế nào?”

Bàng Quyên đứng dậy bái lạy: “Thảo dân khẩn cầu chúa thượng thu hồi mệnh lệnh!”

“Ồ?” Tề Uy Công hơi ngạc nhiên. “Lẽ nào chức thượng khanh cũng không giữ được Bàng Tử ư?”

“Chúa thượng quá lời rồi!” Bàng Quyên vòng tay nói. “Tề là nước lớn, chúa thượng là hiền quân, thượng khanh là chức vị cao, Bàng Quyên chỉ là thảo dân, chỉ bằng vài lời nói suông đã được ân sủng như vậy, cho dù có chết chín lần cũng không đủ báo đáp, sao dám chê chức vị nhỏ bé?”

“Nếu đã như vậy, Bàng Tử còn vướng mắc điều gì?”

“Thảo dân còn có một số việc riêng chưa làm xong, thỉnh cầu chúa thượng khai ân!”

“Dám hỏi là việc riêng gì vậy?” Tề Uy Công hỏi.

“Mối thù giết cha!” Bàng Quyên nước mắt ầng ậc. “Thảo dân sống ở An Ấp, tiên phụ từng là phùng nhân của Đại Chu, thượng đại phu nước Ngụy là Trần Chẩn xúi giục Ngụy Vương xưng vương, ép gia phụ phải may vương phục, gia phụ không nghe nên đã bị Trần Chẩn sát hại. Ba năm trước, thảo dân đã lập lời thề, nhất định phải giết chết gian tặc Trần Chẩn, báo thù cho gia phụ. Đợi sau khi thảo dân báo được thù này, sẽ đến báo đáp hậu ân của chúa thượng!”

“Thì ra là vậy!” Uy Công thở dài, liên tiếp gật đầu. “Bàng Tử đã có mối thù không đội trời chung với Trần Chẩn, vậy quả nhân cũng không miễn cưỡng nữa. Người đâu!”

Nội thần bước vào: “Có nô tài!”

“Thưởng cho Bàng Tử một trăm lượng vàng, một cỗ xe ngựa!”

Bàng Quyên lại khấu bái: “Thảo dân to gan, xin chúa thượng hãy thu hồi mệnh lệnh!”

“Ồ...” Tề Uy Công ngỡ ngàng nhìn Bàng Quyên. “Tước vị không muốn, vàng cũng không nhận, bảo quả nhân phải thưởng Bàng Tử thế nào?”

“Thảo dân chặn đường đã phạm phải tội chết, chúa thượng không trách tội đã là ân điển lớn nhất với thảo dân!”

Tể Uy Công bật cười, khen: “Bàng Tử thực là nhã sĩ, quả nhân lại thành ra thô tục rồi! Đêm nay trăng thanh gió mát, quả nhân có chuẩn bị một bàn rượu nhạt, mời Bàng Tử cùng ở lại thưởng trăng, có được chăng?”

Bàng Quyên lạy liền ba lạy: “Có thể cùng thưởng trăng với hiền quân của thiên hạ, đây là ý nguyện một đời của thảo dân!”

Tề Uy Công liền đứng dậy, dắt tay Bàng Quyên: “Bàng Tử, mời!”

Mấy ngày sau đó, Tề Uy Công cùng với các trọng thần Trâu Kỵ, Điền Kỵ, Điền Anh cùng nhau phân tích hiện trạng của nước Ngụy và tình thế của liệt quốc, cảm thấy kiến nghị của Bàng Quyên không phải là không thể thực thi. Đặc biệt là Điền Kỵ, đã năm năm liền không đánh trận lớn, đang nóng lòng được một phen phân cao thấp với binh tướng nước Ngụy.

Việc hội vương tại Từ Châu cũng được chuẩn bị chu đáo.

Năm ngày sau, Tề Uy Công bố cáo thiên hạ, xưng vương ở Lâm Truy. Lại ba ngày nữa, theo như ước hẹn, cùng đến Từ Châu bên sông Tứ Thuỷ, hội vương với Ngụy Vương.

Từ Châu nằm trong lãnh thổ nước Tống, nước Tống cũng chính là vật trao đổi của Ngụy, Tề trong lần hội minh này. Trước việc quân vương của hai nước lớn gặp mặt trong lãnh thổ của mình, Tống Công Y ển mừng quá hoá sợ, gần như điều động toàn bộ quốc lực, sắp đặt buổi hội vương rất mực chu toàn. Tống Công Y ển chủ động như vậy là do hai nguyên nhân, một là không biết mình đã bị biến thành lễ vật trao tặng, hai là bản thân ông ta cũng có dã tâm, muốn nhân cơ hội Tề, Nguỵ xưng vương mà được hưởng lây ngôi vị chí tôn. Theo ý ông ta, đã là hội vương, thì chỉ cần có mặt tại hiện trường, sẽ được làm vương. Vì vậy, Tống Công cũng chuẩn bị sẵn vương phục vương miện, định đợi đến khi hội vương sẽ mặc.

Tề Uy Công đến trước ba ngày, ở tại hành dinh đã được dựng sẵn bên bờ sông Tứ Thuỷ. Buổi trưa ngày thứ ba, người Ngụy cũng đến, thống nhất tối hôm đó sẽ do Tề Vương làm chủ, tổ chức yến tiệc tẩy trần cho Ngụy Vương, Tống Công Y ển bồi tiếp.

Trời vừa chập tối, Huệ Vương và thượng khanh Trần Chẩn, An Quốc Quân công tử Ngang chậm rãi đi tới hành dinh của nước Tề, sáu mươi tư nhạc công nước Tề ngồi bên ngoài, đội ngũ hùng hậu, cùng tấu lên khúc nhạc đón thiên tử. Tề Uy Vương đầu đội vương miện, cùng với những người đã đến từ trước bồi tiếp như Tống Công Y ển, thượng đại phu Điền Anh, thượng tướng quân Điền Kỵ... bước ra ngoài cửa hành dinh, cùng hành lễ với Ngụy Vương, sau đó dắt tay đi vào trong trướng. Tống Công Y ển không dám mặc vương phục, dự tính sau khi hai vương cơm no rượu say, đắc chí hài lòng sẽ nhân hứng đề cập đến chuyện này, làm bước đệm cho đại lễ hội vương.

Buổi tiệc bắt đầu. Tề Uy Vương, Ngụy Huệ Vương cùng ngồi trên ngai vàng, Tống Công ngồi dưới, các đại thần của Tề, Ngụy chia làm hai hàng, ngồi theo cấp bậc. Trước mặt mỗi người đều bày một bàn thấp, trên bàn bày rượu và đủ món sơn hào hải vị.

Uy Vương nâng chén, nói: “Ngụy Vương từ xa đến đây, Điền Nhân Tề có chuẩn bị một bàn rượu nhạt để tẩy trần cho Ngụy Vương. Điền Nhân Tề xin cạn trước để tỏ lòng tôn kính!” Rồi ngẩng đầu, một hơi uống cạn.

Tống Công Y ển và các đại thần nước Tề cùng cạn chén.

Thị nữ rót rượu, Ngụy Huệ Vương cũng nâng chén nói: “Tề Vương thuận theo ý trời lòng dân, quay mặt về nam xưng vương, thật đáng chúc mừng. Ngụy Anh hôm nay xin mượn rượu ngon của Tề Vương, thành tâm chúc mừng Tề Vương, chúc mừng nước Tề!” Rồi một hơi uống cạn.

Tống Công Y ển và các đại thần nước Ngụy lại cạn chén.

Tề Uy Vương vỗ tay, nhạc công liền tấu lên khúc nhã nhạc nước Tề. Nhạc dứt, Tề Uy Vương quay sang Huệ Vương, cười mà hỏi: “Xin hỏi Huệ Vương, nhạc nước Tề thế nào?”

Ngụy Huệ Vương lập tức đáp lời: “Nghe nói Khổng Tử nghe nhạc Tề, ba tháng không biết đến mùi thịt, hôm nay ta đã tin rồi!”

Tề Uy Vương mỉm cười, lại vỗ tay. Tiếng nhạc lại dìu dặt vang lên, sáu mươi tư mỹ nữ tiến vào, nhảy múa theo tiếng nhạc. Múa xong một khúc, mỹ nữ lui ra, Tề Uy Vương lại quay sang Ngụy Vương: “Xin hỏi đại vương, nữ nhi nước Tề thế nào?”

Ngụy Huệ Vương hết lời khen ngợi: “Nghe nói đất Tề sinh mỹ nữ, hôm nay ta đã tin rồi!”

Tề Uy Vương phá lên cười lớn một tràng.

Ngụy Huệ Vương không hiểu, ngạc nhiên nhìn Tề Uy Vương: “Xin hỏi Tề Vương cười gì?”

Tề Uy Vương lại cười thêm một hồi, cười xong mới nói: “Nghe nói đại vương biết đẹp mà không hiểu nhạc, nay Điền Nhân Tề đã tin rồi!”

Bị nói khích ngay trước mặt Tống Công, Huệ Vương thoáng đỏ mặt, cố kìm cơn giận dữ, hơi vòng tay mà nói: “Xin hỏi Tề Vương, lời này phải giải thích thế nào?”

Tề Uy Vương cười đáp: “Trọng Ni đến Tề nghe nhạc mà không biết đến mùi thịt, đúng là có chuyện này, nhưng thứ mà Khổng Tử nghe là nhạc ‘Thiều’, không phải là nhạc của nước Tề. Khúc đại vương nghe lúc nãy là nhạc của nước Tề, âm thanh uỷ mị, sao có thể sánh được với nhạc ‘Thiều’? Từ đó mà Điền Nhân Tề biết được, đại vương biết đẹp nhưng không hiểu nhạc.”

Ngụy Huệ Vương nghĩ lại, thấy đúng là mình chưa suy nghĩ kỹ đã buột miệng nói bừa, vô cùng hổ thẹn, sắc mặt lúng túng, nhất thời không thể tìm được lời nào thích hợp để đáp trả, đành phải gượng cười khan mấy tiếng.

Tề Uy Vương tiếp tục nâng chén: “Điền Nhân Tề kính đại vương một chén, chúc mừng Tề, Ngụy hai nhà hoà mục hữu hảo!” Rồi nâng chén uống cạn.

Tất cả những người có mặt đều cạn chén.

Thị tửu lại rót đầy rượu, Ngụy Huệ Vương cũng nâng chén nói: “Ngụy Anh kính Tề Vương, chúc mừng Tề, Ngụy cùng xưng vương thiên hạ!” Rồi một hơi uống cạn.

Tống Công Y ển và chư thần nước Ngụy cũng đều cạn.

Thấy mọi người đều đã uống cả, Tề Uy Vương lại chậm rãi đặt chén xuống bàn. Đám đại thần nước Tề cũng đều đặt chén rượu xuống.

Ngụy Huệ Vương trong dạ hoang mang: “Xin hỏi Tề Vương, tại sao lại không uống?”

Tề Uy Vương hạ giọng đáp: “Vì lời của đại vương không thực, Điền Nhân Tề không thể uống!”

“Xin hỏi Tề Vương,” Ngụy Huệ Vương vừa bẽ bàng vừa kinh ngạc, “lời của Ngụy Anh có chỗ nào không thực?”

“Thiên hạ ngày nay, cùng xưng vương có bốn nước Chu, Sở, Ngụy, Tề, không chỉ có hai nhà Tề, Ngụy xưng vương.”

“Điều này...” Ngụy Huệ Vương lại cứng họng, càng thêm xấu hổ, mặt đỏ phừng phừng, đành phải rót một chén rượu, nâng lên. “Được, Ngụy Anh sẽ vì Chu, Sở, Ngụy, Tề cùng xưng vương, cạn chén!” Rồi tiếp tục uống cạn.

Lúc này, Tề Uy Vương và chúng thần nước Tề mới cùng nâng chén.

Ngụy Huệ Vương liên tiếp bị châm chọc, trong lòng không vui, sầm mặt ngồi yên, không nói chuyện, cũng chẳng uống rượu. Quần thần nước Ngụy cũng chẳng lấy gì làm vui vẻ, sắc mặt ai cũng khó đăm đăm. Chỉ có Tề Uy Vương mặt mũi tươi cười, vui vẻ chúc rượu chúng khanh.

Tống Công Y ển vốn muốn nhắc tới chuyện cùng xưng vương, song lúc này, thấy tình thế như vậy, đành im miệng.

Ngồi được một lúc, Ngụy Huệ Vương quyết định phải lấy lại thể diện, bèn ngẩng lên nói: “Nghe nói nước Tề trù phú, có nhiều kỳ trân dị bảo, Ngụy Anh vô cùng ngưỡng mộ. Hôm nay cao hứng, Tề Vương có thể cho xem một hai thứ, để Ngụy Anh được mở rộng tầm mắt hay chăng?”

Tề Uy Vương vòng vo nãy giờ cũng là để chờ đợi câu này, lập tức quay sang, ôm quyền cười nói: “Nước Tề báu vật nhiều không kể xiết, không biết Ngụy Vương muốn xem báu vật gì?”

Ngụy Huệ Vương liền hỏi luôn: “Có hạt châu đường kính một tấc không?”

Tề Uy Vương lắc đầu.

“Có bảo thạch dạ quang không?”

Tề Uy Vương lắc đầu.

“Có bảo tháp ngà voi không?”

Tề Uy Vương lắc đầu.

“Có nhũ ngọc Thiên Sơn không?”

Tề Uy Vương lại lắc đầu. Thấy Ngụy Huệ Vương không hỏi nữa, Tề Uy Vương liền nhổm người về phía trước, hỏi khẽ: “Những thứ này, Ngụy cũng có chăng?”

Ngụy Huệ Vương chờ đợi cũng là câu này, lập tức hơi ngả người ra sau, vuốt bộ râu cắt tỉa gọn gàng, đắc ý nói: “Nước Ngụy dù nghèo nàn, nhưng lại không thiếu những thứ đó. Trong cung có mười hạt châu đường kính một tấc, Ngụy Anh dùng để nghịch chơi; năm viên bảo thạch dạ quang, Ngụy Anh dùng soi thay nến; có hai bảo tháp ngà voi, Ngụy Anh dùng để chặn sách; có một nhũ ngọc Thiên Sơn, Ngụy Anh dùng để gối đầu.”

Tề Uy Vương nghe xong liền mỉm cười: “Những món này, quả thật Điền Nhân Tề chẳng có thứ gì!”

Ngụy Huệ Vương phá lên cười sảng khoái, giọng nói pha chút chế giễu. “Đây chỉ là những món tầm thường, báu vật của Tề Vương, hẳn còn quý hiếm hơn nhiều.”

Tề Uy Vương thu lại nụ cười, chỉnh đốn y phục ngồi ngay ngắn, rồi chậm rãi nói: “Báu vật của Điền Nhân Tề, quả thực không giống với báu vật của đại vương!”

Ngụy Huệ Vương không giấu nổi ngạo mạn: “Xin hỏi có điểm gì khác?”

“Xin đại vương hãy nghe!” Tề Uy Vương rất mực nghiêm trang đáp lời. “Điền Nhân Tề có hiền thần tên Đàn Tử, trấn thủ biên giới phía nam hai mươi tám năm, người Sở không dám xâm phạm; có hiền thần tên Phán Tử, trấn thủ biên giới phía tây hai mươi lăm năm, người Triệu không dám vượt qua ranh giới nửa bước; có hiền thần tên Kiềm Phu, trấn thủ biên giới phía bắc hai mươi hai năm, người Yên thấy mà khiếp sợ; có hiền thần tên Trọng Thủ, trị dân mười chín năm, người Tề đi đường gặp của rơi không nhặt, đêm ngủ không cần cài cửa; có hiền tướng tên Điền Kỵ, mười sáu năm tung hoành chiến trường, kinh qua mười hai trận chiến, thắng mười một hoà một, không bại trận nào; có hiền tướng tên Trâu Kỵ, mười ba năm quản lý quốc sự, nước Tề ngân khố đầy ắp, lương thực tích luỹ đủ dùng mười năm, trong triều không có án lưu; có hiền đại phu tên Điền Anh, mười hai năm quản lý học cung Tắc Hạ, thu nạp ba ngàn sĩ tử trong thiên hạ, kẻ viết sách lập thuyết nhiều không đếm xuể!” Dừng lại một chút, đưa mắt nhìn Huệ Vương, rồi nhấn nhá từng chữ. “Điền Nhân Tề vốn là kẻ bất tài, chỉ vì coi hiền tài là báu vật, nên mới ngày ngày thấy cảnh thái bình, đêm đêm kê cao gối ngủ.”

Từng câu từng chữ của Tề Uy Vương như những lưỡi dao sắc bén, gọt bóc từng lớp da mặt của Ngụy Huệ Vương. Huệ Vương mặt đỏ phừng phừng, hơi thở hổn hển, cả người run lên bần bật. Quần thần nước Ngụy đưa mắt nhìn nhau.

Xung quanh lặng phắc, không khí tựa như đóng băng.

Thình lình, Ngụy Huệ Vương đứng phắt dậy, ném vụt chén rượu trong tay xuống đất, không thèm nhìn Tề Uy Vương, lập tức phẩy tay áo bước đi. Công tử Ngang, Trần Chẩn đưa mắt nhìn nhau, rồi cũng vội vàng đi theo sau.

Thấy người Ngụy đều đã bỏ đi, Tống Công Y ển ngần ngừ chốc lát, rồi cũng vòng tay nói: “Tề Vương bệ hạ, cũng không còn sớm nữa, Tống Y ển xin cáo lui!”

Tề Vương xua tay, nhìn Tống Công và đám bề tôi của ông ta lần lượt lui đi, đột nhiên phá lên cười lớn. Điền Anh, Điền Kỵ... cũng cười theo, âm thanh chấn động màn đêm.

Tiếng cười vừa dứt, Tề Uy Vương quay sang Điền Kỵ: “Điền tướng quân, trong lúc gấp rút, có thể chọn được bao nhiêu lính thiện chiến?”

Điền Kỵ nói lớn: “Khởi bẩm bệ hạ, khoảng năm vạn tinh binh!”

“Nếu hưng binh chinh phạt, bao lâu có thể xuất chiến?”

“Nếu là phạt Sở, Điền Kỵ cần chuẩn bị ba mươi ngày; phạt Triệu, cần chuẩn bị hai mươi ngày; phạt Hàn, cần chuẩn bị mười tám ngày; phạt Yên, cần chuẩn bị mười lăm ngày...”

“Vậy còn phạt Ngụy?”

“Chỉ cần mười ngày là đủ!”

Tề Uy Vương nhắm mắt, chìm vào suy tư.

Ngụy Huệ Vương giận dữ trở về hành dinh, vừa thở dốc, vừa hùng hục đi đi lại lại trong trướng, bên tai vẫn như văng vẳng tiếng cười của quân thần nước Tề. Đi đi lại lại một lúc, cuối cùng Ngụy Huệ Vương cũng bộc phát, quăng ném, đập phá tất cả đồ đạc bên cạnh. Công tử Ngang, Trần Chẩn quỳ mọp dưới đất, không dám ho he nửa tiếng.

Sau khi đập phá đã tay, Ngụy Huệ Vương cũng từ từ bình tĩnh trở lại, ủ rũ đi tới trước bàn, rồi chuyển ánh mắt sang Trần Chẩn, gằn giọng hỏi: “Trần Chẩn, chuyện này là thế nào?”

Trần Chẩn dập đầu bình bịch như giã tỏi: “Bệ hạ, vi... vi thần không biết! Khi vi thần đi sứ Tề, tất cả đều đã thoả thuận xong xuôi, Tề Vương hết sức vui vẻ, còn thưởng cho vi thần rất nhiều tiền bạc. Tại sao... sao... sao lại ra thế này?”

“Quả nhân hiểu rồi!” Ngụy Huệ Vương siết chặt nắm tay, rít qua kẽ răng. “Điền Nhân Tề cố ý làm nhục quả nhân. Ngang Nhi!”

Công tử Ngang dập đầu đáp: “Có nhi thần!”

“Truyền chỉ, nhổ trại về Ngụy!”

Công tử Ngang quay sang nhìn Trần Chẩn.

Trần Chẩn cuống quýt, lại khấu đầu: “Bệ hạ, đại lễ hội vương còn chưa cử hành!”

“Hội vương cái gì?” Ngụy Huệ Vương nhếch mép cười nhạt một tiếng, đập tay mạnh xuống bàn. “Lẽ nào khanh thấy quả nhân chịu nhục như thế vẫn còn chưa đủ?”

Trần Chẩn nước mắt ròng ròng: “Bệ hạ...”

Ngụy Huệ Vương quay sang công tử Ngang, quát: “Còn chưa truyền chỉ?”

“Nhi thần lĩnh chỉ!”

Trần Chẩn trở về tới trại của mình, ngồi bần thần một lúc, rồi quay sang nói với Thích Quang: “Thái độ của Tề Vương quay ngoắt như vậy, bên trong nhất định có điều khuất tất. Ngươi đến nước Tề, điều tra xem khuất tất ở chỗ nào, còn ta hộ tống bệ hạ về Ngụy.”

Thích Quang gật đầu.

Sáng sớm hôm sau, khi trời còn chưa kịp sáng, Ngụy Huệ Vương và năm nghìn nhân mã tuỳ tùng đã nhổ trại về Ngụy, không lời từ biệt.

Đến giữa trưa, Tề Uy Vương cũng truyền lệnh nhổ trại về Tề, sau đó lấy lý do Ngụy Huệ Vương bội ước, lệnh cho Điền Kỵ dẫn năm vạn binh phạt Ngụy, đồng thời truyền hịch cho thiên hạ, liên minh ba nước Triệu, Hàn, Tần, cùng chinh phạt nước Ngụy bất đạo.

Bàng Quyên chỉ bằng sức của một người đã khuấy động lên một trường đại chiến giữa liệt quốc, sau đó, giống như lúc đến, lại lưng mang tay nải, hông đeo bảo kiếm, đứng trên núi Tắc Sơn cách thành Lâm Truy mười dặm về phía tây nam, từ xa quan sát ba quân nước Tề hàng ngũ tề chỉnh ra khỏi đô thành Lâm Truy, tiến thẳng tới biên giới nước Ngụy, khoé miệng thấp thoáng một nụ cười mơ hồ.

Tính cho đến nay, sau khi xuống núi, nước cờ đầu tiên theo kế của Quỷ Cốc Tử đã đi xong.

Nhưng Bàng Quyên cũng biết, nước cờ tiếp theo mới là khó khăn thực sự. Bàng Quyên đã biết phải hạ cờ ở chỗ nào, nhưng hạ lúc nào, hạ thế nào, nhịp điệu hạ và mức độ nặng nhẹ ra sao, tất cả những điều đó đều vô cùng hệ trọng, chỉ cần sơ suất một chút, sẽ khiến cho cả ván cờ đại bại.

Tại Đại Lương nước Ngụy, trong vương cung vừa mới khánh thành, không khí vẫn còn phảng phất mùi thơm của vôi gỗ.

Đêm đã về khuya, nhưng Ngụy Huệ Vương vẫn chưa ngủ được, một mình ngồi trong ngự thư phòng, hai mắt đờ đẫn nhìn vào mặt bàn phía trước. Trên bàn bày chiếc đĩa hoàng ngọc, đựng một viên dạ minh châu to bằng quả trứng gà, tinh xảo tuyệt luân.

Ngụy Huệ Vương nhìn chằm chằm vào viên dạ minh châu, tựa như muốn xuyên thấu qua nó. Không biết đã bao lâu, Ngụy Huệ Vương mới chậm chạp cầm viên dạ minh châu lên, nắm trong lòng bàn tay, nâng lên trước mặt, nhẹ nhàng vuốt ve. Bên tai Ngụy Huệ Vương lại văng vắng tiếng cười của quân thần nước Tề. Những tiếng cười cuồng loạn cứ nối tiếp nhau, oang oang không dứt. “Ha ha ha ha... ha ha ha ha...”

Mặt Ngụy Huệ Vương mỗi lúc một đỏ rần, rồi thình lình vung mạnh cánh tay, ném thẳng viên dạ minh châu xuống đĩa, chỉ nghe “choang” một tiếng, chớp mắt, cả viên dạ minh châu quý hiếm và đĩa đã vỡ tan tành.

Ngụy Huệ Vương quát: “Người đâu!”

Động tác bất thường của Ngụy Huệ Vương khiến tỳ nhân kinh hoàng luống cuống, hốt hoảng chạy tới: “Bệ hạ, có lão nô!”

Ngụy Huệ Vương nói rành rọt từng chữ: “Triệu Huệ Thi, Chu Uy lập tức yết kiến!”

“Lão nô lĩnh chỉ!”

Khi Huệ Thi, Chu Uy vội vàng tới ngự thư phòng, hoả khí của Ngụy Huệ Vương đã giảm hẳn, đang nheo mắt nhìn đám mảnh vỡ trên bàn. Nhìn thấy hai vị trọng thần khấu đầu trước mặt, Ngụy Huệ Vương khẽ ngẩng lên nói: “Hai vị ái khanh, bình thân!”

Huệ Thi, Chu Uy tạ ơn xong, vẻ lo lắng bất an, ngồi sang hai bên.

Ngụy Huệ Vương từ tốn hỏi: “Có nhìn thấy những mảnh vỡ này chăng?”

Hai người gật đầu.

Ngụy Huệ Vương thở dài: “Than ôi, đều do chúng đã hại quả nhân!”

Huệ Thi, Chu Uy đưa mắt nhìn nhau, nhưng không ai lên tiếng.

Ngụy Huệ Vương nói: “Từ khi quả nhân đến thế gian, chỉ biết làm nhục người khác, chưa từng bị người khác làm nhục. Lần này đến Từ Châu, đã được lĩnh giáo rồi! Bây giờ nghĩ lại, Điền Nhân Tề sỉ nhục hay lắm, giấc mộng mà quả nhân đã mơ suốt hơn hai mươi năm nay, thoáng chốc đã bị lời sỉ nhục của hắn làm cho thức tỉnh!”

Huệ Thi nói: “Bệ hạ, mất bò mới lo rào chuồng, chưa hẳn đã muộn.”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài. “Đã muộn thế này rồi, nhưng quả nhân vẫn không sao ngủ được, ngồi ở đây suy đi nghĩ lại, cuối cùng cũng đã hiểu ra một điều: sai lầm không đáng sợ, sợ là không chịu nhận sai. Bao nhiêu năm nay, quả nhân đã sai lầm quá nhiều, nhưng lại luôn sĩ diện, không chịu nhận sai, cuối cùng mới tạo thành cái sai lớn như hiện tại. Buổi tối hôm nay, quả nhân không có việc gì khác, chỉ muốn đối mặt với những mảnh vỡ này, nhận sai với thiên hạ, mời hai vị ái khanh đến chỉ là để chứng giám.”

Huệ Thi, Chu Uy nghe thấy lời này, cùng quỳ xuống đất, khóc mà nói: “Bệ hạ...”

“Huệ ái khanh nói đúng lắm, mất bò mới lo rào chuồng chưa hẳn đã muộn. Quả nhân triệu hai vị đến còn vì một chuyện, đó là rào lại cái chuồng rách nát này. Hai vị ái khanh!”

Huệ Thi, Chu Uy đồng thanh đáp: “Có vi thần!”

“Bản điều trần về cải chế mà các khanh soạn ra, quả nhân đã xem xong, cũng đã đóng triện, giờ hãy làm đi! Ngày trước Câu Tiễn nếm mật nằm gai, mười năm chịu nhục, quả nhân không bằng Câu Tiễn, nhưng hai mươi năm cũng đã quá đủ rồi!”

Huệ Thi khóc mà nói: “Bệ hạ có chí này, nước Ngụy không được trị thì đâu còn thiên lý!”

Lời vừa dứt, tỳ nhân đã vội vã đi vào, dâng lên Ngụy Huệ Vương một bản cấp báo từ biên ải: “Bệ hạ, biên ải cấp báo quân tình!”

Ngụy Huệ Vương đọc xong, mặt dần biến sắc.

Huệ Thi, Chu Uy đưa mắt nhìn nhau.

Ngụy Huệ Vương đưa cho Huệ Thi. Huệ Thi đọc xong, sắc mặt cũng sa sầm, tiện tay đưa cho Chu Uy.

“Điền Nhân Tề!” Ngụy Huệ Vương đập mạnh tay xuống bàn, rít qua kẽ răng. “Ngươi... ngươi ép quả nhân quá lắm!”

Huệ Thi lo lắng: “Bệ hạ...”

Ngụy Huệ Vương quay sang tỳ nhân, dằn từng tiếng: “Quân địch tấn công bờ cõi, đi đánh chuông cảnh báo, thông báo bá quan, khẩn cấp lên triều!”

“Lão nô tuân chỉ!”

Một lát sau, tiếng chuông cảnh báo quân địch tấn công dội lên từng hồi từ trong cung Ngụy, vang vọng khắp bầu trời Đại Lương. Trong thành Đại Lương một phen kinh loạn, bá quan giật mình tỉnh mộng, vội vã mặc áo đội mũ, cấp tập chạy tới vương cung.

Vào lúc canh ba, bá quan đều đã đến đủ, Ngụy Huệ Vương sắc mặt lạnh tanh, ánh mắt sắc lẹm nhìn khắp quần thần mấy lượt, giọng nói hơi khàn đi: “Các vị ái khanh, có nghe thấy tiếng chuông chăng?”

Bá quan văn võ đồng thanh đáp: “Có nghe thấy!”

Ngụy Huệ Vương cất giọng chậm rãi, nhưng tràn đầy cảm xúc: “Đây là tiếng chuông cảnh báo quân địch xâm phạm biên cương! Quả nhân từ khi kế thừa vương vị, lập chính hai mươi hai năm, tiếng chuông chinh phạt đã nghe không biết bao nhiêu lần, nhưng chỉ có hai lần nghe tiếng chuông cảnh báo quân địch xâm lăng. Lần đầu là người Tần, đến từ phía tây! Lần này là người Tề, đến từ phía đông!”

Khắp đại điện lặng im phăng phắc.

Giọng Ngụy Huệ Vương vẫn rất chậm rãi: “Chư vị ái khanh, quả nhân tuổi ngày một cao, cuộc sống của bách tính ngày một khổ sở, nước Ngụy không muốn chiến tranh nữa. Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Điền Nhân Tề tự phong làm vương, nhiệt tình mời mọc quả nhân. Để cầu hoà mục, quả nhân đã bất chấp thân phận, hạ mình nhận lời đến Từ Châu gặp mặt, không những không được đối đãi tử tế, còn bị hắn làm nhục trước mặt mọi người. Quả nhân còn chưa tìm hắn tính sổ, mà hắn đã dẫn quân đánh đến tận trước cửa nhà quả nhân!”

Quần thần đều quay mặt nhìn nhau.

Ngụy Huệ Vương đột ngột cao giọng: “Điền Nhân Tề làm nhục quả nhân, quả nhân có thể nhẫn nhịn. Điền Nhân Tề hưng binh xâm phạm, làm nhục Đại Ngụy ta, các khanh hãy nói, quả nhân có thể nhẫn nhục được chăng?”

Quần thần kích động vạn phần, đồng thanh hô lớn: “Thề chống quân Tề, rửa nhục cho bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương giọng như chuông đổ: “Không phải rửa nhục cho quả nhân, mà là rửa nhục cho bản thân các khanh! Rửa nhục cho Đại Ngụy! Chư vị ái khanh, bất kỳ kẻ địch nào đến xâm phạm, cho dù là người Tần, người Tề, người Triệu hay người Hàn, đều là kẻ địch của quả nhân, cũng là kẻ địch của Đại Ngụy. Quả nhân muốn dốc hết quốc lực, cho dù có phải tan xương nát thịt, cũng không chịu làm nô lệ mất nước!”

Bá quan đồng thanh: “Chúng thần thề chết đi theo bệ hạ, quyết giữ nhà giữ nước!”

Ngụy Huệ Vương quay sang nhìn Chu Uy: “Chu tư đồ, ngoài quân trấn thủ các nơi, còn có thể điều động bao nhiêu binh mã?”

Chu Uy bước lên trước một bước, nói lớn: “Khởi bẩm bệ hạ, có thể điều động một vạn kỵ binh, bốn vạn võ binh, ngoài ra còn có mười vạn dân binh có thể trưng dụng!”

“Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương vung quyền nói lớn. “Chư vị ái khanh, tướng Tề là Điền Kỵ dẫn năm vạn binh đến đánh, quả nhân cũng có năm vạn tinh binh. Vị ái khanh nào đồng ý dẫn binh ứng chiến, rửa nỗi nhục cho quả nhân?”

Công tử Ngang đưa khuỷu tay huých Trần Chẩn, Trần Chẩn do dự một lát, rồi bước ra khỏi hàng bẩm tấu: “Bệ hạ, vi thần tiến cử một người, có thể nghênh chiến với quân Tề!”

Ngụy Huệ Vương liếc mắt nhìn ông ta: “Ái khanh tiến cử người nào?”

“An Quốc Quân!”

Mọi ánh mắt trong triều đường đều đổ dồn vào công tử Ngang.

Công tử Ngang phấn chấn tinh thần, bước ra khỏi hàng bẩm tấu: “Khởi tấu phụ vương, nhi thần nguyện treo ấn soái xuất chinh, thay phụ vương dạy cho người Tề một bài học!”

Ngụy Huệ Vương chẳng thèm nhìn đến, quay sang phía quần thần: “Còn ai đồng ý dẫn binh nghênh địch không?”

An Quốc Quân đã lên tiếng, chúng thần ai dám tranh giành, chỉ cúi đầu không nói.

Ngụy Huệ Vương quay sang công tử Ngang: “An Quốc Quân nghe chỉ!”

“Có nhi thần!”

“Phong An Quốc Quân làm đại tướng quân, Trương Mãnh làm phó tướng, dẫn năm vạn quân, nghênh chiến quân Tề!”

“Nhi thần lĩnh chỉ!”

“Bệ hạ!” Chu Uy lo lắng, vội vã bước lên. “Trương Mãnh đang trấn thủ Tây Hà, vậy người Tần...”

Ngụy Huệ Vương liếc nhìn Chu Uy: “Chẳng phải người Tần vẫn chưa đến ư?”

Chu Uy đang định tấu tiếp, Huệ Thi liền kéo tay áo ngăn lại.

“Ngang Nhi!” Ngụy Huệ Vương nhìn công tử Ngang. “Quân tình gấp rút, con mau đi chuẩn bị, giờ Thìn điểm binh, giờ Mão xuất chinh!”

“Nhi thần lĩnh chỉ!”

“Còn nữa!” Ngụy Huệ Vương suy nghĩ một thoáng, rồi dặn dò. “Điền Kỵ tinh thông trận pháp, dùng binh gian trá, con phải cẩn thận bố trận, giữ chắc thành trì, tuyệt đối không được manh động xuất kích!”

“Nhi thần ghi nhớ!”

Sau khi bãi triều, bá quan lục tục ra khỏi cửa cung.

Chu Uy vội bước lên mấy bước, đuổi kịp Huệ Thi, hỏi: “Tướng quốc, bệ hạ để An Quốc Quân làm tướng, ngài... tại sao ngài không nói lấy một tiếng?”

Huệ Thi hỏi vặn lại: “Không để hắn làm, ngài nói xem, còn ai có thể làm?”

“Trương Mãnh!”

Huệ Thi lắc đầu quầy quậy: “Trương Mãnh là mãnh tướng, có thể làm tiên phong, giờ được làm phó tướng cũng là coi trọng lắm rồi!”

Chu Uy suy nghĩ một lát, không biết nói gì thêm, bèn khẽ nói: “Nhưng... tướng quốc đại nhân, Điền Kỵ là danh tướng, công tử Ngang làm sao có thể là đối thủ của ông ta?”

“Than ôi!” Huệ Thi thở dài một tiếng. “Nếu như có đối thủ, thì Tề Vương lại dám điều binh gấp rút đến vậy ư?”

Trong trận chiến Hà Tây, công tử Ngang đã chuốc lấy thất bại to lớn đầu tiên trong đời, mất hết mặt mũi trước liệt quốc. Lần này người Tề xâm phạm biên cương, đúng là cơ hội để lấy lại thể diện. Giờ Thìn điểm binh, vừa đến giờ Mão, công tử Ngang đã sốt ruột truyền lệnh cho ba quân, nhổ trại nghênh chiến Điền Kỵ.

Quân Tề đi dọc theo sông Tế Thuỷ, băng đầm Đại Dã, mượn đường qua Vệ để đánh thẳng đến đất Ngụy. Công tử Ngang do thám biết rõ, bèn dẫn ba quân men theo sông Tế Thủy ứng chiến, đụng đầu quân Tề ở Chử Táo, liền cho quân hạ trại.

Phó tướng Trương Mãnh nhận được chiếu lệnh, ngay trong đêm đó, lập tức sắp đặt ổn thoả việc phòng thủ tuyến Tây Hà, dẫn theo mấy nghìn kỵ binh, gấp rút tiến thẳng về Chử Táo.

Công tử Ngang vừa hạ trại xong, chiến thư của Điền Kỵ đã tới, hẹn ba ngày sau đấu trận. Công tử Ngang thuộc lòng binh thư, nghiên cứu nhiều trận pháp, biết được Điền Kỵ giỏi đấu trận pháp, từ lâu đã muốn so tài cao thấp với Điền Kỵ, lập tức gửi lại chiến thư.

Trên cánh đồng hoang phía ngoài Chử Táo, hai quân Ngụy, Tề cùng bày trận. Điền Kỵ giục ngựa giương thương, xông lên khiêu chiến. Công tử Ngang nhận ra được trận thế, lập tức dẫn binh xông vào. Không ngờ quân Tề thình lình biến trận, bao vây chém giết. Công tử Ngang đại bại, chết mất mấy nghìn quân.

Hôm sau, Điền Kỵ tiếp tục bày trận, công tử Ngang tự cho rằng mình đã hiểu rõ, tiếp tục dẫn binh xông vào. Kết quả lại đại bại, mất thêm mấy nghìn quân nữa.

Công tử Ngang lo cuống lên, bèn bày ra một trận trong trận, cố ý hoán đổi vị trí cửa sinh cửa tử, dụ Điền Kỵ vào trong trận. Điền Kỵ nhanh chóng nhận ra, biết rõ điểm yếu, liền điều hai viên mãnh tướng đánh vào từ cửa tử, làm loạn thế trận quân Ngụy. Điền Kỵ thừa thế xông lên chém giết, công tử Ngang vỡ trận, nháo nhác lui quân.

Quân Ngụy lui tới Bình Khâu, lúc này phó tướng Trương Mãnh mới kịp đến nơi. Hai bên hợp binh một chỗ, ổn định thế quân. Công tử Ngang điểm lại binh, thấy đã tử trận đến hai vạn quân và hơn mười viên tướng từ cấp thiên tướng trở lên.

Công tử Ngang không dám tiếp tục giấu giếm quân tình, khẩn cấp hồi báo cho Ngụy Vương, thỉnh cầu hoả tốc tăng binh.

Ngụy Huệ Vương hay tin, kinh hoàng thất sắc, vội triệu Huệ Thi, Chu Uy tới, đập bàn giận dữ nói: “Không cho nó đánh trận, nó nhất quyết không nghe, đánh ba trận bại cả ba, chết mất hai vạn quân, vậy mà còn mặt mũi đòi quả nhân tăng quân?”

“Bệ hạ bớt giận!” Huệ Thi bẩm tấu. “Trước mắt quân tình gấp rút, có thể tạm điều động hai vạn quân phòng thủ gần đấy đến Bình Khâu tiếp viện, sau đó tiếp tục chiêu binh bổ sung cho quân phòng thủ!”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài não nề. “Với thằng ranh này, có cho bao nhiêu binh mã cũng vô dụng! Huệ ái khanh, truyền chỉ, triệu nó về!”

“Bệ hạ!” Chu Uy lo lắng. “Ba quân không thể không có chủ tướng!”

Ngụy Huệ Vương ngẫm nghĩ một lát, quyết định: “Tạm thời để phó tướng Trương Mãnh làm chủ tướng!” Một lát sau, siết chặt bàn tay, giọng đầy căm giận. “Điền Nhân Tề đúng là khinh thường trong triều của quả nhân không còn người nữa!”

Chu Uy tấu: “Thần tiến cử một người, có thể chống lại Điền Kỵ!”

Ngụy Huệ Vương hai mắt vụt sáng: “Ái khanh tiến cử người nào?”

“Long lão tướng quân!”

Hai mắt Ngụy Huệ Vương tối sầm trở lại, hồi lâu mới nói: “Long lão tướng quân mặc dù có thể đối địch, nhưng đã quá già rồi!”

“Bệ hạ!” Chu Uy vẫn kiên trì. “Có Long lão tướng quân trấn thủ, lòng quân ắt định; lòng quân đã định, thì quân Tề ắt sẽ không dám đánh. Người Tề đi đường xa tới, khó lòng tiếp viện. Tề không dám đánh ta, lòng quân tự loạn, lâu ngày chắc chắn sẽ phải lui quân!”

Ngụy Huệ Vương quay sang nhìn Huệ Thi, thấy ông ta cũng gật đầu, liền nói: “Được thôi, vậy hãy để Long lão tướng quân xuất mã!”

Chu Uy nhận lệnh, đứng dậy định đi, thì Ngụy Huệ Vương lại giơ tay: “Khoan đã!”

“Bệ hạ?”

“Quả nhân sẽ đích thân đi mời!”

Trong trạch viện của Long lão tướng quân, chính đường đã được chuyển thành linh đường, mấy người đàn bà quỳ trên đất khóc sùi sụt.

Một đứa bé trai tuổi chừng mười hai, mười ba, trong mắt không một ngấn lệ, mở to đôi mắt nhìn chằm chằm vào thanh bảo kiếm và chiếc mũ trụ hoen đầy vết máu đặt trên bàn thờ.

Đột nhiên, đứa trẻ lao vụt vào linh đường, với lấy mũ trụ và bảo kiếm, nhanh chóng đội mũ trụ lên đầu, rồi cầm lấy bảo kiếm chạy như bay ra cổng.

Cảnh tượng này đã bị lão quản gia đứng ở cách đó không xa nhìn thấy, liền hét lớn: “Trời ơi, thiếu gia lấy kiếm chạy đi rồi!”

Mấy người đàn bà đang phủ phục khóc lóc nghe thấy vậy, vội ngẩng lên nhìn, đã không thấy bảo kiếm và mũ trụ đâu nữa, thảy đều chết sững. Một người đàn bà hét lớn: “Hổ Nhi!” Rồi lăn ra đất chết giấc.”

Một người đàn bà khác vội vàng đuổi theo ra cổng, vừa đuổi vừa gọi lớn: “Hổ Nhi, Hổ Nhi, quay lại mau!”

Hổ Nhi tay cầm bảo kiếm đã chạy ra ngoài cổng, bất ngờ va phải Ngụy Huệ Vương vừa mới xuống xe đang chuẩn bị đi vào. Chu Uy nhanh tay nhanh mắt, bước vội lên trước, ôm lấy ngang lưng đứa bé. Nhìn thấy đứa bé mang theo bảo kiếm và mũ trụ hoen máu, Ngụy Huệ Vương sắc mặt trắng bệch, trán vã mồ hôi lạnh.

Nhận ra là Hổ Nhi, Chu Uy vội hỏi: “Hổ Nhi, cháu sao thế?”

Hổ Nhi giãy giụa mà nói: “Chu bá phụ, đừng cản con! Con muốn đi giết người Tề, báo thù cho tiên phụ!”

“Tiên phụ?” Chu Uy giật mình. “Cha cháu...”

Hổ Nhi khóc nấc: “Chu bá phụ, tiên phụ... tiên phụ ở Chử Táo...”

Ngụy Huệ Vương đã kịp định thần, vội đưa tay áo lên lau mồ hôi: “Chu ái khanh, đây là con cái nhà ai?”

Qua lời nói của Hổ Nhi, Chu Uy đã hiểu ra mọi chuyện, nước mắt đầm đìa mà đáp: “Bẩm bệ hạ, đây là cháu nội của Long lão tướng quân. Con trai của Long lão tướng quân là Long Thái, tiên phong của tả quân, hẳn đã hy sinh ở Chử Táo rồi!”

Ngụy Huệ Vương cũng rơi nước mắt, bước lên kéo tay Hổ Nhi: “Con trai, lại đây, cùng quả nhân đi tìm ông nội của con!”

Ngụy Huệ Vương, Chu Uy cùng Hổ Nhi đi tới bãi luyện võ ở sân sau, thấy có một cây thương dài trượng tám cắm trên bãi cỏ, dưới cây thương, Long Giả râu tóc bạc phơ đang ngồi xếp bằng trên đất, hai mắt nhắm nghiền.

Chu Uy bước lên trước: “Long tướng quân, ông xem ai đến đây?”

Long Giả vẫn ngồi bất động.

“Long tướng quân, là bệ hạ, bệ hạ đến thăm ông!”

Long Giả vẫn nhắm chặt hai mắt, một lúc lâu sau, hai hàng lệ từ từ lăn xuống, rồi ông chậm rãi nói: “Chu tư đồ, đừng đùa nữa, lão hủ chỉ muốn được yên tĩnh một lát!”

“Long tướng quân!” Chu Uy giọng nghẹn ngào. “Chu Uy đâu dám nói đùa trong lúc này? Ông hãy mở mắt ra xem, đúng là bệ hạ đã đến thăm ngài!”

“Bệ hạ sẽ không đến đâu!” Long Giả lắc đầu. “Long Giả già rồi!”

Chu Uy đang định nói tiếp, Ngụy Huệ Vương đã xua tay ngăn lại, rồi khoanh chân ngồi xuống đối diện với Long Giả: “Long tướng quân, Ngụy Anh có lỗi với ông!”

Long Giả giật nảy mình, hai mắt mở choàng, thấy quả nhiên là Ngụy Vương, lập tức quỳ xuống bái lạy: “Bệ hạ...”

Ngụy Huệ Vương đứng lên, đỡ Long Giả dậy: “Lão tướng quân miễn lễ!”

Long Giả nấc nghẹn: “Bệ hạ... bệ hạ, đúng là bệ hạ...”

Ngụy Huệ Vương đưa tay áo lau nước mắt: “Lão tướng quân, lệnh lang hy sinh vì nước, là lỗi của quả nhân!”

Long Giả khóc không thành tiếng: “Bệ hạ...”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài. “Dọc đường, lắng nghe lời Chu ái khanh nói lại, quả nhân mới biết chân tướng của trận chiến Hà Tây. Tám vạn tinh binh, mấy trăm dặm Hà Tây, tâm huyết suốt bao năm của quả nhân, chỉ trong mấy ngày đã bị huỷ hoại trong tay đứa con vô dụng. Nhưng quả nhân lại không hề hay biết, tin theo lời thằng ranh đó mà trút giận lên lão tướng quân. Long lão tướng quân, quả nhân phải chịu nỗi nhục ngày hôm nay, thực đáng đời lắm!”

“Nghe bệ hạ nói vậy, Long Giả có chết chín lần cũng không oán trách. Lão thần có một lời, từ lâu đã muốn được nói cho bệ hạ nghe!”

“Hôm nay quả nhân đến, chính là muốn được nghe lời nói của lão tướng quân!”

“Ngụy là vùng đất bốn bề công chiến, kẻ địch bốn phía đều mạnh, không được tuỳ tiện động binh đao. Bệ hạ, lão thần trấn thủ biên cương nhiều năm, chỉ hiểu ra được một sự thực: kẻ địch của Ngụy không phải người Tề, không phải người Triệu, càng không phải người Hàn, mà chính là người Tần!”

“Huệ tướng quốc cũng nói như vậy. Quả nhân nghe theo lời tướng quốc, đích thân đến Từ Châu, vốn muốn kết thân với Tề để cùng chống lại người Tần, không ngờ lại tự mình chuốc lấy nhục nhã. Điền Nhân Tề hưng binh xâm phạm ta, quả nhân sao có thể nhẫn nhịn cho được?”

“Cho dù là chống Tề, cũng không được để An Quốc Quân làm tướng!”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài. “Chuyện đã đến nước này, đừng nhắc tới nó nữa. Lão tướng quân, chiến sự ở tiền phương phải giải quyết thế nào?”

Long Giả nói lớn: “Lão thần bất tài, nguyện gánh vác cùng bệ hạ!”

“Lão tướng quân, nếu như quả nhân nhớ không nhầm, tuổi ông cũng đã sáu mươi rồi!”

“Lão thần vừa tròn một hoa giáp!”

“Quả nhân nên để ông an dưỡng tuổi già mới đúng, thế nhưng...”

Lời vừa nói dứt, quản gia dẫn theo một viên quân uý vội vàng đi vào.

“Báo, biên ải hoả tốc báo quân tình!” Quân uý hai tay trình lên ba bản cấp báo.

Ngụy Huệ Vương lần lượt mở ra đọc, đọc một bản, vứt một bản, thần sắc đại biến.

Chu Uy nhặt bản cấp báo từ dưới đất lên, vội vàng đọc qua, nói với Long Giả: “Quân Tần trong đêm đã tấn công Hàm Cốc. Hàm Cốc thất thủ, quân trấn thủ ở Âm Tấn quay trở lại cứu, đã bị phục kích ở Đồng Quan, Âm Tấn cũng thất thế theo, tám nghìn quân trấn thủ ở Âm Tấn, năm nghìn quân trấn thủ ở Hàm Cốc toàn bộ tuẫn thân vì nước. Ở tuyến phía nam, hai vạn quân Hàn tấn công Vũ Dương; phía bắc, ba vạn quân Triệu tấn công Triều Ca, quân trấn thủ đều đang dốc kiệt sức lực chống trả. Long tướng quân, chúng ta đang bị tấn công bốn phía!”

Long Giả thốt lên: “Đây chính là điều mà Long Giả lo lắng! Bệ hạ...”

Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn Long Giả: “Lão tướng quân cứ nói!”

“Còn có thể chiêu mộ được bao nhiêu binh mã?”

Ngụy Huệ Vương quay sang Chu Uy: “Chu ái khanh?”

Chu Uy do dự một lúc: “Nhiều nhất là bốn vạn!”

“Bệ hạ!” Long Giả quay sang Huệ Vương. “Hãy giao bốn vạn quân này cho lão thần!”

Ngụy Huệ Vương gật đầu, chỉnh trang y phục ngồi xuống: “Long Giả nghe chỉ!”

Long Giả quỳ xuống khấu đầu: “Có lão thần!”

“Phong Long Giả làm đại tướng quân, thống lĩnh toàn bộ binh mã của cả nước! Miễn chức đại tướng quân của công tử Ngang, áp giải về Đại Lương hỏi tội!”

“Lão thần lĩnh chỉ!”

Nhận mệnh trong lúc nguy nan, Long Giả lập tức điểm bốn vạn binh mã, chia làm ba lộ, một vạn quân tới cứu viện Hào Quan, một vạn quân tới cứu viện Triều Ca, năm ngàn quân tới cứu viện Vũ Dương, đích thân Long Giả dẫn một vạn năm nghìn quân tới Bình Khâu. Đồng thời, Ngụy Huệ Vương phái tỳ nhân đích thân tới Bình Khâu, đóng công tử Ngang vào xe tù, áp tải về Đại Lương.

Long Giả và Trương Mãnh cùng hợp binh, dựa vào địa thế để hạ trại, mặc cho quân Tề ngày ngày khiêu chiến, chỉ cố thủ mà không đánh.

Điền Kỵ vốn chỉ mang theo năm vạn người ngựa, trải qua mấy trận chiến, số quân tử trận cũng đến gần vạn. Do gấp rút chinh phạt, việc cung ứng lương thảo phía sau không được chuẩn bị chu đáo, nên ngày càng thất thế. Điền Kỵ đang trong lúc hoang mang thì Tề Uy Vương tiếp viện thêm cho ba vạn quân và một lượng lớn quân nhu.

Điền Kỵ nhận được tiếp viện, liền phát động tấn công dữ dội. Long Giả chống trái đỡ phải, cuối cùng không thể cầm cự nổi nữa, toàn tuyến quân Ngụy tan vỡ, phải rút lui. Long Giả phóng ngựa múa thương, đích thân đoạn hậu, song bị quân Tề cắt đứt đường lui, bao vây tầng tầng lớp lớp.

Bốn phía trùng trùng tiếng hô xung sát. Long Giả tả xung hữu đột, liền tay đâm chém, trên người cũng đã nhiều chỗ bị thương, tình thế vô cùng nguy ngập. Đúng vào lúc Long Giả đang định rút kiếm tự sát, thì ở phía tây nam vang lên tiếng hô giết dậy trời, Trương Mãnh cũng các mãnh tướng liều chết xông vào, cứu lấy Long Giả, mở được một con đường máu để thoát ra, gấp rút tháo chạy.

Trong trận đại chiến này, quân tướng hai bên đều hăng hái liều mạng, chém giết kịch liệt thẳng tay.

Bàng Quyên đứng trên một đỉnh núi ở gần đó, nhìn cảnh tượng đám Long Giả quất ngựa bỏ chạy thục mạng, quân Tề hô hoán đuổi sát phía sau, thì khẽ lắc đầu than thở: “Than ôi, Long lão tướng quân, ông già thật rồi!”

Trương Mãnh dẫn chúng tướng bảo vệ Long lão tướng quân lui về tới Hoàng Trì, dựng trại ở bờ nam sông Tế Thuỷ, phái người cấp tốc về Đại Lương báo tin chiến sự.

Trong ngự thư phòng, Ngụy Huệ Vương hai mắt đờ đẫn nhìn bản chiến báo, hồi lâu sau mới ngẩng đầu lên nhìn Huệ Thi, Chu Uy, Trần Chẩn, thái tử Thân, thở dài sườn sượt, cất giọng đau thương: “Than ôi, các vị ái khanh, lẽ nào quả nhân thực sự đã đến bước sơn cùng thuỷ tận, phải cắt đất cầu hoà hay sao?”

Mấy người quay mặt nhìn nhau.

Trần Chẩn thấy không ai nói gì, liền bước lên bẩm tấu: “Bệ hạ, vi thần mới gặp được một dị nhân, nói rằng có cách phá địch!”

“Mau!” Ngụy Huệ Vương giục gấp. “Truyền người đó vào yết kiến!”

Trần Chẩn vỗ tay, tỳ nhân bèn dẫn theo một vu sư bước vào, quỳ xuống bái lạy Huệ Vương: “Thảo dân khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương đưa mắt quan sát một lát: “Nghe nói thượng tiên có cách phá địch, có thể nói ra chăng?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” vu sư chậm rãi nói, “nước Ngụy đào Hồng Câu, cắt đứt long mạch, ám khí xung tới tận trời, phạm tới sao Chiến tinh, bị Chiến tinh giáng tội, nên nước Ngụy đánh đâu thua đấy.”

Chu Uy nổi giận đùng đùng, đang định quát mắng, song thấy Huệ Thi vẫn hai mắt khép hờ, khuôn mặt không chút biểu cảm, Chu Uy bèn cố gắng nhẫn nhịn, quay nhìn Huệ Vương, thấy Huệ Vương không những không có vẻ giận, mà còn chăm chú lắng nghe, liên tiếp gật gù mà nói: “Ừm, lời của thượng tiên rất hữu lý. Võ binh Đại Ngụy hơn chục năm nay đánh đâu thắng đấy, nhưng từ khi đào Hồng Câu đến nay, đúng là đánh trận nào thua trận đấy. Xin hỏi thượng tiên, có cách gì phá giải chăng?”

“Thảo dân có một cách, may ra có thể phá giải!”

“Thượng tiên mau nói!”

“Trước ngày xuất chiến, bệ hạ hãy dùng máu sơn dương đen tế cờ, sẽ khiến võ binh Đại Ngụy lại có được thần uy, xoay ngược chiến cục.”

“Chu ái khanh!” Ngụy Huệ Vương vui mừng khôn xiết, quay sang Chu Uy. “Mau đi tìm sơn dương đen về đây!”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Chu Uy chau mày, nói. “Ở vùng Trung Nguyên, tất cả sơn dương đều có màu trắng, vi thần chưa từng nghe nói có sơn dương màu đen.”

“Làm gì có chuyện đó!” Ngụy Huệ Vương quả quyết. “Truyền chỉ, bố cáo thiên hạ, bất kỳ người nào dâng sơn dương đen đều được thưởng trăm lượng vàng!”

Một con sơn dương đen mà thưởng đến trăm lượng vàng, Chu Uy nghe mà trơn mắt há miệng.

“Bệ hạ...” Huệ Thi lúc này mới từ từ mở mắt.

“Tướng quốc cứ nói!”

“Bệ hạ đã có thể treo thưởng trăm lượng vàng cho một con sơn dương, sao không thể thưởng thêm mấy lượng cho con người?”

“Huệ ái khanh nói đúng lắm!” Ngụy Huệ Vương tiếp tục hạ chỉ. “Tiếp tục bố cáo, bất kỳ người nào có thể đánh đuổi được kẻ địch, quả nhân không xét tới thân phận, lập tức sách phong chức đại tướng quân, thực ấp vạn hộ!”

Trần Chẩn và vu sư quay trở về tới phủ, vừa ngồi xuống đã nghe thấy tiếng xe ngựa dừng lại trước cổng, rồi Thích Quang đầy mình bụi bặm hộc tốc chạy vào trong.

Trần Chẩn vội đi ra, vừa gặp đã mắng phủ đầu: “Sao bây giờ mới về?”

“Khởi bẩm chúa công!” Thích Quang quỳ xuống bẩm báo. “Hai nước giao chiến, người Tề kiểm tra rất gắt, tiểu nhân phải vòng sang nước Hàn mới có thể trở về được!”

“Đã điều tra được nguyên nhân chưa?”

“Điều tra được rồi, chính là do tên họ Bàng kia! Hắn đã chặn xe kiệu của Tề Vương, không biết đã nói những gì khiến cho Tề Vương đột ngột đổi ý.”

“Là Bàng Quyên?” Trần Chẩn nhíu mày. “Hiện hắn đang ở đâu?”

“Nghe nói Tề Vương phong hắn làm thượng khanh, nhưng hắn lại từ chối. Tặng hắn trăm lượng vàng, hắn cũng kiên quyết không nhận!”

“Cái gì?” Trần Chẩn kinh ngạc. “Từ chối chức thượng khanh, không nhận trăm lượng vàng? Kẻ này có bản lĩnh gì mà ngông nghênh đến vậy?”

“Tiểu nhân đã điều tra được, ba năm về trước, Bàng Quyên đã lên núi Vân Mộng, bái một dị nhân làm thầy, chắc hẳn có học được chút ít bản lĩnh.”

“Dị nhân? Là dị nhân nào?”

“Tiểu nhân không biết!”

“Núi Vân Mộng?” Trần Chẩn lẩm nhẩm một hồi, rồi quay sang vu sư. “Thượng tiên có biết dị nhân nào ở trong núi đó không?”

Vu sư ngẫm nghĩ một lúc, rồi ngẩng lên nói: “Lẽ nào là Quỷ Cốc Tử?”

“Quỷ Cốc Tử?” Trần Chẩn ngây người. “Tại hạ chưa từng nghe nói. Thượng tiên có biết người này không?”

“Có nghe nói qua.” Vu sư khẽ gật đầu. “Nhiều năm trước, từng nghe gia sư nhắc tới, nói rằng người này đã đắc đạo, bản lĩnh tuyệt đỉnh.” Lại suy nghĩ một lát, có vẻ băn khoăn. “Theo lời gia sư nói, Quỷ Cốc Tử không màng thế sự, không nhận môn sinh, giờ sao đột nhiên lại nhận đệ tử?”

Xem ra tình thế đã nghiêm trọng hơn dự tính. Trần Chẩn mặt biến sắc, nhìn sang Thích Quang: “Kẻ đó không ở nước Tề làm quan, cũng không nhận trăm lượng vàng của Tề Vương, chắc chắn sẽ đến báo thù. Thích Quang...”

“Có tiểu nhân!”

“Mau đi sắp xếp, phái thêm người điều tra tên này, trong phủ phải canh chừng cẩn mật!”

“Chúa công yên tâm!” Thích Quang nghiến răng nói. “Chỉ cần tên này dám đến Đại Lương, tiểu nhân nhất định sẽ khiến hắn đầu lìa khỏi cổ!”

Tại khu phố náo nhiệt của Đại Lương, hai tờ cáo thị được dán song song trên tường, một tờ cầu dê núi, một tờ cầu hiền tài. Dê thưởng trăm lượng vàng, hiền tài phong đại tướng quân. Hai bên cáo thị, mỗi bên có bốn tên lính đứng canh, người đến xem đông như kiến.

Trong đám đông, Bàng Quyên cải trang thành thương nhân, đầu đội mũ lông chiên chen lên phía trước, đọc kỹ cáo thị, thầm kinh hãi trong lòng: “Trước lúc đi, tiên sinh đã dặn ‘gặp dê thì vinh’, nay dê quả thực đã xuất hiện! Ồ, nếu như đã có lời này, vậy ta không cần vội xé cáo thị, đợi thêm một lúc nữa xem có sơn dương đen xuất hiện hay không?”

Đúng vào lúc này, Thích Quang dẫn theo một đám người mặt mày hung tợn rầm rập đi tới. Khi gần đến nơi, Thích Quang bèn hô dừng lại, đám hung đồ nhanh chóng túa vào đám đông kiểm tra.

Bàng Quyên liếc mắt nhìn thấy, khoé miệng lộ một nét cười nhạt.

Trước bản cáo thị, mọi người chen lấn xô đẩy, người hô kẻ réo, ồn ào hỗn loạn.

“Đây không biết chữ, nghe nói treo thưởng trăm lượng vàng, bệ hạ muốn tìm báu vật gì thế?”

“Sơn dương đen, nhà anh có không?”

“Sơn dương đen? Thiên lý mã mới đáng giá trăm lượng vàng, chứ một con dê núi sao lại đáng trăm lượng vàng được?”

“Này, ông anh, ông nghe cho kỹ đi đã, có cần dê trắng không? Đây có tới năm mươi con dê trắng!”

“Trên cáo thị viết là dê đen, nếu là dê trắng, còn cần treo cáo thị ư?”

Mọi người cười ầm lên.

Một cụ già râu tóc bạc phơ đứng bên cạnh nghe thấy, liền bước lại gần, thẳng tay giật tờ cáo thị tìm dê xuống. Đám đông cùng ồ lên, bốn tên lính đứng canh bảng cầu sơn dương lập tức tiến lại.

Một tên lính hỏi: “Lão trượng, nhà ông có sơn dương đen không?”

“Anh nói cái gì thế?” Ông già trừng mắt nhìn hắn. “Nếu như không có, già này đâu có gan gỡ cáo thị của bệ hạ? Nhà ta có con sơn dương đen đẻ vào năm ngoái, người trong thôn đều nói dê đen không cát lợi, mang lên phố bán cũng chẳng ai thèm mua. Đến tết, ta vốn định giết thịt nó, nhưng lại sợ phạm phải cấm kỵ, nên đành tha cho nó, cứ thế nuôi tới tận hôm nay. Nếu bệ hạ muốn, các người hãy đi theo ta!”

Bốn tên lính cả mừng, lập tức theo ông già đi bắt dê đen.

Thấy ông già và đám lính đã đi xa, Bàng Quyên tự nhủ: “Xem ra, ta cũng nên gỡ bảng rồi!”

Bàng Quyên bước lên phía trước, đang định giật lấy tờ cáo thị còn lại, đột nhiên có một tên tay sai nhận ra Bàng Quyên, hét lớn: “Mau, hắn ở đây!”

Đám hung đồ nghe thấy tiếng hét, lập tức chạy đến, tản thành hình rẻ quạt, vây lấy Bàng Quyên.

Đám đông sợ hãi, lập tức chạy tán loạn.

Bàng Quyên giờ đã khác xưa, đâu có coi mấy tên ô hợp ra gì, đến nhìn cũng chẳng thèm nhìn, cứ thế đi thẳng tới trước bảng cáo thị. Tên cầm đầu rút kiếm lao tới, mắt thấy đã sắp đâm trúng Bàng Quyên, Bàng Quyên nhanh như chớp giật rút ngay bảo kiếm, vừa né mình sang bên, một luồng sáng trắng đã xẹt ngược trở lại, tên kia còn chưa kịp kêu, đã đầu một nơi thân một nẻo. Đám hung đồ thấy vậy, vừa quay người định tháo chạy, Bàng Quyên đã đuổi tới nơi, chỉ hai kiếm xé gió, đã thêm hai tên ngã lăn xuống đất.

Tất cả chỉ diễn ra trong nháy mắt, bốn tên lính đứng canh cáo thị nhìn mà trợn mắt há miệng, đang đứng chết trân thì Bàng Quyên đã chạy như bay tới trước tờ cáo thị, vươn tay giật xuống.

Lính canh đã kịp định thần, lập tức vây cả lại. Bàng Quyên ném đánh “cạch” thanh kiếm xuống đất. Bốn tên lính nhất tề xông lên bắt lấy Bàng Quyên, xúm xít giải vào vương cung. Gần đó, Thích Quang đứng như trời trồng, đâu còn hồn vía nào để đến gần, thấy họ đã đi xa, lúc này mới như choàng tỉnh mộng, co giò chạy trối chết về phủ.

Lính canh áp giải Bàng Quyên vào tới vương cung, ông già dắt dê cũng vừa đi tới. Đã có người báo tin từ trước, Ngụy Huệ Vương hay tin cả hai tờ cáo thị đều đã có người gỡ, vui mừng khôn xiết, lập tức truyền hai người vào điện. Quân lính dẫn hai người vào trong, Trần Chẩn nhận ra Bàng Quyên, trong lòng giật thót. Bàng Quyên quét mắt qua Trần Chẩn, lại liếc nhìn con sơn dương đen mà ông già dắt theo, rồi nhếch mép cười nhạt.

Hai người đi tới trước điện, bái lạy: “Thảo dân khấu kiến bệ hạ!”

Huệ Vương nhìn con sơn dương đen, sung sướng khôn xiết, liên tiếp gật gù: “Ha ha ha, quả nhiên là một con sơn dương đen! Người đâu, thưởng cho lão trượng trăm lượng vàng!”

Ông lão bái tạ: “Thảo dân đa tạ long ân của bệ hạ. Thảo dân một thân một mình sống nơi hoang dã, có trăm lượng vàng cũng chẳng để làm gì, xin bệ hạ hãy thu hồi mệnh lệnh.”

Ông già không chịu nhận trăm lượng vàng khiến Huệ Vương kinh ngạc: “Lão trượng bất tất phải khách khí, quả nhân đã treo thưởng, sao có thể nói mà không giữ lời?”

Ông già tiếp tục khấu lạy: “Bệ hạ nói được làm được, thảo dân trong lòng ghi nhận. Nếu bệ hạ nhất định muốn thưởng vàng, vậy thảo dân nguyện dành số vàng đó thưởng cho những dũng sĩ giết địch ở tiền phương!”

“Tốt lắm! Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương cảm động, hết lời khen ngợi. “Quả nhân thay mặt tướng sĩ ở tiền phương đa tạ lão trượng đã ban tặng! Ngự sử đại phu!”

Ngự sử bước lên trước: “Có vi thần!”

“Ghi lại nghĩa cử trung quân ái quốc của lão trượng vào sử sách, hiểu dụ cho thần dân cả nước!”

“Vi thần tuân chỉ!”

Ông già lại khấu lạy: “Bệ hạ, thảo dân xin cáo lui!”

Ngụy Huệ Vương đứng dậy, vòng tay nói với ông già: “Ngụy Anh cung tiễn lão trượng!”

Ngự sử ra hiệu, hai tên lính liền dẫn ông già và con dê đen từ từ lui ra.

Vừa có được dê đen, lại có được thần dân tốt, Ngụy Huệ Vương phấn khởi không để đâu cho hết, sắc mặt hớn hở quay sang Bàng Quyên: “Xin hỏi hiền sĩ tôn tính đại danh là gì, quê nhà ở đâu?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Bàng Quyên khấu đầu, “thảo dân họ Bàng tên Quyên, nhà ở An Ấp!”

“Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương càng hoan hỷ. “Bàng Tử vốn là con dân của quả nhân, đúng là trời đã giúp Đại Ngụy ta! Quân Tề xâm phạm biên cương, khí thế hung hãn, quả nhân treo bảng cầu hiền tài ngự địch. Bàng Tử dám gỡ cáo thị, chắc hẳn có kế hay để đẩy lui quân địch, quả nhân xin rửa tai lắng nghe!”

“Khởi bẩm bệ hạ, đừng nói là đẩy lui quân Tề, cho dù bệ hạ muốn san bằng thiên hạ, với Bàng Quyên cũng là chuyện bình thường!”

Nghe thấy lời lẽ bạo gan của Bàng Quyên, ngay cả Ngụy Huệ Vương cũng ngây người kinh ngạc: “Ồ?”

Trần Chẩn nôn nóng, vội bước ra tấu: “Bệ hạ, vi thần có tấu!”

“Ái khanh cứ nói!”

“Kẻ này là gian tế, bệ hạ tuyệt đối không được tin dùng!”

“Ồ?” Ngụy Huệ Vương hít vào một hơi dài, mắt nhìn chằm chằm vào Bàng Quyên, rồi lại quay sang Trần Chẩn.

“Vi thần đã điều tra rõ, chính kẻ này đã hiến kế cho Tề Vương, nên mới khiến Tề Vương trở mặt, làm nhục bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương thất kinh: “Có thực là vậy chăng?”

“Tuyệt đối chính xác, bệ hạ!” Trần Chẩn cướp được cơ hội nói, lập tức thao thao bất tuyệt. “Kẻ này vốn là một tên vô lại ở An Ấp, tính khí hung bạo, ba năm trước đã từng giết chết ngư phủ và tiều phu mà bệ hạ triệu kiến, cướp mất ba mươi lượng vàng mà bệ hạ ban thưởng, vô tình bị gia nhân của vi thần phát hiện, hắn đã giết luôn người của vi thần, sau đó bỏ trốn. Mấy tháng sau, kẻ này lại lẻn vào phủ của vi thần, tiếp tục mưu đồ đen tối, đã bị vi thần bắt được giải lên quan, không ngờ hắn ta trốn thoát khỏi hình ngục, không biết đã đi đâu. Vi thần phụng chiếu đi sứ Lâm Truy, trên đường trở về đã chính mắt nhìn thấy hắn đi sang nước Tề. Trong cuộc hội vương ở Từ Châu, Tề Vương trở mặt, vi thần đã thấy nghi ngờ, nên đã phái người đến Lâm Truy thăm dò, cuối cùng đã điều tra rõ chân tướng, chính kẻ này đã chặn xe kiệu của Tề Vương, được Tề Vương dẫn vào trong cung, bàn mưu nhiều ngày. Tề Vương đã phong hắn làm thượng khanh, nhưng hắn từ chối. Sau đó, Tề Vương lại thưởng cho hắn trăm lượng vàng, hắn cũng không nhận. Mấy ngày sau đó, kẻ này tiếp tục ở lại vương cung, ngày đêm gặp gỡ Tề Vương. Tề Vương quay mặt lật lọng, chắc chắn là do kẻ này xúi bẩy!”

Trần Chẩn nói liền một mạch, đừng nói là Ngụy Huệ Vương, ngay cả các triều thần như Chu Uy, Huệ Thi... cũng phải kinh ngạc sững sờ, tất cả cùng đưa mắt nhìn Bàng Quyên như nhìn một kỳ nhân.

“Cuồng đồ to gan!” Ngụy Huệ Vương đập bàn quát lớn. “Chẳng trách quả nhân phải chịu nhục ở Từ Châu! Người đâu, mau bắt lấy nghịch tặc!”

Đám thị vệ tiến lên bắt lấy Bàng Quyên, không nói một lời, lập tức trói nghiến lại.

Vì đã có lời đoán “gặp dê thì vinh” của Quỷ Cốc Tử, lại trải qua ba năm khổ luyện trong Quỷ Cốc, Bàng Quyên chẳng những không sợ hãi, mà còn ngửa cổ bật cười vài tiếng.

“Nghịch tặc,” Ngụy Huệ Vương kinh ngạc, “ngươi chết đến nơi rồi, còn cười được ư?”

“Bàng Quyên đang cười nước Ngụy!” Bàng Quyên lớn giọng đáp lại. “Trong triều chẳng có tôi giỏi, trong nước không có tướng tài, tiểu nhân ngang ngược, hiền thần chịu lép, bốn bề gặp địch, tồn vong chỉ trong gang tấc. Bàng Quyên đến đây muốn trợ giúp, nhưng lại rước phải hoạ sát thân. Một nước như vậy, há chẳng đáng cười?”

“Cuồng đồ to gan!” Trần Chẩn quát lớn. “Giết người vượt ngục đã là tội chết. Bán Ngụy cầu vinh, thông đồng với địch, là tội diệt môn. Làm rối triều đình, cười nhạo bệ hạ, đáng tội tru di cửu tộc!” Rồi quay sang Ngụy Huệ Vương, vòng tay nói. “Vi thần tấu xin bệ hạ, nhanh chóng giải kẻ này ra Ngọ Môn, xử tội lăng trì để răn đe kẻ khác!”

“Chuẩn tấu!” Ngụy Huệ Vương phẩy tay. “Đưa nghịch tặc Bàng Quyên ra Ngọ Môn, xử lăng trì!”

Bàng Quyên lại cười lớn, cao giọng nói: “Nước Ngụy trên dưới ngu muội, diệt vong chỉ là chuyện sớm chiều!”

Ngụy Huệ Vương càng thêm giận dữ, quát lớn: “Mau giải nghịch tặc đi!”

Đám thị vệ lập tức kéo tuột Bàng Quyên đi, khi sắp bị lôi ra khỏi cửa điện, phía sau bỗng có tiếng nói vang lên: “Khoan đã!”

Thị vệ liền dừng bước.

Huệ Thi bước ra, chậm rãi nói: “Bệ hạ, vi thần có tấu!”

Ngụy Huệ Vương hơi bình tâm lại: “Nói đi!”

“Bệ hạ treo bảng cầu hiền, Bàng Quyên gỡ bảng hưởng ứng, là hợp tình hợp lý. Nếu bệ hạ giết người này, chỉ e kẻ hiền sĩ trong thiên hạ biết được sẽ nguội lòng!”

“Ồ...” Ngụy Huệ Vương nhất thời không biết nói gì.

“Bệ hạ, dựa theo hình luật của Đại Ngụy, Bàng Quyên có tội hay không, phải do phủ tư đồ điều tra xong mới có thể định đoạt. Đừng nói là một sĩ tử gỡ cáo thị, cho dù là thường dân trăm họ, thì chuyện lớn sống chết, khốc hình lăng trì, cũng không thể căn cứ vào lời nói của một bên mà vội vàng quyết định.”

Lời Huệ Thi thấu tình đạt lý, điềm tĩnh thung dung, quần thần nghe thấy vậy, đều gật gù đồng ý.

“Bệ hạ!” Trần Chẩn càng nôn nóng. “Bàng Quyên thân mang nhiều tội, là kẻ đại ác không thể dung tha, theo luật nên chém. Nếu thả hắn, chẳng khác nào thả hổ về rừng!”

“Xin hỏi Trần thượng khanh,” Huệ Thi đột nhiên quay sang Trần Chẩn, không còn vẻ ôn tồn hoà nhã thường ngày, lời nói trở nên vô cùng nghiêm nghị, “nếu như Bàng Quyên bán Ngụy cầu vinh, vậy tại sao lại từ chối chức thượng khanh mà nước Tề ban tặng? Thượng khanh đi sứ nước Tề, được thưởng trăm lượng vàng còn vui vẻ nhận lấy, Bàng Quyên thân là sĩ tử tầm thường, nhưng lại coi trăm lượng vàng như cỏ rác, vậy phải giải thích thế nào đây? Quân Tề đánh đâu thắng đấy, quân Ngụy đánh đâu thua đấy, nếu Bàng Quyên thực lòng bán Ngụy cầu vinh, cớ sao không đến trợ giúp quân Tề, mà lại gỡ bảng xin đánh địch?”

Trần Chẩn mặt đỏ phừng phừng: “Ông...”

“Trần thượng khanh!” Huệ Thi nhấn mạnh từng chữ. “Đất nước có nạn, chúng ta thân là trọng thần triều đình, cần phải lo toan giúp cho bệ hạ, không thể đố kỵ hiền tài, hại nước hại dân!”

Huệ Thi lời lẽ sắc bén, từng chữ thốt ra khác nào từng nhát búa đập xuống, Trần Chẩn chỉ cảm thấy từng cơn ớn lạnh dội trong xương cốt, lập tức quỳ sụp xuống đất, khóc mà nói: “Bệ hạ, vi thần... vi thần, tấm lòng trung thành của vi thần, trời đất có thể chứng giám!”

Đến lúc này, Ngụy Huệ Vương dường như cũng đã nhận ra chỗ bất thường bên trong, bèn xua tay mà nói: “Trần Chẩn, ngươi lui ra đi!”

Trần Chẩn lại khấu lạy, khóc lóc: “Vi thần cáo lui!”

Thấy Trần Chẩn đã lui ra khỏi cửa điện, Ngụy Huệ Vương quay sang Bàng Quyên: “Cởi trói cho Bàng sĩ tử!”

Thị vệ lập tức cởi trói.

Bàng Quyên bước lên trước điện, dập đầu mà nói: “Bàng Quyên tạ ơn bệ hạ tha mạng!”

“Đã khiến Bàng Tử phải sợ hãi!” Ngụy Huệ Vương từ tốn nói. “Kẻ địch lớn ngay trước mặt, Bàng Tử có kế hay nào đẩy lui kẻ địch, có thể nói cho quả nhân biết chăng?”

Bàng Quyên đưa mắt nhìn khắp lượt triều đường: “Bệ hạ có thể cho mọi người lui ra không?”

“Chư vị ái khanh, bãi triều!”

Chúng thần lập tức lui ra.

Ngụy Huệ Vương quay sang Huệ Thi, Chu Uy: “Huệ ái khanh, Chu ái khanh dừng bước!” Nói đoạn, dẫn ba người đi vào ngự thư phòng gần hậu hoa viên.

Huệ Vương ngồi xuống, Bàng Quyên quỳ dưới đất, dập đầu nói: “Thảo dân Bàng Quyên khấu kiến bệ hạ!”

“Bàng Tử hãy bình thân!” Ngụy Huệ Vương khẽ xua tay. “Chỗ này không có người ngoài, Huệ tướng quốc, Chu ái khanh đều là cánh tay trái phải của quả nhân, Bàng Tử có gì xin cứ nói thẳng.”

“Đa tạ bệ hạ!”

Bàng Quyên đứng dậy, vòng tay vái Huệ Thi một vái: “Bàng Quyên đa tạ tướng quốc đại nhân!”

Huệ Thi cũng đáp lễ, hỏi: “Xin hỏi Bàng Tử, Bàng Tử và thượng khanh có hiềm khích gì chăng?”

“Hồi bẩm đại nhân,” Bàng Quyên đáp, “tiên phụ vốn là thợ may của Chu thất, ba năm trước Trần Chẩn mời tiên phụ vào may vương phục cho bệ hạ, tiên phụ cho rằng không hợp với lễ chế nên kiên quyết không nghe, Trần Chẩn đã bắt nhốt tiên phụ vào nhà lao. Bàng Quyên đi cứu tiên phụ, không ngờ đã bị trúng kế mai phục, phải liều mạng mới thoát ra được. Sau khi lang bạt bên ngoài mấy tháng, Bàng Quyên lại quay về, muốn cứu tiên phụ, Trần Chẩn lấy tính mạng tiên phụ ra trao đổi để bắt Bàng Quyên, sau đó lại không giữ lời, đã giết chết tiên phụ, nhốt Bàng Quyên vào đại lao. Bàng Quyên không chịu, nên đã vượt ngục bỏ trốn, lên núi bái sư học nghệ...”

Nghe Bàng Quyên nói vậy, Ngụy Huệ Vương kinh ngạc đến sững sờ, một lúc lâu sau mới định thần lại được: “Chẳng trách Trần Chẩn muốn đẩy Bàng Tử đến chỗ chết, thì ra là vậy!”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Chu Uy thấy thời cơ đã đến, vòng tay bẩm tấu, “vi thần đã điều tra rõ, vụ án diệt môn ở lầu Miên Hương, thực chất là do Trần Chẩn gây ra, sau đó lại đổ vấy cho Công Tôn Diễn, ép Công Tôn Diễn phải tháo chạy sang Tần.”

Ngụy Huệ Vương giận dữ tột độ, đấm mạnh tay xuống bàn, nghiến răng kèn kẹt mà nói: “Nghịch tặc Trần Chẩn! Quả nhân đối xử với hắn không tệ, nhưng hắn lại nhiều lần hãm hại quả nhân, tội không thể dung tha! Chu ái khanh, lập tức bắt cả nhà Trần Chẩn nhốt vào tử lao, tịch thu toàn bộ gia sản!”

Chu Uy tiếp nhận ý chỉ, lập tức đi sắp đặt việc bắt Trần Chẩn.

Ngụy Huệ Vương quay sang Bàng Quyên, vòng tay vái một vái: “Quả nhân bị kẻ gian bưng mắt, suýt chút nữa đã giết hại trung lương, mong Bàng Tử bớt giận.”

Bàng Quyên khóc mà nói: “Bệ hạ điều tra ra gian tặc, đã báo mối thù giết cha cho Bàng Quyên, cũng giống như cha mẹ tái sinh của Bàng Quyên. Bắt đầu từ hôm nay, cái mạng của Bàng Quyên sẽ thuộc về bệ hạ. Chỉ cần bệ hạ lên tiếng, Bàng Quyên cho dù phải nhảy vào dầu sôi lửa bỏng cũng không dám từ nan!”

Ngụy Huệ Vương đứng dậy, đưa tay đỡ Bàng Quyên: “Bàng Tử có lòng trung thành, đúng là điều may mắn của quả nhân! Nước Ngụy hôm nay nguy trong sớm tối, Bàng Tử có cách gì đối phó hay chăng?”

“Nguy trong sớm tối?” Bàng Quyên nhắc lại, rồi ngây ra một lát, làm ra vẻ kinh ngạc. “Sao bệ hạ lại nói vậy?”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài một tiếng, khẽ lắc đầu. “Bàng Tử cũng đã thấy cả rồi, nước Tề đánh đến từ phía đông, Tần đến từ phía tây, Triệu đến từ phía bắc, Hàn đến từ phía nam, nước Ngụy bốn bề ngự địch, quả nhân vừa không có quân lính thiện chiến, lại càng không có tướng tài cầm quân, há chẳng phải nguy trong sớm tối?”

“Bệ hạ quá lo lắng rồi!” Bàng Quyên vòng tay nói. “Theo thế cục hiện nay, nước Ngụy không những không nguy trong sớm tối, ngược lại còn đang gặp được thời cơ tốt, là chuyện đáng mừng!”

Thấy Bàng Quyên nói vậy, ngay cả Huệ Thi cũng kinh ngạc, hai mắt chằm chằm nhìn vào Bàng Quyên.

Ngụy Huệ Vương càng nghe càng mơ hồ, hỏi dồn: “Gì kia? Quả nhân gặp thời cơ tốt, là chuyện đáng mừng?”

“Chính phải!” Bàng Quyên khẽ gật đầu. “Ngày trước trong thời Văn Hầu, tây có Tần lớn mạnh, nam có Sở hung bạo, bắc có Triệu hung hãn, đông có Tề dũng mãnh, bốn bề nhòm ngó, tình thế chẳng khác gì ngày nay. Vậy mà Văn Hầu hô một tiếng, Nhạc Dương vung thương mà thiên hạ hoảng kinh, Ngô Khởi giương kích mà chư hầu khiếp sợ. Đại Ngụy trải qua ba đời, mở rộng đất đai, đông chinh tây chiến, gây dựng được bá nghiệp mấy chục năm, thiên hạ có kẻ nào dám không phục tùng.”

Nghe Bàng Quyên nhắc lại sự nghiệp hiển hách của tiên quân, Ngụy Huệ Vương trong lòng cảm động, lại nghĩ tới tình cảnh hiện tại của mình, bất giác âm thầm đau xót, lắc đầu mà nói: “Than ôi, đều là những chuyện trong quá khứ. Hiện giờ cường địch xâm phạm, quả nhân...” Rồi liên tiếp lắc đầu, không nói thêm được lời nào nữa.

Bàng Quyên nói lớn: “Bệ hạ, trong mắt thảo dân, không hề có cường địch!”

Ngụy Huệ Vương ngẩng nhìn Bàng Quyên, bất giác buột miệng “Ồ” lên một tiếng, rồi đưa mắt nhìn Huệ Thi đang ngồi bên trái, không giấu nổi vẻ nghi hoặc. Huệ Thi hai mắt khép hờ, dường như không nhận ra sự nghi hoặc của Huệ Vương, cũng không nghe thấy những lời Bàng Quyên vừa nói.

Bàng Quyên bưng chén trà đặt ở trên bàn trước mặt lên, chậm rãi nhấp lấy một ngụm, rồi ngẩng nhìn Huệ Vương, nói dõng dạc: “Trong mắt của thảo dân, thứ cường địch mà bệ hạ vừa nói, chẳng quả chỉ là một đám bị thịt vô dụng, không đỡ nổi một đòn!”

Ngụy Huệ Vương thấy Bàng Quyên nói năng càng lúc càng bạo miệng, trong lòng càng cảm thấy ngờ vực, lại “Ồ” lên một tiếng nữa, hơi ngả người về phía sau, hai mắt cũng khép lại giống như Huệ Thi.

Bàng Quyên không vội nói tiếp, lại bưng chén trà lên, nhấp thêm ngụm nữa, uống xong, từ từ đặt chén xuống: “Xin bệ hạ hãy bình tâm tĩnh trí, nghe thảo dân nói vài lời!”

Ngụy Huệ Vương chẳng buồn động đậy mí mắt: “Nói!”

“Thảo dân cho rằng,” Bàng Quyên nói rành mạch, “hiện giờ bốn nước láng giềng xâm phạm ta, nhưng không có phía nào đáng sợ. Triệu, Hàn và Ngụy cùng là Tam Tấn, chắc chắn họ hiểu rõ đạo lý môi hở thì răng lạnh. Lần này xuất binh, chẳng qua là muốn ép bệ hạ từ bỏ vương hiệu, tuyệt đối không có ý diệt Ngụy. Người Tần chỉ muốn thông đường tiến về phía đông, nên có được Hàm Cốc, Âm Tấn đã mãn nguyện rồi, sẽ không tiếp tục đánh nữa. Chỉ có Tề Công không biết thời thế, khinh Ngụy không có người tài, coi ta như cá nằm trên thớt, muốn ăn tươi nuốt sống. Bệ hạ chỉ cần đánh đuổi được Điền Kỵ, ba nước khác ắt sẽ không chiến mà tự lui.”

“Lời của Bàng Tử rất đúng, nhưng...” Ngụy Huệ Vương ngước mắt nhìn Bàng Quyên, “làm thế nào mới đánh thắng được Điền Kỵ, đây chính là mối lo của quả nhân.”

“Thảo dân bạo gan hỏi bệ hạ, muốn bắt sống Điền Kỵ hay muốn lấy đầu hắn?”

Ngụy Huệ Vương hai mắt trợn tròn, kinh hãi nhìn Bàng Quyên: “Bàng Tử...”

“Bệ hạ!” Bàng Quyên thần thái trịnh trọng. “Thảo dân đang đợi ý chỉ của bệ hạ?”

“À... đương nhiên là bắt sống!”

“Nếu bệ hạ tín nhiệm thảo dân, thảo dân hẹn trong vòng một tháng sẽ trói hắn dẫn tới trước điện, để bệ hạ tuỳ nghi xử tội!”

Ngụy Huệ Vương há hốc miệng, trợn mắt nhìn Bàng Quyên, rồi lại quay sang nhìn Huệ Thi.

Huệ Thi mở mắt, nhìn Bàng Quyên: “Xin hỏi Bàng Tử theo học thầy nào?”

“Khởi bẩm tướng quốc,” Bàng Quyên nói lớn, “sau khi vượt ngục, Bàng Quyên đã đến núi Vân Mộng học binh pháp, được Quỷ Cốc tiên sinh đích thân truyền thụ.”

Huệ Thi thất kinh: “Phải chăng là Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng?”

“Chính là ân sư!”

“Bệ hạ!” Huệ Thi quay sang Huệ Vương. “Theo vi thần được biết, Quỷ Cốc Tử trong núi Vân Mộng là kỳ nhân số một trong thiên hạ, văn thao võ lược rất mực tinh thông, Bàng Quyên có thể bái Quỷ Cốc Tử làm sư, ắt có thành tựu. Những lời vừa tấu, hẳn không phải nói bừa!”

Ngụy Huệ Vương cười lớn, nói: “Điền Nhân Tề nhường cho chức thượng khanh mà không có được Bàng Tử. Quả nhân có được, đúng là may mắn lớn của Đại Ngụy ta. Xin hỏi Bàng Tử, nếu phá quân Tề, cần bao nhiêu binh mã?”

“Ba vạn là đủ!”

“A...” Ngụy Huệ Vương kinh ngạc. “Tề có bảy vạn đại quân, Điền Kỵ lại là danh tướng liệt quốc, Bàng Tử...”

“Việc quân không thể nói đùa!”

“Được! Đại Lương hiện có ba vạn tinh binh giữ thành, quả nhân sẽ giao toàn bộ cho Bàng Tử!”

Bàng Quyên đứng dậy, lạy ba lạy rồi chậm rãi nói: “Thảo dân đa tạ bệ hạ ban ơn, có điều...”

“Bàng Tử có yêu cầu gì, hãy cứ nói ra!”

“Quân giữ thành ở Đại Lương còn phải bảo vệ sự an toàn cho bệ hạ, thảo dân không dám lấy dùng.”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài. “Không giấu Bàng Tử, ngoài số binh này ra, quả nhân đã chẳng còn binh lính để điều động nữa rồi.”

“Chẳng phải ở chỗ Long tướng quân còn có mấy vạn hùng binh hay sao?”

Ngụy Huệ Vương lắc đầu: “Ở chỗ Long tướng quân chỉ có chưa đầy bốn vạn nhân mã, lại bại trận liên miên, sĩ khí suy sụp, không thể đánh trận lớn được nữa!”

Bàng Quyên mỉm cười, vòng tay nói: “Thảo dân khẩn cầu bệ hạ, hãy tạm điều ba vạn binh mã từ chỗ Long tướng quân cho thảo dân!”

“Ý Bàng Tử là...” Ngụy Huệ Vương kinh ngạc, “dùng lại số bại binh của Long tướng quân?”

“Trong mắt của thảo dân, không có bại binh!”

“Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương suy nghĩ một lúc, quay sang nói với tỳ nhân. “Truyền chỉ, phong Bàng Tử làm tiên phong ngự địch trước trướng của Long tướng quân, giao cho thống lĩnh ba vạn binh. Sau khi phá địch, sẽ phong thưởng tiếp!”

Trần Chẩn hộc tốc trở về đến phủ, Thích Quang lập tức chạy ra đón, đang định bẩm báo lại sự việc Bàng Quyên, đã nghe thấy Trần Chẩn vội vã sai bảo: “Mau, mang mấy hòm vàng tới đây!”

Thích Quang thấy chủ nhân thần sắc kinh hoàng, biết đã xảy ra chuyện lớn, nên không dám nhiều lời, lập tức đi vào kho vàng, phái người khiêng mấy hòm vàng bạc châu báu ra, chất lên hai cỗ xe ngựa, đặt sẵn ghế kê chân, rồi khẽ hỏi: “Chúa công định đi đâu?”

Trần Chẩn nhảy lên xe: “Trước tiên hãy tới nước Hàn. Mau đi thôi!”

Thích Quang ngẫm nghĩ một thoáng, rồi nhảy lên cỗ xe chở vàng, quay sang nói với Đinh Tam hộ tống bên cạnh: “Chúa công đi sứ nước Hàn, ta cũng đi theo. Mọi việc trong nhà, giao lại cho ngươi!”

Đinh Tam đáp: “Thích gia yên tâm!”

Thích Quang giật mạnh dây cương, vung roi hô lớn, xe ngựa lao thẳng ra cổng thành phía nam.

Hai người đi chưa được nửa canh giờ, Bạch Hổ đã dẫn quân binh rầm rập xông tới, vây kín quanh phủ thượng khanh, phá cổng xông vào. Đinh Tam vội dẫn gia đinh chạy ra, nhìn thấy cảnh này, hốt hoảng kêu lên: “Bạch thiếu gia!”

Bạch Hổ quát lớn: “Bắt lại!”

Quân lính không nói nửa lời, ùa cả lại bắt lấy Đinh Tam và đám gia đinh. Đinh Tam vừa giãy giụa, vừa hét lớn: “Phản rồi! Phản rồi! Các ngươi hãy mở to mắt ra xem, đây là phủ thượng khanh, các ngươi muốn mất mạng ư?”

Bạch Hổ cười nhạt một tiếng: “Ta đến chính là để bắt thượng khanh! Trói lại, không được để sót tên nào!”

Quân lính đồng thanh dạ ran, sau đó tản ra bốn phía bắt người. Một lát sau, toàn bộ già trẻ lớn bé trong phủ thượng khanh đã bị bắt trói giải ra.

Một quân uý bẩm báo: “Báo, tất cả nhân đinh trong phủ đều đã ở đây, song không thấy Trần Chẩn, Thích Quang đâu cả!”

Bạch Hổ đi tới trước mặt Đinh Tam: “Trần Chẩn đâu?”

Đinh Tam cứng đầu cứng cổ, thà chết không nói. Bạch Hổ liếc xéo hắn một cái, rồi quay sang một tên gia đinh. Gia đinh hai chân run lẩy bẩy, lắp bắp nói: “Nửa canh giờ trước... đã... đã đi rồi!”

Bạch Hổ gằn giọng hỏi: “Đi đâu?”

“Nói là... đi sứ nước Hàn.”

Bạch Hổ quay sang quân uý: “Mau, không được để hắn chạy thoát!”

“Hạ quan tuân lệnh!” Quân uý nói xong, lập tức dẫn theo mười mấy kỵ binh lao ra cổng thành nam.

Bạch Hổ quát đám lính vẫn còn đứng nguyên tại chỗ: “Còn đứng đấy? Tịch biên gia sản!”

Quân lính lập tức dạ ran, tản ra bốn phía.

Trần Chẩn, Thích Quang phóng xe ra khỏi cổng thành phía nam, đi được mấy dặm thì gặp một ngã tư, Trần Chẩn hai mắt khẽ đảo: “Ta sực nhớ ra một chuyện, giờ phải đi Hàm Đan ngay. Ngươi mang theo số vàng bạc châu báu này sang đất Hàn rồi đến Lạc Dương, tìm lấy một quán trọ ở đó nghỉ chân. Ta làm xong việc, sẽ đến Lạc Dương tìm ngươi.”

Thích Quang vâng lời.

Trần Chẩn nhảy lên cỗ xe phía sau, rẽ về phía đông.

Trần Chẩn đánh xe bỏ đi chưa đầy nửa canh giờ, phía sau đã nghe có tiếng vó ngựa dồn dập theo sau. Thích Quang ngoảnh đầu lại nhìn, chỉ thấy bụi bay mù mịt, mười mấy kỵ binh đang thúc ngựa đuổi tới. Thích Quang mặt biến sắc, đánh xe chạy như bay. Chạy được mấy dặm, viên quân uý của phủ tư đồ đã dẫn người đuổi kịp, bao vây lấy Thích Quang, bắt lại rồi áp giải về Đại Lương.

Bạch Hổ trở về bẩm báo với Chu Uy. Phủ tư đồ liền phát quan văn, truy nã Trần Chẩn khắp nơi.

Sông Tế Thuỷ tựa như chiếc đai bạc khổng lồ, uốn thành một vòng cung ở phía bắc Hoàng Trì, rồi chảy về phía đông nam. Hai bờ Tế Thuỷ, quân Ngụy rải quân dọc bờ nam, quân Tề hạ trại dọc bờ bắc, cả hai bên đều dàn quân thành hình chữ nhất.

Phía trước trận quân Tề, tiên phong Triệu Xung dẫn theo mấy ngàn quân đánh trống khiêu chiến. Phía trước doanh trại quân Ngụy, một lá cờ lớn viết chữ “Long đại tướng quân” bay lộng trong gió. Dưới lá cờ, một thẻ bài miễn chiến màu xanh đen được treo lên cao, phó tướng quân Ngụy Trương Mãnh hai mắt lãnh đạm, cây trường thương trong tay bắt sáng loang loáng dưới ánh mặt trời. Một hàng tướng sĩ vũ trang đủ bộ, tay cầm cung tên, toàn thần chuyên chú quan sát quân Tề ở bờ sông đối diện.

Vào lúc chập tối, Trương Mãnh nhìn thấy quân Tề thu binh, đang định quay về doanh trại thì thấy một toán kỵ binh phi nước đại tới, dừng ngựa ngay trước cổng doanh trại. Trương Mãnh nhận ra một người trong đó là tỳ nhân, vội gọi mở cửa. Một lát sau, tỳ nhân dẫn theo Bàng Quyên tiến vào cổng doanh trại, đi thẳng tới trướng trung quân.

Trong trướng trung quân, Long Giả thân mang trọng thương đang nằm trên giường, mấy thầy lang đứng hầu bên cạnh, thận trọng rửa ráy vết thương cho ông. Long Giả sắc mặt vàng ệch, trán vã mồ hôi, dường như đang phải chịu đựng nỗi đau đớn kịch liệt về xác thịt.

Trương Mãnh đi vào, đến trước mặt Long Giả, nói khẽ: “Long tướng quân, bệ hạ phái nội tể đến thăm tướng quân!”

Chưa dứt lời, tỳ nhân đã đi vào trướng.

Long Giả gắng gượng muốn ngồi dậy, tỳ nhân vội bước lại gần, giữ lấy ông: “Long tướng quân, mau nằm xuống!”

Long Giả nằm xuống, thở hổn hển mà nói: “Long Giả đã phụ... sự uỷ thác của bệ hạ, thật... hổ thẹn!”

Tỳ nhân an ủi: “Long tướng quân, bệ hạ đã đặc phái hạ quan đến hỏi thăm tướng quân đây!”

Long Giả nước mắt ròng ròng: “Than ôi, già rồi, Long Giả già rồi. Long Giả có lỗi với bệ hạ!”

“Long tướng quân hãy chú ý dưỡng thương!” Tỳ nhân nói đoạn, rút từ trong tay áo ra chiếu thư và hổ phù điều binh. “Bệ hạ đã phái một tiên phong đến tương trợ. Đây là chiếu thư và hổ phù, bệ hạ muốn tướng quân tạm thời điều động ba vạn binh mã dưới cờ cho tiên phong Bàng Quyên, để Bàng tướng quân tiên phong phá Tề.”

Long Giả sững người, rồi nuốt lệ nói: “Mạt tướng lĩnh chỉ! Vậy Bàng tiên phong đâu?”

“Đang ở ngoài trướng!”

Long Giả hổn hển mấy hơi, rồi nói với Trương Mãnh: “Mời... mời tiên phong tướng quân vào... vào trướng.”

Trương Mãnh quay ra ngoài trướng, nói lớn: “Đại tướng quân mời tiên phong vào trướng!”

Bàng Quyên thân mặc nhung phục, đi vào trong trướng, dập đầu trước giường: “Mạt tướng Bàng Quyên khấu kiến đại tướng quân!”

Long Giả thở dốc mấy hơi rồi nói: “Bàng... Bàng tướng quân, miễn... miễn lễ!”

Bàng Quyên vẫn quỳ dưới đất: “Mạt tướng đa tạ đại tướng quân hậu ái!”

Long Giả quay sang Trương Mãnh: “Trương tướng quân, hãy nói qua về tình thế hai quân!”

Trương Mãnh vâng lời, quay sang Bàng Quyên nói: “Bàng tướng quân, Điền Kỵ có bảy vạn đại quân, hạ trại dọc theo bờ bắc sông Tế Thuỷ. Quân ta đã bại liên nhiều trận, sĩ khí tổn thương nặng nề. Hiện giờ, mặc dù là mùa lũ, nhưng lòng sông rất rộng, dòng nước chảy chậm, sâu không quá ngực, quân Tề có thể lội qua sông. Tình thế trước mắt...”

Bàng Quyên ngắt lời: “Trương tướng quân bất tất phải nói nhiều, tình thế trước mắt, tại hạ đã biết cả rồi!”

Trương Mãnh sững người, quay sang nhìn Long Giả.

Long Giả khẽ chau mày, thở hổn hển mà nói: “Trương tướng quân, điểm ba vạn binh giao cho Bàng tướng quân!”

Trương Mãnh do dự một lát: “Bẩm tướng quân, trừ đi số quân bị thương, quân sĩ có thể chiến đấu còn lại chưa đầy ba vạn!”

Long Giả khẽ thở dài, hai mắt khép lại: “Nếu đã như vậy, hãy giao toàn bộ cho Bàng tướng quân!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Bàng Quyên lại bái lạy Long Giả: “Mạt tướng đa tạ Long tướng quân đã tin tưởng! Long tướng quân hãy yên tâm dưỡng thương, Bàng Quyên thề trong vòng vài ngày sẽ bắt trói Điền Kỵ về cho đại tướng quân xử lý!”

Nghe Bàng Quyên nói vậy, Long Giả hai mắt mở choàng, chăm chú nhìn Bàng Quyên một hồi, rồi chậm rãi nói: “Bàng tướng quân, lão hủ mệt rồi!”

“Long tướng quân hãy tĩnh tâm dưỡng thương! Bàng Quyên cáo lui!” Bàng Quyên lạy xong, liền từ từ lui ra.

Nhìn theo Bàng Quyên, Long Giả khẽ lắc đầu: “Than ôi, nếu là Công Tôn Diễn nói ra những lời này, lão hủ còn tin!”

Ngoài trướng tiên phong, trong tiếng quân nhạc, hai tên lính từ từ giương lá cờ lớn màu xanh đen có chữ “Bàng tiên phong” lên cao.

Thấy cờ đã giương lên, Bàng Quyên quay sang nói với tham quân đang bên cạnh: “Lập một đàn tế dưới lá cờ.”

Tham quân vâng lệnh, chỉ huy quân lính dựng một đàn tế đơn giản bên dưới lá cờ, Bàng Quyên sai người dắt con sơn dương đen đến, buộc nó dưới đàn tế.

Thấy con sơn dương đã được buộc chắc chắn, Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, rồi đi tới doanh trại của phó tướng tam quân Trương Mãnh, quỳ một gối xuống, nói lớn: “Bẩm báo tướng quân, mạt tướng đã chuẩn bị sẵn sàng, có thể điểm tướng được rồi!”

Trương Mãnh gật đầu, truyền lệnh cho các tướng đến trước trướng của tiên phong điểm danh. Một lát sau, tướng lĩnh ba quân lũ lượt kéo tới trước trướng tiên phong, người nào người nấy mặt đầy nghi hoặc, đi vào trong trướng.

Phó tướng Trương Mãnh ngồi ở vị trí chủ, Bàng Quyên ngồi bên cạnh. Sau một hồi trống, Trương Mãnh cầm lấy bản danh sách điểm tướng, điểm danh xong, bèn lớn giọng nói: “Chư vị tướng quân, truyền lệnh của đại tướng quân!”

Chư tướng đồng loạt đứng dậy, quỳ một gối xuống.

Trương Mãnh nói lớn: “Đại tướng quân có lệnh, bắt đầu từ hôm nay, tướng sĩ ba quân đều phải nghe theo lệnh điều động của tiên phong Bàng Quyên. Ai trái lệnh, chém!”

Chư tướng đều giật mình kinh ngạc, đưa mắt nhìn sang Bàng Quyên.

Bàng Quyên đứng lên, liên tiếp vòng tay vái chư tướng: “Tiên phong Bàng Quyên xin chào chư vị tướng quân!”

Các tướng quay mặt nhìn nhau, rồi lại cùng quay sang nhìn Trương Mãnh, chẳng ai để ý tới Bàng Quyên. Bàng Quyên đang lúc lúng túng, thì Trương Mãnh chậm rãi rời khỏi ghế chủ, đi tới trước mặt chư tướng, đứng ở đầu hàng, quỳ một gối xuống: “Mạt tướng Trương Mãnh khấu kiến tiên phong tướng quân, mời tướng quân phát lệnh!”

Chư tướng thấy vậy, đành phải đồng thanh hô: “Mạt tướng khấu kiến tiên phong tướng quân, mời tướng quân phát lệnh!”

Bàng Quyên bước tới, đỡ Trương Mãnh lên, rồi lại lần lượt đỡ các tướng dậy, vòng tay vái một vái trước các tướng, nói lớn: “Bàng Quyên đa tạ các vị tướng quân coi trọng!”

Các tướng đồng thanh hô: “Mời tiên phong tướng quân phát lệnh!”

Bàng Quyên nói lớn: “Tiên phong Bàng Quyên muốn hỏi các vị tướng quân một câu!”

Các tướng lại cùng nói: “Xin tướng quân cứ hỏi!”

Bàng Quyên sắc mặt nghiêm nghị: “Chư vị tướng quân, có muốn đánh thắng trận không?”

Mấy năm nay, quân Ngụy hầu như đánh trận nào thua trận đấy, chư tướng ba quân đều âm ỉ lửa hận trong lòng, có ai không muốn thắng trận? Nhưng thắng hay bại, không phải cứ muốn là được. Bởi vậy, đối với chư tướng, câu hỏi của Bàng Quyên thật nực cười, vì vậy chẳng ai chịu lên tiếng.

Thấy không có ai lên tiếng, Bàng Quyên lại hỏi: “Lẽ nào chư vị tướng quân không muốn thắng trận?”

Lại là một bầu câm lặng.

Đang lúc khó xử, một vị tướng trẻ tuổi đứng ở giữa cất giọng lạnh nhạt: “Hồi bẩm tiên phong tướng quân, ở đây chẳng có ai muốn bại trận!”

“Tốt!” Bàng Quyên nhìn người đó, nói lớn. “Đã không có ai muốn bại trận, vậy thì bắt đầu từ hôm nay, Bàng Quyên nhất định sẽ cùng các vị chỉ luôn đánh thắng trận!”

Lời này quả thật là khoác lác tận trời, chư tướng lại tiếp tục ngậm tăm im lặng. Một lúc sau, chủ tướng hữu quân cười khẩy mà nói: “Tiên phong tướng quân, nếu như chỉ luôn đánh thắng trận, e rằng mọi người có nằm mơ chắc cũng phải bật cười tỉnh giấc.”

Nghe thấy lời này, các tướng bắt đầu ghé tai xì xầm, lời lẽ, sắc mặt đều lộ vẻ dè bỉu.

Bàng Quyên liếc xéo người này, rồi chậm rãi nói: “Bàng Quyên xin bảo đảm với trời xanh, các vị nhất định sẽ bật cười tỉnh dậy từ trong mơ.”

Chủ tướng hữu quân tiếp tục chế giễu: “Mạt tướng xin hỏi, tiên phong tướng quân lấy gì để bảo đảm?”

Bàng Quyên đưa tay lên, chỉ vào đầu mình: “Cái này!”

Các tướng thấy Bàng Quyên lấy đầu ra bảo đảm, chẳng ai dám nói nữa.

Bàng Quyên suy nghĩ một lát, rồi chậm rãi nói: “Chư vị tướng quân, có lẽ các vị cũng đã nghe thấy, không lâu trước đây, bệ hạ đã dán cáo thị ở Đại Lương để chiêu mộ người phá địch. Tại hạ bất tài, đã to gan gỡ cáo thị, lại may mắn được bệ hạ ân sủng, bổ nhiệm làm tiên phong, nhận lệnh phá địch.” Rồi chỉ tay lên đầu mình. “Chư vị tướng quân, ngay từ khi tại hạ gỡ cáo thị xuống, là đã mang cái này ra để bảo đảm!”

Chuyện cáo thị sớm đã được người ta bàn tán ồn ào, chư tướng đều biết rõ. Gỡ cáo thị mà không thể phá địch, cho dù không chết trận, thì kết cục cũng chỉ có một, điều này chư tướng cũng đều hiểu.

Các tướng vẫn không ai nói lời nào, Bàng Quyên khẽ đặng hắng một tiếng, rồi lại nói tiếp: “Chư vị tướng quân hẳn đều muốn biết, tại hạ vốn chỉ là một thảo dân, có tài đức gì mà dám liều mạng gỡ cáo thị?”

Đây quả nhiên chính là điều mà các tướng nóng lòng muốn biết, vì vậy tất cả đều mở to mắt nhìn Bàng Quyên.

Bàng Quyên nhìn khắp lượt mọi người: “Không giấu các vị, một tháng trước, tại hạ đi qua cửa Túc Tư, cảm thấy mệt nên đã nằm nghỉ dưới một gốc cây. Vừa nằm xuống, trong lúc mơ mơ màng màng, tại hạ bất chợt nhìn thấy một người từ trên trời bay xuống, đang lúc kinh ngạc, thì người đó đã bay tới trước mặt tại hạ, ngồi ngay ngắn dưới đất, chậm rãi nói: ‘Bàng Quyên, nghe nói ngươi luôn kính phục bản tướng, hôm nay gặp mặt, còn không bái lạy?’ Tại hạ mở to mắt nhìn, hoá ra người đó không phải ai khác, chính là Ngô Khởi tướng quân, người khiến tại hạ ngưỡng mộ nhất trên đời, lập tức sụp xuống khấu bái, Ngô Khởi tướng quân lại nói: ‘Bàng Quyên, nước Ngụy có nạn, mấy ngày nữa Huệ Vương sẽ ra cáo thị chiêu mộ hiền tài phá địch. Bản tướng nhận lệnh của trời, đến bảo ngươi đi gỡ cáo thị, phò tá Ngụy Vương bệ hạ, chấn hưng uy phong Đại Ngụy.’ Tại hạ khấu đầu nói: ‘Ngô Khởi tướng quân, vãn bối vô tài vô đức, sao dám gỡ cáo thị?’ Ngô Khởi tướng quân bèn nói: ‘Bàng Quyên chớ lo, bản tướng tặng cho ngươi một cuốn sách, đảm bảo ngươi đánh đâu thắng đấy!’ Ngô Khởi tướng quân nói xong, liền lấy từ trong tay áo ra một cuốn sách, quăng trên mặt đất. Tại hạ nhặt lấy, vừa nhìn, đã nhận ra là sách quý, hết sức vui mừng, lại dập đầu liên tiếp. Tại hạ khấu đầu xong, ngẩng lên thì đã thấy Ngô Khởi tướng quân bay đi xa rồi. Tại hạ còn có rất nhiều điều muốn hỏi tướng quân, thấy tướng quân bay đi, trong lòng cuống quýt, liền hét lớn lên, không ngờ vừa hét đã tỉnh dậy. Tại hạ ngỡ mình đang nằm mơ, nhưng cúi xuống nhìn thì quả thật trong lòng có một cuốn thẻ tre. Các vị tướng quân hãy xem!”

Bàng Quyên lấy ra một cuốn thẻ tre từ trong tay áo, đặt lên mặt bàn.

Các tướng nghe thấy có thần xuất hiện, lại thấy Bàng Quyên lấy ra một cuốn sách, thảy đều mở to mắt nhìn. Bàng Quyên từ từ mở cuộn thẻ tre ra, trên đầu có viết bốn chữ lớn: “Binh pháp Ngô Tử”.

Bàng Quyên trải toàn bộ cuốn sách ra, rồi chậm rãi cuộn lại: “Chư vị tướng quân, Ngô Khởi tướng quân những năm cuối đời quả thực có viết một cuốn binh thư, giấu kín không cho ai biết. Trước lúc lâm chung, tướng quân lo lắng sách này sẽ rơi vào tay kẻ xấu, nên đành cắn răng đốt bỏ, vì vậy người đời không biết. Nay nước Ngụy có nạn, Ngô Khởi tướng quân đã ban sách này cho Bàng Quyên, là muốn tại hạ phò tá bệ hạ, trùng hưng bá nghiệp.”

Cửa Túc Tư có cây Ngô Khởi, người Ngụy không ai không biết. Bàng Quyên kể chuyện sinh động như thật, lại có được cuốn sách làm chứng, nên các tướng đều tin là thực.

Vị tướng quân trẻ tuổi lúc nãy cất lời than thở thực lòng: “Than ôi, Bàng tướng quân, suốt mấy năm nay chúng tôi đánh đâu thua đấy, thực là uất hận! Nếu tướng quân có thể chỉ huy mạt tướng đánh thắng một trận, mạt tướng cho dù tan xương nát thịt, chết cũng không tiếc!”

Các tướng đồng thanh phụ hoạ.

“Chư vị tướng quân!” Bàng Quyên vòng tay nói. “Sau khi trở về doanh trại, các vị hãy nói lại với mỗi vị dũng sĩ rằng, bắt đầu từ hôm nay, thiết quân của Đại Ngụy sẽ đánh đâu thắng đấy, vì có linh hồn của Ngô Khởi tướng quân trên trời phù hộ chúng ta!”

Các tướng đồng thanh: “Mạt tướng thề chết đi theo tướng quân, chấn hưng uy danh Đại Ngụy!”

Bàng Quyên giơ tay thề: “Bàng Quyên nguyện cùng sống chết với chư tướng, có phúc cùng hưởng, có nạn cùng chia!”

Chư tướng cũng đồng thanh thề: “Chúng tôi nguyện đi theo tướng quân, nguyện cùng sống chết, có phúc cùng hưởng, có nạn cùng chia!”

Bàng Quyên nhìn khắp lượt chư tướng, giọng đầy uy nghiêm: “Chư vị tướng quân, tại hạ đã thảo một bức chiến thư, ba ngày sau sẽ cùng đấu trận với Điền Kỵ ở bãi sông!”

Nghe thấy Bàng Quyên nói muốn đấu trận, các tướng đưa mắt nhìn nhau.

Chủ tướng tả quân do dự một lát, rồi bước lên trước nói: “Khởi bẩm tiên phong tướng quân! Điền Kỵ tinh thông trận pháp, lần trước đại tướng quân đấu mấy trận với ông ta, nhưng chưa từng thắng được trận nào. Trận mà Long đại tướng quân bày ra cũng bị Điền Kỵ phá tan. Bàng tướng quân lại muốn đấu trận với ông ta, liệu có được chăng?”

“Chư vị yên tâm!” Bàng Quyên vung tay. “Ngô Khởi tướng quân đã đích thân truyền dạy cho tại hạ kỳ trận để bắt Điền Kỵ! Các tướng nghe lệnh!”

Nghe thấy Ngô Khởi tướng quân đích thân truyền dạy, các tướng đều ít nhiều hưng phấn, bước lên một bước: “Mạt tướng nghe lệnh!”

Bàng Quyên thần thái uy nghiêm, nói lớn: “Ra ngoài trướng tế cờ!”

“Cái gì, ngươi nói Bàng tướng quân gửi chiến thư cho Điền Kỵ, chủ động khiêu chiến?” Long Giả hốt hoảng, gắng gượng muốn ngồi dậy, Trương Mãnh vội đưa tay đỡ.

“Long tướng quân,” Trương Mãnh dìu Long Giả nằm xuống, “tướng quân không nên cử động!”

Long Giả thở dốc mấy hơi, hai mắt nhìn chằm chằm vào Trương Mãnh.

Trương Mãnh do dự một lát, nói tiếp: “Bàng tướng quân không những gửi chiến thư cho Điền Kỵ, mà còn hẹn ba ngày sau sẽ đấu trận trên bãi sông.”

Nghe thấy hai chữ “đấu trận”, Long Giả thở dài, nhắm mắt lại, nghẹn ngào: “Than ôi, lại một công tử Ngang nữa!”

Trương Mãnh cũng thở dài, không nói thêm gì.

Một lúc sau, Long Giả mở mắt ra nhìn Trương Mãnh: “Biết hắn định bố trận gì không?”

Trương Mãnh lắc đầu: “Sau khi điểm danh, Bàng tướng quân lấy ra cuốn ‘Binh pháp Ngô Tử’, nói là do Ngô Khởi tướng quân ban tặng trong mơ, rồi dặn Bàng tướng quân gỡ cáo thị ngự địch. Sau đó... đã dẫn các tướng ra ngoài trướng, dùng máu sơn dương đen tế cờ. Tế cờ xong, tướng quân không nói một lời, cho các tướng trở về doanh trại đợi lệnh.”

Long Giả kinh ngạc: “Ba ngày sau đấu trận, mà hắn... chẳng lẽ hắn không chuẩn bị gì ư?”

Trương Mãnh gật đầu nói: “Hiện giờ vẫn chưa thấy động tĩnh gì.”

Long Giả ngẫm nghĩ một hồi, căn dặn: “Nếu Bàng tướng quân có động tĩnh gì, hãy lập tức báo lại cho ta!”

“Mạt tướng đã căn dặn thuộc hạ rồi!”

Lời vừa dứt, tham tướng trung quân chạy vội vào bẩm báo: “Báo, Bàng tướng quân đã truyền lệnh!”

Trương Mãnh vội hỏi: “Truyền lệnh gì?”

“Truyền lệnh cho Lý tướng quân quản lý lương thảo, đổ hết quân lương vào kho, lấy ra một vạn bao tải chờ sẵn.”

“Cái gì?” Trương Mãnh hoảng hốt. “Tướng quân muốn đổ lương thực xuống đất?”

“Đúng thế!” Tham tướng trung quân nói tiếp. “Không những vậy, Bàng tướng quân còn trưng dụng hai mươi xe bột đá vôi khô, một nghìn xẻng gỗ, một vạn tấm sa...”

Trương Mãnh quay sang nhìn Long Giả, lẩm bẩm: “Hai mươi xe bột đá vôi khô, một nghìn xẻng gỗ, một vạn tấm sa...” rồi quay sang nhìn tham quân, “còn lệnh gì nữa?”

“Bàng tướng quân còn...” tham quân thoáng do dự, “còn cần một nghìn thùng nước phân.”

“Cái gì, một nghìn thùng nước phân?” Trương Mãnh lại càng khó hiểu, ngây người ra một lát, rồi ngẩng lên hỏi. “Tướng quân còn muốn gì nữa?”

Tham quân lắc đầu.

“Đại tướng quân!” Trương Mãnh quay sang Long Giả. “Bàng tướng quân cần những thứ này, là có ý gì?”

Long Giả nhắm mắt lại, trầm ngâm suy nghĩ, một lúc sau, mở mắt ra nhìn tham quân: “Thế còn các vị tướng quân?”

“Khởi bẩm đại tướng quân, các tướng sau khi nhận được lệnh đều thấy hoang mang, nên đã phái mạt tướng đến xin ý chỉ của đại tướng quân.”

“Nói với các tướng,” Long Giả chậm rãi nói, “ba quân đã trao cho Bàng tướng quân, phải nghe theo mệnh lệnh của Bàng tướng quân!”

Trương Mãnh vội nói: “Long tướng quân...”

Long Giả lại nhắm mắt lại: “Đi đi!”

Trương Mãnh quay sang tham quân: “Truyền lệnh cho các tướng, tất cả đều phải nghe theo lệnh Bàng tướng quân!”

“Mạt tướng tuân lệnh!” Tham tướng lập tức lui ra.

Thấy tham tướng đã đi xa, Trương Mãnh ngạc nhiên nhìn Long Giả: “Long tướng quân, Bàng tướng quân...”

Long Giả có vẻ nghĩ ngợi: “Sắp xếp như vậy quả thực rất lạ lùng, lẽ nào Bàng tướng quân có kỳ mưu gì chăng?” Dừng lại một lát, khẽ lắc đầu. “Dùng ba vạn quân đã suy sụp để đấu lại với bảy vạn đại quân của Điền Kỵ, cho dù có kỳ mưu cũng rất nguy hiểm. Trương tướng quân!”

“Có mạt tướng!”

“Nhanh chóng bẩm tấu lại cho bệ hạ cách dùng binh của Bàng tướng quân, để bệ hạ gia cố phòng ngự ở Đại Lương, đề phòng bất trắc. Ngoài ra, tướng quân hãy chuẩn bị ba ngàn cung thủ, mai phục ở rừng cây phía ngoài cửa bắc Hoàng Trì. Nếu Bàng tướng quân bại trận, hãy yểm trợ cho tướng quân vào thành!”

Trương Mãnh vâng lệnh, lập tức bước ra khỏi trướng.

Mật tấu ở tiền phương được truyền về cung, Ngụy Huệ Vương đọc xong, thẳng tay ném toẹt xuống bàn, hét lớn: “Dám đùa giỡn quả nhân!”

Huệ Thi sững người, vội vàng nhặt bản mật tấu lên đọc.

Ngồi ngây một lúc, Ngụy Huệ Vương buồn bã lắc đầu, thất vọng than vãn: “Than ôi, cái gì mà sơn dương đen? Cái gì mà cao đồ của Quỷ Cốc Tử? Trời diệt quả nhân rồi. Huệ ái khanh!”

Huệ Thi đã đọc xong bản mật báo, vội dập đầu sát đất, khẽ bẩm tấu: “Bệ hạ...”

Huệ Vương không thèm nghe giải thích, xua tay ngăn cản: “Huệ ái khanh, không cần nói nữa!” Rồi quay ra ngoài hét lớn. “Người đâu!”

Tỳ nhân vội chạy vào: “Có lão nô!”

Huệ Vương dằn mạnh từng chữ: “Mang chiến bào của quả nhân lại đây!”

Tỳ nhân hoảng sợ, hai mắt nhìn sững vào Huệ Vương.

“Còn đứng đấy!” Huệ Vương trợn trừng mắt, quát. “Còn không mau đi?”

Tỳ nhân giật nảy mình, đang định lui ra thì Huệ Vương lại nói: “Còn nữa...”

Tỳ nhân dừng bước.

“Nổi trống rung chuông, bố cáo với thần dân Đại Ngụy, bất kể già trẻ nam nữ, tất cả lên thành! Quả nhân cho dù máu nhuộm chiến bào, cũng quyết tử chiến với Điền Nhân Tề!”

Hồi Thứ 21

Bày kế hiểm, Bằng Quyên một trận thành danh

Ôm thù sâu, Trần Chẩn giữa đường cầu cạnh

Sông Tế Thuỷ chảy về phía đông, khi đến Đường Ấp cách Hoàng Trì chừng ba mươi dặm về phía tây nam, liền chuyển sang hướng bắc lệch đông. Đến đoạn cách Hoàng Trì chừng mười dặm, lại ngoặt sang phía đông, chảy theo hướng chính đông đến Chử Táo, từ đây lòng sông bắt đầu phình ra, rộng tới mấy dặm. Nước nông, chảy chậm, nếu không gặp trời mưa bão, nước chỉ sâu không quá thắt lưng. Cho dù là giữa lòng sông, chỗ sâu nhất cũng chỉ ngập qua đỉnh đầu.

Dòng sông kiểu này rất thích hợp cho việc vượt sông, tướng Điền Kỵ cũng nhận ra điểm đó. Quân Tề dựng lều hạ trại dọc theo bãi đất ở hai bên bờ đê, lại cho đào một hàng bếp trên mặt đê. Hễ đến thời gian thổi cơm, khói bếp bốc lên nghi ngút kéo dài hàng chục dặm, cảnh tượng vô cùng hùng tráng.

Quân Tề đánh đâu thắng đấy, mắt thấy đã sắp sửa áp sát Đại Lương, Tề Uy Vương vô cùng phấn chấn, nên đã phái thái tử Tích Cương đến uý lạo ba quân. Tích Cương mang theo quân nhu đến Tế Thuỷ, Điền Kỵ hay tin, liền ra ngoài đón vào trong trướng. Hai người ngồi trong trướng nói chuyện chừng nửa canh giờ, Tích Cương bèn sốt sắng đi thị sát trại quân, quan sát Tế Thuỷ.

Nắng chiếu chang chang, giáp trụ lấp loáng. Nhìn thấy điện hạ đến, ba quân tướng sĩ đều dựng thương chống giáo, uy phong lẫm liệt, đứng nghiêm trang dưới ánh nắng mặt trời, trông muôn phần uy vũ. Tích Cương thân mặc võ phục, đi song song bên đại tướng quân Điền Kỵ. Hai người đi dọc bờ sông thị sát một lượt, rồi chậm rãi bước lên đài quan sát được dựng trên mặt đê.

Bước lên đỉnh đài, phóng mắt bao quát, thấy trên đê dưới đê đều là doanh trại quân Tề, dày đặc như nêm, sắp xếp trật tự. Lại nhìn về phía dòng sông cách đó không xa, bãi cát nhấp nhô, cỏ nước um tùm, thi thoảng lại thấy cò trắng lên xuống bên mép nước. Nhưng ở phía bờ đối diện lại trống huơ trống hoác, đã không có lấy một binh một tốt, cũng chẳng thấy doanh trại tường luỹ gì. Tiếp đó là một con đê, trên đê ngoài những đám bụi gai dày đặc, chỉ còn một rừng cây hoè kéo dài bất tận.

Tích Cương quan sát một lúc, chỉ vào bãi cát trống trải mà nói: “Điền tướng quân, tại sao bờ bên kia lại không phòng thủ?”

Điền Kỵ bật cười, chỉ vào bờ đê cách đó không xa: “Điện hạ, hãy nhìn xem!”

Nhìn theo hướng tay chỉ của Điền Kỵ, Tích Cương quả nhiên thấy trong rừng cây rậm rạp loáng thoáng hiện ra trận thế phòng ngự do quân Ngụy dựng lên. Dường như ở trên mặt đê còn có nhiều hàng nỏ tam liên tự động, liền nói: “Hừm, Long tướng quân đúng là gừng càng già càng cay. Nếu không có tướng quân nhắc nhở, Tích Cương quả thật không thể nhận ra!”

“Điện hạ bất tất phải khiêm tốn. Quân Ngụy liên tiếp bại trận, không dám manh động, nên đã đưa binh lực ẩn nấp vào nơi kín đáo, khiến ta khó biết thực hư. Điện hạ mới đến nơi, đương nhiên sẽ không thể biết được tình thế này.”

“Đại tướng quân đã biết rõ địch tình, chiến thắng ắt đã nằm trong tay. Xin hỏi đại tướng quân, khi nào có thể giao chiến với quân Ngụy?”

Điền Kỵ chỉ xuống dòng sông: “Vi thần đã cử người điều tra, khe sâu giữa lòng sông tuy chỉ rộng có vài trượng, nhưng nước sông ở đó cũng ngập quá đầu, thiên quân vạn mã nếu cùng lúc qua sông, nước sông sẽ nhanh chóng dâng lên. Trong số binh sĩ có rất nhiều người không biết bơi, cho dù biết bơi nhưng còn có áo giáp, binh khí, sợ rằng khó lòng trụ vững.”

Tích Cương trầm ngâm một lúc, rồi ngẩng đầu nói: “Nếu cứ kéo dài, chưa nói tới cái khác, chỉ riêng lương thảo cũng khó lòng đáp ứng được lâu dài.”

“Điện hạ chớ lo!” Điền Kỵ khẳng định chắc nịch. “Vi thần ban đêm quan sát sao trời, thấy gần đây nước Ngụy sẽ không có mưa. Hiện giờ đang là mùa khô hạn, nắng nóng đã lâu, nước sông ngày càng nông, mười ngày nay nước sông đã giảm xuống một thước. Nếu không nằm ngoài dự liệu của vi thần, chưa đầy năm ngày nữa, nước sông sẽ tiếp tục giảm thêm một thước. Lúc đó qua sông, đừng nói là Long Giả đã thân mang trọng thương, cho dù ông ta vẫn còn cường tráng, vi thần cũng sẽ bắt ông ta phải đưa tay chịu trói.”

“Ừm!” Tích Cương gật đầu nói. “Vậy thì tốt! Võ binh nước Ngụy dũng cảm thiện chiến, bách chiến bách thắng. Lần này nếu không phải Ngụy Vương thất đức với thiên hạ, ba nước Tần, Hàn, Triệu cùng vây đánh, thì phụ vương cũng sẽ không trở mặt với Ngụy. Điền tướng quân, thắng bại trong trận này vô cùng hệ trọng, phụ vương cũng vì chuyện này mà đã nhiều đêm không ngủ!”

“Vi thần xin điện hạ hãy chuyển tấu lên bệ hạ, nói rằng trong vòng mười ngày, vi thần sẽ phá được trận của quân Ngụy, tiến thẳng tới Đại Lương. Trong vòng ba tháng sẽ áp giải Ngụy Anh hồi triều để bệ hạ hỏi tội!”

Tích Cương đang định lên tiếng, đột nhiên nhìn thấy trên con đê đối diện có một người cưỡi ngựa lao như bay thẳng xuống bờ sông, thì vội quay đầu lại, nhìn người đó không chớp mắt.

Điền Kỵ và các tướng đều đã nhìn thấy, ánh mắt cùng đổ dồn sang. Người cưỡi ngựa đã tiến lại gần, mọi người nhận ra đó là quân uý truyền lệnh phía quân Ngụy. Ngựa lao thẳng xuống bờ sông, dừng bên mép nước, ngần ngừ một thoáng, sau đó phóng thẳng xuống sông. Mọi người đang ngạc nhiên thì người cưỡi ngựa đã đến giữa dòng. Thấy nước sông đã dâng ngập đầu ngựa, quân uý bèn ghìm cương dừng lại, ngoảnh lên bờ hô lớn: “Tướng Tề xem đây, tiên phong Đại Ngụy Bàng Quyên gửi chiến thư!” Rồi lấy cung ra, lắp tên bắn về phía Tề.

Mũi tên xé gió lao đi, rơi xuống bờ sông. Lập tức có quân lính chạy ra nhặt lấy, đưa cho viên quân uý vừa hay tin chạy đến. Quân uý không kịp nhìn, lập tức chạy như bay lên đài cao, lớn giọng bẩm báo: “Báo, tiên phong quân Ngụy gửi chiến thư!”

Quân Ngụy liên tiếp bại trận mà vẫn gửi chiến thư khiêu chiến, lại đúng vào lúc thái tử điện hạ đến thị sát quân tình, Điền Kỵ vô cùng giận dữ, đưa mắt cho tham tướng đứng bên cạnh. Tham tướng liền đi xuống, lấy mũi tên từ trong tay quân uý, trở lên trên đài, hai tay trình lên Điền Kỵ.

Điền Kỵ nhận lấy mũi tên, tháo chiếc còi buộc ở đầu mũi tên, rút ra một cuộn lụa giấu bên trong, quả nhiên là chiến thư, trên viết: “Gửi Điền Kỵ đại tướng quân.” Mở ra, thấy viết:

Nghe nói đại tướng quân bách chiến bách thắng, danh chấn liệt quốc, tại hạ vừa kinh ngạc vừa than thở. Kinh ngạc ở chỗ, chỉ với tài năng tầm thường của đại tướng quân, sao có thể danh chấn liệt quốc? Than thở ở chỗ, cái danh bách chiến bách thắng của đại tướng quân, đến nay sẽ phải kết thúc ở bên bờ Tế Thuỷ! Vì vậy, sau lúc kinh ngạc thở than, tại hạ thực tâm khuyên đại tướng quân, nếu trong vòng ba ngày chịu thu quân về Tề, nộp biểu nhận tội, đại tướng quân không những có thể bảo toàn uy danh một đời, mà dòng Tế Thuỷ trong xanh cũng tránh được cảnh nhuốm máu. Nếu đại tướng quân cố chấp không nghe, nhất định muốn phân cao thấp, ba ngày sau tại hạ sẽ dùng ba vạn hùng binh bày trận nghênh đón! Đại tướng quân chỉ cần nhận ra trận gì, tại hạ lập tức cúi đầu xin hàng; nếu đại tướng quân không nhận ra, tại hạ xin được nói trước, nếu đại tướng quân có điều bất trắc, chớ trách tại hạ mạo phạm! Quyết định thế nào, mong đại tướng quân tự xét, tại hạ cung kính đợi hồi âm!

Tiên phong tam quân Đại Ngụy Bàng Quyên cung kính trình lên.

Điền Kỵ đọc xong, sắc mặt chuyển từ trắng sang xanh, từ xanh sang tím, bàn tay siết chặt kêu lên răng rắc.

Tích Cương kinh ngạc nhìn Điền Kỵ: “Điền tướng quân?”

Điền Kỵ tiện tay đưa chiến thư cho Tích Cương.

Tích Cương đọc xong, giật mình đánh thót: “Bàng Quyên? Kẻ này sao lại trở thành tiên phong của quân Ngụy?” Rồi quay sang Điền Kỵ, cười gượng mà nói. “Xem ra lần này, Điền tướng quân gặp được đối thủ rồi!”

“Đối thủ?” Điền Kỵ cười nhạt một tiếng, nắm chặt tay quyền, giọng rít qua kẽ răng. “Đối thủ của Điền Kỵ vẫn còn chưa chào đời!” Dừng lại một chút. “Hừm, tiên phong mà cũng xứng viết chiến thư! Điện hạ hãy chờ xem, ba ngày sau vi thần nhất định sẽ phá tan trận địch, bắt sống thằng o ắt Bàng Quyên, băm vằm thành trăm mảnh!”

Tích Cương tựa hồ như không nghe thấy, hai mắt vẫn nhìn chằm chằm vào chiến thư của Bàng Quyên, nửa như tự nhủ, nửa như muốn hỏi: “Kỳ lạ, kẻ này từ chối chức thượng khanh và vàng bạc mà phụ vương ban cho, nhưng lại chấp nhận làm một tiên phong thấp kém cho Ngụy, rốt cuộc là có dụng ý gì?”

Điền Kỵ hừ mũi một tiếng, quay sang nói với tham quân: “Trả lời Bàng Quyên, cho dù hắn có bày trận thế gì, bảo hắn ba ngày sau hãy vươn sẵn cổ chờ trước trận, đợi bản tướng đến chém đầu!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Trong thành Hoàng Trì, tại một toà trạch viện lớn ở mé tây bắc, hàng trăm thương binh nằm ngồi la liệt, mấy thầy thuốc cứu chữa luôn tay, xen lẫn trong số đó là hàng trăm dân đinh và đàn bà tình nguyện tới chăm sóc. Hai tên lính chuyển thi thể đứng đợi bên cổng, khi nghe thầy thuốc phán người nào đó đã chết, liền lập tức chạy vào, khiêng xác chết ra ngoài.

Chốn này đầy rẫy đớn đau bi thảm, nhưng không thấy ai rên xiết, cũng không nghe thấy tiếng kêu la. Võ binh Đại Ngụy đều là những hán tử sắt đá, huống chi còn có đàn bà ở đây.

Có mấy người vội vàng đi vào trong sân, người dẫn đầu chính là tiên phong tướng quân Bàng Quyên, đi theo sau là tham tướng trung quân và hộ vệ tuỳ thân.

Thấy tướng quân đến nơi, song tất cả mọi người đều không lên tiếng, cứ như họ là một đám khách không mời. Bàng Quyên hiểu rõ, quân Ngụy chiến bại liên miên, tướng sĩ trong lòng oán hận, đặc biệt là những binh sĩ vì tướng quân bất tài mà thân mang trọng thương ở đây.

Tham tướng trung quân nóng mặt, liền bước lên nói lớn: “Các vị tướng sĩ, có tiên phong tướng quân Bàng Quyên do bệ hạ khâm phong đến thăm hỏi!”

Nghe thấy bốn chữ “bệ hạ khâm phong”, đám binh sĩ bị thương càng tỏ ra lạnh nhạt, có người còn quay đi hừ mũi, không thèm nhìn đến. Chỉ có một thầy lang đang chữa trị cho thương binh là đứng lên hành lễ, song Bàng Quyên xua tay ngăn lại.

Bàng Quyên không thẹn quá hoá giận giống như những tướng quân khác, lại càng không hề tỏ ra giận dữ bất mãn, mà vẫn thần sắc điềm tĩnh, vẻ mặt ôn hoà, ánh mắt chan chứa quan hoài. Bàng Quyên không nói lời nào, chỉ đưa ánh mắt thân tình nhìn khắp lượt các thương binh, sau đó cất bước, chậm rãi đi qua lối đi nhỏ hẹp giữa đám binh sĩ đang nằm la liệt.

Ánh mắt điềm tĩnh và quan hoài của Bàng Quyên bắt đầu có hiệu quả. Các ánh nhìn bắt đầu tập trung trở lại, ngay cả người lính vừa quay mặt đi giờ cũng ngoảnh lại, nhìn xem rốt cuộc Bàng Quyên định làm gì.

Bàng Quyên nhìn thấy có một người đàn bà trung niên ngồi dưới đất, tay vỗ về một binh sĩ đang nằm bất động, liền đi về hướng đó. Mấy cô gái trẻ tuổi quỳ bên cạnh người đàn bà, ai nấy đều lộ vẻ đau thương, hai mắt nhắm nghiền, miệng lẩm nhẩm cầu khấn, hiển nhiên đang tiễn đưa người lính sắp sửa lìa đời.

Bàng Quyên lặng lẽ bước lại gần, đối mặt với người lính, quỳ xuống sau lưng mấy cô gái, cũng nhắm mắt lại, lầm rầm cầu khấn cho anh ta. Tham tướng và hộ vệ tuỳ thân đưa mắt nhìn nhau, sau đó cũng quỳ xuống theo.

Người đàn bà đang ôm người lính nước mắt ròng ròng, ghé sát tai người chết nghẹn ngào nói: “Con trai, con hãy mở mắt ra xem, tiên phong tướng quân đến tiễn con đấy!”

Người đàn bà gọi liền mấy tiếng, người lính dường như không nghe thấy, vẫn nằm bất động. Một thầy thuốc vội bước tới, đưa ngón tay đến trước lỗ mũi, thấy hắn đã tắt thở, bèn lấy từ trong tay áo ra một tấm vải trắng phủ lên mặt. Thầy thuốc vẫy tay, hai người lính đứng canh bên cổng lập tức khiêng theo tấm ván đi vào, nhấc lấy người lính từ trong lòng người đàn bà, nhẹ nhàng đặt lên tấm ván. Bàng Quyên từ từ đứng dậy, cúi lạy ba cái trước người lính đã chết, rồi đưa mắt dõi nhìn theo cái xác được khiêng ra ngoài.

Bàng Quyên quay người lại, tiếp tục bước đi. Lại đi được hơn chục bước, Bàng Quyên nhìn thấy bên cạnh có một thầy thuốc đang nặn mủ cho một binh sĩ, bèn rảo bước lại gần. Chân trái của binh sĩ này bị thương hoá mủ, bọc mủ sưng phồng to gần bằng cái bánh bao. Bàng Quyên đứng bên cạnh, thấy thầy thuốc nặn hết lần này đến lần khác, dịch mủ vàng sệt ứa ra từng chút một, nhỏ xuống chậu sứ dưới đất. Binh sĩ nghiến răng nghiến lợi, hai mắt nhắm nghiền, trán vã mồ hôi, cố gắng gượng chịu đựng nỗi đau đớn thấu tim gan. Sau một khắc, bọc mủ đã xẹp xuống, thầy thuốc băn khoăn nhìn vết thương, dường như đang suy nghĩ làm cách nào mới có thể nặn hết số mủ còn lại ra.

Bàng Quyên không nói một lời, lập tức khom người xuống, trụ vững thân mình, ghé miệng vào vết thương hút mủ ra trong ánh mắt kinh dị của mọi người. Tương truyền xưa kia Ngô Khởi dùng miệng hút mủ cho binh sĩ, mọi người chưa ai tận mắt nhìn thấy. Hôm nay Bàng Quyên quỳ xuống cầu khấn cho binh sĩ thiệt mạng, ghé miệng hút mủ cho binh sĩ bị thương, tất cả những người có mặt đều tận mắt chứng kiến.

Tất cả mọi người đều kinh hãi, chấn động trong lòng, những con mắt chốc lát đã ướt đẫm. Binh sĩ được Bàng Quyên hút mủ thì nước mắt giàn giụa, khóc nấc không thành tiếng.

Bàng Quyên hút một hơi, rồi nhổ mủ vào trong chậu, rồi lại hút, lại nhổ. Cứ lặp đi lặp lại như thế, đến khi vết thương không còn một chút nước mủ nào nữa mới thôi. Lập tức có người đưa nước sạch đến, Bàng Quyên súc miệng mấy cái, vỗ nhẹ lên người binh sĩ, cười vang mấy tiếng, lúc này mới nửa đùa nửa thực nói ra câu đầu tiên: “Anh bạn, mủ của anh vừa tanh vừa hôi, mùi vị chẳng ra sao cả!”

Binh sĩ chẳng quản đến vết thương đau đớn, quỳ sụp ngay xuống đất, khóc lớn: “Bàng tướng quân...”

Bàng Quyên dìu hắn dậy, đỡ cho nằm xuống, nghiêm nghị trách móc: “Trông ngươi kìa! Đại trượng phu sống ở trên đời, chỉ đổ máu, không đổ lệ!” Nói đoạn, lập tức đi thẳng ra ngoài.

Trong trướng của quân Tề, Điền Kỵ ngồi một mình một bàn, nhắm mắt suy nghĩ.

Mười mấy năm nay, Điền Kỵ nam chinh bắc chiến, uy chấn Tứ Thượng, danh vang liệt quốc, từng đánh bại tướng Sở Chiêu Dương, tướng Triệu Phụng Dương Quân và tướng Hàn Thân Bất Hại, chỉ có điều chưa từng giao chiến với quân Ngụy. Từ lâu Điền Kỵ đã muốn quyết một trận phân cao thấp với quân Ngụy, nhưng quân chủ lại năm lần bảy lượt không đồng ý, không cho ông ta cơ hội. Ba năm trước, Ngụy Huệ Hầu xưng vương phạt Vệ, Điền Kỵ phụng mệnh cứu Vệ, vốn cho rằng đây là một cơ hội tốt, song quân chủ lại bắt ông ta án binh bất động, cuối cùng đã dâng cơ hội cho người Tần. Cũng may trời cao có mắt, khi hai nước Tề, Ngụy hội vương ở Từ Châu gây ra hiềm khích, Uy Vương tức giận hạ lệnh phạt Ngụy, cuối cùng cũng giúp Điền Kỵ được toại nguyện. Sau khi tiến vào nước Ngụy, Điền Kỵ hiển lộ thần uy, ba lần đánh bại công tử Ngang, đánh trọng thương Long Giả, khiến hùng binh Đại Ngụy trở thành tàn binh bại tướng chỉ trong vỏn vẹn chưa đầy một tháng. Hiện giờ, người Ngụy đã không còn sức chống trả, bất luận nhìn từ góc độ nào, Điền Kỵ cũng đã nắm chắc phần thắng trong tay. Chỉ cần ra lệnh một tiếng, bảy vạn đại quân sẽ vượt qua Tế Thuỷ, đánh thẳng tới Đại Lương.

Tuy nhiên, Điền Kỵ dùng binh, nổi tiếng nhờ thận trọng. Thường có câu, quân đau thương không bức, giặc cùng đường không đuổi. Điền Kỵ vừa muốn đánh một trận tận diệt Long Giả, vừa muốn để phía mình tổn thất ít nhất, vì vậy mới chần chừ chưa hạ lệnh qua sông. Trong mắt Điền Kỵ, ba vạn binh tốt của Long Giả ở bờ bên kia chẳng qua chỉ là con vịt đã luộc chín, ăn sớm hay ăn muộn cũng như nhau, đây cũng chính là nguyên nhân khiến Điền Kỵ không vội vã.

Long Giả thân mang trọng thương, quân Ngụy đã thành đội quân đau thương. Đối với người Ngụy, hiện nay thượng sách duy nhất là vứt bỏ Tế Thuỷ, Hoàng Trì, liều chết cố thủ Đại Lương. Ai ngờ người Ngụy không những không lui, ngược lại còn gửi chiến thư, hẹn Điền Kỵ đấu trận trên bãi sông, khiến Điền Kỵ không khỏi kinh ngạc.

Và đáng kinh ngạc hơn nữa chính là Bàng Quyên. Biết địch không bằng biết tướng. Đối với những người như công tử Ngang, Long Giả, Trương Mãnh, từ lâu Điền Kỵ đã am hiểu tường tận, nhưng đối với gã Bàng Quyên thình lình từ trên trời rơi xuống, ngoài việc nghe được vài lời đồn đại từ Lâm Truy, Điền Kỵ chẳng biết thêm gì nữa.

Trước ngày đại chiến không biết đối thủ, đây là điều đại kỵ trong dùng binh. Điền Kỵ càng nghĩ, tâm tư càng rối, chợt đứng bật dậy, rảo bước sang một bên trướng, mắt nhìn chăm chú vào sa bàn quân sự.

Sa bàn này do các mưu sĩ và tham tướng căn cứ vào địa hình địa thế xung quanh để đắp thành. Điền Kỵ đưa mắt nhìn bao quát, địa thế đồi núi ở hai bờ Tế Thuỳ hiện rõ mồn một, những nơi hiểm yếu còn cắm đầy thẻ tre, trên thẻ tre ghi rõ loại quân, số quân và danh tính tướng lĩnh của hai bên trấn thủ ở nơi đó. Vượt qua Tế Thuỷ, chưa đến mười dặm là Hoàng Trì, Hoàng Trì cách Đại Lương cũng chỉ khoảng hơn hai trăm dặm. Nếu như không gặp trở ngại, hành quân nhanh chóng thì chỉ vài ngày là đến.

Điền Kỵ chăm chú quan sát sa bàn, suy nghĩ hồi lâu, khoé miệng chợt hiện lên một nụ cười nhạt. Cho dù tay tiên phong họ Bàng kia có bản lĩnh đến đâu, nếu lấy ba vạn tàn quân đấu với bảy vạn thiết quân thừa thắng, chỉ dựa vào một con sông Tế Thuỷ dễ dàng lội qua, thực chẳng khác nào chuyện cười.

Nhưng khác hẳn với hạng tự cao tự đại như công tử Ngang, Điền Kỵ vẫn luôn là Điền Kỵ. Cho dù sự việc nghe có vẻ nực cười, nhưng Điền Kỵ cũng không hề mất cảnh giác. Ông ta biết, thế cục chiến trường có thể thay đổi trong nháy mắt, thắng bại biến hoá bất thường. Tình thế đã nghiêng hẳn về một phía, vậy mà quân Ngụy dám chủ động khiêu chiến, không phải là chủ tướng bị điên, thì chắc chắn bên trong có âm mưu.

Nghĩ đến hai chữ âm mưu, Điền Kỵ đột nhiên lạnh buốt sống lưng, nụ cười nơi khoé miệng cũng từ từ biến mất, thay vào đó, hai đầu lông mày dần chau lại.

Đúng, nhất định là có âm mưu. Quân Ngụy bại trận liểng xiểng, quân lính còn lại chưa đầy bốn vạn, trừ đi thương binh, quân có thể chiến đấu chỉ còn hơn ba vạn. Bàng Quyên chỉ là tiên phong của người Ngụy, nhưng trên chiến thư lại dám thách thức, sẽ dùng ba vạn hùng binh bày trận tiếp đón. Chi tiết này chỉ có hai khả năng, hoặc là Ngụy Vương đã tăng thêm ba vạn binh, hoặc là chủ tướng Long Giả nguyện giao ba quân vào tay Bàng Quyên.

Nghĩ đến đây, Điền Kỵ bỗng thấy chột dạ, bèn gọi lớn: “Người đâu!”

Tham tướng nghe tiếng chạy vào: “Có mạt tướng!”

“Tiếp tục phái người cải trang qua sông, một là thám thính động tĩnh của Bàng Quyên, hai là tìm hiểu xem Ngụy Vương có tăng quân hay không!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Tham tướng đang định ra khỏi trướng, Điền Kỵ lại nói: “Còn nữa, đắp đài ở trên đê cao thêm ba trượng, dựng thêm một cột cần trục.”

Tham tướng “vâng” một tiếng rồi lui ra khỏi trướng.

Bàng Quyên đi thăm thương binh xong, lại đi kiểm tra một lượt những nơi trọng yếu, đang định trở về trướng thì phó tướng Trương Mãnh phái người đến truyền tin: “Bàng tướng quân, đại tướng quân có lời mời!”

Bàng Quyên vội theo người đó đến quân trướng của Long Giả, quỳ xuống trước giường: “Tiên phong Bàng Quyên tham kiến đại tướng quân!”

Thương thế của Long Giả rõ ràng đã nghiêm trọng hơn, thở khò khè một hồi, tay ôm lấy ngực, khó khăn lắm mới gật được đầu: “Bàng tướng quân, miễn... miễn lễ!” Rồi ánh mắt chuyển sang Trương Mãnh. “Trương Mãnh!”

“Có mạt tướng!”

“Lấy ấn đại tướng quân lại đây!”

Trương Mãnh lấy ấn đại tướng quân ra, hai tay nâng lên, mắt nhìn Long Giả. Long Giả nhận đại ấn, lại lấy hổ phù từ dưới gối lên, cùng cầm trong tay, đưa mắt nhìn Bàng Quyên: “Bàng tướng quân, xin hãy nhận lấy phù, ấn!”

Dùng hổ phù điều binh là thông lệ của liệt quốc. Hổ phù chia thành hai nửa, một nửa giao cho tướng quân, một nửa do đích thân quân chủ nắm giữ. Khi quân chủ điều binh, sẽ phái người mang hổ phù đến trại quân đối chứng, chỉ khi hai miếng hổ phù khớp làm một thì tướng quân mới được phát binh. Vì vậy, hổ phù cũng tượng trưng cho quyền lực của tướng quân. Còn kim ấn của tướng quân là căn cứ chủ yếu dùng để cai quản và điều động bộ hạ. Hổ phù đối với trên, kim ấn đối với dưới, bất kể là ai, chỉ cần có được phù ấn, sẽ có thể thống lĩnh ba quân. Long Giả lại trao cả phù và ấn cho Bàng Quyên, cũng đồng nghĩa với việc trao lại quyền thống lĩnh ba quân cho hắn.

Điều này, bản thân Bàng Quyên cũng không thể ngờ tới, vì dù sao hắn cũng vừa đến doanh trại, chưa lập được một chút công lao. Sững sờ mất một lúc, Bàng Quyên bèn dập đầu nói: “Long lão tướng quân, mạt tướng... việc này... việc này tuyệt đối không được!”

Vết thương lại nổi cơn đau kịch liệt, Long Giả cắn răng chịu đựng, tay nâng phù ấn, khó nhọc cất lời: “Bàng tướng quân bái vong hút mủ, lão hủ... không... không bằng. Bệ hạ có mắt nhìn người tài, ba quân lại có được tướng giỏi, lão hủ có chết... cũng nhắm mắt được rồi!”

Bàng Quyên do dự: “Long tướng quân...”

Long Giả hít thở cũng thấy khó khăn, dường như đã phải dốc kiệt sức lực toàn thân: “Đất nước đã vào... thời khắc sinh tử tồn vong, Bàng tướng quân không được thoái thác, lão hủ sẽ thượng... thượng tấu với... bệ hạ, tiến... tiến cử Bàng tướng quân thống lĩnh... thống lĩnh ba... ba...”

Chữ “quân” còn chưa kịp thốt lên, Long Giả đột nhiên co giật rùng rùng, khiến hổ phù, đại ấn rơi cả xuống giường.

Trương Mãnh hốt hoảng, vội bước tới đỡ: “Long lão tướng quân! Long lão tướng quân!”

Long Giả đã không còn trả lời được nữa. Bàng Quyên đưa tay lên trước mũi, biết lão tướng quân đã qua đời, liền đau đớn gào lên: “Long tướng quân...”

Trời đất bi ai và rền rĩ.

Tướng lĩnh ba quân nghe tin Long tướng quân quy tiên, liền lũ lượt kéo đến đại trướng. Trương Mãnh đứng trước ba quân, tuyên bố di nguyện của Long tướng quân, hai tay trao lại phù, ấn cho Bàng Quyên.

Bàng Quyên thoáng suy nghĩ chốc lát, lại tiếp tục từ chối, các tướng đều quỳ xuống cầu xin. Thấy quân địch cận kề trước mặt, Bàng Quyên đành đồng ý tạm thời làm thay chức trách đại tướng quân, nhưng kiên quyết giao phù ấn cho phó tướng Trương Mãnh bảo quản, vẫn lấy danh nghĩa tiên phong, lập biểu thuật lại sự việc Long Giả tuẫn thân vì nước, gửi cho Ngụy Vương, lời lẽ vô cùng cung kính.

Các tướng thấy hợp tình hợp lý, càng thêm kính phục Bàng Quyên.

Đồng thời, Trương Mãnh cũng lấy danh nghĩa phó tướng ba quân, nhanh chóng bẩm tấu lên Ngụy Vương về di nguyện của Long Giả cùng việc Bàng Quyên bái vong hút mủ. Buổi trưa ngày hôm sau, chiếu thư của Ngụy Huệ Vương nhanh chóng được truyền đến, chính thức bổ nhiệm Bàng Quyên làm đại tướng quân, thống lĩnh ba quân.

Bàng Quyên khấu lạy chiếu thư, nhận lấy phù ấn từ trong tay Trương Mãnh, chuyển vào ở trong đại trướng, hạ lá cờ có chữ “Long đại tướng quân” xuống, thay thế bằng lá cờ có chữ “Bàng đại tướng quân”, truyền lệnh chư tướng đến trước trướng nghe lệnh.

Sự việc Bàng Quyên bái vong hút mủ đã nhanh chóng lan truyền trong quân, sáu chữ “chỉ đổ máu, không đổ lệ” của Bàng Quyên càng khiến cho khí thế võ binh Ngụy hừng hực dâng cao, lũ lượt cầm theo huyết thư, xoắn cao tay áo, kéo nhau đến trước trướng của chư tướng xin đánh. Chư tướng ba quân sau khi nhận lệnh, tay cầm từng bó huyết thư đi vào đại trướng, nhìn thấy Bàng Quyên, không nói một lời, đồng loạt quỳ xuống, cùng nâng huyết thư quá đầu.

Bàng Quyên đi tới trước mặt chư tướng, lần lượt thu lấy huyết thư, đặt lên mặt bàn, sau đó đích thân đỡ các tướng dậy, nói lớn: “Bàng Quyên cảm tạ chư vị, cảm tạ ba quân tướng sĩ! Bắt đầu từ ngày hôm nay, Bàng Quyên nguyện cùng với chư vị, nằm cùng giường, ăn cùng chiếu, đi không cưỡi ngựa, đánh không lui bước!”

Lời của Bàng Quyên vừa dứt, Trương Mãnh đi lên phía trước chư tướng, đứng nghiêm trang mà nói: “Mạt tướng Trương Mãnh xin đánh, đại tướng quân hãy hạ lệnh!”

Các tướng cùng bước lên một bước, đồng thanh hô lớn: “Mạt tướng xin đánh, đại tướng quân hãy hạ lệnh!”

Bàng Quyên biết thời cơ đã chín muồi, đưa mắt nhìn khắp lượt chư tướng, giọng như chuông đổ: “Chư vị tướng quân!

Các tướng đồng thanh hô: “Có mạt tướng!”

Bàng Quyên lại nhìn khắp lượt: “Bốn nước Tần, Tề, Hàn, Triệu xâm phạm ta, hàng vạn tướng sĩ đã tuẫn thân vì nước, quân Tề dã tâm xâm lược, bệ hạ lòng như lửa đốt, hiện giờ trước mặt chúng ta chỉ có một con đường: bảo vệ đất nước, đánh bại quân địch.”

Các tướng lại hô: “Chúng tôi thề chết đi theo đại tướng quân, bảo vệ đất nước, đánh bại quân Tề!”

“Tốt lắm!” Bàng Quyên nói lớn. “Bảy vạn quân Tề đóng ở bên kia bờ Tế Thuỷ, thời khắc để các tướng thực hiện lời hứa đã ở ngay trước mắt. Các tướng nghe lệnh!”

Chư tướng nhiệt huyết sôi sục, lại hô vang: “Có mạt tướng!”

Bàng Quyên lại đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, rồi từ từ nhìn vào vị tướng đứng giữa: “Lý tướng quân, những thứ bản tướng dặn tướng quân chuẩn bị, đã đủ cả chưa?”

Lý tướng quân bước lên một bước, lớn giọng bẩm báo: “Bẩm tướng quân, một vạn bao bố đã gom đủ, xử trí thế nào, xin tướng quân hạ lệnh!”

“Tốt lắm!” Bàng Quyên lấy ra một lệnh tiễn.

“Tướng quân hãy dẫn theo hai ngàn quân sĩ, mang toàn bộ số bao bố tới Đường Ấp, đến nơi nhỏ hẹp ở thượng du, đổ đầy cát vào bao rồi mang chặn ngang dòng nước. Ngày hôm sau, đến giờ Mão, khi nhìn thấy khói trắng ở hạ lưu bốc lên, tướng quân hãy phá đập xả nước. Kẻ nào tiết lộ, chém!”

Lý tướng quân nói lớn: “Mạt tướng tuân lệnh!” Rồi nhận lấy lệnh tiễn, cất bước đi ra.

Ánh mắt Bàng Quyên vừa nhìn đến, một vị tướng khác ở bên trái Lý tướng quân đã bước lên một bước: “Báo, mạt tướng đã chuẩn bị đủ hai mươi xe đá vôi, một nghìn xẻng gỗ, xử trí thế nào, xin tướng quân hạ lệnh!”

Bàng Quyên cầm lấy một lệnh tiễn: “Tướng quân mang theo một ngàn quân sĩ, nghiền đá vôi thành bột, mỗi người cầm theo một cái xẻng, đến giờ Mão ngày hôm sau mai phục ở rừng cây hoè phía sau đê. Kẻ nào tiết lộ, chém!”

Tướng quân dạ một tiếng, nhận lấy lệnh tiễn rồi quay người bước đi.

Ánh mắt của Bàng Quyên nhìn sang viên tướng ở bên trái: “Phùng tướng quân!”

Phùng tướng quân bước ra đáp: “Có mạt tướng!”

“Tướng quân dẫn theo một trăm quân sĩ, giả làm trai tráng hương thôn, tiếp tục chặn dòng Tế Thuỷ ở chỗ cách Đường Ấp mười dặm về phía hạ lưu!”

Phùng tướng quân không hiểu, ngạc nhiên nhìn Bàng Quyên: “Tiếp tục chặn dòng nước?”

“Đúng thế, tiếp tục chặn dòng nước!” Bàng Quyên cũng đưa cho hắn một lệnh tiễn. “Chiêu mộ dân chúng xung quanh, nói là muốn chặn nước ở đó để tưới ruộng. Có thể khua chiêng gõ trống, càng rầm rộ càng tốt!”

Phùng tướng quân suy nghĩ một lúc, dường như cũng đã hiểu ra, bèn nói lớn: “Mạt tướng tuân lệnh!” Rồi nhận lấy lệnh tiễn, quay người đi ra.

Ánh mắt Bàng Quyên từ từ di chuyển sang viên tướng ở ngoài cùng: “Phạm tướng quân!”

Phạm Tiêu vội bước lên một bước: “Có... có mạt tướng!”

“Những thứ cần thiết, tướng quân đã chuẩn bị đủ chưa?”

Phạm Tiêu chần chừ một lát, mặt đỏ phừng phừng, đáp: “Bẩm... bẩm... bẩm tướng quân, mạt tướng đã... đã... chuẩn bị đủ... một nghìn thùng nước... nước phân, xử... xử trí thế nào... xin tướng quân hạ... hạ...”

Phạm Tiêu vốn có tật nói lắp, lại cộng thêm nhiệm vụ khiến hắn không thể ngẩng đầu, vì vậy nói năng càng thêm lắp bắp. Các tướng phải cố nhịn cười, song càng cố nhịn lại càng tức cười hơn. Phạm Tiêu mặt đỏ như gấc, xấu hổ cúi gằm đầu.

Bàng Quyên đặng hắng một tiếng, lấy một lệnh tiễn đưa cho Phạm Tiêu: “Tốt lắm! Phạm tướng quân, tướng quân hãy mang theo một nghìn dũng sĩ, mỗi người cầm một chiếc gáo, bịt miệng các thùng phân thật kín. Cũng vào giờ Mão ngày hôm sau, mai phục trong các bụi cây phía ngoài bờ đê, chờ hiệu lệnh!”

Phạm Tiêu hốt hoảng, ngẩng đầu nói: “Tướng... tướng quân, mạt... mạt tướng khẩn... khẩn cầu tướng quân thu... thu hồi mệnh lệnh, mạt tướng nguyện... nguyện ra trận... giết địch, không... không muốn... hắt... hắt thứ hôi thối...”

Phạm Tiêu nói không nên lời, các tướng đều không thể nhịn thêm được nữa, cùng cười phá lên.

Bàng Quyên cũng bật cười, nhìn Phạm Tiêu: “Phạm tướng quân, nếu tướng quân không làm, thì đại công sẽ rơi vào tay người khác đấy!”

Phạm Tiêu hơi sững người lại, hai mắt mở to nhìn Bàng Quyên: “Đại... đại công gì?”

“Bắt sống Điền Kỵ!”

Phạm Tiêu vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ: “Mạt... mạt... mạt tướng tuân... tuân lệnh!” Rồi vội vàng cầm lấy lệnh tiễn, phấn khởi quay người đi ra.

Thấy Phạm Tiêu đã đi xa, Bàng Quyên đưa mắt nhìn các tướng còn lại một lượt, nói lớn: “Chư vị tướng quân!”

Các tướng đồng thanh hô: “Có mạt tướng!”

Bàng Quyên chậm rãi đứng lên: “Tất cả dẫn theo binh mã của mình, giờ Thìn ngày mai theo bản tướng ra sau đê bày binh diễn trận, lấy cờ hiệu làm lệnh, cờ tiến người tiến, cờ lui người lui, kẻ nào làm trái, chém!”

Các tướng cùng đáp: “Mạt tướng tuân lệnh!”

Ở bờ bắc Tế Thuỷ, liên tục có người đi thám thính tình hình trở về. Điền Kỵ hỏi kỹ càng, biết được Ngụy Huệ Vương treo thưởng chiêu mộ hiền tài, Bàng Quyên gỡ cáo thị mà được Ngụy Huệ Vương phong làm tiên phong ba quân. Đồng thời được biết, mặc dù Ngụy Huệ Vương phong Bàng Quyên làm tiên phong, nhưng lại không cho lấy một binh một tốt, Bàng Quyên chỉ một thân một mình đến Hoàng Trì.

Điền Kỵ xua tay bảo tai mắt lui ra, suy nghĩ một lúc, nói với Điền Tích Cương: “Điện hạ, theo vi thần dự đoán, hành động lần này của Ngụy Vương chỉ có một cách giải thích, đó là hiện giờ vẫn chưa tin tưởng Bàng Quyên!”

Thái tử Tích Cương chưa kịp lên tiếng, tham quân tiếp tục dẫn một tên do thám vào, nhanh chóng chứng thực dự đoán của Điền Kỵ: “Báo, Đại Lương và các thành ấp ở xung quanh bắt đầu từ ngày mai sẽ phòng thủ sẵn sàng, tất cả cổng thành đều đóng chặt, không cho bất cứ người không liên quan nào ra vào. Ngụy Huệ Vương thân mặc chiến bào, đích thân lên thành thị sát.”

Sau khi tai mắt lui ra, Tích Cương ngẩng nhìn Điền Kỵ, ánh mắt đầy hoài nghi: “Nếu Ngụy Vương không tin tưởng Bàng Quyên, Bàng Quyên lấy đâu ra ba vạn đại quân?”

Điền Kỵ mỉm cười: “Bẩm điện hạ, điều này vi thần cũng đã nghĩ đến. Vi thần cho rằng, nhất định là Long Giả thân mang trọng thương, cận kề cái chết, nên đã tạm thời giao lại quyền điều động ba quân cho Bàng Quyên.”

Tích Cương khẽ chau mày: “Trận chiến này liên quan đến sự tồn vong của nước Ngụy, Long tướng quân chinh chiến sa trường đã nhiều năm, sao có thể dễ dàng trao ba quân cho kẻ khác?”

Điền Kỵ đáp: “Long Giả bị thương, vốn chẳng còn sức chỉ huy ba quân. Đại chiến cận kề, quân không thể một ngày không có tướng, mà trong quân Ngụy, quả thật Long Giả nhất thời chẳng thể tìm được người tài nào thích hợp, phó thác cho Bàng Quyên cũng là hợp lý.” Suy nghĩ một lát, lại nói tiếp. “Hơn nữa, Bàng Quyên lại là tiên phong do Ngụy Vương chỉ định, nếu chẳng may bại trận, Long Giả còn có chỗ mà ăn nói.”

“Đúng thế!” Tích Cương khẽ gật đầu. “Lời của đại tướng quân rất hữu lý, Tích Cương đồng ý. Đã như vậy, đại tướng quân đã có cách đối phó hay chưa?”

Điền Kỵ đang định trả lời, bỗng có tiếng vó ngựa dồn dập đến gần, lại có một tên do thám trở về, chạy vào trong trướng bẩm báo: “Báo, đại tướng quân quân Ngụy Long Giả đã chết tối qua, Ngụy Vương phong Bàng Quyên làm đại tướng quân!”

Điền Kỵ kinh ngạc, liếc nhìn Tích Cương, xua tay nói: “Biết rồi!”

Do thám vừa lui ra, quân uý phụ trách theo dõi lòng sông vội chạy vào trướng bẩm báo: “Báo, nước sông Tế Thuỷ đã rút hơn một thước!”

Nước sông Tế Thuỷ trong vòng một ngày đã rút hơn một thước, rõ ràng là sự bất thường.

Điền Kỵ cau mày, nói với Tích Cương: “Đi, xem thế nào!”

Mọi người đi đến bờ sông, quả nhiên thấy nước đã rút xuống rất nhiều, mực nước tại cọc mốc đúng là đã rút xuống một thước, cũng có nghĩa là ngang với tổng mức nước rút của mười ngày trước cộng lại.

Điền Kỵ ngẩng đầu nhìn trời, không một gợn mây, chỉ có vầng mặt trời đang hắt ánh nắng chói chang xuống đầu.

Tích Cương quay sang quân uý bên cạnh: “Đã bao lâu không có mưa rồi?”

“Khởi bẩm điện hạ, hơn một tháng rồi!”

Trời đang mùa nóng bức, đã hơn một tháng không một hạt mưa, nước sông rút nhanh cũng là điều dễ hiểu. Tích Cương gật đầu, nhìn sang Điền Kỵ, nhưng lại thấy Điền Kỵ chau tít đôi mày, mắt nhìn chằm chằm xuống dòng sông, liền gọi: “Điền tướng quân!”

Điền Kỵ chỉ vào dòng sông: “Điện hạ nhìn xem, nước sông rất đục.”

Tích Cương nhìn kỹ, quả nhiên nước sông đục ngầu, thì băn khoăn hỏi: “Nước sông đục với không đục thì có liên quan gì?”

“Khởi bẩm điện hạ,” Điền Kỵ đáp, “nước sông rút nhanh, lại đột nhiên vẩn đục, chỉ có một nguyên nhân, đó là đang có người xây đập ở thượng lưu, muốn dùng dòng nước nhấn chìm chúng ta!”

“Ồ?” Tích Cương thất kinh. “Nếu như vậy, chúng ta phải đối phó thế nào?”

“Điện hạ yên tâm!” Điền Kỵ cười nhạt. “Nước đến thì đất chắn, cho dù người Ngụy có đắp đập, vi thần cũng có cách đối phó!” Rồi quay sang viên tham quân bên cạnh. “Nhanh chóng phái người lên thượng lưu, thám thính xem phải chăng có người đắp đập?”

Tham tướng vâng lệnh, gấp rút chạy đi.

Chưa đến nửa ngày, thám mã đã trở về bẩm báo: “Báo, ở khoảng hai mươi dặm phía thượng lưu quả nhiên có người Ngụy khua chiêng gõ trống, chặn sông đắp đập.”

Điền Kỵ hỏi rõ về địa điểm đắp đập, thở phào mà hỏi: “Là những người nào?”

Thám mã đáp: “Tất cả đều là dân đinh. Nghe họ nói, hoa màu trong ruộng đã khô héo, lý trưởng muốn họ đắp đập ở đó để dẫn nước vào ruộng.”

“Tiếp tục thám thính!”

Thám mã vâng lệnh, lui ra khỏi trướng.

Tích Cương chau mày nói: “Điền tướng quân, người Ngụy cho đắp đập ở nơi hiểm yếu này, cho dù là dân đinh, chúng ta cũng nên đề phòng!”

Điền Kỵ cười nói: “Điện hạ yên tâm! Nếu người Ngụy muốn chặn nước dìm chết chúng ta, tuyệt đối sẽ không hành động giữa ban ngày ban mặt, càng không để cho dân đinh nhúng tay vào. Hơn nữa, cho dù có xây đập, cũng không thể lựa chọn ở vị trí đó được. Vi thần đã đích thân tới đó kiểm tra, sông rộng nước sâu, chỉ với sức của mấy trăm người, đừng nói là ba ngày, cho dù là mười ngày cũng không thể đắp xong. Ba quân của ta vượt sông chưa quá nửa ngày, đợi khi họ xây đập xong, e rằng đại quân đã đến Đại Lương rồi!”

Tích Cương nghe nói có lý, gật đầu nói: “Ừ, nếu vậy thì tốt. Có người Ngụy ngăn chặn thế nước, ta lại càng dễ qua sông.”

Đang lúc trò chuyện, phía bờ sông đối diện đột nhiên có tiếng người huyên náo. Một lát sau, tham tướng vào bẩm báo: “Báo, quân Ngụy điều binh khiển tướng ở sau bờ đê, dường như đang diễn tập thế trận!”

Điền Kỵ rất thích quan sát thế trận, nghe tin báo lập tức lên đài quan sát. Đài quan sát đã được Điền Kỵ ra lệnh sửa sang lại, không những cao hơn trước ba trượng, trên đỉnh còn có một cọc gỗ cao hai trượng, trên đầu cọc gỗ có lắp con lăn. Điền Kỵ trèo lên đỉnh đài, ngồi vào trong giỏ treo, mấy tên lính phía dưới ra sức kéo dây thừng, con lăn liền kéo giỏ treo lên đến đỉnh cột gỗ, Điền Kỵ giống như đang treo lơ lửng giữa không trung.

Thị lực của Điền Kỵ vốn rất tốt, nay lại được đứng trên cao phóng mắt nhìn đi, thoáng chốc đã quan sát thấy toàn bộ tình hình phía bờ đối diện. Sau bờ đê, thấy cờ bay phấp phới, vô số binh mã chạy qua chạy lại hệt như con thoi. Điền Kỵ nhìn suốt nửa canh giờ, cuối cùng cũng nhận ra một chút đầu mối, đoán rằng người Ngụy đang bày trận Nhạn Tường. Trận Nhạn Tường có hình chữ “nhân”, trông giống như bầy chim nhạn bay trên trời, dùng cung, nỏ, thương làm binh khí chủ yếu, thích hợp phòng ngự ở vùng bằng phẳng, dốc. Điền Kỵ lại nhìn thêm một lúc, thấy thế trận không có gì biến hoá, liền mỉm cười, ra hiệu hạ xuống.

Ngày hôm sau, khi trời vừa sáng, từ phía bờ đối diện lại có tiếng người hô ngựa hí. Điền Kỵ tiếp tục lên giỏ treo, thấy đối phương đã đổi thế trận. Thoạt nhìn đã biết, là trận Loan Nguyệt hình trăng khuyết, binh lực được bố trí theo hình vòng cung, phải trái đối xứng, vầng trăng khuyết dày hơn ở giữa có lợi cho phòng thủ, hai đỉnh trăng nhọn ở hai bên có lợi cho tấn công từ hai cánh. Thấy thế trận của đối phương vẫn không có gì biến hoá, bèn ra hiệu thả xuống.

Trở về đại trướng, Tích Cương ra ngoài trướng đón, hỏi: “Bàng Quyên cho tập trận gì vậy?”

Điền Kỵ đáp: “Nhìn thế trận cũng rất bình thường, hôm qua là trận Nhạn Tường, hôm nay chuyển sang trận Loan Nguyệt.”

Tích Cương cũng hiểu sơ qua về trận thế, thấy Điền Kỵ báo tên thế trận, lập tức cảm thấy yên tâm, nhưng miệng vẫn nói: “Bàng Quyên đã dám thách đấu trận, chắc chắn cũng có một số thủ đoạn, tướng quân phải cẩn thận đề phòng!”

Điền Kỵ cười nói: “Điện hạ có điều không biết, hành binh bố trận không phải trò trẻ con, đó là hợp lực. Nếu muốn đạt đến công phu thực sự, không phải chỉ năm ba ngày là có thể thành công. Quân Ngụy liên tiếp bại trận, tướng quân trên dưới hỗn loạn, quá nửa bị thương, nếu muốn bố trận, chắc chắn sẽ phải chắp vá. Bất kể là trận nào, chỉ cần chắp vá, sẽ trở thành một đám ô hợp. Hơn nữa, Bàng Quyên mới đến doanh trại, chưa lập được chút công trạng nào mà lại phát hiệu lệnh, mọi người chắc chắn sẽ không phục. Tướng không phục được quân là điều đại kỵ trong dùng binh, làm sao có thể thành thế trận?”

Tích Cương thấy Điền Kỵ nói có lý, nên càng thấy yên tâm, cùng Điền Kỵ cười cười nói nói đi vào đại trướng, bàn cách phá địch.

Sáng sớm hôm sau, bầu trời không một gợn mây, trên bãi sông gió nam lồng lộng, khiến người ta tâm thần sảng khoái. Vì sắp lâm trận kịch chiến, nên phần lớn tướng sĩ đều suốt đêm không ngủ, trời còn chưa sáng đã mặc giáp cầm thương, nai nịt gọn gàng, đi đến bờ sông, xoa tay giậm chân, chuẩn bị vượt qua Tế Thuỷ, giết địch lập công.

Điền Kỵ phái người tiếp tục kiểm tra Tế Thuỷ, tin báo về nói rằng lại cạn hơn một thước so với ngày hôm qua, chỗ sâu nhất cũng chỉ đến rốn, đừng nói là người, ngay cả chiến xa cũng có thể nhanh chóng vượt qua.

Điền Kỵ khẽ chau mày, nhưng lập tức lại giãn ra. Thế nước như vậy, ba quân vượt sông sẽ không mất quá nửa canh giờ. Cho dù ở thượng lưu xả nước, thì khi nước chảy đến đây cũng đã muộn rồi. Ba quân chỉ cần vượt được qua sông, chiến thắng đã nắm chắc đến chín phần mười, vì vậy Điền Kỵ cũng chẳng cần bày ra những thuật kỳ công như đánh lén, đánh vu hồi, mà chỉ muốn mặt đối mặt quyết chiến với quân Ngụy một trận, để quân Ngụy phải thua tâm phục khẩu phục.

Mặc dù trời đã sáng, nhưng còn lâu mới đến thời gian Bàng Quyên hẹn đấu trận. Điền Kỵ ngẫm nghĩ một thoáng, rồi để chắc chắn hơn, lại cùng Tích Cương lên đài quan sát.

Lên đến đài quan sát, Điền Kỵ tiếp tục ngồi vào giỏ treo như ngày hôm trước.

Trong ánh ban mai, Điền Kỵ phóng mắt dõi ra xa, thấy quân Ngụy đã bày sẵn trận thế dọc theo bờ sông. Điền Kỵ quan sát kỹ lưỡng một hồi, phát hiện trận này đã khác so với hôm qua, hình giống như con hổ mọc thêm cánh, đầu hổ thò xuống sông, đuôi hổ đặt ở sau đê, dường như còn hơi chuyển động.

Điền Kỵ quan sát một lúc, chậm rãi trở xuống, Tích Cương vội hỏi: “Điền tướng quân, quân Ngụy bày trận gì vậy?”

“Khởi bẩm điện hạ!” Điền Kỵ đáp. “Hôm nay đã chuyển thành trận Hổ Dực. Đây là trận pháp thượng cổ, đúng là có một số thủ đoạn.”

“Ồ?” Tích Cương ngạc nhiên. “Vậy phải phá thế nào?”

Điền Kỵ cười nói: “Điện hạ yên tâm, tất cả đều chỉ là mẽ bên ngoài. Vi thần đã biết trận này, tự sẽ có cách phá giải!” Rồi quay sang tham quân. “Truyền lệnh, ba quân dàn thành trận Long Đằng, miệng rồng đối với đầu hổ, nghe tiếng trống thì qua sông!”

Tham quân vâng lệnh, quay người đi truyền lệnh. Một lúc sau, bốn vạn đại quân cùng hàng ngàn chiến xa của quân Tề đã sắp xếp thành trận thế Đằng Long, dàn ở ven bờ

Thấy giờ Mão đã đến, Điền Kỵ vòng tay nói với Tích Cương: “Vi thần xin đi phá trận trước, đợi sau khi bắt được Bàng Quyên, công chiếm Hoàng Trì, sẽ lại nghênh tiếp điện hạ!”

Tích Cương đáp lễ: “Chúc đại tướng quân mã đáo thành công!”

Điền Kỵ bước lên chiến xa, rút bảo kiếm, vung về phía trước. Bờ bắc Tế Thuỷ lập tức trống nổi dồn dập, bốn vạn đại quân theo trận hình Long Đằng tiến xuống lòng sông chỉ rộng chừng vài dặm. Thoáng chốc, thiên quân vạn mã đã tràn xuống lòng sông, bọt nước mờ mịt, khí thế hùng hồn.

Thấy quân Tề đã sắp tới giữa dòng, trận quân Ngụy không những không tiến xuống bãi sông, mà ngược lại còn lui về phía sau ba trăm bước. Điền Kỵ đang băn khoăn, thì viên quân uý lần trước gửi chiến thư lại tiếp tục phi ngựa tới bờ sông, lớn giọng nói với Điền Kỵ: “Người Tề nghe rõ đây! Đại tướng quân có lệnh, quân lính Đại Ngụy là đội quân nhân nghĩa, không đánh úp trong lúc qua sông. Các ngươi có thể an tâm qua sông, sau khi thành trận sẽ quyết chiến!”

Rõ ràng là tỏ vẻ khinh miệt công khai đối với người Tề.

Điền Kỵ bừng bừng giận dữ, lập tức đánh ngựa ruổi xe, dẫn đầu lao về phía bờ đối diện. Các tướng nhìn thấy, ai nấy dũng khí dâng trào, tranh nhau đi trước, chưa tới một khắc, đội quân tiên phong đã vượt qua Tế Thuỷ, vẫn theo trận thế Long Đằng dàn quân dọc theo bờ sông, miệng rồng đối diện với đầu hổ.

Quân Ngụy tiếp tục lui lại trăm bước, chừa cho người Tề phần bãi sông rộng lớn hơn nữa. Đợi sau khi ba quân nước Tề đều đã qua sông, hình thành thế trận, hai bên đồng thời nổi trống.

Dứt một hồi trống, chủ tướng hai bên tuân theo lễ tiết, lễ trước đánh sau, cả hai đều đánh chiến xa lên trước trận, đứng cách nhau một tầm tên bay.

Bàng Quyên vòng tay nói: “Tại hạ Bàng Quyên xin chào Điền đại tướng quân!”

Điền Kỵ chỉ vòng tay đáp lễ quấy quá, rồi trỏ mũi thương về phía thế trận quân Ngụy: “Trận mà Bàng tướng quân bày ra giống như trò trẻ con, vậy mà cũng dám đấu trận với bản tướng?”

Bàng Quyên đáp lễ: “Bàng Quyên xin nói trước, chỉ cần đại tướng quân nhận ra được trận này, Bàng Quyên lập tức bó tay chịu trói, mặc cho đại tướng quân trị tội.”

Điền Kỵ cười lớn một tràng: “Bàng tướng quân thật thú vị! Đây là trận Hổ Dực, vốn là trò đùa trẻ con ở đất Tề, có gì khó đâu?”

Nghe thấy ba chữ “trận Hổ Dực”, Bàng Quyên bật cười vang, sau đó khẽ vung tay, trong trận của quân Ngụy lập tức cờ xí rợp trời, góc trận nhanh chóng di chuyển, hai cánh hổ biến mất, đầu hổ thu lại, chẳng ra hình thù gì, không thể nhận ra là thế trận nào.

Thấy thế trận mới đã hình thành, Bàng Quyên lại vòng tay nói với Điền Kỵ: “E rằng đại tướng quân đã nhìn lầm rồi, trận này không gọi là trận Hổ Dực. Vì lúc nãy có chút biến hoá, nên Bàng Quyên cho đại tướng quân thời gian một khắc để quan sát. Nếu đại tướng quân trong vòng một khắc có thể biết được trận này, Bàng Quyên sẽ giơ tay chịu trói như lời hứa, tuỳ ý đại tướng quân trị tội.”

Bàng Quyên nói xong, lập tức quay ngựa trở vào trong trận, đặt một chiếc đồng hồ cát trước trận, bắt đầu tính giờ. Điền Kỵ nộ hoả ngùn ngụt, nhưng lại không thể phát tiết, đành phải quay ngựa trở về trận, trèo lên một cỗ xe cao đặc chế, quan sát thế trận quân Ngụy, quả nhiên thấy trận này vô cùng quái dị, hoàn toàn không thể nhận ra.

Điền Kỵ còn đang vắt óc suy nghĩ, thì thời gian đã hết.

Bàng Quyên đánh xe ra trước trận, vòng tay nói với Điền Kỵ: “Điền đại tướng quân, đã hết một khắc, có biết là trận gì không?”

Điền Kỵ nổi tiếng thiên hạ vì tài bày trận, nhưng lúc này, đứng trước thế trận hai quân, đối mặt với tướng sĩ của hai bên, ngay cả trận thế của một kẻ vô danh cũng không biết, nhất thời thấy mất mặt, vừa thẹn vừa tức, mặc dù khó xử, nhưng vẫn không đánh mất phong độ đại tướng quân, lập tức đánh xe lên trước, hơi vòng tay mà nói: “Trận này quái dị, tại hạ không biết, xin hỏi Bàng tướng quân bày trận gì vậy?”

Bàng Quyên đáp một lễ: “Trận này do đích thân Ngô Khởi tướng quân bày ra, đại tướng quân không biết cũng là chuyện đương nhiên!”

“Ngô Khởi tướng quân đích thân bày ra?” Điền Kỵ ngẩn người, trầm tư hồi lâu, ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên. “Bàng tướng quân chớ lừa ta. Ngô Khởi tướng quân đã quá cố nhiều năm, làm sao có thể bày trận này? Hơn nữa, tất cả những trận Ngô Khởi tướng quân đã bày, tại hạ đều biết cả, nhưng chưa từng gặp trận này.”

“Ha ha ha ha!” Bàng Quyên cười lớn. “Thế gian rộng lớn, chẳng có gì là không thể, việc mà đại tướng quân không biết, đâu chỉ có cái này? Ngô Khởi tướng quân trong mơ đã ban cho tại hạ binh thư, truyền cho kỳ trận, đại tướng quân sao có thể biết được?”

Điền Kỵ thầm giật mình, cũng vì cảm thấy hiếu kỳ, nên thoáng ngẫm nghĩ một lát rồi vòng tay nói: “Xin hỏi Bàng tướng quân, đây là trận gì?”

Bàng Quyên lại cười lớn một tràng, cười xong mới nói: “Trận này tên là trận Phân Rùa, chuyên dùng để bắt sống Điền đại tướng quân!”

Thì ra, Bàng Quyên cũng là một kẻ mưu mô, biết Điền Kỵ tinh thông trận thế, liền nhớ lại bức hình kỳ quái do Trương Nghi cấu kết với Tô Tần vẽ ra để lừa mình khi còn trong Quỷ Cốc, lập tức nảy ra một kế, rồi bày trận y theo hình đó. Còn về việc dùng đến phân, cũng là chủ ý nảy ra khi Bàng Quyên nhớ đến cái lần vì tìm kiếm binh thư mà vọc phải đống phân lợn trong hốc cây.

Trận rùa ấp trứng vốn là do Trương Nghi vẽ ra, căn bản chỉ là một hình vẽ bậy, Điền Kỵ làm sao có thể biết được? Bàng Quyên vừa nói ra tên trận, đến bản thân cũng không nhịn được, liền bật cười sằng sặc, rồi quay ngựa trở về trong trận.

Điền Kỵ dễ đâu chịu đựng được nỗi sỉ nhục này, mặt mũi tím tái, rút kiếm quát lớn: “Tên nhãi Bàng Quyên, hãy xem bản tướng bắt ngươi như thế nào!” Rồi quay sang tay trống. “Nổi trống!”

Trống trận nổi lên dồn dập, quân Tề hô dậy đất, thế như nước lũ, ồ ạt xông về phía trước. Võ binh phía Ngụy có vẻ không chống đỡ nổi, vội vã rút lui. Hàng vạn quần Tề lao vào trong trận quân Ngụy, tựa như vào chỗ không người.

Điền Kỵ ngẩng đầu vung thương, thúc giục tướng sĩ xông lên truy kích. Hàng vạn đại quân đã sắp lên tới bờ đê, đột nhiên thấy trong rừng cây hoè dọc đê, khói trắng bốc lên ngùn ngụt, lửa khói ngút trời. Mùa này gió đông nam đang thổi mạnh, gió thổi khói động, nhanh chóng ập lại gần. Nhìn thấy khói trắng, binh sĩ Ngụy đang rút lui vội vã rút ra tấm sa mỏng đã giấu sẵn trong tay áo trùm kín lên đỉnh đầu, mặt cúi xuống phủ phục trên đất. Quân Tề đang lúc ngỡ ngàng, khói trắng đã đến, chớp mắt đã trùm kín toàn bộ bãi sông. Điền Kỵ đột nhiên cảm thấy hai mắt cay sè, lúc này mới biết là trúng kế, vội vàng lui quân, nhưng đã không còn kịp nữa. Bỗng chốc, binh sĩ cay mắt dụi lấy dụi để, ngựa chiến thảm thiết hí vang, hàng vạn đại quân lập tức trở thành người mù ngựa loà, di chuyển loạn xạ, nháo nhào đâm sầm vào nhau trên bãi sông.

Khói trắng vừa bay qua, người Ngụy thình lình nổi trống, binh lính đang rút lui lập tức quay lại, thẳng tay chém giết. Quân Tề đã không còn sức chống trả, không đánh tự loạn. Hàng ngàn chiến xa, hàng ngàn chiến mã, hàng vạn binh tốt chen chúc trên bãi sông rộng chỉ chừng hai dặm, người chen kẻ đẩy, người giẫm kẻ đạp, chết trận, bị thương nhiều không đếm xuể.

Đúng vào lúc này, đột nhiên lại thấy có mùi hôi thối theo gió bay tới. Người Tề còn chưa hiểu rõ nguyên nhân, đã thấy nước phân thối hoắc hắt tới xối xả, dính khắp mình mẩy tay chân. Phân đã bị người Ngụy khuấy sệt như hồ, vừa thối vừa trơn trượt, lỡ dính vào tay, đến giáo mác cũng không cầm chắc. Lại có rất nhiều quân sĩ vì không nhìn thấy nên chạy lầm vào trại quân Ngụy, hoặc bị chém chết, hoặc bỏ vũ khí đầu hàng.

Tướng sĩ quân Ngụy hò hét vang trời, càng đánh càng hăng. Điền Kỵ kinh hãi, không còn đếm xỉa tới đôi mắt cay sè, nhảy xuống chiến xa, cướp đường bỏ chạy, nhưng chưa chạy được mấy bước đã rú lên thảm thiết, cả người rơi xuống hố sâu.

Trong hố, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, rặt những phân. Điền Kỵ than một tiếng, đưa kiếm lên định tự sát, nhưng lại bị Phạm Tiêu phục sẵn bên miệng hố vung câu liêm đánh rơi thanh kiếm. Tiếp sau đó, cả một đám đông lính Ngụy xúm lại, cùng vung câu liêm móc chặt lấy áo giáp, kéo Điền Kỵ lên trên miệng hố, không chút chần chừ, dùng dây trói nghiến lại.

Nhìn thấy Điền Kỵ khắp người nhơ nhớp những phân, hai mắt nhoè nhoẹt, bị dây thừng trói chặt, tướng sĩ quân Ngụy càng thêm hưng phấn, đồng thanh hô lớn: “Phạm tướng quân đã bắt sống được Điền Kỵ rồi! Phạm tướng quân đã bắt sống được Điền Kỵ rồi!”

Nghe thấy tiếng hô, quân Tề càng thêm kinh loạn, những kẻ mắt chưa bị thương cố gắng dắt những kẻ mắt loà chạy trở về sông Tế Thuỷ. Quân Tề ở phía bờ đối diện nhìn thấy tình thế bất lợi, lập tức nhảy xuống sông tiếp ứng. Thoáng chốc, ở cả hai bờ Tế Thuỷ, quân Tề đã ồ ạt tràn xuống lòng sông như bầy vịt giỡn nước.

Thấy quân Tề xuống nước, quân Ngụy không những không lui, ngược lại còn tìm cách dồn ép đám lính Tề còn ở trên bờ chưa nhận ra phương hướng quay trở xuống sông. Vì nước sông không sâu, nên quân Tề xuống nước còn chạy thục mạng được thêm một đoạn. Chạy được một lúc, thấy quân Ngụy không đuổi theo nữa, quân Tề cũng thấy yên tâm phần nào, vội vàng ngâm mình xuống nước, người rửa mắt, kẻ giũ phần, hoặc rửa vết thương. Thoáng chốc, trên mặt sông rộng lớn đã kín đặc bóng người, dòng nước trong veo nhanh chóng vẩn đục màu phân và máu.

Các tướng sĩ vừa ngâm mình trong nước rửa ráy, vừa chửi rủa quân Ngụy thủ đoạn đê hèn, thắng không oanh liệt. Kẻ mắng người chửi ồn ào, chẳng ai chú ý tới tiếng nước ầm ầm đang từ thượng nguồn đổ tới. Đến khi có kẻ nhìn thấy một ngọn sóng lớn cuồn cuộn kéo về, thì đã quá muộn. Cách đó ba mươi dặm về phía thượng lưu, dòng nước đã được chặn suốt hai ngày nay giờ ồ ạt xả xuống, thế như trâu lồng, chớp mắt đã tràn đầy nửa lòng sông. Đáng thương cho hàng vạn quân Tề lại gặp phải kiếp nạn, quẫy đạp điên cuồng trong dòng nước sâu hơn trượng. Chưa đến nửa tuần hương, trên suốt mấy chục dặm mặt sông về phía hạ lưu, xác chết lập lờ ken kín mặt nước, tình cảnh thê thảm khôn xiết kể.

Nước lũ vừa ào qua, quân Ngụy nhanh chóng vượt sông, toàn lực truy kích số quân Tề còn sót lại. Quân Ngụy truy sát đương hăng, đột nhiên nghe thấy tiếng chiêng thu quân. Quân Ngụy đành phải lui quân. Các tướng không hiểu, đua nhau đánh ngựa tới chỗ Bàng Quyên, lớn tiếng hỏi: “Chúng tôi đang định bắt sống Điền Tích Cương, đại tướng quân sao lại gõ chiêng?”

Bàng Quyên cười nói: “Binh tướng Đại Ngụy là đội quân nhân nghĩa, sao có thể đuổi cùng giết tận?”

Nhưng các tướng chẳng ai cười nổi, chỉ nhìn Bàng Quyên với ánh mắt đầy hoài nghi.

Bàng Quyên thu nụ cười lại, nói với Trương Mãnh: “Trương tướng quân, tướng quân dẫn năm nghìn quân đi thu dọn chiến trường, bắt sống những tên còn lại!” Rồi quay sang tham quân. “Truyền lệnh cho các bộ quân, người không cởi giáp, ngựa không tháo yên, cuốn cờ im trống, cùng tiến về Triều Ca!”

Lúc này các tướng mới hiểu ra nguyên nhân gõ chiêng thu quân, ai nấy đều phấn khởi, đồng thanh hô lớn: “Mạt tướng tuân lệnh!”

Lời vừa dứt, ba quân tướng sĩ lập tức quay ngựa, lao như bay về phía cửa Túc Tư, thế như gió giật sấm rền.

Ba ngày sau, tại chính điện trong vương cung Đại Lương của Đại Ngụy, tư đồ Chu Uy tay cầm hai bản chiến báo, cao giọng bẩm tấu: “Khởi bẩm bệ hạ, đại tướng quân Bàng Quyên đã đại thắng ở Hoàng Trì, chém đầu một vạn một nghìn năm trăm quân địch, dìm chết hai vạn năm nghìn ba trăm tên, bắt sống một vạn ba nghìn hai trăm mười tên, bắt sống tướng Tề Điền Kỵ, truy đuổi thái tử nước Tề Điền Tích Cương, khiến tàn quân thục mạng chạy trốn. Lại đại thắng ở Triều Ca, chém đầu một vạn ba nghìn sáu trăm tên, bắt sống sáu nghìn năm trăm năm mươi tên, đánh đuổi tướng Triệu Phụng Dương Quân, tàn quân bỏ chạy tháo thân. Hai nước Tần, Hàn đang xâm phạm biên giới nước ta, hay tin đều kinh sợ lui quân!”

Chu Uy vừa tấu xong, Ngụy Huệ Vương đã vỗ mạnh tay xuống bàn: “Tốt quá! Nỗi lo lắng trong lòng quả nhân, cuối cùng cũng đã được trút bỏ. Chu ái khanh!”

“Có vi thần!”

“Xây đài mừng công cho đại tướng quân, cả nước ăn mừng ba ngày, đại xá thiên hạ!”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

Mười ngày sau, Bàng Quyên khải hoàn trở về, Ngụy Huệ Vương ra tận ngoài thành ba mươi dặm nghênh đón, mời Bàng Quyên cùng lên xe kiệu. Dân chúng Đại Lương đứng dọc hai bên đường chào đón, người đông nghìn nghịt, cùng nô nức theo Bàng Quyên đến tận trước đài mừng công vừa mới hoàn thành.

Trước đài, tiếng trống tiếng nhạc vang trời. Ngụy Huệ Vương ngồi ngay ngắn trên cao, Bàng Quyên cùng các tướng đi tới trước đài, khấu đầu hô: “Mạt tướng khấu kiến bệ hạ, chúc bệ hạ vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!”

Ngụy Huệ Vương nhìn Bàng Quyên uy phong lẫm liệt, rất đỗi hài lòng, chìa tay nói: “Ái khanh bình thân!”

Bàng Quyên nói lớn: “Tạ ơn bệ hạ!”

“Đại tướng quân nghe chỉ!”

“Có mạt tướng!”

“Đại tướng quân xoay chuyển nguy cục, đánh lui cường địch, công ngang nhật nguyệt, thưởng năm trăm lượng vàng, một trăm tấm lụa gấm, năm mươi nô bộc!”

“Đa tạ long ân của bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương nhìn lướt qua bản danh sách những tướng sĩ lập công được thưởng: “Các tướng sĩ còn lại, quả nhân thuận theo thỉnh cầu của đại tướng quân, sẽ dựa theo công lao lớn nhỏ, tất cả mọi người đều được ban thưởng!”

Các tướng dập đầu: “Đa tạ long ân của bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương tiếp tục ban chỉ: “Thượng khanh Trần Chẩn hãm hại trung lương, coi mạng người như cỏ rác, tội đáng tru di. Nhưng gian tặc đã sợ tội bỏ trốn, để chỉnh đốn pháp kỷ, chuẩn theo bản tấu của Chu tư đồ, tru di cả nhà Trần Chẩn, lăng trì quản gia Thích Quang, hộ vệ Đinh Tam, tịch thu toàn bộ tài sản của Trần Chẩn nộp vào quốc khố, phủ đệ giao lại cho đại tướng quân Bàng Quyên sử dụng!”

Bàng Quyên dập đầu: “Đa tạ long ân của bệ hạ!”

Ngay đêm hôm đó, Bàng Quyên đi đến hình ngục, tới gian tử lao ngày trước từng giam giữ mình và Tôn Tân, nhìn thấy Thích Quang, Đinh Tam đều mang gông xiềng, sắc mặt xám ngo ét như người đã chết.

Bàng Quyên liếc xéo Thích Quang, cười nhạt một tiếng: “Hừm, đây chẳng phải là Thích gia ư?”

Thích Quang thường ngày dựa vào thế của Trần Chẩn để diễu võ giương uy, bây giờ sa cơ đến nước này, biết rằng đã không còn đường sống. Song nô tài vẫn chỉ là nô tài, nhìn thấy Bàng Quyên, biết rõ có cầu xin cũng vô dụng, nhưng Thích Quang vẫn lết hai đầu gối đến trước mặt Bàng Quyên, tự bạt tai mình: “Bàng đại tướng quân, tiểu nhân đáng chết, tiểu nhân đáng chết!”

Bàng Quyên nhìn ông ta, chỉ nhếch mép cười, đợi đến khi ông ta đánh mệt rồi, mới nói: “Đánh tiếp đi, ngươi đáng chết lắm!”

Thích Quang hốt hoảng, lại lết mấy bước lên phía trước, quỳ xuống dưới chân Bàng Quyên: “Đại tướng quân, đại nhân không chấp tiểu nhân, đại tướng quân đại nhân đại lượng, giơ cao đánh khẽ, xin hãy tha mạng cho tiểu nhân, tiểu nhân nguyện làm trâu làm ngựa cho đại tướng quân để báo đáp ơn tái sinh!”

Bàng Quyên thở dài, than một câu: “Than ôi, thật không thể ngờ, thời thế thay đổi, ngay cả Thích gia cũng phải quỳ xuống xin tha mạng, ha ha ha!” Rồi quay sang Bạch Hổ. “Bạch huynh đệ, Thích gia đã quỳ xuống cầu xin, Bàng mỗ cũng không thể không nể mặt. Đến ngày lăng trì, ba trăm nhát dao từ cổ trở lên không cần xẻo nữa, giữ lại cho ông ta cái đầu nguyên vẹn, để tránh khi cúng tế làm cha ta sợ hãi!”

Thích Quang ngã lăn xuống đất chết giấc.

Bàng Quyên cười nhạt một tiếng, giơ chân đá ông ta vào góc tường, đưa mắt nhìn sang Đinh Tam: “Họ Đinh kia, Thích gia đã quỳ rồi, cớ sao ngươi không quỳ?”

Vì đã có Thích Quang làm gương, nên Đinh Tam biết cầu xin cũng vô ích, quyết tâm giữ lấy thể diện nam nhi, liền gân cổ nói lớn: “Họ Bàng kia, hôm nay rơi vào tay ngươi, Đinh gia đã biết không còn đường sống. Muốn giết cứ giết, phí lời làm gì?”

Bàng Quyên gật đầu, cất giọng lạnh lẽo: “Nói ra được lời này, coi như ngươi cũng đáng mặt nam nhi!” Quay sang Bạch Hổ. “Bạch huynh đệ, hắn là một hảo hán, xương cứng da dày, hay là chuyển ba trăm nhát dao của Thích Quang sang cho hắn. Ba nghìn sáu trăm dao cộng thêm ba trăm dao, tổng cộng ba nghìn chín trăm nhát. Nhớ kỹ, sau khi xẻo xong, tiếp tục moi tim. Khi moi tim, tim của hắn nhất định phải còn đập, tại hạ muốn dùng trái tim sống của hắn để cúng tế tiên phụ!”

Điền Tích Cương dẫn đám tàn binh bại tướng tháo chạy thục mạng, thất thểu thảm hại trở về Lâm Truy.

Tề Uy Vương đang dùng cơm, nghe được tin dữ, kinh sợ đến nỗi cả một miệng cơm mắc nghẹn ngay cổ họng, mặt mũi tím tái. Điền Tích Cương vội chạy tới, vừa xoa ngực vừa đấm lưng, thấy Tề Uy Vương vẫn chưa thở được, cuống quýt đến nỗi chỉ biết quỳ xuống khóc rống lên.

Thái y vội vàng đến nơi, sau một hồi cứu chữa, cuối cùng Tề Uy Vương cũng đã từ từ thở được, miệng bật ra tiếng kêu: “Bàng... Quyên...”

Tích Cương bước lại gần, đang định đỡ Uy Vương, nhưng lại bị Uy Vương đưa tay gạt ra. Uy Vương không màng tới long thể, vội vã trở vào trong cung. Các trọng thần triều đình như tướng quốc Trâu Kỵ, thượng đại phu Điền Anh biết được hung tin cũng nhanh chóng đến cửa cung, đứng bên ngoài đợi yết kiến.

Uy Vương quả nhiên tuyên triệu. Mấy người khấu kiến, Uy Vương thần sắc nhợt nhạt nhìn các đại thần, hồi lâu vẫn không nói được lời nào. Đám trọng thần không thể đứng lên, đành phải giữ nguyên tư thế quỳ sụp, mặt dán xuống đất, mông chổng lên trời, thi gan với Uy Vương.

Bóng nắng ngoài cửa đã dịch chuyển đến hơn một tấc, cuối cùng Uy Vương cũng thở dài: “Than ôi, tâm huyết hơn mười năm của quả nhân, đã tan tành chỉ trong phút chốc!”

Nghe thấy lời này, đám Trâu Kỵ đâu còn dám lên tiếng, lại càng chổng mông cao hơn, đến thở cũng không dám thở mạnh.

Ngụy Huệ Vương xua tay: “Chư vị ái khanh, các khanh... bình thân!”

Đám trọng thần lúc này mới tạ ân, từ từ đứng dậy, chậm chạp bước tới trước bàn ngồi xuống, cùng đưa mắt nhìn vào Uy Vương.

Uy Vương nhìn chúng thần một lượt, lại thở dài, chậm rãi nói: “Hôm nay thảm bại, tất cả đều là lỗi của quả nhân!”

Trâu Kỵ bẩm tấu: “Vi thần cho rằng, thất bại ở Hoàng Trì không phải là lỗi của bệ hạ, mà là lỗi của một mình Điền tướng quân. Điền tướng quân tự cậy mình là danh tướng trong thiên hạ, sau mấy trận thắng nhỏ đã kiêu ngạo khinh địch, nên mới dẫn tới nỗi nhục này.”

Uy Vương lại thở dài: “Việc đã đến nước này, là ai sai cũng chẳng có gì khác biệt. Chư vị ái khanh...”

Chúng thần đồng thanh: “Có vi thần!”

“Các khanh hãy bàn bạc xem, bây giờ phải xử trí thế nào cho thoả đáng?”

Chúng thần quay mặt nhìn nhau.

“Bệ hạ!” Trâu Kỵ tấu. “Vi thần cho rằng, đã có mở đầu thì phải có kết thúc. Mặc dù quân ta thất bại, nhưng quốc thế không bị tổn thương nghiêm trọng, quốc khố vẫn đầy, tiếp tục chiêu mộ mười vạn đại quân cũng chẳng phải việc khó. Ngược lại hãy nhìn nước Ngụy, chinh phạt liên miên, sớm đã dầu cạn lửa tàn, nay chỉ với sức của một mình Bàng Quyên, chẳng qua cũng chỉ là châu chấu đá xe. Theo kế của vi thần, bệ hạ có thể tiếp tục phát đại quân, lựa chọn tướng tài, quyết một trận thư hùng với Ngụy.”

“Bệ hạ, không được!” Thượng đại phu Điền Anh vội can. “Quan sát toàn bộ quá trình, Bàng Quyên là người giỏi mưu kế, dùng binh kỳ quái, đồng thời sau khi đại thắng, còn tha cho bại quân ta không truy đuổi, mà quay sang vượt đường trường tập kích Triệu, khiến Phụng Dương Quân không kịp đề phòng, suýt chút nữa đã bị bắt sống. Bàng Quyên dụng binh tới mức này, tuyệt đối chẳng phải hạng tầm thường!”

Tề Uy Vương hít vào một hơi dài, gật đầu nói: “Ái khanh nói rất đúng. Sau trận này mới biết, Bàng Quyên thực sự là báu vật của thế gian, Điền Kỵ không phải đối thủ của người này. Ái khanh có kế sách nào thoả đáng không?”

Điền Anh tiếp lời: “Khởi bẩm bệ hạ, quân Ngụy mới giành chiến thắng, khí thế đang cao, ngược lại sĩ khí quân ta nhất thời khó lòng khôi phục. Theo ý của vi thần, chúng ta hãy lấy lui để tiến, xuống nước cầu hoà, khẩn cầu Ngụy Vương thả Điền tướng quân và binh lính bị bắt. Ngụy Vương luôn tự cao tự đại, chỉ cần bệ hạ chịu xuống nước, chắc chắn ông ta sẽ đồng ý.”

Tề Uy Vương quay sang Tích Cương: “Thượng đại phu muốn quả nhân xuống nước cầu hoà, ý Cương Nhi thế nào?”

Điền Tích Cương đáp: “Nhi thần cho rằng, thượng đại phu nói rất có lý, xin phụ vương xem xét!”

Tề Uy Vương không nói thêm lời nào, khẽ nhắm mắt lại, một lúc sau chống tay xuống bàn, gắng gượng đứng lên. Nội thần vội tới đỡ, dìu Uy Vương đi tới cửa bên của cung điện. Chúng thần thấy vậy, vội vàng đứng dậy, nhất loạt quỳ xuống, khấu đầu tiễn Uy Vương. Tích Cương phát hiện, chỉ trong chốc lát Uy Vương đã già đi trông thấy, bước đi rất đỗi nặng nề.

Đúng vào lúc tiến vào cửa bên, Uy Vương ngoái đầu lại, hai mắt nhìn vào Điền Anh: “Chuẩn tấu ái khanh. Cụ thể thế nào, khanh hãy làm đi!”

Điền Anh dập đầu: “Vi thần lĩnh chỉ!”

Tề Uy Vương lệnh cho thượng đại phu nước Tề Điền Anh làm sứ thần đặc phái, đi sứ nước Ngụy cầu hoà. Điền Anh mang theo mấy rương vàng bạc châu báu cùng với bản đồ, hộ tịch của mười ấp biên giới nước Tề, đi miết không nghỉ, thẳng tới Đại Lương, vừa vào dịch quán, chỉ kịp nghỉ ngơi một lát, đã lại đánh xe tới bái kiến đại tướng quân.

Mấy ngày trước, Bàng Quyên đã vào ở trong phủ mới, cũng chính là phủ thượng khanh trước đây của Trần Chẩn. Nhờ có Thích Quang dày công thu vén, bài trí bên trong có thể nói là xa hoa cực độ, đầy đủ đình đài lầu gác, điện đường sảnh thất, ao hồ viên lâm, chim cỏ hoa lá, không thiếu thứ gì. Việc Bàng Quyên cần làm chẳng qua, chỉ là đổi tấm biển ở trên cổng thành “Phủ đại tướng quân”.

Khi Điền Anh đến, Bàng Quyên đang ở trong tông đường cúng tế cha. Điền Anh không nói một lời, lập tức lấy bộ quần áo tang của môn nhân mặc lên người, bảo người này dẫn đến tông đường.

Trên bàn thờ đặt song song ba chiếc đĩa chân cao bằng đồng xanh, đĩa bên trái đựng đầu của Thích Quang, đĩa bên phải đựng tim của Đinh Tam. Cả hai món đồ cúng này đều được hành hình vào giờ Ngọ, do Bàng Quyên tận tay cắt xuống. Chỉ có đĩa ở giữa là vẫn trống rỗng.

Khi Điền Anh đi vào tông đường, bên trong vẫn thấy bóng người lay động, nhạc tang ai oán, nghi thức lễ tế đã sắp đến hồi kết thúc.

Điền Anh thân mặc áo tang, khấu đầu trước bàn thờ.

Điền Anh tế bái xong, Bàng Quyên bước đến vòng tay đáp lễ, mời ông ta ngồi xuống bên bàn. Điền Anh nhìn lên bàn thờ, chỉ vào chiếc đĩa trống ở giữa: “Xin hỏi đại tướng quân, tại sao đĩa ở giữa lại để trống?”

Bàng Quyên đáp: “Thượng đại phu có điều không biết, đĩa này là tại hạ dành riêng cho Trần Chẩn. Lần trước tại hạ bận rộn chiến sự, đã để cho hắn chạy thoát. Lần sau hắn sẽ không được may mắn như vậy nữa.”

Điền Anh giả bộ không biết, tiện miệng hỏi: “Nghe nói Trần thượng khanh có xích mích với đại tướng quân, xem ra không phải tin đồn.”

Bàng Quyên nghiến răng nói: “Đâu chỉ là xích mích? Là mối thù giết cha! Trọng Ni có nói, ‘thù giết cha, không đội trời chung’, Trần Chẩn có chạy đến chân trời góc biển, tại hạ cũng nhất định phải bắt bằng được hắn, dùng máu để tế tiên phụ!” Suy nghĩ một lát, mới như sực nhớ ra, liền đưa mắt nhìn Điền Anh. “Lần này thượng đại phu đến hàn xá, chắc hẳn không phải chỉ để hỏi chuyện này?”

Điền Anh gật đầu: “Chỗ này không phải nơi trò chuyện, có thể làm phiền đại tướng quân một lát không?”

Bàng Quyên đứng dậy, dẫn Điền Anh vào phòng khách, chia ngôi chủ khách ngồi xuống, vòng tay hỏi: “Thượng đại phu, chỗ này nói chuyện được chưa?”

Điền Anh cũng vòng tay đáp lễ: “Lần này tại hạ đến, chỉ có một chuyện, đó là tế bái lệnh tôn!” Rồi quay ra ngoài cửa vỗ tay.

Hai tên thuộc hạ khiêng một rương lễ vật vào trong, sau đó lui ra.

Điền Anh chỉ vào chiếc rương: “Chút lễ mọn này, khó lòng thể hiện thành ý, xin được dùng làm vật cúng tế lệnh tôn, mong tướng quân nhận cho!”

Bàng Quyên bước tới mở ra, thấy toàn là vàng bạc châu báu, liền đóng nắp rương lại, mỉm cười nói: “Bàng Quyên đa tạ đại lễ của thượng đại phu!” Rồi quay sang người hầu bên cạnh. “Dâng trà!”

Người hầu bưng trà lên, Điền Anh nhấp một ngụm, đặt chén trà xuống, nhìn Bàng Quyên, khẽ thở dài: “Than ôi!”

Bàng Quyên hỏi: “Thượng đại phu sao lại thở dài?”

Điền Anh lại thở dài sườn sượt, rồi mới nói: “Lúc nãy khi tế bái lệnh tôn, tại hạ nhìn thấy chiếc đĩa trống ở giữa, trong lòng rất đỗi cảm thán.”

“Thượng đại phu có điều gì cảm thán, có thể nói cho tại hạ nghe chăng?”

“Đại tướng quân nhiều năm chịu oan, nay đã được rửa, đích thân trừ khử kẻ thù giết cha, thật là khoái trá! Trần Chẩn dù đã chạy thoát, nhưng vợ con hắn và Thích Quang, Đinh Tam lại bị giết cả họ, thật thảm thương thay!”

Bàng Quyên nghe thấy vậy, chậm rãi nói: “Thượng đại phu có gì xin cứ nói!”

“Người ta bảo oan có đầu, nợ có chủ! Đại tướng quân vì báo thù cha mà xuống tay giết hại cả họ nhà Trần Chẩn, Thích Quang. Nay nước Tề có hàng vạn tướng sĩ cũng bị mất mạng, hàng vạn vạn gia đình tan nát, nếu như người nước Tề ai nấy cũng đều muốn báo thù như đại tướng quân, nước Ngụy há chẳng máu chảy thành sông?”

Bàng Quyên cười vang mà nói: “Thượng đại phu nói sai rồi. Trần Chẩn là quốc tặc của Đại Ngụy, hạng Thích Quang, Đinh Tam đều là những kẻ ác ôn bỉ ổi, Bàng Quyên trừ khử họ là trừ gian cho nước, trừ hại cho dân, người dân nước Ngụy ai nấy đều sung sướng, sao có thể so sánh với việc tử thương trên chiến trường?”

Điền Anh đáp: “Sống chết trên chiến trường đương nhiên là chuyện khác. Có điều, hơn vạn tướng sĩ Tề đã hạ bỏ vũ khí, đang bị tướng quân giam giữ, nếu như họ có nhà mà không về được, chết oan chết uổng...”

“Ồ...” Bàng Quyên ra vẻ ngạc nhiên. “Ý của thượng đại phu là, người nhà của họ cũng sẽ tìm Bàng Quyên ta báo thù ư?”

“Đúng thế!”

Bàng Quyên bước lên một bước: “Vậy theo ý của thượng đại phu, nên xử trí thế nào?”

“Điền tướng quân và các binh tướng khác xâm phạm biên cương, mặc dù phạm tội chết đối với Ngụy, nhưng cũng đều là phụng chỉ hành sự, mong đại tướng quân nghĩ tới cha mẹ vợ con của họ, mở cho họ một con đường sống. Nếu những tướng sĩ này có thể bảo toàn tính mạng, chắc chắn sẽ cảm tạ ân đức của đại tướng quân, ca tụng lòng nhân nghĩa của đại tướng quân.”

“Thượng đại phu nói rất đúng!” Bàng Quyên suy nghĩ một lúc, gật đầu nói. “Thượng đại phu yên tâm, tại hạ đảm bảo Điền tướng quân và mọi tướng sĩ ngày có đủ ba bữa cơm, đêm không mất ngủ, không hao hụt lấy một cọng tóc. Tuy nhiên, tội chết có thể tha hay không, lại không thể do tại hạ quyết định. Thượng đại phu có thể khẩn cầu với bệ hạ, chỉ cần bệ hạ gật đầu, tại hạ sẽ đích thân mở tiệc rượu tiễn Điền tướng quân!”

Điền Anh vòng tay vái tạ: “Tấm lòng nhân hậu của đại tướng quân, chắc chắn sẽ được báo đáp!”

Bàng Quyên cũng đáp lễ: “Đa ta thượng đại phu khen ngợi!”

Ngày hôm sau, trong buổi đại triều, Ngụy Vương tuyên sứ giả nước Tề vào yết kiến.

Điền Anh khấu kiến, Ngụy Huệ Vương liếc xéo ông ta, cất giọng mỉa mai: “Thượng đại phu chắc không phải đến để gửi chiến thư đấy chứ?”

Điền Anh lại dập đầu: “Khởi bẩm Ngụy Vương bệ hạ, bệ hạ của thần nghe lời sàm tấu, đã mạo phạm tới thần uy của đại vương, cảm thấy vô cùng hối hận. Nay cử vi thần tới yết kiến đại vương, thành tâm nhận lỗi, mong đại vương không trách tội, vẫn giữ mối liên minh trước đây.”

Ngụy Huệ Vương ngửa cổ lên trời cười lớn: “Bệ hạ của ngươi thành tâm nhận lỗi, quả nhân còn có thể nói thêm gì nữa? Tuy nhiên, quả nhân rất muốn biết, bệ hạ của ngươi lấy gì để tỏ thành ý đây?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Điền Anh tiếp lời, “bệ hạ của thần nguyện dâng mười ấp biên giới cho đại vương, cầu xin đại vương khoan hồng cho Điền Kỵ tướng quân và những tướng sĩ bị bắt sống, giúp họ được đoàn tụ với gia đình, tránh khỏi nỗi khổ cốt nhục ly tán!” Rồi lấy từ trong tay áo ra tấm bản đồ mười ấp biên cương. “Đây là bản đồ mười thành, xin đại vương hãy xem.”

Ngụy Huệ Vương lắc đầu: “Mười thành này là bảo bối gan ruột của bệ hạ các ngươi, quả nhân làm sao có thể chiếm đoạt vật yêu của người khác?”

Điền Anh hơi sững lại: “Vậy... bệ hạ muốn có vật gì?”

“Trong buổi hội vương ở Từ Châu, quả nhân thành tâm ủng hộ Điền Nhân Tề xưng vương, nhưng Điền Nhân Tề lại không biết đủ, còn kì kèo với quả nhân, ép quả nhân từ bỏ nước Tống!”

Điền Anh suy nghĩ một thoáng, rồi dập đầu nói: “Bẩm Ngụy Vương bệ hạ, trước lúc lên đường, bệ hạ đã dặn dò vi thần, nước Tề sẽ không bao giờ nhúng tay vào chuyện nước Tống nữa, tuỳ ý đại vương xử trí.”

“Thế còn nước Vệ?”

Điền Anh vừa nghe đã thót tim, suy nghĩ thêm một lát, rồi nghiến răng mà nói: “Chỉ cần bệ hạ không tính toán những chuyện trước đây, Điền Anh sẽ bẩm lại với bệ hạ, việc nước Vệ sẽ nghe theo sắp xếp của đại vương!”

“Ồ?” Ngụy Huệ Vương hai mày dựng ngược. “Chút việc cỏn con này mà còn phải bẩm báo với Điền Nhân Tề ư?”

Điền Anh dứt khoát: “Việc của nước Vệ, nước Tề cũng sẽ nghe theo sự sắp đặt của đại vương!”

“Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương quay sang Chu Uy. “Chu ái khanh, truyền chỉ, hiểu dụ Vệ Công, nói rằng vùng đất nhỏ hẹp của ông ta không hợp với tước công, tự giáng một tước, đổi công thành hầu! Còn nữa, hạn cho ông ta trong vòng ba mươi ngày phải mang dâng tấm bản đồ năm mươi dặm vuông vùng Bình Dương. Bao nhiêu tướng sĩ của ta đã tuẫn thân dưới thành, cũng cần có lời an ủi!”

Chu Uy bước lên một bước: “Vi thần tuân chỉ!”

“Ha ha ha ha!” Ngụy Huệ Vương nhìn Điền Anh, phá lên cười lớn. “Tốt lắm, Điền Nhân Tề đã có thành ý như vậy, quả nhân cũng phải đáp lại bằng thành ý. Hãy xá miễn cho tất cả tù binh quân Tề!” Rồi quay sang Bàng Quyên. “Bàng ái khanh, Điền tướng quân có ở chỗ khanh không?”

Bàng Quyên bước lên một bước: “Khởi bẩm bệ hạ, bại tướng Điền Kỵ đang ở ngoài cung chờ yết kiến!”

“Tuyên vào yết kiến!”

Bàng Quyên nói lớn: “Vi thần lĩnh chỉ!” Rồi quay ra phía ngoài hô. “Bệ hạ có chỉ, tuyên bại tướng Điền Kỵ vào yết kiến!”

Một lát sau, mấy tên lính áp giải Điền Kỵ lên điện. Chúng thần ngoảnh nhìn, thấy Điền Kỵ bị ép mặc một bộ váy áo đàn bà, chưa kể mặt mũi loè loẹt phấn son, trong miệng bị nhét một mảnh khăn lụa rực rỡ, tất cả đều bật cười hô hố.

Ngụy Huệ Vương thoạt đầu kinh ngạc, sau cũng phá lên cười nghiêng ngả.

Điền Kỵ vừa xấu hổ vừa giận dữ, nhưng bị hai tên lính vạm vỡ giữ chặt cánh tay, không thể cử động, chỉ biết trợn trừng hai mắt nhìn Bàng Quyên căm hận. Bàng Quyên chậm rãi bước tới trước mặt Điền Kỵ, rút mảnh lụa nhét trong miệng ra, nhếch mép nói: “Điền đại tướng quân, hãy đi gặp Tề Vương bệ hạ trong bộ dạng này, để ông ta nhìn cho kỹ, đây chính là bảo bối lớn của nước Tề mà ông ta vẫn thường khoe khoang!”

Nghe thấy lời này, Ngụy Huệ Vương vô cùng phấn khởi, vội nói: “Đúng đúng đúng, quả nhân cũng nhờ Điền tướng quân chuyển lời tới Điền Nhân Tề, nói rằng những món bảo bối mà nước Tề có, quả nhân cũng chẳng thiếu thứ gì. Tiễn khách!”

Quân sĩ liền thả Điền Kỵ ra.

Điền Kỵ vừa thẹn vừa giận, cắm đầu lao thẳng về phía cây cột.

Điền Anh thấy vậy, lập tức nhào tới nhanh như tên bắn, ôm chặt lấy Điền Kỵ, khóc mà nói: “Điền tướng quân...”

Điền Kỵ giậm chân hét lớn: “Thả ta ra, thả ta ra, ta... ta còn mặt mũi nào để sống trên đời nữa?”

Bàng Quyên cười nhạt một tiếng: “Hừm, Điền tướng quân, Bàng Quyên còn kính trọng ông là một hảo hán nên mới thả ông về, là muốn đợi ông tìm đến báo thù. Không ngờ tướng quân lại là hạng tầm thường như vậy, đòi sống đòi chết như đàn bà, thực uổng cho Bàng Quyên ta đã phải lao tâm!”

Nghe thấy lời này, Điền Kỵ uất nghẹn, giậm chân hét lớn: “Tên súc sinh Bàng Quyên, ngươi... ngươi là hạng tiểu nhân đê tiện, ngày sau nếu lọt vào tay ta, xem ta ăn tươi nuốt sống, lột da róc xương ngươi!”

“Ừm!” Bàng Quyên khẽ gật đầu. “Thế này mới giống tướng quân chứ! Nhìn khắp liệt quốc, mặc dù Điền tướng quân là bại tướng, nhưng cũng còn được coi là đối thủ của Bàng mỗ. Thường có câu, quân tử báo thù mười năm chưa muộn. Bàng Quyên sẽ ở đây đợi ông mười năm!” Nói xong, ngửa cổ lên trời cười lớn.

Sau khi chia tay Thích Quang, Trần Chẩn đánh xe chạy thục mạng về phía đông. Đi được mấy dặm, Trần Chẩn bỏ xe, tháo ngựa, cuống cuồng rẽ sang phía đông bắc.

Trần Chẩn chạy không ngơi chân, buổi tối ngày hôm sau đã vượt qua biên giới nước Ngụy, tiến vào nước Vệ, tạm thời lánh nạn mấy ngày ở Sở Khâu, sau đó cải trang thành người nước Vệ, trở lại nước Ngụy, vào lúc chập tối đã đến cửa Túc Tư, tìm được một quán trọ kín đáo nghỉ lại.

Trời vừa tảng sáng, Trần Chẩn ăn uống qua loa, rồi bước ra phố, đang định hỏi thăm xem chuyến đò sáng bao giờ rời bến, đột nhiên thấy trên đường cái quan bụi bốc mù trời. Lát sau, một đoàn xe ngựa đông đảo rầm rập kéo đến, trên lá cờ lớn dẫn đầu đề bốn chữ “Bàng đại tướng quân”.

Trần Chẩn kinh hoảng. Bàng Quyên đang đối trận với người Tề ở Hoàng Trì, giờ sao đã chạy đến đây? Mới có mấy ngày, lẽ nào hắn đã thay thế Long Giả, một bước nhảy lên ngôi đại tướng quân? Trần Chẩn bàng hoàng mất một lúc, rồi mới nghĩ lại, theo như hành tung mấy ngày nay của mình, Bàng Quyên có hoạ là thần thánh mới biết được. Hơn nữa, cho dù hắn có là thần thánh, biết được Trần Chẩn ở đây, cũng chẳng thể tốn công hưng binh động chúng rầm rộ đến vậy chỉ vì một mình ông ta.

Nghĩ vậy, Trần Chấn cũng cảm thấy yên tâm phần nào, liền trở về quán trọ, chỉ lặng lẽ quan sát xem Bàng Quyên muốn làm gì.

Chẳng mấy chốc, đại quân binh mã của Bàng Quyên đã ầm ầm kéo tới cửa Túc Tư, thế như vũ bão. Các tướng sĩ toả ra khắp chốn, bao vây toàn bộ thị trấn, đồng thời bủa đi khắp nơi thu hồi tất cả thuyền bè.

Liên tiếp mấy ngày, Trần Chẩn chỉ có thể giống như những thương nhân khác, từ sáng đến tối trốn trong quán trọ, nhìn đại quân của Bàng Quyên rầm rộ và trật tự vượt qua Hà Thuỷ, rồi lại nhìn họ áp tải một lượng lớn quân nhu và tù binh người Triệu khải hoàn trở về. Đồng thời, ở cửa Túc Tư cũng bắt đầu lan truyền câu chuyện Bàng tướng quân nhận được Ngô Khởi tướng quân phù hộ, đánh hai trận thắng cả hai, đánh bại cả người Tề lẫn người Triệu, bắt sống tướng Tề Điền Kỵ.

Sau khi quân Ngụy rút đi nửa ngày, cửa Túc Tư lại quay về với khung cảnh yên bình vốn có, bến đò cũng từ từ hoạt động bình thường trở lại. Trần Chẩn tính tiền nhà trọ xong, liền đánh ngựa lên phố lớn, đi ngang qua bức tường dán cáo thị giữa phố, thấy người dân đang xúm xít lại xem. Trần Chẩn chen lên phía trước, nhìn thấy trên một tờ cáo thị mới dán, đập vào mắt chính là chân dung của mình. Nhìn thấy trên bản cáo thị chỉ có một mình ông ta, Trần Chẩn đoán chắc Thích Quang đã bị bắt, bất chợt trán vã mồ hôi lạnh, thầm lấy làm may mắn vì mình cao tay, nếu không đã phải cùng chung số phận với Thích Quang rồi.

Trần Chẩn đưa tay áo quẹt vội mồ hôi, sau đó lập tức phi ngựa tới cửa sông, từ xa nhìn thấy một con thuyền vừa rời bến. Trần Chẩn vội hét gọi, phu thuyền nghe thấy tiếng, bèn quay mũi chèo vào bờ, Trần Chẩn dắt ngựa lên thuyền, liên miệng cảm tạ. Chưa tới nửa canh giờ sau, con thuyền đã đi tới bờ bên kia.

Trần Chẩn dắt ngựa xuống thuyền, thở phào một hơi thật dài, sau đó cùng với mười mấy khách thuyền khác lục tục lên bờ. Vượt qua con đê, phía trước chính là con đường dẫn tới Triều Ca. Nếu muốn tới đô thành Hàm Đan của nước Triệu, nhất định phải đi qua con đường này.

Song Trần Chẩn lại không muốn tới Hàm Đan. Ông ta đến nơi này, chỉ có một mục đích: lên núi Vân Mộng tìm Quỷ Cốc Tử tiên sinh. Trần Chẩn tuyệt không thể ngờ mình lại bị sảy chân ngã ngựa, giữa dòng lật thuyền thình lình đến vậy. Lao tâm khổ tứ suốt bao năm, khó khăn lắm mới trụ lại được đến ngày hôm nay, nhưng lại bị một tên nhãi ranh dồn đến bước đường cùng, trong khi Trần Chẩn lại không biết gì về hắn!

Trần Chẩn không phải kẻ dễ dàng chịu thua. Việc đã đến nước này, đối thủ của ông ta không còn là Bạch Khuê, Chu Uy và Công Tôn Diễn nữa, mà là tên Bàng Quyên giữa đường ngáng chân kia! Mục tiêu cuộc đời của Trần Chẩn cũng không còn là chức vị tướng quốc, mà là đối phó với Bàng Quyên. Lần này đến núi Vân Mộng, chính là muốn truy ra đầu mối, tìm được gốc rễ của Bàng Quyên, điểm trúng tử huyệt của hắn.

Trần Chẩn tiếp tục đi theo đám khách cùng thuyền một đoạn đường, thấy phía trước có một ngã rẽ, liền vòng tay hỏi thăm một người cao tuổi: “Xin hỏi lão trượng, đến núi Vân Mộng đi đường nào?”

Cụ già chỉ tay về đỉnh núi ở phía xa, nói: “Chính là chỗ đó. Ông đi theo con đường này, vượt qua Kỳ Thuỷ là có thể lên núi.”

Trần Chẩn đa tạ, rồi quất ngựa phóng nhanh về phía Kỳ Thuỷ.

Giờ đang giữa mùa hè, ngoài núi trời nóng như thiêu, nhưng trong Quỷ Cốc vẫn mát mẻ sảng khoái như thường.

Gần tới trưa, Ngọc Thiền đang ngồi đọc sách trong nhà cỏ, đột nhiên nghe thây tiếng tiểu đồng từ xa vọng lại:

“Chị Thiền Nhi! Chị Thiền Nhi!”

Ngọc Thiền đặt cuốn sách xuống, khoan thai bước ra khỏi cửa, thấy tiểu đồng đã dẫn theo Trần Chẩn tới trước nhà cỏ. Trần Chẩn đã đổi sang mặc quan phục, cung kính đứng ở phía ngoài, ngước mắt nhìn Ngọc Thiền.

Tiểu đồng chỉ tay vào Trần Chẩn: “Chị Thiền Nhi, vị quan nhân này muốn gặp tiên sinh.”

Ngọc Thiền đứng ngoài bậu cửa, điềm tĩnh đưa mắt nhìn Trần Chẩn.

Trần Chẩn khom người hành lễ: “Thượng khanh nước Ngụy Trần Chẩn xin chào tiên cô!”

Mấy năm về trước, trong lúc làm sứ nước Ngụy đến Chu thất ép cầu hôn Cơ Tuyết, mặc dù Trần Chẩn ở lại Lạc Dương mấy tháng, nhưng chưa từng gặp mặt Ngọc Thiền, càng không thể ngờ thiếu nữ xinh đẹp đứng trước mặt mình lúc này lại chính là công chúa Đại Chu năm xưa đã bị ông ta bức ép đến tan nhà nát cửa, vì vậy lúc này mới tự bộc lộ thân phận.

Ngọc Thiền sắc mặt vụt sa sầm, ánh mắt lạnh lùng như lưỡi kiếm chiếu thẳng vào Trần Chẩn, không đáp lễ, cũng chẳng thèm nói lời khách sáo: “Thượng khanh không ở trong triều làm việc, đến nơi rừng núi hoang vu này làm gì?”

Trần Chẩn thấy Ngọc Thiền nói lời lạnh lẽo, vội vàng nặn ra một nụ cười, tiếp tục vòng tay hành lễ: “Hồi bẩm tiên cô, tại hạ phụng lệnh Ngụy Vương bệ hạ, đến đây bái kiến Quỷ Cốc tiên sinh.”

Nghe thấy mấy chữ “Ngụy Vương bệ hạ”, Ngọc Thiền càng thêm giận dữ, giọng nói nhạt nhẽo: “Thượng khanh đến thật không đúng lúc, mấy ngày trước tiên sinh đã rời núi vân du rồi!”

“Ồ...” Trần Chẩn sững người. “Khi nào tiên sinh trở về?”

Tiểu đồng đã nghe thấy lời của Ngọc Thiền, biết nàng không muốn tiếp, liền tiện miệng nói luôn: “Này quan nhân, tiên sinh trước nay đi ngao du chưa từng định thời gian, ít thì dăm ba tháng, nhiều thì dăm ba năm. Quan nhân nếu muốn gặp tiên sinh, thì phải biết kiên nhẫn!”

Trần Chẩn thở dài: “Quả là không đúng lúc!” Dừng lại một chút, quay sang Ngọc Thiền. “Xin hỏi tiên cô, nghe nói Bàng tướng quân từng ở đây theo tiên sinh học nghệ, có chuyện này chăng?”

Ngọc Thiền lại càng sầm mặt: “Ở đây không có Bàng tướng quân, nếu thượng khanh không còn việc gì, tiểu nữ cũng không tiếp nữa!” Nói đoạn, lập tức quay người đi vào trong, đóng sập cửa lại.

Trần Chẩn không thể ngờ được mình lại bị đối xử lạt lẽo đến vậy, đứng ngẩn ra một hồi, rồi đưa ánh mắt bối rối nhìn tiểu đồng.

Tiểu đồng khuyên: “Này quan nhân, chị Thiền Nhi đã bảo ông xuống núi, nhân lúc trời còn sớm, hãy mau đi đi!”

Trần Chẩn định thần lại, nhìn thẳng vào tiểu đồng: “Xin hỏi tiên đồng, vị tiên cô này là người thế nào?”

“Là chị Thiền Nhi?”

Trần Chẩn hỏi tiếp: “Chị Thiền Nhi là người thế nào?”

Tiểu đồng chau mày: “Chị Thiền Nhi là chị Thiền Nhi, ông đúng thực là...” Dừng lại một chút, cố nuốt xuống hai chữ “điên khùng” sắp sửa buột ra.

Trần Chẩn cười gượng một tiếng, đổi giọng hỏi: “Xin hỏi tiên đồng, Quỷ Cốc Tử tiên sinh đã không ở đây, vậy trong cốc này há chẳng phải chỉ còn tiên đồng với chị Thiền Nhi hay sao?”

“Đương nhiên là không phải!”

Trần Chẩn đang chờ đợi chính là câu nói này, bèn vội vàng hỏi tiếp: “Ồ, xin hỏi, trong cốc còn có người nào nữa?”

“Còn có ba vị sư đệ của ta!”

Nghe thấy là sư đệ của tiểu đồng, Trần Chẩn ít nhiều thất vọng, tiện miệng hỏi: “Vậy... tiên đồng có biết Bàng tướng quân không?”

“Bàng tướng quân?” Tiểu đồng thoáng ngẩn người. “Bàng tướng quân nào?”

“Chính là Bàng Quyên, nghe nói người này từng học nghệ ở đây!”

Tiểu đồng cười khúc khích mấy tiếng, rồi đáp luôn: “Ta còn tưởng là ai, thì ra là hắn. Nói cho ông biết, Bàng Quyên cũng là sư đệ của ta đấy. Thế nào, ông muốn tìm hắn?”

Trần Chẩn kinh ngạc, ngờ vực nhìn tiểu đồng: “Cái gì? Bàng tướng quân cũng là sư đệ của tiên đồng?”

Tiểu đồng trợn tròn hai mắt: “Ông không tin?”

“Ồ...” Trần Chẩn gãi đầu. “Tiên đồng còn nhỏ tuổi, làm sao có thể là sư huynh của Bàng Quyên được?”

Tiểu đồng lại cười khanh khách: “Bàng Quyên không những là sư đệ của ta, mà còn là sư đệ bé nhất. Quan nhân còn có việc gì không?”

Trần Chẩn mắt đảo một vòng, vội cúi người hành lễ với tiểu đồng: “Xin hỏi tiên đồng, tại hạ có thể gặp ba vị sư đệ của tiên đồng một chốc không?”

Tiểu đồng suy nghĩ một lát, lắc đầu nói: “Chị Thiền Nhi chỉ muốn quan nhân xuống núi, không muốn quan nhân gặp mặt ba vị sư đệ.”

“Ồ...” Trần Chẩn lại đảo mắt một vòng. “Là thế này, Bàng tướng quân có lời, muốn tại hạ chuyển đến sư huynh của tướng quân!”

“Gửi lời nhắn cho vị sư huynh nào?”

“Chính là... là người tốt nhất với Bàng tướng quân.”

Tiểu đồng ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi: “Ý ông muốn nói... Tôn Tân?”

Nghe thấy hai chữ “Tôn Tân”, Trần Chẩn tim nảy lên một cái, nhưng lại lập tức cười giả lả: “Đúng đúng đúng, chính là Tôn Tân! Bàng tướng quân dặn tại hạ nhất định phải tìm được Tôn tướng quân, có lời muốn nhắn gửi.”

Tiểu đồng suy nghĩ một lúc rồi gật đầu nói: “Quan nhân đã có lời muốn nhắn cho Tôn sư đệ, vậy hãy đi theo ta.”

Tiểu đồng dẫn Trần Chẩn đi theo đường mòn, một chốc sau, đã tới lũng núi nơi bốn người vẫn ở. Hai người đi tới căn nhà cỏ, tiểu đồng đứng trước cửa phòng Tôn Tân gọi lớn: “Tôn sư đệ, có người đến tìm!”

Tiểu đồng liên tiếp gọi hai tiếng, không ai trả lời. Tiểu đồng bèn mở cửa phòng, thấy trong phòng chẳng có ai, thì quay sang nói với Trần Chẩn: “Chắc là Tôn sư đệ đã vào trong rừng rồi, chưa tới giờ Ngọ, chắc chưa về đâu.”

Trần Chẩn sợ Tôn Tân truy cứu chuyện hình ngục khi còn ở An Ấp, vốn không dám gặp mặt, nhưng cũng không thể đến mà về tay không, đang không biết xử trí thế nào thì cánh cửa ở phòng bên cọt kẹt mở, Trương Nghi thò đầu ra hỏi: “Đại sư huynh, người nào tìm Tôn huynh thế?”

Tiểu đồng bèn chỉ tay vào Trần Chẩn: “Vị quan nhân này có lời muốn nhắn với Tôn sư đệ!” Rồi quay sang Trần Chẩn. “Vị này là Trương sư đệ, hãy để hắn dẫn ông đi.” Nói xong, bèn nhảy tung tăng quay trở về thảo đường.

Thấy tiểu đồng đã đi xa, Trần Chẩn quay sang vòng tay hành lễ với Trương Nghi: “Tại hạ Trần Chẩn xin chào Trương... Trương Tử.”

Trương Nghi vẫn đứng dựa vào sau cửa, thò đầu nhìn ra, châm chọc mà nói: “Chữ ‘Tử’ không dám nhận, gọi ta là Trương Nghi được rồi. Quan nhân phải chăng là thượng khanh đại nhân gì gì đó nổi tiếng lẫy lừng của nước Ngụy không?”

Nghe thấy lời mỉa mai, lại nghĩ đến tình cảnh hiện giờ của mình, Trần Chẩn bất giác nóng bừng mặt, song vẫn gật đầu nói: “Chính là tại hạ!”

Trương Nghi chậm rãi bước ra, hai tay chắp sau lưng, nghiêng đầu nhìn Trần Chẩn, lại đi mấy vòng quanh ông ta. Trần Chẩn đang khó chịu, thì Trương Nghi đột nhiên dừng lại trước mặt ông ta, gật đầu nói: “Nhìn bộ dạng này, có hơi giống. Nhưng Trần đại nhân không ở nước Ngụy làm việc, đến đây làm gì?”

Trần Chẩn ậm ừ một lát rồi đáp: “Tại hạ có việc sang nước Vệ, nhân tiện đến Quỷ Cốc chơi.”

“Ồ, thì ra là vậy!” Trương Nghi lùi liền hai bước, bộ dạng khoa trương, vòng tay đáp lễ. “Thảo dân là Trương Nghi người Hà Tây xin chào thượng khanh đại nhân nước Ngụy.”

Trần Chẩn lại vòng tay hành lễ: “Trần Chẩn xin chào Trương Tử, vinh hạnh, vinh hạnh!”

“Không dám, không cần khách sáo!” Trương Nghi chỉ xuống bãi cỏ. “Thượng khanh đại nhân, mời ngồi!”

Trần Chẩn nhìn bãi cỏ, lại ngẩng đầu nhìn ánh nắng chói chang, đang lưỡng lự thì thấy Trương Nghi đã khoanh chân ngồi xuống, nên cũng đành phải ngồi theo.

Trương Nghi hỏi: “Nghe nói thượng khanh đại nhân muốn tìm Tôn huynh, có việc gì lớn không?”

“Gặp Trương Tử cũng được!”

“Vậy hãy nói đi, thượng khanh đại nhân có việc gì?”

“Trương Tử phải chăng là sư huynh của Bàng Tử?”

“Ý đại nhân muốn nói Bàng Quyên?”

Trần Chẩn gật đầu lia lịa.

“Hắn là sư đệ của tại hạ!”

“Bàng Tử xuống núi, trận đầu tiên đánh bại quân Tề, trận thứ hai đánh bại quân Triệu, khiến khắp thiên hạ chấn động. Ngụy Vương bệ hạ vô cùng sủng ái Bàng Tử, nghe nói Bàng Tử từng tới núi Vân Mộng theo Quỷ Cốc tiên sinh học nghệ, nên đã phái tại hạ đến đây, thịnh tình muốn mời tiên sinh xuất sơn, bệ hạ sẽ dùng lễ quốc sư để đối đãi.”

Trương Nghi mỉm cười: “Tiên sinh có nhận lời thượng khanh chăng?”

“Tại hạ đến không đúng lúc, nghe tiên cô nói, mấy ngày trước tiên sinh đã đi vân du, tại hạ vô cùng tiếc nuối.”

Trương Nghi hiểu rõ, chắc chắn Ngọc Thiền ghi hận Trần Chẩn nên mới nói dối ông ta, liền toét miệng cười mà nói: “Quả là không đúng lúc! Bệ hạ của ngài đã có thịnh tình mời tiên sinh, vậy tại sao không để Bàng Quyên đến, mà lại khiến thượng khanh phải vất vả?”

Trần Chẩn đáp: “Trương Tử có điều không biết, Bàng Tử hiện đã là đại tướng quân, nghe nói bệ hạ còn muốn phong làm vạn hộ hầu, một ngày cũng không nỡ rời xa.”

Trương Nghi phá lên cười lớn.

“Trương Tử cười gì?”

Trương Nghi lại cười thêm mấy tiếng: “Ta cười tay Bàng Quyên đó, ha ha ha ha... Đại tướng quân? Vạn hộ hầu? Một ngày cũng không nỡ rời xa? Ha ha ha ha... Cái ông Ngụy Vương này thật nực cười!”

Nghe Trương Tử nói vậy, Trần Chẩn kinh ngạc. “Lẽ nào thiên hạ còn có người hơn được Bàng tướng quân?”

Trương Nghi thôi cười, chúi người về phía trước, hạ thấp giọng, nhấn nhá từng chữ: “Nói thực cho ông biết, ở trong Quỷ Cốc này, chỉ cần là vật sống, tất cả đều giỏi hơn Bàng Quyên mấy phần!”

Trần Chẩn há miệng trợn mắt, ngẩn ra một lúc: “Trương... Trương Tử, không... không... nói đùa đấy chứ?”

Trương Nghi hừ mũi một tiếng: “Ai có thời gian mà đùa với ông? Này thượng khanh đại nhân, những thứ mà Bàng Quyên học được, chẳng qua chỉ là một chút lông da của tiên sinh mà thôi. Công phu thực sự của tiên sinh, tất cả đều được truyền cho Tôn Tân!”

“Tôn Tân?” Trần Chẩn thoáng sững sờ. “Chính là Tôn tướng quân đến từ nước Vệ?”

“Đúng thế! Sao, thượng khanh có biết người này?”

Trần Chẩn đâu có dám nói ra chuyện năm xưa bắt nhốt Tôn Tân, ngần ngừ một lát, rồi lắc đầu quầy quậy.

Trương Nghi cười vang mà nói: “Nhìn ông cũng biết là không biết, hẳn là đại sư huynh đã tiết lộ rồi!” Dừng lại một chốc, lại nói tiếp. “Thế này vậy, để ta nói cho ông biết. Có biết võ thánh Tôn Vũ Tử thời Xuân Thu không? Tôn Tân chính là hậu duệ đích tôn của Tôn Vũ Tử, cùng ở trong Quỷ Cốc này học binh pháp với Bàng Quyên.”

“Ồ!” Trần Chẩn giả bộ kinh ngạc. “Tôn Tử đã có tài hoa như vậy, cớ sao không xuống núi cầu công danh?”

“Ồ...” Trương Nghi cười nói. “Tôn Tân không giống Bàng Quyên, mới học được một chút xíu đã vội vàng xuống núi khoe khoang!” Rồi chợt ngẩng đầu. “Mà này, thượng khanh đại nhân, chẳng phải ngài có lời muốn nhắn với Tôn Tân ư?”

Trần Chẩn cười nói: “Thực ra cũng không có gì, những điều cần nói, tại hạ cũng đã nói hết với Trương Tử rồi!”

Trương Nghi lập tức sầm mặt, nói: “Xem ra, thượng khanh đại nhân đến đây chẳng có việc gì quan trọng. Nếu đã không có việc quan trọng, Trương Nghi không tiếp nữa!” Rồi đứng phắt dậy, phủi mông đi luôn.

Trần Chẩn cũng đứng dậy, vội nói: “Trương Tử khoan đã, tại hạ có một chuyện muốn hỏi Trương Tử.”

Trương Nghi dừng bước: “Nói đi!”

“Có phải Trương Tử cũng ở đây học binh pháp?”

“Học binh pháp?” Trương Nghi lắc đầu. “Không không không, đánh đấm chém giết, thực là vô nghĩa với ta!”

“Vậy...” Trần Chẩn ngẩn người. “Xin hỏi Trương Tử học gì?”

Trương Nghi bước lại gần mấy bước, ghé sát tai Trần Chẩn nói nhỏ: “Thượng khanh đại nhân đã nghe nói tới đạo chưa? Tại hạ đang theo tiên sinh tu đạo!”

Lời vừa dứt, Trương Nghi chẳng thèm vái chào, lập tức quay người đi thẳng, không ngoảnh đầu lại.

Hành vi cổ quái của Trương Nghi khiến Trần Chẩn vô cùng kinh ngạc. Nhìn theo bóng Trương Nghi xa dần, Trần Chẩn còn đứng ngẩn ngơ một lúc nữa mới gãi đầu lẩm bẩm: “Quỷ Cốc sĩ tử, ta được lĩnh giáo rồi!”

Sau khi ra khỏi Quỷ Cốc, Trần Chẩn đứng tại ngã ba đường dưới núi Vân Mộng, nhìn qua ngó lại, không biết nên đi về đâu. Vốn lúc trước hẹn với Thích Quang sẽ đến gặp mặt ở Lạc Dương, nhưng tình thế thay đổi, nay đã không cần tới Lạc Dương nữa.

Cũng không thể đến nước Tề. Lần trước khi Tề Ngụy hội vương ở Từ Châu, là do ông ta móc nối bên trong, kết quả là hội vương không thành, còn gây ra một trường đại chiến. Tề Vương bại trận, cục tức trong lòng vẫn chưa có nơi giải toả, lúc này mà đến đó, khác nào tự lao đầu vào chỗ chết? Lại nói tới Hàn, Triệu, mấy năm nay Trần Chẩn cực lực cổ vũ Ngụy Hầu xưng vương, Hàn Hầu, Triệu Hầu từ lâu đã ghi hận ông ta, lúc này chắc chắn sẽ không chịu dung nạp. Không chịu dung nạp ông ta đâu chỉ có Hàn, Triệu, ngay cả nước Yên xa xôi cũng vẫn nhớ nằm lòng chuyện Mạnh Tân, huống hồ phu nhân nước Yên lại là công chúa Cơ Tuyết của Đại Chu, nếu gặp được Trần Chẩn, lại chẳng muốn ăn tươi nuốt sống?

Trần Chẩn nghĩ đi nghĩ lại, mãi vẫn không biết nên đi đâu. Đang lúc hoang mang, bỗng thấy trên con đường lớn tiến về Triều Ca xuất hiện một cỗ xe ngựa. Cỗ xe lóc cóc chạy đến, rồi dừng lại trước mặt Trần Chẩn. Rèm xe vén lên, sau cửa sổ hiện ra một đôi mắt già nua ngầu đục nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn, một lúc sau, một chiếc miệng lớn nhành ra, bật lên tiếng cười hềnh hệch mà hỏi: “Người ở trên ngựa, phải chăng là đặc sứ đại nhân của Ngụy Vương bệ hạ?”

Trần Chẩn kinh ngạc, đưa mắt nhìn kỹ, nhưng không thể nhìn rõ trong xe là người nào, đành phải vòng tay nói: “Chính tại hạ! Tiên sinh là...”

Lời của Trần Chẩn vừa dứt, một cái đầu trọc lóc liền thò ra khỏi cửa sổ xe, lại cười hì hì: “Chức đặc sứ đại nhân to quá, đương nhiên không nhận ra lão hủ rồi!”

Nhìn thấy cái đầu trọc, lúc này Trần Chẩn mới nhận ra đó là Thuần Vu Khôn ở Tắc Hạ, lập tức mừng thầm, liền xuống ngựa, vòng tay hành lễ: “Vãn sinh Trần Chẩn xin chào Thuần Vu Tử!”

Thuần Vu Khôn cũng hạ rèm cửa sổ, từ trên xe bước xuống, đáp lễ mà nói: “Lão hủ xin chào đặc sứ đại nhân!”

Trần Chẩn cười gượng một tiếng, lắc đầu than thở: “Than ôi, đặc sứ đại nhân cái nỗi gì? Phượng hoàng thất thế phải thua gà rừng, tại hạ nay đã sa cơ, đừng nói là gà rừng, ngay cả gà đồng cũng không bằng nữa!”

Thuần Vu Khôn dường như đã biết tình cảnh của Trần Chẩn, cười hì hì mà nói: “Đặc sứ đại nhân chớ nói vậy, chỉ cần là phượng hoàng, dù có sa cơ, vẫn khác gà đồng!”

Trần Chẩn lại thở dài.

Thuần Vu Khôn lại cười hì hì hai tiếng, lời nói cũng thân mật hơn: “Lão hủ từ Nghiệp Thành đến Triều Ca, trên đường nhìn thấy cáo thị truy nã đặc sứ đại nhân. Lão hủ rất muốn biết, đặc sứ đại nhân vì chuyện gì mà nên nông nỗi này?”

“Than ôi, một lời khó hết!”

Thuần Vu Khôn cười nói: “Vậy thì hãy nói mười lời trăm lời, dù sao thì lão hủ cũng đang rỗi rãi!” Khẽ đảo mắt một vòng, rồi chỉ tay về phía một gốc cây lớn gần đó. “Trong xe lão hủ có một vò rượu, mấy cân thịt, chúng ta hãy tuỳ nghi mà xuề xoà thôi vậy, đến gốc cây kia uống vài chén rượu, tạm giúp đặc sứ đại nhân xua cơn sợ hãi, thế nào?”

Trần Chẩn tới Quỷ Cốc nhưng không được mời cơm, lại đi suốt nửa ngày đường, bụng đã đói meo, chỉ vì trong lòng lo lắng nên nhất thời không để tâm đến, nghe Thuần Vu Khôn nói vậy, liền đáp ngay: “Thuần Vu Tử có thịnh tình này, vãn sinh cung kính chi bằng tuân lệnh!”

Thuần Vu Khôn lấy từ trên xe xuống một hũ rượu, đưa cho Trần Chẩn ôm lấy, còn mình thì xách theo hai cái chén đồng và mấy túi thịt bò, quay đầu dặn phu xe tháo ngựa cho đi ăn cỏ.

Thuần Vu Khôn, Trần Chẩn đi tới gốc cây lớn cách đó không xa, ngồi khoanh chân dưới bóng cây. Trần Chẩn rót đầy hai chén, Thuần Vu Khôn rút thanh bội đao giắt bên hông ra, cắt thịt bò thành từng miếng nhỏ, đưa cho Trần Chẩn một miếng, mình cũng cầm một miếng đưa lên miệng, vừa nhai vừa nói: “Nói đi! Nửa ngày hôm nay, cái tai của lão hủ đây sẽ giao cho thượng khanh đại nhân!”

Trần Chẩn ăn mấy miếng thịt bò, uống liền mấy chén rượu, sau đó mới bắt đầu mở miệng, kể lại đầu đuôi mọi chuyện, từ việc trước đây kết oán với Bàng Quyên thế nào, rồi bị hắn hãm hại mà phải bỏ trốn ra sao. Đương nhiên, tất cả những tình tiết trong mối ân oán giữa Trần, Bàng, qua miệng lưỡi của Trần Chẩn đã được uốn nắn lại một lượt.

Thuần Vu Khôn dỏng tai lắng nghe, gật gù mà nói: “Xem ra, lần này thượng khanh đã gặp đối thủ rồi!”

Trần Chẩn than thở: “Than ôi, tên này chẳng qua chỉ là một kẻ đầu đường xó chợ, không ngờ hắn lại có thể thành công được như hôm nay, chưa nói đến một trận thành danh, mà bệ hạ còn nhất nhất nghe theo lời hắn, quên bẵng mọi công lao khổ cực suốt bao năm của vãn sinh. Bàng Quyên được thế, đã kết bè kết đảng cùng Chu Uy, Bạch Hổ, dùng việc công báo thù riêng, hãm hại vãn sinh. Vãn sinh một mình khó địch sáu tay, cho dù có ngàn cái miệng cũng chẳng thể giải thích rõ ràng!”

Thuần Vu Khôn nghe xong, cười hì hì mà nói: “Giang sơn lớp lớp hiền tài, mỗi người lừng lẫy chỉ vài ba năm. Thượng khanh đại nhân, ngài đã nổi danh ở nước Ngụy quá năm năm, lẽ nào vẫn chưa thấy đủ ư?”

Trần Chẩn cười gằn một tiếng: “Thuần Vu Tử thật biết nói đùa. Cái gì mà nổi danh? Vãn sinh ở nước Ngụy chẳng qua cũng chỉ là một lão nô. Mấy năm trước, đại quyền trong triều đình hoàn toàn nằm trong tay Bạch Khuê, khó khăn lắm mới loại được Bạch Khuê thì lại gặp phải Huệ Thi. Than ôi, nỗi khổ đắng trong lòng vãn sinh, chỉ có vãn sinh mới hiểu!”

Trần Chẩn càng nói càng đau lòng, nước mắt đầm đìa chảy xuống. Sụt sùi một lúc, Trần Chẩn đưa tay áo lau nước mắt, ngẩng đầu nhìn Thuần Vu Khôn, thở dài: “Than ôi, nghĩ tới Trần Chẩn ta, lúc nào cũng e dè thận trọng, lúc nào cũng nỗ lực cầu tiến, chỉ một lòng muốn lập công cho nước Ngụy. Mười mấy năm cũng chẳng khác một ngày, một lòng hầu hạ bệ hạ, không ngờ chỉ một chút sơ sẩy, đã bị tiểu nhân hãm hại. Bệ hạ biết rõ vãn sinh bị ám toán, nhưng lại chẳng hề niệm chút tình xưa, thực khiến người ta đau lòng!”

Thuần Vu Khôn không những không tỏ vẻ thông cảm, mà còn cười lên mấy tiếng: “Nay thượng khanh có thể nhìn rõ, cũng coi như chưa muộn. Đời người phù hoa, cũng chỉ vì công danh lợi lộc, ăn uống hưởng lạc, suốt ngày bận rộn, mấy chục năm chớp mắt trôi qua, cho dù có là ai chăng nữa, cuối cùng cũng thành cát bụi. Không giấu thượng khanh, Thuần Vu Khôn đời này không chỉ phò tá một nước, cũng chẳng tôn một quân vương, bởi vì đã nhìn rõ điều này.”

“Vãn sinh xin Thuần Vu Tử chỉ giáo!”

“Người ta nói, thỏ khôn đào ba hang, chim khôn xây ba tổ, gái khôn gả ba nhà, sĩ khôn chạy ba nơi. Các sĩ tử tài giỏi như chúng ta đây, phải giống như bà mối trong thôn xóm, nhà phía đông cần thì chạy sang phía đông, nhà phía tây cần lại chạy sang phía tây, sá gì những thứ vô nghĩa như trung quân ái quốc, chỉ cần có ăn có uống, được vui chơi hưởng lạc, sống tiêu diêu tự tại là được.”

“Thuần Vu Tử nói chí phải. Có điều Bàng Quyên sát hại tính mạng cả nhà vãn sinh, thù này không thể không báo, xin Thuần Vu Tử hãy ra tay giúp đỡ!”

“Giúp ông?” Thuần Vu Khôn phì cười một tiếng. “Lão hủ đây sức trói gà không chặt, giúp ông thế nào?”

Trần Chẩn hỏi: “Xin hỏi Thuần Vu Tử, lần này đến cửa Túc Tư, phải chăng là muốn sang nước Ngụy?”

Thuần Vu Khôn gật đầu nói: “Đúng thế! Lần trước đến Chu, lão hủ đây đã vô tình giúp lão Yên Công tác thành hỷ sự, lão Yên Công niệm tình lão hủ vất vả, nên đã giữ ta ở lại đó suốt hai năm, ngày ngày ăn uống vui chơi, đêm đêm hát ca đàn sáo, thật là tiêu diêu tự tại. Vào trung thu năm ngoái, ta thấy đã hưởng thụ đủ, liền từ biệt Yên Công sang nước Triệu, lại ở Hàm Đan một năm, sau đó cũng thấy chán, đang định đi thì gặp Phụng Dương Quân bại trận ở Triều Ca quay về. Triệu Hầu khiếp sợ Ngụy Vương báo thù, nên đã mời lão hủ đến, muốn lão hủ giúp ông ta tới Đại Lương một chuyến, nói vài lời hay ý đẹp với Ngụy Huệ Vương. Ta đã nhiều năm không đến nước Ngụy, lại nghe nói Huệ Thi đang làm tướng quốc ở đó, rất muốn biện luận danh thực với ông ta, thế nên đã đồng ý với Triệu Hầu, giúp ông ta đi một chuyến, không ngờ lại gặp thượng khanh ở đây.”

Trần Chẩn nghe đến đây, vội vàng đặt chén rượu xuống, chuyển từ ngồi sang quỳ, khấu đầu liền ba cái trước Thuần Vu Khôn.

Thuần Vu Khôn kinh ngạc hỏi: “Thượng khanh đại nhân, thế này... thế này là thế nào?”

Trần Chẩn bái xong, vẫn gục đầu dưới đất, miệng nói: “Vãn sinh cầu xin Thuần Vu Tử hãy ra tay trợ giúp!”

Thuần Vu Khôn cười ha hả mà nói: “Giúp thì có gì khó đâu! Song lão hủ chỉ là một thảo dân, không nhận nổi đại lễ, thượng khanh đại nhân mau đứng dậy!”

Trần Chẩn đứng lên, rồi lại ngồi xuống, rót đầy một chén rượu, hai tay đưa lên cho Thuần Vu Khôn: “Vãn sinh đa tạ Thuần Vu Tử!”

Thuần Vu Khôn lại cười lớn: “Nhờ lão hủ giúp đỡ, lại lấy rượu của lão hủ để đa tạ, thượng khanh cũng khôn ngoan thật đấy!”

Trần Chẩn nghe thấy nói vậy, vội vàng lấy từ trong áo ra một miếng ngọc bích màu trắng ngà, cẩn thận tháo ra, hai tay đưa lên trước mặt Thuần Vu Khôn: “Vãn sinh lên đường gấp gáp, trên người chẳng còn vật gì đáng giá, chỉ có miếng ngọc bích tuỳ thân này, mặc dù không quý báu nhưng cũng đáng trăm lượng vàng. Vãn sinh xin tặng lại cho Thuần Vu Tử, mong tiên sinh vui vẻ nhận lấy!”

Thuần Vu Khôn nhận lấy ngọc bích ngắm nghía kĩ lưỡng, cười nói: “Đúng là ngọc tốt, có thể đổi lấy một nụ cười của mỹ nhân. Nghe nói trong kho của thượng khanh có vạn lượng vàng, châu báu vô số, quả là danh bất hư truyền!”

Trần Chẩn thở dài: “Than ôi, hiện giờ vãn sinh đã sa chân đến bước này, còn nói gì đến vàng bạc châu báu?”

Thuần Vu Khôn đặt miếng ngọc bích vào trong tay, vờn nghịch một lúc, rồi ngẩng lên hỏi: “Nói đi, ông muốn lão hủ giúp thế nào? Có phải muốn Ngụy Vương giết chết Bàng Quyên không?”

“Vãn sinh không dám! Tuy nhiên, vãn sinh biết có một người có thể chế ngự được Bàng Quyên. Vãn sinh muốn nhờ vào cái miệng của Thuần Vu Tử để tiến cử người này lên Ngụy Vương.”

Thuần Vu Khôn thoáng kinh ngạc: “Ồ, người nào có thể chế ngự được Bàng Quyên?”

“Là sư huynh của hắn, Tôn Tân!”

“Hiện Tôn Tân đang ở đâu?”

Trần Chẩn chỉ tay về đỉnh núi ở cách đó không xa: “Chính tại vùng rừng sâu núi thẳm kia. Không giấu Thuần Vu Tử, vãn sinh vừa mới từ Quỷ Cốc trở ra.”

Thuần Vu Khôn nhìn về phía đỉnh núi, khẽ than: “Than ôi, Quỷ Cốc Tử đúng là một lão quái vật! Với bản lĩnh của ông ta, đi đến đâu mà chẳng được no bụng. Nhưng ông ta lại không chịu, nhất quyết ở trong Quỷ Cốc chịu khổ!” Rồi ngẩng nhìn Trần Chẩn. “Nhưng, lão hủ thực không hiểu. Nếu Tôn Tân có thể chế ngự được Bàng Quyên, vậy tại sao thượng khanh không tiến cử người này với người Tần hoặc người Tề, lấy Tần, Tề để chế Ngụy, mà lại tiến cử hắn với Ngụy Vương?”

Trần Chẩn nhếch mép cười nham hiểm: “Thuần Vu Tử có điều không biết, nếu vãn sinh tiến cử Tôn Tân với Tần Công hoặc Tề Vương, không những không thể chế ngự được Bàng Quyên, mà ngược lại còn thành toàn cho hắn.”

Thuần Vu Khôn kinh ngạc: “Ồ, sao lại nói vậy?”

“Thuần Vu Tử thử nghĩ xem, cho dù Tôn Tân đến Tần hay sang Tề, chắc chắn sẽ được Tần Công, Tề Vương trọng dụng. Tần, Tề nếu có được Tôn Tân, chắc chắn sẽ xâm chiếm nước Ngụy. Tần, Tề xâm chiếm Ngụy, Ngụy Vương chẳng phải sẽ càng không thể thiếu Bàng Quyên, càng trọng dụng hắn ư? Hai nước đại chiến, Bàng Quyên nếu thắng Tôn Tân, công lao sẽ càng hiển hách. Nếu như chết trận, cũng là tuẫn thân vì nước, lưu danh thiên cổ.”

Thuần Vu Khôn trầm ngâm một lúc, gật gù: “Lời thượng khanh rất có lý!”

“Không giấu Thuần Vu Tử, vãn sinh đã theo Ngụy Vương nhiều năm, hiểu rõ tính cách của Ngụy Vương. Ngụy Vương mê muội vô năng, không biết nhìn hiền tài, nhưng lại ngang tàng độc đoán. Có hôn quân này, cho dù hiền tài có nhiều đến đâu cũng chẳng thể hết lòng vì nước. Tôn Tân tài nghệ vượt xa Bàng Quyên, hai người lại cùng học binh pháp với nhau, làm tướng cùng triều, chắc chắn sẽ có cạnh tranh. Hai hổ giao tranh, kẻ mạnh sẽ thắng, nếu không ngoài dự liệu, Bàng Quyên chắc chắn sẽ bị Tôn Tân lấn át. Ngày hôm nay của vãn sinh cũng chính là ngày mai của Bàng Quyên. Chỉ cần đợi đến lúc đó, vãn sinh sẽ đi tìm Bàng Quyên báo thù, xem hắn còn chạy được đi đâu?”

Thuần Vu Khôn vuốt ve miếng ngọc bích, cười ha hả mà nói: “Nghe diệu toán của thượng khanh, thật xứng đáng là kỳ phùng địch thủ với Bàng Quyên! Không giấu thượng khanh, nếu muốn lão hủ giết chết Bàng Quyên, lão hủ sẽ lập tức trả lại miếng ngọc bích cho ông. Còn nếu chỉ là muốn tiến cử Tôn Tân với Ngụy Vương, thì lão hủ sẽ nhận!”

Thuần Vu Khôn nói xong, chậm rãi cất miếng ngọc bích vào trong tay áo.

Trần Chẩn vòng tay nói: “Vãn sinh đa ta đại ơn của Thuần Vu Tử! Sau khi sự việc thành công, vãn sinh sẽ lại hậu tạ!”

Thuần Vu Khôn cười nói: “Chút việc vặt vãnh, nhiều nhất cũng chỉ đáng giá miếng ngọc bích này mà thôi. Nếu thượng khanh lại hậu tạ thêm, lại là thái quá! Lão hủ đây tuy một đời tham tiền hám sắc, lại thích rượu ngon, nhưng không có công thì không nhận lộc, làm được việc thế nào thì sẽ nhận lễ thế ấy, đó là quy tắc, chắc hẳn thượng khanh cũng rõ.”

Trần Chẩn rót đầy một chén rượu, đưa cho Thuần Vu Khôn: “Đã khiến tiên sinh phải vất vả. Chén rượu này, coi như vãn sinh kính ngài!”

“Rượu này ta sẽ uống!” Thuần Vu Khôn nói xong, lập tức nhận lấy chén rượu đưa lên miệng, một hơi uống cạn. “Nhân tiện xin hỏi một câu, bước tiếp theo, thượng khanh có dự định gì?”

Trần Chẩn thở dài: “Than ôi, không giấu tiên sinh, vãn sinh đã tần ngần rất lâu ở ngã ba này, nghĩ đi nghĩ lại mà vẫn chưa biết nên đi đâu về đầu. Xin được tiên sinh chỉ giáo!”

Thuần Vu Khôn hỏi: “Thượng khanh sao không đến Hàm Dương nương nhờ Tần Công?”

Trần Chẩn lắc đầu nói: “Điều này vãn sinh cũng đã nghĩ tới. Có điều Tần Công đã dùng Công Tôn Diễn làm đại lương tạo, vãn sinh và người này từng có hiềm khích, nếu đến đất Tần, há chẳng phải sẽ cho hắn cơ hội trút giận?”

Thuần Vu Khôn lại cười một tiếng, khẽ lắc đầu: “Thượng khanh mới chỉ biết một mà thôi. Theo lão hủ, chính nhờ Công Tôn Diễn mà thượng khanh sẽ được Tần Công trọng dụng.”

Trần Chẩn ngơ ngác không hiểu: “Vãn sinh ngu muội, mong tiên sinh nói rõ!”

“Với tư chất của thượng khanh, cần gì lão hủ phải nói nhiều? Thượng khanh chỉ cần tới đó, lão hủ đảm bảo ngài sẽ được vinh hoa phú quý.”

Trần Chẩn hiểu ra đôi chút, vòng tay vái Thuần Vu Khôn một vái thật sâu: “Vãn sinh đa tạ tiên sinh chỉ điểm!”

Thuần Vu Khôn cười nói: “Chỉ điểm lần này lại cần được đa tạ bằng đại lễ. Nhưng tạm thời cứ để đại lễ này lại, đợi sau khi thượng khanh thành công ở Tần, ta lại sẽ đến gõ cửa.”

“Tiên sinh cười chê rồi. Nếu vãn sinh có thể trụ vững ở Tần, nhất định sẽ cho người đến mời tiên sinh!”

Thuần Vu Khôn rót đầy một chén rượu, đưa cho Trần Chẩn, lại rót đầy chén của mình, nâng lên: “Tốt lắm! Chúc thượng khanh thành công trên đất Tần, hãy cạn chén này!”

Hai người cùng cạn, Trần Chẩn đặt chén rượu xuống, mặt nhìn Thuần Vu Khôn: “Vãn sinh còn có một chuyện muốn nhờ cậy!”

“Xin cứ nói!”

“Sau khi tiên sinh đến Đại Lương, nếu như gặp được Bàng Quyên, hãy nhắn cho hắn một câu: ‘Sớm tối nếu có hắt hơi, tức Trần Chẩn đang nhớ đến ngươi’!”

Thuần Vu Khôn nghe xong, cười lớn mà nói: “Ừm, câu này nghe khá hay, ta sẽ nhắn lại giúp ông!”

Trần Chẩn vòng tay nói: “Vãn sinh đa tạ tiên sinh!”

Trần Chẩn đi vòng qua nước Triệu, lại đi qua vùng Thượng Đảng của nước Hàn, tiếp tục men theo sông Phần Thuỷ vượt qua Hà Thuỷ tiến vào Hà Tây, lại vượt qua Lạc Thuỷ. Suốt dọc đường dãi nắng dầm mưa, nếm trải muôn mùi cực khổ, sau hai tháng ròng rã cũng đến được Lạc Dương, tìm một quán trọ trên phố Sĩ Tử để nghỉ lại.

Trần Chẩn vừa đến Hàm Dương, thượng đại phu Sư Lý Tật đã biết sự tình, vội vàng đến phủ đại lương tạo để bẩm báo với Công Tôn Diễn: “Đại lương tạo, Trần Chẩn đã đến Hàm Dương rồi!”

Công Tôn Diễn thoáng kinh ngạc: “Ồ! Đến lúc nào?”

“Tối qua, hiện đang ở phố Sĩ Tử. Đại lương tạo, ngày trước để đẩy ngài đến chỗ chết, Trần Chẩn đã nhẫn tâm gây ra vụ huyết án diệt môn. Hôm nay hắn tự tìm đến đây, không biết đại lương tạo có dự định gì chăng?”

Công Tôn Diễn thở dài: “Than ôi, kẻ hại người, cuối cùng cũng tự hại mình. Kẻ này khi xuống tay, hẳn cũng không ngờ sẽ có ngày hôm nay.”

“Lời của đại lương tạo rất đúng!” Sư Lý Tật đáp. “Đây gọi là gieo gió ắt gặp bão. Việc này không cần đại lương tạo bận tâm, ngài chỉ cần gật đầu một cái, hạ quan sẽ tự biết cách xử trí.”

Công Tôn Diễn trầm ngâm suy nghĩ, rồi lắc đầu nói: “Chó rơi xuống nước, cần gì phải đánh? Hơn nữa, Trần Chẩn cũng được coi là danh sĩ trong liệt quốc, xử trí thế nào nên do chúa thượng quyết định, chúng ta thân là thần tử, há có thể lấy việc công báo thù tư?”

Sư Lý Tật thán phục: “Đại lương tạo có tấm lòng này, Sư Lý Tật bái phục!”

Mấy ngày sau đó, Trần Chẩn mang bán rẻ một viên dạ minh châu, được trăm lượng vàng, mua một cỗ xe kiệu xa hoa, thân mặc quần áo sĩ tử, đánh xe đến phủ của Doanh Kiền.

Trần Chẩn dâng lên hậu lễ, múa lưỡi dẻo quẹo, chẳng mấy chốc đã khiến Doanh Kiền vốn không giỏi đối đáp gật đầu lia lịa, lập tức đồng ý dẫn ông ta tới yết kiến quân chủ.

Doanh Kiền dẫn Trần Chẩn vào trong cung thành, nội thần bẩm báo xong, trở ra nói quân chủ mời đến ngự thư phòng yết kiến. Hai người còn chưa đến nơi, Huệ Văn Công đã nghe thấy tiếng mà ra khỏi cửa, tươi cười bước xuống bậc thềm.

Trần Chẩn không thể ngờ rằng mình lại được đối đãi trọng hậu đến vậy, vội vàng quỳ xuống, dập đầu nói: “Sĩ tử nước Ngụy Trần Chẩn khấu kiến chúa thượng!”

Huệ Văn Công bước lên một bước, đích thân đỡ ông ta dậy: “Trần ái khanh mau bình thân! Quả nhân nghe tin thì đã muộn, không thể nghênh đón từ xa, mong Trần ái khanh chớ nên để bụng!”

Trần Chẩn trong lòng chua xót, nước mắt lăn dài, nghẹn ngào nói: “Chúa thượng, Trần Chẩn ở Ngụy nhiều năm, cúc cung tận tụy hầu hạ Ngụy Vương, nhưng chưa bao giờ nhận được ân huệ nhường này. Hôm nay đến Tần, Trần Chẩn chưa lập được một chút công lao, chúa thượng đã đích thân xuống thềm đón tiếp. Nước Tần có hiền quân như vậy, sao lại không yên trị cho được!”

Huệ Văn Công nắm tay Trần Chẩn, mỉm cười nói: “Trần ái khanh là bậc hiền tài trong thiên hạ, quả nhân muốn mà không có được. Nay ái khanh đến Tần, quả nhân cho dù có phải đi xa ba mươi dặm nghênh tiếp, cũng chẳng có gì quá đáng!”

Trần Chẩn nước mắt ròng ròng, lại nghẹn ngào: “Chúa thượng...”

Hôm nay là ngày Tư Mã Thác trực trong cung. Đến lúc chập tối, Tư Mã Thác mới được xuất cung, lập tức đánh xe tiến thẳng đến phủ thượng đại phu, kể lại toàn bộ sự việc Trần Chẩn yết kiến Tần Công cho Sư Lý Tật nghe.

“Gì kia?” Sư Lý Tật kinh ngạc. “Chúa thượng đã phong Trần Chẩn làm thượng khanh?”

“Đúng vậy!” Tư Mã Thác gật đầu. “Trần Chẩn cầu kiến thái phó, được thái phó tiến cử, trực tiếp yết kiến chúa thượng. Chúa thượng biết Trần Chẩn đến, không những xuống thềm nghênh đón, mà còn trò chuyện thân mật với ông ta suốt hai canh giờ, lập tức phong làm thượng khanh, ngoài ra còn ban cho một toà trạch viện, ba mươi nô tỳ, hai trăm lượng vàng, năm mươi súc lụa.”

“Ồ...” Sư Lý Tật gãi đầu. “Sao lại thế được nhỉ?”

Tư Mã Thác giậm chân nói: “Như thế chẳng phải chúa thượng... đã lú lẫn rồi ư? Bao nhiêu tướng sĩ liều mạng sa trường, muốn có hai trăm lượng vàng mà còn không được, thế mà tên Trần Chẩn... Này, Sư Lý huynh, tại hạ nghĩ mãi mà không tài nào hiểu nổi!”

“Tư Mã huynh nói đúng lắm!” Sư Lý Tật nói. “Trần Chẩn vốn là kẻ tiểu nhân bỉ ổi, được việc thì ít mà hỏng việc thì nhiều. Nước Ngụy suy bại như ngày hôm nay, tất cả đều do hắn gây ra, tại sao chúa thượng lại hồ đồ đến vậy?”

Lời Sư Lý Tật vừa dứt, sau lưng đã có tiếng nói vang lên: “Là ai đang nói quả nhân hồ đồ vậy?”

Hai người giật nảy mình, quay đầu lại, nhìn thấy Huệ Văn Công, vội vàng quỳ mọp xuống đất: “Chúa thượng thứ tội!”

Huệ Văn Công đưa tay, mỗi tay đỡ một người đứng dậy: “Mau bình thân! Mau bình thân! Hai vị ái khanh có tội gì?”

Nhưng Sư Lý Tật không chịu đứng dậy, tiếp tục dập đầu: “Vi thần nói lời vô lễ sau lưng chúa thượng, tội đáng muôn chết!”

Huệ Văn Công cười nói: “Khi tiên quân còn tại thế, nghe thấy vậy sẽ rất vui mừng. Mặc dù quả nhân không sánh được với tiên quân, nhưng cũng không đến nỗi không chịu nổi mấy lời đàm tiếu sau lưng. Thượng đại phu, mau bình thân!”

Sư Lý Tật lạy tạ: “Đa tạ chúa thượng không trách tội!”

Huệ Văn Công bước vào, ngồi xuống vị trí chủ, bảo Sư Lý Tật, Tư Mã Thác ngồi hai bên, cười với hai người mà nói: “Tuy nhiên, trong lòng có gì, tốt nhất nên nói thẳng ra. Thượng đại phu hãy nói xem, quả nhân hồ đồ ở chỗ nào?”

Sư Lý Tật vòng tay nói: “Chúa thượng thường nói, nhân tài là cái gốc hưng quốc. Trần Chẩn không phải nhân tài, mà là hạng gian tài, chỉ giỏi mưu mô xảo trá, đố kỵ hiền tài, nhẫn tâm độc ác, ở trong nước thì nước gặp hoạ, ở trong nhà thì nhà gặp hoạ, là kẻ ai ai cũng căm ghét. Ai ngờ không những chúa thượng không trách tội, mà còn ban trọng thưởng. Vi thần lo lắng, vì chuyện này mà hiền tài trong thiên hạ sẽ nguội lòng!”

“Sư Lý ái khanh!” Huệ Văn Công cười vang mà nói. “Quả nhân quả thực có nói nhân tài là cái gốc hưng quốc. Thế nào là nhân tài? Nhân tài bao gồm hiền tài, cũng bao gồm cả gian tài. Hiền tài cũng tốt, gian tài cũng được, tất cả đều là nhân tài, đều có chỗ cần dùng, điều quan trọng là người nào dùng, dùng lúc nào, dùng thế nào. Hạng tiểu nhân như Trần Chẩn, đố kỵ hiền tài, nhẫn tâm độc ác, quả thực lòng dạ vô cùng nham hiểm, mặc dù quả nhân không thể dùng hắn để làm được việc, nhưng có thể dùng hắn để làm hỏng việc.”

Sư Lý Tật ngơ ngác không hiểu, hỏi lại: “Hỏng việc?”

“Hỏng việc có gì là không được?” Huệ Văn Công nhìn hai người. “Có được thiên hạ không phải việc dễ dàng, có lúc cần đến tài ngay, có lúc lại cần đến tài gian. Có lúc cần được việc, có lúc lại cần hỏng việc.”

“Vi thần vẫn không hiểu!”

“Này ái khanh!” Huệ Văn Công thu lại nụ cười. “Là không hiểu thực hay giả bộ hồ đồ? Quả nhân hỏi khanh, hiện giờ kẻ địch lớn nhất của Tần là nước nào?”

Sư Lý Tật lập tức đáp lời: “Nước Ngụy!”

“Người nào nắm quyền nước Ngụy?”

“Ngụy Anh!”

“Người nào hiểu Ngụy Anh nhất?”

Sư Lý Tật vỗ trán, lập tức đứng dậy, lạy liền mấy lạy: “Chúa thượng thánh minh, vi thần tâm phục khẩu phục!”

“Tốt lắm!” Huệ Văn Công bật cười. “Một người phục rồi, còn một người nữa?” Quay sang Tư Mã Thác. “Tư Mã tướng quân, chẳng phải khanh nói nghĩ mãi vẫn không thể hiểu nổi hay sao? Quả nhân hỏi khanh, lần trước bốn nước đánh Ngụy, nhưng nước Ngụy lại thoát nạn trong gang tấc, là công của ai?”

Tư Mã Thác đáp: “Bàng Quyên!”

“Hãy quan sát hai trận chiến Hoàng Trì, Triều Ca, Bàng Quyên dùng ba vạn bại binh, trong vòng năm ngày hành quân ba trăm dặm, giết năm vạn quân địch, bắt sống hai vạn quân, đánh bại đại quân hai nước Tề, Triệu, bắt sống danh tướng thiên hạ Điền Kỵ, Tư Mã tướng quân có bằng được chăng?”

“Vi thần không bằng!”

“Trong số chư tướng của liệt quốc, có người nào bằng được chăng?”

Tư Mã Thác lắc đầu.

“Vậy thì đúng rồi! Bàng Quyên xuất thân áo vải bỗng dưng xuất hiện, chặn xe kiệu của Tề Công, phá hoại chuyện Tề Ngụy hội vương, đặt nước Ngụy vào chỗ chết sau đó cứu sống Ngụy. Kẻ có khí thế nhường này, có mưu lược nhường này, quần thần trong liệt quốc, có ai bằng được chăng?”

Tư Mã Thác lại lắc đầu.

“Điền Nhân Tề biết người này có tài, đã phong làm thượng khanh, nhưng Bàng Quyên lại từ chối, Tư Mã tướng quân có biết nguyên nhân không?”

“Vi thần không biết!”

“Vì Bàng Quyên có một kẻ thù, chính là Trần Chẩn. Trần Chẩn đã hại chết cha của Bàng Quyên, Bàng Quyên tru di cả nhà Trần Chẩn, hai người mỗi người thắng một ván, coi như đã đấu xong một hiệp. Quả nhân thu nhận Trần Chẩn, chính là muốn xem họ đấu tiếp hiệp sau.”

Tư Mã Thác bội phục: “Chúa thượng thần toán, vi thần khâm phục!”

Huệ Văn Công đưa mắt nhìn hai vị đại thần, gật đầu cười mà nói: “Phục rồi thì tốt. Ở Ngụy, ở Tề, chức thượng khanh là hiển hách, nhưng ở Tần thì chỉ là hư chức. Còn về vàng bạc, mỹ nữ, phủ đệ, nếu là đại hiền tài sẽ chẳng màng đến, nhưng kẻ tiểu nhân lại chạy theo như cò. Tiểu nhân thèm muốn, dám chết vì những thứ này, quả nhân có gì phải tiếc!”

Hồi Thứ 22

Song hỷ giao hòa, Bàng Quyên đắc chí

Tương lai bất trắc, Tôn Tân đổi tên

Trong phủ đại tướng quân, Bàng Quyên đang bàn việc phòng thủ tuyến Hào Quan và Tây Hà với phó tướng Trương Mãnh, bỗng nghe ngoài cổng có tiếng ồn ào. Một chốc sau, lính canh cổng chạy vào bẩm báo: “Báo, phía ngoài cổng có hương dân cầu kiến!”

“Hương dân?” Bàng Quyên thoáng ngạc nhiên, vội cùng với Trương Mãnh đi ra cổng chính, quả nhiên có mười mấy người dân đang quỳ dưới đất. Nhìn thấy hai người, cụ già dẫn đầu lạy liền ba lạy, khóc lóc mà nói: “Đại tướng quân, cầu xin tướng quân khai ân, cầu xin tướng quân!” Nói đoạn lại dập đầu bình bịch. Những người dân khác cũng khấu đầu theo.

Bàng Quyên ngơ ngác chẳng hiểu gì, đưa mắt nhìn Trương Mãnh, thấy Trương Mãnh cũng đang đứng ngây người, liền bước lại đỡ cụ già dậy: “Lão trượng hãy đứng dậy. Tại hạ là Bàng Quyên, có điều gì xin cứ nói!”

Cụ già lại định quỳ xuống, nhưng bị Bàng Quyên giữ lại. Cụ già vừa lau nước mắt, vừa kể lể. Thì ra cụ già tuổi đã ngoại lục tuần, chỉ có hai người con trai, người con cả đi đầu quân, người con thứ cày ruộng. Mùa thu năm ngoái, con thứ mắc phải bệnh lạ, không may qua đời, dưới gối chỉ còn lại người con trưởng, tên gọi Thanh Ngưu. Ba ngày trước, Thanh Ngưu lấy trộm quân lương, phạm phải tội chết, đã xử quyết chém đầu vào giờ Ngọ hôm nay, Phạm Tiêu đã báo cho cụ đến nhặt thi thể. Cụ già hay tin, mới vội vàng cùng hàng xóm láng giềng đến chỗ Phạm tướng quân cầu xin, nhưng Phạm tướng quân nói, pháp không dung tình, Thanh Ngưu đã phạm phải quân pháp, theo luật phải chém đầu. Cụ già đang tuyệt vọng, có người bèn mách nước đến cầu xin đại tướng quân, nói chỉ cần đại tướng quân khai ân, may ra Thanh Ngưu có thể miễn tội chết. Cụ già nghe vậy, lập tức cùng bà con chòm xóm chạy đến đây cầu xin.

Bàng Quyên hỏi: “Trong trại quân một ngày đủ ba bữa cơm, tại sao con trai cụ lại phải trộm quân lương?”

Cụ già vội nói: “Đại tướng quân có điều không biết, Thanh Ngưu khoẻ mạnh phàm ăn, sức ăn bằng ba người thường. Một bữa có thể ăn mười cân thịt bò, hai mươi cái màn thầu, nên bình thường ăn không được no bụng.”

Bàng Quyên ngẩng đầu nhìn, thấy giờ Ngọ sắp điểm, không kịp hỏi thêm, vội vàng gọi người chuẩn bị ngựa, cùng Trương Mãnh mỗi người một ngựa phóng đến doanh trại của Phạm Tiêu ở thành bắc. Khi cách doanh trại chừng hai dặm, đã nghe thấy ba hồi trống giục, bèn hối hả ra roi, phóng như bay về phía pháp trường. Từ xa đã nhìn thấy Thanh Ngưu bị trói quặt hai tay, cúi đầu quỳ trên pháp trường, đao phủ tay đao lăm lăm đứng sẵn bên cạnh, thanh đại đao đã giơ lên. Phạm Tiêu ngồi ngay ngắn trên đài, sắc mặt nghiêm trang, ba ngàn tướng sĩ thuộc hạ đứng dàn hàng xem hành quyết.

Thấy lưỡi đao sắp chém xuống, Trương Mãnh còn cách đó khoảng hai tầm tên bắn vội hét lớn: “Không được chém!”

Các tướng sĩ đều giật nảy mình. Đao phủ tay vẫn giơ đao, quay sang nhìn Phạm Tiêu. Phạm Tiêu đang kinh ngạc, thì Bàng Quyên, Trương Mãnh đã phóng vụt đến nơi, nhảy xuống ngựa, nhanh chóng đi lên đài hành hình. Phạm Tiêu vội đứng dậy bái kiến: “Mạt tướng tham kiến đại tướng quân!”

Bàng Quyên không nhìn đến, đi thẳng tới chỗ Thanh Ngưu, quát đao phủ: “Cởi trói!”

Đao phủ vội cởi trói, Bàng Quyên kéo Thanh Ngưu dậy, nhìn kỹ từ đầu đến chân, thấy hắn mặt đỏ như đồng, thân cao tám tấc, cơ thể cường tráng như trâu mộng, thì trong lòng mừng rỡ, vỗ vào vai hắn mà hỏi: “Ngươi chính là Thanh Ngưu?”

Thanh Ngưu vốn cho rằng mình đã chết đến nơi, tuyệt đối không ngờ vẫn còn cơ hội sống, vì vậy nhất thời ngây thộn, chỉ mở to hai con mắt hoang mang nhìn sững vào Bàng Quyên, giống như đang nằm mơ.

Trương Mãnh quát: “Thanh Ngưu, đại tướng quân cứu mạng ngươi, còn không mau tạ ơn?”

Thanh Ngưu giật nảy mình, bấy giờ mới định thần lại, lập tức quỳ xuống lạy: “Thanh Ngưu đa tạ ơn cứu mạng của đại tướng quân!”

Bàng Quyên quay sang Phạm Tiêu: “Phạm tướng quân, Thanh Ngưu sức ăn hơn người, tướng quân có biết không?”

“Mạt... mạt tướng... mạt tướng biết.”

“Đã biết, tại sao không tăng thêm cơm cho hắn?”

Phạm Tiêu vội nói: “Bẩm... bẩm... đại tướng quân, mạt tướng... đã tăng... gấp... gấp đôi...”

“Thanh Ngưu phải ăn gấp ba người thường, gấp đôi sao đủ được?”

“Vốn... vốn là gấp... gấp ba, nhưng... nhưng gần đây... Lý tướng quân... cắt... cắt giảm... lượng quân nhu, mỗi ngày... chỉ... chỉ cấp cho... tám... tám lượng hai tiền, không... không ai được ăn... ăn no, nên mạt... mạt tướng... mới giảm... lượng cơm... của... của... hắn.”

Sắc mặt Bàng Quyên sầm xuống, chuyển ánh mắt sang Trương Mãnh: “Truyền Lý Thông!”

Một lát sau, người phụ trách lương thảo của ba quân là Lý Thông vội vã phóng ngựa đến, khấu đầu nói: “Mạt tướng tham kiến đại tướng quân!”

Bàng Quyên sắc mặt đằng đằng sát khí, lạnh lùng hỏi: “Lý Thông, ngươi đã biết tội chưa?”

Lý Thông đáp: “Bẩm đại tướng quân, mạt tướng không biết!”

Bàng Quyên hừ mũi một tiếng: “Ngươi chết đến nơi, còn nói không biết! Bản tướng hỏi ngươi, tại sao lại ăn bớt quân nhu?”

“Bẩm đại tướng quân, mạt tướng không ăn bớt quân nhu. Năm nay đại hạn, vụ mùa hạ ở Hà Đông mất trắng, lương thực tích trữ trong quốc khố đã bị tư đồ đại nhân mang đi cứu đói, lương thực tích luỹ trong quân chỉ còn lại hơn vạn thạch, mặc dù được Tề, Triệu bồi thường vạn thạch, nhưng ta lại phải nuôi một vạn tám nghìn người Tề, Triệu. Mạt tướng suy nghĩ mãi vẫn không tìm ra cách, nên đành phải cắt bớt lượng lương thực, nếu không hai tháng sau, ba quân sẽ chẳng còn gì để ăn nữa.”

Bàng Quyên trong lòng chấn động, chau tít đôi mày, trầm ngâm một lúc, lại hỏi: “Chuyện lớn như vậy, tại sao không báo cáo?”

“Mạt tướng đã dâng biểu báo, nếu đại tướng quân không tin, có thể hỏi Trương tướng quân!”

“Đúng là có việc này!” Trương Mãnh gật đầu nói. “Mạt tướng cũng từng nhiều lần nói với tư đồ đại nhân về chuyện này, tư đồ đại nhân đích thân dẫn mạt tướng đến quốc khố kiểm tra. Mấy năm nay bệ hạ hưng binh liên tục, thu thuế quá nặng, đúng là quốc khố chẳng còn bao nhiêu lương thực. Mấy ngày nay, mạt tướng thấy đại tướng quân đang bận tâm vì việc lớn, nên chưa kịp thời báo cáo.”

Bàng Quyên lừ mắt nhìn Trương Mãnh, trách mắng: “Thật hồ đồ! Việc lớn là gì? Ba quân không có lương thực, đây mới là việc lớn!” Suy nghĩ một lát, quay sang Lý Thông. “Lý tướng quân, việc này không thể trách tướng quân, là bản tướng đã sai! Bắt đầu từ hôm nay, tướng quân hãy khôi phục khẩu phần ăn như cũ. Năm trăm lượng vàng mà bệ hạ thưởng cho bản tướng, tất cả giao cho tướng quân, hãy nhanh chóng mua quân lương của liệt quốc để giải quyết nỗi lo trước mắt. Còn về lương thực cho mấy tháng sau, bản tướng sẽ tự có cách.”

Bàng Quyên vừa dứt lời, tất cả các tướng sĩ có mặt, gồm cả Trương Mãnh đều quỳ xuống, vừa dập đầu vừa khóc lớn.

Bàng Quyên chau mày, quát lớn: “Tất cả đứng lên cho ta! Nam tử hán đại trượng phu, khóc cái gì mà khóc! Hãy để dành sức mà rèn luyện bản lĩnh, thể hiện nơi sa trường!”

Các tướng sĩ đều sững lại, rồi rào rào đứng dậy, đồng thanh hô lớn: “Tuân lệnh đại tướng quân!”

Bàng Quyên nhìn mọi người một lượt, gật đầu nói lớn: “Tốt lắm!” Rồi quay sang Thanh Ngưu. “Thanh Ngưu, ngươi ăn khoẻ, chắc hẳn sức cũng khoẻ. Có thể phô diễn chút tài năng cho bản tướng xem chăng?”

Thanh Ngưu vâng một tiếng, đảo mắt một vòng, rồi đi tới trước đài hành hình, hai tay nắm chặt góc đài, hét lớn một tiếng: “Lên!” Nguyên một đài hành hình chứa được hơn hai mươi người, nặng đến nghìn cân chớp mắt đã bị hắn lật nhào xuống đất.

Bàng Quyên buột miệng khen: “Đúng là một tráng sĩ hổ báo!” Quay sang Trương Mãnh. “Trương tướng quân, tráng sĩ dũng mãnh nhường này, trong quân còn có ai không?”

Trương Mãnh đáp: “Theo mạt tướng biết, các trại quân đều có!”

“Tốt! Tướng quân mau tập hợp họ lại, tổ chức thành một đội, biên vào trung quân, cung cấp khẩu phần ăn riêng!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Bàng Quyên bỏ ra năm trăm lượng vàng, không những đã mua được lòng quân, lại vô tình có được gợi ý, tập hợp một đội quân hổ bôn cho ba quân. Một khi đội quân này được luyện thành, nếu tiếp tục có chiến sự, chém cờ bắt tướng chỉ là chuyện nhỏ.

Trên đường hồi phủ, Bàng Quyên càng nghĩ càng đắc ý, càng đắc ý càng giục ngựa phi nhanh, thoáng chốc đã về tới trước phủ đại tướng quân. Vó ngựa vừa chậm lại, từ góc tường bên cổng đột nhiên có người lao ra giữa đường chặn trước đầu ngựa. Bàng Quyên thất kinh, đang định quát hỏi thì người canh cổng đã chạy ra bắt lấy kẻ đó.

Bàng Quyên xuống ngựa, đưa dây cương cho một môn nhân khác, chậm rãi bước lên phía trước.

Người gác cửa đang giữ kẻ kia sắc mặt tái mét, vội vàng bẩm báo: “Khởi bẩm đại tướng quân, tên ăn mày này giờ Ngọ đến xin ăn, tiểu nhân đã cho ăn cơm. Không ngờ hắn ăn no uống đủ rồi lại không chịu đi, nói là muốn gặp đại tướng quân. Tiểu nhân biết hắn muốn sinh sự nên đã đuổi đi. Nào ngờ hắn không biết trời cao đất dày, chẳng biết đã lén quay trở lại từ bao giờ, lặng lẽ nấp trong góc tường, đã khiến đại tướng quân sợ hãi!”

Bàng Quyên cười vang mà nói: “Chẳng qua chỉ là một gã ăn mày, sao ngươi phải hốt hoảng đến thế? Thả hắn ra!”

Người canh cửa bèn thả tay. Bàng Quyên nhìn kỹ người này, thấy hắn tuổi chừng đôi mươi, mặt mũi thanh tú, quần áo tuy rách rưới vẫn khó che giấu một thân anh khí, đôi mặt to sáng rực có thần, thì trong lòng thầm mừng, gật đầu hỏi: “Tiểu tử, ngươi là ai? Cớ sao lại chặn đường bản tướng?”

Kẻ này bèn hỏi: “Đại tướng quân có phải Bàng Quyên?”

Bàng Quyên đáp: “Chính phải!”

“Thảo dân Bàng Thông, phụng lệnh gia phụ đến tìm đại tướng quân.”

Bàng Quyên ngạc nhiên: “Ồ, gia phụ của ngươi là ai?”

“Bàng Thanh!”

Bàng Quyên trong lòng sung sướng, nhưng không biểu lộ ra nét mặt: “Bàng Thanh? Ông ấy làm nghề gì?”

“Đóng thùng!”

Bàng Quyên vội hỏi: “Vậy... ông ấy đâu?”

Bàng Thông cúi gằm mặt, một lát, chảy nước mắt mà nói: “Gia phụ đã quy tiên rồi!”

Bàng Quyên kinh ngạc: “Ngươi nói... thúc phụ... đã qua đời rồi?”

Bàng Thông vừa khóc vừa gật đầu.

Bàng Quyên sững sờ một lúc, rồi chậm rãi nói: “Đi, vào trong phủ nói chuyện.”

Bàng Thông đi theo Bàng Quyên vào trong phủ, ngồi trong chính đường, bắt đầu kể lại. Cả nhà Bàng Thanh làm nghề đóng thùng sinh sống thế nào, mười tám năm trước rời khỏi Đại Lương ra sao, rồi ở lại cửa Túc Tư hai năm, rồi mẫu thân tại sao lại qua đời, nhà họ làm thế nào lại chuyển đến Hàm Đan nước Triệu... Không lâu trước đây, Bàng Thanh mắc bệnh nặng, trước lúc liệt giường đã kể rằng, Bàng Thông có một người bác tên gọi Bàng Hành, đã thất lạc từ lâu. Đúng vào lúc này, Phụng Dương Quân rút binh về đến Triều Ca, khắp nơi trong thành Hàm Đan đều truyền tai nhau câu chuyện đại tướng quân Bàng Quyên của nước Ngụy, trong đó có người nói rằng, phụ thân của Bàng tướng quân tên gọi Bàng Hành. Bàng Thông nghe kỹ, về kể lại cho Bàng Thanh, Bàng Thanh ngờ rằng đó là cháu ruột mình nên đã bảo Bàng Thông tiếp tục đi nghe ngóng. Biết được Bàng Hành là thợ may của Đại Chu, thì đoán chắc Bàng Hành chính là anh ruột, Bàng Quyên là cháu ruột mình, lập tức gắng gượng trở dậy, muốn trở về Đại Lương gặp mặt cháu trai để thoả tâm nguyện suốt bao năm nay. Hai cha con lên đường, đi chưa được một ngày thì Bàng Thanh đã không trụ nổi, ngã ngựa chết trên đường. Bàng Thông đau khổ đến chết đi sống lại, đã bán hết tất cả tài sản mang theo để mai táng cho Bàng Thanh, rồi xin ăn dọc đường lần hồi đến Đại Lương.

Nghe Bàng Thông kể xong câu chuyện, Bàng Quyên nhận ra Bàng Thông chính là em họ mình, thì vui buồn lẫn lộn, nắm tay Bàng Thông khóc lớn. Khóc một lúc, Bàng Quyên bảo người hầu mang cho Bàng Thông một bộ quần áo mới, sau đó bày tiệc khoản đãi. Trong bữa ăn, Bàng Quyên cũng kể lại tất cả những chuyện mình đã trải qua, đặc biệt nhắc tới việc Trần Chẩn đã giết hại Bàng Hành thế nào, mình bị hắn ta truy sát ra sao, cùng chuyến đi đến Đại Lương và cửa Túc Tư tìm kiếm Bàng Thanh. Bàng Thông nghe xong, cũng nước mắt ròng ròng.

Sau khi cơm rượu xong xuôi, Bàng Quyên hỏi: “Tiểu đệ có mong muốn gì, cứ nói lại với huynh trưởng!”

Bàng Thông đáp: “Trên đời này, Bàng Thông chỉ có huynh trưởng là người thân thích. Có thể sớm tối được ở cùng huynh trưởng đã là mong muốn lớn nhất của tiểu đệ!”

Bàng Quyên gật đầu, trầm tư một lúc, cho người gọi tất cả gia nô, môn nhân lại, lớn giọng tuyên bố: “Bắt đầu từ hôm nay, tất cả mọi việc lớn nhỏ trong phủ bản tướng, đều do Bàng Thông quyết định, các ngươi phải hầu hạ chu đáo, nghe rõ cả chưa?”

Đám nô bộc đều bái lạy Bàng Thông, vâng vâng dạ dạ nhận lệnh rồi lui ra.

Việc Bàng Thông bất ngờ tìm đến nương nhờ khiến Bàng Quyên vô cùng vui sướng.

Buổi tối hôm đó, Bàng Quyên nằm trên giường, trở người liên tục, mãi vẫn chưa ngủ được. Nhớ lại toàn bộ quá trình sau khi xuống núi, dường như đi đến đâu cũng gặp may mắn, tất cả giống hệt như một giấc mơ, thuận lợi đến nỗi ngay cả bản thân cũng không dám tin là thực. Trước sau không quá mười tháng, bước nào cũng đi nước cờ hiểm, song nước nào cũng may mắn, từ một sĩ tử ngộ nạn bị truy sát khắp nơi trở thành đại tướng quân uy chấn liệt quốc, chỉ huy ba vạn tàn quân, trong vòng năm ngày chiến thắng hai trận, liên tiếp đánh bại hai cường địch xâm phạm đất nước, chặt đầu năm vạn, bắt sống gần hai vạn, chiến tích như vậy, dù là Tôn Vũ, Ngô Khởi cũng chưa từng thấy ghi chép. Và quan trọng hơn nữa là bản thân đã có được lòng quân, trở thành linh hồn của tướng sĩ. Ngô Khởi hút mủ nhưng chưa từng bái lạy vong linh người chết, Bàng Quyên không những làm được cả hai, mà còn đích thân cứu sống kẻ hàm oan, bỏ tiền riêng để mua quân nhu, ba quân làm sao có thể không bái phục sát đất?

Lòng quân đã thu phục, coi như việc ngoài đã xong. Em họ bất ngờ đến nương nhờ, việc nhà coi như đã ổn. Ngoài có ba quân, trong có thân thích, có thể nói Bàng Quyên đã chí toại ý mãn, ván cờ lớn đầu tiên sau khi xuống núi đã thuận lợi đi xong.

Ván cờ đầu tiên đã hoàn thành, theo lý thì phải tiếp tục ván cờ thứ hai. Đúng thế, ván cờ tiếp theo cũng đã bắt đầu.

Thế nhưng... đối thủ là ai? Nên đánh thế gì? Quân cờ đầu tiên nên đặt ở chỗ nào?

Nghĩ đến đây, Bàng Quyên đột nhiên ngồi bật dậy, hai chân khoanh tròn, mắt khép hờ, vận dụng công phu đã từng luyện với tiểu đồng khi còn ở trong Quỷ Cốc, thu tâm định trí, chìm vào suy tưởng.

Suy nghĩ một lúc, cuối cùng Bàng Quyên cũng mở mắt ra, khuôn mặt hé lộ một nụ cười bí hiểm.

Phùng Trạch nằm ở phía đông nam Đại Lương, cách cổng thành phía nam chưa đầy trăm dặm. Bên hồ có một ngọn núi, tên gọi Long Sơn, núi cao chừng chục trượng, rộng khoảng chục dặm, nhìn từ xa giống như một gò đất lớn. Núi Long Sơn phượng hót mà ngày trước Trần Chẩn dựng chuyện nên, chính là chốn này.

Bên cạnh Long Sơn có hồ lớn, rừng cây xanh rợp, cảnh sắc tuyệt vời, lại có tin đồn phượng hót mà cho đến nay, Ngụy Huệ Vương vẫn hằng tin, vì vậy sau khi dời đô về Đại Lương, nơi đây nhanh chóng trở thành vùng thánh địa của vương thất, được xây dựng biệt cung, đền đài thờ cúng, và còn sắp đặt cả vệ sĩ canh gác.

Ở sâu bên trong một biệt cung, nơi tiếp giáp với hồ lớn có một khu nhà, tường cao cửa dày, kín mít đến gió thổi không lọt. Trên cánh cổng lủng lẳng hai ổ khoá đồng, trong vòng năm mươi bước xung quanh, hoàn toàn không thấy có dấu chân người.

Phía sau cánh cổng sơn đen là một khu nhà kiểu tứ hợp viện, mặc dù thiết kế đơn giản, nhưng chẳng thiếu thứ gì.

Đây là một toà lãnh cung được xây theo lệnh của Ngụy Vương, chuyên dùng để giam giữ những thành viên vương thất phạm phải tử tội hoặc trọng tội. Bất kể là ai, một khi đã bị đưa vào trong này, coi như phải chịu giam giữ suốt kiếp, muốn trốn ra còn khó hơn lên trời.

Nơi đây có ăn có uống, có giường có ghế, thứ duy nhất không có chính là sinh khí. Trong khu nhà, cỏ dại um tùm, bóng cây rậm rịt, không nhìn thấy bất cứ vật sống nào. Đại tướng quân công tử Ngang đầu bù tóc rối, đang ngồi trước bàn, đôi mắt vô thân đờ đẫn nhìn vào chiếc ấm bằng gốm tử sa đặt trên mặt bàn.

Tĩnh mịch, tĩnh mịch như chết. Ngay cả tiếng sóng nước vỗ bờ ở cách đó không xa cũng bị một lớp tường gạch cao dày chặn đứng, khi truyền đến tai, chỉ còn rất yếu ớt, hầu như không thể nghe thấy.

Công tử Ngang vốn là người nhiệt huyết, có thể nhảy vào nước sôi lửa bỏng, có thể xung phong trận tiền, có thể không ăn không uống, nhưng không thể cô đơn. Mà sự cô đơn nhường này, công tử Ngang đã phải chịu đựng hơn hai tháng ròng, lúc này đúng là đã đến đỉnh điểm, không thể nhẫn nhịn thêm được nữa.

Lại ngồi thêm một lúc, công tử Ngang đột nhiên mở trừng hai mắt, rồi đứng bật dậy, chụp lấy chiếc ấm trên bàn, ném đánh choang vào bức tường gạch dày trước mặt. Sau đó đi thẳng tới cổng chính, hai tay đập rầm rầm vào cánh cổng, dùng hết sức bình sinh la hét: “Người đâu! Người đâu!”

Xung quanh không một tiếng động.

Công tử Ngang đá thật lực mấy cái vào cánh cổng, vẫn không có ai trả lời. Công tử Ngang mắt long sòng sọc, nhìn thấy bên cửa sổ có một khúc gỗ, liền lao vụt đến, vác lên, thẳng tay đập vào cánh cổng. Những tiếng “uỳnh... uỳnh” dội lên hàng tràng điếc nhĩ.

Không biết đã đập bao lâu, nhưng vẫn không thấy một tiếng người đáp lại. Công tử Ngang đã hoàn toàn tuyệt vọng, ném khúc gỗ xuống đất, tựa lưng vào cổng, ngồi rũ xuống đất, miệng lầm bầm nguyền rủa: “Lũ chó chết! Bản công tử mà ra được, sẽ giết hết các ngươi!”

Công tử Ngang ngồi dựa cổng hồi lâu, mới lê từng bước nặng nề trở lại sảnh đường, nhìn vào bài trí thô lậu trong sảnh mà đờ người ngây dại.

Đột nhiên, công tử Ngang trợn trừng hai mắt, cơn giận dữ lại tiếp tục phát tác, điên cuồng quăng ném tất cả mọi thứ có thể vớ được. Khi tất cả mọi thứ đều đã đập hết, lại nhặt các mảnh vỡ từ dưới đất lên, tiếp tục đập phá. Nhưng cho dù công tử Ngang có giận dữ đến đâu, xung quanh vẫn là một bầu tĩnh mịch như tờ, dường như trên thế giới này chẳng còn ai quan tâm đến sự tồn tại của hắn.

Có lẽ do đã quá mệt, có lẽ thân tâm đã đến lúc rã rời, cuối cùng động tác của công tử Ngang cũng chậm dần lại, rồi dừng tay, ngồi bệt xuống nền nhà. Xung quanh lại chìm vào tịch mịch.

Đúng vào lúc công tử Ngang lòng tựa tro tàn, từ xa bỗng có tiếng bước chân vẳng lại, “cộp... cộp... cộp...”.

Tiếng bước chân mỗi lúc một gần, trái tim công tử Ngang cũng càng lúc càng đập dồn dập, cơ thể bất động, nhưng đầu đã ngoái lại, hai mắt nhìn chằm chằm vào cánh cổng lớn màu đen cách đó không xa.

Sau tiếng tra khoá lạch cạch, cánh cổng cọt kẹt mở ra, đi vào là Bàng Quyên uy phong lẫm liệt, một viên quân uý và mấy tên lính tay cầm binh khí theo sau.

Công tử Ngang thoắt cái đã như chết lặng, ngây ra tại chỗ, hai con mắt chằm chằm nhìn vào bộ giáp trụ đại tướng quân mà Bàng Quyên đang mặc. Hai tháng trước, bộ giáp trụ này còn được khoác trên người hắn...

Bàng Quyên từng bước đi vào, rồi dừng chân trước ngưỡng cửa sảnh đường.

Quân uý bước lên một bước, nói lớn: “Khởi bẩm công tử, có đại tướng quân đến thăm!”

Nhưng công tử Ngang không có phản ứng gì, vẫn nhìn chằm chằm vào bộ giáp trụ, hai mắt đờ đẫn.

Bàng Quyên bước lên một bước, thình lình quỳ sụp xuống, lạy liền ba lạy, nói lớn: “Mạt tướng Bàng Quyên khấu kiến An Quốc Quân!”

Công tử Ngang sững người, dường như lúc này mới định thần lại được, liền vừa bò vừa lết tới trước ngưỡng cửa, đưa tay nắm lấy vạt áo Bàng Quyên, bật khóc cầu xin: “Bàng đại tướng quân, mau... mau thả ta ra, ta cầu xin đấy!”

Bàng Quyên liếc hắn một cái rồi từ từ đứng dậy, đưa mắt nhìn khắp xung quanh, chỉ thấy vắng vẻ đìu hiu, đầy nhà mảnh vỡ, bất giác trong lòng thương cảm, bèn quay sang trách mắng viên quân uý: “Ngươi...” rồi lại đưa mắt nhìn đám lính, “còn cả các ngươi nữa, sao lại đối xử với An Quốc Quân như vậy?”

Quân uý và binh lính đều sợ hãi, quỳ mọp cả xuống đất, đưa mắt nhìn nhau, muốn biện bạch nhưng lại không dám.

Bàng Quyên nhìn trừng trừng vào quân uý, quát lớn: “Còn đứng đấy? Không mau gọi người đến dọn dẹp, thay thế toàn bộ vật dụng ở đây, cho hai nô tỳ tới hầu hạ An Quốc Quân?”

Quân uý vội nói: “Việc này... đại tướng quân, bệ hạ...”

Bàng Quyên xua tay, bực bội nói: “Các ngươi hãy cứ làm theo! Còn về phía bệ hạ, bản tướng tự có cách!”

Quân uý vâng lệnh, lập tức dẫn quân lính rời đi.

Thấy quân lính đã đi xa, Bàng Quyên lại quỳ xuống trước mặt công tử Ngang: “Mạt tướng đến chậm, khiến An Quốc Quân phải chịu khổ!”

Công tử Ngang lết lên phía trước, đưa tay nắm chặt tay Bàng Quyên, nước mắt ròng ròng: “Đại tướng quân...”

Buổi trưa hôm đó, dưới đình hóng mát trong hậu hoa viên của vương cung, Ngụy Huệ Vương ngồi ngay ngắn trên chiếu, toàn thần tập trung vào ván cờ trước mặt. Một lúc, ánh mắt rời khỏi bàn cờ, chậm rãi quay sang Bàng Quyên đang ngồi đối diện, trên khuôn mặt thoáng hiện một nụ cười: “Bàng ái khanh, hãy nhìn cho rõ, nếu hối hận, quả nhân sẽ cho phép khanh đi lại một nước!”

Bàng Quyên đáp: “Vi thần đa tạ bệ hạ. Tuy nhiên, vi thần đã hạ cờ, tuyệt đối sẽ không có chuyện hối hận.”

Ngụy Huệ Vương gật đầu, cười nói: “Tốt, Bàng ái khanh đã nói vậy, quả nhân cũng không khách khí nữa!” Lời vừa dứt, lập tức nhấc quân cờ lên, chầm chậm hạ xuống, vây chặt một con rồng lớn của Bàng Quyên.

Nhìn thấy không còn hy vọng cứu vãn, Bàng Quyên bèn vòng tay nói: “Bệ hạ đã đi nước cờ này, vi thần đành phải chịu thua!”

“Ái khanh chơi cờ hay lắm!” Ngụy Huệ Vương cười nói. “Không giấu ái khanh, quả nhân đã chơi cờ vô số, song thắng được ái khanh một trận, thật không phải dễ dàng! Nào, tiếp tục ván nữa!”

Bàng Quyên khấu đầu nói: “Bệ hạ, xin chớ trách vi thần vô lễ, vi thần đã thua liên tiếp ba ván, giờ chẳng còn tâm trạng để chơi nữa!”

“Ừm!” Ngụy Huệ Vương gật đầu nói. “Quả nhân cũng thấy khanh tinh thần hơi khác, không giống thường ngày. Ái khanh có tâm sự gì chăng?”

Bàng Quyên lại khấu lạy: “Bệ hạ thánh minh, vi thần quả thực có tâm sự.”

Ngụy Huệ Vương gạt bàn cờ sang một bên: “Ái khanh có chuyện gì, có thể nói cho quả nhân nghe chăng?”

Bàng Quyên chậm rãi nói: “Sáng sớm hôm qua, vi thần đang định ra khỏi cửa, bỗng nhìn thấy một con chim non rơi xuống sân. Vi thần nổi hứng nên đã bắt nó nhốt vào trong lồng. Buổi tối trở về, vi thần nhớ tới con chim non, liền tới xem, thì thấy hai con chim lớn bay lòng vòng quanh lồng, một con cất tiếng kêu thảm thiết, một con đang cố gắng chĩa mỏ vào trong lồng, mớm mồi cho chim non ăn. Vi thần động lòng trắc ẩn, nên lập tức thả nó ra. Chim non thoát khỏi lồng, một nhà ba khẩu vui vẻ nhảy nhót, lượn ba vòng quanh nhà rồi mới bay đi, cảnh tượng thực khiến người ta cảm động!”

Ngụy Huệ Vương sớm đã biết chuyện Bàng Quyên đến Long Sơn thăm công tử Ngang, nghe thấy lời này, biết Bàng Quyên có ý xin cho công tử Ngang, bèn thở dài một tiếng: “Than ôi, Bàng ái khanh, khanh không cần nói nữa. Chuyện của nghịch tử, có tội thì phải chịu, quả nhân xử như vậy đã là nương tay lắm rồi!”

Bàng Quyên vẫn quỳ dưới đất: “Bệ hạ, lỗi lầm của An Quốc Quân phần lớn là do gian tặc Trần Chẩn che mắt. Nay không còn Trần Chẩn nữa, An Quốc Quân sẽ hiểu rõ thị phi, làm lại từ đầu!”

Giải thích như vậy, quả là hợp tình hợp lý. Ngụy Huệ Vương lại nghĩ, ngay cả bản thân cũng đã từng bị Trần Chẩn mê hoặc, liền gật gù mà nói: “Ái khanh nói rất đúng. Theo ý ái khanh, nên xử lý nghịch tử thế nào?”

Bàng Quyên ôm quyền đáp: “An Quốc Quân võ công cao cường, giỏi chiến trận, cũng hiểu trị quân, dũng mãnh nổi danh liệt quốc, là nhân tài dùng binh hiếm có. Vi thần to gan cầu xin bệ hạ hãy xá tội cho An Quốc Quân, khôi phục chức đại tướng quân. Vi thần nguyện làm phó tướng của An Quốc Quân, cùng An Quốc Quân trị quân, đánh đông dẹp bắc, phò tá bệ hạ thành tựu vương nghiệp.”

Ngụy Huệ Vương vội vã xua tay: “Như vậy sao được?”

Bàng Quyên lại bái lạy: “Khẩn cầu bệ hạ ân chuẩn cho thỉnh cầu của vi thần!”

“Thế này vậy!” Ngụy Huệ Vương quyết đoán. “Bàng ái khanh đã cầu xin, quả nhân có thể xá tội cho nghịch tử. Song về chức vị, hãy để cho nó làm trung quân tham tướng, đi theo ái khanh học cách trị quân, tìm cơ hội lập công chuộc tội.”

Thực ra, kết quả này, Bàng Quyên đã dự đoán được từ trước, nhưng ngoài miệng vẫn nài nỉ: “Bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương kiên quyết: “Ái khanh bất tất phải nhiều lời! Để nó làm tham tướng, là quả nhân đã nể mặt ái khanh lắm rồi!”

Bàng Quyên do dự một lát, lại lạy ba lạy: “Vi thần đa tạ bệ hạ hậu ái! Bệ hạ vạn an, vi thần cáo lui!”

Nhìn Bàng Quyên đi xa dần, Ngụy Huệ Vương hơi ngả người ra phía sau, thở dài một tiếng, xúc động gật gù nói với tỳ nhân: “Người này vừa có thể nghĩ được điều quả nhân nghĩ, lại không có lòng tham, đúng là một bề tôi tốt của ta!”

Tỳ nhân cũng gật đầu tấm tắc khen: “Là bệ hạ có huệ nhãn nhìn người tài!”

Ngụy Huệ Vương cười nói: “Ngươi thực biết ăn nói! Giờ thì, ngươi hãy tới đó một chuyến, dẫn nghịch tử về đây. Quả nhân không muốn gặp nó, nên ngươi hãy dặn dò nó, bảo nó đi theo Bàng ái khanh, cố gắng luyện tập thuật trị quân.”

“Lão nô lĩnh chỉ!”

Tỳ nhân tay cầm kim bài lệnh tiễn của Ngụy Huệ Vương đi đến Long Sơn, giải thoát công tử Ngang khỏi cảnh giam cầm. Công tử Ngang hết lời gặng hỏi, cuối cùng tỳ nhân cũng tiết lộ, người cầu xin giúp công tử Ngang chính là đại tướng quân Bàng Quyên, còn nói Bàng Quyên không những nói giúp trước mặt bệ hạ, mà còn tự nguyện trao lại chức đại tướng quân cho hắn, còn mình chỉ xin làm phó tướng.

Tiết lộ của tỳ nhân khiến công tử Ngang trong lòng cuộn sóng. Trong những ngày này, lúc nào công tử Ngang cũng ghi hận Bàng Quyên, cho rằng Bàng Quyên đã đoạt mất ngôi chủ tướng của mình, lần này cứu mình ra, hẳn cũng có ý đồ gì khác. Nghe tỳ nhân nói vậy, mới biết mình đã suy nghĩ quá nhiều.

Quay trở về phủ, công tử Ngang không kịp chải tóc, cũng chẳng kịp thay y phục, lập tức gọi xe kiệu, chuẩn bị hậu lễ định đến phủ đại tướng quân đa tạ. Không ngờ vừa ra khỏi cổng, đã thấy xe kiệu của Bàng Quyên tiến đến.

Nhìn thấy công tử Ngang, Bàng Quyên vội nhảy xuống xe, quỳ xuống đất bái lạy: “Vi thần khấu kiến công tử!”

Công tử Ngang vội vàng bước lên đỡ Bàng Quyên dậy, vòng tay vái một vái thật sâu, giọng nghẹn ngào: “Đại ân của đại tướng quân, Ngụy Ngang ghi nhớ suốt đời!”

Bàng Quyên đáp lễ rồi nói: “Công tử nói gì vậy? Vi thần hay tin công tử hồi phủ, nên mới vội vàng tới bái kiến công tử!”

“Ngụy Ngang trở về, việc đầu tiên là muốn đến bái tạ tướng quân, không ngờ vừa ra khỏi cổng, tướng quân đã đến trước một bước, như vậy... bảo Ngụy Ngang phải làm thế nào đây?”

Bàng Quyên cười vang mà nói: “Như vậy là công tử và vi thần có cùng suy nghĩ rồi!”

Công tử Ngang cũng bật cười, chìa tay mời: “Đại tướng quân, mời vào trong phủ!”

Bàng Quyên xoay người lại, khẽ vẫy tay, Bàng Thông và một người hầu liền khiêng một chiếc rương từ trên xe xuống, tiến lại gần. Công tử Ngang biết là lễ vật, liền khách sáo nói với Bàng Quyên: “Theo lý thì Ngụy Ngang phải đến đa tạ tướng quân mới phải, cái này là...”

Bàng Quyên lại cười, chỉ vào chiếc rương mà nói: “Chút lễ mọn này là do đích thân vi thần chuẩn bị cho công tử, đợi lát nữa công tử kiểm tra xong, tự nhiên sẽ nhận lấy.”

Công tử Ngang nghe Bàng Quyên nói vậy, nổi tính tò mò, nôn nóng dắt tay Bàng Quyên đi vào phòng khách, Bàng Thông và tỳ nhân cũng khiêng chiếc rương theo sau.

Nhìn thấy chiếc rương đã được đặt trong phòng, Bàng Quyên bước tới, đích thân mở ra, chỉ vào trong rương mà nói: “Công tử hãy xem.”

Công tử Ngang vội vàng bước lại, thò đầu nhìn vào, thấy trong hòm không có vật gì khác, chỉ có một bộ áo giáp dính máu và một thanh bảo kiếm, phảng phất có mùi tanh hôi bốc lên.

Công tử Ngang vội bịt mũi chau mày, Bàng Quyên bèn cười hỏi: “Công tử có biết vật này chăng?”

Công tử Ngang lắc đầu.

“Công tử lẽ nào ngay cả giáp trụ của Điền Kỵ cũng không nhớ?”

Công tử Ngang kinh ngạc: “Đây là vật của Điền Kỵ ư?”

Bàng Quyên cười vang mấy tiếng, gật đầu nói: “Lần trước đại chiến Hoàng Trì, Điền đại tướng quân do bất cẩn đã sảy chân rơi xuống hố do ái tướng Phạm Tiêu của công tử đào sẵn, toàn thân dính đầy phân thối, còn giơ kiếm định tự sát. May sao Phạm tướng quân nhanh tay nhanh mắt, đã đánh rơi thanh kiếm, dùng câu liêm kéo hắn lên khỏi hố, dù gì cũng đã cứu hắn một mạng.”

Từ lâu công tử Ngang đã nghe đồn về cuộc đại chiến Hoàng Trì, nhưng lúc này khi Bàng Quyên kể lại, lại xoay chuyển công bắt sống Điền Kỵ cho công tử Ngang, thực sự khiến hắn bất ngờ, thậm chí có ít nhiều bối rối, bèn gật đầu nói: “Tốt lắm, tốt lắm! Hai đại lễ này của tướng quân, Ngụy Ngang xin nhận hết!” Rồi lại vòng tay nói. “Điền Kỵ quỷ kế đa đoan, đã hại Ngụy Ngang không ít, đa tạ đại tướng quân đã giúp Ngụy Ngang trút được nỗi giận này!”

Bàng Quyên vội xua tay, chân thành nói: “Công này thuộc về Phạm tướng quân, Phạm tướng quân lại là thân tín do đích thân công tử dạy dỗ, vi thần đâu dám nhận công?”

Công tử Ngang nghe Bàng Quyên lời lẽ thành thực, không hề có chút giả tạo, đến lúc này đã thực sự khâm phục, lập tức cho người khiêng rương lễ vật vào, bày bộ đồ trà bằng đồng ra, tự tay rót trà thơm. Đang định mời Bàng Quyên dùng trà, ngoài cổng bỗng nghe tiếng xe ngựa chộn rộn, rồi người canh cổng chạy như bay vào, lớn tiếng thông báo: “Thụy Liên công chúa giá lâm!”

Nghe thấy bốn chữ “Thụy Liên công chúa”, Bàng Quyên giật mình, đang định lên tiếng thì công tử Ngang đã đứng dậy, khẽ mỉm cười tỏ vẻ có lỗi: “Em gái ta đến, Bàng tướng quân xin hãy đợi một chút, chờ Ngụy Ngang tiếp đón một lát.”

Công tử Ngang vừa mới bước ra khỏi cửa, một thiếu nữ dung nhan mỹ miều đã đi vào trong sân, không nói một lời, lập tức chạy lao lại gần khóc oà lên: “Nhị hoàng huynh...”

Công tử Ngang nắm tay công chúa, cũng xúc động mà nghẹn ngào gọi: “Liên muội...”

Hai người cứ thế nhìn nhau khóc.

Chốc sau, công tử Ngang lau nước mắt, kéo tay công chúa đi vào phòng khách, nói với Bàng Quyên vừa vội đứng dậy: “Liên muội, để hoàng huynh giới thiệu, vị này chính là đại tướng quân Bàng Quyên uy chấn liệt quốc.”

Bàng Quyên dập đầu sát đất: “Vi thần Bàng Quyên khấu kiến công chúa!”

Thụy Liên công chúa không ngờ ở đây còn có người khác, nhất thời sắc mặt ửng hồng, nhún mình đáp lễ: “Đại tướng quân miễn lễ!”

Bàng Quyên lại bái lạy, nói: “Vi thần đa tạ công chúa!”

Rồi lại bái tạ xong mới đứng dậy, vừa nhìn công chúa, hai mắt liền đăm đăm không chớp. Thụy Liên công chúa sống trong chốn thâm khuê, ngoài thái tử và các vị công tử khác, rất ít khi tiếp xúc với đàn ông bên ngoài, không thể đương nổi ánh mắt như lửa của Bàng Quyên, hai má đỏ bừng, cúi đầu không nói, mình liễu mong manh hơi nép về sau lưng công tử Ngang, có phần e sợ, bộ dạng thẹn thùng càng tôn thêm vẻ yêu kiều.

Bàng Quyên lúc này mới chột dạ, bèn từ từ thu ánh mắt lại, vòng tay vái mà nói: “Công tử, công chúa, hai vị đã lâu không gặp, hãy từ từ hàn huyên, vi thần cáo từ!”

Công tử Ngang vội nói: “Bàng tướng quân, cũng phải uống chén trà đã chứ!”

“Thời gian còn dài, công tử bất tất phải khách sáo!” Bàng Quyên nói đoạn quay người, cất bước đi ra khỏi cửa.

Công tử Ngang tiễn ra đến sân, Bàng Quyên lại bất chợt ngoái đầu, đưa mắt nhìn Thụy Liên công chúa, thấy công chúa cũng đang lén nhìn mình, thì khẽ mỉm cười, lại vòng tay vái, rồi sải bước rời đi.

Công tử Ngang lại tiễn thêm một đoạn nữa, từ biệt Bàng Quyên ở ngoài cổng lớn, rồi quay vào trong phủ, nói với công chúa: “Người này cũng thật là, nói đi là đi, sao có thể khách sáo đến thế?”

Thụy Liên công chúa lại đỏ bừng mặt, khẽ thì thầm như tự nhủ: “Trong cung đồn rằng Bàng tướng quân thần võ, cứ ngỡ là một hán tử đầu đồng thân sắt, không ngờ trông lại thư sinh thế kia.”

Công tử Ngang cười nói: “Nếu Liên muội đã vừa mắt Bàng tướng quân, hoàng huynh sẽ làm mối cho!”

Thụy Liên công chúa đỏ mặt, giậm chân nói: “Hoàng huynh, tiểu muội thật lòng đến thăm, mà hoàng huynh lại...”

Công tử Ngang vội dỗ dành: “Được rồi, được rồi, coi như ta lắm chuyện, được chưa? Nào, hãy xem nhị hoàng huynh tặng cho Liên muội món bảo bối gì?” Nói đoạn, liền gọi người hầu xách một thùng gỗ lên.

Thụy Liên nhìn vào thùng, mừng rỡ kêu lên: “Cá chép?”

Công tử Ngang đắc ý cười vang: “Nhị hoàng huynh nhìn thấy người ta câu cá dưới đầm, Liên muội là một con mèo, chẳng lẽ ta còn không biết?” Rồi quay sang người hầu. “Giao cho nhà bếp, hấp hai con, số còn lại đem nướng!”

Thụy Liên hớn hở chêm vào một câu: “Nhớ cho nhiêu gừng hành đấy!”

Từ sau khi gặp Thụy Liên công chúa, trong lòng Bàng Quyên lại chất thêm một niềm tâm sự. Trở về phủ, Bàng Quyên không tiếp bất cứ ai, khép mắt ngồi lặng đến nửa ngày trời, rồi sai Bàng Thông chuẩn bị xe ngựa, đến phủ tướng quốc.

Huệ Thi nhận được tin báo, liền ra tận cổng đón tiếp.

Nhìn thấy Huệ Thi, Bàng Quyên bước lên mấy bước, vòng tay vái chào: “Vãn sinh Bàng Quyên đã quấy quả tiên sinh!”

Từ sau khi khải hoàn, đây là lần đầu tiên Bàng Quyên đến phủ tướng quốc. Bàng Quyên gặp mặt đã tự gọi mình là vãn sinh, tôn xưng Huệ Thi là tiên sinh, điều này khiến Huệ Thi cũng bất ngờ, bèn vòng tay đáp lễ nói: “Đại tướng quân là khách quý, Huệ Thi muốn mời còn chẳng được, nói gì đến quấy quả?”

Bàng Quyên bái tạ nói: “Hôm đó ở triều đường, nếu không phải nhờ tiên sinh nói đỡ cho, vãn sinh đã trở thành hồn ma dưới lưỡi đao, làm sao còn có được vinh hoa như hôm nay? Đại ơn cứu mạng của tiên sinh, vãn sinh vẫn chưa có gì báo đáp, hôm nay đến đây, là mong tiên sinh nhận của vãn sinh một lạy!”

Bàng Quyên nói xong, lập tức khấu đầu sát đất.

Huệ Thi vội vàng đỡ dậy: “Đại tướng quân, không được làm vậy!” Rồi cầm lấy tay Bàng Quyên. “Đại tướng quân, mời vào trong phủ!”

Bàng Quyên vội nhường: “Mời tiên sinh!”

Hai người dắt tay nhau đi vào phủ, chia ngôi chủ khách ngồi xuống. Bàng Quyên đưa mắt nhìn quanh, bất ngờ khi thấy trong phủ bài trí giản dị thanh tao, không chút châu quang bảo khí, lập tức sinh lòng kính trọng. Một lát sau, nữ tỳ bưng trà lên, quỳ dưới đất, nâng khay ngang mày.

Huệ Thi rót một chén trà đưa cho Bàng Quyên: “Đại tướng quân, mời dùng trà!”

Bàng Quyên đa tạ, hai tay nhận lấy chén trà, khẽ nhấp một ngụm, thấy hương vị đặc biệt, bèn tấm tắc khen ngợi: “Nhìn nhã thất của tiên sinh, thực giống như thảo đường trong Quỷ Cốc; thưởng trà thơm của tiên sinh, thực giống như thưởng trà ngon của Quỷ Cốc tiên sinh.”

“Đại tướng quân quá lời rồi! Huệ Thi là người trần thô tục, đâu dám so sánh với Quỷ Cốc tiên sinh?”

“Tiên sinh bất tất phải khiêm tốn. Đại danh của tiên sinh, vãn sinh đã ngưỡng mộ từ lâu. Tiên sinh hiểu nhiều biết rộng, vãn sinh kính phục tận đáy lòng. Cái khác không nói, sau khi tiên sinh đến Ngụy, khác nào mưa xuân gió ấm, âm thầm khiến nước Ngụy trở nên yên trị. Ngày nay bệ hạ xa tiểu nhân, gần hiền thần, định đô mới, dùng chính pháp mới, tất cả đều là công của tiên sinh.”

Huệ Thi cười mấy tiếng, khẽ lắc đầu mà nói: “Đại tướng quân càng nói càng quá lời. Nếu luận tới bản lĩnh, Huệ Thi sao có thể sánh được với đại tướng quân? Quay đầu nhìn lại ván cờ đầu tiên sau khi đại tướng quân xuống núi, thực đúng là nước nào cũng tinh diệu!”

“Vãn sinh bất tài, đa tạ tiên sinh khen tặng!”

“Nghe nói mấy hôm trước, đại tướng quân lại hạ một nước cờ hay nữa!”

Bàng Quyên biết Huệ Thi đang ám chỉ chuyện mình cứu công tử Ngang, thì thoáng lúng túng, cười khẽ mà nói: “Vãn sinh kém cỏi, làm gì cũng chẳng thể qua được mắt tiên sinh!”

Huệ Thi khẽ thở dài, gật đầu như thấu hiểu: “Than ôi, ta đã nhận ra, đại tướng quân làm vậy cũng vì bất đắc dĩ. Nước Ngụy không giống nước Tần, muốn thành tựu nghiệp lớn, nếu không có chỗ dựa, chỉ dựa vào bản lĩnh, thực sự không thể.”

Bàng Quyên cũng thở dài, chậm rãi nói: “Từ sau khi ra khỏi Quỷ Cốc, người có thể hiểu được vãn sinh, duy chỉ có tiên sinh!” Ngẫm nghĩ một lát, bèn đi tới trước mặt Huệ Thi, khấu đầu sát đất. “Tiên sinh ở trên, xin hãy nhận của vãn sinh một lạy.”

Lần này Huệ Thi không những không ngăn cản Bàng Quyên, ngược lại còn khép hờ đôi mắt, thản thiên tiếp nhận: “Muốn ta làm gì, đại tướng quân cứ nói!”

Bàng Quyên lạy ba lạy xong mới nói: “Khẩn cầu tiên sinh giúp vãn sinh tác thành một hỷ sự!”

Lời khẩn cầu này rõ ràng đã nằm ngoài dự liệu của Huệ Thi. Sững sờ một lúc, Huệ Thi mới từ từ mở mắt ra nhìn Bàng Quyên, rồi gật gù mà nói: “Phải, đại tướng quân sự nghiệp đã thành, cũng đã đến lúc thành gia lập thất. Đây là chuyện vui trong đời, bản tướng đồng ý giúp đỡ. Xin hỏi, đại tướng quân ưng ý khuê nữ nhà ai?”

Bàng Quyên nói rành rọt: “Thụy Liên công chúa!”

Huệ Thi kinh ngạc, hai mắt tròn xoe, nhìn sững Bàng Quyên hồi lâu, rồi lại từ từ khép mắt, nói: “Ta nghe thấy rồi!”

Bàng Quyên lại lạy tạ: “Vãn sinh đa tạ tiên sinh đã thành toàn!”

Đã chớm đầu thu, gió nhẹ hiu hiu, khẽ lay động đám lá sen trên mặt hồ.

Trong đình hóng mát bên hồ sen, Ngụy Huệ Vương nằm trên ghế đu, hai mắt nhắm hờ. Tỳ nhân hầu bên cạnh cũng đang ngáp dài ngáp ngắn. Hai cung nữ đứng hầu một bên, một người khẽ đưa ghế, một người tay cầm quạt mỏng, vừa quạt mát, vừa xua đuổi những côn trùng dám bén mảng đến gần.

Trong lúc mơ màng, Ngụy Huệ Vương chợt nhìn thấy Bàng Quyên tiến lại.

Ngụy Huệ Vương vội ngồi dậy, vươn mình, cười nói: “Lại đây, hãy ngồi bên cạnh quả nhân!”

Nhưng Bàng Quyên không nói một lời, sắc mặt ủ dột, đi thẳng tới trước mặt Huệ Vương, quỳ sụp xuống đất, mắt chảy hai hàng lệ, nói: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương kinh ngạc hỏi: “Bàng ái khanh, sao khanh lại khóc?”

Bàng Quyên lạy xong, nức nở mà nói: “Bệ hạ, vi thần... vi thần đến... để từ biệt bệ hạ.”

Ngụy Huệ Vương hốt hoảng, đưa tay nắm lấy vạt áo Bàng Quyên, giọng lạc đi: “Từ biệt? Ái khanh định đi đâu?”

“Nước Tần!”

Ngụy Huệ Vương hoảng hốt: “Sao có thể như vậy được? Bàng ái khanh, quả nhân đối xử với khanh không bạc, cớ sao ái khanh lại thay lòng?”

Bàng Quyên đáp: “Bệ hạ, xin hãy nghe vi thần nói một lời. Thường có câu, phượng hoàng chọn đậu cành cao, giao long quay về đầm lớn. Bệ hạ tuy đối xử với vi thần không bạc, nhưng nước Ngụy đã như tên bay hết tầm, khó thành đại sự. Còn nước Tần như mặt trời mới mọc, tương lai chắc chắn sẽ thành tựu vương nghiệp. Tần Công nhiều lần phái người đến thỉnh cầu vi thần, những gì bệ hạ ban thưởng, Tần Công không những không ban thiếu thứ gì, mà còn hứa hẹn sẽ phong đất cho vi thần. Vi thần cho rằng, phong đất chỉ là chuyện nhỏ, thành tựu vương nghiệp mới chính là ước nguyện cả đời của vi thần.”

Ngụy Huệ Vương vội nói: “Quả nhân cũng muốn thành tựu vương nghiệp, ái khanh không được đi, quả nhân cũng muốn thành tựu vương nghiệp!”

Bàng Quyên lại lắc đầu: “Bệ hạ nghĩ quá xa rồi! Vương nghiệp phải là trên thuận mệnh trời, dưới hợp địa lý, trong hợp ý dân, không phải bệ hạ cứ muốn là được!” Nói đoạn, lại lạy ba lạy, rồi chậm rãi đứng dậy. “Trong những ngày này ân sủng của bệ hạ dành cho vi thần, vi thần đành để kiếp sau báo đáp!” Nói xong, lập tức cất bước rời đi.

Ngụy Huệ Vương hốt hoảng, đưa tay nắm chặt vạt áo bào của Bàng Quyên, hét lớn: “Bàng ái khanh, khanh không được đi! Bàng ái khanh...”

Bàng Quyên thình lình rút bảo kiếm ra, chém đứt vạt áo, hai chân nhún mạnh, cơ thể bỗng bay vút lên không trung, lao thẳng về phía tây. Thấy Bàng Quyên càng bay càng xa, Ngụy Huệ Vương mồ hôi túa khắp người, cất bước đuổi theo, vừa đuổi vừa hét lớn: “Bàng ái khanh, Bàng ái khanh, Bàng ái khanh...”

Ngụy Huệ Vương đuổi mãi không chịu dừng, chẳng may trượt chân, ngã lăn xuống đất. Ngụy Huệ Vương giãy giụa muốn đứng lên, nhưng cố gắng thế nào cũng chẳng thể đứng dậy được. Ngụy Huệ Vương vô vọng nhìn theo Bàng Quyên đã chỉ còn là một chấm đen xa tít tắp, cố dốc hết chút hơi tàn mà gào lên thật lớn: “Bàng ái khanh...”

Ngụy Huệ Vương đang trong cơn tuyệt vọng, đột nhiên nghe thấy có tiếng người gọi: “Bệ hạ, bệ hạ...”

Ngụy Huệ Vương mở choàng mắt ra, thấy trước mặt không có Bàng Quyên, chỉ có tỳ nhân và hai cung nữ đang quỳ dưới đất, bộ dạng vô cùng hốt hoảng. Ngụy Huệ Vương kinh ngạc, đứng phắt dậy, nhìn khắp xung quanh, lúc này mới thở phào một hơi dài.

Tỳ nhân nói khẽ: “Bệ hạ, lúc nãy bệ hạ liên tiếp gọi tên Bàng ái khanh, Bàng ái khanh, có chuyện gì ư?”

Ngụy Huệ Vương lại nằm xuống ghế, đưa tay áo lau mồ hôi trên trán, lại nhắm mắt lại: “Không có gì, lúc nãy quả nhân mơ thấy Bàng Quyên!”

Cung nữ đứng dậy, tiếp tục đung đưa chiếc ghế.

Ngụy Huệ Vương nằm được một lúc, không dám ngủ tiếp nữa, bèn ngẩng lên hỏi: “Sau buổi trưa, có việc lớn gì không?”

Tỳ nhân đáp: “Bệ hạ muốn tới Đông Hồ du thuyền, thần đã sắp xếp xong xuôi.”

Ngụy Huệ Vương lắc đầu: “Không đi nữa! Chuẩn bị kiệu đến phủ tướng quốc.”

“Lão nô lĩnh chỉ!”

Một canh giờ sau, Ngụy Huệ Vương đã xuất cung, binh lính tiền hô hậu ủng, khí thế rầm rộ, tiến thẳng tới phủ tướng quốc. Sớm đã có sứ thần báo tin, Huệ Thi ra tận ngoài cổng phủ nghênh đón, được Ngụy Huệ Vương dắt tay đi vào phòng khách.

Vào phòng, hai người hành lễ quân thần xong xuôi, rồi cùng ngồi xuống chiếu. Ngụy Huệ Vương khẽ nhấp một ngụm trà, sau đó kể lại một lượt giấc mơ ban trưa, cuối cùng thở dài: “Than ôi, Huệ ái khanh, khanh nói xem, tại sao quả nhân lại có giấc mơ này? Bàng ái khanh cũng thật là, nói đi là đi luôn, không niệm đến một chút tình nghĩa quân thần. Quả nhân kéo áo hắn, hắn lại vung kiếm cắt áo đoạn nghĩa.”

Huệ Thi ngồi nghiêm ngắn, hai mắt nhắm hờ, trầm ngâm suy nghĩ một lúc. Ngụy Huệ Vương kể một mạch từ đầu đến cuối, thấy Huệ Thi vẫn không nói một lời, vội giục giã: “Huệ ái khanh, khanh nói gì đi chứ! Quả nhân nghe người ta nói, giấc mơ là điềm báo trước, khanh hãy nói xem, liệu có một ngày, Bàng ái khanh lại học theo Công Tôn Ưởng và Công Tôn Diễn, từ bỏ quả nhân đi theo người Tần hay không?”

Huệ Thi khẽ mỉm cười, lắc đầu.

Ngụy Huệ Vương thở phào một tiếng, nhưng vẫn có ít nhiều bất an, đưa mắt nhìn Huệ Thi: “Tài của Bàng ái khanh có thể sánh với Ngô Khởi. Tiên quân Văn Hầu từ khi có Ngô Khởi đã hùng bá thiên hạ suốt mấy chục năm. Quả nhân khó khăn lắm mới có được Bàng ái khanh, bất kể thế nào cũng không được để hắn sinh hai lòng. Huệ ái khanh, khanh hãy bớt chút thời gian đến thăm Bàng Quyên, thăm dò thử xem. Bất kể Bàng ái khanh có mong cầu gì, cũng phải báo lại cho quả nhân.”

Huệ Thi mở mắt ra, nhìn Ngụy Huệ Vương nói: “Bệ hạ thực lòng muốn giữ Bàng Quyên, khiến hắn không sinh hai lòng?”

Ngụy Huệ Vương vội nói: “Chuyện này còn giả được ư? Không có Huệ ái khanh, quả nhân ăn không ngon; không có Bàng ái khanh, quả nhân ngủ không yên!”

“Nếu đã là vậy, vi thần có một kế, có thể giữ được lòng Bàng Quyên!”

Ngụy Huệ Vương cả mừng: “Ái khanh mau nói đi, là kế sách gì?”

“Nhận hắn làm rể!”

Ngụy Huệ Vương kinh ngạc, đờ người ra không nói được gì.

“Nếu bệ hạ gả công chúa cho hắn, Bàng Quyên sẽ trở thành rể quý của bệ hạ, thân là quốc thích. Cho dù Tần Công có dùng bao nhiêu vàng bạc châu báu, chắc chắn cũng không thể khiến hắn động lòng.”

Ngụy Huệ Vương cũng đã hiểu ra, trầm tư một lúc, rồi gật đầu nói: “Lời của ái khanh, đúng là diệu kế. Có điều, dựa theo lễ chế, công chúa phải gả cho quân hầu, Bàng Quyên tuy có tài, nhưng lại xuất thân hèn kém, việc này...”

Huệ Thi cười nói: “Lễ nhạc Chu thất đã băng hoại từ lâu, bệ hạ bất tất phải nhất nhất tuân theo. Hơn nữa, cho dù muốn giữ lễ chế, cũng chẳng phải là chuyện khó đối vối bệ hạ. Từ xưa đến nay, quân vương thánh minh ai chẳng thưởng công phạt tội. Theo công của Bàng Quyên, nếu vào thời Vũ Vương, đã có thể được phong cương. Bệ hạ sao không...”

Huệ Thi dừng lại nửa vời. Ngụy Huệ Vương lập tức hiểu ngay, bèn nói: “Phải, ái khanh nói rất đúng! Công Tôn Ưởng mới lập được chút công lao mà Tần Công còn phong cho đất Thương, Bàng ái khanh lập công lớn cho đất nước, quả nhân còn tiếc điều gì? Huệ ái khanh, khanh thấy thế này được chăng, ngày mai quả nhân sẽ ban chiếu lệnh, phong Bàng Quyên làm Vũ An Quân, ban cho Hoàng Trì làm thực ấp, gả công chúa cho, chọn ngày lành thành hôn.”

“Bệ hạ thánh minh!”

Ngụy Huệ Vương lại cúi đầu suy nghĩ một lát, càng nghĩ càng thông suốt, bất chợt mỉm cười: “Phải, lên triều là người một nhà, trong trận là quân cha con. Quả nhân có chàng rể quý này ở bên, còn lo gì chuyện binh đao trong thiên hạ?”

Huệ Thi nghe thấy lời này, khẽ chau mày, đang định khuyên can, bỗng thấy Ngụy Huệ Vương sầm mặt xuống, nhìn thẳng vào Huệ Thi, vẻ như vừa sực nhớ ra điều gì: “Huệ ái khanh...”

Huệ Thi ngẩng đầu: “Có vi thần.”

“Việc tốt này, chẳng qua cũng chỉ là ý của một mình quả nhân, không biết Bàng ái khanh có ý này hay không?”

Huệ Thi cười nói: “Việc tốt thế này, Bàng Quyên thân là bề tôi, làm gì có chuyện không phục tùng?”

Nhưng Huệ Vương lắc đầu: “Không thể nói như vậy được! Hôn nhân bình thường, không thể coi là đại sự, nhưng Bàng ái khanh thì khác. Nếu Bàng ái khanh đã có ý trung nhân, chẳng phải quả nhân đã làm khó hắn ư?”

“Bệ hạ đã có ý này, vi thần xin đứng ra làm mối!”

“Tốt! Tốt lắm! Tốt lắm!” Ngụy Huệ Vương nói liền ba lần. “Việc này cứ giao cho ái khanh!” Dừng lại một lát, lại băn khoăn. “Có điều...”

“Bệ hạ còn có điều gì lo nghĩ?”

“Bên cạnh quả nhân có hai công chúa đang tuổi cập kê, một là Thụy Mai, do phu nhân hạ sinh, năm nay vừa tròn đôi tám; hai là Thụy Liên, do trắc thất sinh, tuổi vừa mười lăm. Theo ý ái khanh, quả nhân nên gả người nào thì hợp?”

“Bệ hạ có thể gả công chúa Thụy Liên!”

Ngụy Huệ Vương thoáng ngạc nhiên: “Hai công chúa đều là bảo bối của quả nhân, cớ sao ái khanh không khuyên gả trưởng công chúa?”

“Khởi bẩm bệ hạ, công chúa Thụy Liên là hoa sen, Bàng Quyên trong chữ Quyên có nước. Sen gặp nước thì sống, nước quý nhờ hoa sen. Bàng Quyên với Thụy Liên công chúa đúng là một đôi trời sinh.”

Ngụy Huệ Vương nghe vậy thì cả mừng, gật đầu lia lịa: “Phải rồi! Việc này coi như đã định, phiền ái khanh vất vả một phen!”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

Trong vòng nửa tháng sau đó, Ngụy Huệ Vương liên tiếp ban hai chiếu lệnh. Bàng Quyên chẳng khác nào nằm mơ, đầu tiên là được phong cương tấn tước, Bàng phủ thay đổi biển hiệu, trở thành quân hầu khác họ đầu tiên của nước Ngụy. Sau đó lại được ban cưới công chúa Thụy Liên, đích thân tướng quốc làm mối.

Vào ngày hôn lễ của Bàng Quyên, không chỉ Đại Lương, mà cả nước Ngụy đều chấn động. Quan thủ lệnh các ấp, quan viên các phủ, danh gia thế tộc, cường hào phú thương, tất cả đều nhận được thiệp mời bằng lụa do đích thân Bàng Quyên viết tên đóng triện, kìn kìn mang lễ vật đến chúc mừng. Trước phủ Vũ An Quân chiêng trống vang trời, ngựa xe nườm nượp, người đến xem, người tặng lễ, người tiếp khách, người giúp việc, cả mấy con phố dài đều chật cứng như nêm.

Thuần Vu Khôn sau khi từ biệt Trần Chẩn, qua sông đến cửa Túc Tư, du ngoạn ở đó mấy ngày, bất ngờ gặp được một người quen nước Vệ, mời đến Đế Khâu chơi hơn một tháng, lúc này mới quay trở lại nước Ngụy, đánh xe tiến vào thành Đại Lương qua cổng thành đông.

Vào trong thành, Thuần Vu Khôn đi tới con phố trước cung, càng đi càng khó di chuyển, cuối cùng không thể tiến thêm được nữa. Thuần Vu Khôn đành phải nhảy xuống xe, chặn một cụ già đi đường hỏi: “Xin hỏi, phía trước có chuyện gì vậy?”

Cụ già nhìn Thuần Vu Khôn một lượt, lắc đầu mà nói: “Chà chà, ngay cả chuyện lớn nhường này mà cũng không biết, xem ra khách quan là người từ xa đến! Nói cho khách quan biết, hôm nay là ngày đại hỷ của Vũ An Quân, toàn bộ thành Đại Lương đến mặt đất cũng phải chấn động, náo nhiệt khó tưởng tượng! Khách quan nếu muốn xem, thì hãy đi tiếp. Còn nếu khách quan muốn lên đường, tốt nhất hãy mau quay đầu đi vòng đường khác là hơn!”

Thuần Vu Khôn giật mình: “Vũ An Quân? Nước Ngụy chẳng phải chỉ có một An Quốc Quân thôi ư?”

Cụ già cười toáng lên mà nói: “Đó là chuyện xưa rồi! Mấy ngày trước bệ hạ đã ban chiếu lệnh, tấn phong đại tướng quân là Vũ An Quân, hôm nay lại ban hôn, phủ Vũ An Quân đúng là song hỷ lâm môn!”

Thuần Vu Khôn ngây ra một lúc mới hỏi: “Xin hỏi cụ, có biết Vũ An Quân lấy con gái nhà nào không?”

“Con gái nhà nào?” Cụ già lại nhìn Thuần Vu Khôn chòng chọc, thở dài liền mấy tiếng. “Con gái nhà nào làm gì có được hồng phúc đó?”

Thuần Vu Khôn cười hỏi: “Lẽ nào tướng quân đã lấy tiên nữ?”

Cụ già cũng cười: “Không phải tiên nữ, nhưng cũng gần như vậy!” Rồi bước lại gần một bước, nói nhỏ. “Không giấu khách quan, tân nương của Vũ An Quân chẳng phải ai khác, mà chính là thiên kim công chúa của bệ hạ!” Rồi xuýt xoa liền mấy tiếng. “Chà chà, già này năm nay đã bảy mươi ba, coi như đã vào tuổi xưa nay hiếm, nhưng lần đầu tiên được thấy cảnh tượng náo nhiệt nhường này!”

Thuần Vu Khôn gật gù, ôm quyền với cụ già mà nói: “Đa tạ lão trượng!”

Từ biệt cụ già, Thuần Vu Khôn thầm nghĩ: “Vũ An Quân có chuyện vui lớn, ta phải đến xin chén rượu mới được”. Nghĩ là vậy, nên lại tiếp tục tiến lên phía trước. Đi được mấy bước, nhìn thấy trước mặt người ken kín không thể đi qua, Thuần Vu Khôn đành phải đánh xe ngựa đến một quán trọ ven đường, bảo tiểu nhị sắp xếp phòng trọ, suy nghĩ một thoáng rồi cởi bỏ trang phục du sĩ, lấy từ trong túi ra một bộ quần áo ăn mày rách rưới mặc vào, để lộ cái đầu bóng loáng như gương, hai tay trống không đi thẳng ra phố.

Thuần Vu Khôn đi theo dòng người đến trước cổng phủ Vũ An Quân, thấy tân nương đã được đón vào trong phủ, người đến xem cũng đã dần tản đi, các lộ khách tới chúc mừng nườm nượp kéo đến, ai nấy đều dừng xe ghìm ngựa trước phủ, tay cầm thiếp mời, khiêng theo lễ vật, người nói kẻ cười, vô cùng rôm rả, nô nức đi vào trong phủ.

Thuần Vu Khôn đứng nhìn một lúc, rồi đi theo sau hai người khách. Hai bên cổng mỗi bên đứng sẵn vài người phụ trách lễ nghi, khi thấy khách đến, lập tức khom lưng cúi chào, tươi cười đón tiếp, đồng thời kiểm tra thiếp mời và lễ vật, lớn tiếng thông báo: “Mã Không đại nhân hai mươi lượng vàng, một cặp ngọc bích trắng. Quan lệnh Hoàng Trì một viên dạ minh châu. Ngự sử đại nhân một chuỗi trân châu, một đôi vòng mã não. Thái sử đại nhân một con kỳ lân ngọc xanh. Quan lệnh Nghiệp Thành năm mươi lượng vàng...”

Phía sau cổng phủ bày hai chiếc bàn sơn đen, sau bàn là hai viên chủ bạ, tai nghe tiếng hô, tay viết liến thoắng lên các thẻ tre. Vì người đến chúc mừng quá nhiều, nên họ ghi chép lia lịa không ngơi tay lấy một chốc, mồ hôi rịn đầy trán cũng không lau kịp.

Thuần Vu Khôn nghênh ngang giơ chân định bước qua, lập tức bị môn nhân đứng ngoài cùng chặn lại.

Môn nhân khẽ cúi chào, cất giọng lịch thiệp: “Lão trượng xin dừng bước!”

Thuần Vu Khôn trợn tròn hai mắt, nhìn đối phương với vẻ bất bình: “Dừng bước? Dừng bước làm sao uống được rượu mừng?”

Môn nhân lại cười, lấy ra một xu tiền đồng từ trong tay áo đưa cho ông ta: “Phía trước có một quán trọ, lão trượng hãy nhận lấy chút tiền này, nếu muốn uống rượu, hãy tới đó uống.”

Thuần Vu Khôn nhận lấy đồng tiền, lật qua lật lại ngắm nghía hồi lâu, rồi cười nhạt mà nói: “Đúng là mắt chó không biết nhìn người, lão hủ đây muốn uống rượu hỷ, ngươi lại lấy cái này để đuổi ta đi, coi ta là ăn mày ư?” Rồi tiện tay ném luôn đồng xu xuống nền gạch cách đó hơn trượng, kêu lên loảng xoảng.

Thuần Vu Khôn điên điên khùng khùng, cứ thế chửi mắng môn nhân sa sả. Một đám đông nhanh chóng xúm xít lại xem. Mấy vị khách đang đi ở trước sau đều dừng bước, hiếu kỳ đứng nhìn.

Vì là ngày đại hỷ, nên môn nhân tuy bị chửi mắng nhưng vẫn không dám nói gì. Đám nô bộc thấy vậy liền xúm cả lại, tròn mắt nhìn Thuần Vu Khôn từ đầu đến chân, cho rằng ông ta là hạng ăn mày đến gây sự, một môn nhân lập tức sầm mặt, cất giọng nhạt nhẽo: “Lão trượng nếu đến uống rượu mừng, xin hỏi có thiếp mời chăng?”

Thuần Vu Khôn lừ mắt nhìn hắn: “Lão hủ từ xa ngàn dặm đến chúc mừng, lấy đâu ra thiếp mời?”

Môn nhân hơi vòng tay: “Vũ An Quân có lệnh, bất kể người nào, nếu không có thiếp mời, không được phép vào trong. Lão trượng đã không có thiếp mời, vậy xin hãy đi cho, để tránh gây chuyện khó xử.”

Thuần Vu Khôn ngửa cổ lên trời cười lớn: “Khó xử? Ta đi khắp nam bắc đông tây, có chuyện quái lạ nào chưa từng gặp? Chỉ có điều vẫn chưa biết thế nào là chuyện khó xử, hôm nay may mắn được mở rộng tầm mắt rồi!”

Nghe ông ta nói vậy, đám nô bộc nhất thời không biết phải làm gì, chỉ đứng sững tại chỗ, tay chân luống cuống. Đã có người nhanh chân báo cho quản gia Bàng Thông. Bàng Thông vội chạy đến, nhìn Thuần Vu Khôn một lượt, thấy ông ta khí trầm tâm định, đoán chắc không phải hạng tầm thường, liền bước lại, vái mà nói: “Vãn sinh Bàng Thông xin chào tiên sinh. Xin hỏi tôn tính đại danh của tiên sinh?”

Thuần Vu Khôn cũng nhìn Bàng Thông một lượt, đôi mày khẽ nhướng lên: “Này tiểu tử, lão hủ là ai không quan trọng. Hôm nay là ngày đại hỷ của Vũ An Quân, ta vốn muốn đến đây để xin chén rượu mừng, nhưng lại bị tên gác cổng chặn lại, mất hết cả hứng thú, thực đáng giận!”

Bàng Thông mỉm cười nói: “Bọn chúng có mắt không tròng, tiên sinh là người đại lượng, xin hãy bỏ quá cho. Có chỗ nào đắc tội, vãn sinh xin được nhận lỗi với tiên sinh, mong tiên sinh đừng chấp đám hạ nhân!”

“Ừm!” Thuần Vu Khôn khẽ gật đầu. “Ngươi tuổi còn trẻ, nhưng cái miệng kể cũng khéo ăn khéo nói. Nể mặt ngươi, ta tạm không tính toán với đám người kia. Còn về rượu mừng, lão hủ cũng chẳng còn hứng thú uống nữa. Tuy nhiên, ta có một câu, ngươi hãy nhắn lại với Vũ An Quân!”

Bàng Thông mỉm cười hỏi: “Tiên sinh có gì chỉ giáo, vãn sinh nhất định sẽ nói lại!”

“Không! Không! Không!” Thuần Vu Khôn liên tiếp xua tay. “Lời này không liên quan gì đến ta. Trước đây không lâu, khi ta đến cửa Túc Tư có gặp kẻ thù của Vũ An Quân, là người này nhờ ta chuyển lời.”

“Kẻ thù? Xin hỏi tiên sinh, đó là người nào?”

“Trần Chẩn!”

“Trần Chẩn?” Bàng Thông chau mày, vội hỏi. “Hắn nói gì?”

Thuần Vu Khôn lắc lư cái đầu trọc: “Người này nói: ‘Sớm tối nếu có hắt hơi, tức Trần Chẩn đang nhớ đến ngươi’!”

Nói xong, Thuần Vu Khôn lập tức quay người, lắc lư cái đầu, sải bước đi ngay. Bàng Thông đứng ngẩn ra một lúc, dường như sực nhớ ra điều gì, liền đuổi theo gọi: “Tiên sinh, xin dừng bước!”

Thuần Vu Khôn lập tức dừng bước, quay người lại hỏi: “Tiểu tử, ngươi còn có chuyện gì?”

Bàng Thông vòng tay nói: “Xin hỏi, phải xưng hô với tiên sinh thế nào?”

Thuần Vu Khôn mỉm cười: “Ngươi hãy nói với Vũ An Quân, lão hủ là bạn của bạn hắn!” Dừng lại một chút, lại đưa tay chỉ vào cái đầu trọc. “Ngươi có thể bảo hắn cái này!”

Đêm đó, sao Trường Canh lơ lửng phía trời tây, mặt trăng nhô lên ở đằng đông, tân khách vãn dần, đã đến thời khắc động phòng hoa chúc. Bàng Quyên đã uống say mèm, được Bạch Hổ, Bàng Thông mỗi người đỡ một bên tay, lảo đảo dìu vào tân phòng.

Bạch Hổ dìu Bàng Quyên ngồi xuống chiếu, vái mà nói: “Ân công ngủ ngon, Bạch Hổ cáo lui!”

Bạch Hổ định đi, Bàng Quyên liền đưa tay níu lấy vạt áo Bạch Hổ: “Bạch... Bạch huynh đệ, đừng... đừng đi.”

“Ân công có gì dặn dò?”

Bàng Quyên xị u mặt, miệng phì ra hơi rượu nồng nặc, quát lớn: “Ân công cái gì? Bàng Quyên ta trên đời này chỉ có hai người thân, một người là Bạch huynh đệ, người còn lại là...” đưa tay chỉ vào Bàng Thông, “... là Bàng đệ!” Dừng lại một lát, lại nói với Bạch Hổ. “Bạch huynh đệ, từ nay trở đi, giữa chúng ta không còn ân công gì nữa, chỉ có huynh đệ. Cậu là tiểu đệ của ta, ta là đại ca của cậu!” Rồi quay sang Bàng Thông. “Còn đây nữa, cả hai đều là tiểu đệ của ta, một người là em họ, một người là em kết nghĩa. Em họ, em kết nghĩa, đều là người thân của Bàng Quyên, phủ Vũ An Quân chính là nhà của hai vị tiểu đệ. Bàng Thông thì không nói làm gì, Bạch Hổ huynh đệ lúc nào muốn đến cứ việc đến, muốn đi cứ việc đi, không cần câu nệ. Đại ca nếu có việc gì khổ tâm, sẽ đến tìm hai người đầu tiên. Đại ca nếu có việc gì vui vẻ, cũng sẽ cùng hưởng với hai người!”

Bạch Hổ, Bàng Thông nghe thấy vậy, vội vàng quỳ xuống, xúc động mà gọi: “Đại ca...”

Bàng Quyên mỗi tay đỡ lấy một người: “Nhìn kìa, đều là nam nhi, sao lại mềm yếu thế? Lại đây, hôm nay đại ca rất vui, sẽ cùng chia sẻ với hai đệ!” Rồi quay sang nữ tỳ. “Mang rượu tới đây, ba huynh đệ chúng ta lại uống một vò!”

Bạch Hổ đưa mắt ra hiệu với Bàng Thông, lại vòng tay vái mà nói: “Đại ca, ngày tháng còn dài, bình rượu ngon này, đợi đến mai hãy uống. Hôm nay là đêm vui của đại ca, trăng thanh gió mát, bọn tiểu đệ không làm phiền nữa!”

Bàng Thông cũng nói: “Đại ca, đêm đã khuya rồi, tẩu tẩu đang đợi đại ca trong động phòng!”

Nghe nhắc đến phu nhân, Bàng Quyên gật đầu nói: “Được, hai đệ đã nói như vậy, rượu này để mai hãy uống!”

Hai người lại vái chào, rồi quay người lui đi. Bàng Quyên đứng dậy, lảo đảo tiễn mấy bước, song lại được Bạch Hổ, Bàng Thông đỡ vào, ấn ngồi trở xuống, rồi mới lui ra. Đúng vào lúc này, dường như Bàng Quyên sực nhớ ra điều gì, bèn ngẩng lên gọi: “Này tiểu đệ, nghe nói lúc trưa có người đến sinh sự, có chuyện này không?”

Đây là thời khắc tốt đẹp, Bàng Thông sao dám nói ra sự thật, bèn ấp a ấp úng: “Ồ, không... không có gì, chẳng qua là một lão già đầu trọc. Đại ca ngủ ngon, tiểu đệ cáo từ.”

Bàng Thông quay người định đi, Bàng Quyên lại gọi giật: “Khoan!” Rồi vò đầu bứt tai một lúc, quay sang Bạch Hổ, nửa như tự nhủ, lại nửa như đang hỏi. “Lão già đầu trọc? Là ai được nhỉ?”

Bạch Hổ quay sang hỏi Bàng Thông: “Người này phải chăng khoảng hơn năm mươi tuổi, dáng người cao lớn, mặt vuông, sống mũi cao?”

Bàng Thông gật đầu: “Đúng thế! Mặc quần áo ăn mày, đến cửa muốn xin rượu mừng.”

Bạch Hổ quay sang Bàng Quyên, cười nói: “Tiểu đệ biết người này, họ Thuần Vu, tên Khôn, là du sĩ hoạt kê nổi tiếng trong liệt quốc, nhiều năm trước từng được mời làm tiên sinh ở Tắc Hạ. Những việc thế này, chỉ có ông ta mới có thể làm ra.”

Bàng Quyên cười nói: “Nếu là người này, đại ca cũng đã từng nghe qua. Mấy năm trước ông ta thay mặt Yên Công cầu hôn công chúa, từng đánh bại gian tặc Trần Chẩn ở Lạc Dương! Đây là cao nhân, đợi mấy ngày nữa Bạch huynh đệ hãy mời ông ta đến phủ, đại ca sẽ mở tiệc chiêu đãi.”

Bạch Hổ vâng lời, cùng với Bàng Thông lại một lần nữa cáo từ. Bàng Quyên cũng trở về phòng. Hai nữ tỳ tiến lại, giúp Bàng Quyên cởi bỏ y phục tân lang, thay bằng áo ngủ mỏng. Có lẽ do hơi rượu, Bàng Quyên cảm thấy trong ngực nóng rần, liền bảo nữ tỳ mở toang cửa sổ ra.

Đêm mùa thu se lạnh, Bàng Quyên chỉ mặc bộ quần áo mỏng, bất đồ bị cơn gió lạnh thổi thốc vào, rùng mình một cái, rồi hắt hơi một tiếng rất vang.

Bàng Thông đã đi được hơn mười bước, nghe thấy tiếng hắt hơi vọng đến, trong lòng bỗng nhiên ớn lạnh.

Ba ngày sau lễ thành hôn, Bàng Quyên gọi Bàng Thông đến, kiểm kê kỹ lưỡng những lễ vật được mừng, tổng cộng một ngàn hai trăm lượng vàng, cùng vô số ngọc ngà châu báu. Bàng Quyên sai Bàng Thông mang toàn bộ số đồ ngọc đi bán, lại thu được hơn nghìn lượng vàng. Bàng Quyên giao hai trăm lượng cho Bàng Thông để chi tiêu hàng ngày, số còn lại giao hết cho Lý Thanh mua quân lương.

Bàng Quyên tranh thủ dịp hôn lễ mà phát thiếp mời rộng rãi, thu nhận lượng lớn lễ vật, nên trong triều ngoài nội sớm đã dị nghị xôn xao. Song đến khi mọi người biết được toàn bộ số tiền mừng đều được dùng để mua quân lương, khắp trong ngoài lại một phen chấn động. Hôm nay, sau khi bãi triều, Ngụy Huệ Vương cố tình giữ Huệ Thi lại, mời ông ta đến hậu hoa viên, ngồi đối diện với ông ta dưới ngôi đình hóng mát mà Huệ Vương thích nhất.

Ngụy Huệ Vương đã vui mừng đến cười không khép nổi miệng, lúc này lại cười ha hả mấy tiếng, rồi cảm thán rằng: “Huệ ái khanh, nghe nói Bàng ái khanh dùng tất cả số lễ vật thu được trong hôn lễ để mua quân nhu, quả nhân cảm thấy rất vui lòng, thực chẳng biết nói gì thêm nữa! Không giấu ái khanh, lần trước quả nhân thưởng cho Bàng ái khanh năm trăm lượng vàng, hắn đã dùng toàn bộ để mua quân nhu, lúc đó quả nhân còn cảm thấy hoài nghi, cho rằng hắn chỉ giả bộ để lấy lòng. Nhưng bây giờ nhìn lại, đúng là Bàng ái khanh thực lòng yêu quân, quả nhân đã hiểu lầm Bàng ái khanh rồi.”

Huệ Thi gật đầu nói: “Vũ An Quân trị quân có phương pháp, một lòng vì nước, đúng là một vị tướng đại tài. Hiện giờ quốc khố trống rỗng, lòng dân chưa định, quân nhu lại là việc hết sức trọng đại, nếu chỉ dựa vào sức của một mình Vũ An Quân, cũng chẳng phải kế lâu dài.”

Ngụy Huệ Vương nghiêm nét mặt, liên tiếp gật đầu: “Ái khanh nói rất đúng. Quả nhân giữ khanh lại, cũng chính là vì chuyện này. Quả nhân hỏi khanh, có kế sách lâu dài hay chăng?”

“Kế sách lâu dài nằm ở nông tang, nhưng phát triển nông tang lại không thể trong một sớm một chiều. Năm nay gặp thiên tai, dân chúng chẳng có dư, quốc khố không tích luỹ, vi thần cho rằng kế sách tạm thời là khích lệ cả nước tiết kiệm, khuyến khích những nhà giàu có học theo Vũ An Quân, có tiền góp tiền, có lương góp lương, cả nước đồng lòng, cùng vượt qua quốc nạn.”

“Kế của ái khanh hay lắm!” Ngụy Huệ Vương gật đầu nói. “Việc tiết kiệm, hãy bắt đầu thực hiện từ quả nhân. Kể từ ngày mai, quả nhân mỗi ngày giảm một bữa ăn, mỗi bữa chỉ ăn một mặn một nhạt. Vương hậu và tất cả các phi tần cũng phải làm theo quả nhân, tiền chi tiêu hàng tháng cắt giảm một nửa.”

Huệ Thi đứng dậy khấu đầu nói: “Bệ hạ làm gương, thần dân ắt sẽ noi theo, chắc chắn sẽ vượt qua hoạn nạn!”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Vương thở dài một tiếng. “Nhớ lại những ngày tháng trước đây, quả nhân giống như đang nằm mơ vậy. Từ khi có được ái khanh, quả nhân cũng được sáng mắt ra nhiều, không còn hồ đồ nữa. Ái khanh có phép trị quốc, nhưng không thể trị quân, quả nhân vì chuyện này mà ngày đêm ăn ngủ không yên. Quả là trời đã giúp quả nhân, đúng vào lúc đó thì Bàng ái khanh gỡ bảng đầu quân, giúp quả nhân được như ý nguyện, có được các hiền thần trong thiên hạ. Quả nhân tuy đã có được Bàng ái khanh, nhưng trong lòng vẫn thấy bất an, lần này Huệ ái khanh làm mối thành công, cuối cùng quả nhân cũng đã trút bỏ được lo lắng, kê cao gối ngủ ngon rồi!”

Huệ Thi đang định lên tiếng, thì tỳ nhân đã đi vào, khấu đầu nói: “Khởi bẩm bệ hạ, du sĩ Thuần Vu Khôn đang ở ngoài cung cầu kiến!”

Ngụy Huệ Vương ngạc nhiên, ngẩng lên hỏi: “Thuần Vu Khôn? Chẳng phải lão già xảo quyệt này đang ở bên cạnh Yên Công hay sao? Chuyển lời cho ông ta, nói quả nhân đang bận việc, ngày mai yết kiến.”

“Lão nô tuân chỉ!”

Huệ Thi giơ tay ngăn lại, rồi đưa mắt nhìn Huệ Vương: “Bệ hạ, theo vi thần được biết, Thuần Vu Tử năm ngoái đã rời khỏi nước Yên, chu du tới Hàm Đan. Lần này đến đây, chắc hẳn là được Triệu Hầu nhờ vả, đến để giảng hòa.”

Ngụy Huệ Vương biến ngay sắc mặt, giận dữ nói: “Hừm, tên Triệu Ngữ kia, quả nhân thường ngày đối với hắn không bạc, nhưng hắn lại không biết điều, ngoài mặt thì vâng vâng dạ dạ, đến thời khắc hệ trọng lại giở trò hiểm độc. Quả nhân đánh Vệ, hắn liên kết với Tề, Hàn, cùng đối địch với quả nhân. Tần, Tề đến tấn công, hắn lại mượn gió bẻ măng, đánh vào Triều Ca. Giờ đã bại trận, còn muốn đến cầu hoà. Trên đời làm gì có chuyện dễ dàng như thế?”

“Bệ hạ bớt giận, xin hãy nghe vi thần nói một câu!”

“Ái khanh cứ nói!”

“Bệ hạ, những việc trên đều không thể trách Triệu Hầu. Theo vi thần được biết, quyền lực ở nước Triệu hoàn toàn nằm trong tay Phụng Dương Quân Triệu Thành, Triệu Thành và người Tần liên minh khăng khít, lần này xâm phạm Triều Ca, chắc chắn là chủ ý của một mình Phụng Dương Quân! Vi thần khẩn cầu bệ hạ minh xét.”

Ngụy Huệ Vương ngẫm nghĩ một lúc, rồi quay sang tỳ nhân: “Truyền Thuần Vu Khôn vào thư phòng yết kiến!”

Huệ Thi khấu đầu: “Vi thần cáo lui!”

Tiễn Huệ Thi xong, Ngụy Huệ Vương đi tới thư phòng cách đó không xa, vừa ngồi xuống, bất chợt nghĩ lại, cảm thấy có điều không ổn, liền đứng dậy đi tới trước gương đồng, chỉnh trang mũ áo, lại đi ra khỏi cửa, đứng trên bậc thềm, ngẩng đầu nhìn về lối đi phía trước. Một lúc sau, thấy tỳ nhân dẫn Thuần Vu Khôn băng qua một vạt cây rậm rạp, tiến thẳng đến.

Nhìn thấy cái đầu trọc lóc của Thuần Vu Khôn, Ngụy Huệ Vương bỗng thấy vui vẻ, bật cười ha hả rồi bước xuống bậc thềm. Thuần Vu Khôn thấy Huệ Vương xuống thềm nghênh đón, vội vàng dừng bước, quỳ xuống bái lạy: “Thảo dân Thuần Vu Khôn khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương vội bước lên trước, đỡ ông ta dậy: “Thuần Vu Tử hãy bình thân!”

Thuần Vu Khôn vòng tay vái tạ: “Thảo dân thấp hèn, bệ hạ cớ sao phải ra ngoài nghênh đón?”

Ngụy Huệ Vương vòng tay đáp lễ: “Từ lâu quả nhân đã được nghe đại danh của Thuần Vu Tử. Nay Thuần Vu Tử đến thăm, quả nhân hay tin chậm trễ, do vội vã nên không thể đón tiếp từ xa, mong Thuần Vu Tử đừng để bụng! Thuần Vu Tử, mời!”

“Bệ hạ, mời!”

Ngụy Huệ Vương không chút đắn đo, lập tức bước tới dắt tay Thuần Vu Khôn, hai người cùng nhau bước lên bậc thềm, đi vào thư phòng, chia ngôi quân thần ngồi xuống. Tỳ nhân rót trà xong liền lui ra.

Ngụy Huệ Vương chìa tay nói: “Thuần Vu pTử, mời dùng trà!”

Thuần Vu Khôn bưng chén trà lên nhấp một ngụm, kinh ngạc thốt lên: “Xin hỏi bệ hạ, đây là trà gì?”

Ngụy Huệ Vương cũng nhấp một ngụm, rồi chậm rãi nói: “Trà này được trồng ở vách Đoạn Trường trên núi Vương Ốc, hàng năm cứ đến ngày Thanh minh, quả nhân lại phái trăm ngọc nữ đến hái trà, hé môi son ngậm lấy, gọi là trà Ngọc Nữ.”

Thuần Vu Khôn liền ghé sát mũi vào miệng chén trà, hít hà liền mấy cái, xuýt xoa khen ngợi: “Trà thơm tho đẹp đẽ đến vậy, mà thảo dân uống ừng ực như trâu, thực là lãng phí của trời!”

Ngụy Huệ Vương phá lên cười: “Tuấn mã sánh với yên vàng, danh sĩ phải uống trà thơm. Thuần Vu Tử là danh sĩ nổi tiếng thiên hạ, không phải trà này, thật không tương xứng!”

“Bệ hạ khiến thảo dân hổ thẹn rồi!”

Ngụy Huệ Vương đi thẳng vào chuyện: “Nghe nói Thuần Vu Tử học vấn uyên thâm, kiến thức hơn người, mấy năm nay chu du khắp liệt quốc, cứu khổ cứu nạn, tiếng thơm lẫy lừng thiên hạ. Lần này Thuần Vu Tử không ngại gian khổ để đến nước Ngụy, hẳn là đã được ai đó nhờ vả, để giải nạn cho người?”

Thuần Vu Khôn chậm rãi nói: “Đôi chân hèn mọn này của thảo dân, một ngày không đi đường là thấy ngứa ngáy, bởi vậy thảo dân buộc phải không ngừng chu du. Cái miệng ngu đần này của thảo dân, một ngày không nói năng là lưỡi cứng nhắc, bởi vậy thảo dân buộc phải thao thao bất tuyệt. Còn về việc có người đồn đại thảo dân cứu khổ cứu nạn, chẳng qua chỉ là lời tô vẽ, song thảo dân vì muốn nhờ đó kiếm miếng cơm ăn, nên cũng đành kệ họ nói xằng.”

Nghe Thuần Vu Khôn nói vậy, Ngụy Huệ Vương cười lớn: “Hay, hay, hay, nói hay lắm! Từ lâu đã nghe tiếng Thuần Vu Tử hài hước, là du sĩ hoạt kê, đúng là danh bất hư truyền!”

Thuần Vu Tử lại nhấp một ngụm trà, rồi ngẩng lên nói: “Là thảo dân ăn nói tùy tiện, đã khiến bệ hạ cười chê!”

Ngụy Huệ Vương cười nói: “Ăn nói tuỳ tiện cũng tốt! Bên tai quả nhân không thiếu những lời vâng dạ, thứ còn thiếu chính là cách ăn nói tuỳ tiện của tiên sinh. Thuần Vu Tử, tiên sinh vẫn chưa trả lời câu hỏi của quả nhân. Lần này đến Ngụy, chắc hẳn đã được người ta nhờ vả, để giải nạn cho người?”

Thuần Vu Khôn lắc đầu quầy quậy: “Thiên hạ hiện nay không có chiến sự, triều đình các nước đều yến múa oanh ca, làm gì có ai gặp nạn? Có điều, lần này thảo dân đến đây, quả thực là do người khác nhờ vả.”

“Ồ, là người nào đã nhờ vả Thuần Vu Tử?”

“Triệu Hầu!”

“Quả nhân đã sớm đoán ra điều này!” Ngụy Huệ Vương đắc ý, sắc mặt rạng rỡ hẳn lên. “Nói đi, đã không phải đến để cầu xin, thì Triệu Ngữ có chuyện gì muốn nhờ Thuần Vu Tử?”

“Triệu Hầu cảm kích đại ân của bệ hạ, nên nhờ thảo dân đến đa tạ!”

“Đa tạ?” Ngụy Huệ Vương kinh ngạc. “Quả nhân đánh bại ông ta ở Triều Ca, chém gần vạn quân, bắt sống hàng ngàn tướng sĩ, ông ta không báo thù thì thôi, có sao lại còn đa tạ?”

“Đúng! Đúng! Đúng!” Thuần Vu Khôn gật đầu lia lịa. “Triệu Hầu chính vì việc này mà cảm tạ. Than ôi, bệ hạ có điều không biết, lúc đầu Phụng Dương Quân xin ý chỉ xuất binh, Triệu Hầu vốn không đồng ý, nhưng Phụng Dương Quân khăng khăng cố chấp, thao túng triều đình, Triệu Hầu không biết làm sao, nên mới miễn cưỡng đồng ý. Bệ hạ đánh bại Phụng Dương Quân ở Triều Ca, suýt chút nữa thì bắt sống hắn. Phụng Dương Quân mặt mày lem luốc, chạy bán sống bán chết về đến Hàm Đan, suốt mấy ngày trời không dám ló mặt lên triều, Triệu Hầu trong lòng vô cùng hỉ hả, nhưng không dám lộ ra, nên đành phải nhờ thảo dân đến đa tạ bệ hạ.”

Ngụy Huệ Vương nghe nói vậy thì cười lớn: “Tốt lắm, là quả nhân đã hiểu lầm Triệu Ngữ rồi. Khi nào Thuần Vu Tử trở về hãy nói lại với Triệu Hầu, rằng quả nhân đồng ý xoá bỏ nợ cũ, mấy nghìn tàn binh bại tướng của ông ta, cũng phiền Thuần Vu Tử dẫn về luôn thể!”

Thuần Vu Tử lập tức đứng dậy, hành đại lễ ba lạy: “Thảo dân thay mặt cho vợ con của đám tù binh người Triệu, đa tạ đại ơn của bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương chỉnh trang áo mũ: “Được rồi, quả nhân xin nhận lễ này. Thuần Vu Tử mau đứng dậy, quả nhân còn có chuyện lớn muốn được thỉnh giáo.”

Thuần Vu Khôn bái xong đứng dậy, trở lại chỗ ngồi, vòng tay nói: “Bệ hạ có việc lớn gì, xin cứ nói với thảo dân, thảo dân nếu biết sẽ không dám giấu.”

Ngụy Huệ Vương vòng tay đáp lễ, chỉnh áo ngồi nghiêm, chậm rãi nói: “Nước Ngụy nằm ở Trung Nguyên, tây có Tần lớn mạnh, đông có Tề giàu có, bắc có Triệu hung hãn, nam có Sở man rợ, lại có Hàn, Yên, Trung Sơn, Vệ, Tống vây quanh, tình thế rất nguy nan. Từ khi quả nhân kế vị đến nay, chưa lúc nào được ăn ngon ngủ yên, lúc nào cũng e dè run sợ như giẫm trên băng mỏng, chỉ lo có điều sơ suất, làm nhục đến liệt tổ liệt tông. Thuần Vu Tử là bậc đại hiền, hẳn có kế hay giúp Đại Ngụy ta hưng thịnh, quả nhân khẩn cầu Thuần Vu Tử chỉ giáo!”

“Chỉ giáo thì không dám. Thảo dân cho rằng, điều lo lắng của bệ hạ chẳng qua chỉ là hai chữ.”

Ngụy Huệ Vương chúi người về phía trước: “Là hai chữ gì?”

“Hiền tài!”

Ngụy Huệ Vương khẽ gật đầu: “Xin Thuần Vu Tử hãy nói rõ hơn!”

“Từ cổ chí kim, kẻ có được hiền tài sẽ có được thiên hạ. Trị nước an bang, tất cả đều dựa vào hiền tài. Ngày trước vào thời Văn Hầu, văn dùng Địch Hoàng, Ngụy Thành Tử, võ dùng Ngô Khởi, Nhạc Dương, lại bái Bốc Tử Hạ, Đoàn Can Mộc, Điền Tử Phương làm quốc sư, trên triều đường danh sĩ nườm nượp, chỉ vài năm đã đại trị, độc bá thiên hạ suốt mấy chục năm, liệt quốc không dám tranh giành.”

Nghe Thuần Vu Khôn nói những lời này, Ngụy Huệ Vương liên tiếp gật đầu: “Đúng, đúng, đúng, tiên sinh nói rất đúng! Không giấu tiên sinh, trong buổi hội vương ở Từ Châu, Điền Nhân Tề đã sỉ nhục quả nhân không có người tài, sau đó lại dẫn binh xâm phạm, cũng là vì khinh thường trong triều của quả nhân không có hiền tài. Không ngờ bên cạnh quả nhân cũng có hai người, một là Huệ Tử, một là Bàng Tử, đã khiến Điền Nhân Tề châm lửa đốt mình, tự chuốc nhục nhã. Tiên sinh chu du khắp liệt quốc, kiến văn rộng rãi, không biết hai vị ái khanh ở bên cạnh quả nhân đã được coi là hiền tài hay chưa?”

Thuần Vu Khôn cười lớn.

“Ồ?” Ngụy Huệ Vương vô cùng kinh ngạc. “Thuần Vu Tử cớ sao lại cười?”

“Thảo dân không cười hai người họ, mà là cười bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương trong lòng bực dọc, nhưng ngoài mặt vẫn mỉm cười, chỉ hơi ngả người về phía sau: “Quả nhân có chỗ nào đáng cười?”

“Bệ hạ ở lâu trong thâm cung, không biết đến sự biến đổi bên ngoài. Nếu hai người này cũng được coi là hiền tài, thì thiên hạ chẳng phải là hiền tài dư dật hay sao?”

Rõ ràng là Thuần Vu Tử có ý khinh thường hai vị đại hiền tài của Huệ Vương, Ngụy Huệ Vương lập tức thu nụ cười lại, khẽ đặng hắng một tiếng, rồi nghiêm giọng nói: “Nghe nói Thuần Vu Tử là danh sĩ nức tiếng thiên hạ, nên quả nhân mới rửa tai lắng nghe. Không ngờ Thuần Vu Tử lại chẳng có phong thái của danh sĩ, nói năng hồ đồ, làm nhục hiền thần trong triều của quả nhân, thực đáng buồn! Xin hỏi Thuần Vu Tử, trong thiên hạ có mấy người học vấn vượt qua Huệ Tử?”

Thuần Vu Khôn dõng dạc đáp: “Hồi bẩm bệ hạ, theo thảo dân được biết, trong thiên hạ, những sĩ tử hiền tài hơn Huệ Thi nhiều vô số kể. Huệ Thi nổi danh bởi cái luận danh thực, nhưng khi ông ta đến Tắc Hạ đã bị một kẻ hậu sinh tên gọi Công Tôn Long phản bác đến cứng họng. Trong học cung Tắc Hạ, có tới hàng trăm người học vấn như Công Tôn Long. Thế nhưng nhìn khắp thiên hạ, những bậc đại hiền tài lại không có mặt ở Tắc Hạ, mà ở nơi thôn dã hoang vu. Tống có Trang Chu, Trâu có Mạnh Kha, Tề có Tùy Sào Tử, ba vị này đều đầy bụng kinh luân, mỗi người đều tự lập thuyết riêng, có thể gọi là đại hiền trong thiên hạ. Ở nơi rừng sâu núi thẳm lại có ẩn sĩ, cao nhân nhiều không kể xiết. Chưa cần nói tới những người khác, chỉ tính Hàn Tuyền Tử ở núi Chung Nam, Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng, đã là những tài năng có thể xoay chuyển càn khôn, so với Huệ Thi, không biết cao hơn bao nhiêu bậc!”

Nghe Thuần Vu Khôn nói vậy, Ngụy Huệ Vương cười nhạt, thầm nghĩ: “Hừm, kẻ hiền tài trong thiên hạ, nếu luận về học vấn, đương nhiên có rất nhiều người giỏi hơn Huệ Thi. Nhưng lão hoạt kê này có điều không biết, hạng Công Tôn Long chỉ biết thao thao nói miệng, Mạnh Kha, Tùy Sào Tử mặc dù học vấn uyên thâm, chí hướng cao viễn, nhưng chỉ biết bàn luận những thứ trống rỗng, với quả nhân chẳng có gì hữu dụng. Trang Tử tiêu diêu phiêu dật, mơ mộng viển vông, nếu để dưỡng sinh còn có thể dùng, nhưng không thể trị quốc. Còn về cao nhân, ẩn sĩ, ai cũng lấy luyện tiên tu đạo làm chí hướng một đời, cho dù có tài, cũng chỉ muốn ẩn cư nơi rừng núi, không chịu giúp ta. Hiện giờ chỉ có Huệ Tử là vừa có thể giảng học vấn, lại biết nhìn nhận thời thế, khá hợp lòng ta. Thôi kệ, ta cũng chẳng nói toạc ra làm gì, xem lão trọc đầu còn có lời gì khác không?” Nghĩ đến đây, lại ngẩng đầu hỏi tiếp: “Trong thiên hạ, kẻ thiện chiến hơn Bàng Quyên có những ai?”

Thuần Vu Khôn lại phá lên cười một tràng dài, rồi hơi ngả người về phía trước: “Thảo dân xin hỏi bệ hạ, Bàng Quyên theo học thầy nào?”

“Quỷ Cốc Tử ở núi Vân Mộng!”

“Bệ hạ có biết bên cạnh Quỷ Cốc Tử có bao nhiêu đệ tử không?”

Đây là điều mà Ngụy Huệ Vương chưa từng nghĩ đến, liền lắc đầu: “Quả nhân không biết!”

“Vậy thì đúng rồi!” Thuần Vu Khôn cười nói. “Kẻ khác không nói, chỉ tính riêng người tu học binh pháp, đã không chỉ có Bàng Quyên. Theo thảo dân được biết, Bàng Quyên theo học Quỷ Cốc Tử chỉ có ba năm, những điều học được chẳng qua chỉ là một chút lông da mà thôi!”

Ngụy Huệ Vương hít ngược một hơi dài: “Nghe Thuần Vu Tử nói vậy, lẽ nào trong núi Vân Mộng còn có người hơn được Bàng Quyên?”

“Đương nhiên! Kẻ khác không nói, hiện giờ cháu sáu đời của thiên hạ binh thánh Tôn Vũ Tử là Tôn Tân cũng đang ở trong núi, cùng tu học binh pháp với Bàng Quyên. Theo thảo dân được biết, chỉ có Tôn Tân là được Quỷ Cốc Tử truyền cho tuyệt học, mới là nhân tài có thể đánh bại nghìn quân.”

Ngụy Huệ Vương vòng tay vái Thuần Vu Khôn: “Nghe tiên sinh nói vậy, Ngụy Anh như được đại khai nhãn giới. Ngụy Anh tầm nhìn hạn hẹp, lúc nãy đã có chỗ mạo phạm, mong tiên sinh bỏ quá cho!”

Thuần Vu Khôn vòng tay đáp lễ: “Là thảo dân đã nặng lời phạm thượng, bệ hạ không trách tội, thảo dân đã cảm kích lắm rồi!”

“Tiên sinh là bậc đại hiền. Nếu tiên sinh không chê, Ngụy Anh sẽ bái tiên sinh làm quốc sư, sớm tối nghe tiên sinh chỉ giáo!”

“Thảo dân thân ti tiện, chỉ thích rong chơi, không quen làm quan, mong bệ hạ thành toàn!”

Ngụy Huệ Vương ngẫm nghĩ một lát, rồi cao giọng gọi: “Người đâu!”

Tỳ nhân đi vào: “Có lão nô!”

“Thưởng cho Thuần Vu Tử một trăm lượng vàng, hai mươi súc gấm, một cỗ xe ngựa.”

Thuần Vu Khôn đứng dậy bái lạy: “Thảo dân đa tạ bệ hạ ban thưởng!”

Từ khi Thuần Vu Khôn đến, Ngụy Huệ Vương tựa như trở thành một người khác, suốt mấy ngày liền không ăn không uống, cũng chẳng thèm lên triều.

Trong ngự thiện phòng, trên bàn ăn chỉ bày hai món một mặn một chay, là hai món tỳ nhân sau khi truyền chỉ tiết kiệm đã đặc biệt căn dặn đầu bếp chế biến. Một mặn là chân gấu, tim báo, làm thành một đĩa; một chay là các loại nấm rừng quý hiếm, cũng làm thành một đĩa.

Ngụy Huệ Vương ngồi ngay ngắn trước bàn, tay cầm đũa, gắp một miếng chân gấu đưa vào miệng, nhai mấy miếng, lập tức nhả ra. Lại gắp một miếng tim báo, đặt bên môi, nhưng không ăn, cũng không bỏ đi, mà cứ ngồi thần ra, trong đầu vẫn như văng vẳng lời nói của Thuần Vu Khôn: “Theo thảo dân được biết, chỉ có Tôn Tân là được Quỷ Cốc Tử truyền cho tuyệt học, mới là nhân tài có thể đánh bại nghìn quân.”

Ngụy Huệ Vương lẩm bẩm: “Thuần Vu Tử nổi danh liệt quốc, lời nói ra hẳn không phải giả, chắc chắn Tôn Tân có tài hơn Bàng Quyên. Ta có Bàng Quyên đã là thiên hạ vô địch, nếu lại có được Tôn Tân...”

Nghĩ đến đây, Ngụy Huệ Vương ném luôn đôi đũa xuống đất, khiến mấy cung nhân đứng hầu bên cạnh giật mình kinh sợ, vội quỳ mọp cả xuống, mặt hoa biến sắc, tay chân run rẩy.

Tỳ nhân cũng đoán được nguồn cơn, liền bước lại gần, khẽ hỏi: “Bệ hạ có gì sai bảo?”

“Triệu Vũ An Quân!”

“Lão nô lĩnh chỉ!”

Trương Mãnh chọn từ trong ba quân được ba nghìn lính hổ bôn, trình danh sách lên cho Bàng Quyên. Bàng Quyên đang đọc, bỗng có người do tỳ nhân phái đến triệu vào cung. Bàng Quyên thấy cung nhân giục giã rất gấp, không biết đã xảy ra chuyện gì, cũng vội vàng đi ngay. Tỳ nhân đang đứng đợi ngoài cửa, thấy Bàng Quyên đến, vội chạy ra đón, vòng tay vái: “Tại hạ xin chào Vũ An Quân!”

Bàng Quyên hạ giọng: “Xin hỏi nội tể, muộn thế này rồi bệ hạ còn triệu kiến tại hạ, không biết là có chuyện gì?”

“Tại hạ không biết. Mời Vũ An Quân, bệ hạ đang đợi ở thư phòng!”

Bàng Quyên vội rảo bước theo tỳ nhân vào ngự thư phòng, dập đầu nói: “Nhi thần Bàng Quyên khấu kiến phụ vương!”

“Hiền tế bình thân!”

“Tạ ơn phụ vương!”

Thấy Ngụy Huệ Vương thái độ hiền hoà, lời nói thân mật, Bàng Quyên cũng cảm thấy yên tâm phần nào, liền đứng dậy ngồi xuống chiếu, ngẩng đầu hỏi: “Phụ vương triệu nhi thần đến gấp, không biết có việc gì?”

“Nghe nói hậu duệ của Tôn Vũ Tử là Tôn Tân cùng theo học Quỷ Cốc Tử với ái khanh, có việc này chăng?”

Bàng Quyên hoàn toàn không thể ngờ Ngụy Huệ Vương lại hỏi về việc này, sững sờ mất một thoáng, mới gật đầu nói: “Khởi bẩm phụ vương. Tôn Tân và nhi thần vào cốc một ngày, cùng theo Quỷ Cốc Tử tiên sinh tu học binh pháp.”

Im lặng một lúc, Ngụy Huệ Vương lại hỏi: “Ái khanh xuống núi, tại sao Tôn Tân vẫn còn ở trong cốc?”

Bàng Quyên trong lòng lại giật thột, đảo mắt một vòng, rồi đáp: “Tôn Tân lớn tuổi hơn nhi thần, mặc dù chịu khó, nhưng trí nhớ không tốt, về nghiệp học có kém hơn nhi thần một bậc. Cùng là một cuốn sách, nhi thần chỉ cần đọc ba lần là nhớ, nhưng Tôn Tân lại phải đọc tới mười lần. Bởi vậy, tiên sinh cho phép nhi thần xuống núi, còn giữ lại Tôn Tân trong cốc.”

Lời của Bàng Quyên khác hẳn với Thuần Vu Khôn. Ngụy Huệ Vương khẽ chau mày, im lặng một lúc, rồi hỏi thẳng: “Nhưng quả nhân lại nghe nói, Tôn Tân đã có được tuyệt học của Quỷ Cốc Tử, là nhân tài có thể đánh bại nghìn quân!”

Bàng Quyên tim gan thắt lại, nhưng chớp mắt một cái, đã điềm tĩnh trả lời: “Kẻ sĩ từ biệt ba ngày, đã phải nhìn bằng con mắt khác. Nhi thần xuống núi đã tròn một năm, Tôn Tân có tiến bộ thần tốc hay không, nhi thần thực tình không biết.”

Ngụy Huệ Vương sắc mặt cũng hơi giãn ra, gật đầu nói: “Phải, ái khanh nói rất đúng!” Dừng lại một lúc, lại ngẩng nhìn Bàng Quyên. “Quả nhân muốn có được Tôn Tân, ý ái khanh thế nào?”

“Nhi thần và Tôn Tân đã kết nghĩa kim lan, tình như thủ túc. Khi nhi thần xuống núi, đã từng hẹn ước với Tôn Tân, nếu nhi thần thành công, nhất định sẽ đến mời Tôn Tân xuống núi, cùng phò tá bệ hạ.”

Ngụy Huệ Vương mặt mày hớn hở, vội hỏi: “Đã nói như vậy, tại sao ái khanh không bẩm tấu?”

Bàng Quyên chậm rãi nói: “Nhi thần đến nay vẫn chưa bẩm tấu là có hai nguyên nhân. Một là nhi thần vừa mới nhiệm chức, nếu đã vội vàng tiến cử, e rằng sẽ bị người ta dị nghị nhi thần cấu kết bè đảng. Hai là Tôn Tân vốn là người Tề, gia miếu vẫn ở đất Tề. Khi vào Quỷ Cốc, Tôn Tân từng nhiều lần nói với nhi thần, khi nào học nghệ thành tài sẽ trở về nước Tề. Ngày nay Tề, Ngụy đối địch, nhi thần lo lắng Tôn Tân thân ở nước Ngụy, nhưng lòng lại nhớ về Tề, không có lợi cho đất nước...” Vốn dĩ định nói nhà họ Tôn và nước Ngụy có mối huyết thù, nhưng lời vừa ra đến miệng lại vội vàng nuốt xuống. “Vì vậy, nhi thần chưa dám bẩm tấu.”

“Ừm!” Ngụy Huệ Vương gật đầu. “Ái khanh lo lắng rất phải. Có điều... nước đang lúc phải dùng đến hiền tài, nếu như Tôn Tân có thể giúp ái khanh một tay, đó chính là điều may mắn cho đất nước. Còn về việc Tôn Tân lòng nhớ nước Tề, đó cũng là chuyện thường tình. Kẻ sĩ chết vì người tri kỷ, con gái làm dáng vì kẻ yêu mình. Nếu như Tôn Tân đến, quả nhân sẽ thành tâm đối đãi, chắc chắn hắn sẽ không phụ lòng quả nhân.”

“Tấm lòng khoan dung chiêu hiền của phụ vương, nhi thần kính phục vô cùng. Ngày mai nhi thần sẽ rời Đại Lương, đến Quỷ Cốc mời Tôn Tân cùng mưu đại nghiệp!”

Huệ Vương trầm ngâm một lúc, rồi lắc đầu nói: “Hiện giờ quốc sự bận rộn, trong triều không thể một ngày không có ái khanh. Hơn nữa, ái khanh và Liên Nhi mới thành hôn, còn rất nhiều lễ tục không thể vắng mặt, trước mắt không nên đi xa. Thế này vậy, ái khanh hãy viết một bức thư, quả nhân sẽ phái Thân Nhi đến Quỷ Cốc, một là mời Tôn Tân, hai là thay mặt quả nhân đa tạ Quỷ Cốc tiên sinh! Tiên sinh đã giúp quả nhân dạy dỗ hai vị hiền tài, quả nhân sẽ dùng lễ quốc sư đối đãi.”

Bàng Quyên đứng dậy bái lạy: “Nhi thần thay mặt ân sư Quỷ Cốc tiên sinh và sư huynh Tôn Tân khấu tạ ân điển của phụ vương!”

Ngụy Vương xua tay, cười lớn mà nói: “Đi đi! Nếu có rảnh, hãy bảo Liên Nhi trở về cung thăm quả nhân. Mấy ngày không gặp, quả nhân thấy rất nhớ nó!”

Bàng Quyên lại bái lạy: “Nhi thần thay mặt nội tử khấu tạ phụ vương!”

Bàng Quyên cáo từ Huệ Vương, trở về trong phủ, cũng không ăn không uống như Ngụy Vương, chỉ ngồi một mình trong thư phòng suy nghĩ rất lung, càng nghĩ càng cảm thấy buồn bực, liền đứng dậy đi đi lại lại trong phòng, lẩm bẩm một mình: “Đúng là có khuất tất gì đây! Việc Quỷ Cốc Tử chọn đệ tử truyền nghề, trong thiên hạ rất ít người biết đến. Mặc dù ta có nói theo học Quỷ Cốc Tử, nhưng chưa từng nhắc đến ba người còn lại, bệ hạ sao lại biết về Tôn Tân? Chưa hết, bệ hạ không những biết, mà còn khẳng định Tôn Tân đã được Quỷ Cốc Tử truyền cho tuyệt học, là nhân tài có thể đánh bại nghìn quân. Nghe ý của bệ hạ, hẳn bệ hạ tin chắc Tôn Tân tài giỏi hơn ta. Thật quái lạ, những thứ Tôn Tân học được còn kém xa so với Bàng Quyên ta, hắn có học thêm ba năm nữa cũng chưa chắc bằng được ta. Lẽ nào tiên sinh còn có tuyệt học, sau khi ta đi đã độc truyền cho Tôn Tân...”

Bàng Quyên chìm trong suy nghĩ mải miết, hoàn toàn không nhận thấy công chúa Thụy Liên đang lặng lẽ đến gần. Công chúa đương lúc vui duyên tân hôn, quyến luyến không muốn rời phu quân nửa bước. Lúc nãy thấy Bàng Quyên bị triệu gấp, bây giờ lại thấy hắn u uất rầu rĩ, mặt ủ mày chau, cho rằng đã xảy ra chuyện lớn, bèn vội bước lại, ân cần đưa mắt nhìn Bàng Quyên, gọi: “Phu quân!”

Bàng Quyên giật nảy mình: “Phu nhân!”

Công chúa Thụy Liên đưa đôi tay ngọc khẽ đặt lên người Bàng Quyên, dịu dàng hỏi: “Phu quân cứ đi đi lại lại, lẩm bẩm một mình, có tâm sự gì, có thể nói cho thiếp biết được chăng?”

Bàng Quyên khẽ mỉm cười: “Quyên đa tạ phu nhân đã quan tâm. Thực ra cũng không có chuyện gì lớn. Lúc nãy phụ vương triệu ta vào cung, có hỏi về việc trong Quỷ Cốc, ta đã tiến cử sư huynh Tôn Tân với phụ vương. Phụ vương có lòng mến tài, muốn ta dùng lễ mời Tôn Tân xuống núi, cùng gây dựng sự nghiệp. Đây cũng là tâm nguyện của ta, trong lòng ta vô cùng cảm kích, nên mới bồi hồi như vậy.”

Nghe thấy nói vậy, Thụy Liên mới thấy yên tâm, bèn nói: “Việc vui như vậy, thật đáng chúc mừng!”

Bàng Quyên tâm trí để tận đẩu đâu, chỉ gật đầu mấy cái rồi nói hờ hững: “Đúng thế, đúng thế, là việc đáng chúc mừng, đáng chúc mừng!”

Thụy Liên cảm thấy tò mò, cứ bám riết lấy chuyện này: “Các sư huynh đệ của phu quân, chắc hẳn cũng đến một năm chưa gặp nhau rồi?”

Bàng Quyên thuận miệng đáp bừa: “Đúng thế đúng thế, đã một năm rồi!” Lời vừa ra khỏi miệng, mới sực nhớ ra người trước mặt mình là công chúa Đại Ngụy, liền khẽ thở dài một tiếng. “Than ôi, không giấu gì phu nhân, sau khi Quyên rời Quỷ Cốc, chẳng khác nào một đứa trẻ lạc đường. May mắn gặp được phụ vương và phu nhân, mới được như ngày hôm nay.”

Thụy Liên nghe thấy vậy, trong lòng cảm động, liền ngả đầu vào lòng Bàng Quyên: “Phu quân...”

Bàng Quyên lại thở dài một tiếng: “Nếu có Tôn huynh ở đây, thì Quyên đã có đủ huynh đệ thủ túc. Không giấu phu nhân, nhận được tin vui này, Bàng Quyên thực là mừng không kể xiết!”

Thụy Liên ngẩng đầu lên, bật cười nói: “Phu quân thực không giống với những người khác!”

Bàng Quyên ngạc nhiên: “Ồ, có gì không giống?”

Thụy Liên cười nói: “Người khác gặp được chuyện vui đều tươi cười rạng rỡ; phu quân gặp được chuyện vui lại mặt ủ mày chau, thở dài thườn thượt, cứ như trong lòng chứa đầy tâm sự.”

Bàng Quyên cũng bật cười: “Phu nhân thật biết nói đùa. Thường có câu, vật cực tất phản, Quyên cũng vui quá nên mới thành ra than thở.”

Hai người lại cười nói một hồi, rồi Thụy Liên chuyển sang chuyện khác: “Lúc nãy phu quân khấu kiến phụ vương, phụ vương không nói chuyện khác ư?”

“Phụ vương nói, phụ vương và mẫu hậu rất nhớ phu nhân, nếu phu nhân có thời gian hãy trở về cung thăm hỏi.”

Thụy Liên liền chảy nước mắt: “Mấy ngày không gặp phụ vương và mẫu hậu, thần thiếp cũng rất nhớ. Ngày mai thần thiếp sẽ hồi cung, ý phu quân thế nào?”

“Tốt lắm! Quyên sẽ cùng đi với phu nhân. Từ lâu ta đã muốn đến hậu cung thăm mẫu hậu, khấu tạ đại ơn đại đức của mẫu hậu!”

Thụy Liên không giấu được ngạc nhiên: “Ồ, mẫu hậu có đại ơn đại đức gì với phu quân?”

Bàng Quyên nhìn Thụy Liên, mỉm cười nói: “Mẫu hậu đã sinh cho Quyên một phu nhân xinh đẹp, hiền thục như vậy, ơn đức còn lớn hơn trời, sâu hơn biển!”

Thụy Liên lại ngả đầu vào ngực Bàng Quyên, giọng thẹn thùng: “Phu quân...”

Bàng Quyên nhẹ nhàng ôm lấy công chúa.

Hai người đang lúc quấn quýt, Bàng Quyên đột nhiên nhớ ra một chuyện, liền đẩy Thụy Liên ra: “Phu nhân, có chút việc vặt, ta đi một lát sẽ về ngay.”

Thụy Liên gật đầu, từ từ rời khỏi người Bàng Quyên, ngước cặp mắt long lanh nhìn hắn: “Phu quân cứ đi, thiếp sẽ đợi phu quân quay lại.”

Bàng Quyên ra khỏi thư phòng, vội vàng bước tới phòng khách, gọi Bàng Thông đến, hỏi nhỏ: “Thông đệ, lúc nãy sực nhớ ra một chuyện, trong ngày hôn lễ, nghe nói có người đến gây chuyện, Bạch Hổ nói kẻ đó là Thuần Vu Khôn. Hôm đó ta uống nhiều quá, không kịp hỏi kỹ, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”

Bàng Thông đáp: “Chuyện này tiểu đệ sớm đã muốn nói lại với đại ca, nhưng mãi vẫn chưa tìm được cơ hội thích hợp. Là thế này, buổi trưa hôm đó, có môn nhân đến báo với tiểu đệ, nói rằng có người gây chuyện trước cổng. Tiểu đệ vội vàng đi ra, quả nhiên gặp một lão đầu trọc, sau đó mới biết người đó là Thuần Vu Tử. Tiểu đệ quan sát tướng mạo, biết ông ta không phải hạng nhân sĩ tầm thường, nên đã mời ông ta vào uống rượu, nhưng ông ta từ chối, chỉ nói có người nhờ ông ta nhắn với đại ca một câu. Hôm đó là ngày đại hỷ của đại ca, tiểu đệ không thể làm mất hứng, nên chưa nói lại.”

Bàng Quyên chột dạ: “Là kẻ nào nhắn tin? Nhắn thế nào?”

“Là kẻ thù của chúng ta, Trần Chẩn. Hắn nhắn, ‘sớm tối nếu có hắt hơi, tức Trần Chẩn đang nhớ đến ngươi’!”

Bàng Quyên nghiến răng kèn kẹt, siết chặt tay quyền, sau đó lại từ từ thả lỏng, đột nhiên cười nhạt một tiếng: “Hừm, một tên gian tặc mà dám nói lời này, coi như cũng đáng là mặt nam nhi!”

“Đại ca, để tên gian tặc này chạy thoát là đại hoạ, chúng ta phải đề phòng cẩn thận!”

Bàng Quyên hừ mũi một tiếng: “Để hắn chạy thoát cũng tốt. Người ta sống ở trên đời, nếu không có đối thủ cũng thật vô vị. Chỉ có điều đấu với hắn, làm nhơ bẩn nắm đấm của ta, cũng thực đáng tiếc!” Dừng lại một chút, rồi đổi giọng. “Sau đó lão trọc đi đâu?”

“Mấy ngày nay, tiểu đệ đã phái người theo sát, được biết ông ta đã đến yết kiến bệ hạ. Nghe nói bệ hạ còn thưởng cho ông ta một trăm lượng vàng, rất nhiều gấm vóc, và cả một cỗ xe tứ mã.”

Bàng Quyên lập tức hiểu ra nguyên do, vung tay đấm mạnh xuống bàn: “Vậy thì đúng rồi!”

Bàng Thông ngơ ngác hỏi: “Đúng rồi cái gì?”

Bàng Quyên cười nhạt một tiếng: “Trần Chẩn đã khiến đại ca phải hắt hơi!”

Ngày hôm sau, trong buổi triều sớm của cung Ngụy, quần thần lên điện, đứng hầu ở hai bên triều đường. Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn Bàng Quyên: “Bàng ái khanh, thư mời Tôn Tân, khanh đã viết xong chưa?”

Bàng Quyên bước lên một bước: “Khởi bẩm bệ hạ, vi thần đã viết xong, xin bệ hạ ngự lãm!” Rồi rút từ trong tay áo ra một cuốn thẻ tre, trình lên Huệ Vương.

Huệ Vương đọc kỹ một lượt, cảm thấy hài lòng, bèn quay sang thái tử Thân: “Thân Nhi!”

Thái tử Thân bước ra khỏi hàng đáp: “Có nhi thần!”

“Quỷ Cốc tiên sinh mặc dù sống nơi núi rừng hoang dã, nhưng đã giúp quả nhân dạy dỗ được hai bậc đại tài là Bàng ái khanh và Tôn ái khanh, quả thực hiếm có. Quả nhân vốn muốn đích thân đến tạ ơn, nhưng do quốc sự bận rộn, không thể đi được. Hôm nay quả nhân ban cho Quỷ Cốc tiên sinh năm trăm lượng vàng, dùng lễ mời Tôn Tân, tạ ơn dạy dỗ của Quỷ Cốc tiên sinh.”

Thái tử Thân ngẩn ra một thoáng, rồi bái lạy mà nói: “Nhi thần lĩnh chỉ!”

Sau khi bãi triều, thái tử Thân gọi Huệ Thi lại: “Tiên sinh xin dừng bước!”

Huệ Thi dừng lại, vòng tay hành lễ: “Vi thần xin chào điện hạ!”

“Ngụy Thân cảm thấy chuyện này rất kỳ lạ, xin tiên sinh chỉ giáo.”

Huệ Thi hỏi: “Có điều gì kỳ lạ?”

“Phụ vương dùng người tài, trước giờ chưa từng chủ động, tại sao lại trân trọng Tôn Tân làm vậy?”

“Bệ hạ tự so mình với Văn Hầu, ý nguyện cả đời là xưng bá liệt quốc, quay mặt về nam xưng vương. Trận chiến Hà Tây đã khiến giấc mộng của bệ hạ tan thành mây khói, nay có được Bàng Quyên, bệ hạ hùng tâm trỗi dậy, nghe nói tài của Tôn Tân còn vượt xa Bàng Quyên, nên tự nhiên muốn có thêm Tôn Tân.”

“Điều này cũng đúng!” Thái tử Thân gật gù, rồi nói. “Ngụy Thân vẫn còn một chuyện không hiểu. Tôn Tân là sư huynh của Bàng Quyên, việc mời Tôn Tân, đúng ra phải do Bàng Quyên đi mới đúng, cớ sao phụ vương không phái Bàng Quyên đi, mà lại phái Ngụy Thân đi mời?”

“Đây chính là chỗ cao minh của bệ hạ!”

Thái tử Thân ngẩn người: “Cao minh?”

“Bàng Quyên đánh một trận thành danh, phong hầu phong tướng, quyền nghiêng triều đình, trở thành quốc thích, lại về một phe với công tử Ngang, đã hình thành thế lực trong triều, chắc chắn sẽ gây bất lợi cho điện hạ. Mà người kế thừa vương vị trong tương lai lại là điện hạ. Bệ hạ không giỏi nhận hiền tài, nhưng lại giỏi quyền mưu, nên đây chính là cơ hội cho điện hạ. Giả sử Tôn Tân thực sự có tài hơn Bàng Quyên, bệ hạ tự nhiên sẽ trọng dụng. Tôn Tân lại là do điện hạ mời về, tự nhiên điện hạ sẽ có ơn tri ngộ với người này. Lợi hại trong đó, không nói ra, hẳn điện hạ cũng đã biết!”

Thái tử Thân lại vòng tay: “Tiên sinh một lời sáng tỏ huyền cơ, Ngụy Thân đã ngộ ra rồi!”

Thái tử Thân dẫn theo một đoàn xe ngựa đông đến hơn trăm, khí thế rầm rộ, tiến thẳng tới núi Vân Mộng. Suốt dọc đường cứ ngày đi đêm nghỉ, ba ngày sau đã đến được cửa Túc Tư, có quan địa phương sắp xếp chỗ nghỉ chu đáo. Nghỉ ngơi một ngày, thái tử Thân dẫn theo vài người thân tín, bỏ xe lấy ngựa, vượt qua Hà Thủy, nhằm Quỷ Cốc thẳng tiến.

Vì có người dẫn đường, nên chẳng mấy chốc, đoàn người ngựa của thái tử Thân đã đến được Quỷ Cốc. Đi tới cửa cốc, thái tử Thân bảo mọi người dừng lại, để họ canh chừng phía ngoài, chỉ mang theo bốn người khiêng lễ vật, cung kính tiến vào trong cốc.

Nhưng đoàn người rầm rộ này đã sớm bị tiểu đồng phát hiện. Nhìn thấy đám thái tử Thân tiến lại phía thảo đường, tiểu đồng liền chạy thẳng tới, chặn ngang giữa đường. Thái tử Thân liền dừng bước, vòng tay vái chào: “Xin hỏi tiên đồng, Quỷ Cốc tiên sinh có nhà hay chăng?”

Tiểu đồng quan sát thái tử Thân từ đầu đến chân, rồi mới vòng tay đáp lễ: “Xin hỏi khách quan, muốn gặp gia sư có chuyện gì?”

“Phiền tiên đồng nhắn lại với Quỷ Cốc tiên sinh, nói có thái tử Ngụy Thân cầu kiến.”

“Xin thái tử hãy đợi một lát!” Tiểu đồng quay vào thảo đường, nói lại tình hình cho Ngọc Thiền nghe.

Ngọc Thiền nghe nói có thái tử nước Ngụy cầu kiến, do dự một lát, sau đó đi vào trong động, quỳ xuống bên cạnh Quỷ Cốc Tử: “Tiên sinh!”

“Thiền Nhi, có chuyện gì ư?”

“Thái tử nước Ngụy đến, mang theo lễ vật, nói là muốn cầu kiến tiên sinh.”

“Người này đến đây không phải để gặp ta, mà là để gặp Tôn Tân!”

“Ý tiên sinh thế nào?”

“Đây là việc của Tôn Tân, hãy để hắn nói chuyện với Tôn Tân!”

“Thiền Nhi biết rồi!”

Ngọc Thiền khoan thai bước ra ngoài nhà cỏ, dừng lại cách thái tử Thân chừng năm bước, vòng tay vái mà nói: “Tiểu nữ xin chào thái tử điện hạ nước Ngụy!”

Thái tử Thân không thể ngờ được ở nơi thâm sơn cùng cốc lại có một tuyệt sắc giai nhân nhường đó, nhất thời ngây thộn, đứng sững như trời trồng.

Ngọc Thiền lại vòng tay hành lễ: “Tiểu nữ xin chào thái tử điện hạ!”

Thái tử Thân lúc này mới giật mình sực tỉnh, vội vàng đáp lễ: “Ngụy Thân xin chào cô nương. Xin hỏi cô nương, Quỷ Cốc tiên sinh có nhà hay chăng?”

“Tiên sinh đang bế quan tu luyện, không tiện gặp khách!”

“Ồ...”

“Điện hạ đi đường vất vả, nếu không chê, xin mời vào nhà cỏ uống chén trà nhạt.”

“Ngụy Thân đa tạ cô nương khoản đãi!”

“Điện hạ, mời!”

“Cô nương, mời!”

Hai người một trước một sau đi vào thảo đường, tiểu đồng rót trà bày lên trên bàn, sau đó đứng hầu bên cạnh.

Thái tử Thân ôm quyền hỏi: “Ngụy Thân xin hỏi quý tính đại danh của cô nương?”

Ngọc Thiền vòng tay đáp lễ: “Tiểu nữ tên Ngọc Thiền. Điện hạ, mời dùng trà!”

Thái tử Thân nhấp một ngụm trà, hai mắt nhìn chăm chăm vào Ngọc Thiền, buột miệng thốt lên: “Non xanh nước biếc, giai nhân, trà thơm, quả là chốn động thiên phúc địa!”

Ngọc Thiền lập tức sầm ngay nét mặt, đứng dậy nói: “Nếu điện hạ đến đây là để du sơn ngoạn thuỷ, dùng trà xong có thể lên đỉnh núi trước mặt, phong cảnh nơi đó đẹp hơn nhiều. Tiểu nữ có việc phải đi trước, thứ lỗi không thể bồi tiếp!” Rồi vái hờ một vái, quay người toan đi.

Thái tử Thân biết mình lỡ lời, vội vã đứng dậy: “Cô nương xin dừng bước!”

Ngọc Thiền dừng chân, ngoái đầu hỏi: “Điện hạ có gì dặn dò?”

Thái tử Thân vòng tay vái mà nói: “Một dạo trước đây, nước Ngụy bốn bề ngự địch, tình thế nguy cấp. Đệ tử của tiên sinh là Bàng Quyên đã xoay chuyển đại nạn, giúp nước Ngụy biến nguy thành an. Phụ vương cảm tạ ơn giáo hoá của tiên sinh, nên đã phái Ngụy Thân vào sơn cốc đa tạ!” Rồi quay ra ngoài vỗ tay, mấy người đi theo liền khiêng hai hòm đựng đầy vàng vào, đặt ở dưới đất, mở nắp hòm, sau đó lui ra.

Thái tử Thân chỉ vào hai chiếc hòm: “Phụ vương ban tặng cho Quỷ Cốc tiên sinh năm trăm lượng vàng, hai cặp ngọc bích, một viên dạ minh châu, mười chuỗi ngọc, hai mươi súc gấm vóc. Chút lễ mọn này không đủ tỏ lòng thành kính, mong cô nương hãy nhận giúp cho.”

Ngọc Thiền đến nhìn cũng chẳng thèm nhìn, sắc mặt lạnh lùng, nói: “Tiểu nữ thay mặt tiên sinh đa tạ ý tốt của Ngụy Vương. Quỷ Cốc vốn là nơi thanh tịnh, không chứa được những thứ quý giá này. Tiên sinh có dặn, Bàng Quyên đã xuống núi, không còn liên quan đến Quỷ Cốc nữa. Xin điện hạ hãy đem những thứ bảo bối này về trả lại cho Ngụy Vương!”

Thái tử Thân thấy Ngọc Thiền thẳng thừng từ chối, vội nói: “Đây là tâm ý của phụ vương, cô nương kiên quyết không nhận, như vậy là làm khó cho Ngụy Thân!”

Ngọc Thiền cười nhạt, nói: “Xin điện hạ hãy bẩm lại với phụ vương của người, đạo làm quân vương là phải biết lo cho dân. Tiền bạc lấy từ dân, cũng phải dùng cho dân. Số vàng bạc châu báu này đều là xương máu của dân, không dễ có được, hãy dùng vào những việc đáng dùng, đừng nên tuỳ tiện hoang phí!”

Thái tử Thân nghe vậy, bỗng thấy kính trọng trong lòng: “Lời của cô nương như sấm sét bên tai, Ngụy Thân nhất định sẽ bẩm lại với phụ vương. Ngụy Thân vẫn còn một chuyện muốn thỉnh cầu cô nương!”

“Điện hạ cứ nói!”

Thái tử Thân lấy từ trong tay áo ra chiếu thư của Ngụy Huệ Vương và bức thư của Bàng Quyên: “Đây là chiếu thư do phụ vương tự tay thảo ra, phiền cô nương chuyển giúp lên tiên sinh. Còn đây là bức thư mà Bàng tướng quân viết gửi Tôn tướng quân, phiền cô nương hãy chuyển cho Tôn tướng quân giúp. Bàng tướng quân còn có vài lời dặn dò, muốn Ngụy Thân đích thân nhắn với Tôn tướng quân.”

Ngọc Thiền gật đầu nói: “Tiểu nữ xin nhận bức thư mà Ngụy Vương viết cho tiên sinh. Còn về thư của Bàng Quyên, điện hạ hãy tự giao cho Tôn Tân đi!” Rồi quay sang tiểu đồng. “Hãy dẫn điện hạ đi gặp Tôn Tân!”

“Được!” Tiểu đồng đáp lời, rồi quay sang khẽ vái thái tử Thân. “Điện hạ, mời!”

Thái tử Thân vòng tay đáp lễ: “Tiên đồng, mời!”

Tiểu đồng dẫn thái tử Thân đi tới trước căn nhà cỏ của bốn người, cất tiếng gọi lớn: “Tôn sư đệ, có người đến tìm!”

Tôn Tân đáp lời, rồi đi ra khỏi nhà, thấy đám thái tử Thân, nhất thời kinh ngạc.

Thái tử Thân vòng tay vái chào: “Ngụy Thân xin chào Tôn Tử!”

Tôn Tân vòng tay đáp lễ: “Tôn Tân xin chào Ngụy Tử!” Rồi chỉ tay vào mấy chiếc ghế đá bày trên bãi cỏ. “Ngụy Tử, mời!”

Hai người lần lượt ngồi xuống. Thái tử Thân rút ra bức thư của Bàng Quyên, hai tay đưa cho Tôn Tân: “Bàng tướng quân nhờ Ngụy Thân trao cho Tôn Tử một bức thư, xin Tôn Tử hãy đọc!”

Tôn Tân đưa hai tay nhận lấy: “Đã khiến Ngụy Tử vất vả rồi!

Tôn Tân mở bức thư của Bàng Quyên ra, thấy thư viết: Tôn huynh! Quyên vội vàng xuống núi, bước bước gian nan, may được bệ hạ hậu ái, sau đã được trọng dụng. Đệ không lúc nào quên lời hứa trước khi ly biệt, nay chân đã đứng vững, nên tiến cử Tôn huynh lên bệ hạ. Bệ hạ nghe thấy tài của Tôn huynh, ăn không ngon, ngủ không yên, nên đặc phái điện hạ phụng chiếu vào cốc, mời Tôn huynh cùng gây dựng đại nghiệp. Ân sủng nhường này, khác nào ơn tri ngộ Thái Công bên bờ Vị Thuỷ. Mong huynh đừng bỏ lỡ thời cơ, nhanh chóng phụng chiếu hạ sơn, chung sức với đệ, cùng phò minh chủ. Đệ Bàng Quyên vái dâng!

Tôn Tân đọc xong, biết người ngồi trước mặt là thái tử nước Ngụy, lập tức khấu đầu sát đất: “Tôn Tân không biết điện hạ giá lâm, đã thất lễ, mong điện hạ bao dung!”

Thái tử Thân vội vàng đỡ dậy: “Tôn Tử bất tất phải câu nệ lễ tiết! Ngụy Thân phụng chiếu mệnh của phụ vương, từ ngàn dặm xa xôi đến đây, chỉ vì muốn mời được Tôn Tử. Mong Tôn Tử thành toàn cho ý tốt của phụ vương, nhanh chóng xuống núi, cùng Ngụy Thân trở về Đại Lương, kiến công lập nghiệp.”

“Ý tốt của bệ hạ, thịnh tình của điện hạ, Tôn Tân hổ thẹn không dám nhận!”

“Tôn Tử bất tất phải khách khí. Giờ không còn sớm nữa, không biết Tôn Tử lúc nào có thể hạ sơn?

“Đây là việc trọng đại, Tôn Tân không thể tự quyết. Trên núi giá rét, xin điện hạ hãy tạm thời xuống núi nghỉ ngơi, đợi tại hạ bẩm với tiên sinh, sau đó sẽ trả lời điện hạ.”

“Được vậy thì tốt quá!” Thái tử Thân gật đầu nói. “Ngụy Thân sẽ đợi Tôn Tử ở cửa Túc Tư. Trong vòng ba ngày, nếu không thấy Tôn Tử đến, Ngụy Thân đành phải tiếp tục vào cốc khẩn cầu.”

“Trong vòng ba ngày, Tôn Tân nhất định sẽ trả lời điện hạ!”

Thái tử Thân vòng tay vái: “Ngụy Thân xin cáo từ!”

Tôn Tân vòng tay đáp lễ: “Tôn Tân cung tiễn điện hạ!”

Màn đêm buông xuống. Trong gian thảo đường của Quỷ Cốc Tử, Trương Nghi đốt liền một lúc năm sáu ngọn nến, khiến toàn bộ gian nhà sáng trưng. Năm người Trương Nghi, Tô Tần, Tôn Tân, Ngọc Thiền, tiểu đồng cùng tập trung trong nhà chính. Hai hòm lễ vật mà thái tử Thân mang đến vẫn được bày trong thảo đường. Tiểu đồng bước lên trước, lần lượt mở hai chiếc hòm ra, Tô Tần, Trương Nghi ghé mắt nhìn, thấy một hòm đầy ắp những đĩnh vàng sáng chói, hòm còn lại đựng đầy châu ngọc gấm vóc, bày xếp chỉnh tề.

Tiểu đồng đã được nhìn thấy tiền đồng, cũng đã được nhìn thấy thỏi vàng nhỏ, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy những đĩnh vàng vun cao thành đống như vậy, lại càng chưa từng nhìn thấy châu ngọc và gấm vóc, nên kinh ngạc chỉ vào hòm, đưa mắt nhìn Tô Tần: “Tô sư đệ, đây là vật gì?”

Tô Tần cũng lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy nhiều vàng bạc như vậy, hai mắt đờ đẫn, đứng ngây tại chỗ, nghe tiểu đồng hỏi mới sực tỉnh, vội nói: “Hồi bẩm sư huynh, đây là vàng, kia là châu ngọc và gấm vóc!”

Tiểu đồng rất mực hiếu kỳ: “Vàng? Vàng dùng để làm gì kia?”

Mọi người đều bật cười.

Trương Nghi cười nói: “Hồi bẩm sư huynh, trong thiên hạ này, vàng là thứ vô địch, không có nó thì chẳng làm được việc gì cả.”

Tiểu đồng càng thêm kinh ngạc, lấy từ trong hòm ra một thỏi vàng, xoay qua lật lại, lại tung mấy cái trong tay, rồi quay đầu nhìn sang Ngọc Thiền: “Chị Thiền Nhi, chẳng lẽ những thứ này còn tài tình hơn cả tiên sinh?”

Mọi người được phen cười nghiêng ngả. Ngọc Thiền thôi cười, kéo tiểu đồng về phía mình, nói nhỏ: “Đừng nghe Trương Nghi nói bậy. Trong Quỷ Cốc, những thứ này chẳng có tác dụng gì, còn chẳng bằng đá sỏi bên khe suối!”

Tiểu đồng nghe thấy vậy, liền tiện tay ném toẹt thỏi vàng vào trong hòm, phì cười: “Điện hạ cái gì? Nếu thực lòng muốn cảm tạ tiên sinh, cũng phải mang tặng vài thứ hữu dụng chứ. Mang những thứ này đến, không ăn được, cũng chẳng dùng được, mà nhấc thử lại nặng gớm ghê!”

Mọi người càng cười lớn hơn. Nhưng Tôn Tân chỉ ngồi yên dưới đất, từ đầu đến cuối không cười một tiếng. Thấy mọi người cười đã chán, Tôn Tân bèn đứng dậy, vòng tay nói với mọi người: “Đại sư huynh, sư tỷ, Tô huynh, Trương huynh, xin mọi người đừng nói tới vàng nữa. Tại hạ đã suy nghĩ nát óc, nên đi hay ở, thực chưa thể quyết, xin mọi người hãy cho tại hạ một chủ ý.”

Trương Nghi liền đáp: “Có gì phải bàn đâu! Theo ý của Trương Nghi, Tôn huynh nên đi!”

Tôn Tân nhìn Trương Nghi: “Sao Trương huynh lại nói vậy?”

“Là vì đống vàng này!” Trương Nghi chỉ tay vào hòm vàng, nói. “Ngụy Vương dùng vàng ngọc cầu tài, điện hạ đích thân đến mời, đủ thấy nước Ngụy coi trọng người tài ra sao. Thằng cha Bàng Quyên có là cái thá gì, nhưng Ngụy Vương không những phong tướng ban tước, mà còn gả cả công chúa cho. Xem ra, trận chiến Hà Tây ngày trước đã khiến hôn quân thức tỉnh. Nước Ngụy nằm ở Trung Nguyên, nếu muốn chấn hưng, giống như tay Bàng Quyên kia đã nói, phải lấn sang tả hữu, đó chính là đất dụng võ của Tôn huynh!”

Nhưng Tô Tần liên tiếp lắc đầu: “Theo ý của tại hạ, không thể đến nước Ngụy!”

Tôn Tân quay đầu lại: “Xin Tô huynh hãy nói rõ!”

“Cũng là vì đống vàng này!” Tô Tần đưa mắt nhìn hòm vàng. “Mấy năm nay, nước Ngụy xây dựng bừa bãi, chinh chiến triền miên, quốc khố từ lâu trống rỗng, dân chúng lầm than, nhưng Ngụy Vương lại nhìn mà không thấy, tiêu xài vẫn hoang phí nhường này, coi vàng như đất, có thể thấy Ngụy Vương không hiểu dân tình, không thương dân chúng. Vua không hiểu dân, sẽ khốn. Vua không thương dân, sẽ quẫn. Từ đó có thể thấy, vua này không thể phò tá.”

Nghe Tô Tần nói vậy, Ngọc Thiền bỗng thấy trong lòng chấn động, bất giác liếc nhìn Tô Tần. Tôn Tân gật đầu, đưa mắt nhìn Ngọc Thiền: “Sư tỷ có ý kiến gì chăng?”

Ngọc Thiền cười nói: “Lời của Trương sĩ tử, Tô sĩ tử, nghe đều có lý. Với tài của Tôn sĩ tử, cho dù có phó tá quân chủ nước nào, cũng đều có thành tựu. Chỉ có điều...” dừng lại một lát, mới nói tiếp, “nếu Tôn sĩ tử đến nước Ngụy, Thiền Nhi có một lo lắng.”

Tôn Tân vội hỏi: “Sư tỷ có điều gì lo lắng?”

Ngọc Thiền hơi do dự, rồi lại cười một tiếng: “Không có gì khác, Thiền Nhi chỉ muốn nói, Tôn sĩ tử quá đỗi nhân hậu, nếu như làm quan cùng một triều với Bàng Quyên, e rằng khó có ngày mở mày mở mặt!”

“Phải phải phải!” Trương Nghi hấp tấp nói liền mấy tiếng. “Sư tỷ nói rất đúng ý tại hạ! Lúc nãy tại hạ chỉ nghĩ đến cái lớn, không nghĩ tới cái nhỏ, đã quên khuấy mất nhân phẩm của thằng cha Bàng Quyên kia. Hạng người Bàng Quyên có thể cùng chung hoạn nạn, nhưng không thể cùng hưởng phú quý, Tôn huynh tốt nhất đừng nên đến nước Ngụy!”

Tôn Tân cười nói: “Nếu là vậy thì cũng không có gì đáng lo. Bàng sư đệ và Tân tình nghĩa thân thiết, còn về danh lợi, trước nay Tân không tranh giành, tin chắc sẽ không vì chuyện này mà gây hiềm khích với sư đệ.”

“Tôn sư đệ!” Tiểu đồng nói xen vào. “Nói đi nói lại, rốt cuộc đệ có đi hay không?”

“Điều này...” Tôn Tân do dự một lúc, “hồi bẩm sư huynh, sư đệ thực lòng không thể quyết định, xin sư huynh hãy quyết giúp đệ!”

Tiểu đồng xua tay: “Đây là việc của người lớn, tiểu đồng làm sao có thể quyết được!”

Mọi người đều bật cười.

Tiểu đồng đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người, rồi quay sang nhìn Tôn Tân, sắc mặt nghiêm túc: “Nếu như các vị đã không thể quyết, sư đệ cũng không biết nên đi hay ở, vậy theo ý của sư huynh, chúng ta hãy vào động hỏi tiên sinh.”

Tôn Tân đáp: “Hồi bẩm đại sư huynh, lúc nãy nghe sư tỷ nói tiên sinh đang bế quan tu luyện, sư đệ không dám làm phiền.”

Trương Nghi cười nói: “Tiên sinh nói vậy, chắc chắn là để đuổi tên thái tử kia đi, Tôn huynh cứ việc vào động!”

Tôn Tân đưa mắt nhìn Ngọc Thiền, Ngọc Thiền gật đầu nói: “Trương sĩ tử nói đúng, tiên sinh không hề bế quan. Có điều... giờ cũng đã muộn, có lẽ tiên sinh cũng nhập định rồi, hay là sáng sớm mai Tôn sĩ tử hãy vào hỏi.”

Sáng sớm hôm sau, Tôn Tân đi vào thảo đường. Ngọc Thiền dẫn Tôn Tân vào cửa, thấy Quỷ Cốc Tử đã ngồi ngay ngắn bên trong, trông có vẻ như đang đợi Tôn Tân. Tôn Tân bước lại khấu bái, hai tay trình lên bức thư của Bàng Quyên. Quỷ Cốc Tử đọc qua một lượt, đọc xong, tiện tay vứt lá thư lên mặt bàn, mỉm cười nhìn Tôn Tân.

Tôn Tân dập đầu nói: “Khi sư đệ xuống núi, đã từng có hẹn ước với đệ tử. Nay sư đệ y theo lời hẹn, mời đệ tử xuống núi, nếu đệ tử không đi, đó là thất tín. Ngụy Vương đích thân phái điện hạ mang lễ vật đến, thành tâm mời đệ tử, nếu đệ tử không đi, đó là thất lễ. Nhưng mấy năm nay, người Ngụy xâm phạm lãnh thổ nước Vệ, khiến máu nhuộm Bình Dương, phụ thân, cả nhà thúc phụ và hàng vạn bách tính bất hạnh đều tuẫn thân vì nước, nếu đệ tử đến giúp Ngụy, tức là đã quên đi thù xưa, đó là bất hiếu. Sự việc ngày hôm nay, đệ tử đã suy nghĩ nhiều lần, nhưng vẫn khó lòng quyết định, nên đành phải làm phiền tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử khép hai mắt lại, một lúc sau mới chậm rãi nói: “Tạm không nói đến tín, lễ, hiếu, thì tâm của con đang hướng đến nơi nào?”

“Đệ tử nguyện cùng tiên sinh ẩn cư trong Quỷ Cốc, tu tiên luyện đan, chuyên tâm cầu đạo!”

Quỷ Cốc Tử nhìn thẳng vào Tôn Tân, hồi lâu mới gật đầu nói: “Con trung hậu chất phác, tâm không tạp niệm, có tâm nguyện này, ắt sẽ có thành tựu. Nhưng hiện giờ thiên hạ loạn lạc, chiến tranh triền miên, chúng sinh đang chìm trong biển lửa. Con đã học binh pháp thì phải thuận theo ý trời, hoá giải chiến tranh, chấm dứt loạn lạc. Sau khi hoàn thành mệnh trời, sẽ lại thực hiện tâm nguyện đó. Ta sẽ luôn ở chốn thâm sơn cùng cốc này, đợi con thành công quay lại.”

Tôn Tân bái lạy: “Đệ tử xin nghe theo lệnh tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử chậm rãi nói: “Con có đến nước Ngụy hay không, tâm con tự quyết, lão hủ không có ý kiến gì. Còn về việc tín với bằng hữu, lễ với quân vương, hiếu với người thân, tất cả đều là ân oán cá nhân, người tu đạo nên quên bỏ, chỉ nghĩ đến đạo lớn của thiên hạ!”

Lời của Quỷ Cốc Tử giống như một gậy giữa đỉnh đầu, Tôn Tân đột nhiên tỏ ngộ, bèn khấu đầu nói: “Đệ tử đã hiểu rồi!”

Quỷ Cốc Tử nhìn Tôn Tân, trên mặt lộ một nụ cười hiền từ: “Con đã hiểu gì?”

“Đệ tử đã quyết định! Đệ tử sẽ xuống núi giúp sư đệ một tay!”

Quỷ Cốc Tử trong tâm hơi chấn động, nhưng lập tức điềm tĩnh trở lại, khẽ gật đầu: “Con đã quyết định, vậy hãy đi đi!”

“Lần này đệ tử đi, là phúc hay hoạ, xin được tiên sinh chỉ điểm!”

Quỷ Cốc Tử đưa mắt nhìn Tôn Tân, rồi căn dặn: “Tiên thánh có câu, ‘hoạ là chỗ nương tựa của phúc, phúc là chỗ ẩn tàng của hoạ’, là phúc hay hoạ, đều là mệnh trời, sức người không thể thay đổi. Con hãy vào trong núi, hái lấy một đoá hoa, ta sẽ bói cho con một quẻ, may ra biết được lời cảnh báo!”

“Đệ tử tuân lệnh!”

Tôn Tân đứng dậy, đang định đi hái hoa, vừa hay nhìn thấy Ngọc Thiền bưng một chậu nước sạch bước vào, đi tới bên bức tường trước phòng của Quỷ Cốc Tử. Ở đó bày một đỉnh đồng nhỏ chân cao, trong đỉnh đồng cắm bó hoa cúc dại hôm qua Ngọc Thiền hái về. Ngọc Thiền thay nước trong đỉnh, cắm lại hoa cho đẹp.

Tôn Tân nhìn thấy hoa cúc, bỗng nảy ra một ý, liền tiến tới, rút lấy một bông, rồi quỳ xuống trước mặt Quỷ Cốc Tử, hai tay nâng hoa, khấu đầu nói: “Tiên sinh, đệ tử dùng hoa này gieo quẻ, xin tiên sinh hãy xem giúp.”

Quỷ Cốc Tử phẩy tay. Tôn Tân đa tạ xong, liền đứng dậy cắm hoa vào đỉnh, rồi quay lại, tiếp tục quỳ xuống trước mặt Quỷ Cốc Tử.

Quỷ Cốc Tử khép hờ hai mắt, vận thần phát công, một lúc sau mới mở mắt ra, thần sắc trầm trọng, nặng trĩu ưu tư, đôi mắt nhìn chăm chăm vào Tôn Tân, hồi lâu vẫn không lên tiếng.

Tôn Tân hơi chột dạ, bèn gọi khẽ: “Tiên sinh...”

Lại qua một lúc, Quỷ Cốc Tử khẽ than một tiếng, rồi chậm rãi nói: “Được thôi, con đã chọn hoa này, vậy ta sẽ dùng nó để bói cho con. Hoa này sinh ra trong sơn cốc hoang vu, nở vào mùa thu, không tranh đua với trăm hoa khác, cho thấy con là người tâm trí cao viễn, không tranh với đời. Hoa này mọc bên vách đá, hương thơm thanh cao, gặp sương không rụng, cho thấy con có phẩm tính thanh cao, thần trí kiên định. Hoa này được ngọc nữ yêu thích, lại do ngọc nữ hái về, được ngọc nữ nâng niu, cho thấy con sẽ có được lòng thành của mỹ nhân. Hoa này lớn lên trong sơn cốc, nhưng giữa chừng lại bị bẻ ngang, cho thấy con sẽ gặp phải kiếp nạn. Hoa này mặc dù bị bẻ, nhưng lại được nuôi trong đỉnh quý, cho thấy con tuy gặp kiếp nạn, nhưng không phải mạng nguy. Bình để cắm là đỉnh đồng, thứ nuôi dưỡng là nước sạch, cho thấy trong tương lai con sẽ được trọng dụng, có được kết cục an lành!”

Tôn Tân nghe thấy tương lai như vậy, nhất thời ngây người, quỳ sững một lúc lâu mới khấu đầu nói: “Đệ tử đa tạ tiên sinh chỉ giáo!”

Quỷ Cốc Tử lại thở dài một tiếng: “Đã xem hoa này, vậy tên của con cũng cần đổi một chữ.”

“Xin tiên sinh hãy đổi giúp đệ tử!”

“Hãy đổi chữ ‘Tân’ thành chữ ‘Tẫn’, hoặc giả có thể giúp con tiến thủ.”

Ngọc Thiền ngạc nhiên, hỏi khẽ: “Tiên sinh, ‘Tân’ đổi thành ‘Tẫn’, sao có thể tiến thủ được?”

“Đây là thiên cơ!”

Tôn Tân lại khấu lạy: “Đệ tử đa tạ tiên sinh đã đổi tên!”

Quỷ Cốc Tử không đáp, ngồi yên một lúc, mới cất lời đầy ẩn ý: “Tôn Tẫn, con và Bàng Quyên cùng ở một triều, cùng phò một chủ, mọi việc cần phải biết đề phòng!”

Tôn Tẫn khấu đầu đáp: “Đệ tử xin ghi nhớ!”

Quỷ Cốc Tử quay người đi tới trước bàn, cầm bút viết chữ lên một vuông lụa. Viết xong, cất vuông lụa vào trong túi gấm, gói kín lại rồi đưa cho Tôn Tẫn: “Ta cho con một cẩm nang, khi nào gặp hiểm nạn, hãy mở ra xem!”

Tôn Tẫn hai tay nhận lấy, chảy nước mắt mà khấu đầu: “Đệ tử đa tạ tiên sinh!”

Quỷ Cốc Tử gật đầu nói: “Tôn Tẫn, con có thể đi được rồi!” Nói xong quay người đi thẳng vào trong động.

Tôn Tẫn nhìn theo Quỷ Cốc Tử, liên tiếp bái lạy, khóc lớn mà gọi: “Tiên sinh...”

Trên con đường núi, Tô Tần, Trương Nghi gánh theo một chiếc hòm, Ngọc Thiền, Tôn Tẫn gánh một hòm nữa, đi miết trên con đường quanh co khúc khuỷu. Ngọc Thiền chưa bao giờ phải gánh nặng, mới đi được mấy dặm đã đuối sức, Tôn Tẫn bèn kéo thật sát chiếc hòm về phía mình.

Trương Nghi nhìn thấy, đi thêm một đoạn nữa thì đặt quang gánh xuống: “Tôn huynh, đổi chỗ đi, đừng để mệt nhọc quá mức!”

Tôn Tẫn cười nói: “Tại hạ đã luyện võ công, chút nặng nhọc này có đáng gì.”

Trương Nghi kiên quyết: “Cái này không phải dựa vào cơ bắp, mấy chục dặm đường núi kia đấy!”

Trương Nghi thế chỗ cho Tôn Tẫn, lại dịch chuyển chiếc hòm sát hơn về phía mình.

Ngọc Thiền cười nói: “Trương sĩ tử, sĩ tử đừng nên quá sức, đi mười dặm thử xem đã!”

Trương Nghi cười nói: “Sư tỷ, không phải nói khoác, chứ chút đồ lặt vặt này, sư đệ cõng trên lưng đi cả mười dặm cũng chăng hề hấn gì.”

Ngọc Thiền phì cười: “Vậy cứ đi thử xem sao!”

Tuy nhiên, mới đi chưa được năm dặm, bước chân của Trương Nghi đã dần dần chậm lại, chân bước mỗi lúc càng nặng nề, đòn gánh hết chuyển từ vai trái sang vai phải, lại chuyển từ vai phải sang vai trái. Đi thêm được hai dặm nữa, Trương Nghi thực tình không thể chịu đựng được thêm, bèn nói nhỏ: “Sư tỷ, chúng ta nghỉ một lát nhé!”

Ngọc Thiền đặt quang gánh xuống, mọi người cũng dừng lại.

Ngọc Thiền thở dốc một chốc, rồi nhìn Trương Nghi cười hỏi: “Thế nào, lần này đã phục chưa?”

Trương Nghi vừa nắn bóp hai vai, vừa thực tình thốt lên: “Phục rồi, phục rồi, Trương Nghi phục rồi!”

Nghe thấy câu “Trương Nghi phục rồi” mọi người đều bật cười.

Trương Nghi thôi cười, giơ chân đá thẳng vào chiếc hòm, bực bội nói: “Tên thái tử chết toi, hại bách tính chưa nói, nay lại còn vào tận sơn cốc hại cả chúng ta! Sư tỷ, những thứ này đều là xương máu của dân, đúng ra chúng ta không cần phải trả lại cho họ!”

Ngọc Thiền cười nói: “Nói đến điều này, Thiền Nhi muốn hỏi một câu.”

“Sư tỷ xin cứ hỏi!”

“Trương sĩ tử, nếu tặng số vàng này cho sĩ tử, sĩ tử muốn làm gì?”

Trương Nghi nửa đùa nửa thật: “Tại hạ ư, tại hạ sẽ xây một cung điện thật lớn trong Quỷ Cốc, bên trong thứ gì cũng có, sau đó mời tiên sinh, sư tỷ, và cả tiểu đồng, đều dọn vào ở, chuyên tâm tu tiên ngộ đạo!”

Mọi người đều phá lên cười.

Ngọc Thiền cười nói: “Chỉ e cung điện của sĩ tử còn chưa kịp động thổ thì tiên sinh đã chuyển đến một sơn cốc khác rồi!” Lại quay sang Tôn Tẫn. “Tôn sĩ tử, nếu số vàng này là của sĩ tử, sĩ tử muốn làm gì?”

“Tại hạ sẽ dùng để cứu giúp những người cô quả, những người bị thương tàn vì chiến tranh.”

Ngọc Thiền quay sang Tô Tần: “Thế còn Tô sĩ tử?”

Tô Tần trịnh trọng trả lời: “Hồi bẩm sư tỷ, tại hạ sẽ dùng để dựng lều trại, mua lương thực, để những người dân gặp tai hoạ trong thiên hạ đều có chốn nương thân.”

Ngọc Thiền mỉm cười: “Mong muốn của Tô sĩ tử khiến người ta cảm động, đáng tiếc là mất bò mới lo làm chuồng. Trong thời thái bình của thánh hiền cổ xưa, Tô công tử đã bao giờ nhìn thấy chuyện dựng lều trại hay chưa?”

Tô Tần trầm ngâm một lúc, rồi vòng tay vái Ngọc Thiền: “Sư tỷ kiến thức sâu rộng, Tô Tần hổ thẹn!”

Trương Nghi cười nói: “Sư tỷ, đừng nói đến chúng tôi nữa, hãy nói sư tỷ đi. Nếu số vàng này là của sư tỷ, sư tỷ muốn làm gì?”

Ngọc Thiền cười nói: “Ta e, ta chỉ muốn chúng nhanh chóng biến mất! Đi thôi, còn hơn chục dặm đường nữa kia!”

Tô Tần đi tới trước chiếc hòm bên cạnh Ngọc Thiền, rút quang gánh ra, “hự” một tiếng đã vác lên vai, quay sang nói với Trương Nghi: “Hiền đệ, đệ và Tôn huynh gánh hòm kia, sư tỷ mệt rồi!”

Trương Nghi kinh hãi nhìn Tô Tần: “Ôi trời, thật không thể ngờ được, Tô huynh!”

Tô Tần cười chất phác: “Những việc nặng nhọc này, huynh giỏi hơn đệ!”

Ngọc Thiền tay cầm quang gánh đứng ở phía sau, mắt nhìn sững theo Tô Tần đang vác hòm nặng trên vai sải bước băng băng, dường như có điều suy nghĩ.

Hồi Thứ 23

Hiến quốc sách, Tôn Tẫn hiển lộ tài năng

Nhận đặc ân, Trần Chẩn trổ tài mưu trá

Sau khi ra khỏi cửa Túc Tư, thái tử Thân và Tôn Tẫn cùng ngồi trên một cỗ xe, đông đảo vệ binh tiền hô hậu ủng, thênh thang đi trên con đường cái quan rộng rãi trong địa giới Toan Táo.

Lúc này đang giữa mùa thu, nhưng đồng ruộng khắp nơi không thấy cảnh được mùa, chỉ rặt đồng hoang xơ xác.

Mặt trời lên gần tới đỉnh đầu, theo lý đã đến giờ cơm trưa. Nhưng phóng mắt nhìn đi, trong các làng xóm gần xa dọc hai bên đường không hề có lấy một làn khói bếp. Tôn Tẫn đang lúc băn khoăn, bỗng có một cỗ xe bò lóc cóc đi đến, kéo xe là một con bò gầy trơ xương, trên xe chở theo toàn bộ của nả và cuốc thuổng của cả gia đình. Ngồi trên mấy tấm chăn rách nát là một cụ bà, tay ôm đứa bé gái chừng hai tuổi. Một ông lão tay cầm roi, đi bên cạnh con bò gầy. Một tráng hán chừng bốn mươi tuổi bị thọt một chân, cùng với một gã thiếu niên gầy gò đi theo phía sau xe, cả hai cùng đặt tay lên thùng xe, đẩy giúp sức cho con bò gầy xác. Đi sau cùng là một người đàn bà trung niên và hai đứa trẻ choai choai.

Chẳng cần hỏi cũng biết gia đình này đang bỏ nhà đi tránh đói, và cũng vừa mới ra khỏi cửa, vì ông lão đánh xe cứ chốc chốc lại ngoái đầu nhìn lại, những người khác cũng liên tục ngoảnh nhìn, hai mắt đỏ hoe.

Nhìn thấy đoàn xe của quan gia nườm nượp diễu đến trước mặt, ông lão vội vã đánh xe bò sang bên đường, mọi người cũng tránh dạt ra.

“Điện hạ,” Tôn Tẫn giơ tay nói, “xin dừng lại một lát!”

“Dừng xe!” Thái tử Thân nói với viên quân uý đánh xe.

Đoàn xe dừng lại, Tôn Tẫn bước xuống, đi thẳng tới trước mặt ông lão, khom lưng vòng tay vái mà hỏi: “Xin hỏi lão trượng, các vị có phải là hộ dân ở vùng này?”

Ông lão vái lại rồi đáp: “Bẩm quan nhân, thảo dân đời đời sống ở vùng này!” Rồi chỉ tay vào mấy căn nhà lúp xúp đằng xa, hai mắt đỏ hoe. “Chính là ở đó, thôn Tiểu Lương!”

Tôn Tẫn đưa mắt về phía thôn Tiểu Lương, nhìn chăm chú một hồi, rồi quay sang ông lão: “Có vẻ các vị là người một nhà?”

Ông lão gật đầu, chỉ tay vào từng người: “Đây là con trai ta, kia là cháu trưởng của ta, hai đứa trẻ đằng sau kia là em trai và em gái của nó, ngồi trên xe là vợ ta và cháu gái ta, người đang cúi đầu kia là con dâu.”

Tôn Tẫn nhìn một lượt cả nhà ông lão, lại nhìn những đồ đạc cũ nát trên xe, trong lòng chua xót, giọng nói có chút nghẹn ngào: “Xin hỏi lão trượng, các vị định đi đâu?”

Ông lão thở dài một tiếng: “Than ôi, trong tình cảnh này, còn có thể đi đâu được nữa? Chẳng phải cũng vì xin miếng cơm ăn!”

Tôn Tẫn chỉ tay vào số nông cụ trên xe, ngạc nhiên hỏi: “Mọi người đã đi xin ăn, tại sao còn mang theo nông cụ?”

“Quan nhân có điều không biết, đám tiện dân như chúng tôi đây, không trồng trọt thì làm gì có ai cho cơm ăn?”

“Ý của lão trượng là, muốn tới vùng khác trồng trọt?”

Ông lão gật đầu.

“Xin hỏi lão trượng, định đi tới vùng nào?”

“Xa lắm!” Cụ già chỉ tay về phía trời tây. “Ở đằng đó, Hà Tây, đất cũ của Ngụy! Nghe nói ở đó có một con đường sống, người trong thôn đều đã tới đó cả, thảo dân cũng đang định tìm tới xem sao.”

“Ồ!” Tôn Tẫn kinh ngạc. “Từ đây đến Hà Tây cách sông cách núi, ít nhất cũng phải hơn ngàn dặm đường, tại sao... tại sao các vị không ở lại đây trồng trọt, mà phải đi xa đến vậy?

Ông lão nhìn Tôn Tẫn một lượt từ đầu tới chân, rồi chậm rãi nói: “Xem ra quan nhân không phải người vùng này, nên không hiểu sự tình. Không giấu quan nhân, nhà thảo dân nhiều đời sinh sống tại thôn Thiếu Lương, nhưng đến nay không thể nào ở tiếp được nữa. Mấy năm nay, quan gia liên tục ra cáo thị, trai tráng trong nhà trước đây là ba bắt một đi lính, bây giờ là ba bắt hai. Thuế ruộng đất trước đây là mười khấu ba, bây giờ là mười khấu năm. Năm nay đại hạn, ruộng đồng không một hạt thóc, cả nhà lớn nhỏ đến cái ăn cũng chẳng có, nhưng quan gia vẫn ra cáo thị, tô thuế vẫn nộp như cũ. Quan gia nói thử xem, như thế bảo đám thảo dân chúng tôi làm sao sống nổi?”

Tôn Tẫn nghe mà đau thắt trong lòng, lại hỏi: “Đi nơi khác trồng cấy, đất Triệu, đất Hàn, đất Sở, đất Yên chỗ nào cũng được, nhưng tại sao mọi người lại đến đất Tần?”

“Quan nhân không biết đấy thôi,” ông lão trả lời, “nghe người ta đồn, Tần Công ban lệnh, ai khai hoang được bao nhiêu đất, đều sẽ thuộc về người đó, mười năm không bắt lính, năm năm không thu thuế. Nếu qua kỳ hạn này, tráng đinh bốn trưng một, thuế ruộng mười khấu một. Hơn bốn mươi hộ dân ở thôn Tiểu Lương đã đi hết cả, thảo dân là hộ cuối cùng. Than ôi, cũng tại thảo dân quyến luyến quê hương, nên đã làm khổ cả nhà!” Rồi lại ngoảnh mặt nhìn về phía thôn Tiểu Lương. “Thôn Tiểu Lương đã nuôi thảo dân suốt mấy chục năm, hài cốt của liệt tổ liệt tông đều ở đầu thôn, phút chốc bỏ đi, bảo thảo dân sao nỡ... sao nỡ đành lòng?”

Nói đến đây, ông lão bật khóc thảm thiết, quỳ sụp xuống đất, quay về phía thôn Tiểu Lương lạy liền mấy cái.

Tôn Tẫn mắt lệ rưng rưng, bèn quay sang nói với thái tử: “Điện hạ, xin cho mượn tạm hai lượng vàng!”

Thái tử Thân quay sang quân uý: “Lấy năm lượng vàng lại đây!”

Tôn Tẫn nhận lấy, hai tay đưa năm lượng vàng cho cụ già: “Lão trượng, lần này đi đường xa xôi, chút tiền này xin lão trượng hãy nhận lấy, để mọi người trong nhà dọc đường không phải đói lòng.”

Ông lão dường như không dám tin, nhìn Tôn Tẫn trân trân, lại quay sang nhìn thái tử, rồi mới hai tay run run nhận vàng, lạy liền ba lạy: “Xin hỏi cao tính đại danh của ân công!

Tôn Tẫn đỡ ông lão đứng dậy: “Lão trượng bất tất phải hỏi, hãy mau lên đường!”

Ông lão nói với người nhà: “Lại đây, mau khấu đầu trước ân công!”

Cả nhà lớn bé đều bước lại, theo nhau quỳ xuống đất, khấu đầu vái lạy. Tôn Tẫn không kịp ngăn, đành phải lần lượt đỡ từng người dậy. Thái tử Thân lại lệnh cho đoàn xe tránh sang bên đường, để cho cả nhà họ đi trước. Ông lão tiếp tục bái tạ, sau đó mới đánh xe bò lên đường.

Nhìn cả nhà họ từ từ đi xa dần, thái tử Thân thở dài: “Than ôi, cứ tiếp tục thế này, người Ngụy sẽ bỏ đi hết mất!”

Nghĩ tới hai hòm lễ vật trên xe và lời của Tô Tần lúc trong thảo đường, Tôn Tẫn thở dài, nửa như tự nhủ, lại nửa như đang nói với thái tử Thân: “Tô huynh nói đúng lắm, quân không hiểu dân, sẽ khốn!”

Phía nam thành Đại Lương, nằm giữa Phùng Trạch và Đại Lương là một dải gò đồi nhấp nhô, trung quân của Bàng Quyên đang đóng trại ở đây.

Bên trong doanh trại, cờ bay phấp phới, sát khí đằng đằng. Ba ngàn quân hổ bôn đứng xếp thành năm hàng ngang, ai nấy cao to lừng lững, rắn rỏi như thép, mang giáp cầm thương, mắt nhìn thẳng vào Ngụy Huệ Vương đang thong thả bước tới cách đó chừng năm bước. Đại tướng quân Bàng Quyên, tham tướng trung quân công tử Ngang đứng hộ vệ hai bên phải trái phía sau Huệ Vương.

Ngụy Huệ Vương thần thái lẫm liệt, hai mắt rực sáng, chân bước chậm rãi, nhưng rất mực uy phong, đi thẳng từ trái qua phải, rồi lại từ phải qua trái, hết sức hài lòng ngắm nghía đội quân uy vũ.

Ngụy Huệ Vương đi qua lại một lượt, sau đó mới bước lên đài cao ở giữa, đứng hiên ngang trên đài, vung tay nói lớn: “Chư vị tướng sĩ, khá lắm!”

Ba quân tướng sĩ “soạt” một tiếng đồng loạt quỳ một gối xuống đất, cùng hô lớn: “Chúng thần nguyện nhảy vào nước sôi lửa bỏng, thề chết trung thành với bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương xua tay: “Chư vị tướng sĩ, bình thân!”

Ba ngàn tướng sĩ lại đồng thanh hô: “Tạ ơn bệ hạ!” Rồi “soạt” một tiếng lại cùng đứng lên, hàng ngũ chỉnh tề như đúc từ một khuôn.

Ngụy Huệ Vương quay sang Bàng Quyên đang đứng hầu bên cạnh, gật gù nói: “Bàng ái khanh, đúng là một đội quân sắt thép!”

Bàng Quyên bước lên bẩm tấu: “Khởi bẩm bệ hạ, ba ngàn giáp sĩ này là đội quân hổ bôn do nhi thần đích thân lựa chọn, sức mạnh địch nổi trâu bò, mỗi người đều có tuyệt kỹ riêng, có thể xung phong lâm trận, chặt cờ giết tướng. Ít có thể khiến kẻ địch bạt vía, nhiều có thể đánh một trận mà định toàn cục!”

Ngụy Huệ Vương liên tiếp gật gù: “Tốt lắm! Tốt lắm! Ý nguyện trong mơ của quả nhân, nay coi như đã thành hiện thực!” Dừng lại một lát, dường như vẫn không thực tin. “Khanh nói họ đều có sức mạnh địch nổi trâu bò, mỗi người đều có tuyệt kỹ riêng?”

Bàng Quyên đưa mắt cho công tử Ngang, công tử Ngang bèn chạy tới trước trận, hô lớn: “Thanh Ngưu!”

Thanh Ngưu đứng đầu lập tức bước ra khỏi hàng, to cao lực lưỡng như một toà tháp sắt, nhanh nhẹn tiến lại: “Có Thanh Ngưu!”

Công tử Ngang lại hô: “Kéo trâu đến!”

Lập tức có một tên lính dắt theo một con trâu mộng to lừng lững tới trước hàng ngũ. Nhìn thấy con trâu, Thanh Ngưu bước thẳng tới, vung hai tay nắm chặt sừng trâu. Con trâu thấy bị giữ sừng, lập tức nổi khùng, giậm chân húc đầu xông lên phía trước. Thanh Ngưu vẫn ghì chặt sừng trâu, không lui nửa bước. Người và trâu đấu sức một hồi, con trâu không thể cự nổi, bắt đầu lùi lại. Thanh Ngưu tiến lên mấy bước, quát lớn một tiếng, hai tay vận lực. Con trâu rống lên một tiếng, ngã kềnh xuống đất. Các tướng sĩ reo hò ầm ĩ.

Ngụy Huệ Vương há hốc miệng kinh ngạc, một lúc lâu sau mới chỉ tay vào Thanh Ngưu, hết lời khen ngợi: “Tráng sĩ hay lắm, tráng sĩ hay lắm!”

Mấy quân sĩ chạy đến, xúm lại lôi con trâu đi. Thanh Ngưu lạy Huệ Vương mấy lạy, rồi quay trở về đội ngũ.

Ngụy Huệ Vương ngoảnh đầu hỏi Bàng Quyên: “Bàng ái khanh, ba ngàn quân sĩ đều có bản lĩnh như vậy ư?”

“Nếu bệ hạ không tin, có thể đích thân thử!”

Ngụy Huệ Vương gật đầu, bước xuống đài, lại đi qua trước đội quân một lượt, rồi đột nhiên giơ tay chỉ về một quân sĩ đứng hàng cuối cùng: “Ngươi, ra khỏi hàng!”

Người này dạ một tiếng, lập tức bước ra khỏi hàng, quỳ một gối xuống, khấu đầu nói: “Nhất đẳng giáp sĩ La Uy khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương nghe giọng hắn vang rền như sấm, thì gật đầu nói: “Ngươi có tuyệt chiêu gì, hãy biểu diễn cho quả nhân xem!”

“La Uy tuân chỉ!”

La Uy đứng dậy, gọi người mang mấy viên gạch xanh đến, xếp chồng lên nhau, khẽ vận khí chốc lát, rồi vung tay chém xuống. Chồng gạch lập tức vỡ làm đôi, mọi người lại ồ lên kinh ngạc.

Ngụy Huệ Vương lại gọi thêm một số người nữa, quả nhiên mỗi người đều có bản lĩnh riêng, người thì sức nâng cối đá, người thì đao đâm không thủng, người thì trèo được cột cờ, lại có người vung búa chém đôi tảng đá lớn, đúng là một đội quân lực sĩ, ai nấy đều có tuyệt chiêu, khiến Huệ Vương mặt mày hoan hỉ, hùng tâm dào dạt.

Tuần sát xong ba ngàn quân hổ bôn, Bàng Quyên dẫn Huệ Vương đi vào trướng trung quân, dừng lại trước một khung gỗ cực lớn. Ngụy Huệ Vương đang ngạc nhiên, Bàng Quyên đã đưa tay giật tấm nhiễu che trên khung gỗ, để lộ một sa bàn quân dụng rất lớn. Sa bàn mô phỏng hình thế thu nhỏ của các nước xung quanh nước Ngụy, vô cùng tinh xảo, trên cắm thẻ tre đề rõ tên nước, thành ấp, sông núi, ao hồ, các chỗ phòng thủ, kho tàng, các nơi hiểm yếu, số quân trấn thủ và họ tên tướng lĩnh.

Ngụy Huệ Vương chưa bao giờ nhìn thấy một sa bàn to lớn và tinh xảo cỡ này, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, liên miệng tấm tắc: “Đúng là bảo bối! Liệt quốc trong thiên hạ, đều ở trong tầm mắt!” Rồi quay sang Bàng Quyên. “Bàng ái khanh, sao khanh có thể làm được cái này?”

“Khởi bẩm bệ hạ, nhi thần phái người đi quan sát khắp nơi, so sánh hình thế các nước, rồi kết hợp với công sư để thiết kế nên. Một số nơi có lẽ không giống hệt thực tế, nhưng về đại thể, không sai lệch nhiều, có thể dùng trong tác chiến.”

Ngụy Huệ Vương lại ngắm nghía một lúc, giọng đầy phấn khích: “Tốt lắm! Tốt lắm! Ái khanh có tâm như vậy, lo gì thiên hạ không được thái bình?”

“Bệ hạ!” Bàng Quyên thấy thời cơ đã đến, vội bẩm tấu. “Nhi thần có một khẩn cầu, xin bệ hạ ân chuẩn!”

“Ái khanh có yêu cầu gì, cứ nói thẳng!”

“Nếu bệ hạ muốn bình định thiên hạ, e rằng chỉ với sức của một mình vi thần và ba ngàn quân hổ bôn, vẫn là chưa đủ. Vi thần cho rằng, nhiệm vụ cấp bách hiện giờ là chiêu mộ võ binh, tái lập thiết quân cho Đại Ngụy!”

Ngụy Huệ Vương lập tức gật đầu: “Tốt lắm, quả nhân chuẩn tấu!” Suy nghĩ một lúc, lại nói. “Tuy nhiên, đây là việc lớn, không thể sơ sài. Chiêu mộ thế nào, tái lập ra sao, ái khanh hãy soạn thành một bản tấu chi tiết, để đưa ra bàn bạc trong buổi đại triều.”

“Vi thần lĩnh chỉ!”

Hai ngày sau, Ngụy cung đến ngày đại triều. Thấy quần thần đều đã đứng vào vị trí, Ngụy Huệ Vương chìa tay nói: “Buổi đại triều hôm nay, trước tiên quả nhân sẽ ban hai chiếu thư!” Rồi quay sang tỳ nhân. “Tuyên chỉ!”

Tỳ nhân bước lên một bước, rút từ trong tay áo ra một đạo chiếu thư, lớn tiếng đọc: “Tư đồ Chu Uy nghe chỉ!”

Chu Uy bước lên một bước: “Có vi thần!”

Tỳ nhân tuyên đọc: “Tư đồ Chu Uy suốt hai mươi năm không đổi, cần cù triều chính, trung thành tận tuỵ, nay tấn phong làm thượng khanh, thống lĩnh sáu phủ Tư đồ, Tư nông, Tư không, Tư khấu, Tư mã, Tư công, phò tá tướng quốc, đảm trách nông thương, cai quản chính sự, củng cố đất nước!”

Quần thần đều giật mình kinh ngạc, ngay cả Chu Uy cũng hết sức ngỡ ngàng. Mọi người đưa mắt nhìn nhau, sau đó cùng nhìn về phía tướng quốc.

Ai cũng biết Chu Uy là người được Ngụy Huệ Vương tín nhiệm nhất. Từ khi Bạch Khuê qua đời, trên thực tế quyền lực của sáu phủ đã nằm trong tay Chu Uy, hôm nay ban chiếu lệnh, chẳng qua cũng chỉ là khiến cho danh chính ngôn thuận, không có gì đáng ngạc nhiên. Điều kỳ lạ là Ngụy Huệ Vương đột nhiên phong cho ông ta làm thượng khanh, thay thế chức vị của Trần Chẩn, mà ở nước Ngụy, thượng khanh cũng giống như tả sư, hữu sư, thái phó, thiếu phó, bao năm nay vẫn chỉ là tước hão, ngay cả sủng thần Trần Chẩn trước đây, phần lớn cũng chỉ để ông ta kiêm quản vài việc ngoại giao, không hề trao cho thực quyền. Lần này Ngụy Huệ Vương tấn phong Chu Uy làm thượng khanh, lại để ông ta cai quản sáu phủ, rõ ràng đã coi thượng khanh là tước thực, tương đương với phó tướng quốc. Điều này ở nước Ngụy, chẳng khác gì thay đổi chế độ, mà hiện giờ, người có thể khiến Ngụy Vương thay đổi chế độ, chỉ có thể là Huệ Thi.

Huệ Thi đứng đầu bá quan, hai mắt khép hờ, giống như buồn ngủ.

Cơn kinh ngạc qua đi, Chu Uy khấu đầu nói: “Vi thần lĩnh chỉ! Vi thần đa tạ long ân của bệ hạ!”

Tỳ nhân lại rút từ trong tay áo ra đạo chiếu thư thứ hai: “Ngự sử phủ Tư đồ Bạch Hổ nghe chỉ!”

Bạch Hổ bước ra khỏi hàng: “Có vi thần!”

Tỳ nhân tuyên đọc: “Ngự sử phủ Tư đồ cai quản hình ngục nghiêm minh, trong năm không có án lưu, dân không chịu oan, công lao hiển hách, nay tấn phong làm tư đồ, phò tá thượng khanh, tiếp quản mọi việc trong phủ Tư đồ!”

Bạch Hổ khấu đầu: “Vi thần lĩnh chỉ! Vi thần đa tạ long ân của bệ hạ!

Ngụy Huệ Vương mỉm cười, xua tay: “Hai vị ái khanh hãy bình thân!”

Chu Uy, Bạch Hổ lại khấu lạy: “Tạ ơn bệ hạ!”

Hai người đứng dậy, trở về vị trí.

“Chư vị ái khanh!” Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần, chậm rãi nói. “Quả nhân đăng cơ đã hai mươi tám năm, đến hôm nay mới có được cảm giác sảng khoái này. Sao lại sảng khoái? Sảng khoái là bởi chư vị ái khanh đồng tâm hiệp lực, cùng đương quốc nạn. Sảng khoái là bởi Huệ ái khanh nhìn xa trông rộng, biết cách vận trù quốc sách. Sảng khoái là bởi Bàng ái khanh trị quân như thần, uy phục liệt quốc. Sảng khoái là bởi Chu ái khanh hành sự chu toàn, cung tiêu ổn định.” Dừng lại một lát. “Chư vị ái khanh, quả nhân có phúc đức gì mà lại được các khanh tận lực giúp rập? Quả nhân có tài cán gì mà lại được hiền tài dốc lòng phò tá?”

Toàn bộ triều đình im phăng phắc, quần thần đều đưa mắt nhìn vào ba người Huệ Thi, Bàng Quyên, Chu Uy. Huệ Vương giọng nói bỗng trở nên trầm nặng. “Quả nhân đã từng sáng suốt, cũng đã từng hồ đồ; đã từng uy phong, cũng đã từng thất vọng. Thảm bại Hà Tây, liệt quốc vây đánh, chỉ trong nháy mắt Đại Ngụy đã chuyển từ thịnh sang suy, nguyên nhân trong đó, cho dù mọi người không nói ra miệng, trong thâm tâm ai cũng hiểu rõ, quả nhân cũng vậy. Nguyên nhân này, chính là do quả nhân! Tất cả mọi lỗi lầm đều do một mình quả nhân gây ra. Sai ở đâu? Sai ở chỗ gần tiểu nhân, xa hiền thần. Trần Chẩn là tiểu nhân, quả nhân lại gần gũi. Bạch Khuê là hiền thần, quả nhân lại xa lánh. Chu ái khanh nhiều lần khuyên bảo, nhưng quả nhân không nghe. Giờ việc đến nước này, mỗi lần nghĩ lại chuyện xưa, lòng quả nhân lại đau như cắt!” Lặng đi một lát, lại hơi cao giọng, sắc mặt cũng lộ vẻ kích động. “Quả nhân đã sai, quả nhân biết sai, hôm nay quả nhân xin được nhận sai. Sở dĩ quả nhân nhận sai, là vì quả nhân không muốn tiếp tục tái phạm sai lầm! Buổi triều hôm nay, quả nhân đã trút bỏ tảng đá trong lòng, một là mong muốn chư vị chứng giám, hai là khẩn cầu chư vị tiến cử hiền tài, khiến cho triều đình Đại Ngụy đều là những người như Huệ ái khanh, Bàng ái khanh và Chu ái khanh, tất cả đều là hiền tài!”

Những lời của Ngụy Huệ Vương, thực tình thực ý, như từ gan ruột. Lời vừa dứt, chỉ nghe thấy lịch phịch một hồi, toàn bộ văn võ bá quan trong triều, gồm cả Huệ Thi, đều quỳ sụp cả xuống đất, khóc lớn thành tiếng: “Bệ hạ...”

Ngụy Huệ Vương liền đứng bật dậy, nói lớn: “Chư vị ái khanh, mau bình thân!”

Quần thần liền lục tục đứng dậy.

Giọng Huệ Vương lại khảng khái sôi nổi. “Đại Ngụy cần phải chấn hưng! Quả nhân cũng phải chấn chỉnh! Các khanh cũng phải chấn chỉnh! Đại Ngụy phải chấn hưng thế nào? Nước giàu binh mạnh! Quả nhân phải chấn chỉnh thế nào? Rửa tai lắng nghe! Các khanh phải chấn chỉnh thế nào? Dám can lời thẳng, dũng cảm gánh vác! Quả nhân hứa rằng, phàm là bàn chuyện chính trị trên triều, cho dù có bàn việc gì, quả nhân cũng sẽ lắng nghe; phàm những ai dám nói thẳng ra chỗ sai của quả nhân, cho dù nói thế nào, quả nhân cũng sẽ sẵn sàng tiếp nạp!”

Lời vừa dứt, Bàng Quyên bước lên trước bái lạy, giọng nghẹn ngào: “Bệ hạ, vi thần có tấu!”

Ngụy Huệ Vương gật đầu, chậm rãi ngồi xuống, thái độ ôn hoà, nét mặt tươi cười: “Bàng ái khanh mau nói!”

“Bệ hạ khoan dung độ lượng, như biển nạp muôn sông, có thể sánh với hiền vương thượng cổ. Vi thần vốn chỉ là một thảo dân, may mắn gặp được bệ hạ, lại được bệ hạ ân sủng, nên mới có được ngày nay. Vi thần nguyện dốc kiệt sức lực, xương tan thịt nát, thề báo đáp ân tri ngộ của bệ hạ!”

“Ái khanh miễn lễ!” Ngụy Huệ Vương khảng khái nói. “Ái khanh biết cách trị quân, chế địch, là tướng tài trăm năm khó gặp! Quả nhân vì có ái khanh nên mới được sảng khoái như hôm nay! Không giấu ái khanh, sau khi quả nhân đi thị sát quân đội trở về, lúc nào cũng tưởng đến ba ngàn quân hổ bôn, trong mơ cũng bật cười tỉnh lại đến mấy lần!”

“Ba ngàn quân hổ bôn đa tạ bệ hạ khích lệ!” Bàng Quyên nói tiếp. “Vi thần cho rằng, trong thời hiện tại, cũng chẳng khác gì trong núi rừng hoang dã, kẻ yếu tất sẽ bị kẻ mạnh ăn thịt. Từ xưa đến nay, chẳng ai không chiến mà thắng, hiếm người không thắng mà thành quân vương. Đất ta nằm ở Trung Nguyên, xung quanh đều là cường quốc, mặc dù được yên một lúc, nhưng vẫn chưa thể kê gối ngủ ngon!”

“Ái khanh nói chí phải. Ái khanh có kế sách gì, hãy mau nói ra!”

“Nước muốn mạnh, trước tiên quân phải mạnh; quân muốn mạnh, không chỉ với ba ngàn quân hổ bôn là được. Theo vi thần được biết, ngày trước Ngô Khởi trị quân, có hàng trăm tướng giỏi, năm vạn kỵ binh, mười vạn võ binh. Binh lính trong quân, đều có sức một địch mười, hành quân trăm dặm vẫn có thể chiến đấu. Vi thần bất tài, nguyện giúp bệ hạ tái lập thiết quân, nhỏ thì có thể bảo vệ đất nước, lớn thì có thể chinh phạt thiên hạ.” Bàng Quyên nói đến đây, rút từ trong tay áo ra một cuộn thẻ tre, hai tay dâng lên. “Vi thần xin chiêu mộ tám vạn trai tráng, ba vạn ngựa hay. Vi thần tin chắc, chỉ cần huấn luyện tốt, trong vòng ba năm, thiết quân của Đại Ngụy có thể quét sạch liệt quốc, uy phục thiên hạ. Đây là bản tấu của vi thần, xin bệ hạ hãy đọc!”

Bàng Quyên nói xong, chúng thần đều kinh ngạc, đưa mắt nhìn nhau.

Tỳ nhân bước tới nhận lấy cuộn thẻ tre, hai tay trình lên Ngụy Huệ Vương. Ngụy Huệ Vương mở ra, đọc lướt qua một lượt, ngẩng đầu nhìn Bàng Quyên, gật gù nói: “Bản tấu của ái khanh cũng chính là mong muốn của quả nhân. Có điều... mộ quân đông đảo như vậy, lại là chuyện quốc gia đại sự, hãy để quả nhân cân nhắc lại, sau đó mới quyết!”

“Vi thần đa tạ bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn quần thần một lượt: “Còn ai có tấu?”

“Vi thần có tấu!” Chu Uy bước lên trước một bước, khom người bẩm tấu.

“Ái khanh mau nói!”

“Bệ hạ, mấy năm nay chiến tranh triền miên, mùa hạ năm nay lại gặp đại hạn trăm năm mới thấy, vụ thu mất trắng, kho đụn rỗng không, kho không còn lương thực, dân không đủ gạo ăn. Bệ hạ năm năm ba lần bắt lính tăng thuế, quan lại địa phương vơ vét tàn khốc, bách tính khổ sở khó kham, không ít vùng biên cương, người dân đã lũ lượt bỏ quê mà đi, chạy khỏi đất Ngụy, khiến cho vô số ruộng đất bị bỏ hoang, dân gian cũng chẳng còn tráng đinh để chiêu mộ nữa!”

Ngụy Huệ Vương chau mày, trầm ngâm hồi lâu, rồi ngẩng đầu nhìn Chu Uy: “Chu ái khanh, có bao nhiêu dân chúng đã bỏ đi?”

“Khởi bẩm bệ hạ, khoảng hai mươi vạn!”

“Hai mươi vạn?” Ngụy Huệ Vương biến ngay sắc mặt. “Nhiều đến vậy ư?”

“Bệ hạ!” Chu Uy chậm rãi nói. “Hai mươi vạn chỉ là do quan lại địa phương báo lên. Nhưng đa số quan địa phương đều lo sợ bị trách phạt, nên đã kiếm cách giấu giếm không báo. Theo vi thần tính qua, ít nhất đã có tới năm mươi vạn người đã rời khỏi nước Ngụy, chiếm khoảng một phần mười toàn bộ dân nước Ngụy.” Nói đoạn, rút ra một cuộn thẻ tre từ trong tay áo, hai tay dâng lên. “Vi thần đã ngấm ngầm phái người đến biên giới điều tra, dựa vào đó viết ra bản tấu này, xin bệ hạ ngự lãm!”

Tỳ nhân bước xuống nhận lấy, trình lên trước mặt Ngụy Huệ Vương. Ngụy Huệ Vương nhận lấy cuộn thẻ tre, đọc lướt qua một lượt, rồi đặt xuống bàn, thần sắc ủ rũ, trầm ngâm hồi lâu mới ngẩng đầu lên, giọng hơi khản đi: “Chư vị ái khanh, bãi triều!”

Sau khi bãi triều, Bàng Quyên trở về phủ, ngồi lặng suy nghĩ hồi lâu, rồi cho người gọi Bàng Thông đến, đang định dặn dò điều gì, lại xua tay bảo hắn lui ra, đứng dậy đi thẳng ra sân trước, thấy xe ngựa của mình vẫn chưa tháo, chẳng kịp gọi phu xe, đã nhảy ngay lên xe, quất ngựa rời khỏi phủ.

Bàng Quyên đánh xe tới thẳng phủ của Bạch Hổ. Môn nhân báo tin, Bạch Hổ đã đi xem phủ đệ mới. Bàng Quyên hỏi địa chỉ phủ mới, rồi đánh xe tới đó, từ xa đã nhìn thấy Bạch Hổ và lão quản gia râu tóc bạc phơ đứng ngoài cổng chỉ trỏ.

Phủ mới rộng chừng ba mươi mẫu, đình đài lầu gác đều đủ cả, mặc dù không thể so sánh với Bạch phủ khi còn ở An Ấp, cũng không xa hoa bằng phủ An Quốc Quân, Vũ An Quân, nhưng cũng được coi là một trong vài chốn hào hoa bậc nhất có thể đếm được trên đầu ngón tay trong thành Đại Lương. Toà trạch viện này vốn không phải của Bạch Hổ, mà là Ngụy Huệ Vương ban tặng cho Chu Uy làm phủ thượng khanh. Do Chu Uy không muốn chuyển nhà, chỉ thay đổi biển hiệu trước cổng, sau đó bẩm báo với Ngụy Vương, tặng lại toà phủ đệ cho Bạch Hổ.

Nghe thấy tiếng xe ngựa từ phía sau vọng lại, Bạch Hổ ngoảnh đầu nhìn, thấy Bàng Quyên đến, thì vội vàng khấu bái sát đất: “Ân công...”

Vừa nói được hai chữ, Bàng Quyên đã nhảy xuống ngựa đỡ lấy Bạch Hổ, lớn tiếng trách móc: “Tư đồ đại nhân, đại nhân làm gì vậy?”

Bạch Hổ đành phải vòng tay vái: “Hạ quan Bạch Hổ xin chào Vũ An Quân!”

Bàng Quyên lại nghiêm mặt, trách mắng: “Bạch huynh đệ, huynh gọi ta là gì?”

Bạch Hổ chần chừ một lát, gọi khẽ: “Đại ca!”

Bàng Quyên đổi giận làm vui, bật cười mà nói: “Thế mới đúng chứ!” Rồi ngẩng đầu nhìn toà phủ đệ một lượt, khẽ gật đầu. “Ồ, toà trạch viện này cũng có chút khí thế, rất hợp với Bạch huynh đệ!”

Lão quản gia sắc mặt hoan hỉ, vui không kẻ xiết, cảm thán mà rằng: “Chao ôi, lão nô không thể ngờ được nhà họ Bạch vẫn có được ngày hôm nay, đúng là trời xanh có mắt!”

Bàng Quyên cười nói: “Bạch huynh đệ, toà trạch viện lớn thế này, phải dẫn đại ca đi thăm một vòng mới đúng!”

“Đại ca, mời!”

Bàng Quyên đưa roi ngựa cho lão quản gia, cùng Bạch Hổ đi vào cổng chính, men theo con đường lát đá, đi vòng quanh phủ một vòng, cứ đến mỗi một nơi lại bình luận vài câu. Hai người đi vào hậu hoa viên, Bàng Quyên chỉ tay vào mấy chiếc ghế đá trên bãi cỏ, nói: “Nơi này cảnh trí tuyệt đẹp, ngồi nghỉ một lát, được chăng?”

Bạch Hổ nhận thấy Bàng Quyên dường như có tâm sự, bèn cười đáp: “Đại ca, mời!”

Hai người ngồi xuống, Bàng Quyên lập tức nói thẳng vào chuyện chính: “Bạch huynh đệ, sự việc hôm nay ở trên triều, đệ có cảm thấy có phần quái lạ không?”

Bạch Hổ gật đầu: “Đúng là có hơi quái lạ! Tiểu đệ chẳng qua chỉ là một ngự sử trong phủ Tư đồ, tước hạ đại phu, theo lý thì không được lên triều. Song tối qua nội tể đến truyền chỉ, báo tiểu đệ hôm nay lên triều. Tiểu đệ không biết là chuyện gì, suốt dọc đường lên triều, trong lòng cứ thấp thỏm không yên. Không ngờ bệ hạ lại trao cho tiểu đệ trọng trách nhường vậy, tiểu đệ quả thực...”

“Không, không, không!” Bàng Quyên vội lắc đầu. “Đại ca không phải nói Bạch huynh đệ. Với tài năng, thân thế của huynh đệ, cho dù có làm thượng khanh cũng xứng!”

“Đại ca quá đề cao tiểu đệ rồi. Đại ca đã không nói về chuyện này, vậy là chuyện gì?”

“Chu thượng khanh và đại ca xưa nay vốn chẳng dính dáng gì với nhau, đại ca cũng rất khâm phục con người thượng khanh, nhưng hôm nay trên triều đường, đột nhiên lại làm khó đại ca, quả tình rất khó hiểu!”

Bạch Hổ cười nói: “Chu thượng khanh không có ý khác, e rằng đại ca đã hiểu nhầm rồi!”

“Hiểu nhầm?” Bàng Quyên cười nhạt một tiếng. “Đại ca muốn mộ quân, ông ta lại nói dân chúng biên cương bỏ đi, không còn tráng đinh để mộ! Đại ca muốn mở mang quân đội, ông ta lại nói quốc khố trống trơn, thu thuế quá nặng! Đây chẳng phải công khai làm khó đại ca thì là gì?”

“Đại ca có điều không biết!” Bạch Hổ giải thích. “Đã mấy tháng nay, trong kho không còn lương thực, dân chúng không còn gạo ăn, thượng khanh suốt ngày buồn phiền lo lắng, nhiều lần nhắc đến chuyện này trước mặt tiểu đệ, tuyệt đối không phải là làm khó! Hơn nữa, những lời thượng khanh nói hôm nay, tiểu đệ cũng không thấy có bất cứ ý gì tổn hại tới đại ca!”

“Bạch huynh đệ!” Bàng Quyên lắc đầu nói. “Đệ là người tốt, lúc nào cũng nghĩ tốt cho người khác. Quốc khố trống rỗng, dân chúng không có cái ăn, điều này không phải đại ca không biết. Nhưng đệ có biết, phát triển nông tang, củng cố quốc bản là kế sách lâu dài, hưng binh mới là nhiệm vụ cấp bách, không thể chậm trễ một ngày. Một khi người Tần thừa cơ ta đói kém, hưng binh phạt ta, ta phải ứng phó sao đây? Hơn nữa, cho dù bản tấu của thượng khanh chỉ nói về việc dân chúng bỏ đi, không liên quan gì đến đại ca, nhưng ông ta cũng nên tìm cơ hội khác mới phải, tại sao lại dâng tấu ngay sau khi đại ca tấu xin tái lập võ binh Đại Ngụy?”

“Việc này...” Bạch Hổ do dự, “chỉ là trùng hợp mà thôi!”

Bàng Quyên hừ mũi một tiếng: “Cho dù có là trùng hợp, thì cũng là quá trùng hợp!”

Bạch Hổ mở miệng mấy lần, nhưng không nói được gì thêm. Bàng Quyên thấy vậy, ngữ khí cũng hoà hoãn trở lại: “Có lẽ là đại ca đã nghĩ quá xa xôi!” Rồi đứng dậy, bật cười một tiếng. “Bạch huynh đệ, hôm nay là ngày đại hỷ của đệ, đi, đại ca mời đệ uống rượu, coi như là để chúc mừng!”

Bạch Hổ cũng đứng dậy: “Đa tạ ý tốt của đại ca! Nhưng... tối qua khuyển tử đột nhiên sốt cao, khiến cho Khởi Y suốt đêm không ngủ, tiểu đệ thực không yên tâm. Đợi mấy ngày nữa, tiểu đệ nhất định sẽ mời đại ca đến phủ mới, uống một trận thật sảng khoái!”

“Tiểu Bạch Khởi bị ốm ư?” Bàng Quyên vội hỏi. “Đây là chuyện lớn! Đi thôi, đại ca cũng phải đến thăm xem sao!”

Hai người ra tới cổng, đang định lên xe trở về phủ cũ của Bạch Hổ, đột nhiên nhìn thấy một người cưỡi ngựa lao như bay tới, lại gần té ra là Bàng Thông.

Bàng Thông nhảy xuống ngựa, vội vã bẩm báo: “Đại ca, thái tử hồi phủ rồi!”

Bàng Quyên sững người, vội hỏi: “Tôn huynh có đến không?”

“Có đến, đang ở trong cung thái tử!”

Bàng Quyên vòng tay nói với Bạch Hổ: “Bạch huynh đệ, Tôn huynh đã đến rồi! Hôm khác đại ca sẽ đến thăm Tiểu Bạch Khởi, hãy nói với nó là Bàng bá phụ rất nhớ nó!”

Bạch Hổ cũng vòng tay nói: “Tiểu đệ thay khuyển tử đa tạ đại ca nhớ đến! Đại ca đi cẩn thận!”

Trong cung thái tử, Tôn Tẫn và thái tử Thân đang ngồi trong sảnh trò chuyện, vừa mới nhắc đến Bàng Quyên, nội tể ở Đông cung đã bước vào bẩm báo: “Khởi bẩm điện hạ, Vũ An Quân đang ở ngoài điện cầu kiến!”

Thái tử Thân đứng dậy cười nói: “Ồ, vừa nhắc đến Vũ An Quân, người đã đến ngay rồi!”

Tôn Tẫn vội đứng dậy, cùng thái tử Thân đi ra ngoài cửa. Nhìn thấy thái tử Thân, Bàng Quyên quỳ xuống khấu lạy: “Vi thần khấu kiến điện hạ!”

Thái tử Thân chìa tay nói: “Vũ An Quân miễn lễ!”

Bàng Quyên bái lạy: “Vi thần đa tạ điện hạ!” Rồi đứng dậy, lại quỳ xuống hướng về phía Tôn Tẫn. “Tôn huynh ở trên, xin hãy nhận của tiểu đệ một lạy!”

Tôn Tẫn cũng quỳ xuống đất lạy Bàng Quyên, nước mắt ứa ra: “Hiền đệ...”

Hai người cùng lạy nhau mấy lạy, rồi Bàng Quyên ngẩng đầu, nhìn kỹ Tôn Tẫn một lượt, giọng nghẹn ngào: “Tôn huynh, một năm không gặp, hiền đệ rất nhớ huynh!”

Tôn Tẫn nước mắt ròng ròng: “Huynh cũng thế, không ngày nào không nhớ tới hiền đệ! Một năm không gặp, hiền đệ gầy đi nhiều quá!”

Bàng Quyên thở dài một tiếng: “Than ôi, sau khi rời khỏi sơn cốc, mỗi bước đi của tiểu đệ, chẳng khác nào như trèo lên đỉnh Hầu Vọng, thực khó khăn muôn bề!”

Thái tử Thân mỗi tay đỡ một người, cười nói: “Hai vị ái khanh lâu ngày mới được trùng phùng, thật đáng mừng. Nào, cùng vào trong phủ nói chuyện!”

Bàng Quyên vòng tay vái thái tử Thân một vái thật dài: “Vi thần có một khẩn cầu, xin điện hạ ân chuẩn!”

Thái tử Thân đáp lễ: “Vũ An Quân cứ nói!”

“Điện hạ tới núi Vân Mộng xa xôi, chắc đã mệt mỏi, vi thần không tiện quấy rầy. Vi thần và Tôn huynh đã một năm không gặp mặt, có rất nhiều chuyện muốn tâm sự cùng nhau, khẩn cầu điện hạ cho phép Tôn huynh tạm thời ở trong phủ của vi thần, để thoả nỗi nhớ nhung!”

Thái tử Thân khẽ mỉm cười, đưa mắt nhìn Tôn Tẫn: “Tôn Tử, trên đường chúng ta đã nói trước rồi, sau khi khanh đến, sẽ tạm thời ở phủ thái tử. Việc này...”

Bàng Quyên vội quay sang nhìn Tôn Tẫn: “Tôn huynh!”

Tôn Tẫn quay người, vòng tay vái thái tử Thân: “Tấm thịnh tình của điện hạ, Tẫn xin nhận. Tẫn khẩn cầu điện hạ hãy ân chuẩn cho hiền đệ!”

Thái tử Thân gật đầu, đỡ Tôn Tẫn dậy: “Tôn Tử mau đứng lên. Ăn nghỉ ở đâu, Tôn Tử cứ tự nhiên. Ngày mai đợi Ngụy Thân bẩm báo với phụ vương xong, sẽ sắp xếp phủ đệ cho Tôn Tử.”

“Tẫn đa tạ điện hạ!”

Bàng Quyên từ biệt thái tử Thân, dắt Tôn Tẫn lên xe ngựa, tiến thẳng về phủ Vũ An Quân. Bàng Thông đã sắp xếp các gia nô đứng đợi sẵn ở ngoài, thấy hai người đi vào, tất cả đều khấu bái nghênh tiếp.

Bàng Quyên dắt tay Tôn Tẫn, dẫn đi thăm phủ trạch, chỉ tay giới thiệu: “Tôn huynh hãy nhìn xem, dãy này là nhà kho, tổng cộng có mười hai gian. Dãy này là phòng khách, tổng cộng có mười lăm gian. Nhà chái hai bên là cho nô bộc ở; dãy bên trái là phòng ăn, chủ phòng của tiểu đệ ở ngay trước mặt, là dãy nhà thứ ba...”

Tôn Tẫn vừa ngắm nghía, vừa liên tiếp gật gù: “Phủ trạch của hiền đệ, quả nhiên tráng lệ!”

Bàng Quyên cười hỏi: “Tôn huynh có biết phủ này vốn là của ai không?”

Tôn Tẫn mỉm cười: “Hẳn không phải là của Trần Chẩn đấy chứ?”

Bàng Quyên bật cười nói: “Tôn huynh đã đoán đúng rồi đấy, đây chính là phủ của Trần Chẩn! Gian tặc Trần Chẩn đã sợ tội bỏ trốn, bệ hạ tức giận, cho xử lăng trì Thích Quang và Đinh Tam, tặng lại phủ này cho tiểu đệ. Tiểu đệ đã mấy lần cải tạo, loại bớt xa hoa, xoá bỏ dâm dật, nên mới có hình dạng như hôm nay.” Chỉ tay vào chủ phòng. “Đã đến chủ phòng rồi, mời Tôn huynh!”

“Mời hiền đệ!”

Hai người dắt tay nhau cùng vào, lần lượt bước qua hai lần cổng lớn, tiến vào phòng khách. Đã có thị nữ rót trà, quỳ sẵn dưới đất. Hai người chia ngôi chủ khách ngồi xuống, Bàng Quyên nói: “Tôn huynh, mời dùng trà!”

“Hiền đệ, mời!”

Hai người cùng nâng chén trà, mỗi người nhấp một ngụm, sau đó đặt xuống.

Tôn Tẫn vòng tay nói: “Trước lúc lên đường, đại sư huynh, sư tỷ, Tô huynh và cả Trương huynh, tất cả đều nhờ Tẫn hỏi thăm sư đệ!”

“Quyên xin đa tạ. Tiên sinh có khoẻ không?”

“Tiên sinh khoẻ, vẫn như khi hiền đệ còn trong cốc.”

“Tôn huynh xuống núi, tiên sinh không nói gì ư?”

“Tiên sinh đã sửa một chữ trong tên của huynh!”

Bàng Quyên hơi ngạc nhiên: “Ồ, sửa chữ gì?”

“Sửa chữ ‘Tân’ thành ‘Tẫn’.”

“Ồ...” Bàng Quyên nhìn Tôn Tẫn. “Chữ ‘Tẫn’ thực không may mắn, Tôn huynh có biết tại sao tiên sinh lại sửa như vậy không?”

Tôn Tẫn lắc đầu: “Huynh không biết. Lời của tiên sinh, huynh không dám trái.”

“Ha ha ha!” Bàng Quyên cười nói. “Tiên sinh đã sửa tên, chắc hẳn phải có nguyên do. Không giấu Tôn huynh, học vấn của tiên sinh cao thâm khó lường, Quyên thực lòng khâm phục. Tiên sinh cũng từng tặng Quyên mấy chữ, đó là ‘gặp dê thì vinh’. Về sau quả nhiên trùng hợp, đúng là có liên quan đến dê thực...”

Bàng Quyên chỉ nhắc đến bốn chữ đầu, cố ý giấu giếm bốn chữ “gặp ngựa thì tuyệt” đi, Tôn Tẫn hiển nhiên không thể biết được, liền cười mấy tiếng, thán phục nói: “Tiên sinh đúng là chân nhân, lời lời nói ra đều là vàng ngọc.”

Bàng Quyên phụ hoạ thêm một câu, rồi ngẩng đầu nhìn Tôn Tẫn: “Nói đến đây, Quyên có một chuyện, xin được thỉnh giáo Tôn huynh.”

“Hiền đệ cứ hỏi, Tẫn biết sẽ nói!”

“Nghe nói Tôn huynh đã nhận được mật truyền của tiên sinh, có việc này chăng?”

Tôn Tẫn do dự một lát, rồi gật đầu.

Bàng Quyên mặt hơi biến sắc, vội hỏi: “Xin Tôn huynh hãy nói rõ!”

“Sau khi hiền đệ xuống núi, tiên sinh đã phái ba chúng ta canh chuột, Tẫn đánh chết một con chuột, được truyền một cuốn sách.”

“Ồ?” Bàng Quyên hai mắt mở to. “Dám hỏi Tôn huynh, đó là sách quý gì?”

“Là cuốn ‘Binh pháp Tôn Vũ’ của tiên tổ Tôn Vũ Tử.”

Bàng Quyên hít sâu một hơi dài, sau đó từ từ thở ra, trầm ngâm hồi lâu mới nói: “Chà chà, bảo bối của tiên sinh, quả nhiên lớp lớp khôn cùng! Xin hỏi Tôn huynh, có bao giờ tiên sinh nói với huynh về ‘Binh pháp Ngô Khởi’ không?”

Tôn Tẫn lắc đầu.

Bàng Quyên dường như đã hiểu ra, lại thở dài một tiếng: “Than ôi, tiểu đệ xuống núi quá sớm, đã vuột mất cơ hội thấy được sách quý!”

Tôn Tẫn an ủi: “Hiền đệ đừng lo, đợi khi nhàn rỗi, Tẫn nhất định sẽ giảng lại tất cả những gì mình biết cho hiền đệ nghe.”

Nghe thấy lời này, Bàng Quyên quỳ xuống đất, lạy liền ba lạy: “Tôn huynh nếu có ý này, thật là đức tái sinh với Bàng Quyên, Bàng Quyên suốt đời không quên!”

Tôn Tẫn cũng quỳ xuống: “Hai chúng ta đã kết nghĩa kim lan, giống như anh em một nhà, sao hiền đệ lại nói vậy?”

“Được được được, Quyên sẽ không nói vậy nữa. Hôm nay đi đường vất vả, Tôn huynh hãy đi nghỉ sớm. Người đâu!”

Bàng Thông đi vào: “Chúa công có gì sai bảo?”

“Phòng của Tôn huynh đã sắp xếp xong chưa?”

“Bẩm chúa công, đã sắp xếp xong rồi.”

Bàng Quyên đứng dậy, quay sang Tôn Tẫn: “Tôn huynh, mời!”

Trong phủ tướng quốc, Huệ Thi ngồi khoanh chân trên bãi cỏ bên hồ, đang gật gù buồn ngủ, thì thái tử Thân nhẹ nhàng theo con đường nhỏ đi đến, cũng ngồi khoanh chân xuống bên cạnh. Huệ Thi khẽ mở mắt, thấy là thái tử, liền đứng dậy bái lạy: “Vi thần khấu kiến điện hạ!”

Thái tử Thân đỡ Huệ Thi dậy: “Tiên sinh miễn lễ, Ngụy Thân đã quấy rầy!”

Huệ Thi lại ngồi xuống: “Điện hạ trở về từ lúc nào vậy?”

“Vừa mới trở về!”

“Dám hỏi điện hạ, chuyến đi tới núi Vân Mộng, cảm giác thế nào?”

“Quỷ Cốc quả nhiên là nơi địa linh nhân kiệt, ngay cả một tiểu đồng cũng chẳng phải tầm thường.”

“Ồ?” Huệ Thi kinh ngạc. “Nói như vậy, điện hạ đã gặp được Quỷ Cốc Tử rồi ư?”

Thái tử Thân lắc đầu: “Quỷ Cốc tiên sinh đang bế quan tu luyện, Ngụy Thân không có cơ duyên bái kiến.”

“Vậy thì đúng rồi!” Huệ Thi khẽ mỉm cười, chậm rãi nói. “Đừng nói là thái tử, cho dù là bệ hạ đích thân tìm đến, người này cũng tuyệt đối không chịu gặp. Tôn Tẫn có xuống núi không?”

“Có, Ngụy Thân đã đưa được Tôn Tử về!”

“Người này thế nào?”

“Không giống với Vũ An Quân, người này khiêm nhường cung kính, không nói chuyện binh, mới nhìn qua không giống người luyện binh pháp.”

“Ừm!” Huệ Thi khép hờ hai mắt, gật đầu nói. “Nếu thực như vậy, hẳn là một nhân vật lớn. Hiện Tôn Tẫn đang ở đâu?”

“Vốn định nghỉ ngơi ở trong phủ của Ngụy Thân, nhưng Vũ An Quân biết tin, đã đến mời đi rồi!”

Huệ Thi nhắm chặt mắt lại, một hồi lâu, lại hé mắt ra, nói: “Vũ An Quân kia bắt đầu khiến người ta phải đau đầu rồi đây!”

Thái tử Thân ngạc nhiên hỏi: “Sao tiên sinh lại nói vậy?”

“Người này muốn biến nước Ngụy thành doanh trại.”

Thái tử Thân vội nói: “Như vậy sao có thể được? Lần này đến núi Vân Mộng, trên đường đi, Ngụy Thân đã tận mắt nhìn thấy, đồng ruộng hoang phế, bách tính bỏ quê ly tán, làm sao có thể tiếp tục chinh chiến được?”

“Than ôi!” Huệ Thi trầm ngâm hồi lâu, thở dài một tiếng. “Nước Ngụy lại có chuyện rồi!”

Ngụy Huệ Vương đang dùng bữa ở ngự thiện phòng, tỳ nhân nhẹ nhàng đi vào, phấn khởi bẩm tấu: “Bệ hạ, điện hạ đã trở về!”

“Ồ, Thân Nhi về rồi ư?” Ngụy Huệ Vương bình thản đáp một câu, sau đó đưa tay cầm đũa, gắp một miếng thịt béo cho vào miệng nhai, dường như đây là một chuyện rất đỗi bình thường, không đáng nhắc tới.

Tỳ nhân thoáng sững sờ, rồi lặng lẽ đứng sang một bên, nụ cười trên khuôn mặt cũng trở nên cứng nhắc.

Ngụy Huệ Vương lại nhai thêm vài cái nữa, dường như sực nhớ ra điều gì, đột nhiên quay phắt lại, định lên tiếng nhưng trong miệng đầy thịt, muốn nuốt xuống nhưng vẫn chưa nhai kỹ, cũng chẳng kịp đợi thêm, vội ú ớ mấy tiếng, rồi “phụt” một cái phun thẳng ra, cả một miệng thức ăn bắn đầy lên mặt, lên người tỳ nhân. Tỳ nhân sợ hãi, lau không dám lau, né chẳng dám né, chỉ đứng ngây thôn tại chỗ, ánh mắt đờ đẫn nhìn Huệ Vương.

Ngụy Huệ Vương trong miệng đã trống, bèn hấp tấp hỏi dồn: “Lúc nãy ngươi nói gì? Thân Nhi đã trở về rồi ư?”

Tỳ nhân nhất thời bàng hoàng nói không thành tiếng, đành phải vội vã gật đầu.

Ngụy Huệ Vương hai mắt trợn trừng: “Tôn Tử có về cùng không?”

Tỳ nhân lại gật đầu.

Ngụy Huệ Vương vội vàng đứng dậy, nhanh chóng đi ra khỏi ngự thiện phòng, lớn tiếng ra lệnh: “Mau lên! Mau lên! Truyền Tôn Tử đến thư phòng yết kiến!” Rồi không kịp đợi tỳ nhân đáp lời, lại đột ngột dừng bước, quay đầu lại hỏi. “Hiện Tôn Tử đang ở đâu?”

Tỳ nhân cũng đã kịp định thần, vội bước lên, nói khẽ: “Khởi bẩm bệ hạ, Tôn Tử đã đến phủ Vũ An Quân rồi!”

“Chuẩn bị xe!” Ngụy Huệ Vương nói gấp. “Quả nhân sẽ đích thân đi đón!”

Tỳ nhân thoáng do dự: “Bệ hạ, giờ đã muộn rồi, nếu bệ hạ làm kinh động đến đông người, e rằng không tiện. Hơn nữa, Tôn Tử đã đến Đại Lương, bệ hạ muốn gặp cũng không cần phải vội, lão nô...” Thấy Ngụy Huệ Vương xua tay, lập tức im bặt.

Dường như Ngụy Huệ Vương cũng đã bình tĩnh trở lại, chậm rãi đi đi lại lại một hồi, rồi gật đầu nói: “Ừm, ngươi nói đúng. Hiền tế và Tôn Tử cũng đã một năm không gặp, hãy để họ có thời gian tâm sự. Ngươi đi sắp xếp, sáng sớm ngày mai truyền hai người họ lên điện yết kiến! Triệu Thân Nhi đến!”

“Điện hạ đang ở ngoài thư phòng đợi lệnh!”

Ngụy Huệ Vương nghe báo, lập tức quay đầu, rảo bước đến ngự thư phòng.

Sáng sớm hôm sau, Bàng Quyên dẫn theo Tôn Tẫn vào Ngụy cung.

Từ phía xa nhìn thấy cửa cung, Bàng Quyên cười nói: “Tôn huynh hãy nhìn xem, bệ hạ, điện hạ đều đang ở đó đợi huynh!”

Tôn Tẫn ngẩng đầu, quả nhiên thấy Ngụy Huệ Vương, thái tử Thân, tỳ nhân và một đám cung nhân chừng hơn ba mươi người đứng trên bậc thềm ngoài cửa cung, ai cũng vươn cổ trông ngóng. Nhìn thấy xe ngựa của họ, Ngụy Huệ Vương liền bước xuống thềm nghênh đón.

Tôn Tẫn vội nói với Bàng Quyên: “Hiền đệ, mau, dừng xe!”

Bàng Quyên bảo Bàng Thông dừng xe, cùng Tôn Tẫn xuống xe, đi song song tiến về phía Huệ Vương. Hai bên gặp nhau tại chỗ cách cửa cung chừng năm mươi bước, Tôn Tẫn, Bàng Quyên cùng quỳ xuống, mỗi người lạy ba lạy.

Bàng Quyên tiếp tục lạy, khấu đầu nói: “Vi thần khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương chỉ gật đầu với Bàng Quyên, nói vội: “Ái khanh miễn lễ!”

Tôn Tẫn cũng tiếp tục khấu lạy: “Thảo dân Tôn Tẫn khấu kiến bệ hạ!”

Ngụy Huệ Vương không trả lời, mặt lộ nét cười, hai mắt nheo lại, quan sát Tôn Tẫn khắp trên dưới trái phải, cứ như một vị khách lạ đến từ xứ khác. Tôn Tẫn thấy Huệ Vương không đáp lời, đành phải tiếp tục quỳ mọp sát đất, không dám động cựa.

Một lát sau, Ngụy Huệ Vương mới sực nhớ ra, vội bước lên mấy bước, đưa hai tay đỡ Tôn Tẫn dậy: “Tôn Tử bình thân!”

Ngụy Huệ Vương đỡ Tôn Tẫn đứng lên, kéo lại gần, lại tiếp tục ngắm nghía, rồi gật gù khen ngợi: “Tôn Tử phong thái xuất chúng, vừa có phong độ nho nhã, lại có khí thế hiên ngang, quả là hậu duệ của danh gia!”

Tôn Tẫn vòng tay vái: “Bệ hạ quá khen, thảo dân hổ thẹn không dám nhận.”

Hai người trò chuyện, vô tình quên bẵng mất Bàng Quyên đang quỳ bên cạnh. Bàng Quyên quỳ thêm một lúc, thấy Huệ Vương vẫn không nhìn đến mình, đành phải lầm lũi đứng dậy, cúi đầu sượng sùng đứng dẹp sang bên. Nghe thấy Huệ Vương khen ngợi, Bàng Quyên đưa mắt nhìn trộm, quả nhiên thấy quanh người Tôn Tẫn bừng bừng luồng khí hạo nhiên, khác hẳn so với khi còn trong cốc, trong lòng thoáng chút rúng động, liền bước lên bẩm tấu: “Bệ hạ, nơi này gió lạnh, chớ để tổn thương long thể!”

Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn Bàng Quyên, cười vang mà nói: “Ái khanh nói đúng, chỗ này không phải nơi tiếp đón hiền tài!” Rồi quay sang Tôn Tẫn, vòng tay vái mà nói. “Tôn Tử, mời vào trong cung nói chuyện!”

Tôn Tẫn cũng vòng tay đáp lễ: “Bệ hạ, xin mời!”

Ngụy Huệ Vương lập tức bước tới cầm tay Tôn Tẫn dẫn vào trong cung. Bàng Quyên thấy vậy, chỉ biết gượng cười, cùng thái tử Thân đi theo phía sau.

Sau khi vào điện, mọi người chia ngôi quân thần ngồi xuống, Ngụy Huệ Vương quay sang Tôn Tẫn, vòng tay nói: “Quả nhân mong Tôn Tử đến, giống như kẻ khát mong nước vậy!”

Tôn Tẫn vòng tay đáp lễ: “Thảo dân mới đến, chưa lập được chút công lao, lại được bệ hạ coi trọng như vậy, quả thực hổ thẹn!”

Ngụy Huệ Vương tiếp tục vòng tay: “Tôn Tử là đại hiền trong thiên hạ, đúng ra quả nhân phải đích thân đến núi Vân Mộng nghênh đón, nhưng do việc nước bận rộn, nhất thời không thể đi được, nên mới lệnh cho Thân Nhi đi thay, đã thất lễ rồi! Nay được Tôn Tử xem trọng, hạ mình tới Ngụy, quả nhân lại không kịp ra xa ba mươi dặm nghênh đón, đây cũng lại là thất lễ!”

Tôn Tẫn cảm động, đứng dậy khấu lạy, giọng hơi nghẹn ngào: “Bệ hạ...”

Ngụy Huệ Vương lại đứng lên đỡ Tôn Tẫn dậy, dắt về chỗ ngồi, sau đó mới quay về chỗ, đưa ánh mắt đầy thân ái nhìn Bàng Quyên, rồi lại nhìn Tôn Tẫn, xúc động nói: “Không giấu Tôn Tử, từ khi quả nhân có được Bàng ái khanh, quốc uy đại chấn. Nghe nói Tôn Tử và Bàng ái khanh cùng học một thầy, có thành tựu lớn, quả nhân trong lòng tưởng nhớ, ăn không ngon ngủ không yên. ‘Thi’ có câu: ‘Áo chàng xanh xanh, lòng ta bối hồi’(1), đây cũng chính là lòng quả nhân! Nay có được Tôn Tử, quả nhân coi như đã có thể ăn ngon ngủ yên được rồi!”

Tôn Tẫn vòng tay nói: “Ơn tri ngộ của bệ hạ, thảo dân nguyện kết cỏ ngậm vành báo đáp!”

“Tôn ái khanh!” Ngụy Huệ Vương vòng tay đáp lễ, rồi đi thẳng vào chuyện chính. “Nước Ngụy nằm ở Trung Nguyên, có năm nước mạnh là Tề, Sở, Tần, Triệu, Hàn bao quanh, bốn mặt đều là cường địch. Quả nhân từ khi kế vị đến nay, lo đông dè tây, không ngày nào yên ổn. Mấy năm trước, người Tần từ tây đánh đến, đoạt mất mấy trăm dặm Hà Tây của ta, chiếm mất trọng ải Hàm Cốc, uy hiếp Hào Quan và Hà Đông. Không lâu trước đây, người Tề từ đông đánh lại, mũi quân uy hiếp Đại Lương. May mà có Bàng ái khanh trụ vững giữa dòng, xoay làn sóng dữ, mới giúp quả nhân hoá nguy thành an. Sau cơn nguy biến, quả nhân quyết định khôi phục lại đội thiết kỵ của tiên vương, tái lập võ binh Đại Ngụy, chấn hưng Đại Ngụy hùng uy. Đây là việc lớn, chỉ với sức lực của một mình Bàng ái khanh, khó lòng thực hiện. Lần này ái khanh đến thật đúng lúc!”

Nghe mấy lời này, Bàng Quyên biết được Huệ Vương về ý tứ đã tán thành bản tấu mở mang quân đội của mình, trong lòng mừng rỡ, nhưng không hề biểu lộ trên nét mặt, chỉ chậm rãi đưa mắt nhìn sang Tôn Tẫn, hy vọng Tôn Tẫn nói giúp mấy câu, tác thành cho việc này.

Tôn Tẫn từ tốn đáp: “Tráng chí của bệ hạ, thảo dân vô cùng ngưỡng mộ. Thảo dân có một câu, không biết có nên nói hay không?”

“Ái khanh cứ nói, đừng ngại!”

“Tiên thánh Lão Đam có nói, ‘binh là thứ không may mắn, bất đắc dĩ mới phải dùng’. Lão Đam lại nói, ‘dùng đại đạo để phò tá quân chủ, không dùng binh lực để hùng cường với thiên hạ... sau khi dấy binh, ắt gặp đói kém’. Bởi vậy thảo dân...”

Tôn Tẫn liên tiếp trích lời của Lão Đam, Bàng Quyên đã biết lời không đúng lúc, liên tục nháy mắt, lại đưa tay ra hiệu, không cho Tôn Tẫn nói tiếp. Tôn Tẫn nhìn thấy, đành phải dừng lời.

Ngụy Huệ Vương hơi ngả người về phía trước, hai mắt nhìn thẳng vào Tôn Tẫn: “Tôn tử, xin hãy nói tiếp!”

Tôn Tẫn nhìn Bàng Quyên, do dự một lát, rồi tiếp tục nói: “Thảo dân cho rằng, lời của tiên thánh, không thể không nghe. Từ xưa đến nay, thánh nhân trị thế, chẳng ai nhờ vào binh mạnh ngựa khoẻ cả!”

“Ồ...” Ngụy Huệ Vương có vẻ không vui, ngồi thẳng người lại. “Xin hỏi Tôn Tử, nếu binh không mạnh, ngựa không khoẻ, chẳng may có người đến đánh, bảo quả nhân phải đối phó thế nào?”

Tôn Tẫn ôm quyền đáp: “Khởi bẩm bệ hạ, trị nước tất phải có binh, nhưng binh phải lấy chấm dứt chiến tranh làm tông chỉ, không được hung hăng hiếu chiến. Tiên tổ Tôn Vũ Tử của thảo dân từng nói, trăm trận trăm thắng, không phải là người tài giỏi nhất trong số những người tài giỏi. Không chiến mà thắng được người, mới là người tài giỏi nhất trong số những người tài giỏi. Nên dùng binh giỏi nhất là dùng mưu, sau đó là dùng ngoại giao, sau đó mới đến đánh trận, sau đó là đánh thành.”

Ngụy Huệ Vương sắc mặt sầm xuống, chau mày trầm tư hồi lâu, khẽ gật gù: “Nghe Tôn Tử nói, quả nhân như được khai sáng. Còn về việc dùng binh trị quân, quả nhân sẽ chọn ngày khác bàn bạc. Tôn Tử nghe chỉ!”

Tôn Tẫn liền đứng dậy, khấu đầu sát đất: “Thảo dân nghe chỉ!”

“Phong sĩ tử Quỷ Cốc Tôn Tẫn làm khách khanh, tặng cho một phủ khách khanh, ba mươi nô bộc, ba trăm lượng vàng, ba mươi súc gấm vóc. Sau khi lập được công trạng, sẽ phong thưởng thêm!”

Tôn Tẫn lại khấu lạy: “Vi thần đa tạ bệ hạ phong thưởng! Vi thần cáo lui!”

“Ái khanh đi cẩn thận!”

Trên đường trở về, Bàng Quyên gục đầu ủ rũ, không nói một lời. Khi gần tới cửa phủ Vũ An Quân, cuối cùng Bàng Quyên cũng lắc đầu, thở dài một tiếng: “Than ôi!”

Tôn Tẫn ngẩng lên hỏi: “Hiền đệ, những lời vừa rồi của Tẫn có chỗ nào không thoả đáng ư?”

“Than ôi!” Bàng Quyên lại thở dài một tiếng. “Cớ sao Tôn huynh lại nói chuyện không chiến trước mặt bệ hạ?”

Tôn Tẫn hơi sững lại: “Hiền đệ, Tân trong lòng nghĩ gì, miệng sẽ...”

“Tôn huynh!” Chưa đợi Tôn Tẫn nói dứt câu, Bàng Quyên đã xua tay ngăn lại. “Thân là tướng soái, nếu không chinh phạt, thì bệ hạ nuôi để làm gì?”

Tôn Tẫn hết sức kinh ngạc: “Hiền đệ...”

“Được rồi, được rồi!” Bàng Quyên lại xua tay ngắt lời. “Tiểu đệ khẩn cầu Tôn huynh, từ nay về sau đừng nói những lời như vậy nữa. Nếu không, trong triều sẽ có người bảo sĩ tử Quỷ Cốc chúng ta là những kẻ ham sống sợ chết, làm mất mặt tiên sinh.”

Tôn Tẫn không nói thêm gì nữa, hai mắt nhìn Bàng Quyên đầy băn khoăn.

Bàng Quyên cười lớn một tiếng, vỗ vào vai Tôn Tẫn, nét mặt đổi sang vui vẻ, nói lớn: “Được rồi, Tôn huynh, đừng nói đến những chuyện không vui này nữa. Ngày mai nếu không có việc gì quan trọng, hãy cùng Quyên đi một vòng quanh đại doanh!”

Tôn Tẫn gật đầu: “Xin nghe theo sắp xếp của hiền đệ!”

Sáng sớm hôm sau, Bàng Quyên theo lời hẹn, mời Tôn Tẫn đến đại doanh trung quân ở phía nam thành, đồng thời phái người mời tư đồ Bạch Hổ đi cùng, cũng giống như lần trước Huệ Vương thị sát, cho họ chứng kiến uy lực của đội quân hổ bôn.

Xem xong các màn phô diễn đặc sắc của các lực sĩ, Bàng Quyên vô cùng đắc ý nhìn Tôn Tẫn và Bạch Hổ: “Không biết hai vị thấy những tướng sĩ này thế nào?”

Bạch Hổ thán phục nói: “Nhìn Bàng tướng quân trị binh, thực không chê vào đâu được! Có những dũng sĩ như thế này tiên phong xung trận, còn phải lo lắng gì nữa?”

Bàng Quyên cười nói: “Ba ngàn quân hổ bôn mỗi người đều có tuyệt kỹ riêng, uy chấn ba quân, đều có thể chặt cờ giết soái!

Tôn Tẫn khen ngợi: “Ý này của hiền đệ rất hay! Đánh rắn phải đánh giập đầu, bắt giặc phải bắt được vua. Những dũng sĩ này nếu có thể giết được tướng soái của địch, thì có thể miễn được rất nhiều binh đao!”

Bàng Quyên phá lên cười sảng khoái. “Tôn huynh quá khen, hay cho câu ‘bắt giặc phải bắt được vua’. Tiểu đệ nuôi họ, chính là để họ bắt vua!” Dừng lại một lát, rồi chỉ tay vào đại trướng phía trước mặt. “Tôn huynh, Bạch huynh đệ, phía trước chính là đại trướng trung quân, mời!”

Mọi người đi vào đại trướng trung quân, công tử Ngang bước ra, dẫn họ đi sang bên cạnh, đưa tay kéo tấm nhiễu xuống, để lộ một sa bàn.

Nhìn thấy một sa bàn đồ sộ đến vậy, đừng nói là Bạch Hổ, ngay cả Tôn Tẫn cũng rất đỗi kinh ngạc.

Bàng Quyên cười nói: “Tôn huynh, sa bàn này là do tiểu đệ tự tay thiết kế, chuyên dùng cho các tướng tập luyện!”

Tôn Tẫn cảm thán: “Hiền đệ lao tâm khổ tứ đến nhường này, sư huynh kính phục!”

“Than ôi!” Công tử Ngang thở dài một tiếng, nửa như lấy lòng Bàng Quyên, nửa như hối hận. “Nhớ năm xưa trong trận chiến Hà Tây, nếu Ngụy Ngang có được sa bàn này, Công Tôn Ưởng sao có thể đánh thắng?”

Bàng Quyên giờ đây đã khác hoàn toàn so với một tháng về trước, không những thân làm chủ tướng, địa vị trong quân doanh còn cao hơn công tử Ngang hai cái đầu, mà hiện giờ chức vị cũng vượt xa hắn, vì vậy lời nói cử chỉ không cần cung kính như trước nữa. Nghe thấy lời này, không những không cảm kích, ngược lại còn khẽ hừ mũi một tiếng, nhếch mép cười: “Trận chiến Hà Tây thất bại là do bản tướng, sao có thể trách được An Quốc Quân?”

Bạch Hổ ngạc nhiên, mở to hai mắt nhìn Bàng Quyên: “Trận chiến Hà Tây đâu có liên quan gì đến Bàng tướng quân, Bàng tướng quân sao lại nói vậy?”

“Sao chuyện này lại không liên quan đến bản tướng?” Bàng Quyên cười nhạt. “Nếu năm năm trước, bản tướng đã bày ra sa bàn này, Công Tôn Ưởng làm sao có thể thắng?”

Công tử Ngang mặt đỏ rần, nhất thời không biết nói gì.

Bàng Quyên dường như cũng cảm thấy mình hơi quá lời, liền thu bớt ngạo khí, lấy lại vẻ nghiêm túc, nói với Bạch Hổ: “Tư đồ đại nhân hãy yên tâm, mối thù Hà Tây nhất định phải báo!” Rồi quay sang công tử Ngang. “Đợi bản tướng chinh phạt xong nước Tần, bắt sống Doanh Tứ, sẽ để cho An Quốc Quân tuỳ nghi xử trí! Thù cha thì con phải trả, mặc dù lão Tần Công đã chết, nhưng chỉ cần bắt được tiểu Tần Công, An Quốc Quân vẫn có thể giải hận!”

Công tử Ngang nghe vậy, liền cười gượng gạo, nói khẽ: “Nếu như đại tướng quân phạt Tần, Ngụy Ngang nguyện làm tiên phong!”

“Không phải nếu như!” Bàng Quyên cau mặt, gằn giọng. “Trong lòng bản tướng, phạt Tần chỉ là chuyện sớm muộn!” Tiện tay cầm lấy cây thước tre, chỉ vào sa bàn. “Các vị hãy xem, từ đây đến đây, đều là đất Tần. Tần, Ngụy vốn là kẻ địch không đội trời chung, nay lại cộng thêm mối nhục Hà Tây, trận chiến này không thể không đánh! Tuy nhiên, Tần đã đoạt mất Hà Tây, chiếm Hàm Cốc, Âm Tấn, giữ hết các chỗ hiểm yếu, phạt Tần sẽ rất gian khổ!” Rồi đưa mắt nhìn Tôn Tẫn. “Vì vậy, Quyên muốn có ba năm chuẩn bị cho chiến sự, chiêu mộ hai mươi vạn đại quân, để quyết chiến với người Tần. Về phía người Tần, Tư Mã Thác mặc dù thiện chiến, nhưng chỉ là kẻ thất phu, chỉ có Công Tôn Diễn xứng là đối thủ. Có Tôn huynh ở đây, hai chúng ta liên thủ, thiết nghĩ Công Tôn Diễn...” Nói đến đây liền dừng lại, cười nhạt một tiếng, đưa cây thước chỉ vào Hà Tây. “Ta có thể chia quân làm hai lộ, một lộ thu hồi đất này, bắt sống Công Tôn Diễn; một lộ tiến thẳng đến Hàm Dương, khiến bọn họ đầu đuôi không thể tiếp ứng lẫn nhau. Sau khi bắt được Doanh Tứ, ta sẽ đuổi toàn bộ người Tần ra khỏi Quan Trung, cho chúng dắt díu nhau đến vùng thảo nguyên hoang dã của bọn Tây Nhung, giúp bệ hạ chăn cừu!”

Bàng Quyên nói ra một tràng toàn những lời lớn lao, mọi người đưa mắt nhìn nhau, công tử Ngang há hốc miệng không nói được câu nào, chỉ chằm chằm nhìn vào đầu thước trên sa bàn.

“Sau khi phá Tần,” Bàng Quyên đột ngột trỏ thước sang nước Hàn, “đại quân trở về, tiện tay chiếm luôn nước Hàn. Hàn Hầu là một tên cáo già, lại có Thân Bất Hại ở bên, thực lực không thể coi thường. Lần này bốn nước đánh Ngụy, chỉ có người Hàn giả vờ công chiến, có thể thấy họ tính toán vô cùng thâm sâu. May mà Thân Bất Hại đã già, Hàn lại không có địa hình hiểm yếu để trấn thủ, lấy Hàn không phải việc đáng ngại.” Rồi đưa mắt nhìn Tôn Tẫn. “Còn về việc chiếm Hàn bằng cách nào, Quyên cũng đã nghĩ xong, trước tiên cần cắt đứt con đường Vũ Toại, chính là chỗ này, khiến nước Hàn nam bắc chia đôi, rồi chia binh ra đoạt lấy Thượng Đảng, Nghi Dương, sau đó bắt sống Hàn Hầu ở đây, chính là Tân Trịnh. Chỉ cần người này sớm tối chịu nghe bệ hạ sai khiến, Quyên cũng sẽ không làm khó ông ta!”

“Sau khi lấy Hàn,” Bàng Quyên lại di chuyển đầu thước tới Hàm Đan, “ta có thể chỉnh đốn đội ngũ, tiếp tục chiếm Triệu. Quyền thần nước Triệu là Phụng Dương Quân hữu dũng vô mưu, lại thâu tóm đại quyền triều chính, lấy Triệu cũng giống như lấy vật trong túi.” Di chuyển đầu thước tới Lâm Truy. “Tề Công chưa tìm được người tài, vẫn phải dùng Điền Kỵ, chỉ e lần này hắn có muốn làm đàn bà cũng chẳng dễ dàng!”

Nói đến đây, có lẽ là nhớ lại cảnh tượng Điền Kỵ phải mặc quần áo đàn bà, Bàng Quyên phá lên cười sằng sặc một tràng dài, cười xong, lại di chuyển đầu thước, nói lớn: “Kẻ địch lớn của Quyên nằm ở đây, nước Sở! Tôn huynh hãy xem...” Rồi vòng đầu thước quanh một vòng tròn lớn nhất trên sa bàn. “Từ đây đến đây, nước Sở quá ư rộng lớn, cho dù chúng ta có ba mươi vạn đại quân cũng vẫn chưa đủ. Tuy nhiên, nước Sở mặc dù rộng lớn, nhưng người Sở lại vô dụng, thế phiệt đông đảo, bất hoà xung đột lẫn nhau, ta có thể công phá từng chỗ một. Nếu không ngoài dự tính, trong vòng năm năm, ta có thể đuổi người Sở qua sông Giang Thuỷ. Phía nam Giang Thuỷ có nhiều gò đồi núi non, mặc dù không giàu, nhưng cũng không thiếu châu báu lâm sản, nếu Sở Vương có thành ý, Quyên sẽ tấu xin bệ hạ, cho ông ta làm một đại vương ở Giang Nam, bắt ông ta hàng năm cống nạp, làm vui lòng bệ hạ. Một khi các nước đều đã thần phục, Yên, Vệ, Tống và các nước lưu vực sông Tứ sẽ đều sẽ nghe tiếng mà hàng, không cần phải động đến binh đao!” Dừng lại một chút, liếc nhìn mọi người, tỏ ra đắc chí. “Nhớ lại thời Ngô Khởi, khi ở nước Ngụy đã đánh bảy mươi sáu trận lớn nhỏ, không bại trận nào, mở mang hàng ngàn dặm đất. Quyên dù bất tài, nhưng cũng nguyện giúp bệ hạ mở rộng một vạn dặm đất, khiến cho chư hầu liệt quốc đều lũ lượt quy về Đại Lương, quay mặt về bắc mà phụng sự bệ hạ...”

Bàng Quyên càng nói càng hào khí ngất trời, mọi người nghe mà há miệng tròn mắt. Tôn Tẫn chau tít đôi mày.

Công tử Ngang vô cùng kích động, ngưỡng mộ thốt lên: “Nếu phụ vương biết được tráng chí của đại tướng quân, không biết trong mơ phải bật cười tỉnh dậy đến mấy lần!”

Bàng Quyên chẳng thèm để tâm đến công tử Ngang, chỉ đưa mắt nhìn Tôn Tẫn. Sở dĩ mời Tôn Tẫn đến đây, sở dĩ thao thao bất tuyệt về chí lớn của mình, Bàng Quyên chỉ có một mục đích, đó là để Tôn Tẫn hiểu được chí hướng của mình. Chí không hợp, tất khó cộng sự. Đã mời Tôn Tẫn đến đây, có nghĩa là Bàng Quyên không còn con đường nào khác, buộc lòng phải cộng sự với Tôn Tẫn. Hơn nữa, trước mắt quả thực cũng rất cần đến đồng minh này. Đối với Bàng Quyên, nhiệm vụ cấp bách trước mắt là thuyết phục Ngụy Huệ Vương chấn hưng võ binh, phát triển quân đội, nhưng trong thời khắc then chốt đó, Chu Uy lại thình lình nhảy vào cản mũi. Một khi Chu Uy đã lên tiếng, thì Huệ Thi, thái tử Thân chắc chắn cũng sẽ nói giúp ông ta. Trong khi với bệ hạ, công tử Ngang vốn không hề có tiếng nói. Hiện giờ, người thực sự có thể giúp được Bàng Quyên, e rằng chỉ có một mình Tôn Tẫn.

Tôn Tẫn liếc nhìn Bàng Quyên, ánh mắt rời khỏi sa bàn, khoé miệng khẽ động, nhưng lại nhanh chóng khép chặt. Đúng vậy, Bàng Quyên đang đứng trước mặt Tôn Tẫn đây, mới chỉ cách có một năm, nhưng đã thành ra hoàn toàn xa lạ.

“Tôn huynh!” Dường như Bàng Quyên đã nhận ra Tôn Tẫn có vẻ không vui, liền nói. “Đây là chí nguyện của Bàng Quyên, có thể thực hiện được hay không, còn phải trông chờ vào sự giúp sức của Tôn huynh. Chỉ cần Tôn huynh chịu giúp, Quyên đệ tin rằng, thiên hạ không ai địch nổi!”

Tôn Tẫn khẽ cười, rồi quay sang hỏi: “Hiền đệ, trong doanh trại có chỗ nào tiện nói chuyện không?”

Bàng Quyên ngẩn ra một thoáng, rồi cười lớn mà nói: “Có chứ! Có chứ! Đệ còn tưởng Tôn huynh liên tục chau mày là vì chuyện gì, không ngờ là vì sốt ruột, ha ha ha ha! Đi, Quyên sẽ dẫn huynh đi!”

Sắp xếp xong cho Tôn Tẫn, Ngụy Huệ Vương quay trở lại ngự thư phòng, bắt đầu lật mở bản tấu chương của Bàng Quyên. Tấu chương được đóng từ những thẻ tre cực mỏng, chữ nhỏ nhưng vuông vắn, vì vậy mặc dù nhìn bề ngoài, bản tấu trông không dài, nhưng nội dung lại rất cặn kẽ, chính là những kế sách về quân lực, chiến lực của nước Ngụy trong tương lai, từ chiến lược đến chiến thuật, từ chiêu mộ binh lính mở rộng quân đội đến chỉnh đốn quân lực, từ việc đoạt lại Hà Tây đến tiêu diệt nước Tần, từ tiện tay chiếm Hàn đến thống nhất Tam Tấn, từ phạt Tề chiếm Sở cho đến thống nhất thiên hạ, khiến Ngụy Huệ Vương đọc mà nhiệt huyết sục sôi, mấy lần vỗ bàn đứng dậy.

Từ giờ Mão buổi sáng đến giờ Thân buổi chiều, Ngụy Huệ Vương không ăn không uống, cũng chẳng hề chợp mắt, lúc nào cũng cầm bản tấu chương trên tay, đọc đi đọc lại, nhắm mắt suy nghĩ, liên tục cất nhắc xem phương án này có thể thực hiện được hay không.

Khi giờ Thân sắp qua, tỳ nhân đích thân mang tới một bát canh nóng, quỳ xuống bên cạnh Huệ Vương. Ngụy Huệ Vương cũng cảm thấy bụng đói cồn cào, liền nhận lấy uống. Uống được mấy hớp, Huệ Vương chỉ tay vào bản tấu chương của Bàng Quyên, hào hứng mà nói: “Lại đây, lại đây, ngươi cũng xem xem!”

Tỳ nhân nhận lấy tấu chương, đọc qua một lượt, đọc xong xuýt xoa khen ngợi: “Chữ của Vũ An Quân thật đẹp!”

“Ngươi...” Huệ Vương lừ mắt với tỳ nhân, trách móc, “chỉ biết nhìn những thứ bề ngoài! Ngươi hãy đọc lại đi, đọc cho kỹ lưỡng! Toàn bộ giấc mộng thuở nhỏ của quả nhân, đều đã được Bàng ái khanh viết ra cặn kẽ!”

Tỳ nhân đọc kỹ lại, rồi đặt bản tấu xuống, nhìn Huệ Vương nói: “Lão nô chỉ biết hầu hạ bệ hạ, những thứ chinh phạt chém giết, lão nô có xem cũng không hiểu!”

Ngụy Huệ Vương cười ha há mấy tiếng, húp một hơi hết sạch bát canh, đặt chiếc bát không lên bàn, đưa tay vờn nghịch mái tóc dài của tỳ nhân, cười nói: “Đương nhiên là người không hiểu được rồi. Nếu ngươi cũng hiểu, bên cạnh quả nhân sẽ chẳng có người hợp ý nữa!”

Tỳ nhân nhìn thấy một bản tấu chương khác trên mặt bàn, là bản tấu của Chu Uy, bèn tiện tay cầm lên, lật qua vài thẻ, nửa như vô tình nửa như hữu ý bình luận: “Bệ hạ, nếu so với Vũ An Quân, chữ viết của Chu thượng khanh còn kém một bậc.”

Ngụy Huệ Vương cười ha hả, cầm lấy bản tấu của Chu Uy, tiện tay giở ra, đọc được mấy dòng, lập tức ngưng cười, tập trung tinh thần, toàn thần chuyên chú mà đọc. Tỳ nhân thấy vậy, liền nhẹ nhàng dọn bát đi, đứng hầu ngoài cửa.

Ngụy Huệ Vương lại đọc một chặp, thấy trời đã sẩm tối, liền gọi lớn: “Người đâu!”

Tỳ nhân vội chạy vào, đáp khẽ: “Có lão nô!”

“Thắp đèn!” Ánh mắt của Ngụy Huệ Vương vẫn nhìn chăm chăm vào bản tấu, không hề liếc sang tỳ nhân.

Tỳ nhân cho người đốt lên sáu ngọn đèn dầu, khiến ngự thư phòng sáng trưng như ban ngày.

Ngụy Huệ Vương lại dời tấu chương của Bàng Quyên lại gần, đặt song song với bản tấu của Chu Uy trên mặt bàn, chốc lật bản tấu này, lát lại giở bản tấu kia, đứng dậy đi đi lại lại mấy vòng trong phòng, sau đó ngồi xuống, tiếp tục đọc, mặt mũi nhăn nhó, khổ tâm suy nghĩ.

Đêm đã về khuya, tỳ nhân bưng tới một bát canh nóng, đứng ở giữa cửa, do dự hồi lâu, rồi tiến lại gần nói: “Bệ hạ, bệ hạ hãy uống một chút canh!”

Ngụy Huệ Vương đưa mắt nhìn tỳ nhân, thở dài một tiếng, lắc đầu.

Tỳ nhân tay bưng bát canh, quỳ xuống bên cạnh Ngụy Huệ Vương: “Bệ hạ...”

Ngụy Huệ Vương đành phải nhận lấy, đặt lên môi khẽ nhấp một ngụm, rồi buông xuống thở dài một tiếng: “Than ôi, quả nhân không nuốt nổi!”

Tỳ nhân liếc nhìn hai bản tấu chương, hỏi khẽ: “Xin hỏi bệ hạ, phải chăng hai bản tấu chương này đã khiến bệ hạ phiền muộn?”

Ngụy Huệ Vương thở dài sườn sượt, gật đầu, chỉ tay vào tấu chương của Bàng Quyên: “Bàng ái khanh tấu xin tái lập võ binh, chiêu mộ mười vạn quân!” Rồi chỉ tay vào tấu chương của Chu Uy. “Chu ái khanh nói, dân chúng bỏ đi đã lên tới năm mươi vạn người, dân không còn gì để ăn!” Đưa tay cuộn hai bản tấu chương lại, gạt sang một bên, chậm chạp đứng dậy. “Việc hai người tấu lên đều là đại sự, đều không thể chậm trễ, nhưng lại đối lập nhau như nước với lửa, bảo quả nhân phải làm thế nào đây?”

Có lẽ vì ngồi quá lâu, nên khi Ngụy Huệ Vương đột ngột đứng lên, bất giác thấy lảo đảo, may mà tỳ nhân nhanh tay lẹ mắt, kịp thời đưa tay đỡ lấy. Ngụy Huệ Vương cười buồn bã, nói với tỳ nhân: “Già rồi! Quả nhân già mất rồi!”

Hai người bước ra khỏi ngự thư phòng, đi theo con đường nhỏ về phía hậu cung. Đi được mười mấy bước, Ngụy Huệ Vương đột nhiên đẩy tỳ nhân ra, nói: “Giờ Thìn ngày mai, truyền Huệ tướng quốc, Vũ An Quân, Chu thượng khanh, Tôn khách khanh, và cả Thân Nhi, đến tiền điện nghị sự!”

“Lão nô tuân chỉ!”

Giờ Thìn ngày hôm sau, Ngụy Huệ Vương ngồi ngay ngắn trên ngai vàng, Bàng Quyên, Huệ Thi, Chu Uy, Tôn Tẫn, thái tử Thân lần lượt ngồi ở hai bên.

Ngụy Huệ Vương chỉ tay vào hai bản tấu chương trên bàn, chậm rãi nói: “Hai bản tấu chương, quả nhân đã đọc xong rồi!” Đưa mắt nhìn Bàng Quyên, Chu Uy, dừng lại một chút, lại nói. “Hai vị ái khanh đều viết rất hay. Trong triều có hiền thần nhường này, đúng là ông trời đã thương đến quả nhân.”

Mọi người đưa mắt nhìn nhau, không ai lên tiếng.

Ngụy Huệ Vương đưa tay cầm lấy bản tấu chương của Bàng Quyên: “Đại Ngụy muốn chấn hưng, không thể không có võ bị. Những năm gần đây, các nước mạnh liên tục xâm chiếm, chiến sự triền miên, khiến cho võ binh của ta hao tổn, quân số không đủ, ngựa chiến thiếu hụt, vũ khí lạc hậu, quả thực là mối lo lớn của đất nước. Chiến lược trị quân của Bàng ái khanh rất mực thiết thực, đó là việc khẩn cấp của đất nước, không thể chậm trễ!”

Bàng Quyên đứng dậy khấu lạy: “Nhi thần đa tạ bệ hạ khen thưởng!”

Ngụy Huệ Vương đặt bản tấu chương của Bàng Quyên xuống: “Ái khanh miễn lễ!”

Bàng Quyên đa tạ xong, đứng dậy trở về chỗ.

“Tuy nhiên,” Ngụy Huệ Vương lập tức đổi giọng, “binh cần phải nuôi. Kho không lương thực, ruộng đất bỏ hoang, quả nhân sao có thể để chư tướng sĩ an tâm luyện võ? Sao có thể để họ liều mạng xuất chinh?” Lại đưa tay cầm lấy bản tấu chương của Chu Uy. “Tấu chương của Chu ái khanh, sự việc xác thực, sinh động thiết tha, mỗi lần quả nhân đọc đến, lại tựa như nghe thấy tiếng oán thán của dân chúng biên cương, nhìn thấy cảnh dân chúng bỏ quê ly tán, đúng là mắt thấy mà đau đớn lòng.”

Bàng Quyên thần sắc hơi biến, liếc mắt nhìn mọi người một lượt, thấy Chu Uy, thái tử Thân ngồi ngay ngắn, hai mắt nhìn thẳng vào Huệ Vương. Huệ Thi hai mắt khép hờ, Tôn Tẫn thái độ ôn hoà, giống như đang nghe tiên sinh giảng đạo khi còn trong Quỷ Cốc.

Ngụy Huệ Vương đặt bản tấu chương lên bàn, nói lớn: “Chu ái khanh viết đúng lắm! Dân chúng bỏ đi, đều do thuế khoá quá nặng. Thuế khoá quá nặng, đều do chiến họa liên miên. Không có dân sẽ không có thuế, không có thuế thì lấy gì để nuôi quân?” Ngừng lại một chút, khẽ thở dài. “Than ôi, hai việc lớn này, thế lại như nước lửa không dung, đều không được phép chậm trễ. Giải quyết thế nào, quả nhân mong chư vị ái khanh hãy cùng bàn bạc.”

“Bệ hạ!” Bàng Quyên quyết định tiên phát chế nhân. “Dân chúng liệt quốc di chuyển qua lại, vốn là chuyện khó tránh. Còn về con số người dân biên cương bỏ đi mà thượng khanh đã tấu, có chính xác hay không, e rằng còn phải kiểm tra lại!”

“Khởi bẩm phụ vương!” Không đợi Ngụy Huệ Vương đáp lời, thái tử Thân đã lên tiếng. “Nhi thần cho rằng, bản tấu của Chu ái khanh hoàn toàn là sự thật. Nhi thần phụng chỉ đến núi Vân Mộng mời Tôn Tử, đi tới vùng Toan Táo, những điều tai nghe mắt thấy trên đường, quả thực vô cùng chua xót. Ruộng vườn không thấy lúa má, chỉ toàn cỏ dại. Trong thôn chẳng thấy khói bếp, chỉ thấy chó hoang. Người dân biên cương đều đã bỏ làng bỏ quê, dắt díu cả nhà chạy về phía tây, một bước ngoảnh đầu đến ba lần, ba bước lại lau nước mắt, tiếng khóc tiếng than dằng dặc suốt dọc đường...”

Thái tử Thân nói đến thương tâm, khiến Ngụy Huệ Vương nghe mà nhỏ lệ, phải đưa tay áo lau nước mắt: “Thân Nhi, đừng nói nữa!” Rồi quay sang Chu Uy. “Chu ái khanh...”

“Có vi thần!” Chu Uy vòng tay, trầm giọng đáp.

“Theo ái khanh thấy, có cách nào ngăn chặn được tình trạng dân chúng bỏ đi hay không?”

“Khởi bẩm bệ hạ,” Chu Uy tấu, “việc cấp bách hiện giờ là cùng dân nghỉ ngơi. Theo ý của vi thần, bệ hạ nên lập tức bố cáo thiên hạ, giảm bớt thuế khoá, khích lệ sản xuất, tu bổ thuỷ lợi, khuyến khích khai hoang!”

Ngụy Huệ Vương liên tiếp gật đầu, quay sang Huệ Thi: “Ý Huệ ái khanh thế nào?”

Huệ Thi thấy được hỏi đến, liền mở mắt ra nói: “Khi vi thần ngao du đến Tắc Hạ, từng gặp được Mạnh Kha. Nói về cái đạo trị nước, Mạnh Tử có nói một câu, đến nay vi thần vẫn cho là đúng đắn.”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương vội hỏi. “Mạnh lão phu tử đã nói thế nào?”

“Mạnh Kha nói: dân là gốc, xã tắc thứ hai, vua thứ yếu.”

Ngụy Huệ Vương ngẩn người: “Câu này phải giải thích thế nào?”

“Vi thần cũng đã thỉnh giáo Mạnh Tử!” Huệ Thi gật đầu nói. “Mạnh Tử giải thích rằng, kẻ được lòng dân, có thể làm thiên tử; kẻ được lòng thiên tử, có thể làm chư hầu; kẻ được lòng chư hầu, có thể làm khanh đại phu. Nước không lấy dân làm gốc, sẽ không có được dân. Nước không có được dân, ắt nguy!”

“Hay lắm! Hay lắm!” Ngụy Huệ Vương tấm tắc khen ngợi. “Lão phu tử nói hay lắm!”

Thấy thái tử, thượng khanh, Huệ Thi đứng về một phía quả như dự liệu, Bàng Quyên trong lòng lo sợ, vội vòng tay bẩm tấu: “Bệ hạ, dân bỏ đi là việc lớn, nhưng việc quân lại càng không thể chần chừ! Hà Tây thất thế, trong một đêm mà mấy trăm dặm đất đai màu mỡ đã rơi vào tay người Tần, số dân mà bệ hạ mất đâu chỉ có năm mươi vạn? Bệ hạ, nay đang trong thời chiến loạn, không có binh sẽ không có nước, không có nước làm sao có dân?”

Lời của Bàng Quyên khiến Ngụy Huệ Vương nhất thời không biết đối đáp ra sao, ấp úng: “Điều này...”

Bàng Quyên liên tiếp nháy mắt ra hiệu với Tôn Tẫn, hy vọng Tôn Tẫn có thể thuận theo ý mình mà nói thêm vào. Nhưng Tôn Tẫn dường như không nhìn thấy, vẫn ngồi nghiêm trang, không nói một lời. Bàng Quyên sốt ruột, liền huých khuỷu tay vào Tôn Tẫn, thúc giục: “Tôn huynh?”

Ngụy Huệ Vương nghe thấy, liền đưa mắt nhìn Tôn Tẫn: “Phải rồi, Tôn ái khanh, khanh vẫn chưa nói gì!”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Tôn Tẫn vòng tay nói. “Theo vi thần thấy, việc dân chúng bỏ đi đều là do thuế khoá quá nặng, binh dịch quá phiền. Nơi người dân tìm đến, thường là nước Tần. Tần Công đã ban bố pháp quy, phàm là người Ngụy đến Tần, ruộng đất ai khai hoang được đều thuộc về người đó, mười năm miễn binh dịch, năm năm miễn thuế khoá. Vượt qua kỳ hạn này, đinh bốn người lấy một, thu hoạch mười khấu một. Tẫn lại được biết, quy tắc này là do Tần Công định ra để dành riêng cho những người Ngụy bỏ nước đến Tần.”

Lời của Tôn Tẫn khiến mọi người đều kinh sợ.

Ngụy Huệ Vương rút khăn lụa ra lau mồ hôi lạnh: “Doanh Tứ đúng là đang rút củi dưới nồi!”

Chu Uy cũng đột nhiên sực tỉnh, liền nói: “Bệ hạ, lời của Tôn Tử, câu nào cũng là sự thực. Mấy năm trước, dân bỏ đi thường là ở các quận phía đông Tây Hà, phía tây An Ấp, nhưng nay, ngay cả dân ở Toan Táo, Nghiệp Thành, Thượng Đảng cũng đã dắt díu nhau bỏ tới nước Tần xa xôi ngàn dặm, xét về lâu dài, hậu quả thật khôn lường!”

“Bệ hạ!” Huệ Thi hé mở hai mắt, giống như thuận nước đẩy thuyền. “Kẻ biết Ngụy không ai hơn được Công Tôn Diễn. Nếu không nằm ngoài dự đoán của vi thần, kế này chắc chắn do Công Tôn Diễn nghĩ ra. Nếu bệ hạ không có cách đối phó, ba năm sau, e rằng việc dân chúng bỏ đi không còn dừng lại ở vùng biên thuỳ nữa!”

Ngụy Huệ Vương thần sắc đại biến, liên tiếp gật đầu, nhưng ánh mắt không rời khỏi Tôn Tẫn. Tôn Tẫn đang định nói tiếp, nhưng Bàng Quyên đặng hắng liền mấy tiếng, Tôn Tẫn đành phải ngậm miệng.

Ngụy Huệ Vương chờ đợi sốt ruột, liền giục: “Tôn ái khanh, xin hãy nói tiếp!”

Tôn Tẫn đưa mắt nhìn Bàng Quyên, rồi chậm rãi nói: “Bệ hạ, người Tần muốn chiếm được Trung Nguyên, ắt phải giao chiến với Ngụy. Dân Tần ngày càng đông đúc, lương thực của Tần ngày càng dồi dào, quân lính của Tần cũng ngày càng đông đảo, nếu họ cử binh tiến về phía đông, ta một là không có binh lính chiến đấu, hai là không có dân đóng thuế, ba là không có lương thực dự trữ...” Nói đến đây thì dừng lại.

Ngụy Huệ Vương nghe mà sởn tóc gáy, mặt cắt không còn giọt máu, mắt nhìn trừng trừng vào Tôn Tẫn: “Tôn ái khanh có cách đối phó chăng?”

“Vi thần cho rằng,” Tôn Tẫn khẽ gật đầu, “bệ hạ có thể thực hiện song song hai việc, một tay phát triển quân bị, một tay phát triển nông tang.”

Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Tôn Tẫn. Ngay cả Bàng Quyên cũng không biết Tôn Tẫn đang diễn trò gì, chỉ mở to mắt nhìn trân trối.

Ngụy Huệ Vương dường như cũng chưa hiểu rõ, hơi nghiêng người về phía trước, hỏi nhỏ: “Tôn ái khanh hãy nói rõ hơn!”

“Ý vi thần là, bệ hạ có thể vừa làm theo lời thượng khanh, cùng dân chúng nghỉ ngơi, lại vừa phát triển quân bị như lời Vũ An Quân.”

“Ồ, Tôn ái khanh!” Ngụy Huệ Vương khẽ chau mày, ngả người ra sau, thở dài một tiếng. “Chỗ khó xử của quả nhân chính là điều này! Nếu cùng dân chúng nghỉ ngơi, sẽ không thu thuế. Nếu không thu thuế, sẽ chẳng có quân nhu. Nếu không có quân nhu, làm sao có thể phát triển quân bị? Đây là hai việc khó, quả nhân quả thực không thể thực hiện cùng lúc!”

“Nếu bệ hạ muốn thực hiện cùng lúc, cũng không khó.”

“Ồ!” Ngụy Huệ Vương vội bật người nhổm dậy. “Ái khanh có kế sách gì không?”

Tôn Tẫn dõng dạc: “Việc nhà nông có lúc bận lúc nhàn. Bệ hạ có thể cho những người đợi đi binh dịch biên thành đội ngũ dựa theo quê quán, lúc nông nhàn sẽ tập hợp lại để huấn luyện, đến vụ mùa màng lại cho họ về nhà cấy hái, như vậy hai việc quân bị, nông tang đều không bỏ lỡ. Việc nhà việc nước tron vẹn, dân ắt sẽ vui. Dân vui, chiến đấu ắt dũng cảm. Còn về quân thường bị ở biên thuỳ, cũng có thể tranh thủ lúc quân bị nhàn rỗi cho đi khai hoang trồng trọt, thành quả thu hoạch dùng để bổ sung cho quân nhu. Nếu ba quân có thể tự cung tự cấp, sẽ không phiền tới dân. Nếu dân không bị phiền, chưa đến mười năm, nước ắt giàu!”

Một việc tiến thoái lưỡng nan như vậy, chỉ mấy lời của Tôn Tẫn, đã được giải quyết xong xuôi. Mọi người nhất thời kinh ngạc, không kịp phản ứng, Tôn Tẫn đã nói xong một lúc lâu, nhưng trong điện vẫn lặng phắc như tờ.

Vẫn là Ngụy Huệ Vương định thần lại đầu tiên, vỗ bàn reo lên: “Kế sách của ái khanh, tuyệt diệu! Tuyệt diệu!”

Mọi người liên tiếp gật gù, cùng lên tiếng tán dương. Ngụy Huệ Vương quay qua nhìn Bàng Quyên và Chu Uy: “Bàng ái khanh, Chu ái khanh, sau khi hai khanh về phủ, hãy dựa theo lời của Tôn ái khanh, mỗi người viết ra một bản kế sách thực thi, sau đó trình lên quả nhân!”

Bàng Quyên, Chu Uy đứng dậy khấu bái: “Vi thần lĩnh chỉ!”

Ngụy Huệ Vương xua tay nói: “Bãi triều!” Thấy chúng thần đã ra khỏi cửa, dường như sực nhớ ra chuyện gì, lại gọi. “Huệ ái khanh, thái tử, hãy dừng bước!”

Huệ Thi, thái tử Thân liền quay lại, Huệ Vương bảo họ ngồi xuống, cười vang mà nói: “Huệ ái khanh, Thân Nhi, hai người nói xem, tài của Tôn Tử thế nào?”

Hai người đưa mắt nhìn nhau, Huệ Thi đáp: “Khởi bẩm bệ hạ, Tôn Tử quả là bậc đại tài trị quân!”

Ngụy Huệ Vương lại cười lớn, rồi gật gù khen ngợi: “Phải, quả nhiên là đại tài. Hôm trước quan sát, quả nhân không phát hiện ra. Hôm nay quan sát, tài của Tôn ái khanh quả là vượt hơn Bàng ái khanh! Quả nhân giữ hai khanh ở lại là muốn hỏi xem, với tài của Tôn ái khanh, quả nhân nên dùng thế nào?”

Huệ Thi nhìn thái tử Thân.

Thái tử Thân nói: “Nhi thần cho rằng, đã là đại tài thì không thể dùng vào việc nhỏ, phụ vương có thể phong Tôn Tử làm giám quân.”

Ngụy Huệ Vương quay sang nhìn Huệ Thi: “Thân Nhi nói phong Tôn Tử làm giám quân, ý ái khanh thế nào?”

“Điện hạ sắp xếp rất đúng!”

“Tốt!” Ngụy Huệ Vương lập tức quyết đoán. “Sẽ phong Tôn Tử làm giám quân, ái khanh hãy đi truyền chỉ!”

Huệ Thi vâng lệnh, sau đó cùng tỳ nhân đi sang gian thiên điện kế bên soạn chỉ.

Nhìn thấy Huệ Thi đã đi xa, Ngụy Huệ Vương quay sang thái tử: “Quỷ Cốc đúng là nơi ngoạ hổ tàng long! Thân Nhi, lần này đến Quỷ Cốc, còn nhìn thấy gì khác không?”

Thái tử Thân bất chợt cảm khái, nói lớn: “Quỷ Cốc tiên sinh còn có ba đệ tử khác, một người tên Trương Nghi, một người tên Tô Tần, còn có một cô nương tên gọi Ngọc Thiền. Ngoài ra còn có một tiểu đồng, trông rất thông minh đĩnh ngộ!”

Ngụy Huệ Vương vội hỏi: “Hai người Trương Nghi, Tô Tần cũng học binh pháp ư?”

Thái tử Thân lắc đầu: “Nhi thần không biết. Nhưng theo nhi thần thấy, tất cả đều không phải hạng tầm thường. Chưa nói tới Trương Nghi, Tô Tần, chỉ riêng ngôn hành cử chỉ của cô nương kia thôi, Thân Nhi cả đời cũng không thể quên!”

“Ồ?” Ngụy Huệ Vương rất đỗi hiếu kỳ. “Chỉ là một cô gái, lại có điểm gì bất phàm?”

Thái tử Thân lập tức lời lẽ sôi nổi: “Cô nương đó đúng là kỳ nhân! Theo nhi thần thấy, tất cả những người trong Quỷ Cốc, gồm cả Tôn Tử, đều nhất nhất nghe theo lời nàng ấy. Phụ vương ban tặng ngàn vàng, ban thưởng châu báu, nàng ấy chẳng thèm liếc đến, đã bảo nhi thần mang về. Nhi thần nói rằng, đó là tâm ý của phụ vương, không chịu mang về, nàng ấy liền nói, hãy trở về bẩm lại với phụ vương của người, đạo làm quân vương là phải biết lo cho dân. Tiền bạc lấy từ dân, cũng phải dùng cho dân. Số vàng bạc châu báu này đều là xương máu của dân, không dễ có được, hãy dùng vào những việc đáng dùng, đừng nên tuỳ tiện hoang phí!”

Ngụy Huệ Vương trầm tư hồi lâu, rồi gật đầu nói: “Than ôi, quả nhân nhất thời hồ đồ, đã mang những vật tầm thường đến đất thánh Quỷ Cốc. Xem ra, Quỷ Cốc tiên sinh đúng là thánh sư trong thiên hạ!”

Mấy ngày sau đó, Ngụy Huệ Vương liên tiếp ban vài đạo chiếu thư, lệnh cho ba quân tướng sĩ khai hoang trồng trọt, cả nước không trưng binh dịch, trai tráng vào lúc nông nhàn phải diễn binh tập võ, gặp mùa màng lại về quê cấy hái, bách tính được giảm sáu phần thuế, phàm là dân chúng biên thuỳ nếu quay về nước, sẽ miễn thuế hoàn toàn trong vòng mười năm.

Chiếu lệnh ban xuống, cả nước hân hoan, lòng dân phấn chấn, bách tính rộn rã truyền tai nhau, người dân bỏ xứ ra đi hay tin, cũng lũ lượt quay về. Đến tiết Đông chí, trước sau không quá ba tháng, đã có khoảng mười vạn dân quay trở về Ngụy, còn số nhớ quê muốn về nhiều không đếm xiết.

Tin báo nhanh chóng truyền đến Hàm Dương, Huệ Văn Công đọc xong hoảng hốt, nói với nội thần: “Mau, truyền Trúc tiên sinh, đại lương tạo, thượng đại phu, quốc uý nhanh chóng vào cung!”

Nội thần vâng lệnh rời đi. Vừa ra đến cửa, Huệ Văn Công lại gọi giật: “Khoan, nhân tiện dẫn cả tên thượng khanh họ Trần kia tới đây!”

Trúc Viễn, Công Tôn Diễn, Sư Lý Tật, Tư Mã Thác, Trần Chẩn năm người vội vã đến ngự thư phòng, Huệ Văn Công vẫn đang đọc bản cấp tấu gửi đến từ Hà Tây. Nhìn thấy năm người khấu bái dưới đất, Huệ Văn Công cũng không ngẩng đầu, chỉ khẽ xua tay nói vội: “Các khanh miễn lễ!” Hai mắt vẫn không rời khỏi bản tấu.

Năm người đưa mắt nhìn nhau, Công Tôn Diễn do dự một lát, liền đứng lên đầu tiên, chậm rãi quay về chỗ. Ba người còn lại cũng lần lượt đứng lên, trở về chỗ ngồi.

Huệ Văn Công nhìn vào bản tấu, như có điều suy nghĩ, nửa như tự nhủ, nửa như muốn nói cho quần thần nghe: “Người dân Ngụy đã bỏ mặc cả đồng lúa mạch vụ đông đầy hứa hẹn, dắt díu nhau trở về nước Ngụy. Quận Hà Tây trong vòng một tháng đã mất năm vạn dân.” Rồi ngẩng lên, nhìn chúng thần một lượt, hơi cao giọng. “Chư vị ái khanh, các khanh đã thấy cả chưa?”

Chúng thần đều gật đầu.

“Nếu cứ để mặc chuyện này tiếp diễn,” Huệ Văn Công gõ ngón tay lên mặt bàn mấy cái, “nỗ lực suốt hai năm nay của mọi người sẽ trở thành công cốc! Chư vị ái khanh, các khanh có kế sách gì hay không?”

Tư Mã Thác lên tiếng: “Khởi bẩm chúa thượng, theo ý của vi thần, cần phải phong toả Hà Tây, đóng chặt tất cả các cửa ải, xem đám dân Ngụy kia trở về bằng cách nào?”

Huệ Văn Công chẳng buồn để ý đến hắn, chậm rãi đưa mắt nhìn sang Công Tôn Diễn.

Công Tôn Diễn vòng tay nói: “Vi thần cho rằng, cách này không được!”

Huệ Văn Công hỏi: “Tại sao không được?”

“Giữ được người không giữ được tâm, chẳng những vô ích, ngược lại còn là hoạ. Hơn nữa, đã nhiều năm nay, dân chúng ở biên giới ở liệt quốc cũng giống như sĩ tử, đều tự do qua lại, nay nếu ta đóng cửa hòng giữ họ, cho dù có giữ chân được dân Ngụy, cũng chẳng khác nào tự chặn mất đường lui. Từ nay về sau, dân chúng liệt quốc còn ai dám đến Tần nữa?

Huệ Văn Công gật đầu nói: “Ái khanh nói rất đúng, nói tiếp đi!”

“Theo ý của vi thần, việc di dân quay trở về quê vẫn không phải chuyện cấp bách!”

Huệ Văn Công vội hỏi: “Việc gì mới cấp bách?”

“Cấp bách là ở chính sự nước Ngụy. Theo vi thần được biết, mấy ngày nay Ngụy Vương ban bố chính sách mới, ba quân làm ruộng, giảm thuế sáu phần, khích lệ dân hồi hương, những người hồi hương được miễn thuế mười năm. Võ binh thường bị trồng trọt tự cung tự cấp, sĩ khí phấn chấn, sức chiến đấu chỉ tăng không giảm. Trai tráng các nơi vừa trồng trọt vừa tập luyện, lòng dân lại được tập trung.”

“Than ôi!” Huệ Văn Công thở dài. “Lời của ái khanh chính là nỗi lo của quả nhân. Quả nhân thực sự không hiểu, cùng là một Ngụy Anh, khi tiên quân còn thì việc gì cũng hồ đồ, rành rành là một hôn quân, nhưng đến thời quả nhân, ông ta lại đột nhiên tỉnh ngộ, đã trở thành một minh quân rồi!”

Tư Mã Thác nói xen vào: “Ngụy nay đại trị, chắc chắn là bởi Bàng Quyên!”

“Ừm!” Huệ Văn Công gật đầu. “Chắc hẳn là do hắn. Quả nhân khổ tâm tính kế, cũng chỉ vì muốn lấy được Ngụy, ai ngờ giữa đường lại xuất hiện một tên Bàng Quyên, thực khiến quả nhân trở tay không kịp!”

Sư Lý Tật tiếp lời: “Thiên hạ đồn rằng Bàng Quyên trong mơ đã được truyền lại bí kíp ‘Binh pháp Ngô Tử’, ngộ được điểm tinh yếu trong thuật dụng binh của Ngô Khởi. Xem ra, không trừ Bàng Quyên, nước Tần sẽ không một ngày được yên!”

Trần Chẩn khoé miệng khẽ động, hừ mũi một tiếng, trên mặt đầy vẻ coi thường.

Huệ Văn Công nhanh chóng nhận ra, liền nhìn sang Trần Chẩn, ánh mắt đầy nghi hoặc: “Trần ái khanh?”

Trần Chẩn vòng tay nói: “Khởi bẩm chúa thượng, vi thần cho rằng, nước Ngụy đại trị không có liên quan gì tới Bàng Quyên!”

“Ồ?” Huệ Văn Công hai mắt mở to. “Ái khanh hãy nói rõ!”

“Theo vi thần được biết, việc Bàng Quyên nằm mơ được Ngô Khởi truyền thụ binh pháp, hoàn toàn chỉ là bịa đặt!”

Huệ Văn Công vội hỏi: “Sao ái khanh lại biết?”

“Mấy năm trước Bàng Quyên từng đến núi Vân Mộng, theo Quỷ Cốc Tử tu luyện binh pháp ba năm.”

“Quỷ Cốc Tử?” Huệ Văn Công ngạc nhiên, nhanh chóng đưa mắt nhìn sang Trúc Viễn. “Trúc tiên sinh có biết người này chăng?”

Trúc Viễn đang nhắm mắt ngồi yên, bị hỏi thình lình, bất giác “Ồ” lên một tiếng, từ từ ngẩng lên, rồi khẽ gật đầu.

Huệ Văn Công vội hỏi: “Tiên sinh hãy nói rõ hơn!”

Trúc Viễn mở mắt ra: “Quỷ Cốc Tử là sư bá của Tu Trường. Khi còn ở trong núi, Tu Trường nhiều lần nghe gia sư nói về sư bá, nói rằng sư bá đã đắc đạo, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. Nhưng theo như gia sư nói, sư bá chưa bao giờ thu nhận đệ tử, nay cớ sao lại thu nhận Bàng Quyên truyền nghệ, Tu Trường cũng không được rõ.”

Trần Chẩn nói tiếp: “Người theo học Quỷ Cốc Tử không chỉ có Bàng Quyên, còn có mấy người nữa, là Tôn Tân, Trương Nghi. Theo vi thần được biết, Bàng Quyên và sư huynh Tôn Tân của hắn cùng học binh pháp, những gì Bàng Quyên học được, chẳng qua mới chỉ là chút lông da của Quỷ Cốc Tử. Tài của Tôn Tân còn vượt xa Bàng Quyên.”

Huệ Văn Công cả mừng, nói: “Nếu quả thực như vậy, Trần ái khanh hãy mau đến Quỷ Cốc, giúp quả nhân mời Tôn Tân đến đây!”

Trần Chẩn lắc đầu nói: “Khởi bẩm chúa thượng, bây giờ đi mời cũng đã quá muộn rồi!”

“Ồ?” Huệ Văn Công kinh ngạc. “Lẽ nào người này...”

Trần Chẩn tiếp lời: “Theo vi thần được biết, người này đã đến nước Ngụy, được Ngụy Vương phong làm giám quân. Nếu không nằm ngoài dự đoán của vi thần, mưu miễn thuế, khai hoang trồng trọt, đều xuất phát từ Tôn Tân!”

Huệ Văn Công chau tít đôi mày, chậm rãi đứng dậy, đi đi lại lại hồi lâu mới trở về chỗ, trán đã hơi giãn ra, liếc nhìn chúng thần một lượt: “Lời của Trần ái khanh, quả là mới mẻ. Còn về cách đối phó, các vị hãy bàn bạc kỹ lại, hôm khác sẽ nói tiếp!”

Mọi người vâng lệnh, rồi cùng lui ra.

Trần Chẩn đang định ra khỏi cửa, Huệ Văn Công liền gọi lại: “Trần ái khanh, dừng bước!”

Trần Chẩn quay lại, đang định khấu bái thì Huệ Văn Công tươi cười dắt tay ông ta nói: “Ái khanh bất tất phải đa lễ. Nghe nói ái khanh tinh thông âm luật trong thiên hạ, từ lâu quả nhân đã muốn được thỉnh giáo, nhưng chưa có cơ hội. Mấy ngày trước, Nghĩa Cừ Quân đến cống nạp mấy ca kỹ, nói là giọng ca tuyệt diệu, chẳng khác họa mi. Nếu ái khanh có nhã hứng, hãy cùng quả nhân thưởng thức.”

Trần Chẩn trong lòng hiểu rõ, lùi lại một bước, vòng tay vái mà đáp: “Vi thần đa tạ chúa thượng hậu ái!”

Huệ Văn Công cười lớn mấy tiếng, dắt tay Trần Chẩn đi vào nhạc phường, đến một đại sảnh, chia ngôi quân thần ngồi xuống. Huệ Văn Công vỗ tay, chuông trống sáo đàn lập tức nổi lên dìu dặt, từ hậu đài đi ra sáu nàng vũ nữ, nhảy múa dịu dàng trên tấm thảm đỏ trước mặt. Thiếu nữ lĩnh xướng da trắng như tuyết, tóc vàng óng ánh, mắt đẹp đong đưa, môi son hé mở, giọng hát quả nhiên chẳng khác gì tiếng họa mi.

Huệ Văn Công cười nói: “Trần ái khanh, ca khúc này nghe có lọt tai không?”

Trần Chẩn cũng cười, khen ngợi: “Khởi bẩm chúa thượng, ca vũ của Nghĩa Cừ, tiếng hát vui tai, phong thái đẹp lòng, có thể nói là hoàn mỹ tuyệt luân!”

Huệ Văn Công chỉ tay vào sáu nàng ca kỹ: “Trong sáu nàng này, ái khanh có bình xét gì không?”

Trần Chẩn lại cười: “Theo vi thần, sáu nàng này ai nấy đều tuyệt mỹ, đặc biệt là nàng lĩnh xướng kia, uyển chuyển phong lưu, mắt liếc sinh tình, nhất cử nhất động, đều thấy đáng yêu, quả là tuyệt thế giai nhân!”

Huệ Văn Công cười nói: “Ái khanh quả nhiên là có con mắt tinh đời! Mười ngày trước nàng ấy đến đây, cũng là lần đầu tiên quả nhân gặp mặt. Nghe nói nàng ấy đến từ dị quốc phương Tây, Nghĩa Cừ Quân có được, coi như bảo bối, nên mới đặc biệt tiến cống cho quả nhân!”

Trần Chẩn vòng tay nói: “Báu vật trong thiên hạ, đương nhiên phải hầu bên minh chủ, vi thần xin chúc mừng chúa thượng!”

Huệ Văn Công xua tay, cho đám vũ nữ lui xuống, rồi quay sang cười với Trần Chẩn: “Nghe ái khanh nói chuyện, thực là sảng khoái!” Rồi đứng dậy, đi ra ngoài sảnh, ngước nhìn sắc trời. “Giờ không còn sớm nữa, về món báu vật kia, hôm khác quả nhân sẽ lại thỉnh giáo ái khanh!”

Trần Chẩn thoáng ngẩn người, rồi vội vã vòng tay: “Vi thần cáo lui!”

Trần Chẩn đi ra khỏi cửa cung, bước lên xe kiệu, suốt dọc đường vẻ mặt âu sầu. Xe kiệu lóc xóc mà đi, Trần Chẩn nhắm hờ hai mắt, suy nghĩ mải miết. Huệ Văn Công cố ý giữ ông ta lại, trong lòng rõ ràng có chuyện, Trần Chẩn cũng đã đoán ra là chuyện gì, song Huệ Văn Công lại cố tình giấu kín, không để lộ nửa lời, còn kéo ông ta đi xem múa hát, lẽ nào màn múa hát này còn có dụng ý gì khác?

Trần Chẩn suy nghĩ hồi lâu, nhưng đầu óc vẫn mờ mịt như sương. Lần này đến Tần, Huệ Văn Công không nói một lời, lập tức phong ông ta làm thượng khanh, ban cho phủ đệ, thưởng cho vàng lụa, nô bộc, bao nhiêu ân sủng khiến Trần Chẩn cũng phải ngỡ ngàng. Trần Chẩn tự thấy hổ thẹn, vốn dĩ muốn hiến kế hay chế Ngụy để lập công, nhưng sau khi Huệ Văn Công phong ông ta làm thượng khanh, lại chưa hề triệu vào yết kiến, cũng chưa từng hỏi về bất cứ việc lớn nào. Thân là bề tôi, không hiểu ý chúa mà nói bừa, hậu quả thường rất thê thảm. Hơn nữa, Huệ Văn Công không phải là Ngụy Huệ Vương, cứ mỗi lần nghĩ đến chuyện Huệ Văn Công một đá diệt mấy chim, trong vòng vài tháng ngắn ngủi, đã một mạch tiêu diệt Thương Ưởng, Cam Long, khiến quyền thần tiền triều như đất sạt ngói lở, Trần Chẩn lại ớn lạnh xương sống.

Trần Chẩn lại đi thêm một đoạn nữa, thấy trời đã sắp tối, liền ghìm ngựa quay đầu, đánh xe đi về phía phủ Doanh Kiền. Mặc dù Doanh Kiền đã mất chức thái phó, nhưng Huệ Văn Công vẫn niệm tình ông ta là tông thất, nên cho giữ lại phủ đệ ở Hàm Dương để an dưỡng tuổi già. Những ngày này, Trần Chẩn cũng chẳng có việc gì làm, lại không có bạn bè ở Tần, mỗi khi rảnh rỗi lại đến thăm vị cựu thần này, hai người hoặc câu cá hoặc đánh cờ, kể cũng hợp nhau.

Nghe thấy tiếng xe ngựa, Doanh Kiền biết là Trần Chẩn đến, liền tươi cười ra đón vào nhà, vừa ra lệnh thắp đèn, vừa cho thiết yến bày cờ, chuẩn bị kịch chiến một trận.

Trần Chẩn tâm sự trùng trùng, làm gì còn tâm trí đâu để đánh cờ, bèn đưa tay khẽ đẩy bàn cờ sang một bên.

Doanh Kiền ngạc nhiên, mắt nhìn chằm chằm vào Trần Chẩn, nửa đùa nửa thật nói: “Thượng khanh đại nhân, nhìn ngài mặt ủ mày chau thế này, hẳn không phải đang nhớ nhung cô nàng nào đấy chứ?”

Trần Chẩn đáp: “Đúng là quả thực có một cô nàng!”

“Xem kìa xem kìa!” Doanh Kiền vỗ tay cười nói. “Quả nhiên đã bị lão hủ đây đoán trúng! Là con gái nhà nào, thượng khanh chỉ cần nói ra, lão hủ sẽ nghĩ cách giúp cho!”

Trần Chẩn cười gượng một tiếng, lắc đầu than vãn: “Than ôi, nếu có ai để ý đến một kẻ thất thế như ta, chắc hẳn là đã bị mù rồi!”

Doanh Kiền vội nói: “Cớ sao lại nói vậy? Chúa thượng đối đãi với ngài không bạc, thượng khanh tiền đồ vạn dặm, chắc chắn sẽ có đất dụng võ!”

Trần Chẩn tự rót một chén rượu, bưng lên uống cạn, rồi thuật lại một lượt toàn bộ quá trình gặp mặt quân chủ trong ngày hôm nay cho Doanh Kiền nghe, cuối cùng hỏi: “Chúa thượng chỉ giữ một mình hạ quan, mời hạ quan thưởng thức ca vũ do Nghĩa Cừ Quân tiến cống, rốt cuộc là có ý gì, hạ quan nghĩ mãi không ra, mong lão đại nhân chỉ giáo!”

Doanh Kiền vuốt râu suy nghĩ một hồi, rồi gật gù nói: “Nếu là vì cô ả này, lão hủ cũng có biết đôi chút. Hôm trước lão hủ vào cung thăm lão thái hậu, lúc đi qua nhạc phường, nghe thấy trong phòng có tiếng hát véo von, giọng trong vắt như tiếng hoạ mi. Ta nghe thấy thích thú, liền vào xem thử, quả nhiên là báu vật nhân gian. Lão hủ lập tức đi tìm nhạc phường lệnh, định chuộc cô ta ra, song nhạc phường lệnh nói rằng, cô ả đó là cống phẩm của Nghĩa Cừ, mấy ngày nữa sẽ tiến cống chúa thượng, hiện đang tập luyện. Lão hủ nghe vậy, đành phải từ bỏ ý định!”

Trần Chẩn lại trò chuyện với ông ta thêm một lúc, nhưng vẫn không đoán biết được duyên do, đành phải cáo từ, vào giờ Nhân định mới về đến phủ.

Trần Chẩn đi vào nhà trong, giống như thường ngày, cởi áo tháo đai, đang định đi ngủ. Trong ánh nến lờ mờ, thình lình phát hiện ra có một người đang ngồi trên giường. Trần Chẩn giật nảy mình, lập tức thoái lui một bước, rút kiếm quát lớn: “Kẻ nào vào đây?”

Người trên giường từ từ đứng dậy, khấu đầu sát đất, rồi một giọng nói lơ lớ cất lên: “Tiên sinh đừng sợ, nô tỳ đến để hầu hạ tiên sinh!”

Trần Chẩn bước lên mấy bước, mở to mắt nhìn, thì ra chẳng phải ai khác, mà chính là vũ nữ lĩnh xướng trong cung lúc chiều. Trần Chẩn cả kinh, vội hét lớn: “Người đâu!”

Quản gia nghe tiếng vội vàng chạy vào: “Chúa công có gì sai bảo?”

Trần Chẩn nghiêm giọng hỏi: “Tại sao cô ta lại ở đây?”

“Khởi bẩm chúa công,” quản gia đáp,” một canh giờ trước, nội tể ở trong cung đích thân dẫn cô ta đến, còn mang tặng rất nhiều của hồi môn!”

“Của hồi môn?” Trần Chẩn kinh ngạc hỏi. “Của hồi môn gì?”

Quản gia lấy ra một cuốn sổ, bẩm báo cặn kẽ: “Vàng một trăm lượng, gấm lụa hai mươi súc, ngọc trắng hai cặp, kỳ hương Tây Vực mười hộp, trân châu...”

Chưa kịp đọc xong, Trần Chẩn đã cho quản gia một cái bạt tai: “Tên khốn kiếp! Việc lớn như vậy, lúc nãy tại sao không bẩm báo?”

Quản gia tay ôm má trái: “Tiểu... tiểu nhân không dám! Nội tể trong cung dặn dò, chúa thượng có chỉ, bất kỳ người nào cũng không được báo cho chúa công biết trước, chúa thượng... chúa thượng muốn tặng cho chúa công một niềm vui bất ngờ!”

Trần Chẩn định thần lại, suy nghĩ một lúc, rồi quay sang quản gia: “Chuẩn bị xe!”

Quản gia sững người: “Giờ đã khuya lắm rồi!”

Trần Chẩn quát: “Cái gì mà khuya với không khuya, mau chuẩn bị xe!”

Quản gia vâng lệnh, vội vàng lui ra.

Trần Chẩn vội vàng mặc áo đội mũ, đến trước chiếc gương đồng chỉnh trang một chặp, rồi quay người nói với cô gái vẫn quỳ dưới đất: “Cô nương, cô có tên không?”

Cô gái liền bái lạy: “Khởi bẩm tiên sinh, nô tỳ tên là Trát Y Na.”

“Trát Y Na?” Trần Chẩn gọi không quen miệng, lặp lại ba chữ này mấy lần, ngẫm nghĩ một lúc rồi nói. “Gọi thực không thuận miệng. Hãy bỏ chữ ‘Trát’ đi, gọi là Y Na!”

Cô nương gật gật đầu, lại khấu lạy: “Nô tỳ Y Na đa tạ tiên sinh!”

“Đứng dậy đi!” Trần Chẩn chỉ tay vào chiếc áo cừu bên cạnh. “Mau mặc áo vào, bên ngoài lạnh lắm!”

Cô nương thoáng ngạc nhiên, rồi cũng đứng dậy, cầm lấy tấm áo cừu mặc lên người, sợ sệt nhìn Trần Chẩn.

“Hãy đi theo ta!” Trẩn Chẩn nói đoạn, đi thẳng ra ngoài.

Huệ Văn Công đang ở thư phòng chau mày suy nghĩ, thì nội tể vào báo có Trần Chẩn cầu kiến.

Huệ Văn Công mỉm cười, gật đầu nói: “Truyền vào!”

Trần Chẩn bước vào, dập đầu: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”

Huệ Văn Công cúi đầu đọc tấu chương, thấy ông ta khấu bái cũng không ngẩng lên, chỉ chậm rãi nói: “Là Trần ái khanh ư?” Lại đọc thêm một lúc, thấy Trần Chẩn vẫn quỳ mọp dưới đất, lúc này mới ngẩng đầu nhìn. “Ái khanh không ở trong phủ nghỉ ngơi, muộn thế này rồi còn đến cầu kiến quả nhân, không biết có việc gì quan trọng?”

Trần Chẩn lại lạy thêm hai lạy, rồi quay ra ngoài vỗ tay. Y Na nghe thấy tiếng liền đi vào, quỳ xuống bên cạnh ông ta khấu bái: “Nô tỳ khấu kiến chúa thượng.”

Huệ Văn Công liếc nhìn cô ta, rồi xua tay nói: “Ngươi tạm lui ra!”

“Nô tỳ cáo lui!” Y Na lại bái lạy rồi đứng dậy, từ từ lui ra khỏi thư phòng.

“Vậy là,” Huệ Văn Công nhìn Trần Chẩn, “cô gái này không vừa mắt ái khanh ư?”

Trần Chẩn lại khấu lạy, khóc mà tâu: “Vi thần có tài đức gì mà lại được chúa thượng ân sủng đến vậy?”

“Ân sủng?” Huệ Văn Công cười lớn. “Sao ái khanh lại nói vậy?”

Trần Chẩn khóc mà đáp: “Chúa thượng, vi thần... vi thần gặp nạn phải chạy tới Tần, chúa thượng không những không tính toán chuyện trước đây, đã thu nhận vi thần, còn ban cho vàng ngọc phủ đệ, lại mang... báu vật nhân gian này tặng cho vi thần, bảo vi thần... làm sao dám nhận?”

“Trần ái khanh!” Huệ Văn Công lại cười mấy tiếng, lời nói đầy ẩn ý. “Cái gì mà báu vật nhân gian, chỉ là một người đàn bà thôi mà! Đại trượng phu đứng trong thế gian, đàn bà giống như quần áo, vàng bạc giống như đất bùn. Chỉ có đại nghiệp ngàn thu, ghi danh sử sách mới là điều chí sĩ truy cầu!”

Trần Chẩn trầm ngâm suy nghĩ một lúc, lại bái lạy: “Lời của chúa thượng như nước đề hồ quán đỉnh! Lần này vi thần đến, là có chuyện khác muốn bẩm báo!”

Huệ Văn Công cười nói: “Không giấu ái khanh, quả nhân biết khanh có lời muốn nói!” Rồi chỉ tay vào chỗ ngồi trước mặt. “Ngồi xuống đi, từ từ nói!”

“Đa tạ chúa thượng!” Trần Chẩn đứng dậy, ngồi xuống chỗ Huệ Văn Công vừa chỉ, vòng tay mà nói. “Chúa thượng, vi thần có một kế sách, hoặc giả có thể chế được Ngụy!’

“Ồ!” Huệ Văn Công ngả người về phía trước. “Là kế sách gì?”

“Đá ở núi khác, có thể giũa ngọc.”(2) Trần Chẩn nhấn nhá từng chữ.

“Đá ở núi khác, có thể giũa ngọc?” Huệ Văn Công nhẩm đi nhẩm lại mấy lần, lại trầm tư hồi lâu, dường như vẫn chưa hiểu ra ý tứ, lại ngẩng nhìn Trần Chẩn, lắc đầu cười nói. “Quả nhân ngu muội, xin thượng khanh hãy nói rõ hơn!”

Trần Chẩn gợi ý: “Núi Sở có ngọc, cớ sao chúa thượng không mượn mà dùng?”

Huệ Văn Công sững người, dường như đã hiểu ra một chút, lại dường như chưa thực hiểu, cúi người về trước mà hỏi: “Ý ái khanh là, quả nhân có thể mượn sức của người Sở để... đánh Ngụy?”

Trần Chẩn gật đầu: “Chúa thượng thánh minh!”

Huệ Văn Công mở to mắt: “Sức của người Sở, quả nhân phải mượn bằng cách nào?”

“Từ thời Điền Nhân Tề trở lại đây, các nước lưu vực sông Tứ luôn là vùng đất tranh giành của Tề, Sở. Mười hai nước lưu vực sông Tứ, luận về giàu có không nước nào hơn Tống, Vệ. Mấy năm trước Ngụy Vương phạt Vệ, đã kết oán với cả Tề, Triệu, Hàn; Sở Vương phạt Tống, đã kết oán với Tề. Sở từ lâu đã muốn thôn tính Tống, chỉ là còn sợ người Tề. Nay Tề mới bị Ngụy đánh bại, quốc lực chưa vững, là thời cơ trời cho nước Sở. Nếu chúa thượng khiến cho người Sở phạt Tống...” Nói đến đây liền dừng lại, đưa mắt nhìn Huệ Văn Công.

Huệ Văn Công trầm tư chốc lát, đột nhiên bừng tỉnh, vỗ bàn nói: “Đúng là diệu kế! Nếu Sở phạt Tống, Tống ắt sẽ cầu cứu Ngụy. Ngụy có hai kỳ tài là Bàng Quyên, Tôn Tân, nhất định sẽ chịu cứu Tống, Sở và Ngụy tất xảy ra chiến tranh. Hai hổ đánh nhau, bất kể ai thắng ai thua, quả nhân cũng sẽ là ngư ông đắc lợi!”

“Chúa thượng thánh minh!” Trần Chẩn cười nói tiếp. “Chúa thượng, hành động này còn tạo ra một kết quả.”

Huệ Văn Công lại nhổm người về phía trước: “Xin ái khanh hãy nói rõ!”

Trần Chẩn dõng dạc: “Nếu Ngụy cứu Tống, kẻ dẫn binh chắc chắn sẽ là hai người Bàng Quyên, Tôn Tân. Tài của Bàng Quyên đã vang khắp liệt quốc, Tôn Tân còn giỏi hơn Bàng Quyên, quân Ngụy không khó để giành chiến thắng. Ý vi thần là, sau khi Ngụy giành được phần thắng...” Lại ngưng lại không nói.

Huệ Văn Công vốn là người thông minh tuyệt đỉnh, nghe vậy, lập tức nhướng mày: “Ý ái khanh là, hai kẻ mạnh thờ cùng một chúa, ắt sẽ tương tranh?”

Trần Chẩn gật đầu nói: “Chúa thượng thánh minh!”

Huệ Văn Công rời khỏi chỗ ngồi, nắm chặt tay Trần Chẩn, luôn miệng nói: “Hay lắm, quả nhiên quả nhân không nhìn lầm người, ái khanh đúng là nhân tài trụ cột!” Dừng lại một lúc, dường như sực nhớ ra chuyện gì, bèn buông tay Trần Chẩn ra, lại trầm ngâm như có điều nghĩ ngợi, rồi trở về chỗ ngồi, sắc mặt ưu tư. “Có điều...”

Trần Chẩn hỏi: “Chúa thượng có điều gì lo lắng?”

“Than ôi!” Huệ Văn Công thở dài. “Kế này tuy kỳ diệu, nhưng quả nhân phải làm thế nào mới có thể khiến Sở phạt Tống đây?”

“Chúa thượng yên tâm!” Trần Chẩn khẽ ôm quyền. “Vi thần và tướng Sở là Chiêu Dương có mối quan hệ mật thiết. Hiện giờ Chiêu Dương và Khuất Cái là tả hữu tư mã của Sở Vương, chưởng quản quân vụ nước Sở. Mười mấy năm nay, Chiêu Dương luôn bận rộn với việc chiếm đoạt lưu vực sông Tứ, sáu năm trước đã dẫn binh phạt Tống, vì Điền Kỵ xuất binh, nên phải tay không trở về. Chiêu Dương là kẻ hám lợi, nếu như vi thần lấy lợi mà kết giao, lại thuyết phục bằng điều lợi hại, Chiêu Dương ắt sẽ nghe theo.”

Huệ Văn Công chau mày một lúc, rồi gật đầu nói: “Nói như vậy, cũng có thể thực hiện được. Khanh hãy tiết lộ cho Chiêu Dương, nói là đại quân của Việt Vương đang tập hợp ở Lang Nha, mưu đồ phạt Tề. Người Tề hiện giờ lo cho mình còn chưa xong, không còn rảnh rang lo đến nước Tống.”

“Ồ?” Trần Chấn mở to mắt. “Chuyện này có thật chăng?”

“Quả nhân chẳng lẽ lại nói chơi?” Huệ Văn Công mỉm cười. “Việt Vương Vô Cương không biết tự lượng sức mình, muốn học theo chí của Câu Tiễn ngày trước, hưng binh hai mươi vạn, tiến quân theo cả đường biển và đất liền, đợi đến tiết xuân ấm áp sang năm sẽ tiến lên phía bắc phạt Tề, mưu bá Trung Nguyên.”

Trần Chẩn cả mừng: “Đúng là trời đã giúp chúa thượng! Có người Việt giúp sức, vi thần đi chuyến này chắc chắn sẽ thành công!”

Huệ Văn Công đứng dậy, vòng tay vái Trần Chẩn một vái: “Doanh Tứ đã khiến ái khanh phải vất vả rồi! Cần bao nhiêu vàng bạc châu báu, ái khanh hãy cứ kê ra, chỉ cần nước Tần có, quả nhân đều sẽ chuẩn tấu. Nghe nói Chiêu Dương háo sắc, quả nhân sẽ giao cho khanh hai mươi mỹ nữ, ái khanh hãy đến nhạc phường, tuỳ ý lựa chọn.”

Trần Chẩn đứng dậy khấu lạy: “Chúa thượng hậu ái, vi thần có nhảy vào nước sôi lửa bỏng, cũng quyết không từ nan!”

Huệ Văn Công đưa tay đỡ dậy: “Trần ái khanh, đất Sở rộng lớn, đúng là nơi có thể thoả chí vẫy vùng. Ái khanh đi lần này, phải như cây đinh đóng chắc tại đó, nhất định phải khiến người Sở giúp đỡ chúng ta!”

“Trần Chẩn có chết cũng không phụ ơn chúa thượng!”

“Tốt lắm!” Huệ Văn Công lại vòng tay. “Đợi ngày Trần ái khanh thành công trở về, quả nhân nhất định sẽ báo đáp trọng hậu!” Nói rồi dắt tay Trần Chẩn, vừa cười vừa bước ra ngoài cửa, chỉ tay vào Y Na vẫn đang đứng hầu bên ngoài. “Không còn sớm nữa, trời lạnh thế này, để mỹ nhân đứng đợi trong gió rét, ái khanh đúng là phí hoài báu vật!”

Trần Chẩn hơi đỏ mặt: “Vi thần đa tạ chúa thượng ân sủng! Chúa thượng dừng bước, vi thần cáo lui!”

Mấy ngày sau, Trần Chẩn với thân phận sứ thần nước Tần, mang theo ba mươi cỗ xe, ba trăm giáp sĩ, rời khỏi thành Hàm Dương tiến thẳng tới đất Sở. Huệ Văn Công dùng xe của mình đích thân tiễn Trần Chẩn suốt mười dặm đường, đến lúc chia tay, lại rút từ trong tay áo ra một mảnh lụa đưa cho Trần Chẩn: “Ái khanh hãy mang theo vật này!”

Trần Chẩn nhận lấy xem, thấy bên trên có viết một dãy tên người, thì ngơ ngác ngẩng đầu nhìn Huệ Văn Công: “Chúa thượng...”

“Những người này đều ở đất Sở, hoặc giả sẽ hữu dụng với ái khanh.”

Trần Chẩn từ lâu đã nghe đến Hắc Điêu đài, biết là họ nên cũng không nói gì thêm, liền cất tấm lụa đi, quỳ sụp xuống đất, khóc mà nói: “Tạ ơn chúa thượng hậu ái, vi thần đi đây!”

Huệ Văn Công đỡ ông ta dậy, đích thân dắt lên xe, quân thần hai người từ biệt nhau trong nước mắt.

Trần Chẩn ra khỏi Vũ Quan, đi dọc theo sơn cốc Thương Ư, đến Niết Dương, sau đó vòng xuống phía nam đến Tương Dương, tiến thẳng tới Sính Đô. Vì đường núi khó đi, lại bị mưa tuyết cản đường, Trần Chẩn suốt dọc đường lúc đi lúc dừng, nếm trải đủ mùi cực khổ. May mà có Y Na theo hầu, lại có hai mươi mỹ nữ hầu hạ bên cạnh, Trần Chẩn trên đường cũng được tiêu dao, không đến nỗi cô đơn vô vị.

Ba tháng sau, Trần Chẩn đến được Sính Đô, dừng lại dịch quán nghỉ ngơi mấy ngày, rồi dâng biểu yết kiến Sở Vương, trình danh sách lễ vật, trần thuật lại thành ý làm hòa của Tần Công.

Sở Uy Vương dường như vẫn ghi hận chuyện ngày trước Công Tôn Ưởng chiếm Thương Ư, nhận lấy danh sách lễ vật, đọc lướt qua rồi ném lên mặt bàn, cất giọng lạnh nhạt: “Những thứ này, Trần thượng khanh hãy mang về đi! Nếu Tần Công có thành ý làm hoà, vậy hãy trả lại vùng sơn cốc Thương Ư cho quả nhân!”

Trần Chẩn khấu đầu: “Khởi bẩm bệ hạ, theo vi thần được biết, vùng đất Thương Ư là do trọng thần của tiền triều Công Tôn Ưởng chiếm đoạt, không phải là ý của Tần Công. Vì Công Tôn Ưởng cậy có công lớn, tiên quân Hiếu Công cũng không còn cách nào khác, đành phải nghe theo lời ông ta. Sau Hiếu Công băng hà, Tần Công ngũ xa phanh thây Công Tôn Ưởng, cũng coi như đã rửa hận cho người Sở. Cho dù như vậy, trước lúc lên đường, Tần Công vẫn dặn dò Trần Chẩn, phải một lần nữa tạ lỗi với bệ hạ về chuyện này. Còn về việc lúc nào đem đất Thương Ư trả về cho bệ hạ, Tần Công cho rằng, việc này liên quan đến tiên quân, muốn nhanh cũng không được. Chỉ cần Sở, Tần thành ý làm hoà, không có việc gì không thể giải quyết. Thành tâm của Tần Công, trời đất có thể chứng giám, chút lễ mọn này, vẫn mong bệ hạ vui vẻ tiếp nạp!”

Sở Vương chau mày suy nghĩ một lúc, rồi xua tay nói: “Ừm, lời của thượng khanh cũng có lý. Thành tâm của Tần Công, quả nhân tạm thời tiếp nhận!” Rồi hất hàm với nội thần. Nội thần bước tới, nhận lấy danh sách lễ vật, đứng sang một bên.

Trần Chẩn lại khấu lạy: “Trần Chẩn đa tạ bệ hạ đã bớt giận!”

Sở Vương quay sang nội thần: “Thưởng cho sứ thần nước Tần Trần Chẩn hai cặp ngọc bích, mười viên trân châu Nam Hải, hai mươi súc lụa!”

“Trần Chẩn đa ta bệ hạ ban thưởng!”

Trên con phố chính tại Sính Đô, trong phủ tả tư mã, Chiêu Dương đang luyện kiếm ở hậu hoa viên, thì quản gia Hình Tài vội vã chạy vào, thấy Chiêu Dương đang say sưa múa kiếm, liền khom lưng đứng tránh sang một bên.

Chiêu Dương múa xong bài kiếm liền thu thế, đưa mắt nhìn ông ta: “Có chuyện gì ư?”

Hình Tài vòng tay nói: “Bẩm chúa công, sứ giả nước Tần Trần Chẩn cầu kiến!”

Chiêu Dương tra kiếm vào bao, cười ha hả mà nói: “Người này đến Sính đã mấy ngày, đáng ra phải đến gặp ta từ lâu rồi mới đúng! Ngươi ra bảo ông ta đợi thêm một lát, nói bản công lập tức đến ngay!”

Chiêu Dương trở về phòng thay trang phục, rồi đi ra phòng khách. Hai người hành lễ xong xuôi, chia ngôi chủ khách ngồi xuống.

Chiêu Dương vòng tay nói: “Lần trước nghe nói thượng khanh bị Bàng Quyên ám hại, hàm oan mà rời nước Ngụy, tại hạ rất đỗi đau lòng. Sau lại nghe tin thượng khanh được Tần Công trọng dụng, vẫn được phong làm thượng khanh, tại hạ mới thở phào nhẹ nhõm, đang nghĩ không biết phải đi chúc mừng thượng khanh bằng cách nào, thì thượng khanh đã đến! Lần này thì tốt rồi, hôm nay tại hạ đang rảnh rỗi, sẽ cùng thượng khanh đối ẩm một chốc, một là giúp thượng khanh trấn an, hai là để tẩy trần cho thượng khanh, ba là chúng ta cũng đã nhiều năm không gặp, phải hàn huyên cho thoả mới được!”

Trần Chẩn vòng tay đáp lễ: “Chẩn đa tạ trụ quốc đại nhân đã tưởng nhớ!” Rồi bưng tách trà đặt trên bàn lên, nhấp khẽ một ngụm, lắc đầu than thở. “Than ôi, không giấu gì trụ quốc đại nhân, tại hạ đã được Ngụy Vương ân sủng nhiều năm, vốn vẫn muốn dốc lòng phò tá Ngụy, không ngờ lại bị gian tặc Bàng Quyên hãm hại, nên đành phải bỏ đi. May sao Tần Công không chê, nên tại hạ mới có được chỗ đứng như ngày hôm nay.”

Chiêu Dương nói tiếp: “Thượng khanh là đại tài, suốt đời phò tá Ngụy Anh cũng thật uổng phí. Nghe nói thượng khanh bỏ đi, tại hạ nghĩ nếu gặp được thượng khanh, nhất định sẽ tiến cử lên bệ hạ. Với tài của thượng khanh, chắc chắn sẽ được trọng dụng.”

Trần Chẩn lại vòng tay: “Được trụ quốc đại nhân yêu quý nhường vậy, tại hạ vô cùng cảm kích!” Rồi quay ra ngoài vỗ tay, một lát sau, mấy nô bộc khiêng hai chiếc hòm lớn đi vào. Trần Chẩn rút từ trong tay áo ra một tờ danh sách lễ vật, hai tay trình lên Chiêu Dương. “Trụ quốc đại nhân hậu ái, Trần Chẩn không có gì để báo đáp, chút lễ mọn này, mong đại nhân hãy nhận giúp cho!”

Chiêu Dương nhận lấy danh sách, liếc mắt đọc qua một lượt, rồi đưa cho Hình Tài.

Hình Tài mặt mũi hớn hở, mở hòm kiểm tra, đọc lớn: “Vàng năm trăm lượng, ngọc bích hai cặp, chén dạ quang bốn chiếc, lụa hai mươi súc, Tần nữ năm người...”

Hình Tài đọc xong, Trần Chẩn lại vỗ tay, từ ngoài sảnh quả nhiên có năm thiếu nữ lần lượt tiến vào, ai nấy mặt hoa da phấn, mơn mởn tựa hoa đào, khiến Chiêu Dương nhìn không rời mắt.

“Trụ quốc đại nhân!” Trần Chẩn chỉ vào năm thiếu nữ, chậm rãi nói. “Đất Sở mặc dù mỹ nữ vô số, song gái Tần lại không nhiều. Năm cô gái này là do Trần Chẩn đích thân xuống dân gian lựa chọn, lại được huấn luyện qua nhạc phường, thảy đều biết chữ hiểu lý, hát hay múa giỏi, ngoài ra còn có phong vị mới lạ của ngoại bang, hoặc giả có thể giúp đại nhân giải sầu!”

Chiêu Dương lúc này mới sực tỉnh, vội vàng rời mắt khỏi mỹ nữ, vòng tay nói: “Thượng khanh tặng lễ vật hậu trọng như vậy, bảo Chiêu Dương phải báo đáp sao đây?”

Trần Chẩn ra hiệu, các mỹ nữ liền lui ra, Hình Tài cũng cho người khiêng lễ vật đi.

Trần Chẩn lời đầy ẩn ý: “Trước lòng hậu ái của trụ quốc đại nhân, đây chẳng qua chỉ là chút lễ mọn mà thôi!”

“Ồ?” Chiêu Dương nghiêng người về phía trước. “Lẽ nào thượng khanh còn có lễ vật lớn?”

Trần Chẩn mỉm cười: “Trụ quốc đại nhân, trong phủ của đại nhân vàng bạc đầy ắp, mỹ nữ đầy phòng, đâu có thiếu những thứ này?”

Chiêu Dương hơi ngẩn người, nhưng lập tức cười vang mà nói: “Thượng khanh nói cũng đúng!” Rồi khẽ đảo mắt. “Thế nhưng, việc nào ra việc ấy, thứ mà thượng khanh tặng, cho dù chỉ là một sợi tóc, tại hạ cũng vô cùng trân trọng, quý như châu báu!”

Trần Chẩn vòng tay nói: “Tại hạ đa tạ trụ quốc đại nhân yêu quý! Không giấu đại nhân, lần này tại hạ đến là còn có một bảo bối lớn khác, không biết trụ quốc đại nhân có hứng thú chăng?”

Chiêu Dương cảm thấy tò mò, vội hỏi: “Là bảo bối gì, thượng khanh mau nói!”

“Chức lệnh doãn!”

“Chức lệnh doãn?” Chiêu Dương mở to mắt, rõ ràng là không hiểu. “Xin thượng khanh hãy nói rõ!”

“Lệnh doãn nước Sở là Cảnh Xá tuổi tác đã cao, từ lâu đã không thể kham nổi trọng trách. Tại hạ xin hỏi đại nhân, hiện tại có thể thế chỗ Cảnh Xá, là những người nào?”

“Ờ...” Chiêu Dương ngẩn người. “Tại hạ không biết!”

Trần Chẩn khẽ mỉm cười: “Đại nhân trong lòng biết rõ, có điều không muốn nói ra mà thôi. Đại nhân đã không muốn nói, vậy hãy để tại hạ nói hộ. Nếu không nằm ngoài dự đoán của Trần Chẩn, người thay Cảnh Xá chắc chắn sẽ là hai vị trụ quốc đại nhân!”

“Ồ!” Chiêu Dương nín thở, chúi người về phía trước. “Sao thượng khanh lại nói vậy?”

Trần Chẩn lại cười, rồi thong thả nói: “Đây là chuyện sáng tỏ như ban ngày. Ba mươi năm nay, nơi nước Sở muốn tranh giành, chẳng qua chỉ có hai, một là tây bắc, hai là lưu vực sông Tứ. Sở Vương phái họ Khuất trấn thủ phía tây bắc, đề phòng người Tần; để đại nhân trấn thủ phía đông bắc, để tranh lưu vực sông Tứ. Đất Sở rộng năm ngàn dặm, có ba mươi vạn hùng binh, hai vị trụ quốc đại nhân mỗi người nắm giữ mười vạn. Đại nhân thử nghĩ xem, bệ hạ đã tin tưởng giao trọng trách cho hai vị, lẽ nào chức lệnh doãn còn có thể rơi vào tay kẻ khác?”

Phân tích của Trần Chẩn khiến Chiêu Dương không thể không phục, đồng thời, dã tâm tiềm tàng cũng đã bị Trần Chẩn khơi dậy: “Theo ý của thượng khanh, tại hạ và họ Khuất, người nào chiếm thế thượng phong?”

Trần Chẩn đáp: “Nhìn theo tình thế hiện giờ, hai vị đại nhân có thể nói là kẻ tám lạng người nửa cân. Cùng là tư mã đại nhân, mặc dù có chia thành tả hữu, nhưng cả hai cùng quan trọng như nhau, công lao cũng tương đương. Mấy năm trước đại nhân phạt Tống, Điền Kỵ dẫn binh tiếp cứu, đại nhân thất thế ở Tuy Dương, thiệt hại ba vạn binh, coi như đại nhân thua một. Họ Khuất đang lúc đắc ý, lại bị Thương Ưởng cắn cho một miếng, mất luôn sáu trăm dặm Thương Ư, hai người coi như đã hoà.”

Chiêu Dương liên tiếp gật gù, hết lời thán phục: “Đã ngang bằng rồi, vậy chức lệnh doãn...”

“Phải xem hai vị đại nhân ai có thể lập được công lớn.”

Chiêu Dương đứng dậy, vòng tay nói: “Nơi nào có thể lập đại công, tại hạ ngu muội, mong thượng khanh chỉ dẫn.”

Trần Chẩn ung dung bật ra hai chữ: “Lấy Tống!”

“Lấy Tống?” Chiêu Dương kinh ngạc. “Lấy thế nào?”

Trần Chẩn ghé sát vào tai Chiêu Dương, nói nhỏ mấy câu, Chiêu Dương liên tiếp gật đầu, mặt cười rạng rỡ.

Mấy ngày sau, Chiêu Dương yết kiến Sở Uy Vương, bẩm tấu: “Khởi tấu bệ hạ, Tống Y ển kết bè đảng nổi loạn, phế huynh trưởng soán vị, đã là đại nghịch. Mấy tháng trước, người này mượn dịp Tề, Ngụy hội vương ở Từ Châu, không những đã tự phong mình làm vương, trong đại lễ xưng vương còn xúc phạm trời đất, dâm loạn hậu cung, chư thần khuyên can đều bị bắn chết, khiến người thần đều căm giận, bị thiên hạ gọi là ‘Kiệt Tống’!”

“Ừm!” Sở Uy Vương gật đầu nói. “Việc này đã đồn khắp thiên hạ. Hôm nay ái khanh nhắc đến, là có ý gì?”

“Khởi bẩm bệ hạ!” Chiêu Dương nói. “Tống là vùng đất màu mỡ, nếu ta không lấy, Tề ắt sẽ lấy; nếu Tề không lấy, Ngụy ắt sẽ lấy. Vi thần cho rằng, bệ hạ hãy nhân lúc Tống Công Y ển phạm tội bất kính trời đất, tiếp tục hưng binh chinh phạt!”

“Việc này...” Sở Uy Vương trầm tư hồi lâu, dường như nhớ lại lần phạt Tống mấy năm trước, đã bị liên quân Tống, Tề đánh cho đại bại. “Nếu như người Tề lại dẫn binh cứu trợ, ta phải làm sao?”

Chiêu Dương hạ giọng nói: “Bệ hạ chớ lo! Người Tề mới đại bại trong tay người Ngụy, quốc lực tổn hao nghiêm trọng, không dám khinh suất giao chiến. Tướng Tề Điền Kỵ bị Ngụy làm nhục, sau khi về Tề đã từ quan ở ẩn. Tề không có Điền Kỵ, dù có xuất binh cũng không đáng sợ!”

Sở Uy Vương nhắm mắt suy nghĩ.

“Bệ hạ!” Chiêu Dương vội bước lên một bước, giọng càng hạ thấp. “Vi thần còn nhận được tin báo, Việt Vương Vô Cương đã tập hợp hai mươi mốt vạn đại quân, hành quân đồng thời trên biển và đất liền, bắt đầu tiến về Lang Nha, xem ra hắn muốn đánh Tề. Người Tề lo cho mình còn chưa xong, Tề Vương đã chiêu mộ mười vạn đại quân, phòng thủ nghiêm ngặt ở tuyến nam trường thành, làm sao có thể cứu được Tống?”

“Ồ?” Sở Uy Vương nghe vậy, lập tức phấn chấn tinh thần. “Tin này có thực chăng?”

“Ngàn lần chính xác!”

Uy Vương khẽ gật đầu: “Ừm, nói như vậy, đúng là thời cơ tốt trời ban!” Lời vừa dứt, lại chau tít đôi mày. “Tuy nhiên, dù Tề không đáng lo, nhưng Ngụy lại là phiền phức. Từ lâu Ngụy Anh đã muốn có được Tống, chỉ là còn e ngại quả nhân và Điền Nhân Tề nên chưa dám ra tay. Nếu ta phạt Tống, Tống Y ển không được Tề cứu, nhất định sẽ quay sang cầu cứu Ngụy. Ngụy Anh xuất binh danh chính ngôn thuận, đâu chịu bỏ qua cơ hội tốt nhường này? Ngụy có được Bàng Quyên, chuyển bại thành thắng, sĩ khí đang hăng, ái khanh sẽ đối phó bằng cách nào?”

“Bệ hạ chớ lo!” Chiêu Dương tấu. “Nước lớn dụng binh, quan trọng nhất chính là tiền của lương thảo. Theo vi thần được biết, nước Ngụy mặc dù có Bàng Quyên, nhưng quốc khố trống rỗng, dân chúng biên cương lũ lượt bỏ đi đến năm mươi vạn người, lòng dân không vững, giống như người bị trọng thương, trong vòng hai ba năm, làm sao có thể hồi phục? Lại nhìn Đại Sở ta, mấy năm nay không có đại chiến, quốc khố đầy ắp, binh lính tinh nhuệ, lương thực đầy đủ, đừng nói là nước Ngụy không dám xuất binh, cho dù có xuất binh, ta cũng đâu có sợ?”

Sở Uy Vương gật gù: “Ái khanh nói rất có lý!” Dừng một lát, lại hỏi. “Thử nói xem, khanh định đánh Tống thế nào?”

“Bệ hạ!” Chiêu Dương đáp. “Trong tay vi thần có mười vạn đại quân, vi thần sẽ đích thân dẫn sáu vạn quân xa kỵ phạt Tống, Cảnh tướng quân dẫn bốn vạn quân tới Hình Sơn. Hình Sơn cách Đại Lương nước Ngụy chưa đến ba trăm dặm, nếu người Ngụy dám xuất binh, Cảnh tướng quân sẽ đánh thẳng tới Đại Lương, khiến chúng trở tay không kịp!”

Sở Uy Vương lại nhắm mắt trầm tư hồi lâu mới mở mắt ra: “Người đâu!”

Nội thần vội chạy tới: “Có vi thần!”

“Triệu thái tử, lệnh doãn, tả đồ và các vị chấp khuê, trụ quốc đại nhân vào cung nghị sự!”

Mục lục